Tác giả & Chương 1
Believe This... You'll Believe Anything
James Hadley Chase là bút danh của tác giả người Anh -
Rene Brabazon Raymond (24/12/1906 - 6/2/1985), người cũng đã viết dưới tên
James L. Docherty, Ambrose Grant và Raymond Marshall.
Ông sinh ra ở Luân Đôn, là con của một đại tá người Anh phục
vụ trong quân đội thuộc địa Ấn Độ, người dự định cho con trai mình có một sự
nghiệp khoa học, bước đầu đã cho học tại trường học Hoàng gia, Rochester, Kent
và sau đó học ở Calcutta. Ông rời gia đình ở tuổi 18 và làm nhiều công việc
khác nhau, một nhà môi giới trong nhà sách, nhân viên bán sách bách khoa toàn
thư của trẻ em, người bán sách sỉ trước khi tập trung vào sự nghiệp viết lách với
hơn 80 cuốn sách trinh thám. Năm 1933, ông đã cưới Chase Sylvia Ray và có một
con trai.
Trong Thế chiến II, ông phục vụ trong Không quân Hoàng gia,
cuối cùng đạt được thứ hạng lãnh đạo Đội tàu chiến. Chase đã biên tập Tạp chí
Không quân Hoàng gia cùng với David Langdon với nhiều câu chuyện, nó được phát
hành sau chiến tranh trong cuốn sách Slipstream.
Chase chuyển đến Pháp năm 1956 và sau đó đến Thụy Sĩ vào năm
1961, sống một cuộc sống ẩn dật ở Corseaux-Sur-Vevey, phía bắc của hồ Geneva, từ
năm 1974. Ông qua đời yên bình vào ngày 6/2/1985.
Các tác phẩm của James H. Chase đã được xuất bản tại
Việt Nam: Tỉa Dần, Cái Chết Từ Trên Trời, Cả Thế Gian Trong Túi, Ôi Đàn Bà, Cạm
Bẫy, Gã Hippi Trên Đường, Hứng Trọn 12 Viên, Đam Mê và Thu Hận, Tệ Đến Thế Là
Cùng
Chương 1
Từ phía sau bức vách bằng kính của chiếc bàn viết tôi trông
thấy người đàn ông đang bước vào phòng chờ đợi. Hắn tóc nâu, cao ráo mảnh dẻ
khoảng ba mươi tuổi, tra trong người bộ phục bảnh chọe. Người thợ cắt nào đó phải
tay lành nghề, xuất thân từ ngành nghệ thuật tạo mẫu thời trang, đã tăng thêm
cho hắn dáng vẻ phong lưu thanh lịch. Thoạt nhìn ngang khuôn mặt rắn rỏi của hắn,
người ta liên tưởng hình ảnh một ngôi sao màu bạc, mà không một đạo diễn yêu
nghề nào có thể bỏ qua cơ hội mời chọn hắn ký hợp đồng.
Sue Douglas, cô thư ký trẻ trung xinh đẹp và trung thành của
tôi, đã đứng lên và ban cho hắn nụ cười chào khách rạng rỡ và nồng nhiệt nhất.
Rất lâu, hiếm gã đàn ông cưỡng lại trước sức quyến rũ của Sue. Thùy mị duyên
dáng, từ tốn đoan trang, thể hình hài hòa cân đối, Sue là thần tượng của cánh
đàn ông. Thế mà, nụ cười tươi thắm của nàng từ từ tắt lịm như ngọn đèn dầu khô
bấc, trước cái nhìn của hắn như vừa nom thấy con ruồi trong cốc rượu.
Hắn đảo mắt quanh quất và nhìn thấy tôi ngồi sau bàn làm việc.
Qua bức vách trong suốt, bốn mắt chúng tôi chạm nhau trong một giây, rồi hắn
thong dong xô cửa bước vào sau khi không quên lịch sự khép nó lại bằng... cái
gót giày.
- Anh là giám đốc ở đây? - Hắn hỏi đổng.
Không mất một giây, đủ biết hắn là công dân vương quốc Anh,
đã qua trường lớp ở Eton và Cambridge. Trong thời gian sáu tháng thăm viếng nước
Anh, tôi đã quen thuộc hầu hết ngữ điệu của xứ sở này, nó thể hiện rõ nét của tầng
lớp xã hội. Thế nên, tôi không thể nhầm lẫn giọng nói của hắn.
- Chính xác! - Tôi đáp và đứng lên, nở nụ cười chào khách. -
Clay Burden có thể giúp được gì cho ông?
Tôi đưa tay chỉ chiếc ghế dành cho khách.
Hắn nhìn chiếc ghế vẻ ngờ vực và sau khi tin rằng bộ sậu sáng
giá của mình không gặp nguy cơ vấy bẩn, hắn cẩn thận ngồi xuống.
- Anh vừa khai trương cửa hiệu này à? - Hắn hỏi, rồi liếc mắt
nhìn quanh.
- Vâng, chúng tôi thành lập nó vừa đúng... sáu ngày, thưa
ông.
Hắn nhíu mày, rồi nhún vai hàm chứa câu nói: "Không
trách anh, không được biết tôi...".
- Tôi là Vernon Dyer, nổi tiếng ở đây!
- Hân hạnh cho tôi, thưa ông Dyer.
- Tôi đoán anh là người mới đến Paradise City?
- Thưa đúng, ông Dyer.
- Tôi nghĩ rằng chỗ của anh đã chọn được ai đó có năng lực?
Tôi vờ không nghe và lặp lại câu hỏi:
- Tôi giúp ích được gì cho ông, ông Dyer?
Không vội đáp hắn vặn lại:
- Nhân sự ở đây, chỉ có cô thư ký và anh, thôi à?
- Chúng tôi không đủ chỗ, ông Dyer ạ. - Tôi đáp. - Khách sạn
không đồng ý cho chúng tôi thuê thêm mặt bằng. Nhưng thế này đã đủ.
- Chà, ngạc nhiên thật... Bên American Express sử dụng
tới những mười lăm người.
- Không lâu đâu, bởi vì bên ấy không thể thiết đặt nơi làm việc
như ở Spanish Bay Hotel này. Như ông biết đấy, nó là loại khách sạn sang trọng
bậc nhất Paradise City.
- Tôi không quan tâm đến việc khách sạn có sang trọng hay
không. - Hắn đốp chát khô khốc. - Điều tôi muốn biết đấy là khả năng phục vụ của
một hãng đại lý du lịch có đạt được hiệu quả cao hay tồi!
- A, ông đã gõ đúng cửa rồi, ông Dyer, ở đây chúng tôi không
nói chuyện trên bàn giấy, nhưng bằng những việc làm thiết thực và những hướng dẫn
chính xác, cụ thể. Trụ sở chính của chúng tôi đặt ở Miami chuyên lo việc mua
vé, cấp chi phiếu du lịch cũng như tất cả những thông tin, tài liệu hữu ích
liên quan đến khách hàng, rồi chuyển về chi nhánh ở đây bằng phương tiện nhanh
chóng nhất. Thí dụ khách hàng muốn đến New York bằng đường hàng không, chúng
tôi sẽ cung cấp lịch trình chuyến bay, mua vé và đặt chỗ trước trên phi cơ ở
đây cũng như ở phi cảng Miami. Văn phòng của chúng tôi đặc biệt quan tâm đến những
nhu cầu của khách hàng để phục vụ đúng mức cho họ. Tóm lại, chúng tôi sẽ lo
toan trọn gói từ A tới Z, ông Dyer ạ.
Hắn nuốt những thông tin này bằng cái duỗi dài đôi chân.
- Tôi cho rằng anh phải được biết danh tiếng vang như cồn của
ngài Henry Vidal?
Câu hỏi hách dịch này làm tôi bắt đầu nóng máu:
- Ngài Henry Vidal à? Ôi, không... hoàn toàn không. Tên tuổi
của ông ấy chưa hề bay tới Boston và ngay khi đặt chân tới thành phố này, tôi
cũng chưa hề được nghe người nào đề cập tới nhân vật này. Nói chung, cái tên tuổi
này chẳng nói lên nơi tôi cái tích sự gì cả.
Hắn lấm lét nhìn như chừng tôi vừa làm cuộc đảo chính. Trong
khi tôi vẫn dửng dưng và thích thú, hắn cố nắn câu thông báo:
- Cho anh biết, tôi có thể đoán chắc như đinh đóng cột rằng,
ngài Vidal là nhân vật vô cùng quan trọng và có quyền lực hơn bất cứ ai ở
Florida cũng như khắp nước Mỹ!
- Ôi, ông ấy nghĩ mình là ai chứ? Ông đừng nói là nhân vật
trên cả Bill Clinton và đương kim Tổng Thống Hoa Kỳ Georges’ W Bush? - Tuy
nhiên, tôi đấu dịu. - Tôi khó thể tha thứ cho mình là không biết chiêm ngưỡng
uy tín và danh vọng của ngài Henry Vidal của ông, thưa ông Dyer:
Hai hòn bi trong cặp mắt hắn tóe lửa:
- Anh muốn tỏ ra bất lịch sự à?
- Cái ý nghĩ ấy còn quá xa đối với tôi, thưa ông Dyer. - Tôi
nhìn hắn và lặp lại câu hỏi. - Thực tế, tôi có thể giúp gì cho ông?
- Tôi là trợ lý của ngài Vidal. - Hắn nói sau khi im lặng một
lúc. - Ngài Vidal quyết định hủy hợp đồng hợp tác với hãng American
Express, đồng thời tin tưởng nơi hãng đại lý du lịch của anh!
Hắn săm soi, dò xét:
- Có thể anh sẽ cho rằng số tài khoản ủy thác trong ngân hàng
được rót vào một hãng như của anh sẽ không là bao, so với những công việc sẽ
làm, ông Burden?
Hắn bắt đầu lưu ý đến cái tên của tôi.
- Không đáng là bao hoặc rất quan trọng và sẽ mang đến khó
khăn hay không, đối với chúng tôi chẳng có sự khác biệt nào cả, thưa ông Dyer.
Chúng tôi ở đây nhằm phục vụ lợi ích cho khách hàng của mình.
Một lần nữa hắn lại tỏ thái độ ngán ngẩm của một người trông
thấy con ruồi đang bì bõm trong các cốc whisky của mình:
- Được thôi, tôi kỳ vọng vào điều đó và anh nên xem mình đang
bắt đầu thực hành. Hãy mở một trương mục vãng lai mang tên Công ty Vidal và từ
đó, mọi sự thương lượng với ngài Vidal đều được thông qua sự trung gian của
tôi.
- Ông có thể cho tôi một ý niệm về số trương mục dự kiến đấy
là bao nhiêu không?
- Tôi vừa khóa sổ trương mục của chúng tôi ở hãng đại lý du lịch American
Express, đồng thời cũng đã thanh toán bảng kê ngân khoản trong sáu tháng. - Hắn
ngưng nói, cặp mắt gắn vào tôi, trước khi thông báo. - Tổng số của nó là... Một
trăm ba chục nghìn đô la!
Tôi nhìn chằm chằm vào hắn, không tin ở tai mình.
- Điều này có nghĩa là con số trương mục dự kiến sẽ vào khoảng
hai trăm nghìn đô la mỗi năm? - Tôi hỏi dò.
Hắn búng tay, phẩy một hạt bụi tưởng tượng trên đầu gối.
- Đúng thế... Một cuộc trao đổi dựa trên những phương thức tốt
đẹp cho đôi bên. Có thể còn nhiều hơn.
- Ông có cần một bảng tổng kê vào mỗi sáu tháng?
- Đây đúng là cách chi trả của chúng tôi.
Tôi chưa rõ, rồi đây phản ứng của ông tổng giám đốc tôi sẽ thế
nào, nhưng một khi American Express đã vui vẻ nhận một hợp đồng dịch
vụ với Henry Vidal lên tới con số trăm nghìn đô la, thì American Travel
Services cũng có thể bắt chước làm theo họ thôi!
- Tôi sẽ chuẩn bị làm ngay. - Tôi tuyên bố. - Tất nhiên sau
khi đã thông qua vài thủ tục...
Tôi bỏ lửng câu nói, nhìn thẳng vào Dyer.
- Phải thế thôi. - Hắn rút trong áo một mảnh giấy xếp đôi. -
Đây là những chi tiết cần thiết: địa chỉ nhà ở của ông Vidal, người đại diện của
ông ấy, tên của các ngân hàng có tài khoản đã ủy thác và tên các nhân viên hối
đoái. - Hắn đặt tờ giấy lên mặt bàn. - Anh sẽ nhận thấy tất cả đều toàn hảo.
Trong khi chờ đợi, anh chuyển đến chúng tôi: bảng thời khắc biểu các chuyến bay
hàng tuần đến Tokyo, Johannesburg và Hong Kong; bảng đơn giá vé hạng nhất cho
hai du khách trong mỗi chuyến bay khứ hồi; bảng khai giá thuê một xe du lịch
dành riêng cho họ di chuyển trong sáu ngày; bảng chiết tính tiền thuê hai căn
phòng trong một khách sạn thượng hạng và tiền ăn theo tiêu chuẩn tuyệt hảo của
Hoa Kỳ, cũng trong sáu ngày. Ngay khi nhận được văn kiện định tổng giá phí của
hãng American Travel Services, tôi sẽ trao anh một số chi tiết cụ thể khác. Tất
cả những thông tin liên lạc đều phải gởi đến tôi qua địa chỉ nơi ở của ông
Vidal. Anh nắm vững tất cả rồi chứ?
Tôi gật đầu đồng ý.
Hắn đứng lên:
- Thế thì, tôi có thể nói tạm từ giã anh.
Quên hẳn việc bắt tay tôi, hắn rời văn phòng, bước qua nơi của
Sue, không màng nhìn nàng, rồi đi xuống một hành lang rộng thênh thang của
khách sạn, hai bên đặt những gian hàng bán mỹ phẩm, chi nhánh của Luce và
Fremlin, những cửa hiệu đá quý và thời trang của Saks và Elizabeth Arden cùng
những thứ thời thượng khác. Dõi mắt theo đến khi hắn khuất dạng, tôi ra hiệu
cho Sue bước vào bàn giấy.
- Gã quái vật hách dịch này là ai thế nhỉ? - Nàng đỏ mặt, hỏi.
- Vernon Dyer! Từ nay chúng ta sẽ còn gặp lại hắn nhiều lần.
Sau khi được nghe tôi thuật vắn tắt, Sue tròn xoe mắt kêu to:
- Hai trăm nghìn đô la?
- Đấy là hắn nói, phải chờ kiểm chứng lại. - Tôi viết nguệch
ngoạc lên tờ giấy trong cuốn sổ tay, rứt nó ra rồi trao cho nàng. - Làm một bảng
định giá trong một tuần lễ dựa trên tờ liệt kê những công việc này!
- Nàng gật đầu, cầm tờ giấy, trở về bàn viết của mình.
Tôi nhìn đồng hồ, nó báo mười hai giờ ba mươi lăm phút. Tôi với
tay kéo chiếc điện thoại, quay số và yêu cầu nói chuyện với Joe Harkness, tổng
giám đốc khu vực của American Express. Chúng tôi quen biết nhau đã lâu, có
nhiều quan hệ bạn bè với nhau. Tuy là đối thủ của nhau trong công việc, nhưng ở
Paradise City chẳng có mấy khách hàng, nên tình hữu nghị giữa hai cơ sở vẫn duy
trì nguyên vẹn.
- Chào, Joe. Clay đây. - Tôi nói, khi nghe tiếng của hắn bên kia
đầu dây. - Cậu nói thế nào về một bánh sandwich với tớ ở Howard Johnson?
- Nếu tớ không lầm, thì ở tiệm ăn ấy còn nhiều thứ sáng giá
hơn miếng sandwich của cậu? - Joe đáp, vui vẻ.
- Được thôi, ma mãnh. Đến đấy đi, tớ sẽ biếu cậu món bò tẩm
hương liệu xông khói.
- Chà, nghe được đấy! Vâng, tớ sẽ đến với cậu trong ba mươi
phút. - Hắn hứa và gác máy.
Tôi đọc kỹ tờ giấy do Dyer trao.
- Henry Vidal lưu ngụ tại Paradise Largo, nơi có những đại
gia mới dám đến ở. Lão có tài sản ủy thác trong ngân hàng ở Paradise City,
Miami và New York. Người thừa hành thường trực của lão là Jason Shackman, ba
nhân viên hối đoái là Trice, Seigler và Joseph.
Tôi đến gặp Sue tại phòng chờ.
- Tôi đi nói qua một tiếng với Rhoda. - Tôi báo cho nàng biết.
- Sau đó sẽ đi ăn trưa với Harkness.
Nàng gật đầu:
- Khi ông trở về, bảng tổng kê công việc và tờ định giá đã có
sẵn trên bàn.
Tôi thoát ra và đi xuống dãy hành lang, dẫn đên Trendie cửa
hiệu bán mỹ phẩm thời trang thiếu nữ, nơi Rhoda phục vụ với tư cách bán hàng.
Nàng đang ngồi trên chiếc ghế cao, đôi mắt dán vào tờ tạp chí phụ nữ.
Chúng tôi cưới nhau gần hơn hai năm, lúc tôi còn làm giám đốc
chi nhánh hãng đại lý du lịch American Travel Services ở Boston. Và
nàng đã là trợ tá của "Trendie", một thương hiệu có rất nhiều chi
nhánh ở những khách sạn trong các thành phố lớn. Trước khi lấy nhau, Rhoda có một
gian phòng nhỏ nằm. trong cao ốc nơi tôi cư ngụ, nên tôi thường đến chỗ nàng,
sau giờ làm việc. Ở chỗ chúng tôi có một quán ăn, nên gần như mỗi tối, chúng
tôi đều đến đấy. Sau khi đã sống với nhau rồi, việc chi trả tiền ăn nàng đều để
tôi lo. Thỉnh thoảng nàng nói "em phải tiết kiệm để dành tiền cho
em", về phần tôi, tuyệt nhiên không nghe nàng đề cập tới. Của đáng tội,
nàng còn rất trẻ, quyến rũ và đầy gợi cảm. Thế nên, tôi không quan tâm đến việc
tích lũy tiền bạc, vả lại tôi đã quen sống cô đơn lâu rồi.
Ngỡ rằng mình bằng lòng sống với Rhoda, nhằm lãng quên hình
bóng Valérie, người đàn bà tôi yêu say đắm và đã bỏ rơi tôi từ bốn năm nay,
nhưng ý nghĩ này đã phản lại tôi, nhất là sau thời gian ăn ở với Rhoda, tôi cảm
thấy chán chường. Dù đẹp, ăn mặc gọn gàng, trang điểm tinh tươm lúc đi làm,
nhưng khi về đến nhà, người đàn bà này là con số không, bệ rạc lười biếng và
xem việc nội trợ là tạp dịch khổ sai. Thậm chí đến việc giăng màn căng nệm, giặt
giũ quần áo, nàng cũng khéo léo khước từ. Thế là tôi phải thuê người làm và việc
ăn uống vẫn tiếp diễn nơi quán ăn, thường xuyên không sót bữa nào như những lúc
chưa lấy nhau và dĩ nhiên, tôi phải chi thêm khoản này.
Tuy nhiên, nói chí tình số tiền lương của cả hai nhập lại đã
cho chúng tôi được sống thoải mái tiện nghi, được đăng ký vào các câu lạc bộ thể
thao và được cất giữ tiền riêng của mỗi người. Nói chung cuộc hôn nhân này chỉ
mang lại cho tôi sự cân bằng về mặt ức chế tính dục, chứ chẳng có ý nghĩa
thiêng liêng gì trong tình nghĩa vợ chồng.
- Rhoda. - Tôi nói, khi đặt chân lên bậc cửa. - Anh sẽ không
đi ăn tối với em hôm nay, vì có hẹn.
Nàng miễn cưỡng ngước mắt khỏi tờ tạp chí:
- Nói gì vậy?
- Anh có hẹn. - Tôi gắng gượng lặp lại.
Khi nàng đang chú tâm vào tờ báo, tôi thường phải lặp lại điều
gì mình muốn nói.
- Được thôi! Em sẽ gặp lại anh lúc sáu giờ chứ?
Rhoda tiếp tục đọc báo, còn tôi ngồi vào xe lái thẳng tới chỗ
hẹn. Tại đây tôi gọi một cốc whisky cho thêm đá, điều này hiếm có đối với tôi mỗi
lần trước giờ ăn.
Tôi hỏi Sam, người quản lý đang đứng gần:
- Anh có nghe nói về ngài Henry Vidal không?
Sam lúc lắc đầu:
- Vidal nào? À, không, tôi không biết, thưa ông Burden.
- Người ta nói với tôi ông ấy là nhân vật nổi cộm nhất
Florida!
- Đấy là do người ta nói thôi, thưa ông Burden.
Hắn cười ruồi, rồi bước đi.
Năm phút sau, Joe Harkness đến.
Người thấp bé, da màu mật, Joe bằng tuổi tôi. Đằng sau bộ mặt
vui tươi hóm hỉnh của hắn là khối óc ẩn chứa sự mẫn tiệp nhạy bén và tinh ma
trong công việc.
- A ha. - Hắn kéo ghế ngồi cạnh tôi trên ghế cao, trỏ tay vào
cốc rượu của tôi đang đặt trên quầy. - Cái này nhất định đang chờ tớ đây.
- Nếu cậu không nhận, tớ sẵn sàng thu hồi. - Tôi nói và giơ
tay làm hiệu cho Sam mang cốc whisky thứ hai. - Tớ vừa tiếp một khách hàng,
Joe.
- Biết, trước đây tớ cũng đã thế rồi. Mà này anh bạn, tớ
thành thật lo cho cậu đấy. Khi gã bẩn thỉu ấy tuyên bố đóng tài khoản ủy thác ở American
Express tớ mừng như chết đi sống lại.
- Sao thế? Đừng hòng đánh lừa tớ, Joe.
- Clay, tớ không nói ngoa. Có là điên mới vui mừng trước việc
để mất một tài khoản hai trăm ngàn đô la, nhưng thực tình tớ như được tháp cánh
một khi đã cạn sạch bát dĩa nơi nhà Vidal và Dyer. Từ hơn mười tám tháng nay,
chuyện này đã làm tớ ngập đầu. Thực hết cách...
- Không, trái lại nó sẽ còn tăng lên nữa. Đây là con số của
năm rồi, và nhất định nó đã tăng trong năm nay, nhưng đừng hòng nghĩ rằng cậu
đã vớ được cái mỏ vàng. Tớ sẽ bốc cậu ra khỏi ảo tưởng này. - Harkness nốc một
hơi, cạn nửa cốc whisky, nói tiếp. - Vidal đòi hỏi chúng tôi nhập vào một số
trương mục trong thời hạn sáu tháng. Nói cách khác, lão được sử dụng tiền của
chúng tôi.
- Khoảng trăm nghìn đô la gì đó trong sáu tháng. Lão lấy số
tiền này cho vay với lãi suất bảy phần trăm và thu được ba nghìn năm trăm đô la
tiền lời của sáu tháng, trong khi chúng tôi mất trắng mối lợi này, trước khi
lão hoàn lại tiền nhập số trương mục của chúng tôi. Chưa hết, lão còn yêu sách
một chiết khấu năm phần trăm trong những dịch vụ vượt quá mười lăm nghìn đô la
trong sáu tháng, mà trong đó lão được lãi ba nghìn bảy trăm năm mươi đô la, còn
chúng tôi cũng bị mất nốt. Mỗi lục đầu cá nguyệt, con số một trăm nghìn đô la
tiền dịch vụ làm ăn đã ký kết, lão chỉ cần trả có chín mươi hai nghìn bảy trăm
năm chục đô la, nghĩa là mười lăm nghìn đô la trong một năm.
Tôi cười vào mũi hắn:
- Còn thế nào nữa? Cậu là người ấn định các điều kiện, số
trương mục vẫn còn đáng kể? Thế sao cậu lại rên rỉ?
- Tại sao tớ rên rỉ à? Tớ sẽ nói cho cậu nghe. Bọn tớ rất
thích nguồn hàng của lão và mong đợi được chi trả sòng phẳng. Chúng tôi tính
toán, dù với chiết khấu năm phần trăm tiền lãi khá khỉnh. Nhưng chúng tôi đã tự
thọt tay vào mắt mình. - Hắn đặt bàn tay lên vai tôi. - Thôi nào, không khéo miếng
thịt cháy khét.
Tôi trả tiền thức uống xong chúng tôi xông vào phòng ăn.
- Bởi vì Vidal hiện giờ là khách hàng của cậu, Clay, tớ sẽ
không nói tới chuyện ấy nữa. - Harkness nói và ngồi vào bàn. - Tớ gọi thêm món
cá hồi xông khói, món bít tết và cậu thấy thế nào về một chai rượu chát, loại hảo
hạng?
Tôi gọi người phục vụ hai cá hồi xông khói, hai bít tết và
chai rượu vang California.
- Không có rượu Bordeaux à? - Harkness hỏi, vẻ khổ sở.
- Tớ chưa vô mánh của Vidal. Cậu chẳng nói cái lão bạn hàng ấy
không mang lại lợi ích nào à?
- Tớ không nói như thế, nhưng tớ may mắn chỉ thu được hai phần
trăm. Nhưng mà thôi, cậu đừng nên tăng thêm phiền bực vốn đã quá nhiều rồi, mà
chỉ có trời hiểu.
- Đến thế cơ à? Nhưng những phiền bực gì chứ?
- Tớ đã mất một cô thư ký ưu tú, khó thể có được...
Cô ấy đã xin thôi việc sau năm tháng lo công chuyện cho
Vernon. Để Vernon còn giữ được hòa khí, một vụ bạo hành và để không bị đưa ra
tòa, chúng tôi phải xì tiền. Ngoài những chuyện lăng nhăng này, Vernon còn luôn
luôn tỏ vẻ háu ăn và không bao giờ chịu thỏa mãn.
Người hầu bàn đặt trước mặt chúng tôi các đĩa cá hồi xông
khói.
Tôi hỏi Harkness:
- Chuyện bạo hành như thế nào?
Harkness cười mỉm:
- Một trong những nhân viên xuất sắc của hãng chúng tôi,
trong cơn bức xúc đã gắn quả đấm vào mồm Vernon. Hắn kiện ngay lập tức và để
yên chuyện, chúng tôi phải rót cho hắn năm nghìn đô la, đồng thời mất luôn anh
nhân viên tiếp thị.
- Có cách nào để giữ cho Vernon bớt khó chịu không?
- Hắn không bao giờ bước chân tới hãng. Khi muốn nói chuyện
công việc, hắn luôn luôn cho chúng tôi cái hẹn ở một trong những nhà hàng loại
sang và đắt nhất của thành phố, mà hắn không bao giờ chi trả tiền ăn uổng. Tớ ước
tính đã thâm hụt hơn bốn chục đô la trong vòng mười tháng để vỗ béo cho cái thứ
rác rưởi này.
Chúng tôi ăn trong vài phút và tôi đã suy nghĩ về những điều
vừa được nghe:
- Còn Vidal, cậu đã phăng được gì nơi lão?
- Hoàn toàn không nắm được. Chỉ biết sơ sài lão có ngôi biệt
thự thuộc loại sấm sét trong khu Paradise Largo, sử dụng một du thuyền cao tốc,
một chiếc Rolls hiện đại mui trần, một cô vợ người mẫu xinh đẹp và một núi tiền
trong các ngân hàng. Tớ khó hình dung Henry Vidal thuộc nhân vật tầm cỡ thế
nào. Lão chỉ giao thiệp với giới thượng lưu. Vernon chỉ lui tới những chỗ bình
thường trong khu vực của lão.
- Vidal tạo lập tài sản bằng cách nào?
Harkness ăn hết đĩa cá hồi, ngồi dựa lưng vào ghế, thở phào
khoan khoái:
- Bằng cách tung người theo mọi nhu cầu.
- Cách làm ăn quái quỷ gì thế?
- Lão có dưới trướng khoảng trên trăm mạng, được chọn lọc theo
khả năng từng ngành nghề. Những gã này lùng sục khắp nơi, trong và ngoài nước.
Có thể nói như hình thái vệ tinh chân rết và điều này giải thích tại sao con số
tài khoản của lão trong các ngân hàng cứ tăng lên sau các chuyến du lịch như thế.
Theo lời người ta mách tớ, phân nửa số gã này rong tìm những người có nhu cầu
bán bất cứ thứ gì: đường, cà phê, kim loại kền, sắt thép, dầu hỏa, tàu thuyền
v.v... Phân nửa số gã kia đi thăm dò nhũng ai có nhu cầu mua những thứ này. Sau
đó, nhờ nắm bắt kịp thời những thông tin qua mạng lưới nhạy bén, Vidal nghiên cứu
phối hợp giữa cung với cầu và thu được nguồn hoa hồng đáng kể. Vidal đã đề ra
phương pháp ít tốn kém qua việc nắm bắt được thị trường mua bán, nên cuộc sống
của lão sung mãn. Vừa rồi, tớ có đọc bài báo loan tin Lybie đã mua được nhiều
chiếc tàu bọc sắt phế thải của Anh quốc. Tớ cược Vidal đã thương lượng vụ này với
gã ít ra nhiều triệu đô la.
Tôi giật mình, kích động:
- Dyer đòi tớ một bảng thời gian biểu các chuyến bay đi...
Harkness đưa tay ngăn lại:
- Khoan nói, để tớ thử đoán: Tokyo, Johannesburg và Hong
Kong, đúng không?
Tôi kinh ngạc, nhìn hắn:
- Chính xác... làm ơn tiếp nữa đi.
- Lo lắng đầu tiên của Vernon muốn biết cậu sẽ thực hiện việc
này như thế nào và sẽ trả cho hắn bao nhiêu. Lấy trường hợp của tớ làm bằng chứng,
tớ đã cung cấp cho hắn một bảng thời gian biểu nào đó vô hiệu dụng. Do đó, một
khi có những công việc quan trọng cần trao đổi, hắn luôn luôn đút một cái hẹn tại
nhà hàng. Cậu đừng mong chờ hắn sẽ trả tiền cho những bữa ăn hẹn hò kiểu này.
- Thế thì tiền nong như thế nào?
- Cậu đừng lo điều này. Vidal lúc nào cũng trả đủ.
- Cậu có tham khảo không?
- Hẳn rồi, ba ngân hàng và các nhân viên hối đoái... Một tuýp
người hoàn toàn vô hại. Nếu cậu muốn, tớ sẽ cho xem các bảng nhiếp sao.
- Vâng, làm ơn giúp giùm...
Hầu bàn mang đến món bít tết.
- Thôi nào, chúng ta thông qua chuyện này. - Harkness đề nghị.
- Nhìn miếng bít tết tớ lại thấy đói.
Chúng tôi cùng ăn trong một lúc, hắn nói tiếp:
- Hôm nào rảnh, chúng ta làm một ván golf, Clay?
- Được thôi, nếu cậu muốn không còn manh giáp. Ngày nào, chủ
nhật này được không?
- Tại sao không? - Hắn cười rân, rồi ước định. - Chúng ta nên
bắt đầu từ sáng sớm, lúc chín giờ nhé?
Ngày chủ nhật, Rhoda không bao giờ dậy trước hai mươi giờ.
Ngày nghỉ, quán ăn không mở cửa và Rhoda không biết làm bếp
cũng chẳng muốn tập tành, nên tôi thường tự dọn cho mình mẩu bánh nhân thịt.
- Khi cậu muốn có những thông tin khác về Vidal hãy điện cho
tớ. - Harkness nói và bước vào trong, rồi nhìn tôi khẽ lắc đầu. - Clay, tớ
thành thật rất tiếc cho cậu...
Hắn đi khuất, để lại trong tôi niềm lo lắng mơ hồ.
Chương 2
Trở về văn phòng, tôi điện đến Humphrey Massingham giám đốc
khu vực hãng đại lý American Travel Service đặt tại Miami. Ông nhấc ống nghe và
tôi thông báo về việc Vidal.
- Đấy là một khách hàng tôi đã để mắt từ lâu, Clay! - Ông
nói, giọng kích động. - Tôi không hề nghĩ lão ấy có thể buông rơi American
Express một cách dễ dàng.
- Trái lại, Harkness rất mừng khi thấy lão ra đi. - Tôi góp
ý. - Liệu chúng ta có gặp mắc mưu lão không?
- Hai trăm nghìn đô la, con số khá to mà tôi chưa thể hình
dung ra. Cuối cùng được một nguồn hàng như thế, thì ta có thể chấp nhận hàng khối
chuyện phiền muộn, nếu có.
- Cứ nói thẳng ra rằng, tôi còn chịu đựng nhiều hơn cũng chẳng
sao.
Massingham bật cười:
- Đây là công việc, Clay ạ. - Ông ung dung nói. - Nhưng có yểm
trợ. Trước mắt, anh nên làm tốt số tài khoản của Vidal, về sau, tôi sẽ tìm một
ai đó, vì Vidal là một khách sộp, dĩ nhiên ta phải tăng cường nhân sự để làm việc.
- Đừng lạc quan, thưa ông.
Tôi đưa ra những yêu sách của Vidal, đồng thời thuật lại những
lời cảnh báo của Harkness. Điều này đã hạ bớt phần nào sự háo hức của
Massingham:
- Tốt hơn nên chờ anh giải quyết chuyện này ra sao đã. - Ông
vẫn kiên trì. - Vả lại, anh chưa biết Vidal sẽ đòi những điều kiện gì.
- Năm phần trăm là con số giới hạn của chúng ta. Cứ làm thế
đi, Clay.
- Tôi dang chờ lão đánh lá bài đầu tiên. Trong khi chờ đợi,
chúng ta nên kiểm tra lại các bảng tham khảo.
- Chắc chắn, nhưng Vidal là nhân vật khá nặng cân. Tôi tin rằng
về mặt này, chẳng có vấn đề gì hệ trọng đâu. Các mẫu tham khảo nơi các chủ ngân
hàng chắc gì họ đã nói hết.
Sau một lúc im lặng, cuối cùng ông hỏi:
- Anh còn lo ngại điều gì chứ?
- Tôi đang thắc mắc, tại sao Harkness bảo rằng hắn tội nghiệp
cho chúng ta và Dyer không có cảm tình với tôi?
- Chuyện này không có nghĩa Dyer sẽ bòn rút tiền của chúng
ta. Anh hãy tin nơi tôi!
Massingham kết luận, rồi gác máy.
Trong khi tôi đặt ống nói xuống thì Sue mang cho tôi bảng định
giá công việc và bảng liệt kê giờ khắc các chuyến bay theo đòi hỏi của Dyer.
Chúng tôi kiểm tra lại và theo thường lệ, tôi không có gì để chê trách trong việc
làm của nàng.
Sau khi khen ngợi, tôi đọc cho nàng đánh máy thư thông báo gởi
Dyer, rằng chúng tôi đang lo các thủ tục cần thiết để mở một trương mục trong
ngân hàng và sẽ thông báo tiếp cho hắn biết sau.
Tôi căn dặn Sue:
- Gởi các thứ này ngay đến bưu điện để chứng minh cho hắn thấy
rằng chúng ta rất nhiệt tình trong công việc.
Phần còn lại của buổi làm việc, chúng tôi giải quyết các việc
tồn đọng. Mãi gần đến giờ nghỉ, các khách hàng mới để chúng tôi được yên. Mười
tám giờ, Sue trở về nhà, và tôi đi rước Rhoda ở cửa hiệu Trendie. Nàng đã nghỉ
bán nhưng tôi vẫn phải lượn lờ trước cửa hiệu, đến khi nàng bước ra.
- Chúa ơi, đôi chân của em, - nàng rên rỉ trên đường ra chỗ đỗ
xe, - anh được may mắn ngồi suốt ngày, trong khi em không được một phút nghỉ
ngơi.
Tôi không muốn nhắc, nàng đã ngồi thảnh thơi đọc báo lúc tôi
đến cho biết sẽ không cùng đi ăn tôi. Tôi không có thói quen than vãn, còn nàng
thì không lúc này cũng lúc khác, luôn tìm cớ để ca cẩm.
- Tối nay em có muốn đi xem chiếu phim không? - Tôi hỏi, lúc
hai người vào trong xe.
- Chẳng có gì hay ho. - Nàng vừa ngồi xuống đã vội tháo giày
ra. - Thời tiết này khiến em phát điên. Trời ơi, làm ơn mở máy lạnh ngay.
Tôi tuân theo, vào mùa này thời tiết thật khó chịu, nhưng còn
đỡ hơn ở Miami.
- Em có nghe nói về ông Henry Vidal nào đấy không? - Tôi hỏi,
lúc lái xe về nhà.
Nàng thờ ơ đáp:
- Hôm qua bà ấy có đến cửa hiệu, mua dây thắt lưng và quần
dài.
- Bà ấy như thế nào?
Rhoda liếc nhìn tôi:
- Tại sao anh quan tâm đến bà ấy thế?
- Ông Vidal vừa mở ở chỗ anh một trương mục trị giá hai trăm
nghìn đô la.
- Chúa ơi, anh giàu to rồi! - Rhoda thường bị kích động trước
hơi hám đồng tiền.
- Lão ấy, chứ không phải anh. Bà Vidal đi với chồng à?
Rhoda đáp, vẻ khinh thường:
- Không, mụ chỉ đến một mình.
- Bà ấy như thế nào? - Tôi lặp lại câu hỏi.
Lần này nàng khịt mũi, xì hơi. Tôi không ngạc nhiên về thái độ
này, Rhoda không hề công nhận người đàn bà nào đẹp hơn mình.
- Không tệ, nếu đàn ông ưa thích thứ lẳng lơ, cao ráo, tóc
nâu. Mụ biết cách ăn mặc đấy và đây là một đặc ân cho mụ.
- Bà ấy trông dễ mến chứ?
- Nếu không phần nào như anh muốn nói, thì khi mụ ấy cũng như
những thứ đỏm dáng khác mang xác đến, đã làm em điên tiết lên rồi.
- Bà ấy trả tiền mặt à?
- Không, bằng chi phiếu.
- Khi ký chi phiếu, bà ấy có tặc lưỡi hít hà không?
- Trời ơi, anh hỏi nhiều chuyện vớ vẩn đó để làm gì? Em có cả
khối chuyện phải làm. Làm ơn nhanh lên, Clay. Em còn phải tắm gội.
Một tiếng đồng hồ sau, Rhoda trườn dài trên ban công, phía dưới
có con kênh nhỏ, tay này ly rượu tay kia tờ tạp chí. Còn tôi, sau khi từ phòng
tắm bước ra, tôi rót cho mình cốc whisky pha nước khoáng, rồi đến ngồi cạnh
nàng. Tôi biết trước giờ xuống quán dùng bữa ăn tối, tôi không thể cạy nàng lấy
một lời. Tôi rất muốn được nghe nàng nói nhiều về Vidal và cả Vernon Dyer,
nhưng vô ích thôi. Nàng không quan tâm bất cứ việc gì, ngoại trừ những tạp chí
thời trang và mua sắm áo dài.
Ngồi đối diện với Rhoda, tôi phát hiện nàng hoàn toàn khác biệt
với Valérie.
Valérie rất quan tâm tới những công việc của tôi. Nàng thông
minh, tế nhị thường bàn luận những vấn đề hệ trọng của tôi, rồi đưa ra những lời
khuyên hữu ích.
Valérie!
Gần sáu năm trước, tôi làm giám đốc của American Travel
Servicesở Statler Hilton của thành phố Boston. Người tiền nhiệm của tôi là Roy
Cannon được cử phụ trách một căn phòng ở New York, đã đến chờ tôi tại sân bay.
Chúng tôi nâng cốc và Cannon cho biết:
- Điều luyến tiếc duy nhất của tôi ở Boston là đã để mất cô
thư ký xuất sắc mà tôi không bao giờ có được và anh sẽ có cái tài năng đáng giá
này trong nay mai. Có thể nói trong quá trình làm việc chung, tôi không bao giờ
nghe cô ấy than phiền gì về tiền nong, giờ giấc hoặc công việc làm. Trái lại,
nàng luôn tỏ ra tươi vui quyến rũ, trí nhớ nhạy bén trong mọi tình huống để
giúp anh giải quyết các khó khăn.
Lúc đầu tôi không tin vào những lời tán dương này, nhưng ngay
sau đó, tôi nhận thấy Cannon hoàn toàn không nói ngoa. Valérie Dart có đầy đủ đức
tính của một người phụ nữ tài năng đảm đang và trung thực. Cao ráo mảnh dẻ, tóc
nâu, mắt xanh màu lục bảo, thân hình nở nang cân đối hài hòa, nàng là hiện thân
của sự phối hợp tuyệt vời giữa sắc đẹp và trí tuệ.
Chỉ vài ngày thôi, tôi đã say mê nàng. Nhưng dù nàng có cử chỉ
và thái độ thân mật, nhưng vẻ lạnh lùng trong ánh mắt nàng cảnh báo tôi phải dè
chừng. Chúng tôi làm việc chung từ chín giờ sáng đến mười sáu giờ chiều. Điều
này cho thấy chúng tôi được thường trực bên nhau hơn cả thời gian một ngày của
đôi vợ chồng. Nàng có một chiếc xe riêng, mỗi chiều hết giờ làm việc nàng phóng
xe như bay, trước khi không quên vẫy tay chào từ giã tôi. Vào những giờ rỗi việc,
nàng không hề cho tôi biết nàng đã làm những gì, quen biết những ai và thích đi
chơi ở đâu. Thế nên, tôi mù tịt về đời tư và nếp sống của nàng. Đã thế nàng
luôn luôn tránh né và giữ kẽ, điều đó tạo nên một khoảng trống cách biệt giữa
nàng và tôi.
Một hôm, tôi đánh bạo mời nàng đi ăn tối. Nàng tỏ ra ngạc
nhiên, nhưng nói:
- Chà, cám ơn lắm, chuyện này thật thú vị.
Tôi đưa nàng đến một nhà hàng khiêu vũ có bán thức ăn hải sản
nổi tiếng. Khi ăn cũng như lúc khiêu vũ, nàng đều tỏ vẻ dè dặt, nhưng tôi đã thể
hiện được phong cách thanh nhã và lịch thiệp. Sau đó cứ mỗi tối thứ sáu, chúng
tôi cùng đi ăn nhưng khi tôi mời đi xem chiếu phim thì nàng lịch sự từ chối.
Dần dần hình dáng nàng thấm đẫm vào tôi như có vi khuẩn ở
trong máu. Tôi cảm nhận rằng từ đây khó có người đàn bà nào có thể thay thế
tình yêu của nàng trong trái tim tôi.
Nàng đã là người đàn bà duy nhất và cho dù tôi sẽ phải đợi chờ
vô tận thì nàng vẫn là người đàn bà duy nhất của tôi.
Tôi lái xe thật chậm để trao cho nàng bó hoa và những hộp kẹo.
Để tìm một cái cớ tôi nói dối rằng đây là một hình thức để thể hiện sự biết ơn,
xin nàng giúp tôi cầm hộ.
Rồi vào một tối thứ sáu, sau ba tháng kể từ ngày tôi tới
Boston, trong lúc chúng tôi khiêu vũ, tôi không còn dằn nén được nữa.
- Valérie, - tôi nói, - anh yêu em. Anh ngỡ rằng em đã đoán
được điều này. Em bằng lòng cưới anh không? Đây là điều mơ ước nhất trong đời
anh. Anh khẳng định chúng ta sẽ hạnh phúc.
Nàng gối đầu lên vai tôi để che khuất khuôn mặt và chúng tôi
tiếp tục khiêu vũ trong nhiều phút nữa. Thế rồi nàng ngước lên nhìn tôi và mỉm
cười. Nụ cười ấy làm tôi muốn vỡ lồng ngực vì vui mừng.
- Vâng, Clay ạ, anh cứ hy vọng, nhưng em chưa muốn lập gia
đình.
Tôi đưa nàng bước ra ngoài tiệm ăn, đến dưới ánh trăng soi tỏa.
- Em muốn nói rằng anh hãy kỳ vọng vào em, chứ gì?
Tôi không thể tin được điều đó ở nàng.
- Anh nên tin em. - Nàng nói và hôn vào má tôi. - Nhưng em
chưa vội vàng gì cả. Chúng ta nên tìm hiểu nhau thêm một thời gian nữa. Khi em
lấy anh, em muốn lo toan các việc trong cuộc sống của anh. Nhưng em muốn ở lại
hãng này. Em khuyên anh nên kiên nhẫn.
Sáng hôm sau, tôi nhận được diện thoại ở hãng du lịch trung
ương, phó giám đốc John Ryner muốn gặp tôi. Ông ấy yêu cầu tôi có thể để
Valérie lo công việc trọn buổi sáng. Hôm ấy là ngày thứ bảy mà tôi thì phải
đóng cửa vào lúc mười bảy giờ, nên tôi vội lên phi cơ đi New York.
Ryner tiếp tôi rất nồng hậu. Ông đi ngay vào công việc:
- Clay, tôi nghĩ anh để mắt xem chuyện gì đang diễn ra ở châu
Âu. Chúng tôi đã xếp đặt để anh đến chi nhánh của chúng ta ở London trong sáu
tháng và sáu tháng tiếp theo ở chi nhánh Paris. Hãy nhân dịp này trau dồi tiếng
Pháp ở Paris.
Càng lúc người ta càng lui tới vương quốc Anh và nước Pháp,
anh phải thăm dò tin tức để biết các khả năng của họ dưới dạng hiện tại. Tôi đặt
Bill Olson vào chỗ của anh ở Statler Hilton, nhưng khi trở về anh sẽ nhận lại
công việc với mức lương được tăng lên một nghìn năm trăm đô.
- Khi nào anh lên đường?
Tôi làm nhanh bài tính nhẩm, thật đau lòng phải xa cách
Valérie nhưng nàng có cho tôi biết rằng muốn có thời gian để suy nghĩ trước khi
cưới và tôi biết rằng nàng sẽ không thay đổi ý kiến. Với mức lương tăng một
nghìn năm trăm đô la, chúng tôi sẽ có một cuộc sống thoải mái, tiện nghi.
Do đó, tôi không do dự:
- Ngày và giờ xin tùy ông ấn định.
- Ngày thứ ba, được chứ?
- Vâng, thưa được.
Gấp đấy, nhưng tôi nghĩ đi càng sớm, tôi sẽ dược về sớm.
Ryner rất hài lòng:
- Thế thì hay lắm. Olson sẽ có mặt vào ngày thứ hai và cô
Dart sẽ chỉ dẫn công việc cho hắn. Cô ấy tháo vát lắm, phải không? - Lão hỏi và
nhìn tôi.
- Một cô thư ký xuất sắc, khó tìm được người thứ hai.
Tôi nghĩ thầm, rồi đây lão sẽ phản ứng như thế nào khi được
tin Valérie về sống với tôi.
Trước khi rời New York, tôi gọi điện nói chuyện với Valérie
trước giờ nàng về nhà:
- Anh sẽ trở về Boston lúc mười sáu giờ Valérie. - Tôi thông
báo. - Anh cần nói chuyện với em. Có thể chờ anh ở sân bay, được không?
- Tất nhiên được, Clay.
Một giờ trước khi lên phi cơ, tôi tranh thủ đến khu bán vàng
bạc đá quý mua một cặp nhẫn cưới: một ngọc bích và một kim cương. Tôi cho gói cẩn
thận vào chiếc hộp đựng quà cưới, rồi ngồi taxi lên phi trường.
Valérie đã đúng hẹn và đang chờ tôi.
- Có chuyện gì thế, Clay? - Nàng hỏi, trong lúc chúng tôi đi
bộ đến bãi đất đỗ chiếc Volkswagen của nàng.
- Tin rất tốt. - Tôi đáp và nhìn nàng, cười mỉm. - Chờ đến quảng
trường Franklin, em sẽ được biết. Còn bây giờ, hãy kể anh nghe buổi sáng của
em, nó như thế nào?
Biết tôi chưa muốn tiết lộ nên nàng vừa lái xe vừa thuật tôi
nghe những việc nàng đã giải quyết trong buổi sáng. Nàng cho biết có cặp vợ chồng
đã đứng tuổi quyết định làm chuyến du lịch thế giới. Sau khi trở về họ vẫn chưa
tìm được điểm chung để tiếp tục sống với nhau. Câu chuyện đã làm tôi cảm thấy
phần nào mất hy vọng.
Chúng tôi dừng xe và sau khi băng qua khu đất đầy ngập hoa hồng,
chúng tôi chọn một ghế đá bỏ trống và ngồi xuống dưới ánh chiều tà đang le lói.
Tôi bắt đầu thuật nàng nghe các sáng kiến đề nghị của ông phó giám đốc John
Ryner, rồi kết luận:
- Anh rất khổ tâm vì phải xa em, Valérie. Nhưng đây là thời
điểm đủ để em suy nghĩ và qua một năm anh trở về, sẽ được nghe em cho biết đã
quyết định lấy anh. Lý do duy nhất thúc đẩy anh ra đi là được tăng lương. Với số
tiền một nghìn năm trăm đô la, cuộc sống của chúng ta sẽ ổn định và thoải mái
biết bao.
Nàng nhìn tôi, buông một câu thăm dò:
- Anh sẽ mất em, Clay!
Tôi không đáp, lặng lẽ trao cho nàng chiếc hộp đựng sính lễ.
Sau khi bóc lớp giây gói bên ngoài và mở chiếc hộp ra, nàng bật một tiếng hoảng
sợ:
- Em không thể nhận, Clay. Nó ràng buộc em lời giao kết bền
lâu, mà hiện em chưa nghĩ đến. - Nàng khoác tay và trao lại tôi chiếc hộp. - Em
cảm kích cử chỉ của anh vô cùng, nhưng trong một năm không ai đoán được điều gì
sẽ xảy ra. Vâng, em ghi nhận tình yêu của anh đối với em, nhưng em muốn nó phải
khẳng định chắc chắn. Hơn nữa, em không muốn bị ràng buộc.
Tôi không tuyệt vọng:
- Em sẽ không bị ràng buộc gì cả, Valérie. Hãy mang chiếc nhẫn
vào ngón tay phải của em, để chiều lòng anh. Khi có quyết định dứt khoát, em sẽ
chuyển nó sang ngón tay trái. Em có phản đối không?
- Đây là vật kỷ niệm tuyệt đẹp, rất đáng tôn trọng. - Sau khi
quan sát một chập, nàng lấy chiếc nhẫn ra khỏi hộp, rồi đeo nó vào ngón áp út
nơi bàn tay phải của mình. - Đây này... anh bằng lòng chưa?
Nàng nhoài người vào tôi và chúng tôi trao nhau nụ hôn.
- Và bây giờ em xin mời anh về nhà để được hân hạnh phục vụ
anh bữa ăn tối. - Nàng vui vẻ nói tiếp. - Em muốn được chứng tỏ với anh một điều:
Valérie là cô thư ký giỏi, đồng thời là người nấu ăn giỏi!
Chúng tôi vào thành phố. Trên đường về nàng mua những thứ
dành cho bữa ăn, rồi lái xe đưa tôi về căn hộ của nàng. Căn phòng xinh xắn được
trang trí cho một phụ nữ độc thân, tỏa sáng sự tinh tươm sạch sẽ và biệt tài
làm bếp của nàng đã cho tôi thưởng thức một bữa ăn tuyệt vời.
Mãi đến khuya trước khi đứng dậy ra về, tôi ước hẹn sẽ cùng
nhau dành trọn ngày chủ nhật, tại bãi biển ở Salisbury. Từ đó, tất cả những
ngày nghỉ cuối cùng, chúng tôi được hoàn toàn hanh phúc bên nhau.
Ngày thứ ba, Bill Olson đến để bàn giao công việc và thay thế
tôi. Valérie để anh ta lại văn phòng, nàng đi theo tôi ra tận sân bay để từ
giã.
- Hãy chờ anh, em yêu. - Tôi cầm tay nàng và bịn rịn nói. -
Xa nhau chỉ một năm thôi, em ạ. Rồi thì hai ta sẽ mãi mãi bên nhau dưới mái ấm
gia đình.
Nhưng định mệnh cay nghiệt đã xoay hướng đổi chiều.
Từ phương xa tôi đều đặn biên thư về Valérie, nhưng nàng viện
dẫn chán viết, nên dần dà tôi không được biết tin tức về nàng.
Sau sáu tháng ở London, tôi được chuyển sang Paris. Tại đây
tôi tìm được một căn hộ, gần nơi làm việc, nên vội vàng biên thư thông báo cho
nàng địa chỉ mới của tôi. Chờ đợi suốt ba tuần lễ, không hề nhận lấy một lời
làm tôi bắt đầu lo âu sốt ruột. Chờ thêm tám ngày nữa, giữa lúc tôi quyết định
phải điện thoại cho nàng, thì đùng một cái tôi nhận được một bưu kiện gửi khẩn
cấp bảo đảm.
Vừa ngạc nhiên hồi hộp, tôi giở gói bưu kiện: một chiếc nhẫn
kèm theo tờ giấy mong manh chỉ có mấy dòng, hiện ngay trước mắt tôi.
"Clay thân mến,
Em đã vĩnh viễn rời khỏi Boston rồi. Rất tiếc phải làm anh
đau lòng, nhưng em buộc phải nói ra: em đã có người khác. Rồi đây, anh cũng sẽ
gặp ai đó thôi. Những chuyện thế này tuy bất chợt, nhưng chúng vẫn thường xuyên
xảy ra. Em cũng hối tiếc, Clay ạ. Xin tha thứ và hãy quên em.
Valérie".
Suốt nhiều tháng tôi sống trong chán chường, tuyệt vọng.
Ban ngày tôi làm việc quần quật như cái máy và đêm xuống tôi
uống rượu đến say khướt, nhưng không dễ dàng lãng quên hình bóng nàng và sự cô
đơn, bất hạnh. Cuối cùng, chấm dứt công việc ở nước ngoài, tôi trở lại Boston
và khi gặp mặt Olson, tôi đặt ngay câu hỏi tại sao Valérie ra đi.
- Tôi không có ý kiến nào về việc này, Clay. - Olson nói. -
Tôi cũng rất tiếc, nàng chỉ nói mình ra đi vì nhiều lý do hoàn toàn cá nhân.
Như anh biết đấy, bình thường nàng vẫn tỏ ra khác biệt với chúng ta rồi. Thế
nên tôi nghĩ mình không nên cương quyết giữ nàng lại.
Bốn năm trôi qua, niềm đau khổ của tôi không hề phai nhạt. Thế
nên tôi cưới Rhoda với kỳ vọng cuộc sống vợ chồng sẽ giúp tôi bớt nhớ thương
Valérie. Nhưng cuộc hôn nhân này không phải là giải pháp tốt, vì những lời lẽ
trong bức thư đã chấm dứt niềm vui và hạnh phúc của tôi sau những năm dài vẫn
làm con tim tôi rướm máu.
- Clay này!
Tôi giật nẩy. Hồi ức của quá khứ dạt dào đã làm tôi quên hẳn
đang có Rhoda bên cạnh.
- Em đói. - Nàng chuyển thế ngồi trên chiếc ghế, duỗi dài đôi
chân xinh đẹp. - Anh làm sao thế, như mèo bị mắc mưa ấy.
- Anh hoàn toàn chẳng có gì cả. Đi ăn thôi. - Tôi hững hờ đáp
lại.
Tôi chưa bao giờ nói với nàng về Valérie. Vả lại, nàng chẳng
hề hỏi tôi đã yêu người đàn bà nào trước nàng hay chưa. Nàng không yêu tôi đến
mức phải quan tâm đến quá khứ của tôi. Trong đầu nàng đã có quá nhiều việc bận
rộn rồi.
Chúng tôi xuống quán để ăn những món không thay đổi và khi trở
lên căn hộ, chúng tôi cũng không tránh khỏi những buổi tối nhàm chán trước màn
kính truyền hình, trước khi lên giường ngủ.
Sáng ngày hôm sau, lúc tôi đang ngồi đọc chồng thư tín thì
Humphrey Massingham gọi điện thoại tới:
- Tôi vừa nhận được một số thông tin về Henry Vidal đây. -
Lão thông báo, vẫn cái giọng không nồng nhiệt thường lệ. - Các chủ nhà băng
cũng như những nhân viên hối đoái, tất nhiên đều tung hô Vidal lên tận mây
xanh. Tôi không rõ chuyện dưới đây có nói lên điều gì không, nhưng hết sức lạ
lùng. Anh sẽ không thể đoán ra, bản thân Vidal chẳng có gì cả. Căn biệt thự đồ
sộ lão đang ở, luôn cả đồ đạc trong nhà đều là những thứ thuê mượn. Sáu chiếc
xe hòm, chiếc Rolls lộng lẫy, chiếc du thuyền tráng lệ, các máy thu hình hiện đại,
máy quay phim tối tân, kể cả máy điện toán IBM cũng đều là những thứ thuê bao cả.
Vòng vàng nữ trang của vợ lão là của nhà "Luce et Fremlin" được hoán
chuyển hàng tháng. Quỹ tín dụng mách cho tôi biết lão còn vay nợ thời hạn sáu
tháng, nhưng lão vẫn trả đều đặn. Anh có lời giải về mớ hổ lốn này không?
- Đấy là một kết luận thuận lợi nếu một ngày nào đó ông bất
ngờ lật bề trái tấm màn này. - Tôi đưa ra nhận xét.
- Chính xác là tôi cũng đang nghĩ như thế. Tôi có dọ ý Ryner,
một trong các giám đốc của American Express, ông ấy cho biết mọi người đều
bằng lòng mất mối hàng của Vidal vì lão đòi hỏi chiết khấu cao và những phiền
toái do lão gây ra. Nhưng về tiền bạc, lão đã tỏ ra luôn luôn đúng hạn. Theo dư
luận bên ngoài thì trước khi gõ cửa chúng ta, Vernon Dyer đã đến nhiều nơi,
nhưng đều bị đá đít. Lý do họ từ chối vì không mặn mà trong việc ứng trước tài
khoản trong thời hạn sáu tháng cho Vidal. Và đây là kết luận của Ryner nếu Dyer
chịu hạ con số năm phần trăm tiền chiết khấu, thì chúng ta sẽ chấp thuận, bằng
trái lại chúng ta sẽ từ chối.
- Chúng ta đồng ý trợ vốn sáu tháng cho hắn à?
- Tôi nghĩ phải thế thôi, cũng như các chủ nợ khác đều làm và
Dyer sẽ biết ơn chúng ta. Một là hắn chịu nhận những điều kiện của chúng ta,
hai là hắn không được chúng ta làm đại lý. Dường như chúng ta là hy vọng chót của
hắn.
- Nhất trí. Xin ông hãy để tôi lo việc này.
Khoảng hơn mười giờ rưỡi, Vernon Dyer nói chuyện qua diện thoại
với tôi:
- Tôi đã nhận được bảng định giá của anh. - Hắn nói hơi đay
nghiến. - Anh nghĩ gì trong đầu thế, định giở trò à? Cái giá mười phần trăm của
anh vượt trội hơn ở American Express.
- Cái bảng giá của họ đã có từ mười tám tháng trước và hiện
đã tăng lên rồi, ông Dyer ạ. - Tôi nói nhừa nhựa.
- Rồi đây chúng tôi cũng sẽ phải tăng. Những gì chúng tôi đã
gởi đến ông hiện giờ là thấp nhất đấy.
Im lặng một lát, Dyer nói tiếp nhưng giọng điệu bớt cộc cằn:
- Anh đã hoàn tất những thủ tục chưa?
- Đã, tài khoản đã ký gởi ngân hàng.
- Chúng tôi cần xem để thảo luận những điều kiện. Hãy đến tiệm
ăn "Le Coq d’Or" lúc mười ba giờ. Anh biết chỗ dấy chứ?
"Con gà trống vàng" là tiệm ăn đắt giá nhất ở
Paradise City. Chỉ gửi cái mũ vào chỗ giữ đồ đạc cho khách cũng đã mất một đô
la rưỡi.
- Cám ơn ông có nhã ý mời, Dyer. - Tôi đáp giọng thân thiện.
- Nhưng rất tiếc, tôi không có lệ đi ăn ở bên ngoài. Tôi sẵn sàng chờ ông ở
đây, vào giờ ông thấy thích hợp.
- Anh không đi ăn ở tiệm à? - Hắn lặp lại, giọng cáu kỉnh. -
Anh định nói gì thế?
- Tôi ăn qua loa ở bàn làm việc, thưa ông Dyer. Tôi bận rộn lắm,
không thể đi ra tiệm.
- Lạ thật, trong khi Harkness luôn luôn đi ăn với tôi.
- Tôi không cho phép mình được nhận cái đặc ân ấy. Mấy giờ
ông có thể đến chỗ tôi, ông Dyer?
Im lặng một lúc lâu, hắn lại kỳ kèo:
- Nhưng anh sẽ mất lịch sự khi từ chối đi ăn với tôi.
- Vấn đề lịch sự không phải ở đây, mà vì thời gian, ông Dyer.
Ông có thể bảo người khác nghe theo đòi hỏi của mình, còn tôi để được ông hài
lòng, tôi xin được dùng bữa tại nơi của tôi.
- Giỏi lắm! - Hắn hét ầm trong máy. - Thế thì chiều nay lúc
mười lăm giờ.
Hắn dập ống nghe vào máy và tôi nháy mắt, cười nhạo với Jue:
- Chấm dứt trò chèn ép ăn uống tốn kém với Vernon. - Tôi nói.
- Một khởi sự tốt.
Dyer đến muộn một tiếng đồng hồ.
Vì tôi đang tiếp khách, nên hắn phải chờ đợi và thỉnh thoảng
ném cái nhìn sấm sét vào tôi, rồi nóng nảy nhìn đồng hồ. Tôi giả vờ không nom
thấy, mãi khi người khách của tôi bước ra, tôi lịch sự làm một động tác mời hắn
vào.
- Rất tiếc để ông phải chờ, nhưng chúng ta có cái hẹn lúc mười
lăm giờ.
Hắn làu bàu gì đó nghe không rõ, rồi nhích ghế ngồi xuống:
- Tài khoản đó có rồi. - Hắn lên tiếng. - Tôi cho rằng anh đã
nói chuyện với Harkness.
- Vâng, tôi có nói với ông ấy.
- Thế thì hay lắm, chúng tôi làm việc với anh trên những điều
kiện cũng giống như với ông ấy. - Hắn nhìn chòng chọc vào tôi. - Anh đã biết những
điều kiện ấy rồi chứ?
- Tôi có biết, nhưng khổ nỗi chúng tôi không thể chấp thuận
được.
Hắn đanh cứng người:
- Anh định nói gì thế? Việc này đã quá béo bở với American
Express, thì nó cũng sẽ như thế ở chỗ của anh.
- Những điều kiện của ông đã quá cũ từ mười tám tháng nay rồi,
ông Dyer! Chúng tôi hiện nay buộc phải hạn chế thấp nhất các điều kiện của
khách hàng. Chúng tôi có thể trợ vốn cho quý ông trong thời hạn sáu tháng,
nhưng không có vấn đề chiết khấu trên mỗi dịch vụ về phía quý ông.
Hắn chồm tới trước, mặt đỏ như ớt chín, cặp mắt tóe lửa:
- Ông từ chối nguồn hàng của chúng tôi à?
- Tôi không nói như thế, thưa ông Dyer.
- Chính xác anh muốn nói gì? Hoặc anh chấp thuận những điều
kiện của chúng tôi như Ở American Express, hoặc anh chẳng được gì cả...
- Thế thì rất tiếc, tôi chính thức khước từ. - Tôi nói toẹt
vào mặt hắn. - Nếu ông tìm được một hãng đại lý nào khác dễ dàng chấp thuận những
điều kiện của ông, dĩ nhiên ông có thể rút số tài khoản để ủy thác cho chỗ ấy.
Hai tia lửa đỏ vẫn còn lắp lóe trong mắt, hắn ngã bật vào
lưng ghế dựa:
- Anh nói nghiêm túc đấy chứ? Đừng nói anh từ chối hai trăm
nghìn dô la trong các sinh hoạt dịch vụ chỉ vì một chiết khấu nhỏ nhoi năm phần
trăm.
- Trong khi đó, nó mang về cho ông mười nghìn đô la. Tôi rất
tiếc, ông Dyer, nhưng sự việc vẫn không thay đổi.
Hắn mím môi cay cú, nhưng giọng nói bớt thách thức:
- Anh dự định cho chúng tôi bao nhiêu?... Bốn phần trăm?
Tôi mỉm cười, biết hắn đã bị đưa vào tròng:
- Tôi rất tiếc, nhưng sẽ không có chiết khấu nào cả. Thôi thì
ông thử đến "Global" hoặc một đại lý khác ở Florida xem?
- Họ không làm nên tích sự gì cả.
Hắn tránh né, tôi biết hắn đã đến những nơi này và bị tự chối.
- Còn nhiều chỗ khác nữa, tôi sẽ nhờ cô Douglas chuyển đến
ông bảng danh sách có thể giúp ích nhiều cho ông.
Hắn im lặng một chốc, rồi cúi xuống ngắm nghía đôi bàn tay:
- Anh vẫn còn giữ lập trường cho chúng tôi vay trong sáu
tháng chứ?
- Rõ ràng.
- Thật lạ lùng khi anh từ chối mọi chiết khấu trong cuộc làm
ăn quan trọng thế này.
- Tôi lấy làm tiếc điều đó, thưa ông Dyer.
Hắn nhún vai, cố nặn một nụ cười:
- Được rồi, hãy giữ lại phần chiết khấu của anh.
- Vâng, theo như ông muốn, thưa ông Dyer.
Hắn lấy từ trong túi một chiếc hộp bằng vàng, mở nắp hộp chọn
một điếu đầu lọc, rồi châm quẹt:
- Thế còn tiền hoa hồng của tôi, anh trả bao nhiêu?
Tôi nhướng mày tỏ vẻ ngạc nhiên:
- Xin lỗi... hoa hồng gì ạ?
Mắt hắn tóe lửa:
- Ơ... anh cho rằng hãng của anh sẽ thu được một số lời to
tát đó, mà không đền đáp lại tôi một tí gì à?
- Ông liệu thế nào về việc này, ông Dyer?
Mắt hắn sáng lên:
- Tôi có thể nhận năm nghìn đô la... bằng tiền mặt, tất
nhiên.
Bố khỉ, - tôi nghĩ thầm - thằng ăn mảnh này đáng được đét
roi.
- Tôi sẽ nói lại yêu cầu này với giám đốc của tôi.
Mặt hắn lấm la lấm lét:
- Tôi nghĩ việc này hoàn toàn phải được giữ kín.
- Nhưng giám đốc của tôi nên có ý kiến. Thông thường, ông ấy
sẽ không chấp thuận. - Tôi mỉm cười đồng lõa. - Nhưng tôi nghĩ, nếu ai đó mở một
trương mục nơi hãng chúng tôi, thì người đó có quyền đòi hỏi tiền thù lao.
- Tôi quả quyết anh sẽ làm được việc này, vì dù sao tôi đã
mang đến cho anh nguồn lợi không nhỏ. Dĩ nhiên ông Vidal sẽ không hay biết gì cả.
- Chà, việc này hơi nhiêu khê đấy. Nếu được biết việc viên trợ
lý của ông Vidal đòi hỏi năm nghìn đô la tiền thù lao, vì đã ủy thác tài khoản
của ông chủ hắn, thì giám đốc của chúng tôi sẽ xin ông Vidal một sự chấp thuận.
Dyer tái mặt:
- Ý anh muốn nói rằng tôi sẽ chẳng được một teng?
- Không, ông sẽ được sự làm việc tận tụy của tôi, và đấy là
cái duy nhất sẽ có, ông Dyer.
Giờ thì ánh mắt của hắn đã biểu lộ sự căm ghét tôi tột điểm.
Bàn tay run run, hắn rút từ trong túi áo một phong bì dày cộm, rồi vất nó lên
bàn viết của tôi:
- Đây là những yêu sách dành cho anh, Burden. Cảnh cáo anh
tuyệt đối không được tắc trách, vì tôi sẽ không tha thứ bất cứ một việc làm chểnh
mảng nào của anh.
Hắn đứng lên, rời khỏi bàn viết của tôi, bước nhanh qua cô
thư ký Douglas, rồi đi thẳng xuống hành lang.
Tôi chậm rãi mở phong bì, liếc qua tờ đặt hàng, nó đòi hỏi:
sáu vé máy bay hạng nhất đi từ New York đến Tokyo, sáu phòng đặt trước trong một
khách sạn, thời gian mười bốn ngày, một xe con với tài xế thường trực. Tất cả
phải ưu tiên cho khách du lịch.
Tôi cho tờ đặt hàng trở vào phong bì, yêu cầu Jue gửi bảo đảm
đến Miami, rồi gọi điện cho Massingham. Tôi tường trình đầy đủ buổi tiếp xúc giữa
Vernon Dyer và tôi.
- Hoan nghênh, Clay! Anh không thể nào làm hay hơn thế. - Ông
cười ầm lên. - Tôi sẽ thuật lại chuyện này cho Ryner. Vâng, ngay khi nhận được
tờ đặt hàng, chúng tôi sẽ lo các chuyến bay tới Tokyo. Đừng nói gì cả với
Harkness, giữ kín đấy.
Nhưng tôi không giữ kín với Jue.
Trên đoạn đường rước Rhoda trở về nhà, tôi rất muốn thuật lại
cho nàng thành quả bước đầu của mình, nhưng tôi biết nàng sẽ không quan tâm.
Nàng chỉ biết ca cẩm về đôi chân của nàng.
Trái lại, với Valérie nếu được tôi kể chuyện này, nấng sẽ
chăm chú lắng nghe và vui sướng cùng đi ăn mừng.
Vết thương lòng của tôi lại nhức nhối.
Chương 4
Thời gian biểu đến Tokyo, các vé máy bay, phiếu đặt phòng trước
tại khách sạn đã tới qua đường bưu điện vào buổi sáng. Lúc mười giờ, tôi điện
thoại cho Dyer tại địa chỉ của Vidal. Hắn trả lời, sau khi để tôi phải chờ một
lúc.
- Tôi đã có những gì liên quan đến các chuyến bay tới Tokyo.
- Tôi thông báo. - Ông có muốn tôi chuyển nó qua bưu điện, hay ông sẽ đích thân
đến nhận?
- Anh phải đích thân mang nó đến! - Hắn trả lời cộc lốc. -
Tôi có nhiều vấn đề khác để thảo luận với anh. Từ đây về sau, tôi sẽ không mất
thời gian để nói tào lao tại phòng giấy của anh.
Sau mấy lời này, hắn đột ngột dập ống nói.
Tôi không ngạc nhiên trước phản ứng ấy, nó là một phần trong
sự trả thù vặt vãnh. Bây giờ đến lượt hắn bắt buộc tôi phải chờ đợi. Tôi ra khỏi
bàn viết để hội ý với Sue.
- Nếu khách hàng đến không quá đông, em có thể sẽ tự lo liệu.
- Nàng nói.
- Nhưng họ sẽ kéo đến tấp nập và tôi không muốn có sự khiếu nại.
Hơn nữa ông chủ khách sạn ở đây rất tốt với chúng ta, để tôi gọi điện thoại nói
chuyện với Massingham.
Massingham đã nắm được ngay tình huống:
- Anh còn nhớ Bill Olson, nhân viên ở Boston chứ? - Ông hỏi
tôi. - Hắn vừa đến Florida để làm quen công việc ở đấy. Tôi sẽ gửi hắn đến chỗ
của anh. Hắn sẽ rất ăn cánh với tôi cũng như với anh. Hắn sẽ đến anh trong vòng
một giờ đồng hồ nữa.
Tôi giật mình, vì đã lâu không gặp Olson kể từ khi Valérie rời
Boston một cách khó hiểu. Nghe đến tên hắn, những kỷ niệm xưa đã bùng dậy trong
tôi.
Tôi thông báo Jue biết quyết định này:
- Kê một chiếc bàn nữa. - Tôi ra lệnh. - Nếu em chịu khó đẩy
chiếc bàn sang bên trái, chúng ta sẽ còn chỗ.
Nàng gật đầu, đồng ý:
- Em sẽ lo ngay. - Nàng vừa đáp vừa đưa tay đến điện thoại.
Cầm xấp giấy tờ trong tay, tôi rời văn phòng và bước thẳng tới
bãi đỗ xe. Trên đường đi, tôi đứng lại và liếc vào tiệm "Trendie".
Rhoda đang ngồi trên chiếc ghế cao, nhìn vào tờ tạp chí.
- Coi chừng, cưng ơi. - Tôi nói to. - Nếu em cứ tự lặm mệt
như thế, không khéo sẽ bị đau đôi chân đấy.
Nàng ngẩng mặt lên, đưa cặp mắt trống rỗng vào tôi:
- Cái gì?
- Chẳng có gì sất. Có lẽ anh không trở lại để cùng ăn trưa, đừng
chờ. Anh đi gặp ông Henry Vidal.
- Chà, làm ăn lớn, đúng không? - Nàng hỏi, rồi cúi đầu xuống
tiếp tục đọc báo.
Paradise Largo là một eo đất nối liền hai xa lộ E1 và A1. Con
đường dẫn vào Largo được bảo vệ bằng một nhà gác và một hàng rào điện tử. Không
một ai, ý tôi muốn nói bất cứ người nào, muốn bước vào mà không xuất trình giấy
chứng minh và lý do thăm viếng.
Nằm bên trong những hàng đậu đơm hoa rực rỡ cao khoảng một
mét và những cánh cổng bằng gỗ sồi lỗ chỗ đinh đồng, hiện lên ba hoặc bốn mươi
dinh thự lộng lẫy của các nhà tỷ phú kếch xù ở Florida.
Tôi đỗ chiếc Plymouth trước căn nhà gác và gã bảo vệ mặc đồng
phục xanh đang ngồi bên trong ném cho tôi cái nhìn soi mói.
Tôi đứng trước gã và tự giới thiệu:
- Tôi là Clay Burden, muốn vào gặp Vernon Dyer ở chỗ ngài
Henry Vidal. Ông Dyer đang chờ tôi.
- Giấy phép lái xe của ông. - Hắn nói.
Tôi xuất trình và sau khi xem qua, hắn trả lại tôi rồi với
tay nhấc điện thoại. Lúc sau, hắn ấn vào một cái nút và cổng rào điện tử từ từ
cất lên, rồi làm hiệu cho xe tôi vào:
- Cánh cổng thứ tư, bên trái.
Tôi khởi động máy, cho chiếc Plymouth tiến vào một lối đi rộng
trải cát, rẽ qua trái và đến trước một cổng rào sắt cao khoảng mét rưỡi. Tại
đây một gã bảo vệ khác cũng đồng phục xanh, ấn nút điện cho cổng mở.
- Lái xe thẳng vào, ông Burden. Đỗ xe nơi bãi số bốn.
Tôi làm theo, đi vào con đường ngoằn ngoèo rợp bóng cây cọ,
hai bên trồng hoa mộc lan và nguyệt quế đỏ. Một sân cỏ cắt xén công phu và những
bụi hoa phẳng lì khoe sắc thắm dưới ánh mặt trời đã hiện ra, cho thấy ngôi biệt
thự một tầng kiến trúc Tây Ban Nha, phủ đầy hoa hồng và đỏ với một dãy hành
lang dài màu hổ phách uốn quanh. Thật là chốn lưu cư xa hoa tráng lệ và bề thế
nhất, biểu tượng của cao sang sung mãn.
Theo chỉ dẫn, tôi đỗ xe vào bãi số bốn, cạnh chiếc Rolls
Corniche và chiếc Lamborghini Espana. Nằm giữa hai anh chàng đẹp mã, chiếc
Plymouth của tôi như một mụ già nhà quê cằn cỗi.
Một người làm công da đen, quần vải xô dài đen riềng trắng,
áo vét đỏ sẫm, từ trong bóng râm bước ra, nhoẻn miệng cười, phô hàm răng trắng
phau:
- Ông Burden?
Tôi gật đầu.
- Làm ơn đi lối này, thưa ông.
Hắn hướng dẫn tôi dọc theo một lối đi, hai bên trồng hoa kết
thành một mái vòm như dải trắng đỏ rực, dài hừng hực tới một kiến trúc bằng gỗ
đàn hương đánh vecni trắng.
Hắn nói, trước khi biến đi:
- Cánh cửa thứ ba, thưa ông. Tôi đi thông báo ông Dyer.
Tôi bước vào một gian phòng rộng với chiếc bàn hình bầu dục ở
chính giữa, bên trên đầy ngập sách báo, tập san. Tám gã đàn ông béo, gầy, già
trẻ đủ cả, đều mặc những bộ complé đang ngồi chờ đợi trên những chiếc ghế bành,
các cặp da đặt trên đầu gối. Họ ném cho tôi những cái nhìn ngờ vực như vừa nhìn
thấy một địch thủ. Nhưng khi tôi ngồi vào một chiếc ghế, tất cả đều quay mặt đi
và đều giữ im lặng. Năm phút sau, giọng nói của một phụ nữ phát ra từ loa phóng
thanh vô hình.
- Ông Hedger, xin mời đến phòng số năm.
Một gã đàn ông cao lớn, có tuổi đứng lên và vội vã bước ra.
Nhiều phút chậm chạp trôi qua. Một gã đàn ông khác được gọi đến,
rồi đến lượt người khác. Trong phòng chỉ còn lại một gã hói và tôi.
"Giống như ở phòng nha khoa. Tôi nhận xét vừa thấy thêm
người thứ tư. Bà thực vậy, nhưng tôi thích chọn phòng trám răng hơn".
Hắn lấy khăn mùi xoa lên lau mặt đang nhễ nhại mồ hôi.
Nhìn vào đồng hồ tay, tôi đã ở đây được một tiếng mười phút.
Lần sau, nếu có lần sau, - tôi nghĩ thầm, - mình sẽ mang công việc theo để làm.
Gã hói được gọi. Hắn ta làm hiệu cho tôi bằng cái hất đầu và bước ra. Một giờ
ba mươi lăm phút sau, tên của tôi được xướng lên.
- Xin mời ông Burden hãy đến phòng số mười lăm.
Vernon Dyer ngự phía sau một chiếc bàn lớn, bên trên có ba
chiếc điện thoại, một máy thu âm, một máy nội đàm với ba mươi nút bấm. Một lọ
hoa, một đĩa lạc rang muối, ba cái gạt tàn bằng inox, một hộp đựng thuốc lá bằng
bạc và một cái hộp nhỏ đựng xì gà cũng có thể hắn vừa đọc cho người khác viết vừa
nhai đậu lạc.
- Anh đấy hả? - Hắn nói, giọng uể oải. - Ngồi xuống đi.
Tôi đặt trước mặt hắn một tấm giấy thẳng, chiếc phong bì đựng
bảng thời gian biểu, các vé máy bay, giấy giữ chỗ trước trong khách sạn và tôi
ngồi vào ghế. Hắn dành thời gian để xem các văn kiện. Dĩ nhiên hắn tìm cái cớ
gì đó để hạch học tôi. Bất thần hắn ngước đầu lên, cặp mày cau lại:
- Tại sao anh thuê các phòng nghỉ ở khách sạn Pacific Hotel?
- Hắn cật vấn. - Khách sạn có một khu vườn tuyệt đẹp, một phong cách phù tang hấp
dẫn, rất yên tĩnh hơn ở Imperial.
- Đặt cho họ ở đó ngay! Họ không có thời gian để thưởng ngoạn
miếng vườn và lo nghĩ tới sự hấp dẫn, trời ạ!
Tôi phát cáu nhưng giữ bình tĩnh:
- Chuyện nhỏ, thưa ông Dyer.
Hắn ném cho tôi cái nhìn sấm sét:
- Phải có cho tôi những chỗ đặt trước vào mười sáu giờ, không
được trễ một phút.
- Ông sẽ có ngay. Có thể lần sau ông nên chỉ cho tôi biết trước
những khách sạn nào ông tuyển chọn.
- Đây là bổn phận, ông phải chọn những chỗ tốt nhất.
- Theo tôi Magnifigne là tuyệt.
Mặt hắn đỏ sậm:
- Lấy những phòng ở Imperial. - Hắn vất lại tôi các giấy đặt
phòng rồi nhìn đồng hồ lúc này là mười ba giờ mười phút. - Trễ quá rồi, đúng
không? - Hắn ném cho tôi nụ cười châm chọc. - Tôi buộc phải mời anh trở lại
dây. Tôi sẽ hẹn với anh đi ăn. Hãy có mặt ở đấy lúc mười lăm giờ. Được chứ?
Tôi đứng lên:
- Tôi có cái hẹn vào giờ ấy, thưa ông Dyer. Tôi rất tiếc.
Hắn nghiêng chiếc đầu thăm dò nhìn tôi, mắt khép lại:
- Với một số tài khoản quan trọng đến thế, tôi chờ đợi được
đáp trả lại. Tôi muốn anh phải có mặt ở đấy lúc mười lăm giờ.
- Tôi xin lặp lại rằng, nếu chuyện này gấp gáp đến thế, tại
sao ông không đến văn phòng của chúng tôi, sau khi ông ăn xong?
Chúng tôi nhìn nhau chòng chọc. Hắn là người đầu tiên quay
nơi khác, mặt co rúm vì tức giận:
- Hừ, bởi vì tôi đã trễ thì có thể chịu đựng thêm một chút,
tôi sẽ cho anh những chỉ dẫn ngay. - Hắn rút trong ngăn kéo một phong bao dày cộm
và đưa qua tôi. - Xem đi, nếu có điều gì cần hỏi hãy điện thoại cho tôi vào
ngày mai. Đừng chọn phòng ở khách sạn trước khi hỏi ý kiến của tôi.
- Được. - Tôi nói trước khi ra cửa.
- A, tôi quên. Tôi muốn anh hoàn toàn không vướng bận công việc
trong năm ngày, kể từ ngày thứ ba.
- Hoàn toàn rảnh rỗi? - Tôi nhìn hắn và hỏi lại.
- Đấy là điều tôi muốn nói. Ông Vidal sẽ đi San Salvador có
bà Vidal đi theo. Trong khi ông Vidal bận rộn công việc, anh sẽ hộ tống bà
Vidal đi viếng thăm thành phố. Một xe lộng lẫy trang bị máy lạnh, một căn phòng
tiện nghi trong khách sạn. ông Vidal muốn hai vé du lịch hạng nhất của hãng
hàng không Intercontinental và một vé du lịch thông thường cho anh. Các chỉ dẫn
đều có trong phong bì.
Chương trình này sẽ thật sự là một trái khoái với những ước
muốn của tôi. Tôi tự biết mình sẽ làm một hướng dẫn viên tồi nhất, vì, chưa bao
giờ đặt chân tới San Salvador và hơn nữa không phải công việc của tôi.
- Tại San Salvador chúng tôi có một hãng đại lý sẽ lo việc
này cho bà Vidal.
- Ông Vidal không muốn như thế. - Dyer nói gằn giọng. - Ông ấy
không muốn một gã lai châu Mỹ la tinh hộ tống bà Vidal. Ông ấy muốn chính anh
làm việc này. Anh có phản đối gì không?
- Nếu vì món tài khoản quan trọng của ông Vidal, thì tôi
không phải là người duy nhất đặt trách nhiệm này. - Tôi phản bác. - Chúng tôi
phải xem lại nên làm thế nào. Tại Miami, hãng của chúng tôi có một hướng dẫn
viên du lịch xuất sắc sẽ cùng đi với bà Vidal!
- Tôi đã nói với ông Vidal rằng anh sẽ rất vui sướng được làm
tròn nhiệm vụ này. Thế thì anh chỉ còn mỗi việc là thi hành.
- Nếu tôi vắng mặt trong năm ngày, sẽ không có người để tuân
theo các chỉ dẫn của ông. - Tôi lưu ý hắn để tìm cớ khước từ.
- Anh đã có trong tay đầy đủ những chỉ dẫn của tôi vào tuần lễ
tới. - Hắn nói vẻ hết kiên nhẫn. - Sẽ không có công việc nào khác phải giải quyết
đến lúc anh trở về.
Tôi tự nhận rằng mình đã thất bại:
- Tôi sẽ xem lại điều gì có thể làm. - Tôi đáp và chấm dứt buổi
nói chuyện.
Tôi dừng xe trước nhà hàng Howard Johnson, gọi một đĩa tôm trộn
với rau cải tươi và một chai Coca. Trong lúc ăn, tôi đọc lướt qua những yêu cầu
hắn đưa ra. Chúng bao gồm một khối công việc đến choáng ngợp: đặt hai vé hạng
nhất trên phi cơ, chọn chỗ khách sạn cho mười người thăm viếng London trong
vòng một tuần lễ. Một chuyến đi cũng như thế cho năm người đến viếng Paris,
trong khi hai người khác muốn đi Moscou. Tất cả việc này phải được hoàn chỉnh.
Tôi sang qua phần chương trình của Vidal. Vợ chồng lão lên đường vào ngày thứ
hai, một chiếc xe gắn máy lạnh đón họ ở phi trường Ilopango và đưa họ về khách
sạn Intercontinental. Ngày thứ ba hôm sau, tôi sẽ đến gặp họ và đi theo bà
Vidal. Tôi được đặt dưới sự điều động của bà này trong suốt thời gian lưu ngụ ở
San Salvador. Chúng tôi sẽ trở về Paradise City vào ngày chủ nhật.
Tôi vòng xe chạy về văn phòng của hãng, nơi Bill Olson đang bắt
đầu làm việc. Sue và hắn đang bận rộn tiếp các khách hàng. Olson ngước đầu lên
nhìn tôi và mỉm cười. Hắn có phần già hơn từ khi chúng tôi gặp nhau lần chót. Hắn
cao khỏng, gầy đét, cương nghị, hắn có nụ cười cởi mở và dễ mến.
Không muốn quấy rầy hắn, tôi chỉ giơ tay chào rồi bước vào
phòng mình. Ở đây tôi điện thoại thông báo cho Massingham, cho lão biết có sự
thay đổi trong việc thuê khách sạn và yêu cầu lão gửi giấy đặt trước các phòng
nghỉ ở Imperial đến cho Dyer trước mười sáu giờ chiều, rồi tôi nói với lão về
chuyến đi đến San Salvador.
- Nếu Dyer không để chúng tôi yên trong lúc anh vắng mặt, thì
tôi nghĩ là anh nên đi Massingham. Đây cũng là một thay đổi nhỏ cho anh.
- Nhưng khổ nỗi, chẳng biết tí gì về nơi ấy thì nhất định tôi
sẽ là một hướng dẫn viên tồi.
- Gửi một điện báo đến hãng đại lý ở San Salvador, yêu cầu họ
chuyển cho anh một chương trình tham quan, đồng thời cung cấp một lái xe biết
hướng dẫn. Vidal sẽ đồng ý nhận hắn đi chung với anh, phải không?
- Chưa rõ, để tôi thử xem. Khi nhân viên văn thư của ông giữ
các giấy thuê phòng thì hắn sẽ phải đến đây. Tôi còn nhiều việc phải giải quyết
và cũng đang hối thúc bảng định giá.
Massingham nghiến răng và nguyền rủa:
- Bây giờ tôi mới hiểu tại sao American Express xem
hắn là thằng rác rưởi.
- Đấy là đơn đặt hàng đáng kể khiến ông phải quan tâm.
- Được, sáng mai anh sẽ có bảng định giá. - Ông hứa và gác
máy.
Tôi gửi một điện báo đến hãng đại lý du lịch ở San Salvador
và người ta cho biết mọi thứ sẽ sẵn sàng cùng với người lái xe hướng dẫn, khi
Vidal đến nơi.
Mãi đến mười bảy giờ bốn mươi phút, tôi ra khỏi phòng, bước tới
chào đón Olson. Chúng tôi siết tay nhau và hắn nở rộng nụ cười:
- Rất vui được gặp lại anh, Clay. - Hắn nói. - Lâu như vô tận
chúng ta không nhìn thấy nhau, phải không? Sáu năm.
- Gần như thế. Anh có được vài xếp đặt gì chưa, Bill? Đêm nay
anh ngủ ở đâu?
Olson liếc mắt sang Sue, cô này đang xếp lại trật tự trên bàn
làm việc:
- Cô gái này đã thuê giúp tôi một căn hộ có cả đồ đạc, ở đường
Biscayne Avenue.
- A, rất gần nơi tôi. Nghe này, Bill, chờ tôi xếp đặt giấy tờ
xong chúng ta sẽ về nhà tôi ăn tối. Tôi muốn giới thiệu anh Rhoda, vợ tôi.
- Hay quá, tôi chỉ còn hai việc để dứt điểm. Sau đó, tôi sẽ sẵn
sàng.
Rhoda trở nên sinh động và hoạt bát khi chúng tôi có khách viếng
thăm. Olson và nàng rất hợp nhau, tôi thấy anh tán dương sắc đẹp và phong cách
tao nhã của nàng. Lúc đứng pha chế Martini, tôi hơi chua chát nghĩ rằng anh ấy
sẽ cụt hứng thế nào khi suốt ngày nghỉ cuối tuần, nàng chỉ lượn lờ trong phòng
với chiếc quần jean bẩn thỉu và chiếc áo pull lem luốc dầu mỡ. Đã thế, nàng lười
biếng ngay cả vệ sinh cá nhân.
- Anh có gặp lại Valérie không, sau ngày nàng bỏ rơi chúng
ta? - Tôi hỏi Olson bằng giọng thờ ơ, trong khi rót rượu.
- Không, tôi chẳng được tin tức nào về nàng.
Rhoda đưa bàn tay tới đĩa đậu phọng rang:
- Valérie là ai thế? - Nàng hỏi giọng tò mò tọc mạch.
Olson bật cười:
- Hóa ra chồng của bà chưa nói bà nghe về Valérie Dart?
- Anh ấy không hề nói với tôi gì cả. - Rhoda bĩu môi, rồi nhận
ly rượu tôi trao. - Cô ấy có điểm nào đặc biệt không?
- Em nghĩ rằng tôi không bao giờ cho em biết. - Tôi đưa chiếc
ly cho Olson. - Nhưng trên thực tế, em đã không nghe điều gì anh nói.
- Đừng nói rằng anh đã kể em nghe về cô ấy, bởi vì em tin chắc
là không. - Nàng thét, giọng bực tức.
- Dù thế nào, cô ấy vẫn không đáng để em quan tâm. Cô ấy là
thư ký lúc anh còn làm việc ở Statler Hilton, trước khi anh quen biết em. - Tôi
nói, cố gắng giữ giọng tự nhiên. - Chúc sức khỏe Bill.
- Chà, cô thư ký độc đáo. - Olson trầm trồ, trong khi chúng
tôi đang nâng cốc. - Một cô gái có khả năng nhất mà tôi may mắn được làm việc
chung với nàng.
Tôi thấy những lời này tuyệt đối không làm hài lòng Rhoda.
Nàng rất ghét ai đó tâng bốc một người đàn bà khác.
- Em cược rằng anh đã mê mệt cô ta. - Nàng nhìn tôi nói. -
Anh có quyền yên chí.
- Thật vậy sao?
- Thật tình tôi không biết tại sao Clay cưới tôi, - Rhoda nói
với Olson, - anh ấy luôn trách cứ tôi từ sáng tới tối. Rất tiếc anh ấy đã không
hỏi cưới cô Valérie kia, mà dường như theo anh ấy, rất đảm đang và đôn hậu.
Nàng nói giọng chanh chua, khiến Olson phải khó chịu:
- Tôi không bao giờ tin rằng bà không đủ khả năng trên mọi
bình diện, bà Burden. - Anh gượng gạo nói.
Tôi không đồng ý điều này. Một thoáng im lặng, rồi chính
Rhoda lên tiếng:
- Có tài năng, nhưng người ta vẫn bất cần. Đấy là chuyện nhàm
chán nhất thế giới. Tại sao tôi phải vất vả trong cái nhà này, trong khi tôi có
một bà tớ già? Một khi anh chấm dứt ngẩng mặt nhìn trời, có lẽ anh sẽ nghĩ tới
việc rót rượu cho chúng ta, Clay.
Lại một thoáng bối rối trong khi tôi pha Martini.
- Sue có nói với tôi về tài khoản của Vidal. - Olson lên tiếng.
- Anh không nghĩ mình đang ngập ngụa trong mớ bòng bong à, Clay?
Tôi nhún đôi vai:
- Massingham đã làm hết cách rồi. Tôi chỉ nghe những lời
trách cứ và cũng đã chịu đựng chúng rồi. - Tôi quay sang Rhoda và thông báo. -
Em yêu, nhân đề cập công việc, tuần tới anh sẽ rời em trong sáu ngày.
- Anh nói gì chứ?
Tôi thuật cho nàng nghe về chuyến đi tới San Salvador. Nàng
chưng hửng, đây là cuộc xa cách đầu tiên của chúng tôi từ khi lấy nhau.
- Còn em thì thế nào đây? - Nàng hét lên. - Ai sẽ đưa rước em
đi làm?
- Xe buýt sẽ đưa em đến chỗ làm và sẽ đưa em về tận nhà.
- Xe buýt! Chỉ nghĩ đến việc bị nhốt kín trong chiếc hộp ấy đủ
khiến em phát bệnh.
- Tôi sẽ rất hân hạnh được chở bà, bà Burden. - Olson can thiệp.
- Không vấn đề gì cả. Tôi rất vui.
Nàng mỉm cười biết ơn Olson:
- Clay không hề nghĩ đến em. Cám ơn, Bill. Em rất có thể gọi
anh là Bill chứ? Xin cứ gọi em là Rhoda.
- Xin sẵn lòng.
Khi bị nàng tấn công, tôi không ngạc nhiên điều này:
- Thế nào, anh đi với mụ phù thủy phu nhân Vidal đấy chứ?
Đúng mụ đàn bà đang trù kéo anh lên giường!
Tôi không bao giờ thịnh nộ đối với Rhoda, cho dù nàng có làm
tôi bực tức cho mấy, nhưng đêm nay phải hết sức cố gắng, tôi mới giữ được sự điềm
tĩnh.
- Xem nào, đừng nói ngốc nghếch, em yêu. Anh có công việc phải
làm và em không có lý do nào để ca thán.
- Em đoán chắc anh sẽ rất vui khi nghĩ rằng em đang mệt nhừ
trong cái tiệm chết tiệt kia.
Tôi quay sang Olson đang hết sức bối rối:
- Anh thấy đói chưa?
- Hơn thế nữa. Tôi đang chờ sự sắp đặt của anh.
- Em sẵn sàng chưa, Rhoda?
- Chưa, em chưa sẵn sàng!
Nàng đứng bật dậy, bước nhanh vào phòng và khua cửa đanh tai.
- Ôi, đàn bà! - Tôi lẩm bẩm, cố gắng nặn nụ cười.
- Anh nói thế chứ chỗ ở của anh đẹp, cảnh trí ngoạn mục biết
bao. - Hắn ngưng nói, im lặng một chốc, rồi bước ra ngoài hành lang.
- Ừ.
- Lão Vidal, - Olson nói tiếp, dĩ nhiên để thay đổi đề tài, -
chính là con người kỳ quặc.
- Về mặt nào chứ? Rõ ràng lão là tay sừng sỏ.
- Năm năm về trước, lão chẳng là gì cả. Đấy là một trong số
khách hàng của tôi ở Staler Hilton. Thời kỳ ấy, lão đi du lịch bằng vé phi cơ hạng
thường. Lão muốn mở một trương mục vãng lai ở chỗ của chúng tôi, nhưng lão chẳng
đưa ra một đảm bảo nào cả.
Tôi nhìn hắn, hết sức ngạc nhiên:
- Bằng cách nào Massingham có thể không biết tới lão?
- Tôi không thông báo vì lúc đó ông ấy ở New York. Tôi có kiểm
tra ở quỹ tín dụng, được nơi đây khuyên không làm ăn với lão, do đó tôi đã khước
từ mọi đề xuất của lão. Thế nên tôi cũng không bao giờ đề cập về vấn đề này nữa.
- Thế mà Massingham đang có những thông tin khác từ quỹ tín dụng.
Olson bật cười:
- Chuyện này đã xảy ra năm năm rồi, Clay, có quá nhiều diễn
biến trong thời gian này. Dĩ nhiên người ta phải nói với Massingham những việc
bây giờ, chứ không phải như ngày trước, thời gian chúng tôi đã khai trừ Vidal.
- Ngày thứ ba tới đây, tôi sẽ có một đặc lợi không thú vị. Vậy
anh có thể cho tôi biết lão thế nào không?
- Một mẫu người kỳ lạ. Trước tiên lùn tịt, cao không quá mét
rưỡi và hay gây sự, giống như những ai có thể hình thấp bé, lão để râu và hói đầu,
nhưng vô cùng năng động, hãnh tiến, nói nhanh kèm theo động tác và đôi mắt có sức
thôi miên người ta. Thời kỳ, tôi biết Vidal, lão đã tạo không ít hàng khối chuyện.
Khi lão lấy vé đi New York thì người ta sẽ phải nói lão đang xếp đặt lên cung
trăng. Nhưng từ dạo ấy trở đi, tôi cho rằng lão đã thay đổi nhiều. Người ta đồn
đãi lão đã thu được rất nhiều triệu. Khi anh nhặt được số tiền nhiều đến thế,
thì vô ích để phải máy mở hai bàn tay vì đã có bọn người dưới trướng làm thay
cho anh rồi.
- Anh nói đúng. - Tôi xác nhận và lấy Dyer làm điển hình.
Rhoda bước ra khỏi phòng, nàng luôn tỏ ra gắt gỏng:
- Thế nào, có đi ăn không? - Nàng hoạnh họe. - Em đang đói.
- Bọn anh đang đợi đây, cưng. - Tôi nói.
- Vậy, xin ơn chúa chúng ta nên đến tiệm ăn nào đó kha khá để
thay đổi không khí. Em chán ngấy cái cảnh này rồi.
Nàng đi như bơi ra khỏi nhà. Olson và tôi trao nhau cái nhìn
bất đắc dĩ, rồi bước theo nàng.
Chương 5
Sau khi tiễn Olson, chúng tôi lái xe về nhà. Trong lúc tôi dọn
dẹp các thứ trên bàn, Rhoda bước tới bốc đĩa đậu phọng rang, làm vương vãi xuống
tấm thảm.
Lúc ở tiệm ăn, nàng tỏ ra khả ố, giờ thì chểnh mảng vụng về,
khiến tôi nổi nóng.
- Em làm gì thế? - Tôi hét. - Xem dưới chân em kìa, tấm thảm
đã bị vấy bẩn!
- Tại sao lúc nào anh cũng gào thét được thế? - Nàng đốp chát
dữ dội. - Em cho rằng ả Valérie của anh, rất đa năng, rất đảm đang chưa hề làm
một chuyện cỏn con thế này.
Nếu tôi giữ bình tĩnh và vờ không nghe, thì nàng sẽ không bắt
thóp dược đề tài Valérie đã chạm đúng tim tôi.
- Thôi, đủ rồi! - Tôi nói to, giận dữ. - Tại sao em nhỏ mọn
thế?
Nàng nhếch mép, trề môi, rồi bước vào phòng. Bốn ngày tiếp nối
là những thử thách. Tôi lo giấy tờ cho chuyến đi của mình, trả lời điện thoại
liên tục cho Dyer; hắn không ngớt đưa ra những câu hỏi ngớ ngẩn, ngu đần và giải
quyết các việc thường lệ. Ngoài ra còn phải chịu đựng cái tính khí của Rhoda,
nàng càng lúc càng tỏ ra cáu kỉnh.
Lúc tôi bận rộn lau chùi hộp phấn nàng làm đổ trong phòng tắm,
thì nàng lải nhải bên tai tôi:
- Đáng ra tôi nên tập giống ả Valérie này, đầy tài năng lại đảm
đang.
Buổi sáng vào giờ nàng chưa thức giấc, buộc tôi phải đến hãng
muộn, thì nàng lại châm chọc:
- Em đoán chắc rằng ả Valérie này không bao giờ để anh phải
chờ.
Mỗi lần nàng đọc lên cái tên Valérie, đối với tôi còn hơn bị
kim châm. Tôi cố gắng im lặng và đè nén để không phải nghe những câu châm biếm
của nàng, với hy vọng nàng chán nản không phóng kim vào tôi nữa.
Cuối cùng, tôi sung sướng được cách xa nàng trong năm ngày,
hôm tôi trở về rất có thể nàng đã quên nhắc tới Valérie.
Buổi chiều thứ hai, chúng tôi mời Olson ăn tối ở nhà hàng và
Rhoda đặc biệt trở nên dễ thương.
Chúng tôi đã có một bữa tiệc vui vẻ, nhưng sau khi tiễn
Olson, Rhoda ngồi bật vào ghế tựa, châm lửa thắp điếu thuốc, và trước sự ngạc
nhiên của tôi, nàng tuyên bố:
- Chúng ta cùng nâng cốc, Clay. Cốc rượu mừng từ biệt, được
không?
- Được chứ, tại sao không? Uống rượu scotch nhé?
- Hừm. - Nàng làm dáng, tỏ vẻ đồng ý.
Tôi rót trao cho nàng một cốc.
- Hãy nói đi, Clay, Valérie có phải người tình của anh không?
Tôi giật nẩy người, đến đổi những viên đá trong chiếc cốc của
tôi vang lách cách và rơi tỏm xuống tấm thảm.
Rhoda cười nghiêng ngả:
- Ôi, ai là người vụng về nhất trong hai ta?
Tôi nhặt những viên đá và mang chúng vào bếp. Tôi đứng một
lúc để lấy lại bình tĩnh, rồi trở ra phòng khách, cảm thấy cái nhìn của Rhoda
đang gắn vào tôi.
- Nàng là người tình trước kia của anh, phải không? - Nàng lặp
lại.
- Không, nghe này Rhoda. Anh đã chịu đựng hết mức những lời
nói bóng gió của em rồi. Em đang áp đặt anh? Từ nay em nên chấm dứt lúc nào
cũng kể tên Valérie vào. Anh không biết em đang nghĩ gì trong đầu, khi em cho
nó mắc cười, thì với anh, chẳng có gì đáng cười cả.
Nàng vừa nhấm nháp rượu vừa nhìn tôi qua miệng ly:
- Nàng đã có nhiều tin tưởng trong anh lắm, phải không? -
Nàng thút thít. - Em tin rằng anh vẫn còn say mê cô ấy.
- Hỏng bét! Em tỏ ra ti tiện và ngốc nghếch quá mức!
Nàng đỏ ửng:
- Tóm lại, anh không chối cãi, phải không nào?
- Anh chẳng có điều gì để chối cãi. uống cạn đi rồi chúng ta
đi ngủ.
- Năm ngày với người đàn bà trai lơ Vidal ấy, có thể sẽ làm
nguội bớt cái đầu thương nhớ mối tình xưa của anh. - Nàng đáp lại, giọng chua
như dấm.
Đặt cốc rượu lên bàn, tôi vào phòng. Đang cơn tức giận cành hông,
tôi chọn con đường rút lui để khỏi phải tặng nàng cái tát tai. Chắc chắn nàng
phải hiểu rằng mình đã vượt quá giới hạn nên vẫn ở lại phòng khách, đến lúc
nghe nước vòi sen róc rách trong phòng tắm của tôi thế là nàng hối hả thay quần
áo và nằm lên giường. Khi tôi tắm xong, nàng quay sang tôi:
- Em chỉ muốn chọc ghẹo anh thôi, Clay. Anh không thích nói
đùa à? - Nàng nói.
- Em chưa đánh răng. - Tôi lưu ý nàng. - Trời ạ, làm ơn nhanh
lên đi. Anh cần phải ngủ, nếu em không muốn.
- Em cóc cần hàm răng và cho rằng anh là đồ thối, - nàng la
hét ỏm tỏi và quay lưng lại với tôi, rồi tắt đèn.
Chương 6
Một gã đàn ông béo tròn, nước da ngăm, tự giới thiệu dưới cái
tên Roberto Rivera, tiếp đón tôi tại sân bay Ilopango. Tuổi khoảng bốn mươi
lăm, hắn để ria mép kiểu Charlie Chan, cặp mắt quỷ quyệt và nụ cười thâm hiểm.
Có thể nói hắn là khuôn mẫu tồi tệ nhất của châu Mỹ la tinh. Thoạt nhìn hắn,
tôi đã thấy ghét cay ghét đắng.
- Chúc mừng ông đã đến, Senor Burden. - Hắn bắt tay tôi và giở
chiếc nón rơm rộng vành ra chào. - Mọi việc được ổn thỏa, tôi đang trông đợi
ngài Vidal và phu nhân, như đã ước định. Không có vấn đề gì cả và tôi hân hạnh
được phục vụ ông. Ông có muốn đi ngay đến khách sạn không?
- Vâng, nếu có thể? Có xa không?
- Không đến đỗi, chỉ một khoảng cách nhỏ thôi. Đây là chiếc
xe tuyệt đẹp được trang bị máy lạnh và đầy đủ tiện nghi.
Hắn hướng dẫn tôi tới chiếc Mercedes màu đen, đầy bụi bặm,
đang đậu ngoài trời và mở cửa xe, sau khi không quên lột chiếc mũ rơm ra. Cái
mát bên trong xe cho tôi cảm giác dễ chịu. Nhiệt độ dưới bóng râm đã lên đến
40°C. Hắn chui vào xe ngồi sau tay lái:
- Xin lỗi, Senor Burden. Tôi nói được tiếng Mỹ nhưng diễn đạt
bằng tiếng Anh thật khó khăn.
Tôi đáp rằng mình đã hiểu.
Hắn rời xa sân bay và đang chìm vào một con đường đầy ngập
cát bụi, nơi mà nhiều tốp dân địa phương đang lũ lượt nhau đi. Hầu hết những
người này đều đội trên đầu hoặc mang trên vai những chiếc ấm hay bình băng kim
loại.
- Họ mang cái gì thế? - Tôi hỏi.
- Nước, thưa Senor Burden. Ở đây rất thiếu nước, mà tất cả đều
cần có nước để sinh sống và đó là cái cách để họ trữ nước về nhà. - Hắn ấn còi
xe để lưu ý một anh chàng nông dân đang lang thang giữa đường. - Dân ở đây rất
ngốc nghếch, cái nóng làm họ trở nên điên hết. - Hắn cười hở miệng, chĩa những
chiếc răng vàng lểnh nghểnh. - Tôi đã có một chương trình tuyệt hảo cho ông.
Phu nhân Vidal sẽ rất hài lòng, ngài Senor Vidal giàu lắm phải không?
Hắn ném cho tôi nụ cười tinh quái.
- Hẳn ông ấy đủ sống. - Tôi đáp ngắn gọn.
- Ở đây nhiều người rất nghèo. - Hắn buồn bã lắc đầu. - Nghèo
rất nhiều, mà giàu cũng lắm. Dĩ nhiên số người nghèo chiếm đa số, nhưng những kẻ
giàu thì quá giàu.
Chúng tôi đang băng ngang một ngôi làng nhỏ đông cư dân bản địa.
Phần đông trong số họ, đội những chiếc nón rơm móp méo, mặc những chiếc áo trắng
vấy bẩn và những chiếc quần bạc màu không còn hình dáng. Những người đàn bà phủ
tạp dề đủ màu sắc bên ngoài những chiếc áo vải, những mẫu thuốc lá và những thứ
thừa mứa khác. Quang cảnh bẩn thỉu này làm tôi ngao ngán.
- Thành phố xinh đẹp. - Rivera lên tiếng. - Ông thích chứ,
Senor Burden?
- Vâng, chắc rồi.
- Xin gọi tôi là Roberto, mọi người đều gọi tôi như thế. Tôi
là một hướng dẫn viên rất nổi tiếng ở đây. Rất nhiều người Mỹ giàu sang đều nhờ
tới tôi.
- Được thế càng hay.
- Chúng ta đang đến gần khách sạn. - Hắn cho xe trườn lên dốc,
ngoặc tay lái sang trái và hướng vào con đường vẽ vách hình cong. - Khách sạn
xinh đẹp nhất, thưa Senor Burden, mọi người đều ưa thích.
Một nhân viên khách sạn tiến tới mở cửa và tôi bước xuống xe.
- Roberto, vào đi, - tôi đề nghị, - tôi sẽ xem lại chương
trình của anh. Giờ thì tôi đi gặp ngài Vidal.
Roberto chìa hàm răng vàng lẫy:
- Không phải gấp gáp, Senor Burden. Ngài Senor Vidal cùng với
phu nhân đi ăn trưa với những người bạn. José làm chung công việc với tôi đã chở
họ đến El Cuco, một địa điểm xinh đẹp gần biển. Họ đang ở trong ngôi nhà sang
trọng và tuyệt đẹp của ngài Senor Guzman trị giá hai triệu đô la. Senor Guzman
hiện là chủ nhân rất nhiều đồn điền cà phê. Họ sẽ trở về không dưới mười chín
giờ. Còn thừa thời gian.
Tôi nhìn đồng hồ, đúng mười hai giờ trưa:
- Được rồi, Roberto. Tôi sẽ ăn trưa ở đây và chúng tôi sẽ gặp
lại lúc mười lăm giờ.
- Thế thì tôi về nhà. - Hắn nói, vẻ thỏa thích. - Căn nhà tuy
nghèo nhưng đẹp, nơi các con tôi ít trông thấy tôi. Chà, chúng nó sẽ ngạc nhiên
lắm.
Hắn cất chiếc nón rơm lên, bắt tay tôi rồi bước vào chiếc
Mercedes.
Sau khi ghi tên tại quầy tiếp tân và xem qua căn phòng có máy
điều hòa không khí khá đẹp mắt, tôi vào đứng dưới vòi sen tắm gội sảng khoái,
thay y phục nhẹ rồi bước xuống nhà ăn thưởng thức các món ăn ngon khoái khẩu.
Tôi ra sân thượng ngồi uống cà phê và nhìn xuống hồ bơi. Bọn
trẻ con ở San Salvador, chúng bơi lượn như cá nhưng làm ồn ào quá. Cha mẹ chúng
thân hình rắn chắc đang ngồi dưới những chiếc dù bằng vải, nhấp nháy nước hoặc
bia.
Đúng mười lăm giờ, tôi gặp lại Rivera đang chờ tôi trong
phòng:
- Thức ăn có ngon không, thưa Senor Burden? Tất cả đều hợp khẩu
vị chứ? Căn phòng có đẹp không?
- Tất cả đều tuyệt. Nào, chúng ta xem qua chương trình.
Chúng tôi nghiền ngẫm nó. Tôi không được hiểu nó bao nhiêu bởi
vì tôi không biết cái xứ sở này, nhưng bù lại Rivera đã khẳng định với tôi rằng
hắn không bỏ sót bất cứ một cảnh quang đáng chú ý nào.
- Xế trưa rất nóng bức, tôi đề nghị dạo mát bằng xe và buổi
sáng, Senor Burden. Buổi chiều, cái nóng có thể hạ xuống bớt. Sau khi ăn xong,
tốt hơn nên tham quan qua loa một chút.
Hắn nói và chờ tôi, vẻ lạc quan tin tưởng.
- Điều này còn tùy thuộc vào bà Vidal. Có thể bà ấy không muốn
ngủ trưa đâu.
Bộ mặt của hắn mất hứng:
- Ông nên giải thích cho bà ấy, Senor Burden. Nóng bức dữ dội,
rất mệt vào xế trưa.
- Để tôi xem bà ấy sẽ nói thế nào về chuyện này. Sáng mai anh
đến lúc tám giờ rưỡi. Tôi muốn chiếc xe phải được lau chùi sạch sẽ, Roberto.
Ông bà Vidal là một nhân vật rất quan trọng. Chiếc xe này không xứng với họ.
- Đấy là chiếc tốt nhất, thưa Senor Burden, nhưng tôi sẽ lau
chùi nó. - vẻ mặt càng âm u hơn, hắn đứng lên nói thêm. - Hẹn ngày mai.
Hắn đi rồi, tôi bước sang quầy báo, mua một bản đồ của
Salvador, rồi trở về phòng, xuống hồ bơi tắm. Khi trồi lên khỏi mặt nước, tôi
ngồi vào chỗ mát đọc lại tờ chương trình rồi tra cứu vào bản đồ. Ngày mai,
chúng tồi phải đi đến núi lửa Izalco, rồi trở về khách sạn ăn trưa. Không thấy
đề nghị gì cả vào buổi chiều. Chuyện này, tôi phải xin ý kiến của bà Vidal.
Lúc mười tám giờ, sau khi bơi lội một lúc, tôi trở về phòng cạo
râu, thắt cà vạt, mặc bộ sậu mùa hè, rồi bước ra quán rượu.
Một giờ sau, trong khi tôi nhâm nhi cốc scotch thứ nhì và
đang tìm đọc những tin tức đáng chú ý trên tờ New York Tribune, thì Henry Vidal
bất ngờ xuất hiện.
Nhờ Bill Olson, tôi đang chờ để biết phần nào về con người
này, nhưng khi Vidal hấp tấp bước tới, tôi ý thức ngay rằng không một mô tả
nhân dạng nào về lão mà không thích hợp với thực tế.
Như Bill Olson cho biết, Vidal chỉ cao một mét rưỡi, đôi vai
to bè của tay đô vật, hai chân ngắn ngủn dày cộm và hai bàn chân nhỏ bé của người
lùn. Lão mặc chiếc áo đỏ chóe cổ đứng, chiếc quần đen tuyền bó sát đùi và nịt
quanh bụng một chiếc thắt lưng to bản màu trắng có nút thắt bằng vàng. Mái tóc
xoăn dài xuống tới cổ áo, trong khi phần trên đỉnh đầu như trụi lủi không một cọng
làm trơn bóng cái trán to sù của lão. Hàm ria của lão cũng xoắn, dày và thô cứng.
Cặp mắt sắc sảo của lão mới khiến tôi chú ý thật sự.
Giống như Bill Olson đã miêu tả, đấy là cặp mắt có thể hớp hồn
anh, chúng xanh tái và sâu, khi nhìn chúng phản ánh sự ngạo mạn, cả quyết và sức
mạnh.
Tôi đứng lên khi lão đến trước mặt mình.
- Ông là Clay Burden? Chắc hẳn rồi chính anh.
Giọng của lão sắc nhọn gần như gay gắt. Lão bắt tay tôi, siết
mạnh rồi thả ra.
Gã hầu bàn đã có mặt ngay bên cạnh.
- Một cocktail nước trái cây, - Vidal gọi thức uống, - pha
loãng với nước lựu, nhanh lên. Đừng làm đậm quá như đêm qua. Ngồi xuống đi. -
Lão nói và ngồi xuống một chiếc ghế đổi diện tôi. - Anh uống gì thế? Scotch phải
không? Tôi không uống rượu và không bao giờ hút thuốc lá. Rượu cồn làm hao mòn
năng lực trong công việc. Anh có yêu thích nghề nghiệp của anh không? Phải như
thế, vì nếu không anh sẽ không thành công. Người ta cho tôi biết, anh có thể được
tôi tín nhiệm. Rất tốt, tôi tuyệt đối muốn có những người đáng tin cậy chung
quanh.
Giọng chát chúa của lão vang bên tai tôi như một tràng tiểu
liên:
- Theo sắp đặt của Dyer, anh phải làm cho vợ tôi được tiêu
khiển trong lúc tôi lo toan công việc. Tôi tin chắc rằng anh có thể sẽ làm được.
Nàng muốn đi với tôi, nhưng tôi đã bảo rằng có ai đó đang chờ nàng. Tuy nhiên một
khi đàn bà mang một ý nghĩ trong đầu, thì họ không chịu nhả ra.
Lão bật cười nhẹ, giống một tiếng sủa:
- San Salvador là một trũng nhỏ bẩn thỉu, quản lý tồi, vô tổ
chức. Một ngày nào đó, người da đỏ Mỹ châu sẽ nổi loạn. Đến từ phi cảng, anh đã
nhận thức được sự nhớp nhúa và nghèo đói rồi, phải vậy không? Tôi chắc chắn như
thế. Đấy là một lối sống hoàn toàn thối chí nản lòng.
Hầu bàn đặt trước mặt lão chiếc cốc to đầy đá nhuyễn và nước
trái cây. Vidal uống một hơi, cạn phân nửa.
- Được, nhưng vẫn còn đậm nước lựu. - Lão nói với gã này, rồi
quay qua tôi. - Bà Vidal bảo rằng bị mệt và đã đi nghỉ, tôi thật sự không hiểu.
Tôi thì chẳng mệt bao giờ và chẳng biết cái từ mệt là gì. Phụ nữ luôn luôn bị nhức
đầu hoặc kêu mệt. Anh đã lập gia đình chưa? Tôi tin rằng anh đã có. Anh có vẻ
có ý thức trách nhiệm. Một người đàn ông không có ý thức trách nhiệm sẽ không
thích hợp với tôi. Tôi không có thời gian để hòa hợp được với hắn. Tôi cho rằng
bà vợ của anh cũng bị mệt mỏi. Của đáng tội, họ tất cả đều là thế. - Lão bật cười
và nốc cạn cốc nước trái cây. - Tôi phải thay y phục để chuẩn bị cho bữa ăn tối,
vì công việc, - lão giải thích và đứng lên.
Tôi cũng đứng lên, có chút bối rối nhưng lão nói tiếp:
- Đừng bận tâm. Anh đã hiểu phải làm gì vào ngày mai rồi chứ?
Không gì lớn lao lắm đâu ở cái xó xỉnh này, nhưng bà ấy muốn tự khám phá. Bà ấy
muốn như thế, anh nên làm hết sức mình.
Một lần nữa, lão nghiền bàn tay tôi, rồi biến nhanh như gió.
Tôi ngồi trở lại ghế, uống cạn cốc whisky của mình, rồi gọi hầu
bàn rót đầy một cốc khác. Tôi cần uống cho lại sức. Olson cho tôi biết Vidal là
con người năng động, nhưng chỉ là cách nói để xuôi tai. Nếu tôi phải ở trọn một
buổi chiều với lão, thần kinh của tôi sẽ nhũn mất.
Tôi nghĩ tới bà vợ của lão và đặt cho mình những câu hỏi. Lão
có xử sự với bà ấy giống như lão vừa làm với tôi không. Gặp hoàn cảnh này, bà ấy
vẫn tồn tại được, phải là người đàn bà phi thường.
Một anh chàng du khách khổng lồ người Mỹ bước vào quán. Hắn đảo
mắt chung quanh, trông thấy tôi vội tiến đến gần:
- Cho phép tôi được ngồi chung bàn với anh nhé? - Hắn vừa hỏi
vừa kéo ghế ngồi bệt xuống, không chờ câu trả lời, ra hiệu gọi hầu bàn. - Vợ
tôi bảo ngồi nhậu một mình là một thói xấu.
Hắn nháy mắt hóm hỉnh nhìn tôi. Cử chỉ của hắn làm tôi rất
vui được ngồi cùng và chúng tôi huyên thuyên đủ chuyện cả tiếng đồng hồ, rồi hắn
nâng cái thân hình nặng nề đứng lên:
- Tớ đoán người đẹp phân nửa của tớ đã kết thúc xong việc làm
đẹp. - Hắn nói. - Vậy tớ sẽ gặp lại cậu sau anh bạn.
Hắn hất cái đầu, rồi tháo đi. Tôi định sau khi ăn tối xong, sẽ
lên giường với quyển sách nào đó. Chẳng còn chuyện gì phải làm nữa, tôi bách bộ
ra quầy sách mua một quyển có bìa màu sắc rực rỡ. Lúc tôi trả tiền, Henry Vidal
đột nhiên xuất hiện nơi buồng thang máy với bộ sậu lụa đen, sơ mi trắng và chiếc
cà vạt xanh da trời. Lão đi như chạy băng qua khu tiền sảnh, không nhìn thấy
tôi và chui vào chiếc Mercedes đang chờ sẵn. Tôi đi thẳng vào phòng ăn trong
nhà hàng.
- Senor Burden?
Người gác cửa nhà hàng đã rời vị trí, đến với tôi.
- Vâng.
- Có tin cho ông, Senor Burden. Hân hạnh mời ông đi lên căn
phòng số bảy, lầu bốn, Senora Vidal muốn tiếp chuyện với ông.
Tôi nhìn thẳng vào hắn:
- Cái gì... bà Vidal à?
Hắn gật đầu.
Ngạc nhiên, tôi bước vào thang máy và ấn nút lên tầng bốn.
Trong khi chiếc thang đi lên, tôi linh cảm đêm nay có thể sẽ thú vị, nó đáp ứng
điều tôi đang mong đợi: tò mò muốn biết người đàn bà của Vidal như thế nào.
Tôi đi dọc hành lang, dừng lại trước căn phòng số bảy và gõ cửa.
- Mời vào.
Một giọng trầm ấm vọng ra làm thần kinh tôi rung động.
Tôi mở cửa và đứng trước một căn phòng rộng lớn, trưng bày
sang trọng, hoa kiểng khắp nơi nhiều đến mức như một gian hàng bán hoa.
Một phụ nữ cao ráo mảnh dẻ, tóc nâu choàng áo dài trắng đang
đứng gần cửa sổ.
Cho dù sáu năm dài trôi qua từ độ xa cách, tôi vẫn nhận ra
ngay nàng, khiến con tim tôi đập thình thịch vì bồi hồi xúc động.
Nàng càng xinh đẹp, càng duyên dáng hơn bất cứ người đàn bà
nào khác. Nàng là thần tượng tôi yêu thương say đắm không phút phai nhạt.
- Valérie! - Tôi thì thầm, đôi mắt gắn chặt vào nàng. - Trời
ơi, lẽ nào lại là em! Valérie!
- Cuối cùng hai ta gặp lại nhau, Clay yêu thương của em!
Nàng kêu to, giọng vô cùng xúc động, rồi ào tới vòng tay
choàng qua cổ tôi, bộ ngực săn cứng áp sát vào và dâng cánh môi tươi thắm đón
nhận nụ hôn tao ngộ đầu tiên của tôi.
Chương 7
Trăng lên cao chiếu qua chiếc giường một tia sáng xanh nhạt.
Valérie nằm ngửa, cặp mắt hé mở, hai tay đặt lên ngực. Nằm bên cạnh, tôi chiêm
ngưỡng nàng mà cứ ngỡ đang mơ, những giấc mơ rất thường xuyên xảy ra qua những
năm dài dĩ vãng.
Qua những nụ hôn đầu tiên, chúng tôi bất chấp mọi thận trọng,
không màng chú ý đến mọi việc. Chúng tôi đã gặp lại nhau, trần trụi trên chiếc
giường và tay trong tay.
Nhìn ngắm nàng, tôi cảm nhận một cảm giác nhẹ nhàng ân ái, thứ
tình cảm tôi chưa bao giờ hưởng được và ý thức rằng tình yêu của tôi đối với
nàng chưa bao giờ nồng cháy đến thế.
Nàng nâng hai bàn tay lên mặt:
- Clay thân yêu, anh không biết thế này rất nguy hiểm. - Nàng
thì thầm. - Lẽ ra chúng ta đừng bao giờ gặp lại nhau và em buộc phải tiếp tục
xa cách anh. Em hết sức phấn đấu và phải chịu đựng những điều mà anh không thể
hình dung được. Lúc nghe tin anh đến thành phố San Salvador này, em không thể dằn
nén sự thèm khát được gặp anh. Chúng ta còn những điều muốn thổ lộ. - Nàng quay
mặt, nhìn nhanh vào chiếc đồng hồ trên bàn. - Nhưng không phải bây giờ. Hãy mặc
quần áo vào đi anh. Chúng ta có năm ngày trước mặt để nói chuyện với nhau.
Bây giờ là hai mươi giờ bốn mươi.
- Chúng ta nên nói ngay, - tôi khẩn khoản, vì rất muốn biết
những gì đã xảy ra trong sáu năm qua, - hãy còn sớm mà.
- Không, anh mặc quần áo vào. - Giọng nàng cương quyết đến nỗi
tôi phải vớ tay cầm mớ áo quần. - Anh không biết điều lão có thể làm. Nếu có một
chút nghi ngờ, lão sẽ đập nát nghề nghiệp của anh. Lão rất hiềm thù, rất hung dữ
và một khi lão đã quyết định thì không gì ngăn cản lão không thực hiện. Lão
kiên trì sát bên, khiến anh không thể làm việc được nữa. Em nói nghiêm túc đấy,
Clay. Hãy nghe lời em.
Tôi hốt hoảng nhìn nàng:
- Khi đi ra, anh nên đề phòng. - Nàng căn dặn.
- Em yên tâm, ngoài hành lang không có ai cả.
- Không, anh đi đi... em van anh. Ngày mai, chúng ta sẽ nói.
- Vào lúc mấy giờ?
Sự bối rối ánh lên trong đôi mắt nàng khiến tôi lo âu.
- Em không biết lão sẽ đi lúc nào. Chờ em ở sảnh phòng, ngay
khi lão đi khỏi.
- Ôi, Valérie, em yêu... Anh không thể tin rằng chúng ta được
gặp nhau.
- Em van anh nên đi ra nhanh. Nếu lão ấy trở về...
Nàng run như chiếc lá.
Đến trước cửa phòng khách, tôi mở khóa không để gây tiếng động
và liếc mắt nhìn dọc qua hành lang. Tôi vội vàng nép vào trong, khi trông thấy
một cặp nam nữ đang tiến tới cầu thang máy.
- Gì thế?
Nàng còn đang đứng cạnh chiếc cửa ra vào phòng ngủ, vẫn trần
trụi, giọng nói run run vì sợ. Tôi đưa tay làm hiệu, bảo nàng im lặng, rồi dáo
dác nhìn lần nữa, tim đập như sắp vỡ. Valérie đã truyền sự sợ hãi sang tôi. Cặp
kia đã bước vào buồng thang máy. Không quay đầu nhìn lại, tôi ra khỏi phòng đi
nhanh trên hành lang, trong khi cửa thang máy đóng chặt lại. Tôi đi như bơi đến
cầu thang thường, bước xuống tầng ba để trở về phòng mình.
Tại đây tôi vào phòng tắm, nhìn vào kính soi. Miệng tôi nhem
nhuốc son môi, gương mặt hơi xanh tái và xúc động bởi một biểu hiện mới mẻ khó
xác định được. Có thể nó nói lên rằng tôi được trẻ hơn, hay vì nỗi sợ hãi và ăn
năn đang hằn lên trên ánh mắt tôi?
Tôi rẩy nước lên mặt, bước ra mở các cửa sổ, rồi đứng ở lan
can. Khí hậu về đêm vẫn ẩm nóng, ánh trăng lơ lửng trên cao vượt trên những ánh
đèn xa tít của thành phố. Tôi nghe văng vẳng âm thanh chói tai của dàn nhạc
khiêu vũ và đâu đó dưới những cành cọ, tiếng cười rộ của một phụ nữ.
Bàn tay hãy còn run, tôi cầm thuốc lá, nằm lên chiếc ghế dài,
châm thuốc hút, ngước mắt nhìn trăng.
Cảm giác thư giãn trở lại và do những cảnh báo của Valérie,
tôi nhận thấy mình đã điên rồ không không chế được sự đòi hỏi để chiếm đoạt
nàng. Valérie cũng điên rồ nốt, cả hai chúng tôi đều đáng chê trách vì đã đánh
mất sự tự chủ.
Những lời nói còn đọng bên tai tôi: "Anh không biết bất
cứ điều gì lão có thể làm. Nếu biết được, lão sẽ bẻ gãy nghiệp vụ của anh. Lão
rất hiềm thù và rất hung ác..." Chính vì cái giọng hốt hoảng hơn là câu
nói của nàng, đã làm tôi ớn lạnh sống lưng. Do kinh nghiệm, tôi biết Valérie
không thể kinh sợ dễ dàng đến thế. Qua nhận thức khá chuẩn xác về Vidal, tôi biết
nàng không nói ngoa khi cảnh báo tôi. Cặp mắt ngạo mạn, cả quyết và hung bạo của
lão càng để lộ cho tôi biết nỗi kinh hoàng của nàng sẽ lên đến đâu và sự trả
thù của lão sẽ khủng khiếp đến mức nào, một khi lão khám phá ra mối quan hệ bất
chính của chúng tôi.
Đầu óc tôi lại quay về Rhoda và chợt rùng mình nghĩ rằng, chắc
chắn nàng sẽ biết ngay sự thật. Nàng cũng mang cá tính thù hằn gần giống Vidal.
Nàng sẽ không bao giờ tha thứ tôi về việc đã có một người đàn bà khác.
Giờ thì lương tâm tôi bị dày vò, cắn rứt. Tôi có nên vịn cớ bệnh
hoạn hay gì đó để không phải trải qua năm ngày tới đây với Valérie, mà biết chắc
rằng bí mật của chúng tôi sẽ bị lộ trước những cặp mắt tinh tường và thường
xuyên theo dõi? Có thể nào sống trọn một ngày bên cạnh nàng mà tôi không bị
Rivera luôn ngồi sau tay lái nghi ngờ chúng tôi là đôi nhân tình?
Tôi cố gắng tự trấn an.
Thật khờ dại để bị dao động. Chuyện đã xảy ra rồi, đừng để
tái diễn, - tôi nói thầm, - nguy cơ này đã chấm dứt. Nhưng ngay khi khẳng định
phải như thế, thì tôi lại biết rằng những cảm xúc êm dịu của một giờ yêu đương
đã không nhạt phai và mãi mãi còn dài. Chúng to tát hơn những nguy cơ và nếu
nàng thực lòng trong tình yêu thì tôi tin chắc rằng mình sẽ không cưỡng lại dược.
Tôi ở mãi trên lan can, không thiết thời gian trôi qua, chỉ
mơ nghĩ tới nàng.
Valérie lại là vợ của Vidal, thật không thể tin nổi! Họ gặp gỡ
nhau như thế nào? Rồi, tôi phải nhớ lại lời nói của Olson: Vidal trước kia là một
trong những bạn hàng của hắn. Lão có thể gặp Valérie trong thời gian nàng còn
làm việc với anh ta. Nhưng tại sao nàng có thể kết hôn được với lão lùn, hói?
Olson tin rằng thời kỳ ấy Vidal chưa phát tài, như vậy nàng không thể lấy lão
vì tiền. Thế thì, do những nguyên nhân nào khiến nàng quí chuộng lão hơn tôi?
Bí ẩn này làm tôi ngỡ ngàng và cảm thấy bị xúc phạm. Điều này
làm tôi đau khổ hơn cả lúc gặp lại nàng đã là vợ của con cá xà triệu phú, đồng
thời là kẻ dang gây cho nàng một nỗi kinh hoàng không thể kể xiết.
Những bức xúc này theo đuổi tôi đến lúc lên giường. Tôi chập
chờn mãi đến bảy giờ ba mươi sáng, khi người hầu bàn mang thức ăn lên, tôi mới
ngồi dậy với cảm giác nhẹ nhàng.
Lúc tám giờ ba mươi, tôi bước vào khách sảnh. Nơi đây đã có
người gác cổng chực sẵn, hắn nghiêng mình chào tôi:
- Roberto đang chờ, Senor. - Hắn nói.
- Tôi sẽ nói qua với hắn. - Ngưng một lúc, tôi hỏi. - Ông
Vidal có trong khách sạn không?
- Senor Vidal đã đi hồi tám giờ.
Tôi đến gặp Rivera, hắn đang đi đi lại lại dưới bóng râm. Thấy
tôi, hắn bước nhanh tới, nhoẻn miệng cười, hàng răng vàng lấp lánh dưới ánh mặt
trời:
- Kính chào Senor Burden. Một buổi sáng đẹp trời. Ông ngủ yên
giấc?
- Vâng, cám ơn. Chiếc xe thế nào?
Hắn làm một động tác, tôi bước tới quan sát chiếc Mercedes,
nó được lau chùi sạch sẽ và có vẻ dễ coi.
- Rất vất vả, thưa ông. - Hắn nói, giọng không vui. - Nó quá
kềnh càng.
- Tôi đi xem bà Vidal có sẵn sàng chưa.
Tôi trở lại sảnh phòng, nối mạng điện thoại liên lạc, xin nói
chuyện với phòng số bảy.
Valérie trả lời gần như ngay lập tức và giọng của nàng, lần nữa
làm rung động thần kinh tôi.
- Chào bà Vidal, - tôi lên tiếng, biết tỏng gã gác cổng đang
nghe, - xe đang chờ, chúng ta có thể khởi hành ngay khi bà đã sẵn sàng.
- Cám ơn, tôi xuống trong vài phút.
Sau khi gác máy, tôi đến quầy mua thuốc.
Mười phút sau, Valérie ra khỏi buồng thang máy. Nàng mặc áo
dài tay in những đóa hoa xanh trắng, chiếc quần màu trắng và một dải băng cũng
trắng buột ngang mái tóc. Cái đẹp của nàng làm tôi suýt tắt thở.
- Chào ông Burden, - giọng nàng vui vẻ, nhưng cái nhìn của
nàng khó đoán ra và giữ kẽ, - sáng nay chúng ta đi đâu?
- Mời bà sang đây một chốc, tôi sẽ hân hạnh được chỉ dẫn lộ
trình.
Tôi đưa nàng đến một trường kỷ ở xa và chúng tôi ngồi xuống,
mà không gã gác cổng hoặc nhân viên tiếp tân nào có thể nghe chúng tôi nói chuyện.
Tôi lấy tờ lộ trình ra và nói rất nhỏ:
- Có một trở ngại Valérie, gã tài xế. Lỗi tại anh, vì không
thể đoán ra người ấy có thể là em. Sẽ nguy hiểm, nếu tách hắn ra, hắn có thể sẽ
lên tiếng.
Tôi đọc được sự thất vọng trong cặp mắt nàng, nhưng nàng vẫn
giữ vẻ mặt bình thản:
- Chúng ta làm thế nào? - Nàng hỏi.
- Hắn không lái xe buổi trưa vì cho rằng khí hậu nóng bức,
không hợp lúc đi dạo mát. Sau bữa ăn, chúng ta có thể gặp nhau trong phòng của
anh. Anh phải nói chuyện với em, Valérie!
Sau một lúc suy nghĩ, nàng gật đầu:
- Cũng được, chúng ta lên đường ngay. Nhưng đi đâu bây giờ?
- Viếng núi lửa Izalco. Nó sẽ mở mang cái mớ bã đậu trong đầu
em. Anh sẽ ngồi cạnh hắn. Hãy thận trọng, Valérie. Hắn rất ranh mãnh, em đừng
làm chuyện vụng về dại dột.
Lúc trông thấy chúng tôi đi ra ngoài và bước đến gần, Rivera
mở cửa xe và cất chiếc nón lá lên chào Valérie:
- Kính chào phu nhân, hôm nay thời tiết tuyệt đẹp, thuận lợi
cho du ngoạn. Lúc đi đường tôi sẽ tường trình về các thắng cảnh.
Valérie cám ơn hắn và bước vào xe. Tôi ngồi gần Rivera.
Chúng tôi, Valérie và tôi chỉ nghe dăm ba câu giải thích buồn
nản của Rivera. Tôi chỉ nghĩ tới cuộc họp mặt của chúng tôi vào buổi trưa nay.
Cuộc hành trình kéo dài trên một con lộ ngoằn ngoèo và bụi bặm, có những đoạn
khó đi đến đỗi chúng tôi phải cho xe lăn bánh từ từ.
Cuối cùng chúng tôi đến khách sạn của Montana đang trống
khách, nơi mà Rivera bảo đảm chúng tôi sẽ được trông thấy miệng núi lửa. Dù
đang ở tình huống nào, tôi đã phải trầm trồ trước cái hình chóp đen xì và trọn
vẹn của cảnh sắc hùng vĩ này, nhưng tâm trí tôi đã bị vướng bận quá nhiều về những
hứa hẹn của buổi trưa này. Thế mà tình cảm ấy của tôi hầu như bị cạn kiệt bởi
những lời khen ngợi bất tuyệt của Rivera về cảnh trí tuyệt vời ở nơi đây. Hắn
đã tế nhị nhận thấy rằng Valérie lẫn tôi đều không chú ý đến những gì hắn mô tả.
- Phu nhân không thích à? - Hắn đưa mắt thăm dò, hỏi Valérie.
- Phu nhân không thỏa mãn sao, Senora Vidal?
- Không, tôi nhận thấy nó tuyệt vời, nhưng khí hậu nóng bức đến
không thể tiên liệu được. Chúng ta quay về khách sạn.
Cặp mắt nhỏ rí của Rivera sáng hẳn lên:
- Buổi trưa rất nóng, sau bữa ăn tốt hơn nên ngủ trưa. Buổi
chiều sẽ mát mẻ và nếu phu nhân muốn dạo mát, tôi sẽ chở đi thăm thành phố.
- Tôi nghĩ hôm nay thế này đã đủ. Ngày mai chúng ta sẽ viếng
thành phố.
Bộ mặt của hắn hớn hở:
- Chà, để cẩn thận tốt hơn nên chọn một bãi bơi sạch đẹp. Bây
giờ chúng ta quay về?
- Vâng, xin làm ơn giùm.
Gần mười ba giờ, chúng tôi đã về tới khách sạn. Sau khi cám
ơn Rivera đã lái đi xem núi lửa, chúng tôi từ giã hắn và bước vào khách sảnh.
- Chúng ta đi ăn chung, ông Burden. Sau đó, tôi đi nghỉ trưa.
- Valérie đề nghị.
Những câu nói này, nàng nhằm cho gã gác cổng đang đứng trước
mặt nghe. Phòng ăn đông đảo thực khách, chúng tôi mỗi người một bánh hamburger.
Tôi chỉ ăn phân nửa miếng bánh và chúng tôi trao đổi nhau đôi câu.
- Không sử dụng chìa khóa phòng của em, Valérie.
Tôi thủ thỉ bên tai nàng khi chúng tôi bước ra. Nàng gật đầu
và tôi nói rất nhỏ:
- Lầu ba, phòng số 346...
Tôi khéo léo, trao lén chiếc chìa khóa qua tay nàng.
Valérie mỉm cười, đi thẳng tới cầu thang máy. Tôi bách bộ tới
cuối dãy khách sảnh, châm điếu thuốc và ngồi xuống một chiếc ghế. Chờ mười
phút, tôi đứng dậy thong dong tiến đến cầu thang máy đưa lên tầng ba. Valérie
đã trần trụi nằm trên chiếc giường của tôi.
Tôi khóa chặt cửa ra vào:
- Valérie! Không nên! Chúng ta...
Nàng đưa hai tay ra. Khuôn mặt đỏ ửng, đôi mắt lóng lánh chứa
chan của nàng làm tôi quên hết mọi dè dặt. Tôi mở tung quần áo và đến với nàng.
Lần này chúng tôi ôm xoắn vào nhau, không hấp tấp vội vàng và
cuồng nhiệt như đêm trước. Chúng tôi xử sự nhẹ nhàng để đam mê lan tỏa từ từ, đến
lúc nàng đạt đến đỉnh cao, rồi cùng chung nhau hòa nhập vào cực khoái, nhanh
chóng và trầm lặng quên cả không gian và thời gian, chỉ còn sự say mê cuồng nhiệt.
Chương 8
Trong căn phòng, chiếc máy điều hòa không khí phát hết công
suất để xua đi cái nóng gay gắt của buổi trưa. Valérie nằm bên cạnh tôi trên
giường, đang diễn tả tôi nghe những điều đã xảy ra trong sáu năm qua giữa nàng
với Henry Vidal.
Nàng đã làm tôi ngạc nhiên khi bảo rằng tôi đã nghi ngờ không
sai về chuyện nàng sẽ thổ lộ và yêu cầu tôi nhẫn nại với nàng. Rất khó khăn để
giải thích tại sao nàng viết bức thư đó và trả chiếc nhẫn lại cho tôi, nhưng vì
sự công bằng cho cả hai chúng tôi, nàng xin trung thực trình bày:
- Khởi sự, - nàng bắt đầu kể, - em được biết Vidal, khi lão đến
hãng đại lý ở Staler Hilton. Lúc ấy, Bill Olson đi ăn trưa, chỉ có em trong văn
phòng. Lão muốn trở về London bằng đường hàng không, trong khi em đang kiểm tra
lịch trình chuyến bay và chuẩn bị giấy tờ, lão soi mói em cùng cái nhìn vô cùng
mãnh liệt, khiến em luống cuống. Vì là mùa du lịch, phải tất bật trả lời điện
thoại, nên em xin lỗi vì đã để lão chờ, nhưng lão khẳng định rằng không phải vội.
Em thường suy nghĩ về buổi gặp đầu tiên này, tin rằng mình đã bị thôi miên và
hiện giờ em rõ ra là đúng. Trong khi Vidal còn ở đấy, em cảm giác bị mất nghị lực
khủng khiếp, quyền lực phi thường của lão đã trấn áp em đến nghẹn thở. Dường
như anh cho rằng điều này là xuẩn ngốc, nhưng đấy là một ấn tượng, em xin thề.
Trong khi trả tiền vé máy bay, đôi mắt lão vẫn nhìn chòng chọc và tuyên bố lão
sẽ gặp lại em. Em không thể kiềm hãm suy nghĩ liên tục về lão. Người ta có thể
nói lão đã sở hữu một phần trí tuệ của em. - Nàng làm một cử chỉ tuyệt vọng. -
Em bắt đầu mơ về lão, tưởng tượng lão đang theo em, rồi trở nên căng thẳng
không dám đi ra ngoài vào mỗi chiều. Nhưng những giấc mơ như thế không chấm dứt.
- Nàng cầm chặt cổ tay tôi. - Điều kinh khiếp nhất đó là em không hề thương nhớ
về anh, mà luôn luôn nhớ về lão. Những bức thư của anh đều đặn đến, nhưng em
không màng đọc chúng. Em biết rằng anh sẽ rất khổ tâm, nhưng em phải cảm thông
rằng em đã phải kiệt lực phấn đấu để thoát khỏi cái ảnh hưởng đó. Quỷ ma đã chiếm
lĩnh tâm hồn em. - Nàng nhìn thẳng vào tôi. - Anh có tin vào điều này không,
Clay?
Tôi không bao giờ tin chuyện quỷ yêu, ma quái. Với tôi, Vidal
đơn thuần chỉ là một tỷ phú hãnh tiến và ngạo mạn.
- Anh không biết, hãy kể tiếp đi. Chuyện gì đã đến. - Tôi yêu
cầu nàng.
- Từ London trở về, mượn cớ gì đó mỗi ngày lão đều đến hãng đại
lý. Em phải đổi giờ ăn trưa với Bill để tránh lão, nhưng tình thế vẫn không đổi
khác. Thế nhưng tại sao phải tiếp tục tránh né? Em đã phải phấn đấu mệt mỏi
trong hai tháng khủng khiếp và cuối cùng phải khuất phục vì lão quá mạnh. Từ đó
em bị đặt dưới quyền của lão!
- Ý em muốn nói, Vidal đã bắt ép em phải lấy lão? - Tôi hỏi
và nhìn thẳng vào nàng.
- Không, lão không bắt ép nhưng lão lấy em làm vật sở hữu, vì
em ý thức được rằng, nếu không phục tùng lão em sẽ không bao giờ được bình yên,
được nghỉ ngơi. Em đã mệt mỏi, sợ hãi quá rồi. Lấy lão, em sẽ được nhẹ nhàng
hơn là tiếp tục phấn đấu.
- Tại sao em không nói cho anh biết diều gì xảy ra? Anh sẽ đến
giúp đỡ em.
- Không người nào có thể giúp em. Khi đương đầu với loại người
có quyền lực thế này, người ta phải tự cứu bản thân hoặc bị hủy diệt. Trong cuộc
chiến này, em đã đơn thân phấn đấu và bị ngã quỵ. Vả lại Clay, em yêu anh và vì
vẫn yêu anh lắm, nên em biết rằng lão sẽ quật ngã anh, nếu như anh thử can thiệp
vào. Anh không có vũ khí trong tay để chống lại quyền lực của lão. Em đã rất muốn
kêu gọi anh, và rồi suy nghĩ lại: "Tại sao lại hủy hoại hai cuộc sống?"
Em tự nhủ việc này chẳng ích lợi gì cả. Thế là em biên thư và trả chiếc nhẫn lại
cho anh.
Tôi bối rối nhìn nàng. Ai có thể tin rằng điều này vẫn làm
người ta sẽ ngủ yên?
- Nó đã vượt quá sức mình, phải thế không anh, Clay? Đấy là
hiện thân của cái ác, của con quỷ dữ! Anh không tin à?
Nỗi khiếp đảm lạc lõng qua đôi mắt nàng làm tôi âu lo:
- Bọn quỷ ma nhất định đã cáo chung tư thế kỷ qua rồi. - Tôi
nói. - Không, anh không tin có quỷ ma lẫn ác thần, nhưng anh hiểu rằng một người
đàn ông có nghị lực và sức mạnh như thế đã lấy mất tinh thần em. Anh đồng ý với
em rằng lão rất năng động, nhưng điều này không thể nói là thôi miên, là thuật
ma quỷ gì cả. Anh không thể chấp nhận những u mê như thế.
Nàng gật đầu như nói lên rằng đây chính là câu trả lời nàng
đang mong đợi ở tôi.
- Hay lắm Clay, cứ cho là lão đã làm em mất thần hồn lẫn thần
trí đi, chúng ta cũng nên dừng ở đây. Việc này ít phức tạp hơn nhiều, dù rằng
thế nào đi chăng nữa nó cũng không công bằng với em. Bất cần! Chúng ta đừng hao
phí thời gian. Một hôm, em có hỏi lão tại sao cưới em và đây là câu trả lời
chính xác từng chữ: "Anh sẽ trở nên giàu. - Lão đáp, cặp mắt khủng khiếp
chòng chọc vào em. - Đồng tiền là sức mạnh và anh muốn cái sức mạnh đó. Em phải
giúp anh. Anh đã chọn em như một đối tác, bởi vì em thông minh, nhạy bén và
tinh tế. Ngay khi nhìn thấy em, anh biết rằng em là người đàn bà lý tưởng anh
đang tìm. Chúng ta cùng làm việc và cùng đạt thắng lợi."
Cặp mắt buồn rười rượi của nàng ngước lên trần phòng:
- Trong bốn năm với em bên cạnh, lão đã đạt được mong muốn.
Lão có quyền năng vô hạn và một tài sản khổng lồ. Ở lão có một nghị lực không
xót thương đã dẫn lão đến chỗ không dừng lại, buộc lão phải tiếp tục hái ra tiền,
vun đắp quyền lực cho tới ngày nằm xuống. Một năm sau đám cưới của chúng em,
lão thu được một triệu đầu tiên. Lão không vui mừng, mà còn không thỏa mãn.
"Chỉ mới bắt đầu, - lão nói, - chẳng là gì cả". Vì thế, chúng em đã
làm việc, không bao giờ dừng lại để đi du lịch, giao tiếp bạn bè, chia nhau những
thùng rượu vang. Tóm lại, công việc đã làm em tởm lợm. Nhưng vốn là tên nô lệ
trong tay một chủ nhân hung bạo, em vẫn phải làm việc, tiếp tục làm những gì phải
làm.
Im lặng lúc lâu, ánh mắt nàng vẫn gắn trên trần phòng:
Thối chí, nản lòng, tôi không thể chấp nhận câu nói phi lý
này. Nàng muốn nói gì, thế nào là kẻ nô tỳ dưới tay lão chủ nhân hung bạo, là
ma quỷ ác thần? Tôi chỉ muốn nghe nàng trở thành người tình của Vidal và tình
yêu ấy giờ đã nguội lạnh rồi. Giải thích này có thể tôi chấp nhận, chứ không phải
thôi miên, tà thuật hay quyền năng của sự chiếm hữu gì gì đó.
- Em trở lại làm chủ đời mình. - Nàng kể tiếp. - Lão ít cần đến
em. Em đã quá thừa thãi trong cuộc sống của lão. Lão đã quá bận rộn để hưởng thụ,
nhưng khi cần làm thì chính em nhận lĩnh mọi xếp đặt. Nhiều tuần lễ liền, lão
giam mình trong văn phòng, có cả khối người nhận lệnh của lão. Từ một năm nay,
lão không báo em biết công việc lão đã làm, điều gì lão dự định. Lão thích em ở
đấy như một món trang trí... Không có gì khác, lão không cần em giúp và em rất
vui về điều này. Ít ra, em cũng được rảnh rang, có thời gian để suy ngẫm, để
quay về nỗi nhớ anh, Clay. Anh không thể hình dung em đã hối tiếc biết bao khi
trả lại anh chiếc nhẫn, nhưng hãy thông cảm với em, vì vào thời kỳ đó em gần
như mất trí. Cho dù cuộc sống của chúng em trải qua cơn lốc xoáy, chúng em lang
bạc khắp nơi ở xứ người, em vẫn dành thời gian nghĩ đến anh. Tháng vừa rồi, đọc
báo em biết hãng American Travel Services mở một chi nhánh tại khách
sạn Spanish Bay Hotel và anh là giám đốc. Em đã nói chuyện với Dyer, hắn sợ em
và không biết chính xác em có ảnh hưởng hay không. Hắn nhớ lại, trước kia em có
làm việc cho American Travel Services, nên em không phải khó khăn trong việc
thúc hắn chuyển tài khoản ký thác ngân hàng sang hãng của anh làm đại lý. Em bảo
rằng mình muốn làm ơn cho những người mà có một thời em làm việc với họ. Hắn đã
chấp nhận và việc chuyển đổi đã không có vấn đề. Khi được biết, Henry sẽ đến
nơi này vì công việc, em yêu cầu được đi theo, mượn cớ đã lâu không được đi ra
ngoài. Em còn yêu cầu cần có một hướng dẫn viên để thăm thắng cảnh, trong lúc
lão bận rộn công việc. Em nói với Dyer rằng anh sẽ là người hướng dẫn. - Nàng
vuốt ve bàn tay tôi. - Anh đã từ chối, phải không? Nhưng rốt lại, em đã thành
công và hiện tại ta đang ở đây. - Nàng choài người vào tôi, để được ôm ấp. -
Tha lỗi cho em vì đã khiến anh đau lòng, anh yêu. Hãy cố gắng thông hiểu những
gì đã qua.
Tôi vỗ nhẹ vào đùi nàng:
- Anh đã không bao giờ quên em, Valérie và anh ngỡ đã vĩnh viễn
mất em rồi. Em biết rằng anh đã có vợ rồi chứ?
Nàng gật dầu:
- Dyer có nói với em. Người ấy có làm anh hạnh phúc không,
Clay?
- Bọn anh đang sống bên nhau.
- Em đã trung thực với anh, Clay và em xin anh cũng như thế với
em. - Nàng lặp lại. - Người ta có làm anh hạnh phúc không?
- Không, bọn anh nghi ngờ lẫn nhau. Nói cho cùng, bọn anh chẳng
có cái chung. Em đã biết rồi mà, cô ấy đứng bán hàng ở hiệu Trendie.
- A, Rhoda phải không? Vợ anh đấy à?
- Đúng vậy.
- Nhưng cô ấy xinh đẹp, lại vui tính! Anh lập gia đình bao
lâu rồi, Clay?
- Hai năm. Đấy là một lầm lẫn.
Nàng nhìn tôi thăm dò:
- Anh không yêu cô ấy?
- Em mới chính là người anh yêu.
Nàng kê mặt vào má tôi:
- Anh không thể nghĩ rằng em rất sung sướng được nghe anh nói
câu đó! Giờ thì em không tin có thể sống mà không có anh, Clay.
- Đêm đêm anh đều nhớ đến em. Ý nghĩ rồi đây chúng ta có thể
mất nhau lần nữa đã không tha thứ cho anh. Chúng ta sẽ phải làm thế nào đây? Có
nên chấp nhận ly dị chăng?
Nàng đờ người trong vòng tay tôi:
- Không! Ngay tới việc nghĩ tới nó thôi, em cũng không dám. Nếu
lão cho rằng em muốn xa lão chỉ vì anh, có thánh mới biết lão sẽ làm gì?
- Lão có thể làm được gì nào? - Tôi mất kiên nhẫn hỏi. - Nói
với lão rằng em đã yêu anh và anh cũng sẽ nói với Rhoda rằng anh đã yêu em. Cả
hai người đó sẽ chấp thuận ly dị thôi.
- Nhưng, nghe này Clay! Em đã nói lão rất hung bạo và là một
con quỷ dữ. Lão có trong tay một bọn chuyên đâm thuê giết mướn, chỉ chờ lão ra
lệnh, chúng sẵn sàng nhúng tay vào tội ác ngay. Có lần một người đàn ông toan dở
trò lừa gạt lão, lập tức người này đã bị ba gã đàn em của lão nện một trận thừa
chết thiếu sống. Từ đó người đàn ông đáng thương này phải ngồi xe lăn và bị ngờ
nghệch.
Tôi ngạc nhiên, nhìn nàng:
- Ơ, thế còn cảnh sát không...
- Chuyện diễn ra trong đêm tối như mực và cú đánh khốc liệt,
nhanh chóng bất ngờ, liệu cảnh sát can thiệp được không? Nếu lão phát giác
chúng ta là đôi tình nhân, lão sẽ thả bọn chó má ấy ra vồ ngay cả anh lẫn em.
Một đứa con gái ngu đần đã thử đe dọa lão bằng một văn kiện
thừa nhận là bà con phả hệ để hy vọng moi được tiền lão. Một trong số tay chân
lão đã không ngần ngại tạt nước cường toan vào mặt cô gái, khiến giờ đây cô bị
mù lòa.
Nàng xúc động dặt hai bàn tay lạnh cóng lên tôi:
- Khi em bảo chỉ có thánh mới biết lão sẽ hành sử chúng ta
như thế nào khi em đưa đề nghị ly dị, thì chuyện đã rồi. Lão sẽ thừa khả năng
giết chết chúng ta.
- Anh không tin chuyện này...
- Em khẳng định với anh chuyện đó. - Nàng kêu lên, giọng chói
tai và bật ngồi dậy. Nỗi sợ hãi lóe lên qua đôi mắt nàng khiến tôi rùng mình. -
Lão sẽ cho người giết chúng ta!
Nỗi khiếp đảm của nàng là hiển nhiên. Tôi chỉ có thể nhìn
nàng tuyệt vọng:
- Phải làm thế nào đây?
- Có một cách! Suốt tuần qua, em đã suy nghĩ chín chắn và đã
tìm được một giải pháp không nguy hiểm, miễn là anh thật sự không muốn tách xa
khỏi em, đồng thời em không thể chịu đựng nổi cái ý tưởng rời bỏ anh. Đấy là một
giải pháp không có một ảnh hưởng nào đến cuộc hôn nhân của anh.
- Đó là cái gì?
- Em sẽ thuyết phục lão dùng anh để chuyên lo các chuyến đi
mà công việc phải cần đến. Anh sẽ như Dyer, một thành viên trong số người của
lão. Anh sẽ có một văn phòng trong biệt thự. Khi lão đi vắng, chúng ta sẽ không
gặp một nguy hiểm nào. - Nàng nhìn tôi, chờ nghe câu trả lời. - Anh nghĩ thế
nào về giải pháp này?
Tôi lắc đầu, hơi thất vọng:
- Tại sao lão chấp thuận chứ?
- Vì hai lý do. Lão sẽ tiết kiệm không tốn kém chi phí cho
hãng đại lý và em sẽ đặc trách nhiệm chăm lo. Lão không ngớt nói sẽ tìm cho em
công việc gì đó để làm. Xem đi, anh yêu, chúng ta sẽ cùng làm chung với nhau.
Em sẽ là thư ký mới của anh. - Nàng ôm chầm cánh tay tôi, ánh mắt rực sáng. -
Chắc chắn chúng ta sẽ phải đề phòng rồi, nhưng chúng ta sẽ được ở cùng nhau, giống
như thế này, khi lão vắng mặt.
Tôi vẫn lưỡng lự, nhưng nhận thấy kế hoạch này khả thi:
- Thế thì còn Dyer thì sao?
- Hắn bận rộn với công việc. Hắn sẽ sung sướng được thoát khỏi
vấn đề của những chuyến du lịch. Dyer không đặt một nghi vấn nào.
Một cảm xúc xốc nổi thấm đẫm vào tôi:
- Chà, như giấc mơ!
- Nó còn hơn cả điều anh mơ ước. Ngay bây giờ anh lãnh được
bao nhiêu?
Tôi nói cho nàng biết:
- Lão sẽ trả cho anh gấp đôi và lão sẽ tính lợi tức cho anh
trong đó. Anh sẽ có những giờ trong văn phòng, những giờ trở về nhà cả trưa và
chiều. Rhoda và lão sẽ không hay biết gì cả.
Phải nói rằng tôi ngu ngốc đã tin vào nàng...
Chương 9
Bốn ngày tiếp theo trôi qua vẫn y khuôn một cách. Buổi sáng
chúng tôi đi dạo với Rivera. Thật dễ giận phải ngồi xa nhau trong xe, nhưng hai
chúng tôi đã nhất trí phải cẩn thận, không ngồi cạnh nhau để tránh sự ngờ vực của
Rivera.
Chiếc xe chạy quanh thành phố và chúng tôi tham quan khu
Mercado Central, nơi lúc nhúc dân bản xứ đang mua bán hàng hóa đủ thứ màu sắc:
hạt đỗ đen, dưa hấu, sắn ngô, rau cải, cà chua, cá, tôm, luôn cả bánh mức phơi
bày như trải thảm trên mặt đường đầy bụi bặm và nhớp nhúa. Rivera chở chúng tôi
đến Acajalta, nơi những chiếc tàu khách đến từ Panama đang đổ du khách xuống
các xe ca để họ thưởng ngoạn thành phố. Chúng tôi ghé vào một quán cà phê để
xem họ pha chế một thứ hạt được gọi "cafe de oro", sau đó mang đi
phơi trước khi cho vào bao. Rivera đưa chúng tôi vào một ngôi làng ở Ilobasco,
nơi các người thợ già còn nhồi nắn những con búp bê nhỏ bằng đất nung hoặc sành
sứ, một nghệ thuật đang trên đường đào thải. Rivera ca thán, giọng tiếc rẻ:
- Tuổi trẻ ngày nay không kiên trì trước một công việc tỉ mỉ.
Hàng ngày, chúng tôi trở về khách sạn đúng lúc dùng bữa ăn nhẹ,
rồi Valérie đến với tôi trong phòng. Chốc chốc, tôi trông thấy Vidal vào buồng
thang máy hoặc từ trong đó bước ra. Lão cho tôi cảm giác... một người đàn ông
đang cố gắng làm tốt công việc, trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ thay vì phải mất
ba mươi sáu tiếng để thành công.
Buổi chiều, tôi ở trong phòng một mình, Valérie và Vidal đi
theo các đối tác để lo công việc trong các hộp đêm. Valérie nói với tôi đây là
một khổ dịch khiến nàng phát điên vì buồn chán. Sau khi ăn tối, trơ trọi một
mình, tôi bách bộ rất lâu trong thành phố. Tôi đã được tự do suy nghĩ về kế hoạch
Valérie đề nghị. Nếu Vidal chấp thuận, điều này có thể là một giải pháp, nhưng
nó sẽ không vững bền và không lâu. Tuy nhiên sau khi soi rọi, tôi đánh giá như
thế còn hay hơn chẳng được gì cả. Valérie hình như chắc chắn rằng chúng tôi sẽ
không gặp sự nguy hiểm nào cả và tôi sẵn sàng để bị cuốn vào. Tôi tự hỏi
Massingham sẽ nói sao khi tôi báo cho ông ấy biết tôi bỏ rơi hãng để làm việc
cho Vidal. Ông ấy có thấy đó là một phương thức kém tế nhị? Ông ấy sẽ phản đối?
Valérie đảm bảo rằng sẽ thuyết phục chồng nàng ký với tôi một hợp đồng ba năm.
Nếu nàng thành công, tôi sẽ không bận tâm lắm về phản ứng của Massingham. Thế
còn Rhoda? Để tưởng thưởng, tôi sẽ tăng tiền nhiều hơn cho nàng trong các bữa
ăn và sắm cho nàng chiếc xe, để không cần đến tôi phải rước. Tôi nghĩ nàng sẽ
không cần biết các thứ còn lại. Valérie khuyên tôi nên kiên nhẫn:
- Em phải chọn những lúc tính khí lão ôn hòa và không bận rộn
công việc. - Nàng giải thích, lúc chúng tôi nằm kề. - Ngay khi chúng ta trở về,
em sẽ chờ dịp thuận tiện để nói.
Càng lúc tôi càng nghĩ tới kỹ năng thôi miên, cái mà nàng
đang tin Vidal đang ứng dụng vào nàng. Tôi cho rằng, ngoài mặt nàng mơ hồ chấp
nhận sự ngờ vực của tôi về yêu ma, quỷ quái, nhưng tôi mong sự căng thẳng này sẽ
chóng khỏi thôi.
Thế rồi một việc xảy đến, thôi thúc tôi tự hỏi có thể nàng
chưa yêu sách gì với Vidal.
Suốt trong buổi trưa cuối cùng chúng tôi ở trong khách sạn,
sau khi qua ân ái, chúng tôi nằm song song trên giường. Bàn tay Valérie đặt nhẹ
lên tay tôi. Bớt bần thần, căng thẳng, ý nghĩ ngày kia chúng tôi sẽ xa rời San
Salvador lại trở về trong tâm trí tôi. Ngày kia, tôi phải đối mặt với tính chểnh
mảng, chây lười và bẩn thỉu của Rhoda. Tôi tự hỏi trong cái bát nháo nào tôi sẽ
lại gặp trong căn hộ. Bà giúp việc không đến vào ngày thứ bảy lẫn chủ nhật.
Chính tôi phải lau quét được chăng hay chớ trong những ngày cuối tuần.
Trong khi tôi miên man với những suy nghĩ mông lung, đột
nhiên, không dấu hiệu báo trước, Valérie xiết thật mạnh vào tay tôi. Những ngón
tay nàng cấu riết vào da, khiến tôi đau nhói phải kêu lên một tiếng.
- Valérie, chuyện gì thế?
Tôi rút mạnh tay ra và nhìn nàng. Cặp mắt nàng thể hiện một cảm
xúc bàng hoàng làm tôi lo sợ. Mặt xanh tái, hai cánh môi run run và toàn thân
nàng lẩy bẩy.
- Valérie!
Nàng nhảy phóc khỏi giường, hấp ta hấp tấp mặc quần áo vào.
- Lão đang ở dây! - Nàng rên rỉ. - Lão trở về rồi! Em luôn
luôn biết khi lão xuất hiện. Em lúc nào cũng thể hiện sự đau khổ đáng khiếp sợ.
Nàng mặc áo, tra chân vào dép lê, rồi chạy nhanh đến tấm
gương.
- Chồng em không thể có mặt ở đây. - Tôi trấn an, nhưng bị nỗi
kinh hoàng của nàng lây lan, đến nỗi tôi cũng phải mặc quần áo vào. - Mới có mười
sáu giờ, trong khi Revera cho anh biết lão sẽ về lúc hai mươi giờ.
- Lão đang ở đây. - Vừa chải tóc, vừa khẳng định, nàng cụp
người xuống, hai tay đặt lên ngực. - Chúa ơi em đau nhói!
Tôi ăn mặc chỉnh tề:
- Đừng căng thẳng quá mức. - Tôi bực tức la to vì sự hốt hoảng
của nàng đã lan truyền qua tôi. - Lão ấy không thể trở về sớm được! Ngồi xuống
đi! Không khéo em bị chuột rút.
- Lão đang ở đây, em đảm bảo mà. - Nàng lại rên rỉ. - Giữ lão
lại, trong khi em tranh thủ chạy nhanh về phòng của mình. Khẩn trương lên nào!
Sự khiếp đảm của nàng đã làm tôi hoảng loạn thật sự. Tim đập
thình thịch, tôi bước ra khỏi phòng, chạy nhanh tới cầu thang máy và ấn mạnh
cái nút bấm. Trong lúc chờ đợi, tôi thầm nói nàng đã bi thảm hóa và những sự
hãi hùng của nàng là vô cùng tận. Rivera cho tôi biết: "Vidal đã đến Santa
Rosa ở Lima để thăm một khu đồn điền trồng mía đường. - Rivera làm bộ mặt đưa
đám. - Đấy là một lộ trình rất xa, rất nóng bức, thưa Senor Burden? - Hắn khấn
- Thánh José khốn khổ! - Có bỏ giấc ngủ trưa chăng nữa, ít ra trước buổi tối
ông chủ mới trở về tới đây".
Vừa rời khỏi buồng thang máy và bước vào sảnh phòng, tôi đã
thấy Henry Vidal. Đứng trước quầy tiếp tân, lão đang ký nhận một bao văn thư
dày cộm.
Nhìn thấy lão, tim như ngừng đập tôi đứng chết trân tại chỗ,
một xúc cảm gớm ghiếc làm tê cóng ruột gan.
Tựa hồ cảm giác sự có mặt của tôi, lão bất thần quay lưng lại.
Đôi chân ngắn củn và to bè, lão đi như nhún nhảy tới chỗ của tôi:
- Những cuộc du ngoạn đó thế nào? - Giọng nói của lão sắc nhọn
và căng mắt tí hí, đanh cứng của lão săm soi vào mặt tôi. - Chẳng có gì đáng để
xem đâu, tôi đảm bảo như thế đấy. Vậy mà nàng muốn đến chứ. Tôi đã báo trước
cho nàng rồi. Khí hậu nóng bức rất thích hợp với tôi. Nàng nằm ỳ trong phòng,
thay vì phải bơi lội trong hồ tắm. Nàng không bị vướng bận gì cả.
Lão xem xét các bức phong bì, tôi cố tìm chuyện gì đó để nói,
nhưng sự hốt hoảng đã làm tê liệt đầu óc.
- Ngày mai chúng ta đi, - lão nói tiếp, cặp mắt ti hí gắn vào
tôi, rồi quay sang các bức phong bì, - chúng ta phải có mặt ở đây lúc bảy giờ bốn
mươi lăm phút. Anh phải lo các thứ, ông Burden. Tiền chè nước, hành lý... tôi
không cần phải nói với anh. Hãy nhận hai trăm đô la cho công khó của anh. Vợ
tôi có nói rằng anh đã giúp ích cho bà ấy khá nhiều. Cám ơn.
Đi vòng qua phía sau tôi, lão bước vào buồng thang máy.
Chắc chắn Valérie đang trở về ở trong phòng, nhưng nàng sẽ để
lộ ra không? Tôi không dám tin điều này. Chúng tôi đã nhanh chóng thoát khỏi
lão trong gang tấc.
Vài người đã có mặt trên hồ bơi. Trẻ con bì bõm dưới nước, hò
hét ỏm tỏi. Tôi bước xuống các bậc cấp và khi ở ngoài nắng, tôi đi khá xa bể
bơi và đến ngồi dưới cây dù.
Tâm trí tôi bị nỗi lo âu cào xé. Bằng cách nào Valérie phỏng
đoán được sự trở về của chồng nàng? Nàng có thiên khiếu thấy trước sự việc? Tôi
hình dung lại gương mặt co rúm vì đau khổ và đôi tay nàng áp sát lồng ngực.
"Em luôn luôn cảm nhận cái đau khủng khiếp thế này, khi lão ở gần".
Tôi có nghe nói về đồng cốt và báo chí đã cho rằng những buổi chiêu hồn luôn
luôn bắt nguồn từ bọn phù thủy hay những kẻ ương ương dở dở. Tôi biết chắc tâm
trí của Valérie không rối loạn.
Nàng đã bị ám ảnh?
Trong thời gian còn đi học, tôi có đọc thánh kinh. Trong đó
có nói đến những người bị ma quỷ ám ảnh. Valérie có nói Vidal là con quỷ.
Tôi nhớ lại những lời nàng nói: "Bọn quỷ ma đã cố sức
làm những con người. Lão là một kẻ xấu, một con ác quỷ!"
Tôi muốn hỏi nàng về lão và nghe những câu trả lời mà không cần
đến nàng. Nhưng chúng tôi sẽ không còn cơ hội gặp riêng trước ngày trở về
Paradise City. Rồi một ý nghĩ khác đập vào tôi, một ý nghĩ làm khô bỏng miệng
tôi. Vidal có nghi ngờ Valérie và tôi không?
Tôi đứng lên và đi một vòng quanh khách sạn đến chỗ đỗ các xe
taxi. Với một chút may mắn, tôi có thể gặp José tài xế của Vidal còn ở trong
vòng thành. Nhưng hy vọng tan biến và lúc trở về khách sạn, tôi thấy Rivera đứng
dưới bóng mát đang nói chuyện huyên náo với những người giữ cửa. Tôi tiến về
phía hắn và nhìn thấy tôi đến gần, hắn vội đứng lên và chạy tới tôi:
- Ngày chót của ông ở đây, Senor Burden. Tôi rất buồn. Phu
nhân có thể muốn đi dạo một vòng khi trời mát, phải không?
- Tôi không tin như thế. - Đầu tiên ngạc nhiên về đề nghị
này, tôi nhớ tới việc hắn muốn có tiền trà nước. - Ông Vidal quay về bất ngờ,
tôi e rằng bà ấy không muốn ra khỏi phòng.
Hắn nói cười cởi mở:
- May mắn cho José, hắn không phải di từ Santa Rosa đến Lima.
Người bạn của Senor Vidal đã gặp ông ấy nửa đường ở Zacatecoluca, nguyên nhân
vì trời nóng.
A, thì ra thế, tôi thở phào nhẹ nhõm. Vidal đã không nghi ngờ,
lão không tìm cách để bắt chúng tôi quả tang.
- Canh chiếc xe được sẵn sàng vào sáng mai lúc bảy giờ rưỡi.
- Tôi dặn dò hắn.
- Vâng, Senor Burden xin ông tin nơi tôi.
Ngưng một chập, hắn nhìn tôi, vẻ lạc quan.
- Nếu phu nhân không muốn đi dạo, tôi có thể đi về.
- Để tôi hỏi lại cho chắc.
Tôi trở lại sảnh phòng và điện thoại lên phòng số bảy.
Valérie bốc máy.
- Tôi Burden. - Tôi nói. - Roberto muốn biết bà có muốn đi dạo
một lần chót không.
- Để tôi hỏi lại chồng tôi, nàng bình tĩnh trả lời. - Im lặng
một lúc, nàng nói tiếp. - Không, ở đây một lát chúng tôi sẽ đến bãi bơi.
Nàng gác máy, tôi cho Rivera biết rằng hắn có thể đi về và hắn
vui thích ra đi. Đã mười bảy giờ mười phút, không còn gì phải làm, tôi rất muốn
đi bơi, nhưng vì Valérie và Vidal sẽ xuống đấy, tôi nghĩ tốt hơn nên bỏ ý định
này.
Thế là tôi đi ra phố và vì nóng như thiêu đốt, tôi đi xem các
cửa hàng. Bất chợt tôi nghĩ đến phải mang một món quà về cho Rhoda. Thật không
dễ, vì nàng luôn luôn chỉ trích cái gì tôi mua cho nàng. Cuối cùng tôi nghĩ, có
thể nàng sẽ hài lòng với chiếc thắt lưng da rắn.
Lúc mười tám giờ ba mươi, tôi trở về khách sạn và bước vào
quán rượu, cầm ly rượu trong tay, tôi bước ra ngồi nơi sân thượng.
Tại đây, tôi đưa mắt nhìn xuống hồ bơi thì thấy Valérie và
Vidal đang ngồi dưới bóng râm của một tàng cây rậm rạp. Lão mặc chiếc quần đùi
màu tím nhạt, phơi thân hình dày cộm trên đôi chân ngắn ngủn to bè phủ đầy lông
đen. Nhìn lão, tôi cảm thấy một sức mạnh tàn bạo và thô thiển tỏa ra nơi lão với
bộ ngực vung tròn như chiếc thùng, trông giống dã nhân hơn là một con người.
Hết sức bất ngờ, lão quay đầu nhìn lên và trông thấy tôi.
Do bản năng tự nhiên, dường như đôi mắt lão không bỏ sót cử động
nào của tôi. Thế rồi, lão quay sang Valérie thì thầm điều gì đó. Lộng lẫy trong
bộ áo tắm hai mảnh màu xanh ngọc bích, nàng ngước lên nhìn tôi nhích môi cười,
rồi làm một cử chỉ khẳng định với Vidal, để lão này giơ tay làm hiệu, mời tôi đến
với họ.
Chương 10
Chuyến bay trung chuyển San Salvador - Guatemala - Miami chật
ních hành khách. Chúng tôi đến phi cảng sớm hai mươi phút, trước lúc khởi hành.
Vidal căn dặn tôi:
- Thông báo cho tôi khi tới giờ.
Rồi Valérie và lão đi vào phòng chờ dành cho các du khách hạng
sang.
Với sự trợ giúp của Rivera, sau khi kiểm tra xong hành lý,
tôi đến gặp cô tiếp viên hàng không để thông báo rằng vợ chồng ông Vidal sẽ có
mặt trên phi cơ, và được cô này hứa sẽ chăm sóc cho họ. Sau đó tôi tặng tiền
trà nước hậu hĩnh cho Rivera, bắt tay từ giã hắn với những lời cám ơn nồng nhiệt,
dù hắn chưa xứng đáng vì không vất vả cho lắm.
Khi những du khách cuối cùng đi qua rào cản và làm xong thủ tục,
tôi bước vào phòng chờ đợi:
- Đã đến giờ lên phi cơ, thưa ngài Vidal - Tôi thông báo.
Liền khi họ ổn định chỗ ngồi, cô chiêu đãi đã đến dâng rượu
champagne nhưng họ khước từ, còn tôi đi tìm chỗ dành cho hành khách hạng thường.
"Tuần tới tính từ ngày mai, - tôi nói thầm, - tôi sẽ là
nhân viên của Vidal, nhưng tôi chưa tin vào điều này". Buổi trưa, trước
khi Vidal quay về sớm, Valérie có hứa sẽ thừa lúc chồng nàng nguội tính, thuyết
phục lão về việc này. Nhưng rồi tôi trong tình trạng hoảng loạn, liệu nàng còn
đủ kiên trì để thực hiện hay không?
Khi tôi đến gặp họ cạnh hồ bơi, Valérie cho biết nàng phải
thay y phục để ăn trưa, thế là Vidal và tôi có cuộc họp mặt tay đôi.
- Vợ tôi khuyên tôi nên nhận hẳn anh lo riêng công việc cho
tôi. Một ý kiến tuyệt vời. Lẽ ra Dyer phải có ý kiến này đầu tiên, nó sẽ tiết
kiệm được tiền bạc cho tôi. Những con suối nhỏ sẽ tạo thành những dòng sông lớn,
Burden. - Lão bổ sung và nhìn tôi thăm dò và tôi để ý không nghe lão dùng tiếng
"ông" nữa để gọi tôi. - Đúng lý, người ta phải nói cho tôi biết lãi
suất tiền hoa hồng ở một hãng đại lý đã lên cao đến thế. Vợ tôi cam đoan rằng
bà đã thảo luận ý kiến này với anh và anh đã sẵn sàng làm việc với tôi. Tôi đồng
ý cho anh một tuần lễ để sắp xếp công việc. Hãy tiếp xúc với Dyer vào tám giờ
ngày mai. Vợ tôi muốn làm việc với anh. Đây là một quyết định mang tính xây dựng.
Bà ấy hiểu rõ công việc của tôi, thế nên bà ấy sẽ lo toan. Mọi người đều phải
có một công việc để làm. Hình như anh có khả năng và tôi hy vọng như thế,
Burden. Tôi không đồng ý với những người không có năng lực. Anh hãy đến gặp người
cộng sự của tôi, ông Jason Shackman, ông ấy sẽ thiết lập một hợp đồng và vợ tôi
sẽ cho ông những chỉ dẫn. Nếu ông có những vấn dề cần đặt ra, nên hỏi bà ấy.
Hãy giữ những gì đã có và làm hết sức mình, anh sẽ đạt được hạnh phúc. - Lão kết
luận, rồi đứng lên đi như bơi về khách sạn.
Tôi dựa lưng vào ghế tựa để thắt dây an toàn. Thế là chuyện
đó đã ổn và tám ngày sắp tới, tôi sẽ cùng làm việc với Valérie một lần nữa. Chẳng
khác nào được lùi lại sáu năm trước. Được gặp nàng thường xuyên là ước vọng lớn
lao của tôi: "chúng ta sẽ như thế này, khi lão vắng mặt". - Nàng đã đề
nghị. - Đấy là những lúc tôi sẽ được sống hạnh phúc.
Tôi miên man nghĩ tới những điều mình sẽ phải làm trong tuần
tới. Nghĩ tới Rhoda, thấy mình phải hết sức thận trọng để nàng không đặt chút
nghi ngờ nào. Cũng đừng để nàng đặt nghi vấn gì về việc Vidal sẽ gia tăng lợi tức
cho tôi.
Tôi sẽ khuyên Valérie đừng đặt chân tới cửa hiệu Trendie. Nếu
Olson trông thấy nàng, thật là tai họa. Hắn sẽ tiết lộ Valérie là ai, thế là ngọn
đèn báo động màu đỏ được bật lên.
Tới phi cảng của Miami, tôi đến gặp Valérie và Vidal tại trạm
hải quan.
- Trông coi hành lý đấy, Burden. - Vidal chợt ra lệnh. - Đi
nào Valérie, chiếc Rolls đang chờ chúng ta.
Tôi phải đợi một chập mới nhận lại được hành lý. Lúc theo người
khuân vác hành lý bước vào sảnh phòng, tôi nhìn thấy Vernon Dyer chảnh choẹ
trong bộ áo vàng chanh, đang ném cho tôi cái mỉm cười kiểu cách.
- Thế là anh cũng đến để hợp tác với chúng tôi. Anh không thận
trọng đấy, anh bạn khốn khổ của tôi. - Hắn nói. - "Cái khúc xương xẩu"
vừa thông báo tôi biết tin.
- Cái gì? "Khúc xương xẩu"?
- Đấy là từ chúng tôi gọi lão, bí mật tuyệt đối đấy, dĩ nhiên
rồi. Tôi chào mừng anh đến, anh bạn đường cùng nô lệ với tôi. Hình như bà Vidal
lại lao đầu vào công việc. "Khúc xương xẩu" sẽ không phải trả tiền cho
nàng. Đấy là cái cách luôn luôn cho lão được lợi. Nhưng tôi thích ở vị trí của
tôi hơn là của anh. Giữa chúng ta, anh bạn, có thể nàng khó linh động, tôi lặp
lại, khó linh động đấy. Có những ngày, tính tình nàng rất khó chịu. Nàng không
thỏa mãn, không nghi ngờ nữa. Chuyện này không lạ lùng, và phải nằm với
"khúc xương xẩu" đầy lông lá.
Tôi kềm chế dữ dội để không cho hắn cái tát.
- Tôi đang lo hành lý.
- Để đấy, tôi sẽ lo. Nhờ ân sủng của chúa, đây là lần tạp dịch
cuối cùng. Thứ hai tới anh bạn.
Bằng một cử động, uể oải, hắn ra lệnh cho người khuân vác chất
hành lý lên một chiếc thổ tả đang chờ.
Khi trở về nhà, tôi bắt gặp ngay cái ổ chuột đã thấy trước.
Điều ngạc nhiên, Rhoda không có mặt ở đây. Sự mất trật tự ngự trị từ phòng ngủ
ra tới phòng khách làm tôi phát nản. Phấn bôi mặt lỗ chỗ trên bàn trang điểm,
cái gạt tàn đầy ắp mẩu thuốc lá, giường ngủ buông thùa, thỏi son môi rơi xuống
nền gạch, nàng đã giẫm lên và bôi trét vô tội vạ lên tấm thảm chân.
Trong phòng tắm là cả một bát nháo, quần áo vương vãi khắp
nơi. Tôi phải qua hai giờ đồng hồ để sắp xếp lại. Đã đến giờ ăn trưa, tôi pha
cho mình một cốc Martini và bước vào nhà bếp. Như tôi đã đoán trước, nàng chẳng
mua thức ăn dành cho ngày cuối tuần. Ngoại trừ một vài hộp cá, không có thức gì
để ăn cả.
Tôi tự hỏi nàng đang ở đâu. Ngày chủ nhật, hiếm khi chúng tôi
ra khỏi nhà. Nàng thích lê lết trong phòng, rồi ra hành lang tắm nắng. Trong
phi cơ, tôi chỉ uống tách cà phê, giờ thì đói ngấu. Tôi quyết định xuống quán,
nhưng khi ra tới cửa, thì Rhoda bước vào nhà.
- Hoan hô! - Nàng la lên và đặt cái hôn nhẹ lên má tôi. - Em
không biết lúc nào thì anh trở về. Anh đi du lịch có vui không?
Với một ngày chủ nhật, nàng đã tỏ ra vô cùng thanh nhã, dù rằng
không phải khó nhọc trang điểm cầu kỳ.
- Em di đâu thế? - Tôi hỏi.
- Đến câu lạc bộ. - Nàng bĩu môi, đáp lại. - Ở nhà một mình,
em buồn chết được. Có thứ gì đó để ăn không?
- Em biết rõ là không rồi mà. Chúng ta sẽ xuống quán.
- Chúa ơi, lại nữa! Thế mà em nghĩ là anh sẽ mua thứ gì trước
khi về đây đấy chứ.
- Thật ra là không. Nhưng anh có món quà cho em. - Tôi đưa
cho nàng chiếc thắt lưng da rắn.
- Không hợp kích cỡ của em. Thôi, đi nào... anh đang đói.
Chúng tôi xuống quán ăn và khiêm tốn gọi món thịt.
- Làm cách nào mà anh ăn ý với mụ Vidal thế? - Nàng hỏi, kèm
theo cái cười mỉm trêu chọc, khi cô hầu bàn đi khỏi. - Anh si mụ ấy à?
Tôi cầm mẩu bánh vừa được phết bơ lên:
- Rất tiếc đã làm em thất vọng. Không có chuyện yêu đương.
- Dù vậy, anh cũng thừa nhận rằng mụ ấy không tệ?
- Anh công nhận bà ta không tệ.
Tôi thấy nàng căm tức vì tôi không bị mắc câu của nàng:
- Cái gì... mụ ấy không tìm cách lôi anh lên giường à?
- Đừng nói chuyện tào lao nữa. - Tôi đánh trả, giọng ôn hòa.
- Anh đang có tin tức quan trọng chờ thông báo, nhưng em cứ chơi trò dại dột,
nên anh đợi đến khi em chịu chấm dứt.
Tôi mơ hồ cho rằng đấy là cách tốt để nàng quên không đề cập
tới Valérie, và tôi đã không lầm. Nàng đỏ mặt tức giận, vì ghét bị xem là trẻ
con:
- Tin tức gì quan trọng đâu nào?
- Em không muốn tiếp tục nói về bà Vidal nữa à?
- Thôi, đủ rồi, Clay! Anh thực đáng tởm! Tin tức đó là gì thế?
- Anh đã thay đổi chỗ làm. Vidal dành cho anh một chân nơi chỗ
của lão và anh đã nhận.
Nàng mở to cặp mắt:
- Cái gì... Anh bỏ hãng American Travel Services à?
- Hoàn toàn!
- Tại sao chứ?
- Anh sẽ được lĩnh gấp đôi ở hãng du lịch và công việc sẽ lợi
ích hơn nhiều. Đây là một cơ may, anh không bỏ qua.
- Thật thế à? - Nàng ngưng nói vì cô hầu bàn đến đặt hai đĩa
thức ăn trước mặt chúng tôi. - Còn hưu bổng của anh? Anh đã làm việc ở American
Travel Services suốt nhiều năm liền. Anh có là điên, thật đấy. Thế, khi
Vidal chết, anh sẽ làm gì hử?
Tôi chưa nhìn vấn đề dưới hai khía cạnh như thế này. Tôi
không thể thổ lộ lý do từ nay mình sẽ làm việc cho Vidal, bởi vì nguyên nhân
duy nhất chỉ là muốn được thường xuyên gặp gỡ Valérie.
- Lão còn nhiều năm dài phía trước, nên lão sẽ chi trả tiền
hưu cho anh.
Nàng ăn vài miếng thịt, rồi nhíu mày:
- Em cho rằng, anh đã hiểu điều anh làm. Anh sẽ làm việc ở
đâu?
- Những văn phòng ở gần nhà lão.
- Cái gì? Thế còn em? - Nàng đặt dao nĩa xuống, để nhìn tôi.
- Mỗi buổi chiều, em sẽ đi bằng cách nào để từ cửa hiệu trở về nhà?
- Anh sẽ sắm cho em chiếc xe, nhờ vào tiền phụ trội mà anh
lãnh.
Cặp mắt nàng sáng rực:
- Anh nói nghiêm túc đấy chứ?
- Đây là cái điều chồng của em đã nói.
- Em chẳng muốn bất cứ một chiếc loại nào cả, Clay. Ngoài chiếc
Austin Cooper hay Toyota.
- Em sẽ chọn thứ nào tùy thích.
- Một tài sản đấy chứ.
Sự thỏa thích của nàng là hiển nhiên. Nàng bận bịu nghĩ tới
chiếc xe hơn là bươi móc những chuyện khác. Tuy nhiên, trong lúc chuẩn bị lên
giường ngủ và sau khi xem xong chương trình truyền hình, nàng lại phát sinh một
phản ứng mới:
- Em cược là anh sẽ thường xuyên trông thấy con lẳng lơ cao lớn
ấy.
- Ai thế?
- Mụ vợ của Vidal.
- Chà, điều này sẽ làm anh ngạc nhiên. Anh nghe nói bà ấy đi
du lịch rất nhiều với chồng.
Rhoda suy nghĩ một chập, nhưng cuối cùng không dằn thúc tiếp:
- Thôi, đi nằm. Em thèm được sưởi ấm.
Tôi không thích, nhưng không phải lúc khước từ. Khi tắt đèn
và ôm nàng, tôi nghĩ tới Valérie nhưng mặc dù có kỷ niệm của nàng, tôi vẫn
không đạt được hiệu quả.
- Anh làm sao thế? - Khi tôi kết thúc, Rhoda giận dữ hỏi. - Một
thất bại hoàn toàn.
- Điều này đã rõ tỏng.
Rồi nàng quay mặt và tôi nằm trầm lặng trong bóng đêm, nhớ tới
Valérie. Tôi thao thức chập chờn mãi đến tiếng đổ qua đêm sang.
*
Tuần lễ kế tiếp tất bật vô cùng và tôi đã bỏ lại mọi việc
hàng ngày cho Olson. Tôi đã gặp Massingham, báo ông ấy rằng Vidal đã giao công
việc cho tôi.
Ông chấp thuận việc tôi ra đi, mà không phản bác.
- Do anh quyết định, Clay. - Ông nói. - Mất anh, chúng tôi rất
tiếc. Anh có chắc rằng mình đã chọn được giải pháp tốt chưa? Hôm nay, Vidal còn
ở đấy, ngày mai có thể lão biến mất.
- Tôi không tin như thế và tôi đã suy nghĩ kỹ rồi. Tôi cần một
thay đổi hơn là bán những vé máy bay. Vả lại, tôi sẽ được lĩnh nhiều tiền hơn.
- Hay lắm, anh thử xem, nếu thấy công việc ở lão làm anh thú
vị. Nếu không ổn, anh hãy trở về với chúng tôi. Lúc nào cũng sẽ có một chỗ cho
anh.
Thực là hơn cả điều tôi mong muốn.
Tôi điện thoại cho Jason Shackman, cộng sự viên của Vidal. Hắn
đã soạn sẵn một hợp đồng cho tôi. Cũng đơn giản thôi, nếu một trong hai chúng
tôi, Vidal và tôi, muốn rút ra phải thông báo trước sáu tháng. Thời hiệu của hợp
đồng là ba năm, với mức lương tăng hàng năm. Tôi ký, hắn ký thế là xong.
Rhoda đã có chiếc Austin Cooper mà nàng yêu thích. Mặc dù
công việc bề bộn, những ngày trôi qua dài như vô tận. Tôi nôn nóng đợi chờ cái
lúc gặp lại Valérie.
Buổi sáng thứ bảy, giữa lúc tôi đang xếp soạn giấy tờ, thì
Dyer chợt đến:
- Có phải anh đã sẵn sàng cho ngày thứ hai, anh bạn? - Hắn hỏi.
- Tôi đã có công việc tiếp theo cho anh, sẽ không thất nghiệp đâu. Họ đi du lịch
đến hết tuần. Hãy trang bị cho anh một lượng an thần.
Hắn móc túi lấy ra một tấm thẻ màu xanh được ép trong chất nhựa:
- Đây là thẻ thông hành của anh, để xuất trình cho người gác
cổng khi ra vào. Đừng làm mất nó đấy. - Hắn nhìn quanh quất, rồi ngồi lên mép
bàn của tôi. - Tôi không thấy lý do anh buông bỏ địa vị của mình, ở đây, anh là
ông chủ của chính mình, được chọn lựa giờ giấc của công việc. Tóm lại, anh được
rễ cả củ. - Hắn bổ sung bằng cái nhún vai và nhìn tôi, vẻ suy tư. - Tuy nhiên,
anh sẽ luyến tiếc những giờ khắc tự do như thế này, khi anh sẽ trải qua một tuần
lễ dưới lệnh của "khúc xương xẩu". Tôi mách riêng cho anh một tin:
hãy cảnh giác với bà Vidal! Với chúng tôi, đấy là thứ quái đản. Đôi lúc nàng
làm tôi ngơ ngác. Nàng dễ thương nhu mì được một ngày, sang ngày hôm sau đã cáu
kỉnh và phân cách. Một chuyện bất thường đã xảy ra vào hai tháng trước. Đang thảo
luận cách thức về buổi tiệc lớn, đột nhiên chúng tôi không thể nhớ lại tên của
một trong số khách mời. Trong lúc cả hai đành chịu thua, chợt không nhớ ra tên
của vị khách ấy, tôi liền búng các tay như thế này. - Hắn vừa nói, vừa diễn tả
điệu bộ bằng cách búng các ngón cái và trỏ vào nhau đánh cách một tiếng khô
khan. - Có thể anh không tin tôi đâu: nàng rơi vào trạng thái lên đồng... Anh
biết... như một người bị điều khiển bởi sự thôi miên, nàng trở nên bất động, cặp
mắt giương to và trống rỗng, giống bóng ma làm tôi điếng hồn. Trong một hộp
đêm, tôi có tham dự màn trình diễn thuộc loại như thế này rồi. Tôi búng tay hai
lần trước mặt nàng và nàng hoàn hồn nhanh chóng, cũng như lúc bị hôn mê! Nàng tỏ
vẻ hoàn toàn không hay biết về chuyện vừa xảy ra. Có lạ lùng không nào? - Hắn dặt
câu hỏi và kết luận bằng cách chìa ra cho tôi chiếc hộp đựng thuốc lá bằng
vàng.
Tôi từ khước điếu thuốc do hắn mời. Tôi phải hết sức cố gắng
để giữ sự điềm nhiên của mình. Thấy tôi không đáp lại gì cả, hắn chau mày. Rõ
ràng sự thờ ơ lãnh đạm ra mặt của tôi đã khiến hắn tức giận.
- Đừng nói rằng tôi không báo trước. - Hắn nói tiếp. - Đừng
búng mấy ngón tay trước mặt nàng, anh bạn. Dĩ nhiên, trừ phi anh muốn nàng trở
thành nô lệ của mình, nhưng sẽ rất bất lợi nếu "khúc xương xẩu" đang
có mặt ở đấy.
- Xin ông miễn chấp, tôi đang sắp đặt hết công việc ở đây. -
Tôi nói cộc lốc và mở một ngăn kéo. - Tôi có bổn phận phải làm cho nó được trống
rỗng.
- Lẽ ra tôi không nên ở đây mách lẻo mà để anh làm việc. - Hắn
nói và đứng cách xa tôi. - Chúc anh ngày cuối tuần thoải mái.
Hắn tiến thẳng đến cánh cửa, rồi chợt đứng lại:
- À, còn một chi tiết nữa. "Khúc xương xẩu" làm việc
bảy ngày một tuần. Tới đây, anh đừng kỳ vọng sẽ có ngày nghỉ cuối tuần.
Sau khi ném mũi tên độc này, hắn bước ra.
Tôi không có thời gian nghĩ tới điều hắn vừa nói về Valérie,
vì Olson đã đến vào phút chót để hỏi tôi vài vấn đề. Chúng tôi cùng bàn luận
mãi đến mười ba giờ. Vì là ngày chót, tôi mời Sue và Olson cùng Rhoda đi ăn với
tôi. Khi họ chia tay, Rhoda cho tôi biết, nàng định đi xuống Palm Beach để mua
vài thứ. Vì bây giờ nàng đã có phương tiện đi lại riêng, nên tôi chọn quyết định
trở về căn hộ của mình.
Ngồi trên hành lang, tôi suy ngẫm về chuyện Dyer đã kể và những
câu nói của Valérie. Vidal thật sự có những quyền năng về thuật thôi miên hay
không? Trong trường hợp này, liệu Valérie có bị lão lung lạc không? Nếu có, liệu
lão đã lột được lời thú nhận về mối tình của chúng tôi hay chưa?
Sự hoảng loạn và những lời cảnh báo của Valérie về tính hung
bạo của chồng nàng đã hiện lên trong tâm não của tôi: "Lão sẽ giết chúng
ta!" Nỗi lo âu đã đạt đến mức độ khiến tôi không thể ở lại trên hành lang.
Tôi phải làm một việc gì đó để xua đuổi cái ám ảnh to lớn ấy đi.
Tôi đi đến sân golf. Tại đây, tôi bắt gặp Joe Harkness của
hãng American Express đang tìm một đấu thủ. Trông thấy tôi, anh ta
ngoác miệng cười:
Bị gậm nhấm bởi những tư duy về nàng, tôi không cách nào tập
trung được tư tưởng và cũng không bao giờ thấy thích thú hòa nhập vào cuộc đánh
golf. Thế nên, khi tan trận đấu và trên con đường dẫn tới quán giải khát,
Harkness nói với tôi:
- Chắc chắn cậu đang lo âu việc gì đó. Có phải Dyer đã khuấy
nhiễu cậu không?
Vì biết không chóng thì chầy anh ta sẽ phát hiện ra, nên tôi
báo cho anh ta biết, kể từ ngày mai tôi sẽ làm việc cho Vidal. Nguồn tin này
làm cho Harkness mất vui:
- Có phải là một ý kiến hay chăng, Clay? - Anh ta hỏi. - Việc
này không liên quan đến tớ, nhưng nếu tớ muốn làm việc, thì Vidal sẽ bị liệt
vào hạng bét.
- Rất có thể lão là con người mờ ám, nhưng lão trả lương hậu
hĩnh, vả lại tớ đang cần một chuyển đổi.
- Được bao lâu chứ? Tớ nghĩ lão sẽ không kéo dài. Cái thanh
thế của lão sẽ tan thành cát bụi. Nói thẳng ra, từ lúc lão rút tài khoản ủy
thác chỗ chúng tôi, tôi được ăn ngon ngủ yên. Tớ cảm giác một ít lâu ở đây
thôi, sẽ xảy ra một biến cố mang nhiều tai tiếng.
Tôi liếc nhìn anh ta, vẻ thăm dò:
- Có phải chỉ là một cảm nghĩ đơn thuần không dựa trên cơ sở
nào cả?
- Không có gì đích xác cả, nhưng thiên hạ xì xầm và không có
lửa nào không có khói cả. - Harkness nhìn quanh quất và khi đoán chắc rằng
không bị ai nghe, anh ta nói tiếp. - Đây là chuyện xác thực, khi hợp đồng của
lão với công ty cho thuê xe không có tài xế đã tới thời hạn, vào cuối tháng trở
đi, người ta chỉ trợ vốn cho lão chỉ một tháng thay vì sáu tháng. Khi tin này
được loan ra, các nhà tài trợ khác cũng làm thế, chứ không thể hơn. Cậu đã nghĩ
tới việc này chưa, Clay? Rằng một khi hãng của cậu được tin như trên, liệu họ vẫn
giữ mức làm ăn như cũ với Vidal hay đương nhiên phải theo quỹ đạo chung, tức là
không chấp thuận cho lão vay, thời hạn là sáu tháng? Nếu Vidal thấy tài chính
không còn được đảm bảo hơn, lão sẽ không dại khờ thuê một người nhiều kinh nghiệm
như cậu để chuyên lo các chuyến du hành cho lão. Tối thiểu lão sẽ tiết kiệm được
tiền hoa hồng phải trả cho hãng đại lý.
Tôi sửng sốt nhìn Harkness. Đúng vậy, tôi chưa nghĩ tới điều
này, nhưng bất cần. Chính Valeria đã đề nghị tôi giúp việc cho chồng nàng. Vả lại,
tôi biết rằng một khi Vidal nghi ngờ, sắp tới đây lão chỉ hưởng một tháng tín dụng
ở American Travel Services thì lão lại càng hối hả tuyển tôi vào làm
việc.
- Thế lại càng chẳng liên quan đến tớ. - Tôi khẳng định và uống
một cốc bia. - Cho dù tình thế của Vidal chao đảo chăng nữa, tớ chẳng mất mát
gì cả. Massingham có hứa sẽ thu nhận lại tớ. Hy vọng Vidal sẽ chống chọi được
lâu dài, để tớ thủ được một ít tiền bên cạnh, trước khi lão bị phá sản.
- Tớ mong như thế. - Joe đáp lại, vẻ lo âu. - Tớ phải tự cứu
lấy mình, nếu không cái phần nửa mong manh của tớ sẽ tiêu mòn tức khắc. Chúng
ta sẽ gặp lại vào tuần tới, phải không?
Khi anh ta đi rồi tôi suy nghĩ về những điều anh ta nói. Tôi
nhớ lại, sau khi dọ hỏi Massingham đã khám phá ra Vidal chẳng có gì cả: tòa
nhà, những chiếc xe, chiếc du thuyền và luôn cả những nữ trang của Valérie đều
là những thứ thuê mướn. Tôi còn nhớ phản ứng của mình lúc bấy giờ. Bất cần biết
đến khi người ta muốn cất cánh bay xa.
Vả lại Massingham đã hứa sẽ thu nhận tôi vào làm trở lại, tội
vạ gì tôi phải lo âu chứ? Thế nên, với tình thế bây giờ, tôi chỉ nhún vai. Khi
người ta nít khẩu bánh của mình, ít ra tôi vẫn còn một khẩu khác.
Tôi quay về thành phố và mua những thức ăn cho ngày nghỉ cuối
tuần.
Thư viện đâu mặt với gian hàng tự chọn, nên sau khi nhét đầy
hai bao thức ăn và cho nó vào xe, tự dưng tôi thích vào đấy. Một người đàn bà
tóc bạc, đôi mắt sáng tinh ánh, hình ảnh mẹ hiền gia đình, mỉm cười thân thiện,
chào tôi:
- Ông Burden? - Bà giả lả. - Tôi tự hỏi, lúc nào ông đến viếng
chúng tôi.
- Thế sao bà biết tên tôi? - Tôi hỏi lại.
Bà cười giòn:
- Biết tên các vị khách mới đến viếng cửa hàng, đấy là một phần
trong công việc của tôi. Ông ở hãng American Travel Services, đặt văn phòng
trong Spanish Bay Hotel.
- Tôi chịu phục.
- Tôi có thể phục vụ gì cho ông, thưa ông Burden?
Tôi hỏi bà ấy có quyển sách nói về thôi miên học không.
- Tôi không có tác phẩm nào chuyên sâu về chủ đề này. Ông có
thể tìm thấy những thông tin ở một cuốn sách bách khoa từ điển của chúng tôi.
Tôi sẽ tìm cho ông ấy một cuốn.
Tuy không được chi tiết lắm, nhưng các thông tin trong bách
khoa tự điển vẫn làm tôi quan tâm, rằng phụ nữ rất nhạy cảm trước khoa thôi
miên hơn đàn ông và những người theo đồng bóng. Họ không bị thôi miên điều khiển
để có những hành động nguy hại, như tự hủy hoại thân thể hoặc ăn uống những thứ
họ không ưa thích. Tuy nhiên, họ có thể bị hoang tưởng, đại khái như ăn thịt
bò, lại nghĩ rằng mình thưởng thức món tôm he, một khi người thôi miên khẳng định
với họ như thế. Tóm lại, thuật thôi miên được ứng dụng bởi một người không
thông thạo, có thể sẽ nguy hiểm.
Nếu quả đúng, thì đảm bảo biết chắc rằng người ta không thể bắt
ép một người yếu bóng vía bằng thuật thôi miên để làm những gì mà người này từ
chối thực hành trong khi hắn đang trong tình trạng bình thường. Trong trường hợp
này, không chắc Vidal đã thu nhận ở Valérie lời thú tội về mối quan hệ của
chúng tôi.
An tâm về điều đã đọc qua, tôi trở về nhà và trong khi tôi
chuẩn bị món gà trộn cải thì Rhoda vừa về.
- Bữa ăn đã sẵn sàng. - Tôi lên tiếng. - Em có tìm được thứ
mình muốn không?
- Không. Cho em một ly đầy Martini, cưng. Đôi chân em chết tiệt
đây này. - Suốt ngày, Rhoda khổ sở vì đôi chân.
- Em tìm thứ gì đấy?
- Đã xem qua rồi, chẳng có gì đặc biệt. Các thứ ở đây đắt giá
hơn ở Palm Beach. Thế mà không ngăn trở được con đượi lớn xác phung phí tiền bạc
của chồng ả.
Tôi nhẹ nhàng phản bác:
- Nghe này Rhoda, lúc nào em cũng phải gọi bà Vidal là con đượi
to xác được sao?
- Thế thì sao nào? Anh không thích à?
- Không. Em muốn gọi bà ấy thế nào tùy thích. - Tôi vừa đáp vừa
rót rượu vào cốc.
- Cám ơn, em sẽ không bỏ qua đâu. Mụ đến Elisabeth Arden và
đã mua sắm đủ thứ ở cửa hiệu danh tiếng này. Thấy em, mụ chỉ gửi nụ cười ruồi,
nhiều châm chích hơn là một lời chào.
- Việc gì em phải bất mãn.
Lửa giận lóe qua ánh mắt nàng.
- Đừng trêu chọc em! Há mụ không biết em là vợ của anh à?
Tôi rời hành lang và trải khăn bàn cho bữa ăn:
- Tại sao bà ấy phải biết chứ?
- Em cho rằng anh đã nói với mụ ấy rồi. Dù sao cũng là một
trong số khách hàng của em. Anh không đề cập điều này à?
- Không. Em có đến ăn không?
- Nếu có biết chăng nữa, có thể mụ ấy sẽ chẳng màng nói với
em.
- Vì em khao khát muốn cho biết, vậy nếu được gặp anh sẽ nói
rằng em là vợ của anh.
- Cái gì cơ, nếu được gặp? Hẳn nhiên là anh sẽ được gặp.
- Thế nhưng anh sẽ nói thế nào với mụ ấy chứ?
- Trời ạ, anh đã nói rồi. Bà ấy thường xuyên đi du lịch.
Nàng khoát một nụ cười mờ ám:
- Hừ, việc gì em phải bất mãn. - Nàng lặp lại câu nói của
tôi, rồi cười phá ra.
Chương 11
Điện thoại reo vang trong phòng khách làm tôi giật mình thức
dậy. Tôi cảm giác chỉ thiêm thiếp được ít phút. Vì xem truyền hình, đến quá
khuya chúng tôi mới đi nằm. Tiếng chuông đã kéo tôi dậy, ngay khi chợp mắt.
Miệng làu bàu, tay tôi quờ quạng bật ngọn đèn trên bàn. Rhoda
ngồi trên giường, tóc rối nùi, mặt trơ phấn sáp trông như ma lem.
- Chuyện gì thế? - Nàng càu nhàu. - Tắt đèn đi nào.
- Có điện thoại.
Tôi mò mẫm tìm đôi dép lê.
- Quỷ tha ma bắt! Có ai đó gọi nhầm số. Cứ để nó reo.
Qua nhiều năm làm việc ở American Travel Services tôi
đã là nạn nhân của điện thoại. Không thể làm tai ngơ mắt điếc được, tôi bước
vào phòng khách và nhấc ống nghe.
- Burden, ông đấy phải không?
Tôi sửng sốt nhận ra giọng nói của Vidal.
- Thưa vâng, ông Vidal ở đầu dây?
- Tất nhiên tôi đây, Burden. Tôi phải tới San Salvador lúc
chín giờ ba mươi phút sáng mai. Tức là buổi sáng nay. Anh hãy sắp xếp và nhắc
tôi. - Lão ra lệnh rồi cắt máy.
- Thôi được, tôi sẽ gọi lại.
Tôi gác máy, đồng thời trông thấy Rhoda đang đứng nơi bục cửa.
- Chuyện gì thế? - Nàng hỏi, giọng the thé. - Trời ạ, làm ơn
vào ngủ. Chỉ vài giờ nữa em phải đi làm rồi.
- Trở lại giường di, đừng làm phiền anh! - Tôi ra lệnh và nhấc
ống nói gọi Vidal.
- Đây là nhà riêng của ông Vidal. - Một giọng trân trọng đáp
lại.
- Tôi muốn hầu chuyện với ông Vidal. Tôi là Burden.
Tôi chờ, Vidal đã ở bên kia đầu dây:
- Thế nào, dàn xếp xong rồi chứ, Burden? - Lão hỏi, giọng khó
chịu.
- Không một chiếc máy bay nào cất cánh sớm để đưa ông đến San
Salvador lúc chín giờ ba mươi, thưa ông Vidal. Tôi đã giữ một phi cơ cá nhân
cho ông, lên đường vào sáu giờ bốn mươi lăm và ông phải có mặt tại phi cảng lúc
sáu giờ mười lăm. Vé máy bay sẽ có sẵn cho ông. Ông có muốn phi cơ chờ ông ở
San Salvador không? Nếu không, tôi sẽ giữ cho ông một chỗ của hãng Pan - Am,
khi ông báo tôi biết giờ trở về.
- Ở San Salvador, để tôi tự lo. Không để phi cơ thuê bao chờ
đợi, vô ích lắm.
- Thế thì hay. Còn một chi tiết nhỏ nhặt nữa, thưa ông Vidal.
Giá vé cho một chuyến là chín trăm tám mươi lăm đô la, trả tiền mặt. - Tôi nhấn
mạnh hai cái từ này.
- Nói với họ tính vào trương mục của tôi. - Lão ra lệnh và
gác máy.
Tôi rủa thầm, gọi lại lần nữa. Không nghi ngờ, lão còn đứng gần
máy nói vì đã nhấc ống nghe.
- Ai gọi đấy? - Giọng của lão.
- Vẫn Burden đây, thưa ông Vidal. Ông không mở trương mục tại
hãng cho thuê phi cơ ở Florida, nên họ muốn được trả tiền mặt.
- Họ muốn... cái gì cơ?
Lão sủa dữ dội, đến nỗi tôi phải đưa ống nghe ra xa.
- Ông giám đốc đã nói dứt khoát như thế, thưa ông Vidal. Tôi
rất tiếc, nhưng phải trả tiền vé trước khi khởi hành.
- Không một kẻ nào xử sự cái cách đó với tôi! - Lão la hét,
có lúc tôi sợ rằng lão đã tấn công ai đó. - Hãy nghe tôi, Burden. Tôi nhận anh
làm việc cho tôi bởi vì vợ tôi đã tán dương tài năng của anh. Hãy cho tôi thấy
tầm cỡ của anh đi! Hãy nói với gã bẩn thỉu ấy rằng, tôi đòi hỏi một tháng thiếu
nợ hoặc giả tôi sẽ làm hắn mất việc!
Sau những lời này, lão đột nhiên gác máy.
Tôi ngồi thở để lấy lại bình tĩnh, một lần nữa tôi lại gọi
hãng cho thuê máy bay.
- Burden đây, - tôi cố gắng nói thật êm ái, - ông Vidal không
thể gom nhặt số tiền mặt như thế trước khi các ngân hàng mở cửa. Ông có thể cho
ông ấy một ngoại lệ được không? Nếu ông chịu dễ dãi, ông ấy sẽ trả lại ông gấp
trăm lần.
- Không trả tiền mặt, chẳng có phi cơ. Đấy là những chỉ dẫn của
tôi, ông Burden.
- Ông Vidal có thế lực, ông Everet. Ông ấy có thể làm cho ông
bị phiền toái trước tổng công ty của ông.
Everet phún một tiếng gầm gừ trong họng:
- Cái gã phù thủy, cái quái thai ấy hăm dọa làm tôi mất sở,
phải thế không, ông Burden?
- Chà, đúng vậy. Tôi nghĩ đấy là ý định của ông ấy.
- Thật thế à? Ông có muốn chuyển một thông báo đến lão không?
Tôi bổ khuyết lão hãy đích thân đến đây để làm việc ấy. Có cần tôi lặp lại
không, ông Burden?
- Không, vô ích, ông Everet. Ông đã thể hiện rành rọt rằng,
không có tiền mặt, không có phi cơ.
- Thế đấy. Tôi có phải hủy bỏ không?
- Tôi sẽ gọi lại. - Tôi đáp, giọng mệt mỏi.
Tôi nhấc điện thoại gọi Vidal. Hình như đang chờ tôi gọi đến,
Vidal đáp lại ngay.
- Thế nào? Ổn cả chứ, Burden?
- Tôi lấy làm tiếc, ông Vidal. Có thể tốt hơn, tôi nên lặp lại
những lời nói này của Everet: không có tiền mặt, không có máy bay. Hãy bổ khuyết
thêm, lão hãy đích thân đến đây để làm cho tôi mất việc...
- Mình đã mất chỗ, - tôi đã suy nghĩ, - vì đã thấy trước một
cái gì le lói đang dành cho mình, tôi không đau khổ bao nhiêu. Tôi sẽ phải tìm
một phương cách để gặp Valérie. Một phương cách ít thử thách hơn.
- Hắn nói đúng như thế, phải không? - Vidal hỏi, giọng nói chợt
bình tĩnh lại.
- Vâng, chính xác như thế.
- Tôi buộc phải chấp nhận sao?
- Đành vậy thôi.
Trước sự ngạc nhiên hết sức của tôi, Vidal cười cộc lốc giống
như tiếng gầm gừ.
- Anh có một khí phách hiên ngang hơn tôi nghĩ, Burden. Hãy
luôn luôn nói sự thực với tôi. Anh hơn những kẻ nịnh hót kia đang bao quanh
tôi. Hãy nói với Everet rằng hắn sẽ được nhận bằng tiền mặt và tôi sẽ đến sân
bay vào lúc sáu giờ mười lăm.
Dứt câu, lão gác máy.
Chương 12
Tôi ngủ vừa đủ và khi đến biệt thự của Vidal lúc tám giờ năm
mươi, cái ý nghĩ gặp lại Valérie đã làm tôi hăng hái hẳn lên. Sau khi cất xe,
tôi đi thẳng tới phòng của Dyer. Đã là một thành viên, tôi không phải đi qua
phòng tiếp tân và gõ cửa phòng Dyer, rồi bước vào. Hắn đang bưng tách cà phê, cạnh
bên là những chồng thư tín đang mở ra.
- Chào, - hắn lên tiếng, - tôi được biết chuyện vừa xảy ra
đêm qua. Đừng ngạc nhiên trước những bất ngờ do "khúc xương xẩu" dành
cho anh. Như tôi đã nói, không có gì bất khả xâm phạm đối với lão. Anh nóng
lòng muốn bắt đầu công việc của mình?
- Tôi sẽ được xếp đặt ở đâu?
- Tôi sẽ chỉ dẫn cho anh. - Hắn uống hết tách cà phê và bước
khỏi bàn giấy. - Anh sẽ làm việc trong biệt thự, bà Vidal sẽ cùng làm ở đấy với
anh. Tôi đã bỏ cả tuần để chuẩn bị bàn giấy cho anh. Anh có thể tự đánh giá. -
Vừa nói hắn vừa đưa tôi đến lối đi trồng hoa quý hai bên lề, thẳng tắp vào tận
ngôi nhà. - Có năng khiếu thẩm mỹ, dĩ nhiên bà Vidal đã tạo một phong cách tuyệt
xinh.
Chúng tôi bước vào ngôi nhà, dọc theo một sảnh phòng rộng lớn,
hai bên tường treo đầy giáp trụ và những vũ khí xưa. Bước lên một bục thang đường
bệ và mở cánh cửa ra vào nằm ở mút hành lang, Dyer dừng lại và làm hiệu để tôi
bước vào.
- Đây là chỗ của anh, chiếc bàn to lớn này thuộc về anh và
chiếc máy điện toán IBM kia là của bà Vidal. Bảng thời dụng biểu đã được đặt
trên bàn, hãy mạnh dạn mở nó ra, anh bạn. Giờ thì tôi quay về ổ của mình, chốc
nữa gặp lại.
Hắn biến.
Đứng dựa lưng vào cửa, tôi quan sát gian phòng rộng, tràn ánh
sáng, tất cả đều cầu kỳ, sang trọng. Những cánh cửa sổ to sù mở rộng, nhìn thẳng
xuống hồ bơi. Chiếc bàn của tôi đủ để làm cái mặt bàn chơi bi-da, bên trên có
hai chiếc điện thoại, một máy nội đàm và máy thư tín điện tử.
Máy nội đàm hiệu Grundig đặt trên chiếc bàn nhỏ, cạnh bên bàn
viết của tôi. Tôi ngồi vào chiếc ghế to dành cho giám đốc, trước mặt là chiếc
bàn nhỏ hơn, được trang bị một máy điện toán IBM, hai chiếc điện thoại, máy nội
đàm và một số bút chì, bút bi. Căn phòng gắn máy điều hòa nhiệt độ. Chưa bao giờ
tôi được trần thiết một nơi làm việc trang trọng thế này.
Trên tấm giấy thắm trắng tinh như tuyết, cất cao một chồng
phong bao dày cộm. Bây giờ đúng chín giờ, tôi tự hỏi khi nào Valérie sẽ xuất hiện.
Nhớ câu nói của Dyer rằng mình sẽ không hề rỗi việc, tôi cầm một chiếc phong
bao và mở nó ra. Bên trong là một hồ sơ mang tên hai ông bà William Jackson, gửi
từ Rangoon hai tuần trước yêu cầu chọn những căn phòng trong một khách sạn hạng
sang. Có kèm theo các sổ thông hành với chiếu khán cần thiết.
Nếu tập hồ sơ này trong tay tôi ở American Travel
Services, tôi sẽ chuyển đến Massingham, để. các nhân viên của ông ấy làm thủ tục
và nhanh chóng nhận được chiếu khán. Với Valérie, nàng chưa đủ bài bản để thực
hiện. Lãnh sự quán của Birmanie đặt tại Miami, đoạn đường đến đấy và trở về mất
hơn một giờ đồng hồ. Trong các lãnh sự quán, luôn luôn phải đợi chờ. Tôi không
hy vọng có được chiếu khán trong thời hạn bốn tiếng đồng hồ. Thế là cả buổi
sáng kể như mất đi. Đây không phải là cách sắp xếp tốt.
Nhìn vào máy nội đàm, tôi trông thấy tên của Dyer nằm dưới một
trong các nút bấm và tôi gọi hắn.
- Burden đây, - tôi nói, - tôi cần ngay một anh chạy việc ở
ngoài để đến Miami. Anh có thể gửi hắn đến, được không?
- Hân hạnh cho biết, đấy không thuộc phạm vi của tôi, anh bạn.
Hãy gọi đến Lucas, hắn sẽ giải quyết các vấn đề. Rất tiếc. - Hắn đáp và chấm dứt
cuộc thoại.
Thấy tên Bernard Lucas trên máy nội đàm, tôi bấm nút gọi hắn
và trình bày các khó khăn của mình.
- Chúng tôi không có người rảnh rỗi. - Hắn đáp lại, giọng khô
khốc, ít niềm nở. - Tôi chẳng biết tí nào về chuyện này. Tôi nghĩ đây là phần
hành của American Travel Services, tại sao ông không quan hệ với hãng ấy?
- Chúng ta không còn quan hệ với nơi ấy nữa. - Tôi nói, mà cố
gắng không để lộ thái độ của mình. - Chính tôi phụ trách các vấn đề về du lịch
của ông Vidal. Tôi đang cần một anh chạy việc ở bên ngoài.
- Ông nên yêu cầu ông Vidal cử cho một người. Tôi không có
quyền phái khiển người phụ việc.
Tôi thiết nghĩ Valérie sẽ giải quyết được vấn đề. Quan sát lại
tập hồ sơ lần nữa, tôi nhận thấy Jackson sẽ khởi hành vào sáng sớm ngày mốt,
không mất thời gian để được cấp chiếu khán nhập cảnh cho họ. Trong khi chờ đợi,
tôi có thể dành chỗ trước trên phi cơ, đặt xe đưa trước và dành cái phòng trong
khách sạn cho họ. Thế là qua máy thư tín điện tử tôi tiến hành làm và đã hoàn tất
công việc. Tôi đặt tất cả giấy tờ vào phong bì và bắt đầu mở một cái khác. Đó
là chuẩn bị chuyến du lịch Tokyo cho quý ông Jason, Hamilton, Fremlin và
McFeddy. Những xếp đặt thông thường, Vidal phải tiến hành đối với các tai to mặt
lớn: nhắc nhở Jason đi chủng ngừa bệnh đậu mùa và lo chiếu khán nhập nội cho
McFeddy. Tôi đã chuyển giấy tờ của hai người đến phòng điều hành. Họ phải lên
đường trong vòng ba ngày, thế là tôi liên lạc với các công ty hàng không Nhật Bản
và dành chỗ cho họ, rồi đánh điện tới Pacific Hotel ở Tokyo để chọn phòng nghỉ.
Nhưng tại sao phải tiếp tục chứ? Mỗi phong thư được bóc ra, tạo
thêm một sự bù đầu nhức óc. Dyer đã dồn đống cho tôi cả một bao để phải dò lần
từng chiếc. Valérie vẫn biệt tăm. Làm việc nhanh như chớp, nhưng không có thư
ký đánh máy, tôi như bị liệt tay chân.
Quỷ tha ma bắt Valérie ở đâu? Cảm giác rằng mình không thể
hoàn thành tốt công việc, đã khiến tôi vừa tức bực lại lo âu. Nhìn đồng hồ trên
tay đúng mười một giờ mười, tôi cầm cuốn sổ tay và máy móc ghi lại những chi tiết
của các chuyến bay, phòng đã dặn trước ở các khách sạn, theo thứ tự ưu tiên.
Tôi có tất cả mười bốn hồ sơ phải bổ sung, năm cái đã được làm gấp, những cái
khác có thể chờ đến ngày kia.
Hy vọng Valérie sẽ đến, tôi nghiên cứu tiếp năm tập hồ sơ.
Mãi khi nghe giọng nói của Dyer trong máy nội đàm, tôi mới biết đã mười ba giờ:
- Tôi quên cho anh biết, có một căn tin ở phía sau các dãy phòng
làm việc. Thức ăn không tồi, giá bán lại rẻ.
- Người ta có thể mang lên đây cho tôi mẩu bánh kẹp nhân thịt
không?
- Được chứ. Tôi quên phứt anh bạn có thói quen luôn luôn ăn
trưa tại bàn giấy. - Hắn nói giọng châm chọc. - Quay số 23 nơi chiếc điện thoại
màu xanh, người ta sẽ phục vụ, tùy thứ bạn muốn.
- Ông có trông thấy bà Vidal không?
- Bà ấy đã đi Palm Beach rồi. Bà ấy không đến gặp anh à?
Tôi thở dài:
- Không.
- Bà ấy có vẻ không được vui. Có thể bà ấy không nhớ hôm nay
là ngày làm việc đầu tiên của anh ở đây. Anh có người môi giới rồi chứ?
- Chưa.
- Đáng tiếc! Thế thì, anh xoay xở bằng cách nào đây? Tôi nghĩ
có rất nhiều công việc cho một mình anh.
- Mọi chuyện đã trôi chảy. - Tôi đáp lại, giọng khô khốc, rồi
cắt đứt liên lạc.
Đi tới Palm Beach.
Hừ, thật khó tin. Hơn một tuần lễ qua, chúng tôi không trông
thấy nhau, nàng không thể quên được điều này! Chắc chắn nàng phải tính nhẩm từng
giờ, từng ngày như tôi. Tôi đứng dậy, bước tới cánh cửa sổ. Tôi bắt buộc phải
có được các sổ chiếu khán ấy từ phía Rangoon trước mười bảy giờ. Nhìn các giấy
tờ đầy ắp trên bàn, tôi không có thời gian để đi đến đấy. Chợt tôi nhớ đến Sue,
nàng vẫn sẵn sàng giúp đỡ tôi khi cần đến. Nếu Massingham biết được chuyện này,
không khéo nàng sẽ gặp rắc rối. Tôi nhủ thầm, chờ lúc Olson đi ăn trưa, Sue ở một
mình trong văn phòng. Thế là tôi điện cho nàng.
- Chào, Clay! Em nghĩ ngay là anh. Công việc diễn tiến như thế
nào?
- Anh bị ngập đầu, Sue. Anh không có một cậu trai chạy việc
bên ngoài, trong khi anh cần thị thực hai chiếu khán ở lãnh sự quán Rangoon lúc
mười bảy giờ này. Nếu giúp đỡ được, em đã cứu sống đời anh.
- Anh đã có các sổ thông hành chưa?
- Rồi.
- Jake phải đến Miami để tìm những sổ chiếu khán, em nói anh ấy
đến gặp anh trước. Hãy chờ trong nửa giờ nhé.
- Em thật tuyệt vời!
- Này, Clay... Nói gì với Jake, nếu anh ấy hỏi...
- Anh sẽ nói hết lời, đừng lo âu. Thật là em đã giải thoát
cho anh.
- Tạm biệt.
Nàng gác máy. Tôi ngồi lại bàn làm việc và nhìn đống giấy tờ
chồng chất trước mặt. Nghĩ rằng mình phải đánh máy, tôi gom lại hết các bảng thời
gian biểu, thì cánh cửa bỗng nhiên bật mở và Valérie xuất hiện.
Nhìn thấy nàng, tim tôi đập không ngớt. Nàng xinh đẹp mỹ miều
và rạng rỡ làm sao! Nàng vất chiếc xách tay bằng chất dẻo đang mang theo lên
trên mặt bàn làm việc của nàng, rồi khép cửa lại.
- Clay, anh yêu! Anh hỏi em đã ở đâu à?
- Dyer đã nói với anh rồi. - Tôi đáp.
- Em buộc phải đến dấy, có nhiều mặt hàng bán hạ giá trong
các cửa hiệu. Em mua được chiếc áo dài rực rỡ còn mới toanh. Em sẽ cho anh xem.
Tôi chồm tới, ôm nàng, nhưng nàng đẩy ra:
- Không, Clay, không phải ở đây! - Nàng thì thầm. - Rất nguy
hiểm nếu ai đó bước vào.
Hết sức cố gắng dằn cơn khát vọng, tôi tách khỏi nàng. Sự thối
chí nản lòng và nỗi tuổi hờn dằn xé lên tôi:
- Không phải lúc để bận tâm đến những chiếc áo, Valérie! - Bất
chợt, tôi la lên. - Em đã thấy công việc mà Dyer đã để lại cho chúng ta rồi chứ?
Nàng nhíu cặp mày:
- Anh nói gì thế?
- Anh có đây một đống hồ sơ khẩn cấp, vô lý. Anh đang chờ em
đây.
Tôi cầm những chiếc phong bì và đặt chúng lên bàn của mình.
- Em phải giải quyết ngay, mỗi giấy tờ sao thành bốn bản phụ.
Trong khi đó, anh kiểm tra bảng thời dụng biểu các chuyến bay.
- Mà này, Clay! - Nàng phản đối, đôi mắt đẹp nhìn tôi đầy ngạc
nhiên. - Anh có vẻ lo âu, chuyện gì nghiêm trọng thế?
Tôi nén giận:
- Nếu em không làm ngay, Valérie, sáu nhân vật tai mắt sẽ
không thể lên đường và chúng ta sẽ thất bại từ lúc đầu hợp tác. Em nghiệm xem
nó có nghiêm trọng thế nào.
- Clay... anh đừng nói với em giọng đó!
- Xin lỗi, anh đã trải qua buổi sáng chết tiệt, đến đỗi anh
phải nhờ đến sự giúp đỡ của cô thư ký cũ. Nào, Valérie, chúng ta bắt tay vào việc.
- Nhưng em không thể làm việc như thế này. Phải thay đổi y phục
thôi. Anh thấy đấy, chiếc áo lộng lẫy của em sẽ nhăn nhúm khi ngồi xuống. Vả lại,
anh yêu, em chưa ăn và anh cũng thế chứ gì?
Tôi ngồi vào bàn viết và kéo chiếc máy đánh chữ của nàng về
phía mình.
- Không, lúc này anh không muốn gì cả. Anh sẽ đánh máy, em đi
thay áo. Trở ra càng sớm càng tốt. Em đồng ý chứ?
Nàng vuốt nhẹ trên vai tôi:
- Em nghĩ, anh đang giận em.
- Khẩn trương lên, anh van em đấy. - Lót tờ giấy vào máy đánh
chữ, tôi bắt đầu gõ. Nhìn tôi một lúc lâu, nàng cầm cái bao bằng chất dẻo và bước
ra.
Máy nội đàm trên bàn tôi reo lên. Lẩm bẩm rủa thầm, tôi đưa
tay ấn nút bấm.
- Ông Burden, bảo vệ đây. Có một người chạy việc đi xe gắn
máy tên Jake Lamb hỏi ông.
Tôi ra lệnh hắn cho người ấy vào và tiếp tục đánh máy. Năm
phút sau, một cô gái đưa Jake vào. Cặp mắt to bằng hai chiếc đĩa, anh ta chiêm
ngưỡng sự sang trọng của gian phòng làm việc.
- Ăn nên làm ra thực đấy, phải không ông Burden?
- Jake đã nói công việc với tôi rồi. - Anh ta nói và nheo mắt
với tôi.
Tôi tiễn anh ta ra cửa, nơi cô gái đang đứng chờ, rồi tôi dúi
tờ mười đô la vào tay của Jake.
Sau khi anh ta đi, tôi bổ khuyết một trong các hồ sơ rồi chuyển
sang cái khác thì Valérie quay trở vào. Nàng mặc sơ mi trắng cho vào váy màu sậm,
trông mỹ miều làm sao.
- Em đã gọi bánh kẹp nhân thịt và rượu Martini. - Nàng nói. -
Em sẽ thay vào chỗ của anh.
- Hay lắm. Anh phụ trách các chuyến bay.
Tôi rời chiếc ghế của nàng.
- Anh không còn giận em nữa, phải không cưng?
- Không, chắc chắn là không.
Nàng ngồi vào ghế:
- Em luôn luôn nghĩ tới lúc chúng mình làm việc chung với
nhau, Clay. Anh có hài lòng căn phòng này không?
Tôi ngồi vào chiếc bàn của mình, sợ không kịp giờ:
- Thật lộng lẫy. - Tôi đáp và bốc điện thoại. - Giả như Dyer
không dồn cho chúng ta khối việc gấp thế này...
Có tiếng gõ cửa và một gã giúp việc bước vào, hắn đẩy chiếc
bàn gắn chân bánh xe, bên trên xếp đầy những cái đĩa, một máy đánh cocktail và
những cái ly.
- Được rồi, Ferdy. - Nàng nói. - Chúng tôi sẽ tự phục vụ lấy.
Gã giúp việc có tên Ferdy rút lui, nàng đứng lên và châm rượu
vào hai cái ly, trong khi tôi đang xem đến dòng chữ của hãng "Pan -
Am".
- Em đang đói ngấu này! Hãy đến đây, Clay! - Nàng hét vừa giở
các nắp đậy những chiếc đĩa bạc đầy các miếng bánh kẹp nhân thịt nóng hổi, thơm
phức.
- Chúng ta ăn trong khi tiếp tục công việc. - Tôi đề nghị.
- Em không thể vừa ăn vừa mở máy chữ cùng một lúc được, mỡ dầu
sẽ vấy lên mảnh giấy mất. Và anh không thể gọi điện, trong lúc miệng còn đầy thức
ăn. Đừng làm chuyện không giống ai. Thôi nào, đến đây đi Clay!
Tôi chịu thua. Nếu mấy lão tai mắt ấy không thể khởi hành kịp
giờ, thì mặc xác họ. Nếu Valérie không cần biết công việc này phải hoàn thành
trước khi về nhà, thì rất đáng tiếc, nhưng cũng bất cần.
Tôi bước tới chiếc bàn đựng thức ăn và nhận chiếc cốc to sù
Martini - Gin do nàng đưa cho.
- Chúc sức khỏe, anh yêu. - Nàng nói và cười với tôi. - Vui
nhỉ, đúng không?
Tôi nốc liền một hơi, hết phân nửa ly cocktail và thấy sảng
khoái ngay. Hơn nữa, tôi đang đói như cào ruột. Chúng tôi tấn công những bánh
sandwich với trứng cá caviar và cá hồi xông khói.
- Chúa ơi! Chờ đợi thế này đến khi nào chấm dứt. Em tin rằng
ngày thứ hai sẽ không đến bao giờ.
- Chính xác, đấy là điều anh suy nghĩ. - Tôi nín một lúc, nói
tiếp. - Valérie, chúng ta phải được giúp đỡ. Chúng ta cần một cậu trai để lo
xin việc thị thực chiếu khán và các việc ở phía ngoài. Anh đã nói với Lucas rồi
và hắn trả lời việc này tùy thuộc vào Vidal. Em có thể dàn xếp được không?
- Henry sẽ không chịu đâu, vì lão phải trả tiền cho người
này.
- Không người nào xin làm việc không công cho lão.
Một lần nữa tôi lại nóng giận. Nàng giải quyết công việc một
cách hời hợt:
- Em sẽ nói chuyện này với Lucas. Có thể hắn sẽ không sẵn
sàng.
- Nghe này, Valérie, nếu anh không có được người phụ giúp,
chúng ta sẽ không hoàn thành được công việc. Đơn giản như thế.
- Không lẽ ngày nào chúng ta cũng cần đến thị thực chiếu
khán?
- Còn khối việc sẽ phải làm bên ngoài. Chúng ta tuyệt đối cần
một người như thế.
- Anh không ăn gì cả, cưng?
Tôi uống nốt phần Martini còn lại:
- Anh ngưng. - Tôi nói và bước trở lại bàn của mình.
- Clay...
Bàn tay tôi vừa sờ vào điện thoại:
- Gì thế?
- Anh đừng hẫng hụt. Người ta sẽ thu xếp.
- Nếu em thật sự muốn anh làm việc với em, Valérie. - Tôi
đáp, gằn từng tiếng. - Chúng ta chẳng những tự thu xếp, mà cần phải có một người
phụ việc.
Tôi gọi điện thoại đến các hãng hàng không ở North-Eastern và
hỏi bộ phận phụ trách giờ các chuyến bay.
- Nói đi nào, anh cho rằng em là kẻ phàm ăn ghê gớm, nếu xơi
nốt một bánh sandwich khác? - Nàng rót cốc Martini thứ hai. - Chúng ngon tuyệt,
phải không? Đến gần đây cưng. Anh mới nếm môi thôi.
Tôi phát cáu, thậm chí không thể nhìn nàng. Tôi đang chờ nhân
viên lưu trữ trả lời. Trong khi chờ hắn lục lọi, tôi nóng ruột nghĩ thầm:
- Trời ạ, lại phải chờ đợi.
Liệu chúng tôi có thể làm chung với nhau lâu được không? Nếu
nàng cho phép tôi được âu yếm, ôm ấp trong một phút thôi, thì tôi đâu có cử chỉ
cộc cằn, gay gắt thế này. Trái lại, thái độ thẳng thừng từ chối và sự hờ hững của
nàng trước đống hồ sơ cao như quả núi trước mắt, lại càng khiến tôi hối tiếc sự
tĩnh lặng ở Spanish Bay Hotel và sự giúp đỡ hữu hiệu của Sue.
Valérie vẫn còn đang ăn mẩu sandwich, trong khi tôi chấm dứt
nói chuyện với anh nhân viên. Tôi còn phải gọi đến các hãng hàng không Pan -
Am, B.O.A.C và Swissair.
- Valérie, làm ơn giùm tôi! - Tôi vừa hét vừa quay điện thoại
đến hãng Pan - Am. - Bắt tay vào việc! Hãy nhìn đồng hồ, đã qua mười lăm giờ rồi!
Cặp mắt nàng mở to, còn bàn tay thì bốc chiếc bánh khác:
- Ơ, tại sao anh căng thẳng thế, Clay? Yêu cầu anh đừng nói
giọng đó. Em chẳng ưa đâu.
Tôi mở cổ áo, nó làm tôi bị nghẹn:
- Cho anh xin lỗi. Anh không muốn to tiếng. Chúng ta bắt buộc
phải hoàn tất công việc!
Khi liên lạc được với nhân viên của hãng hàng không Pan - Am,
tôi thông báo cho họ danh sách các hành khách và giờ giấc khởi hành.
Valérie đã ăn xong chiếc bánh, dùng khăn giấy lau tay, rồi cầm
chiếc cốc, đến ngồi vào bàn làm việc. Nàng bắt đầu đánh máy.
Cầm các bảng lưu trữ trên tay, tôi đứng nhìn nàng sờ sẫm các
ngón tay trên mặt máy chữ. Ngày trước đã là cô thư ký tôi không bao giờ có được,
chiếc máy chữ của nàng nhảy nhịp giòn tan như pháo nổ, nhưng bây giờ nó tíc tóc
như gà nhặt thóc, khiến tôi bàng hoàng hốt hoảng. Với tốc độ này, cả một tuần lễ
chúng tôi vẫn không nuốt hết chồng hồ sơ. Tôi kết thúc nói chuyện với Pan - Am,
tìm số điện thoại của B.O.A.C, bên tai luôn căng ra với tiếng "tíc
tóc" vụng về.
- Chết tiệt! - Đột nhiên nàng hét to.
Đọc lại những gì đã đánh, nàng rút mạnh năm tờ giấy trong máy
đánh chữ, vò nát trước khi tức tối vất chúng phũ phàng vào cái sọt.
- Đừng lúc nào cũng chăm chăm vào em! Anh làm em rối bời đây
này. - Nàng nói, vẻ phiền bực. - Sáu năm rồi em không sờ đến máy đánh chữ... Có
gì đáng ngạc nhiên đâu?
- Chúng ta đổi chỗ. - Tôi thất vọng, đề nghị. - Em ghi giờ
các chuyến bay và anh sẽ đánh máy.
- Không bao giờ! - Nàng phản đối, cặp mắt tóe lửa. - Hãy làm
công việc của anh, em lo phần của em!
Giữa lúc chúng tôi đang gườm nhau, bỗng nhiên cánh cửa ra vào
bật mở toang và một gã đàn ông chợt xuất hiện.
Phải nói cuộc viếng thăm hết sức bất ngờ này làm tôi sững sờ
như rơi từ cung trăng. Gã giống một tay găng tơ thất sủng trong phim viễn tây
Hoa Kỳ. Mang bộ sậu màu xám sậm kẻ sọc đen to bản, áo sơ mi đen, mũ trắng rộng
vành, cà vạt cũng trắng nốt, cặp giò ngắn ngủn với chiếc cằm lún phún râu, gã
có hình dạng của một trong những kẻ ăn mày được phác vẽ trong tranh hí họa.
Thế nhưng gã không có gì đáng để khôi hài. Sự,lầm lì trầm lặng
đầy ấn tượng của gã, càng lúc làm tim tôi đập mạnh. Cặp mắt của lão như loài rắn
độc, chiếc mồm nhỏ rí với đôi môi mỏng đã chứng tỏ rằng cái gã đàn ông đang đứng
như tượng gỗ nơi cửa chắc chắn là một tên vừa nguy hiểm vừa thâm độc.
Cặp mắt ti hí của hắn bắn vào tôi cái tia nhìn khinh khi ngạo
mạn là một sự phỉ nhổ. Hắn khẽ khàng quay đầu trên chiếc cổ của con bò tót
trông thấy Valérie, hắn tiến tới trước bàn của nàng và vất một phong bao lên đấy:
- Ông chủ có nói bà lo cái này gấp.
Giọng nói của hắn làm người nhớ tới một trận mưa đá. Hắn quay
gót rời khỏi phòng, im lặng và nhanh nhẹn như rắn trườn. Cánh cửa lạnh lùng
đóng ập phía sau hắn.
Tôi hỏi Valérie bằng cái nhìn, sắc mặt nàng trắng bệch như
tuyết.
Chuông trong máy nội đàm reo làm tôi giật nẩy người. Tôi đưa
tay ấn nút bấm.
- Burden.
- À, Dyer.
- Tôi gửi đến anh tập hồ sơ, anh bạn. Rất tiếc, lẽ ra tôi phải
lo trong tuần vừa rồi, nhưng đầu óc tôi ở đâu ấy. Ông Wernstein đã đến Spanish
Bay Hotel rồi, vì ngài Vidal có hứa sẽ tổ chức một buổi giăng câu ngồi thuyền.
Anh thuê một thuyền máy đầy đủ tiện nghi, được không? Các yêu cầu đều có trong
hồ sơ.
Nhìn chiếc máy nội đàm với vẻ thảm hại, tôi nhớ lại cuộc gặp
mặt bất ngờ với gã đầu trâu mặt ngựa.
Thình lình Valérie đến đứng bên cạnh tôi:
- Dyer! - Nàng hét chát chúa vào máy nội đàm. - Tự lo lấy việc
ấy đi, hiểu chứ? Chúng tôi đã bị quá tải, không thể tổ chức các cuộc đi câu!
Anh đã quên, thế thì hãy khẩn trương điều chỉnh cái quên của anh lại đi.
Nàng ấn nút tắt máy. Tôi thấy khuôn mặt nàng hơi ửng đỏ,
nhưng đôi mắt còn thể hiện nét kinh hoàng.
- Cái gã ấy là ai thế? - Tôi hỏi và ra hiệu bằng ánh mắt về
hướng cánh cửa ra vào.
- Guilio Gesetti, một trong những trợ thủ đắc lực của chồng
em, theo cách người ta gọi. - Nàng đáp, giọng run run. - Chính nó đã tạt axit
vào mặt người đàn bà mà em đã nói với anh. Nó sẽ hạ sát chúng ta ngay lập tức,
chỉ cần một cái hất đầu đơn giản ra lệnh của chồng em.
Cổ họng khô cằn, tôi há miệng để nói gì đó, nhưng không thoát
ra khỏi nơi đôi môi. Tôi chưa hoàn toàn tin hẳn, khi nghe nàng bảo phải đề
phòng những gã giết thuê của Vidal, nhưng bây giờ tôi đã tin... Tôi bị khiếp
vía trước bộ dạng của gã ấy, một luồng buốt lạnh chạy dọc theo đốt xương sống
tôi.
Nàng quay trở lại bàn làm việc, bóc chiếc phong bi do Gesetti
trao cho nàng và mở ra, xem bức thư. Nàng thở dài và nhìn tôi:
- Henry đi Libye vào ngày 5... lão sẽ trở về vào ngày 9.
Chúng ta phải làm mọi sự chuẩn bị cho lão. - Nàng cố nặn một nụ cười mỉm. - Tuy
nhiên chúng ta vẫn còn một tuần lễ không có mặt lão, anh yêu. Nhớ đấy... cả một
tuần!
Gesetti đã làm tôi khiếp đảm, khiến cái viễn cảnh này không tạo
cho tôi chút hứng thú nào.
- Anh phải giữ chỗ trước cho ông ấy. - Tôi nói và với tay nhấc
điện thoại.























Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét