Thứ Tư, 31 tháng 8, 2022
Mơ chiềuXXXX
Xuyên qua từng áng mây trĩu nặng hơi nước, những tia nắng đìu
hiu của một buổi chiều như đang ngập ngừng bên ngoài khung kính của chiếc
Boeing đồ sộ - đang rời thành phố Dalat.
XXXXPhấn trắng bảng đen và lòng biết ơn
Phấn trắng bảng đen
và lòng biết ơn
"Nhất tự vi sư bán tự vi sư
Phi sư phụ bất thành nhân
Dù chỉ học thầy một chữ
Hay nửa chữ cũng ghi ơn"
Chuyện cổ tích ngày xưa kể rằng khi nước Nam chưa có chữ quốc
ngữ theo hệ thống mẫu tự ABC mà còn dùng Hán tự viết nét bằng cọ: Có một
anh học trò thấy một đàn kiến khi kéo nhau bắc cầu qua sông, cả lũ kiến đó sắp
bị dòng nước lũ cuốn đi, anh động lòng từ tâm liền bẻ một cành cây bắc cầu cho
kiến di chuyển. Kỳ thi Hương năm đó anh làm bài thi, rủi ro một chữ anh viết
thiếu một nét nên nếu đọc thì khác nghĩa nên giám khảo có thể đánh rớt, nhưng
chữ thiếu nét đó có những con kiến bám chặt vào nét chữ thiếu đó nên trở thành
đủ, giám khảo đã cho anh đậu khoa thi năm đó. Người đời cho rằng kiến đã trả ơn
cưu mang của anh học trò từ tâm ấy nên công danh anh được hanh thông. Mặc dù
câu chuyện trên đây chỉ là dụ ngôn, mà đã là dụ ngôn thì không có thật, nhưng
điểm tối hậu nó cũng đem đến cho ta một ý nghĩ "biết ơn" nào đó trong
đời.
Trên sân khấu của nhà hàng Hoàng Sa, tôi nhìn người nam ca sĩ
có gương mặt quen thuộc, có cái nhân dáng quen thuộc và lời ca tiếng hát đó
cũng quen thuộc nốt. Xin thưa đó chính là giáo sư trước đây cách hơn phần
tư thế kỷ đã là thầy tôi. Tôi vui lắm khi nghe tiếng ca ngọt ngào, du dương
mang một ước mơ về tình yêu mà người thi sĩ gửi gấm trong thơ, người nhạc sĩ ký
thác nỗi cảm tác trong từng nốt nhạc, cũng như người ca sĩ cố gắng lột tả trọn
vẹn nỗi bâng khuâng khi là tình nhân, hay nỗi dịu dàng khi gần người yêu nhớ đến
ánh trăng khuya của một thuở hẹn họ tình tự có Sài Gòn trong ký ức dấu yêu.
Trong nỗi cảm nhận miên man của cử tọa đang lắng nghe, tôi cho là cả bộ ba Du Tử
Lê, Phạm Đình Chương và thầy cũ của tôi đang đứng hát thật là một sự kết hợp
tuyệt diệu. Bài "Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn", hình như nó là một trong những
nhạc phẩm mà ông thích thú khi hát, nên ông thường ca bài này. Ca sĩ tài tử này
bắt nhịp ca trong nỗi say đắm, ông ngân dài như đưa chúng tôi về với Sài Gòn
trong quyến luyến, y như cái tâm trạng mà lúc chúng tôi rời nơi này:
"Đêm về trên bánh xe lăn
Tôi trăng viễn xứ, hồn thanh niên vàng
Tìm tôi đèn thắp hai hàng
Lạc nhau cuối phố, sương quàng cổ cây
Ngỡ hồn tu xứ mưa bay
Tôi chiêng trống gọi, mỗi ngày mỗi xa
Đời tan, tan nát chiêm bao
Tôi trăng viễn xứ, sầu em bến nào ..."
Thầy tôi, người mang bản tính năng động, ông luôn luôn vui vẻ
và thích dí dỏm khi làm MC, ông trẻ trung trong giọng nói, và ông cũng trẻ
trung trong tâm hồn. Ban nãy ông ông đã tâm tình về những kỷ niệm quê hương
như:
"Các anh chị em thân mến, ngày xưa tôi đứng trước các
anh chị em và đằng sau là bảng đen và phấn trắng, ngày hôm nay phía trước tôi
đây cũng là các anh chị em, nhưng đằng sau tôi không còn phấn và bảng nữa, thay
vào đó là ban nhạc đệm cho chúng ta những giây phút ân tình của tình đồng
hương, của tình hoài hương, của dĩ vãng còn rong ruổi trong vùng ký ức cũ của
chúng ta. Chỉ tiếc rằng những ngày cũ đó không dược kéo dài lâu hơn mà phải đợi
hơn một phần tư thế kỷ sau mới được nối tiếp. Thú thực rằng ngày nào tôi còn gặp
lại các anh chị là ngày đó sẽ là hạnh phúc cho tôi. Cái hạnh phúc kế tiếp là
tôi được ca những ca khúc mà anh chị em thích. Như thế thì chúng ta có những hạnh
phúc chung vì sở thích chung hay văn hóa chung phải không các bạn?"
Có bao giờ quý vị nhớ đến cái bảng đen đầy phấn trắng có lần
đã rơi trên tóc thầy cô giáo của chúng ta? Tôi không được may mắn như vậy vì học
ở trường đời nhiều hơn trường lớp, và tôi cũng học được lòng biết ơn các nhà mô
phạm từ những câu chuyện nhỏ, như câu chuyện của Fred Bauer kể sau đây:
"Một hôm, tôi nhận thức rằng dường như tôi ít khi bày tỏ
lòng biết ơn đối với những người thân sống quanh tôi, dành cho tôi nhiều điều
ưu ái. Tất nhiên là chúng ta không nên đợi đến những ngày lễ lộc, kỷ niệm… để
nói lời cảm ơn đối với những người thân mà mình đã từng mang ơn. Giá như tôi học
được điều gì đó về nghệ thuật cám ơn thì đó chính là: Hãy cám ơn ngay tức thì.
Nói lên lời cám ơn không chỉ làm rạng rỡ, làm mát lòng ân nhân mà còn thể hiện
tính văn minh lịch sự của người thọ ơn. Nếu bạn cảm thấy bị hắt hủi, xua đuổi,
bạn đừng vội bi quan, yếm thế mà hãy ra tay cứu vớt người khác. Rất có thể đó
là phương thuốc giúp bạn tìm lại niềm lạc quan, yêu đời.
Trước khi trở thành nhà văn nổi tiếng, A.J. Cronin từng là một
bác sĩ. Hồi ấy, có nhiều bệnh nhân đến yêu cầu Cronin điều trị cho họ chứng bệnh
lo âu, hồi hộp, sợ sệt, mất niềm tin và luôn nghi ngờ. Cronin ghi cho họ toa
thuốc thật lạ thường: "Toa thuốc cám ơn" rồi căn dặn bệnh nhân:
‘Trong vòng sáu tuần, quí vị phải nói lời cám ơn mỗi khi nhận được sự giúp đỡ của
bất cứ ai dù đó chỉ là việc mọn. Và để tỏ ra rằng lời cám ơn kia xuất phát từ tấm
lòng thành, quí vị hãy mỉm cười với ân nhân khi thốt lên hai tiếng "cám
ơn". Sau 6 tuần điều trị, hầu hết bệnh nhân của Cronin đều cảm thấy thuyên
giảm rõ rệt. Trong nhiều trường hợp, chúng ta không thể bày tỏ ngay lòng biết
ơn của mình. Nếu rơi vào tình cảnh ấy, bạn không nên thụ động và giữ im lặng
mãi mà hãy mạnh dạn nói lời cám ơn ân nhân ngay khi gặp lại họ sau đó.
Vừa mới đây, tôi có dịp về thăm lại quê nhà trong một thời gian ngắn. Trong khi
tôi đếm bước dọc theo đường làng quen thuộc, kỷ niệm thời thơ ấu bỗng ùn kéo đến
lấp đầy dòng suy nghĩ của tôi. Trên đường, tôi gặp lại cô giáo Violet Bible. Cô
đã gợi trong tôi thời tôi còn mài đũng quần trên ghế trường trung học. Năm ấy,
tôi ngồi lớp chín. Tôi mê chơi thể thao hơn là chú tâm vào việc học. Hậu quả là
tôi bị tụt hậu môn tiếng La Tinh. Khi phát giác ra môn yếu kém của tôi, cô giáo
Bible nói: "Ồ, học tiếng La Tinh có khó khăn gì đâu, rất thú vị nữa là đằng
khác. Sau bữa cơm chiều nay, em sang nhà cô, cô sẽ chứng minh cho em điều
đó".
Trong nhiều tuần lễ kế tiếp, cô dạy kèm tôi học tiếng La Tinh
cho đến khi tôi theo kịp chúng bạn. Năm ấy tôi tròn 14 tuổi. Lần đầu tiên trong
đời, tôi nhận ra rằng cô giáo Violet Bible khả kính, vừa tích cực giảng dạy ở
trường vừa làm tròn nhiệm vụ trong gia đình, lại còn dành riêng mỗi ngày một giờ
để dạy kèm tôi học tiếng La Tinh. Sự cố gắng giúp đỡ tôi của cô Bible lúc ấy,
tôi xem như là chuyện hoàn toàn bình thường. Nhưng giờ đây, khi gặp lại cô, tôi
bỗng nhận thức một cách sâu sắc rằng cố gắng của cô dành riêng để dạy tôi học
tiếng La Tinh trước đây quả là sự hy sinh vô bờ bến mà hàng năm dài tôi hầu như
quên lãng. Tôi chạy đến ôm choàng lấy cô, giọng thổn thức: "Những điều mà
cô dành cho em trước đây đã vượt xa nhiệm vụ bình thường của một cô giáo. Xin
cô nhận lòng biết ơn chân thành của người học trò cũ, dù cho lời cám ơn được thốt
lên muộn màng." Cô đáp lời tôi bằng nụ cười ấm áp, mãn nguyện và đôi mắt rạng
rỡ niềm tin.
Nếu nhà văn lớn A. J. Cronin viết ra những cám ơn ân nhân đã
dạy dỗ mình nên người thì tôi lại sực nhớ câu chuyện của người bạn Ba Tư mà tôi
quen. Anh ta kể sau khi Shah hoàng bị lật đổ, chính quyền mới hồi giáo lên thay
thế, người lôi thầy giáo ra tra tấn, mà trong đó anh là nạn nhân. Người thầy cố
dạy những đứa trẻ tinh nghịch, ông xử phạt chúng của kỷ luật nghiêm túc của nhà
trường. Khi đất nước thay đổi thì người bạn tôi, người thầy giáo của đám học
trò tinh nghịch đã là nạn nhân của sự trả thù thất nhân tâm, họ gây cho người
thầy cũ cái cảm giác chán chường, khi thoát ra xứ ngoài ông về sống ẩn dật ở
vùng băng tuyết phía bắc Gia Nã Đại. Người Việt chúng ta có những câu nói mà
người học trò nhỏ đều được giáo huấn như "Không thầy đố mày làm nên",
lên cao hơn người học sinh lại tìm hiểu ý nghĩa của câu nói tôi cho là chí lý:
"Nhất tự vi sư, bán tự vi sư".
Thật ra mọi việc trong cuộc sống con người cũng tùy thuộc
khung cảnh của đứa trẻ vốn tinh nghịch khi lớn lên như tình trạng gia cảnh, xóm
giềng. Có đứa thay đổi tâm trạng hiểu thầy cũ, thì cũng có đứa ương ngạnh, vẫn
cố chấp những chuyện cũ trong vùng ký ức. Làm con người đã khó rồi, mà làm đám
học trò tinh nghịch, lêu lổng lại càng khó hơn, chỉ vì sự hẹp hòi, ích kỷ đã in
hằn sâu trong tâm thức.
Cùng với cái tâm tình dành cho những ai đã thất bại vì nạn đổi
đời để họ chịu đựng nỗi cay đắng lắm truân chuyên, thầy tôi ca bài hát mang nhiều
tính chất triết lý của cuộc sống. Đó là bài "Bông Hồng Cho Người Ngã Ngựa",
nhạc của Lê Uyên Phương sáng tác, lời thơ Nguyễn Hoàng Đoan. Tôi nghe trong nỗi
chua xót và đắng cay, tôi cảm thấy cay đắng vì lũ học trò xưa phản thầy, họ
vong ơn với vị thầy cũ, hình như tôi đã cay mắt khi nhớ về vị thầy trong khung
cảnh băng giá kia vẫn chập chờn trong ý nghĩ của tôi. Giọng ca của thầy tôi bây
giờ lại chuyên chở cả một kiếp nhân sinh mà hai người thi sĩ và nhạc sĩ đã đưa
vào bài hát này:
"... Không phải là bông hồng
Dành cho người hạnh phúc
Những người không biết khóc
Nhũng người không biết cười
Những người tim bằng đất
Không phải là bông hồng
Dành cho những búp bê
Những búp bê biết khóc
Những búp bê biết cười
Búp bê tim bằng nhựa
Đây là một bông hồng
Gửi về người ngã ngựa."
Sống tại Hoa Kỳ hằng năm người ta có ngày lễ Tạ Ơn
(Thanksgiving), mục đích của nó như tên gọi chúng ta tạ ơn đối với những ai
giúp đỡ, cưu mang cho cuộc sống này được khá hơn. Nó có thể bao gồm cho tình thầy
trò. Bởi vì: "Không thầy đố mày làm nên". Người bạn láng giềng nhà
tôi lúc trước, nay cư ngụ trong vùng Little Saigon, nam Cali thuật cho tôi nghe
chuyện cũ tại Sài Gòn là một sinh viên sư phạm kể rằng những "buồn nhiều
hơn vui" trong đời dạy học của mẹ mình:
"Tôi còn nhớ rất rõ lúc tôi ngồi trầm ngâm trước lá đơn
xin thi vào trường đại học, cách đây ba năm. Mẹ tôi (một nhà giáo tóc đã bạc, gần
ba mươi năm trong nghề) đứng cạnh tôi, nói nhỏ nhẹ: "Con ạ, dẫu sao nghề
giáo vẫn là một nghề cao quí". Mẹ tôi nói hai chữ "cao quí" thật
nhỏ và mắt mẹ rưng rưng. Tôi thấu hiểu ước muốn của mẹ tôi. Không cần đắn đo,
tôi ghi vào lá đơn: Trường Đại Học Sư Phạm. Tất nhiên trong chọn lựa cũng có phần
của tôi.
Sau ngày 75, nhà tôi dọn về ở trong một con hẻm sâu. Có đêm, gần chín giờ, một
người đàn ông tóc muối tiêu dắt chiếc xe đạp vào hẻm và hỏi tìm nhà cô giáo Hạnh.
Khi mẹ tôi mở cửa, người đàn ông cúi hẳn người xuống, rụt rè: "Thưa cô, cô
còn nhớ em không, em là Huân đây mà...". Mẹ tôi ngờ ngợ, có lẽ không nhớ
ra. Khi vào nhà nói chuyện, chú Huân kể lại: "Hồi em học đệ tứ (tức lớp 9
sau này), ngồi đầu bàn, thường tinh nghịch để chân ra ngoài. Cô đi lên đi xuống
giảng bài say sưa, đụng phải chân em, cô vấp té, đầu va vào bàn... Cô nhớ
không? Hồi đó, sợ quá em không nói được một lời xin lỗi với cô. Vậy mà em ân hận
mãi. Hơn 25 năm rồi, cô ạ...". Ở ngoài Trung chú Huân chạy xe ôm, có dịp
vào thành phố chú quyết tìm cho được người thầy cũ là mẹ tôi. Để thăm và nói một
lời... và chỉ một lời để xin lỗi. Khi trao những chiếc bánh nổ của quê hương miền
Trung cho mẹ tôi, chú Huân bùi ngùi nói: "Có chút quà của miền Trung... để
cô nhớ đến tụi em". Đêm đó là một trong những đêm vui của mẹ tôi.
Có một lần mẹ tôi bị bệnh nằm ở bệnh viện Gia Định, một bác sĩ khoảng 40 tuổi cứ
ở bên mẹ tôi. Khi mẹ xuất viện, mỗi đêm người bác sĩ ấy lại lội vào con hẻm đến
nhà theo dõi sức khỏe cho mẹ tôi. Đó là một học trò cũ của mẹ. Anh ấy cứ nhắc
đi nhắc lại: "Không có cô, đời em chưa biết ra sao...". Anh ấy kể: hồi
học cấp III, gia đình quá khó khăn, đã nhiều lần anh quyết định nghỉ học, nhưng
mẹ tôi đã đến, giúp đỡ, động viên và anh lại tiếp tục đi học... Thỉnh thoảng mẹ
tôi nhận được những lá thư, những thiệp chúc tết, thiệp báo hỉ... từ phương xa
gửi đến. Tất cả đều ghi những lời trân trọng, ân tình. Mẹ tôi dành riêng một
ngăn tủ gìn giữ tất cả và thỉnh thoảng mẹ tôi lại giở ra xem, và tôi thấy bà mỉm
cười hạnh phúc.
Nhưng đời dạy học của mẹ tôi cũng có quá nhiều những đắng
cay, ngậm ngùi thậm chí đến tủi nhục. Có một lần đi dạy về, vừa bước vào cửa mẹ
ôm mặt òa khóc. Tôi hỏi mãi, mẹ mới chịu kể: "Mẹ đang dạy trong lớp thì một
người sang trọng đến hành lang, gật đầu ra hiệu muốn gặp mẹ. Mẹ bước ra, người ấy
trao cho mẹ một xấp vải và chiếc phong bì, nói: "Xin cô cho cháu nó vào học
lại". Mẹ từ tốn trả lời: "Trường hợp cháu đã quá nhiều lần vi phạm kỷ
luật, ban giám hiệu đã quyết định cho nghỉ học. Có gì xin ông gặp ban giám hiệu".
Người ấy cứ dúi quà vào tay: "Cô nhận đi, không sao đâu, miễn là lo được
cho cháu". Mẹ nghiêm giọng: "Xin lỗi, tôi không lo được, ông cứ mang
lên ban giám hiệu". Người ấy bỏ đi và thòng theo câu nói: "Rách mà
làm phách!". Mà đúng vậy, mẹ càng đeo đuổi nghề, càng ngày càng rách
thật. Rách đến mức hồi tôi còn nhỏ, mẹ đã từng phải cắt chiếc áo dài cưới của mẹ
để may cho tôi một chiếc áo mới, để tôi đến trường ngày khai giảng... Lần ấy mẹ
tôi xót nhưng không đau. Lần này đau vì có người xúc phạm đến danh dự của bà.
Tôi băn khoăn tự hỏi sao ngành giáo chức của mẹ tôi thê lương và bẽ bàng đến thế.
Sách vở thì lại cho là nghề giáo cao quí lắm mà. Tôi tự hỏi và rồi tự hỏi.
Một lần khác, một phụ huynh tổ chức đám cưới cho con ở một
nhà hàng sang trọng đã mời mẹ tôi. Xung quanh những khách khứa hào nhoáng, mẹ
tôi trao chiếc phong bì mừng đám. Vị phụ huynh ấy đẩy tay mẹ tôi từ chối và nói
một câu tự nhiên: "Tiền bạc đâu mà cô mừng cho cháu. Mời cô cốt là để cô bồi
dưỡng cho sức khoẻ". Mẹ tôi tái mặt, xấu hổ đến chín người và mẹ đã tìm
cách ra về. Đến nhà, vào buồng, mẹ kéo chiếc chăn đắp lên ngực, mắt mở lớn nhìn
lên trần nhà, và nước mắt cứ trào ra...
Tôi không nhớ hết được bao nhiêu lần mẹ tôi đã khóc như vậy.
Cứ sau mỗi lần ấy, mẹ lại kéo chiếc hộc tủ có nhiều kỷ niệm đẹp của đời dạy học
của mình ra và mẹ im lặng đọc từng lá thư, ngắm từng chiếc thiệp. Hình như lòng
mẹ thanh thản trở lại. Nhưng cuộc sống cứ không để yên cho lòng mẹ thanh thản.
Lại muôn vàn đắng cay, muôn vàn nhức nhối. Vậy mà mẹ vẫn muốn tôi trở thành cô
giáo. Một năm nữa tôi sẽ ra trường, sẽ đứng lớp. "Dẫu sao mẹ nói rằng đó vẫn
là một nghề có ích nhất cho đời. Người thầy luôn mở rộng tấm lòng bao la, quảng
đại để chấp nhận những thử thách khó khăn nhất xảy ra cho đời mình, và với tấm
lòng vị tha, người thầy luôn để lại những dấu ấn đẹp cho mỗi cuộc đời..."
Trong những ý tưởng bâng quơ, buồn vơi, tôi ngẫm nghĩ sống mà
không biết yêu thương, ơn nghĩa thì "Sanh Bất Nhược Tử" (Sống mà như
chết), chết mà còn để lại cho đời những tấm gương sáng thì "Tử Bất Nhược
Sanh" (Chết mà như sống). Vậy thì người ta tri ân những nhà triệu phú hay
tri ân những nhà giáo nghèo? Hỏi tức là đã trả lời, nhà triệu phú cũng sẽ được
tri ân như vậy nếu như họ biết làm việc từ thiện mà không khoe khoang cho mọi
người biết. Riêng tôi, cảm thấy vô cùng hạnh phúc vì còn được nói hai tiếng
"cám ơn" chứ không phải là "rất tiếc".
Đó là đôi dòng về người thầy cũ của tôi, về vị thầy giáo oan
khiên bôn ba sau thời vận Shah hoàng, về cô giáo Violet Bible và về cô giáo Hạnh,
mẹ của người bạn tôi. Nếu ở đời có những đứa trẻ tinh nghịch, lớn lên bằng ý tưởng
hẹp hòi và cố chấp thì xã hội cũng có người học trò cũ tinh nghịch của cô giáo
Hạnh lớn lên trong ý thức biết ơn và bao dung.
Tôi nhìn về hướng vị thầy cũ mang dáng trí thức với đôi kính
cận như dạo nào, ông bước xuống sân khấu sau khi trình bày hai nhạc phẩm nhắc
nhớ những kỷ niệm quê hương. Thông thường ai cũng có những vị ân sư để mình nhờ
về dĩ vãng và để tạ ơn. Nhân đọc sách của nhà văn A.J. Cronin viết, tôi có ngẫu
hứng viết bài này kính tặng các nhà giáo Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Sỹ Tế, Nguyễn Văn
Sâm và các anh chị trong văn đàn Tạ Xuân Thạc, Trần Anh Dũng, Trần Việt Hải,
Tôn Thất Phú Sĩ, Vũ Đình Trường, Vũ Tiến Thăng, Hoàng Định Nam và Hoàng Huy
Giang và còn nhiều... mà tôi không kể hết tên trong nhóm Đồng Tâm tại Houston.
Lời sau cùng tôi muốn cám ơn ba mẹ sinh thành dưỡng nuôi, cám
ơn các cô thầy dạy dỗ bảo ban, cám ơn quê cha đất mẹ cho tôi những tình tự văn
hóa Việt Nam và cũng như cám ơn phấn trắng bảng đen cho tôi những dòng cảm nghĩ
trong bài viết này.
Dương Hà
Mặt trái của nền Nho học Việt NamXXXX
Mặt trái của
nền Nho học Việt Nam
"Cái lối thơ phú ca ngâm, nắn một chữ cho hay, dùng những
điển cho lạ, rung đùi lắc gối như lối học ngày xưa đã vì thế mà làm cho người
ngu nước yếu"
(Ngô Đức Kế)
Nền giáo dục Việt Nam suốt thời phong kiến là nền giáo dục
Nho giáo (Nho học). Nền giáo dục này tuy góp phần làm cho Việt Nam trở thành nước
văn hiến, nhưng càng về sau nó càng trở nên lạc hậu, bảo thủ. Nó đã từng bị phê
phán quyết liệt trong phong trào Duy tân đầu thế kỷ XX và nền khoa cử này đã bị
bỏ hẳn từ năm 1919, tuy nhiên, di hại của nó thì vẫn còn ảnh hưởng lâu dài. Sau
hoà bình lập lại trên miền Bắc (1954), những tiêu cực, lạc hậu của của nó tiếp
tục bị bài trừ trong nền giáo dục mới. Các khẩu hiệu như "Học đi đôi với
hành", "Nhà trường gắn liền với xã hội", "Giáo dục kết hợp
với lao động sản xuất" thể hiện nỗ lực đó. Tuy nhiên, khoảng ba thập niên
qua, nhất là gần đây, giáo dục lại có nguy cơ "phục cổ". Chúng tôi muốn
phân tích những tiêu cực, lạc hậu ấy của nền Nho học xưa, nhằm tránh ngộ nhận về
cái gọi là "truyền thống dân tộc" đang bị phục hồi hiện nay.
1. Nội dung học và cách học
Nội dung học của nền giáo dục Nho giáo hết sức phiến diện và
xa rời thực tiễn. Giai đoạn đầu đi học, lẽ ra chủ yếu là học chữ(Hán văn)
thì một cậu bé 6, 7 tuổi đã phải thuộc lòng những luân lý khô cứng, trừu tượng
mà nhiều khi nó chẳng hiểu gì. Như thế, ngay từ buổi đầu người đi học đã
"làm quen" với cách học giáo điều, sáo rỗng, xa rời thực tế. Trong
tác phẩm có tính tự truyện Dư ngu sám, Phan Bội Châu kể về "nạn học"
hồi nhỏ của mình như sau: "Ngoài những chữ chi, hồ, giả, dã, tử viết,
thi văn, thầy không còn kiến văn gì khác cả (...) Song cứ mỗi sáng dậy sớm, ông
ta đã xù đầu vắt chân, ngất ngưởng ngồi trên tấm phản vuông, bắt ta phải giữ lễ
học trò, nghĩa là hướng về ông ta lạy hai lạy, cúi đầu năm lượt. Từ sáng đến tối
bắt ta chắp tay đứng ở bên cạnh, đem những sách có các chữ chi, hồ, giả,
dã mà ông ta đã học, bắt ta đọc ê a, ê a, suốt ngày không thôi".
Tiếp theo, lẽ ra học các môn khoa học thì học trò lại học Tứ
thư và Ngũ kinh. Tứ thư gồm các sách Luận ngữ, Mạnh Tử, Đại học,
Trung dung với những triết lý về đạo của người quân tử, về lý tưởng
"tề gia, trị quốc, bình thiên hạ", tức là dạy người ta cách làm quan,
nhưng cũng chỉ ở những nguyên lý chung chung, chứ không dạy về các công việc quản
trị thiết thực. Ngũ kinh gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh
Lễ, Kinh Xuân Thu. Kinh Thư là những lời dạy về việc trị nước của các
vua thời thượng cổ (Nghiêu, Thuấn). Kinh Lễ chép các nghi lễ trong
gia đình, hương đảng và triều đình (Trung Quốc). Kinh Xuân Thu chép cổ
sử nước Lỗ - quê hương Khổng Tử. Kinh Dịch giải thích về vũ trụ một
cách siêu hình và rắc rối. Chỉ có Kinh Thi sách sưu tập các bài ca
dao, dân ca (của nước Lỗ) - là có giá trị. Ngoài ra còn học Bắc sử(sử
Trung Quốc), Cổ văn, Đường thi. Cổ văn, Đường thi là sách dạy phép làm văn
chương, sỹ tử chỉ cần tuân theo đúng phép tắc của cổ nhân chứ không cần sáng tạo.
Nhân vật Khắc Mẫn trong tiểu thuyết Lều chõng của Ngô Tất Tố, một thầy
đồ dốt nát, nhưng trong thư mời bạn cũng viết những câu rất bóng bẩy: "Thấy
một giò lan bạch ngọc mới nở", "Tôi đang quét lối hoa rụng đợi
anh". Khi đến, Vân Hạc hỏi "Giò lan bạch ngọc mới nở đâu? Hoa rụng
anh quét đổ vào chỗ nào? Sao tôi không thấy" thì chính Khắc Mẫn ngơ ngác:
"Mùa này làm gì có lan, lấy đâu ra hoa mà rụng?"!
Nội dung học ấy đã tạo ra một lớp người thoát ly lao động, ăn
bám nhưng lại lên giọng "cao đạo": Vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu
độc thư cao (Tất cả mọi nghề đều thấp hèn, chỉ có đọc sách là cao quý). Sở
dĩ có cái "cao đạo" ấy là vì tương lai của anh đồ sẽ có ngày làm quan
nhưng cũng có phần do không ai hiểu được cái "rừng Nho biển Thánh" trừu
tượng kia.
Thực tế không phải ai đi học cũng giỏi và không phải ai giỏi
cũng đỗ đạt, làm quan, cho nên hình thành cả một lớp sinh đồ vô dụng. Tri thức
trong "rừng Nho biển Thánh" không có ích gì cho cuộc sống. Vì vậy dân
gian đã chế nhạo:
Ai ơi chớ lấy học trò
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm.
Còn những khía cạnh học có vẻ thực tiễn một chút thì phần nhiều
lại là những thứ phi lý, phi nhân. Ví như đạo Tam cương ạy người quân
tử về ba mối quan hệ rường cột: quân thần(vua tôi), phu phụ(chồng vợ), phụ
tử(cha con) thì cả ba quan hệ này đều chỉ có một chiều: vua, chồng, cha có quyền
tuyệt đối, còn bề tôi, vợ, con chỉ có chấp hành: Quân xử thần tử, thần bất
tử bất trung(Vua xử tôi chết, tôi không chết là tôi không trung); Phu xướng
phụ tuỳ(Chồng đề ra điều gì, vợ phải theo điều đó); Phụ hữu bất từ, tử bất
khả bất hiếu(Cha dù không nhân từ, con vẫn phải có hiếu).
2. Nội dung thi và cách thi
Nội dung thi từ thời Lý đến đầu đời Lê sơ còn tương đối cởi mở
và có tính thực tiễn, ví dụ có cả Toán pháp và Hình luật. Nhưng càng về sau thi
cử càng mô phỏng Trung Hoa. Bài thi dù ở bậc nào cũng gồm mấy thể chính: Kinh
nghĩa, Văn sách, Thi, Phú.
- Kinh nghĩa: Đề ra yêu cầu giải thích, bình luận một hoặc
một số câu trong các sách của nho gia thời xưa (tức Ngũ kinh). Bài thi bắt
buộc viết bằng biền văn theo một quy cách rất chặt chẽ gọi là bát cổ(tám vế).
Thí sinh không có quyền nêu quan điểm của mình mà phải nương theo nội dung giải
thích của người xưa rồi tán thêm ra. Lối văn bát cổ ngày càng sáo rỗng, đến độ
không còn hồn cốt gì. Vì vậy bát cổ trở thành từ chỉ chung cho lối văn chương
khoa cử. Văn chương Đông Kinh nghĩa thục (1907) đã chế giễu:
Nhà nho hủ vẫn cậy mình khôn khéo
Đem văn chương mà vênh váo với đời
Năm ba câu bát cổ dông dài
Trừ cử nghiệp, chuyện ngoài chi nỏ biết.
- Văn sách: Là loại bài thi trả lời các câu hỏi về các vấn
đề mưu lược, giáo hoá. Câu hỏi thường mơ hồ, lắt léo nhằm đánh lạc sỹ tử. Lều
chõng (sđd) kể: trong một khoa thi Hương, đề Văn sách có một câu lấy ở Luận
ngữ: "Tắc hà dĩ tai?", thầy đồ Khắc Mẫn bó tay hoàn toàn. Còn Vân Hạc,
sức học bậc thầy Khắc Mẫn nhưng gặp câu Nam sơn hữu đài ũng phải kêu
là "ác (khó) vô hạn".
- Thi, Phú: Đây là bài thi sáng tác theo thể loại quy định.
Thi và Phú đều làm theo luật đời Đường với những quy định hình thức rất chặt chẽ
và nội dung thì khuôn sáo, giả tạo.
- Biểu, Chiếu, Chế: Biểu là văn bản bề tôi
dâng lên vua để chúc mừng hoặc tạ ơn. Chiếu à lời của vua ban bố hiệu
lệnh. Chế là lời vua phong thưởng cho công thần. Hai loại sau người
làm quan với tư cách thay vua soạn thảo. Nhưng một triều vua có hàng trăm ông
quan thì mấy ai đã được vua dùng đến công việc này, cho nên tính hữu dụng của
nó cũng ít.
Tóm lại, các thể loại trên tự nó đã làm mất khả năng sáng tạo.
Chưa kể khi thi, sỹ tử muốn đỗ càng phải chú ý làm sao cho "đúng
cách" nên phần sáng tạo càng ít. Nền khoa cử Việt Nam dài 845 năm với 185
khoa thi, sản sinh được 2896 tiến sỹ mà gần như không để lại một bài văn, bài
thơ (khoa cử) xuất sắc nào.
Thi cử được tiến hành theo 3 cấp là thi Hương, thi Hội
và thi Đình (1).
Mỗi cấp tổ chức làm 4 kỳ: đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, phúc hạch, đỗ kỳ này mới
được vào kỳ sau. Quy chế coi thi, chấm thi theo quy định thì rất chặt chẽ nhưng
sự thực diễn ra không hẳn thế. Ở những lúc nền chính trị suy đồi cũng đầy những
hiện tượng gian dối. Đọc Lều chõng (sđd), ta thấy hiện tượng gà bài,
làm bài thuê diễn ra rất tự nhiên. Tuy vậy, điều tệ hại hơn, với lối thi chuộng
hình thức như vậy, không phải cứ văn hay chữ tốt là đỗ. Trước hết, sỹ tử phải
phải thuộc lòng tất cả các huý kỵ để không phạm trường quy. Phải tránh tên
các ông vua bà chúa, sau đó phải tránh "khiếm tỵ" (những tên liên
quan đến vua chúa, như tên các lăng tẩm), rồi tránh "khiếm trang" (những
chữ đứng gần nhau có thể suy diễn, ví như chữ cách là "đấm"
thì không được đứng trên chữ vương là "vua" để suy thành
"đấm vua"). Trường quy vô cùng rắc rối nên nhiều người tài bị trượt
oan. Tú Xương "Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy". Nhân vật Vân Hạc
(sđd) sau khi đỗ thủ khoa thi Hương, vào thi Hội và thi Đình làm bài rất tốt,
nhưng vì mắc vài chữ huý, không những bài bị huỷ mà kết quả thi Hương trước đó
cũng bị cách tuột. Sau nữa, bài thi còn phải "đúng cách", tức là đúng
khuôn mẫu, đồng nghĩa với sáo rỗng, gần như chỉ chép lại lời người xưa. Lê Quý
Đôn nhận xét: "Phép thi từ thời Trung hưng, kỳ đầu thi 5 bài Kinh nghĩa, sỹ
tử đều chuyên trị làm một kinh, thể thức làm bài có phá cú, tiếp từ, thích
thực, thúc kết, bình luận, tổng kết. Các bậc tiền bối soạn sẵn từng bài, lời lẽ
rắn rỏi, trang nhã, bọn hậu sinh cùng nhau rập theo bản cũ, quan trường chấm
thi chỉ thải bỏ bài nào thối nát mà thôi" (Kiến văn tiểu lục). Nhiều khi
bài làm sáng tạo lại bị đánh trượt. Vân Hạc (sđd) dự thi Hương cả 3 kỳ đều xuất
sắc, nhưng kỳ thứ tư thì bị đánh hỏng, chỉ vì bài quá hay! Bài quá hay nên
ban giám khảo phải gửi về triều đình xin ý kiến vua. Vua phê rằng: "Đào
Vân Hạc quả là tay đại tài (...) Chỉ hiềm tên ấy hãy còn trẻ tuổi, văn chương
không khỏi có chỗ ngông nghênh. Nếu lấy đỗ cao sợ sẽ nuôi thêm cho y cái bệnh
kiêu ngạo thì khó mà trở nên một người đại dụng (...) Vậy khoa này hãy cho tên ấy
hỏng tuột, để mài dũa bớt những khách khí thiếu niên của y". Là tình tiết
của tiểu thuyết, có phần cường điệu nhưng nó phản ánh thực tế của một lối
thi đầy cạm bẫy và bất công. Lịch sử khoa cử Việt Nam đã chứng kiến biết bao
người tài hoa mà lận đận trong trường ốc. Nguyễn Công Trứ 41 tuổi mới đỗ giải
nguyên. Tú Xương 8 khoa thi mới được cái tú tài rốt bảng. Còn Tản Đà 2 lần đi
thi Hương đều hỏng, từ đó bỏ luôn cử nghiệp và hài lòng về việc đó:
Bởi ông hay quá, ông không đỗ
Không đỗ ông càng tốt bộ ngông.
3. Khoa hoạn với tầng lớp nho sỹ
Khoa danh gắn liền với khoa hoạn. Số người đi học có mục đích
"tề gia trị quốc" thực ra rất ít, còn lại đều có mục tiêu là để vinh
thân phì gia. Họ sẵn sàng đánh cược cuộc đời vì mục đích này. Trong Lều
chõng (sđd) có chi tiết: một ông cụ già đem bài nộp khi thùng đựng bài vừa
bị khoá, năn nỉ không được, cụ khóc nức nở: "Khốn nạn! Tôi thi đã mười
khoa, bán hết cửa nhà ruộng đất về việc khoa cử. Định đi một phen này nữa thì
thôi...". Lại có cảnh một ông cụ già yếu quá, đường trơn nên ngã chỏng gọng
trên đường vào trường. Khi các sỹ tử chạy lại đỡ và khuyên cụ về, kẻo vào trường
thi cũng chết rét thì cụ bảo: "Lão thi đã 6 khoa rồi, khoa này mới được
vào kỳ đệ nhị, sống chết lão cũng vào trường cái đã".
Thực ra, cho đến giữa đời Trần, trong không khí "Tam
giáo đồng nguyên", nền chính trị cũng như học thuật Việt Nam hãy còn khá cởi
mở nhưng từ đây đám nho sỹ - tầng lớp ngày càng có địa vị chính trị - luôn đề
xướng "cải cách", và từ đó thi cử ngày càng rập khuôn Trung Hoa. Vì
nô lệ cho học thuyết, nho sỹ tự nguyện làm kẻ bợ đỡ quyền lực, họ lèo lái cả những
quan hệ gia đình theo chiều có lợi cho nhà nước chuyên chế. Phan Châu Trinh đã
bóc trần bộ mặt gian giảo đó của đám nho nô như sau: "Chẳng những
vua quan chuyên chế mà thôi, họ còn lập mưu kéo cả kẻ làm cha, làm chồng vào
cái cạm độc ác ấy nữa để cho tiện việc chuyên chế của bọn họ. Một bọn hủ nho mắc
cạn còn vẽ rắn thêm chân, đem những tư tưởng rất nông nổi truyền bá ra để trói
buộc dân gian. Như là "Quân thần chí nghĩa bất khả đào ư thiên địa
chi gian", nghĩa là mình sinh ra xứ này phải đội ông vua lên đầu. Tư cách
ông vua thế nào, tài năng ông vua thế nào, chính sách ông vua thế nào, các ông
không cần biết đến. Hễ đã có cái huy hiệu là ông vua thì các ông đội lên thôi!
Các ông đã tôn vua lên, tất nhiên các ông phải tôn cha lên mà nói "Thiên hạ
vô bất thị để phụ mẫu", nghĩa là trong trời đất không có cha mẹ nào
quấy. Ôi hủ nho! Cũng vì mấy câu tà thuyết của các người mà gia đình luân lý của
nước nhà ta ngày nay trụy lạc đến thế này" (Đạo đức và luân lý Đông Tây).
Về danh nghĩa, nho sỹ - quan chức là người giúp vua trị nước.
Nhưng thực tế tầng lớp này đã làm được gì cho dân và đóng góp được gì vào tiến
trình lịch sử? Nhìn số nhà nho có công lao đối với đất nước thời phong kiến như
Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Nguyễn Công Trứ,... và
thế hệ nhà nho cuối cùng dấn thân vào sự nghiệp cứu nước như Nguyễn Thượng Hiền,
Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế,..., ta thấy thực
ra họ chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, nếu biết rằng từ năm 1075 - 1918 có 2896 tiến
sỹ.
Lại thử khảo sát số nho sỹ cao cấp nhất do khoa cử mang lại,
tức là các trạng nguyên, chúng tôi thấy trong số 47 trạng nguyên (2) được
ghi tên trong lịch sử khoa cử thì chỉ có ba người có công trạng lớn: Mạc Đĩnh
Chi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Giáp Hải; 11 người có công trạng vừa: Bùi Quốc Khái,
Nguyễn Hiền, Bạch Liên, Lý Đạo Tái, Đào Sư Tích, Nguyễn Trực, Phạm Đôn Lễ, Nguyễn
Giản Thanh, Nguyễn Thiến, Trần Văn Bảo, Nguyễn Đăng Đạo. Số còn lại đa số là vô
danh, hay nói cách khác, cái khoa danh của họ đã "nát với cỏ cây" từ
lâu.
Khi chế độ suy đồi cũng thường là lúc đất nước lâm vào giặc
ngoại xâm, nhân dân khốn khổ trăm bề, nhưng hầu hết nho sỹ vẫn lặn lội trong
"rừng Nho biển Thánh", nhắm mắt trước vận nước. Nhìn cảnh sỹ tử lố nhố
dự khoa thi Hương, Tú Xương đã đau xót thốt lên:
Nhân tài đất Bắc nào ai đó ?
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà !
Phan Bội Châu đã tổng kết về tầng lớp văn sỹ, tức nho sỹ như
sau: "Tiết nghĩa, khí khái trong văn chương, trước thuật thì có, còn bàn về
việc góp phần chỉnh đốn trời đất, quét trừ giặc dữ, thì đại để đều do bọn võ
nhân, chứ không phải phường quần dài áo rộng kia. Bọn đó còn bàn gì được chuyện
thiên hạ" (Việt Nam quốc sử khảo).
Trên kia chúng tôi đã trình bày nhiều mặt tiêu cực của nền
Nho học. Nhưng có lẽ cái tiêu cực nhất, đến mức phải gọi là phản động, ấy
là toàn bộ hệ thống của nó đem lại cho người ta một thứ triết lý tĩnh tạivà khép
kín. Văn minh tân học sách (Đông Kinh nghĩa thục, 1907) gọi đây là
"nguyên nhân khởi điểm" (nguyên nhân của mọi nguyên nhân): "Một
là khởi ở cái điểm "nội hạ ngoại di", không thèm hỏi đến chính thuật
và kỹ năng của nước khác. Hai là khởi ở cái điểm quý đạo vương, khinh đạo bá,
không thèm giảng đến cái học phú cường cơ xảo của nước ngoài. Ba là khởi ở cái
điểm cho xưa là phải, nay là quấy, không chịu xem xét kiến thức và những sự suy
nghĩ bàn luận của người sau. Bốn là khởi ở cái điểm trọng quan và khinh dân,
nên không thèm kể đến tình hình hay dở ở chốn hương thôn (...) Thành thử mấy
nghìn năm nay, văn minh tiến hoá của ta mới có cái tính tĩnh mãi mà không có
cái tính động mãi. Thật cũng là đáng ngậm ngùi buồn bã vậy".
Ở châu Âu, sau 1000 năm chìm đắm trong đêm trường trung cổ, họ
đã bừng tỉnh để xây dựng lại nền văn minh. Nhưng ở Việt Nam, do sự thống trị
lâu dài của Nho giáo, dân tộc ta bị bế tắc. Một bộ phận nhỏ sỹ phu lo nước
thương đời, ôm khối trách nhiệm "Một gánh cương thường nặng núi sông"
(Phan Văn Trị) cũng đành bất lực nhìn đất nước rơi vào tay giặc.
Những việc phục cổ hôm nay, như xây văn miếu mới ở nhiều địa
phương, đề cao thái quá học hàm, học vị, hiện tượng trẻ em phải học đến mụ người,
hay việc tuyển chọn cán bộ theo bằng cấp (khiến cho cả xã hội chạy đua bằng cấp),
phải chăng chính là sống lại căn bệnh khoa danh, khoa hoạn, căn bệnh học giáo
điều, những thứ đã làm tiêu mòn sức sống của dân tộc?
Mỗi năm nhà nước phong hàng trăm giáo sư, phó giáo sư (năm
2014 là 644 vị), còn các trường đại học và viện nghiên cứu thì sản xuất ra hàng
ngàn tiến sỹ để làm gì khi một việc đơn giản như cái đinh ốc người mình chưa
làm được? Theo một bài báo trên Đất Việt(3),
cho đến 2014, cả nước có khoảng 9.000 giáo sư, phó giáo sư và 24.300 tiến sỹ,
nhiều nhất Đông Nam Á nhưng số công trình khoa học được công bố trên các tạp
chí quốc tế lại gần như thấp nhất. Báo điện tử Tia sáng ngày
25-2-2009 cho biết,năm 2008, Việt Nam chỉ công bố được 910 bài báo khoa học
trên 512 tập san khoa học quốc tế, so với 5553 của Singapore, 3310 của Thái
Lan, 2194 của Malaysia. Và có lợi bất cập hại không, khi hằng năm nhà nước long
trọng tổ chức lễ trao chức danh giáo sư, phó giáo sư tại Văn Miếu - Quốc Tử
Giám, hệt lễ xướng danh cho các ông cử "tân khoa" thời trước, để rồi
đa số các vị ấy không làm được gì hơn người bình thường?
Muốn đất nước ra khỏi tình trạng tụt hậu, ngoài cải cách kinh
tế, chính trị, thì cải cách giáo dục là quan trọng thứ hai. Trong cải cách giáo
dục, thiết nghĩ, trước hết phải phê phán triệt để những di hại nền Nho học xưa,
bao gồm cả thể chế giáo dục lẫn tâm lý người đi học, chứ không phải khôi phục
"truyền thống" tuỳ tiện như hiện nay.
Chú thích
(1) Thi
Hương tổ chức theo khu vực để chọn cử nhân, tú tài: điểm cao thì vào cử nhân,
điểm thấp hơn thì tú tài). Thi Hội và thi Đình tổ chức ở kinh đô cho người đã đỗ
cử nhân. Đỗ thi Hội thì được vào thi Đình. Thi Đình chỉ để phân chia thứ bậc (đỗ
nhất: trạng nguyên, nhì: bảng nhãn, ba: thám hoa, còn lại là tiến sỹ và phó bảng).
(2) Không
kể Lê Văn Thịnh mà nhiều sách coi là ông đỗ trạng nguyên, vì thời đó chưa có bậc
trạng nguyên...
(3) http://baodatviet.vn/.
Đào Tiến Thi
Phú Quốc: Đảo ngọc, biên hải, trấn ngự cõi trời Nam
Phú Quốc: Đảo ngọc,
biên hải, trấn ngự cõi trời Nam
1. Phú Quốc, rừng vàng
Trước khi đến Phú Quốc, tôi biết sự giàu có hàng đầu của Phú
Quốc phải kể đến là hồ tiêu, hạt điều, nước nắm, ngọc trai, đồi mồi,... Tôi
cũng đã đến thăm một số cơ sở nuôi trồng, chế biến các đặc sản này và mỗi nơi đều
để lại những điều thích thú. Nhưng các chuyện đó sẽ nói vào dịp khác.
Vì ấn tượng nhất đối với tôi lần đầu đặt chân lên Phú Quốc lại
là rừng. Hôm chúng tôi đến đã là cuối thu, nhưng ở đây không hề có "sắc
đâu nhuộm quan hà", trái lại, đi nam đảo hay bắc đảo đều thấy một màu xanh
ngút ngàn: vườn xanh, sông xanh, biển xanh và đặc biệt là rừng xanh. Rừng chiếm
¾ diện tích, trong đó rừng nguyên sinh là chủ yếu. Rừng có mặt ở khắp nơi nhưng
tập trung ở phía bắc. Đảo Phú Quốc trông như một củ khoai đầu to đầu nhỏ, đầu
to là bắc đảo và rừng nguyên sinh trùm lên gần như toàn bộ miền này. Rừng
nguyên sinh ở đây thật kỳ thú. Đang ở ngoài trời nắng nóng như đổ lửa, đi vào rừng
bỗng như đi vào phòng có máy lạnh. Tính chất "nguyên sinh" của rừng rất
rõ rệt với chim ca đủ giọng, với những cây cổ thụ dây leo chằng chịt và hàng chục
loài thực vật khác sống nhờ trên thân nó. Đặc biệt, rừng khá bằng phẳng và có
những con đường mòn đi sâu vào tim rừng khiến ta có cảm giác nó không hẳn là rừng
rậm nhiệt đới (rain forest) mà có gì đó hơi giống các khu rừng ôn đới bên châu
Âu.
Các sách địa chí xưa khi nhắc đến Phú Quốc đều nhấn mạnh sự
giàu có của đảo này về sản vật rừng. Trong Xiêm La quốc lộ trình tập lục (một
cuốn sách miêu tả các con đường ở Xiêm và các con đường từ Việt Nam sang Xiêm,
1810) của Tống Phước Ngoạn và Dương Văn Châu, miêu tả Phú Quốc "nhiều trâu
rừng, dân cư đông đúc, chuyên đi lấy huyền thạch, trầm hương, tổ ong, hải sâm,
các thứ mây thủy đằng, thiết đằng, long đằng và làm các nghề đánh cá, nước mắm".
Còn Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1820) thì viết:
"Không có hổ báo, nhiều lợn rừng, trâu rừng, hươu nai, yến sào, mây, gỗ tốt,
đồi mồi, hải sâm, quế hương (...); núi có huyền phách là tinh đá đen sáng óng
ánh như sơn, tiện làm hạt đeo, có hột đường kính ba tấc, có thể khắc làm các thứ
hộp dầu, chén đĩa, rất quý giá...".
Ngày nay, do Phú Quốc còn nhiều rừng nên đâu đâu cũng có nước
ngọt, kể cả đào giếng sát mé biển vẫn có nước ngọt. Chỉ riêng về nước ngọt, Phú
Quốc đã xứng đáng là một hòn đảo giàu có, nếu biết rằng cả dải duyên hải Kiên
Giang, Cà Mau, Bạc Liêu nước ngọt khó khăn và ngày càng có nguy cơ cạn kiệt bởi
sự nhiễm phèn mặn và sự khai thác vô độ của con người. Còn nếu so sánh với
Singapore, đảo quốc không có nước ngọt, nguồn cung cấp nước chủ yếu là nước
mưa, phần còn lại phải mua của Malaysia hoặc tái chế, thì Phú Quốc là kho trời
vô giá về nước ngọt mà thiên nhiên ban tặng cho Việt Nam.Vườn quốc gia trên xã Gành Dầu(Ảnh: Đào Tiến Thi)2. Phú Quốc, bước chân Nam tiến xa nhất của người Việt về
phía tây nam
Thật khó biết người Việt nào đầu tiên đã "mang gươm đi mở
cõi" ở Phú Quốc. Ghi chép sớm nhất về Phú Quốc có lẽ là trong Lý lịch
sự vụ của Nguyễn Đức Xuyên (1759 - 1824). Khi kê khai lý lịch của mình, địa
danh Phú Quốc được ông nhắc đến trong trận đánh tháng giêng năm Cảnh Hưng thứ
44 (1783), trận này Nguyễn Ánh thua to quân Tây Sơn, phải trốn ra Phú Quốc. Đảo
hồi đó đã đông dân rồi. Có lẽ người Việt đã đến Phú Quốc khai phá ít nhất từ đầu
thế kỷ XVIII.Còn trước khi người Việt đến đây, hòn đảo này cũng như đất
Nam Bộ nói chung thuộc đất Thủy Chân Lạp. Và trước khi đất này thuộc về người
Chân Lạp, chủ nhân của nó là người Phù Nam. Đế quốc Phù Nam, theo các nhà sử học,
do những người gốc Ấn Độ lập nên vào giữa thế kỷ I, hưng thịnh ở thế kỷ III,
suy tàn từ giữa thế kỷ VI và biến mất vào đầu thế kỷ VII. Đế quốc Chân Lạp
(Khmer) sau khi thắng đế quốc Phù Nam, đã chiếm hữu vùng đất rộng lớn này nhưng
người Chân Lạp chỉ sinh sống trên một vài vùng đất cao và họ thiết lập chủ quyền
ở đây một cách lỏng lẻo. Có lẽ vì đất Bộ Chân Lạp (tương đương Campuchia ngày
nay) – đất gốc của họ – hồi ấy đã quá màu mỡ và rộng rãi, cho nên miền Thủy
Chân Lạp với rừng rậm đầm lầy lại đầy thú dữ, không đáng để họ quan tâm? Vả lại,
trong suốt các thế kỷ XVII, XVIII, nhà nước Chân Lạp suy yếu, các vua chúa vừa
lo đối phó với các cuộc xâm lược của người Xiêm, vừa mải tranh giành ngôi báu,
vùng đất này gần như đã nằm ngoài khả năng quản lý của họ.
Vì thế, từ đầu thế kỷ XVII, người Việt và tiếp theo là những
người Hoa tỵ nạn dưới sự bảo trợ của các các chúa Nguyễn Đàng Trong, đã tiến
vào khai phá vùng lưu vực sông Đồng Nai (Đông Nam Bộ), rồi dần dần tiến sang
phía tây (Tây Nam Bộ). Và miền đất Hà Tiên – Phú Quốc do Mạc Cửu (1655 – 1735,
người Quảng Đông, Trung Quốc) chiêu mộ dân mà lập nên. Có lẽ chính Mạc Cửu đã đổi
tên đảo Koh Tral (tiếng Khmer) thành Phú Quốc (vùng đất giàu có)? Chúng tôi sẽ
trở lại vấn đề ở bài viết về Hà Tiên.
3. Phú Quốc, biên hải, tiền tiêu của Tổ quốc
Phú Quốc nằm cách TP. Rạch Giá 120km và cách TX. Hà Tiên
45km, là nơi xa xôi nhất của lãnh thổ Việt Nam về phía tây nam.
Phú Quốc từ xa xưa cho đến tận bây giờ là nơi dung thân cho
những lưu dân với muôn vàn tình cảnh khác nhau, đồng thời cũng là nơi nương náu
của các bậc anh hùng lỡ vận nhưng vẫn nuôi chí lớn. Cũng đảo này, dân ta cũng
thường xuyên phải đương đầu với quân xâm lược Xiêm tràn sang cướp bóc. Và chính
ở nơi đây, tuy đã thất thế (6-1868), Nguyễn Trung Trực vẫn lập căn cứ chống
Pháp, hy vọng kháng chiến lâu dài. Thực dân Pháp nhận ra điều nguy hiểm này cho
chúng nên đã tập trung một binh lực lớn để bao vây tiêu diệt. Nhưng tinh thần của
người anh hùng thì lại bất diệt với câu nói mà nay được treo ngay trên điện thờ
trong ngôi đình mang tên ông trên đảo Phú Quốc: "Bao giờ người Tây nhổ hết
cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây".
Tuy nhiên, với một hải đảo xa xôi và hoang vu như Phú Quốc
thì nạn hải tặc có lẽ còn thường xuyên hơn, nguy hiểm hơn cả ngoại xâm. Trong
các loại hải tặc thì giặc Chà Và, còn gọi là Đồ Bà (Java, Indonesia) là giặc cướp
lớn nhất ở vùng biển này. Gia Định thành thông chí (sđd) viết về Phú
Quốc: "Chỉ vì là nơi xa xôi hẻo lánh, phải phòng bị giặc biển Chà Và nhân
sơ hở đến cướp, cho nên đặt quan thổ ngự, lấy dân làm lính, đều đủ khí giới, cùng
nhau giữ gìn".
Đến Phú Quốc, tôi cảm hoài vô hạn với một địa danh mà ít người
để ý: nhà hàng mang tên Biên Hải Quán. Biên Hải Quán nằm chênh vênh ở
một điểm chót mũi của Mũi Gành Dầu, xã Gành Dầu, tức là điểm cực tây của đảo
Phú Quốc. Từ đây nhìn về hướng tây bắc thấy đảo Kaoh Thmel hay Koh Seh (Cô-xét,
xưa người Việt gọi là Hòn Siêu) của nước bạn Campuchia, chỉ cách bên ta có
4,5km.Một góc Biên Hải Quán, chỗ tạm nghỉ trưa cho khách(Ảnh: Đào Tiến Thi)Biên Hải Quán là một nhà hàng kiểu "dã chiến", mang
tính chất "quán" nhiều hơn nhà hàng. Chính vì thế, nó lại càng ấn tượng
về một miền hải giới vừa có mây núi trăng ngàn, vừa có biển khơi sóng vỗ.
Quán biên thùy nơi chia đôi cương giới
Triệu một bên, Yên hờ hững một bên.
Đó là mấy câu hát trong trong vở kịch thơ Quán biên thùy của
Thao Thao (1943). Câu thơ nói về nơi cương giới giữa hai nước Triệu, Yên, nơi
tráng sỹ Kinh Kha chia tay bạn tri âm Cao Tiệm Ly để sang Tần, mà sao tôi lại
thấy nó giống Biên Hải Quán của Phú Quốc quá chừng! Bất giác muốn thay mấy chữ
để thành:
Biên Hải Quán nơi chia đôi hải giới
Việt một bên, Miên hờ hững một bên
Không biết thời xưa nước Yên "hờ hững" như thế nào,
chứ nước Miên (Chân Lạp) vào các thế kỷ XVII, XVIII quả là có hờ hững về chủ
quyền đối với vùng đất phía đông nam (tức đất Thủy Chân Lạp) của họ. Như đã nói
trên, người Miên ngại khó hay nhu cầu dân số chưa cấp bách, hay vì chiến tranh
liên miên mà hờ hững với mảnh đất này? Có lẽ là cả ba. Và vì thế người Việt từ
việc tự phát đến đây mưu sinh, đã tranh thủ thiết lập luôn chủ quyền lãnh thổ của
mình, hợp thức nó qua hình thức "dâng tặng" của các vua chúa Chân Lạp.
Về sau các vua chúa Chân Lạp cũng có ý tiếc và thường lợi dụng lúc Việt Nam có
biến để chiếm lại nhưng đều đã muộn. Theo luật pháp và thông lệ quốc tế, biên
giới và lãnh thổ là cái được hình thành và ổn định trong lịch sử. Và đất này
trên thực tế đã thuộc về Việt Nam và đã ổn định từ lâu. Âu cũng là bài học cho
chính người Việt Nam chúng ta hôm nay. Bất kể tấc đất nào mà tiền nhân ta
đã đổ mồ hôi khai phá và đổ xương máu để giữ gìn cũng đều là máu thịt thiêng
liêng, chứ không thể coi là "bãi hoang chim ỉa". Nếu hững hờ sẽ mất
chủ quyền lúc nào không hay.Tác giả (đeo túi) đứng bên hông Biên Hải Quán, dãy núi xanh
xa xa là đất CampuchiaTháng 2/2016Đào Tiến Thi
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Cái Tôi của Phạm Duy trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...


.jpg)
.jpg)

.jpg)
.jpg)




.jpg)