Ngụ ngôn của người đãng trí - Bản trường ca
Ngô Kha (1935-1973) [1] được
biết đến trước hết là một trí thức, một thi sĩ dấn thân đầy nhiệt huyết của những
năm 60 - khi thân phận con người đang đứng trước sự lựa chọn quyết liệt của lịch
sử. Cuộc đời thăng trầm, ngắn ngủi mà nhiều biến động của Ngô Kha, cũng như của
lịch sử Huế thời ấy in dấu ấn đậm nét không chỉ trong những trang tiểu sử,
trong lòng bạn bè và học trò ông mà còn tỏa sáng trong những thi phẩm đặc biệt
mà ông để lại. Có lẽ, không cần phải viết lại tiểu sử Ngô Kha, bởi, dù rằng ở
các tuyển tập, các công trình mang tính phổ biến tên tuổi Ngô Kha còn ít được
nhắc đến, nhưng với giới trí thức và đặc biệt các thi sĩ đương thời, theo quan
sát của tôi, không ít người rất hâm mộ Ngô Kha; hơn nữa, mục đích của chúng tôi
trong bài viết khiêm tốn này là muốn khám phá một hồn thơ và những điểm độc đáo
của bản trường ca siêu thực Ngụ ngôn của người đãng trí - tác phẩm được
xây đắp bởi những hoài bão, những đớn đau trước hiện thực chiến tranh, những ám
ảnh vô thức, nơi “nỗi cô đơn niềm tuyệt vọng cháy sáng”.
Ngụ ngôn của người đãng trí được kiến tạo theo hình thức
của chủ nghĩa siêu thực hư ảo. Chủ nghĩa siêu thực, trên cơ sở phân tâm học của
Freud và thuyết trực giác của Bergson, muốn đưa lại một cách nhìn mới và chính
xác về thực tế, một thực tế kết hợp giữa thực và mộng, giữa vô thức và ý thức,
giữa có lý và phi lý. Và để có thể nhất thể hóa được hai thế giới, hai trạng
thái ấy, các nhà siêu thực đề ra lối viết tự động và nhấn mạnh đến thế giới của
hình ảnh. Lối viết tự động đưa đến sự tự do, có thể thể hiện được tính đa chiều
kích của hiện thực và của thế giới tâm hồn, nó phá tan những mô hình cổ kính của
vần luật. Khi không còn vần luật và những trói buộc của hình thức thì hình ảnh
dường như chiếm dụng toàn bộ bài thơ, hình ảnh tạo nên và là chất thơ. Cho nên
thơ siêu thực là “những va đập chói lòa của từ ngữ”, nó đánh mạnh vào trực giác
và trí tưởng tượng, kết hợp với lối viết tự động, mở ra một thế giới chông
chênh, nhiều đối nghịch và phi lý. Phong trào siêu thực ra đời giữa hai cuộc đại
chiến, có nguyên nhân từ sự thất vọng về xã hội tư sản và nền văn minh kỹ trị
phương Tây; có lẽ vì thế, đa số những nghệ sĩ khởi xướng phong trào này đều là
những người dấn thân quyết liệt (như Aragon, P. Eluard…). Ở Việt Nam, chưa
(không) có chủ nghĩa siêu thực nhưng ảnh hưởng và dấu ấn siêu thực thì có trên
mọi phương diện, trên cả cách dấn thân của người nghệ sĩ, đặc biệt thấy rõ
trong thơ văn của các thi sĩ miền Nam thời bị tạm chiếm - mà đậm đặc, tạo nên một
con đường riêng là thế giới của người thơ Ngô Kha và thế giới ca từ siêu thực
(cũng là những bài thơ siêu thực) của Trịnh Công Sơn.
Trường ca Ngụ ngôn của người đãng trí gồm khoảng 800
câu thơ, chia thành 8 phần, đánh số, không đề mục - ngay cách thức này đã khác
với kiểu kết cấu của những bản trường ca đương thời, nó thể hiện dòng ý thức
tuôn chảy tự do, không bị câu buộc bởi thói quen thể loại; sau này, đến Nguyễn
Quang Thiều, Lê Vĩnh Tài chúng ta mới gặp lại kiểu trường ca có hình thức tự do
như thế. Những câu thơ “chói sáng” dường như dẫn dắt người đọc vào mê cung của
những giấc mơ và tưởng tượng. Kết cấu kiểu ngôi nhà gương, kiểu đa chiều kích,
kiểu vòng tròn khiến thế giới như được phản quang từ vô số hướng. Đó cũng là
vòng cung khiến người ta hoảng hốt, sợ hãi, đơn độc vô vọng. Lối viết siêu thực
tự do như sông chảy rất gần với chủ nghĩa hậu hiện đại nhưng toàn bộ tác phẩm tầng
tầng lớp lớp đều là một nhất thể: trận chiến đấu quyết liệt với chính mình của
thi sĩ Ngô Kha.
Sự cô độc là tâm trạng chính mà Ngô Kha thể hiện trong các
tác phẩm trước 1970 [2].
Ở đây, nỗi cô đơn của nhân vật trữ tình trải dài miên man trên cánh đồng đá
đen, trên dòng sông “chưa khô nguồn lãng mạn”, trên sa mạc khát bỏng, trong những
giấc chiêm bao nhiều mộng mị, nơi anh không thể thoát khỏi “bốn bức tường tuyệt
mệnh” và “cuộc đời sân khấu”. Sự cô độc là mạch chủ lưu và là nội dung chính của
bản trường ca. Đó cũng là thế giới tâm hồn mà các nhà siêu thực thường quan tâm
thể hiện. Mở đầu bằng hai câu: Bây giờ tôi mang hoa đến dòng sông. Đọc diễn
văn truy tặng người đãng trí. Tôi cách biệt với người đãng trí,
tôi truy điệu người đãng trí, nhưng trong toàn bộ thiên trường ca tôi và người
đãng trí lại là một. Nhân vật trữ tình mang tâm hồn nhiều u uất, chán ghét tận
cùng hiện thực chiến tranh, với vô cùng những giằng co và lựa chọn, cho nên, nó
phân thân thành nhiều hình thức:
Là Tôi với những cơn mộng mị:
“… Tôi ở ngoài vùng phán xét.
Không còn ai hiểu được”
“… Tôi biền biệt trôi đi.
Trong hoàng hà tĩnh vật”
Là: “Thằng con trai úp mặt lê
mùa thu mệt mỏi”
Là “Người say rượu uống nhựa thông nằm chết tình cờ” với vô
vàn những dòng suy tưởng dai dẳng và đau đớn về thế giới mà “tên mọi người đã
ghi vào viên đạn”.
Là người hành khất lang thang kiếm tìm hạnh phúc,
đăng đàn thuyết giảng nhưng phải đối diện với những chất vấn về hạnh phúc của
đoàn tử tù, và “Người hành khất lẩn trốn với nàng công chúa trên cung điện”,
“Người hành khất đeo kính đãng trí/ và hát như con diều một dây”.Người hành khất chợt
nhận ra sự ngụy tạo, đành lẩn trốn với chiếc mặt nạ của mình. Hình tượng Đoàn
tử tù dần dần đi vào cõi vô thức, cõi chết như là định mệnh, là sự tuyệt vọng
khôn cùng của cái Tôi bản thể:
“Đoàn tử tù ra đi âm thầm
tiếng trống não nùng vang động bờ vĩnh cửu”
Là “người đãng trí” tự động đánh mất ý thức để phủ nhận thực
tại, chống lại thế lực đang cưỡng ép người ta phải thừa nhận. Nhưng dù có quay
mặt đi thì tiếng kêu chát chúa của đời sống vẫn cứ dội vào tâm thức.
Có thể nói, hàng loạt các hình tượng đan xen, hư ảo trong suốt
bản trường ca làm cho người đọc có cảm giác như nỗi cô đơn, chán nản tuyệt vọng,
kinh hoàng của người thơ trải dài khắp nơi, chỗ nào, nơi nào cũng khắc khoải
day dứt. Người trí thức Ngô Kha lúc này muốn “nuôi dưỡng sự cô đơn”, xây mái
linh hồn mình trong một ngôi nhà khép kín như là một cách bao bọc tự vệ để khỏi
phải dung hòa với hiện thực chiến tranh, khỏi phải đối diện với thế giới của “người
đang chết/ và những người sắp đi vào cõi chết”. Có thể nói, trong nền văn học
hiện đại Việt Nam, đây là bản bi ca nói về sự cô độc hiếm hoi nhưng lại đầy
dũng khí phản chiến. Như chính nhà thơ viết “Tự sát bằng cô đơn nên chẳng bao
giờ chết”, “Nỗi cô đơn niềm tuyệt vọng cháy sáng” - Nỗi cô đơn ở đây xứng đáng
trở thành Nội dung lớn, Cảm hứng lớn của thể loại trường ca vốn được mặc định
là chỉ dành để ngợi ca những anh hùng. Lúc Ngô Kha viết “Ngụ ngôn của một người
đãng trí” là lúc chúng ta phải đối mặt với dã tâm xâm lược bành trướng của chủ
nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ. Huế là tuyến giữa của cuộc chiến, còn là kinh
đô cũ của Việt Nam vốn tập trung nhiều khoa bảng. Huế cũng là nơi Phật giáo có
chỗ đứng và ảnh hưởng sâu đậm trong đời sống văn hóa, là nơi có bề dày truyền
thống yêu nước và cách mạng. Bởi vậy, Huế trở thành mối quan tâm lớn của Mỹ và
chính quyền tay sai. Ngô Đình Diệm đã thiết lập ở đây một bộ máy cai trị cực mạnh
và thi hành chính sách thống trị tàn bạo nhằm bắt nhân dân Huế đi theo quỹ đạo
của chúng, tiến hành đàn áp phong trào cách mạng. Chính Ngô Kha, năm 1966, đã bị
động viên vào trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Bất mãn với chế độ Sài Gòn, Ngô
Kha đã đấu tranh và là một trong những thành viên nồng cốt lãnh đạo chiến đoàn
Nguyễn Đại Thức (đơn vị quân đội Sài Gòn ly khai). Cuộc đấu tranh thất bại, Ngô
Kha bị bắt lần đầu tiên và bị đày đi Phú Quốc. Cũng thời gian này, cuộc hôn
nhân của Ngô Kha tan vỡ. Một đời sống chính trị bức bối, ngột ngạt, đòi hỏi sự
lựa chọn quyết liệt; một niềm đau riêng nhiều khi âm ỉ đã thai nghén nên thế giới
siêu thực “người đãng trí”.
Người thi sĩ đầy hoài bão đã đẩy nỗi tuyệt vọng đến điểm cùng, đến “nỗi cô đơn niềm tuyệt vọng cháy sáng”. Ngụ ngôn người đãng trí là phầm âm bản của tâm hồn con người lên tiếng gào thét, những lời nói mê sảng vô nghĩa lý chính là sự “minh triết của người điên”. Sau điểm cùng ấy, thi sĩ buộc phải lựa chọn, anh không thể “nằm yên trong nhà tù vĩnh cửu” được nữa, mà quyết định dấn thân vào cuộc đấu tranh đầy cam go chống lại chế độ Mỹ Ngụy. Cho nên, hai câu mở đầu của trường ca:
Người thi sĩ đầy hoài bão đã đẩy nỗi tuyệt vọng đến điểm cùng, đến “nỗi cô đơn niềm tuyệt vọng cháy sáng”. Ngụ ngôn người đãng trí là phầm âm bản của tâm hồn con người lên tiếng gào thét, những lời nói mê sảng vô nghĩa lý chính là sự “minh triết của người điên”. Sau điểm cùng ấy, thi sĩ buộc phải lựa chọn, anh không thể “nằm yên trong nhà tù vĩnh cửu” được nữa, mà quyết định dấn thân vào cuộc đấu tranh đầy cam go chống lại chế độ Mỹ Ngụy. Cho nên, hai câu mở đầu của trường ca:
Bây giờ tôi mang hoa đến dòng sông
Đọc diễn văn truy tặng người đãng trí
Cũng là sự giã từ với thế giới vô hình, với cái nhà tù cô đơn
mà anh tự xây đắp trú ngụ, để lột xác hồi sinh bằng một cái Tôi mới - cái Tôi với
dòng máu anh hùng “Ta lên tiếng cho ngục tù vỡ nát/ bao gông cùm tan chảy dưới
mặt trời” (Bài ca tự quyết).
Thơ siêu thực vốn không muốn tuân theo logic thông thường, nó
muốn đi sâu khám phá vùng mờ vô thức trong thế giới tâm hồn con người. Bên
trong là những ám ánh, những hiện thực thực nhất mà mắt thường khó có thể nhìn
thấy; bề ngoài là trực giác của hình ảnh, là những mảng màu, những ngôn từ gây ấn
tượng mạnh mẽ. Điều đáng nói là có một số bài thơ siêu thực đọc lên chỉ là sự cắt
dán, lắp ghép, yếu tố kỹ thuật hằn sâu trên từng xác chữ; với Ngô Kha thì khác,
các giấc mơ siêu thực trong Ngụ ngôn của người đãng trí nhuần nhuyễn,
nhất thể, tự nhiên, không lộ hiện, là dòng tuôn trào của dằn vặt đớn đau từ bản
thể. Lối viết tự động được Ngô Kha áp dụng trong suốt bản trường ca; có điều,
những câu thơ tưởng như ngẫu nhiên, lắp ghép nhưng lại logic đến kỳ lạ (ví dụ: Tôi
là người chỉ còn một giác quan đơn độc/ để nghe dây đàn chùng -> … ôi
tiếng đàn không thanh âm không hương sắc….-> tất cả chỉ là dây đàn phiền não).
Hơn nữa, mỗi câu thơ đều khiến người đọc rưng rưng xúc động. Nó đẹp bởi hình ảnh,
bởi bản thân ngôn từ thơ, cũng bởi linh hồn người thơ ẩn chứa sau lớp vỏ. Đúng
như ý của Jakobson đã được nhiều người dẫn lại “thơ là một ngôn ngữ tự lấy mình
làm đối tượng” [3] - bản thân nó đã hết sức lung linh. Giấc mơ của Ngô Kha bị ám ảnh bởi các hình ảnh
của chiến tranh và cái chết. Hình ảnh “chiến tranh” xuất hiện 18 lần trong bản
trường ca, và cái chết, như là hệ quả của cuộc chiến, xuất hiện dày đặc nhất - 52 lần. Chết được phát biểu trực tiếp 12 lần: “nằm chết tình cờ”, “em nằm chết
trên bụi cỏ”, “cái chết từ bi”... và gián tiếp 40 lần với những hình ảnh đầy
tính siêu thực “vụt chạy bỏ linh hồn”, “vẫy tay chào cuộc đời”, “bạn bè ngủ
trên gáy sách”, “tử thi còn mở mắt”, “tự sát bằng cô đơn”… Chết là biểu hiện
cao nhất của niềm cô độc, là kết cục bi ai cho thân phận hạt bụi kiếp người.
Tác phẩm là bản bi ca đối mặt với cái chết, cũng là tuyên chiến với cái chết và
chối bỏ cái chết. Toàn trường ca còn được xây dựng bởi hệ thống các hình ảnh về
giấc mơ, chiêm bao, miền hư ảo, khoảng vô hình, vùng cô liêu, cánh đồng, huyệt
mộ… một thế giới u ám, xơ xác, hao gầy, phi lý bởi chiến tranh. Ngôn ngữ thơ
Ngô Kha giàu tính tạo hình và đậm chất triết lý; trên khung nền ấy thế giới
hình ảnh sống động như nhảy múa, đua chen, như là lễ hội Carnival của hình ảnh,
có thể lấy bất cứ một phiến đoạn nào trong trường ca đều thấy rõ:
Người say rượu lẩm nhẩm một mình
Mùa hè có tuyết đen tuyệt đẹp
Tôi vụt chạy bỏ linh hồn ở đó
Không có đứa con gái, đứa con trai, người say rượu
Chỉ có quả gấc hồng hào rực ánh lửa chiến tranh
Người con gái đứng nhìn cánh sao lạc loài
Trên nét mặt hiền hòa bất động của em
… Con đà điểu mang cánh tay người yêu trở lại
người con gái mang bộ mặt đồng đen
tôi bẻ nhánh xương rồng quơ lên hư không
người con gái ho khúc khắc rất đau đớn
tôi chạy theo cánh sao cỏ mùa
người con gái biến đi mất
bây giờ chỉ còn sa mạc
và khoảng vô hình nhìn tôi vĩnh viễn.
Ngụ ngôn của người đãng trí chính là Ngụ ngôn của một
thế hệ - như tên cuốn sách tưởng niệm Ngô Kha. Đó là sự vật vã đớn đau
nhưng Người nhất của cả một thế hệ trí thức trước hoàn cảnh đất nước những năm
1968. Đó không chỉ là nỗi lòng của riêng Ngô Kha mà còn là nỗi lòng của thế hệ
ông. Bản trường ca không chỉ đặc sắc về nội dung mà còn rất có giá trị về mặt
nghệ thuật; đặc biệt trong hệ thống thể loại trường ca Việt Nam là một hiện tượng
độc đáo. Có điều, từ trước đến nay, bản trường ca dường như chưa được các nhà
nghiên cứu lưu tâm, nghĩ đến, cho nó một vị trí xứng đáng. Với chúng tôi, bản
trường ca quá hay làm chúng tôi hoang mang, bởi thật khó để có thể biểu đạt
thành lời trong một bài viết nhỏ.
Ghi chú:
[1] Toàn bộ tư liệu về tiểu sử và tác phẩm của Ngô Kha được chúng tôi lấy ở cuốn “Ngô Kha - ngụ ngôn của một thế hệ”, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2005.
[1] Toàn bộ tư liệu về tiểu sử và tác phẩm của Ngô Kha được chúng tôi lấy ở cuốn “Ngô Kha - ngụ ngôn của một thế hệ”, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2005.
[2] Trước
1970, Ngô Kha có 2 ấn phẩm: Hoa cô độc (Tác giả xuất bản và trình
bày; Nhà in Đại học ấn hành, 1961) và Ngụ Ngôn của người đãng trí, viết
năm 1968, in xong năm 1969.
[3] Đặng
Tiến. Thơ, thi pháp và chân dung. NXB Phụ nữ, 2009, tr 16.
Tháng 8/2009
Diêu Lan Phương





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét