Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2024
Bức tranh lịch sử
Họa sĩ Nguyễn Sáng (1923-1988) là nghệ sĩ hội họa hàng đầu, tiêu biểu cho nghệ thuật tạo hình Việt Nam, cùng với Nguyễn Gia Trí (1908-1993) và Nguyễn Tư Nghiêm (1922-2016). Tác phẩm Nguyễn Sáng, nổi trội là sự giao thoa hài hòa giữa nghệ thuật hiện đại thế giới và tinh hoa truyền thống nước nhà, in đậm dấu ấn lịch sử cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc.
Lê Trúc Khanh - Nhà thơ của một thời vang bóng
Lê Trúc Khanh - Nhà thơ
của một thời vang bóng
Cách nay trên năm thập niên,
vào mỗi thứ năm hằng tuần, bắt đầu từ lúc bảy giờ tối, trong âm thanh u huyền
thơ mộng của tiếng sáo, tiếng đàn tranh trên làn sóng đài Phát thanh Cần Thơ,
khán giả cùng Đồng bằng sông Cử Long lại được nghe một giọng nói quen thuộc: “Đây
là Tiếng nói của Thi văn đoàn Về Nguồn… Lê Trúc Khanh và toàn ban xin kính chào
Quí thính giả và các bạn… ”
Với giọng nói trầm ấm, rõ ràng mà lưu loát, nhà thơ Lê Trúc
Khanh đã mở đầu giới thiệu chương trình phát thanh văn nghệ của nhóm Thi
văn đoàn Về nguồn do anh phụ thách. Nội dung chương trình phát thanh chủ yếu
là ngâm diễn thơ của bạn thơ bốn phương và thông tin về sinh hoạt văn học nghệ
thuật.
Lê Trúc Khanh tên thật là Lê Phước Nghiệp, sinh năm 1949
tại làng Tân Thạch, huyện Trúc Giang, tỉnh Bến Tre. Anh học tại trung học Nguyễn
Đình Chiễu (Mỹ Tho) rồi theo mẹ về sống tại một hẻm nhỏ đầu đường Phan Thanh Giản
– cạnh bờ sông Cái Khế (nay là đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, TP Cần Thơ). Sau đó,
anh tiếp tục học trường trung học Phan Thanh Giản (nay là trường PTTH Châu
Văn Liêm – Cần Thơ). Lê Trúc Khanh tốt nghiệp ĐHSP ban Việt Hán, dạy môn Văn tại
các trường trung học Công lập và Tư thục tại Cần Thơ từ năm 1970.
Với tấm lòng thiết tha yêu văn học nghệ thuật nước nhà và niềm
cảm thông sâu sắc với quê hương đang chìm đắm trong một thời khói lửa chiến
tranh, Lê Trúc Khanh đã huy động được một nhóm đông anh em cùng tâm huyết gồm đủ
lứa tuổi và tầng lớp xã hội, nhất là giới sinh viên học sinh, thành lập chính
thức năm 1966 ban Thi văn Về Nguồn. Thành viên nòng cốt ban Thi văn
do anh phụ trách trên ba mươi người, gồm có: Lê Trúc Khanh (Trưởng ban), Lê Hà
Uyên (Bào huynh Lê Trúc Khanh), Huyền Vân Thanh và Kiều Diễm Phượng, Nguyễn
Hoài Vọng, Vũ Phan Trần tức Đặng Thư Cưu (đã mất), hội viên hội Nhà Văn Việt
Nam, Lăng Cảnh Uy, La Thị Sinh (vừa sáng tác vừa ngâm thơ, đã mất), Lệ Nhương
(ngâm thơ), Hồ Văn Phước (đàn tranh, đã mất), Dạ Khách (thổi sáo), Nguyễn Hữu
Phương…
Mỗi tuần, ban Thi văn Về Nguồn phát thanh chương trình văn
nghệ một lần vào tối thứ năm trong thời gian khoảng 45 phút. Các tiết mục phát
thanh sinh động, chủ yếu là diễn ngâm các bài thơ mới sáng tác của các thành
viên trong ban và của văn nghệ sĩ bốn phương gởi tới. Nữ nghệ sĩ Nhan Thị Đài
Trang phụ trách đàn tranh và Dạ Khách thổi sáo minh họa phần ngâm thơ do các
nghệ sĩ Lệ Nhương, La Thị Sinh đảm nhiệm. Hài hòa vào các tiết mục văn nghệ là
phần thông báo và trả lời thư bằng hữu và thính giả trong âm thanh của tiếng
đàn tiếng sáo.
Thơ văn của nhóm từng được chọn giới thiệu trong chương trình
ban Thi văn Mây Tần, đài Phát thanh Sài Gòn của nhà thơ Kiên Giang. Gần một thập
niên trước ngày giải phóng, khi Ngũ Lang bận bịu, khó khăn vì tài chính với tờ
Văn nghệ Miền Tây (1), Lê Trúc Khanh vừa sáng tác vừa cưu mang ban Thi văn
của anh. Vừa thiết kế chương trình để phát thanh mỗi tuần, vừa biên tập cho tác
phẩm ấn hành dưới hình thức in xếp cánh bướm, tập họp những bài thơ chất lượng
khá của anh em. Bìa do họa sĩ Đan Thanh (Nguyễn Thanh) vẽ trong giai đoạn đầu.
Khổ khoảng 10 x 20 cm. Ấn phẩm gọn, trông xinh xắn mà cũng tiện phổ biến bớt tốn
kém về tài chính. Về sau, Lê Trúc Khanh cho xuất bản hàng loạt thi phẩm của các
thành viên với khổ lớn hơn và hình thức cải tiến sáng đẹp hơn.Về Nguồn - tên ban Thi văn do anh đặt và phụ trách, ai đọc
cũng có thể dễ dàng hiểu ngay được ước mơ sâu kín của anh. Đó là hoài bão
trong sáng, lành mạnh của Lê Trúc Khanh về một tình tự quê hương cần có ở mọi
người dân Việt Nam trong một đất nước chiến tranh, con người và mọi thứ đều bị
trầm trọng tha hóa. Anh kỳ vọng gởi một thông điệp sâu sắc đến mọi người hãy trở
về với đất nước, quê hương và cội nguồn dân tộc. Mỗi vần thơ của nhóm dù chưa
được là vần thơ thép nhưng cũng là hồi chuông âm vang, thức tỉnh cho
những con cháu Lạc Hồng trong cảnh nước nhà bị điêu đứng bởi nạn ngoại xâm.
Hành trình vào thế giới thơ ca của chương trình Về Nguồn, bạn
đọc phát hiện ra những vần thơ mang nội dung xây dựng, lành mạnh, dạt dào nhạc
điệu, phản ánh một tấm lòng trong sáng với non sông hoa gấm nước nhà. Đất nước
ta tươi đẹp nhất trong buổi vào xuân: Từ độ rừng thiêng bừng tiếng hót/
Mùa xuân hoa cỏ đẹp sơn hà (Tang hải ca-VNMT) (2). Thơ văn về nguồn
cũng chứa đựng những vần thơ ca ngợi lòng yêu thiết tha quốc ngữ, ngôn ngữ dân
tộc, tiếng mẹ đẹp đẽ, giàu cung bậc: Mực tím chẳng lem vần quốc ngữ/ Tròn năm
học một tiếng yêu thôi (Cái Tắc-VNMT) (3). Trước họa binh đao, anh vẫn
tin tưởng vào ngày mai chiến thắng vẻ vang, vang rền hồi trống khài hoàn ca giữa
rừng cờ chói lọi khắp quê hương: Lớp lớp cờ bay-hồi trống giục/ Khải hoàn
môn dựng giữa kinh đô (Tang hải ca-VNMT) (4). Xưa nay, ở bất cứ
không gian nào, tài tử cũng lắm đa tình. Trong cõi văn chương nhiều hệ lụy, người
thơ đôi lúc cũng được đền bù: Đời thơ dù có vẩn vơ/ Đêm đêm cũng được người
tơ tưởng thầm…
Lê Trúc Khanh là nhà thơ trẻ, tài hoa thường được nhắc đến và
khích lệ bởi các nhà thơ Kiên Giang, nhà văn Sơn Nam, Nguyễn Tấn Long, Nguyễn
Bá Thế,…
Là người địa phương, ở gần nhau, Nguyễn Thanh (Ngũ Lang) được
biết ngoài những người đẹp yêu thơ Lê Trúc Khanh nhưng chưa gặp duyên may Tần Tấn,
phải đơn phương yêu thầm tác giả, nàng Thơ của Lê Trúc Khanh, là một giai nhân
thùy mị ở Tây Đô được coi là nguồn cảm hứng dạt dào thời anh còn cấp sách đến
trường Phan Thanh Giản, sau này đã trở thành người bạn đời yêu quí thủy
chung của anh.
Không theo kịp bước những thi tài Nguyễn Bính (1920-1966) hay
thần đồng thơ Trần Đăng Khoa, Lê Trúc Khanh vẫn sớm được biết đến là một hiện
tượng văn chương đặc biệt chẳng khác Thôi Hiệu (5) hay Arthur
Rimbaud (6) cả hai đều có bài thơ hay lúc tuổi chưa tới mười sáu.
Đáng nuối tiếc biết dường bao! Đã từ lâu, nhiều người yêu
thơ Lê Trúc Khanh đã ái mộ anh, nhà thơ tài hoa một thời vang bóng của
đất cầm thi, không khỏi băn khoăn tự hỏi: Thần tượng trong mộng ước đã trở
thành nàng Thơ hiện thực của nhà thơ trong đời. Thế tại sao Lê Trúc Khanh hồ
như bặt đi tiếng tơ lòng, âm thầm xa vắng chiếu thơ với tri âm đồng điệu và người
yêu thơ anh khắp bốn phương, sớm rời bỏ cuộc chơi thanh cao đầy giai điệu sắc
hương trên thi đàn!.
17/5/2020
Lê Trúc Khanh
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
"Ngồi lại với trăm năm" nghe từng lát cắt ngang đời
"Ngồi lại với trăm năm"
nghe từng lát cắt ngang đời
“Ngồi lại với trăm năm” không
chỉ ngồi mà nhìn lại ngôi nhà tổ, nhìn những người đã đi xuyên qua lòng đất bên
khu vườn, những người nằm giữa cánh đồng hoang, hay nhắc nhớ lại một dòng họ
Nguyễn lững lẫy ngày xưa khi Chúa Nguyễn dong buồm về phương Nam khai hoang lập
ấp, không chỉ nhìn lại những định kiến khắc khe hay những nỗi oan, nỗi đau đeo
đẳng đời người… mà “Ngồi lại với trăm năm” để hiểu nhiều hơn, cảm thông nhiều
hơn, chia sẻ nhiều hơn với những buồn vui, thăng trầm đã lùi xa trong dĩ vãng.
“Ngồi lại với trăm năm” của nhà văn Nguyễn Lệ Ba
Mỗi khi cầm trên tay những tờ báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt
Nam, Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Văn nghệ trẻ, Tuổi trẻ cuối tuần, Văn nghệ
Đồng Tháp… đăng tải những tác phẩm của anh thì hầu như những ai yêu thích văn học
cũng đều trải qua cảm giác này, đó là hai từ “ám ảnh”. Bạn đọc không chỉ bị ám ảnh
bởi nhân vật mà còn ám ảnh bởi ngôn ngữ vì nó không hoa mỹ nhưng lại lấp lánh
khi được tác giả tỉ mẫn lựa chọn một cách chỉn chu khi đưa vào từng câu thoại,
từng ý diễn đạt, từng chi tiết của tính cách nhân vật và cả sự miêu tả những
trường đoạn của không gian, thời gian hay bố cục câu chuyện mà anh ghi chép một
cách chậm rãi, từ tốn, đúng như con người thật ngoài đời của anh. Truyện không
có cốt truyện, nhưng lại ray rức lòng. Và khi sự ám ảnh đó được tập hợp lại
thành một quyển sách thì cảm giác ấy được đẩy lên cấp số nhân đến nỗi bạn đọc
phải lặng người đi mà khóc cười với đủ loại cảm xúc của giác quan mà người đời
tóm gọn lại trong bốn từ “hỉ, nộ, ái, ố”. Tuyển tập 21 truyện ngắn đậm đặc chất
thơ ấy có tên gọi “Ngồi lại với trăm năm”, sản phẩm đầu tay của tác giả Nguyễn
Lệ Ba – Hội viên Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Đồng Tháp – Sách do Nhà xuất
bản Hội Nhà văn ấn hành tháng 6 năm 2019.
Nguyễn Lệ Ba tên thật là Nguyễn Quang Ba, anh hiện đang sinh
sống tại xã Tân Phú Trung, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. So với anh chị em
hội viên Phân hội văn học thì Nguyễn Lệ Ba đến với văn chương muộn hơn nhiều
tác giả khác. Thế nhưng tác phẩm đầu tiên của anh có mặt trên văn đàn không ở
báo văn nghệ địa phương, khu vực hay thành phố Hồ Chí Minh mà ở số Xuân của báo
Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam năm 2010 với truyện ngắn “Thành phố và những buồn
vui ở lại”. Đó là câu chuyện những thân phận con người vì nhiều lý do khác nhau
mà họ phải ở lại bệnh viện, không thể về quê trong những ngày năm hết Tết đến.
Sự cô đơn, lẻ loi trong nỗi đau thể xác khi phải mất hay khiếm khuyết đi một phần
cơ thể mỗi người lại bỗng trở thành cơ duyên đưa họ lại gần nhau để chia sẻ niềm
vui, nỗi buồn và cả những rung cảm của tình yêu dẫu chỉ mới bắt đầu nhen nhúm…
để rồi họ lại xa nhau giữa quên – nhớ trong lòng.
Sau lần đầu tiên xuất hiện trên văn đàn với “Thành phố và những
buồn vui ở lại”, Nguyễn Lệ Ba có thêm động lực để dấn thân trên con đường văn
chương của mình. Ngoài truyện ngắn anh còn viết nhiều thể loại văn xuôi khác
như tản văn, tùy bút, tạp bút hay những bài viết thể loại báo chí và trở thành
cộng tác viên cho các tờ báo tỉnh, thành phố Hồ Chí Minh và Trung ương. Bạn bè
còn biết đến anh như một người họa sĩ với những bức tranh sơn dầu mộc mạc, chơn
chất, mang đậm nét quê. Những bức vẽ chân dung hay tĩnh vật đều sống động đến từng
chi tiết cứ ngỡ như ảnh chụp ở các studio. Điều này được anh miêu tả trong truyện
“Dấu xưa” tỉ mỉ. “Tôi căng vải lên khung, cắt một nhát bai bằng màu vàng sang
trọng phía góc trên tranh. Tôi tải vội vã màu đen tuyền thấp thoáng những vệt
xanh thẫm để diễn tả những chiếc lá xanh non. Tôi cẩn trọng viền những nét cọ
tinh tế quanh chiếc giày mà toàn thân như chìm lẫn trong bóng tối. Phần trên
chiếc giày, tôi lướt nhẹ những nét cọ uyển chuyển để làm bật lên ánh sáng vàng
rực rỡ. Cảm giác hạnh phúc và thăng hoa trong sáng tạo ùa về quấn lấy tôi, chảy
tràn theo đầu cọ bằng những mảng màu lướt nhanh trên mặt vải. Cứ thế, những chiếc
lá của sợi dây leo hiện dần lên, từng chiếc, vươn ra, bò ngang qua chiếc giày
đen… Rồi bất ngờ, cái hoa tím đơn độc bật nở lên trong tranh như có bàn tay đầy
pháp thuật của ai đó vừa âu yếm ném vào!”.
Chất nghệ sĩ của anh còn được bộc lộ bên cây đàn ghita với những
giai điệu trỗi lên réo rắc từ 10 ngón tay gầy guộc, phong trần, những ngón tay
của nét vẽ mềm mại trong hội họa cũng đủ khơi nguồn trên năm dòng kẽ mà ngân
lên những cung bậc bổng trầm như khơi đúng mạch cảm xúc để hóa thân vào nhân vật
người thầy trong truyện “Hạt nắng vô tư”. “Em sẽ không thưởng thức trọn vẹn cái
đẹp của một ca khúc nếu em không hiểu được những yếu tố cấu thành ca khúc ấy
như khúc thức, giai điệu, ca từ… Nếu chỉ nghe lời bài hát để thưởng thức vẻ đẹp
văn học, thì chúng ta chỉ mới thấy được một phần cái đẹp của bài hát ấy”. Như
con ong cần mẫn, anh lặng lẽ góp nhặt quanh mình những hình ảnh, những chi tiết
tưởng chừng như vụn vặt trước tất cả mọi lĩnh vực, nghề nghiệp, giai cấp… để viết
thành những câu chuyện thấm đẫm nhân văn, mang những giá trị sống, giá trị của
tình thương, sự bao dung và cả nghị lực phi thường để gởi đến bạn đọc trên khắp
mọi nẻo đường.
Năm 2015, anh đạt giải 3 cuộc thi truyện ngắn Đồng bằng sông
Cửu Long do Hội Văn học nghệ thuật An Giang đăng cai với truyện ngắn “Về với đất”.
Đó là câu chuyện của một giáo chức về hưu phải vào khu dưỡng lão để có những
người bạn già cùng trang lứa trò chuyện, tâm sự và chia sẻ với nhau những chuyện
mà đôi khi chưa bao giờ được kể, được nhắc với người thân ở nhà, bởi con cháu
trong gia đình dù cuộc sống khá giả, ổn định nhưng họ vẫn cứ cô đơn. Họ là những
mảnh vỡ của cuộc sống thời hiện đại mà vì nhiều lý do khác nhau có mặt ở khu
trung tâm bảo trợ xã hội này. Để đến lúc cuối đời họ nương tựa vào nhau trước
khi về với đất.
9 năm cuốc bẫm cày sâu trên cánh đồng chữ nghĩa, khi bạn đọc
cầm trên tay tập truyện ngắn “Ngồi lại với trăm năm” thì Nguyễn Lệ Ba đã cho ra
đời trên 60 truyện ngắn. Những tác phẩm tiêu biểu của anh mà người đọc cứ phải
ray rức về phận đời, phận người nổi trôi trong kiếp sống mưu sinh có thể nhắc đến
như: Vạt bần bên sông xa tắp, Bến đợi chờ, Người đàn bà trong mưa, Xóm
đáy, Kiếm ăn thôi mà, Người viết đơn thuê, Sau bão, Khoảng sân hoa nắng, Người
khách lạ lùng, Những linh hồn chưa ăn cháo lú, Hạt nắng vô tư… Mỗi truyện ngắn
có một số phận riêng, cứ tưởng như đó là những lát cắt khác nhau nhưng khi tập
hợp lại và đứng chung trong một tuyển tập này thì bạn đọc nhận ra một thông điệp
rất nhân văn mà tác giả đã âm thầm gởi đến cuộc sống này một giá trị sống tích
cực, lạc quan thông qua cách nhìn xuyên thấu những cung bậc cảm xúc của tất cả
các giác quan, và hơn hết là một đức tính của lòng nhân ái, bao dung mà con người
cần được được thắp lên, sưởi ấm cho nhau sau những va đập, trầy xước của hàng
trăm con sóng của cuộc đời. Đó là con sóng của sự xa lánh khinh khi của người đời
ở “Vạt bần bên sông xa tắp”; đó là con sóng bất hiếu của con cái khi cư xử với
cha mẹ trong “Người viết đơn thuê”; đó là con sóng bản năng trước cửa thiền
trong “Khoảng sân hoa nắng”; đó là con sóng tình trỗi lên “Sau bão” của một cuộc
hành trình trên biển trong mưa… Tất cả những con sóng đó dường như đã là một phần
được anh đúc kết từ những con sóng đời theo năm tháng đi qua…
Đọc đến trang 261 của quyển truyện ngắn này, độc giả thấy
hình ảnh chiếc xe lăn, chiếc nạn gỗ và một phần khiếm khuyết trên cơ thể của
các nhân vật cứ đan xen nhau. Ngay từ truyện ngắn đầu tiên “Bến đợi chờ” đã là
một vết thẹo xấu xí trên gương mặt người đàn ông, anh ta mặc cảm với vết thương
làm khuôn mặt mình biến dạng mà đã làm vuột khỏi tầm tay hạnh phúc của một gia
đình. Truyện không nói rõ nguyên nhân khiến gương mặt anh bị cháy, nhưng bom đạn
chiến tranh là một minh chứng làm cho tình yêu chia cắt giữa người với người, sự
phân biệt giàu nghèo cũng đã đẩy những con người xa nhau trong vằn vặt nỗi niềm
thương nhớ không nguôi.
Nhắc đến chiến tranh, người đọc nghẹn đi khi đọc đoạn kết của
truyện “Những linh hồn chưa ăn cháo lú”. Truyện kể về sự hy sinh thầm lặng của
những người chiến sĩ cách mạng, mà nhân vật chú Tư hớt tóc là một điển hình.
Chú hy sinh cả tuổi thanh xuân của mình để làm tròn nhiệm vụ nắm bắt tin tức của
địch. Từ công việc của mình, chú Tư cũng đã âm thầm tạo dựng lòng tin của bà
con đất Vĩnh Thạnh để đi theo cách mạng. Hình ảnh thầy giáo Năm là một người
như thế. Sau khi đất nước hòa bình, họ gặp nhau trên chiếc cầu đúc dẫn vào chợ
Vĩnh Thạnh, nghe họ hỏi thăm nhau mà người đọc như thấy họ hiện diện trước mắt
mình nghèn nghẹn, rưng rưng. “Em hy sinh gần trường học rạch Đình khi đang về
thu thuế. Chắc có ai đó mạch nên vừa bước chân vô nhà đã bị hai họng súng chỉa
vào lưng. Em tông cửa chạy thì sau vườn còn cả chục tay súng khác đang chờ… Sống
sao nổi, hả anh?”. Cả hai cùng quay mặt đi chỗ khác vì sợ người khác thấy những
giọt nước mắt trên má họ, nhưng làm sao người ta nhìn thấy được khi đó là hai
linh hồn chưa qua cầu Nại Hà, chưa ăn cháo lú, gặp nhau.
Chiến tranh đi qua, bao người nằm xuống, sự hy sinh cho đất
nước được bình yên, nhà nhà ấm no, hạnh phúc. Mọi người bắt tay vào xây dựng lại
làng xóm, quê hương. Song, đâu đó những lề thói, tập tục, định kiến vẫn còn quẩn
quanh, mà “Vạt bần bên sông xa tắp” là một câu chuyện đau đời như thế.
“Thời buổi y học tiến bộ mà lại để ra nông nỗi nầy đây”. Câu
nói của vị bác sĩ cũng là câu trả lời cho tất cả những gì mà độc giả đang tìm
khi đọc phần đầu của truyện. “Con Lựu bị cùi”, câu cửa miệng của người đời dù
có vô tình hay ác ý thì cũng như vết dao cứa vào tuổi 20 của Lựu, và nó ám ảm
theo chị suốt cả cuộc đời. “Ra đường, chỗ chị vừa đứng lên, không ai dám ngồi.
Đi chung chuyến xe lôi, chị được dành riêng cho một băng ghế”. Sao mà ác nhơn đến
vậy? Trách vì thương, chứ ngẫm lại giữa cái quê nghèo xơ xác ấy người dân có kiến
thức bệnh phong được bao nhiêu đâu mà không e dè, sợ sệt. Người lớn thì rủ lòng
thương mà cảm thán một câu “Tội nghiệp cho con Lựu, chắc không ai lấy làm vợ.
Cùi có dòng mà!”. Còn đau điếng nào hơn khi nghe những lời mai mỉa đó. Thế
nhưng cái bụng Lựu cũng lùm lùm lên để cho con Lan chào đời mà không biết mặt
cha nó. Cái mùi kinh khủng của người đàn ông say rượu đã ám chị đến độ thành “nỗi
nhớ rạo rực đến khó ngủ”. Oái oăm thay cho người con gái bị cưỡng bức lại phải
nhớ đến cồn cào cái mùi da thịt đàn ông. Nỗi nhớ đó phải chăng đã chạm đúng nỗi
khát khao được làm vợ, làm mẹ của mình. Nên dẫu có rùng mình mà nhớ thì vẫn phải
cứ nhớ, nhớ cả đời.
Cũng là cái rùng mình mà nhớ, nhưng khác với mẹ con Lựu, Lan,
nhân vật Vân trong “Sau bão” lại phải đấu tranh giữ lý trí và bản năng của người
đàn bà đi du lịch mà chồng không đi cùng, người đàn bà cô đơn trước biển, trước
sự tấn công liên tục của đồng nghiệp bằng câu than thở quen thuộc của anh ta “Tôi
sống không hạnh phúc”. Hải – người đàn ông “từng cưa đổ vài đồng nghiệp nữ khác
trong trường” – không mấy khó khăn khi nhận ra Vân không hạnh phúc cùng chồng
mà tính toán, sắp đặt từng chi tiết “tấn công” suốt một chuyến du lịch hè. Một
bó hoa hồng rực đỏ và một hộp sô cô la đã được người phục vụ mang vào phòng của
Vân. Nó khiến Vân lúng túng, bởi cô hiểu được rằng lúc này chẳng còn là những lời
ỡm ờ bóng gió mà Hải đã gợi tình trong hai ngày qua, mà nó đã là một thông điệp,
một mũi tên tàn nhẫn nhắm thẳng vào trái tim cô, trái tim đang thổn thức, đang
khát khao một tình yêu giữa căn phòng cô đơn, trống vắng này. Tiếng gõ cửa lúc
2 giờ khuya đã như một ma lực đảo ngược những suy nghĩ mà Vân cố gắng lèo lái
lý trí của mình thoát ra mũi tên của Hải đang bắn về phía cô từ đầu hôm cho đến
nửa đêm. “Vân rùng mình đứng xoay lưng vào cửa. Cô nghe hơi lạnh chạy dọc suốt
thân thể và cảm giác sợ hãi trùm lên cả người. Thật kinh khủng! Vân nghe cả người
nóng bừng. Chị bỗng thấy sợ Hải và hình như sợ cả chính mình. Vân biết chắc, chỉ
cần một cái xoay nắm cửa, một cơn bão khác còn dữ dội hơn cơn bão ngoài trời sẽ
đổ ập vào phòng, đổ ập lên thân thể mình”. Và tất cả sẽ thiêu cháy hết mọi thứ
xung quanh, đốt tan hoang những tường thành lâu đài tình yêu và lòng tự trọng của
cô trong suốt một thời gian dài sống trong sự hững hờ của người chồng lạnh nhạt
là Tuấn. Và sẽ có thêm một người đàn bà khác sẽ chết lịm tâm hồn trong sự bội
phản của đàn ông. Đỉnh điểm của tác phẩm treo lơ lửng giữa những cái đầu đang rực
nóng của cả nhân vật trong truyện và bạn đọc. Tác giả neo lại nỗi sợ hãi của
người đàn bà đang cô đơn kia bằng câu nói bật ra trong đầu mà không thể thốt
lên “Thật đáng sợ cho những người đàn ông!”.
Chợt nhớ một lần về Tân Phú Trung quê anh, nghe tác giả Nguyễn
Lệ Ba chia sẻ rằng: “Đàn ông, trong hầu hết trường hợp, là người gây ra bão. Trớ
trêu, họ lại hoàn toàn không có khả năng chống đỡ nếu rơi vào cơn bão”. Người
đàn bà có thật ngoài đời cũng đã không vượt qua cơn bão của đêm ấy. Và điều đó
bạn đọc lại một lần nữa thấy cơn bão khác cũng từ phía đàn ông trong truyện ngắn
“Người viết đơn thuê” khi vị khách sáng nay của người viết đơn thuê là hai người
phụ nữ cũng là hai mẹ con. Chị ta bắt đầu câu chuyện bằng một thái độ bức xúc tột
cùng khi kể tội em trai út của mình trước một người dưng: “Thằng em út của tui
quá quắt lắm. Được ở nhà thờ, ăn đất hương hỏa, vậy mà nó coi bà như đầy tớ.
Tui có chồng ở xa, nhà nghèo nên không làm gì được. Phải chi tui có cái ăn cái
mặc thì tui đã đón má về nuôi nấng tử tế rồi, ai để thứ con trời đánh đó hành hạ
bà già”. Chuyện này với anh, người viết đơn thuê năm này qua tháng nọ, thì hẳn
đây không phải là lần đầu tiên anh nghe thấy, chứng kiến sự ngược đãi của con
cái đối với cha mẹ, nhất là trong thời buổi mà “giá đất lên, tình người xuống”
như hiện nay. Một lời khuyên để tìm cách giảm nhiệt và gỡ rối của anh xem ra vẫn
không suy siểng được trước nỗi tức giận của người phụ nữ đang uất nghẹn: “Nó nhậu
say về, nửa đêm dựng bà già đang ngủ dậy, rủa sả: “Tui thấy người ta cỡ tuổi bà
“đi” gần hết rồi. Sao bà sống dai dữ vậy?”. Bạn đọc đau trước câu thoại: “Dựng
bà già đang ngủ dậy, rủa sả”. Hai động từ “dựng” và “rủa” cùng xuất hiện trong
câu làm cho người đọc hình dung ra thái độ hết sức tàn nhẫn của đứa con khi
hành hạ tinh thần mẹ mình lúc nửa đêm. Người đọc còn đau thì huống hồ chi là
nhân vật trong tác phẩm. Thế nên Nguyễn Lệ Ba đã thấy thay cho nhân vật người
đàn ông của mình: “Anh thấy vài giọt nước mắt sệt quánh ứa ra trong khóe mắt bà
mẹ. Đôi vai gầy guộc của bà run khẽ dưới làn áo vải nâu, chiếc cằm nhỏ hằn sâu
nhiều vết xước thời gian trễ dài nỗi đau cam chịu. Mái tóc bạc trắng của bà bỗng
hóa thành đám mây trôi vật vờ trước mắt anh”. Bạn đọc cảm thương khi đọc đoạn văn
miêu tả đó. Hình ảnh “Chiếc cằm nhỏ hằn sâu nhiều vết xước thời gian trễ dài nỗi
đau cam chịu” được tác giả khắc họa ở đây bằng những con chữ mà tôi cho rằng
không thể thay thế một từ nào được. Hay đến thế, gọt giũa đến tận cùng! Để rồi
không chỉ người mẹ, người con, người viết đơn thuê mà cả những ai đọc truyện ngắn
này cũng phải có “Những lời rên xiết thống thiết thân phận” để chia sẻ những đớn
đau của người mẹ bất hạnh này.
Cái hay của Nguyễn Lệ Ba là anh đã không đưa ra một nhận định
chủ quan nào cho nhân vật trong tác phẩm của mình, cũng như anh không bình luận
gì về thái độ, hành vi cư xử của người con trai đối với người mẹ đang ngồi trước
mặt người đàn ông viết đơn thuê. Anh cũng không nói đến trái tim của người mẹ
dành cho con thuở con thơ rét run, buốt lạnh ở nhà, và cũng không có một lời nhận
xét nào trước cái chết của người mẹ bởi tia sét đánh giữa cánh đồng trống mênh
mông… Nhưng bạn đọc thấy rất rõ thông điệp mà tác giả nhắn gởi: Trái tim người
Mẹ sáng ngời, luôn sống vì con, hy sinh cả bản thân mình để mong bảo vệ sự an
lành cho con bằng mọi cách. Hơi thở cuối đời mình cũng vì sự sống của con. Một
lần nữa, chân lý mãi là chân lý.
Nước mắt chảy xuôi. Tình yêu luôn hiện hữu. Con người dù có
trải qua bao biến cố, khó khăn, hay những rào cản khắc khe của những nếp nghĩ,
cách luận bàn, thì vượt qua khỏi những trở ngại kia sự bình yên sẽ đến, đến như
nhân vật ông giáo trong truyện “Bông cúc trắng” vậy. Vợ qua đời khi con còn đỏ
hỏn trên tay, ông giáo bấm bụng, cắn răng gởi bé Lan cho dì Huệ nuôi. Dì thương
cháu như con, bụng dạ cũng thương anh rể, nhưng ngặt nỗi… ngại ngùng như ông
giáo nên chẳng thể nói ra. Tình chị duyên em rồi cũng mặn mà khi cả hai mái tóc
đã pha sương muối. Những chậu bông cúc trắng đã dần xa, bởi “Lâu lắm rồi không
qua nơi ấy. Nghe đâu tết năm sau và những năm sau nữa, nhà ông giáo chưng toàn…
bông cúc vàng!”. Câu nói xót xa của ông giáo ngày nào giờ cũng chỉ là ký ức. “Người
gì mà khuyên bảo bao lần không nghe. Đợi già cả, đau yếu bò xuống sông uống nước
à!”. Trái ngược với nhân vật con trai bất hiếu, vô nghì trong “Người viết đơn
thuê”, thì Lan ở “Bông cúc trắng” đã thấu hiểu nỗi cô đơn của cha, của Dì khi
con cái mỗi ngày một lớn. Nên “Trong ánh sáng chập chờn hắt lên từ bếp lửa, Lan
vòng tay ôm lấy bụng dì Huệ từ phía sau, nghiêng đầu áp má vào tấm lưng gầy của
dì, giọng nũng nịu: Dì thu xếp nhà cửa qua ở luôn với cha con trong Tết này,
nghen dì!”. Nghe những lời yêu thương đó, đến tiếng lửa cũng phải reo vui trong
chái bếp kia mà!
Thế nhưng hạnh phúc ở đời này không ai tròn viên mãn như các
nhân vật của “Bông cúc trắng”. Đọc “Đôi gà sao” với giọng văn trầm buồn, da diết
mà khắc khoải đau, đôi lúc phải nghẹn đi khi hai nhân vật “chị” và “anh” trong
truyện ngắn này cứ phải liên tục đấu tranh để hy vọng có phép màu kéo dài sự sống.
Chị là một giáo viên, thương anh từ những ngày chung trường chung lớp. Người bạn
học nghèo không có chiếc xe lăn phải lê lết, bò trên đất, đá xanh đến trường
hàng ngày khi đôi chân đã bại liệt sau trận sốt kinh hoàng. Tình yêu lớn dần để
họ cùng nhau xây tổ ấm. Thế nhưng căn bệnh ung thư vú của chị đã bào mòn sức chịu
đựng của cả hai. Hình ảnh đôi gà sao quấn quýt bên nhau không được bao lâu thì
con gà mái chết, con gà trống loay hoay đi tìm người bạn đời của mình đến độ
không phân biệt được đâu là hình, đâu là bóng. Nó cứ đứng trước gương, trước
màn hình tivi, trước bất kể những gì thấy nó trong đó mà ngỡ là con gà mái còn
sống cạnh mình. Con gà còn như thế thì huống gì con người. Anh sẽ ra sao nếu chị
không qua khỏi căn bệnh quái ác này? Câu hỏi không đặt ra trong truyện, nhưng
người đọc cứ phải trăn trở cùng anh, cùng chị, để rồi điếng đau khi chị quyết định
kêu con gái mình làm thịt con gà trống. Thế nhưng… “Khi miếng thịt chạm tới
môi, cái mùi lạ lùng từ miếng thịt bỗng xộc lên mũi khiến chị rùng mình. Chị
nín thở, mím chặt môi để ngăn cái gì đó trong bụng cứ cuộn lên, cuộn lên, chực
trào ra cổ. Chị đứng bật dậy chạy ra khỏi bàn, gục đầu trên cánh tay đứa con
gái. Chồng chị buông đũa. Miếng thịt gà nghẹn cứng trong cổ, đắng ngắt…”. Ba dấu
chấm lửng kết thúc truyện đã đặt ra nhiều điều cho bạn đọc suy ngẫm. Những miếng
thịt của con gà sao trống sẽ thế nào khi cả nhà không ai gắp nỗi mà ăn? Làm sao
có thể giết đi niềm tin và hy vọng cuối cùng trước một phép màu khi nó chưa xuất
hiện? Những quyết định trong những hoàn cảnh gần như bế tắt của con người liệu
đúng hay sai? Cuộc sống vốn vô thường, nhưng có mấy ai chấp nhận lòng mình thản
nhiên trước cái chết?
Câu hỏi chưa có đáp án nào đưa ra thì “Hạt nắng vô tư” lại mở
ra hàng loạt câu hỏi khác xoay quanh nhân vật Phước Long, Tú và ông thầy dạy vẽ.
Hai trong số họ không thể đứng trên chính đôi chân mình, nhưng nghị lực sống, ý
chí vươn lên thì đầy lạc quan để khẳng định sự tồn tại của mình là hữu ích. “Em
và thầy chưa phải là những kẻ khốn cùng, chưa phải là người bất hạnh nhất. Biết
thế để vững lòng tin, để biến những mất mát, những thiệt thòi của bản thân
thành một ưu thế, biến cái mà mọi người bình thường có nhưng không biết tận dụng,
đó chính là thời gian, là sự ngắm nhìn, chiêm nghiệm. Chúng ta có cái may mắn của
một người được ngồi lại bên lề cuộc đời, không bon chen, không vội vã…”. Thế
nhưng liệu có mấy ai đồng cảm và hiểu được rằng “Tình yêu tồn tại trong người
khuyết tật với đầy đủ góc cạnh và sắc màu của một tình yêu, nhưng mãnh liệt, dữ
dội như cơn lũ bị chặn dòng, nước cứ trào lên, trào lên mãi, để rồi tới lúc nào
đó vỡ bùng ra, hung hãn, cuồng nộ, quét phăng đi tất cả…” để mà chấp nhận
trao một nụ hôn đầu đời cho một tình yêu? Lẽ đó, đoạn kết của truyện không làm
cho người đọc bất ngờ mà chỉ nghe canh cánh bên lòng một chút hụt hẫng bởi sự
ra đi đột ngột của Tú mà thôi. “Từ ngày mai, Tú sẽ gieo những hạt nắng vô tư ở
những đâu? Có hạt nắng nào rơi về tận quê nhà, nơi có Phước Long?” Bạn đọc
có niềm tin vào sự quay về của Tú hay không, có viết tiếp một cái kết có hậu
hơn thay cho tác giả? Điều này sẽ trở thành một câu chuyện cổ tích giữa đời thường
chăng? Sẽ không khó có câu trả lời, nếu như ai cũng như Sơn trong truyện “Khát”
đã cưới Thủy về làm vợ. Trải qua những lần “Anh không hiểu em” thì Sơn đã hiểu,
đã thương Thủy nhiều hơn khi chính anh đã một lần rơi vào hoàn cảnh nghiệt ngã
của một cơn khát giữa đồi vắng trong đêm. Người vợ cả đời trên chiếc xe lăn ấy
đã cho Sơn thấm thía nỗi đau của người khuyết tật, bởi Sơn đã thức cả đêm nên
hiểu được đêm dài, đã khát khô bởi cơn sốt hoành hành nên thấu đến tận cùng cơn
khát của Thủy ở nhà khi không vói tay lấy được ly nước trong đêm.
Những nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Lệ Ba dù lớn hay
nhỏ, dù xuất hiện liên tục hay chỉ thoáng qua cũng đều để lại trong trí nhớ bạn
đọc một chi tiết nhất định, vừa đủ khẳng định hay bổ sung để làm sáng tỏ hơn một
ý nghĩa hàm ẩn nào đó mà tác giả muốn nói. Diệu Hạnh trong truyện “Khoảng sân
hoa nắng” là một lát cắt nhỏ của tuổi mới lớn mà ai cũng trải qua. Lớn lên giữa
tiếng kệ lời kinh và được học hành đến nơi đến chốn, nhưng khoảng cách giữa đạo
và đời, giữa sự thanh bạch của tâm hồn và bản năng giới tính, giữa tiếng
chuông, tiếng mõ với tiếng động của cuộc yêu đương đã làm cho khoảng sân hoa nắng
giữa ngôi chùa và nhà của Tuấn đã không còn lấp lánh nữa. Tiếng chó sủa gâu gâu
khi Hạnh thấy “cô gái đứng dạng hai chân, đè cả người Tuấn vào vách”, nhất là
khi trước đó “Hạnh tò mò vào google, gõ thử từ yêu rồi click vội vào mục video
adults để rồi choáng váng khi nhìn thấy những gì đang hiện ra trên màn hình… Hạnh
căm giận anh Tuấn bởi đã xui dại mình. Yêu là làm như thế sao?”. Câu hỏi ám ảnh
đó không sao gột rửa được trong đầu Hạnh cho dù cô đã “Xối nước ào ào lên chiếc
áo lam đang mặc”. Khoảng sân hoa nắng không còn, chẳng lẽ đạo và đời mãi mãi là
hai đường thẳng song song?
Những cách suy nghĩ khác nhau sẽ có những hành động khác
nhau. Người tu hay không tu cũng vậy. Khi chưa hiểu được nhau thì sẽ có cách
nhìn sự việc khác nhau ngay chính trên con đường đời, huống hồ chi nói đến ranh
giới giữa đời và đạo. Anh thợ sửa điện tử cảm thấy khó chịu khi nghe tiếng rao
“Chó đổi mùng, mền, chiếu… hôn?” và căm phẩn khi thấy người ta xích mõm từng
con chó nuôi trong nhà để đổi lấy những vật dụng đó. Những con chó tội nghiệp
đang nghếch mõm dưới ghe nhìn anh như kêu cứu, khi trên bờ người đàn ông làm
cái nghề đổi chó kia đang năn nỉ anh sửa dùm cái máy rao đổi chó đã bị hư. Anh
khước từ vì không muốn nghe tiếng rao ấy vang lên, không muốn có con chó nào
đem ra đổi chát. Thế nhưng khi quay vào nhà với hủ gạo sắp cạn, nồi cá kho còn
mấy bộ xương, tiền đã hết… Anh hiểu ra, cũng như anh, người đàn ông kia cũng chỉ
“Kiếm ăn thôi mà!”, vậy là anh đã chạy theo gọi chiếc ghe dừng lại để sửa máy
rao hàng cho người đàn ông kia. Thế nhưng khi “Người đàn bà tật nguyền khó
nhọc chui ra từ mui ghe. Anh thợ điện tử bỗng điếng người. Cái chân bên phải của
chị cũng ốm tong teo như chân trái của anh”. Vậy là cái ý nghĩ ban đầu chạy
theo họ sửa máy để kiếm tiền mua gạo, mua cá của anh đã tan biến đi. “Chút
đỉnh mà. Biếu anh em làm quen”. “Anh làm vậy, tụi em mang tội chết!”. Dấu chấm
than trong lời thoại đã minh chứng cho việc làm của vợ chồng người đổi chó kia
một điều rằng họ cũng ý thức được việc làm của mình là không hay ho gì, những
con chó vốn là những người bạn nhỏ trong mỗi gia đình rồi sẽ bị giết đi bởi “Thịt
chó không ăn thì sống trên đời này chưa thể gọi là sống!”. Oái oăm thay
khi có thêm một lời khẳng định cho việc làm của đôi vợ chồng tật nguyền kia ít
nhiều cũng mang lại cho nhiều người khoái khẩu cái thực đơn 7 món trên đời. Hóa
ra, ngay chính trong một sự việc thôi đã có hai đường thẳng song song không
trùng nhau thì nói chi đến khoảng cách giữa đời và đạo. Ở đây, bạn đọc thấy giữa
ba nhân vật có một điểm giao nhau, đó là “Kiếm ăn thôi mà!”
Ăn để sống hay sống để ăn? Có lẽ không ai chọn vế thứ hai làm
câu trả lời cho mình. Vậy trong cuộc đời mỗi người chọn cách sống ra sao để
không hỗ thẹn với chính mình khi phải vất vả miệt mài trong hành trình “kiếm
ăn” để sống. Đọc “Người đàn bà trong mưa” ta thấy chị dang dở tình yêu đầu
đời của mình bởi hai tiếng hèn – sang, cam chịu lấy một người chồng lạ xa chưa
từng quen biết, để rồi sau những khó khăn chật vật rời quê rồi lại quay về, làm
ăn thất bát, nợ nần chồng chất đến độ phải cầm cố đất đai, tiền vay bạc hỏi,
nhưng người đàn bà ấy đã mạnh mẽ vượt qua, vượt qua cả lời ngon tiếng ngọt (khi
người tình xưa muốn dang tay giúp đỡ) mà giữ trọn thủy chung với người chồng của
mình. “Chiều tối nay em đến trại ruộng của anh để nhận tiền. Anh chờ em ở đó!”.
Dù trong tận cùng nghịch cảnh, nhưng lý trí của người đàn bà trong mưa ấy đã
chiến thắng, dù thắng trong vật vã, kiệt cùng. “Trong ánh sáng lờ mờ, chị thấy
bên trong là giường chiếu và gương mặt T với nụ cười hả hê đắc thắng. Chị đứng
chết sững như trời tròng. Toàn thân chị tê dại trong cảm giác tội lỗi. Một tia
chớp lóe lên giữa trời. Chị khụy xuống trước cửa rồi đột nhiên vùng đứng dậy
như có sức mạnh vô hình túm lấy áo, xô đi. Chị chạy mê sảng trong mưa, chạy như
bóng ma trong ánh sáng chiều nhập nhoạng. Chị băng qua bao cánh đồng, bao ô ruộng,
bao khu vườn. Chị điên loạn trườn qua những con mương cạn, tuyệt vọng trèo qua
những cây cầu khỉ gập ghềnh… Lạ lùng sao, đôi chân đã vượt qua bao mưa gió mà
chưa hề lấm bùn!”. Một đóa sen đã tỏa hương trên vùng đất mà điệp khúc trúng thất
vụ mùa cứ liên tiếp diễn ra. Tác giả gởi vào ước mơ của chị với một “Cánh đồng
cỏ voi và đàn bò nhẩn nha gặm cỏ” khi khép lại truyện ngắn này để kể cho bạn đọc
nghe về chuyện một người đàn ông trong “Xóm đáy”.
Vợ mất 15 năm, người chồng vẫn thủy chung ở vậy một mình dẫu
cô gái chưa chồng ở xóm đáy vẫn thường xuyên lui tới giúp đỡ cho anh mọi thứ có
thể. Cô yêu anh đến độ uất nghẹn và không kiểm soát được mình trước sự thờ ơ của
anh. “Anh nhìn tui đi, nhìn thiệt kỹ đi! Tui là đàn bà mà! Nè, anh nhìn đi. Cô
gái giật đứt phăng hàng khuy, ném luôn cái áo ngực về phía anh. Anh cúi gầm mặt
xuống, nín lặng. Môi anh mím chặt, nỗi đau làm anh tê dại. Tiếng khóc của cô
gái như những hạt mưa chướng cuối mùa, quất không chút xót thương vào trái tim
khốn khổ của anh. Tiếng khóc có lúc nhẹ như tiếng sóng xô nhau giữa trường
giang, có khi nghe như tiếng thét đau đớn của những vạt đất cuối cùng vang lên
trước khi đổ ùm xuống dòng nước đục ngầu sủi bọt. Anh im lặng. Cô gái đứng bật
dậy, lao vào anh. Tình yêu tuyệt vọng cùng với nỗi uất hận cũng hùa nhau đứng dậy,
lao vào anh”. Trái tim có ngôn từ và lý lẽ riêng của nó. Không ai bắt ép được
nó phải làm theo mệnh lệnh của ai. Lẽ đó mà “Càng đi về phía cuối đời, càng chứng
kiến những cuộc biển dâu mới biết ngày xưa mình ngây ngô và nông nổi. Tôi không
thể hiểu anh cũng như đã từng không hiểu về những gì đủ sức níu chân một con
người: đó có thể là một người đàn bà hay chỉ là một bờ sông, một vạt đất…”.
Một vạt đất, một bờ sông, một cánh đồng, con con đê, một bờ
lau, ngọn cỏ vốn đã thân quen, cũng như những người con của miệt đồng bằng châu
thổ Cửu Long này hẳn ai cũng một lần được nghe đến hai từ “gác chéo”, bởi không
ít lần những bộ phim tài liệu, những phóng sự, ký sự của các đài truyền hình đã
phản ánh, văn học cũng có những tác phẩm viết về đề tài này. Tuy nhiên câu chuyện
“gác chéo” ấy qua ngòi bút của Nguyễn Lệ Ba đã có một sức hút mạnh mẽ đối với độc
giả ngay từ đầu truyện “Người khách lạ lùng” bởi những tình tiết hoài nghi được
thắt nút rất chặt chẽ. Người chạy xe ôm luôn bất an khi chở người khách lạ, bởi
ông không có điểm đến cụ thể nào “Cứ chạy vòng vòng thị trấn rồi… tính giờ, trả
tiền”. Bạn đọc cũng thấy lo cho người chạy xe ôm khi mà nạn cướp của giết người
cứ xảy ra cho các “bác tài” làm nghề này. Người đàn ông tên Thành ấy còn móc ra
cả con dao Thái Lan để trên bàn khi mời người chạy xe ôm vào quán nhậu. Bạn đọc
thở phào khi biết người đàn ông ấy đang tìm lại những người đã từng gắn bó với
anh trên cánh đồng Tháp Mười với một thời làm nghề bà cậu, bủa lưới, giăng câu.
Thế nhưng mạch truyện cứ đẩy người đọc đi hết nỗi lo này đến nỗi sợ hãi khác nhất
là được một phen chứng kiến cảnh giật lộn với tử thần, chiến đấu với nghịch cảnh
của thiên tai bất ngờ ập xuống giữa đêm khuya tạo nên một sợi dây mỏng manh
treo lên đầu Thành với hai từ sống – chết. Nhiều tính từ, trạng từ, động từ xuất
hiện hàng loạt trong những trường đoạn của bóng đêm, giông gió tơi bời như bóp
nghẹt mạch máu của bạn đọc, mà mắt không thể chớp mi.
“Bóng đêm đặc quánh, mặt nước sôi sục… bầu trời thu nhỏ lại
thành chiếc chuông úp chụp lên mọi thứ… Mưa gào thét cuồng nộ như bầy quỷ dữ từ
âm ti đội nước chồm lên nuốt chửng mọi thứ… Một cú va đập rất mạnh khiến Thành
suýt ngã nhào. Nước tràn ồ ạt vào xuồng. Anh quờ quạng trong bóng tối và chạm
tay vào mấy chiếc cọc gỗ nằm chắn ngang thân xuồng. Chưa kịp hiểu ra chuyện gì
thì một tia chớp dài ngoằng lóe lên giữa trời làm nổi rõ bóng đen căn nhà sàn
nhỏ đang oằn mình chống đỡ với những cơn gió cuồng nộ… Thành định thần lại.
Nhà có người ở. Anh mò mẫm tìm cầu thang đi lên. Hình như có mùi gì đó hắt vào
mũi? Cái mùi rất lạ, thoáng qua rồi bị thổi tạt đi trong gió. Mùi cá ủ? Mùi khô
hay mùi mắm?.. Cái mùi khăm khẳm lại xông lên nồng nặc. Một tia chớp xé toạt bầu
trời kéo theo những vệt sáng loằng ngoằng từ không trung nối dài xuống rặng cây
gần đó. Ánh sáng đỏ rực như ban ngày. Ngay sát mặt Thành, cách chưa đầy hai
gang tay, hiện ra trước mặt chiếc… quan tài đỏ lòm lấp lánh màu kim nhũ. Anh chết
đứng trong tư thế đó. Toàn thân tê dại trong sợ hãi tột cùng. Anh đứng như trời
tròng. Cả người anh biến thành khối băng lạnh toát. Ngay cả việc đơn giản là
kéo mặt mình ra khỏi chiếc quan tài nặng mùi tử khí để nhảy ùm xuống nước anh
cũng không làm được”.
Thế nhưng mấy ngày sau khi trời quang mây tạnh, khi cơn sốt
kinh hoàng đã qua đi, Thành quay lại căn chòi hoang giữa đồng ấy và thắp cho
người quá cố một nén nhang, bởi không chỉ nghĩa tử là nghĩa tận mà đó còn là
ông Cả Sửu, cũng như nhiều người giàu có nắm trong tay ruộng trăm, ruộng ngàn
nhưng khi chết giữa mùa nước lụt thì cũng như người không có cục đất chọi chim
đều phải đưa ra đồng “gác chéo” chờ nước rút mới hạ huyệt về với đất. Cuộc sống
vốn vô thường.
“Ngồi lại với trăm năm” không chỉ ngồi mà nhìn lại ngôi nhà tổ,
nhìn những người đã đi xuyên qua lòng đất bên khu vườn, những người nằm giữa
cánh đồng hoang, hay nhắc nhớ lại một dòng họ Nguyễn lững lẫy ngày xưa khi Chúa
Nguyễn dong buồm về phương Nam khai hoang lập ấp, không chỉ nhìn lại những định
kiến khắc khe hay những nỗi oan, nỗi đau đeo đẳng đời người… mà “Ngồi lại với
trăm năm” để hiểu nhiều hơn, cảm thông nhiều hơn, chia sẻ nhiều hơn với những
buồn vui, thăng trầm đã lùi xa trong dĩ vãng, bởi bước qua bao gió giông, sóng
dập đã đời thì sướng vui hay đau buồn cũng dẫn đến cuối con đường mà tan vào
cát bụi. “Mùa xuân vĩnh cửu của đời người có lẽ nằm ở đây, sâu thẳm trong lòng
đất”.
Tôi chọn câu chuyện thứ ba xuất hiện trong tập truyện ngắn
này để khép lại bài viết của mình sau khi mở và đóng 261 trang sách đượm ngôn
ngữ thi ca. Tác phẩm duy nhất đánh số thứ tự từng phân khúc trong truyện mà lẽ
ra không phải ghi những con số tự nhiên từ 1 đến 7. Bởi “Cái số… không mất nồi”
là những lát cắt liên tiếp có liên quan đến sự xuất hiện của từng nhân vật khi
cơn mưa lớn làm cuốn trôi cái nồi của bà cụ 90 tuổi sống dưới mé sông. Cái nồi
là thứ tài sản duy nhất của của bà dùng để nấu cơm nên bà quý nó như vàng. Cái
nồi bị nước cuốn trôi thì coi như mất hết tài sản. Lẽ đó bà hớt hải chạy đi tìm
người giúp đỡ. Từ anh thợ sửa điện tử, đến vợ anh, ông thợ xây dựng, thầy giáo,
thằng bé… cứ liên tiếp được biết, được thấy, được vớt cái nồi… để cuối cùng cái
nồi lọt vào chiếc xe ba gác của anh bạn trẻ thu mua phế liệu, bởi thằng bé “Sau
khi vớt được cái nồi đã leo lên bờ, lấm lét nhìn quanh quất rồi cắm đầu chạy mất
tăm giữa cơn mưa mù trời”. Thằng bé bán cái nồi lấy tiền chơi game online, mặc
cho mọi thứ diễn ra quanh nó như thế nào cũng không màn đến. Những trò chơi ảo
trên mạng có sức hút mạnh mẽ hơn những gì có thật giữa đời.
Khi phát hiện cái nồi trên xe ba gác, từ ngoài lộ cô giáo
nhón chân qua hàng rào dâm bụt nói vọng vào nhà với anh thợ sửa điện tử vừa mới
nhận được ba chục ngàn tiền công sửa Ampli với mixer cho khách: “Anh ơi! Lấy
cho em mượn ba chục ngàn”. Chưa đợi chồng lăn xe ra, cô cầm cái nồi chạy xuống
mé sông trong ánh mắt vui mừng, run run, sung sướng của bà cụ. Anh bạn trẻ thu
mua phế liệu hiểu ra sự việc thì chẳng nói chẳng rằng, chẳng cần lấy ba chục
ngàn mà nhảy phóc lên yên xe, đạp mạnh. Có lẽ bạn đọc cũng sẽ giống như tác giả,
sẽ rất vui khi thấy quanh mình có nhiều câu chuyện hết sức giản đơn nhưng đầy ắp
tình người như thế. Tất cả những nhân vật không ai mất gì cả. Ngay cả anh bạn
trẻ thu mua phế liệu kia, những tưởng sẽ mất ba chục ngàn, nhưng cái mà anh có
được còn hơn cả một cái nồi của bà cụ ở mé sông, đó là tình người!
Chỉ 21 truyện ngắn của Nguyễn Lệ Ba tập hợp để “Ngồi lại với
trăm năm” nhưng từng lát cắt của từng số phận con người đã hiện ra với nhiều vết
hằn sâu của vui buồn, sướng khổ khác nhau. Lẽ đó, bạn đọc sẽ chờ ở anh có thêm
những truyện ngắn mới, dẫu anh viết rằng: “Tôi thích kể những chuyện tào lao. Bạn
bè tôi vẫn gọi đó là những chuyện không đầu, không đuôi; không theo chuẩn 3S: sốc,
sến, sex; không ý nghĩa nhân văn mà cũng chẳng có giá trị nghệ thuật. Cũng
đành. Nếu không vậy, làm sao tôi kể được những câu chuyện xảy ra quanh tôi; làm
sao tôi nói đến những con người biết quan tâm chia sẻ với người khác, dù chỉ bằng
những việc làm nhỏ nhoi hàng ngày; làm sao tôi nói được cái mà nhiều người vẫn
hay nhắc đến mỗi khi gặp một việc gì đó không thể chứng minh hay giải thích”.Cuộc sống dẫu thế nào thì hoa vẫn nở và mặt trời vẫn lên!.
Đồng Tháp, 17/5/2020
Lê Ngọc Minh Hoàng
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Tranh tự họa của Van Gogh
Tranh tự họa của Van Gogh
Vincent Van Gogh (1853-1890), nhà danh họa Hà Lan (sinh tại Groot Zundert, Brabant và mất tại
Auvers-sur-Oise). Cuộc đời ngắn ngủi của họa sĩ là những ngày dài lo lắng tinh
thần triền miên, đầy bi kịch.
Sau khi tới nghỉ tại Borinage và Nuenen, chàng đến sống tại
Paris (1886-1887) rồi ở Provence gần như bị nhốt một thời gian (1889) trong
trại tâm thần tại Saint Rémy de Provence. Sau đó, chàng đến ở tại
Auvers-sur-oise (1890), nơi họa sĩ sống những ngày cuối cùng trong cuộc đời quá
ư bất hạnh của mình. Chính Van Gogh đã tìm được nồng độ cực đại và sự rung động
của màu sắc ở tranh tĩnh vật và hoa của họa sĩ (Tournesols -Hoa hướng dương);
chân dung, phong cảnh: Pont de Langlois – Cầu Langlois; Champ de blés au ciprès
– Đồng lúa mạch nơi rừng cây bách; La Nuit étoilée – Đêm đầy sao). Van Gogh là
họa sĩ tiền phong của xu hướng dã thú (fauvisme) và biểu hiện
(expressionnisme). Họa sĩ được giới thiệu qua nhiều tác phẩm tại bảo tàng Orsay
Campement de Bohêmiens – Người Bôhêmien cắm trại; La chambre – Căn phòng; nhà
thờ Auvers, chân dung tự họa. Tranh của họa sĩ còn được trưng bày nhiều hơn ở bảo
tàng quốc gia Van Gogh tại Amsterdam và bảo tàng Kroller-Muller tại Otterlo.
Trong sự thẩm định ở không gian mỹ thuật, cái lợi điểm mang đến
cho con người từ một họa sĩ vẽ chân dung có tác phẩm giàu nhạc tính, với cường
độ hòa sắc cô đặc và nguyên chất, rất dễ làm nẩy sinh cảm xúc khác biệt và rất
dễ gây ngạc nhiên cho người thưởng ngoạn. Một khuôn mặt bao gồm trước hết là những
cái nhìn, đôi mày và ánh mắt, thông lệ thể hiện tư tưởng, tình cảm của con người.
Làm sao phản ánh suông những tính cách trên bằng dấu chấm đơn giản hay bằng những
vệt màu vô tri giác. Làm thế nào cảm nhận được cái thích thú trong cách
diễn tả sức mạnh trữ tình của màu sắc thể hiện trong “Les tournesols” (Hoa hướng
dương) hoặc “Les blés jaunes” (lúa mì vàng). Tuy nhiên, dường như Van Gogh buộc
chúng ta phải dùng trực giác để chấp nhận điều đó. “Phụ nữ Arle” với màu lục
trên nền vàng tạo nên cái vẻ đẹp huyền hoặc. “Bác sĩ Gachet”, trên nền xanh đậm
cho ta thấy cái màu tai tái như âm vang tiếng vọng não nùng.Thật vậy, đã từ lâu, khi mà phong cách thích hợp biểu hiện
tâm lý, thì vẻ mặt riêng của Van Gogh không có gì khác. Tại Hà Lan, chàng chỉ để
mắt nhìn qua cử chỉ của những đứa trẻ vị thành niên trong tranh của Cuesmes, những
nông dân của Nuenen. Trừ Les Mangeurs de pommes de terre (những người ăn khoai
tây) hay La vieille paysanne (Bà lão nông dân), những đường nét mô tả nhân vật
trong những họa phẩm đó, tác giả còn chưa thể hiện. Đó là những đường nét, vệt
màu nâu xám sống động, màu lục tro, màu đỏ son, những màu cô đặc cho đến bây giờ.
Nhưng tại Paris, sau nghệ thuật Nhật Bản, họa sĩ đã khám phá ra khuynh hướng ấn
tượng, rồi ở Arles, ở Saint Rémy des Baux, và Auvers-sur-Oise, Van Gogh vẽ vài
chân dung Paris, sau nghệ thuật Nhật Bản, họa sĩ đã khám phá ra khuynh hướng ấn
tượng, rồi ở Arles, ở Saint Rémy des Baux, và Auvers-sur-Oise, Van Gogh vẽ vài
chân dung nhiều lần được coi là mẫu mực. Cézanne đã tìm ra được, họa sĩ nói với
chúng ta, trong chân dung. “Cơ hội được nhân lên rất nhiều và cũng rất nghiêm
túc”. Hãy biết rằng việc kiếm tìm một bức họa đúng nghĩa sẽ gặp phải một trở ngại
rất lớn mà họa sĩ quyết định chiến thắng nó.
Khi chúng ta nhìn những bức tự họa theo từng thời kỳ 3 năm,
trừ bức tự họa ở La Haye (b.3) là đã bắt nguồn từ sự nghiên cứu kỹ lưỡng về kỹ
thuật sử dụng bút sắt hoặc bút chì, tính cách xa lạ của thời đại mà ta nắm bắt
được. Qua những tác phẩm ấy, Van Gogh thể hiện là một nghệ sĩ say mê, mong muốn
tự xác định, tự khẳng định cho mình. Họa sĩ làm tỏ rõ những dáng vẻ của con người
mà không phải chờ đợi nhiều và đã gây xúc động nhiều nhất. Nhưng sự nghiên cứu
thể hiện bằng hình ảnh, những ấn tượng khó tìm đã biến thành giai điệu thực sự
và tạo ra sức mạnh mầu nhiệm trong sự chọn lựa về ánh sáng và sắp đặt màu sắc.
Chúng ta còn tìm thêm được từ đó hai thử nghiệm đã thâm nhập tác phẩm hoàn toàn
mang ý nghĩa tượng trưng: một là sự hòa hợp hai màu lam vàng, bầu trời và ánh
sáng, thích hợp với vùng Provence tươi đẹp. Cách phối hợp “quái quỉ” giữa màu lục
và màu đỏ thể hiện đam mê, tội ác, cuồng dại của con người. Tôi không chắc rằng
hiệu quả luôn giải đáp cho khuynh hướng. Chắc chắn rằng hình ảnh sự vật sẽ khêu
gợi hơn là tranh chân dung tự họa màu cam và lục trong sưu tập của Berheim vẽ
vào năm 1889. Nhưng hai bức chân dung với lỗ tai bị cắt thì có thật là quái quỉ
không? Còn bức tranh ở học viện Courtauld (b.13) với gam màu vàng lam là hình ảnh
tinh tế của con người, là miếng mồi vô lý của tư tưởng xấu. Bức tranh ở Chicago
(b.12), từ sự bổ sung màu lục đỏ đã chiếm vị trí số một, nói lên sự trở về với
tĩnh lặng và sáng suốt. Còn bức người hút ống píp thì sắc màu đã dịu rồi. Từ
màu sắc sinh động làm chói rực lên một thứ ánh sáng thánh thiện.
Phong cách sáng tác lúc bấy giờ đã đưa Van Gogh đến sự phá thể
có hệ thống từ sự từ chối ý thức về khuynh hướng hiện thực. Họa sĩ còn báo cho
ta biết, vào tháng 9 năm 1988, qua bức tranh chân dung mà chàng làm“ cho bạn
Gauguin (b.10), là chàng vẽ bức tranh đó với “ton xám trên nền lam tái
malachit” nhưng họa sĩ viết cho em trai Théo thì bảo rằng đã sử dụng thái
quá màu nâu bằng phẩm tía và cũng làm tăng lên tỷ lệ của màu đỏ lên màu lục.
Chàng mở rộng dải xanh của áo veste, gần như là bỏ hẵn đi bộ tóc, thay đổi đường
biên của đầu, làm nhăn đôi mắt nâng cao cung cách để vẽ như không phải là
Vincent mà là một “họa sĩ ấn tượng” muốn làm rõ cái hình ảnh“ một nhà sư, kẻ
tôn thờ đích thực đức Phật vĩnh hằng. Đó không phải là một hình ảnh vui mà chỉ
là sự biến thiên trên nền giấy hoa. Ở đây có thể là xu hướng biểu hiện. Vả lại,
cũng như khá lâu về sau này ở Matisse, đó chỉ là nét quyến rũ của tranh. Trong
bức chân dung vẽ hình ảnh hiền lành của người đội nón rơm năm 1888 (b.8), chúng
ta không tưởng được đó là Van Gogh. Khuôn mặt rất bình thường, mũi có vẻ cứng
cáp, bộ râu màu đỏ sậm, mềm mại và rất chải chuốt. Hình ảnh làm rực lên vẻ sáng
chói trên nền hồng, là một bữa tiệc sắc màu tươi mát.
Sự táo bạo có thể đưa đến những tác phẩm giá trị bất ngờ, nó
không đưa đến những thói quen công thức. Thao tác chuẩn bị mang cung cách truyền
thống. Mặt trông thẳng ¾ hay bị cắt nửa phần trên, chân dung bám đúng vào khuôn
bởi một vai, đôi khi hai vai. Nền tranh vẽ thoải mái. Cả lúc Van Gogh vẽ bằng
ton lạt và từ chối thói quen dùng phong sẫm, và luôn luôn họa sĩ làm việc ấy kỹ
lưỡng để làm nổi bật khuôn mặt hoặc làm hòa hợp với gam màu quanh nó tùy theo
hiệu ứng biểu hiện. Lại nữa, bức tranh còn có thể để lộ cho người ta thấy được
tâm hồn của họa sĩ và nỗi đau khổ phải cắt đứt một cách bi thương một sự nghiệp
và một cuộc đời khác biệt hơn người.
Giữa bức tranh vẽ năm 1887 và bức chân dung tự họa sau cùng
là cả một vực thẳm cách biệt. Kẻ đi dạo ngày chủ nhật mơ màng nghĩ đến những
quán rượu ngoại ô Montmartre là một nhân vật khá vờ vĩnh (b.2). Nhưng bất chấp
bộ râu hung hung đỏ và đôi mắt xanh lạnh lùng, chàng trông vẫn thanh lịch trong
bộ y phục bảnh bao tương xứng với nền lam vui của bức tranh: bộ veste sắc hoa
cà, cà vạt màu thiên thanh, nón màu vỏ hột gà – hồng với ru-băn sắc hoa cà.
Trái lại, chân dung cuối cùng, (b.15) với lớp màu lủng củng và dù cho là lần đầu
tiên kết hợp giữa lam và lục, với chỉ vết chấm màu hung của râu và tóc, cho
chúng ta hiểu đó là một con người cháy bỏng ngọn lửa kinh hoàng, ngọn lửa tự
thân ngùn ngụt khói mù, từ đó thiêu hủy lý trí, làm mất đi sự dịu dàng với mọi
người và làm mai một một thiên tài.
Giữa hai đối cực đó là tất cả sắc thái tâm hồn, của hiệu ứng,
và của kỹ thuật. Nó biểu trưng trong lớp y phục. Tại Paris, Van Gogh mặc bộ
veste màu vỏ hột gà có cổ hẹp, viền lam. Chàng thay đổi như vậy là để làm vui
màu tùy theo khí sắc màu hoa cà, lam, nâu, xám hoặc lốm đốm đỏ. Chiếc áo sơ mi
cổ thẳng vuông vắn, chiếc nơ hình bướm, chiếc nón màu vỏ trứng gà vành chụp xuống
thể hiện y phục đúng mốt của người đàn ông. Nhưng cái nhìn thật không vui và miệng
thì mím chặt. Arles mời mọc nghệ sĩ với thời gian thong dong hơn. Cũng như trên
lộ Tarascon, gần đồng lúa mì, Van Gogh đi khỏi nơi đó có động cơ (8/1888 Bảo
tàng Kaiser-Friedrich Madgebourg). Ánh mặt trời tát vào đầu, gió Mistral thổi
qua những cánh đồng bao la và cảnh biển cả mênh mông làm phấn khởi người nghệ
sĩ Hà Lan nầy. Tuy vậy, đất nước Hà Lan đã cống hiến cho nghệ sĩ ánh sáng mùa
xuân chan hòa trên những cánh đồng hoa tu-lip rực rỡ sắc màu, trên những mái
ngói đỏ au, trên mặt nước lấp lánh của những dòng kênh thẳng tắp, những khung
trời bao la trên bình nguyên mênh mông vô tận. Nhưng đất nước Provence, tinh
khiết, trong lành, trù mật giống như nghệ thuật Nhật Bản. Nó chứng minh cho chiếc
nón rơm rộng vành (tranh.8), ánh mắt sững sờ, gò má hồng, bộ veste sáng màu
xanh lá. Nó giải thích, vào năm 1888 trên pa nô tại Zurich (tranh.9) người ta
thấy Van Gogh cạo râu nhẵn nhụi trong bộ veste giản dị hơn, màu da trời trên
nón màu lục sáng, vẻ mặt căng thẳng trên chiếc cổ to, tóc chải gọn và gợn sóng,
cái nhìn bướng bỉnh, đó là những hình ảnh biểu hiện một sức mạnh thách thức mọi
trở lực trên đường đời.
Ở những ngày khác, Van Gogh mặc áo choàng nặng nề với cổ lớn
và mũ trùm đầu dẹt ở phần trước bằng da lông thú. Bởi vì họa sĩ bị sốt và rất cần
hơi ấm. Nhưng để tự họa chân dung mình trên giá vẽ, chàng phải mang bộ veste
không cổ thòng. Lần này, Van Gogh tự vẽ trên nền lam xám lấp lánh ánh sáng
(b.7). Bố cục, khối nổi biểu hiện tâm lý bằng vô vàn đường nét tinh tế màu đỏ
son trên nền lam, vàng trên nền son lấp lánh vệt ánh sáng trắng. Tất cả đã nói
lên một cách chính xác. Nhưng chàng họa sĩ lực lưỡng mà trầm lặng trước khung vải,
có phải đó cũng là điều tìm gặp trong bức chân dung đầy chất thơ của họa sĩ đã
vẽ vào năm 1889. Trong sự phối hợp lạ lùng giữa sắc lam Phổ và malachit chói
sáng của lưu huỳnh, những hình thể lượn sóng, kéo dài trong nền lam bằng những
đường vạch ngoằn ngoèo (b.14). Bộ veste trông như chiếc áo blouse nhẹ nhìn
chung sắc nét mang vẻ đẹp thanh tú ở tranh của Van Dyck. Bức chân tranh vẽ từ
Laren gợi cho người quan sát nhạy cảm nghĩ đến phong cảnh ngập nắng được trình
bày rất mộng mị. Sắc lam cùng màu lục như vậy có cường độ làm tăng lên cái háo
hức của họa sĩ. Tất cả họa phẩm khác đều trong sắc lam nhẹ và lục tai tái, như
vậy ở con người này với bộ áo ves-ton xuề xòa không cổ cũng chẳng cà vạt thì cởi
mở và thân thiện biết chừng nào! (b.15).
Tuy nhiên trong nhiều họa phẩm, đã thể hiện đường nét trên
khuôn mặt nhưng dễ làm người xem xúc động. Một vầng tráng rộng lùi sau, một cái
đầu to, mũi mạnh, khum khum với lỗ mũi rộng, khuôn mặt hình tam giác, không đối
xứng với những gò má lồi ra, dưới má lại trũng vào. Chàng mang bộ râu cằm và
hàng ria hung đỏ được tỉa tót kỹ lưỡng hoặc sơ sài, đó là khuôn mặt có vẻ kém
bình thường của những con người mạnh bạo. Đôi mắt nhỏ rất lãnh đạm với màu vẻ
nào cũng dễ mất đi dưới những vòm mắt nặng nề, những cặp mắt lo toan và nhiều
đau khổ. Những bức họa đẹp nhất là những bức tranh thể hiện được sự âu yếm, ít
nghiêm khắc cuối cùng là – vào thời gian hạnh phúc hơn trong kỳ nghỉ ở Paris
vào năm 1887 – hai bức chân dung có đội nón vẽ với màu gạch non.
Bức vẽ ở Amsterdam (b.5) khá ấn tượng là sự hòa hợp dịu dàng
màu gạch non và màu lam, làm rạng rỡ bằng màu đỏ. Nghệ sĩ đã biểu lộ bằng một
thoáng lo âu về sự kính trọng, nhưng tính cách không đối xứng của khuôn mặt,
cái bĩu môi ra vẻ tư lự, cái nhìn liến láy hòa hợp với một bầu trời nền lởm chởm
xanh như cơn gió phiêu lưu ngông cuồng đi qua. Bức chân dung vẽ ở Laren (b.4) với
màu lam đêm và đất son, lốm đốm đỏ sắc thần sa và vàng chanh biểu lộ sự hiện diện
sâu sắc ánh sáng nội tâm. Khuôn mặt và nền tranh bao quanh là hiện tượng giao
thoa giữa hai điện năng, giữa hai sê-ri âm ba điểm bằng màu nguyên chất, đó
chính là ánh sáng cuộc sống tinh thần đau khổ tỏa ra từ khuôn mặt, một nỗi đau
thương thầm lặng còn giày vò; từ đó ta đoán ra được sự trìu mến của Van Gogh
dành cho những số phận đời thường một cách rất nhân văn. Kỹ thuật biểu hiện này
làm dịu nhẹ bức chân dung vẽ ở Paris vào năm 1887 mà trong đó nền tranh như một
vầng hào quang đêm bao quanh khuôn mặt đỏ như lửa (b.6) chính là khúc nhạc dạo
cho những hiệu quả của tháng 11 năm 1889.
Ở những tranh ảnh khác, nỗi bất hạnh của nghệ sĩ thể hiện qua
một vẻ hung hăng. Ở bức chân dung vẽ tại Oslo (b.13), lý trí và tình nhân loại
không hiện hữu. Vẻ mặt trông nghiêng từ đó góc trán với đôi hàm nổi bật lên sự
thô bạo, thể hiện bộ mặt của một con người lạc lỏng. Mắt diễn đạt bằng góc cạnh
nhiều hơn hình ảnh thực trước gương. Cái nhìn dữ dội rực lên vẻ tàn bạo với màu
son chứa đầy ngờ vực, miệng thì xấu và râu mép sắc đỏ hung buông rũ, trên đôi
má xanh xao hốc hác, bộ râu đỏ hung cạo sơ sài nói lên chân tướng của một lãng
tử sống lần hồi trên đường đi hơn là một họa sĩ thiên tài. Khuôn mặt đầy ảo
giác đó được vẽ trên một nền màu lam cuộn sóng, cũng như một bản phác thảo với
những nhát quét qua loa lộn xộn của bàn chải, điều hiếm thấy trong tác phẩm của
một nghệ sĩ đã dám đặt vào đó những nhát cọ quyết định táo bạo.
Đó cũng là bức chân dung vẽ ở Zurich (b.9) và bức chân dung vẽ
mặt người nhìn nghiêng, cả hai sử dụng cùng một lối kiến trúc nghệ thuật. Những
bức tranh vẽ tại Zurich thể hiện một con người xác thực, sáng suốt và kiên quyết.
Trong bức chân dung vẽ tại Oslo, người ta cảm nhận được từ đó một nỗi hãi hùng
thông qua cái nhìn có vẻ vờ vĩnh, cho thấy rõ hơn ở đó một sự hiện hữu phù du,
cảnh khốn cùng suy sụp. Một sự thú nhận như thế được biểu lộ như các bức họa
chân dung của Rembrant* cũng rất đa dạng nói lên những tiến triển từng chặng
suốt một đời người, sự tiến bộ của họa sĩ và lắm nỗi thăng trầm do số phận. Những
họa phẩm chân dung của Van Gogh chiếm lĩnh không gian nghệ thuật trong 3 năm.
Tính đa dạng của nó biểu lộ nỗi ngao ngán của một thiên tài đã miệt mài thử
nghiệm một cách vội vàng.
Tuy nhiên đến thời điểm mà nỗi bất hạnh vượt quá khả năng của
con người. Đó là bức chân dung buồn thảm ở viện Courtauld, tạo nên cơn ác mộng
của bảo tàng Oslo, một hình ảnh ngập tràn xúc động ở Louvre, lần cuối hoàn chỉnh
hơn, nhưng là một giản đơn sau cùng của một kiệt tác. Tác phẩm đó để lộ cho
chúng ta thấy rõ sự trong sáng trong tính chính xác và sự hiện hữu của cái vô
thực với khuôn mặt vĩ đại, tâm hồn rực lửa của nghệ sĩ. Điều này giới thiệu với
chúng ta một cách chắc chắn ở một họa sĩ nhạy cảm hơn có lẽ là về sức mạnh chói
sáng của những ton màu nguyên chất rực lửa như người tình của ánh sáng, tuy
nhiên càng thiếu thốn niềm vui mà người xem có thể cảm nhận trước như là một dự
báo.
Ngày 17/09/1888, Van Gogh viết cho Théo nói về sự thỏa mãn của
nghệ sĩ đã hoàn thành cho Gauguin chân dung của mình vào khoảng khắc đã hứa và
bức tranh của bạn là Gauguin gởi đến cho chàng đã gây sầu não vì chàng nhận ra
trên tấm tranh của Gauguin “không gợn lên một chút niềm vui”. Nhưng với chàng,
nhà nghệ sĩ thiên tài Van Gogh mà cuộc đời nghèo túng, nghiệt ngã vì bệnh tật
đã sở hữu hơn 850 tác phẩm** trải qua 10 năm cật lực lao động nghệ thuật trong
hoàn cảnh vô cùng nghiệt ngã, có bao giờ ta có dịp thấy thoáng xuất hiện trên
khuôn mặt chàng một nụ cười?
Tham khảo:
- Vincent Van Gogh-Ruth Doppe Ehser, 1963.
- Tự điển mỹ thuật-Hà Nội.
- Tìm hiểu hội họa – Đoàn Thêm (NXB Nam Chi tùng thư – Sài Gòn
1962).
- Tìm đẹp Đoàn Thêm (NXB Nam Chi tùng thư – Sài Gòn 1964).
- Câu chuyện hội họa – Thái Tuấn (NXB Cảo Thơm – Sài Gòn 1967).
- Lettres sur la peiture et commentaires – Florent Eljolras –
Sài Gòn, 1964).
- Tạp chí mỹ thuật – Hà Nội (từ 1975).
- Tạp chí mỹ thuật – Thành phố Hồ Chí Minh (từ 1975).
- Tạp chí Phổ Thông (trước 1975, Nguyễn Vỹ chủ biên).
- Những khuynh hướng chủ yếu của hội họa tư sản hiện đại – NXB
Văn hóa Hà Nội, 1978.
- Các tài kiệu tiếng Anh, Pháp, Đức, Việt, Nga … viết về Van
Gogh, Picasso, Cézanne, Kandinsky, Modigliani… của NXB Fernand Hazan-Paris VI,
1963.
- L’art moderne (Nghệ thuật hiện đại) – Joseph Émile Muller,
1963.
- Nghệ thuật Mô-đec và Hậu Mo-đec – Lê Thanh Đức – NXB Mỹ thuật,
2003.
- Vanh xăng Van Gog (Vincent Van Gogh) – Lê Thanh Đức (NXB Văn
Hóa, Hà Nội, 1984).
- Cuộc đời Vanh xăng Van Gogh – Louis Piérard (NXB Correa,
Paris, 1950).
- Một số bài viết về Van Gogh trong các tạp chí nghệ thuật
của Việt Nam và Pháp, Anh, Mỹ, Đức, Nga…
* Rembrandt (1606-1669) họa sĩ bậc thầy Hà Lan về chân dung.
** Van Gogh vẽ bình quân mỗi năm khoảng 100 bức tranh
(Lê Thanh Đức – Vanh xăng Van Gog – NXB Văn Hóa, 1984).
17/5/2020
Đan Thanh
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Cái Tôi của Phạm Duy trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...


.jpg)
.jpg)