Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2024

Gió vẫn thổi qua cánh đồng bên sông

Gió vẫn thổi qua
cánh đồng bên sông

Tiếng mõ nổi lên trong gió, trong âm vang sôi động của làng. Tiếng mõ càng lúc càng to như thúc vào lòng người dân làng Ngò.
Hai cánh tay mặc áo nâu sồng gân guốc nhẫn nại gõ mõ, gương mặt khắc khổ của một người đàn ông chừng hơn 50 tuổi hiện ra trong ánh đèn vàng vọt. Phía bên ngoài nhìn vào, có thể thấy căn nhà nhỏ lợp tôn nằm giữa vườn khế đang lên xanh. ánh đèn dầu chập chờn hắt ánh nâu tu hành lên tường. Tiếng khấn trầm đục dội lên trong tiếng côn trùng và ếch nhái:
"Nam mô đại từ bi cứu khổ cứu nạn... Xin Ngài rủ lòng từ bi cho cha con con được làm người thường..."
Niệm chạy ùa vào đặt rổ tôm đang nhặt dở xuống nền nhà:
- Ông Trọc à, con nói bao nhiêu lần rồi mà ông cứ xin Phật cái chuyện đó.
- Ta sẽ còn xin Ngài cho đến khi mắt ta nhìn ra được cõi vô biên. Niệm, hôm nay con gặp những ai trong làng?
- Con gặp bà Dinh này, những người đến mua hàng này. Với cả con gặp một cậu bé thật ngộ. Cậu ấy mới ở ngoài bắc vào. ý, không phải là một cậu bé xíu đâu, cao như cây khế đầu hồi kìa. Tên là Tài.
- Con có làm họ phật ý không? Có chào hỏi tử tế không?
- Con không biết...
- Có thấy ai nhắc tới mẹ không?
- Họ đâu có nhớ ba cái chuyện ngày xa. Ai cũng mải làm việc mà. Ông đừng nhắc tới mẹ con nữa.
Ông Trọc cúi đầu:
- Thì ta sẽ không nhắc,...
Im lặng bao trùm. Những con tôm tơi rói rào rào tràn ra miệng rổ, nhảy lách tách giữa nền đất. Niệm xắn quần, nhặt từng con cho vào rổ. Tiếng lão Trọc lại cất lên nặng nề:
- Con xẻ rượu mang ra cho ông Năm. Xem ông ấy có khỏe không? Có cần gì không?
Những con tôm nhảy loạn xạ trong cái vó nhỏ được nhấc lên khỏi mặt nước. Sương mù buổi sớm giăng khắp cành cây ngọn cỏ. Niệm cúi khom người trên bến nước để gỡ từng vó tôm. Cô đổ tôm vào cái rổ rồi đậy kín lại bằng vải màn.
Việt đang lặn dưới sông xúc cát. Mặt trời nhô lên đỏ ối phía cửa biển Thuận An. Dòng sông Hương thật hiền từ và thơ mộng với những ai đến đất này để thưởng thức vẻ đẹp cổ kính của xứ Huế. nhưng bàn tay những người con trai vạn chài thì nhợt đỏ vì cát, lới cá và nước. Những thúng cát được đội lên từ đáy sông chảy nước ròng ròng lên mặt lên ngực Việt.
Nhìn thấy Niệm, Việt đội thúng cát đứng sững trên mạn thuyền. Anh nhìn cho đến khi người cha gọi giật từ trong khoang thuyền:
- Việt, làm gì mà ngó sững vậy?
Việt đổ vội thúng cát xuống thuyền. Rồi anh trờn xuống nướcnhư con rái cá. Lát sau Việt nhô lên với thúng cát.
Bên bếp lửa giữa khoang thuyền, hai cha con ngồi lặng lẽ uống rượu. Người mẹ lúi húi nướng cá khô. Lửa và cá gặp nhau nổ lách tách. người cha vừa nhấp rượu vừa dằn giọng:
- Ba đã nói rồi, tìm con gái nhà lành mà kết bạn. Tránh xa con bé đó ra.
- Cô ấy... cô ấy... hiền lành tử tế.
Việt ấp úng. người cha gầm lên:
- Tao đã nói là phải tránh xa nó ra. Nó là thứ con hoang, hiểu không? Tao với mẹ mày còn lạ gì mẹ nó. Thứ đàn bà đi hoang đó máu huyết hôi tanh mấy đời. Còn thằng cha nó, chà, ngày xa mới ghê chứ. Đi xe Jeep, tác oai tác quái ở cái đồn chợ Mai. Chà, nhưng mà mẹ nó quả thật là đẹp...
người mẹ rụt rè:
- Thôi ông ạ, người ta chết hóa thành cát bụi rồi.
Việt rầu rĩ nhìn ra dòng sông, nhìn lên phía cánh đồng hoang. Ở đó gió vần vũ thổi, xô những cây khế hoang trụi lá. Những con sâu khế không chốn nương thân phơi mình trần trụi dưới những tia nắng sớm.
Bụi cát tung lên mù mịt trên bến làng Ngò. Một buổi ban mai tuyệt đẹp trên cái bến sông nhỏ nhoi, dù cát và bụi vẫn không thôi làm vẩn đục bầu không khí trong lành.
Bí thư Phước đứng chống nạnh trong trụ sở ủy ban xã. Khẩu AK đặt ở bàn, bên cạnh tay anh. Có hai thanh niên mặt lì lợm đang ngồi trên cái ghế băng trước mặt. Họ còn rất trẻ.
- Nói đi! - Phước gầm lên - Ai chỉ huy các anh ném truyền đơn?
Một thanh niên đáp cứng cỏi:
- Thưa ông, đó không phải là truyền đơn. Đó chỉ là một trò đùa. Mà cũng không phải là trò đùa. Tất cả là do tôi làm, còn cậu ấy chỉ đi theo.
người thanh niên kia vội chặn lời:
- Không phải anh ấy. Là do tôi.
Những mẩu giấy bị gió thốc vào bay tứ tung trong phòng. Một tờ rơi ngay xuống đất phía trước mặt Phước. Dòng chữ đập vào mắt anh như trêu ngươi: "Lãnh đạo xã cửa quyền ức hiếp dân!".
Đôi mắt bí thư Phước vằn lên đỏ quạch. Lồng ngực anh như muốn nở vụn ra từng mảng.
Bỏ mặc hai thanh niên ngồi trơ trong trụ sở, anh lên xe, nổ máy. Chiếc xe Honda mầu cỏ úa lao đi, để lại sau nó khói và bụi mù mịt. Chiếc xe dừng lại trước cửa nhà ông Trọc. Phước dựng xe, xốc lại súng, bước vào.
Trong nhà khói Hương nghi ngút. Ông Trọc đang ngồi thiền trước bàn thờ Phật. bí thư Phước phá tan sự tĩnh lặng:
- Ông theo tôi lên xã.
Ông Trọc ngước mắt bình thản:
- Lại có việc gì, phải không anh?
Phước chìa tờ giấy có mấy chữ nguệch ngoạc:
- Chữ này là của ông!
Ông Trọc chắp tay:
- A di đà Phật! Quả thật là oan cho tôi quá.
- Không lẽ người ta biết nhại lại chữ ông?
- Kẻ tội đồ này biết mình đầy tội lỗi. nhưng đã tự ăn năn sửa mình. Xin ông xem xét cho kẻ tội đồ này được hởng phúc ấm trong sự ăn năn.
Phước nhếch miệng, gương mặt giãn ra:
- Thế là ông đã biết tội lỗi của mình với cách mạng, với cả bà T nữa. Ông còn nhớ ngày xa, cái ngày ông cho lính xăm đúng căn hầm của tôi không? Nếu lúc ấy ông không nhìn thấy người đàn bà đi từ ngoài sông vào giống hệt bà T, nếu ông không chạy theo bà ta để lính tản đi, thì quả lựu đạn của tôi sẽ kết liễu ông cùng tốp lính. - Phước cời nhạt - Dĩ nhiên, cũng có thể là tôi sẽ hy sinh. nhưng ông sẽ không còn tồn tại. Tội ác cũng chết theo ông. Bà T sẽ không bị chết nhục vì ông. Bà ấy cứu ông mấy lần rồi?
Niệm từ lúc nào đã đứng ngay cửa ra vào. Cô cất tiếng nhỏ, khô gọn:
- Ông sai rồi, tha ông bí th!
Phước quay phắt lại:
- Cô... ! Cô bảo sao?
- Năm xa tôi biết ông Trọc đã cứu ông. Ông ấy giả bộ nhìn thấy mẹ tôi để cứu ông. Bây giờ cha con tôi... không có gì để chống đỡ d luận, để minh chứng cho mẹ tôi và ông ấy.
Ông Trọc nhăn mặt lại như bị một cơn đau tim đột ngột.
- Niệm, con là con gái không nên nói nhiều.
Phước hoang mang trước vẻ bình thản của hai cha con. Nhất là trước những lời lẽ của Niệm. Dường như anh mới chính là kẻ có tội. Tại sao? Anh cảm thấy bực bội.
- Thôi được, ông hãy tự lên xã viết lời khai. Coi như tôi nể ông nên không dùng khẩu súng này để áp giải ông.
Phước quay ra, hằm hằm lên xe. Chiếc xe vọt đi như cơn lốc. Niệm chạy tới bên cha, người cha mà cô vẫn không thể nào gọi ông bằng cái từ "ba"như ông thèm khát.
- Ông không nói cho anh ấy hiểu. Tại sao ông không nói?
- Có nói cũng chẳng ai tin con ạ. Mọi sự trời đất sẽ tự sắp đặt. Vì ý nguyện của mẹ con, ta được sống bình yên thế này là tốt lắm rồi...
Ông Trọc chắp tay bước ra khỏi nhà. Ông đi liêu xiêu như kẻ hành Hương về cửa Phật,như kẻ đang tự trói mình.
Niệm mang tấm ảnh của mẹ ra, ngồi bệt xuống bậu cửa để ngắm. nước mắt cô lặng lẽ lăn trên gò má. Cô sống trong sự đùm bọc của dân làng Ngò mà như ở giữa thinh không, bởi cô là kết quả của một liều thuốc ngủ mà đại úy ngụy, đồn trưởng đồn cảnh sát khu vực Phú Vang với cái tên Quần Trọc đã thuốc cho bà T, một nữ giao liên bí mật, đẹp nức tiếng trong vùng, khiến bà mang thai trong một đêm bị bắt lên đồn. Khi ấy vợ chồng bà lấy nhau đã lâu mà cha có con. Khi ấy, ông Năm chồng bà đang phải chống xuồng chạy trốn sự truy quét của giặc. Ông là một cán bộ nằm vùng, cùng đội với Phước.
Ông Năm ngồi ngây nhìn ra phía mặt sông. Phía đó có tiếng nước quẫy ràn rạt. Niệm đang khom người, đặt những cái vó nhỏ xuống nước. nước loáng bạc trên những sợi lới. Một vài con tôm bắt đầu lọt vào vó, bơi tung lênnhư một vũ điệu nguyên thủy. Một con đò đi qua. Tiếng hò vang cả một khúc sông:
"trước bến Văn Lâu. Ai ngồi ai câu. Ai sầu ai thảm... Hò ơ... ".
Ông Năm lẩm bẩm:
- Con Niệm lại đi vó tôm đó.
Tài hỏi:
- Rồi sao nữa ông Năm? Cái chuyện ngày trước ấy?
Ông Năm như không nghe tiếng hỏi của Tài. ý nghĩ của ông đang trôi theo dòng sông, nơi người đàn bà của ông trầm mình.
- Con thấy con Niệm đẹp không?
- Đẹp! nhưng con cha nhìn rõ.
- Sao vậy?
- Con không biết!
- Ờ, thật kỳ lạ. Trong làng này, trai làng không đứa nào dám nhìn thẳng vào nó.
- Con không phải trai làng. Cũng không phải là sợ. Con thấy chị ấy như ở trên cao, nên không dám...
Niệm đã đến gần họ từ lúc nào. Cô chào:
- Con đây mà bác Năm.
- Ờ, hôm nay đặt mấy vó?
- Cỡ chục!
Tài ngẩng lên nhìn Niệm qua ánh lửa:
- Chào chị!
Niệm cời xòa, ngồi xuống gần bên Tài, hơ hai tay ớt nhẹp bên ngọn lửa.
- Định làm trai làng sao?
Tài cời:
- Giờ thì em nhìn rõ mặt chị quá.
Hai chị em cùng cời. gương mặt ông Năm giãn ra. Niệm nhấc cái chai rượu trong rổ, đổ rượu sang cái vò đất của ông Năm. Cô nhắc:
- Hôm nay bác uống hơi nhiều.
- Ờ, nhưng hôm nay ta đang muốn say. Ông Trọc được tha về cha?
- Dạ, về ngay. Ông bí thư vì nể mẹ con mà tha ông ấy.
Ông Năm thảng thốt:
- Vì mẹ con sao? Có thật vậy không?
- Ông ấy nói như vậy mà.
Ông Năm lẩm bẩm:
- Vậy là hắn còn có chút nể trọng bà ấy... Hắn còn là người của cách mạng. Lớn lên các con phải biết khoan dung, phải nể trọng tạo hóa. Những người như bà ấy là tặng vật của tạo hóa. Khi ta lấy được bà ấy, ta đã nghĩ rằng phải sống thiện bao nhiêu kiếp ta mới được trời đất ban tặng cho người con gái ấy...
Ông Năm uống ực một ngụm rượu, rồi gỡ cá cho vào miệng. Niệm lặng lẽ đứng lên, lặng lẽ giật lùi vào phía màn đêm lập lờ đầy đom đóm và ánh trăng.
Tài ngồi sững nhìn ông Năm. Rồi ngước nhìn ánh trăng bắt đầu rực rỡ trên nền trời. Lửa bếp chợt bùng lên rồi lụi xuống. Ông Năm cời nhẹ một tiếng:
- Con biết không, thể xác có thể phải chịu ba số phận: bị ăn thịt và biến thành phân, bị đem chôn và biến thành giòi, hoặc bị thiêu và biến thành tro. Vậy mà bà ấy chẳng chọn cách nào, lại tự mình tan thành nước, tan thành mây, thành ánh trăng trên cái nền trời đen ngòm kia. Bà ấy, mẹ con Niệm đó...
Ông lão gục người trong ánh trăng.
dưới sông, Niệm cúi khom người nhấc vó tôm. Tiếng nước và tiếng tôm búng lách tách. Phước từ trong làng đến gần chỗ Niệm, báng AK đập vào một bên đầu gối. Niệm không nghe thấy tiếng bước chân và tiếng va đập của báng súng. Cô chỉ nghe tiếng dế đang nỉ non trong cỏ và tiếng tôm búng.
- Tại sao đêm nào cô cũng đi hớt tôm? Sao cô không kiếm một nghề gì đó, thợ may chẳng hạn?
Phước hỏi, giọng của anh rền rền như sấm. Niệm ngước lên, thản nhiên:
- Tôi thích đi hớt tôm.
- Cô sinh ra không phải để làm cái việc này. Cô có muốn tham gia dạy bổ túc cho bà con không?
Niệm ngạc nhiên:
- Tôi?
- Phải! Cô đã học hết phổ thông. Ở xã những người học hết cấp ba ít quá, lại đi học xa cả.
Niệm đứng lên:
- Các ông tin tôi sao?
Phước quay mặt lảng ra phía khác.
- Thực ra, thực ra... Thôi được, tôi sẽ đề tên cô vào danh sách. Thực ra, cô chính là người mà xã đang cần. Thực ra... tôi cũng rất mến cô. Có thể là chúng tôi đã quá khắt khe.
Anh ngồi bệt xuống bờ cát, cỏ đang lấp dần những mô đất trơ trọi. Niệm vẫn đứng phía dưới, gần mép nước. Một con sên đất ngọ ngoạy bò ngang giữa hai người. Giọng Phước rền rền trong những cơn gió thoảng tới.
- Cô biết không, nhiều khi tôi cũng rất mệt mỏi. Lúc nào cũng giữ kh kh khẩu súng này. Trông nó không hợp với tôi, phải không? nhưng tôi sợ là nếu tôi lơ là, mọi chuyện sẽ rối bét hết cả.
- Các ông phải tin chứ. Phải tin tất cả.
- Chúng tôi ? Cả cô cũng là chúng tôi mà. Cô phải ngẩng mặt lên. Tại sao cô không tự ngẩng mặt lên?
Niệm thoáng sững sờ. Cha có ai nói với cô điều đó.
- Tôi ?
- Phải, cô!
Rồi anh đứng lên, lùi lũi bước đi, bước chân hơi rơn rớn mệt mỏi. Niệm đuổi theo:
- Ông bí th! Xin cho tôi hỏi một điều...
Phước dừng lại. Niệm ngập ngừng:
- Có phải... có phải ông biết rõ về mẹ tôi?
- Ở đây ai cũng biết bà ấy. Trừ đám trẻ cha kịp nhớ gì.
- Mẹ tôi có phải là...
Gió nổi lên khua giọng nói người con gái cô đơn vang xa lễnh loãng trong hơi Sương mù mịt. Phước vô tình nắm tay vào báng súng.
- Bà ấy thật là đẹp. nhưng... cô còn lung linh hơn.
- Tôi muốn hỏi mẹ tôi có thực là kẻ phản bội không? Ông là người đã hoạt động cùng mẹ tôi, ông phải biết rõ điều đó.
Phước ngoảnh mặt ra mặt sông, nơi người làng nói mẹ Niệm đã trầm mình, khoát tay:
- Ờ, thực ra... thực ra tôi cũng không rõ. Cô hỏi bác Năm thì hơn.
Niệm chạy lên phía trước chắn ngang Phước:
- Ông Trọc nói ông ấy đã kể rõ với ông mọi chuyện, nhưng ông không tin. Ông Trọc nói ngày ấy chính ông đã gặp mẹ tôi trước khi bà đi làm nhiệm vụ.
Phước bất chợt nắm chặt tay vào báng súng:
- Tôi căm ghét đàn bà không chung thủy! Lẽ ra cô phải là con của bác Năm, cô hiểu không? Chúng tôi đã để yên cho ông ta sống. Ông ta còn muốn gì?
- Ông ấy chỉ muốn ông minh oan cho mẹ tôi. Tôi cần phải tin ông.
- Tôi bất cần cô, cô bé ạ.
Phước gạt Niệm sang bên, bước đi dứt khoát. Niệm gào lên:
- Tôi muốn tin ông! Tôi muốn tin các ông!
ánh trăng đã khuất trong đám mây đen. Gió đã ngừng thổi. Chẳng còn tiếng bước chân và tiếng dế. dưới sông, nước vỗ lóc bócnhư vỗ về Niệm.
Việt từ trong chiếc thuyền đánh cá đêm nhảy lên, sải những bước dài về phía Niệm. Cô đang lụi bụi gỡ lới. Rồi xếp các thứ vào rổ, quày quả trở lên. Việt vội chạy đón ngang đường chỗ Niệm sắp đi qua. Trăng nhô ra trên doi cát, soi rõ cái làng nhỏ bên sông. Việt đứng sững giữa đường, lúng túng:
- Chào Niệm!
Niệm thoáng giật mình. nhưng cô nhìn Việt hờ hững. Cô lẽ phép:
- Anh làm ơn cho tôi đi nhờ.
Bị vẻ lạnh lẽo và âm thầm của Niệm đối lại, bị ánh trăng soi rõ những giọt mồ hôi rịn trên hai thái dương, bất giác Việt lùi lại bên lề đường. Anh cúi xuống như chính mình có tội với sự cô độc của cô. Anh cứ đứng bên đường, không dám nhìn theo cả bước đi của người con gái, hai bàn tay chai đỏ vặn vẹo vào nhau, bối rối.
Tài từ đâu chạy xe ngang qua. Chiếc xe đạp quay loang loáng, rồi chậm dần.
Chiếc xe dừng lại gần Niệm.
- Chị Niệm, được nhiều tôm không?
Mặt Niệm rạng rỡ hẳn lên. Lòng cô chợt thấy ấm cúng.
- Hôm nay cũng khá. Em về à?
- Vâng. Chị lên xe em chở về cho nhanh.
Niệm ngập ngừng, rồi ngồi lên. Cô thấy vui lây cái nhanh nhẹn trẻ trung của Tài.
- Đi chậm thôi kẻo đổ hết tôm.
- Đổ thì em mua lại tôm thật ngon đền cho chị.
- Cha đi làm mà có tiền sao? á!
- Sao vậy?
Tài phanh vội xe lại. Cái yên xe kịp dính ngón tay út của Niệm, lúc rút ra rớm máu. Tài nâng ngón tay đó lên dí về phía Niệm:
- Chị mút đi, kẻo phí. Ai bảo không bám vào người em?
Niệm quay mặt đi, cời:
- Gớm! Chị sợ máu.
- Em mút nhé.
Tài đa ngón tay rớm máu lên môi mút nhẹ. Niệm rụt phắt tay lại:
- Quỷ quá! Có tanh không?
Tài cời:
- Thế là máu chị hòa trong em rồi. Suốt đời chị cứ đeo bên em cho xem.
Niệm dúi đầu Tài:
- Cha thấy ai lỏi như em.
Trong vòng xe quay, họ chợt yên lặng. Vẳng trong gió áp tới, từ triền sông âm hưởng bài thơ của cõi Phật cùng tiếng mõ tụng:
Ai lơ lửng như thuyền nan không bến
Ai hận đời không một chút tình thương...
Thì đây
Mắt Thế Tôn nhìn xa ngoài muôn dặm
Lòng Thế Tônnhư bể thẳm xanh mầu
Tay hiền từ đốt đuốc giữa đêm thâu
Với pháp nhũ đầy vàng châu cảm mến...
nhưng rồi cuối cùng, Niệm lại cột chặt đời mình với Việt. Khi ấy bà T mẹ của Niệm đã được cách mạng minh oan. Bà hy sinh trên đường làm nhiệm vụ dịp Tết Mậu Thân 68, chứ không phải trầm mình dưới sông Hương vì vụ có con với đại úy Trọc rồi cứu ông ta khỏi án tử hình của cách mạngnhư lời kết tội bà bấy lâu. Ông Năm cho vào tiểu cái nơ buộc tóc, đôi dép và vài bộ quần áo của vợ. Xã làm lễ long trọng đa cái tiểu vào đặt trong nghĩa trang liệt sĩ. Niệm trở thành con liệt sĩ. Phước tránh mặt cô, dù âm thầm yêu cô. Anh biết mình có lỗi.
Khi ấy Tài đã hoàn thành chuyến du học. Anh trở về quê với tấm bằng kiến trúc s.
Khi bữa cơm gặp mặt vui vẻ trôi qua. Bạn bè cũng đã về hết. Tài khẽ hỏi mẹ:
- Chị Niệm biết con về sao không ra đón? Cũng không thấy lên?
người mẹ im lặng lảng sang chuyện khác.
Mấy hôm sau, Tài nhận được một thiếp mời. Anh sững người nhìn phong thiếp, hỏi mẹ:
- Chị Niệm cưới? Sao chị ấy không đợi con về?
Anh chợt nhìn thấy cả đống thư mình nhờ mẹ gửi cho Niệm vẫn còn nguyên trong góc tủ. Tay anh run rẩy nắm chặt những phong th.
- Mẹ, tại sao mẹ lại...
người mẹ thản nhiên:
- Con Niệm lớn tuổi hơn con. Cha nó lại là tay ác ôn ngày xa. Lúc ấy, mẹ nó cũng cha được xác minh.
Tài thấy lòng mình cuộn thắt:
- Mẹ Ơi, thời đại của chúng con...
Anh không nỡ nói hết câu.
ở làng Ngò, một đám cưới tưng bừng đang chuẩn bị đa dâu. Đám đa dâu bắt đầu ra khỏi ngõ.
Tài chạy như thể nếu chậm, anh sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy một người... Anh chạy như cha bao giờ chịu rớt lại phía sau. Cũng chẳng biết vì lẽ gì, mừng vui hay đau khổ? Đuổi kịp đám đa dâu, Tài gào lên:
- Chị Niệm!
Đoàn người giãn ra dưới ánh nắng mặt trời rực rỡ. Mùa xuân tràn về trên dẻo đất miền trung nhỏ nhoi này, nhuộm thắm vạn vật, khiến tiếng gọi thất thần của người con trai như lạc lõng giữa thinh không. Cả đoàn người ngơ ngác ngoảnh nhìn lại phía sau.
Tài đã đến trước mặt Niệm. Anh vừa nói vừa thở:
- Em... em thật có lỗi. Em... bây giờ đã có thể tặng chị cả hộp trang sức.
Tài rút trong ngực áo ra một chiếc hộp bằng gỗ bọc nhung mầu huyết dụ, tay run run đa tặng Niệm. Niệm đỡ lấy, mở ra. Bên trong lấp lánh một chiếc trâm cài đầu, chiếc vòng vàng đeo tay nạm ngọc, chiếc nhẫn lấp lánh hoa cương. Niệm bối rối:
- Cảm ơn! Chị... lâu quá không nhận được tin...
- Tài đã viết thư cho chị. Viết nhiều lắm, nhưng... mẹ không chuyển.
Gió tung lên từ giữa cánh đồng. Gió vần vũ giữa ba người đang đứng lặng, giữa đoàn người đang say vì vui và vì rượu. Vì cả hơi xuân ngấm trong lòng đất đang ngùn ngụt tỏa lên đất trời. Việt kéo tay áo Niệm:
- Đi thôi, em!
Đoàn người đa dâu tiếp tục đi. Đoàn người xanh đỏ đủ mầu uốn lợn giữa cánh đồng lúa đang lên xanh, làm thành dòng người hình chữ S. Tà áo trắng của cô dâu bay tung trước gió. Niệm vừa đi vừa ngoái nhìn lại. Một giọt nước mắt mờ trên gò má. Cô lấy tay lén lau nó đi. Trên tay cô chiếc hộp mầu huyết dụ như nụ hoa nhỏ xíu giữa dòng người. Trên đầu cô ánh sáng lấp lánh đến vô cùng.
Tài cứ đứng sững giữa cánh đồng mặc gió tha hồ vần vũ. Anh biết mình đã thành người đàn ông thực thụ khi chợt hiểu mình vừa đánh mất một điều quý giá nhất...
Võ Thị Xuân Hà
Theo https://vietmessenger.com/

Gió trên đồng

Gió trên đồng

Sụp tối, trời mưa như trút. Cả một giang đồng trắng xóa những nước là nước. Y ngồi trong lều, cạnh bếp lửa, còn người đàn bà thì co ro gần cửa. Ngoài đồng lớn nên gió cắt lạnh, ù ù thổi, sức muốn bật tung cái mái lều tạm bợ. Y chực nghĩ: Ðã cho người ta trú mưa, còn tiếc chi bếp lửa. Ðúng là thị đang lạnh, cái áo xám ướt nhèm, bám riết vào mảng lưng thon lẳn, đôi vai run thảng thốt trong cái thế ngồi co quắp. Chốc chốc, con mắt thị lại liếc nhanh về phía bếp lửa. Ðành vậy, y ngoắc tay. Thị bò lại, rón rén ngồi nép vào một góc chìa hai bàn tay hơ lửa. ánh lửa cháy sáng khuôn mặt hốc hác, trắng bệch của người đàn bà. Thị không đẹp, cũng chẳng xấu lắm, lại có duyên ngầm trong đôi mắt sắc sảo. Khi nhìn thẳng, con mắt ấy đủ sức giết chết khối thằng, ấy vậy mà, thị ít khi nhìn thẳng, chỉ cúi nhìn đất như một thói quen, một kiểu nhẫn nhục của lớp phụ nữ nông dân hay lam hay làm. Rồi y lại nghĩ: Mặc thị, mình còn phải ăn cơm. Vậy là, y dọn cơm ra: Một niêu cơm to đùng, một nồi cá kho thơm lừng mùi nước mắm đồng, một chai rượu chỉ còn phân nửa. Y xới cơm nhưng chưa ăn vội, khà khà quất thẳng một ly đế đầy rồi lại ngẩn ra nhìn người đàn bà. Thật là phiền, chẳng lẽ mình ăn lại để thị nhìn miệng. Dụ dự một lúc, y phẩy tay hỏi trống không: "¡n cơm nghe?". Người đàn bà nhìn y, lạ lắm. Giọt ánh sáng đỏ thẫm phản chiếu từ ngọn lửa in trong đôi mắt mở to của thị khiến y chợt rùng mình. Y tránh đôi mắt đó bằng cách xoay người lấy thêm cái chén, xới đầy cơm rồi đặt trước mặt người khách bất đắc dĩ. Thị ăn liền mấy chén đầy, cứ lặng thinh, chậm rãi mà ăn hệt như cái lều này là nhà thị vậy. Giờ thì y thoải mái hơn để làm ly thứ hai, cũng thật đầy. Men rượu bốc lên đầu làm y đâm ra nghĩ ngợi. Y nghĩ về người đàn bà. Lần đầu tiên, y được nhìn thị thật gần. Trước kia, y cũng hay gặp thị. Năm này sang năm khác, ngày nào cũng vậy, sáng sớm, thị đã có mặt ngoài đồng, cặm cụi trên mảnh ruộng nhà mình. Thị siêng lắm, siêng đến mức khó hiểu vì có lúc thị ra đây mà chẳng có việc gì để làm, chỉ ngồi thẫn thờ dưới gốc cây trâm bầu, trưa nắng thì úp chiếc nón lá rách tươm lên mặt mà ngủ, trời sụp tối vẫn còn lấn bấn mãi trên bờ ranh đầy cỏ. Chừng như, thị không muốn về nhà. Rồi lâu dần, y cũng quên béng thị đi, có gặp mặt cũng chẳng một lời chào. Tính y vốn vậy.

Ðược một chốc người đàn bà không ăn nữa mà dụ dự nhìn ly rượu còn đầy bên cạnh chén cơm cũng đầy của y. Rất hờ hững, y hỏi: "Muốn uống hử?" Thị nhè nhẹ gật đầu. Y chưng hửng. ừ, mà có sao đâu! Mặc xác thị! Này, thì uống đi! Thị uống thật, trông cái bộ điệu đà đến là tức cười! Thoạt tiên, thị cứ nhìn mãi ly rượu trên tay mình hệt như nó là ly thuốc độc, rồi thị nhăn mặt, khịt mũi, hít một hơi thật dài để nín thở trước khi trút lọt thứ nước đùng đục vào cổ họng. Cũng may, thị không bị sặc, chỉ hơi tức ngực thì phải! Y nhếch mép cười, hỏi trống không: "Sao không muốn về nhà?". Thị trả lời lí nhí "Nó đánh!". Y lại hỏi: "Ai?". Thị trả lời: "Chồng tôi. Chiều nào nó cũng say. Hễ say là nó đánh". Nói đến đó, thị lại nhăn mặt cố nốc thêm một ly nữa. Y không cản mà bật cười, nụ cười thốt nhiên mà méo xệch đi. Hèn gì - y nghĩ - chó bị đánh mãi còn chạy, huống gì người. Buồn tình, y lại quất thêm ly nữa rồi trầm ngâm nhìn trời mưa. Tiếng mưa mới buồn làm sao, cứ rào rào, rào rào. Bất giác, y thấy lạnh, cái lạnh tê tái ở đâu đó trong lồng ngực.
Khi y quay lại thì người đàn bà đã ngã dúi dụi ra đất. Say rồi! Ðã nói mà, có uống được rượu đâu! Mặc, cứ để thị nằm đấy, hết mưa, y sẽ gọi dậy mà về. Y bưng chén cơm lên, gằm mặt ăn. Lạ thật, sao cơm cứ nhạt như giấy vụn. Nhưng... lỡ thị bị trúng gió thì sao? Hà, thật là phiền. Y bò lại chỗ người đàn bà đang ngủ, lay vai thị: "Dậy, dậy đi!". Thị vẫn nằm như chết, gương mặt đỏ bừng, khóe môi trĩu xuống thành một nụ cười nặng nhọc. Ðành vậy, y lòn tay qua lưng người đàn bà, xốc thị lên chiếc chõng tre. Ngẫu nhiên mà tay y run bắn khi tiếp xúc với tấm lưng chắc nịch, ấm cúng của người đàn bà. Rồi cánh tay thị chợt quàng qua cổ y, ghì sát xuống... Y gượng lại! Trong khoảnh khắc, nơi cái đầu hưng hửng vì rượu của y vụt thoáng qua một tia chớp, một ý nghĩ nào đó mà y không nắm bắt được. Nó đã thoát ra ngoài bầu trời vần vũ. Hoặc giả, nó đã lặn mất trong vùng ngực no tròn, trắng nhẫy, đột ngột hiện ra ngay trước mắt y bởi những chiếc cúc trên áo người đàn bà chợt bật tung lúc nào chẳng rõ. Theo đà ghì sát của cánh tay, y áp khuôn mặt nóng bừng bừng của mình vào cái vùng da thịt mềm mại, mát lạnh như sương sớm ấy trong lúc ngọn gió lồng qua lều vô tình thổi tắt ngọn đèn dầu leo lét. Bóng tối và tiếng mưa ầm ào xóa được hết những mặc cảm, dè dặt, sự khinh bỉ, nỗi khiếp sợ trước một hành vi mà nền văn minh đạo đức của người đời tàn nhẫn lên án...
... Rồi mưa tạnh. Rồi ngọn lửa trong người y và người đàn bà lụn dần sau giây phút tỏa sáng rực rỡ. Y nằm yên lặng, trong lúc người đàn bà trở dậy, chậm rãi mặc lại xống áo. Y chợt nghĩ về mình, về một điều gì đó gần như là một nguyên tắc sống kể từ lúc y dựng lên căn lều này và trở thành một gã chăn vịt chạy đồng mạt hạng. Rồi y bật dậy, mò tay vào vách lôi một gói tiền, số tiền dành dụm, lẳng lặng đếm, cố làm ra vẻ thật bình thản khi chìa những tờ giấy bạc về phía người đàn bà, thị nhìn tiền, rồi nhìn y lâu lắm. Có cái gì đó như là sự ngỡ ngàng, xa xót lướt qua đôi mắt mở to, ươn ướt của thị làm y chực mủi lòng. Nhưng mà không được! Phải sòng phẳng và ... hết! Y trừng mắt như ra lệnh khiến thị hoảng hốt thò tay cầm lấy tiền rồi lò dò ra ngoài lều. Y ngồi phịch xuống chõng, thở hắt ra, lắng nghe tiếng dầm khuấy nước trong cái tĩnh lặng của đất trời sau cơn mưa. Lòng y chợt quặn thắt một nỗi buồn...
Trăng lên. Trời trong vắt và sâu thẳm. Y cảu nhảu quẳng cái mền rách qua một bên, lồm cồm ngồi dậy, vấn thuốc hút. Quái lạ, sao mà không ngủ được! Sao mà quanh y nồng gắt cái mùi đàn bà! Sao cái gì đó cồm cộm vẫn đang cựa quậy trong y: những dư ba của khoái cảm xác thịt đã lâu mới được thụ hưởng, cái đau tê của dấu móng tay người đàn bà trên ngực y hay là những hồi ức về nỗi đau đã trôi qua trong đời y nhiều năm về trước...?
Y lắc cái đầu bù xù, cố tự nhắc mình đừng nghĩ ngợi nữa. Mà khổ nỗi... người đàn bà đêm nay vô tình đốt lại cái bếp lửa đã tàn than trong lòng y, nhắc cho nhớ rằng, có một thời nào đó, xa lắc xa lơ, y từng có một gia đình, một người vợ, một đứa con và những tháng năm tạm gọi là hạnh phúc. Rồi một ngày đẹp trời nào đó, vợ y bỗng biến khỏi cuộc đời của gã thầy giáo nghèo trường làng và hiện ra trong căn biệt thự lộng lẫy của thằng ma cô giàu lên nhờ buôn lậu. Con y cũng biến mất, đứa con gái đẹp như thiên thần của y! Nó chết vì sốt xuất huyết trong lúc mẹ nó bỏ nhà ra đi, còn cha nó thì lồng lên trong cơn ghen tuông, thù hận... Y thù con đàn bà phản bội đến mức bỏ nghề dạy học, trở về làm thằng chăn vịt, sống trong căn lều xa làng, tự nghĩ sẽ chẳng bao giờ tin vào mụ đàn bà nào nữa để rồi bị phản bội. Y sống đơn độc, ghẻ lạnh như một thằng điên hiền lành và tâm đắc lắm với cái đời sống lạ lùng này. Giờ thì y bình thản hoàn toàn trước cái được và cái mất của cuộc đời. Nỗi đau, nó đã lặn vào tim, nó nhắc cho y nhớ rằng cần phải tránh xa mọi cạm bẫy.
Nhưng mà... đến là khổ! Sao y vẫn cứ thừ người ra, vẫn cố tình trông ngóng? Sao y cứ thấy cay cay ở mắt khi nhận ra cái mùi nồng gắt lạ lẫm lẩn vẩn đâu đó trên chăn chiếu? Sao cái dấu móng tay sâu hoắm trên ngực y vẫn lặng lẽ đau? ... Ba ngày rồi, thị không đến! ừ, mà sao y lại phải buồn? Mọi việc đều đã sòng phẳng và ổn thỏa. Cứ quẳng tiền vào mặt nó. Thế là xong hết, không phải liên hệ, không cần lo lắng, không ghen tuông, thù hận. Y ngẫm nghĩ và bật cười một mình. Xem ra, cái cách trả thù đàn bà của y cũng hay hay dù, xưa nay, y chưa từng một lần đi chơi điếm. Nhưng... thị nào phải là một con điếm! Y nhớ cái ánh mắt ngỡ ngàng của thị khi y chìa tiền ra, ngổ ngáo như một thằng ma cô thực thụ. Y chưa từng nghĩ rằng mình lại có thể tệ đến vậy. Hà, mà sao y lại phải nghĩ ngợi nhiều như vậy? Mặc xác thị, muốn nghĩ sao thì nghĩ! Thị có liên quan gì đến y kia chứ?
Khi y vừa cố tâm thoát khỏi được cái cảm giác ngóng trông khoắc khoải thì người đàn bà lại đến. Từ sáng sớm, y đã thấy thị lom khom trên mặt ruộng nhưng cố tình quay mặt đi, thản nhiên lùa vịt ra đồng. Y về sớm hơn mọi ngày, chẳng biết vì sao y làm như vậy trong khi đầu y lại nghĩ rằng: Sẽ tốt hơn nếu câu chuyện hôm trước chỉ là một giấc mơ hão huyền. Nhưng không, y nghe có tiếng khuấy nước trên dòng kênh. Qua khe hở trống toác trên vách lều, y thấy người đàn bà từ dưới nước lên, nửa thân người trên cứ để trần, ướt nhẫy, chậm chạp đi về phía lều hệt như đây mới chính là nhà của thị. Giữa cái nhập nhoạng của ngày và đêm giao nhau trong căn lều ẩm thấp, y đứng lặng lẽ chờ đợi, thản nhiên đón nhận cái thân thể nóng bừng bừng của người đàn bà, lôi thị xuống cái chõng tre xiêu vẹo, thản nhiên giải tỏa những ẩn ức, những chờ mong khắc khoải, rồi hết sức thản nhiên chìa tiền ra cùng với một câu cụt ngủn: "Tối rồi, về đi!". Người đàn bà nhận lấy tiền, mặc vội xống áo, dò dẫm đi ra cửa, không một lần ngoái lại... Những sự việc "thản nhiên" như vậy cứ tiếp nối nhau đều đặn mà không buồn chán. Cả hai như những kẻ đói khát dài ngày, giờ được ăn thì ăn mãi, vừa no xong đã thèm, đã bị day dứt bởi cái tâm thế dự phòng.
Bởi thế, khi phát hiện ra cả đống tiền dành dụm nhỏ nhoi của mình bị hết sạch cho "những buổi chiều thú vị", y đâm ra hoảng loạn và đau khổ như một kẻ chợt nhận ra mình đã nghiện ma túy. Y chết lặng người đi trong cái đêm phải chìa những tờ giấy bạc cuối cùng ra. Vẫn cố bình thản, y nói: "Ðừng tới nữa! Hết tiền rồi". Thị nhìn y. Chẳng biết đây là lần thứ mấy, nụ cười ma quái trên môi người đàn bà làm y chợt rùng mình. Và thị vẫn lấy tiền, vẫn thản nhiên đi ra cửa không một lần ngoái lại. Chiều hôm sau, y cố tình về trễ. Y sợ phải về lều. Phải sòng phẳng - y nghĩ - rồi y sẽ có tiền. Lúc ấy y sẽ lại chi trả cho những giờ phút thanh thản. Còn bây giờ thì không, nhất định là không...
Nhưng người đàn bà vẫn cứ đến. Lờ mờ nhận ra thị vẫn ngồi trên cái chõng tre, y khựng người, thẫn thờ nhìn, mãi sau mới rít lên khe khẽ: "Ði về, đi!" Thị vẫn ngồi yên, đầu cúi xuống. Y lại hét, lần này to hơn, dữ tợn hơn, giọng lạc đi, cứ khản đặc, ồm ồm như là giọng người khác. Vẫn yên lặng! Mẹ kiếp! Có tức không. Y xộc vào lều, xô bệt người đàn bà ra khỏi cái chõng. Cả thân thể mềm nhũn của thị chợt khuỵu dưới chân y và lúc đó, y sững người khi thấy những giọt nước mắt đang chảy lặng lẽ trên gương mặt người đàn bà. Chao ôi, nước mắt! Bao nhiêu lần, y đã chết ngộp, đã vật vã đau đớn trong những vùng nước mắt ngập ngụa của người vợ phản bội! Vậy mà sao, y vẫn cứ thấy tê lòng, chợt dịu đi: "Cô muốn gì?". Thị vẫn làm thinh mà khóc, lâu lắm mới ngẩng mặt lên, đôi mắt mở to, đằm thắm, xoáy vào y một cách dạn dĩ điều mà y chưa bao giờ ngờ được - và rồi, thị nói, giọng lí nhí, run run: "Tôi... muốn làm vợ anh!". Y chết sững người mất một lúc. Cái vết thương trong ngực lặng lẽ nhói đau khiến y rùng người. Không, không thể có chuyện đó. Y đã thề rồi mà! Y đã chán ngán thật rồi mà! Y như con chim bị tên suýt chết, nó không thể lao đầu vào một cái bẫy khác. Y cố sức lắc đầu, giọng khản đặc: "Không... không được". Người đàn bà bật khóc thành tiếng rồi bỏ chạy ra ngoài trời. Có tiếng khuấy nước vội vã trên dòng kênh, tiếng thở dài rất khẽ lẫn trong tiếng gió lộng tứ bề...
... Nhiều ngày trôi qua... hai tháng trôi qua... thị không đến nữa. Khoảng thời gian đó vừa đủ cho người ta kịp quên đi một giấc mơ kỳ lạ nhưng sao y vẫn thấy trống vắng đến tê lòng. Thảng đôi khi, y vẫn gặp người đàn bà lom khom trên mảnh ruộng nhà mình nhưng thị không lấn bấn mãi trên bờ ranh lúc trời sụp tối như trước kia nữa. Bây giờ, y sợ những lúc phải lùa vịt trở về lều. Chạng vạng tối, cánh đồng hoang vu chỉ còn trơ lại vài cái lều của những người chăn vịt giống như y. Họ ở xa lắm! Cái cảm giác cô độc, ghẻ lạnh đè nặng tâm hồn y. Bỗng nhiên mà y có thói quen uống rượu nhiều, mỗi chiều. Không có rượu y không sao ngủ được. Ðôi khi, nửa đêm, y giật mình thảng thốt khi nghe tiếng khuấy nước xa vắng, mơ hồ từ một nơi nào đó trên dòng kênh. Tiếng nước động làm y buồn. Lại ngồi dậy, lặng lẽ cuốn thuốc hút, lại mường tượng ra đủ mọi ngóc ngách của cái miền hoang tưởng mà y đã từng đặt chân vào. Khói thuốc làm y cay mắt. Miệng y nhạt thếch, khô khốc. Ngực y cứ nhói đau trong những cơn xao động âm thầm, khắc khoải. Ðầu y cứ sôn sốt như có lửa. Y cố nấu một bát cháo trắng nhưng cũng không ăn được. Cháo cứ nghẹn cứng trong cổ họng đắng nghét. Rồi y lại uống rượu. Hình như, có rượu, y cảm thấy tỉnh táo hơn, cương quyết hơn. Hóa ra, đôi khi, say cũng có lợi.
Làng đã vào mùa gặt. Tết cũng đã đến bên chân rồi. Lúa năm nay trúng. Người ta hể hả và vội vã mang lúa về nhà để còn kịp sắm Tết. Mấy anh em trong cái hội chăn vịt chạy đồng của y cũng đã bán được lũ vịt vừa đến lứa. Họ làm một buổi tiệc nhỏ, chỉ có cháo vịt và rượu, thật nhiều rượu. Y cũng có mặt trong đám người hả hê đó. Rượu say, câu chuyện cứ râm ran quanh việc tết nhất. Họ sẽ mang tiền về nhà, cho vợ mua cặp dưa, mấy ký thịt; cho con gái, con trai những chiếc áo mới. Ai cũng có một cái nhà để mà về như con chim có tổ, con thú có hang, một chỗ để dừng chân, ngơi nghỉ. Y uống rượu, miệng đắng ngắt, cứ làm thinh mà uống, cứ ngơ ngơ ngẩn ngẩn mà nghe người ta bàn chuyện nhà chuyện cửa. Rồi buồn bã, y bỏ đám nhậu, lén về. Y không về lều mà đi lang thang ngoài cánh đồng, con mắt đau đáu nhìn về phía làng, nơi những mái nhà nhỏ nhô lên khỏi tán cây rậm rạp, quần quận khói cơm chiều. Y ngồi dưới gốc cây trâm bầu, chỗ người đàn bà vẫn thường ngồi, ngẩn ngơ cười, nụ cười méo xệch.
Trở về lều, y thấy một gói nhỏ của ai đó, đặt trên chiếc chõng tre. Y mở nó ra, lặng lẽ nhìn xấp tiền giấy, tờ mới có, tờ cũ có, được xếp theo thứ tự đúng với từng khoản tiền mà y đã đưa cho người đàn bà mỗi đêm. Chiếc khăn gói số tiền đã cũ, những đường chỉ thêu ố mầu, tua ra, đứt khúc, nhàu nát. Y vo chặt cái khăn trong tay mình, thẫn người ngồi phệt ra đất, lâu lắm mới bừng tỉnh, trở dậy, xăm xăm đi về phía làng. Ðã khuya nhưng nhà nhà vẫn còn sáng đèn. Cái làng nhỏ xao động, thao thức chờ tết trong niềm vui lúa trúng. Gặp một thằng bé có lẽ vừa xem chực ti vi về, y chận lại, nói cái tên người đàn bà và hỏi nhà. Nó chỉ tay về phía bờ sông, chỗ rặng bần tối thẫm. Y đi theo hướng đó, rồi dừng lại trước một căn nhà không phải là nhà. Nó rách nát, bừa bãi, rặm rạp những cỏ là cỏ. Từ bên trong vẳng ra những tiếng thét nhừa nhựa, tiếng khóc ri rỉ, tiếng ngả đổ của bàn ghế, cốc chén, tiếng đấm đá thình thịch... Trong cái cảnh bừa bộn, trống hoác của căn nhà, một gã đàn ông gày còm đang cố sức tìm cách lôi người đàn bà dưới gầm giường ra. Tức tối vì không lôi thị ra được, gã lồng lên như một thằng điên. Gã chửi rủa. Rồi tiếng chửi rủa cũng ngơi dần. Gã đã ngủ say lắm rồi, trông cứ như chó đói, thân xác còng queo, trong mơ vẫn lảm nhảm chửi thề. Người đàn bà bò ra khỏi gậm giường, nước mắt nhòe nhoẹt, ống tay rách bươm, thòi ra khoảng da trắng lỗ chỗ những vết bầm tím. Cũng chẳng còn biết đi dâu, thị bò lại góc nhà, ngồi bó gối mà khóc, tiếng khóc không trào ra được, cứ ùng ục trong cổ họng. Khóc chán, thị thiếp đi, đầu dựa vào cột, khóe miệng trễ xuống nửa mếu nửa cười.
Y đứng dưới tán cây xoài rậm rạp, lâu lắm, mãi cho đến khi ngọn đèn trong nhà tắt dụi vì hết dầu mới chịu quay về. Y đi thất thểu trên con đường làng ngập trong ánh trăng hạ tuần vàng vọt. Ðầu y rối rắm, lan man những ý nghĩ. Y nghĩ đến những giọt nước mắt của người đàn bà trong cái đêm y xô thị ra ngoài lều, nghĩ đến vòng tay đã xiết lấy y trong cơn thèm khát hạnh phúc, nghĩ đến cái ánh mắt van lơn, tha thiết mà dạn dĩ, đến cơn mưa chiều này nọ... Suốt đêm, y ngồi ngoài trời. Gió thổi lồng lộng! ừ, giá mà trời mưa, mưa thật lớn như cái buổi chiều người đàn bà bước vào cuộc đời y, bước vào cái lều tăm tối của! Lều ư? Sao nó không thể là một cái nhà?.
Nguyễn Kim Châu
Theo https://vietmessenger.com/

Gió của ngày mưa

Gió của ngày mưa

Chủ nhật im lìm. Nằm trong chăn nghe hơi nước xông lên tự đất, tiếng nhạc dìu dịu chảy lan khắp phòng, Nguyện hờ hững lật mấy tờ báo, mắt bâng quơ nhìn theo dăm mạng nhện vương trên trần nhà. Chao ôi, "Bông hồng vàng" của Pauxopxki vẫn không đủ sức khuyến dụ đôi mắt cô bé mở ra chứ đừng nói đến độ vài tờ báo xưa lơ xưa lắc. Căn phòng quá nhỏ mà nốt nhạc quá mênh mông, e chừng không giữ nổi tiếng hát bằng mấy mảnh ván gỗ này quá. Nguyện rùng mình bởi lời ai cất lên như bật tung trái tim đang muốn nhảy lò cò của mình. "Có những niềm riêng lòng không nói hết...". Cô kéo chăn trùm kín mít, cơ hồ dư một chút nào ra ngoài sẽ bị mưa thình lình nhảy vào tóm đi mất.
Mưa vẫn lần khân buông từng chùm nước xuống gõ mái hiên nhà. Nguyện vẫn nằm lì trong chăn thi gan cùng mưa mà ước ao một ly cà phê, phải cà phê đá mới đúng điệu, phải góc quán ấy, chỗ ngồi ấy mới mê ly. Nguyện bần thần nhớ đến anh, chao ôi là nhớ. Không phải là người yêu, trăm phần trăm không phải! Chẳng gì thì Nguyện cũng có người gọi là yêu rồi, và anh ấy đang ở xa rất xa. Còn anh, cô xem như một người anh trai chính hiệu con nai vàng. Anh cũng thương cô bằng một đứa em gái bé bỏng để chiều chiều cùng dung dăng trên phố gây sự hiểu lầm cho thiên hạ, rồi thích thú cười vang. Ý nghĩ về anh, về một ly cà phê thơm nồng dứt Nguyện ra khỏi tấm chăn. Cô bật tung người theo điệu nhạc và loáng một cái đã gọn gàng trong chiếc áo mưa tiện lợi, lò dò dắt xe ra khoảng sân lấm nước, lóc cóc đạp xe xuống phố, đến quán quen.
Chao ôi, anh đã ngồi đó, mái tóc bù xù hất nghênh, điệu cười muôn thuở thay lời chào. Nguyện dựng xe, phụng phịu lột áo mưa và lặng lẽ kéo ghế ngồi bên. Chị chủ quán nháy mắt đầy ý nghĩa và bưng thêm một ly cà phê đá. Quán vắng, chỉ hai anh em ngồi bên nhau làm răng người ta không khỏi dị nghị?! Ngoan ngoãn tự mình pha cafe, Nguyện vô tình làm vấy ra tay. Dường như chỉ chờ có thế anh mới lên tiếng, nửa như than phiền nửa như thương cảm. "Em vụng rứa, làm răng khỏi làm hư những chuyện to tát hơn?". Nguyện im lặng, thì có bao giờ anh khen Nguyện lấy nửa lời, lúc nào cũng than vãn chê hết chỗ nói mà thôi. Cô biết, ấy là anh thương cô lắm lắm. Ừ, nghĩ cũng buồn cười, không dưng chẳng bà con họ hàng, chẳng yêu đương nhì nhằng tán tỉnh như tụi bạn đồng lớp, cô và anh lại thương nhau hơn tất thảy mọi thứ trên đời sau một câu đề nghị bất ngờ của cô: "Anh làm anh của Nguyện nghe!". Chỉ một tiếng "ừ" thanh thoát mà tất cả bỗng trở nên nhẹ nhõm lạ kỳ.
Ly cà phê vơi vơi. Quán mở tiếp một băng nhạc để làm lảo đảo lòng người. "Hạnh phúc tôi từ những ngày con nước về...". Nguyện run bắn trong tiếng hát Tuấn Ngọc. Xui chi bài hát này mở vào lúc trời đang mưa? Anh thì vẩy tàn thuốc, rít một hơi dài rồi búng mạnh ra xa. Rất lâu, chừng như để Nguyện đủ choáng váng trong cơn sốt bất ngờ của mình, anh quay lại, đặt bàn tay mềm ấm lên đôi tay lạnh buốt của cô, dịu dàng trách: "Sao trời lạnh vậy mà em không mang theo áo lạnh?". Cô bật cười, quên hai giọt nước mắt vừa lăn xuống rất nhanh: "Chỉ là mưa thôi anh, ai trời tháng sáu lại mang áo lạnh". Anh háy mắt, cười lớn và búng vào mũi Nguyện. "Khờ ơi là khờ! Ít ra anh cũng đã đạt được mục đích là làm cho em cười. Như vậy có mang tiếng là ngớ ngẩn cũng không sao". Nguyện chưng hửng, thì ra mình đã bị anh "lừa" một vố nhưng không lẽ lại xịu mặt khi lỡ cười?! Cô bất cần duỗi chân trên một chiếc ghế nhỏ kê trước mặt, vòng tay ôm gáy. "Anh này, ngày mưa anh thích chi?" Anh chồm người về phía trước, tay chống cằm tư lự, cứ như là cho phù hợp với câu trả lời của mình ấy. "Ngày mưa anh thích sự yên ổn của trái tim". "Vậy trái tim anh ngày nắng cũng bị "nhức đầu" hở". Nguyện cười thích thú. Anh nhăn mặt. "Không, ngày nắng nó thường bêu nắng, dễ bị cảm hơn chứ". Ấy là anh lại trêu cô nữa rồi. Bao giờ anh cũng vậy! Không, bây giờ Nguyện thích sự nghiêm túc hơn. Cô sửa lại thế ngồi nghiêm nghị, tréo chân một cách "mệnh phụ" rồi trầm ngâm tựa quý bà ngoài bốn mươi. "Ngày mưa em thích gió". Anh xoay người sang cô, nhíu mày cong y như một dấu hỏi. Nguyện lại buông lỏng người, nét mặt dịu dàng, tay gõ vào thành ghế theo một bài hát quen thuộc. Tại sao ở đâu âm nhạc cũng quyến rũ cô đến dường vậy, cô không tài nào hiểu nổi.
Rồi cô hát theo cassette một cách rõ to "Cho em một ngày một ngày thôi. Một ngày không khắc khoải chờ đợi...". Nguyện biết anh rất mê nghe chất giọng khàn khàn mà thanh âm lại vô cùng trong trẻo của cô nhưng lúc này đây cô cảm thấy buồn quá. Giá mà không có anh ngồi đây cô đã òa lên khóc. Ừ, ngày gió, ngày mưa. Gió của ngày mưa. Ngày mà Nguyện và Ðông đã dắt nhau chạy trốn dưới từng mái hiên tránh cơn bão òa về. Trả giá cho một lần bướng bỉnh của cô là cánh tay bầm tím của Ðông bị cành đây đằn phải lúc kéo cô chạy tránh gió mưa. Chiều ấy đài báo bão, vậy mà Nguyện cứ nằng nặc bắt Ðông chở ra ngoại ô hóng gió. Ðông đã phải chịu thua trước vầng trán lì lợm, khóe môi dỗi hờn và ánh mắt long lanh ngân ngấn nước để tối lại, Ðông khổ sở lắm mới đưa cô về đến phòng khi người bê bết bùn đất, đôi chỗ bầm dập bởi những cành cây vút ngang dọc giữa đồng không mông quạnh. Nguyện được đưa về phòng như một cái xác không hồn, bạn bè cạo gió mãi sau mới tỉnh. Ðông phải chạy khắp thành phố mới mua được cho cô mấy viên thuốc cảm. Mãi sau này, khi ra trường Ðông mới dám hỏi Nguyện tại sao hôm đó bướng thế. Cô cười: "Có như vậy mới biết rằng trong gió, em đã có anh". Ðông hạnh phúc lắm, mang câu nói đó làm hành trang bước vào đời và thầm mong chuỗi ngày ở lại của cô toàn là những ngày gió. Và ngày gió thường đến với ngày mưa. Ngoài ngày mưa còn có cơ man nào là ngày nắng...
"Nguyện này, bây chừ trời nắng em sẽ làm gì?". Ồ không, anh đừng hỏi thế chứ, Nguyện sợ thật đấy. Ngày mưa Nguyện nhớ Ðông hơn. Chứ nắng lên, hơi nước sẽ tan, Nguyện sợ nỗi nhớ Ðông cũng sẽ "bốc hơi" theo quá. Nhưng anh đã hỏi, Nguyện không thể không trả lời, có lần anh nói rằng anh ghét sự ỡm ờ, ghét những câu hỏi không có giải đáp. Cô ngước mắt nhìn những giọt mưa gõ điệu valse trên lá. "Nắng thì em sẽ mang trái tim mình ra phơi". "Ngộ nhỡ có ai đi qua đạp phải thì răng?". Ðừng, nói vậy làm chi, làm đau Nguyện đấy. Cô ôm ngực như thể chính ai đó vữa dẫm lên chỗ trái tim cô vậy. "Không. Chẳng ai đủ ác mô anh ạ!". Anh châm thuốc, rít một hơi dài và cười, nụ cười làm sâu má lúm. Anh đời con trai lại đi ăn cắp lúm đồng tiền của con gái làm gia tài không? "Nguyện có tin không, vậy mà có người đã dẫm lên trái tim của anh rồi đó". "Thì chuyện tình của anh, Nguyện đã nghe đến độ thuộc lòng rồi mà". "Ngốc ạ, không phải người đó đâu, người đó chỉ đủ làm rung rinh tim anh thôi". "Chứ không lẽ anh lại yêu?". Anh thở dài thườn thượt y như bà bán rau muống chiều bị ế. "Ừ...". Nguyện tròn xoe đôi mắt: "Lại yêu hay yêu lại?". Anh dúi dứ ngón tay vào trán Nguyện. "Lại yêu mới khổ!". "Ðối tượng?". "Không đối tượng!". Anh buông một câu gọn lỏn khiến Nguyện giật nảy mình. Trời đất thiên địa ơi, anh bị sao vậy này? Khi không lại "yêu không đối tượng". Nguyện mon men hỏi: "Vậy là yêu để làm thơ?". "Không, yêu để... cười!". Mẹ ơi, anh nói nghiêm túc chứ! Nhìn bản mặt anh, cô tin là anh nói thật. "Sao anh không nói với người ta?". Nguyện tò mò dồn dập hỏi. Anh nhún vai, với tay rót đầy một ly nước trà uống cạn rồi nhanh như cắt, xoay sang cô, nắm chặt lấy hai bờ vai nhỏ bé của Nguyện, nhìn thật sâu vào mắt cô mà cười lớn: "Người ta là Ngày gió, Nguyện bảo anh phải nói làm sao?". Cô thảng thốt ngồi im, đôi môi tái nhợt run không vì lạnh. Ngày gió... Ngày gió đã có Ðông...
Ngoài kia vẫn mưa. Gió thốc từng đợt nghe rệu rã. Anh xòe bàn tay trước mặt Nguyện, chọn ra hai ngón thật gần nhau. "Một ngón là của Nguyện, em gái anh. Một ngón cho Ngày gió, nhưng mà là Gió của ngày mưa, nghe Nguyện. Mãi mãi, chúng đã là một phần của cơ thể anh.!". Hai bàn tay lại xiết chặt nhau. Quán vẫn đìu hiu nhưng nhìn thật lâu vào mỗi đôi mắt, Nguyện biết rằng từ nay cô không còn sợ Ngày mưa, Ngày nắng... Và mỗi chiều lang thang trên phố, cô lại hát anh nghe bài hát anh thích nhất bằng chính tiếng cười trong trẻo của mình. "Vẫn biết yêu là cũng thế rồi. Trái tim em mãi hát lời tình yêu...".
Đông Hà
Theo https://vietmessenger.com/

Giây phút tưng bừng

Giây phút tưng bừng

Bầu trời hay có những gợn mây xám buổi sáng và mấy chú chim sẻ không ngừng nhảy nhót trên dãy mái ngói nhấp nhô dưới kia, hoặc líu lo chuyền từ mắc lưới này sang mắc khác chung quanh vòng rào sân thượng nhà ông Cò, đã biến cả đi, về một nơi ấm áp nào đó, ổ rơm trong ống xối, hay trong mái rất êm và nồng hơi ấm than nhà bếp. Đông đã về với nắng khép nép và những làn khói nhẹ bay lên buổi sớm mai, trong không khí một chút lạnh và trong lòng một chút rộn ràng. Một vài cái đập cánh luyến tiếc vang từ khung kính cửa sổ, đôi mắt đen láy với hàng mi vàng ướt át, chú chim bé nghiêng đầu nhìn rất xinh rồi lặng lẽ bay đi. Ty mở toang hai cánh cửa kiếng trong vắt nghiêng cả người ra ngoài như muốn bay theo, đôi môi mọng lẩm bẩm:
- Mai mốt chờ Ty mở cửa nhé.
Nhớ bàn ủi đang nóng, Ty quay nhanh vào, hai bàn tay nhỏ cẩn thận trải áo ra rồi đưa bàn ủi rất gọn lên từng pli áo. Vừa treo lên móc, Ty vừa mân mê cài thử mấy chiếc nút xem có đưa mối chỉ ra ngoài không. Sau đó là cái áo đầm của Ty, thẳng phải biết nhé, mà lại trắng tinh nữa chứ, nhất là hai sợi dây phía sau, khéo làm sao cho một lần thắt đã thành một cái nơ duyên dáng và trang trọng. Bước chân Ba sau lưng vừa vặn lúc Ty mở bàn ủi và xếp gọn chiếc mền, giọng Ba trìu mến khi vòng tay ôm đầu Ty:
- Hôm nay Ty nghỉ học hả?
Cô bé có dịp phụng phịu:
- Vâng, còn Ba, Ba cứ đi làm hoài, Noel mà…
Những ngón tay cứng và ẩm ướt nước lồng vào tóc Ty:
- Chính những lúc nầy mới quan trọng thôi đó Ty.
Lặng im một lúc, Ba mơ màng tiếp:
- Khi nào lập được một tiệm bánh, Ba con mình mới sướng Ty à.
Thương nhất những lúc Ba nói về tương lai, về một hiệu bánh sẽ mở. Chức quản lý cho một nhà hàng sang trọng hiện nay vẫn không bằng được một cái gì nhỏ nhoi mà chính mình làm chủ. Ít ai như Ba, với lò nướng bánh và để lại bao nhiêu cách khéo như có sẵn trong đầu, Ba lo phần bánh ngọt cho nhà hàng. Bánh kem thơm ngát, bánh sừng trâu mứt bí ngọt lịm, bánh bông lan có hạt nho chua… Mỗi lần đem vào lớp là Phi Vân, Quỳnh Yến thích mê. Phi Vân:
- Nhỏ Ty sướng ghê, Ba tao chả biết làm cái gì cả, nữa là bánh…
Quỳnh Yến vừa nhấm nháp bánh sừng trâu vừa tấm tắc:
- Má tao có làm bánh nầy nhưng sao chả giống Ty à.
Chắc lúc đó đôi mắt Ty đã rực lên hãnh diện nhưng chỉ một chút thôi. Ba Phi Vân là Giám Đốc hãng vỏ ruột xe, đi đâu là xe đưa rước. Má Quỳnh Yến chủ một hãng thầu to. Hai nhỏ bạn dễ mến của Ty mỗi lần đến trường như là hai Công Chúa nhỏ đi học. Vậy mà tụi nó vẫn thấy thiếu thốn khi so với Ty. Ty biết Ty thiếu nhiều lắm chứ, những cái mà không ai bù đắp nổi kể cả Ba. Nhưng Ty thương Ba quá, Ty không dám để lộ ra những mất mát của mình mà Ba phải đau lòng. Những cái bánh, những thức ăn ba mang từ nhà hàng về đâu phải Má Ty đã dặn làm thế. Chỉ cần nghĩ đến Ty trong căn lầu hẹp bà Tư cho mướn, đi học về một mình, ăn một mình, dọn bài một mình, ngủ một mình, những hôm nhà hàng thết tiệc tối và Ba về thật khuya, là bao nhiêu Ba cũng muốn bỏ về với Ty. Như Ty đã bao lần bỏ giấc ngủ trưa, ngủ nướng buổi sáng, như sáng hôm nay, để phụ Ba đánh trứng, trải khăn để làm món bánh bông lan cuốn. Ba đã dành phần bắt kem cho thím Hai, chuyên môn bắt kem bûche de Noël. Chỉ có 3 cái, 2 bánh lớn, 1 nhỏ mà Ba với Ty bận rộn từ sáng đến trưa. Chỉ lát nữa đây xe nhà hàng đến rước là Ba mặc áo, mang bánh đi, và Ty ở lại nhà một mình. À, lúc ấy Ba Ty trông cũng oai tệ, cũng bước lên xe đưa rước, nhất là lần Ty thấy Ba đứng trong nhà hàng, những ngọn đèn vàng rực rỡ trên tường, lộng lẫy in lên kiếng. Ba mặc veste trắng thêu chữ M. J, quần tây đen, giầy tây đen bóng loáng, đưa mắt kiểm soát mấy ông cũng mặc đồ giống như Ba nhưng khăn bàn để trên tay và lăng xăng chạy tới lui. À, lúc ấy bầu trời màu gì nhỉ, à, màu sẫm tím hoàng hôn và mặt ba trông nghiêm lắm cơ, dưới bao nhiêu là ánh đèn, ấy vậy mà chỉ cần khuôn mặt Ty ló vào, như có làn gió ấm thổi qua, gương mặt với những cái nét khó khăn, bất động ấy chợt biến đi, nụ cười rạng rỡ đến thật nhanh và bao nhiêu đó cũng đủ Ty yên lòng về nhà một mình. Như Ty đã hỏi: Ba có ở đó không? Và Ba đã trả lời: Vâng, Ba ở đây. Tại sao Ty chỉ nhìn mà Ba biết Ty muốn hỏi và chỉ cười mà Ty hiểu Ba đã trả lời. Tại sao chỉ người đó cười Ty mới thấy an tâm, thấy ấm lòng. Sao từ nhỏ đến lớn chả ai dạy Ty điều đó, Ty cũng biết, cũng tin? Hình như chỉ chú chim sẻ sáng nay bay ngang cửa kính len lén nhìn Ty rồi bỏ đi là biết được điều đó. Mà, chim sẻ làm biếng nói lắm cơ!
Có một tiếng động lớn, như tiếng thịt gà cho vào chảo mỡ nóng và khói mịt mù chui qua lớp ngói đỏ bay lên từ ngôi nhà trước mặt. Người ta sửa soạn cho lễ nửa đêm. Ty thoáng cười hóm hỉnh khi nhớ đến câu hỏi của nhỏ Thúy Cúc: Ty sửa soạn món gì cho tiệc réveillon. Ty đã trả lời là nhiều lắm: gà Tây, heo quay và cái bûche de Noël nho nhỏ cho hai ba con. Ty muốn cười liền sau câu nói dối vì tự nghĩ sao Thúy Cúc không hỏi là Ty có ăn réveillon không đã chứ. Ngón tay ba ấn nhẹ vai Ty làm Ty giật mình quay lại:
- Gì cơ, Ba?
Đôi mắt Ba trang nghiêm:
- Chiều nay ba mượn chú Út sẵn đi ngang nhà rước Ty đến nhà hàng chơi nghe.
Ty định nhăn mặt: chơi cái gì hả Ba? Vì nhớ đến những thực khách và khung cảnh sang trọng làm Ty thấy lạc lõng. Nhưng Ba đã rất vội vàng, cái vội vàng lo ngại và âu yếm:
- Sao, con có thích không?
Sao Ba cứ hỏi Sao rất đầm ấm, và liền đó tiếng con ngọt êm hơn bất cứ thứ kem, thứ mứt nào – Con sẽ nói với ba là con rất thích. Con đã thích câu Ba hỏi và thích luôn ý muốn của Ba – Ty đáp thật nhẹ:
- Có, con thích lắm, chiều nay con sẽ đến.
Hai vạt nơ chưa thắt của chiếc áo đầm trắng, đã mặc trong ngày lễ tổ chức hôm qua ở trường, giờ đây lại đòi đi chơi, lại bay rộn lên bởi những làn gió mát đưa vào từ khung cửa. Một cái gì vừa dừng lại và ấm áp thật lâu trên vùng tóc của Ty.
Bữa tiệc Ba trông nom đặt ở tận lầu ba, khi con số 3 bật đỏ, chú Út dẫn ra chỉ Ty lối vào cặn kẽ rồi lại trở xuống. Qua khỏi tấm bảng để tên người đặt tiệc, Ty bước nhanh trên lớp thảm đỏ. Hai bên lối đi buông màn vàng rực khoe hàng đèn sáng dọc theo hành lang.
Một cầu thang trắng kiểu cách nối liền phòng đợi với một phòng lớn đãi ăn phía trên. Tất cả các vách đều lót bởi lớp gỗ mun loang loáng ánh vẹc-ni, hàng chục, hàng trăm ngọn đèn vàng trên vách lồng trong cái chụp bằng thủy tinh muôn mặt cắt, tỏa ánh sáng rực rỡ – như hộp đựng Kim cương – xuống nền nhà trải thảm lông êm, và đọng lại từng vừng sáng óng ả trên vách gỗ đen nhánh. Trên trần là 2 chùm đèn treo, như những chùm hoa sen bằng lưu ly đính lại từng nhóm làm dáng cho trần nhà màu trắng tuyết, mà phản chiếu lại từ các khung cửa kính cao vút, trong suốt, như có hàng ngàn ngọn đèn treo. Ánh sáng ở khắp nơi, từng khối trong vắt, đóng lỗ chỗ trên bàn ăn phủ khăn trắng, trên những cánh hồng nhung đỏ rực quyến rũ, kiêu kỳ giữa màu trắng muốt mênh mông, trên dao nĩa bóng loáng, chan hòa trên ly cốc, rơi rớt trên lưng ghế êm.
Mười bốn khung cửa sổ tất cả, mười bốn tấm kính trong, nhìn ra phần lớn bầu trời xanh ngây ngất ban chiều, một phần sông và nhà cửa, công xưởng chen chúc dưới kia, dịu dàng hơn màu sông, phẳng lặng hơn màu biển, ngọt ngào hơn màu mắt, chưa có màu xanh nào kỳ ảo hơn màu xanh trời chiều nay. Thoáng một cái, màu xanh biến đi, một chút le lói nắng rám pha hồng ngút mấy từng mây rồi biển đêm ùn ùn đến, đèn thành phố sáng rực lên như những hạt ngọc, những chuỗi ngọc long lanh trong đáy hộp nhung đen.
Rời khỏi khung cửa sổ, Ty dừng thật lâu trước hang đá. Có lẽ quá nhiều ánh sáng trong phòng làm rừng dây kim tuyến, trái châu chói sáng hơn, duy những bức tượng vẫn vẫn giữ được nét mềm mại đơn sơ. Mải mê ngắm bức tượng Chúa Hài Đồng tay chân mũm mĩm hồng, Ty không chú ý đến tiếng kêu, mãi đến khi lặp lại lần thứ hai, đúng là tiếng thím Hai. Nhận ra thím ở một góc mà màn buông rũ phía cuối phòng, Ty chạy ào đến; thím Hai kéo Ty băng băng vào nhà bếp:
- Vậy mà thím tưởng chú Út chưa đưa Ty đến chứ. Ty làm gì nãy giờ vậy?
Ty thẹn thò:
- Dạ cháu đứng chờ Ba ở gần hang đá ấy chứ.
Trong bếp toàn là những người mặc đồng phục veste trắng, bên cạnh các bếp điện trắng tinh và lộn xộn mùi thức ăn từ các soong, các chảo, Ty cũng nhận ra Ba ngay ở chỗ Ba đứng tuổi hơn hết, sợi bạc đã bắt đầu loáng thoáng trong tóc. Ba đang thúc hối mấy chị bếp sớt đồ ra những chiếc nồi con, còn các ông mặc đồ giống Ba đưa những chiếc xe đẩy tay nho nhỏ đến để đem thức ăn ra ngoài. Họ vừa làm vừa nói cười vui vẻ, hình như một chị bếp vừa lỡ tay để chiếc khăn lau chén rơi chấm vào một chút cà-ri, một anh đặt bàn vừa xếp nhầm chiếc nĩa gãy vào chồng chén đĩa trên mâm của mình. Vậy mà ba cũng ngoảnh lại tức thì khi Ty nhẹ bước đến sau lưng. Ba cười rất tươi:
- Con có muốn thấy bánh bông lan cuốn của con hồi sáng, giờ đẹp ra sao không?
Ty xoắn xít theo chân Ba vào chiếc xe đẩy tay để khuất bên trong, trên mâm trên, có hai chiếc đĩa sứ to được đậy kín bằng cái vung cứng nhắc. Ba giở nắp vung ra:
- Kỳ công của thím Hai đó.
Từ xa, thím Hai đỏ mặt sung sướng:
- Tại bắt hoài thành quen đó ông à.
Ty được dịp suýt soa khen luôn miệng: Ô, đẹp quá hả Ba, hay quá hả Ba. Ba chỉ mỉm cười. Hai bố con châu đầu trên hai khúc. Đúng là khúc cây với những sớ gỗ và các đường nứt nẻ thật linh động, có một chỗ, những đường vân nâu cong tròn lại, vòng vèo không ngừng trên một mặt “gỗ” còn tươi, rõ ràng là có một nhát búa chặt bớt đi một nhánh ba. Bên cạnh màu chocolat già nua, vụt nở những đóa hoa hồng dại, hoa tím hoang, hoa vàng mơn mởn xen lẫn với những tai nấm mốc meo. Như ai đã đốn khúc gỗ nầy từ những thân cây đa na niên chôn trong biển tuyết của vùng rừng núi hoang vu nào, có người đã mang nó về từ vùng băng giá xa xôi và nhờ Ty nhắc nhở lại, ở mỗi mùa Giáng Sinh.
- Phải chi mình cũng có một cái hở Ba.
Ba định trả lời chi đó nhưng bóng ai đứng ngoài màn ngoắc tay Ba. Dường như là ông Giám Đốc. Hình như quan khách đang tấp nập đến, những nốt nhạc êm nổi lên. Ba bước hẳn ra ngoài, các chú đặt bàn cũng chia nhau đẩy xe thức ăn ra ngoài. Còn thím Hai đang nhanh nhẹn phân chia món tôm chiên và sauce cho đủ mâm, món bánh sẽ dọn sau. Ty cảm thấy buồn buồn đậy bánh lại và định đi về phía khung cửa sổ trống sau bếp nhưng thím Hai ngoắc Ty:
- Làm gì vậy, lại đây nè cô bé, coi người ta ăn mặc lạ lắm nè…
Khó ai giữ được sự lãnh đạm mãi khi ở gần một con người náo động như vậy, Ty cũng tò mò đứng nép bên tấm màn vàng.
Việt, Tây đủ cả, ăn mặc thật chải chuốt và vô cùng thanh nhã cho Ty nghĩ đây là những người cao quý trong xã hội. Họ đông nhưng tiếng nói chuyện chỉ rộn hơn tiếng máy lạnh rì rầm một chút xíu thôi. Mấy bà thì sang trọng đủ kiểu, chiếc áo họ bận thường phết gót, toàn là các màu hết sức thu hút và điểm trang những chuỗi hột lấp lánh. Ban tổ chức bận rộn nhất là lúc họ ngồi cả vào bàn, rượu khai vị lốp bốp, thỉnh thoảng một tiếng cười ròn, ngắn vang lên rồi dừng lại kiểu cách như để gây sự hào hứng cho cuộc nói chuyện.
Vừa đủ cho Ty xem chán chê, thím Hai lại lôi tay Ty phăng phăng đến cái tủ lạnh vĩ đại đứng im lìm trong góc bếp. Thím Hai nhanh nhẹn mở ra. Ô, Ty suýt la lên, còn một cái bûche de Noël con con nằm một mình ở tầng cao nhất vừa xinh xắn, vừa kiêu hãnh. Thím Hai tròn má vồn vã khoe với Ty:
- Cái nầy dư nhưng thím cũng làm cho mấy anh chị nhà bếp ăn. Bây giờ chắc đói bụng rồi, ăn cùng với thím vậy nhé.
Bụng Ty trống rỗng, nhưng Ty cũng cố gắng lắc đầu:
- Thôi để chờ mọi người đông đủ cả rồi cùng ăn thím Hai ơi.
Nụ cười thím Hai hóm hỉnh:
- Rồi họ sẽ có mà. Thôi để phần cho họ vậy.
Hai thím cháu ngồi hai bên cái bàn nhỏ trong bếp. Chia ra mười một phần, miếng bánh cũng còn lớn chán. Ty thầm thán phục thím Hai, bởi lớp chocolat thơm tho bên ngoài, nó làm cho hương vị phần bông lan bên trong đậm đà hơn và mùi rượu Rhum cũng lôi cuốn hơn. Vừa nghiến ngấu ngon lành, Ty vừa liến thoắng:
- Ba con chưa ăn bánh nầy đâu thím Hai, chắc Ba con cũng đói bụng lắm. Thím Hai trìu mến nhìn Ty:
- Hễ lớn chức thì phải để dành bao tử vậy. – Ty còn đói bụng không?
Chắc đôi mắt Ty nó phản lại Ty, nó tố cáo bụng Ty còn đói dù Ty chỉ muốn nhai xong miếng bánh để nói không. Ty cứ lắc đầu và giọng thím Hai dí dỏm khi đi về phía bếp:
- Bụng Ty muốn nổi loạn đó, để thím Hai lo nó cho.
Bao nhiêu là chả giò, gà đút lò, tôm chiên thím bày cả ra bàn và bao tử Ty chịu thua. Vừa chăm chú cho Ty ăn như đứa cháu thật nhỏ, thím nhẹ cười:
- Mình cũng ăn nhà hàng vậy, có khác đâu hở Ty.
- Nhưng mình ăn lộn xộn quá à, đáng lẽ bánh phải ăn sau.
Ty hồn nhiên nói, nhưng thím Hai đã rất duyên dáng phân bày:
- Thích gì thì ăn trước, mình hơn khách ở chỗ đó.
Hai thím cháu cùng cười nho nhỏ. Thêm cốc nước ngọt thím Hai vừa rót thì bụng Ty cứng ngắc. Ty định rời bàn thì có hai bóng người – hai anh hầu bàn – tiến vào, họ cùng cười với thím Hai:
- Chà, chưa gì mà dám đánh chén trước hén.
Đôi mắt thím Hai tròn xoe ranh mãnh:
- Đừng ganh tị, lát nữa ăn không hết tôi phạt cho đó. – À, anh Tư tìm gì vậy?
Hai người vây quanh chiếc xe để bánh, một người vén màn để xe đi ra. Người đẩy xe đáp:
- Cắt bánh, ăn gần xong rồi.
Gần xong rồi, Ty thở phào. Dễ chừng cũng 10 giờ. 12 giờ về nhà chen chúc phải biết, người ta đi lễ ấy mà. Chắc Ba đói lắm, một sáng kiến lóe lên trong đầu, Ty nhè nhẹ đến gần màn nhìn ra ngoài. Ba vẫn oai vệ đứng ở đầu phòng gần khay bánh vừa đẩy tới và được cắt ra để phân cho thực khách, đôi mắt Ba nhìn bao quát khắp cả khu phòng. Từ chỗ Ty đứng đến chỗ Ba hơi xa, nhưng Ty có thể kêu lớn mà ông Giám Đốc ở đầu kia không nghe. Người đãi dáng chừng là bạn ông Giám Đốc nhà hàng, hai người cứ trò chuyện nhau mãi thôi. Nếu Ty làm gan… Không suy nghĩ nữa, Ty gọi nho nhỏ rồi to dần:
- Ba… Ba!
Cái lưng Ba hơi nhúc nhích rồi Ba quay hẳn lại, Ty rung nhẹ góc màn cho Ba biết Ty ở đó rồi quay nhanh vào trong. Phần bánh Ty để cho Ba là chỗ chocolat thật dầy và nụ hoa hồng xinh xinh. Ngăn để bánh cao quá đầu mà thím Hai đâu mất, Ty nhón lên kéo từ từ miếng bánh, ra tới mép vỉ sắt, miếng bánh hơi đổ xuống và dính một mảng chocolat lớn vào tay Ty, nhưng chả sao, miễn Ba khỏi bị cào ruột là Ty vui rồi. Ba đang đứng quay lưng lại chỗ góc màn Ty đứng. Ty giơ tay khều nhẹ áo và kêu lên khe khẽ: Ba!
Ba quay lại, khom xuống và “hả?” với Ty là miếng bánh Ty cầm đã đút gọn vào trong miệng. Dáng chừng Ba không bằng lòng lắm nhưng… bất khả kháng. Ba đứng ngập ngừng một hồi lâu. Rồi thì tiếng ông Giám Đốc gọi bên kia. Ba lấy lại vẻ chững chạc bước đi. Ty thích thú phủi tay nhìn theo và hồi hộp dõi khuôn mặt Ba lúc quay lại, dám Ba giận Ty thì khổ nhưng Ty thương Ba quá, Ty sợ Ba đói, bé như Ty còn biết đói huống gì Ba, Ba nhỉ?
Muôn vạn ánh đèn chiếu xuống chiếc áo Ba thẳng nếp ủi rồi cả khuôn mặt Ba. Ty đứng bật dậy, miệng há hốc rồi mặt Ty đỏ lừ. Một miếng chocolat đang dính trên mũi Ba. Rõ ràng là màu kem chocolat, đứng xa như Ty còn trông thấy rõ nữa là những thực khách đang ngồi quanh Ba. Chết Ty rồi, Ty bậy quá, tại bàn tay Ty dính chocolat, Ty quên. Còn mặt mũi nào khi một ông quản lý nhà hàng trong buổi tiếp tân mà mũi lại dính chocolat, làm sao giải thích cho ra lẽ với ông Giám Đốc? Trong tích tắc Ty thấy được, tưởng tượng được đám thực khách cười như chợ vỡ và mặt ông Giám Đốc đỏ lên hầm hầm. Trong bao nhiêu năm làm việc, có lẽ đây là lần đầu tiên Ba bị hố, chỉ vì dắt Ty theo, lỡ dắt Ty theo. Ty quýnh lên, nước mắt vòng quanh. Ông Giám Đốc chưa thấy nhưng một vài người khách họ thấy. Một hai cái cười ý nhị nhìn theo nhưng họ không nói được với Ba vì Ba đi rất nhanh. Mặt lạnh như tiền, Ba tiến về vị trí cũ, ở đầu phòng, thong thả đưa mắt nhìn bao quát. Nhưng hỡi ơi, miếng chocolat to tướng trên mũi, sao Ba không hay. Ty muốn kêu Ba nhưng tiếng Ty tắt nghẹn… Ba đứng xa Ty hơn lần trước. Tiếng Ty ư ứ như mèo con.
Trong đôi mắt rưng rưng Ty thấy từ một góc phòng, đám thực khách nhốn nháo cả lên. Thôi rồi, họ kéo đến, họ cười vào mặt Ba. Ty xòe hai bàn tay che kín mắt nhưng sao Ty vẫn thấy. Ba ơi, nếu Ba ngờ được, cứ lùi vào tấm màn vàng là xong. Hay là Ty chạy đại ra, Ty kêu liền Ba, chỉ cần ba nhìn thấy Ty và Ty sẽ chỉ hai tay lên mũi, Ba sẽ hiểu ngay. Vâng… Nhưng không kịp nữa, đám đông đứng lên không phải tiến về chỗ góc Ba đứng mà ở chỗ góc đối diện, bên Ty đang đứng run run. Ông khách đãi tiệc đi cứng nhắc một cách trịnh trọng tiến đến micro đặt sát màn. Giọng ông ta oang oang:
- Chúng tôi là bạn thân nhau thuở nhỏ – ông vỗ vai ông Giám Đốc bên cạnh:
- Bữa tiệc thành công hôm nay phần lớn là nhờ ông Giám Đốc với ông Quản Lý đây, chúng tôi có món quà mọn gọi là tỏ chút lòng tri ân…
Một anh hầu bàn vừa được sai xuống, mang lên 2 chiếc hộp bao giấy bóng và thắt nơ lộng lẫy. Ông khách tiếp tục giới thiệu:
- Đây là bức tượng quý tôi mang từ Ấn Độ về… xin mời một người lên trao tặng phẩm…
Ông nhón nhìn trong các thực khách đang quay mặt cả về ông, không tiếng động. Im lặng. Ông Giám Đốc và Ba đứng song song. Bận đỏ mặt sung sướng, hãnh diện, ông không chú ý đến ba. Riêng Ba vẫn mang vẻ lãnh đạm cố hữu. Trời ơi, Ba có biết không, một vết chocolat to tướng trên mũi, chỉ có 5 giây để ông Giám Đốc quay đầu và bắt gặp. Tim Ty đập loạn xạ trong lồng ngực. Ty quan sát thật nhanh, có lẽ thực khách ai cũng nhìn thấy cả. Các bà chỉ cắn môi cười mỉm, các ông thì xoa tay lên mũi, chừng như họ cũng sợ có một vết chocolat bất ngờ như vậy. Còn các anh hầu bàn chung với Ba thì sao? Khuôn mặt họ mới nhăn nhó, kỳ cục làm sao. Hình như mấy người đầu bị đẩy lên nói với Ba, nhưng chỉ bước mấy bước họ lại đứng im, muốn đến Ba họ phải trình diện trước bao nhiêu là cặp mắt, không khéo cả ban tiếp tân trở thành một trò cười cho người ngoài. Chắc họ lại đang trách nhau sao chẳng ai để ý khuôn mặt Ba cả, mắc bận sớt đồ ăn mà, mắc bận nghe người khách này đòi rượu, người khách kia đòi chén mà. Ty ơi, Ty phải quyết định đi. Tiếng thím Hai giục sau lưng:
- Ty trao quà thì vừa quá, lên đi Ty.
Tiếng ông khách lại vang lên lần nữa:
- Xin mời…
Ông nhìn quanh, lần nầy một cô bé rất xinh mặc đầm trắng đĩnh đạc đi ra từ sau khung màn vàng, vừa bắt gặp, ông hài lòng vô cùng. Phải thế chứ. Dáng chừng cô bé cảm động lắm mà gói quà trong tay cô bé rung rung. Cái thứ nhất trao cho ông Giám Đốc, tiếng vỗ tay vang rộn cả căn phòng. Hộp thứ hai trao cho ông Quản Lý, tội nghiệp chưa, cô bé cảm động như không đi nổi nữa nhưng hấp tấp hơn lần trước, cô bé tiến rất nhanh đến ông Quản Lý. Chiếc hộp vừa cầm trên tay, ông Quản Lý đã cúi vội xuống, 2 cái, 2 cái bên má cô bé theo kiểu Tây Phương chính hiệu. Cô bé và ông Quản Lý – đúng hơn là hai bố con vừa hôn nhau đậm đà giữa cái im lặng xúc động của cử tọa. Có một chiếc đũa thần xóa rất nhanh, rất sạch vết chocolat hoen ố trên mũi ông Quản Lý và trả lại một khuôn mặt toàn vẹn nét uy nghi. Chiếc đũa thần ở chiếc khăn tay cô bé nằm lẫn trong gói quà, trong lòng tay. Tiếng vỗ tay lại dồn dập, đều hết cả phòng, như có sự hân hoan phụ họa của các anh hầu bàn, một cách nhiệt thành và đắc thắng.
Cô bé mặc đầm trắng lùi ra xa. Dưới chùm đèn treo trăm ngọn, ba người lớn xiết chặt tay nhau vui vẻ, thân ái, đoàn kết. Ở chỗ ít ánh sáng nhất, cô bé đang nhẹ nhàng giơ khăn tay chùi nhanh những giọt lệ vui mừng đọng ở rèm mi mà… hình như… có một vết chocolat mờ, rất mờ, mà cô bé không hay, còn vương trên má phải.
Linh Hương
Nguồn: Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 229, số đặc biệt Giáng Sinh, ra ngày 1-12-1974
Theo https://vietmessenger.com/

  Cái Tôi của Phạm Duy  trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...