Thứ Ba, 30 tháng 4, 2024

Nhà thơ Vũ Thiên Kiều, du ca ấy như thời gian thơm thảo

Nhà thơ Vũ Thiên Kiều, du ca
ấy như thời gian thơm thảo

Vũ Thiên Kiều là một cây bút trẻ trung, sung sức ở Kiên Giang. Thân gái dặm trường, cô gái quê lúa xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình từng là học sinh giỏi Văn toàn quốc năm 1985 bây giờ đã đằm thắm dịu dàng dân mến dân thương trong Ban Dân vận huyện Hòn Đất nơi biên giới Tây Nam Tổ quốc.
Không ai nghĩ Vũ Thiên Kiều đã vào độ tuổi năm mươi càng không ai nghĩ Kiều đã đạt nhiều giải thưởng văn chương uy tín, xuất bản các tập thơ dày dặn ngân vang, viết những truyện ngắn thăm thẳm nỗi người mà câu văn xanh thắm.
Chúng tôi, các nhà văn quân đội có việc gì đất phương Nam thường lập tức tìm tới Vũ Thiên Kiều. Khi là mời nàng thơ đi trại viết như một thỏi nam châm hút các anh chàng Bắc – Trung – Nam hào hứng tới trại; lúc giao cho Kiều nhiệm vụ kết nối, thực hiện những thao tác của Ban Tổ chức, Kiều đều xuất sắc hoàn thành. Kiều dẫn chương trình trong các cuộc tọa đàm, giao lưu đều ân tình, sáng tạo. Kiều đọc thơ cho bộ đội nơi tận cùng biên giới cháy hết mình như ngọn lửa tuổi đôi mươi… Vũ Thiên Kiều là vậy, nàng thơ Hòn Đất – Kiên Giang luôn cống hiến hết mình cho thi ca, bè bạn và cuộc sống. Mười năm không gặp vẫn như in một tấm lòng không suy suyển. Gặp mặt hôm trước hôm sau điện thoại từ xa hay trò chuyện thật gần vẫn là một Vũ Thiên Kiều đắm say, mới mẻ và đầy tin yêu cuộc sống. Bởi vậy chăng mà thơ Vũ Thiên Kiều luôn dài rộng, mênh mang: Trên đỉnh dốc xông xênh nắng gió/ ngời ngợi sắc xuân/ có chút nào trầm tư về chân dốc/ thuở mồ hôi bầu bạn những âu lo… (Đỉnh dốc); nhưng rất suy tư: Giọt mồ hôi túa trên gương mặt người thợ/ nhúm méo mặt đời cho phẳng phiu từng phiến đá/ vuông thành sắc cạnh/ dịu êm xinh lối nhỏ (Lòng đá); còn vô cùng tinh nghịch: Dông dốc sông Văn/ lồng tồng bụng chữ/ áo ngủ sấn khuy cài… người về thánh thót chiều chuông/ nết dạ nết làng/ vân vân giếng nước (Điềm sen); mới mẻ đầy chiêm nghiệm: Chiếc bánh luộc bằng lửa nhớ/ đỏ than đếm hơi thở em/ cuộn chăn một, hai, ba/ mớ hoa giấy cười đêm sang ngày (Ngụm nước nằm ngang); và ngang tàng thanh thoát: Ánh mắt anh nhốt nắng quái ngang đường/ sương nâng đôi chân mềm em/ bay bay mùa mật… ánh mắt anh bời bời cầu Ô Thước/ cát cuộn bụi tròn/ đôi sam dìu nhau (Mật mùa)…
Thơ Vũ Thiên Kiều như cuộc sống của chính con người Hòn Đất – Kiên Giang. Mà rộng hơn, mông mênh hơn bởi những đắng cay cuộc đời không một riêng ai mà tất cả chúng ta thảy đều phải đón nhận. Vũ Thiên Kiều lúc nào cũng cười thật tươi, mau mắn và lí lắc nhưng đủ thông minh cũng như đủ khù khờ trong tất thảy các câu chuyện văn chương. Hôm gần đây thôi, khi gặp nhà thơ Hoài Vũ ở Sài Gòn, tôi cứ tưởng nhắc đến Vũ Thiên Kiều chắc gì tác giả Hương tràm, Vàm Cỏ Đông, Vàm cỏ Tây… biết tới bậc hậu sinh mà ông lại rất rành thơ của Kiều còn bảo các nhà thơ trẻ, nhất là các nữ nhà thơ đất phương Nam hiện nay tài tình lắm. Tôi im lặng bởi những gì không nói ra cũng là cần thiết. Như thi ca cũng vậy, chớ có nói hết ra. Ví như là Phơi lá đỏ mong mùa đựng chín/ ruột nối một dây/ căng/ đứt đoạn giữa chừng (Búi chổi mắt anh); Nôi thở trong váng đèn dầu đỏ/ mầm tre chồi lên từ gò đất/ mẹ sinh em (Sấm chớp phù sa); Anh về đầy chén cơm hơn/ trăng non/ già/ khuyết/ dỗi hờn…/ mặc trăng (Anh về)… thì rõ ràng những gì chưa nói hết ra mới là ngân vọng vậy.
Tôi đã từng được làm “học trò” của Vũ Thiên Kiều với tư cách học viên hẳn hoi, thi cử hẳn hoi. Cuộc ấy chỉ có một học viên và tôi chỉ thi với chính mình mà chánh chủ khảo là Vũ Thiên Kiều. Cuộc ấy ở trại viết Đồng Tháp do tôi là trại trưởng. Tôi tự thi với chính mình. Tôi bảo: “Kiều ơi! Một trại trưởng, một trưởng ban Thơ như mình mà không làm thơ còn mặt mũi gì nữa. Cuộc này thím phải giúp ta mới được”. Vũ Thiên Kiều tưởng tôi giỡn chơi bèn nói: “Không! Anh cũng có vẻ biết làm thơ thật đấy. Hôm bọn em đưa chùm lục bát lên trang cũng có dăm bảy cụ lão tám, chín mươi bình phẩm ra trò”. Tôi nghiêm ngắn: “Thím đừng có mắng ta tội nghiệp. Cuộc này xa bia rượu vợ con tất thành chính quả thơ ca”.
Hôm sau, tôi gửi chánh chủ khảo Kiều bài thơ Hỏi sen: Sen ơi, sen bao nhiêu tuổi/ mãi thơm sâu nụ hôn đầu/ Sen ơi áo ta sao bạc/ mồ hôi ủ vết chân trâu/ Tơ vạc tàn ngày mưa lạnh/ âm thầm nhóm lửa mặt sông/ Tóc đèn tận đêm ngậm bóng/ kín nỗi sương sa trùng trùng/ Tiếng hót vun chân trời hoa/ hồn nụ tượng hình mấy trắng/ Hàng cây âm âm đội sóng/ trang nghiêm lệ mạn mạn thuyền/ Vách đá trĩu câm vai biển/ khô khuya gõ vết sông bầm/ Nỗi hỏi vang sâu thinh lặng/ cao xanh một giọt sen buông.
Giám khảo Kiều đọc rất kỹ, trầm ngâm rồi trang nghiêm phán: “Hỏng! Thơ của ai chứ không phải của anh. Chung chung quá. Chữ nghĩa vặn vẹo quá”.
Ngày hôm sau, tôi lại trình giám khảo Kiều bài Thơm sen: Mười ba tuổi/ tắm ao sen/ em ửng áo cầu ao/ sen nghiêng bẽn lẽn/ Mười tám tuổi/ tạ sen vào tiếng súng/ em hẹn dấu chim trong/ lấm tấm cau mừng/ Mười năm đằng đẵng sen khuya/ thức xanh hương nhụy/ Anh về – tấm giấy/ tiếng mõ chùa tự bấy thơm sen.
Lần này thì cô giáo Kiều hơi ngước mắt lên thong thả nói: “Tạm được! Bắt đầu có ý tứ nhưng nhất định phải cố lên”.
Tôi không tự ái. Thế là may mắn lắm rồi. Làm văn chương hơi tí tự ái chỉ là xách dép cho thiên hạ.
Ba ngày sau, tôi lại trình ra bài Sen cởi áo: Hé chồi nghiêng lung/ Mưa mừng chấp chới/ Chúm chím hương bung/ Xanh ngần tơ tuổi/ Bung biêng đá sỏi/ Thắm thẹn then xanh/ Lụa gầy thức nhụy/ Chớp lóa gõ cành/ Riết phồng ngát ngọt/ Gió nhức mùa non/ Trăng mưng tở mở/ Núm thơm nghiên son/ Nhiên trong tơ tóc/ Buông cởi sơ sương/ Ngực hoan khỏa khép/ Muốt bờ mây vương.
Quá tam ba bận, giám khảo Vũ Thiên Kiều lần này biết rằng không khen “học trò” cũng không ổn bèn căng mắt nhìn mãi rồi bảo: “Cái câu Núm thơm nghiên son có vẻ đường được. Từ rày trở đi, anh hoàn toàn có thể làm thơ”.
Cuộc ấy với tôi quả là một thử thách nhớ đời.
Vũ Thiên Kiều đến với thơ nghiêm túc còn có phần nghiêm khắc với chính bản thân mình. Phải vậy chăng mà chặng đường bền bỉ ba mươi năm không chút hụt hơi càng đi càng xum xuê gốc cành hoa lá. Vô số những quả chín mùa yêu hạt vàng siêng nhặt đã đậu xuống hai vai Vũ Thiên Kiều. Nào riêng gì những rong chơi mới nên cơ nghiệp mà chính yếu là sự làm lụng, chắt chiu, thương buốt đến tận cùng mỗi cánh hoa rơi. Thơ Kiều tình ẩn đằng sau chữ, nghĩa mở mang từ những đóng khép câu từ. Có những câu đọc thấy tưng tức mà đọc đi đọc lại thấy thực là mới chữ mới nghĩa cũng là một cách đóng góp của nàng thơ. Ở những chỗ như vậy chớ có lườm nguýt so sánh làm gì. Đời người đời văn chương vốn dài dằng dặc sá gì câu chữ gập ghềnh đôi lúc đánh đố nhau cũng là mến yêu nhau vậy.
Đừng tưởng Vũ Thiên Kiều không dám viết những khúc thơ dằng dặc miên man. Để đưa ra những thông điệp có ích cho đời sống dưới con mắt thơ, Vũ Thiên Kiều đã dám tự mình làm nhà triết học một cách khúc chiết ngọn ngành lắm: Kiến không có cánh để bay. Dường như nó hiểu mỗi cuộc du hành thì xác suất của sự an toàn trở về tổ là rất thấp. Thế nên, nó miệt mài tìm những con đường ngoằn nghèo thậm chí là có địa hình hiểm trở để mỗi lần ra đi lại nguyên vẹn ngày trở lại… Nếu lúc xuất hành ra đi gian khổ một thì nẻo về còn khó khăn vất vả gấp trăm lần. Kiến phải gồng mình lên để kéo hạt gạo đi theo hướng giật lùi, kéo chán thì đẩy, đẩy chán lại ngoạm ngang eo hạt gạo mà tiến. Đây thật sự là một cuộc chiến thử thách tính kiên trì của Kiến. Vừa thồ vừa quan sát chọn lối đi an toàn cho tính mạng và tài sản vừa nhặt được. Cứ thế cứ thế Kiến đi. Có ai đồng hành cùng với Kiến? Có ai nhìn thấy nó lúc hoàn thành sứ mệnh khi đặt chiến lợi phẩm nằm gọn trong tổ. Rồi như không biết mệt mỏi, cũng không kể lể báo cáo thành tích, nó lại âm thầm hối hả với chuyến tiếp theo. Một câu hỏi chợt nảy ra: Kiến có ngủ không nhỉ? Chỉ thấy nó rất cần mẫn lao động, cần mẫn lao động một cách đáng nể. Và sự nỗ lực của những bàn chân, bàn tay bé xíu như không thể bé hơn được nữa đã viết lên câu ca dao để đời mà ai cũng thuộc lòng: “Kiến tha lâu đầy tổ” (Con đường của Kiến).
Đó chính là một du ca – du hành chữ nghĩa thảo thơm đầy đặn lắm thay.
Đó cũng là những định luận ngàn đời không bao giờ ngưng nghỉ.
Đó cũng là một trở về trong một ra đi.
Như một trở về trong một ra đi, thơ và nàng thơ Vũ Thiên Kiều đã không là của riêng ai đơn nhất nhưng cũng thật riêng của chính Kiều. Một trở về trong một ra đi, du ca ấy như thời gian thơm thảo trong những hạt vàng siêng nhặt tháng năm.
3/5/2023
Phùng Văn Khai
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

Lê Lựu - Nhà văn của những tiếng cười

Lê Lựu - Nhà văn
của những tiếng cười

Bản thân Lê Lựu đã là một nhân vật lớn trong bất kỳ một cuốn tiểu thuyết nào của các tác giả khác, xung quanh con người và cuộc sống của ông đã dệt nên bao giai thoại khiến cho người đọc, người nghe cười đến ngả nghiêng, và đương nhiên ông luôn là nhân vật của chính bản thân ông.
Trong các cuộc đàm đạo văn chương chính thức và bán chính thức, chúng tôi thường đặt cho nhau một câu hỏi giả định rằng: nếu vì một lý do bất khả kháng nào đó, anh chỉ được phép cứu vội 10 cuốn tiểu thuyết đương đại của các nhà văn Việt Nam thì anh sẽ chọn những cuốn nào? Mỗi người đều có những đáp án riêng của mình, nhưng có một sự đồng thuận khá cao khi những cuốn tiểu thuyết “Thời xa vắng” của Lê Lựu; “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng; “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh và “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường luôn được ưu ái chọn lựa.
Và nhiều khi tôi cứ lẩn thẩn suy nghĩ rằng, nếu như nền văn học nước nhà trong nửa cuối thế kỷ 20 không xuất hiện nhà văn Lê Lựu thì sẽ ra sao nhỉ? Tất nhiên là sẽ không có “Người về đồng cói”; “Sóng ở đáy sông”; “Thời xa vắng”; “Hai nhà”… Vâng nếu không có những cuốn sách ấy thì hình như sẽ có một sự thiếu vắng rất đáng kể của nền văn học nước nhà, mà sự thiếu vắng lớn hơn đó chính là thiếu vắng sự hiện diện của bản thân nhà văn Lê Lựu trong đời sống văn học của chúng ta.
Bản thân Lê Lựu đã là một nhân vật lớn trong bất kỳ một cuốn tiểu thuyết nào của các tác giả khác, xung quanh con người và cuộc sống của ông đã dệt nên bao giai thoại khiến cho người đọc, người nghe cười đến ngả nghiêng, và đương nhiên ông luôn là nhân vật của chính bản thân ông. Khi đã dám đưa chính mình ra để làm nhân vật, để mà đắp lên mình bao “chiếc mặt nạ” để cho người đời khóc cười với mình thì phải là một người có bản lĩnh và tài năng xuất chúng bởi chưng rằng tâm lí chung của con người là “xấu che tốt khoe”, nhưng Lê Lựu thì không thế.
Đã từ lâu trong giới phê bình học thuật thường hay than vãn rằng văn học Việt Nam quá thiếu vắng sự hài hước, các nhà văn Việt Nam viết nghiêm túc quá, điều đó đúng nhưng bản thân chúng tôi xét thấy chưa đủ, liệu có phải chăng chúng ta đang quan niệm hài hước phải là tiếng cười bật ra đầu môi? Cũng giống như làng hài kịch nước nhà hiện nay cũng lắm tiếng cười đấy chứ, họ còn tự phong cho nhau là ông hoàng, vua hài… nhưng những tiếng cười “cù nách” chỉ có giá trị nhất thời và đem lại tiếng cười quá dễ dãi cho lớp người bình dân, nếu cứ kéo dài mãi thì chẳng góp được ích lợi gì trong việc nâng cao trình độ kiến thức thưởng thức nghệ thuật của quần chúng, còn tiếng cười của những nghệ sĩ hài thuở trước như Trịnh Thịnh, Trịnh Mai… nó còn sống lâu bền với thời cuộc. Vì tiếng cười ấy mang đầy hàm lượng trí tuệ. Tiếng cười có thể không đến ngay và luôn, nhưng tiếng cười còn ở mãi trong mỗi người xem khi nghĩ đến. Và xét cho đến tận cùng thì hình như tiếng cười từ những bi kịch mới là tiếng cười đọng lại sâu nhất trong lòng người đọc. Chúng tôi thấy được điều ấy ở trường hợp của Lê Lựu.
Trở lại tiếng cười trong tác phẩm văn học, mỗi khi nhắc đến yếu tố này, người ta nghĩ ngay đến “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng, đúng là mỗi câu văn của Vũ Trọng Phụng trong “Số đỏ” luôn gây cho người đọc những tiếng cười với những trạng huống khác nhau, cười đấy và buồn đấy, cười đấy rồi khinh đấy, cười đấy rồi khóc đấy… Nhưng tiếng cười của Vũ Trọng Phụng là tiếng cười “của một ai đó ở ngoài tác giả” điều đó cũng tốt nhưng hình như nó vẫn chưa thấm bằng tiếng cười của Lê Lựu và Nam Cao (ở đây chúng tôi không so sánh về giá trị nghệ thuật của tác phẩm cũng như tài năng của các tác giả). Sở dĩ có nhận định như vậy là vì hình như toàn bộ tác phẩm của Lê Lựu, ông đều “mổ bụng mình ra cho thiên hạ xem”, những nhân vật chính trong những sáng tác của Lê Lựu đều là những Lê Lựu ”phẩy” mà hiện hình lên trang sách. Ông đã biến mình thành nhân vật của chính mình, đưa cái dị mọ nhôm nhoam của chính mình ra để diễu và người đọc qua nhân vật của ông đã soi chiếu lại đời sống, soi chiếu lại chính mình và xã hội đương thời.
Trường hợp này cũng xuất hiện ở nhà văn Nam Cao như nhà văn Tạ Duy Anh đã từng nhận định: “Theo tôi, nếu đọc thật kĩ, sẽ thấy Nam Cao mới thực là nhà văn hài lớn nhất của văn chương Việt. Dám mang mình ra để cười nhạo, biến mình thành nhân vật hài rồi lồng vào đó sự phê phán thời đại, chưa bao giờ là dễ dàng với bất cứ người cầm bút nào”. Nhưng qua khảo sát chúng tôi thấy, cái sự “triệt để” ở Nam Cao vẫn chưa bằng Lê Lựu, nếu xem tác phẩm “Chí Phèo” là đỉnh cao của sự nghiệp văn chương Nam Cao thì ở đó chúng tôi thấy vẫn còn mờ nhạt thậm chí là thiếu vắng hình bóng của Nam Cao và còn ở nhiều tác phẩm khác của ông cũng thế.
Nhưng chúng ta thử ngẫm lại xem, Lê Lựu đậm đặc trong từng tác phẩm của ông, mà tác phẩm nào cũng có cái để cười, có cái để mà đau, mà suy ngẫm. Đọc Lê Lựu ở từng câu, từng chữ thì sẽ ít gây cười, nhưng ở những chi tiết, những trường đoạn và sau khi đọc kỹ, ngẫm kỹ sẽ gây cười. Ví dụ như chuyện của anh Sài trong “Thời xa vắng” chẳng hạn. Theo sự chỉ đạo của tổ chức – mà thực chất là một anh “đại diện” tổ chức – là Sài phải “kiên quyết cắt đứt quan hệ với người mình yêu để “thực sự yêu vợ”. Hay đoạn viết về buổi họp gia đình, bữa cơm khi nhà có khách, đám ma ông đồ trong “Thời xa vắng” được miêu tả sống động và hài hước, tạo được một không khí “nhà quê” rất đặc trưng Lê Lựu. Trong truyện “Đại tá không biết đùa”, Đại tá Hoàng Thủy để rèn luyện con, ông đã yêu cầu Công an huyện cho Tùy đi tập trung cải tạo, tự xin hoãn đi học đại học ở nước ngoài để làm công nhân, bắt con phải từ bỏ tình yêu với cô gái đã từng yêu một người khác vì cho rằng “người ta đã bỏ được người thứ nhất cũng dễ dàng bỏ đến người thứ một trăm”.
Bìa tiểu thuyết “Hai nhà” của nhà văn Lê Lựu
Lê Lựu có biệt tài đưa cái hồn nhiên, dân dã vào trong tác phẩm và đặt tên nhân vật, tạo tình huống để có tiếng cười, mặt khác, ông cũng có tài khi đưa vào tác phẩm những nhân vật ngớ ngẩn, duy ý chí, cứng nhắc rập khuôn “ngu, ác một cách hồn nhiên” để tạo cho người đọc những tiếng cười thâm sâu mà chua chát. Hay tình huống ông Tâm tốt tính, hiền lành nhưng nhu nhược. Một ông Địa thâm trầm nhưng hèn hạ và độc ác ngấm ngầm trong “Hai nhà”. Thực chất hai ông chính là hai mặt của một con người, nhưng cái trớ trêu ở chỗ dù hiền lành hay độc ác thì cuối cùng cũng bị những người đàn bà lừa cho trắng mắt, dù dân gian có câu: “Đàn ông nông nổi giếng khơi/ đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu”. Lê Lựu đưa ra một phản đề để người đọc suy ngẫm và cười và đau, cười chua chát cho nhân tình thế thái, cho đạo lý, có tình yêu, tình nghĩa vợ chồng…
Từ trước tới nay khi nhắc đến Lê Lựu, không hiểu vì sao người đọc và cả các nhà nghiên cứu thường ít nhắc đến cuốn tiểu thuyết “Hai nhà” của ông. Theo cái sự đọc của chúng tôi, nếu đọc và ngẫm kỹ, chính tiểu thuyết “Hai nhà” là “tập hai” của “Thời xa vắng” dù tất cả các nhân vật đều khác tên, khác tuổi. Nhưng khi đọc ta sẽ thấy Tâm trong “Hai nhà” chính là Sài trong “Thời xa vắng”. Tâm và Sài đều đánh mất bản thân, đều nín nhịn, chiều chuộng vợ và cuối cùng đều bị phản bội. Kết cục của Tâm là hai đứa con mà anh dốc lòng chăm bẵm đều không phải con đẻ của anh, cay đắng hơn, đứa con của một người bạn thân chết oan trong trò gian dâm của vợ anh. “Hai nhà” và “Thời xa vắng” đều dần mở ra những ô cửa sổ để người đọc khám phá căn nhà rộng lớn có tên Lê Lựu, tựu trung lại là những bi kịch do chính con người tạo ra, những bi hài kịch do lòng hận thù, ích kỷ, tham lam, dâm đãng, vô văn hóa của chính con người.
Cũng có thể do cái bóng của “Thời xa vắng” quá lớn nên đã chen mất “Hai nhà” chăng? Hay vì văn phong của “Hai nhà” khác với văn phong của Lê Lựu vốn có? Trong “Hai nhà” là một Lê Lựu lọc lõi, sâu cay và lạnh lùng một cách triệt để, một Lê Lựu dám dấn thân đi đến tận cùng của cái ác, cái giả trá và lật lọng? Mà người đời thì vốn thích ấm áp và vị tha? Có phải vì những điều trên mà “Hai nhà” ít được nhắc đến? Chúng tôi vẫn tìn rằng đến một ngày nào đó, nếu bạn đọc đọc kỹ cuốn tiểu thuyết “Hai nhà” của nhà văn Lê Lựu sẽ nhìn được thêm một mặt vốn khuất lấp của chính Lê Lưu.
Tuy nhiên, nếu đọc văn học mà tin một trăm phần trăm nhân vật là tác giả thì quả là mới đọc ở con mắt chứ chưa đọc bằng cái đầu, nhưng trường hợp của Lê Lựu thì mới chỉ đọc bằng con mắt cũng đã dễ nhận ra, còn nhận ra bao nhiêu phần trăm thì tùy thuộc ở bạn.
6/5/2023
Nguyễn Thế Hùng
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

Cái nhìn văn hóa trong tiểu thuyết đề tài chiến tranh sau năm 1975

Cái nhìn văn hóa trong tiểu thuyết
đề tài chiến tranh sau năm 1975

Lịch sử hiện đại Việt Nam trải qua nhiều biến thiên, mang âm hưởng bi tráng qua những cuộc chiến tranh chính nghĩa, bảo vệ độc lập tự do, xây dựng và đổi mới đất nước từ sau 1975. Nếu chúng ta hội nhập rộng và sâu trong xu thế của “thế giới phẳng”, thì các giá trị đích thực để sánh vai với bạn bè năm châu bốn biển không phải là những phát minh vĩ đại thay đổi thế giới, các siêu tập đoàn kinh tế, hay những Nobel về các lĩnh vực… mà là giá trị văn hóa Việt Nam, góp vào giá trị phổ quát của nhân loại.
Văn học đương đại Việt Nam, tính từ sau 1975, theo “thi pháp” trong giai đoạn lịch sử mới, phản ánh xã hội và con người trong dạng thức “chưa hoàn thành”; cái hôm nay ngày càng phong phú và phức tạp với tính chất hiện sinh, hiện tồn. Nhưng sự đa dạng của văn chương đương đại chính là sự mở rộng biên độ phản ánh với nhiều đề tài, chủ đề, nhiều khuynh hướng phong cách… Sự trở lại ngoạn mục của đề tài truyền thống lịch sử và chiến tranh cách mạng trên văn đàn hiện nay chiếm một vị trí quan trọng trong sự kiến thiết nền văn chương đương đại có tính chất “mở” và “hội nhập”. Thực tế đó cho thấy nhu cầu tinh thần “ôn cố tri tân” là thực tiễn và cấp bách. Trên chặng đường lịch sử mới, cả dân tộc và mỗi con người cần “ngoái đầu nhìn lại”, cần phục dựng “ký ức lương thiện” để tăng cường sức mạnh văn hóa – đạo đức của dân tộc trong thời đại mới.
Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung phân tích động hướng sáng tác “tôn vinh văn hóa dân tộc” qua mảng tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh cách mạng và hình tượng người chiến sỹ, đặc biệt là qua những tiểu thuyết xuất bản trong 2 thập niên đầu của thế kỷ 21.
Tiểu thuyết viết về chiến tranh sau sau năm 1975, theo quan điểm của chúng tôi, đã trải qua ba “phân khúc” chính. Một là, tiểu thuyết tả trận, viết trực diện về chiến tranh trong tính thời sự nóng hổi, như: Mặt trận trên cao của Nguyễn Đình Thi, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Mẫn và tôi của Phan Tứ, Rừng U Minh của Trần Hiếu Minh, Ở xã Trung Nghĩa của Nguyễn Thi, Chiến sĩ của Nguyễn Khải, Thôn ven đường của Xuân Thiều, Năm 1975 họ đã sống như thế của Nguyễn Trí Huân, Trong cơn gió lốc của Khuất Quang Thụy, Nắng đồng bằng của Chu Lai, Biển gọi của Hồ Phương v.v… Hai là, tiểu thuyết thực hiện nhiệm vụ nghệ thuật tái nhận thức chiến tranh và số phận con người, như: Dòng sông phẳng lặng của Tô Nhuận Vỹ, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Hướng, Ăn mày dĩ vãng và Mưa đỏ của Chu Lai, Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh, Bến đò xưa lặng lẽ của Xuân Đức, Rừng đói của Nguyễn Trọng Luân v.v… Ba là, tiểu thuyết viết về chiến thắng, tôn vinh văn hóa dân tộc Việt Nam trong chiến tranh qua một số tác phẩm tiêu biểu xuất bản gần đây, như: Đỉnh cao hoang vắng của Khuất Quang Thụy, Thư về quá khứ của Nguyễn Trọng Tân, Con chim Zoong bay từ A đến Z của Đỗ Tiến Thụy, Gió Thượng Phùng của Võ Bá Cường, Nậm Ngặt mây trắng của Nguyễn Hùng Sơn, Lời nguyện cầu cho những linh hồn phiêu dạt của Đoàn Tuấn, Hương của Nguyễn Thụy Kha v.v…
Đặc điểm chung của những cuốn tiểu thuyết thuộc “phân khúc” thứ ba trên đây có thể khái quát như sau: Hiện thực tinh thần được quan tâm hơn hiện thực sự kiện trong phản ánh, tái hiện chiến tranh; Chiến thắng của văn hóa Việt Nam được tô đậm hơn chiến thắng quân sự trong phản ánh về chiến tranh; Đánh dấu sự phát triển bền vững của tiểu thuyết khi lý giải mối quan hệ giữa chiến tranh và hòa bình từ quan điểm triết học, xã hội học, đạo đức học, văn hóa học ở tầm nhìn mới.
Trước hết phải kể đến Đỉnh cao hoang vắng (2016) của Khuất Quang Thụy. Bên ngoài (hình thức) rõ ràng là một cuốn tiểu thuyết chuyên biệt viết về chiến tranh. Nhưng nhìn sâu vào tác phẩm, nó là một cuốn sách nói về văn hóa Việt Nam vốn có truyền thống “Lấy nhân nghĩa thắng hung tàn/ Lấy chí nhân thay cường bạo” (Nguyễn Trãi). Câu chuyện nữ y sỹ Vân bị bắt làm tù binh, bị dẫn giải bởi hai người lính của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, trong vòng gần một năm trời lạc rừng sâu, cho thấy dẫu Vân tuy chỉ là một người lính Giải phóng bình thường nhưng có cốt cách văn hóa được rèn giũa trong quân đội cách mạng, đằng sau là vốn văn hóa dân tộc có truyền thống nhân nghĩa. Nên cô đã thuyết phục và cảm hóa được đối phương khiến họ không những không xâm hại, không hề động đến “sợi lông chân”, không những thế còn quý nể, trân trọng, bảo vệ an toàn tính mạng cho mình. Tác phẩm đượm tinh thần hòa hợp, hòa giải dân tộc. Người phát kiến lối viết đề cao tinh thần nhân văn mới mẻ này phải kể đến và ghi công đầu cho Nguyễn Minh Châu với tiểu thuyết Miền cháy (1977). Nếu Đỉnh cao hoang vắng thu hẹp câu chuyện giữa ba người (1 quân Giải phóng, 2 binh sỹ Quân lực Việt Nam Cộng hòa) thì Gió Thượng Phùng của Võ Bá Cường mở rộng biên độ phản ánh khi viết về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc vào cuối thập niên 70 – đầu thập niên 80 của thế kỷ trước. Chúng tôi gọi đó là “khúc bi tráng thứ tư” trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ngót nửa thế kỷ thời hiện đại (1945-1989). Điều gì, sức mạnh nào đã giúp chúng ta đánh bại đạo quân xâm lược vốn lân bang hàng vạn tên? Tất nhiên, lòng yêu nước căm thù giặc, ý chí chiến đấu “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, khối đoàn kết quân và dân như cá với nước… là cội nguồn sức mạnh của chúng ta. Nhưng sâu xa và bền vững hơn là sự chiến thắng của văn hóa Việt Nam. Nhà thơ Lưu Quang Vũ có bài thơ để đời với tựa Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi. Có thể lấy cấu tứ của thi phẩm đó để cắt nghĩa thành công của tác giả trong thiên tiểu thuyết vừa hùng tráng, vừa bi tráng, được viết bằng một “đại khí văn chương” (để phân biệt với những lời ai oán về chiến tranh và thân phận con người, chúng tôi gọi là “tiểu khí văn chương”).
Theo dòng chảy kể trên, Quay đầu lại là bờ của Hữu Phương, Lạc vào giông bão của Phương Văn… là những tác phẩm dẫu thành công ở những mức độ khác nhau, nhưng thống nhất cao ở chủ đề căn cơ: văn hóa dân tộc là chất keo hữu cơ gắn kết cộng đồng người Việt Nam dù ở trong nước hay nơi chân trời góc bể nào. Những người Việt tha hương vì bất kể lý do gì đều nuôi bền tâm chí “cố hương”, “cố quốc”, để vượt thoát “tha hương” như một mặc cảm tiêu cực. Tiểu thuyết Hương (2022) của Nguyễn Thụy Kha “chạm” đến một vấn đề quan thiết và nhạy cảm nhất hiện nay, đó là tinh thần đại đoàn kết dân tộc, trên nền tảng hòa hợp – hòa giải dân tộc, như một sức mạnh vô song, lẽ sống thuận tự nhiên, biểu trưng của tinh thần nhân văn vì con người. Tiểu thuyết hấp dẫn nhờ tác giả kể lại một câu chuyện tình tay ba “cũ như trái đất”: nhưng bên trong và giữa các số phận là vấn đề nhân tâm thời đại: xóa bỏ hận thù và định kiến, cùng hướng tới tương lai, cùng với việc neo giữ ký ức lương thiện như là của cải tinh thần để dành cho các thế hệ mai sau, không gì khác là Tình – yêu – thương – lớn. Năm 2017, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức sự kiện lớn với chủ đề “Nhà văn với sứ mệnh đại đoàn kết dân tộc”. Nhiều nhà văn ở nước ngoài đã về dự và có cơ hội thấu cảm với cộng đồng dân tộc theo động hướng tinh thần “khép lại quá khứ cùng hướng tới tương lai”. Không có một thế lực nào có thể chia cắt mối tình cảm đồng bào của dân tộc Việt Nam hơn 100 triệu người cả ở trong và ngoài nước, dẫu định cư ở phương trời nào.
“Văn học là lương tri thời đại” là một định đề không bao giờ cũ, trái lại càng trong thực tiễn càng phát lộ tính chất ưu việt của nó trong việc hướng đạo sáng tác. Một định hướng có tính khoa học và chính trị là Sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật về đề tài cách mạng, tôn vinh các giá trị văn hóa dân tộc khiến không ít người trong giới nghiên cứu và sáng tác văn học coi là “viết theo đơn đặt hàng” (commander). Nhưng văn nghệ sĩ không thể thoát ly xã hội, thoát ly hoàn cảnh, cho nên viết theo “giao kèo xã hội” thì cũng không có gì là không đúng. Vấn đề quan trọng là tài năng nghệ thuật. Nghệ sỹ tài năng đích thực không hề vấn vương “viết về cái gì” mà chỉ đau đáu suy tư “viết như thế nào”!.
7/5/2023
Bùi Tùng Ảnh
Nguồn: Báo Văn Nghệ
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

Cổ tích mới thời thế giới phẳng

  Cổ tích mới thời thế giới phẳng

Truyện ngắn hiện đại đang trên con đường khám phá, vén mở thi pháp mới. Mỗi nhà văn đều tìm kiếm, khai phá và định hình một lối rẽ riêng, tạo nên phong cách truyện ngắn độc đáo của riêng mình. Truyện ngắn hiện đại dung nạp nhiều thi pháp, phong cách truyện ngắn khác nhau như: truyện ngắn mô tả hiện thực, khắc họa thế giới tâm linh kỳ ảo, truyện ngắn kinh dị…
Bìa tập truyện Hồn ma Facebook
Tập truyện ngắn: “Hồn ma Facebook” của Đỗ Anh Thư bộc lộ sự dấn thân, thử nghiệm trong sáng tạo truyện ngắn hiện đại của một nhà thơ. Tập truyện: “Hồn ma Facebook” gồm 6 truyện ngắn nhất quán về phong cách thể hiện trong việc khắc họa mối giao hòa giữa thế giới thực tại và thế giới tâm linh của con người. Đỗ Anh Thư khám phá và khắc họa thế giới nội tâm của con người bằng tấm lòng trắc ẩn trước bi kịch, nỗi đau, tình yêu, hạnh phúc và sự mất mát của mỗi số phận con người. Bàng bạc và ẩn hiện trong từng truyện ngắn là sự ám ảnh và sức tàn phá, hủy diệt sự sống của đại dịch Codid-19. Tuy nhiên, vượt lên trên tất cả, các truyện ngắn của nhà văn đã truyền cho người đọc thông điệp mang tính nhân văn về tình yêu thương và sự sống cùng với khát vọng vươn tới cuộc sống bình an, hạnh phúc.
Con người hiện đại đánh mất, xa rời thế giới cổ tích nên luôn khát khao, tìm kiếm những điều kỳ diệu, phép màu diễn ra trong đời sống và thế giới nội tâm. Nhà văn Đỗ Anh Thư là người tái tạo cổ tích mới trong thời đại thế giới phẳng. Truyện ngắn mở đầu tập truyện ngắn mang tên: “Nàng tiên sách”, nhà văn tạo dựng thế giới của cổ tích với hai nhân vật chính: “Nàng tiên sách” và “Nhà vua”. Trải qua bao biến cố, thăng trầm của vương quốc và của đời người, nàng tiên sách và nhà vua đã đồng điệu, tri âm cùng nhau tìm ra chân lý của sự sống. Truyện ngắn tuân thủ phong cách trần thuật đen xen yếu tố kỳ ảo của cổ tích. Hình tượng hai nhân vật chính là nàng tiên sách và nhà vua mang tính biểu tượng về tri thức và quyền lực. Thông điệp của truyện ngắn mang đến cho người đọc chính là tính triết luận về sự kết hợp giữa quyền lực và tri thức sẽ mang lại tự do, hạnh phúc cho con người. Phần chiêm nghiệm của người dẫn truyện ở cuối truyện ngắn còn bộc lộ lý giải của nhà văn về nguyên nhân dẫn đến đại dịch Covid-19. Nhà văn không đưa ra luận điểm bằng tư duy logich, khoa học mà bộc lộ cái nhìn, quan điểm nhân văn về mối quan hệ tương tác giữa thiện và ác…
Truyện ngắn của Đỗ Anh Thư có sự pha trộn, hòa quyện giữa thật và ảo, giữa yếu tố tự sự và trự tình (Tác giả đưa cả bài thơ vào truyện ngắn tạo nên kết cấu mở), giữa ngôn ngữ trần thuật và ngôn từ mang tính triết luận. Truyện ngắn: “Hồn ma Facebook” được kết cấu theo thủ pháp đồng hiện, đan xen giữa quá khứ và thực tại, giữa ảo và thực, giữa thế giới của thực tại và diễn biến tâm linh của con người. Qua cái chết, bi kịch cuộc đời của một nhân vật trẻ tuổi giữa đại dịch Covid-19, nhà văn đã khắc họa mối giao hòa giữa người sống và người chết, giữa thế giới tâm linh và thế giới thực tại. Qua đó, nhà văn truyền đến cho người đọc thông điệp về nỗi cô đơn của đời người và khát vọng vươn đến cuộc sống bình an, hạnh phúc.
Hai truyện ngắn: “Bà và cháu” và “Ma men” khác họa mối giao hòa sâu thẳm về tâm hồn giữa hai thế hệ và bi kịch của con người giữa đời thường. Đây là hai truyện ngắn tác giả dùng thủ pháp đồng hiện để mô tả, khắc họa về diễn biến thế giới nội tâm của con người trước bao éo le, nghiệt ngã của thực tại.
Nhà văn Đỗ Anh Thư viết truyện ngắn bằng phong cách ngôn ngữ trần thuật, mô tả sự tương quan, giao hòa giữa tâm trạng, cảm xúc của nhân vật và các sự việc, biến cố. Truyện ngắn: “Cần lắm một bờ vai” khắc họa một tình yêu đẹp của đôi tình nhân mà cô gái là người khuyết tật và một người đàn ông thành đạt, có trí tuệ. Tác giả đã mang đến cho người đọc thông điệp mang tính nhân văn về tình yêu, đó là con người luôn phải đấu tranh, mâu thuẫn giữa lý trí và trái tim, giữa sự cao thượng và thấp hèn để hướng tới tình yêu và hạnh phúc. Độc thoại của nhân vật người đàn ông tên Tuấn giữa bối cảnh đại dịch Covid-19 đang hoành hành đã bộc lộ tính cách của một người biết yêu, sống chân thành và sống đẹp: “Biết tha thứ cũng chính là đã tìm được cho mình  niềm vui và hạnh phúc…”.
Giống như tính cách của con người nhà văn, giọng văn trong hầu hết truyện ngắn của Đỗ Anh Thư đều dung dị, chân phương. Văn của chị đượm nồng và ẩn chứa vẻ đẹp của một tâm hồn, trái tim nhân hậu. Dù là một nhà thơ viết truyện ngắn nhưng tác giả không bị sa vào kiểu viết truyện ngắn vừa dùng ngôn ngữ mô tả, trần thuật vừa bộc lộ tính trữ tình ngoại đề.
Thế giới nhân vật và bối cảnh, thời gian và không gian trong truyện ngắn của nhà văn Đỗ Anh Thư vừa mặn mòi vị muối của cuộc đời, vừa đẹp và huyền ảo như cổ tích mới của thời thế giới phẳng.
Mỹ Tho, 7/4/2023
Võ Tấn Cường
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

Ý tơ vương - Chùm thơ Thiên Di

Ý tơ vương
Chùm thơ Thiên Di

Mở cửa trời xanh biếc/ Nghe tiếng gió reo cười/ Rót cho đầy ly hạ/ Ý thơ ngọt lên ngôi…
Ý tơ vương
Nhặt vài tơ nắng trong chiều
Dệt ngang trời chiếc võng điều đợi trăng…
Chiều tan trong suối nắng
Lá đuổi bắt hoàng hôn
Tiếng chim phai xa vắng
Rưng rưng vạt bụi vàng
Gió còn vương mùi nắng
Cho ai lặng ngẩn ngơ
Níu lại làn mây trắng
Gửi tặng người nhành mơ
Năm tháng già muôn tuổi
Thời gian bạc kiếp sầu
Riêng ta lòng thơ dại
Đợi mãi cánh buồm nâu
Hẹn ước một ngày vui
chén ngọc rượu nồng môi
Vườn trăng hoa lại nở
Đêm buông hương ru đời
Xanh cả mùa lá rụng
Buổi mang tình nhớ nhau
Gieo hạt mùa hy vọng
Ghé chia đôi nỗi sầu
Mở cửa trời xanh biếc
Nghe tiếng gió reo cười
Rót cho đầy ly hạ
Ý thơ ngọt lên ngôi…
Xanh nắng
Chiều ra quét lá sân mây
Mấy mùa lá úa rụng bay về trời
Chiều nay lá đổ bời bời
Sao chưa xanh nắng cho đời trổ hoa
Nhát này nhắc những ngày qua
Nhát này gom hết buồn ta hoá vàng
Nhát này nhắc thuở cơ hàn 
Những lời ly biệt để ngàn đêm mơ
Mai rồi hoa cỏ là thơ
Bước chân lang bạt kỳ hồ thoả thê
Nhát này rũ bỏ cơn mê
Vườn ta xanh nắng oanh về hát ca
Tình yêu vị biển
em sẽ không bao giờ quên ngày hôm ấy
sẽ không bao giờ quên ngày anh đến cuộc đời em
Ngày đó ánh mặt trời chiếu sáng,
và cao trên bầu trời
cơn gió thổi vui vẻ
mang trong mình vị biển
Đó là ngày mà em tìm thấy anh
trái tim em ấm lên
bởi đôi mắt anh sáng
nụ cười của anh khiến lòng dịu ngọt
từ đó,
ngày đó trở thành vĩnh hằng, khắc mãi trong ký ức của em
giống như một kho báu sẽ không bao giờ mất giá trị của nó.
Từ đó
 nắng, gió,
mang vị biển dâng lên
khao khát
nhớ nhung
tình yêu
màu của biển.
9/5/2023
Thiên Di
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

Nhà thơ Nguyễn Trác: Thiếu nhi - Độc giả đáng yêu nhất, nhưng cũng khó tính nhất

Nhà thơ Nguyễn Trác: Thiếu nhi
Độc giả đáng yêu nhất,
nhưng cũng khó tính nhất

Nhà thơ Nguyễn Trác viết thành công ở cả mảng thơ người lớn và thơ thiếu nhi. Ở thơ thiếu nhi, ông gây ấn tượng với tập Khu vườn tuổi thơ, trong ấy có bài Những đám mây sẽ kể được đưa vào Tiếng Việt 2, tập 2, bộ Chân trời sáng tạo.

Các em nhỏ sẽ tiếp cận một tác phẩm đã quen thuộc qua một hình thức nguyên bản- bằng văn bản. Nói vậy là vì bài thơ này đã được phổ nhạc, nên hầu hết các em sẽ được nghe bài hát trước khi học bài thơ.

Đám mây trôi muôn phương 
Bài thơ Những đám mây sẽ kể được nhà thơ viết năm 1980 cho con trai mình, khi ấy vừa tròn 5 tuổi. Tác phẩm này được in lần đầu trong tập thơ Mái nhà dưới bóng cây (in chung với các tác giả khác) do Nhà xuất bản Kim Đồng phát hành năm 1983. Ngay từ lần xuất bản đầu tiên, tập thơ này đã được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và của Trung ương đoàn. Vào năm 2012, bài thơ này một lần nữa được đưa vào tập thơ thiếu nhi Khu vườn tuổi thơ, tập thơ riêng của ông.
Hơn 40 năm, nhà thơ Nguyễn Trác vẫn nhớ rõ những ngày sau Tết năm 1980, ông cặm cụi ghi lại cảm xúc để bật ra những câu thơ hiền hòa. Đó là thời gian gia đình ông sống ở Đà Nẵng. Mây trời, biển cả, sông núi… nơi đây đã làm cảm xúc trong ông ngập tràn. Ông quan niệm thơ viết cho thiếu nhi và thơ viết về thiếu nhi là khác nhau. Dùvậy,có thể xếp Những đám mây sẽ kể là bài thơ vừa “cho thiếu nhi”, vừa “về thiếu nhi”.
Bài thơ gồm 4 khổ, mọi vật trong đó đều “trôi chảy”. Vì thế, bài thơ không chỉ có cảnh vật sinh động, mà còn mở ra trước mắt độc giả những không gian rộng lớn, sôi nổi: “Những đám mây sẽ kể/Về trăm vùng mây qua/Nơi nào mây mưa xuống/Cho đất đai hiền hòa//Những dòng sông sẽ kể/Về những hạt phù sa…“.
Một bài thơ nhỏ nhắn, nhưng chứa đựng một năng lượng lớn, đọc như được hít thở một bầu không khí trong lành. Không có thứ gì đứng yên, tất cả đều chuyển động và bất cứ thứ gì được sinh ra trên đời đều có đóng góp riêng của mình vào cuộc sống, từ dòng sông, biển cả cho đến trẻ thơ…
Bìa tập thơ “Khu vườn tuổi thơ”
Năm 1993, nhạc sĩ Đỗ Trí Dũng đọc được bài thơ này trên báo. Ông thích ngay, sau đó liên lạc với Nguyễn Trác để xin phổ nhạc. Lập tức, bài hát được gây được cảm tình với cả khán giả người lớn và trẻ em. Từ đây, bài thơ của Nguyễn Trác càng được biết rộng rãi hơn.
Nếu bài thơ được đánh giá là một trong những sáng tác hay của nhà thơ Nguyễn Trác, bài hát cũng trở thành một ca khúc quan trọng của nhạc sĩ Đỗ Trí Dũng, đều được nhắc đến khi cần liệt kê.
Bài thơ này cũng đã được đưa vào chương trình dạy tiếng Việt cho trẻ em người Việt tại nước ngoài. Một lần nữa, bài thơ lại tiếp tục như một áng mây trôi khắp muôn phương để đến với những tâm hồn Việt.
Thông điệp thơ sẽ tự bật lên
Nguyễn Trác viết cho độc giả ở nhiều độ tuổi, nhưng viết cho thiếu nhi vẫn là niềm hạnh phúc nhất của ông. Sở dĩ vậy, vì mỗi khiviết, ông phải nghĩ tới những điều vui và ngộ nghĩnh, “nhưng tính tôi ở ngoài thì không được vui như thơ thiếu nhi”, nhà thơ tự nhận.
Ví dụ như bài Chú sên chậm chạp: “Một chú sên chậm chạp/Đi trẩy hội mùa Xuân/Vừa đi sên vừa ăn/Dáng đủng đa đủng đỉnh/Cô gió sớm đi qua/Cưỡi một con ngựa xám:/Đi trẩy hội, sên ơi/Lo chi, còn kịp chán”.
“Thiếu nhi là độc giả đáng yêu nhất, nhưng cũng khó tính nhất. Tôi làm thơ thiếu nhi từ năm 20 tuổi, nên rất hiểu các bé, thích thì nói thích, không nói không, chứ có bao giờ nói để vui lòng người lớn đâu” – Nguyễn Trác bộc bạch.
Tập thơ “Mái nhà dưới bóng cây” (in chung, 1983)
Với thơ nói chung và thơ thiếu nhi nói riêng, ông nói rằng mình không bao giờ cố tình dạy dỗ độc giả điều gì. Cứ viết một cách hồn nhiên, nếu bài thơ hay thì tự thân nó sẽ bật lên những thông điệp, độc giả cũng sẽ đón nhận một cách tự nhiên nhất. “Muốn viết cho thiếu nhi thì cứ chơi với chúng, yêu chúng và hòa nhập vào thì sẽ có cảm xúc, chứ nếu cứ thích viết để giáo huấn chúng thì sẽ không còn là thơ nữa” – ông chia sẻ.
Ông sáng tác cho thiếu nhi nhiều nhất vào giai đoạn 20 – 40 tuổi, khi ông còn trẻ và con ông còn nhỏ. Khi ấy, cảm xúc dành cho con tràn đầy nên ông làm thơ thiếu nhi rất nhanh, bây giờ thì viết khó hơn.
Nguyễn Trác cũng nói rằng khi viết thơ thiếu nhi thì ông có ảnh hưởng thơ của thi hào Tagore, đặc biệt là tập Trăng non. Độc giả có thể gặp điều này khi so bài Họa sĩ của Nguyễn Trác với bài Mây và sóng của Tagore.
Cuộc đời di chuyển
Nguyễn Trác sinh năm 1946 tại huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, nhưng lớn lên tại Hà Nội. Hơn 25 năm sau đó chiến đấu, lập gia đình, sốngvà làm việc tại tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Hơn 50 tuổi, gia đình ông mới chuyển về Hà Nội, sống cho đến nay.
Ông đã xuất bản 11 tập thơ, trong đó có thể kể đến những tập như Thành phố những ngôi sao biển, Khu vườn tuổi thơ, Gió vẫn trên đường… Ông còn viết bút ký, chân dung nhà văn và vài thể loại khác. Các tác phẩm của ông đã được một số giải thưởng, tặng thưởng về thơ và văn xuôi.
Viết trên nền tảng dân tộc
Ngoài Tagore, Nguyễn Trác nói rằng ông còn bị ảnh hưởng bởi Chế Lan Viên. Đây là nhà thơ trong nước mà ông ngưỡng mộ nhất. Ông có nhiều dịp gặp gỡ Chế Lan Viên trong giai đoạn học ở Trường Viết văn Nguyễn Du, nên không chỉ ảnh hưởng thơ, mà còn cả cách đọc và quan điểm sáng tác.
Theo ông, Chế Lan Viên là nhà thơ thông minh, có tài, đọc sách rất nhiều và viết thơ rất hiện đại. Ảnh hưởng, nhưng không là bản sao, Nguyễn Trác luôn tự nhủ tiếng thơ phải bắt nguồn từ cảm xúc thật thà của mình và phong cách từ đó được định hình rất chân thật. Ông nói: “Nếu bạn là hoa hồng thì hãy thật sự là hoa hồng, bạn là cỏ thì hãy thật sự là cỏ. Cái nào cũng có vẻ đẹp riêng của mình, vì vậy đừng lẫn lộn”.
Nguyễn Trác khi ở Đà Nẵng và khi ở Hà Nội là hai hình ảnh khác nhau, điều đó là dĩ nhiên, vì môi trường sống và tuổi đời đều khác nhau. Ngoài 50, về sống ở Hà Nội, thơ Nguyễn Trác mang nhiều suy tư hơn: “Tất cả rồi gió sẽ cuốn đi/Trong tử sinh khắc nghiệt/Thơ ít kẻ đọc hơn/Cả thơ Chế, thơ Hàn“, hoặc: “Những người trẻ hôm nay thích nhìn ngang/Nhà thơ già ưu tư nhìn dọc”.
Như một như cầu tự thân của những người chơi với chữ nghĩa, đôi khi Nguyễn Trác muốn đổi mới, nhưng mọi sự đổi mới của ông là ở tư duy,chứ không phải là kiểu dùng chữ nghĩa. Thơ ông cũng như cách sống của ông, quan sát mọi thứ, nhưng bình thản, chứ không bị cuốn vào. Vì vậy, dù có đổi mới thì Nguyễn Trác vẫn neo mình vào nền tảng của dân tộc và kiểu “tiếng Việt êm ái, nhiều thanh âm” – từ của ông dùng.
Nguyễn Trác vốn là sinh viên cao đẳng sư phạm, ra trường dạy toán cấp 2. Năm 1972, Bộ Giáo dục rút ông đi chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng (Quân khu 5), sau đó công tác tại Hội Văn nghệ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng tới tuổi 50.
Vì những đưa đẩy của cuộc đời nên ông tin mỗi người có một số phận riêng và số phận của ông là gắn bó với văn chương. Trước đó, làm sao ông ngờ rằng mình rời bục giảng, vào chiến trường, rồi trở thành một nhà thơ, thành Tổng biên tập tạp chí Nhà văn của Hội Nhà văn Việt Nam…
Tuy khởi đầu là một giáo viên dạy toán, nhưng từ nhỏ tâm hồn văn thơ của Nguyễn Trác đã được gieo mầm từ người bố rất yêu thơ. Ngày nhỏ, ông thường xuyên nghe bố đọc thơ. Vậy nên, khi còn đi học, dù là sinh viên chương trình toán – lý, nhưng ông cứ mải miết vào thư viện tìm đọc các tác phẩm văn chương, cả trong nước lẫn nước ngoài. Bầu không khí văn chương ấy đã đem đến nhiều cảm xúc, kích thích chàng thanh niên Nguyễn Trác cầm bút làm thơ.
Hiện nay, vì tuổi tác, nên Nguyễn Trác ít làm thơ, ông sống an nhàn với gia đình và vườn tược, nhưng khi cảm xúc đến thì không bỏ lỡ, đôi khi để bắt kịp phải xé vội tờ giấy để viết. Các bài thơ mới nhất của ông vẫn đăng trên các tạp chí có chuyên trang thơ.
11/5/2023
Lâm Hạnh
Nguồn: Báo Thể thao và Văn hóa
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

Tử tội - Truyện ngắn của Võ Đào Phương Trâm

Tử tội - Truyện ngắn của
Võ Đào Phương Trâm

Gã nằm trong căn phòng biệt giam, mắt vẫn đăm đăm nhìn lên trần nhà khi những song sắt vẫn chưa có màu ánh sáng nghĩa là gã vẫn còn lo sợ và hồi hộp, gã sợ tiếng khoá lộp cộp của người cán bộ quản giáo khoảng tầm 3 giờ sáng, sợ tiếng cửa sắt nặng trì kéo lê dưới sàn như tiếng gọi từ cửa tử. Gã nằm đấy, mắt vẫn dán lên trần nhà, đau đáu nhìn qua khe hở như ánh mắt một người ngây dại.
Kể từ khi bước vào căn phòng biệt giam ở nhà tù, gã tội phạm tên Đông đã bước vào trận đồ không có lối ra như con thú hoang thất thế, chờ ngày đền tội sau khi bị kết án tử hình vì tội giết người. Những ngày tháng của một tử tù đến trong đời gã như một định mệnh, oan khiên, đặt dấu chấm hết cho một gã kỹ sư nghèo, tàn độc và máu lạnh.
Ngày bước vào phòng điều tra xét hỏi, gã như người mất hồn, khi đứng trước vành móng ngựa và chờ nghe bản án, gã nuôi dưỡng hy vọng không phải là cái kết đắng nhất vì gã là một kỹ sư chưa có tiền án tiền sự lần nào, gã có nhiều thành tích ngày còn đi học và gia đình có nhân thân tốt. Gã hy vọng và chờ đợi cho đến khi Toà tuyên gã án “Tử hình”. Khi những viên cảnh sát áp giải gã ra chiếc xe thùng, loại xe kín và thô kệch như con quái thú để chở những tên tội phạm, gã đi quàng xiên, mềm nhũng như con gà mắc thóc, mặt gã tái xanh, không còn thần sắc nhưng gã cũng còn chút suy nghĩ khi quay lại phía băng ghế người thân, gã cố tìm trong đám đông xa lạ rồi mắt gã nhòe đi khi thấy Mẹ gã ngã gục trên tay hai người cán bộ, vợ gã thì ngồi một chỗ ôm hai đứa con, không dám ngẩng mặt nhìn ai, chiếc xe chầm chậm rời đi giữa dòng người vẫn còn bàn tán cho đến khi bóng người thân trong mắt gã nhỏ lại, xa dần.
Ngày đầu tiên đến trại giam, hai vị cán bộ quản giáo áp giải gã đi vào khu vực buồng giam đặc biệt, luồng qua một lối nhỏ dài và hẹp như một đường hầm, gã dừng lại ở khu buồng giam phía trước có tấm bảng với dòng chữ màu đen trắng “khu xà liêm tử hình”, sau khi làm xong thủ tục, gã bị đưa vào vào căn phòng ở khu E. Lúc này, người quản giáo mang vào cho gã một mâm cơm với một bát cơm trắng, một chén canh cải, cá kho và một dĩa rau luộc nhàn nhạt. Khi thấy gã bần thần, người cán bộ trại giam đến gần, động viên gã bằng sự cảm thông để lòng gã bớt đi phần u ám.
– Anh ăn uống rồi nghỉ ngơi, để cho tinh thần bình tĩnh.
Gã trầm ngâm, chén cơm trên tay gã nghe nặng trình trịch, rồi gã bắt đầu cho những câu chuyện như chưa bao giờ được kể trong cuộc đời mình
– Em có hai con, vào đây rồi không biết bọn nhỏ sẽ thế nào.
– Con anh bao nhiêu tuổi rồi?
– Đứa lớn 15, đứa nhỏ chuẩn bị vào lớp 1 rồi cán bộ ạ!
– Trai gái đủ cả chứ?
– Hai trai cán bộ ạ!
Nói đến đây, gã bỗng nhìn xuống bàn, đôi mắt gã trở nên nhăn nhúm và rầu rĩ, gã đặt chén cơm xuống mâm rồi ngước mặt nhìn ra khung cửa sắt nặng màu buồn bã.
– Anh ăn cơm đi, cố gắng chấp hành tốt. Gia đình sẽ lo cho hai đứa tốt thôi. – Người cán bộ động viên.
– Mẹ em già rồi, vậy mà ngày cuối đời còn gặp thằng con Trời đánh.
Cạnh buồng giam của gã là một tử tội tên Lâm, phạm tội giết người, hắn có một thói quen kì dị, không biết là đã hình thành từ trước hay chỉ mới xuất hiện khi bị bắt vào đây, từ sáng đến tối, hắn cứ đập tay xuống sàn như trò thẩy gạch của trẻ con, rồi lại làm dấu chéo ngang trước ngực như một kiểu tín đồ kỳ lạ, hắn thường lẩm nhẩm gì đó trong miệng, không ai nghe rõ, chỉ nghe được hai từ “Ban-đa, Ban-đa” (Bandage), sau hỏi ra mới biết, hắn là một tay nghiện game dữ dội, trong một lần vì túng quẫn, hắn đã giết người để cướp tiền nhằm thỏa mãn cơn nghiện game mù quáng.
Một tuần sau khi gã Đông bị đưa vào phòng biệt giam, trong một buổi chiều dịu nắng, ngoài Trời có lẽ đang bước qua những ngày đầu thu, vị cán bộ quản giáo đến trước cửa phòng gọi gã:
– Phạm nhân Ngô Mạnh Đông, có gia đình gửi quà vào thăm.
Gã lồm cồm ngồi dậy, lúc này, vị quản giáo bước vào đưa cho gã một gói quà, gồm một hộp bánh tây, gói kẹo lạc nhân thơm và vài quả táo, gã nhận mà mắt rơm rớm:
– Mẹ em vào thăm hở cán bộ?
– Ừ, Mẹ anh, hôm nay không phải ngày gia đình thăm phạm nhân nên chúng tôi cho bà về.
Gã lẳng lặng cầm gói quà, mặt gã vẫn bần thần không hỏi thêm gì nữa, dường như gã tiếc nuối vì không gặp được Mẹ gã trong những ngày ngắn ngủi mà gã còn được sống trên đời. Gã lấy trong bọc quà gói bánh nhỏ đưa cho người quản giáo để gửi đến cho các tử tội buồng giam bên cạnh, khi chiếc bánh được đưa đến, tên phạm nhân nghiện game cứ huơ tay huơ chân loạn xạ như kẻ thần kinh, thỉnh thoảng, hắn lại đấm huỳnh huỵch xuống chiếc giường xi măng thô cứng. Không biết gã thanh niên này nhập trại bao lâu nhưng từ khi vào đây, chưa thấy ai vào thăm hắn, ngay cả tên tử tội luống tuổi nằm ở buồng giam E1, cũng chẳng có bóng dáng người thân nào vào thăm hỏi.
– Này, ăn bánh đi.
Lúc này, tên tử tù nghiện game chợt dừng lại hành động dị thường, hắn nhìn chằm chằm vào tay người quản giáo rồi bất ngờ khoác tay nguầy nguậy: “Chỉ lấy súng và máu”
Nói xong, tên tử tù với gương mặt non choẹt lại quay sang huơ tay loạn xạ, đến khi mệt, hắn lại làm cái dấu thập trước ngực rồi từ từ nằm gục xuống giường, như vừa trải qua một trận chiến đấu giằng co dữ dội. Người quản giáo chỉ biết lắc đầu ngán ngẩm.
– Ở đây, mỗi ngày nghe đủ thứ âm thanh la hét chửi rủa, riết rồi cũng quen tai – Vị cán bộ quản giáo nói với gã Đông bằng giọng thân tình.
– Anh có tâm sự gì thì cứ nói, đừng để bức bách rồi hỗn loạn.
– Em chỉ nhớ đến gia đình, vợ con, giờ em chẳng biết nói gì, chỉ thương Mẹ.
Giọng gã lại trầm xuống, nghe nghèn nghẹn. Bất chợt tiếng la rú vang lên, người quản giáo chạy sang thì thấy tên tử tù ngây dại đang lăn ra vật vã, hắn đập đầu vào tường nghe đôm đốp, rồi lại ngã vật xuống sàn, tay cứ đập vào người thình thịch, miệng hắn gào lên: “Chết đi, chết đi”. Vị cán bộ quản giáo vội mở cửa bước vào, chạy nhanh về phía hắn để trấn an:
– Này, anh bình tĩnh lại nào!
Người quản giáo nắm lấy tay của gã tử tù hay lên cơn kích động để hắn bớt đi hành động vô thần dữ tợn, hắn vẫn cứ vật vã rồi kêu khóc như một kẻ không còn tự chủ, mắt hắn nhìn lăm lăm vào cái bóng đèn như có thứ gì đó trên đó làm hắn ám ảnh.
– Đi tiểu, mắc tiểu rồi.
Hắn cứ loay hoay, mắt vẫn nhìn cái bóng đèn trong khi tay chân cứ quơ quào loạn xạ, lúc này, vị quản giáo mới đem vào một cái bô cho hắn giải quyết việc vệ sinh, đi tiểu xong, hắn chỉ tay vào bô nước tiểu rồi cất giọng cười như Tề Thiên Đại Thánh, người quản giáo khẽ lắc đầu, đợi cho hắn nghiêm chỉnh áo quần rồi mang cái bô đi đổ nhưng chưa kịp thu dọn thì ông đã bất ngờ lãnh trọn cả bô nước tiểu của gã phạm nhân vào mặt, ông vội lấy tay áo lau lên mặt trong khi mặt mày tóc tai ướt nhẹp cái thứ nước bốc mùi ngai ngái
– Ôi Trời Đất ơi! Phải bình tĩnh lại chứ, ai lại thế này!
Nhìn mặt vị cán bộ ướt sũng, hắn bật cười khoái trá.
– Nước thánh, nước thánh!
Vị cán bộ với đầu tóc, quần áo ướt mem mùi nước tiểu, vẫn cố gắng ngồi lại động viên và trấn an tên phạm nhân đang lên cơn kích động, sau khi hắn đã dần dần trở nên bình tĩnh và chịu ngồi lại ngay ngắn trên giường, người quản giáo mới chậm rãi bước ra, khi đi ngang qua chỗ gã Đông, ông nở nụ cười gượng gạo với gương mặt đầy chịu đựng
– Đấy, chuyện thường ngày của người quản giáo.
Gã nhìn dáng vẻ của người cán bộ với gương mặt và áo quần ướt sũng, tự dưng gã lại thấy thương thương và tồi tội, lần đầu tiên một tên sát nhân như gã lại cảm thấy có chút đồng cảm với những người ở bên bờ đối lập.
Hôm nay, gã ăn được gần nửa bát cơm với món canh rau đay mà gã thích. Ngoài song sắt buồng giam, bóng trưa ngả màu nhàn nhạt trên nền sân cũ kỹ, chỗ gã nằm gần với cửa ra vào nên thỉnh thoảng gã vẫn nhìn ra cửa để nói chuyện cùng người quản giáo.
– Anh có thuốc, cho em xin một điếu. – Gã cất giọng từ tốn và lễ phép.
– Quy định không cho hút thuốc trong buồng giam, anh chấp hành đúng quy định nhé.
Người cán bộ từ chối yêu cầu của gã vì phải thực hiện theo đúng nội quy, gã thở dài im lặng, có lẽ lúc này, thuốc lá là thứ duy nhất để gã giải tỏa căng thẳng và ức chế thần kinh nhưng gã nhận ra là gã không còn cơ hội để thỏa mãn mọi nhu cầu như người bình thường được nữa.
– Anh chấp hành cho tốt, đời người là một vòng luân hồi. Còn sống ngày nào thì thành tâm sám hối ngày đó, mới mong dứt nghiệp.
Người cán bộ trầm ngâm, thỉnh thoảng ông cũng trở thành người thuyết giảng đạo pháp nhà Phật cho những tử tù, như một cách xoa dịu nỗi đau đớn dày vò, những bất ổn tinh thần mà phạm nhân đang chịu đựng trong thời khắc sinh tử này.
Đã hai tuần trôi qua, gã tội phạm tên Đông mỗi đêm vẫn trùm kín chăn để cố tìm giấc ngủ cho lành lặn, nhưng dường như chưa đêm nào gã ngủ được ngon, với tử tù, một giấc ngủ sâu có lẽ chỉ là giấc ngủ khi đã thi hành án tử.
Đang trùm kín chăn và đếm từng giây trong bóng tối đen đặc, gã Đông linh cảm buồng bên có điều gì đó bất thường khi tiếng bước chân ngoài hành lang song sắt chạy dồn gấp rút, đó là khi người quản giáo nghe tiếng ú ớ của tên phạm nhân phát ra từ buồng giam E1, gã giở cái chăn ra và nhìn về phía bên ngoài, trong bóng tối nhập nhoạng, bóng người quản giáo vừa chạy lướt qua.
Gã phạm nhân hay hát cải lương đang nằm vặt vẹo dưới sàn, trong miệng chảy ra đầy máu và tiếng người quản giáo cất lên hốt hoảng:
– Anh làm cái gì thế?
Người quản giáo vội mở khóa buồng giam, ông chạy vội về phía tên tử tội đang nằm sóng soài dưới nền xi măng lạnh ngắt, một chân vẫn còn bị vắt trên chiếc còng sắt ở cuối giường. Khi lật tên tử tội lên, máu vẫn trào ra từ miệng từng dòng ràn rụa, người quản giáo buồng giam nói với anh đồng nghiệp:
– Tự tử rồi.
Lúc này, khu biệt giam bắt đầu những tiếng ồn ào, người giám thị gấp rút gọi cho cấp trên để thông báo đến cơ quan chức năng và lực lượng y bác sĩ, khoảng vài phút sau, những cảnh sát điều tra và nhân viên y tế đã có mặt tại phòng biệt giam, vị bác sĩ kết luận bằng giọng trầm nặng sau khi theo dõi các dấu hiệu sinh tồn:
– Phạm nhân cắn lưỡi, tử vong rồi.
Căn phòng giam vốn u ám nặng nề nay lại càng lạnh lẽo và đáng sợ, người quản giáo khẽ lắc đầu, gương mặt ông trở nên căng thẳng…
Chiếc băng ca trắng đưa vào khu vực buồng giam, thi thể được đặt lên ngay ngắn với một mảnh vải trắng che phủ toàn thân, chiếc băng ca nhanh chóng được đẩy nhanh ra khỏi hiện trường, những vệt máu đỏ loang ướt lên tấm vải. Khi chiếc băng ca lướt qua cánh cửa song sắt với hơi lạnh lẫn mùi tử khí, những tử tội rúc vào góc phòng rúm ró, thất thần, ánh mắt vừa ngây dại, vừa hoảng loạn khi nhìn thấy cảnh tượng chết chóc diễn ra trước mắt.
Gã phạm nhân khờ khạo với cặp mắt hay nhìn lên phía bóng đèn, bỗng òa khóc như ngây dại. Tên phạm nhân nghiện game cũng không còn huơ tay múa chân loạn xạ như mọi lần, hắn im lặng thẫn thờ khi cái chết hiện ra trước mắt. Trước đó một hôm, gã phạm nhân vừa mất vẫn còn nghêu ngao vài ba câu vọng cổ trong bài “Tần Quỳnh khóc bạn”của cố nghệ sĩ Út Trà Ôn, ai ngờ hôm nay, gã đã tự kết liễu cuộc đời mình.
***
Gã nhắm mắt lại, chiếc chăn trùm kín lên thân thể và gã tưởng tượng, ngày gã ra pháp trường, trói tay vào cột, những viên đạn sẽ ghim vào tim gã, gã không biết có đau nhiều không? Có chết liền không? Trong mụ mị và hỗn loạn, gã lại bắt đầu đếm nhịp thời gian…
Gã chìm vào giấc ngủ mông lung, độ chừng nửa tiếng, gã bất chợt tung cái mền rồi ngồi bật dậy như kẻ mộng du, gã đứng lên và bỏ chạy thất thần, chiếc cùm chân giật ngược khiến gã ngã nhoài xuống đất, chân gã treo tòng teng nửa trên nửa dưới. Nghe tiếng động, người quản giáo vội bước lại phía cửa nhìn vào trong, thấy gã có biểu hiện khác thường, ông hỏi một cách nghi ngờ dè dặt
– Anh làm gì thế? Sao giờ này chưa ngủ.
– Dạ, em bị mộng du.
– Ôi Trời, tưởng gì chứ mộng mị, ở đây có người nào không bị. Anh ngủ đi. Còn ngày nào thì vẫn phải sống ngày đấy, đừng có nghĩ quẩn làm liều.
Người quản giáo vẫn đứng đó, nhìn vào bên trong cho đến khi gã đã leo lên giường và nằm ngay ngắn trở lại thì ông mới đi ra ngoài. Lúc này, gã Đông bắt đầu thở dồn dập vì mệt và sợ hãi, lúc nãy, gã nhảy xuống giường, không phải vì gã mộng du mà vì loáng thoáng qua chiếc mền, gã thấy người chủ nợ, người bị gã giết với gần hai mươi nhát dao chí mạng, đang đứng ngay đầu giường, tóc tai rũ rượi, thân người máu me bê bết, bà ta cứ nhìn chằm chặp vào mặt gã bằng cái nhìn ma quái, cặp mắt mở trừng trừng, gương mặt bà ta là một cái xác u hồn như đang muốn đòi mạng gã và gã thất kinh hồn vía khi thấy bàn tay đen ngòm đầy máu của người đàn bà đưa ra, mỗi lúc một gần về phía mặt gã, gã giật mình bỏ chạy, đến khi gã té sấp mặt dưới sàn, gã mới nhận ra là gã nằm mơ.
***
Hôm nay là ngày trại cho người thân vào thăm phạm nhân, từ rất sớm, gã Đông đã thức dậy, gã thấp thỏm chờ đợi tiếng gọi của quản giáo kêu tên gã, gã suy nghĩ mông lung bằng những cảm xúc phân tán rời rạc, chắp vá chỗ này rồi sang chỗ nọ, cứ chạm vào cái gì, gã lại nghĩ về cái đó, hỗn loạn, rối bời. Khi tiếng mở cửa vang lên, người cán bộ bước vào thông báo:
– Phạm nhân Ngô Mạnh Đông, có người nhà vào thăm.
Gã giật mình, gương mặt gã bừng lên một thần sắc khác hẳn mọi ngày, người quản giáo vào buồng giam và mở cùm chân cho gã, khi đến khu vực buồng thăm khám, nhìn qua khung kính, gã thoáng thấy Mẹ gã đang ngồi chờ đợi, cổ gã tự nhiên nghe nghèn nghẹn, gã lẳng lặng ngồi xuống ghế, vị cán bộ quản giáo tra chiếc cùm chân gã vào thanh sắt dài bên dưới dãy bàn thăm khám.
Gã nhìn Mẹ rồi nhấc vội chiếc điện thoại, bên ngoài, Mẹ gã cũng đã cầm chiếc điện thoại rồi, nhìn gương mặt hốc hác, gầy gò và nhăn nheo của Mẹ, giọng gã run run:
– Mẹ khỏe không?
– Mẹ khỏe!
– Mẹ gầy đi nhiều quá, phải ráng ăn uống vào chứ.
Gã khẽ dặn dò bằng giọng trầm buồn khi nhìn Mẹ gã gầy đi thấy rõ, những lời quan tâm mà ngày trước, đã bao giờ gã biết dành cho Mẹ gã đâu! Gã xót xa, rồi tự dưng giọng gã lạc đi
– Con xin lỗi Mẹ, con là thằng con bất hiếu, con đã làm khổ Mẹ, khổ vợ con con.
Dường như gã không thể nén lại cảm xúc như một con đê bị vỡ, nước mắt gã trào ra, gã khóc như đứa trẻ, gã nghe mùi nước mắt nồng nồng mằn mặn rớt trên gương mặt chai sần của gã. Giọng gã ngắt quãng, những câu nói đứt đoạn vì cổ họng gã ứ lại như có ai bóp ngay chính giữa, qua điện thoại, gã nghe tiếng Mẹ gã buồn và chậm chạp
– Con khỏe chứ?
– Con khỏe – Gã im lặng một lát rồi vẫn bằng cái giọng run run
– Vợ con con vẫn khỏe chứ Mẹ?
– Ừ, nó vẫn khỏe.
– Hai đứa nhỏ vẫn đi học đàng hoàng hở Mẹ?
– Ừ, nó vẫn đi học.
Nói đến đây, giọng người đàn bà chùn xuống, bà khẽ cất tiếng thở dài.
– Có thật là thằng lớn vẫn đi học đàng hoàng không Mẹ? Con sợ…
– Không, nó vẫn đi học, cái Khuê hằng ngày vẫn đưa đón nó.
Bà vội cắt ngang nhưng cặp mắt thẫn thờ vì thằng cháu 15 tuổi đã bỏ học hơn nửa tháng nay bởi không chịu nổi áp lực gièm pha từ những đứa bạn cùng trường, từ những lời ra vào qua lại.
– Mẹ ráng động viên bọn nhỏ đi học giúp con. Mẹ cũng giữ gìn sức khỏe, con mang tội với Mẹ vì Mẹ đã mang nặng đẻ đau, nuôi con cực khổ bao năm trời, mà giờ con trả hiếu thế này.
Gã ngừng lại vì những tiếng nấc nghẹn cuộn về trong lòng cổ họng, nghe đau buốt. Nước mắt gã rơi lã chã ướt cả chiếc điện thoại đang cầm.
– Con xin lỗi Mẹ, Mẹ đừng buồn đừng khổ vì con nữa, xem như kiếp này, con vay thì phải trả, chỉ mong Mẹ bình an, khỏe mạnh. Còn hai đứa cháu, sau này, nó sẽ thay con mà lo cho Mẹ.
Giọng gã lạc đi, một câu nói với gã giờ đây cũng khó diễn đạt trôi chảy bằng lời.
– Mẹ nói với vợ con, khi nào con đã trả án rồi, nó có gặp ai tốt thì cứ đi bước nữa, nhưng đừng bỏ hai đứa nhỏ là được.
Gã cúi mặt xuống bàn, những giọt nước mắt tuôn dài trên gò má.
– Được rồi, để Mẹ nhắn lại cái Khuê, con ở đây, chịu khó ăn năn sám hối, Mẹ không trách gì con, chỉ trách Mẹ không khéo dạy con để con phải ra nông nỗi này, giờ Mẹ chỉ mong con ăn năn sám hối, tụng kinh niệm Phật cho bớt đi tội nghiệp.
Người đàn bà khẽ quệt tay lên mắt, đôi mắt lõm sâu và chuyển màu đùn đục của người già.
Một giờ thăm phạm nhân cũng trôi qua, gã tạm biệt Mẹ rồi theo người quản giáo trở lại buồng giam, gã cố ngoáy ra sau nhìn theo bóng Mẹ gã gầy gò với chiếc áo nâu sờn cũ, bàn tay thô ráp đang kéo vội chiếc nón lá ố màu, chập chờn nghiêng ngã giữa nắng trưa, gã nhìn theo bóng lưng của Mẹ gã khuất xa cánh cổng mà lòng ngập ngụa những cơn đau vì hối hận.
Buổi chiều chạng vạng những ngày Trời bước sang thu, dù miền Nam chẳng có mùa nào rõ rệt nhưng hôm nay, gã lại nghe âm ỉ mùi hương nồng nồng hoa cải trỗi dậy trong tiềm thức. Gã bần thần nhìn ra song sắt lạnh lẽo, im lìm, cánh cửa buồng giam vẫn khóa chắc và người quản giáo đang đi bên ngoài để kiểm tra diễn biến các phạm nhân.
– Hôm nay trăng tròn, ngày rằm phải không cán bộ?
Gã cất giọng trầm buồn khi thấy người quản giáo đang đứng phía trước buồng giam.
– Ừ, hôm nay là rằm Trung thu đấy anh.
– Cán bộ có bận gì không? Nếu có chút thời gian thì ngồi đây với em một chút.
– Anh có gì muốn nói à?
– Dạ vâng.
Người quản giáo tìm một chiếc ghế đẩu rồi bắt bên ngoài cửa phòng giam, ông bắt đầu cho một cuộc trò chuyện với phạm nhân như một cách chia sẻ tâm tư với họ trong những lúc họ cần.
– Từ khi vào đây đến giờ, hôm nay mới thấy trăng ngay cửa sổ, tức cảnh sinh tình phải không nào? – người giám thị hỏi gã bằng giọng thân thiện.
– Dạ vâng, nhìn cảnh này, em lại nhớ quê.
– Quê anh ở đâu?
– Em ở Mộc Châu ạ!
Nói đến đây, gã im lặng trầm ngâm, giọng gã trở nên buồn buồn khi nhắc về quê hương của gã
– Nhà em gần một cánh đồng hoa cải trắng, tầm vào đông, hoa cải nở trắng cả cánh đồi, đẹp lắm cán bộ ạ!
– Ừ, Mộc Châu mà, đẹp thơ mộng lắm!
– Cán bộ biết không, ở miền Trung du, vào mùa đông lạnh teo bu-ri, thế là mấy ông trong bản xúm nhau uống rượu cần hoặc trà Shan Tuyết, ngon thần sầu luôn cán bộ ạ!
– Ôi Trời, nghe anh kể mà phát thèm!
– Hồi xưa, em gặp vợ em ở đấy, cô ấy là sơn nữ cán bộ ạ, dân tộc Nà Mường, chuyên đi hái chè Shan Tuyết, cổ hiền và đẹp. Lúc cưới nhau, em mới hai lăm chứ mấy, cưới xong, vợ chồng em đùm túm vào Nam sinh sống. Đủ thứ cảnh khổ.
Nói đến đây, gã chợt im lặng, giọng gã bắt đầu chùng xuống, xuyên qua ánh trăng bàng bạc, ánh mắt gã buồn buồn.
– Vào Nam thì cái gì cũng phải có tiền, em đi làm thời gian đầu cũng nuôi đủ vợ con, vợ em thì xin đi bán hàng, cũng có chút đỉnh tiền ra vào, tiếc là em lại không cố gắng giữ mà lại lâm vào cờ bạc, càng ngày càng mê, không dứt được, không đủ tiền đánh bạc, em quay qua mượn nợ, mượn dần lên cả trăm triệu. Người ta theo đòi miết, em không trả nổi, lại đùm túm vợ con đổi nơi thuê trọ, một lần, chủ trọ họ tìm đến được, họ hăm em không trả tiền thì sẽ chém em, thế là em hẹn họ đến nhà trọ để trả nợ nhưng thật ra là em muốn thanh toán họ, lúc đó em chỉ nghĩ “giết họ rồi sẽ không còn phải lo trả nợ nữa”, nhưng em đâu có biết….
Gã chợt cúi mặt xuống khi cảm xúc tội lỗi trong lòng gã ùa về, giọng gã vẫn chầm chậm, đều đều:
– Em giết bà ấy bằng 25 nhát dao rồi bỏ vào bao tải phi tang. Đến giờ, thỉnh thoảng em vẫn thấy bà ấy hiện về đòi mạng, bà ấy cứ đứng im lặng, tóc tai rũ rượi, quần áo máu me, cứ đưa tay ra chồm về phía em, chẳng nói chẳng rằng, cứ nhìn em chằm chằm rồi dí tay vào mặt em, em sợ quá cán bộ ạ!
– Ừ, gây ra tội ác, đoạt mạng người thì vong linh người ta thường đeo bám, anh cố gắng cầu nguyện và niệm Phật, khấn thành tâm bằng lòng ăn năn sám hối, mong họ tha tội mà đừng quấy nhiễu, cầu nguyện cho họ siêu thoát về cõi Phật, anh niệm Phật và sám hối để lòng thanh thản, bớt đi cảm giác ám ảnh tà ma.
– Dạ, đêm nào em cũng nằm niệm Phật, dù không bài bản gì cả, em chỉ niệm bằng tâm của mình rồi khấn vong linh người chủ nợ tha tội cho em, mà từ khi em niệm Phật tới giờ, em không thấy bà ấy hiện về nữa ạ!
– Ừ! Anh niệm Phật và thành tâm sám hối để tinh thần bình an. Cuộc đời là cõi tạm, nhưng đừng chết mà gây ra đau khổ cho người khác, gây tội lỗi cho mình, đoạt mạng người là chịu nghiệp nặng lắm, dù đã ngồi trong trại giam, anh cũng phải thành tâm sám hối để bớt nghiệp cho mình, còn ngày nào, ráng tu dưỡng ngày đó, anh nhé!
– Dạ vâng! Em cảm ơn cán bộ! Phải chi em không mang án tử, ngày về, em mời cán bộ đến nhà, ở Mộc Châu ấy, cho cán bộ ngắm vườn hoa cải và uống chè Shan Tuyết, nhưng tiếc là….
– Ừm! Thôi, khi nào có dịp, tôi sẽ đến Mộc Châu. Anh cứ yên tâm, vợ tôi cũng thích cánh đồng hoa cải ở miền đồi núi, có dịp, tôi sẽ đến quê anh.
– Dạ vâng! Em rất vui, cán bộ ạ!
– Thôi, anh nghỉ ngơi đi, tôi còn phải đi kiểm tra một vài khu vực nữa, cứ ngủ đi nhé!
– Dạ vâng, em cảm ơn cán bộ!
Trăng vẫn toả làn ánh sáng trong trẻo xuống khu buồng giam vắng lạnh. Sau cuộc trò chuyện đêm nay, gã thấy lòng mơ hồ một chút bình yên, gã nằm xuống và nhớ về hai đứa con nhỏ, mùa Trung thu hằng năm, khi còn ở Mộc Châu, gã vẫn đục đẽo chiếc lon sữa bò thành cái đèn lồng, cắm vào bên trong cây đèn cầy rồi gắn một thanh tre cho con gã đẩy đi chơi. Năm nay, gã chỉ còn nghĩ đến con với mùa Trung thu cũ kỹ trong tiềm thức, mắt gã bắt đầu cảm thấy cay cay vì gã chẳng còn cơ hội nào để làm cho con chiếc đèn trung thu và nhìn gương mặt ngây thơ, hồ hởi của đứa con nhỏ đẩy chiếc đèn chạy tung tăng khắp xóm.
Hằng đêm, gã vẫn trùm kín chăn và âm thầm niệm Phật nhưng hôm nay, gã thấy tinh thần bấn loạn khi tiếng mở cửa buồng giam bên cạnh vang lên. Kẻ phạm nhân ngồi trong góc thu mình sợ sệt, ánh mắt nhớn nhác nhìn người quản giáo, hắn ngồi im lặng rúc sâu vào góc tường như con thú cùng đường và hồi hộp chờ nghe tên gọi, không gian buồng giam vắng lạnh và bóng người quản giáo như một tử thần gọi tên người hết số.
Người cán bộ quản giáo lẳng lặng bước đến phía tử tù “Đỗ Minh Lâm”, gã thanh niên nghiện game và hay múa may trong buồng biệt giam, ông ngồi xuống mở chiếc cùm sắt dưới chân hắn, lúc này, tên phạm nhân trẻ tuổi bắt đầu run lên bần bật, hắn cứ lắc đầu liên tục trong khi gương mặt vẫn hoảng loạn không chấp nhận cho sự ra đi, hắn ú ớ gì đó trong miệng, bàn tay co quắp lại vì thần kinh đang bị căng lên tột độ. Sau khi tháo cùm chân, hai người quản giáo áp giải hắn ra phía bên ngoài, tên tử tội cố lết những bước chân không cảm giác, hai người cán bộ trại giam phải xốc nách hắn để dẫn đi vì bàn chân hắn cứ bệt xuống sàn nhà, kéo lê dưới đất như người đã chết lâm sàn, không nhấc lên được nữa, những vệt nước tiểu rơi vương vãi khắp dọc đoạn đường ra đến cửa phòng, đầu hắn ngoẹo sang một bên cho đến khi cánh cửa xà lim khóa lại.
Gã Đông vẫn lặng im, mặt không còn thần sắc, phía bên kia, tên tử tội lớn tuổi ngây ngô vẫn ngồi thu mình rúm ró rồi hắn bất chợt rú lên gào khóc, tiếng khóc của hắn nghe ghê rợn, man dại như tiếng tru của con sói bị thương, hắn ngã gục xuống chiếc giường xi măng lạnh ngắt và nằm bất động…
Một đêm kinh hoàng trong tâm trí gã Đông khi đối diện giây phút bên bờ sinh tử, gã ngồi thừ một góc, tâm trí gã trống không, trước mắt gã chỉ là một màu u tối, tiếng khóa lách cách, tiếng ú ớ sợ hãi làm gã ám ảnh đến rợn người. Chợt gã thở phào một tiếng vì hôm nay, gã chưa bị gọi tên, vậy là gã vẫn còn được sống thêm ngày nữa, giờ đây, mỗi giây phút được sống là điều gì đó thật diệu kỳ với gã.
Những năm tháng trôi qua trong căn buồng biệt giam tử tội là những tháng ngày không khác gì sống trong địa ngục, gã chưa lần nào cảm nhận những bữa cơm ngon dù có lúc gã cũng xót ruột cồn cào, gã thèm thuốc như người lên cơn nghiện, không có nó, gã bứt rứt, mệt mỏi, bần thần, giá như có một điếu thuốc cho gã rít một hơi, một chút nicotin sẽ làm cho gã nhẹ nhàng, thư giãn thì biết đâu sẽ bớt đi cơn căng thẳng nhưng giờ đây, gã chỉ có thể nuốt cơn thèm vào bụng để đối diện với những nỗi sợ hãi tột cùng.
Gói quà mà gia đình gửi đến, ngày còn ở quê gã nhâm nhi món kẹo lạc với bình trà Shan Tuyết, ngày đó gã nghe vị ngon đến tê đầu lưỡi, mà bây giờ, mở gói kẹo lạc trên tay, bỏ vào miệng nhai, gã chỉ nghe một thứ găn gắt trong cổ họng, gã lại nhớ đến tên thanh niên nghiện game mà lần trước gã gửi cho hắn gói bánh, hắn từ chối vì chỉ mê súng và mê máu, giờ chắc xác của hắn đã rã thành tro bụi. Miếng kẹo trong miệng gã trở nên chát đắng.
***
Đêm nay là tròn ba tháng gã nằm trong phòng biệt giam chờ ngày thi hành án tử, chân gã hằn lên một lằn đỏ quạch vì chiếc cùm sắt nặng trì luôn xích chặt vào chân, cảm giác khó chịu lẫn mỏi nhừ khi chân gã không thể co duỗi thẳng, cơ thể gã xuất hiện những cơn đau do xương cốt lâu ngày không vận động, điều duy nhất gã còn có thể bám víu lúc này là giữ tinh thần bình an niệm Phật.
3 giờ sáng, tiếng bước chân người quản giáo vang lên ở dãy hành lang khu xà lim của gã, gã nằm im lặng, thấp thỏm, gã nắm chặt bàn tay và dõi theo tiếng bước chân đang ngày một rõ dần. Gã hồi hộp lo âu vì không biết bước chân người quản giáo sẽ dừng lại ở đâu và buồng giam nào sẽ mở. Gã cầu nguyện cho bước chân người quản giáo bước qua khỏi dãy phòng biệt giam của gã, tim gã đập liên hồi, hơi thở gã dồn dập theo mỗi bước chân và đầu gã nóng bừng như thiêu như đốt. Tay gã run lên cầm cập khi tiếng bước chân đang gần về phía căn phòng. Giờ thì dãy buồng giam chỉ còn gã và tên tử tù luống tuổi ngây ngây dại dại, đôi lúc gã vẫn muốn ra đi trước hắn nhưng rồi hôm nay, gã luống cuống sợ hãi khi đối diện cuộc gọi tử thần, những dũng cảm, trượng phu còn sót lại trong con người gã đã tiêu tan, biến mất.
Tiếng bước chân dừng lại, tiếng khoá lách cách rõ mồn một ở ngay buồng giam của gã, gã nghe lồng ngực như có tảng đá hàng trăm tấn đặt lên làm gã không thở nổi. Tay chân gã lạnh toát, mồ hôi trên trán rỉ giọt đầm đìa dù buồng giam lạnh lẽo, gã không còn đủ sức tung cái mền ra để ngồi nhỏm dậy, gã cứ nằm yên đó, nín thở lại, giờ thì gã cầu mong đừng ai đến gần chỗ gã, đừng ai gọi tên gã, gã sợ hãi cái chết, gã sợ phát súng ân huệ dí thẳng vào thái dương, gã sợ không còn được nghĩ về gia đình, nghĩ về Mẹ già và vợ con gã nữa. Trong không gian chật chội u tối của chiếc chăn, gã mếu máo và khóc vô thức như đứa trẻ. Hai tay gã vẫn nắm chặt, cổ họng gã nghẹn đắng và đau buốt, gã cố nín thở trong thời khắc đáng sợ này.
– Phạm nhân Ngô Mạnh Đông đi trả án.
Gã như chết lặng trong chăn. Gã không còn đủ sức bung chiếc chăn ra khỏi người, tay chân gã dường như không thể cử động vì nó cứ run lên bần bật cho đến khi người quản giáo đến mở chiếc cùm và giở chiếc chăn ra khỏi người gã, thân người gã lúc này chẳng khác nào một cái xác không hồn, nặng trịch và lõng thõng, tay gã lạnh buốt, mồ hôi trên trán gã tuôn ra ướt đẫm. Gã cố gắng bước đi, gã nhắm mắt lại và nghĩ:”Hôm nay sẽ không còn nợ máu, hôm nay sẽ được về nhà” và gã đã vững vàng hơn một chút. Người cán bộ vỗ vào vai gã khi nhận ra bước chân gã không còn nặng trịch và xiêu vẹo, gã đã chủ động đi theo người quản giáo thay vì người ta phải dìu dắt, cặp nách gã đi.
Gã được người giám thị đưa lại khu vực một chiếc bàn, trên bàn đặt một mâm thức ăn để sẵn, gã lẳng lặng ngồi xuống, tay run run cầm đôi đũa, gã gắp một miếng gà cho vào trong chén, gã ăn nham nhở một chút rồi buông đũa, mắt gã nhìn mông lung, gã chống tay xuống bàn rồi ôm mặt một lúc, giá như ngày trước, gã nhận ra ai cũng cần được sống thì gã không ra tay sát hại dã man người chủ nợ, giá như gã nhận ra hơn hai mươi nhát dao của gã sẽ tước đi mạng sống con người trong đau đớn thì gã đâu phải sợ hãi như hôm nay, giá như gã biết thương mình và thương gia đình của gã thì gã đâu đến nông nỗi như này.
– Cán bộ cho em xin tờ giấy với cây viết nhé, em muốn viết thư về cho gia đình.
– Ừ, anh ngồi đấy, để tôi đưa.
Người cán bộ quản giáo lấy một tờ giấy A4 và một cây bút đưa cho gã, gã bắt đầu viết những dòng thư nguệch ngoạch bằng đôi tay cứng ngắt, run run, khóe mắt gã đỏ ngầu.
– Nhờ cán bộ gửi về cho Mẹ em nhé! Em cảm ơn cán bộ.
– Ừ, tôi sẽ gửi lại cho Mẹ của anh, cứ yên tâm nhé!
Sau khi ăn xong bữa ăn cuối cùng, gã được người cán bộ quản giáo bàn giao sang cho viên Cảnh sát để áp giải đến nơi làm việc của Hội đồng thi hành án tử, người cán bộ quản giáo vỗ vỗ vào vai gã với lời dặn bằng giọng trầm buồn:
– Anh đi thanh thản nhé!
Gã khẽ gật đầu rồi cúi mặt lầm lũi bước đi vì buồn rầu, sợ hãi, đầu gã trống không, vô định. Đi được vài bước, gã quay lại, nói với người quản giáo:
– Anh ở lại mạnh khỏe, em sẽ phù hộ cho anh!
Người quản giáo khẽ gật đầu và đưa tay chào vĩnh biệt gã. Lúc này, hai chiến sĩ cảnh sát áp giải gã ra xe thùng để di chuyển đến nơi thi hành án tử. Ngồi trên xe bít bùng, gã không biết xe đang chạy đi đâu, nhưng gã biết là đang ra trường bắn. Trời vẫn còn tối âm âm, gã không nghe tiếng xe cộ chạy nhiều vì giờ đưa tử tội ra pháp trường, bao giờ cũng là lúc tờ mờ sáng. Ngồi trên xe, nước mắt gã lại ràn rụa khi nghĩ về Mẹ gã, vợ con gã đang ở nhà và gã đang trên đường để rời xa họ, vĩnh viễn không còn gặp lại, họ chưa biết rằng hôm nay gã sẽ ra đi, giờ đây, gã chẳng còn nghĩ về cái chết mà trong đầu gã chỉ ngập ngụa hình ảnh gia đình, gã cố dồn hết khoảng thời gian ít ỏi còn lại để nhớ về gương mặt từng người thân của gã khi tim gã còn đập và não gã vẫn còn hoạt động. Gã lẩm bẩm “Mẹ! con xin lỗi Mẹ! Hôm nay, con sẽ được về với gia đình.” rồi gã chắp tay trước ngực như khấn xin, tạ tội.
Chiếc xe dừng lại ở khu trường bắn, trời còn tờ mờ sương đêm, trông xa không rõ mặt người, hai viên cảnh sát dẫn giải gã phạm nhân Ngô Mạnh Đông bước xuống xe và đưa gã đến khu vực dành cho tử tội để tiến hành các thủ tục liên quan trước giờ thi hành án tử. Gã thoáng nhìn thấy những chiếc cọc gỗ xám đen đã được dựng lên, bên cạnh là quan tài có ghi sẵn tên từng tử tội, thân gã run lên bần bật, răng gã va lập cập vào nhau, chân gã không còn đứng vững khi cái chết đang hiện ra trước mắt, gã có cảm giác máu trong người gã đang đông cứng lại, hai bên thái dương nghe tê dại vì sự căng thẳng, hoảng loạn đang dâng lên tột độ.
Sau khi mọi thủ tục đã xong, hai cảnh sát vệ binh dìu gã đứng dậy để nghe Hội đồng thi hành án đọc các Quyết định  trước giờ thi hành án tử, lúc này, tai gã nóng hổi, lùng bùng như có ai đó đập liên hồi, những tội danh mà gã đã gây ra và hình phạt mà gã phải chịu vang lên bên tai gã, khi phần công bố các quyết định kết thúc, một viên cảnh sát mang đến một mảnh vải đen, họ tiến hành bịt mắt gã lại và áp giải gã về phía chiếc cọc đã được dựng sẵn, chân gã bỗng khụy xuống, tim gã như ngưng đập, gã không thể bước nổi những bước đi như người thường, dù đã tự trấn an suốt quãng đường rằng “Phải mạnh mẽ, phải bình tĩnh để đón nhận cái chết” nhưng khi cái chết đến gần từng giây từng phút, gã cảm thấy hoảng loạn đến mức không còn kiểm soát được hành vi, gã lấy hơi lên và tim gã vẫn đập thình thịch liên hồi, gã nghe khó thở khi những chiếc dây thừng quấn chặt ngang hông và tay gã bị trói quặt ra sau, mắt gã chỉ nhìn thấy một màu tối đen như mực sau tấm vải che kín mít, cho đến khi toàn thân gã không còn cử động vì đã bị buộc chặt vào chiếc cọc, bên cạnh là chiếc quan tài để sẵn. Người gã gần như chết đi một nửa, trong mông lung gã vẫn nghe được tiếng hô rắn rỏi và uy lực của người chỉ huy đội bắn: “Chuẩn bị!” và tiếng lên đạn lạch cạch khô khốc từ phía đội thi hành án tử.
– Bắn!
Gã nghe tiếng nổ vang lên, cũng là âm thanh cuối cùng gã còn nghe được bằng đôi tai người sống, đầu gã ngoẹo xuống…
Bỗng chốc người gã nhẹ tênh như xuyên vào hư không, gã đứng đối diện nhìn về phía chiếc cột, khi người đội trưởng tiến lại gần, đặt họng súng vào đầu gã để ban cho gã một phát súng ân huệ cuối cùng, tiếng nổ chát chúa vang lên, đầu gã giật lên thật mạnh, làn khói tung ra từ phía đỉnh đầu, đội thi hành án tử buông súng và rời vị trí.
Lúc này, lực lượng cảnh vệ tháo dây và đặt gã nằm xuống mặt đất thô ráp, nhân viên pháp y bắt đầu kiểm tra kết quả thi hành án tử, họ mở chiếc áo gã ra, những vết đạn lỗ chỗ xuyên vào lồng ngực, khi vị bác sĩ lật người gã lại, những mảng máu ướt đầm cả lưng, nhuộm đỏ cả chiếc áo tù gã mặc. Tấm khăn che mắt được tháo ra khỏi mặt, cặp mắt gã vẫn mở trừng trừng.
Gã khẽ nhắm mắt lại, gã nghe xung quanh là tiếng chim đang ríu rít trên những nõn trà Shan Tuyết cao vợi, làn ánh sáng mỏng manh ngập tràn trong mắt gã, hiện lên mờ ảo khuôn mặt thân quen của Bố, người Bố đã mất đang đứng phía trước mặt nhìn gã, ông đưa bàn tay ra như để kéo gã về phía ông, gã nhìn sang bên cạnh, người đàn bà nạn nhân của gã trong bộ đồ màu trắng, nhưng lần này, bà ta không hù dọa gã nữa mà chỉ nở nụ cười, gã quay lưng đi về phía những linh hồn đã khuất, những bước chân nhẹ tênh như lướt giữa không trung. Trước mắt gã, cánh đồng hoa cải đang nở một màu trắng rực, phía sau lưng là pháp trường đẫm mùi tử khí với những viên cảnh sát đang tiến hành bàn giao thi hài tử tội trong chiếc quan tài để sẵn. Trong âm ba, gã nghe loáng thoáng tiếng người cảnh vệ: “Mắt nhắm lại rồi, lạ quá!”
Gã vẫn lướt đi, như làn khói mỏng, về phía cánh đồng nở đầy hoa cải trắng…!.
12/5/2023
Võ Đào Phương Trâm
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

  Cái Tôi của Phạm Duy  trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...