Anh em nhà Caramazov 5
Cuộc gặp mặt lần thứ ba, lần cuối cùng với Xmerdiakov
Giữa đường nổi lên ngọn gió khô nhói buốt thường có vào lúc
sáng sớm như thế này, tuyết xuống nhỏ, khô, dày đặc. Tuyết chưa kịp chạm đến đất
đã bị gió cuốn đi, lát sau đã nổi lên cơn bão tuyết. Phần thành phố nơi
Xmerdiakov ở gần như không có cây đèn đường nào. Ivan Fedorovich bước đi trong
bóng tối, không để ý đến bão tuyết, phân biệt đường bằng bản năng. Chàng đau đầu
và hai bên thái dương giần giật. Bàn tay co rút chàng cảm thấy như thế. Cách
ngôi nhà nhỏ của Maria Kondratievna một quãng, Ivan Fedorovich bỗng gặp một
nông dân say rượu, tầm vóc nhỏ bé, mặc chiếc áo
Zipun vả víu, chân nam đá chân chiêu, vừa đi vừa lầu bầu và
chửi bới, đột nhiên chửi to lên và hát bằng giọng say lè nhè:
Valka đi Pite
Hơi đâu tao đợi mày
Nhưng anh ta ngừng lại ở dòng thứ hai ấy, rồi lại bắt đầu chửi
ai không rõ, rồi đột nhiên lại lè nhè hét vẫn bài hát ấy. Ivan Fedorovich cảm
thấy căm ghét y tuy vẫn hoàn toàn không nghĩ đến y, và đột nhiên chàng bỗng hiểu
ra. Lập tức một ý nghĩ không cưỡng lại nổi khiến chàng muốn giáng một quả đấm
cho gã nông dân ngã nhào xuống. Đúng lúc ấy họ đi sát bên nhau, gã nông dân nhỏ
thó lạng hẳn đi, tự dưng xô thật mạnh vào Ivan.
Ivan giận điên lên xô y ra. Gã nông dân văng đi và ngã quật
xuống đất lạnh cứng, chỉ rên lên một tiếng đau đớn: ô-ô! và im bặt. Ivan bước một
bước về phía y. Gã nằm ngửa, bất động, ngất đi. "Gã chết cóng mất!" -
Ivan nghĩ và lại bước về phía nhà Xmerdiakov.
Ngay ở phòng ngoài, Maria Kondratievna hai tay cầm nến chạy
ra mở cửa, thì thầm với chàng rằng Pavel Fedorovich (tức là Xmerdiakov) ốm nặng
lắm không phải chỉ là nằm bẹp, mà hầu như mất trí, thậm chí bắt dọn trà đi,
không chịu uống.
- Sao, hắn đập phá lung tung à? - Ivan Fedorovich trả lời thô
lỗ.
- Không, trái lại, anh ấy hiền khô, nhưng xin ông đừng nói
chuyện với anh ấy lâu quá… - Maria Kondratievna yêu cầu.
Ivan Fedorovich mở cửa vào nhà.
Vẫn sưởi nóng như lần trước, nhưng trong phòng thấy rõ một số
thay đổi: một trong những ghế băng ở phía bên đã được mang đi, thay vào đó là
chiếc đi văng giá gỗ đào cũ kỹ, lớn, bọc da. Trên trải nệm với những gối trắng
sạch sẽ. Xmerdiakov ngồi trên nệm, vẫn với chiếc áo choàng đó. Bàn được chuyển
ra trước đi văng, thành thử trong phòng khá chật chội. Trên bàn là cuốn sách
dày cộp bọc bìa vàng, nhưng Xmerdiakov không đọc sách, dường như hắn ngồi
không, không làm gì. Hắn đón Ivan Fedorovich
bằng cái nhìn dài, thầm lặng và rõ ràng tuyệt không ngạc
nhiên về việc chàng đến. Mặt hắn đổi khác rất nhiều, gầy và vàng đi. Mắt lõm xuống,
mi dưới thâm quầng.
- Mày ốm thật đấy à? - Ivan Fedorovich dừng lại. - Tao sẽ
không quấy mày lâu và thậm chí không cởi áo mãng tô. Ngồi ở đâu đấy?
Chàng đi đến từ đầu kia bàn, nhích chiếc ghế dựa lại gần bàn
và ngồi xuống.
- Sao mày lại nhìn và im lặng? Tao chỉ hỏi mày một câu, và
tao thề rằng không có càu trả lời thì tao sẽ không về: tiểu thư Ekaterina
Ivanovna có đến mày không?
Xmerdiakov im lặng hồi lâu, vẫn lẳng lặng nhìn Ivan như trước
nhưng bỗng khoát tay và quay mặt đi nơi khác.
- Mày sao thế - Ivan kêu lên.
- Chẳng sao cả.
- Chẳng sao là thế nào?
- Có cô ấy có đến, việc ấy không dính líu gì đến cậu. Thôi
đi.
- Không, không thôi! Nói đi, khi nào?
- Tôi quên khuấy mất rồi. - Xmerdiakov nhếch mép cười khinh
miệt và bỗng nhiên lại quay mặt về phía Ivan, nhìn chằm chằm vào chàng bằng cái
nhìn căm hờn, cuồng nộ, chính cái nhìn trong lần gặp mặt một tháng trước.
- Hình như chính cậu ốm, cậu gầy rộc đi, mặt võ vàng. - Nó
nói với Ivan.
- Hãy để mặc sức khoẻ của tao, nói đi, cô ấy hỏi cái gì?
- Sao mắt cậu vàng đi thế, lòng trắng vàng ệch ra. Cậu đau khổ
lắm phải không?
Hắn nhếch mép khinh miệt và bỗng cười phá lên.
- Này, tao đã nói rằng không có câu trả lời thì tao không về
đâu mà! - Cáu kỉnh ghê gớm, Ivan quát lên.
- Sao cậu quấy rầy tôi vậy? Sao cậu hành hạ tôi? - Xmerdiakov
nói với giọng đau khổ.
- Ê, đồ quỷ! Tao chẳng bận tâm gì đến mày cả. Trả lời câu hỏi
đi, rồi ta ra về ngay.
- Tôi chẳng có gì mà trả lời cậu. - Xmerdiakov gằm mắt xuống.
- Tao cam đoan với mày rằng tao sẽ bắt mày phải trả lời!
- Sao cậu luôn luôn lo ngại vậy? - Xmerdiakov bỗng nhìn chằm
chằm vào chàng, nhưng không hẳn ra khinh bỉ, mà hầu như ghê tởm. - Ngày mai tòa xử phải không? Cậu sẽ chẳng can gì hết, cậu sẽ vô can mà! Cứ về nhà ngủ kỹ, chẳng
lo gì hết.
- Tao không hiểu mày… ngày mai tao sợ gì kia chứ? - Ivan ngạc
nhiên thốt lên, và bỗng nhiên một nỗi sợ nào đó như luồng gió lạnh phả lên tâm
hồn chàng.
Xmerdiakov đưa mắt nhìn chàng từ đầu đến chân.
- Không hi.… i.…ểu à? - Nó nói dài giọng với vẻ trách móc. -
người thông minh như vậy mà lại sẵn lòng đóng hài kịch như thế!
Ivan lẳng lặng nhìn nó. Chỉ riêng cái giọng bất ngờ như thế,
cái vẻ cao kỳ như thế của thằng hầu trước kia của chàng mà giờ đây dám xử sự với
chàng như thể đã là khác thường rồi. Lần trước không hề có cái giọng như thế.
- Tôi nói với cậu rằng cậu không có gì phải sợ cả. Tôi sẽ
không khai gì về cậu, không có tang chứng gì hết. Kìa, tay cậu run bắn lên. Sao
các ngón tay cậu cứ nhảy lên thế? Cậu về nhà đi, không phải cậu giết người.
Ivan giật mình, chàng chợt nhớ lời Aliosa.
- Tao biết là không phải tao… - Chàng lắp bắp.
- Cậu biết à? - Xmerdiakov lại nối lời.
Ivan bật dậy và chộp lấy vai nó.
- Nói hết đi, đồ súc sinh! Nói hết đi!
Xmerdiakov tuyệt không sợ hãi. Hắn chỉ chăm chú nhìn chàng với
niềm căm ghét cuồng nộ. Ivan ngồi phịch xuống ghế, như chợt suy ra điều gì.
Chàng nhếch mép cười dữ tợn.
- Mày vẫn nói chuyện hồi ấy? Về chuyện lần trước?
- Phải, lần trước cậu đứng trước mặt tôi và cậu hiểu hết, bây
giờ cậu cũng hiểu.
- Tao chỉ hiểu rằng mày điên.
- Cậu không biết chán! Ở đây chỉ có tôi với cậu, tuồng như việc
gì phải bịp nhau, cần gì phải đóng kịch? Hay cậu muốn đổ ráo cả cho tôi, trút cả
vào mặt tôi? Cậu biết, cậu là hung thủ chính, tôi chỉ là tay sai, là tên đầy tớ
trung thành Lisarda của cậu, thực hiện những gì cậu chỉ dẫn.
- Chỉ dẫn? Thế ra mày giết à? - Ivan lạnh người đi.
Có cái gì rung chuyển trong óc chàng, toàn thân chàng rùng
mình lạnh buốt. Đến đây Xmerdiakov ngạc nhiên nhìn chàng: có lẽ sự sợ hãi của
Ivan rốt cuộc làm hắn sửng sốt vì đấy là thành thật.
- Chẳng lẽ quả thật cậu không hiểu gì chăng? - Hắn lắp bắp một
cách ngờ vực, cười gượng gạo.
Ivan vẫn nhìn hắn, chàng như bị rụng lưỡi.
Valka đi Pite
Hơi đâu tao đợi mày
câu đó thoáng hiện trong đầu.
- Thế này nhé: tao sợ mày là giấc chiêm bao, mày là bóng ma
đang ngồi trước mặt tao chăng? - Chàng lắp bắp.
- Chẳng có bóng ma nào hết ngoài hai chúng ta, và một người
thứ ba nữa. Chắc chắn người ấy hiện đang ở đây, giữa chúng ta, người thứ ba ấy.
- Hắn là ai? Ở đâu? Người thứ ba ấy? - Ivan Fedorovich sợ hãi
thốt lên, nhìn quanh và vội vã đưa mắt sục tìm khắp các xó nhà.
- Người thứ ba ấy là Chúa, chính đấng tối cao, bây giờ đang ở
cạnh chúng ta, nhưng cậu đừng tìm, không tìm thấy đâu.
- Mày nói dối, mày không giết! - Ivan điên cuồng gào lên. -
Hoặc là mày điên, hoặc là mày trêu ghẹo tao như lần trước.
Vẫn như ban nãy, Xmerdiakov chẳng sợ tí nào, chỉ tò mò theo
dõi chàng. Nó vẫn chưa thể nào thắng nổi sự ngờ vực của mình, vẫn có cảm giác rằng
Ivan "biết hết rồi" và chỉ làm ra vẻ như thế để "đổ tất cả tội lỗi
cho hắn".
- Chờ một chút. - Rốt cuộc hắn thốt lên bằng giọng yếu ớt và
bỗng rút chân trái ở dưới bàn ra, bắt đầu vén quần lên. Chân đi tất tráng và
giày păngtup. Xmerdiakov thong thả tháo nịt và thọc sâu mấy ngón tay vào bít tất.
Ivan Fedorovich nhìn nó và bỗng sợ run lên trong cơn co giật.
- Thằng điên! - chàng gào lên, đứng phắt dậy, lùi về phía
sau, cụng lưng vào tường và như dính vào tường, vươn thẳng như sợi chỉ. Chàng
nhìn Xmerdiakov trong cơn khiếp sợ điên rồ. Hàn không chút bối rối về sự sợ hãi
của Ivan, vẫn lục lọi trong bít tất, như thể vẫn cố dùng ngón tay túm lấy cái
gì trong đó để lôi ra.
Rốt cuộc hắn túm được và lôi ra, Ivan Fedorovich thấy đó là
những tờ giấy gì đó hoặc là một tập giấy. Xmerdiakov lôi ra và đặt lên bàn.
- Đây! Hắn khẽ nói.
- Cái gì? - Ivan run rẩy trả lời.
- Cậu nhìn xem. - Xmerdiakov nói cũng khẽ như vậy.
Ivan bước tới gần bàn, cầm lấy tiệp giấy và giở ra, nhưng bỗng
rụt ngón tay lại như thể đụng phải con rắn độc ghê tởm, đáng sợ.
- Các ngón tay cậu vẫn run, co giật. - Xmerdiakov nhận xét và
thong, thả giở gói giấy. Dưới lớp giấy bọc là ba tập giấy bạc trăm ngũ sắc.
- Tất cả đấy, ba ngàn, chẳng cần đếm lại đâu. Nhận lấy. - Hắn
mới, hất đầu trỏ đống tiền, Ivan gieo mình xuống ghế. Chàng tái mét.
- Mày làm tao sợ quá… với chiếc bít tất của mày… - Chàng thốt
lên, cười gằn một cách kỳ lạ.
- Chẳng lẽ cho đến giờ cậu vẫn không biết sao? - Xmerdiakov hỏi
lần nữa.
- Không, tao không biết. Tao vẫn tưởng là anh Dmitri. Anh
tao! Anh tao! A! - Chàng bỗng đưa hai tay lên ôm đầu. - Này, mày giết một mình
à? Không có anh tao hay cùng với anh tao chứ?"
- Chỉ cùng với cậu thôi. Giết cùng với cậu, còn Dmitri
Fedorovich hoàn toàn vô tội.
- Thôi được thôi được Về tao thì để sau. Sao tao vẫn cứ run.
Tao không thể thốt lên lời.
- Hồi ấy cậu can đảm xiết bao, "mọi việc đều được phép
làm", vậy mà bây giờ cậu sợ hãi đến thế! - Xmerdiakov ngạc nhiên, lắp bắp.
- Cậu có muốn dùng nước chanh ga không, tôi bảo mang đến ngay. Tỉnh người lắm đấy.
Nhưng trước hết phải che kín gói này đi đã.
Hắn lại nghiêng đầu trỏ gói tiền. Hắn toàn đứng lên quay ra cửa,
toan gọi Maria Kondratievna mang nước chanh ga đến, nhưng còn tìm cái gì che đậy
tiền để ả khỏi nhìn thấy, thoạt lên hắn rút chiếc khăn tay ra, nhưng vì nó bẩn
quá, nên hắn lấy cuốn sách dày màu vàng duy nhất mà Ivan nhìn thấy khi vào, chặn
lên bó tiền. Tên cuốn sách là: "Lời Đức thánh Ixrac người Syri của chúng
ta". Ivan đã kịp đọc nhan đề, như cái máy.
- Tao không uống nước chanh ga. - Chàng nói. - Chuyện ấy để
sau. Hãy ngồi xuống và nói đi: mày làm việc ấy như thế nào? Nói hết đi…
- Cậu nên bỏ măng tô ra, không thì toát hết mồ hôi.
Ivan Fedorovich như thể bây giờ mới nghĩ ra, cởi áo và vẫn
không rời khỏi ghế dựa, ném áo xuống ghế dài.
- Nói đi, làm ơn nói đi!
Chàng dường như lặng im. Chàng chờ đợi, tin chắc rằng bây giờ
Xmerdiakov sẽ kể hết.
- Chuyện ấy xảy ra như thế nào ư? - Xmerdiakov thở dài. - Hết
sức tự nhiên, theo đúng lời của chính cậu…
- Về lời của tao thì để sau. - Ivan lại ngắt lời, nhưng không
hét lên như trước, mà dằn từng tiếng, dường như hoàn toàn tự chủ.
- Hãy kể thật tỉ mỉ mày đã làm việc đó như thế nào. Lần lượt
kể hết. Đừng quên gì cả. Chi tiết, cái chính là chi tiết. Tao yêu cầu mày đấy.
- Cậu ra đi, rồi tôi ngã xuống hầm nhà…
- Dĩ nhiên là giả vờ. Giả vờ tuốt. Tôi điềm nhiên xuống thang
đến bậc cuối cùng, tôi nằm xuống rồi la lên. Và giãy giụa trong lúc người ta
khiêng đi.
- Khoan! Suốt thời gian ấy và cả sau này, trong bệnh viện mày
cũng giả vờ?
- Không. Sáng hôm sau, từ trước khi vào viện, tôi lên cơn thực
cơn mạnh đến mức nhiều năm nay chưa từng có. Hai ngày tôi nằm hoàn toàn mê man.
- Được, được! Tiếp tục đi.
- Họ đặt tôi lên chiếc giường này, tôi biết rằng đó là sau tấm
vách vì lần nào tôi ốm Marfa Ignatievna cũng đặt tôi nằm sau tấm vách ấy trong
nhà mình. Bà ấy bao giờ cũng dịu dàng với tôi từ khi tôi mới ra đời. Ban đêm
tôi rên rỉ, nhưng khe khẽ thôi. Tôi vẫn chờ Dmitri Fedorovich.
- Chờ thế nào, chờ cậu ấy đến hỏi mày à?
- Đến tôi làm gì? Chờ cậu ấy vào nhà, vì đối với tôi thì hoàn
toàn chắc chắn là chính đêm hôm đó cậu ấy sẽ đến, bởi vì không có tôi và không
có tin tức gì, nhất định cậu ấy sẽ leo qua tường vào nhà và nhất định sẽ làm
cái gì.
- Nhưng nếu cậu ấy không đến thì sao?
- Thế thì chẳng sao cả. Không có cậu ấy, tôi sẽ không dám.
- Được được nói dễ hiểu hơn nữa, đừng vội, cái chính là đừng
bỏ qua gì hết
- Tôi chờ cậu ấy sẽ giết Fedor Pavlovich… điều ấy là cái chắc.
Bởi vì tôi đã chuẩn bị việc ấy… trong những ngày gần đây… cái chính là cậu ấy
đã biết hiệu gõ cửa. Với tính đa nghi và hung cuồng đã tích tụ lại trong cậu ấy
vào những ngày này, nhất định cậu ấy sẽ dùng mật hiệu đó để đột nhập vào nhà.
Nhất định thế. Tôi chờ đợi cậu ấy.
- Khoan! - Ivan ngắt lời. - Nếu cậu ấy giết thì cậu ấy sẽ lấy
tiền, mày phải cân nhắc về chính chuyện ấy chứ! Thế thì mày còn được cái gì
nào? Tao không hiểu? Tiền thì cậu ấy sẽ không bao giờ tìm thấy cả.
- Chính tôi bảo cậu ấy tiền để dưới đệm. Nhưng không phải thế.
Thoạt lên tiền để trong tráp, thế đấy. Rồi sau, bởi vì trên đời này ông chỉ tin
có một mình tôi, tôi gợi ý ông cất gói tiền đó vào góc nhà sau ảnh thờ bởi vì cất
ở đấy thì không ai đoán ra, đặc biệt khi vội vã. Thế là ông cất tiền vào đó và
nó nằm ở đấy. Còn cất dưới đệm thì đặc biệt buồn cười, ít nhất cũng phải cất
trong tráp khoá lại. Ở đây bây giờ mọi người đều tin rằng tiền nằm dưới đệm. Dớ
dẩn. Nếu như Dmitri Fedorovich thực hiện vụ giết người ấy thì sau khi chẳng tìm
thấy gì, hoặc là cậu ấy sẽ vội vã chạy đi, sợ mọi tiếng sột soạt như bất cứ tên
giết người nào, hoặc sẽ bị bắt. Khi đó, sang ngày hôm sau hay ngay đêm ấy, tôi
có thể trèo ra sau bức ảnh lấy tiền đi, đổ tất cả lên đầu cậu Dmitri. Bao giờ
tôi cũng có thể hy vọng như vậy.
- Được nhưng nếu cậu ấy không giết mà chỉ đánh thôi thì sao?
- Nếu cậu ấy không giết thì cố nhiên tôi không dám lấy tiền,
tiền vẫn nằm đấy. Nhưng cũng đã có dự tính rằng cậu ấy sẽ đánh ông chết giấc,
còn tôi trong lúc ấy tôi đã kịp lấy tiền, rồi trình với ông rằng chính Dmitri
Fedorovich đánh ông xong rồi lấy tiền đi.
- Khoan… tao lẫn lộn, vậy là vẫn Dmitri giết, mày chỉ lấy tiền
thôi?
- Không, không phải cậu ấy giết. Thôi được, bây giờ tôi vẫn
có thể nói với cậu rằng cậu ấy giết… nhưng bây giờ tôi không muốn nói dối cậu nữa,
bởi vì., bởi vì như tôi thấy, nếu cho đến giờ cậu vẫn chẳng hiểu gì cả và không
giả tảng để đổ hết cả tội lên đầu tôi thì dùsao tất cả tội lỗi vẫn là ở cậu, bởi
vì cậu biết chuyện giết người và giao cho tôi giết, còn cậu thì mặcdù biết hết,
cậu lánh đi nơi khác. Cho nên, ngay tối hôm nay, tôi muốn chứng minh thắng vào
mặt cậu rằng ở đây cậu là kẻ sát nhân chính, duy nhất, còn tôi không phải là kẻ
sát nhân chính, tuy rằng chính tôi giết. Cậu mới chính là kẻ sát nhân đích thực!
- Tại sao, tại sao tao lại là kẻ sát nhân? Trời ơi! - Rốt cuộc
Ivan không chịu đựng nổi, quên mất rằng chàng luôn luôn hoãn nói về bản thân
mình đến cuối cuộc nói chuyện. - Đấy vẫn là nói về Tresniasnia đấy ư? Khoan,
nói đi, tại sao mày cần được tao ưng thuận, nếu như mày coi việc tao đi
Tresniasnia là ưng thuận? Bây giờ mày giải thích điều đó thế nào?
- Tin chắc ở sự chấp thuận của cậu, tôi biết rằng sau khi trở
về cậu sẽ không làm um lên về ba ngàn đồng bị mất, nếu như nhà chức trách nghi
ngờ tôi thay cho Dmitri Fedorovich hay nghi tôi đồng loã với cậu ấy. Trái lại,
cậu sẽ bênh vực tôi… Sau khi được thừa kế, cậu có thể ban thưởng cho tôi suốt
cuộc đời sau đó, bởi vì dẫu sao nhờ tôi mà cậu được thừa kế, bằng không ông nhà
mà lấy Agrafena Alecxandrovna thì các cậu chỉ có mà ăn cám.
- A! Vậy ra mày dự định hành hạ tao sau đó, suốt đời kia đấy!
- Ivan nghiến răng. - Thế nếu tao không đi, mà khai báo mày thì sao?
- Cậu có thể khai báo cái gì nào? Rằng tôi xúi cậu đi
Tresniasnia à? Thật là dớ dẩn. Thêm nữa, sau cuộc nói chuyện giữa chúng ta, cậu
có thể đi hay ở lại. Nếu cậu ở lại thì sẽ chẳng xảy ra gì hết, tôi thừa biết rằng
cậu chẳng muốn điều đó, vì thế tôi chẳng cần mưu tính gì cả. Còn nếu cậu đi,
thì tức là cậu làm tôi tin chắc rằng cậu sẽ không dám đưa tôi ra toà và sẽ bỏ
qua cho tôi ba ngàn ấy. Với lại cậu hoàn toàn không thể truy tôi sau đó bởi vì
nếu vậy tôi sẽ kể hết tại toà, nghĩa là không phải tôi đã ăn cắp hay giết, -
tôi sẽ không nói như thế, - mà chính cậu đã xúi giục tôi ăn cắp và giết, mà tôi
lại không đồng ý. Vì thế hồi ấy tôi cần sự ưng thuận của cậu, để cậu không thể
có cách gì dồn ép tôi, bởi vì cậu lấy đâu ra bằng chứng, còn tôi bao giờ cũng
có thể dồn ép cậu sau khi đã phát hiện ra cậu mong muốn ba cậu chết đi như thế
nào, tôi xin nói với cậu rằng tất cả công chúng đều tin điều đó và cậu sẽ xấu hổ
suốt đời.
- Tao mong muốn, tao mong muốn ba tao chết đi đến thế ư? -
Ivan lại nghiến răng.
- Chắc chắn là cậu mong muốn và cậu lẳng lặng ưng thuận cho
tôi làm việc đó. - Xmerdiakov kiên quyết nhìn Ivan. Hắn rất yếu nói khẽ và mệt
mỏi, nhưng có cái gì ngấm ngầm ở bên trong thiêu đốt hắn, rõ ràng hắn có dự định
gì đó. Ivan linh cảm thấy thế.
- Tiếp nữa đi. - Chàng nói với hắn. - kể tiếp về đêm ấy đi.
- Tiếp đó thì thế này! Tôi nằm và nghe thấy ông nhà kêu lên.
Còn Grigori Vaxilievich trước đó bỗng trở dậy và đột nhiên rú lên, rồi tất cả lại
yên ắng và bóng tối. Tôi nằm, chờ đợi, tim đập thình thịch, không thể chịu nổi.
Cuối cùng tôi trở dậy và đi ra: tôi thấy cửa sổ bên trái trông ra vườn bỏ ngỏ,
tôi bước một bước về bên trái, lặng nghe xem ông nhà còn ngồi đấy hay không,
tôi thấy ông đang lồng lộn và kêu than, vậy là còn sống. Ồ, tôi nghĩ. Tôi đến gần
cửa sổ và gọi: "Tôi đây mà". Ông bảo tôi: "Nó vừa ở đây, vừa ở
đây, chạy rồi!" Nghĩa là Dmitri Fedorovich vừa ở đây. "Grigori bị nó
giết!" "Ở đâu?" - tôi thì thầm với ông già. "Đằng kia, góc
vườn", - ông trỏ, cũng thì thầm. "Hãy đợi đấy" - Tôi nói. Tôi đi
vào góc vườn và gặp Grigori Vaxilievich nằm dưới chân tường, toàn thân dẫm máu,
bất tỉnh. Vậy là đúng Dmitri Fedorovich đã đến đây, tôi chợt nảy ra trong đầu
và lập tức quyết định chấm dứt tất cả việc đó một cách đột ngột, bởi vì Grigori
Vaxilievich nếu còn sống thì vẫn bất tỉnh, hiện giờ không nhìn thấy gì. Chỉ
đáng ngại là Marfa Ignatievna chợt tỉnh giấc mà thôi. Lúc ấy tôi cảm thấy điều
đó, chỉ có lòng tham ấy choán hết tâm hồn tôi, khiến tôi nghẹn thở. Tôi lại đến
dưới cửa sổ ông chủ và nói: "Cô ấy ở đây, cô ấy đã đến, Agrafena
Alecxandrovna đã đến, xin vào" ông giật nảy cả người lên như đứa hài nhi.
"Ở đâu. Ở đâu kia?" - ông kêu lên, chưa tin hẳn. "Cô ấy đứng
kia. Ông mở cửa ra!". Ông nhìn tôi qua cửa sổ, nửa tin, nửa ngờ, nhưng vẫn
không dám mở, ông ấy sợ ta, tôi nghĩ. Buồn cười thật: tôi chợt nảy ra ý định gõ
vào khung cửa theo mật hiệu Grusenka đã tới, ngay trước mắt ông: nói thì ông
già không tin, mà tôi gõ hiệu thì lập tức ông chạy ra mở cửa. Ông mở cửa. Tôi
toan vào, còn ông vẫn đứng, toàn thân chắn không cho tôi vào. "Cô ấy đâu,
cô ấy đâu?" - ông nhìn tôi và run rẩy. Hừ, tôi nghĩ, ông ấy sợ ta như thế
thì nguy rồi! Chân tôi nhủn đi vì sợ ông không cho tôi vào phòng hay gọi to bà
Maria Ignatievna chạy tới, hay có chuyện gì xảy ra, tôi không nhớ rõ, hẳn là
lúc ấy tôi tái nhợt đi. Tôi thì thầm với ông: "Kia kìa, cô ấy đứng dưới cửa
sổ kia kìa. sao ông không nhìn thấy nhỉ?" - "Mày đưa cô ấy vào đi,
đưa cô ấy vào đi! - "Cô ấy sợ, tôi nói, - cô ấy không dám đáp lại tiếng
quát thét, cô ấy núp vào bụi cây, ông ra gọi đi, ra khỏi phòng đi. - Tôi
nói". Ông đến gần cửa sổ, đặt cây nến xuống cửa sổ. Ông gào lên:
"Grusenka, Grusenka, em đấy ư?". Bản thân ông gào lên, nhưng lại
không muốn nghiêng mình ra ngoài cửa sổ, không muốn rời tôi, vì sợ, vì ông rất
đề phòng tôi, vì thế không muốn rời xa tôi. "Cô ấy kia kìa, tôi nói (tôi đến
gần cửa sổ, vươn hẳn người ra ngoài), cô ấy ở trong bụi cây, đang cười với ông,
ông không thấy à?". Ông cụ bỗng tin, toàn thân run lên, cụ mê cô ta quá, cụ
nhoài hẳn ra ngoài cửa sổ. Tôi vớ ngay cái chặn giấy bằng gang trên bàn cụ, cậu
nhớ chứ, nặng ba funt, vung lên và giáng một cú vào đỉnh đầu, bằng sườn cái chặn
giấy. Không kêu được một tiếng. Chỉ giụi xuống, tôi giáng đòn thứ hai, đòn thứ
ba. Đòn thứ ba tôi cảm thấy ông vỡ sọ. Ông ngã ngửa mặt lên trời, máu bê bết.
Tôi nhìn kỳ: máu có bắn vào tôi không, không, tôi lau cái chặn giấy, lục tìm
sau ảnh thờ, lấy bó tiền ra, vứt phong bì xuống sàn và dải băng hồng cạnh đấy.
Tôi ra vườn, toàn thân run lên. Đi thẳng tới cây táo có hốc rỗng, cậu biết cái
hốc ấy đấy, tôi đã ngắm nghía nó từ lâu, đã đặt sẵn giẻ và giấy, chuẩn bị săn từ
lâu; tôi bọc số tiền vào giấy quấn giẻ và nhét thật sâu. Nó nằm đẩy hơn hai tuần
lễ, số tiền ấy ở bệnh viện về, tôi lấy ra. Về nhà lên giường nằm, tôi sợ hãi
nghĩ: "Nếu Grigori Vaxilievich bị giết chết hẳn thì rất lôi thôi, nếu lão
không bị giết, mà tỉnh lại thì hay lắm bởi vì lão sẽ làm chứng rằng Dmitri
Fedorovich có đến, vì vậy có giết và lấy tiền". Vì nghi ngờ và nóng ruột,
tôi bắt đầu rên rỉ để đánh thức Marfa Ignatievna cho nhanh. Cuối cùng bà ta trở
dậy, đến với tôi, và thấy không có Grigori Vaxilievich, bà chạy ra ngoài, tôi
nghe thấy bà ta rú lên ở vườn. Náo loạn suốt đêm, tôi hoàn toàn yên tâm.
Người kể chuyện dừng lại. Ivan vẫn luôn luôn im lặng nghe,
không nhúc nhích, không rời mắt khỏi hắn. Xmerdiakov vừa kể vừa thỉnh thoảng
nhìn chàng, nhưng liếc sang bên nhiều hơn. Kể xong, hắn rõ ràng cũng xúc động
và hổn hển. Mồ hôi túa ra trên mặt. Nhưng không thể đoán được hắn có ân hận
không.
- Khoan đã, - Ivan nghĩ ra, nói, - Thế còn cửa ra vào thì
sao? Nếu ông chỉ mở cửa ra vào cho mày thôi thì làm sao Grigori lại trông thấy
cửa mở từ trước? Bởi vì Grigori thấy cửa mở từ trước kia mà?
Đáng chú ý rằng Ivan hỏi bằng giọng rất đỗi hiền lành, thậm
chí khác hẳn, không giận dữ chút nào, thành thử nếu lúc này có người nào mở cửa
vào và nhìn họ thì nhất định kết luận rằng họ ngồi nói chuyện về một việc gì
hoàn toàn bình thường, tuy rằng thú vị.
- Về việc Grigori Vaxilievich tuồng như thấy cửa mở thì chỉ
là tưởng tượng thôi. - Xmerdiakov cười dằn. - Tôi xin nói với cậu: đây không phải
là con người, mà là con ngựa thiến bướng bỉnh.
Lão ta không nhìn thấy, mà có cảm giác là nhìn thấy thì không
có cách gì làm lão đổi ý được. Phúc cho tôi và cậu là lão nghĩ ra điều ấy vì
như vậy chắc chắn Dmitri Fedorovich bị buộc tội.
- Này, - Ivan Fedorovich nói, như lại bắt đầu rối trí và cố
nhớ ra điều gì, - này… Tao muốn hỏi mày nhiều, nhưng quên mất…
- Tao quên và lẫn lộn hết… A phải! Mày hãy nói cho tao điều
này: tại sao mày bóc phong bì ra và bỏ lại trên sàn? Tại sao không cầm luôn cả
phong bì đi… Khi mày kể, tao có cảm giác rằng mày nói như vậy về cái gói ấy, rằng
cần làm như thế… nhưng tại sao lại cần như thế thì tao không hiểu…
- Tôi làm như thế vì một số lý do. Bởi vì nếu một người biết
rõ mọi việc và quen thân như tôi đây chẳng hạn, khi đã thấy món tiền ấy từ trước,
và có lẽ đã tự tay mình cho tiền vào phong bì, chính mắt mình nhìn thấy
người ta niêm phong và đề như thế nào thì một người như thế,
nếu người ấy giết, cần gì lại phải mở phong bì ra sau khi giết, nhất là trong
lúc vội vã như thế, khi chẳng cần xem cũng biết chắc rằng số tiền ấy nhất định ở
trong đó? Trái lại, một kẻ như tôi chẳng hạn, sẽ nhét phong bì vào túi chẳng
bóc làm gì và chuồn cho mau. Dmitri Fedorovich thì khác: cậu ấy chỉ nghe phong
thanh về chiếc phong bì, không nhìn thấy chính nó, khi lấy được nó dưới tấm nệm
thì sẽ mau mau bóc ra xem: có thật trong đó có số tiền như vậy không? Còn phong
bì thì vứt luôn tại đó, không kịp tính rằng như thế là để lại chứng cứ, bởi vì
đây là tên ăn cắp không quen thuộc và trước kia chưa từng ăn cắp, bởi vì những
người quý tộc dòng dõi, nếu bây giờ có quyết định ăn cắp thì chính là không ăn
cắp mà chỉ là đến lấy lại tài sản của mình, bởi vì cậu ấy đã báo trước với cả
thành phố biết điều ấy, thậm chí khoe khoang trước với cả thành phố rằng cậu ấy
sẽ đến lấy lại của cải của mình từ tay ông Fedor Pavlovich. Lúc hỏi cung, tôi
đã nói ý ấy với ông biện lý, không hẳn là nói rõ ra, mà dường như ám chỉ, như
thể chính tôi không hiểu, như thể chính cậu ấy tự nghĩ ra điều đó, chứ không phải
tôi nhắc cậu ấy, lời nói xa xôi của tôi khiến ông biện lý thích quá…
- Vậy ra hồi ấy mày đã nghiền ngẫm tất cả những điều đó tại
chỗ ư? - Ivan Fedorovich mất bình tĩnh, ngạc nhiên la lên. Chàng lại sợ hãi
nhìn Xmerdiakov.
- Xin lỗi làm sao có thể nghĩ ra tất cả những điều ấy trong
lúc vội vã? Phải nghiêm ngẫm tất cả từ trước.
- Ờ, ờ, như vậy là chính quỷ sứ đã giúp mày! - Ivan
Fedorovich lại kêu lên. - Không, mày không đần, mày thông minh hơn tao tưởng
nhiều…
Chàng đứng lên, rõ ràng định đi đi lại lại trong phòng. Chàng
buồn ghê gớm. Nhưng bởi vì chiếc bàn chặn ngang đường và đi qua giữa bàn và đường
gần như phải lách, cho nên chàng chỉ quay tại chỗ và ngồi xuống. Có lẽ vì thế
chàng bỗng cáu kỉnh, thành thử chàng bỗng gào lên, điên cuồng gần như trước:
- Này, mày là thằng khốn nạn, đáng khinh miệt! Mày không hiểu
rằng cho đến nay tao không giết mày thì chỉ là vì tao muốn ngày mai mày ra trước
toà à? Chúa nhìn thấy, - Ivan giơ một tay lên trời, - có lẽ tao có tội, có lẽ
quả thật tao ngấm ngầm mong… bố chết đi, nhưng thề với mày rằng tao không tội lỗi
đến như mày tưởng, và có lẽ tao hoàn toàn không xúi giục mày. Không, không, không
xúi giục! Nhưng dùsao tao cũng sẽ cho mày biết tay, ngày mai, tại toà, tao đã
quyết! Tao sẽ nói hết, nói hết. Nhưng tao với mày sẽ cùng ra! Mày muốn nói gì
tao trước toà thì nói, muốn đưa chứng cứ gì ra thì đưa, tao chấp nhận, tao
không sợ mày. Chính tao sẽ xác nhận hết! Nhưng mày phải thú nhận trước toà! Mày
phải ra, phải ra, cùng với tao! Sẽ phải như thế!
Ivan nói điều đó một cách trịnh trọng và cương quyết, chỉ
nhìn ánh mắt quắc lên của chàng là thấy sự thể sẽ như vậy.
- Cậu ốm, tôi thấy cậu hoàn toàn ốm. Mắt cậu vàng khè. -
Xmerdiakov thốt lên, nhưng hoàn toàn không có chút giễu cợt, thậm chí như chia
buồn.
- Ta cùng ra! - Ivan nói. - Còn nếu mày không đi thì tao vẫn
thú nhận một mình.
Xmerdiakov im lặng, như nghiền ngẫm.
- Sẽ không có chuyện gì xảy ra cả, và cậu sẽ không đi. - Rốt
cuộc nó nói như đanh đóng cột.
- Mày không hiểu tao! - Ivan kêu lên với giọng trách móc.
- Cậu sẽ quá xấu hổ, nếu cậu thú nhận hết. Với lại cũng vô
ích thôi, hoàn toàn vô ích, vì tôi sẽ nói thẳng rằng tôi chẳng nói gì với cậu cả,
hoặc là cậu ốm (xem ra có vẻ như thế), hoặc cậu thương anh đến độ hy sinh bản
thân, còn cậu đổ lỗi cho tôi, vì suốt đời cậu coi tôi là con muỗi mắt, chứ
không phải là người. Ai tin cậu nào, cậu có bằng chứng gì nào?
- Này, mày đưa số tiền ấy ra cho tao xem cố nhiên chỉ để thuyết
phục tao thôi.
Xmerdiakov nhấc cuốn sách "Ixrac người Syri" lên và
đặt sang bên.
- Số tiền này cậu cứ lấy đi. - Xmerdiakov thở dài.
- Cố nhiên tao sẽ mang đi! Nhưng tại sao mày lại trao cho
tao, một khi mày giết người là để lấy số tiền ấy? - Ivan nhìn hắn, rất đỗi ngạc
nhiên.
- Tôi chẳng cần gì đến nó. - Xmerdiakov phẩy tay, nói bằng giọng
run run. - Trước kia tôi mơ ước rằng với số tiền ấy, tôi sẽ bắt đầu sống, ở
Moskva hay tốt hơn hết là ở nước ngoài, quả có thế, mà trước hết là vì "mọi
việc đều được phép làm". Đích thực là cậu đã dạy tôi điều ấy, bởi vì cậu
đã nói nhiều về điều ấy: không có Chúa thì không có đức hạnh gì cả, mà khi ấy
hoàn toàn không cần đến đức hạnh. Điều đó cậu nói đúng. Tôi cũng lập luận như vậy.
- Tự đi đến bằng trí tuệ của mình? - Ivan cười gằn.
Dưới sự lãnh đạo của cậu.
- Vậy ra bây giờ mày tin có Chúa, vì thế mày mới trả lại tiền?
- Không, tôi không tin. - Xmerdiakov thì thầm.
- Vậy tại sao mày trả?
- Thôi đủ rồi… Không nói đến nữa! - Xmerdiakov lại phẩy tay.
- Hồi ấy chính cậu luôn miệng nói rằng mọi việc đều được phép
làm, thế mà bây giờ tại sao cậu lo lắng đến như vậy? Thậm chí muốn đi tự tố
mình… Nhưng sẽ không có chuyện ấy đâu! Cậu sẽ không đi tự tố đâu! - Xmerdiakov
lại nói một cách cả quyết và dứt khoát.
- Mày sẽ thấy - Ivan nói.
- Không thể có chuyện ấy được. Cậu quá thông minh. Cậu thích
tiền, tôi biết điều đó, cậu thích cả danh vọng nữa, bởi vì cậu rất kiêu hãnh, cậu
rất thích sự duyên dáng của đàn bà, và thích nhất là sống phong lưu yên ổn,
không phải lệ thuộc ai, đó là những cái cậu thích nhất. Cậu không muốn làm hỏng
cuộc đời cậu mãi mãi thú nhận điều đó ở toà thì xấu hổ quá. Cậu cũng như Fedor
Pavlovich, trong số các con, cậu giống ông nhất, cùng tâm hồn với ông.
- Mày không đần. - Ivan nói, dường như sửng sốt, máu dồn lên
mặt chàng, - trước kia tao cứ nghĩ mày là đần. Bây giờ mày nghiêm chỉnh! -
Chàng nói, nhìn Xmerdiakov bằng con mắt có phần mới mẻ…
- Vì kiêu ngạo mà cậu cho rằng tôi đần. Nhận lấy tiền đi,
Ivan cầm lấy cả ba tập tiền và cho vào túi, chằng lấy giấy gói lại.
- Ngày mai tao sẽ đưa ra trước toà. - Chàng nói.
- Ở đây sẽ chẳng ai tin cậu, bây giờ thì cậu thiếu gì tiền, cậu
lấy trong hòm ra và mang tới.
Ivan đứng dậy.
- Tao nhắc lại, nếu tao không giết mày thì chỉ vì ngày mai
tao cần đến mày, nhớ lấy điều đó, đừng quên!
- Thì được cứ giết đi. Cứ giết ngay bây giờ đi. - Xmerdiakov
bỗng nói một cách lạ lùng, nhìn Ivan một cách lạ lùng. - Cậu không dám làm thế
đâu, cậu chẳng dám làm gì cả, hỡi con người can đảm trước kia!
- Đến mai! - Ivan quát lên và ra đi.
- Hẵng hượm… Cho tôi xem lần nữa.
Ivan rút tập giấy bạc ra và giơ cho hắn xem. Xmerdiakov nhìn
chừng mươi giây.
- Thôi cậu đi đi! Hắn xua tay, nói. - Ivan Fedorovich! - Hắn
hét với theo chàng.
- Mày cần gì. - Ivan vừa đi vừa quay lại.
- Vĩnh biệt!
- Đến mai! - Ivan lại hét với theo và ra khỏi nhà.
Bão tuyết vẫn tiếp tục. Những bước đầu tiên chàng đi một cách
sảng khoái, nhưng bỗng nhiên chàng bắt đầu lảo đảo. "Đây là một hiện tượng
thể chất", - chàng nhếch mép cười, nghĩ. Một cái gì như niềm vui sướng len
vào tâm hồn chàng. Chàng cảm thấy trong mình mình quyết tâm vô hạn: chấm dứt những
phân vân giày vò chàng ghê gớm trong thời gian gần đây! Thế là quyết định,
"Không thể thay đổi được nữa", - chàng sung sướng nghĩ. Lúc đó chàng
bỗng vấp phải cái gì suýt ngã. Chàng dừng lại, nhận rõ dưới chân mình gã nông
dân bị chàng xô ngã, vẫn nằm ở ngay chỗ đó, bất tỉnh và không động cựa. Tuyết
phủ gần kín khuôn mặt, Ivan bỗng vác người ấy lên. Thấy ở bên phải một căn nhà
nhỏ còn ánh sáng, chàng đến gần, gõ cửa sổ và khi chủ nhà lên tiếng, chàng hứa
cho chủ nhà ba rúp nếu ông ta chịu giúp chàng kéo người nông dân vào nhà riêng.
Chủ nhà đồng ý và ra. Tôi sẽ không miêu tả chi tiết việc Ivan Fedorovich đã đạt
mục đích như thế nào và thu xếp cho người nông dân vào một chỗ, rồi lập tức mời
bác sĩ đến khám và bỏ tiền ra "bù đắp phí tổn" một cách hậu hĩnh. Tôi
chỉ nói rằng sự việc choán mất ngót một tiếng. Nhưng Ivan Fedorovich rất mực
hài lòng. Ý nghĩ tản mát và hoạt động ráo riết. "Nếu như không nhất quyết
ngày mai làm như thế, - chàng bỗng khoái trá nghĩ, - thì ta đã không lưu lại
thu xếp cho người nhà quê này cả một giờ, mà sẽ bỏ đi, mặc xác cho hắn chết
rét. Nhưng tại sao ta lại đủ khả năng quan sát mình như thế này. - Lúc đó chàng
nghĩ, càng khoái trá hơn, - vậy mà người ta bảo ta điên!". Đến nhà, chàng
bỗng dừng lại vì một câu hỏi bất ngờ: "Liệu bây giờ, ngay lúc này, có nên
đến viên biện lý và nói hết không?". Trở lại nhà, chàng giải đáp câu hỏi:
"Ngày mai làm cả một thể!" - chàng tự nhủ và lạ thay, hầu như tất cả
sự vui sướng, tất cả sự hể hả của chàng thoáng qua trong giây lát.
Khi chàng vào phòng mình, có cái gì lạnh giá chạm đến trái
tim chàng, như một hồi ức, đúng hơn là sự nhắc nhở đến một cái gì đau khổ và
ghê tởm, ở chính trong căn phòng này vào lúc này, và cả từ trước nữa. Chàng mệt
mỏi gieo mình xuống đi văng. Bà lão đem ấm xamôva đến cho chàng, chàng pha trà,
nhưng không đụng đến; chàng bảo bà lão đi nơi khác sáng mai hãy về. Chàng ngồi
trên đi văng và cảm thấy chóng mặt. Chàng cảm thấy mình ốm và bất lực. Chàng bắt
đầu buồn ngủ, nhưng lo ngại đứng lên và đi lại trong phòng để xua đuổi cơn buồn
ngủ… Đôi lúc chàng cảm thấy như mình mê sảng. Nhưng không phải bệnh tật làm
chàng lo ngại nhất Lại ngồi xuống, chàng bắt đầu thỉnh thoảng nhìn quanh như
rình ngó cái gì. Như thể mấy lần. Cuối cùng cái nhìn của chàng xoáy vào một điểm.
Ivan nhếch mép cười, nhưng mặt chàng đỏ gay vì tức giận. Chàng ngồi nguyên chỗ
một lúc lâu, hai tay ôm chặt lấy đầu, nhưng mắt vẫn liếc nhìn vào điểm trước
kia, trên chiếc đi văng kê ở chân tường đối diện. Chàng cảm thấy ở đấy có cái
gì làm chàng cáu kỉnh, có một vật gì, có một cái gì đáng lo ngại, làm chàng đau
khổ.
Chương 9
Con quỷ, cơn ác mộng của Ivan Fedorovich
Tôi không phải là bác sĩ, nhưng tôi cảm thấy đã đến lúc phải
giải thích với bạn đọc điều gì về tính chất căn bệnh của Ivan Fedorovich. Chỉ
xin nói trước một điều: nó đến vào tối hôm ấy, tức là trước hôm lên cơn sốt nóng
mà rốt cuộc đã hoàn toàn đánh bại cơ thể chàng đã rối loạn từ lâu, nhưng vẫn
kiên cường chống lại. Chẳng biết gì về y học, tôi xin liều phát biểu rằng có lẽ
nhờ sự căng thẳng cột độ của ý chí, quả thật chàng đã kịp tạm thời đẩy lùi bệnh
tật, tuy vẫn mơ ước tất nhiên là vượt được nó.
Chàng biết chàng không khỏe, nhưng chàng ghê sợ nghĩ rằng
mình sẽ ốm vào lúc này, vào nhưng phút ghê gớm như thế này của đời chàng, chỉ cần
phải có mặt, nói lên ý kiến của mình một cách can đảm và kiên quyết và tự
"bào chữa với mình". Tuy nhiên, có lần chàng đã đến khám bệnh ông bác
sĩ mới mà Ekaterina Ivanovna mới ở Moskva về chỉ theo trí tưởng tượng ngông cuồng
của nàng mà ta đã nói ở trên. Bác sĩ, sau khi nghe và khám bệnh cho chàng, đã kết
luận chàng dường như rối loạn trong não, và chẳng ngạc nhiên chút gì về một điều
thú nhận mà chàng ghê sợ nói với ông. "Trong trạng thái của ông, ảo giác
là rất có thể có, - bác sĩ quyết định, - tuy cũng cần phải kiểm tra… nói chung
cần chữa một cách nghiêm chỉnh, không mất một phút nào, không thì nguy đấy".
Nhưng từ biệt ông ta ra về, Ivan Fedorovich không thực hiện một lời khuyên hợp
lý nào và không nằm chữa bệnh: "Ta vẫn cứ đi lại, chừng nào còn sức lực,
ta quy thì lại là việc khác, khi ấy ai muốn chữa chạy thế nào cũng được. Chàng
phẩy tay, quyết định. Vậy là lúc này chàng ngồi, hầu như có ý thức rằng mình mê
sảng, và như tôi đã nói, nhìn chằm chằm vào một vật gì trên chiếc đi văng ở tường
đối diện. Ngồi ở đấy là một người nào đó, có trời biết là vào bằng cách nào, vì
khi Ivan từ chỗ Xmerdiakov về, bước vào phòng thì vẫn chưa có người ấy ở đây. Đấy
là một người đàn ông, hay nói cho đúng hơn, một người thượng lưu Nga, không còn
trẻ, trạc ngũ tuần, tóc không điểm bạc nhiêu lắm, còn đen, khá dài rậm, râu cằm
tỉa nhọn. Anh ta mặc chiếc vét tông màu nâu, rõ ràng do người thợ giỏi nhất
may, nhưng đã cũ, may khoảng hơn hai năm rồi, hoàn toàn không hợp mốt nữa,
thành thử đã hai năm nay những người thượng lưu dư dật không ai mặc nữa. Áo
trong, chiếc cà vạt dài kiểu khăn quàng, tất cả đều hệt như những người thượng
lưu diện sang, nhưng nhìn kỹ thì áo lót hơi bẩn, còn chiếc khăn quàng rộng dù sờn
lắm rồi. Chiếc quần kẻ ô vuông của khách mặc rất đẹp, nhưng lại hơi sáng màu
quá và hơi hẹp quá, vì vậy bây giờ người ta không mặc nữa, cũng như chiếc mũ mềm
trắng có lông mà khách mang theo là không hợp với mùa này. Tóm lại, đây là một
loại đàng hoàng mặcdù túi rất ít tiền. Tuồng như ông khách này thuộc loại địa
chủ cũ, phát đạt ngay từ thời chế độ nông nô; rõ ràng đã từng biết giới thượng
lưu và xã hội tử tế, xưa kia đã từng có những mối quen biết và vẫn giữ được những
quan hệ ấy cho đến tận nay, nhưng dần dà nghèo đi do cuộc sống vui vẻ trẻ trung
và do việc bãi bỏ chế độ nông nô gần đây, đã trở thành một loại người ăn bám lịch
sự, lang thang đến những người quen cũ tốt bụng tiếp đón ông ta vì ông dễ tính,
chan hoà, lại vì dùsao ông là người tử tế trước mắt bất kỳ ai cũng có thể kéo
ngồi vào bàn, cố nhiên là vào một chỗ khiêm tốn. Những kẻ ăn bám thư thể, những
người thượng lưu dễ tính, biết kể chuyện, chơi bài và dứt khoát không thích một
việc nào mà người ta ép họ làm, thường là cô đơn, không vợ hay goá vợ, có thể
có con, nhưng con họ bao giờ cũng được dạy dỗ ở một nơi nào xa, ở nhà các bà cô
dì nào đó mà bậc thượng lưu không bao giờ nhắc đến giữa những người tử tế, dường
như có phần xấu hổ về mối quan hệ họ hàng như thế. Dần dần họ mất hẳn quan hệ với
con cái, thỉnh thoảng vào dịp lễ thánh hay ngày sinh của mình, họ nhận được thiếp
mừng của chúng và đôi khi thậm chí còn trả lời. Vẻ mặt của vị khách bất ngờ
không hẳn là hồn hậu, mà là dễ dãi, mà tuỳ theo hoàn cảnh, sẵn sàng biểu lộ bất
cứ sự nhã nhặn nào. Ông ta không có đồng hồ, chỉ mang cái kính một mắt gọng đồi
mồi đeo bằng dải băng đen. Ngón giữa bàn tay phải đeo chiếc nhẫn vàng đồ sộ mặt
đá tản bạch rẻ tiền. Ivan Fedorovich im lặng bực tức và không muốn nói chuyện.
Khách chờ, ngồi đúng như một người ăn chực vừa từ căn phòng dành cho mình ở
phía trên xuống hầu trà chủ nhân cho vui, nhưng đành ngồi im vì chủ nhân đang bận
và cau có nghĩ gì không rõ. Tuy nhiên ông ta sẵn lòng chuyện trò nhã nhặn về bất
cứ chuyện gì, miễn là chủ nhân mở đầu. Đột nhiên mặt ông ta lộ vẻ lo ngại tuồng
như bất ngờ.
- Này cậu, - ông ta nói với Ivan Fedorovich, - cậu thứ lỗi,
tôi chỉ nhắc cho cậu nhớ: cậu vừa đến Xmerdiakov để hỏi hắn về Ekaterina
Ivanovna, thế mà cậu ra về chẳng biết gì về nàng cả, đúng là cậu quên…
- A phải! - Ivan buột ra, mặt chàng sầm tối, lo âu. - Phải,
tôi quên… Nhưng bây giờ thì đằng nào cũng vậy thôi, tất cả đến ngày mai. -
Chàng lầm bầm một mình. - Còn ngươi - chàng cáu kỉnh nói với khách, - chính lúc
này ta phải nhớ lại, bởi vì ta đang khắc khoải mong nhớ chính cái đó! Ngươi nhảy
ra, thế là ta sẽ tin rằng ngươi đã nhắc ta, chứ không phải tự ta nhớ lại chứ
gì?
- Cậu đừng tin. - Người thượng lưu nhếch mép cười dịu dàng, -
Đức tin ép buộc là cái quái gì? Thế nhưng trong đức tin, bằng chứng chẳng có
giá trị gì, đặc biệt là bằng chứng vật chất! Toma tin không phải vì ông đã nhìn
thấy đường Kito hồi sinh, mà là ông muốn tin từ trước nữa kia. Chẳng hạn những
nhà thông thần học… tôi rất yêu họ… hãy tưởng tượng họ cho rằng họ có ích cho đức
tin, bởi vì quỷ ở thế giới bên kia cho họ nhìn thấy sừng của chúng. "Đấy
là bằng chứng có thể nói là có tính vật chất, tức là thế giới bên kia". Thế
giới bên kia và bằng chứng vật chất, ôi chao! Và rốt cuộc nếu đã chứng minh là
có quỷ thì vẫn chưa biết rằng có chứng minh được có Chúa hay không? Tôi muốn
vào một hội duy tâm, giữ vị trí đối lập: "tôi là người thực tế chứ không
phải người duy vật, hê hê!"
- Ngươi nghe đây, - Ivan Fedorovich đột nhiên đứng dậy bên
bàn. - bây giờ ta dường như mê sảng… ngươi muốn nói láo lếu gì ta cũng cóc cần!
Ngươi sẽ không thể làm ta phát điên lên như lần trước đâu. Khốn nỗi ta có điều
gì xấu hổ… Ta muốn đi đi lại lại trong phòng… Bây giờ đôi khi ta không nhìn thấy
ngươi và thậm chí không nghe thấy tiếng nói của ngươi như lần trước, nhưng bao
giờ ta cũng đoán ra điều ngươi đang lảm nhảm, vì rằng đấy là ta, chính ta
nói, chứ không phải là ngươi. Ta chỉ không biết lần trước ta có ngủ không, hay
ta thấy ngươi thực? Bây giờ ta sẽ lấy khăn tay thấm nước lạnh, ấp vào đầu, thế
là có thể ngươi sẽ bốc hơi!
Ivan Fedorovich đi vào góc nhà, lấy tấm khăn, làm như đã nói,
và đầu đắp tấm khăn ướt, chàng đi đi lại lại trong phòng.
- Tôi thích chúng ta xưng hô cậu tớ với nhau. - Khách nói.
- Đồ ngốc. - Ivan bật cười. - Ta sẽ gọi ngươi bằng ông chắc?
- Bây giờ ta đang vui, chỉ đau ở thái dương… và ở đỉnh đầu… Có điều xin đừng
triết lý như lần trước. Nếu không thể cuốn xéo đi thì hãy bịa ra chuyện gì vui
vui. Đặt điều ra rằng là kẻ ăn chực mà, thế thì đặt chuyện ra đi. Một cơn ác mộng
sẽ đến! Nhưng ta không sợ nhà ngươi đâu. Ta vượt qua nhà ngươi. Ta sẽ không bị
đem vào nhà điên!
- Thật là thú vị, kẻ ăn chực. Đúng, tôi chính là một loại như
thế. Tôi là gì trên trái đất, nếu không phải là kẻ ăn chực? Thêm nữa, tôi nghe
cậu và hơi ngạc nhiên: quả tình cậu dường như đang chấp nhận tôi như một cái gì
có thực, chứ không chỉ là ảo tưởng của cậu như lần trước…
- Không một lần nào ta coi nhà ngươi là có thực. - Ivan thét
lên, thậm chí hơi điên cuồng. - Ngươi là sự giả dối, là căn bệnh của ta, là
bóng ma của ta. Ta chỉ không biết làm cách nào tiêu diệt nhà ngươi, và ta thấy
cần chịu đựng nhà ngươi một thời gian nào đó. Ngươi là ảo giác của ta, nhưng chỉ
từ một phía mà thôi… tư tưởng và mình cảm của ta, mà chỉ nhưng tư tưởng và tình
cảm ghê tởm nhất và ngu độn nhất. Về phương diện ấy, ta thấy ngươi quả là thú vị,
nếu như ta có thời giờ bận rộn với ngươi…
- Khoan, khoan, tôi tố cáo cậu: ban nãy bên cây đèn đường, cậu
chồm lên với Aliosa và quát: "Chú được nó cho biết! Tại sao chú biết nó vẫn
đến với ta?". Đấy là cậu nhắc đến tôi. Thành thử chỉ một khoảnh khắc nhỏ cậu
tin là tôi có thực. - Người thượng lưu nói một cách mềm mỏng.
- Phải, đấy là chỗ yếu của thiên nhiên… nhưng ta không thể
tin ngươi được. Ta không biết lần trước ta ngủ hay đi lại. Có lẽ lần ấy ta chỉ
mơ thấy ngươi, chứ không phải nhìn thấy trong thực tế
- Nhưng tại sao ban nãy cậu nghiệt ngã với Aliosa như vậy?
Anh ta dễ thương: tôi có lỗi với anh ta về trưởng lão Zoxima.
- Câm đi, không được nói đến Aliosa! Sao ngươi dám như thế,
thằng hầu! - Ivan lại bật cười.
- Chửi mà lại cười, đấy là dấu hiệu tốt. Nhưng hôm nay cậu
nhã nhặn với tôi hơn lần trước nhiều, tôi hiểu vì sao: đấy là quyết định vĩ đại…
- Im đi, không được nói đến quyết định! - Ivan hùng hổ quát
lên.
- Tôi hiểu, tôi hiểu, c'est noble, c'est charmant(1),
ngày mai cậu ra toà bảo vệ ông anh và đem mình ra hy sinh… c'est chavaleresque(2)
- Im đi, tao đã cho ngươi một cái bây giờ!
- Tôi vui mừng một phần, vì mục đích đã đạt: đá, tức là cậu
tin rằng tôi có thực, vì chẳng ai đã bóng ma. Không đùa nữa: tôi cóc cần, muốn
chửi thì cứ việc chửi, nhưng dùsao vẫn nên lễ độ hơn chút xíu, ít ra là đối với
tôi. Lúc thì đồ ngốc, lúc thì thằng hầu, ăn với nói!
- Ta chửi ngươi tức là ta chửi ta! - Ivan lại bật cười. -
ngươi là ta, chính ta, có điều với bộ mặt khác. Ngươi nói chính điều ta nghĩ…
và không thể nói với ta điều gì mới!
- Nếu tư tưởng hai ta gặp nhau thì chỉ làm vinh dự cho tôi mà
thôi. - Người thượng lưu nói với vẻ tế nhị và tự hào.
- Có điều ngươi luôn luôn lấy những ý nghĩ nhơ nhuốc của ta,
mà cái chính là những ý nghĩ đần độn. Ngươi đần độn và hèn hạ. Ngươi đần độn khủng
khiếp. Không, ta không hiểu nổi ngươi! Ta phải làm gì, ta phải làm gì? - Ivan
nghiến răng.
- Bạn ơi, dùsao tôi vẫn muốn là người hào hoa phong nhã và muốn
được coi như vậy. - Khách nói, tỏ ra tự ái phần nào của người ăn chực, nhưng đã
sẵn sàng nhượng bộ và hồn hậu. - Tôi nghèo, nhưng… tôi không nói rằng tôi chính
trực lắm, nhưng… thường thường trong xã hội, người ta coi như một tiên đề rằng
tôi là một thiên thần bị trích giáng. Tình thực tôi không thể hình dung bằng
cách nào hồi xưa tôi có thể là một thiên thần. Nếu như đã có lúc như vậy thì
cũng lâu quá rồi, có quên đi cũng chẳng tội lỗi gì. Bây giờ tôi chỉ quý trọng
thanh danh một người tử tế và cố gắng sống cho dễ thương. Tôi thành thật yêu
người đời, ôi, người ta vu khống tôi nhiều điều! Ở đây, đôi lúc tôi trở lại ở với
các người, đời tôi diễn ra giống như một cái gì đó có thực, đó là điều tôi
thích nhất. Vì bản thân tôi, cũng như cậu, đau khổ vì sự hoang đường, vì thế
tôi thích cái phàm tục của các người. Ở các người tất cả đều được vạch ranh giới,
đây là công thức, đây là hình học, còn ở chúng tôi toàn là phương trình bất định!
Ở đây tôi đi lại và nghĩ ngợi. Tôi thích mơ ước. Thêm nữa, trên mặt đất tôi
thành người mê tín. Ở đây tôi chấp nhận tất cả các thói quen của các người: tôi
thích đi nhà tắm công cộng, cậu có thể tưởng tượng điều đó; tôi thích xông hơi
với các thương gia và cha cố. Mơ ước của tôi là hoá thân, nhưng là hoá thân triệt
để, không trở lại thành một mụ thương gia béo nặng bẩy funt và tin tất cả những
gì mụ tin. Lý tưởng của tôi là vào nhà thờ và thật lòng đặt cây nến, thề có
Chúa chứng giám. Đấy là giới hạn những cố gắng của tôi. Thì tôi cũng thích học
chữa bệnh ở các người: mùa xuân bắt đầu bệnh đậu mùa, tôi có đi cấy chủng, giá
hôm ấy cậu biết tôi hài lòng như thế nào: tôi cúng mười rúp cho những người anh
em Xlav!… Mà cậu có nghe đâu chứ. Này, hôm nay làm sao cậu rất bứt rứt. - Người
thượng lưu yên lặng một lát. - Tôi biết, hôm qua cậu đến bác sĩ… Ồ, thế sức khỏe
cậu ra sao? Bác sĩ có nói, với cậu không?.
- Đồ ngốc! - Ivan ngắt lời.
- Còn cậu thì thông minh. Cậu lại chửi phải không? Không phải
vì thông cảm mà tôi hỏi đâu, mà hỏi vậy thôi. Có lẽ đừng trả lời. Bây giờ lại bắt
đầu tê thấp rồi…
- Đồ ngốc. - Ivan lặp lại.
- Cậu vẫn cứ bám lấy ý mình, còn tôi thì năm ngoái tôi đã bị
một trận tê thấp mà đến giờ vẫn còn nhớ.
- Quỷ cũng tê thấp ư?
- Sao lại không, một khi tôi hoá thân. Hoá thân thì gánh chịu
hậu quả. Quỷ Sa tăng! Sum et nihil humanum a me alienum puto(3)
- Sao, sao? Quỷ Sa tăng Sum et nihil humanum a me
alienum với quỷ nghe cũng được đấy.
- Nhưng cái đó không phải ngươi mượn của ta. - Ivan bỗng dừng
lại, nhưng sửng sốt, - ta chưa bao giờ nảy ra ý nghĩ như vậy, lạ thật!
- C'est de nouveau, n'est ce pas? (4). Lần này tôi
hành động ngay thẳng và sẽ giải thích cho cậu. Nghe đây: trong chiêm bao, đặc
biệt trong những cơn ác mộng, do rối loạn dạ dày hay cái gì khác, đôi khí người
ta thấy những giấc mơ nghệ thuật, hiện thực hết sức phức tạp và thực tế, những
biến cố hay thậm chí cả một thế giới những biển cố gắn với nhau bởi những tình
tiết, những chi tiết bất ngờ, bắt đầu từ những biểu hiện cao cả nhất của các
người đến chiếc cúc áo sơ mi xoàng xĩnh nhất, đến độ thế với anh rằng Lev
Tolxtoi không sáng tác được, thế mà đôi khi những người hoàn toàn bình thường,
không phải là tác giả, lại mơ thấy như thế, những viên chức, những người viết
tiểu phẩm trên báo, cha cố… Về điều này thậm chí có cả một nhiệm vụ: một bộ trưởng
thậm chí thú nhận với tôi rằng mọi ý tưởng hay nhất đều đến với ông lúc ông ngủ.
Bây giờ cũng thế. Tôi tuy là ảo giác của cậu, nhưng như trong cơn ác mộng, tôi
nói những điều độc đáo, trước nay chưa bao, giờ nảy đến trong óc tôi, thành thử
hoàn toàn không phải tôi lặp lại nhưng ý nghĩ của cậu, thế nhưng tôi là cơn ác
mộng của cậu, có vậy thôi.
- Nói láo. Mục đích của ngươi là làm cho ta tin rằng ngươi là
một thực tại, chứ không phải cơn ác mộng của ta, còn bây giờ ngươi tự xác nhận
ngươi là giấc mơ.
- Bạn ơi, hôm nay tôi dùng một phương pháp đặc biệt, rồi tôi
sẽ giải thích cho bạn rõ. Khoan, tôi dừng lại ở đâu nhỉ? Phải, tôi bị cảm lạnh,
nhưng không phải ở đây, mà ở đằng kia…
- Đằng kia là ở đâu? Nói đi, ngươi ở đây với ta có lâu không,
ngươi không thể đi nơi khác được à? - Ivan kêu lên, gần như tuyệt vọng. Chàng
không đi lại nữa, ngồi xuống đi văng, lại chống khuỷu tay xuống bàn và hai tay
ôm chặt lấy đầu. Chàng giật bỏ chiếc khản tay, bực bội ném nó đi: rõ ràng nó chẳng
có tác dụng gì.
- Cậu bị rối loạn thần kinh. - Người thượng lưu nói, vẻ suồng
sã thờ ơ, nhưng hoàn toàn thân thiện. - Cậu cáu tôi thậm chí chỉ vì tôi bị cảm
lạnh, thế nhưng điều đó xảy ra hết sức tự nhiên. Hôm ấy tôi vội đến dự một tối
ngoại giao ở nhà một bà quyền quý Peterburg đang nhăm nhe lên bộ trưởng. Nào là
áo lễ, cà vạt trong, găng, nhưng tôi vẫn còn ở tận đâu đâu, và để xuống trái đất
với các người, còn phải vượt cả một khoảng không gian… cố nhiên chỉ trong khoảnh
khắc, nhưng tia sáng mặt trời đi suốt tám phút kia mà, còn đây cậu tưởng tượng
xem, mặc áo đại lễ và gilê mở phanh. Ma quỷ không bị cóng lạnh, nhưng khi đã
hoá thân thì tóm lại, tôi xử sự rất nông nổi và đáp xuống, nhưng trong không
gian ấy, trong làn nước ấy, trên trên lớp đất rắn ấy, rét kinh… băng giá, thậm
chí không thể gọi là băng giá, cậu có thể tượng tượng được: một trăm năm mươi độ
dưới không! Ta đã biết trò đùa của các cô gái nông thôn: trong tiết trời giá
băng ba mươi độ dưới không, họ đề nghị một chàng khờ khạo liếm lưỡi rìu, lưỡi
dính bết ngay vào, thằng thộn bong mất da lưỡi, ứa máu. Mà đấy chỉ âm ba mươi độ
thôi, mà đây âm một trăm năm mươi độ, tôi cho rằng chỉ đặt một ngón tay vào lưỡi
rìu là ngón tay đi đời, nếu như… nếu như có một lưỡi rìu.
- Thế ở đấy có thể có lưỡi rìu à? Ivan Fedorovich bỗng ngắt lời
một cách lơ đãng và kinh tởm. Chàng gắng sức cưỡng lại để khỏi tin cơn mê sảng
của mình và hoàn toàn phát điên.
- Lưỡi rìu à? - Khách ngạc nhiên hỏi lại.
- Phải, ở đấy lưỡi rìu sẽ thế nào? - Ivan Fedorovich bỗng kêu
lên với sự ương bướng hung hăng và dai dẳng.
- Rìu sẽ thế nào trong không gian ấy à? Quelle idée (5).
Nếu một cái rìu rơi ra xa trái đất, nó sẽ bắt đầu quay xung quanh trái đất như
một vệ tinh mà không biết đề làm gì. Các nhà thiên văn học sẽ tính lúc rìu mọc
và lặn. Gatsuc sẽ ghi vào lịch, thế là hết.
- Ngươi đần độn, đần kinh khủng! - Ivan nói một cách ngang ngạnh,
- Nói dối một cách thông minh hơn nữa đi, không dù ta sẽ không nghe đâu. Ngươi
muốn thắng ta bằng hiện thực, làm ta tin rằng ngươi hiện diện, nhưng ta không
muốn tin rằng ngươi hiện diện! Ta không tin đâu!
- Nhưng tôi không nói dối, tất cả là sự thật. Tiếc thay sự thật
hầu như bao giờ cũng không sắc sảo. Tôi thấy cậu cứ một mực chờ đợi ở tôi cái
gì vĩ đại, mà có khi là đẹp đẽ. Rất tiếc rằng tôi chỉ cho cái mà tôi có thể…
- Đừng triết lý, đồ con lừa!
- Triết lý quái gì, khi cả phần bên phải đã tê liệt, chỉ còn
biết rên la. Tôi đã đi khám bệnh khắp lượt: họ có khả năng chẩn bệnh rất giỏi,
đếm đầu ngón tay kể bệnh cho anh đầy đủ, nhưng chữa thì không biết. Có một gã
sinh viên đầy hứng khởi báo tôi: nếu ông chết thì ông sẽ biết được đầy đủ ông
chết vì bệnh gì! Với lại họ còn có kiểu gửi đến các chuyên gia khác: chúng tôi
chỉ chẩn bệnh, hãy đến chuyên gia này, ông ấy sẽ chữa cho. Tôi xin nói với cậu
rằng đã biến mất hắn cái ông bác sĩ chữa được mọi thứ bệnh, bây giờ chỉ còn
toàn chuyên gia và họ đăng quảng cáo trên báo. Anh đau mũi, người ta gửi anh đến
Paris: ở đấy có một chuyên gia châu Âu chữa mũi. Anh đến Paris, ông ta khám mũi
cho anh: tôi chỉ có thể chữa mũi phải cho anh, mũi trái tôi không chữa, đấy
không phải là chuyên môn của tôi, chữa tôi xong thì đến Viên, ở đấy có một
chuyên gia đặc biệt chữa nốt mũi trái cho ông. Biết làm thế nào được? Tôi dùng
thuốc dân gian, một bác sĩ Đức khuyên tôi dùng mật và muối chà xát trong nhà tắm.
Tôi nghe theo, chỉ cốt để đi nhà tắm một lần nữa; bẩn khắp người, chẳng được
cái tích sự gì. Tuyệt vọng, tôi viết thư về Milan cho bá tước Mattei; ông gửi đến
một cuốn sách và ít thuốc giọt, Chúa phù hộ ông. Cậu tưởng tượng xem: nhờ cao mạch
nha của Hoff mà tôi khỏi bệnh! Tình cờ tôi mua và uống một lọ rưỡi, có thể
khiêu vũ được hết trong nháy mắt. Nhất định phải đăng bài "Cảm ơn"
trên báo, lòng biết ơn lên tiếng, vậy mà cậu tưởng tượng xem, sự thể khác hẳn:
không một toà soạn nào nhận đăng! "Quá phản tiến bộ, họ nói, sẽ không ai
tin, le diable n'existe point(6). Họ khuyên: ông nên đăng không ký
tên". Nhưng bài "cảm ơn" mà lại không ký tên là thế nào? Tôi cười
với các nhân viên: "Trong thế kỷ chúng ta, tin Chúa là phản tiến hoá,
nhưng tôi là quỷ thì có thể tin tôi được". - "Chúng tôi hiểu. Họ nói.
- Ai mà không tin quỷ, nhưng dùsao vẫn không thể được, có thể làm hại đến
phương hướng của tờ báo. Trừ phi dưới hình thức bông đùa". Tôi nghĩ, bông
đùa thì không sắc sảo. Thế là họ không đăng. Chẳng rõ cậu có tin không, điều đó
đọng lại trong tim tôi. Nhưng tình cảm tốt đẹp nhất trong tôi, như lòng biết ơn
chẳng hạn, về hình thức là bị cấm, chỉ vì địa vị xã hội của tôi.
- Lại triết lý rồi! - Ivan rít lên căm tức.
- Chúa tránh cho tôi điều đó, nhưng đôi khi không thể không
than phiền. Tôi là kẻ bị vu khống. Như cậu cứ luôn miệng báo tôi đần. Rõ ràng cậu
còn trẻ tuổi. Bạn tôi ơi, vấn đề không phải chỉ ở trí tuệ! Thiên nhiên cho tôi
một tấm lòng tốt và vui vẻ, "tôi cũng là những người đóng kịch vui".
Hình như cậu dứt khoát coi tôi là một Khlextakov tóc muối tiêu, nhưng số phận
tôi nghiêm chỉnh hơn nhiều. Bằng một tiền định nào đó mà tôi không bao giờ hiểu
được, tôi có chức năng "phủ định", trong khi đó tôi tốt bụng và hoàn
toàn không có khả năng phủ định. Không, đi mà phủ định, không có phủ định thì sẽ
không có phê bình, mà tạp chí không có "mục phê bình" thì còn ra cái
quái gì nữa? Không có phê bình thì sẽ chỉ là: "hoxanna". Nhưng với cuộc
sống mà chỉ có "hoxanna" thôi thì chưa đủ, phải làm thế nào để cái
"hoxanna" ấy được lọc qua họng của những nghi ngờ, và vân vân. Tuy
nhiên, tôi không sa vào tất cả nhưng việc đó, không phải lôi sáng tạo ra, tôi
không chịu trách nhiệm. Người ta đã chọn được kẻ đổ lỗi, bắt tôi viết mục phê
bình, thế là cuộc sống bắt đầu. Chúng ta hiểu tấn hài kịch ấy: chẳng hạn tôi trực
tiếp đòi hỏi sự huỷ diệt bản thân. Không, cứ sống đi, người ta nói, bởi vì
không có anh dù chẳng có gì cả. Nếu lên trái đất mọi cái đều hợp lý thì sẽ chẳng
xảy ra chuyện gì cả. Không có anh dù sẽ chẳng có biến cố gì, mà cần phải có biến
cố. Thế là tôi nghiến răng phục vụ, để gây nên biến cố phi thường, sáng tạo nên
cái phi lý, theo lệnh. Người đời coi tất cả hài kịch ấy như một cái gì nghiêm
chỉnh, với tất cả trí không phải bàn cãi gì của họ. Bi kịch của họ cũng ở đấy.
Thế là họ đau khổ… cố nhiên, thế nhưng họ vẫn sống, vẫn sống một cách thực tế,
không hoang đường chút nào; bởi vì đau khổ tức là sống. Không có đau khổ thì
làm gì có khoái lạc: tất cả sẽ biến thành lễ tạ ân bất tận; nó thiêng liêng,
nhưng hơi chán. Thế còn tôi? Tôi đau khổ, vậy nhưng tôi không sống. Tôi là ẩn số
x trong phương trình bất định. Tôi là thứ bóng ma của cuộc sống, thứ bóng ma đã
mất hết cả đầu và cuối, thậm chí rốt cuộc đã quên mất tên mình là gì. Cậu cười…
không, cậu không cười, cậu lại nổi cáu. Cậu suốt đời nổi cáu, cậu vẫn chỉ cần
có trí tuệ, còn tôi nhắc lại với cậu rằng tôi sẵn lòng nhường lại toàn bộ cuộc
sống trên các vì sao, mọi chức tước và vinh dự, miễn là được hoá thân thành một
mụ thương gia nặng bẩy funt và thắp nến thờ Chúa Trời.
- Thế ngươi không tin Chúa à? - Ivan cười gằn, đầy căm thù.
- Biết nói với cậu thế nào bây giờ, miễn là cậu nghiêm chỉnh…
- Có Chúa hay không? - Ivan lại quát lên, hung hăng.
- A, cậu nghiêm chỉnh đến thế kia à? Bạn thân mến của tôi,
xin thề là tôi không biết, đấy là một lời vĩ đại.
- Ngươi không biết, thế ngươi đã thấy Chúa chưa? Không, ngươi
không phải là vật tự có, ngươi là ta, ngươi là ta, có vậy thôi! Ngươi là thứ cỏ
rả, ngươi là sự tưởng tượng hoang đường của ta.
- Nghĩa là, nếu cậu muốn, tôi với cậu có cùng một thứ triết
lý, như thế là công bằng. Je pense donc que je suis(7), cái đó thì tôi biết
chắc, tất cả những gì còn lại xung quanh tôi, toàn bộ những thế giới này, Chúa
và ngay cả quỷ Sa tăng - tất cả những cái đó đối với tôi không phải là đã được
chứng minh, nó tồn tại tự nó hay chỉ là thiện xạ của tôi, sự phát triển quán
triệt cái tôi riêng của tôi, vốn tồn tại đời đời và đơn nhất… tóm lại, tôi ngừng
lời, vì hình như cậu đang định chồm lên đánh tôi.
- Tốt hơn hết là ngươi kể một giai thoại gì đó! - Ivan thốt
lên một cách đau đớn.
- Có một giai thoại về đề tài của chúng ta, nghĩa là không phải
giai thoại, mà là truyền thuyết. Cậu trách tôi thiếu đức tin: "Ngươi nhìn
thấy, vậy mà ngươi không tin". Nhưng bạn tôi ơi, không phải chỉ có một
mình tôi như vậy, ở đấy tất cả chúng tôi bây giờ đều rối trí, mà chỉ là tại
khoa học của các người. Mới chỉ có nguyên tử, năm giác quan, bốn nguyên tố thì
còn tạm được. Nguyên tử vốn có từ thời cổ. Nhưng từ khi chúng tôi được biết các
người khám phá ra "phân tử hoá học", "chất nguyên sinh" và
những gì gì nữa thì chúng tôi cụp đuôi lại. Bắt đầu rối loạn, cái chính là mê
tín, chuyện đơm đặt; chuyện đơm đặt của chúng tôi cũng nhiều bằng của các anh,
có khi còn hơn một chút, cuối cùng là tố giác lẫn nhau, ở chúng tôi cũng có một
cơ quan chuyên tiếp nhận "những tin tức" nhất định. Đây là truyền
thuyết mọi rợ từ thời trung cổ của chúng tôi, thời trung cổ của chúng tôi chứ
không phải các bà nhà buôn của các người, mà là của chúng tôi. Các người có cái
gì thì chúng tôi cũng có cái ấy, vì tình bạn tôi tiết lộ với cậu một bí mật của
chúng tôi, tuy điều đó bị cấm. Truyền thuyết ấy là về thiên đàng. Trên trái đất
các người có một nhà tư tưởng và triết học bác bỏ tất cả, luật lệ, lương tâm,
tín ngưỡng, cái chính là cuộc sống mai hậu. Ông ta chết, ngờ rằng mình sẽ bước
vào bóng tối và cái chết, thế mà trước mắt ông ta lại là cuộc sống ở thế giới
bên kia. Ông ta ngạc nhiên và phẫn nộ: "Điều đó trái ngược với xác tín của
ta". Ông ta bị xử tội về điều đó… nghĩa là, anh bạn ạ, thứ lỗi cho tôi,
tôi kể lại những gì tôi nghe được, đấy chỉ là chuyện truyền tụng… Ông ta bị kết
tội, cậu biết không, phải đi trong bóng tối một triệu tỉ tỉ kilômét (chúng tôi
bây giờ cũng tính khoảng cách bằng kilômét), khi nào ông ta đi hết một triệu tỉ
tỉ kilômét ấy thì cổng thiên đàng sẽ mở cho ông ta và ông ta sẽ được tha thứ hết…
- Thế ở thế giới bên kia các ngươi còn có những sự giày vò
nào khác, ngoài những triệu tỉ tỉ? - Ivan ngắt lời, vẻ náo nức hơi lạ lùng.
- Sự giày vò nào à? A, thôi cậu đừng hỏi: trước kia thì đủ mọi
loại còn bây giờ thì những giày vò đạo đức nhiều hơn, "lương tâm cắn rứt"
và những chuyện vớ vẩn khác. Cái đó cùng là do các người, "làm dịu tập tục"
mà. Vậy thì ai có lợi, chỉ những kẻ vô lương tâm có lợi, vì sự cắn rứt lương
tâm có nghĩa lý gì với chúng, chúng có lương tâm đâu nữa. Những người tử tế thì
đau khổ, họ vẫn còn lương tâm và danh dự… Nào là những cải cách trên miếng đất
không được chuẩn bị trước, lại còn sao chép những định chế nước ngoài, chỉ có hại
mà thôi! Đốm lửa ngày xưa hay hơn. Này nhé, người bị kết án phải đi một triệu tỉ
tỉ kilômét đứng nhìn một lúc, rồi nằm ngang đường: "Tôi không muốn đi, vì
nguyên tắc tôi không đi!". Hãy lấy linh hồn một người vô thần Nga và trộn
lẫn với linh hồn nhà tiên tri Jonax ngồi ba ngày ba đêm trong bụng cá voi - đấy
là tính cách của nhà tư tưởng nằm trên đường.
- Ông ta nằm trên cái gì?
- Cừ lắm! - Ivan reo lên, vẫn náo nức kỳ lạ như thế. Bây giờ
chàng nghe với vẻ tò mò bất ngờ. - Ờ thế bây giờ ông ta vẫn nằm ở đấy à?
- Ô không. Ông ta nằm ngót một ngàn năm, rồi trở dậy và đi.
- Đồ con lừa! - Ivan kêu lên, cười hô hố một cách nóng nảy, vẫn
như đang ráo riết suy nghĩ gì. - Nằm yên vĩnh viễn hay đi một triệu tỉ tỷ dặm
thì khác gì nhau? Như vậy là một nghìn triệu năm đi bộ phải không?
- Thậm chí nhiều hơn, chỉ phải cái không có bút chì và giấy,
không thì có thể tính được. Thế nhưng ông ta đã đến nơi từ lâu, và chuyện giai
thoại bắt đầu từ đây.
- Đến nơi là thế nào! Ông ta lấy đâu ra một ngàn triệu năm?
- Cậu vẫn nghĩ về trái đất chúng ta hiện giờ. Nhưng trái đất
hiện giờ, có lẽ tự nó đã lặp lại đến nghìn triệu lần; nó sống hết thời, đóng
băng, nứt nẻ, ra ra, tan thành những nguyên tố hợp thành, lại nước trên đất rấn,
rồi lại sao chổi, lại mặt trời, lại trái đất từ mặt trời - đấy là sự phát triển
có lẽ đã lặp đi lặp lại vô vàn lần vẫn trong hình thức như thế, cho đến từng
nét nhỏ, buồn chán hết chỗ nói…
- Ờ thế khi ông ta đến nơi thì sao?
- Người ta vừa mở cửa thiên đàng cho ông ta và ông ta vào thì
chưa được hai giây - mà đấy là nhiều giờ, nhiều giờ, (tuy chiếc đồng hồ của ông
ta, theo tôi, hẳn đã phải rã ra thành những nguyên tố hợp thành trong túi ông
ta từ lúc đi đường) - chưa được hai giây ông ta đã kêu lên rằng trong hai giây ấy
ông ta không chỉ đi được một triệu tỉ tỉ, mà là một triệu tỉ của hàng triệu tỉ
tỉ mà còn nâng lên luỹ thừa một triệu tỉ tỉ tuổi! Tóm lại ông ta hát
"hoxanna" và còn thêm thắt vào, đến nỗi một số người có cách suy nghĩ
cao quý hơn lúc đầu không muốn bắt tay ông ta: ông ta nhảy quá nhanh sang phía
báo thủ. Một bản chất Nga. Tôi nhắc lại: truyền thuyết. Mua bao nhiêu, bán bấy
nhiêu. Ở nơi chúng tôi người ta quan niệm như thế về tất cả những vấn đề đấy.
- Ta tóm được ngươi rồi! - Ivan kêu lên với niềm vui sướng gần
như trẻ thơ, như thể đã nhớ hắn lại được điều gì. - Chuyện giai thoại đó về một
triệu tỉ tỉ năm là do ta nghĩ ra! Hồi ấy ta mười bảy thổi, ta học trung học… hồi
đó ta sáng tác ra giai thoại ấy và kể cho một người bạn có họ là Korovkin, đấy
là ở Moskva… Câu chuyện ấy đặc sắc đến mức ta không thể vay mượn ở đâu ra. Ta
đã quên nó… nhưng bây giờ ta nhớ lại trong tiềm thức, ta tự nhớ lại chứ không
phải ngươi kể cho ta! Đôi khi người ta nhớ ra hàng ngàn chuyện trong tiềm thức,
ngay cả khi bị đưa đi hành quyết, nhớ lại tròng mơ. Ngươi chính là giấc mơ ấy!
Ngươi là giấc mơ và không tồn tại!
- Căn cứ vào việc cậu bác bỏ một cách say mê như thế thì tôi
tin chắc rằng dùsao cậu vẫn tin là có tôi. - Người thượng lưu bật cười.
- Tịnh không! Một phần trăm cũng không.
- Nhưng một phần nghìn thì cậu tin. Liều lượng theo phương
pháp vi lượng đồng căn, có lẽ là cực mạnh. Hãy thú nhận rằng cậu tin, dù là một
phần mười nghìn…
- Không một phút nào cả! Ivan điên cuồng kêu lên. - Tuy nhiên
ta muốn tin ngươi! - Chàng bỗng nói thêm một cách kỳ lạ.
- E-hê! Nhưng đấy là lời thú nhận! Song tôi tốt bụng, tôi sẽ
giúp cậu! Tôi cố ý kể cho cậu câu chuyện giai thoại mà cậu đã quên để cậu hoàn
toàn không tin là có tôi.
- Nói láo! Mục đích xuất hiện của ngươi là làm cho ta tin rằng
ngươi hiện hữu.
- Chính thế. Nhưng sự dao động, sự lo ngại, sự đấu tranh giữa
tin và không tin đôi khi là khổ hình đối với một người có lương tâm như cậu, đến
mức dù treo cổ lên còn hơn. Chính vì biết rằng cậu có tin vào tôi ư chút, tôi mới
kể cho cậu câu chuyện ấy. Tôi lần lượt dẫn cậu đi giữa tin và không tin là có mục
đích. Phương pháp mới: khi cậu hoàn toàn không tin vào tôi nữa thì cậu bắt đầu
nói thắng ra rằng tôi không phải là giấc mơ, tôi là có thật thế là tôi đạt mục
đích. Mục đích của tôi là cao quý. Tôi chỉ gieo vào cậu một hạt nhỏ đức tin, nó
sẽ sinh ra cây sồi - mà là cây soi lớn đến mức ngồi trên đó cậu bỗng muốn thành
"ẩn sĩ và gái đồng trình"(8); bởi vì đấy là ý muốn rất thầm kín của cậu,
cậu sẽ ăn châu chẩu, ẩn mình cứu rỗi nơi hoang mạc!
- Đồ khốn kiếp, vậy ra ngươi cố tìm cách cứu rỗi linh hồn ta
chăng?
- Phải có lúc làm điều thiện chứ. Cậu cáu, cậu cáu, tôi thấy
vậy.
- Thằng hề! Đã bao giờ ngươi nếm nhưng thứ như thể chưa, ăn
châu chấu ấy, và cầu nguyện mười bẩy năm trong hoang mạc trần trụi người mốc
rêu lên chưa?
- Bạn thân mến ơi, tôi chỉ làm có việc ấy thôi. Ta sẽ quên cả
thế giới, bám lấy một thứ thôi, vì đấy là hạt kim cương rất quý giá; một tám hồn
như thế đôi khi đáng giá cả một chòm sao. Chúng tôi có sổ học của chúng tôi. Thắng
lợi thật quý giá. Một số người trong bọn họ, thề có Chúa chứng giám, không kém
phát triển hơn cậu đâu, tuy cậu không tin: trong cùng một lúc họ có thể chiêm
ngưỡng vực thẳm tin và không tin như thế, thực ra đôi khi có cảm tưởng rằng
"chỉ một sợi tóc nữa thì con người lộn tùng phèo", như diễn viên
Gorbunov(9) nói.
- Thế nào, ngươi rụt mũi lại rồi chứ?
- Bạn tôi ơi, - khách nói với giọng răn dạy, - rụt mũi vẫn
còn hơn là không có mũi, như mới đây một hầu tước mắc bệnh (hẳn là một chuyên
gia đã chữa cho ông ta) đã xưng tội với một cha dòng Jeduyt. Tôi có mặt tại đấy,
thật là thú vị. "Hãy trả lại tôi cái mũi của tôi!" - ông ta nói. Và đấm
ngực "con ta ơi, - cha nói loanh quanh, - số phận tạo hoá an bài không sao
biết được, mọi cái đều được bù đắp và cái hoạ trông thấy đôi khi kéo theo cái lợi
vô hình phi thường. Nếu số phận khắc nghiệt lấy mất của con cái mũi thì con có
cái lợi suốt đời không bị ai trách là bị phỉnh mũi(10). "Thưa Đức cha, đấy
không phải là sự an ủi! - Hầu tước tuyệt vọng kêu lên. - Trái lại, con sẵn lòng
hân hoan ngày nào cùng chịu phỉnh lừa, cứ thế suốt đời, miễn là cái mũi ở chỗ
thích hợp!" - "Con ta ơi, - linh mục thở dài, - không thể đòi mọi
phúc lợi luôn một lần, như thế là kêu ca Thượng đế, mà Thượng đế dù có thể cũng
không quên con đâu. Vì thế con kêu là như ban nãy con vừa kêu la rằng con sẵn
lòng suốt đời bị lừa phỉnh dù như thế là gián tiếp mong muốn của con đã thành sự
thực: vì mất mũi tức là dùsao con cũng đã bị phỉnh lừa…"
- Khỉ, thật là ngớ ngẩn! - Ivan kêu lên.
- Bạn tôi ơi, tôi muốn làm cậu vui cười thôi, nhưng xin thề rằng
đấy là nghĩ nghĩa thần học đích thực, và xin thề rằng tất cả đều đúng nguyên xi
như tôi đã mình bày. Chuyện xảy ra mới đây thôi và làm tôi khá rầy rà. Một
chàng trẻ tuổi trở về nhà, tự sát ngay đêm hôm ấy: tôi ở bên anh ta cho đến
phút chót. Còn về những phòng xưng tội Jeduyt thì thực sự là nơi giải trí thú vị
nhất của tôi trong những phút buồn rầu của cuộc đời. Tôi lại kể cho anh một trường
hợp nữa, mới đây thôi. Một cô gái tóc vàng hoe xứ Normandi, tuổi trạc đôi mươi,
đến xưng tội với một ông cha già. Sắc đẹp, thân thể, mẫu người, nhìn thèm nhỏ dải
ra được. Cô ta cúi xuống, thì thầm xưng tội với cha qua cái lỗ. "Sao, con
gái ta, con lại nằm với hắn rồi à?… - Cha kêu lên. - Ô Santa Maria(11), tôi
nghe thấy gì thế này: lại với gã khác. Lần này kéo dài được mấy ngày, sao con
không biết xấu hổ nhỉ?" - "Ah mon père(12) - Cô gái phạm tội trả lời,
nước mắt hối hận giàn giụa. - "A lui fair tant de plaisir ét à moi si peu
de peine"(13). Cậu hãy tưởng tượng một câu trả lời như thế! Đến đây thì
tôi lùi lại: đấy là tiếng gào thét của bản thân thiên nhiên, điều đó, nếu cậu
muốn, còn hơn cả chính sự ngây thơ! Tôi lập tức tha tội cho cô gái và quay mình
bỏ đi, nhưng lại phải trở lại ngay: tôi nghe thấy cha hẹn cô gái tối đến. Ông
già là người gang thép, vậy mà cũng đổ trong nháy mắt! Thiên nhiên, sự thật của
thiên nhiên đã thắng! Sao, lại đòi trả mũi sao, lại tức tối à? Tôi không biết lấy
gì chiều ý cậu!
- Để ta yên, ngươi gõ vào cân não ta như cơn ác mộng ám ảnh…
- Ivan rên rỉ đau đớn, bất lực trước ảo ảnh của mình. - Ta ngán ngươi lắm rồi,
không thể chịu nổi và đau khổ! Ta sẵn lòng trả giá đắt nếu có thể đuổi được
ngươi đi!
- Tôi nhắc lại, nên đòi hỏi có chừng mực thôi, chớ đòi hỏi ở
tôi tất cả những cái "cao cả và đẹp đẽ" và cậu sẽ thấy tôi sống hoà
thuận với cậu. - Người thượng lưu nói một cách oai nghiêm. - Quả thực cậu cáu
tôi vì tôi không đến với cậu trong ánh hào quang đỏ rực, "trong sấm vang
chớp lòe", với đôi cánh rực lửa, mà xuất hiện với bộ dạng khiêm tốn. Cậu bị
xúc phạm thứ nhất trong tình cảm thẩm mỹ của mình, chứ nhì là về lòng tự hào:
sao một con quỷ khốn kiếp như thế có thể đến với một người vĩ đại như thế?
Không, trong cậu vẫn có cái dòng lãng mạn ấy mà, Belinsky đã chế nhạo rất ghê.
Làm thế nào được, anh bạn trẻ. Ban nãy, khi sửa soạn đến cậu, để bông đùa, tôi
định lấy hình dạng một tham sự nhà nước thực thụ về hưu, đã từng phục vụ ở
Kavkaz, mang huân chương Sư tử và Mặt trời trên áo, nhưng tôi sợ cậu sẽ đánh
tôi chỉ vì tôi đã đính vào áo huân chương Sư tử và Mặt trời, chứ không đính ít
ra là Bắc cực hay Xinux. Cậu luôn miệng bảo tôi đần. Nhưng trời ơi, tôi đâu có
tham vọng so bì với cậu về trí tuệ Meflxtofel đến với Fauxto chứng tỏ rằng nó
muốn làm điều ác, vậy mà chỉ làm điều thiện. Thôi thì tuỳ nó, tôi hoàn toàn
không chống lại. Tôi có lẽ là người duy nhất trong cả thiên nhiên yêu chân lý
và thành thực mong muốn cái thiện. Tôi có mặt khi Lời chết trên cây thập giá
bay lên trời, mang trên cánh của mình linh hồn của tên ăn cướp Odessa bị đóng
đinh câu rút, tôi nghe thảy tiếng reo sung sướng của các thiên thần gào hát
"hoxanna" và tiếng gầm hân hoan của các thượng đẳng thiên sứ làm rung
chuyển cả bầu trời và vũ trụ. Xin nhân danh tất cả những gì thiêng liêng mà thề
rằng tôi muốn gia nhập nhóm đồng ca và gào lên cùng mọi người:
"hoxanna", tiếng đã buột ra từ lồng ngực thì… cậu nên biết tôi rất nhạy
cảm và dễ cảm nhận nghệ thuật. Nhưng lương tri, - Ôi, tính chất bất hạnh nhất của
bản chất tôi, - đã kìm giữ tôi trong những giới hạn cần thiết, và tôi bỏ qua
giây lát ấy! Bởi vì cái gì sẽ xảy ra, - lúc ấy tôi nghĩ, - cái gì sẽ xảy ra sau
"hoxanna" của tôi? Tất cả trên đời sẽ tắt ngấm và sẽ chẳng có chuyện
gì xảy ra nữa cả. Thế là chỉ vì bổn phận và nguồn gốc xã hội mà tôi phải đè nén
trong mình nhân tố tốt và bằng lòng với cái nhơ bẩn. Vinh dự của cái thiện thì
một người nào đó tranh lấy hết cho mình, còn tôi thì số phận chỉ dành cho cái
nhơ bẩn. Nhưng tôi không thèm khát cái vinh dự sống nhờ người khác, tôi không
háo danh. Tại sao trong số muôn loài trên thế gian, chỉ có tôi là bị tất cả những
người tử tế nguyền rủa, thậm chí còn đã bằng mũi ủng, bởi vì khi hoá thân thì
phải chấp nhận hậu quả như thế chăng? Tôi biết, ở đây điều bí mật, nhưng người
ta nhất quyết không muốn phơi bày bí mạt ấy cho tôi, bởi vì khi ấy, đoán được sự
thể ra sao, tôi gào lên "hoxanna", thế là lập tức cái khiếm khuyết cần
thiết biến mất và lẽ phải sẽ bắt đầu trên toàn thế giới, và tất nhiên cùng với
nó sẽ kết thúc tất cả, ngay cả các báo và tạp chí, vì ai sẽ đặt mua chúng nữa.
Tôi thì tôi biết, cuối cùng tôi sẽ giải hoà, tôi sẽ đi một triệu tỉ tỉ kilômét
và nhận ra điều bí mật. Nhưng trong khi chờ đợi cái đó xảy ra, tôi sẽ bực bội
nghiến răng làm nhiệm vụ của mình: hại hàng ngàn người để cứu một người. Chẳng
hạn, cần huỷ hoại bao nhiêu linh hồn, bôi nhọ bao nhiêu thanh danh để có được một
Jlov công chính mà hồi xưa người ta đã dùng ông ta để xỏ tôi một cách độc địa!
Không! Chừng nào chưa khám phá ra điều bí mật thì đối với tôi vẫn có hai sự thật:
một sự thật ở thế giới bên kia, của họ, mà hiện giờ tôi hoàn toàn không biết,
và một sự thật khác của tôi. Và vẫn chưa biết sự thật nào sẽ tinh khiết hơn… Cậu
ngủ đấy à?
- Dĩ nhiên, - Ivan rên rỉ hằn học, - tất cả những gì ngu ngốc
trong bản chất của ta, đã trải qua từ lâu, đã bị nghiền nát trong trí óc ta, bị
vứt bỏ như cái xác thối, dù ngươi mang đến cho ta như cái gì mới mẻ!
- Thế là tôi không thành công rồi! Tôi định dùng cách trình
bày văn học để lôi cuốn cậu: bài "hoxanna" ấy của tôi ở trên trời kể
cũng không dở đâu nhỉ? Rồi bây giờ cái giọng châm chọc theo kiểu Heine cũng được
đấy chứ?
- Không, ta chưa bao giờ là kẻ tôi đòi như thế! Tại sao tâm hồn
ta lại có thể sản sinh ra một thằng tôi đòi như ngươi?
- Bạn ơi, tôi biết một công tử quý tộc rất mực dễ thương: một
nhà tư tưởng trẻ tuổi, hết sức yêu mến văn học và nghệ thuật, tác giả một bản
trường ca hứa hẹn, nhan đề: "Vị đại pháp quan tôn giáo"… Vừa nãy tôi
muốn nói đến anh ta!
- Ta cấm ngươi nói đến "Vị đại pháp quan tôn giáo".
- Ivan kêu lên, mặt đỏ bừng vì xấu hổ.
- Thế còn "Đại biến động địa chất"? Nhớ chứ? Thế mới
là trường ca!
- Giết tôi ấy ư? Không, xin lỗi, tôi sẽ nói. Tôi đến để tự
đãi mình cái thú ấy. Tôi yêu mộng ước của những người bạn trẻ nồng nhiệt, khát
sống của tôi. Ở đấy có những con người mới, - cậu quyết định ngay từ mùa xuân
năm ngoái, khi sửa soạn đến đây. Họ dự tính phá hoại tất thảy và bắt đầu từ tục
ăn thịt người. Quân ngốc nghếch, chúng không hỏi ý kiến ta. Theo ta chẳng nên
phá hoại gì hết, chỉ cần phá huỷ trong loài người ý niệm về Chúa Trời, chính là
phải bắt đầu từ đó! Từ đó, cần bắt đầu từ đó, ôi những kẻ mù quáng, chẳng hiểu
gì cả! Một khi nhân loại đồng loạt từ bỏ Chúa Trời (mà ta tin rằng thời kỳ đó -
song song với những thời kỳ địa chất - sẽ hoàn tất), thì tự nhiên, không có tệ
ăn thịt người toàn bộ thế giới trước kia sẽ sụp đổ, mà cái chính là toàn bộ đạo
đức trước kia sẽ sụp đổ, mọi cái mới mẻ sẽ tới. Mọi người sẽ kết hợp lại để lấy
ở cuộc sống tất cả những gì mà nó có thể cung cấp, nhưng nhất định vì hạnh phúc
và niềm vui chỉ trong thế giới này. Con người sẽ vươn lên nhờ tinh thần thánh
thiện và kiêu hãnh ghê gớm, sẽ thành người - Chúa Trời. Tìm giờ chiến thắng
thiên nhiên bằng ý chí và khoa học của mình, mà chiến thắng vô giới hạn, con
người sẽ từng giờ cảm thấy khoái lạc cao đến mức nó thay thế tất cả hy vọng trước
kia về những lạc thú thượng giới… Mỗi người đều biết rằng mình phải chết, không
sống lại, và sẽ đón nhận cái chết một cách tự hào và điềm tĩnh như Chúa Trời.
Vì tự hào, con người sẽ hiểu rằng chẳng việc gì phải than phiền về cuộc sống
ngăn ngủi, và sẽ yêu anh em mình bằng tình yêu không vụ lợi. Tình yêu sẽ thoả
mãn chỉ một khoảnh khắc của cuộc sống, nhưng chỉ riêng ý thức rằng tình yêu ngắn
ngủ sẽ làm ngọn lửa yêu đương lên mãnh liệt cũng như trước đó nó phân tán vào
những hy vọng về tình yêu bất tận ở thế giới bên kia"… vân vân và vân vân.
Thú vị tuyệt!
Ivan ngồi, hai tay bịt chặt tai và nhìn xuống đất, nhưng bắt
đầu run toàn thân. Tiếng nói tiếp tục:
- Vấn đề bây giờ là ở chỗ nhà tư tưởng trẻ tuổi của chúng ta
nghĩ: thời kỳ như thế có thể sẽ đến hay không? Nếu nó sẽ đến thì thế là xong,
nhân loại sẽ tổ chức lại triệt để. Nhưng do sự ngu ngốc thâm căn cố dế của loài
người, điều đó một ngàn năm nữa cùng chưa có, dù người nào ý thức được chân lý
ngay từ bây giờ cũng được phép hoàn toàn tuỳ ý tổ chức đời mình theo những
nguyên tắc mới. Theo nghĩa ấy, người ta "được phép làm tất cả". Chưa
đủ: chodù thời kỳ ấy sẽ không bao giờ đến, nhưng bởi vì dùsao cũng không có
Chúa Trời và sự bất tử dù con người mới được phép trở thành con người - Chúa Trời,
cho tất cả thế giới chỉ có một người như vậy, và cố nhiên với chức tước mới,
người đó thảnh thơi vượt qua mọi trở ngại đạo đức trước kia của con người nô lệ
trước kia, nếu cần. Với Chúa Trời dù không có luật lệ nào cả! Chúa Trời ở đâu
thì đấy là chỗ của Ngài. Tôi ở đâu thì đấy là vị trí thứ nhất… "Được phép
làm tất cả", có thế thôi! Tất cả những điều đó như hay lắm; có điều muốn bịp
bợm thì còn cần gì đến sự phê chuẩn của chân lý nữa nhỉ? Những người Nga hiện đại
của chúng ta là như thế đấy: không có sự phê chuẩn thì không dám bịp bợm, họ
quá yêu chân lý…
Khách nói, rõ ràng say mê sự hùng biện của mình, mỗi lúc một
cất cao giọng và giễu cợt nhìn chủ nhân. Nhưng y không kịp nói hết: Ivan vồ lấy
cái cốc trên bàn và thẳng cánh ném vào diễn giả.
- A, rốt cuộc thật là dớ dẩn! - Người kia kêu lên, bật dậy khỏi
đi văng và dùng ngón tay phẩy những giọt nước trà. - Anh ta nhớ đến lọ mực của
Lute! Bản thân anh ta coi tôi là giấc mơ và ném cái cốc vào giấc mơ! Ấy là kiểu
đàn bà! Thì tôi đã ngờ rằng anh ta chỉ giả vờ bịt tai, nhưng vẫn nghe…
Ở cửa sổ có tiếng gõ cương quyết và dai dẳng. Ivan Fedorovich
bật dậy khỏi đi văng.
- Nghe thấy chứ, ra mở cửa đi. - Khách kêu lên, - đấy là chú
em Aliosa của cậu đến, có tin lạ hoàn toàn bất ngờ đấy, tôi bảo cậu mà!
- Im đi, thằng lừa dối, ta biết từ trước ngươi rằng đó là
Aliosa, ta linh cảm thấy nó, cố nhiên không phải vô cớ mà nó tới, nó tới là có
"tin tức"! - Ivan kêu lên như điên.
- Ra mở cửa, mở cửa cho chú ấy. Trời đang bão tuyết, mà đấy
là em ruột anh. Thưa ông, ông có biết thời tiết thế nào không? Thời tiết này dù
ngay đến một con chó cũng không nên đuổi ra ngoài.
Tiếng gõ tiếp tục. Ivan toan lao ra cửa sổ, nhưng có cái gì đột
nhiên trói chân trói tay chàng. Chàng gắng hết sức cố phá tan nhưng dây rợ trói
buộc mình, nhưng hoài công, tiếng gõ cửa mỗi lúc một mạnh và to. Rốt cuộc dây rợ
bỗng đứt hết, và Ivan Fedorovich bật dậy trên đi văng. Chàng ngơ ngẩn ngó
quanh. Cả hai ngọn nến hầu như đã cháy hết, cái cốc chàng vừa ném vào khách vẫn
ở trên bàn trước mặt chàng, trên đi văng đối diện chẳng có ai. Tiếng gõ cửa sổ
tuy vẫn dai dẳng, nhưng không to như ban nãy chàng mường tượng trong mơ, trái lại
rất dè dặt.
- Đây không phải giấc mơ! Không, tôi thề, đây không phải giấc
mơ, việc đó vừa xảy ra thật! - Ivan kêu lên, đâm bổ đến khung cửa sổ, mở khung
cửa nhỏ thông hơi.
- Aliosa, tôi đã bảo chú đừng đến mà! - Chàng hung hăng quát
lên với em. - Nói ngắn thôi: chú cần gì? Ngắn thôi, nghe thấy chứ?
- Một tiếng trước, Xmerdiakov đã thắt cổ tự tử. - Aliosa trả
lời ở bên ngoài.
- Ra bậc tam cấp, tôi tôi sẽ mở cửa ngay! - Ivan nói và ra mở
cửa cho Aliosa.
Chú thích:
(1) Thật là cao quý, thật là thú vị (tiếng Pháp).
(2) Thật là hiệp sĩ (tiếng Pháp)
(3) Tôi là quỷ Sa tăng, vì vậy không có cái gì của con người
xa lạ với tôi (tiếng Latin).
(4) Đây là cái mới, phải không? (tiếng Pháp)
(5) Ý tưởng lạ lùng (tiếng Pháp).
(6) Quỷ không bao giờ có cả (tiếng Pháp)
(7) Tôi suy nghĩ, vì vậy tôi tồn tại (tiếng Pháp)
(8) ám chỉ một bài thơ của A. Puskin
(9) F. Gorbunov (1831 - 1896): diễn viên, nhà văn người kể
chuyện ứng tác có tài
(10) Chơi chữ: nguyên văn là "chỉ còn lại với cái
mũi" (N.D)
(11) Maria thánh thiện.
(12) A, thưa cha (tiếng Pháp).
(13) Điều đó làm anh ấy thích thú lắm, còn con thì chẳng khó
nhọc gì (tiếng Pháp)
Chương 10
"Chính nó nói! "
Vào nhà, Aliosa cho Ivan biết rằng cách đây hơn một giờ.
Maria Kondratievna chạy đến nhà anh và báo tin Xmerdiakov vừa tự vẫn. "Tôi
vào chỗ anh ta để dọn ấm xamôva, còn anh ta lủng lẳng trên một cái đinh".
Aliosa hỏi: "Chị đã báo với nhà chức trách chưa?", chị ta trả lời rằng
chưa, "tôi đi thẳng đến anh là người đầu tiên và suốt dọc đường tôi chạy".
Chị ta như mất trí, vừa kể với Aliosa vừa run như tàu lá. Khi Aliosa cùng với
chị ta chạy về nhà thì thấy Xmerdiakov vẫn còn treo lủng lẳng. Trên bàn một mảnh
giấy: "Tôi tự ý chấm dứt đời tôi. Đừng buộc tội ai cả". Aliosa để
nguyên mảnh giấy đó trên bàn và đến thẳng cảnh sát trưởng, khai rõ hết, "từ
nơi ấy tôi đến thẳng đây", - Aliosa kết luận, chăm chú nhìn vào mặt Ivan.
Và suốt thời gian kể chuyện, anh không rời mắt khỏi anh mình, tuồng như vẻ mặt
Ivan cỏ điều gì khiến anh rất đỗi sửng sốt.
- Anh ạ, - Aliosa thốt lêu lên, - đúng là anh ốm nặng lắm rồi!
Anh nhìn mà tuồng như không hiểu tôi nói gì.
- Chú tới là rất hay. - Ivan trầm ngâm thốt lên và như thể
hoàn toàn không nghe thấy nặng kêu của Aliosa. - Thì tôi cũng biết rằng nó đã
treo cổ.
- Ai cho biết?
- Chẳng rõ là ai. Nhưng tôi biết. Tôi có biết không nhỉ. Phải,
nó đã nói với tôi. Nó vừa nói với tôi xong…
Ivan ngẩng đầu lên và mỉm cười dịu dàng.
- Nó sợ chú, chú em yêu mến ạ. Chú là "thiên thần trắng
trong". Dmitri gọi chú là thiên thần. Thiên thần… tiếng reo hò hân hoan
như sấm dậy của các thiên thần! Thiên thần là cái gì? Có lẽ là một chòm sao. Mà
có lẽ tất cả chòm sao chỉ là một phần tử hoá học… Có chòm Sư tử và Mặt trời,
chú có biết không?
- Anh ngồi xuống đi! - Aliosa sợ hãi thốt lên, - Vì Chúa, ngồi
xuống đi văng đi. Anh đang mê sảng, nằm xuống chiếc gối này, thế có cần khăn
ưót đắp đầu không? Có thể sẽ đỡ hơn không?
- Đưa tôi chiếc khăn trên ghế kia, ban nãy tôi vứt lên đấy.
- Ở đấy chẳng có gì cả. Đừng lo, tôi biết khăn ở đâu. Đây
này. - Aliosa nói, tìm thấy ở góc kia phòng, bên bàn điểm trang của Ivan chiếc
khăn tay sạch, còn gấp gọn, chưa dùng đến. Ivan nhìn tấm khăn với vẻ lạ lùng;
ký ức dường như trở lại với chàng giây lát.
- Khoan, - chàng phướn dậy khỏi đi văng, - ban nãy, một giờ
trước tôi lấy chiếc khăn này chính ở đấy và nhúng nước. Tôi đắp lên đầu và ném
vào đó… sao nó vẫn khô nhỉ? Tôi không còn cái khăn nào khác mà.
- Anh đắp chiếc khăn này lên đầu à? - Aliosa hỏi.
- Phải, và tôi đi lại trong phòng, một giờ trước… Tại sao nến
cháy hết sạch thế này? Mấy giờ rồi?
- Sắp mười hai giờ.
- Không, không, không! - Ivan bỗng kêu lên. - Đấy không phải
là giấc mơ. Nó đã có mặt ở đây, đã ngồi đây, lên đi văng kia kìa. Lúc chú gõ cửa
sổ, tôi ném cái cốc vào nó… cái này này. Khoan, trước đó tôi cùng đã ngủ, nhưng
đấy không phải là giấc mơ… nhưng đấy không phải là mơ, mà là thật: tôi đi lại,
tôi nói và tôi nhìn thấy… thế mà là tôi ngủ. Nhưng nó ngồi đây, nó có mặt tại
đây, trên chiếc đi văng này… Nó đần kinh khủng, Aliosa ạ, đần kinh khủng. -
Ivan bỗng bật cười và bắt đầu bước đi trong phòng.
- Ai đần? Anh nói về ai vậy, hả anh? - Aliosa lại hỏi với giọng
buồn rầu.
- Quỷ! Nó vẫn đến thăm tôi. Hai lần rồi, thậm chí ba lần. Nó
trêu ghẹo tôi rằng tôi cáu kỉnh vì nó chỉ là quỷ, chứ không phải quỷ Sa tăng với
đôi cánh rực lửa, trong sấm vang chóp giật Nhưng nó không phải quỷ Sa tăng, nó
nói dối. Nó là kẻ mạo danh. Nó chỉ là con quỷ thường, mạt hạng, loại quỷ nhép.
Nó đi nhà tắm. Cởi quần áo nó ra thì chắc sẽ tìm thấy cái đuôi, cái đuôi dài,
nhẵn như đuôi con chó Đan Mạch, dài một arsin, màu nâu… Aliosa, chú cóng lạnh,
chú đã dầm tuyết, chú dùng trà không? -Sao? Lạnh à? Chú muốn thì tôi bảo pha
trà.
Aliosa chạy nhanh tới bồn rửa, nhúng ướt chiếc khăn, khuyên
Ivan ngồi xuống và đắp chiếc khăn ướt lên đầu chàng. Bản thân anh ngồi xuống cạnh
Ivan.
- Ban nãy chú vừa nói gì với tôi về Liza? - Ivan lại lên tiếng.
(Chàng trở nên rất lắm lời). - Tôi thích Liza. Tôi đã nói với chú điều gì xấu
xa về nó. Tôi nói dối đấy, tôi thích nó… Tôi sợ cho Katia ngày mai, sợ nhất đấy.
Sợ cho tương lai; ngày mai nàng bỏ tôi và chà đạp dưới chân. Nàng tưởng vì ghen
về nàng mà tôi làm hại Mitia! Phải, nàng nghĩ thế đấy. Mà không đâu! Ngày mai
là cây thập tự, chứ không phải giá treo cổ. Không, tôi không tự treo cổ đâu.
Chú biết không, tôi không bao giờ có thể tự vẫn, Aliosa ạ! Vì hèn hạ chăng? Tôi
không phải là thằng nhát. Vì ham sống! Tại sao tôi biết Xmerdiakov treo cổ? Phải,
chính là nó đã nói với tôi…
- Thế anh tin chắc rằng có người nào ngồi đây à? - Aliosa hỏi.
- Trên chiếc đi văng kia, trong góc. Chú nên đuổi nó đi. Mà
chú đã đuổi nó đi rồi: chú đến là nó biến. Tôi yêu gương mặt chú, Aliosa ạ. Chú
có biết tôi yêu gương mặt chú như thế nào không? Mà nó tức là tôi, Aliosa ạ,
chính tôi. Tất cả những gì thấp kém, hèn hạ và đáng khinh của tôi! Phải, tôi là
"kẻ lãng mạn", nó nhận thấy điều đó… tuy đấy là sự vu khống. Nó đần
kinh khủng, nhưng nhờ thế mà nó thắng. Nó ranh mãnh, ranh mãnh một cách súc vật,
nó biết cách làm tôi nổi khùng. Nó luôn luôn chọc ghẹo tôi rằng tôi tin là có
nó, và bằng cách đó nó bắt tôi nghe nó. Nó lừa gạt tôi như đứa trẻ. Tuy nhiên,
nó nói về tôi nhiều điều đứng sự thật. Tôi dù sẽ không bao giờ tự nói với mình
điều đó. Chú biết đấy, Aliosa, chú biết đấy, - Ivan nói thêm, hết sức nghiêm chỉnh
và như tâm tình. - tôi rất muốn nó quả thật là nó, chứ không phải là tôi!
- Nó làm anh kiệt quệ. - Aliosa nói, nhìn anh thông cảm.
- Nó trêu ghẹo tôi! Và chú biết đấy, trêu ghẹo một cách khéo
léo khéo léo: "Lương tâm! Lương tâm là cái gì? Tự tôi làm ra lương tâm. Vì
sao tôi giày vò? Vì thói quen. Vì thói quen của cả bàn dàn thiên hạ từ bày ngàn
năm nay. Bỏ thói quen đi, chúng ta sẽ là những ông trời!" - Nó nói thế đấy,
nó nói thế đấy!
- Nhưng không phải anh, không phải anh chứ gì? - Aliosa nhìn
anh bằng cái nhìn sáng sủa, buột kêu lên. - Thôi mặc nó, kệ xác nó và quên nó
đi! Hãy để cho nó mang theo tất cả những gì anh nguyền rủa và không bao giờ trở
lại nữa!
- Ừ nhưng nó độc ác lắm. Nó chế nhạo tôi. Nó lão xược lắm,
Aliosa. - Ivan nói, run lên vì tức tối. - Nó vu khống tôi, vu khống tôi nhiều
điều. Nó nói lão ngay trước mặt tôi: "Ồ, anh sắp đi lập một chiến công đạo
đức, anh sẽ tuyên bố rằng anh đã giết bố, rằng thằng hầu đã giết bố theo sự xúi
giục của anh…".
- Anh ơi, - Aliosa ngắt lời, - hãy vững tâm: không phải anh
giết, không phải thế!
- Đấy là nó nói, nó, mà nó biết điều đó: "Cậu sắp đi lập
một chiến công đức hạnh, nhưng cậu không tin có đức hạnh, vì thế cậu cáu kỉnh
và đau khổ; vì thế cậu rất hay thù hằn". Đấy là nó nói với tôi về tôi, mà
nó biết nó nói gì…
- Đấy là anh nói, chứ không phải nó! - Aliosa buồn rầu kêu
lên. - Anh nói trong lúc ốm đau, đang cơn mê sảng, tự giày vò mình.
- Không, nó biết nó nói gì. Nó bảo: vì kiêu ngạo cậu sẽ ra
trước toà và nói: "Chính tôi giết đấy, vì sao các người co rúm lại vì khiếp
sợ các người dối trá! Ta khinh bỉ ý kiến các người, ta khinh bỉ sự khiếp sợ của
các người". Đấy là nó nói về tôi, và đột nhiên nó thêm: "À, mà cậu muốn
được khen ngợi: tên tội phạm, kẻ giết người mà có những tình cảm cao cả biết
bao, muốn cứu anh nên đã thú tội!" Giả dối biết chừng nào! Aliosa! - Ivan
bỗng kêu lên, mắt long lanh. - Tôi không muốn những quân nhơ bẩn khen ngợi tôi!
Đấy là nó nói dối, Aliosa ạ, nó nói dối, thế với chú là như vậy! Tôi ném cái cốc
vào nó, cái cốc trúng vào mặt nó vỡ tan.
- Anh ơi, bình tâm lại, thôi đi! - Aliosa nài.
- Không, nó biết hành hạ, nó tàn nhẫn. - Ivan không nghe, nói
tiếp. - Tôi biết nó đến để làm gì. Nó nói: "Thôi được, cậu ra toà vì kiêu
hãnh, nhưng cậu vẫn hy vọng Xmerdiakov sẽ bị vạch mặt và đi đầy. Mitia sẽ được
gỡ tội, còn cậu chỉ bị chê trách về tinh thần thôi (chú nghe thấy chứ, đến đây
nó cười!), còn những người khác thì khen ngợi cậu. Nhưng Xmerdiakov chết rồi,
treo cổ tự vẫn bây giờ ở toà ai sẽ tin độc cái mồm cậu? Vậy mà cậu cứ ra toà, cứ
ra, cậu sẽ vẫn cứ ra, cậu đã quyết định sẽ ra. Chuyện đã thế mà cậu cứ ra toà
dù nhằm mục đích gì?". Khiếp thật, Aliosa, tôi không thể chịu đựng nổi những
câu hỏi như thế. Kẻ nào dám đặt cho tôi những câu hỏi như thế?
- Anh ơi, - Aliosa ngắt lời. sợ đến lặng người, nhưng dường
như vẫn hy vọng sẽ làm cho anh nghĩ lại, - làm sao nó có thể nói về cái chết của
Xmerdiakov trước khi tôi đến, khi cha ai biết về cái chết ấy, vì chẳng ai kịp
biết cả?
- Nó đã nói. - Ivan đáp một cách cương quyết, không cho phép
hoài nghi. - Nó chỉ nói đến điều ấy thôi, nếu chú muốn biết. Nó bảo: "Giá
như cậu tin vào đức hạnh thì đi một nhẽ: người ta không tin tôi cũng mặc, tôi
hành động vì nguyên tắc. Nhưng cậu là con lợn cũng như Fedor Pavlovich, đức hạnh
là cái quái gì đối với cậu? Vì lẽ gì cậu vác cái mặt ra đấy, khi sự hy sinh của
cậu chẳng có ích gì? Là bởi chính cậu chẳng biết cậu ra toà làm cái gì! Ôi, cậu
sẵn lòng trả giá đắt để chính mình biết được vì lẽ gì! Tuồng như cậu đã quyết?
Cậu vẫn chưa quyết. Suốt đêm cậu sẽ ngồi để quyết định: đi hay không? Nhưng rồi
cậu sẽ vẫn cứ đi và cậu biết rằng cậu sẽ đi, chính cậu tự biết rằng dù cậu quyết
như thế nào thì quyết định cũng không phụ thuộc vào cậu. Cậu sẽ đi, bởi vì cậu
không dám không đi. Tại sao cậu không dám, hãy tự đoán lấy, câu đố của cậu đấy!
Nó đứng lên bỏ đi. Chú tới, nó bỏ đi. Nó gọi tôi là đồ hèn nhát, Aliosa ạ. Lời
giải đoán là: tôi là kẻ hèn nhát! "Không phải những loại phượng hoàng như
thế này bay lượn trên trái đất!" Nó nói thêm như thế, nó nói thêm như thế!
Cả Xmerdiakov cũng nói như thế. Cần phải giết nó đi! Của khinh miệt tôi, một
tháng nay tôi thấy điều đó, cả Liza cũng sẽ khinh miệt tôi! "Anh ta ra toà
để được người ta khen ngợi" - đấy là sự giả dối dã man! Chú cũng khinh
tôi, Aliosa. Bây giờ tôi cũng sẽ căm ghét chú. Tôi căm ghét con quái vật tôi
căm ghét con quái vật. Tôi không muốn cứu con quái vật, cho nó chết rục xương
trong kiếp khổ sai! Nó đã hát thánh ca! Ôi ngày mai tôi sẽ ra trước toà, tôi sẽ
đứng trước mặt chúng và nhổ vào mặt tất cả bọn chúng!
Chàng điên cuồng chồm lên, dứt bỏ tấm khăn dắp trên đầu và bắt
đầu đi lại trong phòng. Aliosa nhớ lại những lời ban nãy của anh: "Dường
như tôi ngủ thật… tôi đi lại, tôi nói, tôi nhìn, vậy mà tôi ngủ". Tuồng
như chính điều đó hiện đang diễn ra.
Aliosa không rời khỏi anh. Anh thoáng có ý nghĩ chạy đi tìm bác
sĩ, nhưng không dám bỏ anh ở lại một mình: Chẳng biết giao cho ai trông nom. Rốt
cuộc dần dà Ivan mất hẳn trí nhớ. Chàng vẫn tiếp tục nói, nói không ngừng,
nhưng hoàn toàn không ăn nhập gì với nhau. Thậm chí phát âm sai lạc và đột
nhiên nhao đi tại chỗ. Nhưng Aliosa đã kịp đỡ anh. Ivan để cho em dìu mình đến
giường, Aliosa gắng cởi áo cho anh và đặt anh nằm. Anh ngồi trông Ivan chừng
hai tiếng nữa. Người ốm ngủ say, không động cựa, thở khẽ và đều. Aliosa lấy chiếc
gối và để nguyên cả quần áo nằm lên đi văng. Trước khi ngủ anh còn cầu nguyện
cho Mitia và Ivan. Anh hiểu bệnh mình Ivan: "Những giày vò về một quyết định
kiêu hãnh, lương tâm sâu sắc!". Chúa Trời mà mà Ivan không tin quả thực đã
chinh phục trái tim vẫn chưa chịu phục tùng. "Phải, - ý nghĩ thoáng qua
trong đầu Aliosa đã nằm trên gối, - phải, Xmerdiakov đã chết thì sẽ chẳng ai
tin lời khai của Ivan, nhưng anh ấy sẽ đến và sẽ khai! - Aliosa lặng lẽ mỉm cười.
- Chúa sẽ thắng! - anh nghĩ. - Anh ấy sẽ vươn lên trong ánh sáng của sự thật,
hoặc… sẽ chết trong căm thù, tự trả thù mình và tất cả những kẻ khác gì anh đã
phục vụ điều mà anh không tin", - Aliosa tự nhủ thêm một cách chua xót và
lại cầu nguyện cho Ivan.
Quyển 12. Sai lầm của tòa án - Chương 1
Một ngày ác hại
Những việc tôi vừa kể xảy ra hôm trước thì hôm sau, lúc mười
giờ sáng, tòa án khu mở phiên xét xử vụ Dmitri Karamazov.
Xin nói trước, và nhấn mạnh: tôi tuyệt nhiên không cho rằng
mình đủ sức truyền đạt tất cả những gì xảy ra tại toà, chẳng những là với sự đầy
đủ cần thiết, mà theo đúng trình tự cần thiết. Tôi cứ có cảm giác rằng nếu nhớ
lại hết và giải thích cặn kẽ mọi chuyện thì phải viết cả một pho sách, thậm chí
là pho sách cực lớn. Vì thế xin đừng trách cứ tôi chỉ kể lại những gì làm tôi sửng
sốt và đặc biệt ghi nhớ. Tôi có thể lấy cái phụ làm cái chính, thậm chí bỏ qua
hẳn những điều hết sức cần thiết, nổi bật nhất… Tuy nhiên, tôi thấy tốt nhất là
không nên xin lỗi. Tôi sẽ cố gắng hết sức mình và bạn đọc sẽ hiểu rằng tôi đã cố
hết sức.
Trước hết, trước khi bước vào phòng xử án, tôi xin nhắc đến
điều làm tôi đặc biệt ngạc nhiên trong ngày hôm ấy. Tuy nhiên, không phải chỉ
mình tôi ngạc nhiên, mà sau này mới rỏ ra là mọi người đều như thế. Ấy là: mọi người
đều biết vụ án dính líu đến rất nhiều người, ai nấy đều nóng lòng sốt ruột chờ
phiên toà bắt đầu, đã hai tháng nay trong giới chúng tôi người ta bàn tán giả định,
cảm thán, mơ ước nhiều. Mọi người đều biết vụ này có tiếng vang toàn Nga, nhưng
vẫn chưa hình dung được nó gây chấn động cho tất cả mọi người và từng người đến
mức nóng bỏng, khơi gợi như thế nào, không chỉ trong tỉnh nhà, mà ở khắp mọi
nơi, như đã thấy rõ tôi phiên toà. Hôm ấy người đổ đến không phải chỉ từ tỉnh lỵ
chúng tôi, mà cả từ một số thành phố khác của nước Nga, cuối cùng cả từ
Peterburg và Moskva.
Các luật gia, một số nhân vật quyền quý, các bà mệnh phụ cũng
đến. Giấy mời hết ngay. Với những khách đàn ông có địa vị đặc biệt cao trọng và
quyền quý, người ta bố trí những chỗ khác thường, phía sau bàn của hội đồng xét
xử: ở đấy xuất hiện những chiếc ghế bành dành cho những nhân vật khác nhau, điều
chưa từng có bao giờ. Các bà đến rất đông, cả người tỉnh nhà lẫn người nơi khác
đến, tôi cho rằng không được một nửa công chúng. Chỉ riêng các luật gia từ nơi
khác đến đã nhiều đến nỗi không biết đặt họ vào đâu, bởi vì giấy mời đã phân phối
hết từ lâu, người ta nài nỉ, xin xỏ. Chính mắt tôi nhìn thấy ở cuối phòng sau bục,
đã vội vã dựng tạm một vách ngăn mà người ta dồn vào đấy tất cả các luật gia từ
nơi khác đến, và họ lấy làm hạnh phúc vì có thể đứng ở đây, vì để cho rộng chỗ,
ghế đã bỏ đi hết, cả đám đông chen chúc nhau, vai liền vai, đứng suốt vụ xử. Một
số bà, đặc biệt các bà nơi khác đến, ngồi ở các lan can bên phòng xử, phục sức
đặc biệt sang, nhưng phần lớn các bà không bận tâm đến cách trang phục. Trên mặt
họ người ta đọc thấy vẻ tò mò nôn nóng, háo hức, gần như bệnh tật. Tất cả đám
người tụ tập trong phòng xử này có một đặc điểm đáng chú ý là như nhiều người
quan sát đã cho biết, hầu hết các bà, ít nhất là phần lớn, đứng về phía Mitia
và muốn cho chàng trắng án. Có lẽ chủ yếu vì chàng nổi tiếng là người chinh phục
trái tim phụ nữ.
Người ta biết rằng có hai phụ nữ tình địch. Một trong hai người,
Ekaterina Ivanovna, khiến mọi người đặc biệt quan tâm: người ta kể về nàng nhiều
chuyện phi thường, về niềm đam mê của nàng đối với Mitia, bất chấp tội lỗi của
chàng, người ta kể những giai thoại kỳ dị, đặc biệt người ta nhắc đến sự kiêu
hãnh của nàng (nàng hầu như không đến thăm ai trong thành phố chúng tôi), về
"những liên hệ quý tộc" của nàng. Người ta nói rằng nàng định xin
chính phủ cho phép nàng theo tội nhân đến nơi tù khổ sai và kết hôn với y ở nơi
nào dưới hầm mỏ. Người ta mong đợi chẳng kém phần hồi hộp sự xuất hiện tại toà
của cả Grusenka, kẻ tình địch của Ekaterina Ivanovna. Tò mò khổ sở, người ta
mong đợi sự chạm trán trước toà của hai kẻ tình địch: cô gái quý tộc kiêu hãnh
và "một gái làng chơi". Các bà biết Grusenka nhiều hơn Ekaterina
Ivanovna. Grusenka, "kẻ giết chết Fedor Pavlovich và con trai ông ta"
thì các bà đã nhìn thấy từ trước, và hầu như không người nào không ngạc nhiên rằng
cả hai bố con có thể mê mẩn về "một ả tiểu thị dân Nga hết sức tầm thường,
thậm chí chẳng có gì xinh đẹp cả". Tóm lại, lời đồn đại có nhiều. Tôi biết
chắc rằng riêng trong thành phố chúng tôi đã xảy ra mấy vụ cãi cọ thật sự trong
gia đình về Mitia. Nhiều bà cãi nhau kịch liệt với chồng vì quan điểm khác nhau
về toàn bộ vụ án khủng khiếp này, và tất nhiên sau đó, tất cả các ông chồng ấy
đến toà chẳng những không có thiện cảm với Mitia, thậm chí còn thù ghét chàng.
Nói chung có thể cả quyết rằng trái với các bà, nam giới chổng lại bị cáo. Có
những khuôn mặt nghiêm khắc, cau có, những khuôn mặt khác rất mực dữ tợn, như
thế rất nhiều.
Của đáng tội, nhiều người trong số họ đã bị Mitia xúc phạm
riêng trong thời gian chàng ở đây. Cố nhiên, nhiều người đến dự hầu như thậm
chí vui vẻ, thờ ơ với số phận Mitia, nhưng vẫn không thờ ơ với vụ án được đưa
ra xét xử. Mọi người đều quan tâm đến kết cục của nó, nam giới thì đa số kiên
quyết muốn trừng trị kẻ phạm tội, chỉ trừ các luật gia chú trọng không phải đến
khía cạnh dạo đức của vấn đề, mà chỉ để ý đến khía cạnh pháp lý hiện đại. Mọi
người đều xúc động vì sự có mặt của luật sư danh tiếng Fetiukovich. Tài ba của
ông nổi tiếng khắp nơi, đây không phải là lần đầu ông đến một tỉnh nhỏ bào chữa
cho nhưng vụ án hình sự vang động. Sau khi ông cãi, những vụ án như thế nổi tiếng
khắp nước Nga và được ghi nhớ lâu. Có mấy giai thoại cả về ông biện lý và ông
chánh toà của chúng tôi.
Người ta kể ông ông biện lý của chúng tôi run sợ về những cuộc
chạm trán với Fetiukovich, rằng đây là những kẻ thù cũ từ thời Peterburg, từ bước
đầu con đường công danh của họ, rằng Ippolit Kirinlovich của chúng tôi tự coi
mình là thường xuyên bị ai đó xúc phạm từ thời Peterburg, khiến tài năng của
ông không được đánh giá đúng mức, gặp vụ Karamazov này tinh thần ông phục hồi
và ông mơ ước qua đây khôi phục con đường công danh đã tàn lụi, ông chỉ sợ có
Fetiukovich. Nhưng nói rằng ông run sợ về Fetiukovich thì không đúng hẳn. Ông
biện lý của chúng tôi không phải loại người mất tinh thần trước nguy hiểm, trái
lại ông thuộc loại người mà nguy
hiểm càng tăng thì lòng tự ái mạnh thêm và được chắp cánh.
Nói chung cần chú ý rằng ông biện lý của chúng tôi quá nóng và nhạy cảm một
cách bệnh tật. Có khi ông để hết tâm hồn vào vụ án, như thể tất cả số phận và
thành tựu của ông phụ thuộc vào đấy. Trong thế giới pháp lý, người ta chế nhạo
ông ta phần nào về việc ấy, bởi vì chính nhờ phẩm chất ấy, ông đáng được nổi tiếng
chút ít, cho dù không phải khắp nói nơi thì cũng lớn hơn nhiều so với địa vị
khiêm tốn của ông trong toà án chúng tôi. Đặc biệt người ta chế nhạo sự say mê
tâm lý của ông: Theo tôi, mọi người đều lầm: tôi cho rằng ông biện lý của chúng
tôi, với tư cách là con người thì tính cách nghiêm chỉnh hơn nhiều, không như
nhiều người tưởng. Nhưng con người bệnh tật ấy đã không biết đặt mình vào đúng
vị ai ngay từ những bước đầu mới vào nghề, sau này suốt đời vẫn như vậy.
Còn về ông chánh án thì chỉ có thể nói ông là người có học vấn,
nhân đạo, hiểu biết công việc của mình trên thực tế và có những ý tưởng hiện đại
nhất. Ông khá tự ái, nhưng không bận tâm lắm về con đường công danh của mình. Mục
đích chính của đời ông là làm con người tiên tiến. ông lại giao thiệp rộng và
có tài sản. Về vụ Karamazov, như sau này đã rõ, ông khá chú trọng, nhưng chỉ
theo nghĩa chung. Ông quan tâm đến hiện tượng, phân loại nó, coi nó như sản phẩm
của những nền tảng xã hội của chúng ta, như đặc trưng cho yếu tố Nga v.v… và
v.v… Về tính chất cá nhân của vụ việc, bi kịch của nó, cũng như với cá nhân những
người tham gia, kể từ bị cáo, ông có thái độ khá thờ ơ và trừu tượng, mà có lẽ
như thế là phải thôi.
Từ trước khi toà ra rất lâu, phòng xử án đã chật lèn. Phòng xử
án của chúng tôi là tốt nhất thành phố, rộng, cao, âm tiếng. Bên phải, các
thành viên của toà án ngồi trên một chỗ hơi cao, có đặc một chiếc bàn và hai
dãy ghế bành cho các bồi thẩm. Bên trái là chỗ của bị cáo và luật sư. Ở giữa
phòng, gần hội đồng xét xử, là bàn đặt "vật chứng". Ở đây có chiếc áo
choàng lụa trắng đẫm máu của Fedor Pavlovich, chiếc chày đồng nguy hại được giả
định là để thực hiện vụ giết người, chiếc sơ mi tay áo vấy máu của Mitia nhét
chiếc mùi soa đẫm máu vào, bản thân cái mùi soa đóng máu cứng đanh lại, bây giờ
đã ngả sang màu vàng, cỗ súng tay Mitia đã nạp đạn ở nhà Perkhotin để tự vẫn mà
Trifon Borisovich đã lén lấy mất của chàng ở Mokroe, chiếc phong bì có chữ đề đựng
ba ngàn rúp dành cho Grusenka, dải băng hồng mỏng buộc phong bì và nhiều vật
khác mà tôi sẽ không nhắc đến. Xa hơn chút nữa, giữa phòng, là chỗ cho công
chúng, nhưng trước hàng chấn song là mấy chiếc ghế bành cho những người làm chứng
đã khai trước toà và được giữ lại trong phòng.
Mười giờ toà ra, gồm có chánh án, một thẩm phán và một thẩm
phán hoà giải danh dự. Tất nhiên biện lý xuất hiện ngay. Chánh án là một người
rắn chắc, mập mạp, thấp lùn, mặt là mặt của người mắc bệnh trĩ, tuổi trạc năm
mươi, tóc sẫm màu điểm bạc, cắt ngắn, đeo băng huân chương mầu đỏ, chẳng rõ là
huân chương gì. Tôi có cảm giác, không phải chỉ riêng tôi, mà tất cả mọi người,
đều có cảm giác rằng mặt ông biện lý rất tái, gần như xanh mướt, không hiểu sao
ông bỗng gầy rộc đi trong có một đêm, vì mới hôm kia tôi thấy ông còn hoàn toàn
bình thường.
Chánh án bắt đầu bằng việc hỏi thừa phát lại: các bồi thẩm đã
đủ mặt chưa?… Tuy nhiên tôi thấy rằng tôi không thể tiếp tục như thế nữa, bởi
vì thậm chí có nhiều điều tôi nghe không rõ, có điều tôi bỏ không nghe, có điều
tôi quên không nhắc đến mà cái chính là như tôi đã nói ở trên, nếu nhắc lại tất
cả những điều đã nói và đã xảy ra thì đúng là tôi không đủ thời gian và chỗ.
Tôi chỉ biết rằng bên bào chữa và bên bồi thẩm chỉ không thừa nhận một số ít bồi
thẩm. Thành phần mười hai bồi thẩm thì tôi nhớ: bốn viên chức vùng chúng tôi,
hai thương gia, sáu nông dân và tiểu thị dân thành phố chúng tôi. Tôi nhớ, trước
phiên toà lâu, ở vùng chúng tôi người ta hơi ngạc nhiên hỏi nhau, đặc biệt là
các bà: "Một việc tế nhị, phức tạp và tâm lý như thế này mà lại giao cho
những viên chức và cuối cùng là những mugich định đoạt được ư?"
Quả vậy, tất cả bốn viên chức trong đoàn bồi thẩm đều là những người hèn mọn,
chức tước thấp, tóc muối tiêu, chỉ có một người trẻ hơn chút ít mà trong xã hội
chúng tôi ít được biết đến, sống lay lắt bằng đồng lương thảm hại, có những bà
vợ già không thể cho ló mặt ra ở đâu, con thì một đống, có lẽ đi chân đất thời
giờ rảnh rỗi thì chỉ tiêu khiến bằng bài bạc, còn sách thì dĩ nhiên là không đọc
cuốn nào. Hai thương gia thì nom còn có vẻ đĩnh đạc, nhưng trầm lặng lạ lùng và
không nhúc nhích. Một người mày râu nhẵn nhụi và mặc theo kiểu Đức; người kia
râu cằm đốm bạc, cổ đeo tấm huy chương gì đó bằng dải bảng đỏ.
Về những tiểu thị dân và nông dân thị không có gì đáng nói.
Những tiểu thị dân Xcotovngonievsky của chúng tôi thì cũng gần như nông dân,
cũng cày ruộng. Hai người trong bọn họ cũng mặc quần áo kiểu Đức, vì thế có lẽ
còn kém sạch sẽ và khó coi hơn bốn người kia. Thành thử quả thật có thể nảy ra
ý nghĩ, cũng như tôi chẳng hạn, đã nảy ra ý nghĩ khi nhìn họ: "những người
như thể có thể hiểu gì trong một việc như thế này?" Tuy nhiên, mặt họ gợi
lên ấn tượng oai vệ kỳ lạ và đầy đe doạ, nghiêm nghị và cau có.
Rốt cuộc, chánh án tuyên bố nghe vụ giết viên tham sự thực thụ
về hưu Fedor Pavlovich Karamazov, tôi không nhớ đầy đủ là ông ta diễn đạt như
thế nào. Thừa phát lại được lệnh đưa bị cáo vào, và Mitia ra. Phòng xử im ắng
như tờ, con ruổi bay qua nghe thấy tiếng. Tôi không biết người khác thế nào,
nhưng bộ dạng Mitia gây cho tôi cảm tưởng hết sức khó chịu. Cái chính là chàng
ta diện cực kỳ bảnh, áo ngoài mới may. Sau này tôi được biết, nhân ngày này,
chàng cố ý đặt may cho mình bộ áo ấy ở Moskva, người may là người thợ cũ vẫn giữ
số đo của chàng. Chàng đeo đôi găng da mềm màu đen khá mới, và áo trong rất diện.
Chàng bước những bước cực dài, nhìn thẳng về phía trước, cái nhìn bất động, và
hết sức thản nhiên ngồi vào chỗ của mình.
Luật sư bào chữa xuất hiện liền, Fetiukovich nổi tiếng, tiếng
rì rầm lan ra trong phòng. Đây là con người dài nhoáng, khô gây, chân dài và
mánh, ngón tay cực dài, nhọt nhạt, mảnh mai, mặt cạo nhẵn, tóc khá ngắn, chải một
cách nhũn nhặn, môi thỉnh thoảng lại nhếch đi không ra giễu cợt, không ra mỉm
cười. Ông ta khoảng bốn mươi. Mặt ông ta nom dễ coi, nếu không có cặp mắt nhỏ
và không có sức biểu hiện, nhưng gần nhau đến hiếm thấy, thành thử chúng chỉ
cách nhau bởi cái sống mỏng của chiếc mũi mảnh thuôn thuôn. Tóm lại, bộ mặt ấy
có cái gì quá giồng mặt chim khiến ta sửng sốt. Ông mặc áo xẻ vạt, đeo cà vạt
trắng. Tôi nhớ câu đầu tên chánh án hỏi Mitia: tên, chức tước và vân vân Mitia
trả lời gay gắt và to lạ thường, làm cho chánh án lắc đầu ngạc nhiên nhìn
chàng. Rồi người ta đọc tên những người được gọi ra để điều tra tại toà, tức là
những người làm chứng và giám định viên. Danh sách dài: bốn người không đến:
Miuxov lúc này đang ở Paris, những lời khai của ông có trong cuộc điều tra sơ bộ,
bà Khokhlakova và điền chủ Maximov bị ốm, Xmerdiakov chết bất ngờ, có giấy chứng
nhận của cảnh sát.
Tin về Xmerdiakov gây nên sự xáo động và thì thầm trong
phòng. Cố nhiên, công chúng nhiều người chưa biết gì việc tự sát bất ngờ. Nhưng
điều đặc biệt đáng sửng sốt là phản ứng đột ngột của Mitia: vừa nghe tin về
Xmerdiakov, chàng bỗng bật dậy, gào vang khắp phòng:
- Chó thì phải chết như chó!
Tôi nhớ luật sư của chàng vội chạy đến bên chàng và ông chánh
án đe doạ sẽ có biện pháp nghiêm khắc nếu một lần nữa xảy ra hành động láo lếu
như thế. Mitia gật đầu lia lịa, nhưng dường như không lấy gì làm hối hận, mấy lần
thầm thì với luật sư của mình:
- Tôi sẽ không thế nữa, sẽ không thế nữa! Tôi trót buột miệng!
Tôi sẽ không thế nữa!
Cố nhiên, sự việc ngắn ngủi vừa xảy ra khiến các bồi thẩm và
công chúng có ý nghĩ không hay về chàng. Chàng tự bộc lộ tính cách và giới thiệu
mình. Dưới ấn tượng ấy, thư ký của toà đọc cáo trạng.
Cáo trạng khá ngắn, nhưng cặn kẽ, chỉ trình bày những nguyên
nhân chính, tại sao một người như thế bị lôi cuốn, tại sao y phải ra toà, vân
vân. Nhưng nó gây cho tôi một ấn tượng mạnh. Thư ký đọc rành rọt, sang sảng, rõ
từng tiếng. Tất cả tấn bi kịch dường như lại hiện ra trước mất tất cả mọi người
một cách nổi bật, tập trung, soi rọi dưới ánh sáng ác hại, khắc nghiệt. Tôi nhớ,
đọc xong chánh án lớn tiếng hỏi Mitia bằng giọng oai nghiêm:
- Bị cáo, anh có nhận tội không?
Mitia đứng phắt dậy:
- Tôi nhận tội say rượu và phóng đãng, - chàng kêu lên bằng
giọng lại có phần bất ngờ, gần như điên cuồng, - lười nhác và trác táng. Tôi muốn
trở thành người chính trực đúng vào giây lát mà số phận đánh tôi gục ngã! Nhưng
tôi không có tội về cái chết của ông già, kẻ thù của tôi và là bố tôi! Về việc
cướp tiền của ông ta tôi cũng không có tội, không, không, và tôi không thể có tội
được:
- Dmitri Karamazov là thằng đểu cáng, nhưng không ăn cắp!
Hét lên như thế xong, chàng ngồi xuống, run toàn thân.
Chánh án lại nói với chàng một cách ngắn gọn, nhưng đầy vẻ
răn bảo, khuyên chàng chỉ trả lời các câu hỏi, đừng sa vào những cảm thán cuồng
loạn ngoài đề. Rồi ông ra lệnh bắt cuộc điều tra tại toà. Người ta đưa tất cả
những người làm chứng ra tuyên thệ.
Tôi thấy tất cả bọn họ cùng một lúc. Hai anh em của bị cáo được
miễn thủ tục này. Sau lời khuyên nhủ của linh mục và chánh án, những người làm
chứng được dẫn đi và bố trí riêng biệt. Rồi họ được gọi vào từng người một.
Chương 2
Những người làm chứng nguy hiểm
Tôi không biết các nhân chứng buộc tội và gỡ tội có được
chánh án xếp thành nhóm theo cách nào đó không và ông có định gọi họ theo trình
tự nào không. Hẳn là phải có. Tôi chỉ biết rằng những nhân chứng buộc tội được
gọi trước. Tôi nhắc lại, tôi không có ý định thuật lại mọi cuộc xét hỏi, từng
bước một.
Thêm nữa, sự miêu tả của tôi sẽ phần nào là thừa, vì lời buộc
tội của biện lý và lời bào chữa của luật sư khi bắt đầu tranh cãi, đã quy về một
điểm, trình bày sáng rõ, đặc sắc toàn bộ tiến trình và ý nghĩ những lời khai từ
trước và được nói ra ở đấy; hai bài nói xuất sắc ấy ít ra là đôi chỗ, tôi ghi lại
đầy đủ và lúc cần sẽ thuật lại, cũng như một chuyện phi thường hoàn toàn bất ngờ
xảy ra đột ngột ngay từ ước cuộc tranh luận tại toà và chắc chắn có ảnh hưởng đến
kết cục tai hại và ghê gớm của nó. Tôi chỉ lưu ý rằng ngay từ những phút đầu
xét xử, đã bộc lộ rất rõ một đặc điểm của "vụ" này mà ai cũng nhận thấy,
đó là: sức mạnh phi thường của sự buộc tội so với những phương tiện mà bên bào
chữa có trong tay. Điều đó mọi người đều hiểu ngay từ lúc đầu, khi trong phòng
xử án đông đảo, các sự kiện bắt đầu tập trung, ghép nhóm lại và dần dần lộ ra
toàn bộ sự khủng khiếp ấy, toàn bộ câu chuyện đổ máu ấy. Có lẽ ngay từ những bước
đầu, mọi người đều thấy rõ đây không phải là chuyện để tranh cãi, ở đây không
có gì đáng nghi ngờ, thực chất chẳng cần tranh cãi gì hết, tranh cãi chỉ cho có
hình thức, bị cáo có tội, có tội rõ ràng, có tội dứt khoát. Thậm chí tôi còn
cho rằng tất cả các bà, không trừ người nào, đều nóng lòng khao khát bị cáo
đáng chú ý được trắng án, đồng thời hoàn toàn tin chắc là anh ta phạm tội.
Ngoài ra, tôi có cảm giác rằng thậm chí họ rầu lòng nếu tội của anh ta không được
xác nhận đầy đủ, vì như thế thì kết cực không có hiệu ứng mạnh khi kẻ phạm tội
được tha bổng. Vì sao mà tha bổng? Kỳ lạ thay, tất cả các bà đều tin chắc như
thế hầu như cho đến phút chót: "Có tội, nhưng được tha bổng vì lòng nhân đạo,
vì những ý tưởng mới, vì những tình cảm mới…", v.v… và v.v…
Chính vì thế mà họ đổ đến đây với sự nôn nóng như vậy. Đàn
ông quan tâm nhiều nhất đến cuộc đọ tài giữa ông biện lý và Fetikovich quang
vinh. Mọi người ngạc nhiên hỏi nhau: "Một vụ rõ ràng là có tội, một quả trứng
thối, ngay cả một người rõ ràng là tài ba như Fetiukovich có thể làm gì được?".
Vì thế người ta chăm chú căng thẳng theo dõi từng bước chiến công của ông.
Nhưng cho đến phút chót, cho đến khi phát biểu, Fetiukovich vẫn
là một bí ẩn cho tất cả mọi người. Những người có kinh nghiệm linh cảm thấy rằng
ông ta có hệ thống riêng, ông ta đã sắp sẵn một cái gì, trước mắt ông ta có một
mục đích, nhưng mục đích gì thì hầu như không thể đoán ra được. Tuy nhiên, thái
độ vững tin và tự phụ của ông đập vào mắt mọi người.
Ngoài ra, hiện giờ mọi người thích thú nhận thấy rằng này mới
đến vùng chúng tôi một thời gian ngắn, có lẽ chỉ mới ba ngày, ông đã tìm hiểu vụ
án một cách đáng ngạc nhiên và "nghiên cứu tinh vi". Chẳng hạn. sau
này người ta khoái trá kể lại rằng ông đã "chơi khăm" những người làm
chứng buộc tội, ra sức làm cho lạc hướng, cái chính là bôi nhọ thanh danh của họ,
như vậy là bôi bác lời khai của họ. Tuy nhiên người ta cho rằng ông ta làm điều
đó để chơi đùa nhiều hơn, có thể nói là để biểu lộ phần nào sự lỗi lạc về pháp
lý, để không cái gì bị bỏ quên trong những thủ đoạn được chấp nhận của luật sư
bào chữa: bởi vì mọi người đều tin chắc rằng với tất cả "những cách chê
bai" như thế, ông không thể đạt được cái lợi gì lớn và triệt để, và có lẽ
ông hiểu rõ điều đó hơn ai hết, ông vẫn có một ý tưởng nào đó dự trữ, còn một
vũ khí bào chữa nữa mà ông sẽ đội ngột rút ra lúc cần đến. Nhưng tạm thời, nhận
rõ lực lượng của mình, ông dường như vẫn nô giỡn. Chẳng hạn, khi người ta hỏi
Grigori Vaxilievich, người hầu phòng trước kia của Fedor Pavlovich đã đưa ra lời
khai cơ bản về "cánh cửa đề mở ", luật sư bám chặt lấy lão khi đến lượt
ông hỏi. Cần nhấn mạnh rằng Grigori Vaxilievich ra phòng xử án không một chút bối
rối trước sự nghiêm trang của phiên toà, trước sự có mặt của công chúng dông đảo
nghe lão vẫn bình tĩnh và trang nghiêm. Lão khai với vẻ tin chắc như thể
nói chuyện tay đôi với Marfa Ignatievna nhà mình, có điều kính cẩn hơn. Không
thể làm lão rối trí được. Thoạt tiên biện lý hỏi lão rất lâu về mọi chi tiết
gia đình nhà Karamazov. Bức tranh gia đình được phơi bày vô cùng rõ. Người ta
nghe, người ta nhìn thấy người làm chứng này chất phác và vô tư. Mặcdù hết sức
kính trọng vong linh ông chủ cũ của mình, lão vẫn tuyên bố rằng ông bất công với
Mitia và "giáo dục các con không đúng đắn. Hồi còn nhỏ, không có tôi thì cậu
ấy đã bị chấy rận ăn thịt rồi". - Lão nói thêm, khi kể về những năm thơ ấu
của Mitia - "Cha cũng không nên xâm phạm đến tài sản của con trai được thừa
kế của mẹ". Về câu hỏi của ông biện lý rằng lão có căn cứ gì khẳng định rằng
Fedor Pavlovich làm thiệt hại cho con khi thanh toán tài sản, mọi người đều ngạc
nhiên vì lão không đưa ra được số liệu chắc chắn nào, nhưng vẫn cứ một mực nói
rằng việc thanh toán với con là "không đúng" và đích thị là ông chủ
"nên trả thêm cho cậu ấy mấy ngàn nữa". Nhân thể xin nói rằng câu hỏi
ấy, - có thực Fedor Pavlovich còn thiếu Mitia không? - Viên biện lý sau đó đặc
biệt dai dẳng đặt ra với các nhân chứng mà ông ta có thể đặt ra được, kẻ cả
Aliosa và Ivan, nhưng không người làm chứng nào trả lời đích xác được: mọi người
đều khẳng định sự việc, nhưng không người nào có thể đưa ra bằng chứng ít nhiều
sáng sủa. Sau khi Grigori miêu tả cảnh bên bàn, khi Dmitri Fedorovich xộc vào
đánh bố, doạ sẽ quay trở lại giết bố thì ấn tượng u ám lan khắp phòng, nhất là
người đầy tớ già kể một cách bình tĩnh, không một lời thừa, bằng thứ ngôn ngữ độc
đáo mà té ra cực kỳ hùng hồn. Về việc Mitia đánh vào mặt lão làm lão ngã gục
thì lão tuyên bố rằng lão không giận và tha thứ từ lâu. Về Xmerdiakov đã qua đời
thì lão vừa làm dấu thánh vừa nói rằng gã trai có khả năng, nhưng đần độn và ốm
đau, nhất là vô thần, mà hắn vô thần là do Fedor Pavlovich và người con trưởng
dạy cho. Về sự ngay thẳng của Xmerdiakov thì lão xác nhận gần như sôi nổi và
nói ngay rằng trước đây, bắt được tiền của chủ đánh rơi, hắn không giấu đi mà
đem trả, vì thế chủ "thưởng cho hắn một đồng tiền vàng" và tin cẩn hắn
từ đó. Cửa ra vào để mở thì lão nhấc mực khăng khăng là như thế. Tuy nhiên người
ta hỏi lão nhiều đến nỗi tôi không thể nhớ hết được. Cuối cùng đến luật sư hỏi,
việc trước tiên ông muốn biết là về chiếc phong bì mà "nghe đâu như"
Fedor Pavlovich cất ba ngàn đồng cho "một nhân vật ai nấy đều biết".
"Ông có chính mắt nhìn thấy nó không, ông là người nhiều năm gần ông chủ
như thế kia mà?". Câu hỏi ấy về chiếc phong bì, Fetiukovich cũng đề ra với
tất cả những người làm chứng ông có thể hỏi được, cũng dai dẳng như ông biện lý
hỏi về việc chia tài sản, và tất cả các nhân chứng đều trả lời rằng chẳng ai
trông thấy chiếc phong bì, tuy rất nhiều người nghe nói đến nó. Ngay từ đầu mọi
người đã chú ý đến sự dai dẳng của ông luật sư đối với câu hỏi ấy.
- Bây giờ tôi có thể hỏi ông một câu, nếu ông cho phép, -
Fetiukovich bỗng hỏi hoàn toàn bất ngờ. - thứ thuốc thoa, hay có thể nói là thuốc
nước mà tối hôm ấy, như kết quả điều tra sơ bộ cho biết, ông dùng để thoa chỗ
đau lưng gồm những vị gì?
Grigori ngơ ngác nhìn người hỏi, im lặng một lát, rồi lầu bầu:
- Có đan sâm.
- Chỉ có đan sâm thôi à? Ông có nhớ còn vị gì nữa không?
- Mã đề nữa.
- Có lẽ có hồ tiêu nữa chăng? - Fetiukovich tò mò.
- Có cả hồi tiêu.
- Những thứ khác nữa. Tất cả ngâm vodka chứ?
- Ngâm rượu.
Trong phòng có tiếng cười khúc khích.
- Các vị thấy đấy, thậm chí là ngâm rượu. Xoa lưng xong, ông
uống nốt chỗ còn lại trong chai, đồng thời đọc bài kinh cầu nguyện sùng kính mà
chỉ có vợ ông biết, ông uống hết, phải không?
- Tôi uống hết.
- Ông uống có nhiều không? Phỏng chừng? Một ly, ly thứ hai?
- Khoảng chừng một cốc!
- Một cốc kia à? Có lẽ là cốc rưỡi chăng?
Grigori im bặt. Lão đã hiểu ra điều gì.
- Cốc rưỡi rượu cực mạnh, cũng khá ghê đấy chứ, ông nghĩ sao?
Có thể ông thấy ngay cả "cửa thiên đàng cũng mở toang", chứ cứ gì cửa
ra vườn, phải không?
Grigori vẫn im lặng.
Lại cười khúc khích trong phòng. Chánh án ngọ ngoạy.
- Ông có biết chắc, - Fetiukovich vẫn bám riết, - rằng lúc
ông trông thấy cửa ra vườn bỏ ngỏ thì ông có ngủ hay không?
- Tôi đứng vững.
- Điều đó chưa phải bằng chứng rằng ông không ngủ (lại có tiếng
cười khúc khích nữa). Chẳng hạn, nếu lúc ấy có người hỏi ông chuyện gì, chẳng hạn
năm nay là năm bao nhiêu, thì ông có thể trả lời được không?
- Tôi không biết.
- Thế năm nay là năm bao nhiêu, kỷ nguyên chúng ta, kể từ
ngày Chúa Kito ra đời, ông có biết không?
Grigori đứng với vẻ mặt chán nản, nhìn chằm chằm vào kẻ hành
hạ mình. Kỳ lạ thật, dường như quả thật lão không biết năm nay là năm thứ bao
nhiêu.
- Nhưng có lẽ ông biết tay ông có bao nhiêu ngón chứ?
- Tôi là kẻ tôi tớ, - Grigori bỗng nói to và rành rọt, - nếu
nhà chức trách muốn chế nhạo tôi thì tôi đành chịu đựng.
Fetiukovich dường như hơi chưng hửng, nhưng chánh án can thiệp
và nhắc luật sư bào chữa nên đặt những câu hỏi đi vào vụ việc hơn. Nghe xong,
Fetiukovich đàng hoàng nghiêng mình và tuyên bố rằng ông không
còn gì để hỏi nữa. Cố nhiên, trong công chúng và bối thẩm vẫn
còn lại chút nghi ngờ vẻ lời khai của người có khả năng "nhìn thấy cửa
thiên đàng" trong trạng thái chữa bệnh kiểu ấy và không biết năm nay là
năm nào kể từ ngày Kito ra đời; thành thử luật sư bào chữa đã đạt được mục đích
của mình. Nhưng trước khi Grigori lui ra, đã xảy ra một chuyện nữa. Chánh án hỏi
bị cáo: anh có ý kiến gì về lời khai vừa rồi không?
- Trừ cái cửa thì lão nói thật hết. - Mitia gào to. - Về việc
lão trừ chấy rận cho tôi thì xin cảm ơn, lão tha thứ cho tôi đã đánh lão cũng
xin cảm ơn; ông già suốt đời là người ngay thẳng và trung thành với bố tôi như
bẩy trăm con chó xù.
- Bị cáo, hãy lựa lời. - Chánh án nghiêm khắc nói.
- Tôi không phải là con chó. - Grigori càu nhàu.
- Thế thì tôi là con chó xù, tôi! - Mitia kêu lên. - Nếu ông
bực thì tôi nhận về tôi, còn ông thì tôi xin ông tha thứ: tôi là thú vật, tôi
đã tàn bạo với ông! Tàn bạo với Ezov.
- Ezov nào kia? - Chánh án lại nghiêm khắc đứng lên.
- Đấy là Fedor… tức cha tôi, Fedor Pavlovich.
Chánh án lại oai nghiêm và hết sức nghiêm khắc bảo Mitia phải
thận trọng lựa lời hơn.
- Như vậy ông tự làm hại mình, các quan toà có ý nghĩ không
hay về ông.
Luật sư bào chữa cũng hết sức khéo léo như vậy khi hỏi nhân
chứng Rakitin. Tôi xin lưu ý rằng Rakitin là một trong những nhân chứng quan trọng
nhất và chắc chắn là viên biện lý rất quý.
Thì ra anh ta biết hết, biết nhiều đến mức đáng ngạc nhiên,
anh ta tiếp xúc với tất cả bọn họ, nhìn thấy hết, nói chuyện với tất cả mọi người,
biết tường tận tiểu sử Fedor Pavlovich và cả ba anh em Karamazov. Sự thực thì về
chiếc phong bì đựng ba ngàn đồng anh ta cũng chỉ nghe Mitia nói. Nhưng anh ta
miêu tả tỉ mỉ chiến công của Mitia trong quán "Thủ đô", lời nói và
hành động làm tổn hại thanh danh của chàng và kể lại câu chuyện về "bó xơ
mướp" của đại uý Xneghiriov. Còn về điểm đặc biệt, Fedor Pavlovich có còn
nợ Mitia khi thanh toán tài sản hay không, thì Rakitin không thể vạch rõ điều
gì và chỉ đánh trống lảng bằng những câu chung chung có tính khinh miệt:
"Ai mà hiểu rõ được trong nhà họ người nào có lợi, ai nợ ai trong lối sống
bậy bạ nhà Karamazov mà chẳng ai có thể hiểu được gì, xác định được gì".
Tất cả bi kịch của tội ác đã phạm phải, anh ta miêu tả như sản
phẩm của tập tục thâm căm cố đế của chế độ nông nô của nước Nga chìm trong rối
loạn, đau khổ vì thiếu những thể chế cần thiết. Tóm lại, người ta để cho anh ta
phát biểu một số điều. Từ vụ án ấy, Rakitin lần đầu tiên trổ tài và được chú ý.
Viên biện lý biết Rakitin đang chuẩn bị một bài về vụ án này cho một tờ tạp chí
và trích một số ý tưởng của bài ấy (chúng ta sẽ thấy dưới đây) như vậy là ông
ta đã biết bài báo. Bức tranh người làm chứng miêu tả thực u ám và tai hại,
càng cũng cố thêm rất nhiều "lời buộc tội". Nói chung sự trình bày của
Rakitin lôi cuốn công chúng bởi sự độc lập suy nghĩ và sự bay bổng cao quý lạ
thường. Thậm chí có hai ba tiếng vỗ tay đột nhiên nổi lên chính ở những chỗ nói
về quyền nông nô và về nước Nga đau khổ vì hỗn loạn.
Nhưng Rakitin, dùsao vẫn còn trẻ tuổi, đã phạm một lầm lỡ nhỏ
mà luật sư bảo vệ đã kịp lợi dụng cực kỳ tài ba. Khi trả lời những câu hỏi về
Grusenka, say mê về thành công của mình mà cố nhiên anh ta có ý thức rõ rệt về
sự cao cả mà anh ta đang bay lượn trên đó, anh ta dám nói mấy lời khinh miệt về
Grusenka coi như "gái bao của thương gia Xamxonov". Sau này anh ta sẵn
sàng trả giá đạt để lấy lại lời nói đó, vì anh ta bị Fetiukovich chộp ngay.
Tất cả là bởi Rakitin hoàn toàn không dự tính rằng trong thời
gian ngắn như thế mà ông ta có thể tìm hiểu vụ án tới những chi tiết sâu kín
như vậy.
- Xin phép hỏi. - luật sư bào chữa nói với nụ cười hệch thiệp
và thậm chí kính trọng. - ông cố nhiên là ông Rakitin đã viết cuốn sách nhỏ do
giáo khu xuất bản, nhan đề "Sự tích trưởng lão Zoxima yên nghỉ trong
Chúa", cuốn sách đầy những tư tưởng tôn giáo sâu sắc, có lời đề tặng sùng
kính và tuyệt hay cho Đức cha, mới đây tôi đã đọc với sự thích thú đặc biệt?
- Tôi viết không phải để đưa in… rồi sau đó người ta đem in.
- Rakitin lầu bầu, như thể bỗng chưng hửng về cái gì và hầu như xấu hổ.
- Ô thật là tuyệt! Nhà tư tưởng như ông có thể và thậm chí cần
phải có cái nhìn rộng đối với mọi hiện tượng xã hội. Nhờ sự bảo trợ của Đức
cha, cuốn sách vô cùng có ích của ông bán rất chạy và đem lại lợi ích trong đời…
Nhưng có điều này, mà đây cái chính tôi muốn biết: ông vừa tuyên bố rằng ông rất
thân với bà Xvetlova có phải không? (Xin chú ý, họ của Grusenka là Xvetlova. Điều
này tôi được biết lần đầu tiên chỉ trong ngày hôm ấy trong vụ xử án).
- Tôi không thể chịu trách nhiệm về mọi mối quen biết của
tôi. Tôi là một người trẻ tuổi. Ai mà có thể chịu trách nhiệm về tất cả những
người mình gặp. - Rakitin thốt nhiên đỏ bừng mặt.
- Tôi hiểu, tôi quá hiểu! - Fetiukovich kêu lên, như bẽn lẽn
và dường như vội vã xin lỗi, - ông cũng như bất cứ người đàn ông nào khác, có
thể muốn làm quen với một phụ nữ trẻ đẹp sẵn lòng tiếp đón tinh hoa của giới trẻ
ở đây… tôi chỉ muốn hỏi: chúng tôi biết rằng hai tháng trước, Xletlova đặc biệt
muốn làm quen với cậu út nhà Karamazov, Alecxei Fedorovich, và chỉ riêng việc
ông dẫn cậu ấy đến; chính trong bộ áo thầy tu hồi ấy, bà ta hứa cho ông hai
mươi nhăm rúp. Việc ấy, như đã biết, xảy ra chính vào tối hôm xảy ra tai hoạ bi
thảm làm cơ sở cho vụ án này. Ông đã dẫn Alecxei Karamazov đến bà Xvetlova và
đã nhận hai mươi nhăm rúp bà ta thưởng cho ông, tôi chỉ muốn cho ông biết điều ấy!
- Đấy là một trò đùa… Tôi không thấy tại sao điều đó có thể
làm ông quan tâm. Tôi lấy để đùa vui… Để sau này sẽ trả lại…
- Như vậy là ông đã lấy. Và cho đến giờ vẫn chưa trả… hay trả
lại rồi?
- Chuyện vớ vẩn… - Rakitin lầu bầu, - tôi không thể trả lời
những câu hỏi như vậy… Cố nhiên tôi sẽ trả lại.
Chánh án can thiệp, nhưng luật sư tuyên bố ông không hỏi gì nữa.
Rakitin rút lui, hơi tiu nghỉu. Cảm tưởng do lời lẽ rất mực cao quý của anh ta gây
ra bị phá tan, và Fetiukovich đưa mắt nhìn theo anh ta, như muốn nói với công
chúng: "Đấy, những kẻ buộc tội cao quý của các ngài như thế đó!". Tôi
nhớ, việc này không tránh khỏi phản ứng của Mitia: điên tiết vì giọng điệu của
Rakitin nói về Grusenka, chàng bỗng quát lên tại chỗ: "Becna!"
Khi chánh án hỏi Rakitin xong, nói với bị cáo: có muốn nói gì
không, thì Mitia oang oang thét lên:
- Hắn đến nhà giam bòn tiền tôi, bảo là vay tạm! Hắn tên là
Becna đáng khinh và là tên háo danh, hắn không tin Chúa, hắn lừa cả Đức cha.
Dĩ nhiên người ta lại bảo Mitia nói năng phải dè lời, nhưng
Rakitin đã bị chôn vùi. Lời chứng của đại uý Xnegheriov cũng không gặp may,
nhưng vì nguyên nhân khác. Ông ra trước toà quần áo tả tơi bán thỉu, ủng bẩn,
và mặcdù đã đề phòng trước và "giám định" sơ bộ, ông vẫn say mèm. Về
việc Mitia xúc phạm ông, ông không chịu trả lời.
- Chúa che chở anh ta, Iliusa không cho nói. Chúa Trời sẽ đền
bù cho tôi.
- Ai không cho ông nói? Ông nhắc đến ai vậy? Iliusechka, đứa
con bé bỏng của tôi: "Ba ơi, ba ơi nó làm nhục ba!". Nó nói câu ấy
bên tảng đá. Bây giờ nó đang hấp hối…
Viên đại uý bỗng khóc nức lên và đổ vật xuống chân ông chánh
án. Người ta vội đưa ông ra, giữa tiếng cười của công chúng. ấn tượng do ông biện
lý chuẩn bị hoàn toàn không thành công.
Luật sư bào chữa tiếp tục dùng mọi phương tiện và mỗi lúc
càng làm người ta ngạc nhiên về việc ông nắm vững vụ án tới từng chi tiết nhỏ.
Chẳng hạn lời khai của Trifon Borisovich gây nên ấn tượng rất
mạnh và cố nhiên cực kỳ bất lợi cho Mitia. Chính ông ta gần như tính chi ly rằng
lần đầu đến Mokroe, ngót một tháng trước tai hoạ, Mitia tiêu không thể dưới ba
ngàn hay chỉ kém chút ít. Chỉ riêng cho bọn con hát Zigan anh ta đã vứt ra bao
nhiêu tiền! Còn bọn mugich chấy rận vùng tôi thì không phủ là bố thí
"từng năm mươi xu ở ngoài đường", mà là cho hắn mỗi người ít nhất một
tờ hai mươi nhăm rúp, không ít hơn. Mà họ đã ăn cắp của anh ta bao nhiêu! Kẻ ăn
cắp có bao giờ để lại tay mình, làm sao mà bắt được kẻ ăn cắp, khi chính anh ta
vung tiền như thế! Dân vùng tôi là bọn ăn cướp, không gìn giữ linh hồn mình
đâu! Còn bọn con gái, bọn con gái nông thôn của chúng tôi nữa chứ! Chúng giàu
to từ dạo ấy, trước kia dù nghèo rớt mùng tơi". Tóm lại ông ta nhớ từng
khoản chi và tính toán chính xác hết. Như vậy, giả thuyết rằng bị cáo chỉ tiêu
có một ngàn rưởi, còn lại thì cất một chỗ, trở nên không tưởng tượng nổi.
"Chính mắt tôi nhìn thấy tay anh ta cầm ba mươi ngàn đồng
như một kopek, mắt tôi nhìn rõ hẳn hoi, chúng tôi không biết tính tiền hay
sao!" - Trifon Borisovich kêu lên, muốn ra sức chiều ý "nhà chức
trách". Nhưng khi đến lượt luật sư bào chữa hỏi, ông dường như không tìm
cách bác bỏ lời khai, đột nhiên nói luôn về việc anh đánh xe Timofei và một người mugich khác
nên là Kim, trong lần ăn chơi đầu tiên ấy, một tháng trước khi bị bắt, đã nhặt
được trên sàn phòng ngoài một trăm rúp Mitia đánh rơi trong lúc say và đưa cho
Trifon Borisovich, còn ông ta cho lại mỗi người một rúp. "Thế hồi ấy ông
có trả lại cho ông Karamazov một trăm rúp ấy không?". "Trifon
Borisovich nói quanh co, nhưng sau khi thẩm vấn hai người nông dân, đành thú nhận
sự kiện, chỉ thêm rằng hồi ấy đã thành tâm trả lại hết cho Dmitri Fedorovich
"một cách hết sức ngay thực, có điều anh ta đang say khướt, chưa chắc đã
nhớ được". Nhưng bởi vì trước khi gọi hai người nông thôn làm chứng, ông
ta vẫn chổi phăng việc tìm thấy một trăm rúp nên việc ông ta khai đã trả lại
cho Mitia số tiền lúc anh đang say rượu tất nhiên hết sức đáng ngờ. Như vậy, một
trong những nhân chứng buộc tội nguy hiểm nhất mà bên biện lý đưa ra đã đáng
nghi, thanh danh ông ta bị bôi lem luốc. Với những người Ba Lan cũng vậy: họ xuất
hiện một cách ung dung, tự hào. Họ nói oang oang rằng thứ nhất, cả hai đều
"phụng sự ngai vàng" và "pan" Mitia đề nghị với họ ba ngàn
rúp để mua danh dự của họ và chính họ nhìn thấy anh ta cầm trong tay món tiền lớn. PanMuxxialovich
chêm vào câu rất nhiều tiếng Ba Lan, và thấy rằng cách ấy làm tôn giá trị của
mình trước mắt ông chánh án và biện lý, rốt cuộc gã bốc lên và nói bằng tiếng
Ba Lan. Nhưng Fetiukovich cũng cho họ vào lưới của ông: mặcdù Trifon Borisovich
lại được gọi khai hết sức quanh co, nhưng vẫn cứ phải thú nhận rằng pan
Vrublevsky đánh tráo cỗ bài của ông ta, còn pan Muxxialovich cầm cái đã gian lận.
Karamazov xác nhận điều đó khi đến lượt ông khai và cả hai pan rút lui nhục nhã
ê chề, giữa tiếng cười của công chúng.
Tiếp đó, việc diễn ra y như thế với hầu hết các nhân chứng
nguy hiểm nhất. Fetiukovich đã biết cách bôi nhọ thanh danh họ và để họ rút lui
với cái mũi dài thượt. Những người hâm mộ và các nhà pháp lý đều khâm phục, có
điều họ không hiểu tất cả những trò đó dẫn tới kết quả lớn lao triệt để gì, vì
tôi nhắc lại, mọi người đều cảm thấy sự buộc tội không thể cưỡng lại nổi, mỗi
lúc một tăng thêm, bi thảm hơn. Nhưng nhìn vẻ tự tin của "pháp sư vĩ đại"
người ta thấy ông vẫn bình tĩnh và người ta chờ đợi, chẳng phải vô cớ mà
"một người như thế " từ Peterburg đến đây, ông ta đến không phải để
ra về tay không.
Chương 3
Giám định ý khoa và một funt (1) hạt dẻ
Giám định y khoa cũng không giúp gì nhiều cho bị cáo. Vả lại
chính Fedorovich cũng không trông cậy vào đó lắm, như sau này đã rõ.
Về căn bản, nó xảy ra chỉ theo sự khẩn nài của Ekaterina
Ivanovna đã cố mời một bác sĩ danh tiếng từ Moskva về. Việc bào chữa cố nhiên
không thể vì thế mà thua thiệt, khá lắm thì có thể có lợi về điểm nào đó. Tuy
nhiên phần nào đã xảy ra chuyện nực cười vì có sự bất đồng phần nào giữa các
bác sĩ. Các giám định viên đó là: ông bác sĩ nổi tiếng mới đến, rồi đến bác sĩ
Gherxenstube của chúng ta, cuối cùng là bác sĩ trẻ tuổi Varvinsky. Hai người
sau cùng ra làm nhân chứng do ông biện lý gọi. Người được hỏi đầu tiên với tư
cách giám định là bác sĩ Gherxenstube.
Đấy là ông già bẩy mươi tuổi, tóc bạc và hỏi, tầm vóc trung
bình, rắn chắc. Trong thành phố chúng tôi mọi người đều quý trọng ông. Ông là một
bác sĩ tận tâm, một người tuyệt diệu và sùng tín, một gemơgutơ(2) hay
"giáo hữu xứ Moravia", tôi không rõ ông đã ở vùng chúng tôi lâu lắm rồi
và tư cách hết sức đứng đắn ông tốt bụng và yêu người, chữa những người ốm
nghèo và nông dân không lấy tiền, ông đích thân đến nơi nhà tranh vách nát của
họ và cho họ tiền mua thuốc, nhưng ông ương bướng như con la. Ông đã có định kiến
gì thì không thể làm ông thay đổi ý kiến được. Thêm nữa, hầu hết mọi người
trong thành phố đều biết rằng ông bác sĩ nổi tiếng mới tới, trong vài ba ngày ở
vùng chúng tôi, đã cực kỳ chê bai khả năng của bác sĩ Gherxenstube. Số là ông
bác sĩ Moskva lấy hai mươi nhăm rúp một lần khám bệnh, nhưng một số người ở
vùng chúng tôi mừng rỡ vì ông ta đến, không tiếc tiền để đến khám. Tất cả những
người bệnh ấy, trước khi ông đến, cố nhiên chữa bác sĩ Gherxenstube, thế là ông
bác sĩ nổi tiếng phê phán cực kỳ gay gắt cách chữa của bác sĩ Gherxenstube. Rốt
cuộc khi đến thăm bệnh nhân thậm chí ông ta hỏi thẳng: "Thế nào, ở đây ai
chữa cho các người, Gherxenstube phải không? Hê-hê!". Bác sĩ Gherxenstube,
cố nhiên biết tất cả những chuyện ấy. Thế là cả ba bác sĩ lần lượt ra cho toà hỏi.
Bác sĩ Gherxenstube tuyên bố thẳng rằng "tính không bình thường về khả
năng trí tuệ của bị cáo tự nó bộc lộ rõ" tiếp đó, sau khi trình bày lý do,
mà tôi không thuật lại ở đây ông thêm rằng sự không bình thường đó bộc lộ rõ chủ
yếu không chỉ qua nhiều hành động trước kia của bị cáo, mà cả bây giờ, lúc này,
khi ông già bác sĩ, với sự thẳng đuột chất phác của mình, vạch rõ ràng bị cáo
khi vào phòng xử án, "có vẻ lạ thường và kỳ quặc không hợp với hoàn cảnh,
bước đi như người lính và mắt nhìn chằng chằng thẳng về phía trước, trong khi
đúng hơn là phải nhìn vẻ bên trái, nơi có các bà, bởi vì anh ta là người rất mê
phải đẹp, và hắn là phải nghĩ rất nhiều về việc các bà lúc này nghĩ gì về anh
ta", - ông già kết luận bằng thứ ngôn ngữ dặc sắc của mình. Cần nói thêm rằng
ông sẵn lòng nói nhiều bằng tiếng Nga, nhưng mỗi câu đều theo kiểu cách Đức,
tuy nhiên điều đó không bao giờ làm ông lúng túng, vì suốt đời ông có chỗ yếu
coi tiếng Nga của mình là kiểu mẫu, "hay hơn cả tiếng Nga của người
Nga" và thậm chí ông rất thích dùng phương ngôn Nga vì cho rằng phương
ngôn Nga hay hơn và giàu sức diễn cảm hơn hết mọi phương ngôn trên đời. Tôi xin
lưu ý rằng trong lúc nói chuyện, do đãng trí, ông thường quên những từ bình thường
nhất mà ông vẫn biết rất rõ, nhưng không hiểu tại sao lại lọt khỏi trí nhớ của
ông. Nhưng khi ông nói tiếng Đức cũng như vậy, khi ấy ông luôn luôn khua tay
trước mặt như tìm cách chộp lấy một từ lẩn mất, và không ai có thể bắt ông tiếp
tục nói nốt trước khi tìm ra từ đã mất. Nhận xét của ông về việc bị cáo khi vào
phòng lẽ ra phải nhìn các bà gây nên tiếng rì rầm tinh nghịch trong công chúng.
Tất cả các bà rất yêu ông già của chúng ta, họ cũng biết rằng ông sống độc thân
suốt đời, sùng tín và trong trắng, coi phụ nữ như nhưng nhân vật thượng đẳng
cao quý! Và thế mọi người đều cảm thấy nhận xét bất ngờ của ông lạ lùng ghê gớm.
Ông bác sĩ Moskva, đến lượt mình khẳng định một cách gay gắt
và dai dẳng rằng ông coi tình trạng trí tuệ của bị cáo là không bình thường, thậm
chí "ở mức độ cao nhất". Ông nói nhiều và khôn khéo về bệnh "ám ảnh"
và "cuồng loạn" và kết luận rằng theo tất cả những dữ kiện thu thập
được, trước khi bị bắt mấy ngày, bị cáo chắc chắn ở trong trạng thái ám ảnh bệnh
hoạn và nếu bị cáo đã phạm tội, thì tuy có biết, nhưng hầu như vô tình, hoàn
toàn không đủ sức đấu tranh với sự cuốn hút tinh thần bệnh hoạn lôi kéo mình.
Nhưng ngoài bệnh ám ảnh, bác sĩ còn xét cả bệnh cuồng loạn nó báo trước, theo lời
ông, con đường thẳng tuột tới sự mất trí hoàn toàn. (N.B. Tôi thuật lại bằng lời
của tôi, còn bác sĩ giải thích bằng ngôn ngữ chuyên môn uyên bác). "Mọi
hành động của anh ta trái ngược với lương tri và logic, - ông ta nói tiếp. -
Tôi chưa nói về điều tôi không nhìn thấy tức là về chính hành động phạm tội và
toàn bộ tai hoạ ấy, nhưng sang ngày thứ ba, khi nói chuyện với tôi, anh ta có
cái nhìn trân trân khó giải thích. Anh ta cười bất ngờ mà đáng lẽ không nên có.
Trạng thái cáu kỉnh thường xuyên khó hiểu, những lời lẽ kỳ dị:
"Becna, đậu đước học" và những điều khác không đáng có".
Nhưng bác sĩ đặc biệt xét bệnh "cuồng" đó ở chỗ bị cáo không thể nói
về ba ngàn rúp mà anh ta cho là mình bị lừa mà không nổi xung khác thường,
trong khi anh ta nói và nhớ lại tất cả những thất bại và xúc phạm khác của mình
một cách khá thoải mái. Cuối cùng, theo chứng nhận, vẫn hệt như ước kia, mỗi lần
đề cập đến ba ngàn đồng ấy, anh ta gần như phát rồ, trong khi đó người ta làm
chứng rằng anh ta không vụ lợi và không ky cóp. "Về ý kiến người bạn đồng
nghiệp bác học của tôi, - ông bác sĩ Moskva kết thúc ý kiến của mình một cách mỉa
mai rằng bị cáo khi vào phòng xử, lẽ ra phải nhìn các bà chứ không nhìn thẳng
trước mặt thì tôi xin nói rằng ngoài tính chất mua vui, ý kiến ấy sai lầm căn bản.
Vì tuy tôi hoàn toàn đồng ý rằng bị cáo, khi vào phòng xử, nơi quyết định số phận
của mình, đáng ra không nhìn trân trân về phía trước như vậy, điều đó quả thực
có thể coi là dấu hiệu về trạng thái tinh thần bất binh thường của anh ta vào
lúc ấy, nhưng đồng thời tôi khẳng định rằng anh ta phải nhìn không phải về phía
bên trái chỗ các bà, mà trái lại phải nhìn về bên phải, đưa mắt tìm luật sư bào
chữa mà anh ta hy vọng ở sự giúp đỡ của ông và bây giờ tất cả số phận anh ta tuỳ
thuộc vào việc bào chữa của ông". Ý kiến của mình, bác sĩ diễn đạt một
cách kiên quyết và nhất mực.
Nhưng sự bất đông giữa hai giám định viên bác học có vẻ khôi
hài đặc biệt do kết luận bất ngờ của bác sĩ Varvinsky được hỏi sau cùng. Theo
quan điểm của ông, bị cáo hiện giờ cũng như trước kia, ở trạng thái hoàn toàn
bình thường, tuy trước khi bị bắt quả thật anh ta có bị kích động thần kinh đặc
biệt, nhưng sở dĩ như vậy là do nhiều nguyên nhân hiển nhiên: ghen tuông, giận
dữ, say liên miên v.v… Nhưng trạng thái tinh thần đó không thể bao gồm "sự
ám ảnh" đặc biệt nào như vừa nói. Còn về việc bị cáo phải nhìn về bên trái
hay bên phải khi bước vào phòng thì "theo ý kiến khiêm tốn của ông",
bị cáo chính là phải nhìn thẳng trước mặt, như đã nhìn trong thực tế, vì ngồi
trước mặt anh ta là chánh án và các thành viên hội đồng xét xử mà tất cả số phận
anh ta bây giờ là tuỳ thuộc vào họ, "thành thử, nhìn thẳng trước mặt là
anh ta chứng minh trạng thái trí tuệ hoàn toàn bình thường vào lúc ấy", -
bác sĩ trẻ kết luận lời khai "nhũn nhặn" của mình hơi hăm hở.
- Hoan hô thầy lang! - Mitia kêu lên từ chỗ của mình. - Hoàn
toàn đúng như vậy!
Cố nhiên Mitia bị chặn lại, nhưng ý kiến của bác sĩ trẻ đã có
ảnh hưởng hoàn toàn quyết định đến phiên toà và công chúng, bởi vì như sau này
đã rõ, mọi người đều đồng ý với ông. Tuy nhiên, bác sĩ Gherxenstube ra khai với
tư cách nhân chứng, đã hoàn toàn bất ngờ làm lợi cho Mitia. Là người sống lâu
năm ở thành phố, biết rõ gia đình nhà Karamazov, ông khai mấy điều rất có lợi
cho việc "buộc tội", rồi bỗng nhiên, như nghĩ ra điều gì, ông thêm:
- Nhưng chàng thanh niên tội nghiệp này có thể có được một số
phận tốt hơn vô kể, bởi vì thời thơ ấu cũng như sau này, anh ta có tấm lòng tốt,
tôi biết điều đó. Nhưng phương ngôn Nga có câu: "Một người thông minh thì
tốt, nhưng nếu có một người thông minh khác đến thăm thì càng tốt hơn, vì khi
đó có hai bộ óc thông minh, chứ không phải một…
- "Một trí thông minh thì tốt, hai càng tốt hơn", -
viên biện lý sốt ruột nhắc lại, đã từ lâu ông biết ông già có thói quen nói chậm,
dề dà, không bối rối vì ấn tượng gây nên và việc bắt người ta phải chờ đợi,
trái lại, ông rất quý trọng sự hóm hỉnh trì độn, tự mãn của người Đức. Ông già
thích pha trò.
- Ồ vâng, tôi cũng nói như thế, - ông già bướng bỉnh đỡ lời,
- một trí thông minh thì tốt, hai thì càng tốt hơn nhiều. Nhưng một người thông
minh khác không đến, và anh ta dùng trí thông minh của mình… ờ, dùng vào đâu nhỉ?
Cái từ ấy, anh ta dùng ai thông minh của mình vào đâu nhỉ?, tôi quên béng mất rồi,
- ông ta xoay một tay trước mắt, - à phải, spasiren.
- Chơi bời chứ gì?
- Vâng, chơi bời, tôi định nói thế. Trí óc anh ta lang bang
chơi bời và lạc sâu đến nỗi đánh mất bản thân mình. Trong khi đó đấy là một
chàng trai cao quý và nhạy cảm. Ồ, tôi rất nhớ anh ta từ lúc còn con nít, bị bố
bỏ rơi ở sân sau, chân không giầy, quần chỉ còn độc một chiếc cúc.
Giọng nói của ông già chính trực đượm một âm thanh nhạy cảm
và thấm thía. Fetiukovich giật mình, như linh cảm thấy điều gì và bám theo
ngay.
- Ồ, vâng, hồi ấy chính tôi còn trẻ… Tôi… Ồ vâng, hồi ấy tôi
bốn mươi lăm, tôi vừa mới đến đây. Tôi cảm thấy thương hai thằng bé và tôi tự hỏi:
tại sao ta lại không mua cho nó một funt… Ồ vâng, một funt gì nhỉ. Tôi quên mất
tên nó rồi., một funt cái mà trẻ rất thích ăn, nó gọi là… ông bác sĩ xua tay, -
nó mọc trên cây người ta hái về đem cho…
- Táo phải không?
- Ồ, không! Một funt, một chục quá táo chứ không phải một
funt… nó nhiều và nhỏ xíu, bỏ vào mồm và cr-ă-ã!
- Hạt dẻ?
- Vâng, hạt dẻ, tôi định nói thế. - Bác sĩ xác nhận, hết sức
bình tĩnh, như thể ông không hề phải tìm từ. - Tôi mang đến cho nó một funt hạt
dẻ, bởi vì thằng bé chưa bao giờ được ai mang cho một funt hạt dẻ, còn tôi giơ
một ngón lay lên và nói với nó: "Này cháu bé, Gott der Vater(3), nó
cười và nói: "Gott der Sohn - Gott der Sohn"(4). Nó vẫn cười và lắp bắp:
" Gott der Sohn - Gott der heilige Geisl(5). Nó lại cười và cố sức
nói: "Gott der heillige Geisl". Còn tôi bỏ đi. Hôm sau nữa tôi đi qua
đó, nó gào lên gọi tôi: "Chú ơi, Gott der Vater, Gott der Sohn"
và chỉ quên "Gott der heillige Geisl", nhưng tôi nhắc lại cho nó nhớ
và tôi lại rất thương nó. Nhưng rồi người ta đưa nó đi nơi khác, tôi không gặp
nó nữa. Hai mươi ba năm trôi qua, một buổi sáng tôi ngồi trong phòng làm việc,
đầu đã bạc trắng, bỗng nhiên một thanh niên đang tuổi nở hoa bước vào, tôi
không thể nào nhận ra, nhưng nó giơ một ngón tay lên, vừa cười vừa nói: "Gott
der Vater, Gott der Sohn, Gott der heillige Geisl". Bây giờ tôi đến để cảm
ơn ông về một funt hạt dẻ, hồi ấy chẳng có ai mua cho tôi một funt hạt dẻ bao
giờ cả, chỉ có ông mua cho tôi". Thế là tôi nhớ lại thời thanh niên hạnh
phúc của tôi và chú bé nghèo khổ chân đất chạy trong sân, trái tim tôi xúc động
và tôi nói: "Anh thanh niên biết nhớ ơn bởi vì suốt đời anh đã nhớ đến
funt hạt dẻ mà tôi đã mang lại cho anh hồi còn thơ ấu". Tôi ôm lấy anh ta
và cầu phước cho anh ta. Tôi khóc. Anh ta cười, nhưng cũng khóc. Bởi vì người
Nga rất hay "cười lúc cần phải khóc". Nhưng anh ta khóc, tôi thấy điều
đó. Còn bây giờ thì, hỡi ôi!…
- Bây giờ tôi khóc, ông già người Đức ạ, bây giờ tôi khóc,
ông là người của Chúa! - Mitia bỗng kêu lên từ chỗ của mình.
Dùsao, câu chuyện gây cho công chúng một ấn tượng có phần thuận
lợi. Nhưng hiệu quả chính có lợi cho Mitia là lời khai của Ekaterina Ivanovna
mà tôi sẽ kể dưới đây. Và nói chung, khi bắt dằu đến những người làm chứng à
décharge(6), nghĩa là những người do luật sư bào chữa mời lên, thì số phận dường
như bỗng thật sự cười với Mitia và đáng chú ý nhất là bỗng bất ngờ cười với
chính việc bào chữa. Nhưng trước khi hỏi Ekaterina Ivanovna, người ta còn hỏi
Aliosa, anh chợt nhớ tới một sự việc có vẻ như là lời chứng bác bỏ một điểm buộc
tội quan trọng nhất.
Chú thích:
(1) funt = 409g
(2) Gemơgutơ là phong trào xã hội lòn giáo xuất hiện ở
Gemogut xú Xacxomia thế kỷ XVIII, phổ biến ở Nga thế kỷ XVIII-XIX. Nó có mục
đích coi cải tạo tinh thần con người, gốc rễ từ học thuyết "giáo hữu
Moravia" giáo phái Tsec ra đời giữa thế kỷ XV
(3) Chúa cha ( tiếng Đức).
(4) Chúa cha - Chúa con (tiếng Đức).
(5) Chúa con - Chúa thánh thần (tiếng Đức)
(6) gỡ tội (tiếng Pháp)
Chương 4
Hạnh phúc cười với Mitia
Điều đó xảy ra hoàn toàn bất ngờ ngay cả với chính Aliosa.
Anh được gọi lên không phải tuyên thệ, tôi nhớ các bên đều có thái độ cực kỳ mềm
mỏng và thiện cảm với anh ngay từ những lời đầu tiên. Rõ ràng là trước đó anh
đã có danh tiếng tốt. Aliosa tỏ ra khiêm nhường và dè dặt, nhưng trong lời khai
của anh đã lộ rõ thiện cảm nồng nhiệt đối với người anh bất hạnh. Trả lời một
câu hỏi, anh nêu rõ tính cách của anh mình là người có lẽ điên cuồng, đam mê,
nhưng cũng cao quý, kiêu hãnh và hào hiệp, thậm chí sẵn sàng hy sinh, nếu được
đòi hỏi. Tuy nhiên anh thừa nhận rằng trong những ngày gần đây, vì say mê
Grusenka, ghen với cha, Mitia ở trong tình cảnh không thể chịu đựng nổi. Nhưng
anh phẫn nộ bác bỏ ngay giả thuyết Mitia có thể giết cha để cướp của, tuy anh
thừa nhận ông ba ngàn đống ấy trong đầu óc Mitia như một thứ bệnh cuồng mà
Mitia cho rằng đấy là tài sản thừa kế mà cha đã lừa dối cướp của mình, và Mitia
tuy không vụ lợi, song không thể nói đến ba ngàn đồng ấy mà không phát điên
phát cuồng lên. Về sự tranh giành giữa "hai nhân vật", theo lời ông
biện lý, tức là Grusenka và Katia, thì Aliosa lảng tránh, và đối với một vài
câu hỏi, thậm chí anh không muốn trả lời:
- Ít nhất thì ông anh của anh cũng có nói rằng anh ta có ý định
giết cha chứ? - Biện lý hỏi. - Anh có thể không trả lời, nếu thấy cần thiết. -
ông ta thêm.
- Anh ấy không nói trực tiếp. - Aliosa đáp.
- Vậy thì thế nào? Gián tiếp à?
- Có lần anh ấy nói với tôi rằng anh ấy căm thù cha và sợ rằng…
vào lúc quá sáng… lúc khinh ghét ghê tởm… thì anh ấy có thể giết.
- Thế anh tin chứ?
- Tôi không dám nói là tôi tin. Nhưng bao giờ tôi cũng tin chắc
rằng một tình cảm cao cả sẽ cứu anh ấy vào giây phút khốc hại, như đã cứu trên
thực tế, bởi vì không phải anh ấy giết cha tôi. - Aliosa kết luận một cách
cương quyết, tiếng oang oang khắp phòng. Biện lý giật mình như con ngựa chiến
nghe thấy tiếng kèn đồng.
- Hãy tin chắc rằng tôi hoàn toàn không hề nghĩ gì về việc
anh hết sức thành thực, không hề cho rằng niềm tin của anh bị ràng buộc hay đồng
nhất với tình yêu của anh đối với người anh bất hạnh của mình. Qua cuộc điều
tra sơ bộ, chúng tôi đã biết quan điểm độc đáo của anh về toàn bộ câu chuyện bi
thảm xảy ra trong gia đình anh. Tôi không giấu anh rằng quan điểm của anh là cô
lập và mâu thuẫn với tất cả các lời khai mà phòng biện lý có được. Vì thế tôi
thấy cần thiết phải kiên gan hỏi thêm anh những dữ liệu nào hướng dẫn ý nghĩ của
anh và khiến anh tin chắc rằng anh của anh vô tội và trái lại, kẻ có tội là kẻ
mà anh đã trực tiếp chỉ ra trong cuộc điều tra sơ bộ?
- Trong lúc điều tra sơ bộ tôi chỉ trả lời các câu hỏi. -
Aliosa nói khẽ và bình tĩnh, - tôi không đích thân buộc tội Xmerdiakov.
- Tuy vậy anh đã chỉ ra hắn!
- Tôi nói theo lời anh Dmitri. Trước khi các ông hỏi tôi, anh
ấy đã kể với tôi những gì xảy ra khi bắt anh ấy và anh ấy đã nêu ra Xmerdiakov.
Tôi hoàn toàn tin rằng anh tôi vô tội. Mà nếu anh ấy không giết thì…
- Thì là Xmerdiakov? Tại sao lại chính là Xmerdiakov? Tại sao
lại chính anh tin chắc như đinh đóng cột là ông anh của anh vô tội?
- Tôi không thể không tin anh tôi. Tôi biết anh ấy không nói
dối tôi. Nhìn mặt anh ấy tôi biết là anh ấy không nói dối tôi.
- Chỉ nhìn mặt thôi? Đấy là tất cả chứng cứ của anh?
Biện lý không hỏi gì nữa. Câu trả lời của Aliosa khiến công
chúng hết sức thất vọng. Về Xmerdiakov dù người ta đã xì xào từ trước phiên
tòa, có người đã nghe biết điều gì, có người đã nêu ra điều gì, người ta đồn rằng
Aliosa đã thu thập được chứng cứ cực kỳ quan trọng có lợi cho anh mình và buộc
tội thằng hầu, vậy mà chẳng có chứng cứ gì hết, ngoài niềm tin tinh thần rất tự
nhiên vì bị cáo là anh ruột của anh.
Nhưng Fetiukovich bắt đầu hỏi: bị cáo nói với Aliosa về lòng
căm thù cha và về việc y có thể giết cha vào lúc nào, anh nghe được gì ở bị cáo
chẳng hạn trong lần gặp gỡ cuối cùng trước khi xảy ra tai hoạ.
Aliosa giật mình, tuồng như bây giờ mới nhớ ra điều gì:
- Mãi đến bây giờ tôi mới nhớ ra một điều mà tôi quên bẵng
đi, hồi ấy tôi chẳng rõ gì cả, nhưng bây giờ…
Và Aliosa say mê, có lẽ mãi đến bây giờ anh mới đột nhiên bắt
được luồng ý tưởng, anh nhớ tới lần gặp cuối cùng với Mitia, buổi tối bên cái
cây trên đường đến tu viện, Mitia đấm vào ngực, "phần trên ngực", lặp
lại với anh mấy lần rằng chàng có phương tiện phục hồi danh dự của mình, phương
tiện ấy ở đây, chỗ này, trên ngực chàng… "Hồi ấy tôi chỉ nghĩ rằng đấm vào
ngực là anh ấy nói về trái tim mình, - Aliosa nói tiếp, - rằng anh ấy tin thấy
trong tim sức mạnh để thoát khỏi một sự nhục nhã khủng khiếp mà anh sắp phải chịu
đựng và không dám thú nhận với tôi. Thú thật, lúc ấy tôi nghĩ anh nói về cha
tôi và anh run lên vì hổ thẹn khi nghĩ tới việc hành hung cha, trong khi đó
chính anh trỏ vào ngực mình, thành thử tôi như, lúc ấy tôi thoáng có ý nghĩ rằng
tim không ở phía ấy của ngực, mà thấp hơn, còn anh ấy đấm vào chỗ cao hơn, ở
đây, ngay dưới cổ, và luôn luôn chỉ ở chỗ ấy. Lần ấy tôi cảm thấy ý nghĩ của
tôi dớ dẩn, còn anh Mitia thì khi ấy có lẽ anh trỏ vào cái túi khâu ngàn rưởi ấy!…
"
- Chính vậy! - Mitia bỗng kêu lên tại chỗ. - Đúng thế,
Aliosa, đúng thế hồi ấy tôi đấm vào chỗ ấy!
Fetiukovich vội đâm bổ đến với Mitia, van vỉ chàng bình tâm
và lập tức bám riết Aliosa. Anh say mê nhớ lại, sôi nổi nêu ra giả thuyết
Ekaterina Ivanovna đi thanh toán nửa số nợ, chàng lại không trả và đem dùng vào
việc khác, tức là để đưa Grusenka đi, nếu nàng ưng thuận…
- Chính vậy, chính vậy đấy. - Anh đột nhiên kích động kêu
lên. - Lúc ấy anh kêu lên với tôi rằng ngay bây giờ anh có thể xoá bỏ một nửa,
một nửa nỗi nhục (anh thốt lên mấy lần: một nửa!). Nhưng anh thật bất hạnh vì
do yếu đuối mà anh không đủ sức làm việc đó!
- Và anh biết chắc, anh nhớ rõ là anh ấy đấm vào chính chỗ
này ở ngực chứ? - Fetiukovich háo hức hỏi.
- Rõ ràng và chắc chắn, bởi vì lúc ấy tôi nghĩ: tại sao anh ấy
đấm cao như vậy, khi tim ở thấp hơn, và khi ấy tôi thấy ý nghĩ của tôi là ngớ
ngẩn… tôi nhớ, "tôi thấy tôi ngớ ngẩn"… ý nghĩ ấy thoáng qua. Vì thế
lúc này tôi nhớ lại. Sao tôi lại có thể quên điều đó cho đến tận lúc này! Chính
anh ấy trỏ vào cái túi nhỏ đựng ngàn rưởi mà anh đã không trả lại! Còn khi bị bắt
ở Mokroe, anh ấy gào lên, - điều đó tôi biết, người ta đã kể lại với tôi, - rằng
điều anh coi là nhục nhã nhất đời là có phương tiện để trả một nửa (chính là một
nửa) số nợ cho Ekaterina Ivanovna và đứng trước nàng không phải như lên ăn cắp,
vậy mà không quyết tâm trả và chẳng thà bị nàng coi là lên ăn cắp còn hơn là
trong tay không có tiền! Anh ấy bị dằn vát biết bao, anh ấy bị dàn vặt biết bao
về món nợ ấy! - Aliosa kêu lên, dứt lời.
Tất nhiên ông biện lý xen vào. Ông yêu cầu Aliosa miêu tả lại
lần nữa nhưng việc đó diễn ra như thế nào và nài hỏi: có đúng bị cáo đấm ngực
như trỏ vào cái gì không? Hay chẳng qua chỉ là đấm ngực thôi?
- Không phải là đấm! - Aliosa kêu lên. - Mà là trỏ ngón tay,
trỏ vào chỗ này, rất cao… Nhưng sao tôi lại có thể quên điều ấy cho đến tận lúc
này nhỉ!
Chánh án hỏi Mitia có thể nói gì về lời khai này. Mitia xác
nhận rằng mọi việc đúng như thế, chính chàng trỏ một ngàn rưởi ở trên ngực, dưới
cổ một chút, cố nhiên đấy là nỗi nhục nhã, "nỗi nhục nhã mà tôi không từ bỏ,
hành vi nhục nhã nhất trong cả đời tôi! - Mitia kêu lên. - Tôi có thể trả mà lại
không trả. Tôi muốn chẳng thà là tên ăn cắp dưới mắt nàng, chứ không trả, mà nhục
nhất là tôi biết trước rằng tôi sẽ không trả! Aliosa nói đúng! Cảm ơn Aliosa!
Lời khai của Aliosa chấm dứt ở đây. Điều quan trọng và đặc sắc
chính là tìm được một sự kiện, một chứng cứ duy nhất dù là rất nhỏ, hầu như chỉ
là ám chỉ đến một chứng cứ, dù chỉ chứng tỏ tí chút rằng quả thật có cái túi đựng
ngàn rưởi rúp, rằng bị cáo không nói dối trong cuộc điều tra sơ bộ, khi ở
Mokroe chàng tuyên bố rằng ngàn rưởi ấy "là của tôi". Aliosa vui sướng;
mặt đỏ bừng, anh về chỗ người ta trỏ cho anh. Anh lặp đi lặp lại, tự nhủ hồi
lâu: "Làm sao ra lại quên chuyện ấy được! Làm sao ta có thể quên được nhỉ!
Làm sao mãi đến lúc này đột nhiên ta mới ra hở ra! "
Bắt đầu hỏi Ekaterina Ivanovna. Nàng vừa xuất hiện trong
phòng đã xôn xao lạ thường. Các bà lấy kính mắt và ống nhòm, đàn ông ngọ ngoạy,
một số đứng lên để nhìn cho rõ hơn. Mọi người đều xác nhận rằng Mitia tái nhợt
đi "như tấm khăn tay" khi nàng vừa bước vào. Nàng mặc toàn đồ đen,
nhũn nhặn và gần như rụt rè đến chỗ người ta chỉ cho nàng. Nhìn mặt nàng không
thể đoán là nàng xúc động, nhưng ánh mắt sầm tối của nàng loé lên quyết tâm. Cần
lưu ý rằng sau đó nhiều người nới rằng lúc ấy nàng đẹp lạ thường. Nàng nói khẽ,
nhưng rõ ràng, cả phòng đều nghe tiếng. Nàng nói hết sức bình tĩnh, hay ít ra cố
làm ra vẻ bình tĩnh. Chánh án đặt câu hỏi một cách thận trọng, hết sức kính nể,
như sợ chạm đến "những sợi dây nào đấy" tôn trọng nỗi bất hạnh vô
cùng lớn lao. Nhưng Ekaterina Ivanovna, ngay từ những lời đầu tiên, trả lời một
trong những, câu hỏi đề ra, đã tuyên bố rằng nàng là vợ chưa cưới chính thức của
bị cáo "cho đến khi nào chính anh ấy bỏ tôi…" - nàng khẽ nói thêm.
Khi người ta hỏi nàng về ba ngàn đồng trao cho Mitia để gửi bưu điện cho những
người họ hàng, nàng kiên quyết nói:
"Tôi đưa cho anh ấy không phải để mang thẳng ra bưu điện;
lúc đó tôi có linh cảm thấy anh ấy rất cần tiền… đúng lúc ấy… tôi đưa cho anh
ba ngàn với điều kiện là anh gửi đi, nếu muốn, trong vòng một tháng. Sau này
anh ấy tự hành hạ mình về món nợ ấy là lầm…".
Tôi không truyền đạt lại chính xác tất cả các câu hỏi và các
câu trả lời của nàng, chỉ truyền đạt lại ý nghĩa cơ bản những lời khai của
nàng.
- Tôi tin chắc rằng anh ấy bao giờ cũng kịp gửi ba ngàn ấy đi
ngay sau khi nhận được tiền của cha. - Nàng tiếp tục trả lời các câu hỏi. - Tôi
bao giờ cũng tin ở tính không vụ lợi và sự ngay thắng của anh ấy… sự ngay thẳng
cao cả… trong chuyện tiền nong. Anh ấy tin chắc rằng sẽ nhận được ba ngàn rúp của
cha, anh ấy đã mấy lần nói với tôi về chuyện ấy. Tôi biết rằng giữa hai cha con
có sự tranh chấp, trước kia cũng như cho đến tận bây giờ tôi vẫn cho rằng anh ấy
bị cha làm thiệt hại. Tôi không nhớ có lần nào anh ấy đe doạ cha. Ít ra là anh ấy
không nói gì trước mặt tôi, không đe doạ gì. Nếu như hồi đó anh ấy đến tôi, tôi
sẽ làm cho anh ấy yên tâm ngay về số tiền ba ngàn đồng bất hạnh ấy, nhưng anh ấy
không đến tôi nữa… còn tự bản thân tôi tôi bị đặt vào tình thế… không thể mời
anh ấy đến gặp mình. Vả chăng tôi không có chút quyền gì đòi hỏi anh ấy về món
nợ ấy, - nàng bỗng nói thêm, và giọng nàng lộ vẻ cương quyết đã có lần tôi nợ
anh ấy món tiền còn lớn hơn ba ngàn nhiều, tôi đã nhận nó, mặcdù tôi chưa thể
thấy trước là đến bao giờ tôi có thể trả được…
Trong giọng nói của nàng, người ta cảm thấy có cái gì khiêu
khích. Đúng lúc ấy đến lượt Fetiukovich hỏi.
- Chuyện ấy không phải ở đây, mà hồi hai người mới quen biết
nhau phải không ạ? - Fedorovich đỡ lời một cách thận trọng, cảm thấy ngay có điều
gì thuận lợi. (Xin mở ngoặc nói rằng mặcdù ông được mời đến đây phần nào là do
Ekaterina Ivanovna, nhưng ông không biết tí gì câu chuyện năm ngàn đồng mà
Mitia đưa cho nàng trong thành phố nọ và về "cái rạp mình sát đất".
Nàng không nói với ông điều ấy, giấu kỹ! Thật là kỳ lạ! Có thể giả định chắc chắn
rằng bản thân nàng, cho đến phút chót, vẫn không biết: nàng có kể chuyện ấy tại
toà hay không và chờ đợi một cảm hứng nào đó).
Không, không bao giờ tôi có thể quên những phút ấy! Nàng bắt
đầu kể, nàng kể hết, toàn bộ câu chuyện ấy, mà Aliosa đã được Mitia cho biết, cả
cái "rạp mình sát đất", cả những nguyên nhân cả về cha mình, cả việc
mình đến nhà Mitia, và không một lời nào, không một chút bóng gió xa xôi nhắc đến
việc Mitia qua chị nàng bảo "Ekaterina Ivanovna đến mà lấy tiền". Ấy
là nàng che giấu một cách cao thượng và không hổ thẹn phơi bày ra rằng chính
nàng hồi ấy đã tự mình chạy đến nhà người sĩ quan trẻ tuổi với niềm hăm hở hy vọng
cái gì không rõ… để hỏi vay anh tiền. Thực là chuyện kinh hoàng. Tôi nghe mà lạnh
cả người và run lên, cả phòng lặng đi, nắm bắt đừng lời. Đây là cái gì có một
không hai, thành thử ngay cả ở một người con gái hách dịch, kiêu hãnh ngạo mạn
như nàng, hầu như cũng không thể chờ mong một lời khai thành thật đến như vậy,
một sự hy sinh đến như vậy. Vì lẽ gì, vì ai? Để cứu kẻ phản bội và xúc phạm
mình, để làm một việc gì dù nhỏ góp phần cứu anh ta, gây nên ấn tượng tốt về
anh ta chăng? Thật vậy: hình ảnh người sĩ quan đem cho năm ngàn rúp cuối cùng của
mình - tất cả những gì anh ta còn lại trên đời - và kính cẩn nghiêng mình trước
cô gái thơ ngây, xem ra rất dễ gây thiện cảm và hấp dẫn, nhưng… trái tim tôi quặn
thắt! Tôi cảm thấy sau này có thể có sự vu khống (và sau này đúng thế thật!)
Sau này người ta cười khúc khích một cách độc ác nói với nhau khắp thành phố rằng
câu chuyện có lẽ không đúng lắm, chính ở chỗ chàng sĩ quan để cho cô gái ra về
không đụng đến, "dường như chỉ kính cẩn cúi chào". Người ta ám chỉ rằng
ở đây có cái gì "đã bị bỏ qua". "Mà chodù không bỏ sót, chodù tất
cả là thật, - ngay cả các bà đáng kính nhất cũng nói, - thì cũng vẫn chưa biết
một cô gái hành động như vậy có cao quý lắm không, chodù là để cứu cha đi nữa?".
Chẳng lẽ Ekaterina Ivanovna, với trí thông minh của nàng, với sự thấu suốt bệnh
hoạn của nàng, lại không cảm thấy trước rằng người ta sẽ nói như vậy sao? Nhất
định nàng cảm thấy trước, nhưng nàng quyết định cứ nói hết! Tất nhiên mọi nghi
ngờ bẩn thỉu về sự thật của câu chuyện là sau này, chứ lúc đầu tất cả đều bàng
hoàng. Còn về những người tham gia xét xử thì nghe Ekaterina Ivanovna với sự im
lặng sùng kính, có thể nói là bẽn lẽn. Ông biện lý không dám hỏi cô gái này lấy
một câu nào nữa. Fetiukovich cúi rạp xuống trước nàng. Ồ, ông ta hầu như đã thắng!
Nhiều điều có lợi: một người, trong phút cao quý, đã cho năm ngàn đồng cuối
cùng của mình, rồi cũng lại người ấy, ban đêm đã giết cha để cướp ba ngàn rúp của
cha, hai cái đó phần nào không ăn nhập. Ít ra bây giờ Fetiukovich có thể gạt bỏ
việc cướp của. "Vụ án" được rọi ánh sáng mới. Thiện cảm nghiêng về
phía Mitia. Chàng… người ta nói rằng một vài lần trong thời gian Ekaterina
Ivanovna khai, chàng bật dậy, rồi lại gieo người xuống băng ghế, và hai tay
bưng mặt. Khi nàng nói xong, chàng bỗng nức nở kêu lên, giang hai tay về phía
nàng:
- Katia, tại sao em giết anh!
Và nức nở khóc to khắp phòng. Nhưng chàng kìm mình ngay và lại
kêu lên:
- Bây giờ tôi bị kết án rồi.
Tiếp đó, chàng như ngây ra tại chỗ, răng nghiến chặt và hai
tay bắt chéo trước ngực. Ekaterina Ivanovna vẫn ở lại trong phòng và ngồi xuống
chiếc ghế dựa người ta trỏ cho nàng. Mặt nàng tái nhợt, mặt nhìn xuống. Những
người ngồi cạnh nàng nói rằng nàng run lên hồi lâu như lên cơn sốt rét. Đến lượt
Grusenka ra trước toà.
Tôi đã đến gần cái tai hoạ lớn bùng ra bất ngờ, có lẽ thực sự
có thể giết chết Mitia, lên vì tôi tin chắc, và mọi người cũng thế, các thẩm
phán sau này cũng nói rằng không có việc này, bị cáo ít nhất cũng được giảm tội.
Nhưng chuyện ấy sau này. Trước hết nói vài lời về Grusenka.
Đến phòng xử án, nàng cũng mặc toàn đồ đen, vai choàng tấm
khăn san tuyệt đẹp. Nàng nhịp nhàng đến vành móng ngựa, bằng dáng đi êm nhẹ,
hơi lắc lư, dáng đi của những phụ nữ đẫy đã chăm chú nhìn chánh án, không lần
nào nhìn về bên phải hay bên trái. Theo tôi, lúc ấy nàng nom rất đẹp và hoàn
toàn không tái nhợt như các bà cả quyết sau này. Người ta cũng cả quyết rằng mặt
nàng có vẻ đăm chiêu và độc ác. Tôi chỉ nghĩ rằng nàng cáu kỉnh và bực dọc vì
những luồng mắt vừa khinh bỉ vừa tò mò của công chúng khát khao chuyện tai tiếng.
Đây là một tính cách kiêu hãnh, không chịu nổi sự khinh niệt, đấy là loại người
mà hễ ngờ ai khinh miệt mình là lập tức bừng bừng giận dữ và khát khao trả miếng.
Tất nhiên cũng có cả sự bẽn lẽn, cả nỗi hổ thẹn bên trong về sự bẽn lẽn đó.
Thành thử không lấy gì làm lạ rằng cách nói năng của nàng không đều đặn - lúc
thì giận dữ, lúc thì khinh miệt và cố làm ra thô lỗ, lúc thì bỗng nhiên lộ rõ sự
chỉ trích, tự buộc tội chân tình. Đôi khi nàng nói như bay xuống vực thắm:
"Đằng nào cũng thế thôi, muốn ra sao thì ra, tôi cũng cứ nói…" Về sự
quen biết của nàng với Fedor Pavlovich thì nàng nói: "Chuyện vớ vẩn, tôi
có lỗi gì nếu ông ta cứ quấn lấy tôi?". Rồi lát sau nàng thêm: "Tất cả
là tại tôi: tôi chế giễu cả hai người, cả ông già và anh ấy, tôi đã đẩy họ đến
nước ấy. Tại tôi tất cả".
Khi nói đến Xamxonov: "Chuyện ấy chẳng dính gì đến ai, -
nàng cằn nhằn với vẻ thách thức trâng tráo, - ông ấy là ân nhân của tôi, ông ấy
tiếp nhận tôi lúc tôi là đứa chân đất, khi những người ruột dứt đuổi tôi ra khỏi
nhà". Ông chánh án rất lễ độ, nhắc nàng trả lời thắng vào câu hỏi, đừng đi
vào những chi tiết thừa. Grusenka đỏ mặt, mắt nàng long lên.
Nàng không nhìn thấy phong bì tiền, chỉ nghe "tên bất
lương" nói rằng Fedor Pavlovich có một phong bì để ba ngàn đồng. "Đấy
chỉ là trò ngu ngốc, tôi cười, và không đời nào tôi đến…"
- Chị nói đến "tên bất lương" nào vậy? - Biện lý hỏi.
- Đến thằng hầu Xmerdiakov, chính nó đã giết ông chủ và hôm
qua đã tự treo cổ.
Cố nhiên người ta lập tức hỏi nàng: nàng có căn cứ gì để nhất
quyết buộc tội, nhưng nàng chẳng có căn cứ gì hết.
- Chính Dmitri Fedorovich nói với tôi như vậy, xin hãy tin
anh ấy. Còn cái con kia làm hại anh ấy, thế đấy, mọi việc duyên do là tại nó,
thế đấy. - Toàn thân run lên vì căm thù, Grusenka nói thêm giọng nói của nàng đầy
hằn học.
Người ta hỏi nàng ám chỉ ai.
- Cô tiểu thư Ekaterina Ivanovna nọ. Cô ta mời tôi đến nhà,
thết tôi sôcôla, muốn cám dỗ tôi. Cô ta chẳng mấy biết xấu hổ thực sự, thế đấy…
Đến đây chánh án ngăn nàng lại, yêu cầu nàng nói năng chừng mực.
Nhưng trái tim người phụ nữ cả ghen bừng bừng, nàng sẵn lòng lao đến chodù xuống
vực thắm…
- Khi bắt anh ấy ở làng Mokroe, - biện lý nhớ lại, hỏi, - mọi
người đều nhìn thấy và nghe thấy chị từ một phòng khác chạy sang, gào lên:
"Lỗi tại tôi tất, chúng ta cùng đi tù khổ sai!". Thành thử, lúc ấy chị
tin chắc rằng anh ấy giết cha.
- Tôi không nhớ tình cảm của tôi lúc bấy giờ, - Grusenka đáp,
lúc ấy mọi người đều la lên rằng anh ấy giết cha, còn tôi cảm thấy tôi có lỗi
và là vì tôi mà anh ấy giết. Nhưng khi anh ấy nói rằng anh ấy vô tội dù tôi tin
ngay và cho đến giờ tôi vẫn tin, và mãi mãi sẽ tin: anh ấy không phải là người
biết nói dối.
Đến lượt Fetiukovich hỏi. Vả chăng, tôi nhớ ông hỏi về
Rakitin và hai mươi nhăm rúp, "để thưởng công anh ta đã đưa Alecxei
Fedorovich Karamazov đến nhà chị".
- Anh ta lấy tiền thì có gì là lạ, - Grusenka mỉm cười độc ác
và khinh miệt, - anh ta vẫn đến tôi vòi tiền, mỗi tháng xin của tôi đến ba chục
rúp, phần nhiều là để ăn chơi: không có tiền của tôi thì anh ta lấy gì mà ăn uống.
- Dựa trên cơ sở nào mà chị rộng rãi với Rakitin như vậy? -
Fetiukovich chộp ngay lấy, mặcdù ông chánh án ngọ ngoạy tợn.
- Thì anh ta là anh em họ với tôi mà. Mẹ tôi với mẹ anh ấy là
chị em ruột. Có điều anh ấy van tôi đừng nói với ai ở đây về chuyện ấy, anh ấy
rất xấu hổ về tôi.
Sự kiện mới này hoàn toàn bất ngờ với tất cả mọi người, cho đến
nay trong cả thành phố chẳng ai biết chuyện ấy, kể cả trong tu viện, cả Mitia
cũng không biết. Người ta kể lại rằng Rakitin xấu hổ đỏ mặt tía tai trên ghế của
mình. Ngay từ trước khi vào phòng xử án Grusenka đã biết rằng lời khai của anh
ta chống lại Mitia, vì thế nàng căm tức. Lời phát biểu vừa rồi của ông Rakitin,
tất cả sự cao quý của nó, tất cả sự đã kích chế độ nông nô, sự hỗn độn dân sự của
nước Nga, - tất cả những cái đó lần này bị chôn vùi triệt để trong dư luận
chung. Fetiukovich hài lòng: trời giúp ông. Nói chung người ta hỏi Grusenka
không lâu lắm, vả lại cố nhiên nàng cũng không thể cho biết điều gì đặc biệt mới.
Nàng để lại cho công chúng cảm tưởng rất khó chịu.
Hàng trăm luồng mắt khinh khi chiếu vào nàng khi nàng khai
xong, ngồi xuống một chỗ trong phòng, cách Ekaterina Ivanovna khá xa. Suốt thời
gian người ta hỏi nàng, Mitia im lặng như hoá đá, nhìn xuống đất.
Ivan Fedorovich xuất hiện với tư cách nhân chứng.
Chương 5
Đại họa bất ngờ
Tôi xin lưu ý rằng chàng được gọi trước Aliosa. Nhưng thừa
phát lại trình với chánh án rằng do khó ở bất thần hay cơn bệnh gì khác, nhân
chứng không thể có mặt ngay, nhưng hễ bình phục là bất cứ lúc nào chàng cũng có
thể ra trước toà. Nhưng điều đó không ai nghe thấy và sau này mới biết. Lúc đầu
sự xuất hiện của chàng hầu như không ai nhận thấy: những người làm chứng chính,
đặc biệt hai kẻ tình địch, đã khai xong, sự tò mò tạm thoả mãn. Cỏng chúng đã cảm
thấy mệt mỏi. Sắp phải nghe mấy người làm chứng mà có lẽ không thể cho biết điều
gì đặc biệt vì đã biết hết rồi. Thời gian trôi qua. Ivan Fedorovich tiến tới một
cách chậm chạp lạ thường, chẳng nhìn ai, thậm chí cúi đầu xuống, như cau có
nghĩ ngợi gì. Chàng ăn mặc không chê trách vào đâu được nhưng mặt chàng, ít nhất
là đối với tôi, gây nên một ấn tượng bệnh hoạn: gương mặt ấy nhuốm màu đất, nom
như mặt người sắp chết. Mắc đục lờ, chàng ngước mắt lên và chậm chạp nhìn khắp
phòng. Aliosa bỗng đứng bật dậy khỏi ghế và rên rỉ: "A! Tôi nhớ điều đó.
Nhưng chẳng mấy người để ý".
Chánh án nói rằng chàng là người làm chứng không tuyên thệ,
chàng có thể khai hoặc không khai, nhưng cố nhiên mọi lời khai phải đúng với
lương tâm, v.v… và v.v. Ivan Fedorovich nghe và đưa cặp mắt đùng đục nhìn ông
ta; nhưng bỗng nhiên mặt chàng chầm chậm dãn ra trong một nụ cười, và khi ông
chánh án ngạc nhiên nhìn chàng vừa dứt lời, chàng bỗng phá lên cười.
- Còn gì nữa nào? - Chàng bỗng hỏi to.
Cả phòng im lặng, dường như cảm thấy điều gì. Chánh án lo ngại.
- Ông… có lẽ ông không được khỏe lắm phải không? - ông ta
nói, đưa mắt tìm thừa phát lại, - Đừng lo, thưa ngài, tôi đủ sức khỏe và có thể
kể với ngài đôi điều thú vị! - Ivan Fedorovich bỗng trả lời hoàn toàn bình tĩnh
và kính cẩn.
- Ông muốn cho biết điều gì đặc biệt chăng? - Chánh án nói tiếp,
vẫn ngờ vực. Ivan Fedorovich nhìn xuống, chần chừ mấy giây, rồi ngẩng đầu lên,
trả lời lắp bắp:
- Không… không có. Tôi không có điều gì đặc biệt cần nói.
Người ta bắt đầu hỏi chàng. Chàng trả lời có phần miễn cưỡng,
cố hết sức ngắn gọn, thậm chí có phần ghê tởm mỗi lúc một tăng thêm, mặcdù
chàng trả lời vẫn đâu ra đấy. Có điều chàng thoái thác là không biết. Về sự
thanh toán của cha với Dmitri Fedorovich thì chàng không biết. "Và không bận
tâm đến chuyện ấy" - chàng nói. Chàng có nghe bị cáo doạ giết cha. Về tiền
đề trong phong bì thì chàng có nghe Xmerdiakov nói…
- Vẫn những chuyện ấy, - chàng bỗng ngắt lời với vẻ mệt mỏi,
- và tôi không thể cho toà biết điều gì đặc biệt.
- Tôi thấy ông không được khỏe, và tôi hiểu tình cảm của ông,
- chánh án nói. Ông quay về phía biện lý, rồi luật sư bào chữa, mời họ nếu thấy
cần thiết thì hỏi, nhưng Ivan Fedorovich bỗng yêu cầu bằng giọng kiệt lực:
- Xin để tôi ra, thưa ngài, tôi cảm thấy rất khó ở.
Nói xong, không đợi được phép, chàng quay mình và rời khỏi
phòng. Nhưng đi được bốn bước, chàng dừng lại, như thể nghĩ ngợi, hơi mỉm cười
và trở lại chỗ cũ.
- Thưa ngài, tôi như cô gái nhà quê… ngài biết đấy: "Tôi
muốn thì tôi đi, tôi không muốn thì tôi không đi". Người ta mang áo
xarafan hay váy đi theo cô nàng, mặc cho cô nàng nhảy chồm chồm lên, mặc áo váy
cho cô nàng và đưa cô nàng đến làm lễ cưới còn cô ta nói: "Tôi muốn thì
tôi đi… tôi không muốn thì không đi "… Đấy là câu chuyện dân gian…
- Ông muốn nói gì vậy? - Chánh án nghiêm khắc hỏi.
- Thế này này - Ivan Fedorovich bỗng rút ra một tập tiền. -
Tiền đây… Chính là số tiền trong cái phong bì ấy, - chàng nghiêng đầu trỏ cái
bàn để tang vật, - vì số tiền ấy mà người ta giết cha. Để vào đâu bây giờ? Ông
thừa phát lại, làm ơn chuyển hộ.
Thừa phát lại cầm lấy cả tập tiền và đưa cho chánh án.
- Số tiền này lọt vào tay ông bằng cách nào… nếu đó chính là
số tiền ấy?
- Tôi nhận được ở Xmerdiakov, tên giết người, hôm qua. Tôi đã
đến nó trước khi nó treo cổ. Nó giết cha, chứ không phải anh tôi. Nó giết, còn
tôi dạy nó giết… Ai mà không muốn cha mình chết đi…
- Ông có tỉnh táo không đấy? - Chánh án bất giác buột ra.
- Chính là tôi tỉnh táo, hoàn toàn tỉnh táo, cũng như ông,
như tất cả những… cái mặt mẹt này! - Chàng quay về phía công chúng. - Người ta
giết cha và giả tảng sợ hãi. - Chàng nghiến răng nói với vẻ khinh miệt cuồng nộ.
- Bạn vờ vĩnh với bạn. Lũ dối trá. Tất cả đều muốn cha mình chết đi. Rắn nuốt rắn…
Nếu không có kẻ giết cha thì tất cả bọn họ sẽ nổi cáu và tức tối điên khùng. Những
màn kịch! "bánh mì và những màn kịch!" Nhưng tôi rõ thật là đẹp mặt!
Ông có nước không, cho tôi uống với, vì Chúa Kito! - Chàng bỗng ôm lấy đầu.
Thừa phát lại lập tức tới gần chàng. Aliosa bỗng bật dậy và
hét lên: "Anh ấy ốm, đừng tin anh ấy, anh ấy mê sảng!"
Ekaterina Ivanovna đứng phắt dậy khỏi ghế của mình và đờ ra
vì khiếp sợ, nhìn Ivan Fedorovich. Mitia đứng dậy và mỉm cười mếu máo, ngây dại,
háo hức nhìn và nghe Ivan.
- Yên tâm, tôi không mất trí, tôi chỉ là kẻ giết người! -
Ivan bắt đầu nói. - Không thể đòi hỏi kẻ giết người hùng biện… - Chàng bỗng nói
thêm vì lý do gì không rõ và cười mếu máo.
Ông biện lý lúng túng ra mặt, nghiêng người về phía chánh án.
Các thành viên hội đồng xét xử thì thầm với nhau. Fetiukovich căng tai lắng
nghe. Phòng xử án lịm đi chờ đợi. Chánh án dường như bỗng chợt tỉnh.
- Nhân chứng, lời ông nói khó hiểu và không thể chấp nhận được
ở đây. Hãy bình tâm, nếu có thể được, và kể rõ, nếu quả thật ông có điều gì muốn
nói. Ông lấy gì xác nhận sự thú nhận như thế, nếu ông không mâu thuẫn?
- Đúng là tôi không có người làm chứng. Con chó Xmerdiakov sẽ
không gửi lời khai từ thế giới bên kia về cho các ông… trong một chiếc phong
bì, chỉ một cái thôi cũng đủ. - chàng mỉm cười trầm ngâm.
- Ai làm chứng cho ông?
- Nó có đuổi, thưa ngài, như vậy thì không đúng thể thức! Le
diable n'existe point(1)! Xin đừng để ý, con quỷ hạng bét nhỏ nhoi ấy mà. -
Chàng nói thêm, bỗng thôi cười và dường như tâm tình. Nó chắc là ở đâu đây, dưới
gầm bàn này, với những tang vật nó còn ngồi ở đâu được, nếu không phải là ở
đây! Các ngài thấy đấy, hãy như tôi: tôi bảo nó: tao không muốn im lặng, còn nó
nói về cuộc đại biến địa chất… dớ dẩn! Thôi, hãy tha con quái vật nó hát thánh
ca, vì nó thì dễ thôi. Đằng nào dù quân vô lại say rượu ấy vẫn cứ gào lên:
"Vanka đi Pite!". Còn tôi thì tôi sẵn lòng đổi một triệu tỉ tỉ của
hàng triệu tỉ tỉ lấy hai giây vui sướng. Các người không biết tôi đâu! Ồ, mọi
cái của các người đều ngớ ngẩn xiết, bao! Thôi, hãy lấy tôi thay vào nó! Vì một
lẽ gì đó tôi đến đây… Vì sao, vì sao tất cả những gì hiện hữu điều dớ dẩn đến
thế!…
Chàng lại bắt đầu chậm chạp và dường như trầm tư nhìn khắp
phòng. Nhưng tất cả dường như bỗng xúc động. Aliosa từ chỗ của mình đâm bổ đến
với anh, nhưng thừa phát lại đã nắm lấy tay Ivan Fedorovich.
- Còn cái gì thế này? - Chàng kêu lên, nhìn chằm chằm vào mặt
thừa phát lại, và bỗng nhiên, chộp lấy hai vai anh ta, hung cuồng quật xuống
sàn. Nhưng lính gác đến kịp thời, chộp lấy chàng, và chàng lại gào lên như
điên. Và suốt thời gian người ta đưa chàng đi chàng gào thét những lời rời rạc.
Nhốn nháo lộn xộn. Tôi không nhớ hết theo thứ tự, bản thân
tôi cũng xúc động và không thể theo dõi được. Tôi chỉ biết rằng sau này, khi mọi
việc đã yên lắng và mọi người đã hiểu đầu đuôi ra sao, thừa phát lại bị quở
trách, tuy anh ta giải thích cặn kẽ cho cấp trên biết rằng người làm chứng vẫn
mạnh khỏe, bác sĩ đã khám cho anh ta, một giờ trước anh ta hơi bị ngạt, nhưng
trước khi vào phòng xử anh ta nói năng vẫn mạch lạc, thành thử không thể thấy
trước gì cả; trái lại chính anh ta cứ đòi và nhất định muốn ra trước toà. Nhưng
trước khi mọi người bình tâm phần nào và tĩnh trí lại thì lập tức bùng ra một cảnh
khác: Ekaterina Ivanovna lên cơn thần kinh. Nàng rú rít, nức nở, nhưng không chịu
ra ngoài, nàng vùng vẫy, van nài người ta đừng đưa nàng đi và bỗng gào lên với
ông chánh án:
- Tôi phải khai một điều nữa, tức khắc… tức khắc!… Đây là giấy,
thư… cầm lấy, đọc mau mau đi, mau mau đi! Đây là thư của con quái vật kia, đây
kia, đây kia! - Nàng trỏ Mitia. - Chính là nó giết cha, rồi các ông sẽ thấy, nó
viết cho tôi là nó sẽ giết cha như thế nào! Còn người này ốm, lên cơn sốt mê sảng!
Đã ba ngày nay tôi thấy anh sốt nóng!
Nàng gào lên, không tự chủ được nữa. Thừa phát lại cầm lấy tờ
giấy nàng chìa ra cho chánh án, còn nàng gieo mình xuống ghế và hai tay bưng mặt,
bắt đầu khóc nức lên, quằn quại không thành tiếng, toàn thân rung chuyển và cố
nén tiếng rên nhỏ nhất vì sợ bị đuổi ra khỏi phòng xử. Tờ giấy nàng đưa ra là
lá thư Mitia viết ở quán "Thủ đô" mà Ivan gọi là tài liệu có tầm quan
trọng "toán học". Hỡi ôi! sau đó người ta đã thừa nhận tính chính xác
toán học của nó, không có lá thư ấy thì có lẽ Mitia không bị nguy, hay ít ra
cũng không bị kết tội khủng khiếp như vậy! Tôi nhắc lại, khó lòng theo dõi
nhưng chi tiết. Ngay cả bây giờ tôi cũng hình dung tất cả những cái đó trong trạng
thái hỗn độn như vậy. Hẳn là chánh án lập tức đưa tài liệu mới cho toà, biện
lý, luật sư bào chữa, các bồi thẩm. Tôi chỉ nhớ người ta bắt đầu hỏi nàng.
Chánh án hỏi dịu dàng: nàng đã bình tâm chưa, Ekaterina Ivanovna vội vã kêu
lên:
- Tôi sẵn sàng, tôi sẵn sàng! Tôi hoàn toàn có thể trả lời
ông. - Nàng nói thêm, rõ ràng vẫn sợ chết khiếp nếu vì lý do gì đó người ta
không nghe mình nói hết. Người ta yêu cầu nàng giải thích tỉ mỉ hơn: "đây
là lá thư gì và nàng nhận được trong hoàn cảnh nào?
- Tôi nhận được ngay trước khi tội phạm xảy ra, anh ta viết
cho tôi một ngày trước, từ quán rượu, vậy là hai ngày trước khi phạm tội, hãy
xem nó viết trên bản thanh toán như thế nào! - Nàng ngạt thở kêu lên. - Bấy giờ
anh ta căm thù tôi, bởi vì bản thân anh ta đã có một hành động đê hèn và đi
theo con đấy… ngoài ra còn vì anh ấy nợ tôi ba ngàn đồng ấy… Ôi, anh ta bực tức
vì ba ngàn đồng ấy, do thói ti tiện của chính mình! Ba ngàn đồng ấy là thế này
- tôi cầu van các ông nghe tôi nói: ba tuần lễ trước khi giết cha, buổi sáng
anh ta đến tôi. Tôi biết anh ta cần tiền, tôi biết để làm gì - chính là để dụ dỗ
con kia và đem nó theo. Bấy giờ tôi đã biết rằng anh ấy phản bội tôi và muốn bỏ
tôi, còn tôi, chính tôi đưa anh ta tiền, chính tôi đưa tiền tuồng như nhờ gửi
cho chị tôi ở Moskva, và khi đưa tiền tôi nhìn vào mặt anh ta và nói rằng anh
muốn gửi lúc nào thì gửi, "một tháng nữa cũng được. Làm sao anh ta không
hiểu rằng tôi nói thẳng vào mặt anh ta: "Anh cần tiền để phản bội tôi đi với
con đĩ kia, thế thì tiền đây, tự tôi đưa cho anh, cầm lấy, nếu anh bất lương đến
mức lấy tiền của tôi! "… Tôi muốn vạch mặt anh ta chứ còn gì nữa! Anh ta lấy,
anh ta cần tiền, mang đi kêu xài với con đĩ kia ở đấy, trong có một đêm… Nhưng
anh ta hiểu, anh ta hiểu rằng tôi biết hết, tôi cam đoan với các ông rằng lúc
anh ta hiểu tôi đưa tiền cho anh ta là để thử anh ta: anh ta có bất lương đến mức
cầm tiền của tôi hay không? Tôi nhìn vào mắt anh ta anh ta nhìn vào mắt tôi và
hiểu hết, hiểu hết vậy mà vẫn cứ lấy, vẫn cứ lấy, cầm tiền của tôi đem đi!
- Đúng thế Katia! - Mitia gào lên. - Tôi nhìn vào mắt cô và
hiểu rằng cô làm mất danh dự của tôi, nhưng vẫn cứ lấy tiền của cô! Hãy khinh
thằng khốn nạn này đi, cứ khinh đi, đáng đời tôi!
- Bị cáo! - chánh án quát, - thêm một lời nữa là tôi cho dẫn
anh ra khỏi đây ngay.
- Số tiền ấy dằn vặt anh ta, - Katia cuống quýt nói tiếp, -
anh ta muốn trả cho tôi, anh ấy muốn, quả có thế, nhưng anh ấy cần tiền cho con
kia. Thế là anh ấy giết cha, nhưng tiền thì vẫn không trả cho tôi, mà cùng với
con kia đi về cái làng nơi anh ta đã bị bắt. Ở đây anh ta ăn chơi linh đình bằng
số tiền anh ta đã đoạt được của ông bố bị anh ta giết. Một ngày trước khi giết
cha, anh ta viết cho tôi lá thư này, viết trong lúc say, lúc ấy tôi đã thấy
ngay, anh ta viết trong lúc bực tức và biết, biết chắc rằng tôi sẽ không đưa ai
xem, chodù anh ta có giết cha. Nếu không thì có lẽ anh ta sẽ không viết. Anh ta
biết rằng tôi không muốn trả thù anh ta và làm hại anh ta! Các ông đọc đi, đọc
chăm chú vào, chăm chú hơn nữa, và các ông sẽ thấy trong thư anh ta miêu tả đủ
hết, miêu tả trước tất cả: anh ta sẽ giết cha như thế nào và tiền của ông ta nằm
ở đâu. Hãy xem, xin đừng bỏ sót, ở đấy có một câu: "Tôi sẽ giết, miễn là
Ivan rời khỏi đây". Như vậy là anh ấy đã nghiền ngẫm trước cách giết thế
nào, - Ekaterina Ivanovna hí hửng nhắc với toà một cách nham hiểm. Ồ, rõ ràng
là nàng đọc một cách tinh vi lá thư ác hại ấy và nghiên cứu từng chi tiết nhỏ
trong đó. - Không say rượu thì anh ấy đã không viết cho tôi, nhưng các ông xem,
ở đấy miêu tả trước tất cả, đúng hệt như sau này anh ta đã làm, cả một chương
trình!
Không tự chủ được, nàng kêu lên như thế, và cố nhiên, coi
khinh mọi hậu quả đối với mình, tuy rằng tất nhiên nàng đã thấy rõ có lẽ từ một
tháng trước, vì ngay từ lúc bấy giờ, có lẽ run lên vì giận dữ, nàng mơ ước:
"Có đọc thư đó cho toà không?". Bây giờ thì nàng như từ trên cao lăn
xuống. Tôi nhớ hình như liền ngay đó, lá thư được viên lục sự đọc to lên và khiến
mọi người bàng hoàng. Người ta hỏi Mitia: "Anh có thừa nhận lá thư này
không?"
- Thư của tôi, tôi viết. - Mitia kêu lên. - Không say rượu
thì tôi đã không viết!… Chúng ta căm thù nhau vì nhiều lẽ, Katia, nhưng tôi thề
tôi vừa yêu vừa căm thù cô, còn cô thì không yêu tôi!
Chàng gieo mình xuống chỗ ngồi, vặn hai tay vào nhau, tuyệt vọng.
Biện lý và luật sư bào chữa bắt đầu đề ra những câu hỏi chéo chủ yếu là với ý
nghĩa: "Cái gì xui khiến chị ban nãy giấu giếm tài liệu này và bây giờ đưa
ra với tinh thần và giọng điệu hoàn toàn khác?"
- Vâng, vâng, ban nãy tôi nói dối, nói dối hết, trái với danh
dự và lương tâm, nhưng ban nãy tôi muốn cứu anh ta, bởi vì anh ta hết sức căm
ghét và khinh miệt tôi. - Katia kêu lên như điên. - Ôi, anh ta khinh miệt ghê gớm,
luôn luôn khinh miệt tôi, và các ông biết đấy, các ông biết đấy, anh ta khinh
miệt tôi ngay từ phút tôi cúi rập cuống chân anh ta để xin món tiền ấy. Tôi thấy
điều đó. Lúc bấy giờ tôi cảm thấy ngay điều đó, nhưng một thời gian dài tôi
không tin. Bao nhiêu lần tôi đọc trong mắt anh ta: "Dùsao hồi ấy tự cô đem
thân đến với tôi". Ồ, anh ta không hiểu, anh ta chẳng hiểu gì cả, tại sao
tôi lại đến, anh ta chỉ có khả năng ngờ tới sự hèn kém! Anh ta lấy mình làm thước
đo, anh ta tưởng rằng mọi người đều như anh ta, - Katia nghiến răng cuống nộ,
hoàn toàn như điên như dại. - anh ta muốn lấy tôi chỉ vì tôi được thừa kế, vì
thế, vì thế thôi! Tôi luôn luôn nghi ngờ rằng vì thế! Ôi thật là thú vật! Anh
ta suốt đời tin chắc rằng tôi sẽ suốt đời run sợ vì xấu hổ với anh ta về việc hồi
ấy tôi đã đem thân đến, anh ta có thể mãi mãi khinh miệt tôi về chuyện ấy, vì
thế anh ấy trịch thượng, đấy là lý do vì sao anh ta muốn lấy tôi! Đúng thế tất
cả là như thế! Tôi thứ dùng tình yêu chinh phục anh ta, tình yêu vô giới hạn,
thậm chí tôi muốn bỏ qua cả sự phản bội của anh ta, nhưng anh ta chẳng hiểu gì
hết, chẳng hiểu gì hết. Làm sao anh ta có thể hiểu được điều gì? Đấy là con
quái vật! Mãi đến chiều hôm sau tôi mới nhận được lá thư ấy, người ta mang từ
quán rượu đến cho tôi, còn buổi sáng, buổi sáng hôm ấy tôi muốn tha thứ hết cho
anh ta, tha thứ hết thảy, kể cả sự phản bội!
Cố nhiên chánh án và ông biện lý cố làm cho nàng bình tâm lại.
Tôi tin chắc rằng tất cả bọn họ thậm chí có lẽ xấu hổ vì đã lợi dụng sự điên loạn
của nàng và nghe những lời thú nhận như thế. Tôi nhớ, tôi đã nghe họ nói với
nàng: "Chúng tôi hiểu chị đau khổ như thế nào, hãy tin rằng chúng tôi có
khả năng cảm nhận", vân vân và vân vân, nhưng họ vẫn cứ lấy lời khai của
người phụ nữ điên cuồng trong cơn loạn thần kinh. Cuối cùng, nàng miêu tả sáng
rõ lạ thường, sự sáng rõ rất thường có, tuy chỉ là giây lát, trong những phút
căng thẳng như vậy, về việc Ivan Fedorovich đã gần như phát điên trong hai
tháng ấy, để tìm cách cứu "con quái vật và tên giết người", anh ruột
mình.
- Anh ấy tự giày vò mình, - nàng kêu lên, - anh ấy vẫn cứ muốn
giảm nhẹ tội cho ông anh, anh ấy thú nhận với tôi rằng chính anh ấy cũng không
ưa cha và có lẽ muốn cho cha chết đi. Ôi, lương tâm sâu sắc, sâu sắc. Anh ấy
phơi bày hết với tôi, tất cả, anh ấy đến tôi và nói với tôi từng ngày, như với
người bạn duy nhất của mình. Tôi có vinh dự là người bạn duy nhất của anh ấy! -
Nàng bỗng kêu lên, dường như có sự thách thức, mắt loé sáng. - Anh ấy đến
Xmerdiakov hai lần. Một lần anh ấy đến tôi và nói: "Nếu không phải ông anh
mà là Xmerdiakov giết (vì ở đây mọi người đều tung ra chuyện hoang đường là
Xmerdiakov giết) thì có lẽ tôi có tội bởi vì Xmerdiakov biết rằng tôi không yêu
cha, và có lẽ nó nghĩ rằng tôi muốn cho cha chết đi". Khi ấy tôi lấy lá
thư ra và đưa anh ấy xem và anh ấy hoàn toàn tin chắc rằng Mitia giết cha, điều
đó khiến anh ấy kinh hoàng. Anh ấy không thể nghĩ rằng anh ruột mình giết cha!
Từ một tuần trước tôi đã thấy rằng anh ấy ốm vì thế. Những ngày gần đây, ngồi ở
nhà tôi, anh ấy mê sảng. Tôi thấy trí óc anh ấy không bình thường. Anh ấy đi lại
và mê sảng, tôi thấy anh ấy đi lại như thế trên các đường phố. Ông bác sĩ tôi mời
từ Moskva về hôm kia đã khám bệnh cho anh ấy và nói với tôi rằng anh ấy gần như
mắc bệnh sốt nóng, - tất cả lại tại hắn, tại con quái vật ấy! Hôm qua anh ấy được
biết Xmerdiakov đã chết - điều đó làm anh ấy sửng sốt đến hoá điên… và tất cả
là tại con quái vật ấy, tất cả là để cứu con quái vật ấy!
Ồ tất nhiên người ta chỉ có thể nói như vậy và thú nhận như vậy
một lần trong đời - trước lúc chết, chẳng hạn khi lên đoạn đầu đài. Nhưng đấy
chính là tính cách của Katia, phù hợp với giây phút này. Đấy chính là Katia hăm
hở đâm bổ đến gặp gã thanh niên phóng đãng để cứu cha; đấy vẫn là Katia ban
nãy, kiêu hãnh và trong trắng, trước tất cả công chúng này, đã hy sinh sự hổ thẹn
thanh nhã của mình, kể về "hành động cao quý của Mitia" chỉ để làm giảm
nhẹ chút nào số phận đang chờ đợi chàng. Nhưng bây giờ, cũng hệt như thế, nàng
hy sinh mình, nhưng vì một người khác, và có lẽ mãi đến lúc này, chỉ vào giây
phút này, lần đầu tiên nàng mới cảm thấy và hiểu rõ hoàn toàn nàng quý người
khác ấy đến mức nào! Nàng hy sinh mình vì lo sợ cho chàng, đột nhiên nàng tưởng
tượng rằng chàng khai như thế là tự hại mình, như thế là chàng giết cha, chứ
không phải người anh, nàng hy sinh để cứu chàng, cứu danh tiếng, thanh danh của
chàng! Tuy nhiên, một điều ghê rợn thoáng hiện: nàng có vu cáo Mitia khi nói đến
mối liên hệ cũ với chàng không, đấy là vấn đề. Không, không, nàng không cố tình
vu khống khi gào lên rằng Mitia khinh miệt nàng vì nàng tin sâu sắc, có lẽ ngay
từ cái rạp mình sát đất ấy, rằng Mitia chất phác và tôn thờ nàng ngay từ hồi ấy
đã cười khinh miệt nàng. Và chỉ vì kiêu hãnh, nàng gắn bó với chàng bằng mối
tình cuồng loạn và đau đớn, vì lòng kiêu hãnh bị tổn thương, và mối tình ấy
không giống tình yêu, mà giống sự trả thù. Ôi, có lẽ mối tình đau đớn ấy sẽ trở
thành mối tình thực sự, có thể, Katia không mong muốn gì hơn, nhưng Mitia lăng
nhục nàng đến tận đáy sâu của tâm hồn bằng sự phản bội, và tâm hồn không tha thứ.
Phút trả thù đến bất ngờ và tất cả những gì tích tụ quá lâu và đau đớn trong ngực
người phụ nữ bị xúc phạm buột hết cả ra ngoài luôn một lúc, cũng lại bất ngờ.
Nàng nộp Mitia cho toà, nhưng nộp luôn cả bản thân mình! Tất nhiên, vừa nói
xong thì sự căng thẳng cũng biến mất, và sự xấu hổ đè bẹp nàng. Lại cơn thần
kinh, nàng ngã xuống, nức nở và thét lên. Người ta đưa nàng ra. Lúc người ta
đưa nàng ra, Grusenka từ chỗ của mình gào lên lao đến với Mitia, người ta không
kịp giữ nàng.
- Mitia! - Nàng gào lên. - Con rắn của anh hại anh rồi đó! Nó
đã cho các ngài biết nó là thế nào! - Nàng gào lên với toà, run rẩy vì giận dữ.
Chánh án vẫy tay, người ta giữ lấy nàng và lôi ra khỏi phòng. Nàng không chịu,
vùng vẫy và nhao trở lại với Mitia. Mitia gào lên và cũng lao đến với nàng. Người
ta giữ chàng lại.
Phải, tôi cho rằng các bà có mặt ở đây hài lòng: cảnh tượng
thật là phong phú. Tôi nhớ sau đó ông bác sĩ Moskva đến. Hình như ngay từ trước
đó, chánh án đã cho thừa phát lại đi mời ông chữa bệnh cho Ivan Fedorovich. Bác
sĩ trình với toà rằng người ôm lên cơn sốt nóng cực kỳ nguy hiểm và nên lập tức
đưa anh ta về ngay. Trả lời câu hỏi của biện lý và luật sư bào chữa, ông xác nhận
rằng khách hàng đến ông hôm kia và ông đã báo trước cho anh ta là sắp lên cơn sốt
nóng, nhưng anh ta không muốn chạy chữa. "Trí óc anh ta hoàn toàn không khỏe
mạnh, chính anh ta thú nhận với tôi rằng anh ta thấy những ảo giác trong thực tại,
anh ta gặp ở ngoài đường những người đã chết, tối nào quỷ Sa tăng cũng đến thăm
anh ta" - bác sĩ kết luận. Khai xong, ông bác sĩ nổi tiếng cáo lui. Lá thư
Ekaterina Ivanovna đưa ra được xếp vào đám tang vật. Sau khi trao đổi, toà quyết
định: tiếp tục cuộc điều tra tại toà, ghi vào biên bản cả hai lời khai bất ngờ
(của Ekaterina Ivanovna và Ivan Fedorovich).
Nhưng tôi sẽ không miêu tả cuộc điều tra tiếp tục tại toà. Vả
lại lời khai của các nhân chứng sau chỉ lặp lại và xác nhận lời khai của các
nhân chứng trước, tuy tất cả đều có những nét đặc trưng riêng của mình. Nhưng
tôi nhắc lại tất cả đều quy về một điểm trong bài phát biểu của ông biện lý mà
tôi sẽ thuật lại ngay đây.
Mọi người đều kích động, tất cả đều bị kích động bởi sự việc
tai hại sau cùng và nóng lòng chờ đợi kết cục, bản luận tội và bào chữa, bản
án.
Fetiukovich rõ ràng bàng hoàng về lời khai của Ekaterina
Ivanovna. Biện lý đắc chí. Khi cuộc điều tra tại toà kết thúc phiên toà đã kéo
dài ngót một giờ tạm nghỉ. Cuối cùng chánh án tuyên bố tranh luận tại toà. Hình
như đúng tám giờ tối, ông biện lý Ippolit Kirinlovich của chúng ta bắt đầu buộc
tội.
Chú thích:
(1) Không làm gì có quỷ (tiếng Pháp)
Chương 6
Lời buộc tội của biện lý. Nhận xét về tính cách
Ippolit Kirinlovich bắt đầu lời buộc tội của mình, toàn thân
run lên trong cơn run thần kinh, mồ hồi lạnh bệnh hoạn toá ra trên trán và hai
bên thái dương, toàn thân lần lượt cảm thấy ớn lạnh rồi sốt nóng. Chính ông sau
này kể lại như vậy. Ông coi bài nói của mình là chef d'oeuvre(1),
sau chef d'oeuvreấy là cả cuộc đời là bài ca thiên nga của ông. Sự thật
thì chín tháng sau ông chết vì bệnh lao ác tính, vì vậy sự thực là ông có quyền
so sánh mình với con thiên nga hát bài ca cuối cùng của mình, nếu như ông đã
linh cảm thấy trước là ông sẽ chết. Ông đưa vào bài nói ấy tất cả trái tim, tất
cả trí tuệ ông có và bất ngờ chứng minh rằng ở ông ẩn giấu cả tình cảm công
dân, cả những vấn đề "đáng nguyền rủa", ít ra trong chừng mực mà
Ippolit Kirinlovich đáng thương của chúng ta có thể mang trong mình những vấn đề
đó.
Cái chính khiến ông chinh phục được công chúng là vì ông
thành thật: ông thành thật tin rằng bị cáo có tội; ông buộc tội không phải theo
yêu cầu, theo chức trách, mà khi kêu gọi "trả thù", ông thực sự muốn
"cứu xã hội". Ngay cả các bà của chúng ta, rốt cuộc thù địch với
Ippolit Kirinlovich cũng vẫn thừa nhận ông gây được ấn tượng đặc biệt. Ông mở đầu
bằng giọng rè rè, đứt đoạn nhưng rồi rất mau chóng giọng ông trở nên vững mạnh
và sang sảng vang khắp phòng, cứ thế cho đến cuối. Nhưng vừa nói xong, ông suýt
ngã ngất.
"Thưa các vị bồi thẩm - ông biện lý mở đầu, - vụ án thực
sự có tiếng vang khắp nước Nga. Nhưng kể ra có gì đáng ngạc nhiên, có gì đặc biệt
đáng khiếp sợ như vậy? Đặc biệt là chúng ta, chính chúng ta? Chúng ta là những
người đã rất đỗi quen thuộc với tất cả những điều đó! Điều đáng làm chúng ta
khiếp sợ là những vụ án thê thảm như vậy không còn làm chúng ta khiếp sợ nữa! Đấy
chính là điều đáng sợ, sợ thói quen của chúng ta, chứ không phải là hành động
tàn ác của cá nhân này hay cá nhân khác. Đâu là nguyên nhân sự thờ ơ của chúng
ta, thái độ hầu như dung thứ của chúng ta đối với những vụ việc như thế, đối với
những điềm triệu của thời đại báo trước cho chúng ta một tương lai không lấy gì
hay ho? Phải chăng là do sự trâng tráo của chúng ta, do sự sớm suy nhược trí tuệ
và trí tưởng tượng của một xã hội còn trẻ như xã hội chúng ta nhưng đã già lão
quá sớm? Phải chăng đấy là do nền móng đạo đức của chúng ta bị lung lay tận gốc
hay cuối cùng, có lẽ chúng ta hoàn toàn không có những nền móng đạo đức ấy. Tôi
không giải quyết những vấn đế ấy, nhưng đó là những câu hỏi giày vò, và mỗi
công dân có bổn phận, có trách nhiệm đau khổ về chúng. Tuy nhiên, báo chí mới ra
đời, còn rụt rè của chúng ta không bao giờ biết được ít nhiều đầy đủ về những sự
khủng khiếp của ý chí buông thá, về sự sa đoạ tinh thần mà báo chí liên tục đưa
ra trên các trang giấy của mình, không phải đưa ra với tất cả mọi người, không
phải chỉ với những người đến dự các phiên toà xử công khai trong vương quốc của
chúng ta hiện nay. Vì chúng ta đọc cái gì hầu như hàng ngày? Ồ, về những việc xảy
ra từng phút một, so với chúng thì vụ án này chẳng có ý nghĩa gì, hầu như chỉ
là một vụ bình thường. Nhưng quan trọng hơn hết là vô số những vụ hình sự dân tộc,
của người Nga chúng ta, đều chứng tỏ một cái gì phổ quát, về một tai hoạ chung
đã trở nên quen thuộc với chúng ta và như mọi tệ lậu phổ biến, rất khó đấu
tranh. Thì đấy, một sĩ quan trẻ, thuộc giới thượng lưu, vừa bắt đầu cuộc sống
và con đường công danh của mình, đã hèn hạ, lặng lẽ, không một chút cắn rứt
lương tâm, cắt cổ một viên chức nhỏ, phần nào là ân nhân trước kia của mình, và
người đầy tớ gái của ông ta để đánh cắp văn tự nợ cùng với tiền còn lại của ông
ta: "cần dùng cho những khoái lạc thượng lưu và cho con đường công danh của
ta sau này". Cắt cổ xong, y đặt dưới gối đầu cả hai tử thi, bỏ đi nơi
khác. Rồi là một anh hùng trẻ tuổi đã được ân thưởng huân chương chữ thập về
lòng can trường, đi giết chết mẹ của thủ lĩnh và ân nhân của mình trên đường lớn
như tên đạo tặc, và để xúi giục đồng bọn, y đã cam đoan rằng "bà ấy yêu y
như con đẻ, vì thế nghe theo mọi lời khuyên của y và sẽ không phòng ngừa gì cả".
Dù đó là thứ quái vật, nhưng bây giờ, trong thời đại chúng ta, tôi không dám
nói rằng đó chỉ là trường hợp cả biệt. Người khác tuy không giết, nhưng cũng cảm
nghĩ hệt như thế, trong thâm tâm cũng bất lương hệt như thế. Lúc vắng vẻ, một
mình với lương tâm, có lẽ hắn tự hỏi: "Danh dự là cái quái gì, sợ làm đổ
máu phải chàng là thành kiến?". Có lẽ người ta sẽ quát tôi và nói rằng tôi
là người bệnh hoạn, loạn thần kinh, tôi vu khống một cách quái gở, tôi mê sảng,
nếu là như vậy! Ôi, đừng tin tôi, hãy coi tôi là người ốm, dùsao hãy ghi nhớ lời
tôi: nếu lời tôi nói có một phần mười, hay dù chỉ một phần hai mươi sự thật thì
cũng đã là khủng khiếp! Thưa các vị, các vị hãy xem ở nước ta, thanh niên tự
sát biết bao: ồ, không có lấy mảy may câu hỏi của Hamlet: "ở đây sẽ có cái
gì?". Không, một dấu hiệu của những câu hỏi: đó, tuồng như câu hỏi đó về
tinh thần chúng ta và về tất cả những gì chờ đợi chúng ta sau khi chết đã bị
xoá bỏ từ lâu trong bản tính của họ, đã bị chôn vùi và rắc cát. Cuối cùng các vị
hãy nhìn sự đồi truỵ của chúng ta, những kẻ ham nhục dục của chúng ta. Fedor
Pavlovich, nạn nhân bất hạnh của vụ án này, so với họ hầu như chỉ là đứa hài
nhi. Vậy mà tất cả chúng ta đều biết "y sống giữa chúng ta"… Phải, rồi
đây có lẽ những trí tuệ hạng nhất sẽ nghiên cứu tâm lý tội phạm Nga, cả những
trí tuệ châu Âu nữa, đề tài đáng được quan tâm như thế. Nhưng việc nghiên cứu ấy
là sau này, lúc nhàn rỗi, khi tất cả sự lộn xộn bi thảm vào lúc này của chúng
ta sẽ lùi xa hơn, thành thử có thể xem xét nó thông minh hơn và vô tư hơn mức
những người như tôi có thể làm: Còn bây giờ chúng ta khiếp sợ, hay giả tảng khiếp
sợ, trong khi trái lại vẫn thưởng thức cảnh tượng như những người yêu thích cảm
giác mạnh, kỳ quặc, làm lay động sự phù phiếm lười nhác, trâng tráo của chúng
ta, hay như trẻ nhỏ, dùng tay xua những bóng ma ghê rợn và vùi đầu vào gối, cho
đến khi những hình ảnh ghê sợ qua đi, để rồi sau đó lại lập tức quên nó đi
trong vui chơi. Nhưng rồi đến lúc nào đó chúng ta sẽ phải bắt đầu cuộc đời
chúng ta một cách tỉnh táo và chín chắn, ta sẽ phải nhìn mình như nhìn một xã hội,
ta phải hiểu được điều gì trong đời sống xã hội của ta hay ít ra chỉ bắt đầu sự
tìm hiểu của chúng ta. Một nhà văn vĩ đại đi trước thời đại, ở cuối một tác phẩm
vĩ đại nhất trong những tác phẩm của mình, thể hiện cả nước Nga bằng chiếc tam
mã Nga táo tợn phóng như bay tới cái đích chưa từng biết, kêu lên: "A, xe
tam mã, con chim tam mả, ai đã sáng chế ra ngươi!" - và trong lúc hân hoan
tự hào, ông thêm rằng trước cỗ xe tam mã phóng bạt mạng, mọi dân tộc đều kính nể
tránh ra. Thế đấy, thưa các vị, ừ thì tránh ra, kính cẩn hay không, nhưng theo
cái nhìn tội lỗi của tôi, nghệ sĩ thiên tài đã kết thúc như vậy hay trong lúc bốc
đồng của ý nghĩ đẹp đẽ thơ ngây như trẻ thơ, hay chỉ là sợ kiểm duyệt thời bấy
giờ. Vì nếu thắng vào cỗ tam mã của ông chỉ những nhân vật của ông thôi, -
Xobakievich, Nozdriov, và Tisikov thì dù có đưa ai lên đánh xe cũng không thể
đi đến cái gì hay ho với những con ngựa như thế! Mà đấy là những con ngựa trước
kia, còn xơi mới bằng những con ngựa bây giờ, chúng ta có những con ngựa…"
đến đây, bài nói của Ippolit Kirinlovich bị ngắt quăng bởi những tràng vỗ tay.
Quần chúng thích sự miêu tả cỗ xe tam mã Nga theo quan điểm tự do. Thực ra chỉ
có hai ba kẻ vỗ tay, thành thử chánh án không thấy cần thiết phải doạ công
chúng sẽ "mời ra khỏi phòng" và chỉ nghiêm khắc nhìn về phía những kẻ
vỗ tay.
Nhưng Ippolit Kirinlovich được khích lệ: cho đến giờ chưa bao
giờ người ta vỗ tay hoan hô ông. Một con người bấy nhiêu năm người ta không muốn
nghe, vậy mà bỗng nhiên tiếng nói vang khắp nước Nga!
"Thật vậy, - ông nói tiếp, - gia đình Karamazov là cái
gì mà đột nhiên mang tiếng tăm đáng buồn như thế trong khắp nước Nga? Có lẽ tôi
quá cường điệu, nhưng tôi có cảm giác rằng trong bức tranh của gia đình này tuồng
như thoáng hiện một số yếu tố chung cơ bản, mà chỉ thoáng hiện dưới hình thức
vi mô như "mặt trời trong giọt nước nhỏ", nhưng vẫn là sự phản chiếu
một cái gì, phản chiếu một cái gì. Hãy nhìn ông già bất hạnh, buông tuồng và
phóng đãng nọ, "Ông bố của gia đình" đã chấm dứt đời mình một cách
đáng buồn như thế. Quý tộc dòng dõi, bắt đầu con đường công danh bằng thân phận
kẻ đi ăn chực nghèo hèn, qua cuộc hôn nhân tình cờ và bất ngờ đã có được món hồi
môn làm cái vốn nhỏ, thoạt tiên là tên bịp nhỏ và thằng hề nịnh nọt, có mầm mống
của những khả năng trí tuệ, mặcdù là khá yếu, trước hết là tên cho vay nặng
lãi. Năm này qua năm khác, nghĩa là với việc tích luỹ vốn, lão phấn chấn lên. Sự
hạ mình và nịnh nọt biến mất, chỉ còn lại tên trâng tráo giễu cợt độc ác và ham
nhục dục. Mặt tinh thần hoàn toàn bị loại bỏ, sự khát sống cực kỳ lớn lao.
Chung quy lại, ngoài khoái cảm nhục dục, lão không còn nhìn thấy gì trong đời,
lão dạy dỗ các con mình như vậy. Những trách nhiệm tinh thần đối với tổ quốc
tuyệt đối không có. Ông ta chế nhạo những trách nhiệm đó, ông ta giáo dục các
con nhỏ ở sân sau và lấy làm vui sướng khi người ta đem con ông đi nuôi dạy.
Ông hoàn toàn quên chúng. Mọi quy tắc đạo đức của ông già là: après moi le
diluge(2), là tất cả những gì ngược với khái niệm công dân, sự tách rời đầy đủ
nhất, thậm chí là thù địch với xã hội: "Cả thế giới có cháy rừng rực cũng
mặc, miễn là mình tôi yên ổn". Và lão yên ổn, lão hoàn toàn hài lòng, lão
khao khát sống thêm hai mươi - ba mươi năm nữa. Lão tính gian với con đẻ của
mình để chiếm đoạt tiền của gã, tài sản thừa kế của mẹ gã để lại cho, không muốn
trả cho con, lấy của con trai mình đem cho người tình, không, tôi không muốn
dành phần bào chữa bị cáo cho vị luật sư danh tiếng từ Peterburg về. Bản thân
tôi sẽ nói sự thật, bản thân tôi hiểu sự phẫn nộ mà ông già tích tụ trong trái
tim con trai mình. Nhưng nói về ông già xấu số ấy đủ rồi, đủ lắm rồi, ông ta đã
lãnh đủ.
Tuy nhiên ta hãy nhớ rằng đấy là ông bố, một trong những ông bố hiện đại. Không biết tôi có xúc phạm xã hội không khi nói rằng đấy là một trong rất nhiều ông bố hiện đại. Hỡi ôi, rất nhiều ông bố hiện đại chỉ không nói ra một cách trâng tráo như vậy, bởi vì họ có giáo dục hơn, có học vấn hơn, nhưng thực ra họ có cùng quan niệm triết lý như vậy. Cứ cho trong tôi là người bi quan đi, cứ cho là như vậy đi. Chúng ta đã giao hẹn với nhau rằng các vị đừng tin tôi, đừng tin tôi, tôi sẽ nói, còn các vị đừng tin tôi. Nhưng dùsao hãy để tôi nói ra, xin đừng quên một số điều trong những lời tôi nói. Tuy nhiên, đấy là các con của ông già ấy, ông bố ấy của gia đình: một trong số đó đang ngồi trên ghế bị cáo, sắp đây sẽ nói đến anh ta, về những người khác tôi sẽ chỉ nói qua. Trong số những người con khác người con cả là một trong những thanh niên hiện đại, có học vấn xuất sắc, trí tuệ khá lỗi lạc, nhưng không tin cái gì hết, bác bỏ quá nhiều điều trong đời, hệt như cha mình. Tất cả chúng ta đã nghe anh ta nói, anh ta được tiếp nhận một cách thân thiện trong xã hội chúng ta. Anh ta không che giấu ý kiến của mình, hoàn toàn trái lại, vì vậy tôi dám nói khá thành thật về anh ta, cố nhiên không phải như về một cá nhân, mà như về một thành viên của gia đình Karamazov. Hôm qua ở đây, ven thành phố, một thằng ngốc bệnh tật, dính líu nhiều tới vụ này, hắn nguyên là tên đầy tớ, có lẽ là con hoang của Fedor Pavlovich, Xmerdiakov, đã treo cổ tự sát. Trong cuộc điều tra sơ bộ, hắn khóc lóc như điên, kể với tôi trong một người con của Karamazov, Ivan Fedorovich, đã làm hắn kinh hoảng vì sự thiếu kìm hãm về đạo đức của anh ta. "Theo cậu ấy, mọi việc đều được phép làm, mọi việc trên đời, không có gì bị cấm hết, - cậu ấy luôn luôn dạy tôi như thế đấy". Dựa trên luận điểm ấy mà người ta dạy cho hắn, hắn hoàn toàn hoá điên, tuy cố nhiên cơn bệnh động kinh, tất cả tai hoạ ghê rợn nổ ra trong gia đình cũng ảnh hưởng đến sự rối loạn trí óc của hắn. Nhưng thằng ngốc ấy nảy ra một nhận xét rất lạ, đáng làm vinh dự cả cho một người quan sát thông minh hơn hắn, đấy là lý do vì sao tôi nói đến điều đó: "Nếu có người con trai nào tính cách giống Fedor Pavlovich nhiều nhất thì đó là Ivan Fedor Pavlovich. - Hắn nói với tôi như vậy" Tôi xin chấm dứt sự miêu tả tính cách ấy của tôi ở nhận xét này, tiếp tục nữa là thiếu tế nhị. Ôi, tôi không muốn tiếp tục rút ra nhưng kết luận, và như con quạ, quàng quạc báo cái chết cho một số phận trẻ. Hôm nay ở đây, trong căn phòng này, chúng ta đã thấy sức mạnh trực tiếp của sự thật vẫn còn sống trong trái tim trẻ ấy và tình cảm gia đình vẫn chưa bị dập tắt hẳn bởi sự vô tín ngưỡng và trâng tráo về dạo đức do thừa hưởng nhiều hơn là do đau khổ thực sự về tư tưởng. Tiếp đến người con trai khác, - ôi, anh ta còn trẻ lắm, sùng tin và quy thuận trái với thế giới quan tám tối và bại hoại của ông anh, tìm đường đi đến "nền tảng của nhân dân", có thể nói như vậy, hay như ở người ta nó vẫn được gọi bằng cái từ thông thái ấy trong lý luận của "trí thức tư tưởng". Các vị ạ, anh ta gắn mình với tu viện; anh ta suýt nữa cắt tóc đi tu. Tôi cho rằng ở anh ta, tuồng như vô ý thức, nhưng rất sớm, đã bộc lộ sự thất vọng rụt rè mà rất nhiều người trong xã hội chúng ta đụng phải - và vì sợ sự trâng tráo và đồi truỵ của nó, đồng thời sai lầm gán tất cả tệ lậu đó cho nền giáo dục châu Âu, - họ đâm bổ đến "đất mẹ", như người ta thường nói, gieo mình vào vòng tay của quê hương như nhưng đứa trẻ sợ ma, và khao khát ngủ yên bên bầu vũ cạn khô của bà mẹ suy nhược và thậm chí khao khát ngủ suốt đời miễn sao khỏi phải nhìn thấy những nỗi khủng khiếp làm họ kinh hoàng. Về phần tôi, tôi cầu chúc mọi sự tốt lành cho chàng trai tốt bụng và giàu năng khiếu ấy, tôi cầu chúc cho tâm hồn cao đẹp và khất vọng hướng về nền tảng nhân dân của anh ta sau này không biến thành, như thường xảy ra, về tinh thần dù biến thành chủ nghĩa thần bí u ám, về mặt công dân thì biến thành chủ nghĩa sô vanh ngu độn - hai điều đe doạ dân tộc có lẽ còn lớn lao hơn là sự đồi bại sớm do nền giáo dục phương Tây bị hiểu sai lạc và được hưởng thụ không mất tiền, điều mà người anh của anh ta mắc phải".
Tuy nhiên ta hãy nhớ rằng đấy là ông bố, một trong những ông bố hiện đại. Không biết tôi có xúc phạm xã hội không khi nói rằng đấy là một trong rất nhiều ông bố hiện đại. Hỡi ôi, rất nhiều ông bố hiện đại chỉ không nói ra một cách trâng tráo như vậy, bởi vì họ có giáo dục hơn, có học vấn hơn, nhưng thực ra họ có cùng quan niệm triết lý như vậy. Cứ cho trong tôi là người bi quan đi, cứ cho là như vậy đi. Chúng ta đã giao hẹn với nhau rằng các vị đừng tin tôi, đừng tin tôi, tôi sẽ nói, còn các vị đừng tin tôi. Nhưng dùsao hãy để tôi nói ra, xin đừng quên một số điều trong những lời tôi nói. Tuy nhiên, đấy là các con của ông già ấy, ông bố ấy của gia đình: một trong số đó đang ngồi trên ghế bị cáo, sắp đây sẽ nói đến anh ta, về những người khác tôi sẽ chỉ nói qua. Trong số những người con khác người con cả là một trong những thanh niên hiện đại, có học vấn xuất sắc, trí tuệ khá lỗi lạc, nhưng không tin cái gì hết, bác bỏ quá nhiều điều trong đời, hệt như cha mình. Tất cả chúng ta đã nghe anh ta nói, anh ta được tiếp nhận một cách thân thiện trong xã hội chúng ta. Anh ta không che giấu ý kiến của mình, hoàn toàn trái lại, vì vậy tôi dám nói khá thành thật về anh ta, cố nhiên không phải như về một cá nhân, mà như về một thành viên của gia đình Karamazov. Hôm qua ở đây, ven thành phố, một thằng ngốc bệnh tật, dính líu nhiều tới vụ này, hắn nguyên là tên đầy tớ, có lẽ là con hoang của Fedor Pavlovich, Xmerdiakov, đã treo cổ tự sát. Trong cuộc điều tra sơ bộ, hắn khóc lóc như điên, kể với tôi trong một người con của Karamazov, Ivan Fedorovich, đã làm hắn kinh hoảng vì sự thiếu kìm hãm về đạo đức của anh ta. "Theo cậu ấy, mọi việc đều được phép làm, mọi việc trên đời, không có gì bị cấm hết, - cậu ấy luôn luôn dạy tôi như thế đấy". Dựa trên luận điểm ấy mà người ta dạy cho hắn, hắn hoàn toàn hoá điên, tuy cố nhiên cơn bệnh động kinh, tất cả tai hoạ ghê rợn nổ ra trong gia đình cũng ảnh hưởng đến sự rối loạn trí óc của hắn. Nhưng thằng ngốc ấy nảy ra một nhận xét rất lạ, đáng làm vinh dự cả cho một người quan sát thông minh hơn hắn, đấy là lý do vì sao tôi nói đến điều đó: "Nếu có người con trai nào tính cách giống Fedor Pavlovich nhiều nhất thì đó là Ivan Fedor Pavlovich. - Hắn nói với tôi như vậy" Tôi xin chấm dứt sự miêu tả tính cách ấy của tôi ở nhận xét này, tiếp tục nữa là thiếu tế nhị. Ôi, tôi không muốn tiếp tục rút ra nhưng kết luận, và như con quạ, quàng quạc báo cái chết cho một số phận trẻ. Hôm nay ở đây, trong căn phòng này, chúng ta đã thấy sức mạnh trực tiếp của sự thật vẫn còn sống trong trái tim trẻ ấy và tình cảm gia đình vẫn chưa bị dập tắt hẳn bởi sự vô tín ngưỡng và trâng tráo về dạo đức do thừa hưởng nhiều hơn là do đau khổ thực sự về tư tưởng. Tiếp đến người con trai khác, - ôi, anh ta còn trẻ lắm, sùng tin và quy thuận trái với thế giới quan tám tối và bại hoại của ông anh, tìm đường đi đến "nền tảng của nhân dân", có thể nói như vậy, hay như ở người ta nó vẫn được gọi bằng cái từ thông thái ấy trong lý luận của "trí thức tư tưởng". Các vị ạ, anh ta gắn mình với tu viện; anh ta suýt nữa cắt tóc đi tu. Tôi cho rằng ở anh ta, tuồng như vô ý thức, nhưng rất sớm, đã bộc lộ sự thất vọng rụt rè mà rất nhiều người trong xã hội chúng ta đụng phải - và vì sợ sự trâng tráo và đồi truỵ của nó, đồng thời sai lầm gán tất cả tệ lậu đó cho nền giáo dục châu Âu, - họ đâm bổ đến "đất mẹ", như người ta thường nói, gieo mình vào vòng tay của quê hương như nhưng đứa trẻ sợ ma, và khao khát ngủ yên bên bầu vũ cạn khô của bà mẹ suy nhược và thậm chí khao khát ngủ suốt đời miễn sao khỏi phải nhìn thấy những nỗi khủng khiếp làm họ kinh hoàng. Về phần tôi, tôi cầu chúc mọi sự tốt lành cho chàng trai tốt bụng và giàu năng khiếu ấy, tôi cầu chúc cho tâm hồn cao đẹp và khất vọng hướng về nền tảng nhân dân của anh ta sau này không biến thành, như thường xảy ra, về tinh thần dù biến thành chủ nghĩa thần bí u ám, về mặt công dân thì biến thành chủ nghĩa sô vanh ngu độn - hai điều đe doạ dân tộc có lẽ còn lớn lao hơn là sự đồi bại sớm do nền giáo dục phương Tây bị hiểu sai lạc và được hưởng thụ không mất tiền, điều mà người anh của anh ta mắc phải".
Lại vài ba người vỗ tay về chủ nghĩa sô vanh và chủ nghĩa thần
bí. Cố nhiên, Ippolit Kirinlovich say sưa, vả lại tất cả những điều đó ít liên
quan tới vụ án này, chưa nói rằng nó mập mờ, nhưng con người mắc bệnh lao và tức
tối này rất muốn phát biểu ý kiến của mình ít ra là một lần trong đời. Sau này ở
vùng chúng tôi người ta nói rằng khi nhận xét về Ivan, ông ta bị chi phối bởi một
tình cảm thiếu tế nhị, vì ông đã một hai lần bị Ivan làm cho cứng họng trong
tranh cãi và Ippolit Kirinlovich vẫn nhớ điều đó, bây giờ muốn trả thù. Nhưng
tôi không biết liệu có thể kết luận như thế được không. Dùsao tất cả những điều
đó chỉ là lời vào đầu, tiếp đó bài nói của ông thẳng thừng hơn và vào việc hơn.
- Nhưng còn người con trai thứ ba của gia đình hiện đại này,
Ippolit Kirinlovich nói tiếp, - Hiện đang ngồi trên ghế bị cáo, trước mặt các vị
đây. Trước mắt chúng ta là những chiến công của anh ta, cuộc đời và công việc của
anh ta: đã đến lúc tất cả được phơi bày ra, lộ trần ra. Đối lập với "chủ
nghĩa châu Âu" và "nền tảng nhân dân" của hai em mình, anh ta dường
như đại diện cho nước Nga trực tiếp - Ồ, không phải là tất cả người Nga, không
phải là tất cả, cầu Chúa che chở, đâu có phải là tất cả! Tuy nhiên nó ở đây, nước
Nga của chúng ta, hơi hướng của nó, ta nghe thấy nó, mẹ thân yêu. Ôi, chúng ta
thật là hồn nhiên, chúng ta là sự pha trộn diện và ác một cách kỳ diệu, chúng
ta yêu giáo dục và Sille, đồng thời chúng ta làm loạn trong các tửu quán và kéo
râu những người bạn rượu của chúng ta. Ôi, chúng ta tốt đẹp tuyệt vời, nhưng chỉ
khi mọi việc của ta tốt đẹp tuyệt vời. Trái lại chúng ta bừng bừng - chính là bừng
bừng - những lý tưởng cao quý, với điều kiện là tự dưng đạt được những lý tưởng
ấy, nó từ trên trời rơi xuống bàn của chúng ta, và cái chính là không mất tiền,
không phải trả một xu nào cả. Chính ta rất không ưa trả tiền không mất tiền,
nhưng lại rất thích lấy được, đấy là trong mọi việc. Ôi, hãy cho chúng tôi mọi
phúc lợi có thể có của cuộc sống (chính là mọi phúc lợi có thể có, ít hơn thì
chúng tôi không chịu) và đặc biệt là đừng ngăn cản sở thích chúng tôi về điểm
nào cả, khi ấy chúng tôi sẽ chứng minh rằng chúng tôi có thể tốt đẹp. Chúng tôi
không tham lam, không, nhưng hãy cho chúng tôi tiền, nhiều tiền hơn nữa, thật
nhiều tiền, và các bạn sẽ thấy chúng tôi rộng rãi như thế nào, khinh bỉ vung
vãi thứ kim loại đáng khinh trong một đêm ăn chơi cuồng loạn. Nếu người ta
không cho chúng tôi tiền, chúng tôi sẽ cho thấy chúng tôi biết kiếm tiền như thế
nào, khi chúng tôi rất muốn có tiền. Những chuyện ấy để sau này, ta sẽ dõi theo
thứ tự. Trước hết, ta thấy một cậu bé nghèo khổ "chân đất ở sân sau",
như một công dân đáng tôn kính của chúng ta, nhưng hôi ôi lại là người nước
ngoài, vừa nói. Tôi nhắc lại lần nữa, tôi sẽ không nhường cho ai quyền bào chữa
cho bị cáo! Tôi là người buộc tội, đồng thời là người bào chữa. Phải, chúng ta
là người, chúng ta là những con người, chúng ta có thể cân nhắc xem những ẩn tượng
đầu tiên của tuổi thơ và tổ ấm có thể ảnh hưởng như thế nào đến tính nết con
người. Nhưng chú bé đã đánh một thanh niên, một chàng trẻ tuổi, một sĩ quan; do
những hành động hung cuồng và thách đấu súng, anh ta bị đày đi một trong những
thành phố biên giới xa xôi của người Nga phì nhiêu của chúng ta. Anh ta phục vụ
trong quân ngũ ở đấy, ăn chơi hoang toàng, và cố nhiên con tàu lớn thì đi xa.
Anh ta cần tiền, tiền trên hết và thế là sau khi cãi cọ dằng dai với cha, hai
bên quyết định số tiền sáu ngàn đồng. Số tiền ấy được gửi cho anh ta. Xin chú ý
là anh ta viết giấy tờ hẳn hoi, và có một lá thư trong đó anh ta hầu như từ bỏ
con số còn lại và chấm dứt việc tranh chấp với cha về thừa kế ở sáu ngàn đồng ấy.
Đến đây xảy ra cuộc gặp gỡ của anh ta với một cô gái trẻ, anh anh cao thượng và
có trình độ cao. Ôi, tôi không dám nhắc lại những chi tiết, các vị vừa nghe
xong: đây vừa là danh dự, vừa là sự tự khẳng định, tôi không nói nữa. Hình ảnh
một người trẻ tuổi, nông nổi và phóng đãng: nghiêng mình trước sự cao quý thật
sự, trước ý tưởng cao cả hiện ra trước chúng ta đặc biệt dễ gây diện cảm. Nhưng
liền sau đó, ngay trong phòng xử án này, hoàn toàn bất ngờ hiện ra mặt trái của
tấm huy chương. Tôi sẽ không dám phỏng đoán và sẽ chỉ phân tích - tại sao lại
như vậy. Người con gái ấy giàn giụa nước mắt của niềm phẫn nộ giấu giếm lâu
ngày, tuyên bố với chúng ta rằng anh ta là người đầu tiên khinh miệt nàng vì sự
bồng bột mãnh liệt, có lẽ thiếu thận trọng, nhưng dùsao vẫn là cao cả và hào hiệp
của nàng. Trở thành chồng chưa cưới của cô gái ấy, ở anh ta thoáng hiện nụ cười
giễu cợt mà nàng có thể chịu đựng nổi khi nó là nụ cười của người khác, chứ
không phải của anh ta. Biết rằng anh ta đã phản bội nàng (phản bội vì tin chắc
rằng nàng phải chịu đựng trước mọi việc của anh ta, kể cả sự phản bội), biết rằng
nàng cố ý đưa cho anh ta ba ngàn đồng và để cho anh ta biết rõ, quá rõ nàng rằng
nàng đưa ba ngàn ấy để anh ta phản bội nàng: "Sao, anh có lấy hay không,
anh có đủ trâng tráo đến vậy không?", - nàng lẳng lặng nói với anh bằng
cái nhìn chê trách và dò xét. Anh ta nhìn nàng, hoàn toàn hiểu rõ ý nghĩa của
nàng (chính anh ta thú nhận ở đây trước các vị rằng anh ta hiểu hết) và tất
nhiên anh ta chiếm đoạt số tiền ấy và tiêu phung phí số tiền ấy trong hai ngày
với người yêu mới! Tin cái gì bây giờ? Truyền thuyết thứ nhất là cảm hứng cao
thượng hiến tất cả số tiền mình có để sống và tôn sùng đức hạnh, hay mặt trái của
tấm huy chương đáng ghét đến như thế? Thông thường trong đời, với hai mặt đối lập,
cần tìm sự thật ở giữa; trong trường hợp này thì tuyệt nhiên không phải là như
thế. Đúng hơn hết, trong trường hợp thứ nhất, anh ta thực sự thấp hèn. Tại sao?
Chính bởi vì chúng ta là những bản chất rộng lớn, bản chất nhà Karamazov, có khả
năng chứa đựng mọi đối lập có thể có và ngắm nhìn cùng một lúc cả hai vực thẳm,
vực thẳm trên đầu chúng ta, vực thẳm của những lý tưởng cao cả, và vực thẳm dưới
chân chúng ta, vực thẳm của sự sa ngã hèn hạ nhất và thối tha nhất. Hãy nhớ tới
ý tưởng sâu sắc mà trước đây một người quan sát trẻ tuổi hiểu sâu và kỹ cả gia
đình Karamazov, ông Rakitin đã phát biểu: "Cảm giác thấp hèn của sự sa đoạ
cũng cần cho những bản chất buông thả, mãnh liệt ấy như cảm giác về sự cao thượng"
- đấy là sự thật: họ cần sự pha trộn thiếu tự nhiên ấy một cách thường xuyên và
liên tục. Hai vực thẳm, hai vực thẳm, thưa các vị, trong cùng một lúc, không
thì chúng ta bất hạnh và không thoả mãn, sự tồn tại của chúng ta là không đầy đủ.
Chúng ta rộng lớn, rộng lớn như người mẹ Nga của chúng ta, chúng ta chứa đựng
được tất cả và chung sống với tất cả! Tiện đây, thưa các vị bồi thẩm, bây giờ
chúng ta đề cập đến ba ngàn rúp ấy, và tôi tự cho phép mình đi trước một chút.
Các vị hãy thử tưởng tượng rằng anh ta, tính cách ấy, sau khi nhận số tiền ấy,
và bằng cách như thế nào, qua sự xấu hổ và nhục nhã như thế, qua sự hạ mình
cùng cực, các vị thử tưởng tượng xem ngay trong ngày hôm ấy, anh ta có thể tách
ở đó ra một nữa, khâu vào cái túi và suốt một tháng sau đó quyết tâm mang nó
trên cổ, bất chấp mọi sự cám dỗ và túng thiếu khác thường! Cả trong lúc chè
chén linh đình trong quán rượu ngay cả khi phải cấp tốc ra khỏi thành phố để
xoay của ai đó một món tiền cần thiết để đưa người tình của mình thoát khỏi sự
cám dỗ của kẻ tình địch là cha anh ta, anh ta cũng không dám động đến cái túi ấy.
Và chính để khỏi bỏ mặc người tình cho sự cám dỗ của ông già mà anh ta rất
ghen, đáng ra anh ta phải bóc túi tiền của mình và thường xuyên canh gác cô
nàng, chờ lúc cô nàng sẽ nói với anh ta: "Em là của anh", để cùng với
cô nàng bay đi đâu đó xa hoàn cảnh ác hại hiện nay. Nhưng không, anh ta đã nói,
chính là khi cô nàng sẽ bảo anh ta: "Em là của anh, hãy đưa em đi bất cứ
nơi đâu", thì có tiền đưa nàng đi.
Nhưng lý do thứ nhất ấy, theo chính lời bị cáo, không có ý
nghĩa gì so với lý do thứ hai. Bởi vì, theo lời anh ta, tôi mang trên mình số
tiền ấy thì "tôi là thằng khốn nạn, nhưng không phải là thằng ăn cắp",
bởi vì bao giờ tôi cũng có thể đến với người vợ chưa cưới bị tôi xúc phạm, đưa
ra trước mặt nàng nửa số tiền tôi đã lừa dối chiếm đoạt của nàng, bao giờ tôi
cũng có thể nói với nàng: "Em thấy đây, anh đã tiêu xài hết nửa số tiền của
em và bằng cách đó chứng minh rằng anh là người yếu đuối và vô đạo đức và nếu
em muốn, là một thằng khốn nạn (tôi dùng lời của chính bị cáo), nhưng tuy là thằng
khốn nạn, song không phải là tên ăn cắp, bởi vì nếu là tên ăn cắp thì sẽ không
mang trả lại nửa số tiền còn lại, mà sẽ chiếm đoạt nốt như nửa thứ nhất".
Cách giải thích sự việc kỳ lạ! Đấy là con người điên cuồng, nhưng yếu đuối
không thể từ bỏ sự cám dỗ lấy ba ngàn rúp với sự nhục nhã như vậy đấy chính là
người đột nhiên cảm thấy quyết tâm cứng rắn như vậy và đeo trên cổ một ngàn rưởi
rúp mà không dám đụng đến! Điều đó có phù hợp chút nào với tính cách mà chúng
ta phân tích không? Không, và tôi dám kể với các vị, Dmitri Karamazov thực sự sẽ
hành động ra sao, nếu như anh ta quá thật dám khâu tiền vào cái túi. Khi có sự
cám dỗ đầu tiên, - chẳng hạn lại muốn có cách gì giải khuây cho người tình mới
mà anh ta đã cùng nàng ăn chơi phung phí nửa đầu của số tiền đó, anh ta sẽ xé
cái túi ấy và lấy ra, chẳng hạn trong trường hợp đầu, ít ra là một trăm rúp, bởi
vì cần gì phải trả đúng một nửa, tức là ngàn rưởi, ngàn tư cũng đủ rồi, vì đằng
nào cũng thế thôi: "thằng đểu cáng, chứ không phải tên ăn cắp, vì dù sao vẫn
cứ trả một ngàn bốn trăm rúp, còn tên ăn cắp thì sẽ lấy hết và không trả tí
gì".
Một thời gian sau y sẽ lại mở túi và lại lấy ra trăm thứ hai, rồi trăm thứ ba, trăm thứ tư, cứ thế đến cuối tháng thì đến trăm cuối cùng: "Ừ thì ta sẽ mang trả một trăm, dùsao vẫn cứ là "thằng đểu cáng, chứ không phải thằng ăn cắp. Ta đã nướng hết hai nghìn chín trăm nhưng ta vẫn trả lại một trăm, tên ăn cắp sẽ không trả lại như thế". Rốt cuộc, khi đã tiêu hết trăm áp chót, y sẽ nhìn trăm cuối cùng và tự nhủ: "Quả thực chẳng nên mang đến một trăm làm gì, ta tiêu béng đi cho rồi!". Dmitri Karamazov thực sự mà chúng ta biết sẽ hành động như vậy! Truyền thuyết về cái túi mâu thuẫn với hiện thực, ta không thể hình dung ra được. Có thể giả định tất cả, nhưng không phải điều đó. Nhưng chúng ta sẽ còn trở lại vấn đề này".
Một thời gian sau y sẽ lại mở túi và lại lấy ra trăm thứ hai, rồi trăm thứ ba, trăm thứ tư, cứ thế đến cuối tháng thì đến trăm cuối cùng: "Ừ thì ta sẽ mang trả một trăm, dùsao vẫn cứ là "thằng đểu cáng, chứ không phải thằng ăn cắp. Ta đã nướng hết hai nghìn chín trăm nhưng ta vẫn trả lại một trăm, tên ăn cắp sẽ không trả lại như thế". Rốt cuộc, khi đã tiêu hết trăm áp chót, y sẽ nhìn trăm cuối cùng và tự nhủ: "Quả thực chẳng nên mang đến một trăm làm gì, ta tiêu béng đi cho rồi!". Dmitri Karamazov thực sự mà chúng ta biết sẽ hành động như vậy! Truyền thuyết về cái túi mâu thuẫn với hiện thực, ta không thể hình dung ra được. Có thể giả định tất cả, nhưng không phải điều đó. Nhưng chúng ta sẽ còn trở lại vấn đề này".
Sau khi đã theo thứ tự điểm lại tất cả những gì mà cuộc điều
tra tại toà đã biết về cuộc tranh chấp tài sản và quan hệ gia đình giữa hai cha
con, và một lần nữa rút ra kết luận rằng theo nhưng dữ kiện đã biết, không có
chút khả năng nhỏ nhát nào xác định việc chia thừa kế trong vấn đề này xem ai
tính gian cho ai, Ippolit Kirinlovich nhắc đến giám định y khoa về ba ngàn rúp
đã trở thành ám ảnh tâm trí Mitia.
Chú thích:
(1) Kiệt tác (tiếng Pháp)
(2) Sau ta thì đại hồng thuỷ cũng mặc (tiếng Pháp)
Chương 7
Tổng quan lịch sử
- Giám định của các nhà y học muốn chứng minh với chúng ta rằng
bị cáo đầu óc không bình thường và mắc bệnh cuồng. Tôi khẳng định rằng anh ta đầu
óc bình thường, nhưng như thế càng tệ hại hơn: không bình thường thi có lẽ còn
thông minh hơn nhiều. Còn về việc anh ta mắc bệnh cuồng thì tôi đồng ý, nhưng
chính chỉ ở một điểm - điểm mà giám định đã chỉ ra, tức là quan điểm của bị cáo
về ba ngàn đồng ấy mà coi như cha còn thiếu anh ta. Tuy nhiên, có lẽ có thể tìm
ra quan điểm gần hơn nhiều để giải thích sự cuồng nộ của bị cáo về số tiền ấy
hơn là khuynh hướng mất trí. Về phần tôi, tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của
ông bác sĩ trẻ thấy rằng bị cáo đang và đã có khả năng trí tuệ đầy đủ và bình
thường, chỉ cáu kỉnh và oán hận. Duyên do không phải là ba ngàn đồng, đối tượng
gây oán giận thường xuyên và điên cuồng của bị cáo, không phải là ở số tiền, mà
là một nguyên nhân đặc biệt khiến anh ta tức giận. Ấy là sự ghen tuông!
Đến đây Ippolit Kirinlovich trình bày tràng giang đại hải
toàn bộ sự say mê tai hại của bị cáo đối với Grusenka. Bắt đầu từ lúc bị cáo đến
tìm "cô nàng trẻ tuổi" để "đánh cô ta", nói theo lời của
chính anh ta, Ippolit Kirinlovich giải thích, "nhưng đáng lẽ đánh cô ta,
anh ta lại ở dưới chân cô ta" - mối tình ấy bắt đầu từ đó. Đồng thời ông
già cha bị cáo cũng ngấp nghé cô nàng, - sự trùng hợp kỳ dị và tai hại, vì cả
hai trái tim cùng bốc lửa, cùng một lúc, tuy trước đó cả hai cũng biết và đã gặp
nhân vật này, - cả hai trái tim cùng bừng lên ngọn lửa say mê mãnh liệt, đúng
chất nhà Karamazov. Ở đây chúng ta có sự thừa nhận của chính cô ta: "Tôi
chế nhạo cả hai cha con". Phải, cô nàng muốn chế nhạo cả cha và con: trước
kia cô ta không định thế, vậy mà đột nhiên dự định ấy len vào óc cô ta, rốt cuộc
cả hai cha con đều bị đổ. Ông già sùng bái tiền như Thượng đế, lập tức chuẩn bị
ba ngàn rúp chỉ để nàng đến nhà ông ta, nhưng chẳng bao lâu ông ta cho rằng được
đặt tên mình và toàn bộ tài sản dưới chân nàng là hạnh phúc miễn là nàng đồng ý
làm vợ chính thức của ông ta. Về việc này chúng ta có những bằng chứng chắc chắn.
Còn về bị cáo thì bi kịch của anh ta là rõ ràng, nó ở ngay trước mặt chúng ta.
Nhưng "trò chơi" của cô nàng trẻ tuổi là như thế. Kẻ quyến rũ không
cho chàng trai trẻ tuổi một hy vọng nào cả, bởi vì hy vọng, hy vọng thật sự chỉ
đến với anh ta vào lúc cuối cùng, khi anh ta quỳ gối trước kẻ hành hạ mình, giơ
hai bàn tay vấy máu cha và kẻ tình địch về phía nàng: chàng bị bắt chính trong
tình trạng đó… "Hãy để tôi đi tù khổ sai cùng với anh ấy, tôi đã đẩy anh ấy
tới nước đó, tôi có lỗi hơn ai hết!" - người phụ nữ ấy kêu lên, hối hận
thành thật trong lúc anh ta bị bắt. Một người trẻ tuổi có tài, đã miêu tả vụ việc
này, - vẫn là ông Rakitin mà tôi đã nhắc đến ở trên, - bằng mấy câu cô đọng đặt
trưng, xác định tính cách của nữ nhân vật này: "Thất vọng sớm, sớm bị lừa
dối, và sa ngã, sự phản bội của kẻ quyến rũ đã bỏ rơi cô ta, rồi sự nghèo khổ,
sự nguyền rủa của gia đình tử tế, cuối cùng là sự bao bọc của một ông già giàu
có mà bây giờ cô nàng coi là ân nhân của mình. Trong trái tim non trẻ có lẽ chứa
đựng nhiều điều tốt lành đã ẩn náu nỗi giận dữ từ quá sớm. Đã hình thành một
tính cách chắt chiu, tích cóp vốn". Sau nhận định như vậy thì dễ hiểu là
cô nàng có thể chế nhạo cả cha lẫn con để chơi, một trò chơi độc ác. Thế rồi
trong tháng ấy của tình yêu vô vọng của sự sa ngã về đạo đức, sự phản bội vợ
chưa cưới của mình, chiếm dụng tiền của người khác trao cho vì tin ở danh dự của
mình, - bị cáo, ngoài những cái khác đã gần tới mức cuồng nộ, điên dại vì ghen
tuông không ngớt, mà ghen với ai, với cha mình! Và cái chính là ông già điên rồ
nhử và cám dỗ đối tượng say mê của anh chàng vẫn bằng ba ngàn rúp mà người con
trai cho rằng đấy là tài sản thừa kế để lại, anh ta trách cha chính về số tiền ấy.
Phải, tôi đồng ý, chịu đựng điều đó thật nặng nề! Ở đây có thể xuất hiện cả bệnh
cuồng. Vấn đề không phải là tiền mà là với số tiền ấy, hạnh phúc của anh ta đã
bị đập tan một cách trâng tráo ghê tởm đến như vậy!
Tiếp đó Ippolit Kirinlovich chuyển sang nói về việc ý nghĩ giết
cha dần dần nảy sinh trong đầu bị cáo như thế nào, ông theo dõi ý nghĩ ấy qua từng
sự kiện.
- Lúc đầu người ta chỉ la hét trong các quán rượu, toàn bộ
tháng ấy là tháng la hét. Ôi, người ta thích sống trước mắt mọi người và bằng
cách đó, cho mọi người biết tất cả mọi ý nghĩ dù là quỷ quái và nguy hiểm nhất
của mình, người ta thích chia xẻ với mọi người, không hiểu vì sao, ngay lập tức
đòi hỏi mọi người phải đáp lại ta bằng thiện cảm hoàn toàn, hoà nhập vào mọi lo
âu quan ngại của ta, phụ hoạ với ta và đừng cản trở ý thức của ta. Nếu không
thì người ta nổi cáu và đập tan tành cả quán rượu (Tiếp đó là chuyện về đại uý
Xneghiriov). Những người đã nhìn thấy và nghe bị cáo nói trong tháng ấy rốt cuộc
đều cảm thấy ở đây có thể không phải là những lời la hét và hăm doạ cha mà
thôi, mà với sự hăm doạ điên cuồng như thế thì có thể chuyển sang hành động. (Đến
đây biện lý miêu tả cuộc gặp gỡ gia đình trong tu viện cuộc chuyện trò với
Aliosa và cả cảnh hành hung quái gở trong nhà cha, khi bị cáo xộc vào sau bữa
ăn trưa).
- Tôi không có ý một mực khẳng định, - Ippolit Kirinlovich
nói tiếp - rằng trước đó, bị cáo đã cân nhắc và cố ý giết cha. Tuy nhiên, ý tưởng
đó đã mấy lần đứng trước anh ta, anh ta đã nghiền ngẫm nó - về việc này chúng
ta có những sự kiện, những người làm chứng và sự thú nhận của chính anh ta.
Thưa quý vị bồi thẩm, xin thú thực, - Ippolit Kirinlovich nói thêm, - cho đến
hôm nay tôi vẫn do dự không muốn quy cho bị cáo hoàn toàn cố ý phạm tội. Tôi
tin chắc rằng tâm hồn anh ta đã nhiều lần hình dung trước lúc ác hại ấy, nhưng
chỉ là hình dung nó có thể xảy ra thôi, chứ chưa quyết định được thời hạn thực
hiện, hoàn cảnh. Nhưng tôi chỉ do dự đến hôm nay thôi, đến khi Verkhovxeva đưa
trình toà tài liệu tai hại đó. Thưa quý vị, chính quý vị nghe thấy chị ta kêu
lên: "Đấy là kế hoạch, đấy là chương trình giết người!" - chị ta đã
xác định bức thư "say" bất hạnh của bị cáo như vậy đó. Thực vậy, đằng
sau bức như đó là toàn bộ ý nghĩa của chương trình và dự định hành động. Nó viết
ra hai ngày đêm trước khi phạm tội, và như vậy, bây giờ các vị biết chắc rằng
hai ngày đêm trước khi thực hiện ý đồ ghê gớm của mình, bị cáo đã thề rằng nếu
ngày mai không lấy được tiền thì anh ta sẽ giết cha để lấy tiền dưới chiếc gối,
"trong cái phong bì buộc dải băng đỏ, miễn là Ivan đi nơi khác". Các
vị nghe đấy: "miễn là Ivan đi nơi khác", - như vậy là tất cả đã được
nghiền ngẫm, hoàn cảnh đã được cân nhắc, - thế rồi sao: mọi việc sau đó đã được
thực hiện như đã viết. Tính rắp tâm và có cân nhắc là chắc chắn, tội ác phải diễn
ra với mục đích cướp của, điều đó được tuyên bố trực tiếp, được viết ra và ký
tên. Bị cáo không phủ nhận chữ ký của mình. Người ta sẽ nói: đấy là người say
viết. Nhưng điều đó không giảm nhẹ gì hết và lại càng quan trọng: trong lúc say
viết ra điều mà mình đã nghĩ lúc tỉnh táo. Không nghĩ lúc tỉnh táo thì sẽ không
viết trong lúc say. Có lẽ người ta sẽ nói: anh ta gào ầm lên về dự định của
mình trong các quán rượu để làm gì? Kẻ nào dự mưu làm một việc như thế thì phải
im lặng và giấu riêng trong lòng. Sự thực thì anh ta gào hét khi điều đó chưa
phải là kế hoạch và dự định, mà mới chỉ là ý muốn, nguyện vọng chỉ mới chín muồi.
Sau đó anh ta ít gào thét hơn về chuyện ấy. Buổi tối viết lá thư nọ, sau khi uống
say khướt ở quán "Thủ dô", trái lệ thường anh ta trầm lắng, không chơi
bia, ngồi riêng một chỗ, không nói năng với ai và chỉ đuổi một người tài công ở
đây đi, nhưng việc đó gần như vô ý thức, theo thói quen cãi nhau, mà anh ta
không thể tránh được khi vào quán rượu. Kể ra, cùng với quyết định cuối cùng, bị
cáo phải nảy ra mối e sợ rằng anh ta đã hò hét trước quá nhiều trong thành phố,
điều đó có thể tố giác và buộc tội khi anh ta thực hiện mưu đồ. Nhưng làm thế
nào được, đã nói ra rồi thì không lấy lại, sau hết anh ta trông đợi ở sự tình cờ
may mắn. Người ta hy vọng ở ngôi sao hộ mạng của mình như thế đó, thưa các vị.
Thêm nữa tôi phải thừa nhận rằng anh ta đã cố gắng nhiều để tránh phút tai ác
đó, anh ta đã hết sức nỗ lực để tránh đổ máu. "Sáng mai tôi sẽ đi hỏi tất
cả mọi người để vay ba ngàn đống, - anh ta viết bằng thứ ngôn ngữ riêng của
mình, - người ta không cho vay thì sẽ đổ máu". Lại một lần nữa viết ra
trong lúc say và lại thực hiện trong lúc tỉnh táo đúng như đã viết!
Đến đây Ippolit Kirinlovich bắt đầu miêu tả tỉ mỉ tất cả các
cố gắng của Mitia để xoay tiền nhằm tránh tội ác. Ông miêu tả cuộc phiên lưu của
chàng đến Xamxonov, chuyến đi gặp Liagavyi - tất cả đều theo các tài liệu.
- Kiệt lực, bị chế nhạo, đói, bán đồng hồ để dùng vào chuyến
đi đó (nhưng lại mang trên mình ngàn rưởi rúp, đâu như là vậy, ôi đâu như là vậy!)
khổ sở vì ghen với đối tượng yêu đương mà mình để lại thành phố, ngờ rằng vắng
mình cô nàng sẽ đến với Fedor Pavlovich. Chính anh ta đưa nàng đến Xamxonov,
người bao nàng. (Điều kỳ lạ là anh ta không ghen với Xamxonov, và đấy là nét
tâm lý rất đặc trưng trong vụ này!). Tiếp đó anh ta vội trở về vị trí quan sát
của mình "ở sân sau" và ở đấy anh ta được biết rằng Xmerdiakov đang
lên cơn động kinh, còn gia nhân thì ốm, - điều kiện hoạt động tự do, "mật
hiệu" anh ta nắm trong tay - cám dỗ biết bao! Tuy nhiên anh ta vẫn cưỡng lại,
anh ta đến nhà bà Khokhlakova, một người phụ nữ tạm trú ở đây và được tất cả
chúng ta hết sức kính nể. Đã từ lâu thông cảm với số phận của anh ta, bà góp với
anh ta một lời khuyên cao quý nhất: bỏ thói ăn chơi lu bù ấy đi, vứt bỏ mối
tình lem nhem ấy đi, những cuộc lang thang nơi tửu quán, tiêu phí sức trẻ một
cách vô ích ấy đi và sang Sibir tìm mỏ vàng: "Đấy là lối thoát cho sức trẻ
của cậu, cho tính lãng mạn khao khát chuyện phiêu lưu của cậu". Sau khi
miêu tả kết cục của cuộc nói chuyện và lúc bị cáo bỗng được tin Grusenka hoàn
toàn không ở nhà Xamxonov, miêu tả sự cuồng nộ của kẻ xấu số khổ sở vì ghen
tuông khi nghĩ rằng nàng lừa dối anh ta và lúc này đang ở nhà Fedor
Pavlovich," - Ippolit Kirinlovich kết luận, lưu ý đến ý nghĩa tai hại của
trường hợp này: "Chodù người đầy tớ gái có kịp nói với anh ta rằng nhân
tình của anh ta đang ở Mokroe, với người tình "cũ", "có quyền
không chối cãi được" thì cũng chẳng ích gì. Nhưng nó sợ choáng nên thề sống
thề chết, và nếu bị cáo không giết nó ngay tại chỗ thì chỉ vì còn mải cắm đầu
chạy đi tìm kẻ bội bạc. Nhưng xin lưu ý: mặcdù không còn biết gì nữa, anh ta vẫn
cầm theo chiếc chày đồng. Tại sao là chiếc chày, tại sao không phải là vũ khí
nào khác? Nhưng nếu suốt cả tháng chúng ta quan sát cảnh tượng ấy và chuẩn bị
đón nó thì hễ trước mặt chúng thoáng hiện cái gì có thể dùng làm vũ khí là ta vớ
lấy luôn. Một vật gì đó thuộc loại ấy có thể dùng làm vũ khí, điều đó chúng ta
đã tưởng tượng suốt cả tháng. Vì vậy, chúng ta cầm ngay lấy, không phải nghĩ ngợi
gì nữa! Dù sao cũng không phải là vô ý thức, dù sao cũng không phải là tình cờ chộp
lấy chiếc chày đồng ấy. Thế là anh ta ở trong vườn nhà cha. - địa bàn hoạt động
tự do, không có người chứng kiến, tối đen như mực, bóng tối và ghen tuông. Mối
ngờ vực rằng cô nàng ở đây, với ông già, trong vòng tay ông ta, và có lẽ lúc
này đang chế nhạo anh ta làm anh ta nghẹt thở.
Mà không phải chỉ ngờ vực mà thôi, ngờ vực gì bây giờ nữa, lừa dối rõ ràng, hiển nhiên: cô nàng ở đấy, trong phòng này, nơi có ánh sáng, cô nàng ở trong phòng ông già, nơi có ánh sáng, sau tấm bình phong, - thế là anh chàng khốn khổ lén tới gần cửa sổ, kính cẩn nhìn vào, đành lòng cam chịu và khôn ngoan bỏ đi để tránh tai hoạ, để khỏi xảy ra điều gì nguy hiểm và vô đạo đức, người ta muốn làm cho chúng ta tin điều ấy, chúng ta, những người biến tính cách của bị cáo, hiểu anh ta ở trong trạng thái tinh thần như thế nào, trong trạng thái mà ta đã biết qua các sự kiện, cái chính là nó có những "mật hiệu" để lập tức có thể mở cửa và vào nhà!".
Mà không phải chỉ ngờ vực mà thôi, ngờ vực gì bây giờ nữa, lừa dối rõ ràng, hiển nhiên: cô nàng ở đấy, trong phòng này, nơi có ánh sáng, cô nàng ở trong phòng ông già, nơi có ánh sáng, sau tấm bình phong, - thế là anh chàng khốn khổ lén tới gần cửa sổ, kính cẩn nhìn vào, đành lòng cam chịu và khôn ngoan bỏ đi để tránh tai hoạ, để khỏi xảy ra điều gì nguy hiểm và vô đạo đức, người ta muốn làm cho chúng ta tin điều ấy, chúng ta, những người biến tính cách của bị cáo, hiểu anh ta ở trong trạng thái tinh thần như thế nào, trong trạng thái mà ta đã biết qua các sự kiện, cái chính là nó có những "mật hiệu" để lập tức có thể mở cửa và vào nhà!".
Đến đây, để nói về "mật hiệu", Ippolit Kirinlovich
tạm dừng lời buộc tội của mình và thấy cần thiết phải nói tràng giang đại hái về
Xmerdiakov, để thanh toán hẳn toàn bộ mối ngờ vực về Xmerdiakov giết người và
chấm dứt vĩnh viễn ý nghĩ ấy. Ông ta làm điều đó rất cặn kẽ, và mọi người đều
hiểu rằng mặcdù ông ta đã bày tỏ sự dè bỉu giả thuyết đó, ông vẫn coi nó là hết
sức quan trọng.
8. Luận về Xmerdiakov
"Thứ nhất, lấy đâu ra khả năng nghi ngờ như vậy? -
Ippolit Kirinlovich bắt đầu từ câu hỏi như vậy. - Người đấu tiên gào lên rằng
Xmerdiakov giết chính là bị cáo trong lúc bị bắt, tuy nhiên ngay từ phút gào
lên tiếng đầu tiên cho đến phút này tại toà, không có sự kiện nào xác nhận lời
buộc tội đó, chẳng những là sự kiện, mà ngay cả điều gì phù hợp với lương tri con
người mà ám chỉ đến một sự kiện cũng không có. Tiếp đó chỉ có ba người xác nhận
sự buộc tội đó: Hai em của bị cáo và bà Xvetlova. Nhưng em thứ hai của bị cáo đến
hôm nay mới tuyên bố sự nghi ngờ của mình, trong lúc bệnh tật, trong cơn loạn
trí và sốt nóng không phải bàn cãi gì nữa, và trước kia, trong cả hai tháng đó
như chúng ta đã biết rõ, anh ta cho rằng anh mình có tội và không tìm cách chống
lại quan điểm ấy. Nhưng chúng ta sẽ đặc biệt xét đến điều đó sau này, tiếp đó,
ban nãy em út của bị cáo vừa tuyên bố với chúng ta rằng anh ta chẳng có bằng chứng
nào xác nhận ý nghĩ của mình về tội của Xmerdiakov, và chỉ kết luận như vậy
theo lời của chính bị cáo và "theo vẻ mặt của anh ta", phải, bằng chứng
vô cùng lớn lao đó ban nãy được em bị cáo lặp lại hai lần. Bà Xvetlova còn nói
có lẽ cả quyết hơn: "Điều bị cáo nói với các ông thì các ông nên tin, vì
anh ta không bao giờ nói dối". Đấy là tất cả bằng chứng thực tế về
Xmerdiakov của ba người quá quan tâm đến số phận của bị cáo. Trong khi đó lời
buộc tội Xmerdiakov được lan truyền và duy trì cho đến tận nay - có thể tin được
không, có thể tưởng tượng được không?"
Đến đây, Ippolit Kinnlovich thấy cần thiết phải phác qua tính
cách của Xmerdiakov, "đã chấm dứt cuộc đời trong lúc loạn trí cực độ
". Ông trình bày hắn thành người lẩm cẩm, học thức tạp nhạp, rồi loạn vì
những ý tưởng triết lý không vừa sức trí tuệ hắn, và sợ hãi vì một số học thuyết
hiện đại về bổn phận và trách nhiệm được giảng dạy cho hắn trên thực tế - cuộc
sống bừa bãi cửa ông chủ đã quá cố và có thể là bố hắn, Fedor Pavlovich, - còn
về lý luận thì qua cuộc chuyện trò triết lý kỳ lạ với con trai của ông chủ,
Ivan Fedorovich, sẵn lòng tự cho phép mình giải trí như vậy, có lẽ vì buồn chán
hay vì nhu cầu giễu cợt không tìm thấy cách áp dụng nào tốt hơn. Chính
Xmerdiakov kể với tôi về trạng thái tinh thần của mình trong những ngày cuối
cùng hắn ở trong nhà ông chủ của mình, - Ippolit Kirinlovich giải thích, - cả
những người khác cũng làm chứng như thế: bản thân bị cáo, em bị cáo và ngay cả
gia nhân Grigori, nghĩa là tất cả những người gần cận hắn. Ngoài ra, mắc bệnh động
kinh, Xmerdiakov "nhát như con gà mái". "Hắn sụp xuống chân tôi
và hôn chân tôi, - bị cáo cho chúng ta biết lúc vẫn chưa có ý thức rằng điều đó
phần nào bất lợi cho mình, - đấy là con gà mái mắc bệnh động kinh, - bị cáo nói
về hắn bằng thứ ngôn ngữ đặc trưng của mình. Thế rồi bị cáo chọn hắn (chính bị
cáo khai như vậy) làm người tin cẩn, doạ nạt hắn đến mức rốt cuộc hắn bằng lòng
làm do thám và báo tin cho bị cáo. Làm người do thám tại nhà cho bị cáo, hắn đã
phản chủ, cho bị cáo biết phong bì tiền và mật hiệu để có thể lọt vào chỗ ông
chủ, vả lại làm sao hắn có thể không cho biết được! "Cậu ấy sẽ giết tôi,
tôi thấy rõ như vậy, cậu ấy sẽ giết tôi", - hắn nói trong cuộc điều tra,
run lật bật trước chúng tôi, mặcdù kẻ hành hạ doạ nạt hắn khi ấy đã bị bắt và
không thể đến để trừng phạt hắn. "Lúc nào cậu ấy cũng nghi ngờ tôi, còn
tôi sợ run lên, tôi chỉ cốt làm sao cho cậu ấy khỏi giận dữ, vội cho cậu ấy biết
mọi bí mật để cậu ấy thấy tôi vô tội với cậu ấy và tha mạng cho tôi" Đấy
là lời hắn nói, tôi đã ghi biên bản và vẫn nhớ: "Đôi khi cậu ấy quát tôi,
còn tôi quỳ sụp trước cậu ấy". Là một thanh niên bản chất hết sức ngay thẳng
và được chủ tin cẩn, đánh giá cao lòng ngay thẳng của hắn khi hắn bắt được tiền
của chủ mà đem trả Xmerdiakov xấu số hẳn phải ân hận ghê gớm vì đã phản chủ, mà
hắn yêu chú như một ân nhân. Theo những nhà tâm thần học sâu sắc những người mắc
bệnh động kinh nặng cố nhiên bao giờ cũng có khuynh hướng tự buộc tội mình một
cách bệnh hoạn, liên tục. Họ đau khổ vì mình "có lỗi" gì với ai đó,
đau khổ vì lương tâm cắn rứt, thường thường thậm chí là không có căn cứ gì hết,
họ phóng đại và thậm chí tự nghĩ ra cho mình những lỗi lầm và những tội khác
nhau. Một kẻ như thế trở nên thực sự có lỗi và phạm tội vì sợ hãi và bị doạ nạt.
Ngoài ra hắn linh cảm thấy rõ rệt trạng từ hoàn cảnh đang hình thành trước mắt
hắn có thể xảy ra chuyện chàng lành. Khi người con lớn của Fedor Pavlovich,
Ivan Fedorovich đi Moskva ngay trước hôm xảy ra tai hoạ, Xmerdiakov van vỉ
chàng ở lại, nhưng do tính nhút nhát, hắn không dám nói ra sự e dè của mình dưới
hình thức rõ ràng và dứt khoát. Hắn đành chỉ nói xa xôi bóng gió, nhưng người
ta không hiểu sự xa xôi bóng gió đó. Cần lưu ý rằng hắn coi Ivan Fedorovich là
người che chở cho mình, là đảm bảo rằng chừng nào chàng còn ở nhà thì sẽ không
xảy ra tai hoạ. Hãy nhớ lấy câu trong lá thư "say" của Dmitri
Karamazov: "Tôi sẽ giết ông già, nếu Ivan đi nơi khác", thành thử mọi
người đều coi sự có mặt của Ivan Fedorovich là đảm bảo cho sự yên ổn và trật tự
ở trong nhà. Thế rồi chàng đi, còn Xmerdiakov, chừng một giờ sau khi ông chú trẻ
tuổi ra đi, lập tức rơi vào trạng thái động kinh. Nhưng điều đó hoàn toàn dễ hiểu.
Ở đây cần nhắc lại rằng sợ hãi và có thể nói là tuyệt vọng, trong những ngày cuối
cùng, Xmerdiakov cảm thấy có thể sắp lên cơn động kinh, điều bao giờ cũng xảy
ra với hắn trong lúc căng thẳng và chấn động tinh thần. Ngày giờ động kinh cố
nhiên không thể đoán được, những người có chứng động kinh đều có thể cảm thấy
trước khuynh hướng lên cơn. Y học nói như thế. Ivan Fedorovich vừa rời khỏi sân
thì Xmerdiakov do ấn tượng côi cút và bơ vơ của mình, có thể nói như vậy, hắn
xuống hầm làm công việc nhà, hắn xuống thang và nghĩ: "Lên cơn hay không,
nếu lên cơn ngay thì ra sao?". Chính vì tâm trạng ấy, vì tính đa nghi ấy,
vì bóng câu hỏi ấy mà cổ họng hắn thắt nghẽn lại, điều bao giờ cũng xảy ra trước
khi lên con và hắn lăn nhào xuống đáy hầm, bất tỉnh nhân sự. Và trong sự tình cờ
tự nhiên ấy, người ta lại nhìn thấy một cái gì đáng ngờ, một chỉ dẫn gì đó, một
điều xa xói cho thấy rằng hắn cố tình giả vờ ốm! Nhưng nếu cố tình thì lập tức
xuất hiện vấn đề: vì lẽ gì? Vì sự tính toán thế nào, với mục đích gì. Tôi không
nói về y học, người ta bảo đấy là khoa học giả dối, khoa học sai lầm: các bác
sĩ không thể phân biệt thật với giả tảng, cứ cho là thế đi, cứ cho là thế đi,
nhưng hãy trả lời tôi câu hỏi: vì lẽ gì hắn giả tảng? Phải chăng khi đã toan
tính chuyện giết người thì làm như thế để ở trong nhà người ta để ý trước đến mình
hơn? Thưa quý vị bồi thẩm, các vị thấy không, trong nhà Fedor Pavlovich đêm xảy
ra tội ác có năm người: thứ nhất là bản thân Fedor Pavlovich, nhưng ông ta
không tự giết mình, điều đó rõ; thứ hai là gia nhân của ông ta là Grigori, cũng
là gia nhân, Marfa Ignatievna, nhưng tưởng tượng mụ là kẻ giết chủ thì thật xấu
hổ. Thành thử chỉ còn lại hai người: bị cáo và Xmerdiakov. Nhưng bị cáo nhất
quyết là mình không giết, thì kẻ giết phải là Xmerdiakov, không còn cách nào
khác, bởi vì không thể tìm được người nào khác, không thể lựa chọn được kẻ giết
người nào khác. Thế đấy, đó là nguyên nhân sinh ra lời buộc tội "ranh
mãnh" và to tát cho thằng ngốc bất hạnh hôm qua đã tự sát! Chính chỉ vì một
lý do là không có cách lựa chọn nào khác! Nếu có chodù là một cái bóng, chodù
là sự nghi ngờ một người nào khác, một nhân vật thứ sáu nào thì tôi tin chắc rằng
ngay cả bị cáo cũng sẽ xấu hổ không dám khai cho Xmerdiakov, mà sẽ chỉ ra nhân
vật thứ sáu ấy, vì buộc tội Xmerdiakov giết người là hoàn toàn vô lý
Thưa các vị, ta hãy tạm gác tâm lý, tạm gác y học, tạm gác
ngay cả logic, trở lại các sự kiện, chỉ các sự kiện thôi, và hãy xem các sự kiện
nói với chúng ta như thế nào. Xmerdiakov giết? Nhưng giết bằng cách nào? Một
mình hay đồng loã với bị cáo? Thoạt tên ta hãy xét trường hợp thứ nhất, tức là
Xmerdiakov giết một mình. Cố nhiên nếu giết thế là vì mục đích gì đó, vì cái lợi
gì đó. Nhưng không hề có lý do giết người vĩ những điều vốn có ở bị cáo: căm hờn,
ghen tuông v.v… Xmerdiakov giết người chắc chắn chỉ vì tiền, để chiếm lấy ba
ngàn đồng mà chính mắt hắn đã thấy ông chủ cho vào phong bì. Thế là sau khi dự
tính giết người, hắn thông báo trước cho người khác biết, hơn nữa lại là người
rất quan tâm đến việc này, chính là bị cáo, - mọi hoàn cảnh về tiền và mật hiệu:
phong bì tiền nằm ở đâu, trên phong bì viết cái gì, buộc bằng gì, cái chính là
thông báo về "mật hiệu" để có thể vào chỗ ông chủ. Sao, hắn làm như
thế để trực tiếp tố giác mình à? Hay để tìm cho mình một kẻ cạnh tranh có lẽ
cũng muốn vào chiếm đoạt chiếc phong bì. Phải, người ta nói với tôi, vì sợ hãi
mà do dự mưu tính một việc gan dạ và thú vật như thế, rồi thực hiện, lại đi cho
biết những điều mà cả thế gian chẳng bao giờ có ai đoán ra được. Không, dù con
người hèn nhát như thế nào, khi đã mưu tính một việc như vậy thì sẽ không đời
nào nói với ai, ít ra là về chiếc phong bì và mật hiệu, vì như thế là tố giác
mình trước hết. Phải cố bịa ra một điều gì, nghĩ ra chuyện gì khác để nói dối,
nếu như người ta cứ nhất định đòi hắn cho biết, còn về chuyện ấy thì im lặng!
Trái lại, tôi nhắc lại điều này, nếu như hắn im lặng chỉ về tiền thôi, rồi sau
đó giết và chiếm số tiền ấy, thì cả thế gian sẽ không bao giờ có ai có thể buộc
tội hắn ít ra là giết người cướp của, bởi vì ngoài hắn ra, không ai nhìn thấy số
tiền ấy, chẳng ai biết có số tiền ấy ở trong nhà này. Chodù người ta có buộc tội
hắn thì nhất định sẽ cho rằng hắn giết vì động cơ khác. Nhưng bởi vì chẳng ai
nghĩ đến những động cơ ấy, trái lại mọi người đều thấy hắn được chủ yêu mến, có
vinh dự được chủ tin cẩn, nên cố nhiên hắn là người sau rốt bị nghi ngờ, còn kẻ
bị nghi ngờ trước hết là kẻ có động cơ ấy, kẻ đã la ầm lên rằng y có động cơ ấy
không hề che giấu, phơi bày chúng trước mọi người, tóm lại người ta ngờ kẻ giết
người là con trai kẻ bị giết, Dmitri Fedorovich. Xmerdiakov sẽ giết và lấy của,
còn con trai nạn nhận sẽ bị buộc tội, thế là cố nhiên tên sát nhân Xmerdiakov
có lợi chứ gì? Ờ, bởi vậy Xmerdiakov, sau khi dự tính giết người, liền cho anh
con trai Dmitri biết về tiền, về phong bì và mật hiệu - logiclắm, sáng sủa lắm!
Đến ngày Xmerdiakov dự tính giết người, hắn giả tảng ngã lộn nhào trong cơn động
kinh, để làm gì? Cố nhiên là để thứ nhất, gia nhân Grigori vốn dự định chữa bệnh
và thấy không có ai trong nhà, có thể sẽ hoãn việc chữa bệnh và ngồi canh nhà.
Thứ hai, cố nhiên là để ông chủ thấy không có ai canh gác cho mình và rất sợ
con trai đến, điều này ông không che giấu, sẽ càng ngờ vực và thận trọng hơn.
Cuối cùng, và đây là cái chính, cốt để người ta lập tức chuyển hắn, Xmerdiakov,
nhược lử vì cơn động kinh, ra khỏi bếp, nơi hắn vẫn ngủ đêm một mình và có lối
đi riêng đến đầu nhà, vào buồng Grigori, tới chỗ hai người sau bức vách, cách
giường hắn ba bước như thường lệ từ xưa đến giờ hễ hắn lên cơn động kinh, theo
lời chỉ bảo của ông chủ và Marfa Ignatievna đau tim. Ở đấy, nằm sau tấm vách,
nhiều phần chắc hơn cả, để tỏ ra mình ốm thực, hắn bắt đầu rên la, tức là để
đánh thức họ suốt đêm (sự thể đúng như thế, theo lời khai của Grigori và vợ
lão), - và tất cả chỉ là để dễ bề đột nhiên trở dậy và sau đó giết ông chủ!
Nhưng người ta sẽ nói với tôi rằng có lẽ chính hắn giả tảng để không ai nghi
cho người ốm cả, còn hắn cho bị cáo biết về tiền và về mật hiệu chính là để anh
ta bị cám dỗ và đến giết cha, rồi khi thấy bị cáo đã giết cha, lấy tiền ra đi
và có lẽ làm ồn ào kinh động, đánh thức những người làm chứng dù khi ấy, các vị
ạ, Xmerdiakov sẽ trở dậy và đến, để làm gì? Đến lần nữa để giết ông chủ và một
lần nữa lấy đi số tiền đã bị lấy đi. Thưa các vị, các vị cười à? Chính tôi cũng
xấu hổ đã đưa ra những giả thuyết như vậy còn trong khi đó, các vị thử tưởng tượng
xem, chính bị cáo khẳng định như vậy: sau khi tôi đã ra khỏi nhà, đánh ngã
Grigori và gây náo động thì hắn trở dậy, đến giết người cướp của. Đấy là tôi
chưa nói về việc làm sao Xmerdiakov có thể tính trước tất cả và thấy trước mọi
việc chi ly tỉ mỉ, nghĩa là người con trai tức giận điên cuồng sẽ đến chỉ để
kính cẩn nhìn vào cửa sổ và nắm được mật hiệu, lại tháo lui, để mặc cho
Xmerdiakov vớ bẫm tất cả! Thưa các vị tôi đặt vấn đề một cách nghiêm chỉnh:
Xmerdiakov phạm tội vào lúc nào? Hãy chỉ ra thời điểm ấy, nếu không thì không
thể buộc tội được.
"Có lẽ đấy là cơn động kinh thực sự chăng? Người bệnh chợt
thức giấc, nghe thấy tiếng hét và đi ra". - thế thì sao? Hắn nhìn và tự nhủ:
ta đi giết ông chủ chăng? Nhưng làm thế nào hẳn biết được sự tình ra sao, đã xảy
ra chuyện gì, vì cho đến lúc ấy hắn nằm mê man kia mà? Tuy nhiên, thưa các vị,
trí tưởng tượng phóng túng cùng phải có giới hạn.
"Đúng thế. - những người tinh tế sẽ nói, - nếu cả hai ăn
ý với nhau thì sao, nếu cả hai cùng giết và chia tiền thì sao?"
"Vâng, quả thực đây là một sự nghi ngờ quan trọng - có
ngay những chứng cớ xác nhận hùng hồn: một người giết và đảm đương mọi khó nhọc,
kẻ tòng phạm nằm giả vờ lên cơn động kinh - chính là để gây sự nghi ngờ cho mọi
người, sự lo ngại cho ông chủ, sự lo ngại cho Grigori. Lạ một điều, vì cớ gì
hai kẻ đồng loã có thể nghĩ ra một kế hoạch điên dại như vậy? Nhưng có lẽ đấy
hoàn toàn không phải là sự đồng loã tích cực từ phía Xmerdiakov, mà có thể nói
là sự đồng loã thụ động, đau khổ: có lẽ Xmerdiakov bị doạ dẫm, chỉ bằng lòng
không chống lại việc giết người, và linh cảm thấy sẽ bị buộc tội là để cho người
ta giết chủ, không la hét, không chống cự, hẳn đã đòi Dmitri Karamazov cho phép
trong thời gian đó nằm dài như thể lên cơn động kinh, "còn cậu cứ thẳng
tay mà giết, tôi không biết gì hết". Nhưng nếu vậy, cơn động kinh sẽ gây
náo loạn trong nhà, nên nhìn thấy trước điều đó. Dmitri Karamazov không thể chấp
nhận sự thoả thuận như vậy. Nhưng tôi cứ cho là anh ta đồng ý đi. Dù có vậy đi
nữa thì Dmitri Fedorovich vẫn cứ là kẻ giết người, kẻ giết người trực tiếp và
chủ mưu, còn Xmerdiakov chỉ là người tham gia thụ động, thậm chí chỉ là kẻ dung
túng vì sợ hãi và trái với ý muốn của mình, còn toà án thì nhất định phải phân
biệt điều đó, vậy thì chúng ta thấy gì? Vừa bị bắt xong là bị cáo đổ hết tội
cho một mình Xmerdiakov và chỉ buộc tội một mình hắn thôi. Không, phải buộc tội
hắn làm việc đó, hắn giết người cướp của, việc làm của hắn! Đồng loã quái gì mà
ngay từ đầu kẻ nọ lại đổ cho kẻ kia: điều đó chưa bao giờ có. Xin chú ý rằng đấy
là chuyện liều lĩnh bao nhiêu đối với Karamazov: anh ta là kẻ sát nhân chính, kẻ
kia chỉ là kẻ làm ngơ và nằm sau tấm vách, và anh ta đổ tội cho kẻ nằm bẹp một
chỗ. Khi ấy kẻ kia có thể nổi cáu và chỉ để tự vệ mà sẽ nói hết sự thật: cả hai
cùng tham gia, có điều tôi không giết, chỉ cho phép và làm ngơ vì sợ hãi. Bởi lẽ
Xmerdiakov có thể hiểu rằng toà sẽ phân biệt được ngay mức độ tội lỗi, vì vậy
có thể dự tính rằng nếu hắn bị trừng phạt thì nhẹ hơn rất nhiều so với thủ phạm
chính muốn đổ tội hết cho hắn. Nhưng như vậy thì dù không muốn hắn cũng sẽ thú
nhận. Ta không hề thấy như vậy. Xmerdiakov không đả động gì đến chuyện đồng
loã, mặcdù bị cáo nhất quyết buộc tội hắn và luôn luôn nói rằng hắn là kẻ giết
người duy nhất. Chưa đủ: Xmerdiakov đã khai trong khi điều tra rằng chính hắn
nói với bị cáo về phong bì tiền và mật hiệu, mà không có hắn thì bị cáo chẳng
biết được gì. Nếu hắn thực sự đồng loã và có tội thì hắn có dễ dàng khai chuyện
ấy như thế với người điều tra không, tức là tất cả những điều hắn đã cho bị cáo
biết? Trái lại hắn sẽ một mực chối cãi và nhất định sẽ xuyên tạc và làm giảm nhẹ
tội. Chỉ có kẻ vô tội, không sợ bị ghép là đồng loã mới có thể làm như vậy. Thế
rồi, trong cơn u uất do động kinh và do toàn bộ tai hoạ đã bùng ra, hôm qua hắn
đã treo cổ, để lại bức thư viết bằng lời lẽ đặc sắc: "Tôi tự ý chẩm dứt cuộc
đời, xin đừng kết tội ai cả". Hắn có khó gì mà không viết thêm được; kẻ giết
người là tôi, chứ không phải Karamazov. Nhưng hắn không viết thêm: với việc này
thì đủ gan, với việc khác thì không ư? Ban nãy, người ta vừa mang tiền đến toà,
ba ngàn rúp, chính số tiền nằm trong chiếc phong bì hiện ở trên bàn để vật tang
chứng kia, người ta bảo hôm qua tôi đã nhận được của Xmerdiakov. Nhưng thưa các
vị bồi thẩm, các vị vẫn nhớ câu chuyện đáng buồn ban nãy đấy. Tôi không nhắc lại
chi tiết, tôi sẽ chỉ đưa ra vài ba điều trong số những điều nhỏ nhặt nhất, -
chính bởi vì nó nhỏ nhặt nên không phải ai cũng nghĩ tới và sẽ quên đi. Thứ nhất
là do lương tâm cắn rứt hôm qua Xmerdiakov hoàn lại tiền và tự treo cổ. (Bởi vì
nếu lương tâm không cắn rứt thì hắn đã không hoàn lại tiền). Và mãi đến tối hôm
qua lần đầu tiên hắn mới thú tội với Ivan Karamazov, chính Ivan Karamazov nói
như vậy, nếu không thì tại sao hắn vẫn im lặng cho tới giờ. Vậy là hắn thú tội,
vậy thì tại sao, tôi nhắc lại, trong lá thư trước khi chết, hắn không nói hết sự
thật với chúng ta khi biết rằng ngày mai sẽ là phiên toà khủng khiếp đối với một
kẻ vô tội? Chỉ riêng tiền thôi chưa phải là bằng chứng. Chẳng hạn tôi và hai
người nữa trong phòng này, hoàn toàn tình cờ được biết rằng mới cách đây một tuần,
Ivan gửi lên tỉnh lị đổi hai trái khoán 5% mỗi cái năm ngàn rúp, tổng cộng là
mười ngàn rúp. Tôi chỉ muốn nói rằng người ta có thể có tiền vào một ngày nhất
định nào đó và mang đến ba ngàn rúp không nhất thiết chứng minh được rằng đấy
là số tiền ấy, chính là số tiền trong ngăn kéo hay phong bì. Rốt cuộc Ivan
Karamazov hôm qua nhận được tin quan trọng về kẻ giết người thực sự, liền ngồi
yên. Nhưng tại sao anh ta không đi trình báo ngay. Tại sao anh ta hoãn tất cả đến
sáng hôm sau? Tôi cho rằng tôi có quyền đoán tại sao; đã một tuần sức khỏe suy
sụp, chính anh ta thú nhận với bác sĩ và những người thân cận rằng anh ta có những
ảo giác, anh ta nhìn thấy những người đã chết; trước cơn bệnh sốt nóng mà chính
hôm nay bột phát, bất ngờ được tin Xmerdiakov đã chết anh ta lập luận như sau:
"Hắn đã chết, có thể đổ cho hắn để cứu anh, tiền thì ta có: Hãy lấy một tiệp
tiền và nói rằng Xmerdiakov trao cho ta trước khi chết". Các vị sẽ nói rằng
như thế là bất lương. Dù là vu cho người chết cũng cứ là bất lương, chodù là để
cứu anh đi nữa! Đúng, nhưng nếu anh ta nói dối một cách vô ý thức thì sao, nếu
anh ta tưởng tượng rằng sự thể đúng như thế, anh ta hoàn toàn rối trí khi được
tin về cái chết bất ngờ của thằng hầu thì sao? Các vị đã thấy cảnh ban nãy, các
vị đã thấy con người ấy ở trong trạng thái như thế nào. Anh ta đứng nói, nhưng
trí óc anh ta để tận đâu đâu, tiếp sau lời khai của người sốt nóng là một tài
liệu lá thư của bị cáo gửi cô Verkhovxeva, viết hai ngày trước khi phạm tội, có
chương trình hành động chi tiết vạch sẵn. Vậy việc gì chúng ta phải di tản
chương trình ấy, và kẻ thực hiện không phải ai khác ngoài kẻ vạch chương trình.
Đúng, thưa các vị bòi thẩm, "việc diễn ra đúng như đã viết"! Và chúng
ta không kính cẩn và sợ hãi chạy khỏi cửa sổ nhà cha, khi đã tin chắc rằng người
yêu của chúng ta hiện ở trong đó. Không, điều đó thật vô lý và khó tin là thật.
Anh ta vào và kết thúc sự việc. Có lẽ anh ta giết trong lúc tức giận, bừng bừng
lửa hận, vừa nhìn kẻ tình địch đáng căm của mình, nhưng giết xong, việc này có
thể làm trong nháy mắt, vung cái chày đồng cầm trong tay lên là xong, và tiếp
đó, sau khi lục soát tỉ mỉ, biết chắc rằng cô nàng không có ở đây, anh ta không
quên thọc tay vào dưới đệm và lấy ra phong bì tiền, chiếc phong bì bị xé hiện nằm
trên bàn để tang chứng. Tôi nói thế để lưu ý các vị đến một tình kết mà theo
tôi có ý nghĩa rất đặc biệt. Dù là tên giết người có kinh nghiệm hay là tên giết
người để lấy của thì liệu có để lại chiếc phong bì trên sàn nhà như người ta đã
tìm thấy nó bên xác chết không? Giá dụ là Xmerdiakov giết người để cướp của thì
hắn sẽ mang cả đi, không nhọc công mớ phong bì trên xác nạn nhân của mình, bởi
vì hắn biết chắc trong phong bì có tiền, - người ta đã cho tiền vào đó và niêm
phong trước mắt hắn kia mà, hắn sẽ mang tuốt cả phong bì đi, như vậy thì chẳng
ai biết có vụ lấy trộm tiền hay không.
Thưa quý vị bồi thẩm, tôi xin hỏi, Xmerdiakov liệu có hành động
như thế không, có để lại phong bì trên sàn không? Không, kẻ sát nhân điên cuồng
chính phải hành động như thế, y không lý luận, kẻ sát nhân không phải là tên ăn
cắp và cho đến lúc ấy chưa hề ăn cắp cái gì bao giờ, và bây giờ lấy tiền dưới đệm
ra không phải như tên ăn cắp, mà là lấy lại đồ vật của mình đã bị kẻ khác đánh
cắp, đấy chính là ý nghĩ của Dmitri Karamazov về ba ngàn đồng đã nung nấu làm
anh ta phát cuồng lên. Thế rồi sau khi chiếm được gói tiền mà trước đó anh ta
chưa hề nhìn thấy, anh ta xé phong bì để biết chắc trong đó có tiền không, rồi
bỏ tiền vào túi chạy đi, quên bẵng rằng anh ta để lại trên sàn một bằng chứng lớn
lao kết tội mình, chiếc phong bì bị xé rách. Tất cả là vì Karamazov, chứ không
phải là Xmerdiakov, đã không nghĩ ra, không suy tính, mà nghĩ ra thế nào được!
Anh ta chạy, nghe thấy tiếng gào cửa lão bộc đuổi kịp anh ta lão túm lấy anh
ta, ngăn lại và ngã gục vì bị giáng chiếc chày đồng. Bị cáo nhảy xuống xem
Grigori vì thương hại. Các vị hãy tưởng tượng, anh ta cam kết với chúng ta rằng
anh ta nhảy xuống với lão bộc vì tình thương, vì thông cảm xem có thể cứu giúp
lão không. Giây phút ấy có phải là lúc nói chuyện thông cảm được không? Không,
anh ta nhảy xuống chính là để biết chắc: người duy nhất chứng kiến tội ác của
anh ta còn sống hay chết. Mọi tình cảm khác, mọi động cơ khác đều thiếu tự
nhiên! Xin chú ý, anh ta mất công sức với Grigori, dùng khăn tay lau đầu cho
lão, và biết chắc lão đã chết anh ta bối rối, máu đầy người, lại chạy đến nhà
người tình, làm sao anh ta không nghĩ rằng toàn thân anh ta vấy máu và sẽ bị lộ
ngay? Nhưng bị cáo cam đoan với chúng ta rằng anh ta không để ý rằng người anh
ta vấy đầy máu; điều đó có thể chấp nhận được, rất có thể như vậy, với những kẻ
phạm tội bao giờ cũng có thể có những phút như vậy. Một mặt thì tính toán quỷ
quyệt, mặc khác lại thiếu suy xét. Lúc ấy anh ta chỉ nghĩ đến chuyện nàng ở
đâu. Anh ta cần mau mau biết nàng ở đâu, thế là anh ta chạy vào nhà
nàng và biết một tin bất ngờ và hết sức trọng đại đối với mình: nàng đi Mokroe
với người "cũ" có quyền không chối cãi được!"
Chương 8
Luận về Xmerdiakov
"Thứ nhất, lấy đâu ra khả năng nghi ngờ như vậy? -
Ippolit Kirinlovich bắt đầu từ câu hỏi như vậy. - Người đấu tiên gào lên rằng
Xmerdiakov giết chính là bị cáo trong lúc bị bắt, tuy nhiên ngay từ phút gào
lên tiếng đầu tiên cho đến phút này tại toà, không có sự kiện nào xác nhận lời
buộc tội đó, chẳng những là sự kiện, mà ngay cả điều gì phù hợp với lương tri
con người mà ám chỉ đến một sự kiện cũng không có. Tiếp đó chỉ có ba người xác
nhận sự buộc tội đó: Hai em của bị cáo và bà Xvetlova. Nhưng em thứ hai của bị
cáo đến hôm nay mới tuyên bố sự nghi ngờ của mình, trong lúc bệnh tật, trong
cơn loạn trí và sốt nóng không phải bàn cãi gì nữa, và trước kia, trong cả hai
tháng đó như chúng ta đã biết rõ, anh ta cho rằng anh mình có tội và không tìm
cách chống lại quan điểm ấy. Nhưng chúng ta sẽ đặc biệt xét đến điều đó sau
này, tiếp đó, ban nãy em út của bị cáo vừa tuyên bố với chúng ta rằng anh ta chẳng
có bằng chứng nào xác nhận ý nghĩ của mình về tội của Xmerdiakov, và chỉ kết luận
như vậy theo lời của chính bị cáo và "theo vẻ mặt của anh ta", phải,
bằng chứng vô cùng lớn lao đó ban nãy được em bị cáo lặp lại hai lần. Bà
Xvetlova còn nói có lẽ cả quyết hơn: "Điều bị cáo nói với các ông thì các
ông nên tin, vì anh ta không bao giờ nói dối". Đấy là tất cả bằng chứng thực
tế về Xmerdiakov của ba người quá quan tâm đến số phận của bị cáo. Trong khi đó
lời buộc tội Xmerdiakov được lan truyền và duy trì cho đến tận nay - có thể tin
được không, có thể tưởng tượng được không?"
Đến đây, Ippolit Kinnlovich thấy cần thiết phải phác qua tính
cách của Xmerdiakov, "đã chấm dứt cuộc đời trong lúc loạn trí cực độ
". Ông trình bày hắn thành người lẩm cẩm, học thức tạp nhạp, rồi loạn vì
những ý tưởng triết lý không vừa sức trí tuệ hắn, và sợ hãi vì một số học thuyết
hiện đại về bổn phận và trách nhiệm được giảng dạy cho hắn trên thực tế - cuộc
sống bừa bãi cửa ông chủ đã quá cố và có thể là bố hắn, Fedor Pavlovich, - còn
về lý luận thì qua cuộc chuyện trò triết lý kỳ lạ với con trai của ông chủ,
Ivan Fedorovich, sẵn lòng tự cho phép mình giải trí như vậy, có lẽ vì buồn chán
hay vì nhu cầu giễu cợt không tìm thấy cách áp dụng nào tốt hơn. Chính
Xmerdiakov kể với tôi về trạng thái tinh thần của mình trong những ngày cuối
cùng hắn ở trong nhà ông chủ của mình, - Ippolit Kirinlovich giải thích, - cả
những người khác cũng làm chứng như thế: bản thân bị cáo, em bị cáo và ngay cả
gia nhân Grigori, nghĩa là tất cả những người gần cận hắn. Ngoài ra, mắc bệnh động
kinh, Xmerdiakov "nhát như con gà mái". "Hắn sụp xuống chân tôi
và hôn chân tôi, - bị cáo cho chúng ta biết lúc vẫn chưa có ý thức rằng điều đó
phần nào bất lợi cho mình, - đấy là con gà mái mắc bệnh động kinh, - bị cáo nói
về hắn bằng thứ ngôn ngữ đặc trưng của mình. Thế rồi bị cáo chọn hắn (chính bị
cáo khai như vậy) làm người tin cẩn, dọa nạt hắn đến mức rốt cuộc hắn bằng lòng
làm do thám và báo tin cho bị cáo.
Làm người do thám tại nhà cho bị cáo, hắn đã phản chủ, cho bị cáo biết phong bì tiền và mật hiệu để có thể lọt vào chỗ ông chủ, vả lại làm sao hắn có thể không cho biết được! "Cậu ấy sẽ giết tôi, tôi thấy rõ như vậy, cậu ấy sẽ giết tôi", - hắn nói trong cuộc điều tra, run lật bật trước chúng tôi, mặcdù kẻ hành hạ doạ nạt hắn khi ấy đã bị bắt và không thể đến để trừng phạt hắn. "Lúc nào cậu ấy cũng nghi ngờ tôi, còn tôi sợ run lên, tôi chỉ cốt làm sao cho cậu ấy khỏi giận dữ, vội cho cậu ấy biết mọi bí mật để cậu ấy thấy tôi vô tội với cậu ấy và tha mạng cho tôi" Đấy là lời hắn nói, tôi đã ghi biên bản và vẫn nhớ: "Đôi khi cậu ấy quát tôi, còn tôi quỳ sụp trước cậu ấy". Là một thanh niên bản chất hết sức ngay thẳng và được chủ tin cẩn, đánh giá cao lòng ngay thẳng của hắn khi hắn bắt được tiền của chủ mà đem trả Xmerdiakov xấu số hẳn phải ân hận ghê gớm vì đã phản chủ, mà hắn yêu chú như một ân nhân. Theo những nhà tâm thần học sâu sắc những người mắc bệnh động kinh nặng cố nhiên bao giờ cũng có khuynh hướng tự buộc tội mình một cách bệnh hoạn, liên tục. Họ đau khổ vì mình "có lỗi" gì với ai đó, đau khổ vì lương tâm cắn rứt, thường thường thậm chí là không có căn cứ gì hết, họ phóng đại và thậm chí tự nghĩ ra cho mình những lỗi lầm và những tội khác nhau. Một kẻ như thế trở nên thực sự có lỗi và phạm tội vì sợ hãi và bị doạ nạt. Ngoài ra hắn linh cảm thấy rõ rệt trạng từ hoàn cảnh đang hình thành trước mắt hắn có thể xảy ra chuyện chàng lành. Khi người con lớn của Fedor Pavlovich, Ivan Fedorovich đi Moskva ngay trước hôm xảy ra tai hoạ, Xmerdiakov van vỉ chàng ở lại, nhưng do tính nhút nhát, hắn không dám nói ra sự e dè của mình dưới hình thức rõ ràng và dứt khoát. Hắn đành chỉ nói xa xôi bóng gió, nhưng người ta không hiểu sự xa xôi bóng gió đó. Cần lưu ý rằng hắn coi Ivan Fedorovich là người che chở cho mình, là đảm bảo rằng chừng nào chàng còn ở nhà thì sẽ không xảy ra tai hoạ. Hãy nhớ lấy câu trong lá thư "say" của Dmitri Karamazov: "Tôi sẽ giết ông già, nếu Ivan đi nơi khác", thành thử mọi người đều coi sự có mặt của Ivan Fedorovich là đảm bảo cho sự yên ổn và trật tự ở trong nhà. Thế rồi chàng đi, còn Xmerdiakov, chừng một giờ sau khi ông chú trẻ tuổi ra đi, lập tức rơi vào trạng thái động kinh. Nhưng điều đó hoàn toàn dễ hiểu. Ở đây cần nhắc lại rằng sợ hãi và có thể nói là tuyệt vọng, trong những ngày cuối cùng, Xmerdiakov cảm thấy có thể sắp lên cơn động kinh, điều bao giờ cũng xảy ra với hắn trong lúc căng thẳng và chấn động tinh thần. Ngày giờ động kinh cố nhiên không thể đoán được, những người có chứng động kinh đều có thể cảm thấy trước khuynh hướng lên cơn. Y học nói như thế. Ivan Fedorovich vừa rời khỏi sân thì Xmerdiakov do ấn tượng côi cút và bơ vơ của mình, có thể nói như vậy, hắn xuống hầm làm công việc nhà, hắn xuống thang và nghĩ: "Lên cơn hay không, nếu lên cơn ngay thì ra sao?". Chính vì tâm trạng ấy, vì tính đa nghi ấy, vì bóng câu hỏi ấy mà cổ họng hắn thắt nghẽn lại, điều bao giờ cũng xảy ra trước khi lên con và hắn lăn nhào xuống đáy hầm, bất tỉnh nhân sự. Và trong sự tình cờ tự nhiên ấy, người ta lại nhìn thấy một cái gì đáng ngờ, một chỉ dẫn gì đó, một điều xa xói cho thấy rằng hắn cố tình giả vờ ốm! Nhưng nếu cố tình thì lập tức xuất hiện vấn đề: vì lẽ gì? Vì sự tính toán thế nào, với mục đích gì. Tôi không nói về y học, người ta bảo đấy là khoa học giả dối, khoa học sai lầm: các bác sĩ không thể phân biệt thật với giả tảng, cứ cho là thế đi, cứ cho là thế đi, nhưng hãy trả lời tôi câu hỏi: vì lẽ gì hắn giả tảng? Phải chăng khi đã toan tính chuyện giết người thì làm như thế để ở trong nhà người ta để ý trước đến mình hơn? Thưa quý vị bồi thẩm, các vị thấy không, trong nhà Fedor Pavlovich đêm xảy ra tội ác có năm người: thứ nhất là bản thân Fedor Pavlovich, nhưng ông ta không tự giết mình, điều đó rõ; thứ hai là gia nhân của ông ta là Grigori, cũng là gia nhân, Marfa Ignatievna, nhưng tưởng tượng mụ là kẻ giết chủ thì thật xấu hổ. Thành thử chỉ còn lại hai người: bị cáo và Xmerdiakov. Nhưng bị cáo nhất quyết là mình không giết, thì kẻ giết phải là Xmerdiakov, không còn cách nào khác, bởi vì không thể tìm được người nào khác, không thể lựa chọn được kẻ giết người nào khác. Thế đấy, đó là nguyên nhân sinh ra lời buộc tội "ranh mãnh" và to tát cho thằng ngốc bất hạnh hôm qua đã tự sát! Chính chỉ vì một lý do là không có cách lựa chọn nào khác! Nếu có chodù là một cái bóng, chodù là sự nghi ngờ một người nào khác, một nhân vật thứ sáu nào thì tôi tin chắc rằng ngay cả bị cáo cũng sẽ xấu hổ không dám khai cho Xmerdiakov, mà sẽ chỉ ra nhân vật thứ sáu ấy, vì buộc tội Xmerdiakov giết người là hoàn toàn vô lý
Làm người do thám tại nhà cho bị cáo, hắn đã phản chủ, cho bị cáo biết phong bì tiền và mật hiệu để có thể lọt vào chỗ ông chủ, vả lại làm sao hắn có thể không cho biết được! "Cậu ấy sẽ giết tôi, tôi thấy rõ như vậy, cậu ấy sẽ giết tôi", - hắn nói trong cuộc điều tra, run lật bật trước chúng tôi, mặcdù kẻ hành hạ doạ nạt hắn khi ấy đã bị bắt và không thể đến để trừng phạt hắn. "Lúc nào cậu ấy cũng nghi ngờ tôi, còn tôi sợ run lên, tôi chỉ cốt làm sao cho cậu ấy khỏi giận dữ, vội cho cậu ấy biết mọi bí mật để cậu ấy thấy tôi vô tội với cậu ấy và tha mạng cho tôi" Đấy là lời hắn nói, tôi đã ghi biên bản và vẫn nhớ: "Đôi khi cậu ấy quát tôi, còn tôi quỳ sụp trước cậu ấy". Là một thanh niên bản chất hết sức ngay thẳng và được chủ tin cẩn, đánh giá cao lòng ngay thẳng của hắn khi hắn bắt được tiền của chủ mà đem trả Xmerdiakov xấu số hẳn phải ân hận ghê gớm vì đã phản chủ, mà hắn yêu chú như một ân nhân. Theo những nhà tâm thần học sâu sắc những người mắc bệnh động kinh nặng cố nhiên bao giờ cũng có khuynh hướng tự buộc tội mình một cách bệnh hoạn, liên tục. Họ đau khổ vì mình "có lỗi" gì với ai đó, đau khổ vì lương tâm cắn rứt, thường thường thậm chí là không có căn cứ gì hết, họ phóng đại và thậm chí tự nghĩ ra cho mình những lỗi lầm và những tội khác nhau. Một kẻ như thế trở nên thực sự có lỗi và phạm tội vì sợ hãi và bị doạ nạt. Ngoài ra hắn linh cảm thấy rõ rệt trạng từ hoàn cảnh đang hình thành trước mắt hắn có thể xảy ra chuyện chàng lành. Khi người con lớn của Fedor Pavlovich, Ivan Fedorovich đi Moskva ngay trước hôm xảy ra tai hoạ, Xmerdiakov van vỉ chàng ở lại, nhưng do tính nhút nhát, hắn không dám nói ra sự e dè của mình dưới hình thức rõ ràng và dứt khoát. Hắn đành chỉ nói xa xôi bóng gió, nhưng người ta không hiểu sự xa xôi bóng gió đó. Cần lưu ý rằng hắn coi Ivan Fedorovich là người che chở cho mình, là đảm bảo rằng chừng nào chàng còn ở nhà thì sẽ không xảy ra tai hoạ. Hãy nhớ lấy câu trong lá thư "say" của Dmitri Karamazov: "Tôi sẽ giết ông già, nếu Ivan đi nơi khác", thành thử mọi người đều coi sự có mặt của Ivan Fedorovich là đảm bảo cho sự yên ổn và trật tự ở trong nhà. Thế rồi chàng đi, còn Xmerdiakov, chừng một giờ sau khi ông chú trẻ tuổi ra đi, lập tức rơi vào trạng thái động kinh. Nhưng điều đó hoàn toàn dễ hiểu. Ở đây cần nhắc lại rằng sợ hãi và có thể nói là tuyệt vọng, trong những ngày cuối cùng, Xmerdiakov cảm thấy có thể sắp lên cơn động kinh, điều bao giờ cũng xảy ra với hắn trong lúc căng thẳng và chấn động tinh thần. Ngày giờ động kinh cố nhiên không thể đoán được, những người có chứng động kinh đều có thể cảm thấy trước khuynh hướng lên cơn. Y học nói như thế. Ivan Fedorovich vừa rời khỏi sân thì Xmerdiakov do ấn tượng côi cút và bơ vơ của mình, có thể nói như vậy, hắn xuống hầm làm công việc nhà, hắn xuống thang và nghĩ: "Lên cơn hay không, nếu lên cơn ngay thì ra sao?". Chính vì tâm trạng ấy, vì tính đa nghi ấy, vì bóng câu hỏi ấy mà cổ họng hắn thắt nghẽn lại, điều bao giờ cũng xảy ra trước khi lên con và hắn lăn nhào xuống đáy hầm, bất tỉnh nhân sự. Và trong sự tình cờ tự nhiên ấy, người ta lại nhìn thấy một cái gì đáng ngờ, một chỉ dẫn gì đó, một điều xa xói cho thấy rằng hắn cố tình giả vờ ốm! Nhưng nếu cố tình thì lập tức xuất hiện vấn đề: vì lẽ gì? Vì sự tính toán thế nào, với mục đích gì. Tôi không nói về y học, người ta bảo đấy là khoa học giả dối, khoa học sai lầm: các bác sĩ không thể phân biệt thật với giả tảng, cứ cho là thế đi, cứ cho là thế đi, nhưng hãy trả lời tôi câu hỏi: vì lẽ gì hắn giả tảng? Phải chăng khi đã toan tính chuyện giết người thì làm như thế để ở trong nhà người ta để ý trước đến mình hơn? Thưa quý vị bồi thẩm, các vị thấy không, trong nhà Fedor Pavlovich đêm xảy ra tội ác có năm người: thứ nhất là bản thân Fedor Pavlovich, nhưng ông ta không tự giết mình, điều đó rõ; thứ hai là gia nhân của ông ta là Grigori, cũng là gia nhân, Marfa Ignatievna, nhưng tưởng tượng mụ là kẻ giết chủ thì thật xấu hổ. Thành thử chỉ còn lại hai người: bị cáo và Xmerdiakov. Nhưng bị cáo nhất quyết là mình không giết, thì kẻ giết phải là Xmerdiakov, không còn cách nào khác, bởi vì không thể tìm được người nào khác, không thể lựa chọn được kẻ giết người nào khác. Thế đấy, đó là nguyên nhân sinh ra lời buộc tội "ranh mãnh" và to tát cho thằng ngốc bất hạnh hôm qua đã tự sát! Chính chỉ vì một lý do là không có cách lựa chọn nào khác! Nếu có chodù là một cái bóng, chodù là sự nghi ngờ một người nào khác, một nhân vật thứ sáu nào thì tôi tin chắc rằng ngay cả bị cáo cũng sẽ xấu hổ không dám khai cho Xmerdiakov, mà sẽ chỉ ra nhân vật thứ sáu ấy, vì buộc tội Xmerdiakov giết người là hoàn toàn vô lý
Thưa các vị, ta hãy tạm gác tâm lý, tạm gác y học, tạm gác
ngay cả logic, trở lại các sự kiện, chỉ các sự kiện thôi, và hãy xem các sự kiện
nói với chúng ta như thế nào. Xmerdiakov giết? Nhưng giết bằng cách nào? Một
mình hay đồng loã với bị cáo? Thoạt tên ta hãy xét trường hợp thứ nhất, tức là
Xmerdiakov giết một mình. Cố nhiên nếu giết thế là vì mục đích gì đó, vì cái lợi
gì đó. Nhưng không hề có lý do giết người vĩ những điều vốn có ở bị cáo: căm hờn,
ghen tuông v.v… Xmerdiakov giết người chắc chắn chỉ vì tiền, để chiếm lấy ba
ngàn đồng mà chính mắt hắn đã thấy ông chủ cho vào phong bì. Thế là sau khi dự
tính giết người, hắn thông báo trước cho người khác biết, hơn nữa lại là người
rất quan tâm đến việc này, chính là bị cáo, - mọi hoàn cảnh về tiền và mật hiệu:
phong bì tiền nằm ở đâu, trên phong bì viết cái gì, buộc bằng gì, cái chính là
thông báo về "mật hiệu" để có thể vào chỗ ông chủ. Sao, hắn làm như
thế để trực tiếp tố giác mình à? Hay để tìm cho mình một kẻ cạnh tranh có lẽ
cũng muốn vào chiếm đoạt chiếc phong bì. Phải, người ta nói với tôi, vì sợ hãi
mà do dự mưu tính một việc gan dạ và thú vật như thế, rồi thực hiện, lại đi cho
biết những điều mà cả thế gian chẳng bao giờ có ai đoán ra được. Không, dù con
người hèn nhát như thế nào, khi đã mưu tính một việc như vậy thì sẽ không đời
nào nói với ai, ít ra là về chiếc phong bì và mật hiệu, vì như thế là tố giác
mình trước hết. Phải cố bịa ra một điều gì, nghĩ ra chuyện gì khác để nói dối,
nếu như người ta cứ nhất định đòi hắn cho biết, còn về chuyện ấy thì im lặng!
Trái lại, tôi nhắc lại điều này, nếu như hắn im lặng chỉ về tiền thôi, rồi sau
đó giết và chiếm số tiền ấy, thì cả thế gian sẽ không bao giờ có ai có thể buộc
tội hắn ít ra là giết người cướp của, bởi vì ngoài hắn ra, không ai nhìn thấy số
tiền ấy, chẳng ai biết có số tiền ấy ở trong nhà này. Chodù người ta có buộc tội
hắn thì nhất định sẽ cho rằng hắn giết vì động cơ khác. Nhưng bởi vì chẳng ai
nghĩ đến những động cơ ấy, trái lại mọi người đều thấy hắn được chủ yêu mến, có
vinh dự được chủ tin cẩn, nên cố nhiên hắn là người sau rốt bị nghi ngờ, còn kẻ
bị nghi ngờ trước hết là kẻ có động cơ ấy, kẻ đã la ầm lên rằng y có động cơ ấy
không hề che giấu, phơi bày chúng trước mọi người, tóm lại người ta ngờ kẻ giết
người là con trai kẻ bị giết, Dmitri Fedorovich. Xmerdiakov sẽ giết và lấy của,
còn con trai nạn nhận sẽ bị buộc tội, thế là cố nhiên tên sát nhân Xmerdiakov
có lợi chứ gì? Ờ, bởi vậy Xmerdiakov, sau khi dự tính giết người, liền cho anh
con trai Dmitri biết về tiền, về phong bì và mật hiệu - logiclắm, sáng sủa lắm!
Đến ngày Xmerdiakov dự tính giết người, hắn giả tảng ngã lộn nhào trong cơn động
kinh, để làm gì? Cố nhiên là để thứ nhất, gia nhân Grigori vốn dự định chữa bệnh
và thấy không có ai trong nhà, có thể sẽ hoãn việc chữa bệnh và ngồi canh nhà.
Thứ hai, cố nhiên là để ông chủ thấy không có ai canh gác cho mình và rất sợ
con trai đến, điều này ông không che giấu, sẽ càng ngờ vực và thận trọng hơn. Cuối
cùng, và đây là cái chính, cốt để người ta lập tức chuyển hắn, Xmerdiakov, nhược
lử vì cơn động kinh, ra khỏi bếp, nơi hắn vẫn ngủ đêm một mình và có lối đi
riêng đến đầu nhà, vào buồng Grigori, tới chỗ hai người sau bức vách, cách giường
hắn ba bước như thường lệ từ xưa đến giờ hễ hắn lên cơn động kinh, theo lời chỉ
bảo của ông chủ và Marfa Ignatievna đau tim. Ở đấy, nằm sau tấm vách, nhiều phần
chắc hơn cả, để tỏ ra mình ốm thực, hắn bắt đầu rên la, tức là để đánh thức họ
suốt đêm (sự thể đúng như thế, theo lời khai của Grigori và vợ lão), - và tất cả
chỉ là để dễ bề đột nhiên trở dậy và sau đó giết ông chủ! Nhưng người ta sẽ nói
với tôi rằng có lẽ chính hắn giả tảng để không ai nghi cho người ốm cả, còn hắn
cho bị cáo biết về tiền và về mật hiệu chính là để anh ta bị cám dỗ và đến giết
cha, rồi khi thấy bị cáo đã giết cha, lấy tiền ra đi và có lẽ làm ồn ào kinh động,
đánh thức những người làm chứng dù khi ấy, các vị ạ, Xmerdiakov sẽ trở dậy và đến,
để làm gì? Đến lần nữa để giết ông chủ và một lần nữa lấy đi số tiền đã bị lấy
đi. Thưa các vị, các vị cười à? Chính tôi cũng xấu hổ đã đưa ra những giả thuyết
như vậy còn trong khi đó, các vị thử tưởng tượng xem, chính bị cáo khẳng định
như vậy: sau khi tôi đã ra khỏi nhà, đánh ngã Grigori và gây náo động thì hắn
trở dậy, đến giết người cướp của. Đấy là tôi chưa nói về việc làm sao
Xmerdiakov có thể tính trước tất cả và thấy trước mọi việc chi ly tỉ mỉ, nghĩa
là người con trai tức giận điên cuồng sẽ đến chỉ để kính cẩn nhìn vào cửa sổ và
nắm được mật hiệu, lại tháo lui, để mặc cho Xmerdiakov vớ bẫm tất cả! Thưa các
vị tôi đặt vấn đề một cách nghiêm chỉnh: Xmerdiakov phạm tội vào lúc nào? Hãy
chỉ ra thời điểm ấy, nếu không thì không thể buộc tội được.
"Có lẽ đấy là cơn động kinh thực sự chăng? Người bệnh chợt
thức giấc, nghe thấy tiếng hét và đi ra". - thế thì sao? Hắn nhìn và tự nhủ:
ta đi giết ông chủ chăng? Nhưng làm thế nào hẳn biết được sự tình ra sao, đã xảy
ra chuyện gì, vì cho đến lúc ấy hắn nằm mê man kia mà? Tuy nhiên, thưa các vị,
trí tưởng tượng phóng túng cùng phải có giới hạn.
"Đúng thế. - những người tinh tế sẽ nói, - nếu cả hai ăn
ý với nhau thì sao, nếu cả hai cùng giết và chia tiền thì sao?"
"Vâng, quả thực đây là một sự nghi ngờ quan trọng - có
ngay những chứng cớ xác nhận hùng hồn: một người giết và đảm đương mọi khó nhọc,
kẻ tòng phạm nằm giả vờ lên cơn động kinh - chính là để gây sự nghi ngờ cho mọi
người, sự lo ngại cho ông chủ, sự lo ngại cho Grigori. Lạ một điều, vì cớ gì
hai kẻ đồng loã có thể nghĩ ra một kế hoạch điên dại như vậy? Nhưng có lẽ đấy
hoàn toàn không phải là sự đồng loã tích cực từ phía Xmerdiakov, mà có thể nói
là sự đồng loã thụ động, đau khổ: có lẽ Xmerdiakov bị doạ dẫm, chỉ bằng lòng
không chống lại việc giết người, và linh cảm thấy sẽ bị buộc tội là để cho người
ta giết chủ, không la hét, không chống cự, hẳn đã đòi Dmitri Karamazov cho phép
trong thời gian đó nằm dài như thể lên cơn động kinh, "còn cậu cứ thẳng
tay mà giết, tôi không biết gì hết". Nhưng nếu vậy, cơn động kinh sẽ gây
náo loạn trong nhà, nên nhìn thấy trước điều đó. Dmitri Karamazov không thể chấp
nhận sự thoả thuận như vậy. Nhưng tôi cứ cho là anh ta đồng ý đi. Dù có vậy đi
nữa thì Dmitri Fedorovich vẫn cứ là kẻ giết người, kẻ giết người trực tiếp và
chủ mưu, còn Xmerdiakov chỉ là người tham gia thụ động, thậm chí chỉ là kẻ dung
túng vì sợ hãi và trái với ý muốn của mình, còn toà án thì nhất định phải phân
biệt điều đó, vậy thì chúng ta thấy gì? Vừa bị bắt xong là bị cáo đổ hết tội
cho một mình Xmerdiakov và chỉ buộc tội một mình hắn thôi. Không, phải buộc tội
hắn làm việc đó, hắn giết người cướp của, việc làm của hắn! Đồng loã quái gì mà
ngay từ đầu kẻ nọ lại đổ cho kẻ kia: điều đó chưa bao giờ có. Xin chú ý rằng đấy
là chuyện liều lĩnh bao nhiêu đối với Karamazov: anh ta là kẻ sát nhân chính, kẻ
kia chỉ là kẻ làm ngơ và nằm sau tấm vách, và anh ta đổ tội cho kẻ nằm bẹp một
chỗ. Khi ấy kẻ kia có thể nổi cáu và chỉ để tự vệ mà sẽ nói hết sự thật: cả hai
cùng tham gia, có điều tôi không giết, chỉ cho phép và làm ngơ vì sợ hãi. Bởi lẽ
Xmerdiakov có thể hiểu rằng toà sẽ phân biệt được ngay mức độ tội lỗi, vì vậy
có thể dự tính rằng nếu hắn bị trừng phạt thì nhẹ hơn rất nhiều so với thủ phạm
chính muốn đổ tội hết cho hắn. Nhưng như vậy thì dù không muốn hắn cũng sẽ thú
nhận. Ta không hề thấy như vậy. Xmerdiakov không đả động gì đến chuyện đồng
loã, mặcdù bị cáo nhất quyết buộc tội hắn và luôn luôn nói rằng hắn là kẻ giết
người duy nhất. Chưa đủ: Xmerdiakov đã khai trong khi điều tra rằng chính hắn
nói với bị cáo về phong bì tiền và mật hiệu, mà không có hắn thì bị cáo chẳng
biết được gì. Nếu hắn thực sự đồng loã và có tội thì hắn có dễ dàng khai chuyện
ấy như thế với người điều tra không, tức là tất cả những điều hắn đã cho bị cáo
biết? Trái lại hắn sẽ một mực chối cãi và nhất định sẽ xuyên tạc và làm giảm nhẹ
tội. Chỉ có kẻ vô tội, không sợ bị ghép là đồng loã mới có thể làm như vậy. Thế
rồi, trong cơn u uất do động kinh và do toàn bộ tai hoạ đã bùng ra, hôm qua hắn
đã treo cổ, để lại bức thư viết bằng lời lẽ đặc sắc: "Tôi tự ý chẩm dứt cuộc
đời, xin đừng kết tội ai cả". Hắn có khó gì mà không viết thêm được; kẻ giết
người là tôi, chứ không phải Karamazov. Nhưng hắn không viết thêm: với việc này
thì đủ gan, với việc khác thì không ư? Ban nãy, người ta vừa mang tiền đến toà,
ba ngàn rúp, chính số tiền nằm trong chiếc phong bì hiện ở trên bàn để vật tang
chứng kia, người ta bảo hôm qua tôi đã nhận được của Xmerdiakov. Nhưng thưa các
vị bồi thẩm, các vị vẫn nhớ câu chuyện đáng buồn ban nãy đấy. Tôi không nhắc lại
chi tiết, tôi sẽ chỉ đưa ra vài ba điều trong số những điều nhỏ nhặt nhất, -
chính bởi vì nó nhỏ nhặt nên không phải ai cũng nghĩ tới và sẽ quên đi. Thứ nhất
là do lương tâm cắn rứt hôm qua Xmerdiakov hoàn lại tiền và tự treo cổ. (Bởi vì
nếu lương tâm không cắn rứt thì hắn đã không hoàn lại tiền).
Và mãi đến tối hôm qua lần đầu tiên hắn mới thú tội với Ivan Karamazov, chính Ivan Karamazov nói như vậy, nếu không thì tại sao hắn vẫn im lặng cho tới giờ. Vậy là hắn thú tội, vậy thì tại sao, tôi nhắc lại, trong lá thư trước khi chết, hắn không nói hết sự thật với chúng ta khi biết rằng ngày mai sẽ là phiên toà khủng khiếp đối với một kẻ vô tội? Chỉ riêng tiền thôi chưa phải là bằng chứng. Chẳng hạn tôi và hai người nữa trong phòng này, hoàn toàn tình cờ được biết rằng mới cách đây một tuần, Ivan gửi lên tỉnh lị đổi hai trái khoán 5% mỗi cái năm ngàn rúp, tổng cộng là mười ngàn rúp. Tôi chỉ muốn nói rằng người ta có thể có tiền vào một ngày nhất định nào đó và mang đến ba ngàn rúp không nhất thiết chứng minh được rằng đấy là số tiền ấy, chính là số tiền trong ngăn kéo hay phong bì. Rốt cuộc Ivan Karamazov hôm qua nhận được tin quan trọng về kẻ giết người thực sự, liền ngồi yên. Nhưng tại sao anh ta không đi trình báo ngay. Tại sao anh ta hoãn tất cả đến sáng hôm sau? Tôi cho rằng tôi có quyền đoán tại sao; đã một tuần sức khỏe suy sụp, chính anh ta thú nhận với bác sĩ và những người thân cận rằng anh ta có những ảo giác, anh ta nhìn thấy những người đã chết; trước cơn bệnh sốt nóng mà chính hôm nay bột phát, bất ngờ được tin Xmerdiakov đã chết anh ta lập luận như sau: "Hắn đã chết, có thể đổ cho hắn để cứu anh, tiền thì ta có: Hãy lấy một tiệp tiền và nói rằng Xmerdiakov trao cho ta trước khi chết". Các vị sẽ nói rằng như thế là bất lương. Dù là vu cho người chết cũng cứ là bất lương, chodù là để cứu anh đi nữa! Đúng, nhưng nếu anh ta nói dối một cách vô ý thức thì sao, nếu anh ta tưởng tượng rằng sự thể đúng như thế, anh ta hoàn toàn rối trí khi được tin về cái chết bất ngờ của thằng hầu thì sao? Các vị đã thấy cảnh ban nãy, các vị đã thấy con người ấy ở trong trạng thái như thế nào. Anh ta đứng nói, nhưng trí óc anh ta để tận đâu đâu, tiếp sau lời khai của người sốt nóng là một tài liệu lá thư của bị cáo gửi cô Verkhovxeva, viết hai ngày trước khi phạm tội, có chương trình hành động chi tiết vạch sẵn. Vậy việc gì chúng ta phải di tản chương trình ấy, và kẻ thực hiện không phải ai khác ngoài kẻ vạch chương trình. Đúng, thưa các vị bòi thẩm, "việc diễn ra đúng như đã viết"! Và chúng ta không kính cẩn và sợ hãi chạy khỏi cửa sổ nhà cha, khi đã tin chắc rằng người yêu của chúng ta hiện ở trong đó. Không, điều đó thật vô lý và khó tin là thật. Anh ta vào và kết thúc sự việc. Có lẽ anh ta giết trong lúc tức giận, bừng bừng lửa hận, vừa nhìn kẻ tình địch đáng căm của mình, nhưng giết xong, việc này có thể làm trong nháy mắt, vung cái chày đồng cầm trong tay lên là xong, và tiếp đó, sau khi lục soát tỉ mỉ, biết chắc rằng cô nàng không có ở đây, anh ta không quên thọc tay vào dưới đệm và lấy ra phong bì tiền, chiếc phong bì bị xé hiện nằm trên bàn để tang chứng. Tôi nói thế để lưu ý các vị đến một tình kết mà theo tôi có ý nghĩa rất đặc biệt. Dù là tên giết người có kinh nghiệm hay là tên giết người để lấy của thì liệu có để lại chiếc phong bì trên sàn nhà như người ta đã tìm thấy nó bên xác chết không? Giá dụ là Xmerdiakov giết người để cướp của thì hắn sẽ mang cả đi, không nhọc công mớ phong bì trên xác nạn nhân của mình, bởi vì hắn biết chắc trong phong bì có tiền, - người ta đã cho tiền vào đó và niêm phong trước mắt hắn kia mà, hắn sẽ mang tuốt cả phong bì đi, như vậy thì chẳng ai biết có vụ lấy trộm tiền hay không.
Và mãi đến tối hôm qua lần đầu tiên hắn mới thú tội với Ivan Karamazov, chính Ivan Karamazov nói như vậy, nếu không thì tại sao hắn vẫn im lặng cho tới giờ. Vậy là hắn thú tội, vậy thì tại sao, tôi nhắc lại, trong lá thư trước khi chết, hắn không nói hết sự thật với chúng ta khi biết rằng ngày mai sẽ là phiên toà khủng khiếp đối với một kẻ vô tội? Chỉ riêng tiền thôi chưa phải là bằng chứng. Chẳng hạn tôi và hai người nữa trong phòng này, hoàn toàn tình cờ được biết rằng mới cách đây một tuần, Ivan gửi lên tỉnh lị đổi hai trái khoán 5% mỗi cái năm ngàn rúp, tổng cộng là mười ngàn rúp. Tôi chỉ muốn nói rằng người ta có thể có tiền vào một ngày nhất định nào đó và mang đến ba ngàn rúp không nhất thiết chứng minh được rằng đấy là số tiền ấy, chính là số tiền trong ngăn kéo hay phong bì. Rốt cuộc Ivan Karamazov hôm qua nhận được tin quan trọng về kẻ giết người thực sự, liền ngồi yên. Nhưng tại sao anh ta không đi trình báo ngay. Tại sao anh ta hoãn tất cả đến sáng hôm sau? Tôi cho rằng tôi có quyền đoán tại sao; đã một tuần sức khỏe suy sụp, chính anh ta thú nhận với bác sĩ và những người thân cận rằng anh ta có những ảo giác, anh ta nhìn thấy những người đã chết; trước cơn bệnh sốt nóng mà chính hôm nay bột phát, bất ngờ được tin Xmerdiakov đã chết anh ta lập luận như sau: "Hắn đã chết, có thể đổ cho hắn để cứu anh, tiền thì ta có: Hãy lấy một tiệp tiền và nói rằng Xmerdiakov trao cho ta trước khi chết". Các vị sẽ nói rằng như thế là bất lương. Dù là vu cho người chết cũng cứ là bất lương, chodù là để cứu anh đi nữa! Đúng, nhưng nếu anh ta nói dối một cách vô ý thức thì sao, nếu anh ta tưởng tượng rằng sự thể đúng như thế, anh ta hoàn toàn rối trí khi được tin về cái chết bất ngờ của thằng hầu thì sao? Các vị đã thấy cảnh ban nãy, các vị đã thấy con người ấy ở trong trạng thái như thế nào. Anh ta đứng nói, nhưng trí óc anh ta để tận đâu đâu, tiếp sau lời khai của người sốt nóng là một tài liệu lá thư của bị cáo gửi cô Verkhovxeva, viết hai ngày trước khi phạm tội, có chương trình hành động chi tiết vạch sẵn. Vậy việc gì chúng ta phải di tản chương trình ấy, và kẻ thực hiện không phải ai khác ngoài kẻ vạch chương trình. Đúng, thưa các vị bòi thẩm, "việc diễn ra đúng như đã viết"! Và chúng ta không kính cẩn và sợ hãi chạy khỏi cửa sổ nhà cha, khi đã tin chắc rằng người yêu của chúng ta hiện ở trong đó. Không, điều đó thật vô lý và khó tin là thật. Anh ta vào và kết thúc sự việc. Có lẽ anh ta giết trong lúc tức giận, bừng bừng lửa hận, vừa nhìn kẻ tình địch đáng căm của mình, nhưng giết xong, việc này có thể làm trong nháy mắt, vung cái chày đồng cầm trong tay lên là xong, và tiếp đó, sau khi lục soát tỉ mỉ, biết chắc rằng cô nàng không có ở đây, anh ta không quên thọc tay vào dưới đệm và lấy ra phong bì tiền, chiếc phong bì bị xé hiện nằm trên bàn để tang chứng. Tôi nói thế để lưu ý các vị đến một tình kết mà theo tôi có ý nghĩa rất đặc biệt. Dù là tên giết người có kinh nghiệm hay là tên giết người để lấy của thì liệu có để lại chiếc phong bì trên sàn nhà như người ta đã tìm thấy nó bên xác chết không? Giá dụ là Xmerdiakov giết người để cướp của thì hắn sẽ mang cả đi, không nhọc công mớ phong bì trên xác nạn nhân của mình, bởi vì hắn biết chắc trong phong bì có tiền, - người ta đã cho tiền vào đó và niêm phong trước mắt hắn kia mà, hắn sẽ mang tuốt cả phong bì đi, như vậy thì chẳng ai biết có vụ lấy trộm tiền hay không.
Thưa quý vị bồi thẩm, tôi xin hỏi, Xmerdiakov liệu có hành động
như thế không, có để lại phong bì trên sàn không? Không, kẻ sát nhân điên cuồng
chính phải hành động như thế, y không lý luận, kẻ sát nhân không phải là tên ăn
cắp và cho đến lúc ấy chưa hề ăn cắp cái gì bao giờ, và bây giờ lấy tiền dưới đệm
ra không phải như tên ăn cắp, mà là lấy lại đồ vật của mình đã bị kẻ khác đánh
cắp, đấy chính là ý nghĩ của Dmitri Karamazov về ba ngàn đồng đã nung nấu làm
anh ta phát cuồng lên. Thế rồi sau khi chiếm được gói tiền mà trước đó anh ta
chưa hề nhìn thấy, anh ta xé phong bì để biết chắc trong đó có tiền không, rồi
bỏ tiền vào túi chạy đi, quên bẵng rằng anh ta để lại trên sàn một bằng chứng lớn
lao kết tội mình, chiếc phong bì bị xé rách. Tất cả là vì Karamazov, chứ không
phải là Xmerdiakov, đã không nghĩ ra, không suy tính, mà nghĩ ra thế nào được!
Anh ta chạy, nghe thấy tiếng gào cửa lão bộc đuổi kịp anh ta lão túm lấy anh
ta, ngăn lại và ngã gục vì bị giáng chiếc chày đồng. Bị cáo nhảy xuống xem
Grigori vì thương hại. Các vị hãy tưởng tượng, anh ta cam kết với chúng ta rằng
anh ta nhảy xuống với lão bộc vì tình thương, vì thông cảm xem có thể cứu giúp
lão không. Giây phút ấy có phải là lúc nói chuyện thông cảm được không? Không,
anh ta nhảy xuống chính là để biết chắc: người duy nhất chứng kiến tội ác của
anh ta còn sống hay chết. Mọi tình cảm khác, mọi động cơ khác đều thiếu tự
nhiên! Xin chú ý, anh ta mất công sức với Grigori, dùng khăn tay lau đầu cho
lão, và biết chắc lão đã chết anh ta bối rối, máu đầy người, lại chạy đến nhà
người tình, làm sao anh ta không nghĩ rằng toàn thân anh ta vấy máu và sẽ bị lộ
ngay? Nhưng bị cáo cam đoan với chúng ta rằng anh ta không để ý rằng người anh
ta vấy đầy máu; điều đó có thể chấp nhận được, rất có thể như vậy, với những kẻ
phạm tội bao giờ cũng có thể có những phút như vậy. Một mặt thì tính toán quỷ
quyệt, mặc khác lại thiếu suy xét. Lúc ấy anh ta chỉ nghĩ đến chuyện nàng ở
đâu. Anh ta cần mau mau biết nàng ở đâu, thế là anh ta chạy vào nhà
nàng và biết một tin bất ngờ và hết sức trọng đại đối với mình: nàng đi Mokroe
với người "cũ" có quyền không chối cãi được!"
Chương 9
Tâm lý học xả hết tốc lực.
Cỗ xe tam mã phi nuớc đại.
Phần kết bài nói của biện lý
Cỗ xe tam mã phi nuớc đại.
Phần kết bài nói của biện lý
Nói đến đây, Ippolit Kirinlovich, rõ ràng đã chọn phương pháp
trình bày lịch sử mà tất cả các diễn giả nóng nảy rất thích dùng, họ cố ý tìm
những khuôn khổ được giới hạn chặt chẽ để kìm hãm sự hăng say của mình, ông đặc
biệt nói tràng giang đại hải về "người cũ", "có quyền không chối
cãi được" và đưa ra mấy ý kiến lý thú về đề tài này. "Karamazov ghen
đến điên cuồng với tất cả mọi người, bỗng nhiên ngã gục và biến mất trước sự xuất
hiện của "người cũ", "có quyền không chối cãi được". Điều
càng lạ hơn là trước kia anh ta hầu như hoàn toàn không để ý gì đến mối nguy hiểm
mới mẻ đối với mình, tức là kẻ tình địch bất ngờ ấy. Nhưng anh ta luôn luôn
hình dung rằng chuyện ấy còn rất xa, mà Karamazov thì luôn luôn chỉ sống bằng
phút giây hiện tại. Có lẽ thậm chí anh ta coi đó là giả tưởng. Nhưng, bằng trái
tim đau đớn của mình, anh ta chợt hiểu ngay rằng người phụ nữ ấy giấu giếm kẻ
tình địch mới trở lại ấy đối với cô tuyệt nhiên không phải là tưởng tượng ngông
cuồng hoặc giả tưởng, mà là tất cả đối với nàng, tất cả hy vọng trong đời nàng,
thế là anh ta cam thù. Thưa các ngài bồi thẩm, tôi không thể lờ đi không nói đến
đặc điềm bất ngờ ấy trong tâm hồn bị cáo, - anh ta dường như tuyệt nhiên không
có khả năng biểu lộ điều đó, - ấy thế mà đột nhiên bỗng bộc lộ nhu cầu khắc
nghiệt về sự thật, về tôn trọng phụ nữ, thừa nhận quyền của trái tim nàng, và
vào lúc nào, vào lúc vì nàng mà hai tay anh ta đỏ máu cha mình? Của đáng tội
lúc ấy máu đòi trả máu, bởi vì anh ta đã giết chết tâm hồn mình và cuộc sống trần
thế của mình, nên bất giác khi đó anh ta phải cảm thấy và tự hỏi: "Ta là,
gì, bây giờ ta là gì với nàng, người mà ta yêu hơn cả bản thân ta, ta là gì so
với "người cũ", "có quyền không phải bàn cãi gì" đối với
nàng, người ấy đã ân hận và trở lại với người phụ nữ đã bị anh ta làm hại cả một
đời, với một tình yêu mới, những đề nghị chân thành, hứa hẹn một cuộc sống hồi
sinh và hạnh phúc. Còn ta là kẻ bất hạnh, giờ đây ta có thể đem lại gì cho
nàng, hứa hẹn với nàng cái gì?" Karamazov hiểu tất cả điều đó, hiểu rằng tội
lỗi chặn hết mọi nẻo đường của anh ta, rằng anh ta chỉ là kẻ phạm tội đáng chịu
tử hình, chứ không phải là kẻ đáng sống. Ý nghĩ ấy đè bẹp và tiêu diệt anh ta.
Thế là anh ta tức khắc dừng lại trước một kế hoạch điên rồ mà với tính cách
Karamazov, anh la không thể không hình dung đấy là lối thoát duy nhất và mang
tính định mệnh để giải thoát khỏi tình cảnh khủng khiếp của anh ta. Lối thoát ấy
là tự sát. Anh ta chạy đến lấy những khẩu súng tay đã cầm cho viên chức
Perkhotin đồng thời trong lúc chạy trên đường, anh ta cho tay vào túi lấy tất cả
tiền ra, số tiền mà vì nó mà anh ta đã nhúng tay vào máu cha. Ôi, bây giờ anh
ta cần tiền hơn hết: Karamazov sẽ chết, Karamazov tự sát bằng súng, người ta sẽ
nhớ tới điều đó! Chẳng phải vô cớ chúng ta là nhà thơ, chẳng phải vô cớ chúng
ta đốt cháy cuộc đời như đối nến hai đầu! "Đến với nàng, đến với nàng, ở đấy,
ôi ở đấy ta sẽ đặt bữa tiệc lớn cho cả bàn dân thiên hạ, bữa tiệc chưa từng thấy
mà người ta sẽ nhớ và bàn tán mãi. Giữa tiếng hò hét man rợ, giữa tiếng hát và
điệu vũ Zigan điên cuồng, chúng ta sẽ nâng cốc chúc mừng người phụ nữ yêu say đắm
cùng với hạnh phúc mới của nàng, rồi tiếp đó, ngay tại chỗ, dưới chân nàng, ta
sẽ bắn vỡ sọ ta và chấm dứt cuộc đời trước mặt nàng. Rồi sẽ có lúc nàng nhớ đến
Mitia Karamazov, sẽ thấy Mitia yêu nàng xiết bao, sẽ thương Mitia!" Nhiều
chất thơ, nhiều chất cuồng loạn lãng mạn, chất dữ dội man rợ và dâm dật nhà
Karamazov, nhưng còn có một cái gì khác, thưa quý vị bồi thẩm, một cái gì khác
la hét trong tâm hồn, đập gõ trong trí óc không ngừng và đầu độc trái tim cho đến
chết; cái gì đó ấy là lương tâm, thưa quý vị bồi thẩm, là toà án lương tâm, là
sự cắn rứt khủng khiếp của lương tâm! Nhưng khẩu súng dàn hoà được hết, khẩu
súng là lối thoát duy nhất, không còn lối thoát nào khác, còn sau đó, tôi không
biết lúc ấy Karamazov có nghĩ đến "sau đó sẽ thế nào" không, liệu
Karamazov có như Hamlet nghĩ về chuyện sau đó sẽ thế nào không? Không, thưa quý
vị bồi thẩm, người ta có Hamlet, còn chúng ta tạm thời chỉ có những Karamazov
mà thôi!"
Đến đây Ippolit Kirinlovich trình bày bức tranh hết sức tỉ mỉ
về việc chuẩn bị của Mitia, cảnh ở nhà Perkhotin, trong cửa hàng, với những người
đánh xe. Ông ta đưa ra rất nhiều ngôn từ điệu bộ, tất cả đều được những người
làm chứng xác nhận, và bức tranh có sức thuyết phục ghê gớm đối với cử toạ. Tội
của kẻ rối loạn điên cuồng và không còn biết giữ thân nữa đã rõ rành rành.
"Anh ta không cần gì phải giữ thân, - Ippolit Kirinlovich nói, - hai ba lần
anh ta suýt thú tội hoàn toàn và nói xa nói gần, có điều không nói thẳng ra (tiếp
đó là lời khai của các nhân chứng). Thậm chí dọc đường anh ta thét lên với người
đánh xe: "Anh có biết rằng anh chở một kẻ giết người không!" Nhưng
dùsao anh ta cũng không thể nói hết được: trước hết phải đến làng Mokroe đã, rồi
sau sẽ chấm dứt bản trường ca. Cái gì đang chờ đợi kẻ bất hạnh? Số là hầu như
ngay từ những phút đầu tiên ở Mokroe, anh ta nhìn thấy và rốt cuộc hiểu rõ hoàn
cảnh rằng kẻ tình địch "có quyền không phải bàn cãi gì nữa" của anh
ta có lẽ không hẳn là không gạt bỏ được và người ta không muốn và không chấp nhận
những lời chúc mừng hạnh phúc mới và cốc rượu mừng của anh ta. Nhưng quý vị đã
biết các sự kiện, thưa quý vị bồi thẩm, qua cuộc điều tra tại toà. Thắng lợi của
Karamazov đối với kẻ tình địch của mình là hiển nhiên, và đến đây bắt đầu một
giai đoạn hoàn toàn mới trong tâm hồn anh ta, thậm chí là ghê sợ nhất trong tất
cả những giai đoạn mà tâm hồn anh ta đã và sẽ trải qua! Thưa các quý vị bồi thẩm,
có thể thừa nhận dứt khoát rằng, - Ippolit Kirinlovich kêu lên, - thiên nhiên bị
lăng nhục và trái tim tội lỗi tự nó báo thù cho mình đầy đủ hơn mọi công lý trần
thế! Ngoài ra, công lý và hình phạt trần thế thậm chí làm giảm nhẹ hình phạt của
thiên nhiên, thậm chí cần thiết cho tâm hồn kẻ phạm tội vào những lúc ấy để y
khỏi thất vọng, bởi vì tôi không tưởng tượng nổi sự khủng khiếp và những đau khổ
tinh thần của Karamazov khi anh ta biết rằng nàng yêu anh ta, vì anh ta mà nàng
khước từ "người cũ có quyền, không thể chối cãi được", nàng kêu gọi
anh ta, Mitia, cùng nàng bước vào cuộc đời mới, hứa hẹn với anh ta hạnh phúc,
mà điều ấy xảy ra khi nào? Khi tất cả đã chấm dứt với anh ta và không còn làm
gì được nữa! Nhân tiện tôi xin nói qua một nhận xét cực kỳ quan trọng đối với
chúng ta để hiểu thực chất tình cảnh lúc ấy của bị cáo: người đàn bà ấy, tình
yêu ấy của anh ta, cho đến tận phút cuối cùng, thậm chí đến tận lúc bị bắt, vẫn
là không thể với tới được, mặcdù anh ta hết sức thèm muốn, nhưng vẫn không thể
với tới được. Nhưng tại sao, tại sao anh ta không tự sát ngay khi đó, tại sao
anh ta lại gác dự định của mình lại và thậm chí quên cả súng để ở đâu? Chính là
vì thèm khát tình yêu và hy vọng thoá mãn nguyện vọng ngay lúc ấy, ngay tại đây
đã kìm giữ anh ta. Trong bữa tiệc say sưa, anh bị cột chặt vào người yêu, lúc
đó cùng đánh chén với anh, nàng càng kiều diễm và hấp dẫn hơn bao giờ hết, anh
ta không rời khỏi nàng, chiêm ngưỡng nàng, tan biến đi trước nàng. Nỗi thèm
khát hừng hực có thể đè bẹp giây lát không chỉ nỗi sợ bị bắt, mà cả sự cắn rứt
lương tâm! Nhưng chỉ giây lát thôi, ôi, giây lát thôi.
Tôi tưởng tượng thấy trạng thái tâm hồn kẻ phạm tội lúc bấy
giờ hiền nhiên bị nô lệ vào ba yếu tố chế ngự anh ta hoàn toàn: thứ nhất, là
hơi men ngây ngất và sự huyên náo, tiếng giậm chân khiêu vũ, tiếng hát chói tai
và nàng, nàng, rượu vang làm mặt nàng đỏ ứng, nàng ca hát và khiêu vũ, say ngây
ngất và cười nói với chàng? Thứ hai là mơ ước xa xôi khích lệ rằng kết cục ác hại
còn xa, ít ra là không gần, hôm sau, sáng hôm sau người ta có đến bắt mới đến.
Như vậy là còn mấy giờ, như thế là nhiều lắm, nhiều lắm rồi. Mấy tiếng đồng hồ
có thể nghĩ ra nhiều điều. Tôi tưởng tượng rằng ở anh ta có thể xảy ra điều gì
giống như khi tên phạm tội bị dẫn đi hành hình, tới giá treo cổ: phải đi qua
dãy phố rất dài, mà đi rất chậm, trước mắt hàng ngàn người, rồi rẽ sang phố
khác và chỉ ở cuối dãy phố khác ấy mới đến cái bãi ghê rợn. Tôi có cảm giác rằng
khi mới bắt đầu chuyến đi, tội nhân ngồi trên chiếc xe ô nhục, hắn phải cảm thấy
trước mặt mình là cả cuộc đời bất tận. Nhưng nhà cửa lùi xa, cỗ xe vẫn tiếp tục
lăn bánh, ồ, không sao, đến chỗ rẽ sang phố thứ hai còn xa lắm, hắn vẫn phấn chấn
nhìn bên phải bên tôi, và nhìn hàng ngàn người tò mò thản nhiên chú mục vào hắn,
hắn vẫn mường tượng mình là một người cũng như họ. Nhưng rồi đến lúc rẽ sang phố
khác, ồ, không sao, không sao, còn cả một phố. Bao nhiêu nhà cửa lùi về phía
sau, hắn vẫn cứ nghĩ: "Còn nhà". Cứ thế cho đến chót, cho đến tận bãi
hành hình. Đấy, tôi hình dung nàng với Karamazov hồi ấy cũng như vậy. "Họ
vẫn chưa kịp khám phá ra, - anh ta nghĩ, - vẫn còn có thể tìm được cách gì. Ồ,
vẫn sẽ còn thời gian lập kế hoạch tự vệ, nghĩ ra cách chống trả, còn bây giờ,
bây giờ nàng xinh đẹp quá!". Trong lòng anh ta bối rối và khiếp sợ, nhưng
anh ta vẫn kịp lấy ra nửa số tiền và giấu ở đâu đó, nếu không tôi không thể giải
thích được đúng nửa số ba ngàn ấy mà anh ta vừa lấy dưới đệm của cha biến đi
đâu. Anh ta đã đến Mokroe nhiều lần, ăn chơi ở đấy hai ngày đêm. Anh ta biết rõ
ngôi nhà gỗ cổ to lớn với tất cả các nhà kho, nhà cầu. Tôi giả định rằng một phần
tiền biến mất ngay ở đấy chính trong căn nhà ấy, ngay trước khi bị bắt, trong một
cái khe nào đó, một kẽ nứt nào đó, dưới tấm ván nào đó, trong một góc nào đó,
dưới mái nhà, để làm gì? Để làm gì là thế nào?
Tai hoạ có thể xảy ra ngay lúc này, cố nhiên chúng ta vẫn
chưa nghĩ kỹ cách đối phó với nó, vả lại cũng không có thời giờ, trong đầu âm
vang tiếng gõ đập, nàng vẫn thu hút như nam châm, thế còn tiền? Cần
có tiền trong bất cứ hoàn cảnh nào!
Người có tiền thì ở đâu cũng là con người. Có lẽ các vị sẽ
cho rằng tính toán như thế trong một lúc cũng cực kỳ đáng lo và ác hại đối với
anh ta, anh ta đã tách ra một nửa trong số ba ngàn rúp và khâu vào cái túi, cố
nhiên nếu điều đó không đúng sự thật, mà chúng ta sẽ chứng minh ngay bây giờ,
thì dùsao ý tưởng đó cũng quen thuộc với anh ta, anh ta đã suy ngẫm về nó.
Ngoài ra anh ta còn cam kết với viên dự thẩm rằng anh ta lấy ra ngàn rưởi khâu
vào cái túi ấy ngay tức khắc chính bởi vì hai tiếng trước, anh ta đã lấy ra một
nửa số tiền và giấu ở đâu đó tại Mokroe, để phòng xa mọi trường hợp, cho đến
sáng, chỉ cốt để không giữ nó trong mình, theo một cảm hứng bất ngờ. Hai cái vực,
thưa quý vị bồi thẩm, nên nhớ rằng Karamazov có thể chiêm ngưỡng hai cái vực, cả
hai cái vực cùng một lúc!
Chúng tôi đã tìm trong ngôi nhà ấy, nhưng không thấy. Có lẽ số
tiền ấy hiện giờ vẫn ở đấy, và có lẽ hôm sau đã biến mất và hiện giờ nằm ở bị
cáo. Dùsao chúng tôi bắt anh ta ở cạnh cô nàng, quỳ gối trước cô nàng, cô nàng
năm trên giường, anh ta giơ hai tay về phía cô nàng và lúc ấy anh ta quên hết mọi
sự, đến nỗi không nghe rõ tiếng những người lùng bắt đến gần. Anh ta chưa kịp
chuẩn bị cái gì trong óc để trả lời. Anh ta và trí óc anh ta bị bắt chộp bất
thình lình.
Bây giờ anh ta đứng trước các thẩm phán, những người quyết định
vận mạng anh ta. Thưa quý vị bồi thẩm, có những lúc, do trách nhiệm của chúng
ta, bản thân chúng ta hầu như khiếp sợ trước con người, khiếp sợ cho con người!
Đấy là những phút quan sát sự khiếp hãi súc vật khi kẻ phạm tội nhìn thấy rằng
thế là đi đứt rồi, nhưng vẫn tiếp tục đấu tranh, vẫn dự định đấu tranh với
chúng ta. Đấy là những phút mà mọi bản năng tự tồn đồng loạt vùng dậy trong y
và để tự cứu mình. y nhìn quý vị bằng con mắt thấu suốt, dò hỏi và đau khổ, nắm
bắt và nghiên cứu quý vị, gương mặt quý vị, ý nghĩ của quý vị, chờ đợi xem quý
vị đánh từ phía nào, và tức khắc tạo nên trong bộ óc bàng hoàng của mình hàng
ngàn kế sách, nhưng dùsao vẫn không dám nói, không dám bộc lộ ra! Những lúc nhục
ấy của con người, sự thèm khát của con thú muốn tự cứu mình như thế thật khủng
khiếp và đôi khi khiến ông dự thẩm cũng phải run sợ và thông cảm với kẻ phạm tội!
Và chúng ta luôn luôn chứng kiến tất cả những điều đó. Thoạt tiên anh ta choáng
váng, và trong lúc khiếp sợ anh ta buột ta mấy lời rất có hại cho anh ta!
"Máu! Đáng đời ta!". Nhưng anh ta mau chóng tự kìm mình. Nói cái gì,
trả lời thế nào, tất cả những cái đó hiện thời anh ta chưa chuẩn bị, nhưng chỉ
một mực chối cãi vu vơ: "Tôi không có tội về cái chết của cha tôi!".
Tạm thời đấy là bức tường chắc đầu tiên, sau bức tường ấy ta sẽ còn xây dựng một
chiến luỹ nào đó. Chặn trước những câu hỏi của chúng tôi, giải thích những lời
cảm thán đầu tiên có hại cho anh ta, anh ta nói rằng anh ta coi mình có tội chỉ
về cái chết của Grigori. "Tôi có tội về máu đó, nhưng ai đã giết cha tôi,
thưa quý vị, ai giết? Ai có thể giết, nếu không phải là tôi" Quý vị nghe
thấy đấy: anh ta hỏi chúng tôi, những người đến để hỏi anh ta chính câu hỏi ấy!
Các vị có nghe thấy câu chặn trước ấy không - "nếu không phải là tôi"
-, sự ranh mãnh thú vật ấy. sự ngây thơ ấy sự nôn nóng kiểu Karamazov ấy? Không
phải tôi giết, xin đừng nghĩ rằng đấy là tôi: "Tôi muốn giết, thưa các
ông, tôi muốn giết - anh ta thú nhận vội (vội vàng, ôi, rất vội vàng!), - nhưng
tôi vẫn vô tội, không phải tôi giết!" Anh ta nhượng bộ chúng ta rằng anh
ta muốn giết: các ông thấy đấy, tôi hết sức thành thật, các ông càng nên tin rằng
tôi không giết thì mới phải. Ôi, trong những trường hợp như thế, kẻ phạm tội đôi
khi trở nên xốc nổi và cả tin lạ thường. Thế rồi, dường như hoàn toàn vô tình,
điều tra bỗng đặt ra cho anh ta câu hỏi hết sức ngô nghê: "Có phải
Xmerdiakov giết không?" Thế là đã xảy ra điều mà chúng ta chờ đợi: anh ta
rất cáu vì đã bị chặn trước, bị bắt chộp bất ngờ khi anh ta chưa kịp chuẩn bị,
lựa chọn và chộp lấy thời điểm mà đưa Xmerdiakov ra là thuận lợi nhất. Do bản
chất của mình, anh ta lập tức nhảy vào chỗ cực đoan và ra sức cam đoan rằng
Xmerdiakov không thể giết người, không có khả năng giết người. Nhưng đừng tin
anh ta, đấy chỉ là mánh khoé: anh ta tuyệt nhiên chưa từ bỏ Xmerdiakov, trái lại
anh ta sẽ còn đưa hắn ra, bởi vì anh ta còn đưa ai ra nếu không phải là hắn,
nhưng anh ta sẽ làm việc ấy vào lúc khác, bởi vì bây giờ việc ấy hỏng rồi. Anh
ta sẽ lôi hắn ra chỉ vào ngày mai hoặc vài ngày nữa: khi tìm được thời cơ anh
ta sẽ thét lên với chúng ta: "Các ông thấy đấy, tôi phủ nhận Xmerdiakov
còn mạnh mẽ hơn các ông, nhưng bây giờ thì tôi thấy rõ: chính hắn giết, không hẳn
thi còn ai!" Trong lúc anh ta đưa chúng ta vào sự phủ định ảm đạm và cáu kỉnh,
sự nôn nóng và giận dữ gợi cho anh ta lời giải thích hết sức vụng về và khó tin
về việc anh ta nhìn vào cửa sổ buồng cha và kính cẩn lùi ra xa. Cái chính là
anh ta vẫn chưa biết những tình tiết, tầm quan trọng của lời khai của Grigori
đã hồi tỉnh. Chúng tôi bắt đầu khám xét. Việc khám người làm anh ta tức giận,
nhưng cũng khích lệ anh ta: không tìm được cả ba ngàn, chỉ tìm được ngàn rưởi.
Cố nhiên, giữa lúc im lặng giận dữ và tìm cách chối cãi ấy, lần đầu tiên trong
đời anh ta chợt nảy ra ý nghĩ về cái túi khâu tiền. Chắc chắn anh ta cảm thấy sự
bày đặt ấy thật khó tin và đau khổ, đau khổ ghê gớm, làm thế nào để nó dễ tin
hơn, sáng tác thế nào để có cả một thiên tiểu thuyết giống thực. Trong những trường
hợp như vậy, việc đầu tiên nhất, nhiệm vụ chủ yếu nhất của điều tra là không để
cho anh ta có thời gian chuẩn bị, bắt chộp bất ngờ để kẻ phạm cội nói ra những
ý nghĩ thầm kín nhất của mình với tất cả tính hồn nhiên, khó tin và mâu thuẫn,
khiến chúng bị tố giác. Chỉ có thể bắt kẻ phạm tội nói ra bằng cách bất ngờ và
như vô tình cho anh ta biết một sự kiện mới nào đó, một tình tiết nào đó có ý
nghĩa cực kỳ lớn lao mà cho đến lúc đó anh ta không hề ngờ tới và không thể nào
nhìn thấy được. Sự kiện do chúng tôi có sẵn, ôi đã có sẵn từ lâu: lời khai của
gia nhân Grigori đã hồi tỉnh về cánh cửa ra vào mà bị cáo đã chạy ra qua đó.
Anh ta quên bẵng cánh cửa ấy, anh ta không ngờ rằng Grigori có thể nhìn thấy
nó. Hiệu quả cực kỳ lớn. Anh ta bật dậy và hét lên với chúng tôi: "Đấy là
Xmerdiakov giết, Xmerdiakov!" - thế là anh ta bộc lộ ý nghĩ thầm kín cơ bản
của mình, dưới hình thức khó tin nhất, bởi vì Xmerdiakov chỉ có thể giết sau
khi anh ta đã đánh gục Grigori và bó chạy. Khi chúng tôi cho anh ta biết
Grigori nhìn thấy cánh cửa ra vào mở trước khi ngã gục vào lúc ra khỏi phòng ngủ,
lão nghe thấy Xmerdiakov rên sau bức vách, Dmitri thực sự suy sụp tinh thần.
Người cộng tác với tôi, Nikolai Parfenovich đáng kính và hóm hỉnh, sau này đã
cho tôi biết ông lúc ấy ông thương anh ta đến chảy nước mắt. Chính lúc ấy, để sửa
chữa tình thế, "anh ta vội cho chúng tôi biết về cái túi dựng tiền trứ
danh: thôi được xin hãy nghe câu chuyện này. Thưa quý vị bồi thẩm, tôi đã trình
bày với quý vị ý nghĩ của tôi, về việc tại sao tôi coi csi chuyện số tiền được
khâu vào túi trước đó một tháng chẳng những là phi lý, mà là điều xuyên tạc kỳ
quặc nhất có thể tìm ra trong trường hợp này. Nếu như thậm chí đánh cuộc: có thể
nói và trình bày điều gì khó tin hơn thì thật không thể bịa đặt ra điều gì tồi
tệ hơn. Cái chính là ở đây có thể làm cho nhà tiểu thuyết đắc chí cứng họng và
đập anh ta tan tành bằng cách đưa ra những chi tiết bao giờ cũng đầy rẫy trong
hiện thực và bề ngoài tuồng như hoàn toàn không đáng kể và thừa mà những nhà
sáng tác bất hạnh và bất đắc dĩ ấy bao giờ cũng coi thường, thậm chí phong bao
giờ nghĩ tới. Ồ, lúc đó họ đâu bận tâm đến những tiểu thuyết ấy, trí óc họ chỉ
tạo nên toàn bộ đồ sộ - thế mà người ta dám đưa ra với họ một cái lặt vặt như vậy?
Nhưng người ta bắt chộp họ chính ở chỗ đó! Người ta hỏi bị cáo: "Thế ông lấy
vải ở đâu mà may túi, ai khâu cho ông?". Bị cáo tức giận, anh ta cho rằng
đấy là điều lặt vặt xúc phạm đến anh ta, và các vị có tin được không, anh ta
thành thật, thành thật! Nhưng bọn họ thế cả đấy. "Tôi xé áo sơ mi
ra!" "Được lắm, như vậy là trong đám quần áo của ông ngày mai chúng
tôi sẽ tìm thấy chiếc sơ mi bị cất một mảng". Các vị thứ tưởng tượng được
xem, thưa quý vị bồi thẩm, nếu quả thật chúng tôi tìm thấy chiếc sơ mi ấy (nếu
như chiếc sơ mi ấy có thật thì làm sao lại không tìm thấy nó trong va ly hay tủ
ngăn kéo), thì đó là một sự kiện, một sự kiện sờ được mó thấy chứng tỏ anh ta
khai đúng! Nhưng anh ta không thể nghĩ ra điều đó. - "Tôi không nhớ, có lẽ
không phải ở áo sơ mi, có lẽ tôi cắt ở chiếc mũ chùm của bà chứ" -
"Chiếc mũ chùm nào?" - "Tôi lấy của bà ta, nó nằm vương vãi
trong nhà, một đồ dùng cũ bằng vải trúc bâu" - "Anh nhớ chắc chứ?"
- "Không, tôi không nhớ chắc". Và anh ta cáu kỉnh, thế nhưng các vị
thứ tưởng tượng xem, làm sao không nhớ điều đó được? Trong những phút khủng khiếp
nhất của con người, lúc bị đưa đi hành hình, người ta vẫn nhớ những điều như thế.
Anh ta sẽ quên hết cả, vậy mà một mái nhà màu lá mạ thoáng hiện trên đường hay
con quạ đậu trên cây thập ác thì anh ta nhớ. Bởi vì khi khâu cái túi lẩn tránh
mọi người ở nhà, anh ta phải nhớ mình đau khổ nhục nhã vì sợ người ta nhìn thấy
cầm cái kim trong tay, sợ người ta vào và bắt quả tang, hễ có tiếng gõ cửa là
anh ta bật dậy và chạy ra sau vách (trong nhà anh ta có cái vách ngăn)…
- Nhưng, thưa quý vị bồi thẩm, tôi cho các vị biết tất cả những
điều ấy những chi tiết, những cái vặt vãnh ấy để làm gì kia chứ! Ippolit
Kirinlovich bỗng kêu lên. - Chính là bởi vì bị cáo ngoan cố bám lấy toàn bộ sự
phi lý ấy cho đến tận phút này! Suốt hai tháng ấy, từ cái đêm ác hại ấy đối với
anh ta, anh ta không hề giải thích gì, anh ta không thêm một tình tiết thực tế
nào giải thích thêm những lời khai hoang đường trước kia; toàn là chuyện vặt,
còn các vị hãy tin vào lời nói danh dự! Ôi, chúng tôi lấy làm sung sướng được
tin, chúng tôi khao khát được tin, chodù là tin vào danh dự! Sao, chúng tôi là
những con chó từng khao khát máu người? Hãy chỉ ra cho chúng tôi dù là một sự
kiện có lợi cho bị cáo, chúng tôi sẽ lấy làm vui sướng, nhưng là một sự kiện sờ
mó được, thực tế, chứ không phải như em ruột bị cáo kết luận theo vẻ mặt của
anh ta hay chỉ ra rằng khi đấm vào ngực, nhất định anh ta phải trỏ vào cái túi
khâu tiền, mà lại trong bóng tối. Chúng tôi sẽ lấy làm vui sướng mừng về sự kiện
mới, chúng tôi sẽ là người đầu tiên từ bỏ lời buộc tội của mình, chúng tôi sẽ vội
vã từ bỏ. Còn bây giờ lẽ công bằng sẽ lớn tiếng nói, chúng tôi nhất quyết buộc
tội, chúng tôi không thể từ bỏ điều gì cả". Ippolit Kirinlovich chuyển
sang phần kết. Ông như lên cơn sốt, ông sang sảng bày tỏ sự phẫn nộ về máu đổ,
máu của người cha bị con trai giết "vì mục đích cướp của hèn hạ". Ông
kiên quyết vạch rõ sự phù hợp bi thảm và quá quắt của các sự kiện. "Dù cho
vị luật sư trứ danh của bị cáo có nói gì đi nữa, - Ippolit Kirinlovich không
nén được, - dù ở đây có vang lên những lời hùng hồn và cảm động thể nào đi nữa
đánh vào sự đa cảm của các vị, xin hãy nhớ rằng lúc này các vị đang ở trong tòa thành thiện của công lý.
Các vị nên nhớ rằng các vị là người bảo vệ sự thật của chúng ta, người bảo vệ nước Nga thiêng liêng của chúng ta, nền móng của nó, gia đình của nó, tất cả những gì thiêng liêng! Phải, ở đây các vị đại diện cho người Nga trong lúc này, và không phải chỉ riêng trong căn phòng này vang lên lời phán quyết của các vị, mà lời phán quyết của các vị khắp nước Nga, cả nước Nga lắng nghe các vị như nghe những người bào chữa và xét xử mình, người Nga sẽ được khích lệ hay thất vọng vì lời phán quyết của các vị. Đừng giày vò nước Nga và sự mong đợi của nó, cỗ xe tam mã ác hại của chúng ta phóng như bay, có lẽ là tới chỗ huỷ diệt. Đã từ lâu trong cả nước Nga người ta giơ tay kêu gọi ngăn chặn đã phi điên cuồng liều mạng ấy lại. Nếu bây giờ vẫn còn có những dân tộc khác né tránh cỗ xe tam mã phi thục mạng thì có lẽ hoàn toàn không phải vì kính nể nó như nhà thơ mong muốn, mà vì khiếp sợ nó, xin lưu ý như vậy. Vì khiếp sợ, mà có lẽ vì ghê tởm nó, mà họ lánh ra là tốt, có khi họ sẽ đột nhiên không né tránh nữa. sẽ đứng như bức tường thành kiên cố trước ảo ảnh đang phi, sẽ chặn đã phi điên cuồng của sự buông thả của chúng ta, để cứu bản thân, cứu nền giáo dục và văn minh! Chúng ta đã nghe thấy những tiếng nói lo ngại ấy từ phương Tây. Nó đã bắt đầu vang lên. Đừng như nó, đừng tích tụ thêm lòng căm thù ngày một tăng thêm của nó bằng bản án tha bổng tội con đẻ giết cha!…
Các vị nên nhớ rằng các vị là người bảo vệ sự thật của chúng ta, người bảo vệ nước Nga thiêng liêng của chúng ta, nền móng của nó, gia đình của nó, tất cả những gì thiêng liêng! Phải, ở đây các vị đại diện cho người Nga trong lúc này, và không phải chỉ riêng trong căn phòng này vang lên lời phán quyết của các vị, mà lời phán quyết của các vị khắp nước Nga, cả nước Nga lắng nghe các vị như nghe những người bào chữa và xét xử mình, người Nga sẽ được khích lệ hay thất vọng vì lời phán quyết của các vị. Đừng giày vò nước Nga và sự mong đợi của nó, cỗ xe tam mã ác hại của chúng ta phóng như bay, có lẽ là tới chỗ huỷ diệt. Đã từ lâu trong cả nước Nga người ta giơ tay kêu gọi ngăn chặn đã phi điên cuồng liều mạng ấy lại. Nếu bây giờ vẫn còn có những dân tộc khác né tránh cỗ xe tam mã phi thục mạng thì có lẽ hoàn toàn không phải vì kính nể nó như nhà thơ mong muốn, mà vì khiếp sợ nó, xin lưu ý như vậy. Vì khiếp sợ, mà có lẽ vì ghê tởm nó, mà họ lánh ra là tốt, có khi họ sẽ đột nhiên không né tránh nữa. sẽ đứng như bức tường thành kiên cố trước ảo ảnh đang phi, sẽ chặn đã phi điên cuồng của sự buông thả của chúng ta, để cứu bản thân, cứu nền giáo dục và văn minh! Chúng ta đã nghe thấy những tiếng nói lo ngại ấy từ phương Tây. Nó đã bắt đầu vang lên. Đừng như nó, đừng tích tụ thêm lòng căm thù ngày một tăng thêm của nó bằng bản án tha bổng tội con đẻ giết cha!…
Tóm lại, Ippolit Kirinlovich tuy rất say mê, nhưng chấm dứt một
cách thống thiết, và quả thật, ấn tượng do ông gây nên cực kỳ lớn lao. Nói
xong, ông vội vã đi ra, và tôi nhắc lại, ông gần như ngã ngất đi ở phòng bên
kia. Công chúng không vỗ tay, nhưng những người nghiêm chỉnh hài lòng. Chỉ có
các bà là không hài lòng lắm, nhưng họ vẫn thích sự hùng biện, nhất là họ hoàn
toàn không lo sợ hậu quả và chờ đợi tất cả ở Fetiukovich: "Cuối cùng ông ấy
sẽ lên tiếng và cố nhiên sẽ thắng tất cả bọn họ!". Mọi người nhìn Mitia,
suốt thời gian biện lý nói chàng ngồi im lặng, xiết chặt tay, nghiến răng, mắt
nhìn xuống. Chỉ thỉnh thoảng chàng ngẩng đầu lên, lắng nghe. Đặc biệt khi nói về
Grusenka. Khi biện lý thuật lại ý kiến của Rakitin về nàng, mặt chàng bộc lộ nụ
cười khinh miệt và dữ tợn và chàng thốt lên
khá rõ: "Những tên Becna!". Khi Ippolit Kirinlovich
kể về việc ông ta thẩm vấn và giày vò chàng ở Mokroe, Mitia ngẩng đầu lên và lắng
nghe hết sức tò mò. Ở một chỗ khi biện lý nói, chàng thậm chí dường như muốn bật
dậy và thét lên điều gì, nhưng lại nén được và chỉ nhún vai khinh miệt. Về đoạn
kết của bài nói, chính là về chiến công của biện lý ở Mokroe khi thẩm vấn kẻ phạm
tội, sau này trong giới chúng tôi người ta chế nhạo Ippolit Kirinlovich: "Ông
ta không kìm được và tự khoe khả năng của mình". Phiên toà tạm ngừng,
nhưng chỉ một thời gian rất ngắn, mười lăm phút, quá lắm là hai mươi phút. Công
chúng bàn tán. Tôi nhớ được một số:
- Bài phát biểu nghiêm chỉnh! - Một ông trong một nhóm cau có
tuyên bố.
- Nhiều tâm lý quá, - tiếng một người khác.
- Nhưng tất cả là sự thật, chân lý không thể cưỡng lại nổi!
- Phải, ông ta là bậc thầy.
- Ông ta tổng kết.
- Ông ta tổng kết cả cho chúng ta, cả cho chúng ta nữa. - Tiếng
một người thứ ba tham gia. - ở phần đầu, các vị nhớ chứ. Ông ta nói rằng tất cả
chúng ta đều y hệt như Fedor Pavlovich.
- Ở đoạn cuối cùng thế. Có điều ông ta nói nhảm.
- Và không rõ ràng nữa.
- Quá say sưa.
- Bất công, bất công nữa.
- Ồ không, dù sao cũng khôn khéo. Ông ấy chờ đợi đã lâu và bây
giờ mới nói, hê hê!
- Luật sư bào chữa sẽ nói gì?
Trong một nhóm khác:
- Ông ta châm chọc vị luật sư Peterburg là nhầm: "đánh
vào sự đa cảm của các vị", các ông nhớ chứ?
- Phải, ông ta làm thế thật là vụng.
- Hấp tấp quá.
- Ông ta nóng nảy.
- Chúng ta cười, nhưng còn bị cáo thế nào?
- Phải, Mitia thì thế nào?
- Luật sư bào chữa sẽ nói gì?
Trong nhóm thứ ba:
- Cái bà đeo kính cặp mũi, to béo, ngồi ngoài cùng kia là thế
nào?
- Vợ một viên tướng, đã ly hôn, tôi biết bà ta.
- Chính vì thế mới đeo kính cắp mũi.
- Thứ đồ bỏ đi.
- Không, khêu gợi đấy chứ.
- Ngồi cách bà ta hai chỗ có một cô tóc vàng, cô này khá hơn.
- Họ bắt nọn anh ta ở Mokroe khéo đấy chứ, hả?
- Khéo thì có khéo. Ông ta kể lại lần nữa. Chuyện ấy ông ta
đã kể lể bao nhiêu lần ở các nhà rồi.
- Nhưng bây giờ không nhịn được. Tự ái.
- Ông ta oán hận, hê - hê!
- Và dễ mếch lòng nữa. Nhiều tu từ quá, câu dài lê thê.
- Ông ta dọa dẫm nữa, xin lưu ý rằng ông ta luôn luôn doạ dẫm.
Các vị có nhớ cỗ tam mã không? "Người ta có Hamlet, còn chúng ta tạm thời
chỉ có những Karamazov mà thôi!"
- Ấy là ông ta lấy lòng phe tự do. Ông ta sợ!
- Và sợ cả luật sư bào chữa nữa.
- Phải, nhưng ông Fetiukovich sẽ nói gì?
Muốn nói gì thì nói, nhưng không thể thuyết nổi bọn mugich của
chúng ta đâu.
- Ông tưởng thế ư?
Trong nhóm thứ tư:
- Ông ta nói về cỗ xe tam mã hay đấy chứ, chỗ nói về các dân
tộc ấy Quả có thế, hãy nhớ đoạn ông ấy nói về việc các dân tộc sẽ không chờ đợi.
- Chờ cái gì?
Tuần lễ trước ở nghị viện Anh, một nghị sĩ đã đứng lên chất vấn
về bọn hư vô chủ nghĩa và hỏi bộ trưởng: phải chăng đã đến lúc hoà trộn vào dân
tộc dã man để học hỏi. Ippolit Kirinlovich nói về chuyện ấy, tôi biết ông ta
nói về chuyện ấy. Tuần trước ông ta đã nói đến điều đó.
- Bọn chúng phải với xa.
- Bọn chúng là bọn nào? Tại sao phải với xa?
Chúng ta sẽ đóng cửa Kronstadt và không cho chúng bột mì.
- Chúng lấy đâu ra?
- Thế còn nước Mỹ? Bây giờ thì lấy ở Mỹ.
- Nói nhảm.
Nhưng có tiếng chuông, ai nấy đâm bổ về chỗ. Fetiukovich lên
bào chữa.
Chương 10
Lời bào chữa, đòn xóc hai đầu
Tất cả đều im lặng khi diễn giả nổi tiếng nói những lời đầu
tiên. Cả phòng dán mắt vào ông. Ông mở đầu hết sức thẳng thắn, giản dị và có sức
thuyết phục, nhưng không một chút tự phụ. Không mảy may có ý định hùng biện,
không dùng những âm thanh thống thiết, những từ khêu gợi tình cảm. Đấy là một
người nói trong nhóm thân mật giữa những người đồng tình với mình. Giọng nói của
ông tuyệt hay, sang sảng và dễ gây thiện cảm, và giọng nói ấy nghe chân thành,
chất phác. Nhưng mọi người lập tức hiểu rằng diễn giả có thể đột nhiên vươn tới
mức thực sự bi thống và "đánh vào trái tim với sức mạnh chưa từng
có". Ông nói có lẽ kém cân đối hơn Ippolit Kirinlovich, nhưng không có những
câu dài dòng và thậm chí chính xác hơn. Có một điều các bà không thích là ông
luôn luôn hơi khom lưng, đặc biệt khi mới bắt đầu nói, không phải là cúi chào,
mà như bay thẳng đến với thính giả, ông cúi gập hẳn một nửa cái lưng dài, như
thể ở chính giữa cái lưng dài và mảnh ấy có một trục khuỷu khiến nó có thể gập
thành hình thước thợ: Lúc đầu ông nói tản mạn, như thể không có hệ thống, chộp
lấy các sự kiện tuỳ tiện, nhưng rốt cuộc lại tạo thành một toàn bộ thống nhất.
Bài nói có thể chia làm hai phần: phần thứ nhất là phê phán, bác bỏ lời buộc tội,
đôi khi độc ác và cay chua. Nhưng sang phần thứ hai, ông dường thư bỗng thay đổi
cả giọng điệu và thủ pháp và lập tức cất cao giọng đến mức bi thiết, cử toạ dường
như chờ đợi điều ấy và run lên vì khoái trá. Ông đi thẳng vào việc và bắt đầu từ
chỗ mặcdù phạm vi hoạt động của ông ở Peterburg, nhưng ông đã nhiều lần đến các
thành phố của nước Nga để bào chữa cho các bị cáo, nhưng là những bị cáo mà ông
tin chắc là họ vô tội, hay đã linh cảm thấy trước điều đó. "Chính điều đó
đã xảy ra với tôi cả trong trường hợp này, - ông giải thích. - Ngay khi mới đọc
những bài báo đầu tiên, một ý nghĩ thoáng hiện đã làm tôi cực kỳ sửng sốt: có
cái gì thuận lợi cho bị cáo. Tóm lại, tôi quan tâm đến một yếu tố pháp lý, này
thường lặp đi lặp lại trong thực tế xét xử, nhưng tôi cho rằng chưa bao giờ bộc
lộ đầy đủ và mang những nét đặc sắc như trong vụ này.
- Sự kiện ấy lẽ ra tôi chỉ nên trình bày ở phần cuối, trước
khi dẫn lời, nhưng tôi sẽ nói ý kiến đó ngay ở phần đầu, bởi vì tôi có nhược điểm
là đi ngay vào đối tượng, không che giấu hiệu quả và không tiết kiệm ấn tượng.
Điều đó về phía tôi có lẽ là thiếu chín chắn, nhưng lại thành thật, ý nghĩ ấy của
tôi, công thức ấy của tôi là như sau: tuyệt đại da số các sự kiện nào chịu nổi
sự phê phán nếu xét riêng từng sự kiện riêng tập hợp lại thì buộc tội bị cáo, đồng
thởi không một sự kiện riêng biệt, tự nó, tiếp tục theo dõi các tin đồn và đọc
báo, tôi càng tin chắc ở ý nghĩ của mình, bỗng nhiên tôi được thân nhân của bị
cáo mời đến bào chữa cho bị cáo. Tôi vội đến đây ngay và tại đây, tôi tin chắc
là tôi đúng. Để đả phá tập hợp ác hại ấy của các sự kiện và phơi bày tính vô
căn cứ và hoang đường của từng sự kiện buộc tội xét riêng biệt, tôi nhận bào chữa
vụ này.
Luật sư mở đầu như vậy và bỗng cất cao giọng:
- Thưa quý vị bồi thẩm, tôi là người mới đến đây. Mọi cảm tưởng
của tôi đều không thiên kiến. Bị cáo tính tình hung hãn và bất kham, đã không
xúc phạm tôi như có lẽ đã xúc phạm cả trăm người ở thành phố này, vì thế nhiều
người sẵn có thành kiến chống lại anh ta. Cố nhiên tôi công nhận rằng tình cảm
đạo đức của xã hội ở đây bị kích động là phải: bị cáo tính tình hung hăng và bất
kham. Tuy nhiên anh ta được xã hội ở đây tiếp nhận. Thậm chí anh ta được chiều
chuộng cả trong gia đình người buộc tội tài cao của chúng ta (Đặc biệt, khi ông
nói những lời này trong công chúng có vài ba tiếng cười khúc khích, tuy nhanh
chóng tắt ngay, nhưng mọi người đều nhận thấy. Ai nấy đều biết ông biện lý miễn
cưỡng để Mitia đến nhà chỉ vì một lý do duy nhất là không hiểu sao vợ ông ta thấy
chàng thú vị - bà biện lý hết sức đức hạnh và đáng kính, nhưng tính chơi ngông
và ngang bướng, trong một số trường hợp, phần lớn là trong những việc vặt bà
thích chống đối lại chồng. Tuy nhiên, Mitia chẳng mấy khi đến nhà họ). Mặc dù vậy,
tôi vẫn mạnh dạn nói rằng, - luật sư tiếp tục - ngay cả một người có đầu óc độc
lập và tính nết công bằng như đối thủ của tôi cũng có thể có thành kiến sai lầm
đối với khách hàng bất hạnh của tôi. Mà điều đó hết sức tự nhiên thôi: kẻ bất hạnh
rất đáng bị thành kiến. Tình cảm đạo đức, hơn thể nữa là tình cảm thẩm mỹ bị
lăng nhục đôi khi thật khắc nghiệt. Cố nhiên, trong bản cáo trạng tài ba, tất cả
chúng ta đã nghe thấy sự phân tích nghiêm khắc đối với vụ án, cái chính là đã
phơi bày ra những chiều sâu tâm lý để giải thích cho chúng ta thực chất của vụ
việc, mà hoàn toàn không thể có sự đi sâu như thế nếu như ông có ác ý, ít nhiều
chủ tâm có định kiến đối với cá nhân bị cáo. Nhưng trong những trường hợp tượng
tự, có những điều tế hại và khốc liệt hơn là thái độ ác ý và rắp tâm. Chẳng hạn,
nếu chúng ta bị thôi thúc bởi một trò chơi nghệ thuật, có thể nói như vậy, xây
dựng một cuốn tiểu thuyết, đặc biệt khi có năng khiếu tâm lý phong phú mà Thượng
đế ban cho chúng ta. Ngay ở Peterburg, khi mới sửa soạn đến đây, tôi đã được
báo trước, và chẳng cần báo trước gì thì tôi cũng biết rằng ở đây tôi sẽ gặp đối
thủ là nhà tâm ly sâu sắc và cực kỳ tinh vi, do đó mà đã từ lâu đáng nổi tiếng
đặc biệt trong giới pháp lý trẻ tuổi của chúng ta.
Nhưng tâm lý học, thưa quý vị, tuy là khoa học sâu sắc, nhưng
cũng giống như đòn xóc hai đầu (tiếng cười khúc khích trong công chúng). Ôi,
các vị, cố nhiên các vị sẽ tha lỗi cho sự so sánh tầm thường của tôi. Tôi không
phải là tay điêu luyện về thuật hùng biện. Tuy nhiên, đây là một ví dụ: tôi xin
lấy dẫn chứng đầu tiên gặp được trong bài buộc tội. Ban đêm, trong vườn, khi chạy
trốn, bị cáo leo lên tường và dùng cây chày đồng đánh người gia nhân nắm lấy
chân anh ta. Liền đó bị cáo lại nhảy vào vườn và săn sóc nạn nhân suốt năm phút
cuối, cố đoán xem mình có giết chết lão hay không? Người buộc tội nhất định
không muốn tin lời khai của bị cáo rằng anh ta nhảy trở lại với lão Grigori vì
thương hại là đúng sự thật. "Không, liệu có thể có sự đa cảm như thế nào
vào một lúc như thế không; điều đó trái tự nhiên, anh ta nhảy trở lại chính là
để biết chắc: người duy nhất chứng kiến tội ác của anh ta còn sống hay đã bị giết,
như vậy anh ta chứng tỏ rằng mình đã thực hiện hành động phạm tội ấy bởi vì anh
ta không thể nhảy vào vườn vì duyên cớ khác, vì say mê hay tình cảm". Đấy
là tâm lý học; ta sẽ lấy chính cái tâm lý học ấy áp dụng vào vụ án, nhưng từ
khía cạnh khác, và sẽ đi đến kết quả không kém thực chút nào. Kẻ giết người nhảy
xuống vì thận trọng, để biết chắc người chứng kiến còn sống hay không, thế
nhưng theo lời ông công tố, y để lại trong phòng ông bố bị y giết chết một tang
chứng cực kỳ trọng đại là chiếc phong bì đã xé rách, có đề rằng bên trong để ba
ngàn rúp. "Y mang cái phong bì ấy và bên trong có tiền, vì vậy là tiền đã
được bị cáo lấy đi". Đấy là lời của chính ông công tố. Như vậy thì các vị
thấy không, một đằng là thiếu thận trọng, anh ta rối trí, hoảng sợ và bỏ chạy,
để lại bằng chứng trên sàn, nhưng hai phút sau, khi đánh và giết chết một người
khác thì lập tức lại có ý thức thận trong hết sức tàn nhẫn và tính toán rất kỹ.
Nhưng thôi, cứ cho là như thế đi, sự tinh vi của tâm lý học chính là ở chỗ
trong hoàn cảnh như thế, lúc này tôi khát máu và tinh tường như con chim ưng
Kavkaz, lát sau tôi lại mù và nhút nhát như con chuột chũi thảm hại. Nhưng nếu
tôi khát máu và tính toán tàn bạo đến mức giết xong tôi nhảy xuống chỉ để xem
người chứng kiến hành động của tôi còn sống hay không thì tại sao còn loay hoay
với nạn nhân mới ấy của mình suốt năm phút, để có thêm những người làm chứng nữa
chắc? Tại sao còn lấy khăn tay lau máu trên đầu nạn nhân, để sau này tấm khăn ấy
trở thành tang chứng buộc tội tôi chắc? Không, nếu chúng ta tính toán và tàn nhẫn
đến như thế thì phải chăng tốt hơn hết là sau khi nhảy xuống, vẫn dùng cái chày
đồng ấy choang thêm vào đầu lão gia nhân bị đánh gục ấy mấy nhát nữa cho lão chết
hẳn đi, loại bỏ hắn kẻ chứng kiến, thế là hết mọi lo âu? Cuối cùng, tôi nhảy xuống
để kiểm tra xem kẻ chứng kiến tội ác của tôi còn sống hay không, liền đó trên
đường tôi để lại một kẻ làm chứng khác, chính là chiếc chày đồng mà tôi đã lấy
và cả hai người sau này bao giờ cũng có thể nhận rằng nó là của mình và chứng
nhận rằng tôi lấy của họ. Và không phải là tôi quên nó trên đường, đánh rơi nó
trong lúc lơ đễnh, bối rối: không, chính ta bỏ rơi vũ khí của ta, vì người ta
tìm thấy nó cách chỗ Grigori bị đánh gục mười lăm bước. Thử hỏi, vì lẽ gì ta
làm như thế? Ta làm như thế bởi vì ta lấy làm đau xót là đã giết người, một lão
bộc, vì thế trong lúc buồn bực, ta nguyền rủa ném cái chày công cụ giết người
đi, nếu không thì không có chuyện ấy, vì lẽ gì khách hàng của tôi thẳng tay ném
cái chày đi. Nếu có thể cảm thấy đau đớn và thương xót vì đã giết người thì cố
nhiên là không giết cha: giết xong thì sẽ không vì thương mà nhảy xuống săn sóc
nạn nhân khác bị đánh gục, khi ấy sẽ là tình cảm khác, không phải là thương hại,
mà là tự cứu mình, cố nhiên là như vậy. Trái lại, tôi nhấn mạnh lần nữa, sẽ
đánh vỡ sọ ra, chứ không loay hoay với nạn nhân năm phút. Còn thương xót và có
tình cảm tốt lành, thì trước đó lương tâm phải trong sạch. Thành thử, đây là thứ
tâm lý học chỉ để cho thấy cụ thể rằng có thể rút ra kết luận gì tuỳ thích. Tất
cả ở chỗ người sử dựng là ai. Tâm lý học kêu gọi ngay cả những người nghiêm chỉnh
nhất sáng tác tiểu thuyết, mà đấy là hoàn toàn vô tình. Tôi nói về tâm lý học
thái quá, thưa quý vị bồi thẩm, về sự lạm dụng phần nào tâm lý học.
Ở đây lại có tiếng cười khúc khích thông công chúng, và tất vả
là chĩa vào ông biện lý. Tôi sẽ không dẫn ra chi tiết toàn bộ lời lẽ của luật
sư bào chữa, tôi chỉ lấy một số đoạn một số điểm quan trọng nhất.
Chương 11
Không có tiền, không có cướp của
Trong lời lẽ của người bào chữa, có một điểm làm mọi người sửng
sốt, đó là hoàn toàn phủ nhận sự tồn tại của ba ngàn rúp ác hại ấy, vì vậy là
phủ nhận khả năng cướp đoạt số tiền ấy.
- Thưa quý vị bồi thẩm, - luật sư bắt đầu, - trong vụ này, bất
cứ người nào mới lạ và không thiên kiến đều sửng sốt vì một đặc điểm, đó là: buộc
tội cướp của, đồng thời hoàn toàn không có khả năng thực tế chỉ rõ cướp cái gì?
Cướp tiền, người ta bảo thế, chính là ba ngàn rúp, mà sự tồn tại thực của nó
thì không ai biết. Các vị hãy thử xét xem: làm thế nào chúng ta biết rằng có ba
ngàn ấy, ai trông thấy nó? Chỉ có tên đầy tớ Xmerdiakov trông thấy và chỉ ra rằng
nó để trong chiếc phong bì có chữ đề. Y nói cho bị cáo và em ruột bị cáo là
Ivan Fedorovich điều đó từ trước khi tai hoạ xảy ra. Cả Xvetlova cũng biết.
Nhưng dùsao cả ba nhân vật ấy không nhìn thấy tiền, chỉ có Xmerdiakov nhìn thấy,
nhưng một câu hỏi tự nó nảy ra: nếu đúng là có số tiền ấy và Xmerdiakov nhìn thấy
thì hắn nhìn thấy lần cuối cùng khi nào? Nếu ông chủ lại lấy số tiền ấy từ dưới
đệm và cho vào hộp mà không cho hắn biết thì sao? Xin lưu ý rằng theo
Xmerdiakov thì tiền nằm dưới đệm, bị cáo hẳn phải lấy ra từ dưới đệm, nhưng giường
vẫn không nhàu nát tí nào, điều đó được ghi cẩn thận trong biên bản. Bằng cách
nào bị cáo có thể hoàn toàn không làm giường nhàu nát, thêm nữa hai tay vấy đầy
máu mà không làm bẩn tấm dra mới cố ý đem ra trải lần này? Nhưng người ta sẽ
nói với chúng ta: thế còn phong bì trên sàn? Chính về chiếc phong bì ấy là điều
đáng nói. Ban nãy thậm chí tôi hơi ngạc nhiên: vị công tố tài cao, khi nói về
chiếc phong bì ấy, đã tuyên bố, chính quý vị nghe thấy đấy, ở chỗ mà ông chỉ ra
sự vô lý của giả thuyết rằng Xmerdiakov giết: "Nếu không có cái phong bì ấy,
nếu nó không nằm trên sàn như một tang chứng, nếu kẻ cướp của mang luôn nó đi
thì cả thế gian này không ai biết có chiếc phong bì đựng tiền, vì vậy là bị cáo
đã cướp tiền". Như vậy, duy chỉ có mảnh giấy bị xé rách trên đề chữ, thậm
chí theo lời thú nhận của chính bị cáo, là sự buộc tội bị cáo cướp của, "nếu
không thì sẽ không ai biết là có cướp của, và có lẽ là có tiền". Nhưng chẳng
lẽ chỉ riêng việc mảnh giấy lãn lóc trên sàn là bằng chứng rằng trong đó có tiền
và tiền đã bị cướp đi ư? Nhưng người ta đáp: "Xmerdiakov nhìn thấy tiền ở
trong phong bì", nhưng hắn nhìn thấy tiền lần cuối khi nào, tôi hỏi. Tôi
đã nói chuyện với Xmerdiakov, hắn nói với tôi rằng hắn thấy tiền hai ngày trước
khi xảy ra tai hoạ! Nhưng tại sao tôi không thể giả thiết một tình huống chẳng
hạn ông già Fedor Pavlovich ngồi lì ở nhà, suốt ruột bồn chồn chờ người tình,
vì không có việc gì làm, chợt nảy ra ý nghĩ lấy chiếc phong bì và xé nó ra:
"Phong bì làm cái quái gì, có lẽ nàng sẽ không tin, còn nếu ta giơ cho
nàng xem một tập ba chục tờ giấy ngũ sắc thì có tác động mạnh hơn, nàng sẽ thèm
nhỏ rãi ra", - thế là ông già xé phong bao lấy tiền ra, còn phong bì thì vứt
xuống sàn bằng bàn tay oai quyền của ông chủ, và cố nhiên không sợ để lại tang
chứng gì cả. Thưa quý vị bồi thẩm, quý vị nghe đấy, giả thuyết như thế, sự kiện
như thế có thể có quá đi chứ? Tại sao không nhỉ? Nhưng nếu sự việc như thế có
thể có dù lời buộc tội cướp của tự nó tiêu ma: không có tiền, vì vậy cũng không
có chuyện cướp của. Nếu phong bì nằm trên sàn như một tang chứng rằng trong đó
có tiền thì tại sao tôi lại không thể khẳng định ngược lại, chính là phong bì nằm
lăn lóc trên sàn là bởi trong đó không còn tiền, ông chủ trước đó đã lấy ra rồi.
"Phải, nhưng vậy thì tiền biến đi đâu, nếu chính Fedor Pavlovich đã lấy
ra, khám xét trong nhà không tìm thấy tiền kia mà?". Thứ nhất, trong hộp của
ông ta đã tìm thấy một phần tiền, thứ hai là ông có thể lấy tiền từ buổi sáng,
thậm chí từ hôm trước, dùng tiền vào việc khác, thanh toán, gửi đi, cuối cùng
là thay đổi ý nghĩ của mình, thay đổi tận gốc kế hoạch hành động của mình và
không thấy cần thiết phải báo trước cho Xmerdiakov biết thì sao? Nếu giả thuyết
như vậy có thể có, chodù chỉ là một khả năng nhỏ nhoi thôi, thì làm sao có thể
buộc tội bị cáo một cách dai dẳng và cương quyết như thế rằng bị cáo giết người
để cướp của và thực sự có cướp của. Vì như vậy là chúng ta đi vào lãnh vực tiểu
thuyết. Nếu khẳng định rằng một vật bị cướp thì cần chỉ ra vật ấy hay ít ra chứng
minh rằng chắc chắn rằng vật đó có thực. Đằng này chẳng ai nhìn thấy nó. Mới
đây ở Peterburg, một người trẻ tuổi, gần như còn trẻ con, mười tám tuổi, bán
hàng rong lặt vặt, giữa thanh thiên bạch nhật cầm rìu vào một tiệm đổi tiền và
táo tợn phi thường, điển hình, giết chủ tiệm, lấy đi một ngàn năm trăm rúp mà y
đã kịp tiêu đi, người ta tìm thấy tất cả số tiền còn lại. Ngoài ra người tài
công trở lại tiệm sau vụ giết người đã báo cho cảnh sát biết số tiền ấy gồm những
loại tiền gì, nghĩa là bao nhiêu tờ ngũ sắc, bao nhiêu tờ xanh, bao nhiêu tờ đỏ,
bao nhiêu tiền vàng và những loại gì, trên người kẻ sát nhân bị bắt có đúng những
loại tiền giấy và nền vàng như thế. Thêm vào đó là sự thú nhận thành khẩn, đầy
đủ rằng y đã giết người và lấy chính số tiền ấy. Thế mới gọi là tang chứng chứ,
thưa quý vị bồi thẩm. Ở đây tôi biết, tôi nhìn thấy, sờ mó thấy tiền và không
thể nói rằng không có tiền. Trong trường hợp này có như thế không? Thế mà đây
là chuyện sống hay chết, số mệnh con người. "Đúng vậy, người ta sẽ nói,
nhưng ngay đêm hôm ấy anh ta đã ăn uống hoang toàng, tiêu tiền như rác, đã tìm
thấy ở anh ta ngàn rưởi rúp, anh ta lấy đâu ra số tiền ấy?" Nhưng chính bởi
vì phát hiện thấy ở anh ta có ngàn rưởi rúp thôi, nửa còn lại của số tiền không
thể tìm ra được, nên điều đó chứng minh rằng tiền ấy hoàn toàn không phải là số
tiền không hề có trong phong bì. Tính thời gian (mà tính hết sức chặt chẽ), cuộc
điều tra sơ bộ đã chứng tỏ rằng bị cáo, sau khi từ chỗ người đầy tớ gái chạy đến
nhà viên chức Perkhotin, thì không ghé qua nhà và không tạt vào đâu cả, rồi suốt
thời gian sau đó, anh ta ở trước mắt mọi người, thành thử không thể tách ra một
nửa của ba ngàn và giấu vào đâu cả. Chính đó là nguyên nhân khiến ông công tố
giả định rằng bị cáo giấu tiền vào một khe kẽ nào đó ở Mokroe. Phải chăng là giấu
trong hầm lâu đài, Udonfơ(1), thưa quý vị? Phải chăng đấy là một giả thuyết
hoang đường, lãng mạn? Xin lưu ý, chỉ cần loại bỏ giả thuyết có cái gì cất giấu
ở Mokroe là lời buộc tội cướp của bay biến, bởi vì nghìn rưởi ấy ở đâu, biến đi
đâu? Bằng phép màu nào nó có thể biến mất, nếu chưng minh được rằng bị cáo
không hề đi đâu? Bằng những thiên tiểu thuyết như thế, chúng ta có thể huỷ diệt
mạng người như chơi! Người ta sẽ bảo: "Dù sao anh ta không thể giải thích
ngàn rưởi anh ta có lấy đâu ra, ngoài ra mọi người đều biết rằng trước đó anh
ta chẳng có đồng nào". Vậy thì ai biết điều đó? Nhưng bị cáo đã khai rõ
ràng và dứt khoát về việc lấy tiền ở đâu ra, và nếu muốn, thưa quý vị bồi thẩm,
trước kia cũng như hiện nay không thể có cái gì dễ tin hơn lời khi ấy, phù hợp
hơn với tính cách và tâm hồn bị cáo. Vì công tố thích pho tiểu thuyết của mình:
bị cáo tính nết nhu nhược, chịu lấy ba ngàn đồng do vợ chưa cưới đưa ra
trong"điều kiện hết sức nhục nhã anh ta không thể để riêng ra một nửa và
khâu vào cái túi, nếu như có khâu thì cứ hai ngày anh ta lại tháo ra lấy một
trăm rúp và như vậy một tháng là hết nhẵn". Các vị hãy nhớ rằng tất cả những
điều đó được trình bày bằng giọng không cho phép phản đối Nhưng nếu sự việc diễn
ra hoàn toàn không như trong cuốn tiểu thuyết đã tạo ra, mà ở đây có một nhân vật
hoàn toàn không như trong cuốn tiểu thuyết đã tạo ra, mà lại có một nhân vật
hoàn toàn khác thì sao? Vấn đề chính là ở chỗ vị công tố đã tạo nên một nhân vật
khác! Có lẽ người ta sẽ phản đối: "Có những người làm chứng rằng anh ta đã
ăn chơi ở làng Mokroe hết cả ba ngàn rúp lấy của cô Verkhovxeva, một tháng trước
khi xảy ra tai hoạ, tiêu luôn một lần hết sạch, thành thử không có chuyện anh
ta tách ra một nữa". Nhưng những người làm chứng ấy là ai? Mức độ xác thực
của những người làm chứng ấy tại toà đã bị phơi trần. Ngoài ra, miếng bánh
trong tay người khác bao giờ xem ra cũng to hơn. Rốt cuộc, không người nào
trong số những người làm chứng tự tay đếm số tiền ấy, chỉ phán đoán bằng mắt.
Như nhân chứng Maximov khai rằng bị cáo cầm trong tay hai chục
ngàn đồng. Các vị thấy đấy, thưa quý vị bồi thẩm, bởi vì tâm lý học có hai đầu,
nên xin cho phép tôi dùng đầu kia và ta sẽ xem kết quả ra sao. Một tháng trước
khi xảy ra thảm hoạ, bị cáo được tiểu thư Verkhovxeva trao cho ba ngàn rúp để gửi
đi bằng bưu điện: có đúng là được trao trong điều kiện nhục nhã, mất phẩm giá
như vừa nói ban nãy không? Theo lời khai đầu tiên của tiểu thư Verkhovxeva về
việc này thì hoàn toàn không phải như thế; trong lời khai lần thứ hai chúng ta
nghe thấy tiếng gào thét giận dữ, trả thù, tiếng gào thét của nỗi căm hờn đã
che giấu lâu ngày. Nhưng chỉ riêng một việc người làm chứng khai lần đầu đã
không đúng khiến chúng ta có quyền kết luận rằng khai lần thứ hai cũng không
đúng. Công tố viên "không muốn, không dám" (đây là lời của ông) đụng
chạm đến thiên tiểu thuyết ấy. Thôi được tôi cũng sẽ không đụng chạm đến, tuy
nhiên cho phép tôi chỉ đưa ra nhận xét rằng nếu một nhân vật trong trắng, đạo đức
cao không phải bàn cãi gì nữa như tiểu thư Verkhovxeva, tôi xin nói, một người
như thế mà đột nhiên, tại toà, thay đổi lời khai lần đầu của mình, nhằm mục
đích trực tiếp là làm hại bị cáo, thì cũng rõ ràng là lời khai của tiểu thư
không vô tư, không bình tĩnh. Chẳng lẽ chúng ta không có quyền kết luận rằng
người phụ nữ báo thù có phóng đại nhiều điều? Đúng, chính là phóng đại nỗi hổ
thẹn và sĩ nhục do số tiền mình trao gây ra. Trái lại, tiền ấy được trao sao
cho còn có thể nhận được, đặc biệt một người nông nổi như bị cáo của chúng ta.
Cái chính là anh ta vẫn nhắm sẽ nhận được ba ngàn đồng mà cha còn thiếu anh ta
theo sự tính toán. Thật là nông nổi, nhưng chính vì nông nổi mà anh ta tin chắc
rằng cha sẽ trả cho anh ta, anh ta sẽ nhận được, vì vậy bao giờ cũng có thể trả
cho tiểu thư Verkhovxeva số tiền đưa anh ta nhờ gửi bưu điện, và thanh toán hết
nợ nần. Nhưng ông công tố tuyệt nhiên không muốn chấp nhận rằng ngay trong ngày
hôm ấy, ngày buộc tội, anh ta có thể lấy ra nửa số tiền và khâu vào cái túi:
"Tinh cách anh ta không phải như thế, anh ta không thể có những tình cảm
như thế. Nhưng chính ông lại lớn tiếng nói về hai vực thẳm mà Karamazov có thể
ngắm nhìn, Karamazov chính là một bản chất hai mặt, hai vực thẳm, ngay lúc có
nhu cầu ăn chơi trác táng anh ta có thể dừng lại nếu có cái gì làm anh ta sửng
sốt từ phía bên kia. Mà cái phía bên kia ấy là tình yêu, chính là tình yêu lúc ấy
bùng cháy như thuốc súng, mà để giữ được tình yêu ấy thì cần có tiền, cần hơn
nhiều so với số tiền để ăn uống với chính người yêu ấy. Nàng sẽ bảo anh ta:
"Em là của anh, em không muốn lấy Fedor Pavlovich", anh ta sẽ vồ lấy
nàng và đưa đi, nhưng phải có tiền mới được. Cái đó quan trọng hơn cả việc nhậu
nhẹt. Karamazov không hiểu điều đó sao? Anh ta đau đớn chính vì mối lo âu ấy, -
vậy thì có gì khó tin nếu anh ta để dành một số tiền, cất đi phòng xa? Thế
nhưng thời gian trôi đi, Fedor Pavlovich không trao cho bị cáo ba ngàn đồng, mà
nghe đâu ông già dùng chính số tiền ấy làm mồi nhử người anh ta yêu. "Nếu
cha không đưa tiền, - anh ta nghĩ, - thì đối với Ekaterina Ivanovna ta tà kẻ ăn
cắp". Anh ta nảy ra ý nghĩ rằng ngàn rưởi mà anh ta vẫn mang trong cái túi
ấy, anh ta sẽ đem đến đặt trước mặt Verkhovxeva và nói: "anh là thằng đểu
cáng, nhưng không phải là thằng ăn cắp". Vậy là có hai nguyên nhân để giữ
gìn ngàn rưởi ấy như giữ lòng ngươi con mắt, không tháo túi lấy từng trăm ra
tiêu. Vì sao vị công tố lại không thừa nhận là bị cáo có ý thức danh dự? Không,
anh ta có ý thức danh dự, chodù là không đúng, chodù là thường sai lầm, nhưng
anh ta có, có đến say mê, và anh ta đã chứng minh điều đó. Thế nhưng công việc
trở nên phức tạp, nỗi dằn vặt ghen tuông lên đến tột đỉnh, vẫn hai câu hỏi trước
đây lộ rõ ngày một day dứt hơn trong bộ não viêm tấy của anh ta: "Ta mà trả
lại cho Ekaterina Ivanovna thì lấy đâu ra tiền để đưa Grusenka đi?". Nếu
anh ta điên cuồng như thế, say sưa bét nhè như thế, làm loạn trong các tửu quán
thì có lẽ là vì anh ta đau xót quá, không chịu đựng nổi. Hai câu hỏi ấy rốt cuộc
gay gắt đến nỗi đưa anh ta đến tuyệt vọng. Anh ta nhờ em út đến hỏi cha ba ngàn
đồng lần cuối cùng, nhưng chờ mãi không được trả lời, anh ta xộc vào và cuối
cùng là đánh ông già trước mặt một số người. Sau đó thì ông bố bị đánh sẽ không
đưa tiền nữa, chẳng biết lấy ở đâu. Tối hôm ấy, anh ta đấm ngực, chính là phần
trên ngực chỗ có khâu cái túi và cúi mình nói với em rằng, anh ta có phương tiện
để không trở thành kẻ đểu cáng, nhưng dùsao vẫn cứ là thằng đểu cáng, bởi vì
anh ta thấy trước rằng sẽ không dùng đến phương tiện ấy, không đủ sức mạnh tinh
thần, không đủ cương quyết. Tại sao, tại sao bên công tố lại không tin lời
Alecxei Fedorovich khai một cách trong trắng, thành thật, không chuẩn bị và dễ
tin như vậy? Trái lại, tại sao lại buộc tội phải tin vào số tiền nhét trong khe
hở nào đó, trong hầm lâu đài Udonfơ? Tối hôm ấy, sau khi nói chuyện với em, bị
cáo viết lá thư ác hại nọ, và lá như ấy là chứng cứ chính, quan trọng nhất tố
giác bị cáo cướp của! "Tôi sẽ hỏi tiền khắp bàn dân thiên hạ, người ta mà
không cho mượn thì tôi sẽ giết cha lấy tiền dưới nệm, trong chiếc phong bì buộc
dải băng hồng, chỉ cần Ivan đi nơi khác" - cả một chương trình hành động,
không anh ta thì ai? "Làm như đã viết!" - công tố kêu lên. - Nhưng
trước hết đấy là thư viết lúc say rượu và trong tâm trạng cáu kỉnh ghê gớm; thứ
hai anh ta lại viết về chiếc phong bì theo lời Xmerdiakov, bởi vì bản thân anh
ta không nhìn thấy cái gói, thứ ba, viết thì viết, nhưng có xảy ra như đã viết
không, lấy gì chứng minh? Bị cáo có lấy chiếc phong bì dưới đệm không, có tìm
thấy tiền không, thậm chí có tiền thật hay không? Và bị cáo có phải là người
hám tiền không, các vị nhớ lại cho, xin nhớ lại cho! Anh ta cắm đầu cắm cổ chạy
không phải để cướp của, mà chỉ để biết nàng ở đâu, người phụ nữ làm anh ta buồn
khổ, - không phải theo chương trình, không đúng như đã viết, nghĩa là không phải
để cướp của như đã suy tính kỹ, mà là bất ngờ: vô tình, cuồng nộ vì ghen tuông!
"Phải, người ta sẽ nói, nhưng dùsao anh ta vẫn chạy tới, giết cha và chiếm
đoạt tiền". Vâng, rốt cuộc thì anh ta có giết hay không? Tôi phẫn nộ bác bỏ
lời buộc tội cướp tiền: không thể buộc tội cướp của nếu không chỉ rõ đích xác
cướp cái gì, đây là tiên đề! Nhưng anh ta có giết không, có giết người mà không
lấy của không? Phải chăng đó là tiểu thuyết.
Chú thích:
(1) "Những bí mật của lâu đài Udonfơ", nếu thuyết của
nữ văn sĩ Anh Ann Radeliffe (1764-1823), nổi tiếng ở Nga nửa đầu thế kỷ XIX
Chương 12
Cũng không có giết người
Thưa quý vị bồi thẩm, đây là cuộc đời con người, cho nên phải
thận trọng. Chúng ta đã nghe thấy bên công tố xác nhận rằng cho đến tận hôm
nay, ngày mở phiên tòa, công tố vẫn ngần ngừ chưa muốn buộc tội bị báo hoàn
toàn chủ tâm giết người, cho đến lúc lá thư "say" ác hại ấy được đưa
ra trình tòa.
"Việc diễn ra như đã biết!" Nhưng tôi xin nhắc lại
lần nữa: anh ta chạy đến chỗ nàng, tìm nàng, chỉ để biết nàng ở đâu. Đấy là sự
kiện hiển nhiên. Nếu nàng ở nhà, anh ta sẽ chẳng chạy đi đâu cả sẽ ở bên nàng
và sẽ tránh được cái việc mà anh ta đã doạ trong thư. Anh ta chạy đi một cách
vô tình và bất ngờ, còn về lá thư "say" của mình thì có lẽ anh ta
hoàn toàn không nhớ. "Anh ta sẽ vơ theo cái chày", và các vị nên nhớ,
vì cái chày ấy mà người ta đã đưa ra cho chúng ta cả một pho tâm lý: tại sao
anh ta phải lấy cái chày ấy làm vũ khí, vơ lấy nó làm vũ khí, v.v… và v.v đến
đây tôi chợt nảy ra một ý nghĩ bình thường nhất: nếu như cái chày ấy không nằm
ngay trước mắt, không nằm trên giá để đồ cho bị cáo vơ lấy, mà cất trong tủ thì
sao? - khi ấy nó không đập vào mắt bị cáo, bị cáo sẽ chạy đi tay không, không
vũ khí và có lẽ sẽ chẳng giết ai. Bằng cách nào tôi có thể kết luận về cái chày
như bằng chứng về sự vũ trang và chủ mưu? Phải, nhưng anh ta đã gào thét khắp
các quán rượu rằng anh ta sẽ giết cha, hai ngày trước, buổi tối anh ta viết lá
thư say, anh ta trầm lặng và trong quán rượu anh ta chỉ cãi nhau với một người
tài công vì "Karamazov không thể không cãi nhau". Về việc đó tôi xin
trả lời rằng nếu như đã mưu tính việc giết người như thế, mà lại theo kế hoạch
đã viết ra thì chắc chắn là sẽ không cãi nhau với viên tài công, mà có lẽ cũng
không đến quán rượu làm gì vì một người mưu tính một việc như thế đi tìm sự yên
tĩnh, lánh mình, biến mất, không đề ai nhìn thấy, nghe thấy mình: "Hãy
quên tôi đi, nếu có thể được", mà đấy không phải là do tính toán, mà theo
bản nàng. Thưa quý vị bồi thầm, tâm lý là chiếc đòn xóc hai đầu, và chúng ta
cũng biết hiểu tâm lý. Còn về những lời la hét trong quán rượu suốt tháng đó
thì trẻ con và những kẻ nhậu say sưa khi ra khỏi quán, cãi nhau thường vẫn nói:
"Tao sẽ giết mày", nhưng rồi có giết đâu. Ngay chính lá thư ác hại ấy,
phải chăng nó cũng là sự bực tức trong cơn say, là sự quát tháo của kẻ ra khỏi
quán rượu: tao sẽ giết, tao sẽ giết tất cả chúng mày! Tại sao lại không phải
như vậy, tại sao lại không thể như vậy? Tại sao lại có lá thư ác hại ấy, tại
sao, nó không buồn cười ư! Chính bởi vì đã tìm thấy xác chết của ông bố bị giết,
bởi vì người làm chứng đã nhìn thấy bị cáo ở trong vườn, có vũ khí và đang bỏ
chạy, và chính ông ta bị đánh gục thành thử tất cả diễn ra như đã viết, vì thế
lá thư không buồn cười, mà ác hại. Sáng danh Chúa, chúng ta đã đến điềm "ở
trong vườn tức là giết người". Bằng hai từ đó: đã có mặt thì nhất định là,
thế là đầy đủ hết, thâu tóm cả lời buộc tội, - "đã có mặt thì tức
là". Nhưng nếu tuy có mặt nhưng không tức là thì sao? Ôi, tôi đồng ý rằng
toàn bộ các sự kiện gộp lại, sự trùng hợp các sự kiện thực sự khá hùng hồn.
Nhưng hãy xét các sự kiện ấy riêng biệt, không gộp chúng lại với nhau: tại sao
bên công tố nhất quyết không muốn chấp nhận lời khai của bị cáo rằng anh ta chạy
xa cửa sổ là chân thực? Hãy nhớ lại sự châm chọc mà bên công tố nói về sự kính
cẩn và những tình cảm hiếu thảo đột nhiên dậy lên trong bị cáo. Nhưng nếu ở đây
quả thật có cái gì giống như thế, nghĩa là dù không tôn kính, nhưng hiếu thảo
thì sao? "Hẳn là mẹ tôi đã cầu nguyện cho tôi lúc ấy", - bị cáo khai
trong lúc điều tra, anh ta đã chạy đi ngay khi tin chắc rằng Xvetlova không có ở
trong nhà cha. "Nhưng nhìn qua cửa sổ thì không thể biết rõ được". -
bên công tố phản bác chúng tôi. Tại sao không thể được nhỉ? Cửa sổ mở ra theo mật
hiệu mà bị cáo đã gõ kia mà! Ở đây Fedor Pavlovich có thể thốt ra một tiếng gì
đó, có thể kêu thét lên, và bị cáo có thể biết chắc rằng Xvetlova không có
trong phòng. Tại sao lại cứ giả định như chúng ta tưởng tượng, như người ta đề
nghị chúng ta tưởng tượng ra? Thực tế có thể có cả ngàn sự việc mà ngay nhà tiểu
thuyết tinh vi nhất cũng không quan sát thấy. "Phải, nhưng Grigori thấy cửa
mở, như vậy bị cáo chắc chắn ở trong nhà, tức là bị cáo giết". Về cánh cửa
đó, thưa quý vị bồi thẩm… Các vị thấy đấy, vì cánh cửa ấy chỉ có mỗi một người
làm chứng, nhưng lúc đó người ấy ở trong trạng thái mà… Nhưng thôi được, cứ cho
là cửa mở đi, cứ cho là bị cáo chối cãi, nói dối vì ý thực tự vệ rất dễ hiểu
trong hoàn cảnh của anh ta, cứ cho là anh ta lọt vào nhà. Ở trong nhà thì đã
sao, tại sao hễ đã ở trong nhà thì nhất định là giết? Anh ta có thể xộc vào, chạy
qua các phòng, có thể xô đẩy cha, thậm chí có thể đánh cha, nhưng thấy rõ ràng
"Xvetlova không ở đây" anh ta chạy đi, vui sướng vì Xvetlova không ở
đây và anh ta đã chạy đi mà không giết cha. Có lẽ chính vì thế lát sau anh ta từ
bờ tường nhảy xuồng chăm sóc Grigori đã bị mình đánh gục trong lúc hãng máu, là
bởi anh ta có khả năng cảm thấy một tình cảm trong sạch, động lòng thương xót,
bởi vì anh ta đã tránh được sự cám dỗ giết cha, bởi vì anh ta cảm thấy trái tim
mình trong sạch và vui sướng vì không giết cha. Ông công tố sẽ miêu tả hùng hồn
với chúng ta tâm trạng ghê gớm của bị cáo ở làng Mokroe, khi tình yêu lại đến với
anh ta, kêu gọi anh ta đi xây cuộc đời mới, khi anh ta không còn có thể yêu được
nữa, bởi vì đằng sau lưng là cái thây đẫm máu của cha anh ta, tiếp đó là án tử
hình. Tuy nhiên công tố viên vẫn chấp nhận tình yêu mà ông giải thích theo tâm
lý học của mình: "Trạng thái say rượu, người ta đưa kẻ phạm tội đi hành
hình, thời gian còn lâu v.v… và v.v…". Nhưng thưa vị công tố, có phải ông
đã tạo nên nhân vật khác không, tôi lại xin hỏi? Bị cáo có thô thiển và bất
nhân đến mức trong lúc ấy vẫn có thể yêu đương và quanh co trước toà nếu như quả
thực trên mình còn vấy máu cha? Không, không, không! Vừa mới khám phá ra rằng
nàng yêu anh, gọi anh theo mình, hứa hẹn với anh hạnh phúc mới, ôi, tôi xin thề
rằng anh ta cảm thấy nhu cầu gấp đôi, gấp ba phải tự vẫn và nhất quyết sẽ tự vẫn,
nếu như sau lưng anh ta là cái xác cha! Ồ không, anh ta sẽ không quên mấy khẩu
súng của mình ở đâu! Tôi biết bị cáo: sự nhẫn tâm mọi rợ, gỗ đá mà người ta buộc
cho anh ta không phù hợp với tính cách anh ta.
Anh ta sẽ tự vẫn, đấy là điều chắc chắn; anh ta không tự vẫn chính bởi vì "mẹ cầu nguyện cho anh ta", tôi giết cha không trĩu nặng trong tim anh ta, đem hôm ấy ở Mokroe anh ta đau khổ, buồn phiền chỉ vì lão Grigori bị anh ta đánh gục và cầu trời cho lão tỉnh lại, đòn đánh của anh ta không giết chết lão và anh ta không mắc tội. Tại sao lại không chấp nhận cách giải quyết sự việc như thế? Chúng ta có bằng chứng vững chắc nào là bị cáo nói dối chúng ta? Thế còn cái xác của người cha; người ta sẽ lại vạch ra với chúng ta: anh ta đã bỏ chạy, anh ta không giết, vậy thế ai giết ông già? Tôi xin nhắc lại: đây là toàn bộ logic của bên công tố: ai giết, nếu không phải là anh ta? Chẳng có ai thay anh ta. Thưa quý vị bồi thẩm, có phải như vậy không? Có thật là là dùsao cũng không tìm được ai thay vào không? Chúng ta đã nghe thấy bên công tố điểm tên từng người vẫn ở đấy và đêm hôm ấy có mặt tại nhà này. Có năm người. Tôi đồng ý là có ba người không chịu cách nhiệm, ấy là: nạn nhân, Grigori và vợ lão. Thành thử chỉ còn bị cáo và Xmerdiakov vị công tố đã kêu lên một cách đầy cảm hứng rằng bị cáo đổ cho Xmerdiakov vì không có ai mà đổ tội nữa nếu có người thứ sáu nào đó, chodù là bóng ma của một người thứ sáu thì bị cáo sẽ lập tức không đổ cho Xmerdiakov nữa vì xấu hổ, mà đổ cho người thứ sáu ấy ngay.
Anh ta sẽ tự vẫn, đấy là điều chắc chắn; anh ta không tự vẫn chính bởi vì "mẹ cầu nguyện cho anh ta", tôi giết cha không trĩu nặng trong tim anh ta, đem hôm ấy ở Mokroe anh ta đau khổ, buồn phiền chỉ vì lão Grigori bị anh ta đánh gục và cầu trời cho lão tỉnh lại, đòn đánh của anh ta không giết chết lão và anh ta không mắc tội. Tại sao lại không chấp nhận cách giải quyết sự việc như thế? Chúng ta có bằng chứng vững chắc nào là bị cáo nói dối chúng ta? Thế còn cái xác của người cha; người ta sẽ lại vạch ra với chúng ta: anh ta đã bỏ chạy, anh ta không giết, vậy thế ai giết ông già? Tôi xin nhắc lại: đây là toàn bộ logic của bên công tố: ai giết, nếu không phải là anh ta? Chẳng có ai thay anh ta. Thưa quý vị bồi thẩm, có phải như vậy không? Có thật là là dùsao cũng không tìm được ai thay vào không? Chúng ta đã nghe thấy bên công tố điểm tên từng người vẫn ở đấy và đêm hôm ấy có mặt tại nhà này. Có năm người. Tôi đồng ý là có ba người không chịu cách nhiệm, ấy là: nạn nhân, Grigori và vợ lão. Thành thử chỉ còn bị cáo và Xmerdiakov vị công tố đã kêu lên một cách đầy cảm hứng rằng bị cáo đổ cho Xmerdiakov vì không có ai mà đổ tội nữa nếu có người thứ sáu nào đó, chodù là bóng ma của một người thứ sáu thì bị cáo sẽ lập tức không đổ cho Xmerdiakov nữa vì xấu hổ, mà đổ cho người thứ sáu ấy ngay.
Nhưng thưa quý vị bồi thẩm, tại sao tôi không thể kết luận
hoàn toàn ngược lại? Có hai người: bị cáo và Xmerdiakov - tại sao tôi không thể
nói rằng công tố buộc tội khách hàng của tôi chỉ vì không còn ai khác? Mà không
còn ai khác là vì do thiên kiến có sẵn, ông đã loại bỏ bất cứ sự nghi ngờ nào đối
với Xmerdiakov. Phải, quả thực là đổ tội cho Xmerdiakov chỉ có bản thân bị cáo,
hai anh em bị cáo và Xvetlova, chỉ có vậy thôi. Nhưng vẫn còn những người trong
số những người khai cung: đấy là sự rì rầm trong xã hội, tuy là mơ hồ, với những
câu hỏi, những nghi ngờ nào đó, có những tin đồn mập mờ, ta cảm thấy có sự chờ
đợi nào đó. Cuối cùng, sự đối chiếu các sự kiện, sự đối chiếu rất đặc sắc, tuy
xin thú thật là vu vơ, cũng là một bằng chứng; thứ nhất là lên cơn động kinh
đúng vào ngày xảy ra đại hoạ, không hiểu sao bên công tố buộc phải ra sức biện
bạch, bảo vệ nó, tiếp đến sự tự sát bất ngờ của Xmerdiakov trước phiên toà. Tuy
nhiên, lời khai không kém "phần bất ngờ của người em lớn của bị cáo tại
phiên toà hôm nay, cho đến lúc ấy anh ta vẫn tin rằng anh mình có tội, vậy mà
anh ta mang tiền đến và lại nêu đích danh Xmerdiakov là kẻ giết người! Ôi, cùng
với toà và bên công tố, tôi hoàn toàn tin chắc rằng Ivan Karamazov ốm và lên
cơn sốt mê sảng, lời khai của anh ta thực sự có thể là một mưu toan tuyệt vọng,
mà lại trong cơn mê sảng, để cứu anh bằng cách đổ tội cho kẻ đã chết. Tuy
nhiên, tên Xmerdiakov đã được thốt lên, dường như là nghe thấy một cái gì bí ẩn.
Ở đây có cái gì chưa nói hết, thưa quý vị bồi thẩm, chưa xong hắn. Và có lẽ sẽ
còn được nói nốt. Nhưng ta hãy tạm gác chuyện ấy lại, chuyện ấy để sau. Ban nãy
tòa đã quyết định tiếp tục phiên xử, nhưng bây giờ, trong lúc chờ đợi, tôi có
thể vạch ra một đôi điều, chẳng hạn những nhận xét về tính cách của Xmerdiakov
đã qua đời mà vị công tố đã vẽ ra một cách tinh vi và tài ba. Nhưng tuy ngạc
nhiên về tài năng của ông, tôi không thể đồng ý với ông về thực chất của những
nhận xét của ông. Tôi đã đến nhà Xmerdiakov, đã gặp hắn và nói chuyện với hắn,
hắn gây cho tôi ấn tượng hoàn toàn khác, hắn yếu sức khỏe, đấy là sự thật,
nhưng về tính cách, trái tim thì hoàn toàn không, đây hoàn toàn không phải là
con người yếu đuối như bên công tố kết luận. Đặc biệt tôi không thấy hắn nhút
nhát, sự nhút nhát mà vị công tố đã miêu tả hết sức đặc sắc với chúng ta. Hắn
hoàn toàn không chất phác, trái lại, tôi thấy một sự đa nghi ghê gớm ẩn dưới
cái vẻ ngoài ngây thơ và một trí tuệ có khả năng quan sát rất nhiều. Ồ! Bên
công tố quá chất phác cho rằng hắn gàn dở. Hắn để lại cho tôi một cảm tưởng
hoàn toàn dứt khoát: tôi ra về với niềm tin chắc rằng con người này rất độc
đáo, háo danh vô tận hay trả thù và ghen tị kinh khủng. Tôi đã thu thập được một
số điều: hắn căm thù nguồn gốc của mình, xấu hổ về điều đó và nghiến răng nhắc
lại rằng hắn là "con của Xmerdiasaia".". Đối với Grigori và vợ
lão là những ân nhân của hắn thời thơ ấu, hắn có thái độ thiểu tôn trọng. Hắn
nguyền rủa và chế nhạo nước Nga. Hắn mơ ước sang Pháp để trở thành người Pháp.
Trước đó, hắn nói nhiều và thường xuyên rằng hắn không có tiền đề làm việc đó.
Tôi có cảm giác rằng hắn không yêu ai ngoài bản thân mình, hắn tự đánh giá mình
cao kỳ lạ. Hắn cho rằng trình độ học thức thể hiện ở bộ quần áo bảnh bao, sơ mi
sạch sẽ và đôi ủng bóng lộn. Tự coi mình là con hoang của Fedor Pavlovich (mà
đây là sự thật), hắn có thể căm thù địa vị của mình so với các con chính thức của
chủ: họ có tất cả, còn hắn chỉ là tên nấu bếp. Hắn cho tôi biết rằng hắn cùng với
Fedor Pavlovich cho tiền vào phong bì. Cố nhiên hắn căm ghét mục đích dùng số
tiền đó - với số tiền ấy hắn có thể tiến thân. Thêm nữa, hắn đã nhìn thấy ba
ngàn rúp toàn bạc trăm mới tinh (tôi cố ý hỏi hắn điều đó). Ôi, đừng bao giờ
cho kẻ ghen tị và tự ái trông thấy số tiền lớn, đây là lần đầu tiên hắn nhìn thấy
một bàn tay cầm số tiền như thế. Xấp giấy bạc trăm có thể gây cảm tưởng bệnh hoạn
đến trí tưởng tượng của hắn, lần đầu thì chưa có hậu quả gì cả. Vị công tố tài
năng của chúng ta đã vạch ra một cách tình vi lạ thường tất cả những giả thuyết
pro và contra về khả năng kết tội Xmerdiakov giết người và đặc biệt hỏi: vì cớ
gì hắn giả vờ động kinh? Phải, nhưng hắn có thể hoàn toàn không giả vờ, cơn bệnh
có thể đến hoàn toàn tự nhiên, nhưng cũng có thể qua khỏi hoàn toàn tự nhiên,
người ốm có thể chợt tỉnh. Ta giả sử là không khỏi hẳn, nhưng đến một lúc vẫn cứ
hồi tỉnh lại như thường có trong những cơn động kinh. Công tố hỏi: Xmerdiakov
giết người vào lúc nào? Nhưng chỉ ra lúc đó hết sức dễ. Hắn có thể tỉnh giấc và
trở dậy sau giấc ngủ sâu (bởi vì hắn chỉ có chìm trong giấc ngủ; sau cơn bệnh động
kinh bao giờ cũng là giấc ngủ sâu), đó chính là lúc lão Grigori chộp lấy chân bị
cáo leo lên bờ tường, gào vang: "Thằng giết cha!", tiếng gào ấy thật
lạ thường trong đêm hôm thanh vắng và có thể làm Xmerdiakov thức giấc, lúc ấy hắn
có thể ngủ không say lắm: tất nhiên hắn cũng có thể thức giấc một giờ trước đó.
Rời khỏi giường, vô ý thức và không có dự định nào, hắn ra chỗ có tiếng gào,
xem có chuyện gì, đầu hắn mụ mị, trí tưởng tượng vẫn còn mơ màng, nhưng hắn đã ở
trong vườn, tới gần những cửa sổ sáng và được chủ cho biết một tin làm hắn hết
sức mừng. Nhưng tính toán lập tức bừng lên trong đầu hắn. Ông chủ sợ hãi cho hắn
biết mọi chi tiết. Thế là dần dần, trong trí não ốm đau, rồi loạn của hắn nảy
ra một ý nghĩ ghê rợn, nhưng hấp dẫn và có tính logic không cưỡng lại được: giết,
lấy ba ngàn đồng và đổ tất cả cho cậu chủ - bây giờ người ta còn nghĩ đến ai nếu
không phải là con ông chủ, có thể kết tội ai nếu không là con ông chủ, mọi chứng
cứ, cậu ta có mặt ở đây kia mà? Máu tham tiền, tham chiếm đoạt choán hết tình
thần hắn, đồng thời với ý nghĩ về việc thoát khỏi sự trừng phạt. Ôi, những cơn
bốc đồng bất ngờ và không thể cưỡng lại được ấy thường xảy đến khi có dịp, cái
chính là thường đến một cách bất ngờ với những kẻ giết người mà một phút trước
không hề biết rằng mình muốn giết người! Thế là Xmerdiakov có thể vào chỗ ông
chủ và thực hiện kế hoạch của mình, bằng vũ khí gì - bằng viên đá đầu tiên mà hắn
nhặt trong vườn. Nhưng để làm gì, với mục đích gì? Thế còn ba ngàn rúp đấy là
con đường công danh. Ôi, tôi không tự mâu thuẫn với mình: có thể có số tiền. Thậm
chí có thể chỉ mình Xmerdiakov biết tìm tiền ở đâu, tiền ông chủ giấu ở đâu.
"Ờ, thế còn giấy phong bao tiền, chiếc phong bì bị xé rách nam trên
sàn?" Ban nãy, khi ông công tố nói về chiếc phong bì ấy, ông đã trình bày
cực kỳ tinh tế suy nghĩ của ông vế việc chỉ có kẻ không quen ăn cắp như
Karamazov mới có thể để lại chiếc phong bì trên sàn, chứ hoàn toàn không phải
là Xmerdiakov, hắn không đời nào để lại tang chứng như vậy, - thưa quý vị bồi
thẩm, tôi nghe và bỗng cảm thấy rằng tôi nghe một điều gì hết sức quen thuộc.
Các vị tưởng tượng xem, chính sự suy nghĩ như vậy, sự phỏng đoán như vậy về việc
Karamazov có thể làm như thế nào với chiếc phong bì, đúng hai ngày trước tôi đã
nghe chính Xmerdiakov nói, hơn thế nữa hắn nói điều đó khiến tôi sửng sốt: tôi
có cảm giác rằng hắn vờ làm ra vẻ ngây ngô nói chặn trước ràng buộc cho tôi ý
nghĩ ấy để tự tôi rút ra kết luận, như thể gà cho tôi. Phải chăng hắn đã mớm ý
nghĩ ấy cả cho vị công tố tài ba của chúng ta. Người ta sẽ nói: thế còn bà già
vợ Grigori? Bà ta đã nghe những người ốm nằm gần bà rên suốt đêm. Vâng, có nghe
thấy, nhưng đấy là lý do rất lung lay. Tôi đã nghe một bà già phàn nàn một cách
chua xót rằng tiếng chó sủa ở sân suốt đêm làm bà thức giấc, không để bà ngủ
yên. Thế nhưng người ta biết rằng con chó tội nghiệp suốt đêm chỉ sủa có hai ba
lần. Điều đó tự nhiên thôi: một người ngủ và bỗng nghe tiếng rên, thức giấc, bực
bội vì mình bị đánh thức, nhưng lại ngủ thiếp đi ngay. Khoảng hai giờ sau lại
có tiếng rên lại thức giấc và lại ngủ thiếp đi, cuối cùng lại rên lần nữa, lần
này cũng lại hai tiếng sủa, cả đêm chỉ có ba lần. Sáng ra, người ngủ trở dậy và
than phiền rằng ai đó suốt đêm rên rỉ và luôn luôn làm mình thức giấc. Nhưng nhất
định người ấy phải cảm thấy như thế. Khoảng thời gian ngủ, mỗi lần chừng hai tiếng,
người ấy không nhớ, chỉ nhớ những lần thức giấc, và có cảm giác rằng mình tỉnh
giấc suốt đêm. Nhưng tại sao, ông công tố kêu lên, tại sao Xmerdiakov không thú
nhận trong thư để lại? "Về một việc thì đủ lương tâm, về việc khác thì
không". Nhưng xin nói: lương tâm, đấy là sự sám hối những kẻ tự sát không
thể có sự sám hối, chỉ có sự tuyệt vọng mà thôi. Tuyệt vọng và sám hối là hai
điều hoàn toàn khác nhau. Tuyệt vọng có thể độc ác và không thoả hiệp, kẻ tự
sát, lúc kết thúc cuộc đời, có thể căm thù gấp bội những người mà y ghen tức suốt
đời! Thưa quý vị bồi thẩm, hãy tránh sai lầm khi phán quyết! Tất cả những điều
tôi vừa trình bày và miêu tả với quý vị, có cái gì khó đáng tin không? Hãy tìm
sai lầm trong sự trình bày của tôi, hãy tìm xem có cái gì không thể có, phi lý?
Nhưng nếu trong các giả thuyết của tôi thoáng có chút gì có thể đúng nghe được
thì xin đừng kết án. Mà lẽ nào chỉ thoáng có phần thật? Xin viện tất cả những
gì thiêng liêng ra mà thề rằng tôi hoàn toàn tin ở cách giải thích tôi vừa
trình bày với quý vị về vụ giết người. Cái chính làm tôi bối rối và không yên
tâm vẫn là ý nghĩ rằng trong tất cả khối sự kiện mà bên công tố chồng chất lên
bị cáo, không có lấy một sự kiện ít nhiều chính xác và không thể bác bỏ được,
mà kẻ xấu số chết chỉ vì tập hợp các sự kiện đó. Phải, tập hợp các sự kiện đó
thật kinh khủng; máu nhỏ từ các đầu ngón tay, áo trong bết máu, đêm tối mịt, tiếng
hét "thằng giết cha" vang vọng, kẻ la hét ngã lộn nhào, đầu vỡ toác,
rồi đến bao nhiêu lời nói, lời khai, điệu bộ, tiếng la hét, - Ôi điều ấy có ảnh
hưởng rất lớn, có thể lấy được lòng tin, thưa quý vị bồi thẩm, liệu có thể lấy
được lòng tin của quý vị không? Các vị nên nhớ, các vị có quyền hành mênh mông,
quyền gỡ tội và quyết định. Nhưng quyền càng lớn thì sử dụng quyền càng đáng sợ!
Tôi nhất quyết không từ bỏ điều tôi vừa nói, nhưng thôi được, cứ cho là trong
giây lát tôi tạm đồng ý với lời buộc tội rằng khách hàng của tôi đã hai tay vấy
máu cha. Đấy chỉ là giả thuyết, tôi nhắc lại, tôi không một phút nào nghi ngờ sự
vô tội của anh ta nhưng thôi được, tôi cứ giả định rằng bị cáo của tôi phạm tội
giết cha, nhưng xin hãy như tôi nói, cho dù tôi có chấp nhận giả thuyết ấy đi nữa.
Trong lòng tôi vẫn có điều phải nói với quý vị bởi vì tôi cảm thấy trong trái
tim và khối óc quý vị vẫn diễn ra cuộc đấu tranh mãnh liệt… Xin thứ lỗi cho
tôi đã nói về trái tim và khối óc quý vị. Nhưng tôi muốn chân thành đến cùng.
Chúng ta sẽ thành thực!…"
Đến đây một tràng vỗ tay khá rầm rộ ngắt lời luật sư. Quả thật,
những lời cuối cùng của ông nói với giọng thành thực đến nỗi mọi người đều cảm
thấy có lẽ thực sự ông có điều gì muốn nói và điều ông sắp nói là quan trọng nhất.
Nhưng chánh án nghe tràng vỗ tay, lớn tiếng doạ "mời hết ra khỏi
phòng", nếu "sự việc tương tụ" còn tái diễn. Cả phòng im lặng,
và Fetiukovich bắt đầu bằng một giọng thấm thía khác hẳn giọng ông vẫn nói cho
đến giờ.
Chương 13
- Không phải chỉ tập hợp các sự kiện làm hại khách hàng của
tôi, thưa quý vị bồi thẩm, - ông ta tuyên bố, - không, làm hại khách hàng của
tôi thực ra chỉ có một sự kiện: đấy là cái xác ông bố già! Nếu đây là một vụ giết
người bình thường dù với tính chất nhỏ mọn, vô căn cứ, hoang đường của các sự
kiện khi xét mỗi sự kiện riêng biệt, chứ không phải tập hợp các sự kiện, các vị
sẽ bác bỏ lời buộc tội, ít ra các vị cũng nghi ngờ việc làm hại một đời người
chỉ dựa vào thành kiến với người đó, thành kiến mà hỡi ôi, người đó rất đáng phải
chịu! Nhưng đây không phải là vụ giết người bình thường, mà là giết cha! Điều
đó khiến người ta phải e sợ, tới mức độ ngay cả tính chất nhỏ mọn và vô căn cứ
hoàn toàn của những sự kiện buộc tội cũng trở nên không nhỏ mọn và vô căn cứ lắm,
ngay cả trong một đầu óc chẳng có chút thành kiến nào. Làm cách nào gỡ tội cho
một bị cáo như thế? Làm thế nào giết cha mà không bị trừng phạt - hầu như vô
tình, bản năng mỗi người đều cảm thấy trong lòng như vậy. Phải, làm đổ máu cha
thực là kinh khủng - máu của người sinh ra mình, yêu mình, máu của người đã
không tiếc đời vì ta, từ lúc ta còn bé đã lo lắng khi ta đau ốm, suốt đời đau
khổ vì hạnh phúc của ta, và chỉ sống báng những niềm vui, những kết quả của ta!
Ôi, giết một người cha như thế - không thể nào tưởng tượng được! Thưa quý vị bồi
thẩm, thế nào là người cha, người cha thực sự, tiếng ấy vĩ đại biến bao, cái
tên ấy mang một ý niệm vĩ đại biết chừng nào? Chúng ta vừa vạch rõ một phần thế
nào là người cha chân chính, người ấy phải như thế nào. Trong vụ án mà chúng ta
đang nghiên cứu, vụ án làm tâm hồn chúng ta đau đớn. Fedor Pavlovich Karamazov
đã quá cố tuyệt nhiên không xứng với khái niệm người cha, khái niệm vừa được
nói với trái tim chúng, ta. Đấy là một tai hoạ. Quả thật vậy, có người cha giống
như tai hoạ. Ta hãy xét tai hoạ đó kỹ hơn - không nên sợ gì hết, thưa quý vị bồi
thẩm, vì tầm quan trọng của quyết định sắp tới. Thậm chí bây giờ đặc biệt chúng
ta không được sợ và có thể nói là lảng tránh một ý niệm, như trẻ con hay những
phụ nữ nhút nhát, như vị công tố tài ba của chúng ta diễn tả rất đạt.
Nhưng trong bài nói nồng nhiệt của mình, đối thủ đáng kính của
tôi, và là đối thủ, ngay từ trước khi tôi thốt lên lời đầu tiên, đã mấy lần kêu
lên: "Không, tôi không để cho ai cãi cho bị cáo, tôi không nhường việc
bênh cãi bị cáo cho luật sư bào chữa từ Peterburg về, tôi là người buộc tội, chứ
không phải người bào chữa!". Ông đã mấy lần kêu lên như vậy, nhưng ông
quên không nhắc rằng suốt hai mươi ba năm trời bị cáo khủng khiếp vẫn biết ơn
chỉ vì một funt hạt dẻ của một người duy nhất đã gửi đến cho anh ta
thuở anh ta còn bé ở nhà cha, thì một người như thế không thể không nhớ trong
suốt hai mươi ba năm trời ấy, anh ta đi chân đất chạy "ở sân sau, chân
không ủng, quần chỉ có một chiếc cúc", theo lời của bác sĩ Gherxenstube
nhân ái. Ôi, thưa quý vị bồi thẩm, chẳng cần gì phải nhìn gần hơn "tai họa"
này, nhắc lại điều mà ai nấy đều biết. Khi đến nhà cha, khách hàng của tôi gặp
điều gì? Tại sao phải miêu tả khách hàng của tôi thành người không có tình cảm,
kẻ ích kỷ, con quái vật? Anh ta hung hãn, mọi rợ và cuồng liệt, bây giờ chúng
ta xử anh ta về điều đó nhưng ai có lỗi về số phận anh ta, ai có lỗi khi mặc dù
có những khuynh hướng tốt, có trái tim nhạy cảm cao quý, anh ta thâu nhận được
sự giáo dục lố lăng như vậy? Có ai mở mang trí óc cho anh ta không, anh ta có
được dạy các môn khoa học không, có ai ít nhiều yêu thương anh ta thuở thơ bé
không?
Khách hàng của tôi lớn lên dưới sự đùm bọc của Chúa Trời, tức
là như con thú hoang. Có lẽ anh ta khao khát thấy mặt cha sau thời gian xa cách
lâu dài, có lẽ một ngàn lần trước đó, khi nhớ lại thời thơ ấu trong giấc mơ,
anh ta xua đuổi những bóng ma đáng ghét đã mơ thấy thuở bé, và hết lòng mong muốn
miễn thứ cho cha và ôm lấy cha! Thế thì sao? Người ta đón anh ta chỉ bằng những
lời giễu cợt vô sỉ, sự ngờ vực và hoạnh họe vì tranh chấp tiền nong. Anh ta chỉ
như thấy những chuyện và những lề lối sinh hoạt khiến trái tim đảo lộn, hàng
ngày nốc cognac, rốt cuộc anh ta thấy cha dùng tiền của anh ta, con trai
ông, để chiếm đoạt người tình của anh ta. Ôi, thưa quý vị bồi thẩm, thật là tởm
lợm và tàn bạo! Vậy mà ông già ấy kêu ca với mọi người về sự vô lễ và hung bạo
của con, bôi nhọ anh ta trong xã hội, làm hại anh ta, vu khống anh ta, mua những
giấy vay nợ của anh ta để bỏ tù anh ta! Thưa quý vị bồi thẩm, những tâm hồn ấy,
những người bề ngoài nhẫn tâm, hung bạo và bất kham như khách hàng của tôi, thường
thường lại có tấm lòng hết sức hiền dịu, có điều không tỏ ra ngoài thôi. Đừng
cười, xin đừng cười ý tưởng của tôi! Vị công tố tài ba ban nãy vừa chế nhạo
khách hàng của tôi một cách tàn nhẫn, phơi bày ra rằng anh ta yêu Siller, yêu
"cái đẹp cao cả". Ở địa vị ông công tố, tôi sẽ không chế nhạo điều
đó! Vâng, những trái tim ấy, - ôi, hãy cho phép tôi bảo vệ những trái tim ấy,
ít khi người ta hiểu và hiểu sai lệch về nó, - những trái tim ấy thường khao
khát sự trìu mến, cái đẹp và sự công bằng, và chính dường như tương phản với sự
hung hãn, sự tàn bạo của mình, - nó khao khát một cách vô ý thức, chính là khao
khát. Bề ngoài đam mê và tàn bạo, họ có khả năng yêu đến đau khổ, chẳng hạn yêu
một người phụ nữ, và nhất thiết là yêu bằng tình yêu tinh thần cao cả. Một lần
nữa xin đừng cười tôi: đấy chính là điều thường hay xảy đến nhất trong những bản
tính như vậy! Họ chỉ không thể che giấu niềm đam mê của mình, đôi khi rất thô tạo,
- đây là điều làm ta sửng sốt, đây là điều người ta chú ý, còn nỗi lòng của họ
thì người ta không nhìn thấy. Trái lại, một niềm đam mê của họ được thỏa mãn
nhanh chóng, nhưng bên cạnh một người cao đẹp, con người có lẽ là thô lỗ và tàn
bạo ấy đi tìm sự đổi mới, tìm khả năng sửa chữa, trở nên tốt hơn, trở thành cao
cả và trung thực - "cao đẹp", mặc dù tiếng đó bị chế nhạo! Ban nãy tôi
vừa nói rằng tôi sẽ không cho phép đụng đến thiên tình sử giữa khách hàng của
tôi với tiểu thư Verkhovxeva. Tuy nhiên, có thể nói nửa chừng: ban nãy chúng ta
nghe không phải là lời khai, mà chỉ là tiếng thét của người phụ nữ điên cuồng
vì trả thù, và không phải nàng có quyển trách người ta phản bội, vì chính nàng
phản bội! Nếu như có ít nhiều thời gian để suy nghĩ thì hẳn nàng sẽ không đưa
ra lời chứng như thế. Ôi, đừng tin nàng, không, không phải "con quái vật"
là khách hàng của tôi, như nàng gọi! Một người yêu con người, bị đóng đanh câu
rút, khi sắp lên cây thập giá, đã nói: "Ta là kẻ chăn chiên nhân hậu, kẻ
chăn chiên nhân hậu dành tất cả tâm hồn vì con chiên của mình, và không một con
nào chết…" Chúng ta không giết chết linh hồn con người! Vừa rồi tôi hỏi:
thế nào là người cha, và kêu lên rằng đấy là một từ vĩ đại, một danh hiệu quý
giá. Nhưng thưa quý vị bồi thẩm, phải dùng danh từ một cách ngay thẳng, và tôi
xin phép gọi sự vật bằng chính tên của nó: Người cha như ông già Karamazov bị
giết không thể và không đáng được gọi là cha. Lòng yêu người cha không xứng
đáng là sự lố lăng, là không thể có được. Không thể tạo nên tình yêu từ chỗ
không có gì, chỉ có Chúa Trời mới sáng tạo từ cái không có gì. "Hỡi các
cha, chớ làm các con mình buồn phiền", - một sứ đồ viết xuất phát từ trái
tim rực lửa tình yêu của mình. Không phải vì tình yêu mà bây giờ tôi dẫn ra những
lời thiêng liêng ấy, tôi nhắc lại cho tất cả những người làm cha. Ai cho tôi
quyền dạy những người cha? Chẳng ai cả. Là một con người và công dân, tôi kêu gọi
- vivos voco(1)" Chúng ta sống trên trái đất không lâu, chúng ta làm
nhiều việc xấu và nói nhiều lời xấu xa. Bởi thế chúng ta sẽ nhân lúc thuận tiện
được giao tiếp với nhau đề nói với nhau một lời tốt đẹp. Tôi đang làm như thế:
trong lúc còn đang ở đây, tôi lợi dụng phút này. Chẳng phải vô cớ mà ý chí tối
cao dành cho chúng ta diễn đàn này: cả người Nga nghe chúng ta. Tôi nói không
phải chỉ với những người cha có mặt ở đây, tôi kêu lên với tất cả những người
cha: "Hỡi những người cha, đừng làm cho con cái mình buồn phiền". Trước
hết chính chúng ta hãy thực hiện lời răn của Chúa Kito, rồi hãy cho phép mình
đòi hỏi con cái chúng ta. Nếu không chúng ta không phải là cha, mà là kẻ thù của
con cái chúng ta, và chúng không phải là con cái chúng ta, mà là kẻ thù của
chúng ta, và chính chúng ta làm cho chúng dành kẻ thù của chúng ta! "Các
người đo người ta bằng cái gì thì người ta cũng đo các người bằng cái ấy",
- đấy không phải là tôi nói, mà là Phúc âm, hãy đo bằng cái thước mà người ta
dùng để đo các vị. Làm sao kết tội con cái, khi chúng ta đo chúng bằng cái thước
của chúng ta? Mới đây ở Phần Lan, một cô hầu gái bị nghi là đã bí mật sinh con.
Người ta bắt đầu theo dõi cô ta và trên gác trần, trong một góc sau đống gạch,
người ta tìm thấy chiếc rương, không ai biết là có chiếc rương đó, mở ra và tìm
thấy xác đứa trẻ sơ sinh bị cô ta giết. Cũng trong chiếc rương đó người ta còn
tìm thấy bộ xương của hai đứa hài nhi đã bị cô ta giết ngay lúc sinh ra, cô ta
nhận tội. Thưa quý vị bồi thẩm, đấy có phải là mẹ của các con mình không? Phải,
cô ta đã sinh ra chúng, nhưng cô ta có phải là mẹ chúng không? Có người nào
trong chúng ta dám dừng tiếng "mẹ" thiêng liêng để gọi cô ta không?
Chúng ta sẽ can đảm, thưa quý vị bồi thẩm, thậm chí sẽ táo tợn, thậm chí chúng
ta có trách nhiệm phải như thế vào lúc này, không sợ một số từ và ý niệm, như một
số bà thương gia Moskva sợ từ "kim loại" và "lưu huỳnh nóng"(2).
Không, trái lại chúng ta sẽ chứng minh rằng sự tiến bộ trong những năm gần đây
đụng chạm đến sự phát triển của chúng ta và sẽ nói thẳng: sinh con chưa phải là
cha, mà còn phải xứng đáng là cha. Ồ, cố nhiên vẫn còn một ý nghĩa khác, một
cách giải thích khác từ "cha", theo đó thì người cha, dù là con quái
vật, dù là kẻ bất lương với các con mình, vẫn cứ là cha, vì đã sinh ra con.
Nhưng ý nghĩ đó có thể nói là thần bí, tôi không hiểu bằng trí tuệ, mà chỉ có
thể tiếp nhận bằng niềm tin hay nói cho đúng hơn là bằng tín ngưỡng, tương tự
như nhiều điều khác mà tôi không hiểu, nhưng tôn giáo lệnh cho tôi phải tin.
Nhưng trong trường hợp như vậy, điều đó vẫn sẽ ở ngoài lãnh vực đời sống thực.
Trong lãnh vực đời sống thực, nó chẳng những có quyền của mình mà chính nó áp đật
những trách nhiệm vô cùng lớn lao: trong lãnh vực này, nếu chúng ta muốn là người
nhân đạo, cuối cùng là người cơ đốc, chúng ta có bổn phận và trách nhiệm chỉ
tin ở những gì được lý trí và kinh nghiệm chứng tỏ là đúng trải qua sự phân
tích, tóm lại là hành động hợp lý, chứ không phải là điên rồ như trong giấc ngủ
hay cơn mê sảng, để khỏi làm hại con người, để khỏi làm khổ và hủy hoại con người.
Khi ấy sẽ là việc làm chân chính của người theo đạo Kito, không chỉ là thần bí,
mà là hợp lý và đích thị là yêu thương con người… "
Đến đây những tràng vỗ tay rầm rộ nổ ra ở những dãy cuối
phòng, nhưng Fetiukovich xua tay như van công chúng đừng ngắt lời ông, để ông
nói nốt. Tất cả lập tức im bặt. Diễn giả nói tiếp:
"Thưa quý vị bồi thẩm, các vị có cho rằng những vấn đề
như thế bỏ qua con cái chúng ta, giả sử là ở tuổi thanh niên, giả sử là bắt đầu
biết suy xét hay không? Không, không thể được, và chúng ta sẽ không đòi hỏi
chúng đừng suy xét, điều đó không thể được! Bề ngoài của ông bố không xứng
đáng, đặc biệt là so với những ông bố khác xứng đáng của những đứa khác cùng tuổi
bất giác gợi cho thanh niên những câu hỏi khổ ải. Người ta sẽ trả lời những câu
hỏi ấy một cách khuôn sáo: "Ông già sinh ra anh, anh là máu của ông ta, vì
thế anh phải yêu ông ta". Chàng thanh niên bất giác nghĩ ngợi: "Ông ấy
có yêu tôi khi sinh ra tôi không, - anh ta tự hỏi, ngày càng ngạc nhiên hơn. -
chẳng lẽ ông ấy sinh ra tôi là vì tôi ư: ông ấy không biết tôi, thậm chí không
biết tôi là nam hay nữ vào lúc lửa dục bốc lên, có lẽ do rượu kích thích, có lẽ
ông ấy chỉ truyền cho tôi lòng ham thích say sưa, đấy là tất cả ân huệ của ông ấy…
Việc gì tôi phải yêu ông ấy, chỉ vì ông ấy đã sinh ra tôi mà suốt đời tôi phải
yêu ông ấy?" Ồ có lẽ các vị thấy những câu hỏi ấy là thô lỗ, tàn bạo,
nhưng đừng đòi hỏi trí tuệ trẻ tuổi phải tránh né cái không thể tránh né được:
"Đuổi thiên nhiên ra qua cửa lớn, nó sẽ vào cửa sổ" cái chính là
chúng ta sẽ không sợ "kim loại" và "lưu huỳnh nóng" và giải
quyết vấn đề theo lẽ phải và lòng yêu người, chứ không theo những khái niệm thần
bí. Giải quyết nó như thế nào? Như thế này: hãy để con trai đứng trước cha và hỏi
cha: "Cha ơi, hãy nói cho con biết: vì lẽ gì con phải yêu cha? Cha hãy chứng
minh rằng con phải yêu cha". Nếu ông bố có can đảm và khả năng trả lời và
chứng minh thì đấy là gia đình bình thường, thực sự, không chỉ dựa trên thiên
kiến thần bí, mà dựa trên cơ sở hợp lý, nhân đạo chặt chẽ. Ngược lại, nếu người
cha không chứng minh được, thì giá trị ấy cáo chung: ông không phải là cha, người
con trai được tự do và được quyền từ nay coi cha là người xa lạ với mình và thậm
chí là kẻ thù của mình. Diễn đàn của chúng ta, thưa quý vị bồi thẩm, phải là
trường học chân lý và những khái niệm lành mạnh!"
Đến đây những tràng vỗ tay mãnh liệt, gần như cuồng loạn ngắt
lời diễn giả. Cố nhiên, không phải cả phòng vỗ tay, nhưng dù sao vẫn là nửa
phòng. Các ông bố và bà mẹ vỗ tay. Phía trên nơi các bà ngồi, có tiếng gào
thét. Người ta vẫy khăn tay. Chánh án ra sức lắc chuông. Ông bực tức ra mặt về
cách xử sự của công chúng, nhưng không dám dọa "mời ra" khỏi phòng
như mới đây ông đã đe: vỗ tay và vẫy khăn hoan hô diễn giả có cả những quan chức
lớn ngồi ở phía sau, trên những ghế riêng, những ông già mặc áo đuôi tôm ngực
đeo đầy huân chương, thành thử khi tiếng ồn ào lắng dịu, chánh án chỉ dùng giọng
hết sức nghiêm khắc đe "mời ra" khỏi phòng, còn Fedorovich đắc thắng
và xúc động lại tiếp tục nói.
- Thưa quý vị bồi thẩm, quý vị vẫn nhớ cái đêm ghê rợn mà hôm
nay người ta nói đến rất nhiều, khi con trai vượt qua tường và vào nhà cha, mặt
đối mặt với kẻ đã sinh ra mình, đồng thời là kẻ thù, kẻ xúc phạm mình. Tôi cực
lực nhấn mạnh - lúc ấy anh ta chạy tới không phải vì tiền: buộc tội cướp của là
lố lăng, như tôi đã trình bày trước đây. Và anh ta xộc vào không phải để giết
người, ồ không; nếu anh ta chủ tâm mưu sát thì ít ra anh ta đã chuẩn bị sẵn vũ
khí, còn cái chày đồng anh ta vơ lấy theo bản năng, bản thân cũng chưa biết để
làm gì. Cho dù anh ta lừa dối cha bằng những mật hiệu, cho dù anh ta đã lọt vào
phòng cha, tôi đã nói rằng không một lúc nào tôi tin câu chuyện hoang đường ấy,
nhưng thôi được, hãy tạm giả định rằng có một
lúc tôi tin! Thưa quý vị bồi thẩm, tôi xin viện tất cả những
gì thiêng liêng ra thề với các vị rằng nếu đấy không phải là cha anh ta, mà là
người ngoài thì sau khi chạy qua các phòng, biết chắc rằng người phụ nữ ấy
không có trong nhà này, anh ta sẽ cắm cổ chạy đi, không làm hại gì kẻ tình địch
của mình, có thể sẽ đánh, xô đẩy người đó, nhưng chỉ thế thôi, anh ta chẳng còn
bụng dạ đâu, anh ta không có thời giờ, anh ta chỉ cần biết nàng ở đâu. Nhưng
người cha, người cha, ôi, tất cả chỉ tại đã nhìn thấy kẻ mà anh ta căm ghét từ
bé, kẻ thù của anh ta, kẻ xúc phạm anh ta, còn bây giờ là kẻ tình địch quái gở.
Lòng căm hờn dậy lên trong anh ta một cách vô tình, không kìm hãm nổi, không thể
suy xét được nữa: tất cả dậy lên trong một lúc. Đấy là cơn điên loạn, nhưng là
do tác động của thiên nhiên trả thù một cách mãnh liệt và vô ý thức cho những
quy luật muôn đời của mình, cũng như xưa nay trong thiên nhiên. Nhưng kẻ giết
người đã không giết, - tôi khẳng định điều đó, tôi lớn tiếng kêu gào điều đó, -
không, anh ta chỉ vung cái chày lên trong sự phẫn nộ ghê tởm, không muốn giết,
không biết rằng mình sẽ giết. Không có cái chày ác hại đó trong tay, có lẽ anh
ta chỉ đánh cha thôi, chứ không giết. Khi bỏ chạy, anh ta không biết ông già bị
anh ta đánh gục có bị giết chết không. Giết người như thế chỉ có thể quy vào tội
giết cha do thành kiến! Nhưng đấy có phải là giết người không, có thật là giết
người không, tôi lại kêu gọi quý vị lần nữa từ đáy lòng tôi! Thưa quý vị bồi thẩm,
chúng ta sẽ kết án bị cáo, và anh ta sẽ tự nhủ: "Nhưng con người này không
làm gì cho số phận của ta, không giáo dục dạy dỗ ta để ta tốt hơn lên, để làm
cho ta trở thành con người. Những người này không cho ta ăn uống, không đến
thăm ta khi ta trần như nhộng ở trong ngục thất, và bây giờ họ đưa ta đi tù khổ
sai. Ta với họ thế là xong nợ, bây giờ ta không nợ nần gì họ và đời đời kiếp kiếp
không nợ nần gì ai. Họ độc ác và ta cũng sẽ độc ác. Họ tàn bạo, ta cũng sẽ tàn
bạo". Anh ta sẽ nói như thế đấy, thưa quý vị bồi thẩm. Tôi xin thề rằng
quý vị kết án anh ta chỉ làm cho anh ta nhẹ mình, lương tâm anh ta sẽ nhẹ nhõm,
anh ta sẽ nguyền rủa máu do tay anh ta làm đổ ra, chứ không hối tiếc. Đồng thời
quý vị giết chết trong anh ta khả năng trở thành con người, bởi vì anh ta sẽ độc
ác và đui mù suốt đời. Nhưng phải chăng quý vị giết chết trong anh ta một cách
đáng sợ, ghê gớm, bằng một hình phạt khủng khiếp nhất có thể tưởng tượng ra,
nhưng để cứu vớt và phục hưng linh hồn anh ta mãi mãi? Nếu vậy, hãy trấn áp anh
ta bằng lòng nhân từ của quý vị! Quý vị sẽ nhìn thấy, sẽ nghe thấy tâm hồn anh
ta run lên và khiếp sợ: "Ta có chịu đựng nổi ơn huệ ấy không, ta có xứng với
sự yêu thương như thế không!" - anh ta sẽ kêu lên như vậy! Ôi, tôi biết,
tôi biết trái tim ấy, đấy là trái tim man rợ, nhưng cao quý, thưa quý vị bồi thẩm.
Nó sẽ bái phục công đức của quý vị, nó khao khát một hành động vĩ đại của tình
yêu, nó sẽ bốc cháy và phục sinh mãi mãi. Có những tâm hồn do sự hạn hẹp của
mình mà lên án cả thế gian. Nhưng hãy đè nén tâm hồn ấy bằng lòng nhân từ, hãy
bày tỏ lòng yêu thương nó, nó sẽ nguyền rủa việc làm xấu xa của mình, vì nó có
bao nhiêu man thiện. Tâm hồn ấy sẽ mở rộng ra và sẽ thấy Chúa Trời nhân từ biết
bao, người đời đẹp và công bằng xiết bao. Sự sám hối sẽ làm y khiếp sợ sẽ đè
nén y và cơ man nào là món nợ y phải mang từ nay. Khi ấy y sẽ không nói:
"Thế là xong mọi nợ nần", mà sẽ nói: "Ta có tội với tất cả mọi
người và càng không xứng đáng với mọi người". Nước mắt chan hoà vì ân hận
và cảm kích đến đau khổ day dứt, y sẽ kêu lên: "Mọi người tốt hơn ta, bởi
vì họ không muốn hại ta, mà cứu vớt ta!" "Ôi, các vị làm việc đó dễ
biết bao, đấy là hành động nhân từ, bởi vì không có bất cứ bằng chứng nào có thể
phần nào tin là thật, quý vị có nghe thấy tiếng nói trang nghiêm ấy từ thế kỷ
trước của lịch sử quang vinh của chúng ta không? Kẻ hèn mọn như tôi có phải nhắc
quý vị rằng toà án Nga không phải chỉ trừng phạt, mà còn cứu vớt con, người hư
hỏng không? Ở các dân tộc khác là câu chữ và sự trừng phạt thì mặc họ, còn ở
chúng ta là tinh thần và ý nghĩa, là sự cứu vớt và phục hưng những kẻ hư hỏng.
Nếu thế, nếu nước Nga và tòa án của nó thực sự là như thế thì nước Nga tiến
lên, và xin đừng dọa, ôi xin đừng dọa chúng tôi bằng cỗ xe tam mã phóng như
điên mà các dân tộc đều kinh tởm tránh ra! Không phải là cỗ xe tam mã điên cuồng,
mà là cỗ xe ngựa Nga uy nghi, trịnh trọng và bình tĩnh đi tới đích. Số phận
khách hàng của tôi ở trong tay quý vị, số phận sự thật Nga của chúng ta cũng ở
trong tay quý vị. Các vị sẽ cứu vớt nó, các vị sẽ bảo vệ nó, các vị sẽ chứng
minh rằng có người gìn giữ sự thật ấy, nó ở trong những bàn tay đáng tin cậy!"
Chú thích:
(1) Tôi kêu gọi những người đang sống! (tiếng Latin).
(2) Dưới địa ngục, tội nhân bị đổ "lưu huỳnh nóng"
và "nhựa nóng chảy" (N.D).
Chương 14
Nông dân tự bảo vệ mình
Fetiukovich kết thúc như vậy, và lần này sự hoan hỉ của người
nghe bùng ra như bão táp. Không thể tưởng tượng được chuyện kìm hãm sự hoan hỉ
đó: phụ nữ khóc, nhiều đàn ông cũng khóc, ngay cả hai quan chức lớn cũng rơi nước
mắt.
Chánh án cũng bị chinh phục, thậm chí chậm lắc chuông:
"Xúc phạm đến sự phấn khỏi đó là sự xúc phạm đến điều thiêng liêng" -
sau này các bà la lên như vậy. Bản thân diễn giả cũng cảm động thành thực. Đúng
lúc ấy Ippolit Kirinlovich của chúng ta đứng lên "đối đáp lại". Người
ta căm tức nhìn ông: "Sao? Thế là cái quái gì? Ông ta còn dám phản đối
ư?" - các bà rì rầm.
Nhưng cho dù các bà trên cả thế giới đều rì rầm, mà đứng đầu
bọn họ là bà vợ Ippolit Kirinlovich thì lúc ấy cũng không thể nào kìm giữ được
ông. Ông tái nhợt, ông run lên vì xúc động; những lời đầu tiên, những câu đầu
tiên ông thốt ra thậm chí khó hiểu; ông nghẹn thở, nói kém, lẫn lộn. Tuy nhiên,
lát sau ông sửa được. Nhưng trong lần phát biểu thứ hai này của ông tôi chỉ xin
dẫn ra mấy câu.
".… Người ta trách chúng tôi đã sáng tạo những tiểu thuyết.
Nhưng ông luật sư bào chữa làm cái gì, nếu không phải là một tiểu thuyết dựa
trên một tiểu thuyết? Chỉ còn thiếu mấy vần thơ nữa thôi. Fedor Pavlovich trong
khi chờ đợi người tình đã xé phong bì và ném xuống sàn. Thậm chí còn dẫn ra lời
ông ta đã nói trong trường hợp này. Đây chẳng phải là bài trường ca sao? Đâu là
bằng chứng rằng ông ta đã rút rên rỉ, ai nghe thấy ông ta nói? Thằng ngốc dở
người Xmerdiakov biến thành một nhân vật của Byron trả thù xã hội vì mình là
con hoang - đấy chăng phải là bài trường ca theo kiểu cách Byron sao? Còn anh
con trai đột nhập vào phòng cha, giết cha, nhưng đồng thời lại không giết, đấy
thậm chí không phải là tiểu thuyết, không phải là trường ca, mà là con nhân sư
đặt ra câu đố bí hiểm mà ông cố nhiên không giải được. Đã giết là đã giết, còn
lập luận như thế nghĩa là đã giết mà là không giết, - ai hiểu được kia chứ? Rồi
người ta lại cho chúng ta biết rằng diễn đàn của chúng ta là diễn đàn của chân
lý và khái niệm lành mạnh, và từ diễn đàn của "khái niệm lành mạnh"
này phát ra một tiên đề, kèm theo lời thề thốt, rằng gọi việc giết cha là một
thành kiến và mỗi người con sẽ phải hỏi cha mình: "Cha ơi, tại sao con phải
yêu cha?" thì chúng ta sẽ ra sao, còn gì là nền tảng của xã hội, gia đình
vứt đi đâu? Giết cha, các vị thấy chứ, đấy chỉ là "lưu huỳnh nóng" của
bà thương gia Moskva. Nhưng truyền thống quý giá nhất, thiêng liêng nhất trong
chức năng và tương lai của toà án Nga bị trình bày xuyên tạc và nông nổi chỉ để
đạt mục đích, chỉ để bào chữa cho cái không bào chữa được. "Ôi, hãy đè nén
anh ta bằng lòng nhân từ", - luật sư kêu lên, kẻ phạm tội cũng chỉ cần có
thế, ngày mai mọi người sẽ thấy hắn bị đè nén như thế nào! Luật sư có khiêm tốn
quá không khi ông chỉ đòi tha bồng cho bị cáo? Vì sao không xin đặt một khoản
trợ cấp cho tội giết cha, để lưu lại đời đời công trạng đó cho hậu thế và cho
giới trẻ? Người ta sửa đổi Phúc âm và tôn giáo: đấy tất cả là thần bí, còn
chúng ta chỉ có đạo Kito đích thực đã được kiểm chứng bằng sự phân tích của lý
trí và những khái niệm lành mạnh. Và người ta dựng lên trước chúng ta hình ảnh
giả mạo của Chúa Kito! Các người đo người ta bằng cái gì thi người ta cũng
đo các người bằng cái ấy, luật sư bảo vệ kêu lên và tức khắc rút ra kết luận
rằng Chúa Kito truyền cho ta đo bằng cái thước mà người ta dùng để đo chúng ta,
mà đấy là nói trên diễn đàn của chân lý và khái niệm lành mạnh! Mãi đến trước
khi phát biểu ta mới nhìn vào Phúc âm chỉ để tỏ ra rằng ta biết một tác phẩm
khá đặc sắc có thể thích dụng và gây nên hiệu quá nào đó, tuỳ theo mức cần thiết
tất cả là tuỳ theo mức cần thiết! Vậy mà Chúa Kito chính là dạy không được làm
thế, phải tránh làm như thế, bởi vì thế giới độc ác chính là vẫn làm như thế,
chúng ta phải tha thứ và chìa má ra, chứ không phải là ăn miếng trả miếng với
những kẻ xúc phạm chúng ta. Chúa Trời dạy chúng ta như thế, chứ không dạy cấm
con giết cha là một thành kiến. Từ trên diễn đàn của chân lý và khái niệm lành
mạnh, chúng ta sẽ không sửa chữa Phúc âm của Chúa chúng ta mà luật sư hạ cố chỉ
gọi là "người bị đóng đanh câu rút" trái với cả người Nga cgính giáo
vẫn kêu cầu: "Ngài là Chúa của chủng con!… "
Đến đây chánh án can thiệp và chặn lời diễn giá say mê, yêu cầu
ông đừng nói ngoa, nên có chừng mực v.v… và v.v… như các chánh án thường nói
trong những trường hợp như thế này.
Vả chăng phòng xử án không yên. Công chúng xôn xao, thậm chí
phẫn nộ kêu lên. Fetiukovich thậm chí không phản đối, ông chỉ đứng lên đặt tay
vào tim, dùng giọng bị xúc phạm nói mấy lời đầy tự hào. Ông chỉ giễu cợt lại
nói qua đến "tiểu thuyết" và "tâm lý" và tiện thể, ở một chỗ
ông chen vào: "Jupite, Ngươi tức giận vì vậy Ngươi không có lý", khiến
cho công chúng cười khúc khích tán thưởng, bởi vì Ippolit Kirinlovich chẳng giống
Jupite chút nào. Tiếp đó, đáp lại lời buộc tội trạng ông cho phép thế hệ thanh
niên giết cha, Fetiukovich đường hoàng tuyên bố rằng ông không phản đối. Còn về:
"hình ảnh giả mạo về Chúa Kito" và về việc ông không gọi Kito là Chúa
mà chỉ gọi là "người yêu nhân loại bị đóng đanh câu rút" và "điều
đó trái với đạo chính thống và không thể nói ra từ diễn đàn của chân lý và
"khái niệm lành mạnh" thì Fetiukovich nói xa xôi đến "sự ám chỉ",
rằng khi sửa soạn đến đây, ít ra ông đã dự tính rằng diễn đàn ở đây bảo cho ông
tránh được lời buộc tội "nguy hiểm đối với cá nhân ông với tư cách là công
dân và thần dân trung thành…". Nhưng nghe những lời ấy, chánh án chặn ông
lại, và Fetiukovich nghiêng mình, chấm dứt sự trả lời trong sự xôn xao tán thưởng
của cả phòng, Ippolit Kirinlovich, theo ý kiến các bà, "bị đè bẹp vĩnh viễn",
tiếp đó bị cáo được nói.
Mitia đứng lên, nhưng chàng nói ít. Chàng mệt kinh khủng, cả
về thể xác lẫn ảnh thần. Vẻ ung dung và mạnh mẽ lúc sáng khi chàng xuất hiện
trong phòng hầu như đã mất hẳn. Trong ngày hôm ấy, chàng dường như đã sống cả
cuộc đời, đã học và hiểu ra được điều gì hết sức quan trọng mà trước kia chàng
không hiểu. Tiếng nói của chàng yếu đi, chàng không gào lên như trước nữa. Lời
nói của chàng có cái gì mới lạ, cam chịu, thất bại và ủ rũ.
- Tôi còn biết nói gì nữa, thưa quý vị bồi thẩm! Đả đến lúc
xét xử tôi tôi cảm thấy bàn tay Chúa đặt lên mình tôi. Thế là xong đời kẻ phóng
đăng! Chẳng khác gì xưng tội với Chúa, tôi xin nói với quý vị: "Tôi không
có tội làm đổ máu cha tôi!". Lần cuối cùng tôi nhắc lại:" Tôi không
giết người". Tôi phóng đãng, những tôi yêu cái thiện. Lúc nào tôi cũng cố
gắng sửa chữa, nhưng tôi sống như con thú hoang. Cảm ơn ông biện lý, ông đã nói
với tôi nhiều điều mà tôi không biết, nhưng tôi không giết cha tôi, ông biện lý
lầm! Cảm ơn ông luật sư, tôi đã khóc khi nghe ông nói, nhưng không phải tôi giết
cha, không nên giả định như vậy. Đừng tin các bác sĩ, tôi hoàn toàn tỉnh táo,
chỉ có tâm hồn tôi đau đớn. Nếu ân xá cho tôi và tha tôi ra thì tôi sẽ cầu nguyện
cho các vị. Tôi sẽ trở nên tốt hơn, tôi hứa như vậy, hứa trước Chúa Trời. Nếu kết
án tôi thì tôi sẽ bẻ gấy cây kiếm của tôi trên đầu và hôn mảnh kiếm gẫy! Nhưng
hãy dung thứ cho tôi, đừng làm tôi mất Chúa Trời của tôi, tôi biết mình; tôi sẽ
kháng cáo. Lòng tôi đau đớn, thưa quý vị bồi thẩm… hãy tha thứ cho tôi!
Chàng hầu như ngã ngồi xuống ghế, tiếng nói của chàng tắc nghẹn,
câu cuối cùng chàng phải khó nhọc mới thốt lên được.
Rồi toà bắt đầu đạt câu hỏi và xin các bên kết luận. Tôi sẽ
không miêu tả chi tiết. Cuối cùng các bồi thẩm đứng lên, lui vào nghị án. Chánh
án rất mệt nói, vì thế ông căn dặn rất yếu ớt: "Xin các vị hãy vô tư, đừng
để lời lẽ hùng biện của luật sư ảnh hưởng đến mình, nhưng hãy cân nhắc, hãy nhớ
rằng quý vị gánh một trách nhiệm vĩ đại" v.v… và v.v… Các bồi thẩm lui
vào, phiên tòa tạm nghỉ. Có thể đứng lên, đi lại, trao đổi những ấn tượng đã
tích lũy, ăn tại quán ăn nguội. Muộn lắm rồi, đã ngót một giờ sáng, nhưng không
ai ra về. Tất cả đều rất căng thẳng và nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi. Tất cả đều chờ
đợi, im lặng đi, tuy rằng không phải mọi người đều như thế. Các bà sốt ruột
điên lên, nhưng trong lòng thì bình tĩnh: "Tha bổng là cái chắc". Tất
cả bọn họ đều chuẩn bị đón phút hoan hỉ chung. Tôi thừa nhận rằng cánh đàn ông
trong phòng có rất nhiều người tin chắc rằng thế nào cũng tráng án. Một số người
vui sướng, một số kẻ chau mày, một số khác ủ ê: họ không muốn tha bổng! Bản
thân Fetiukovich tin chắc ông thành công. Người ta vây quanh ông, ông tiếp nhận
lời chúc mừng, người ta xun xoe với ông.
- Có những sợi dây vô hình nối liền luật sư với bồi thẩm. -
ông nói trong một nhóm người, như người ta thuật lại sau này. - Hai bên ràng buộc
với nhau và tôi linh cảm thấy điều ấy ngay trong lúc nói. Ta cảm thấy nhưng sợi
dây liên ệể ấy, chúng tồn tại Chúng ta sẽ được, cứ yên tâm.
- Bây giờ những ông nông dân của chúng ta sẽ nói gì? - Một
người cau có thốt lên, đấy là một địa chủ to béo, mặt rỗ ở gần thành phố, tới gần
một nhóm người đang nói chuyện.
- Đấy không phải chỉ toàn nông dân, còn bốn viên chức nữa.
- Phải, còn viên chức nữa. - Một uỷ viên hội đồng Zemxtvô tới
gần, nói.
- Thế ông có biết Nazarev Prokhor Ivanovich không, ông thương
gia đeo huy chương ấy mà, bồi thẩm đấy.
- Sao?
- Thông minh lắm đấy.
- Thế mà cứ im lặng suốt.
- Im lặng càng hay thôi. Ông luật sư Peterburg kia không dạy
được ông ta đâu, chính ông ta sẽ dạy cho cả Peterburg cho mà xem. Mười hai người
con, gớm không!
- Xin hỏi, chẳng lẽ lại không tha bổng ư? - Một trong những
viên chức trẻ lớn tiếng nói trong một nhóm khác.
- Chắc chắn là tha bổng. - Một tiếng nói kiên quyết.
- Không tha bổng thì thật xấu hổ, nhục nhã! Gã viên chức kêu
lên. - Cho dù anh ta có giết đi nữa, những người cha như thế nào mới được chứ! Với
lại anh ta trong trạng lái cuồng loạn như vậy, thật ra anh ta có thể chỉ vung
cái chày, thế là ông ta ngã liền… Tệ cái là người ta lại lôi thằng hầu vào đây.
Quả là câu chuyện buồn cười. Tôi mà là luật sư thì tôi nói thẳng: anh ta giết,
nhưng không có tội, thôi mặc xác các vị.
- Thì chính ông ấy nói như thế, chỉ không có mặc xác các vị
thôi.
- Không, Mikhail Xemenich, ông ta gần như nói thế. - tiếng
người thứ ba phụ hoạ.
- Này các vị ạ, vào tuần ân chay lớn, ở vùng chúng tôi, người
ta đã tha bổng một nữ diễn viên đã cắt cố vợ chính thức của người tình cô ta.
Nhưng chưa cắt đứt hẳn.
- Đằng nào cũng thế thôi, cũng thế thôi, đã bắt đầu cắt.
- Ông ta nói về con cái như thế nào? Tuyệt quá.
- Tuyệt.
- Còn vẻ sự thần bí nữa, về sự thần bí nữa, sao hả?
- Thôi không nói về chuyện thần bí nữa. - Một người nào nữa
kêu lên. - Hãy xem Ippolit ấy, số phận ông ta từ hôm nay ra sao!
- Ngày mai bà vợ sẽ móc mắt ông ta ra về chuyện Mitia.
- Bà ta có đây không?
- Có đây để làm gì? Bà ta mà có đây thì bà ta móc mắt luôn.
Bà ta ngồi nhà, đau răng. Hê-hê-hê!
- Hê-hê-hê!
Trong nhóm thứ ba:
- Nhưng có lẽ Mitia sẽ được tha bổng.
- Thể thì gay, ngày mai anh ta sẽ phá tan tành quán "thủ
đô", sẽ say sưa mười ngày liền.
- Đúng thật là con quỷ, không thể thiếu quý được, nó còn ở
đâu, nếu không phải ở đây.
- Thưa quý vị, cứ cho là hùng biện đi. Nhưng không thể đập bể
đầu cha mà không bị trừng phạt. Nếu không thì chúng ta sẽ đi đến đâu?
- Cỗ xe, cỗ xe, các vị nhớ chứ?
- Phải, người ta biến cỗ xe tải thành xe trận.
- Ngày mai người ta lại biến xe trận thành xe tải, "tuỳ
theo sự cần thiết, tất cả là tuỳ sự cần thiết".
- Người ta trở nên láu cá. Ở nước Nga chúng ta có sự thật không,
thưa quý vị, có hay không?
Chuông lại rung. Các hội thẩm bàn bạc đúng một giờ, không
hơn, không kém. Im lặng như tờ, chỉ có công chúng lại ngồi xuống. Tôi nhớ, các
bồi thẩm vào phòng. Rốt cuộc đã kết thúc! Tôi sẽ không nêu câu hỏi từng điểm một,
vả lại tôi cũng quên mất rồi. Tôi chỉ nhớ câu trả lời thứ nhất và câu hỏi chính
thức của chánh án là "có giết người với mục đích cố ý cướp của
không?" (văn bản tôi không nhớ). Tất cả lặng đi. Người đứng đầu đoàn bồi
thẩm, chính là ông viên chức trẻ nhất, lớn tiếng tuyên bố rành rọt trong bầu
không khí yên lặng như tờ:
- Có, có tội!
Tiếp đó, về tất cả mọi điểm đều như vậy: có tội, không mảy
may giảm nhẹ! Thật không ai ngờ, ít ra hầu hết mọi người đều tin là sẽ được giảm
nhẹ. Trong phòng vẫn im ắng như tờ, đúng là mọi người đều sững sờ, cả những người
khát khao trừng phạt, cả những người khát khao tha bổng. Nhưng đấy chỉ là những
phút đầu. Rồi đến sự hỗn loạn khủng khiếp. Trong nam giới nhiều người hể hả. Một
số người thậm chí xoa tay, không che giấu sự vui sướng. Những người bất bình dù
có vẻ chán nản, nhún vai, thì thầm, nhưng dường như vẫn chưa hiểu. Nhưng lạy
Chúa tôi, chuyện gì xảy ra với các bà của chúng ta! Tôi nghĩ rằng họ nổi loạn.
Thoạt đầu họ dường như không tin tai mình, bỗng nhiên, có những tiếng kêu vang
khắp phòng: "Thế là thế nào? Còn chuyện gì nữa thế này?". Họ bật dậy.
Chắc họ tưởng lúc này vẫn có thể thay đổi và làm lại tất cả. Lúc ấy Mitia đứng
phắt dậy và gào thét bằng giọng xé lòng xé ruột, giang hai tay về phía trước.
- Thề có Chúa và toà phán xét cuối cùng của Chúa, tôi không
làm đổ máu cha tôi! Katia, tôi tha thứ cho cô! Hỡi các em và bạn bè, hãy thương
người phụ nữ kia!
Chàng không nói hết đã khóc ầm lên, khóc ghê gớm, giọng không
còn là giọng của mình nữa, mà là giọng mới mẻ, bất ngờ, chỉ có Chúa biết được tại
sao chàng có cái giọng như thế. Trên lan can ở phía trên, tận cuối phòng vang
lên tiếng rú thất thanh của phụ nữ: đấy là Grusenka. Nàng đã cầu van ai đó và
được vào phòng xử từ trước cuộc tranh cãi tại toà. Người ta đưa Mitia ra.
Việc tuyên án để sang ngày mai. Cả phòng đứng dậy trong sự hỗn
độn, nhưng tôi không chờ và không nghe nữa. Tôi chỉ nhớ mấy câu khi đã ở bậc
thèm lồi ra.
- Hai mươi năm hầm mỏ.
- Không ít hơn đâu.
- Phải, cánh mugich của chúng ta đã tự bảo vệ mình.
- Và đã kết liễu đời Mitenka của chúng ta!
Phần kết - Chương 1
Dự tính cứu Mitia
Sang ngày thứ năm sau phiên toà xử Mitia, sáng sớm, mới chín
giờ, Aliosa đã đến Ekaterina Ivanovna để thỏa thuận dứt khoát về một việc hết sức
quan trọng đối với cả hai và ngoài ra còn có một việc khác được uỷ thác. Nàng
ngồi nói chuyện với anh ngay trong căn phòng mà trước đây nàng đã tiếp
Grusenka; bên cạnh, trong một phòng khác, Ivan Fedorovich lên cơn sốt nằm mê
man. Ngay sau việc xảy ra ở toà án, nàng cho đưa Ivan Fedorovich đã ngất đi về
nhà mình, bất chấp mọi lời dị nghị không tránh khỏi và sự chê trách của dư luận.
Một trong hai người họ hàng ở với nàng ngay sau phiên tòa lập tức về Moskva,
người kia ở lại. Nhưng cho dù cả hai ra đi, Ekaterina Ivanovna cũng sẽ không
thay đổi quyết định và sẽ ở lại chăm sóc người ốm, ngồi bên chàng suốt ngày
đêm. Varvinsky và Gherxenstube chữa cho chàng; vị bác sĩ Moskva ra về, không chịu
cho biết bệnh sẽ kết thúc ra sao. Các bác sĩ còn lại tuy khuyến khích Ekaterina
Ivanovna và Aliosa, nhưng rõ ràng họ chưa thể cho một hy vọng chắc chắn. Aliosa
đến thăm anh ngày hai lần. Nhưng lần này anh có việc đặc biệt phiền toái, anh
linh cảm thấy sẽ rất khó nói, trong khi đó anh rất vội: sáng hôm ấy anh có việc
khác khẩn thiết ở một chỗ khác và phải gấp lên. Hai người nói chuyện đã mười
lăm phút. Ekaterina Ivanovna mặt tái nhợt, mệt lắm, đồng thời kích động một
cách bệnh hoạn: nàng linh cảm thấy lần này Aliosa đến nàng có việc gì.
- Về cách giải quyết việc ấy thì chú đừng lo. - Nàng nói với
vẻ bền bỉ kiên quyết. - Dù thế nào đi nữa thì anh ấy sẽ phải chọn lối thoát ấy:
anh phải chạy trốn. Con người bất hạnh ấy, người anh hùng ấy của danh dự và
lương tâm không phải là Dmitri Fedorovich, mà là người đang nằm sau cánh cửa
này và hy sinh bản thân mình cho anh ruột. - Katia nói thêm, mắt sáng quắc. - Ivan
đã cho tôi biết từ lâu toàn bộ kế hoạch chạy trốn. Chú biết không, Ivan đã tìm
mối manh… Tôi đã cho chú biết một phần… Chú ạ, nhiều phần chắc là chuyện ấy sẽ
xảy ra vào chặng thứ ba khi đoàn tù khổ sai được đưa đi Sibir. Ôi, đến đấy còn
xa lắm. Ivan Fedorovich đã đến gặp người thủ trưởng chặng thứ ba. Chỉ chưa biết
người cầm đầu đoàn tù, vả lại cũng không thể biết trước được. Ngày mai có lẽ
tôi sẽ cho chú xem toàn bộ kế hoạch tỉ mỉ mà Ivan đã để lại cho tôi trước khi mở
phiên toà, để phòng xa… Chú nhớ chứ, đấy chính là lần buổi tối chú bắt gặp
chúng tôi cãi nhau: anh đang xuống cầu thang, còn tôi, thấy chú, tôi bắt anh
quay trở lại - chú nhớ chứ? Chú biết vì sao hồi ấy chúng tôi cãi nhau không?
- Không, tôi không biết. - Aliosa nói.
- Cố nhiên, hối đó Ivan giấu chú: chính vì kế hoạch chạy trốn
ấy. Ba ngày trước đó anh ấy cho tôi biết tất cả những điểm chính - từ đó chúng
tôi bắt đầu cãi nhau và cãi nhau suốt ba ngày. Chúng tôi, cãi nhau là vì khi
Ivan tuyên bố với tôi rằng nếu Dmitri Fedorovich bị kết án, Dmitri sẽ trốn ra
nước ngoài cùng với con kia thì tôi bỗng nổi khùng lên, chính tôi không thể nói
cho chú biết là vì sao, bởi chính tôi cũng chẳng biết vì sao… Ôi, cố nhiên là
vì con súc sinh kia, vì con súc sinh kia mà tôi nổi cáu, chính là vì nó cùng Dmitri
Fedorovich trốn ra nước ngoài! - Ekaterina Ivanovna kêu lên, môi run run vì tức
giận. - Thấy tôi nổi cáu vì con kia, Ivan Fedorovich lập tức nghĩ rằng tôi ghen
với Dmitri về nó tức là tôi vẫn yêu Dmitri. Thế là nảy ra cuộc cãi cọ đầu tiên.
Tôi không muốn thanh minh, tôi không thể xin lỗi; tôi đau lòng vì người như
Ivan có thể ngờ tôi vẫn yêu người kia như trước Vậy mà trước đó đã lâu, chính
tôi đã nói thẳng với Ivan rằng tôi không yêu Dmitri, mà chỉ yêu anh ấy thôi! Chỉ
vì tức tối con kia mà tôi cáu cả với anh ấy. Ba ngày sau, vào buổi tôi chú đến,
Ivan mang đến cho tôi một phong bì niêm phong để tôi mở ra đọc nếu có chuyện gì
xảy ra với anh ấy. Ôi, anh ấy nhìn thấy trước bệnh của mình! Anh ấy bộc lộ với
tôi rằng trong phong bì có kế hoạch chi tiết về việc trốn tù và nếu anh ấy chết
hay ốm nặng thì một mình tôi cứu Mitia. Anh ấy để lại luôn tiền cho tôi, ngót
mười ngàn rúp, chính là số tiền mà ông biện lý đã được một người nào đó cho biết
anh ấy gửi đi để đổi và ông ta đã nhắc đến khi phát biểu. Một điều khiến tôi rất
đỗi sửng sốt là Ivan Fedorovich vẫn ghen với tôi và vẫn tin chắc rằng tôi yêu
Mitia, nhưng vẫn không từ bỏ ý nghĩ cứu anh và giao cho chính tôi thực hiện việc
đó! Ôi, đấy là sự hy sinh! Không, chú không hiểu hết được sự hy sinh như thế
đâu, Alecxei Fedorovich ạ! Tôi muốn sụp xuống chân anh ấy tỏ lòng tôn kính,
nhưng tôi bỗng nghĩ rằng anh ấy sẽ coi đấy là tôi vui sướng vì Mitia được cứu
thoát (nhất định anh ấy sẽ nghĩ như vậy!). Tôi bực tức chỉ vì anh ấy có thể có
ý nghĩ bất công đến như thế, thành thử đáng lẽ hôn chân anh ấy, tôi lại gây sự!
Ôi, tôi thật khốn khổ! Tính tôi nó như thế, tính nết kinh khủng, khốn khổ! Ôi,
rồi chú sẽ thấy: tôi sẽ làm cho anh ấy đi đến chỗ bỏ tôi theo một phụ nữ khác
mà với người đó anh ấy dễ sống hơn, như Dmitri, nhưng khi ấy… Không, khi ấy tôi
sẽ không chịu đựng nổi, tôi sẽ tự sát! Khi chú đến, còn tôi gọi chú và bảo anh ấy
quay trở lại, anh ấy cùng vào với chú thì tôi tức giận vì luồng mắt căm thù,
khinh miệt của anh ấy nhìn tôi đến nỗi chú nhớ chứ, tôi thét lên rằng anh ấy,
chỉ mình anh ấy cả quyết với tôi rằng anh Dmitri là kẻ giết người! Tôi cố
ý nói ra để chọc tức Ivan lần nữa, chứ anh ấy chưa bao giờ cả quyết với tôi như
thế, mà trái lại, chính tôi nói chắc với anh ấy điều đó! Ôi, tất cả là tại tính
điên rồ của tôi! Chính là tôi, tôi đã chuẩn bị cái cảnh đáng nguyền rủa ấy tại
tòa! Ivan muốn chứng minh với tôi rằng anh ấy cao quý và mặc dù tôi yêu anh của
anh ấy, anh ấy vẫn không hãm hại anh mình để trả thù vì ghen tuông. Vì thế mà
anh ấy ra tòa… Tôi gây ra tất cả, lỗi chỉ tại tôi!
Chưa bao giờ Katia thú nhận như thế với Aliosa và anh cảm thấy
lúc này nàng đau khổ không thể chịu đựng nổi, khi trái tim kiêu hãnh nhất đau đớn
tiêu diệt sự kiêu hãnh của mình và rơi xuống, chịu thua vì đau xót. Ôi, Aliosa
còn biết một nguyên nhân nữa của nỗi đau khổ hiện nay, mặc đù nàng hết sức giấu
anh trong tất cả những ngày sau khi Mitia bị kết án. Nhưng không hiểu sao anh sẽ
quá đau lòng nếu như nàng quyết nằm sấp mặt xuống đất và lúc này, giây lát này,
tự nàng nói với anh về nguyên nhân ấy. Nàng đau khổ về "sự phản bội"
của mình tại toà, và Aliosa linh cảm thấy rằng lương tâm thôi thúc nàng nhận lỗi
chính là nhận lỗi trước anh, Aliosa, khóc lóc, kêu gào, loạn thần kinh, đập đầu
xuống sàn. Nhưng anh sợ giây lát ấy và muốn tha thứ cho người phụ nữ đang đau
khổ. Việc mà anh được giao phó đến đây càng khó khăn hơn. Nàng lại bắt đầu nói
về Mitia.
- Không sao, không sao, đừng sợ cho Mitia! - Katia lại bắt đầu
một cách ương bướng và gay gắt, - Mitia chỉ như thế một lúc thôi, tôi biết anh ấy,
tôi biết quá rõ trái tim ấy. Hãy tin chắc rằng Mitia đồng ý đi trốn. Cái chính
là không phải bây giờ, sẽ đến lúc Mitia quyết định. Đến lúc ấy Ivan Fedorovich
sẽ bình phục và tự mình sẽ khu xử hết, thành thử tôi sẽ chẳng phải làm gì cả. Đừng
lo, Mitia sẽ bằng lòng chạy trốn. Vả lại Mitia ưng thuận thôi: Mitia có thể nào
bỏ lại ả kia của mình? Người ta sẽ không cho ả theo đến chỗ khổ sai, vậy thì tại
sao anh ta lại không bỏ trốn? Cái chính là anh ta sợ chú, sợ chú không tán
thành việc trốn tù về phương diện đạo đức, nhưng chú phải rộng lòng cho phép
anh ta trốn tù, nếu sự phê chuẩn của chú cần thiết đến vậy, - Katia nói thêm một
cách độc địa. Nàng im lặng một lúc và nhếch mép cười.
- Anh ta nói về thánh ca, - nàng lại bắt đầu, - về cây thập
giá mà anh ta phải mang, về bổn phận nào đó, tôi nhớ Ivan Fedorovich đã nói nhiều
với tôi về điều đó, giá chú biết anh ấy nói như thế nào! - Katia bỗng kêu lên với
tình cảm mãnh liệt; - giá chú biết lúc đó Ivan yêu người anh bất hạnh biết chừng
nào khi anh ấy nói với tôi về Mitia, mà có lẽ cùng rất căm ghét Mitia! Còn tôi,
tôi đã nghe anh ấy kể và khóc, nhếch mép cười kiêu hãnh! Ôi, thú vật! Tôi là
thú vật,! Tôi đã làm cho anh ấy phát sốt phát nóng! Còn kẻ bị kết án, chẳng lẽ
anh ta sẵn sàng chịu đau khổ sao. - Katia tức giận kết luận. - Kẻ như thế có biết
đau khổ không? Những kẻ như Mitia không bao giờ biết đau khổ.
Những lời đó chứa đựng lòng căm thù, sự khinh miệt ghê tởm
nào đó. Thế nhưng nàng đã phản bội Mitia. "Phải thôi, có lúc nàng cảm thấy
rất có lỗi với anh Mitia, nên có lúc nàng căm thù, anh ấy" - Aliosa nghĩ bụng.
Anh muốn đấy chỉ là "có lúc". Trong những lời cuối cùng của Mitia,
anh nghe thấy sự thách thức, nhưng không nêu ra.
- Hôm nay tôi mời chú lại để chú hứa với tôi sẽ thuyết phục
Mitia. Hay theo ý chú, chạy trốn cũng là không ngay thẳng, không dũng cảm hay
là… không đúng tinh thần Kito giáo, phải thế không? - Katia nói thêm, càng có vẻ
khiêu khích hơn.
- Không, không sao. Tôi sẽ nói hết với Mitia… - Aliosa ấp
úng. - Anh ấy mời chị hôm nay vào thăm anh ấy! - Anh bỗng nói thẳng tuột, kiên
quyết nhìn vào mắt nàng. Nàng giật mình và hơi nhích ra xa anh một chút trên đi
văng.
- Tôi à?… Như thế có thể được không? - Nàng lắp bắp, mặt tái
đi.
- Có thể và cần phải như vậy! - Aliosa vẫn bền bỉ và tươi tỉnh
hẳn lên. - Anh ấy rất cần chị, chính là bây giờ. Tôi sẽ không nói với chị về
chuyện đó và làm chị đau khổ quá sớm, nếu không cần thiết. Anh ấy ốm, như người
mất trí, luôn luôn đòi mời chị đến. Anh ấy mời chị đến không phải để giải hoà,
miễn là chị đến, đứng ở ngưỡng cửa. Từ hôm ấy có nhiều điều đã xảy ra với anh ấy.
Anh ấy hiểu là anh ấy có lỗi vô cùng với chị. Anh ấy không muốn xin tha thứ:
"Không thể tha thứ cho tôi được" - chính anh ấy nói, chỉ cần chị đến
đứng ở ngưỡng cửa…
- Chú nói với tôi đột ngột quá… - Katia lắp bắp. - Trong tất
cả những ngày qua tôi vẫn cảm thấy chú sẽ đến đưa ra đề nghị ấy… Tôi vẫn biết rằng
anh ấy sẽ mời tôi đến!… Không thể được đâu!
- Không thể được nhưng chị vẫn cứ làm đi. Chị nên nhớ rằng lần
đầu tiên anh ấy sửng sốt vì đã xúc phạm chị như thế, lần đầu tiên trong đời,
trước kia chưa bao giờ anh ấy hiểu điều đó đầy đủ như vậy! Anh ấy nói: nếu như
cô ấy không chịu tới thì "bây giờ tôi sẽ suốt đời không có hạnh phúc".
Chị nghe đây: một người đi tù khổ sai hai mươi năm mà còn dự tính sẽ có hạnh
phúc, đáng thương không? Chị nghĩ xem: chị đến thăm một người vô tội bị huỷ hoại
cuộc đời, - Aliosa buột ra với giọng thách thức, - tay anh ấy sạch sẽ, không hề
vấy máu! Vì những đau khổ vô lượng của anh ấy trong tương lai, chị nên đến thăm
anh ấy! Chị hãy đến dẫn dắt anh ấy trong tối tăm… hãy đến đứng trên ngưỡng cửa,
chỉ thế thôi. Chị phải làm, phải làm việc đó! - Aliosa kết luận, nhấn rất mạnh
tiếng "phải làm".
- Phải làm, nhưng tôi không thể làm được, - Katia dường như rền
rĩ. - Anh ấy sẽ nhìn tôi… tôi không thể chịu đựng nổi.
- Mắt anh chị phải gặp nhau. Nếu bây giờ chị không quyết thì
suốt đời chị sẽ sống thế nào?
- Thà đau khổ suốt đời còn hơn.
- Chị phải đến, chị phải đến. - Aliosa lại nhấn mạnh một cách
khắc nghiệt.
- Nhưng tại sao lại hôm nay, tại sao lại ngay bây giờ?… Tôi
không thể bỏ người ốm ở lại được…
- Chị có thể đến một phút, chỉ một phút thôi. Nếu chị không đến,
đêm nay Mitia có thể lên cơn sốt mê sảng. Tôi không nói dối đâu, chị nên thương
anh ấy.
- Chú nên thương tôi. - Katia trách móc chua xót và òa khóc.
- Vậy là chị sẽ đến - Aliosa cương quyết nói khi thấy nhưng
giọt nước mắt của nàng. - Tôi sẽ đi nói với anh ấy rằng bây giờ chị sẽ đến.
- Không, nhất quyết đừng nói! - Katia sợ hãi kêu lên. - Tôi sẽ
đến, nhưng chú đừng nói trước với anh ấy, bởi vì tôi sẽ đến, nhưng có lẽ sẽ
không vào… Tôi vẫn chưa biết… tiếng nói của nàng đứt đoạn. Nàng thở nặng nhọc.
Aliosa đứng dậy ra về.
- Ngộ nhỡ ở đấy tôi sẽ còn gặp người nào nữa thì sao? - Nàng
bỗng khẽ nói, mặt lại tái nhợt đi.
- Cần làm sao để chị không gặp ai cả. Sẽ không có ai đâu, chị
nên đi ngay đi. Chúng tôi sẽ đợi. - Aliosa khăng khăng kết luận và ra khỏi
phòng.
Chương 2
Trong chốc lát sự dối trá thành sự thật
Anh vội đến bệnh viện, bây giờ Mitia nằm ở đấy. Sang ngày thứ
hai sau khi toà phán quyết, anh mắc bệnh sốt nóng thần kinh và được đưa vào bệnh
viện thành phố, khu điều trị người bị giam. Nhưng theo yêu cầu của Aliosa và
nhiều người khác (Khokhlakova, Liza và vân vân), bác sĩ Varvinsky không để
Mitia ở chỗ những người bị bắt giam, mà cho nằm riêng, trong căn phòng trước
kia Xmerdiakov đã nằm. Kể ra ở cuối hành lang có lính gác, cửa sổ có chấn song
sắt, và Varvinsky có thể yên tâm về ân huệ không hợp pháp lắm của mình, nhưng
ông ta còn trẻ, tốt bụng và giàu lòng trắc ẩn. Ông ta hiểu một người như Mitia
đột nhiên lọt vào đám những kẻ giết người và bịp bợm thì thật khổ tâm và trước
hết phải tập cho quen. Họ hàng và người quen đến thăm phải có phép của bác sĩ,
cả giám ngục, cả cảnh sát, tất cả đều trong tầm tay. Nhưng trong những ngày ấy
chỉ có Aliosa và Grusenka đến thăm. Hai lần Rakitin tìm cách vào thăm: nhưng
Mitia nài nỉ Varvinsky đừng cho vào.
Aliosa thấy anh ngồi trên giường, mặc áo choàng bệnh viện,
hơi sốt, đầu quấn chiếc khăn nhúng nước pha giấm. Mitia nhìn Aliosa bước vào bằng
cái nhìn vu vơ, dường như nghiền ngẫm điều gì một cách đau khổ và gay go, quên
người mới vào. Nếu chàng ra khỏi trạng thái trầm tư và bắt đầu nói thì bao giờ
cũng là bất ngờ và nhất định không phải về điều mà chàng thực sự cần nói. Đôi
khi chàng đau khổ nhìn em. Gặp Grusenka, chàng dường như thoải mái hơn gặp
Aliosa. Thực ra chàng hầu như không nói gì với nàng, nhưng hễ nàng vào, mặt
chàng bừng lên niềm vui sướng. Aliosa lẳng lặng ngồi xuống cạnh anh trên giường.
Lần này chàng lo lắng chờ Aliosa, nhưng không dám hỏi gì cả. Chàng cho rằng
Chúa không đời nào chịu đến, đồng thời chàng cảm thấy nếu nàng không đến thì
chàng sẽ không thể nào chịu đựng nổi. Aliosa hiểu tình cảm của anh.
- Trifon Borisovich, - Mitia vội vã nói, - nghe nói đã làm
tan hoang cả quán trọ của y: y lật cả sàn nhà, bóc ván, phá nát cả "lan
can" để tìm của, chính là số tiền ngàn rưởi mà viên biện lý nói là tôi giấu
ở đó. Nghe nói về đến nhà là hắn làm ngay. Đáng đời thằng bịp bợm! Hôm qua người
lính gác ở đây kể cho tôi, anh ta từ nơi ấy đến.
- Này, - Aliosa thốt lên, - chị ấy sẽ đến, nhưng không biết
khi nào, có lẽ hôm nay, có lẽ một vài ngày nữa, tôi không biết, nhưng sẽ tới, sẽ
tới, đấy là điều chắc chắn.
Mitia giật mình, muốn thốt lên điều gì, nhưng im lặng. Tin ấy
tác động mạnh đến chàng. Rõ ràng chàng đau khổ muốn biết chi tiết cuộc nói chuyện,
nhưng lại sợ hỏi lúc này: có cái gì tàn bạo và khinh miệt từ Katia như mũi dao
đâm vào chàng lúc này.
- Ngoài ra chị ấy nói: nhất định tôi sẽ làm cho lương tâm anh
ấy yên ổn về việc chạy trốn. Nếu đến lúc ấy Ivan không bình phục thì chính tôi
sẽ lo liệu.
- Chú đã nói chuyện ấy với tôi rồi. - Mitia trầm ngâm nói.
- Còn anh đã kể lại với Grusa. - Aliosa nhận xét.
- Phải. - Mitia thú nhận, - sáng hôm nay Grusenka sẽ không đến,
- chàng rụt rè nhìn em. - Chiều nàng mới đến. Hôm qua khi tôi vừa nói với nàng
rằng Katia sẽ hành động, nàng im lặng, rồi bĩu môi. Nàng chỉ thì thầm: "Mặc
nó!" Nàng hiểu đây là việc quan trọng. Tôi không dám thử hơn nữa. Hình như
bây giờ nàng hiểu rằng Katia yêu Ivan, chứ không phải yêu tôi.
- Thật ư? - Aliosa buột ra.
- Có lẽ, mà cũng không phải như thế. Có điều sáng nay nàng sẽ
không đến. - Mitia vội vã cho biết lần nữa. - Tôi giao cho nàng một việc… Chú
này, Ivan hơn tất cả chúng ta. Chú ấy phải sống, chứ không phải chúng ta. Chú ấy
sẽ khỏe lại.
- Anh tưởng tượng xem, Katia tuy lo sợ cho anh ấy, nhưng hầu
như không nghi ngờ gì rằng anh ấy sẽ bình phục. - Aliosa nói.
- Như vậy là nàng tin chắc rằng Ivan sẽ chết. Vì sợ hãi nên
nàng mới tin là chú ấy sẽ khỏi.
- Anh ấy tạng người khỏe mạnh. Tôi cũng rất hy vọng rằng anh ấy
sẽ bình phục. - Aliosa nói với vẻ lo ngại.
- Phải, chú ấy sẽ bình phục. Nhưng nàng tin chắc rằng chú ấy
sẽ chết. Nàng đau xót nhiều…
Bắt đầu im lặng. Mitia đau khổ vì một cái gì rất quan trọng.
- Aliosa, tôi yêu Grusenka lắm lắm. - Chàng bỗng thốt lên bằng
giọng run run đầy nước mắt.
- Người ta không cho chị ấy đến đây đâu. - Aliosa nói ngay.
- Tôi còn muốn nói với chú điều này nữa, - Mitia bỗng nói bằng
giọng âm vang, - nếu ở dọc đường hay ở đấy người ta đánh tôi thi tôi sẽ không
chịu đâu, tôi sẽ giết và sẽ bị bắn. Mà nhưng hai mươi năm trời! Ở đây chúng đã
bắt đầu xưng mày tao với tôi anh gác gọi tôi là mày. Tôi nằm đây và suốt đêm
tôi tự xét mình: tôi chưa sẵn sàng! Tôi không đủ sức tiếp nhận! Tôi muốn hát
"thánh ca", tôi không thể chịu nổi lính gác xưng mày tao với tôi. Vì
Grusa tôi chịu đựng hết, chịu đựng hết… trừ việc đánh đập. Nhưng người ta sẽ
không cho nàng đến đây.
Aliosa mỉm cười dịu dàng.
- Này anh ơi, hãy nghe một lần và nhớ mãi, - Aliosa nói, -
đây là ý nghĩ của tôi về việc đó. Anh biết rằng tôi sẽ không nói dối anh. Anh
nghe đây: anh chưa sẵn sàng, cây thập giá như thế không phải để cho anh. Ngoài
ra, anh không cần nó, anh chưa sẵn sàng mang cây chập giá tuẫn đạo ghê gớm như
thế. Nếu anh giết cha thì tôi sẽ lấy làm tiếc rằng anh không chịu mang cây thập
giá của mình. Nhưng anh vô tội, mà cây thập giá như thế đối với anh là quá
đáng. Anh muốn qua đau khổ làm sống lại trong anh nốt con người khác. Theo tôi,
chỉ cần anh luôn luôn nhớ đến con người khác đó. Suốt đời, bất kể anh trốn đi
đâu, với anh như thế là đủ. Việc anh không chấp nhận khổ hình, thập giá lớn lao
ấy sẽ chỉ giúp anh cảm thấy anh mang trong mình một bổn phận càng lớn lao hơn
và từ nay, cảm giác ấy sẽ suốt đời giúp anh phục sinh, có lẽ còn hơn là anh đến
đâu bởi vì ở đấy anh sẽ không chịu đựng nổi và sẽ than vãn, cuối cùng anh sẽ
nói: "Thế là ta xong nợ".
Trong trường hợp này luật sư nói đúng. Không phải ai cũng mang được gánh nặng như thế, một số người không mang nổi… Còn tôi nghĩ thế nào, nếu anh rất cần biết thì tôi xin nói. Nếu anh trốn đi mà những người khác phải chịu trách nhiệm: sĩ quan, binh lính thì tôi sẽ nói với anh rằng "tôi không cho phép" anh chạy trốn. - Aliosa mỉm cười. - Nhưng người ta nói và cam đoan (chính người đứng đầu đội áp giải nói với Ivan) rằng biết thu xếp thì có thể không bị trừng phạt nặng, có thể không khó khăn gì mà êm việc. Cố nhiên mua chuộc là bất chính ngay cả trong trường hợp này, nhưng tôi sẽ không xét đoán gì cả, bởi vì thực ra, nếu Katia và Ivan giao cho tôi lo liệu việc này vì anh thì tôi biết rằng tôi cũng sẽ mua chuộc; tôi phải nói hết sự thật với anh. Cho nên tôi không có quyền phán xét hành động sắp tới của anh: nhưng anh nên biết rằng tôi sẽ không bao giờ lên án anh. Với lại, làm sao có chuyện lạ lùng là tôi có thể phán xét anh trong chuyện này? Thế là bây giờ dường như tôi đã xem xét đủ hết rồi đấy.
Trong trường hợp này luật sư nói đúng. Không phải ai cũng mang được gánh nặng như thế, một số người không mang nổi… Còn tôi nghĩ thế nào, nếu anh rất cần biết thì tôi xin nói. Nếu anh trốn đi mà những người khác phải chịu trách nhiệm: sĩ quan, binh lính thì tôi sẽ nói với anh rằng "tôi không cho phép" anh chạy trốn. - Aliosa mỉm cười. - Nhưng người ta nói và cam đoan (chính người đứng đầu đội áp giải nói với Ivan) rằng biết thu xếp thì có thể không bị trừng phạt nặng, có thể không khó khăn gì mà êm việc. Cố nhiên mua chuộc là bất chính ngay cả trong trường hợp này, nhưng tôi sẽ không xét đoán gì cả, bởi vì thực ra, nếu Katia và Ivan giao cho tôi lo liệu việc này vì anh thì tôi biết rằng tôi cũng sẽ mua chuộc; tôi phải nói hết sự thật với anh. Cho nên tôi không có quyền phán xét hành động sắp tới của anh: nhưng anh nên biết rằng tôi sẽ không bao giờ lên án anh. Với lại, làm sao có chuyện lạ lùng là tôi có thể phán xét anh trong chuyện này? Thế là bây giờ dường như tôi đã xem xét đủ hết rồi đấy.
- Nhưng tôi tự lên án mình! - Mitia kêu lên. - Tôi sẽ trốn
tù, điều đó đã được quyết định không có chú: Mitka Karamazov có thể nào không
chạy trốn? Nhưng tôi tự lên án và tôi sẽ suốt đời chuộc lỗi ở đấy! Các tu sĩ
dòng Tên nói như vậy phải không, phải thế không? Như tôi nói với chú bây giờ,
phải không?
- Đúng vậy. - Aliosa mỉm cười dịu dàng.
- Tôi yêu chú vì bao giờ chú cũng nói hết sự thật, không giấu
giếm gì cả! - Mitia cười sung sướng, kêu lên. - Như vậy tôi bắt chộp được
Aliosa của tôi là một tu sĩ dòng Tên rồi! Cần hôn chú về việc đó thế đấy! Nào,
bây giờ như phần còn lại nhé, tôi sẽ phơi bày với chú nửa còn lại của tâm hồn
tôi. Tôi tưởng tượng và quyết định thế này: Nếu tôi trốn đi, cho dù có tiền và hộ
chiếu và thậm chí sang Mỹ thì điều khích lệ tôi là ý nghĩ rằng trốn đi không phải
để hưởng vui sướng, để hưởng hạnh phúc, mà thực sự là chịu loại khổ sai khác,
có lẽ không kém loại khổ sai này! Không kém hơn đâu, Alecxei ạ, tôi nói thực là
không kém hơn đâu! Tôi biết nước Mỹ ấy, quỷ xé xác nó ra, bây giờ tôi đã căm
ghét nó. Cho dù là Grusenka sẽ đi với tôi, nhưng hãy nhìn xem: nàng có phải là một
phụ nữ Mỹ không? Nàng là người Nga, Nga đến tận xương tuỷ, nàng sẽ nhớ nước mẹ,
còn tôi sẽ từng giờ nhìn thấy nàng vì tôi mà nhớ nhung, vì tôi mà mang cây thập
giá ấy, mà nàng có tội gì? Còn tôi, liệu tôi có chịu đựng nổi những tên nông
dân ở đấy không, mặc dù tất cả bọn chúng đều tốt hơn tôi? Bây giờ tôi đã căm
ghét nước Mỹ ấy rồi! Mà cho dù tất cả bọn họ đều là những nhân viên kỹ thuật tuyệt
trần hay gì gì đi nữa thì cũng mặc xác họ, họ không phải là người của tôi,
không có tâm hồn như tôi! Tôi yêu nước Nga, Alecxei ạ, tôi yêu Thượng đế Nga,
tuy bản thân tôi là thằng đểu giả! Ở đấy tôi sẽ chết mất! - chàng bỗng kêu lên,
mắt long sòng sọc, tiếng nói của chàng run lên vì nước mắt. Tôi đã quyết định
như thế đấy, Alecxei ạ, nghe đây! - Chàng lại bắt đầu, cổ nén xúc động. - Tôi sẽ
cùng Grusa đến đấy, ở đấy tôi sẽ cày ruộng, làm lụng với những con gấu hoang
dã, ở nơi cô quạnh, ở một vùng xa xôi. Ở đấy cũng sẽ có một vùng xa xôi! Nghe
nói ở đấy còn có những người da đỏ, ở một nơi cùng tận của chân trời, nơi có những
người Mohikan cuối cùng. Và lập tức bắt đầu học ngữ pháp, tôi và Grusa. Làm việc
và học ngữ pháp, như vậy ba năm. Trong ba năm chúng tôi sẽ học được tiếng Anh
như chính người Anh. Chỉ khi đã thành thạo tiếng Anh chúng tôi sẽ từ bỏ nước Mỹ!
Chúng tôi sẽ trở về đây, về Nga, với tư cách là công dân Mỹ. Chú dừng lo, chúng
tôi sẽ không về thành phố này đâu. Chúng tôi sẽ náu mình ở một nơi nào xa, ở miền
Bắc hay miền Nam. Đến lúc ấy tôi sẽ thay đổi, nàng cùng thế, ở Mỹ bác sĩ sẽ làm
cho tôi một nốt ruồi, họ là thợ cơ khí mà. Mà không, tôi sẽ tự chọc thủng một mắt
tôi sẽ để bộ râu dài một arsin, bộ râu bạc (bạc vì nhớ người Nga), có lẽ
người ta sẽ không nhận ra. Nếu người ta nhận ra thì cứ việc đưa tôi đi đầy, mặc
kệ, ấy là số kiếp. Ở đây tôi cũng sẽ cày đất ở một vùng hẻo lánh nào đó, suốt đời
tôi vẫn làm như mình là người Mỹ. Nhưng chúng tôi sẽ chết trên đất quê hương. Đấy
là kế hoạch của tôi, nhất quyết là như thế. Chú tán thành chứ?
- Tôi tán thành. - Aliosa nói, không muốn cãi lại anh.
Mitia dừng một lát rồi lại nói:
- Ở toà người ta đã chơi khăm tôi như thế nào? Chơi đến ác!
- Nếu như không có chuyện ấy thì anh vẫn bị kết án. - Aliosa
thở dài, nói.
- Phải, tôi đã làm công chúng ở đây chán ngấy! Thôi mặc họ,
nhưng nghĩ thực đau lòng! - Mitia rên rỉ đau khổ.
Lại im lặng một lát.
- Aliosa, chú giết tôi ngay đi! - Chàng bỗng kêu lên. - Cô ấy
có đến bây giờ hay không, nói đi! Cô ấy nói gì? Cô ấy nói gì?
- Chị ấy bảo rằng sẽ đến, nhưng tôi không biết hôm nay có đến
không. Chị ấy khổ tâm lắm! - Aliosa rụt rè nhìn anh.
- Không thể nào được, tất nhiên là khổ tâm rồi! Aliosa ạ, tôi
đến phát điên mất. Grusa vẫn cử nhìn tôi hoài. Cô ấy hiểu. Lạy Chúa tôi, xin
hãy làm cho tôi yên tâm: tôi đòi hỏi gì? Đòi hỏi Katia. Tôi có hiểu tôi đòi hỏi
gì không? Thói bất kham nhà Karamazov, sự thiếu sùng kính! Không, tôi không có
khả năng đau khổ! Thằng đểu cáng, có vậy thôi!
- Chị ấy kia rồi! - Aliosa kêu lên.
- Lúc ấy Katia đột nhiên xuất hiện trong ngưỡng cửa. Nàng dừng
lại trong khoảnh khắc, nhìn Mitia bằng cặp mắt lơ đãng.
Chàng đứng phắt dậy, mặt chàng lộ vẻ sợ hãi. Chàng tái nhợt
đi, nhưng lập tức rụt rè, nụ cười cầu khẩn thấp thoáng trên môi chàng, bỗng
nhiên, không sao cưỡng lại được, chàng chìa cả hai tay về phía Katia. Thấy thế,
nàng đâm bổ đến với chàng. Nàng nắm lấy hai tay chàng và gần như dùng sức kéo
chàng ngồi xuống giường, tự nàng ngồi xuống bên chàng và vẫn không buông tay chàng,
xiết chặt lấy như tay bị co rút. Mấy lần nàng toan nói gì, nhưng dừng lại và im
lặng, cả hai mỉm cười kỳ lạ, chăm chú nhìn nhau không dứt. Hai phút cứ thế trôi
qua.
- Em có tha thứ hay không? - Cuối cùng Mitia lắp bắp và lập tức
quay về phía Aliosa, mặt méo đi vì sung sướng, hét lên với anh:
- Chú có nghe thấy tôi hỏi không, có nghe thấy không?
- Em yêu anh vì anh có tấm lòng hào hiệp! - Katia bỗng buột
ra. - Anh không cần sự tha thứ của em, em cũng không cần sự tha thứ của anh. Dù
có tha thứ hay không thì suốt đời, anh vẫn là cái ung nhọt trong tâm hồn em, mà
em là cái ung nhọt trong tâm hồn anh, phải như thế thôi… - Nàng dừng lấy hơi. -
Em đến đây để làm gì? - Nàng lại bắt đầu nới một cách kích động và vội vã. - để
ôm chân anh, xiết chặt tay anh, xiết cho đến đau tay, anh nhớ hồi ở Moskva em
đã xiết tay anh như thế nào chứ, để lại nói với anh rằng anh là Thượng đế của
em, niềm vui sướng của em, để nói với anh rằng em yêu anh đến điên cuồng. -
Nàng dường như rên rỉ trong dau khổ và đột nhiên thèm khát áp môi vào chàng. Nước
mắt trào ra trên mắt nàng.
Aliosa đứng yên lặng và bối rối; anh không hề chờ đợi sự thể
lại như thế.
- Tình yêu đã qua rồi, Mitia! - Katia lại bắt đầu nói. -
Nhưng em quý trọng đến dau đớn những gì đã qua. Bây giờ anh nên biết điều đó và
ghi nhớ suốt đời. Nhưng bây giờ, dù chỉ trong giây lát thôi, hãy để cho cái gì
có thể xảy ra sẽ thành sự thật. - Nàng lắp bắp với nụ cười mếu máo, lại vui sướng
nhìn vào ánh mắt chàng. - Bây giờ anh yêu một người khác, còn em yêu một người
khác, nhưng dù sao em vẫn yêu anh suốt đời, anh cùng sẽ yêu em suốt đời, anh có
biết điều đó hay không? Anh ạ hãy yêu em, suốt đời! - Nàng kêu lên, giọng run
run gần như hăm doạ.
- Anh sẽ yêu em, và… Katia ạ, - Mitia nói, cứ mỗi tiếng lại
nghĩ lấy hơi, - em ạ, năm ngày trước, tối hôm ấy anh yêu em… Khi em ngã xuống
và người ta mang em đi… Suốt đời! Sẽ cứ như thế. suốt đời…
Cả hai cứ nhỏ to với nhau những lời gần như vô nghĩa và cuồng
loạn, có lẽ thậm chí là giả dối, nhưng lúc ấy tất cả đều thực và bản thân họ
tin là mình thật lòng.
- Katia, - Mitia bỗng kêu lên, - em có tin rằng anh giết người
không? Anh biết rằng em không tin nhưng khi ấy… khi khai trước toà… lẽ nào em
tin, lẽ nào!
- Ngay cả khi ấy em cũng không tin! Không bao giờ em tin! Em
căm ghét anh và đột nhiên em tự bảo mình rằng, lúc ấy.… khi em khai… em cả quyết
và em tin… Khai xong, em không tin nữa. Anh nên biết tất cả. Em quên rằng em đến
để tự xử tội mình! - Nàng nói với vẻ khác hẳn, không giống những lời thỏ thẻ
yêu đương ban nãy.
- Cô khổ tâm lắm, cô ạ! - Mitia bỗng buột thốt lên, không gì
kìm hãm nổi.
- Thôi để em về - nàng ấp úng, - em sẽ còn đến nữa, bây giờ
thì khổ tâm lắm…
Nàng toan đứng dậy, nhưng đột nhiên kêu to lên một tiếng và
lùi trở lại. Grusenka đột nhiên vào phòng, tuy đi rất khẽ. Chẳng ai ngờ nàng đến,
Catia bước nhanh ra cửa, nhưng đi ngang qua Grusenka, nàng bỗng dừng lại, mặt
trắng ra như phấn, và khe khẽ gần như thì thầm, rền rỉ nói:
- Tha lỗi cho tôi!
Grusenka nhìn thẳng vào mặt nàng, chờ giây lát, rồi trả lời bằng
giọng cay độc, ác nghiệt:
- Chúng ta đều độc ác, mẹ ạ! Cả hai ta đều độc ác! Chúng ta
đâu có quyền tha thứ, cả cô lẫn tôi? Cô hãy cứu anh ấy, suốt đời tôi cầu nguyện
cho cô!
- Cô không muốn tha thứ! - Mitia quát lên với Grusenka giọng
trách móc điên rồ.
- Yên tâm, tôi sẽ cứu anh ấy cho cô! - Katia thì thầm nói
nhanh và chạy ra khỏi phòng.
- Em có thể không tha thứ cho cô ấy, khi cô ấy đích thân nói
với em: "tha lỗi cho tôi"? - Mitia lại kêu lên một cách chua xót.
- Anh Mitia, đừng trách chị ấy, anh không có quyền! - Aliosa
sôi nổi lớn tiếng nói với anh.
- Miệng cô ta nói những lời kiêu hãnh, chứ không phải trái
tim cô ta, - Grusenka nói với giọng kinh tởm. - Cô ta mà giải thoát cho anh thì
em sẽ tha thứ hết…
Nàng im bặt, dường như đè nén cái gì trong lòng. Nàng vẫn
chưa thể hồi tâm. Sau này mới biết nàng vào đây hoàn toàn tình cờ hoàn toàn
không nghi ngờ gì, không ngờ sẽ có cuộc gặp gỡ vừa rồi.
- Aliosa, chạy theo chị ấy! - Mitia vội nói với em. - Nói với
chị ấy tôi không biết nên nói gì… đừng để chị ấy ra đi như thế!
- Tôi sẽ trở lại với anh trước buổi tối! - Aliosa nói to và
chạy theo Katia. Anh đuổi kịp nàng khi nàng đã ở ngoài bức tường bệnh viện.
Nàng đi nhanh, vội vã, nhưng khi Aliosa vừa đuổi kịp nàng, nàng nói nhanh với
anh:
- Không, trước người phụ nữ ấy tôi không thể tự hành tội
mình! Tôi nói với cô ta "hãy tha thứ cho tôi" bởi vì tôi muốn thẳng
tay tự hành tội tôi. Cô ta không tha thứ. Vì thế tôi yêu cô ta! - Katia nói
thêm, giọng lạc hẳn đi, mắt nàng loé lên niềm hằn học man rợ.
- Anh tôi hoàn toàn không ngờ. - Aliosa ấp úng. - Anh ấy tin
chắc rằng Grusenka không đến…
- Hẳn rồi. Ta sẽ gác chuyện ấy lại. - Nàng ngắt lời. - Này,
bây giờ tôi không thể cùng chú đến dự đám tang. Tôi đã gửi hoa đến viếng, tiền
thì hình như họ vẫn còn. Nếu cần dù cứ nói, sau này tôi sẽ không bao giờ bỏ rơi
họ… Bây giờ thì để tôi yên, xin để tôi yên. Chú đến muộn mất rồi đấy, chuông buổi
lễ cuối đang đổ… Thôi, xin buông tha tôi!
Chương 3
Đám tang Iliusa. Diễn từ bên tảng đá
Aliosa đến muộn thật. Người ta đợi anh và đã quyết định không
chờ nữa, cứ đưa chiếc quan tài nhỏ xinh xắn phủ đầy hoa vào nhà thờ. Đấy là
quan tài của Iliusa, chú bé tội nghiệp. Nó chết hai ngày sau khi Mitia bị kết
án. Aliosa mới đến cổng nhà, bọn trẻ bạn Iliusa đã reo hò.
Cả bọn nóng lòng chờ anh và mừng rỡ vì cuối cùng anh đã đến.
Chúng có khoảng mười hai đứa, tất cả đều đeo cặp hoặc túi xách. "Ba tớ sẽ
khóc, các bạn hay đến với ba tớ". - lúc sắp chết, Iliusa trối lại với
chúng như vậy, bọn trẻ nhớ điều đó. Đứng đầu bọn chúng là Kolia Kraxotkin.
- Tôi sung sướng vì anh đã đến, Karamazov ạ! - Nó kêu lên,
chìa tay cho Aliosa. - ở đây thật khủng khiếp. Sự thật nhìn thật đau lòng.
Xneghiriov không say, chúng tôi biết chắc rằng hôm nay ông không uống, nhưng dường
như ông say… Tôi bao giờ cũng cứng rắn, nhưng việc này thật khủng khiếp. Anh
Karamazov, nếu không cản trở anh, tôi muốn hỏi thêm anh một câu hỏi trước khi
anh vào, được không?
- Hỏi gì, Kolia? Aliosa dừng lại.
Anh của anh có tội hay không? Anh ấy giết cha hay thằng hầu
giết? Anh nói thế nào tôi sẽ tin như vậy. Bốn đêm tôi không ngủ vì ý nghĩ ấy.
- Thằng hầu giết, anh tôi vô tội. - Aliosa trả lời.
- Thì tôi cũng nói như vậy! - Xmurov bỗng nói to.
- Như vậy anh ấy hy sinh vì sự thật như một nạn nhân vô tội!
- Kolia kêu lên. - Tuy anh ấy hy sinh, nhưng anh ấy hạnh phúc! Tôi sẵn lòng
ghen tỵ với anh ấy!
- Sao cậu lại nói thế, để làm gì kia chứ? - Aliosa ngạc nhiên
kêu lên.
- Ồi, nếu như đến một ngày tôi có dịp hy sinh cho sự thật. -
Kolia hào hứng thốt lên.
Nhưng không phải trong một việc như thế, không phải nhục nhã
như thế, không khủng khiếp như thế! - Aliosa nói, cố nhiên… tôi muốn chết vì
toàn nhân loại còn về chuyện nhục nhã thì bất cần: tên tuổi ta tiêu ma cũng được.
Tôi kính trọng ông anh của anh!
- Tôi cũng thế! - Đột nhiên có tiếng kêu hoàn toàn bất ngờ
trong đám đông, đấy là đứa trẻ đã tuyên bố rằng nó biết ai sáng lập ra thành
Troa. La lên xong, cũng hệt như hồi ấy, mặt nó như hoa mẫu đơn.
Aliosa vào phòng, Iliusa nằm trong chiếc quan tài xanh trang
điểm dải băng trắng, hai tay chắp lại, mắt nhắm. Đường nét khuôn mặt gây rộc của
nó hầu không thay đổi, và lạ thay, xác hầu như không bốc mùi. Vẻ mặt nghiêm chỉnh,
như suy tư. Đôi tay bắt chéo nom rất đẹp, như tạc bằng đá hoa cương. Người ta đặt
hoa vào tay nó, cỗ quan tất cả trong lẫn ngoài đều trải hoa mà Liza Khokhlakova
Ivanovna gửi đến từ sáng sớm. Nhưng còn có cả hoa của Ekaterina Ivanovna gửi đến,
và khi Aliosa mở cửa thì đại úy cầm một bó hoa, hai tay run rẩy rắc xuống đứa
con yêu quý. Ông thoáng đưa mắt nhìn Aliosa bước vào, và không muốn nhìn ai nữa,
thậm chí cả bà vợ loạn trí đang khóc lóc cố đứng lên bằng đôi chân đau và nhìn
gần hơn đứa con đã chết. Ninotrka thì đã được bọn trẻ nhấc cả ghế lên đặt sát cạnh
quan tài. Có người gục đầu vào quan tài, và hẳn là cũng khóc khe khẽ. Mặt
Xneghiriov có vẻ náo nức, nhưng dường như bối rối, đồng thời hung tợn. Trong điệu
bộ của ông, trong những lời ông buột ra có cái gì dở điên dở dại. "Con ơi,
con đáng yêu của ta ơi". - chốc chốc ông lại nhìn Iliusa kêu lên. Ông có
thói quen ngay từ lúc Iliusa còn sống, vẫn âu yếm nói với ông: "Con ơi,
con yêu quý của ta ơi!".
- Bố nó ơi, đưa hoa cho tôi, lấy ở tay nó kia kìa, cành hoa
trong kia kìa, đưa cho tôi! - Bà mẹ điên dại nức nở. Hoặc là bà rất thích bông
hồng trắng ở trong tay Iliusa, hoặc là bà muốn lấy bông hoa làm kỷ niệm, nhưng
bà giãy giụa, giơ hai tay về phía bông hoa.
- Tôi không cho ai, không cho cái gì hết! - Xneghiriov cáu bẳn
quát lên. - Hoa của nó, chứ không phải của bà. Của nó tất, không có cái gì của
bà cả.
- Ba ơi, cho mẹ một bông hoa! - Ninochka bỗng ngước khuôn mặt
đẫm nước mắt lên.
- Tao không cho cái gì hết, bà ấy tao càng không cho! Bà ấy
không yêu nó. Hồi nọ bà ấy đã lấy khẩu thần công của nó, còn nó đã tặng bà ấy.
- Đại uý bỗng khóc nức lên khi nhắc tới chuyện hỏi nọ Iliusa đã nhường khẩu thần
công của mình cho mẹ. Bà mẹ điên dại đáng thương nước mắt đầm đìa, khóc khe khẽ,
hai tay bưng mặt. Bọn trẻ thấy ông bố nhất định không muốn rời chiếc quan tài
nhưng đã đến lúc đưa quan tài đi, liến đứng vây chặt xung quanh và khiêng lên.
- Tôi không muốn mai táng nó ở bốn trong bức tường! -
Xneghiriov bỗng gào lên. - Tôi sẽ chôn nó bên tảng đá, tảng đá của Iliusa con
tôi! Iliusa dặn như vậy. Tôi không cho mang nó đi!
Cũng như trước, suốt ba ngày ông nói về việc chôn bên tảng
đá. Nhưng Aliosa. Kraxotkin, bà chủ nhà, chị Iliusa và bọn trẻ can thiệp.
- Sao ông lại nghĩ ra chuyện ấy, chôn bên tảng đá thật là tởm,
cứ như bị đè bẹp. - Bà lão chủ nhà nghiêm giọng nói. - Còn ở bên trong bức tường
là đất có cây thánh giá. Ở đấy có thể cầu nguyện cho nó được. Nó nghe thấy tiếng
hát lễ từ nhà thờ vọng ra, ông trợ tế đọc kinh rành rọt và rất hay, lần nào
cũng đến tai nó hết, như đọc kinh trên mộ. Rốt cuộc đại uý vung hai tay:
"Muốn mang đi đâu thì mang!"
Bọn trẻ nâng quan tài lên, nhưng khi đi qua chỗ bà mẹ, chúng
dừng lại trước bà giây lát và hạ quan tài xuống để bà có thể vĩnh biệt Iliusa.
Nhưng nhìn thấy gương mặt nhỏ thân thiết ở khoảng cách gần, mà ba ngày trời bà
chỉ nhìn từ xa, bà bỗng run khắp toàn thân, mái đầu bạc bắt đầu cuống cuồng ngất
ngưởng trên quan tài.
- Mẹ ơi, làm dấu thánh giá cho"nó đi, ban phước cho nó
đi, hôn nó đi. - Ninochka kêu lên. Nhưng bà mẹ, như cái máy tự động, vẫn ngất
ngưởng đầu, chẳng nói chẳng rằng, mặt méo đi vì đau xót quá đỗi, bỗng bắt đầu đấm
tay vào ngực, quan tài bắt đầu được đưa đi. Lần cuối cùng Ninochka áp môi vào
miệng đứa em đã qua đời khi quan tài đi qua chỗ mình. Khi ra khỏi nhà, Aliosa
nói với bà chủ nhà, nhờ bà trông nom những người ở lại, nhưng bà không để anh
nói hết:
- Hẳn rồi, tôi sẽ ở bên họ, chúng tôi cũng là người Kito giáo
mà. - Bà lão vừa nói vừa khóc.
Đến nhà thờ không xa, ba trăm bước, không hơn. Ngày sáng sủa,
yên ả; giá rét, nhưng chút ít thôi, tiếng chuông nhà thờ vẫn còn gióng giả.
Xneghiriov tất bật và bối rối chạy theo quan tài, mặc chiếc măng tô mỏng mảnh,
cũ kỹ. Ông có điều gì bận tâm không thể giải quyết nổi, khi thì bỗng chìa tay
ra đỡ lấy đầu quan tài chỉ làm vướng những người khiêng, khi thì chạy bên cạnh
tìm xem mình nên đứng vào đâu. Một bông hoa rơi xuống tuyết ông lao tới nhát
lên, như thể có việc gì trọng đại tùy thuộc vào sự mất mát ấy.
Còn bánh mì, quên mất bánh mì rồi! - ông bỗng kêu lên, sợ hãi
ghê gớm. Nhưng mấy thằng bé lập tức nhắc ông rằng ông đã mang theo miếng bánh
mì từ ban nãy, nó đang ở trong túi ông. Ông lấy ngay miếng bánh trong túi ra và
thấy nó, ông yên tâm.
- Iliusechka dặn như vậy, Iliusechka, - ông giải thích cho
Aliosa, một đêm tôi ngồi bên giường nó, và nó bỗng bảo: "Ba ơi, khi đã lấp
đất lên mộ con rồi, hãy nhớ bánh mì rắc lên cho chim sẽ bay tới, con sẽ nghe thấy
tiếng chim bay tới và sẽ vui vẻ vì con không nằm một mình".
- Hàng ngày, hàng ngày! - Đại uý lắp bắp, như náo nức hắn
lên.
Cuối cùng họ đến nhà thờ và đặt quan tài ở giữa. Bọn trẻ quấn
tròn xung quanh, và đứng trang nghiêm như thế suốt buổi lễ. Nhà thờ đá cổ và
khá nghèo nàn, nhiều ảnh thánh không có khung, nhưng cầu nguyện trong những nhà
thờ như thế tốt hơn.
Trong lúc làm lễ, Xneghiriov tuồng như yên ắng một chút, tuy
đôi lúc ở ông vẫn buột ra mối lo ngại vô thức và dường như quẫn trí: khi thì
ông tới gần quan tài sửa lại tấm vải phủ, dải băng có hình Chúa và Đức mẹ, khi
thì ngọn nến trên giá đổ xuống, ông đâm bổ tới dựng lại và loay hoay với nó rất
lâu. Rồi ông yên tâm và đứng yên ở đầu quan tài, mặt lo âu ngơ ngẩn và dường
như băn khoăn. Sau khi đọc Sứ đồ thư, ông bỗng thì thầm với Aliosa đứng cạnh
ông rằng người ta đọc không đúng, nhưng ông không giải thích ý nghĩ của mình.
Khi người ta hát xưng tụng các thánh, ông cũng hát theo, nhưng không hát hết,
và quỳ gối, áp trán vào sàn đã nhà thờ và cứ phủ phục như vậy rất lâu.
Cuối cùng người ta làm lễ cầu siêu, phân phát nến. Ông bố đã
phát điên lại rối rít, nhưng tiếng hát lễ tang cảm kích, rung động đã thức tỉnh
và làm rối loạn tâm hồn ông. Ông như thể co dúm lại, nức lên những tiếng ngắn
ngủn liên hồi, thoạt đầu ông cố nén tiếng khóc, nhưng rốt cuộc ông nức nở rất
to. Khi đã bắt đầu vĩnh biệt và đậy nắp quan tài, ông đang hai tay ra ôm lấy
nó, như không muốn cho đậy nắp, và bắt đầu háo hức không ngừng hôn vào miệng thằng
bé đã chết. Cuối cùng người ta đã khuyên can được ông và đã đưa ông xuống bậc
thềm, nhưng ông bỗng đưa nhanh tay ra, và giật lấy mấy bông hoa trong quan tài.
Ông nhìn những bông hoa ấy và một ý tưởng mới chợt đến trong óc ông, thành thử
ông dường như quên mất cái chính trong giây lát. Dần dần ông dường như rơi vào
trạng thái trầm tư và không còn chống cự nữa, khi người ta khiêng quan tài lên
và đem ra huyệt.
Huyệt ở không xa, trong bức tường, ngay bên nhà thờ, đắt tiền,
nhưng Ekaterina trả hết. Sau nghi lễ bình thường, những người phu hạ huyệt.
Xneghiriov hai tay cầm hoa, cúi sát miệng huyệt đến nỗi bọn trẻ sợ hãi níu lấy
măng tô của ông và kéo ông trở lại. Nhưng ông dường như không hiểu rõ lắm chuyện
gì đang diễn ra. Khi bắt đầu lấp huyệt, ông bỗng lo ngại trỏ đất rơi xuống và
thậm chí nói gì, nhưng chẳng ai nghe rõ được, và tự dưng ông bỗng im bặt, đến
đây người ta bỗng nhắc ông cần bẻ vụn bánh mì và ông bỗng lo lắng ghê gớm, tôi
vội miếng bánh ra, bắt đầu bỏ và vứt lung tung trên mộ: "Bay đến đi, chim
ơi, bay đến đi, hỡi các chú chim sẻ!" - ông ấp úng lo âu. Trong bọn trẻ có
đứa bảo ông rằng hai tay cầm hoa ông khó bẻ bánh và hãy tạm đưa cho một đứa giữ
hộ. Nhưng ông không đưa, thậm chí bỗng sợ hãi về những bông hoa của mình, như e
sợ người ta muốn lấy mất của ông, và sau khi nhìn nằm mộ, thấy rõ mọi việc đã
xong xuôi, bánh mì đã bẻ hết, đột nhiên ông hoàn toàn bình tĩnh quay mình đi,
lê bước về nhà. Tuy nhiên, bước đi của ông mỗi lúc một gấp hơn và vội vã hơn,
ông hối hả, gần như chạy. Bọn trẻ và Aliosa không tụt lại sau ông.
- Cho mẹ nó những bông hoa, cho mẹ nó những bông hoa! Mẹ nó
đã bị xúc phạm. - ông bắt đầu kêu lên. Có người gào lên bảo ông đội mũ vào,
không thì bây giờ trời lạnh, nhưng nghe thấy thế, ông dường như tức giận quăng
mũ xuống tuyết và thốt lên! "Tôi không muốn đội mũ, không muốn đội
mũ!" Thằng bé Xmurxov nhặt mũ lên và đi theo ông. Tất cả bọn trẻ, không trừ
đứa nào, đều khóc, nhưng khóc tợn hơn cả là Kolia và thằng bé đã khám phá ra
Troa, và Xmuxov, tay cầm chiếc mũ của ông đại uý tuy cũng khóc ghê lắm, nhưng gần
như vừa chạy vừa lượm nhưng mảnh gạch đỏ trên con đường tuyết ném vào bầy chim
sẽ đang bay nhanh. Cố nhiên là ném không trung và vẫn tiếp tục vừa chạy vừa
khóc. Đi được nửa đường Xneghiriov bỗng dừng lại, đứng chừng nửa phúc, như có
điều gì sửng sốt và đột nhiên, quay trở lại như thế, chạy tới nấm mồ đã bị bỏ lại.
Bọn trẻ lập tức đuổi kịp ông và xúm quanh níu lấy ông. Đến đây, như bất lực và
chịu thua, ông ngã xuống tuyết và lăn lộn, gào rú và nức nở, yêu thét lên:
"Con ơi, Iliusechka, con yêu quý của ta ơi!".
Aliosa và Kolia nâng ông dậy, nài nỉ, khuyên can ông:
- Đại úy thôi đi, người dũng cảm phải chịu đựng. - Kolia lầu
bầu.
- Ông làm hỏng cả hoa đấy. - Aliosa nói. - "Bà mẹ"
đang chờ mong đấy, bà đang ngồi khóc vì ban nãy ông không cho bà hoa của
Iliusa. Ở nhà vẫn còn chiếc giường của Iliusa…
- Phải, phải, về với mẹ nó! - Xneghiriov lại chợt nhớ ra. -
Người ta sẽ mang chiếc giường đi, sẽ mang đi. - ông nói thêm, như sợ hãi rằng
quả thật người ta sẽ mang giường đi, ông bật dậy và chạy về nhà. Nhưng chẳng
còn cách nhà bao xa, mọi người cùng chạy tới một lúc. Xneghiriov mở cửa thật
nhanh và gào lên gọi vợ, dù ban nãy ông đã cãi nhau rất nhẫn tâm với bà.
- Mẹ nó ơi, mình yêu quý ơi, Iliusechka gửi hoa cho mình đây
này, chân của mình bị đau mà! - ông la lên, đưa cho vợ túm hoa đã cóng và gãy
nát lúc ông vật vã trên tuyết. Nhưng đúng lúc ấy, ông thấy trước giường Iliusa,
trong góc nhà, đôi ủng của Iliusa xếp hai chiếc cạnh nhau, và chủ nhà vừa thu dọn
lại - đôi ủng cũ đã đỏ quạch, cứng queo, vá víu. Ông giơ hai tay lên, nhảy bổ tới,
quỳ xuống, vồ lấy một chiếc ủng, áp môi vào, háo hức hôn và gào lên: "Con
ơi, Iliusechka, con cưng của ta ơi, chân con đâu rồi?"
- Ông mang nó đi đâu rồi? Ông mang nó đi đâu rồi? - Bà vợ loạn
trí gào lên bằng giọng tan lòng nát ruột. Đến đây cả Ninochka cũng nức nở.
Kolia chạy ra khỏi phòng, cả bọn trẻ cũng ra theo. "Mặc cho họ khóc, - Anh
nói với Kolia, - không thể an ủi được đâu. Ta đợi một lát, rồi sẽ trở lại".
- Phải, không thể an ủi được, thật là khủng khiếp - Kolia xác
nhận. - Này, anh Karamazov ạ, - nó bỗng hạ giọng để không ai nghe thấy, - tôi rất
buồn, nếu như có thể làm nó sống lại thì tôi sẵn lòng đánh đổi hết mọi thứ trên
đời!
- A, tôi cũng thế. - Aliosa nói.
- Anh nghĩ thế nào, Karamazov, tối nay chúng ta có phải đến
đây không? Ông ấy sẽ uống say nhè.
- Có thể ông ấy sẽ nốc rượu. Chỉ có tôi với cậu đến thôi, như
thế là đủ, ngồi với họ chừng một giờ, với bà mẹ và Ninochka, còn nếu ta đến cả
bọn thì họ sẽ nhớ lại tất cả! - Aliosa khuyên.
- Ở đấy bây giờ bà chủ nhà đang bày bàn, cỗ tang, chắc cha cố
sẽ đến, ta có trở lại đấy bây giờ không, anh Karamazov?
- Nhất định. - Aliosa nói.
- Tất cả những chuyện ấy thật lạ lùng, anh Karamazov ạ, hết sức
đau xót và bỗng nhiên lại cỗ bàn, tôn giáo của chúng ta thật trái tự nhiên!
- Ở đấy sẽ có cá hồi. - Thằng bé đã khám phá ra Troa bỗng nói
to.
- Tao nghiêm chỉnh yêu cầu mày đứng có xen những chuyện dớ dẩn
của mày vào, Kartasov ạ, đặc biệt khi người ta không nói với mày và thậm chí
không muốn biết có mày trên đời. - Kolia cáu kỉnh ngắt lời nó. Cartasov đỏ bừng
mặt nhưng không dám trả lời gì hết. Nhưng họ vẫn tiếp tục thong thả đi trên con
đường mòn; Xmurov bỗng kêu lên:
- Kia là tảng đá của Iliusa mà người ta định chôn nó dưới đó!
Tất cả lẳng lặng dừng lại bên tảng đá lớn. Aliosa nhìn, và
toàn bộ cảnh tượng mà trước đây Xneghiriov đã kể về Iliusa, về việc nó vừa
khóc, vừa ôm lấy bố kêu lên: "Ba ơi, ba ơi, nó làm nhục ba biết bao!"
lập tức hiện ra trong hồi ức của anh. Có cái gì chấn động trong tâm hồn anh. Vẻ
nghiêm trang và quan trọng, anh đưa mắt nhìn tất cả các gương mặt dễ mến, tươi
sáng đó của các học sinh, bạn thua, và bỗng nói với chúng:
- Thưa các bạn, tôi muốn nói với các bạn một lời ở đây, ngay
tại chỗ này.
Bọn trẻ vây lấy anh, và lập tức nhìn anh chằm chằm, chờ đợi.
- Thưa các bạn, chúng ta sắp chia tay nhau. Tôi còn ở đây một
thời gian nữa với hai người anh, một người sắp đi đầy, một người sắp chết.
Nhưng chẳng mấy nữa tôi sẽ rơi bỏ thành phố này, có lẽ sẽ rất lâu. Thế là chúng
ta sẽ chia tay nhau, thưa các bạn. Ở đây, bên tảng đá này của Iliusa, hẳn chúng
ta sẽ đồng ý với nhau rằng ta sẽ không bao giờ quên Iliusa trước hết, sau nữa
là không quên nhau. Sau này dù có chuyện gì xảy ra với ta trong đời dù hai mươi
năm sau ta không gặp nhau, chúng ta sẽ vẫn nhớ tới chúng ta đã mai táng thằng
bé tội nghiệp mà ta đã từng ném đã vào nó, ở bên cầu, các bạn nhớ chứ? - nhưng
sau đó tất cả chúng ta đều rất đỗi yêu nó. Nó là thằng bé tuyệt vời, nhân hậu
và can trường, cảm thấy danh dự và sự nhục mạ cay đắng mà cha nó phải chịu, và
nó suốt đời, thưa các bạn. Mặc dù chúng ta sẽ bận nhưng việc hết sức quan trọng,
đạt được nhưng vinh dự hay sa cơ lỡ bước bất hạnh ghê gớm - dù sao cũng đừng
quên rằng đã có lần ở đây chúng ta sung sướng, tất cả chúng ta gắn bó với nhau
bằng những tình cảm tốt lành, tình thương yêu với cậu bé tội nghiệp kia có lẽ
đã làm cho chúng ta trong thời gian ấy trở nên tốt hơn trong thực tế. Nhưng con
bổ câu nhỏ của tôi, - hãy cho tôi gọi như vậy, - vì các bạn rất giống chúng, những
con chim màu xám nhạt xinh đẹp ấy, bây giờ, vào lúc này, khi tôi nhìn những
gương mặt hiền lành, dễ thương của các bạn, - hỡi các em đáng yêu của tôi, có lẽ
các em không hiểu điều tôi sẽ nói với các em, bởi vì tôi nói thường rất khó hiểu,
nhưng dù sao các bạn cũng cứ ghi nhớ, rồi sau này sẽ có lúc các bạn đồng ý với
tôi. Các bạn nên biết rằng không có gì cao hơn; mạnh mẽ hơn, trong lành hơn và
có ích hơn cho cuộc đời bằng một kỷ niệm tốt đẹp, đặc biệt là một kỷ niệm thời
thơ ấu sống dưới mái nhà mẹ cha. Người ta nói nhiều với các bạn về sự giáo dục
của các bạn nhưng một ký niệm tuyệt đẹp, thiêng liêng giữ được từ thuở bé có lẽ
là sự giáo dục tốt nhất. Nếu thu thập được nhiều kỷ niệm như thế đem vào đời
thì con người sẽ được cứu vớt suốt đời. Cho dù chỉ còn một kỷ niệm đẹp ở trong
tim chúng ta thì cũng sẽ có ngày nó cứu vớt chúng ta. Có thể sau này chúng ta sẽ
trở thành người độc ác, thậm chí chúng ta không đủ sức cưỡng lại hành động xấu,
chúng ta sẽ cười chế giễu trước mắt con người, chế giễu những người vẫn nói,
như Kolia ban nãy vừa kêu lên, "tôi muốn chịu đau khổ cho tất cả mọi người"
- có thể chúng ta sẽ chế giễu độc ác những con người như vậy. Mặc dù chúng ta độc
ác như thế nào, cứu trời tránh cho chúng ta điều đó, nhưng chúng ta sẽ nhớ tới
ta đã mai táng Iliusa ra sao, chúng ta đã yêu mến nó trong ngày cuối cùng như
thế nào, và giờ đây chúng ta hòa hợp với nhau như thế nào bên tảng đá này thì
người tàn bạo nhất trong chúng ta và hay giễu cọt nhất, nếu chúng ta trở thành
những người như thế, trong thâm tâm cũng sẽ không dám báng nhạo người đã từng
có tình cảm tốt lành trong giây phút này! Ngoài ra, có lẽ chỉ riêng kỷ niệm đó
đã giữ cho ta tránh khỏi cái ác lớn lao, người đó sẽ nghĩ lại và sẽ nói:
"Phải, hồi ấy ta tốt bụng, can đảm và chính trực!". Cứ mặc cho người
đó tự cười mình, không sao; con người thường cười cái nhân hậu và tốt đẹp; đấy
chỉ là nhẹ dạ; nhưng thưa các bạn, tôi cam kết với các bạn rằng người nào cười
thì lập tức trái tim sẽ nói: "Không, ta cười là xấu, vì chuyện ấy không thể
cười được!"
Nhất định sẽ như thế, Karamazov ạ, tôi hiểu anh, Karamazov! -
Kolia kêu lên, mắt loé sáng. Mấy thằng bé xúc động, cũng muốn kêu lên điều gì,
nhưng nén được, chăm chú và cảm kích nhìn diễn giả.
- Áy là tôi nói về nỗi sợ hãi rằng chúng ta sẽ trở thành người
xấu Aliosa nói tiếp. - Nhưng tại sao ta lại trở thành người xấu, phải không,
thưa các bạn? Thứ nhất và trước hết là chúng ta sẽ nhân hậu, rồi sau đó là
chính trực, tiếp đó chúng ta sẽ không bao giờ quên nhau. Điều này tôi xin nhắc
lại lần nữa. Tôi hứa với các bạn là sẽ không quên một người nào trong các bạn;
mỗi gương mặt lúc này đang nhìn tôi, tôi sẽ không quên, dù là hai mươi năm nữa.
Ban nãy Kolia nói với Kartasov rằng chúng ta dường như không muốn biết "có
cậu ta trên đời hay không". Lẽ nào tôi có thể quên rằng có Kartasov ở trên
đời, rằng lúc này cậu ấy không đỏ mặt như khi khám phá ra thành Thoa, mà nhìn
tôi bằng cặp mắt tuyệt đẹp, nhân hậu và vui vẻ. Thưa các bạn, các bạn đáng yêu
của tôi, tất cả chúng ta sẽ rộng lượng và can đảm như Iliusa, thông minh, cản đảm
và hào hiệp như Kolia (nhưng lớn lên Kolia sẽ thông minh hơn nhiều), và chúng
ta cũng sẽ bẽn lẽn, không khá thông minh và đáng yêu như Kartasov. Mà tại sao
tôi chỉ nói đến hai người ấy! Tất cả các bạn từ nay đều đáng yêu đối với tôi
tôi thâu nhận tôi vào trái tim tôi, và tôi mong các bạn cũng sẽ thâu nhận tôi
vào trái tim các bạn! Nhưng ai đã liên kết chúng ta trong tình cảm tốt lành ấy
mà bấy giờ chúng ta sẽ luôn luôn nhớ tới, dự định nhớ tới, ai nếu không phải là
Iliusechka, cậu bé nhân hậu, cậu bé đáng yêu, cậu bé mãi mãi thân thiết với tất
cả chúng ta! Chúng ta sẽ không bao giờ quên Iliusa, kỷ niệm tốt đẹp về Iliusa sống
mãi trong lòng chúng ta, từ nay và mãi mãi về sau.
- Đúng thế, đúng thế, mãi mãi, mãi mãi! - Tất cả các cậu bé
reo vang lanh lảnh, vẻ mặt cảm kích.
- Chúng ta sẽ nhớ cả gương mặt, cả quần áo, cả đôi ủng tàng,
cả cỗ quan tài nhỏ bé của bạn ấy, cả ông bố khốn khổ tội lỗi của bạn ấy, cả việc
bạn ấy đã can đảm một mình chống lại cả lớp để bênh vực bố!
- Chúng tôi sẽ nhớ, sẽ nhớ. - Bọn trẻ lại reo lên. - Bạn ấy
can trường, bạn ấy tốt bụng.
- Tôi yêu bạn ấy biết bao! - Kolia kêu lên.
- Ôi, các em, các bạn thân mến của tôi, đừng sợ cuộc sống! Cuộc
sống đẹp xiết bao, khi ta sẽ làm một việc gì tốt đẹp và chân thực!
- Đúng thế, đúng thế. - Bọn trẻ hoan hỉ nhắc lại.
- Anh Karamazov, chúng tôi yêu anh. - tiếng một người hăm hở
kêu lên, hình như là Kartasov.
- Chúng tôi yêu anh, chúng tôi yêu anh. - Tất cả hùa theo.
Nhiều em long lanh nước mắt.
- Hoan hô Karamazov! - Kolia phấn chấn tuyên bố.
- Nhớ mãi người bạn nhỏ đã qua đời! - Aliosa nói thêm với giọng
thấm thía.
- Đời đời ghi nhớ! - bọn trẻ lại phụ họa.
- Anh Karamazov! - Kolia gào to. - Có đúng tôn giáo nói rằng
tất cả chúng ta sẽ từ kẻ chết sống lại, chúng ta sống lại và sẽ lại gặp mặt
nhau, kể cả Iliusechka phải không?
- Nhất định chúng ta sẽ hồi sinh, nhất định sẽ gặp lại nhau
và vui vẻ sung sướng kể với nhau mọi chuyện đã xảy ra. - Aliosa trả lời, nửa cười
cợt, nửa hân hoan.
- A, như vậy thì hay quá.
- Còn bây giờ, chúng ta sẽ thôi không nói nữa và đến dự cỗ
tang Iliusa. Đừng bối rối về chuyện cỗ bàn trong đám tang. Đấy là cổ lệ từ xưa,
như vậy có cái hay của nó, - Aliosa bật cười. - Ta đi thôi! Bây giờ ta nắm tay
nhau cùng đi.
- Và mãi mãi sẽ như thế, suốt đời tay nắm tay! Hoan hô
Karamazov! - Kolia hoan hỉ reo lên lần nữa, và một lần nữa tất cả bọn trẻ cùng
reo lên với nó.
Chú
thích:
Fedor Pavlovich (Karamazov) = bố
Dmitri Fedorovich (Karamazov) = Mitia, con cả
Ivan Fedorovich (Karamazov) = con thứ
Alexei Fedorovich (Karamazov) = Aliosa, con út
Xmerdiakov (Karamazov) = con rơi của người bố
Grigori Vaxilievich, người hầu của bố
Marfa Ignatievna, vợ của Grigori
Agafia Ivanovna, con gái đầu viên trung tá
Ekaterina Ivanovna = Katia, con gái thứ hai trung tá
Grusenka = Grusa = Agrafena Alecxandrovna =, người mà Mitia
yêu
Kuzma Kuzmir; bố nuôi, bồ già của Grusenka
Gherxenstube, bác sĩ
Ekaterina Oxipovna Khokhlakova mẹ của Elizaveta (Liza)
Elizaveta (Liza) cô bé bị liệt
Prokhorovna: bà mẹ có con đi lính không có tin tức
Nikolai Parfenovich Nekhliudov, dự thẩm
Perkhotin, Petr Ilych, bạn của Mitia, cầm đồ
Fetiukovich, luật sư bào chữa cho Mitia
Trifon Borisovich, chủ quán ở Mokroe
Ippolit Kirinlovich, biện lý
Mikhail Makarovich, cảnh sát trưởng.



































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét