"Lá trúc che ngang mặt chữ điền":
1. Cái điều cần chú ý đầu tiên phải là: Câu thơ này có
thể đọc theo hai loại nhịp:
a- Lá trúc che ngang | mặt chữ điền.
b- Lá trúc che | ngang mặt chữ điền.
Điều giản dị này là không thể phản bác nhưng rõ là cũng ít
người để ý đến, ít ra là với những ý kiến mà chúng ta đã được đọc. Vậy, đọc
theo nhịp khác nhau thì ý nghĩa có khác nhau lắm không? Đặc biệt, liệu nó có ảnh
hưởng đến cách hiểu ba chữ thường gây tranh luận là “mặt chữ điền” không?
Theo tôi là có.
Nhịp là một yếu tố quan trọng của ngôn ngữ thơ. Vần cũng là một
loại nhịp, là một tiêu điểm của nhịp. Thơ có thể không vần nhưng nhất thiết phải
có nhịp, phải tạo nhịp. Loạn nhịp thực chất cũng là một cách biểu hiện nhịp
cũng như không gian zéro cũng là một loại không gian trong nghệ thuật tạo hình.
Nhịp của một câu thơ có thể rất hiển minh, mạch lạc (như các thể thơ có niêm luật
bắt buộc, chặt chẽ) mà cũng có thể linh hoạt, phong phú (như trong thơ lục bát,
thơ tự do). Và không loại trừ ở một liên kết lời, câu thơ có thể đa nhịp. Sáng
tác thơ là cấu trúc nên một tổ hợp nhịp. Tiếp nhận thơ là tái cấu trúc tổ hợp
đó. Tái cấu trúc không loại trừ khả năng đồng sáng tạo của người đọc. Tính chất
đa nhịp của câu thơ đang bàn là có thật trước mắt chúng ta.
Để ngắt nhịp được một câu thơ, người ta sử dụng phối hợp hai
yếu tố ngữ âm và ngữ nghĩa. Yếu tố ngữ âm thường thể hiện phổ biến ở những thể
thơ có niêm luật chặt chẽ, quen thuộc cho cả người sáng tạo và người tiếp nhận.
Yếu tố ngữ nghĩa thể hiện ở những liên kết cục bộ tạo nghĩa trong dẫy lời. Kinh
nghiệm khi phiên thơ Nôm ra chữ quốc ngữ, khi dịch thơ, khi phân tích thơ nếu
không phát hiện được nhịp (hoặc đa nhịp) của câu sẽ dẫn đến cách hiểu thiên kiến,
có khi lệch lạc ý thơ.
Với cách ngắt nhịp theo a ở trên, ta thấy phần có
lí của nó nằm ở sự tương đồng nhịp với hai câu kế ngay phía trước:
Nhìn nắng hàng cau| nắng mới lên
Vườn ai mướt quá| xanh như ngọc
Lá trúc che ngang| mặt chữ điền.
Chữ ngang ở đây ắt hẳn thuộc về tổ hợp trước và là
trạng thái bổ nghĩa cho động từ che, đến lượt hai chữ che ngang sẽ
là trạng thái bổ nghĩa trực tiếp cho lá trúc. Cả cụm lá trúc che
ngang bởi vậy mang tính cụ thể, chi tiết, sinh động, rõ ràng như những nét
vẽ mực tàu minh bạch. Sự nhận thức minh bạch này tạo quán tính tâm lí cho việc
nhận thức ba chữ tiếp theo mặt chữ điền cũng trong tâm thế minh bạch:
mặt ai? mặt cái gì? cụ thể nó ra thế nào? Ý thơ nghiêng về phía miêu tả, tự sự,
tả cảnh, tả thực. Điều này phù hợp với tinh thần lớn lao của thời đại đào tạo
nên tất cả chúng ta: Văn học phải phản ánh hiện thực, phải là tấm gương của thời
đại. Điều này cũng dễ phù hợp với cách thức phân tích thơ đơn giản: Kể lại hình
ảnh tác phẩm kèm theo những tán thán đẹp lắm, đẹp thật, tuyệt làm sao, hay quá
ta… Ai cũng vậy thôi, chúng ta từng trải qua tập làm văn trên ghế nhà trường, từng
toát mồ hôi trong buổi dạy đầu tiên, từng viết những trang nghiên cứu sơ giản
mà giờ đây đọc lại phát ngượng cả lên.
Cách ngắt nhịp và cách hiểu này mang sức nặng của số đông, có
tính phổ biến, và ngay cả những nhà nghiên cứu, phê bình mà tôi rất trân trọng
cũng nghiêng một cách tự nhiên về nó. Hệ quả rút ra là nếu dịch câu thơ này ra
một ngôn ngữ biến hình thì từ lá trúc chắc chắn sẽ thuộc phạm trù số
ít.
Với cách ngắt nhịp b ta thấy tình hình có khác. Đây
là một biến nhịp so với hai câu liền trên nhưng không là lạ so với câu đầu tiên
trong bài: Sao anh không về chơi thôn Vĩ. Câu đầu tiên là một liên kết
không mạch lạc về nhịp (dù nghĩa rất mạch lạc). Tốt nhất ta coi cả câu là liền
một nhịp thể hiện như một đồng vọng nguyên khối lời nhắn nhe mời gọi hoặc sự thầm
nhắc không nhất thiết được trang sức bằng nhịp. Cũng có thể có một cách ngắt nhịp
nhẹ nào đó theo thói quen ngữ âm nhưng ở đây tỏ ra không cần thiết. Cả câu thơ
là một nhịp là điều vẫn thường thấy. Tôi rất thích thú khi đọc Tản Đà bình câu
Kiều:
Dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh.
Cụ viết: “Câu này có một thế văn đặc biệt. Văn lục bát thường
hai chữ đi với nhau một chập; như câu đây thời chữ xe ở thứ hai đi
luôn với chữ ngựa ở thứ ba, lại chữ lờ ở thứ sáu đi luôn ở chữ mờ ở
thứ bảy; trong tám chữ không thể ngắt hơi vào chữ nào, mà tiếng trong tiếng đục
xứng hợp, khéo ngâm tự thấy có hưởng điệu khác hẳn các câu thường”. Đọc kỹ thấy
Tản Đà thật tinh tường, câu thơ chữ níu nhau y hệt một sân rêu bò lan che cả vết
xe vì lâu ngày xa mã bất đáo, khách chơi không vãng lai.
Theo cách này, cả khổ thơ sẽ có nhịp như sau:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ|
Nhìn nắng hàng cau| nắng mới lên
Vườn ai mướt quá| xanh như ngọc
Lá trúc che| ngang mặt chữ điền.
Sự biến nhịp cũng là việc thường thấy. Tôi kể câu chuyện về
nhịp câu thơ của Nguyễn Đình Thi:
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.
Trong đáp án được GS Mã Giang Lân đưa ra để chấm thi đại học,
câu thơ trên được phân nhịp Sau lưng|| thềm| nắng| lá| rơi
đầy và giải thích rằng thềm, nắng, lá là ba thực thể sau lưng
người chiến sĩ ra đi khỏi Thủ đô. Tranh luận nổ ra ngay lập tức. Hội đồng quyết
định cử người đi hỏi nhà thơ. Nguyễn Đình Thi giải thích: “À, nhịp nó là thế
này Sau lưng| thềm nắng|| lá rơi đầy. Ở đây tôi thực hiện một
cú đảo phách so với hai câu trước đó (Những phố dài| xao xác hơi may.||Người
ra đi| đầu không ngoảnh lại). Không đảo phách thì nghe nó đều đặn tầm thường.
Còn hình ảnh thì tự hiện ra thôi vì chữ nó mang nghĩa vựng, không như nốt nhạc”.
Thế là xong chuyện. Nhưng Hàn Mặc Tử thì ta không thể đến mà hỏi ông được nữa.
Chấp nhận vậy.
Theo cách ngắt nhịp b này thì ngang sẽ
thuộc về tổ hợp sau và nó có nghĩa như chừng, tầm, độ… Chữ ngang của
cách hiểu trước và chữ ngang của cách hiểu sau mang sắc thái nghĩa
khác nhau. Nếu dịch sang tiếng nước khác thì có thể phải khác đi. Ví như chữ
Hán thì ngang trước có thể là hoành, ngang sau có thể là tề.
Về mặt dùng từ, nếu cách hiểu a cho ta một chữ ngang tinh
tế, cụ thể thì cách hiểu b cho ta một chữ ngang ước lượng,
tương đối ở một tầm quan sát xa hơn, không đòi hỏi chi tiết, minh bạch. Chính yếu
tố ảo này làm cho trong kết cấu lá trúc che, từ lá trúc không
còn đơn chiếc nữa mà sẽ là nhiều lá, hay có thể là cả rặng trúc cảnh, người ta
xén bằng bao quanh vườn. Nói cây chuối thì không phải là 1 cây chuối
(vì vốn là ba tiêu), nói cây lúa thì không phải là 1 cây lúa
trên tay, nói hoa ngô lút đầu thì quyết không phải là 1 chiếc hoa ngô. Nếu ở
đây, dịch ra ngôn ngữ biến hình thì từ lá trúc chắc chắn sẽ nằm dưới
dạng số nhiều. Cách nhìn nhận này sẽ kéo theo quán tính hiểu mặt chữ điền như
một hình ảnh ước lệ (theo thói quen quá khứ). Câu thơ nghiêng về phía trữ tình,
giàu tính biểu hiện, tả tâm trạng, tả tình.
2. Tiếng Việt là vậy, các phạm trù ngữ pháp hầu như
không thể hiện qua cấu tạo âm tiết. Nó nằm ở nghĩa hoặc nằm ở liên kết, ở ngữ cảnh,
ở cách dùng. Trên văn bản thơ ca, nó tạo ra tính đa nghĩa, lung linh như là một
lợi thế, nó cũng tạo ra những cách hiểu khác nhau dẫn đến tranh luận như những
hoạt động văn chương phong phú và lý thú.
Câu thơ của Hàn Mặc Tử là một tích hợp lung linh, có mặt này
và có mặt khác. Cuộc truy tìm để giải thích ba chữ mặt chữ điền sẽ
mãi hấp dẫn bởi chính điều đó.
Lối đi a rõ ràng nghiêng về phía tiếp nhận văn bản
theo hướng tìm yếu tố tự sự góp phần sáng tạo nên một tác phẩm trữ tình. Trước
hết, chỉ ra mặt chữ điền là mặt ai? mặt cái gì? Kết quả làm chúng ta
thích thú và khâm phục. Tùy theo từng ý kiến, ta thấy: là gương mặt phụ nữ, là
gương mặt Hoàng Cúc, là gương mặt cương nghị của đàn ông, là gương mặt của
chính Hàn Mặc Tử, là gương mặt của ông chủ “vườn ai”, là khuôn mặt phúc hậu
theo quan niệm tướng mạo thời xưa, là mặt bức bình phong trước sân, là mặt bức
chấn phong, là hình ảnh “mắt vườn” trổ vuông chữ điền vẫn hiện hữu, là mảnh vườn
cùng cành trúc, lối đi trong mắt nhìn tích hợp ảo và thực của thi sĩ… Tôi cũng
xin lỗi các tác giả và người đọc khi không nêu xuất xứ cụ thể bởi, thứ nhất,
tôi tôn trọng và không có ý định tranh luận, thứ hai, bạn có thể mở máy tính bất
cứ lúc nào cũng đọc được các ý kiến trên đầy đủ hơn.
Đó là những ý kiến của những người đã cất công đi tìm. Tôi
không có phát kiến gì hơn theo hướng này mà chỉ biết rằng, do cách ngắt nhịp
câu thơ nên xu hướng là truy tìm hình ảnh cụ thể. Mà theo hướng này thì cũng có
thể suy ra nhiều thứ như: mặt bể cạn có cành trúc là rà, cổng bình môn có lá
trúc che ngang, nhìn xuyên lá trúc vào cửa sổ có xuyên hoa chữ điền…
3. Về lối đi b, nghiêng về phía phát hiện văn bản
trong tính trữ tình của nó, tôi có suy nghĩ nhiều để giải thích vì sao lại có
cái lý của lối đi a, có đọc sâu văn bản được hơn chăng? Khả năng kết hợp
hai lối như thế nào?
Trước hết phải thừa nhận kết cấu mặt chữ điền về
ngôn ngữ là một cụm từ, về nghệ thuật ngôn từ dân gian nó là một thành ngữ.
Thành ngữ là những cụm từ chứa đựng yếu tố mỹ cảm khi sử dụng, nó tồn tại lâu
dài trong cuộc sống và được lặp lại trong nói năng, sinh hoạt văn nghệ dân
gian. Thành ngữ này đã ổn định trước khi Hàn Mặc Tử làm bài thơ Đây thôn
Vĩ Dạ mà ta thấy còn ghi trong từ điển. Đại Nam quấc âm tự vị của
Huình Tịnh Paulus Của làm 1895 có ngữ liệu Mặt chữ điền và chú thích
gọn lỏn: Mặt vuông (Ở mục Điền). Từ điển Hán Việt của
Đào Duy Anh làm năm 1931 cho ta ngữ liệu thú vị hơn cũng ở mục Điền: Điền
tự diện - Mặt vuông như hình chữ điền. Chúng ta hãy xem xét cách chú nghĩa
của các tác giả từ điển này sau, nhưng rõ ràng là, khi sáng tác bài thơ, Hàn Mặc
Tử đã sử dụng nguyên khối một thành ngữ có sẵn. Đây rõ ràng là cách dùng theo lối
ước lệ với nghĩa chặt chẽ của từ này, ước là làm theo, lệ là
cái cũ đã thành thói quen. (Không có khái niệm nghệ thuật ước lệ trong
lý luận văn học thế giới, chỉ có ở Việt Nam mình). Nhà thơ là sáng tạo nhưng
cách sử dụng trong ngữ cảnh là phong phú. Ví như Hàn Mặc Tử viết xanh như
ngọc là sử dụng nguyên khối, còn khi ông viết thơm như ngọc là
sáng tạo độc đáo vì truyền thống không chắc ai đã nói vậy. Từ điển cho ta ngữ
liệu mặt chữ điền và điền tự diện nhưng khi chú giải cho
rõ, cả hai tác giả đều thêm tính chất vuông. Thật thế chăng? Thêm vào
một chữ thì, theo lô gic học, nội hàm sẽ lớn hơn nhưng ngoại diên sẽ hẹp đi.
(Như cái áo cà sa, danh từ nhà Phật gọi là điền y hay thủy điền y mà
chú là áo vuông thì quả không ổn, nó dùng để chỉ chiếc áo được chắp bằng
các mảnh vuông và phô diễn các chữ điền liên tục kiểu hồi văn). Tốt
nhất, chúng ta chấp nhận cả hai thành ngữ vốn đã tồn tại MẶT CHỮ ĐIỀN và MẶT
VUÔNG CHỮ ĐIỀN. Hai thành ngữ này có nghĩa chồng lên nhau nhưng không hoàn toàn
là trùng khít lên nhau.
Chúng ta hãy biện luận. Nếu để chỉ gương mặt vuông mà thôi,
hà cớ gì người ta không nói mặt chữ VI hay VI TỰ DIỆN. Chữ vi điền.
Gương mặt bị cắt ngang dọc như vậy thì là cái gì? Lại ruộng nữa chứ, nơi người
ta người ta cày xới, dẫm lên, có lúc cũng chả sạch sẽ gì. Sao lại hình dung mặt
người như vậy? Trong vấn đề này, chỉ còn hai nguyên do đáng để ý: Nhân tướng
học và Nhân trắc học. không có nét ngang và nét sổ ở trong nên vuông
vức, sạch sẽ phẳng phiu hơn chữ
Nhân tướng học là việc trực quan hình thức con người (đường
nét, màu sắc, hình khối, sự vận động) để đưa ra xét đoán về tâm tính, năng lực,
số mệnh đối tượng. Nhân trắc học là việc đo những yếu tố trên để thiết lập các
đại lượng có thể dùng cho nhân tướng học nhưng cũng thường dùng cho y thuật,
các ngành khoa học khác và trong truyền thống, hay dùng cho các nghệ thuật như
hội họa, điêu khắc, kiến trúc, sân khấu v. v... Nhân tướng học và nhân trắc học
có phần giao thoa cùng nhau.
Nhân tướng học Trung Hoa phong phú các trường phái, các lĩnh
vực, trong đó có tướng mặt là tiêu điểm. Xem tướng mặt cũng có
nhiều trường phái trong đó có cách mô tả tướng mặt theo dáng chữ (tự
dạng). Có 10 chữ thường dùng để hình dung diện mạo: Chữ Viên, chữ Điền, chữ Do,
chữ Phong, chữ Dụng, chữ Mục, chữ Đồng, chữ Vương, chữ Giáp, chữ Thân. Trong
đó mặt chữ điền được nhìn nhận: khuôn vuông, mặt rộng rãi, các nét
ngang dọc ngay ngắn cân đối, đàn ông cương nghị, đàn bà đoan chính, hậu vận
sáng tươi.
Còn nhân trắc học khi dùng cho hội họa và tạc tượng người ta
chia hình chữ nhật cạnh đáy 3 cạnh bên 4 thành bốn phần bởi một nét
ngang và một nét sổ đi qua điểm giữa của 4 cạnh thành một chữ điền cân
đối. Nét ngang sẽ đi qua hai nhãn cầu mà từ đó ngược lên chạm đỉnh đầu, phần dưới
trở xuống chạm đáy cằm. Đó sẽ là trắc diện cơ bản. Đời cha cho chí đời con, Vẽ
vuông rồi mới vẽ tròn thì nên. Thay vẽ bằng đẽo hay đục cũng
vậy thôi. Như vậy, theo trình tự thể hiện thì tròn được xem như là một sự
tiếp tục, một bến thái của vuông. Khi vẽ hoặc tạc tượng, người ta tùy theo
nhân vật mà trình bày nhân tướng các bộ phận trán, lông mày, mắt, mũi, gò má,
miệng, cằm, tai. Mỗi thứ có rất nhiều loại thể hiện tính cách cho nam hoặc cho
nữ. Lông mày là một mục rất quan trọng vì nó lấy nét làm cơ
sở và nằm hướng ngang giữa gương mặt. Một gương mặt ngang bằng sổ thẳng là
gương mặt tốt đẹp cho cả nam và nữ. Trong tính lý tưởng, chữ điền là
đại diện cho cách viết chữ ngang bằng sổ thẳng, nó được thể hiện bằng các
nét luân phiên các thao tác đều đặn: nét 1 sổ thẳng, nét 2 ngang bằng + sổ thẳng,
nét 3 ngang bằng, nét 4 sổ thẳng, nét 5 ngang bằng để khóa chữ.
Tóm lại là, trong nhân tướng học hay nhân trắc học, khi
nói đến điền tự diện hay mặt chữ điền thì về trực quan
tối thiểu có hai yếu tố: thứ nhất, gương diện có hình vuông (không loại trừ biến
dạng gần gũi như hình chữ nhật mà hai cạnh liền nhau không quá chênh lệch, trên
thực chất không có gương mặt tuyệt đối vuông): thứ hai, đường nét cơ bản nhất
phải ngang bằng sổ thẳng chia hình đó làm 4 phần bằng nhau. Nếu chỉ nhận thức trong hai yếu tố đó sẽ là không đầy đủ. Ví dụ đẳng thức: mặt chữ điền = mặt
vuông = mặt đàn ông là chỉ hiểu một nửa ý nghĩa. Cũng như việc coi gương mặt có
nét ngang bằng sổ thẳng là mặt chữ điền cũng chỉ dùng một nửa ý nghĩa
của thành ngữ này.
4. Đó là nguyên do. Còn từ nguyên do vào đời sống tinh thần,
đời sống ngữ văn thì không phải bao giờ cũng mạch lạc như vậy. Chặt chẽ như các
triết thuyết, nghi thức như các tôn giáo khi lan vào các không gian khác nhau,
các hoàn cảnh khác nhau, khi trượt trong các thời kỳ lịch sử khác nhau còn lắm
phân rã, tha hóa nữa là. Khi một khái niệm hay một thành ngữ đi vào cuộc sống,
không phải bao giờ người dùng nó cũng hiểu hết ý nghĩa, người ta chỉ sử dụng
nét nghĩa có ích cho giao tiếp, cho biểu đạt mà thôi.
Trong truyện Nôm thế kỷ XIX trở về trước, không khó khăn lắm
khi ta thấy cách tả gương mặt người đẹp theo thao tác hội họa kiểu mặt chữ
điền (vẽ vuông rồi mới vẽ tròn) dưới hình thức giản ước.
Thúy Vân trong truyện Kiều được mô tả:
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Tính cách Thúy Vân là trang trọng khác hẳn bạn đồng
lứa (vời là vì, là vị, là đồng trang lứa). Nội tiếp hình vuông
là một khuôn trăng. Nét ngài nở nang là nét lông mày kéo thẳng
và rộng về hai bên trên khoảng đường ngang chính giữa chữ điền.
Nàng Kính Tâm giả trai không dấu nổi đoan trang trong văn
Chèo:
Người đâu tu ở chùa này
Cổ kiêu ba ngấn, lông mày nét ngang.
Ở đây chữ nét hiển hiện như dùng bút mà vẽ vậy.
Nàng Kiều Liên trong truyện Phan Trần được vẽ:
Một nàng trinh nữ xinh sao
Mày ngang bán nguyệt, miệng chào trăm hoa.
Bán nguyệt là dáng lông mày, ngang là hướng
lông mày trên đường trung phân.
Truyện Phương Hoa, nhân vật này tô điểm hình dung:
Áo quần hây hẩy hơi sương
Rà rà tóc phượng, ngang ngang mày ngài.
Trong truyện thơ Chiêu Quân cống Hồ, khi vẽ người thay
thế cho Chiêu Quân, cũng phải đẹp tương tự, Mao Diên Thọ phác bút truyền thần:
Chân dung đệ nhị mĩ nhân
Khuôn viên đủ nhạc, cân phân rõ ràng.
Rõ là vẽ chân dung. Nhạc ở đây
là ngũ nhạc : Trán, mũi, gò má trái, gò má phải, cằm. Cân phân rõ
ràng là chia đều theo phép chia mặt chữ điền.
Đến đây, trở lại với giải nghĩa của Huình Tịnh Paulus Của và
của Đào Duy Anh thì rõ do là bởi mục đích phổ thông của từ điển mà họ chỉ giải
nghĩa ngắn gọn nhất, thông dụng nhất. Cả hai từ điển trên không phải là từ điển
mỹ học. Vậy, mặt vuông chữ điền là cách nói dân gian có tính thông dụng
và không thể đại diện đầy đủ cho mặt chữ điền. Và như vậy, mặt chữ điền chắc
chắn trong cảm thức nghệ thuật thời Hàn Mặc Tử sẽ là một gương mặt đoan chính,
phúc hậu. Đọc theo cách ngắt nhịp b, ta có thể chuyển nghĩa gần gũi kiểu
như: Lá trúc che | ngang mặt người hiền... chẳng hạn.
Còn họ là ai thì có thể là một người phiếm định trong niềm trân trọng, yêu
thương, quý mến của nhà thơ, những người có thể không quen biết như vẫn thật nồng
hậu với nhà thơ.
Hàn Mặc Tử sinh 1912, sau Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Văn Huyên 4
năm, sau Quách Tấn 2 năm, trước Trần Huyền Trân 1 năm, trong một gia đình bố là
một trí thức giỏi Hán học, thông thạo tiếng la tinh và Pháp văn. Thời trẻ, ông
thành thục thơ luật Đường đến mức được ngợi ca là hiện tượng, ông chung thủy
làm bạn cùng Quách Tấn, một thi bá luật Đường hiện đại. Những bài thơ luật ông
để lại buồn du dương, mang tâm trạng cổ điển.
- Khóc dùm thân thế hoa rơi lệ
Buồn giúp công danh dế dạo đàn...
- Vội vàng chiếc nhạn thu qua trớt
Buồn bả hơi may thoảng lại rơi
Nằm gắng mà không thành mộng được
Ngâm tràn cho đở chút buồn thôi…
Một người như thế chắc mấy chữ mặt chữ điền phải có
cốt cách nghĩa lý lắm. Một người như chúng ta ngày nay, từ mặt chữ điền,
khăng khăng bám lấy mặt vuông chữ điền mà giải rằng thi sĩ không tả
phụ nữ thì liệu có đủ tri âm không.
Nhưng thơ ca là thơ ca. Hàn Mặc Tử sáng tạo chứ không trích
cú. Bởi vậy, khi bột phát lời thơ giữa cơn cảm hứng nồng nàn và day dứt, mọi điều
có thể xảy đến, có thể đồng hiện: đó là người thương, người quen, người dưng đằm
thắm, là khu vườn, là bình phong, mắt gạch. Ấn tượng bùng lên từ thăm thẳm tâm
thức thì ai mà khảo đến tận cùng. Cũng như cầu thủ giỏi, đi một động tác không
tưởng thì có ai biết được từ ông thầy nào dạy cho. Kỹ năng đã trở thành bản
năng. Người làm thơ cũng xuất thần như vậy. Hàn Mặc Tử cũng như vậy, gương mặt
người trong mộng hiện lên nhưng cùng với nó sẽ là bao tâm cảm chứa trong ba chữ
MẶT CHỮ ĐIỀN.
Hà Nội 18/ 5/2010
Nguyễn Hùng Vĩ







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét