Thứ Ba, 17 tháng 3, 2020

Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng

Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng 
Mối tình của Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương 
qua các bài thơ tình trong 23 năm: 1790 -1813. 
Bài viết để tưởng niệm Nguyễn Du nhân ngày giỗ thi hào: Ngày 10.8.Canh Thìn/ 16.9.1820. 
Đố ai nằm ngủ không mơ? 
Nguyễn Du cũng từng ngủ mơ nhiều lần, nhưng có lần ông mơ đi hái sen. Sao vậy? Vì trong cuộc đời, ông và Hồ Xuân Hương đã tinh cờ quen nhau trong một buổi đi hái sen. Sau lần gặp gỡ cái thuở ban đầu lưu luyến ấy, hai người vẫn cố ý tình cờ đi hái sen, gặp nhau hoài hoài không chi ̉ban ngày mà còn cả trong khi ngủ mơ nữa. Tuy nhiên Nguyễn Du, khác những người thường tình như chúng ta, sau khi tinh giấc mơ thì ông lấy bút viết bài thơ, gửi cho nàng Hương nhan đề là MƠ THẤY HÁI SEN
MỘNG ĐẮC THÁI LIÊN 
Khẩn thúc phu điệp quần 
Thái liên trạo tiểu đĩnh 
Hồ thủy hà xung dung 
Thủy trung hữu nhân ảnh 
Thái, thái Tây Hồ liên 
Hoa thực câu thướng thuyền 
Hoa dĩ tặng sợ úy 
Thực dĩ tặng sở liên. 
Kim thần khứ thái liên 
Nãi ước đông lân nữ 
Bất tri lai bất tri 
Cách hoa văn tiếu ngữ. 
Cộng tri liên liên hoa 
Thùy giả liên liên cán 
Kỳ trung hữu chân ti 
Khiên liên bất khả đoạn. 
Liên diệp hà thanh thanh  
Liên hoa kiều doanh doanh 
Thái chi vật thương ngẫu 
Minh niên bất phục sinh. 
Nhất Uyên dịch:
Xắn gọn quần cánh bướm 
Chèo thuyền nan hái sen 
Nước hồ dâng lai láng 
Bóng người soi nước trong.
Tây Hồ hái, hái sen 
Hoa, gương chất mạn thuyền 
Hoa tặng người mình kính
Gương tặng người mình thương... 
Sáng nay đi hái sen 
Hẹn láng giềng đi với 
Nàng đến tự bao giờ 
Cách hoa nghe cười nói. 
Hoa sen ai cũng yêu 
Cọng sen nào ai thích
Trong cuống có tơ bền 
Vấn vương hoài không dứt. 
Lá sen màu xanh xanh
Hoa sen đẹp xinh xinh 
Hái chớ làm lìa ngó 
Năm sau sen chẳng sinh.
Nguyễn Du còn căn dặn thêm là hái sen thì hái chứ đừng hái cọng sen vì trong cuống có tơ bền/ vấn vương hoài không dứt. Tuy nhiên nói vậy mà không phải vậy, vì chinh ông cũng bị vấn vương bởi mối tình với nàng Hương gần như suốt cuộc đời. 
Trong Truyện Kiều có câu, “Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng”, chắc khi hạ bút Nguyễn Du liên tưởng tới chuyện đi hái sen này chăng? CÁC BÀI DICH KHÁC:
Quách Tấn 
Xắn tròn quần cánh bướm 
Chèo thuyền con hái sen 
Long lanh hồ nhẩy nước 
Mặt nước bóng người in. 
Hái sen, sen Hồ Tây 
Khoang thuyền hoa, gương đầy 
Hoa tặng người sợ đó 
Gương tăng người yêu đây. 
Sáng sớm đi hái sen 
Hẹn cùng cô hàng xóm 
Tới lúc nào không hay 
Nói cười hoa cách khóm. 
Yêu sen đều yêu hoa 
Cọng không người tương thức 
Trong cọng tơ chung tình 
Hoa lìa, tơ chẳng dứt. 
Lá sen dờn dờn xanh 
Hoa sen mơn mởn xinh 
Hái sen đừng chạm ngó 
Năm sau hoa chẳng sinh.

Lê Phụng 
Quần nàng cánh bướm xắn cao 
Hái sen thuyền nhỏ, sóng chao dập dềnh 
Nước hồ lai láng mông mênh
Gương soi măt nước, nàng xinh miệng cười. 
Hồ Tây thư thả hái sen 
Gương hoa hái cả một thuyền đầy khoang 
Hoa về tặng chỗ nể nang 
Còn gương để tăng cô nàng mình thương.  
Sớm nay hò hẹn hái sen 
Cùng cô hàng xóm mới quen hôm rầy 
Đến không, không đến nào hay  
Cách hoa khúc khich tiếng ai đang cười.  
Yêu sen người thế thường tình
Ai người yêu cuống mới tinh hơn đời 
Cuống sen trong có tơ trời 
Tơ bền cuống gẫy chẳng dời, còn vương. 
Lá sen mướt mát dờn xanh 
Hoa sen mơn mởn dập dềnh tỏa hương 
Hái sen, thương ngó sen cùng 
Bằng không năm tới sen hồng còn đâu?
Hồ Xuân Hương cho rằng chuyện nàng và Nguyễn Du gặp nhau là do duyên kỳ ngộ. Nhà nàng, còn gọi là Cổ Nguyệt Đường - hai chữ Cổ và Nguyệt ghép lại thành chữ Hồ - là một ngôi nhà lớn do các học trò cũ của bố nàng, Hồ Phi Diễn, xây chúc mừng thầy bát tuần thượng thọ năm 1783, tại làng Nghi Tàm nổi tiếng vì các vườn đào, bên cạnh Hồ Tây, gần chùa Kim Liên. 
Nguyễn Du sau ba năm tiếu ngạo giang hồ tại Trung quốc 1787-1790, trở về Thăng Long ở với anh là Nguyễn Nễ, tại nơi Gác Tía, trước là nơi anh cả Nguyễn Khản tới câu cá, còn dinh thự Bích Câu đã bị thiêu hủy trong thời loạn kiêu binh, do đó rất gần với Cổ Nguyệt Đường khiến hai người có cơ hội đi thuyền hái sen HồTây rồi gặp nhau. 
Xuân Hương viết bài thơ nôm lưu niệm trong Lưu Hương Ký: 
DUYÊN KỲ NGỘ 
Nghìn dặm có duyên sự cũng thành 
Xin đừng lo lắng hết xuân xanh 
Tấc gang tay họa, thơ không dứt 
Gần gụi cung dương, lá vẫn lành 
Tên sẵn bút đề đường chính chiện 
Trống mang dùi cắp đã phanh phanh 
Tuy không thả lá trôi dòng ngự 
Chim tới vườn đào thế mới xinh! 
Nàng muốn mượn ý câu thơ xưa “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ” bảo chàng đừng nghĩ ngợi gì cho phi ́tuổi xanh, cứ cùng nhau xướng họa, và tuy không thả lá đề thơ như nàng cung nữ Thúy Tần cho chàng Vu Hựu, mà chàng tựa như chim bay vào vườn đào thì mối tình đôi ta quả là tuyệt vời. 
Xuân Hương rất khéo léo mượn điển tích trong bài thơ này. Trước hết câu thứ 7 nhắc lại điển tích xưa đời Đường Hy Tông có nàng cung nữ tên Hàn Thúy Tần, quanh năm sống cô độc, buồn bã trong thâm cung, một ngày ra bên dòng suối vớt một chiếc lá đỏ đề một bài thơ than thân trách phận rồi thả theo dòng nước. Khi đó có một môn khách của tể tướng Hàn Vinh tên Vu Hựu ra bờ suối chơi tình cờ vớt lên được, tương cảm viết một bài thơ an ủi trên một chiếc lá đỏ khác, đợi nước chảy ngược chiều thả xuống và lại tình cờ Thúy Tần vớt lên được rồi cất vào rương. Mười năm sau, vua mới lên, cho các cung nữ triều trước về quê, Thúy Tần tạm tới nhà cậu họ là Hàn Vinh thì gặp Vu Hựu và được tể tướng Hàn Vinh tác thành cho hai người nên duyên vợ chồng. Đêm hợp cẩn, Thúy Tần mở rương, Vụ Hưu trông thấy chiếc lá đỏ cầm lên xem, rồi vội lấy chiếc lá đỏ mình cất giữ ra thì mới hay câu chuyện và cho là duyên số trời đinh.
Thêm nữa, Nguyễn Du lại là con của chủ nhân dinh thự Bích Câu, gợi nàng nhớ lại truyện Bích Câu Kỳ Ngộ đời Lê: Tú Uyên nhà tại Bích Câu, gần hồ Tây tình cờ găp Giáng Ngọc là tiên giáng trần và từ kỳ ngộ mà nên duyên vợ chồng. 
Hai người dần dần lâm vào cảnh tình trong như đã, mặt ngoài còn e, nhưng tình chàng lúc đầy lúc vơi như trăng khi tròn khi khuyết, trong khi tuổi xuân nào có bao lâu và thân con gái thì muốn lấy chồng sinh con, vầng trăng kia soi gác chàng muốn nhắn nhủ gì, có nhăc nhở tới người năm canh khắc khoải đợi chờ hay không, nên nàng Hương tìm cách ướm hỏi chàng qua bài thơ sau:  
HỎI TRĂNG 
Trải mây thu nay vẫn hãy còn 
Cớ sao khi khuyết lại khi tròn?  
Hỏi con Bạch Thố đà bao tuổi?  
Hỏi chị Hằng Nga đã mấy con? 
Đêm tối cớ chi soi Gác Tía?
Ngày xanh còn thẹn với vừng son 
Năm canh lơ lửng chờ ai đó? 
Hay có tình riêng với nước non? 
Thật ra Nguyễn Du và Xuân Hương đều nặng tình với nhau nhưng lúc đó Nguyễn Du còn trẻ khi quen Xuân Hương trong ba năm, 24-27 tuổi, công chửa thành, danh chửa lập, thời thế không ổn đinh, việc nhà lẫn việc nước còn rối bời nên chắc cũng chưa nghĩ tới việc yên bề gia thất. Tới một hôm Nguyễn Du, do Nguyễn Nễ muốn ông cùng Nguyễn Ức về Tiên Điền xây lại từ đường đã bị Tây Sơn đốt phá, báo tin này cho nàng. Xuân Hương đau đớn hiểu rằng lòng chàng còn vướng mắc tình nhà, nợ nước, nên viết bài chữ nôm, nhan đề chữ Hán gửi cho Nguyễn Du: 
TƯỜNG ĐÁO NHÂN TÌNH MINH NHIÊN HẠ LỆ TẨU BÚT PHỤNG TRÌNH (NGHĨ TỚI TÌNH ĐỜI TỰ NHIÊN LỆ CHẢY VIẾT VỘI KÍNH TƯỜNG) 
Ba sinh tự hẹn nghĩa non vàng 
Man mác lòng riêng lại ngỡ ngàng 
Lối biếc đèo mây đành chẳng đã 
Mảnh nguyền hương lửa ngỡ lên đàng 
Nước non lời nọ nào chuông chắn
Trăng gió lòng kia mãi chán chường 
Đầy đọa thân này thôi chẳng tiếc 
Thương sao cho trọn tấm lòng thương. 
Trong bài này Xuân Hương nhắc lại lời thề ba sinh hương lửa, tuy không theo chàng trèo đèo leo núi về quê chàng nhưng lòng vẫn theo chàng dù chàng có chán chường truyện trăng gió và quyết giữ trọn tấm lòng thương yêu. Thế rồi, Xuân Hương ra bến Vị Hoàng, tiễn đưa tại trường đình, uống rượu chia tay, mong rằng có ngày gặp lại, còn nếu không giữ lời thệ hải minh sơn thì thà chết trên ngọn sóng đào. Tình ý này được dàn trải trong bài thơ chữ Hán: 
GIANG NAM PHỤ NÍP
KHIÊM LƯU BIỆT HỮU NHÂN
Phụ níp kim tòng vạn lý dao 
Trường đình tửu tiễn thượng thù giao 
Muộn đôi phàm tịch thuyền thiên trọng 
Sầu áp giang tâm thủy bất trào 
Cựu thảo ngưng mâu hương vị tán 
Tha hương hồi thủ vọng cô cao 
Tuy nhiên thượng hữu tương phùng nhật 
Thệ hải minh sơn nhất lãng đào. 
LƯU BIỆT BẠN KHĂN GÓI SANG SÔNG NAM 
Nhất Uyên dịch 
Khăn gói bây giờ vạn dặm nao 
Trường đình rượu tiễn, chén mời trao 
Buồm căng đôi cánh sầu nghiêng nặng
Sầu nén sông sâu nước chẳng trào  
Cỏ cũ lặng nhìn hương chửa mất 
Xa quê quay ngóng núi quê cao 
Xa nhau còn có ngày gặp lại 
Thề biển thà cho ngọn sóng đào. 
Nguyễn Du ứng khẩu đáp lại bằng bài thơ chữ nôm: 
THẠCH ĐÌNH TẶNG BIỆT 
Đường nghĩa bấy lâu trót vẽ vời 
Nước non sầu nặng muốn đi về 
Cung hoàng diệu vợi đường khôn lọt 
Đường Nguyệt mơ màng giấc hãy mê 
Đã chắc Hương đâu cho lửa bén  
Lệ mà hoa lại quyến xuân đi 
Xanh vàng chẳng phụ lòng ân ái
Đường Nguyệt mơ màng giấc hãy mê 
Tròn trận gương tình cũng có khi. 

Bài thơ tỏ ý không mấy nồng nhiệt vì lòng còn hoang mang chưa rõ khúc phượng cầu hoàng có lọt tai nàng để lửa tình bén chưa, hay nàng ở Cổ Nguyệt Đường vẫn còn mơ màng, mê muội, lệ thì chảy mà cứ để mùa xuân trôi qua, còn như tình ta vẫn thắm như màu sắc hoa lá thì ắt có ngày tình sẽ nên duyên. 
Hồ Xuân Hương lại đáp: 
HỌA THANH LIÊN CHÍ HIÊN NGUYÊN VẬN 
Khúc hoàng tay nguyệt còn chờ dạy 
Cánh phượng đường mây đã vội chi 
Chua xót lòng xem lời để lại 
Hững hờ duyên bấy bước ra đi 
Thử vàng đá nọ treo từng giá 
Phong gấm hoa kia nở có thì 
Đào thắm, mận xanh còn thú lắm
Xuân ơi đành nỡ dứt ra về. 
Trong bài Xuân Hương chua xót nức nở, “Chàng, chàng ơi! Em vẫn còn mong được chàng dạy đàn để trọn khúc phượng cầu hoàng, còn như chàng vội chi đường công danh mà nỡ phụ tình em. Lấy đá thử vàng thì chúng ta đã biết rõ lòng nhau lâu rồi còn tuổi xuân như hoa kia chỉ có thì, lúc này đang xanh tươi, đầy hương sắc sao chàng nỡ dứt tình ra đi!”. Trên thực tế, Nguyễn Du có dạy đàn nguyệt cho Xuân Hương và tiếng đàn của nàng cũng làm nhiều người say mê không kém gì tiếng thơ ngâm vịnh. Sau đó Nguyễn Du về Tiên Điền cùng anh Nguyễn Ức lo việc xây lại từ đường nhưng chưa quen phong thổ, bị bệnh nằm Quế Giang mười tuần. 
Hồ Xuân Hương có gửi người đưa thư hỏi thăm: 
NHÂN TẶNG
Nghiêm thẳm hầu môn biết mấy trùng? 
May chăng khôn lẽ dám pha xông 
Mấy hàng chữ mực châu lai láng
Một mảnh tờ mây ý mộng mong 
Buông thả luống e khơi ngọn nước 
Gửi trao còn ngại mỏi vai hồng 
Người tiên ví chẳng soi trần thế 
Cậy có vầng xanh tỏ tấm lòng. 
Qua bài thơ Xuân Hương muốn giãi bày vì ngàn trùng xa cách mà không thể xông pha tới thăm chàng, nên có thư này viết mà lệ chảy lai láng vì nhớ mong, muốn thả lá đề thơ mà e dòng nước không tới và mỏi cánh chim hồng, nếu như tiên không giúp được thì đành nhờ vầng trăng soi rõ tấm lòng nàng.
Nguyễn Du phúc đáp bằng bài: 
KÝ HỮU 
Mạc mạc trần ai mãn thái không 
Bế môn cao chẩm ngọa kỳ trung 
Nhất thiên minh nguyệt giao tình tại 
Bạch lý Hồng Sơn chính khí cùng 
Nhãn để phù vân khan thế sự 
Yêu gian trường kiếm quải thu phong
Vô ngôn độc đối đình tiền trúc  
Sương tuyết tiêu thời hợp hóa long. 
GỬI BẠN 
Nhất Uyên dịch
Mờ mit không trung gió bụi trần 
Cửa gài, kê gối mãi nằm không 
Một vầng trăng sáng tình ta đó 
Trăm dặm Hồng sơn chính khí cùng 
Trước mắt phù vân ôi thế sự! 
Bên lưng trường kiếm nổi thu phong 
Đầu sân ngóng trúc lòng không nói 
Sương tuyết tiêu tan sẽ hóa rồng. 
Ý nói bụi trần mờ mịt là thời thế rối loạn không biết sẽ ra sao nên cửa đóng then cài nằm khàn tại nhà, còn tình ta thì có vầng trăng đã nói hộ ta cùng một chính khí, tuy nhiên sự đời như mây nổi, thay đổi mấy chốc cho nên trường kiếm còn nằm yên trước cơn gió thu, ngắm trúc chờ thời khi sương tuyết tan thì trúc sẽ hóa rồng và người sẽ gặp thời vung kiếm. 
Quách Tấn 
Đầy trời lớp lớp dậy trần hiêu  
Đóng cửa nằm cao tạnh sớm chiều 
Chánh khí muôn năm ngàn Hống vững 
Giao tình một mối bóng trăng treo 
Chuyện đời ghé mắt mây lơ lửng 
Gươm báu cài lưng gió hắt hiu 
Lặng lẽ bên sân lòng đối trúc 
Hóa rồng chờ thuở tuyết sương tiêu. 
Tạnh sương tan tuyết bổng bay hóa rồng. 
Lê Phụng  

Bụi hồng mờ mịt trần gian 
Gối cao, cửa đóng nằm khan một mình
Đầy trời trăng tỏ giao tình
Non Hồng trăm dặm, anh linh một lòng 
Việc đời mây nổi coi thường 
Gió thu lồng lộng bên lưng kiếm dài 
Không lời, ngắm trúc sân ngoài 
Tạnh sương tan tuyết bổng bay hóa rồng. 
Lời bàn của Quách Tấn: Cây trúc khi già, hình dáng trông như con rồng, nhất là trông phần gốc rễ, có mắt có râu. Cho nên tre già, trúc già gi là Long ông, măng tre măng trúc gọi là Long tôn. 
Lời bàn của Lê Phụng: Tác giả dùng ánh trăng để mô tả mối giao tình vì người bạn mà tới nay không biết rõ là ai? Lấy trăm dặm núi Hồng để ví với chính khí và xem việc đời như mây nổi. Trước ngọn gió thu, lưng đeo trường kiếm, một mình ngắm trúc trước sân, mường tượng khi tuyết tan, sương tạnh cành trúc đó sẽ hóa rồng. Có một điều đáng chú ý là trong Thanh Hiên Thi Tập đây là lần thứ tư ông dùng hình ảnh một thanh gươm làm thi liệu. Nguyễn Du đi đâu cũng thường mang theo thanh kiếm và cây đàn nguyệt, giống như phong cách của Lý Bạch. 
Một đêm thu, Xuân Hương thao thức tới sáng, viết bài thơ: 
THU DẠ CẢM HOÀI 
Dạ thâm nhân tỉnh độc trù trù 
Vân lâu tửu lãnh ngân hoàn bán 
Thủy khoát phong trường ngọc lậu cơ   
Hoa hoa nguyệt nguyệt nhủ nhân cô 
Xuân tịch tịch 
Xuân hứng bất đa hồ? 
Nhạn ảnh hà quy vân tự trụ 
Trùng thanh như khốc thủy không lưu 
Tuế an tu liên.  
HOÀI CẢM ĐÊM THU
Nhất Uyên
Đêm tàn người thức lòng ngơ ngẩn 
Rượu lạnh lầu mây bạc ánh tà 
Nước chảy gió đùa trơ mặt ngọc 
Hoa hoa, nguyệt nguyện nỗi lòng ta 
Xuân vắng vẻ 
Xuân hứng chẳng nhiều ư? 
Bóng nhạn về đâu, mây ở lại 
Dế trùng than khóc nước trôi hờ 
Đêm tàn nên lo. 
Nguyễn Du phúc đáp bằng bài thơ: 
THU DẠ I 
Phồn tinh lịch lịch lộ như ngân 
Đông bích hàn trùng bi cánh tân 
Vạn lý thu thanh thôi lạc diệp 
Nhất thiên hàn sắc tảo phù vân 
Lão lai bạch phát khả liên nhữ 
Trú cửu thanh sơn vị yếm nhân 
Tối thị du nhai quyện du khách  
Cùng niên ngọa bệnh Quế Giang tân. 
ĐÊM THU 
Nhất Uyên 
Đầy trời sao sáng bạc sương dâng 
Dế lạnh tường đông thảm thiết buồn 
Vạn dặm tiếng thu rung lá rụng 
Một trời khí lạnh vắng mây vương 
Già rồi tóc bạc lòng thêm xót 
Ở mãi non xanh chẳng chán chường 
Ngán nỗi bên trời lòng khách mệt 
Suốt năm nằm bệnh Quế Giang tân. 
Ý nói: Sao sáng đầy trời, sương trắng xóa. Tường đông lạnh nghe tiếng dế trùng bi thảm. Tiếng thu ngàn trùng thúc lá rụng, Một bầu trời lạnh lẽo đuổi hết cả mây đi. Anh đã già, tóc đã bạc trông thật thương hại. Sống mãi nơi núi xanh có tình người nhưng kẻ góc trời suốt năm bệnh hoạn phải nằm dài bến Quế Giang. 
Bản dịch Quách Tấn 
Sao vàng lấp lánh ánh sương dày 
Dế khóc tường đông dạ đắng cay 
Muôn dặm tiếng thu dồn lá rụng 
Đầy trời sắc lạnh quét mây bay 
Già theo tóc bạc riêng thương đó 
Lòng gởi non xanh chửa chán đây 
Ngán nỗi phương trời thân khách mỏi 
Quế Giang nằm bệnh suốt năm chầy. 
Lê Phụng 

Đầy trời sao sáng bạc sương 
Não nùng canh vắng, ven tường dế than 
Tiếng thu ngàn dặm lá vàng  
Mây quang lạnh giá, ngút ngàn trời trong 
Sớm già thương tóc điểm sương 
Non xanh chưa chán, ngại ngùng tình thơ 
Bên trời mỏi mệt bơ phờ 
Suốt năm nằm bệnh bên bờ Quế Giang. 
Được thư biết người tình bệnh hoạn, tóc bạc khiến Xuân Hương vừa ngắm cảnh mưa thu vừa rơi lệ, đê mê mộng tưởng và thương nhớ người ngoài vạn dặm, u buồn suốt năm canh, trong khuê phòng mặt hoa sầu muộn không bức họa nào lột tả được. Nàng than qua bài thơ: 
THU VŨ
Thiên cách vân ải thảm bất minh 
Tiêu tiêu thu vũ lạc nhàn đình 
Đoản trường khô thụ chi đầu lệ  
Thư cấp hoàng tiêu diệp thụ thanh  
Ngâm đoạn đê mê thiên lý mộng 
Sầu khiên liêu tịch ngũ canh tình
Thâm khuê tối khổ như hoa diện 
Nhất phiến sầu dung họa bất thành. 
MƯA THU 
Nhất Uyên 
Trời thảm mây giăng tối mịt mùng 
Mưa thu tí tách nhỏ ngoài sân 
Cây khô dài ngắn rơi hàng lệ 
Tàu chuối vàng tơi tiếng chậm nhanh 
Ngâm đoạn đê mê thiên lý mộng 
Buồn dâng quạnh quẽ nỗi năm canh 
Khuê phòng riêng khổ người nhan sắc 
Một phiến sầu vương vẽ chẳng thành.
Nguyễn Du an ủi rằng thu đã muộn, sương trắng mịt mùng, cây cỏ bến sông cũng hoang vu, anh cũng đèn khuya đêm dài. Muốn vắt tóc như Chu công vì lo hoài tâm huyết phai lạt mỗi ngày. Giang sơn ngàn dặm trông ngóng, bốn mùa thay đổi riêng mình cô độc trầm ngâm. Trời chớm lạnh mới hay thiếu áo là khổ nên mỗi khi nghe tiếng chày chiều người sương phụ đập vải lại nhớ tới em nơi khuê phòng: 
THU DẠ II 
Bạch lộ sương vi thu khí thâm  
Giang thành thảo mộc cộng tiêu sâm 
Tiễn đăng độc chiếu sơ trường dạ 
Ác phát kinh hoài mạt nhật tâm 
Thiên lý giang san tần trường vọng 
Tứ thời yên cảnh độc trầm ngâm 
Tảo hàn dĩ giác vô y khổ 
Hà xứ không khuê thôi mộ châm. 
ĐÊM THU II 
Nhất Uyên 
Móc trắng sương thu giăng mịt mùng
Đìu hiu cây cỏ bến Giang thành   
Đèn khuya quạnh quẽ đêm dài ngóng  
Vắt tóc lo hoài chí nhạt tan 
Vạn dặm giang san dài nỗi nhớ 
Bốn mùa mây nước ngậm ngùi trông 
Chớm lạnh mới hay không áo khổ 
Tiếng chày khuê phụ, bóng chiều phong.
Quách Tấn
Móc bạc thành sương thu hắt hiu 
Giang thành cây cỏ thẩy tiêu điều 
Đèn khêu riêng cảm đêm dài dặc 
Tóc vắt thầm lo chuyện ấp yêu 
Nghìn dặm nước non sầu vọi vọi 
Tứ mùa trăng gió vẳng thiu thiu 
Lạnh sơ đã khổ phần không áo 
Đập vải nhà ai rộn bóng chiều. 
Lê Phụng 
Trời thu trắng móc, nhòa sương 
Xác xơ cây cỏ bên sông đầu thành 
Đêm dài khêu ngọn đèn xanh 
Ngày tàn vắt tóc thương mình long đong 
Non sông ngàn dặm ước mong 
Bốn mùa mây phủ khói lồng âu lo 
Lạnh về thiếu áo co ro 
Rộn ràng chày vải lửng lơ bóng chiều. 

Lời bàn của Quách Tấn: Tiễn đăng: Cắt bấc đèn cho cháy sáng. Có lẽ tác giả liên tưởng tới hai câu thơ của Lý Thương Ẩn, “Hà đương cộng tiễn tây song chúc/ Khước thoại Ba Sơn dạ vũ thi” Nghĩa là “Bao giờ cùng nhau cắt hoa đèn nơi song tây/ Kể cho nhau nghe nỗi lòng nơi Ba Sơn lúc đang mưa.” Theo điển “ác phát thổ bộ” tức vắt tóc nhả cơm là do câu chuyện Chu Công, một đại thần nhà Chu rất chăm lo việc nước tới nỗi đang ăn cơm có khách thì nhả cơm mà ra tiếp, còn đang gội đầu thì vắt tóc lên mà đón khách, có khi phải ba lần vắt tóc mới gội đầu xong. Câu này ý nói chí nguyện được ra giúp nước như Chu Công, nhưng lo ngại rằng chí khí ngày một phai nhạt dần. 
Lời bàn của Lê Phụng: Cảnh thu gợi hứng cho Nguyễn Du viết hai bài này trong cảnh đêm vắng, tâm cảnh chĩu buồn hơn nữa vì bệnh tật hành hạ và ở trong cảnh nhớ thương, cách biệt lại thêm nỗi thiếu thốn vật chất. 
Mùa thu năm sau, Xuân Hương lại gửi tiếp một bài thơ chữ Hán: 
CỐ KINH THU NHẬT 
Nhiễm nhiễm chinh đồ thu nguyệt tà 
Nhất bôi hoàn đối cựu phồn hoa 
Nhất Tô thúy lạo Tây vô tận 
Tam đảo tình quang Bắc vọng xa 
Đăng nguyệt thanh chiên bi cổ vật  
Sương tiền bạch lộ lạc thùy gia 
Thử lai tương đối trùng tương đắc 
Khách cũ niên thâm nhược nại hà? 
NGÀY THU CỐ ĐÔ 
Nhất Uyên 
Thấm thoắt đường thu ánh nguyệt tà 
Chốn xưa rượu chuốc chén phồn hoa 
Dòng Tô nước cuốn về Tây mãi 
Tam đảo trời quang vọng Bắc xa 
Đèn nguyệt chăn xanh thương vật cũ 
Sương buông móc trắng mọc bên nhà 
Ước gì gặp lại vơi mong nhớ 
Khách cũ, năm tàn mãi thế a? 
Ý nói: Thấm thoắt đã bao mùa thu qua, nhớ chốn phồn hoa xưa đã mời chàng một chén rượu, dòng sông Tô Lịch chảy miệt mài về hướng tây, trời quang nhìn rõ núi Tam đảo phía bắc xa xa. Dưới trăng thương chiếc chăn xanh, cổ vật. Sương trắng rơi phủ quanh nhà. Ước gì chúng ta có dip ̣ tái ngộ. Chẳng lẽ người cũ năm sắp tàn mà vẫn cứ như thế mãi sao? 
Chú thích: Sách Thê Thức Tân Ngữ kể chuyện Vương Tử Kính một đêm đang ngủ thì kẻ trộm vào nhà. Ông tỉnh dậy bảo, “Muốn lấy thứ gì thì lấy, nhưng để lại cho ta cái chăn xanh vì đó là của tổ tiên để lại.” Từ đó thanh chiên có nghĩa là báu vật. Nguyễn Du lúc đó đang bệnh nên phúc đáp chậm, khi đã hồi phục, mở cửa ngắm trời đất, viết rồi gửi bài thơ: 
KHAI SONG 
Môn tiền yên cảnh cận như hà? 
Nhàn nhật khai song sinh ý đa 
Lục nguyệt bồi phong bằng tí địa 
Nhất đình tích vũ nghĩ di oa 
Thanh chiên cựu vật khổ trân tích
Bạch phát hùng tâm không đốt ta 
Tái bệnh thương tu điều nhiếp lực 
Bất tri thu tứ đáo thù gia. 
MỞ CỬA SỔ 
Nhất Uyên 
Trước nhà cảnh vật đã ra sao? 
Mở cửa ngày nhàn sinh ý nhiều 
Sáu tháng gió tung bằng lượn mãi 
Một sân mưa đọng kiến bò cao 
Chăn xanh vật cũ khư khư giữ 
Tóc bạc hùng tâm luống nghẹn ngào
Trở bệnh hãy còn lo chạy chữa 
Biết chi thu ý đến nhà sao. 
Ý nói: Trước nhà cảnh vật ra sao? Ngày nhàn nhã, mở cửa sổ ra ngắm, tức cảnh sinh tình. Sáu tháng nay, cánh chim bằng bay cao trong gió trong khi sân mưa bị ngập khiến đàn kiến bò cháy tới chỗ cao, ám chỉ ai đó đang vùng vẫy còn bọn thấp hèn thì tím đường chạy trốn. Khác với anh Nguyễn Nễ theo phò Tây Sơn được trọng dụng, Nguyễn Du vẫn giữ chiếc chăn xanh nghĩa là thanh danh dòng họ. Tóc tuy bạc nhưng hùng tâm không suy nhược. Bệnh cũ tái phát nên đang lo chạy chữa thành ra phúc đáp thư em chậm trễ. Theo Phạm Trọng Chánh, chim bằng đây ám chỉ Bằng quận công tức Nguyễn Hữu Chỉnh theo phò Tây Sơn đem quân ra Bắc diệt Trịnh, thâu tóm quyền hành trong tay còn đàn kiến ám chỉ quân Tây Sơn đang bị Nguyễn Ánh đánh đuổi tơi bời. 
Lê Phụng 
Khói mây trước cửa dâng cao 
Mở song sinh ý dạt dào dạ trong 
Nửa năm cỡi gió cánh bằng 
Ứng mưa dời tổ, kiến càng bò nhanh 
Vật xưa gìn giữ: chăn xanh 
Hùng tâm đầu bạc cũng đành thở than   
Dưỡng bồi bệnh cũ thuốc thang 
Ý thu chẳng biết ẩn tàng nhà ai? 
Lời bàn của Lê Phụng: 
Dường như khá lâu rồi tác giả không mở cửa sổ nhìn ra ngoài, bỗng hôm nay mở song, lòng bỗng sinh ra nhiều ý. Điểm đặc biệt ông dùng hai chữ bằng tỉ của sách Trang Tử Nam Hoa Kinh, chương Tiêu Dao Du để mô tả sự đổi đời trong sáu tháng qua. Ông vẫn chưa quên được nếp xưa như Vương Hiến Chi giữ chiếc chăn xanh, tiêu biểu cho cảnh nho sinh gìn giữ nề nếp nhà nho. Tóc ông đã bạc dù có hùng tâm cũng chỉ đành thở than trong khi còn lo dưỡng bệnh, chẳng biết ý thu ẩn náu tại nhà ai?. 
Xuân Hương sau đó lại gửi Nguyễn Du bài thơ: 
THU NHẬT TỨC SỰ 
Tây phong tạc dạ áp hàn chi 
Ly cúc tiêu sơ tuyết vị chi 
Mật vũ tà phi phân thủy diện 
Cô vân miêu chức viễn sơn mi 
Liên dư tàn hạ lưu xuân đới 
Liễu bạng hương du lão thúy y 
Đề điểu mạc phi tri ngã huống 
Thanh thanh trường động cố hương chi. 
NGÀY THU TỨC SỰ 
Nhất Uyên 
Đêm qua lành lạnh gió Tây về 
Dậu cúc đìu hiu tuyết chửa đi 
Mưa nặng sông chia mờ mặt nước 
Mây trơ núi biếc vẽ đường mi 
Sen tàn cuối hạ làn xuân rớt 
Liễu rủ hương thừa áo biếc che 
Chim hót nỗi mình ai có thấu?
Lời lời còn đọng mối tình quê.  
Ý nói: Gió Tây đã đem lạnh về đêm qua. Dù chẳng có tuyết, dậu cúc cũng đìu hiu. Mưa nặng hạt làm sông mù mịt. Một áng mây trơ trọi giống như vẽ đường mi cho núi. Sen tàn cuối hạ còn lưu lại chút hương xuân cũ càng. Liễu rủ hương đưa trong áo biếc. Chim hót đâu biết nỗi lòng còn khuấy động mãi mối tình hoài hương. 
Theo Phạm Trọng Chánh, bài thơ gợi kín đáo chuyện thời thế: Gió Tây ám chỉ Tây Sơn ra Bắc làm tình hình điêu tàn trong khi chúa Nguyễn trong Nam tình hình cũng mờ mịt, tuy vậy lòng người còn thương nhớ nhà Lê và lòng mình vẫn nhớ cố hương. 
Theo giáo sư Trần Ngọc Ninh, nàng Hương đã nói rõ cho Nguyễn Du biết rằng nàng một lòng thờ nhà Lê qua bài Bánh Trôi: 
Thân em vừa trắng lại vừa tròn 
Bảy nổi ba chìm với nước non 
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn 
Mà em vẫn giữ tấm lòng son. 
Nguyễn Du trả lời bằng bài thơ, vẫn giữ nguyên hai chữ mở đầu Tây phong: 
THU NHẬT KÝ HỨNG 
Tây phong tái đáo bất quy nhân 
Đốc giác hàn uy dĩ thập phần 
Cố quốc hà sơn khan lạc nhật 
Tha hương thân thế thác phù vân 
Hốt kinh lão cảnh kim triều thị 
Hà xứ thu thanh tạc dạ văn 
Tự thẩn bạch đầu khiếm thu nhập 
Mãn đình hoàng lạc diệp phân phân. 
NGÀY THU CẢM HỨNG 

Nhất Uyên  
Gió Tây mới đến khách chưa về 
Khí lạnh mười phần dạ tái tê 
Nước cũ non sông trời lặng ngắm 
Quê người thân thế gửi mây che 
Cái già chợt sợ nay đã đến 
Thu đến nơi nơi đêm trước che 
Tự trách bạc đầu ta vụng tính
Lá vàng rơi rụng, rụng đầu hè. 
Ý nói: Theo Phạm Trọng Chánh, Nguyễn Du cũng kín đáo giãi bày vì Tây Sơn ra Bắc nên chàng chưa thể về Thăng Long khiến lòng buồn tê tái, vì thời thế còn mù mịt ṃà tuổi già đã tới trong khi mình chưa biết cách đối phó với thời cuộc tuy đêm trước có nghe tiếng gió thu, ý nói nghe tin chúa Nguyễn sẽ đánh ra Bắc. 
Quách Tấn 
Gió Tây mới thoảng khách xa đường 
Khí lạnh đìu hiu đã thấm xương 
Chiều nhuộm núi sông tình cố quốc 
Mây vàng thân thế bóng tha hương 
Vừa nghiêng tai lắng thu lên tiếng 
Bỗng giật mình trông tóc trắng gương 
Ngán nỗi già đời không biết liệu 
Đầy sân nượp nượp lá bay sương. 
Lê Phụng 
Gió thu tới chưa được về 
Chợt nghe rét mướt sắt se gấp mười 
Chiều tà non nước trông vời 
Quê người thân thế nổi trôi không nhà 
Sáng nay chợt sợ cảnh già  
Tiếng thu xào xạc đêm qua chỗ nào? 
Trách mình vụng tính bạc đầu 
Lá vàng lả tả xạc xào đầy sân. 
Lời bàn của Lê Phụng: Gió thu lại về nhưng tác giả chưa được nghỉ hưu. Cái lạnh như lạnh thêm gấp mười. Niềm hoài hương làm người tha hương thấy sợ cảnh già, chẳng biết tiếng thu ẩn náu nơi nao. Chỉ còn biết trách mình vụng tính khi nhìn đầy sân lá vàng rơi lả tả.
Thời gian ngàn trùng xa cách đã quá hai năm mà Nguyễn Du vẫn còn biền biệt tại Hồng Lĩnh, mẹ Xuân Hương thúc ép Xuân Hương lấy một nho sinh đang hành nghề thầy lang tại xóm Tây Nghi Tàm. Xuân Hương vội báo tin khẩn cấp cho Nguyễn Du qua bài thơ: 
HỌA NHÂN 
Vài hàng chữ gấm chạnh niềm châu 
Nghĩ tưởng năm canh nguyệt hé lâu 
Lá nhuộm thức lam thêm vẻ thẹn 
Sương pha khói biếc rộn thêm sầu 
Thẩn thơ trước viện nhà khoe gió 
Đồng vọng bên tai địch thét đâu 
Ướm hỏi trăng già khe khắt bấy 
Trêu nhau chi những sợi cơ cầu. 
Ý nói: Tưởng rằng nguyệt hé lâu nghĩa là đợi anh lâu mà hóa ra không được, nên thẹn vì không giữ được lời mà thêm buồn, lại thêm lời tán tỉnh của chàng lang nghe chối tai, nhưng trăng già đã khắt khe mà trêu nhau những nỗi niềm cơ cực... 
Nguyễn Du đáp lại bằng một bài thơ ngũ ngôn khá dài: 
KÝ MỘNG 
Thệ thủy nhật dạ lưu 
Du tử hành vị quy 
Kinh niên bất tương kiến 
Hà dĩ úy tương tư 
Mộng trung phân minh kiến 
Tầm ngã giang chi mi 
Nhan sắc thị trù tích
Y sức đa sâm si 
Thi ngôn khổ bệnh hoạn
Kế ngôn cửu biệt ly 
Đái khấp bất chung ngữ 
Phảng phất như cách duy 
Bình sinh bất thức lộ 
Mộng hồn hoàn thị phi 
Điêp sơn đa hổ trĩ 
Lam thủy đa giao ly 
Đạo lộ hiểm thả ác 
Nhược chất tương hày? 
Mộng lai cô đăng thanh 
Mộng khứ hàn phong xuy 
Mỹ nhân bất tương kiến 
Nhu tình loạn như ti 
Không lâu ốc tà nguyệt 
Chiếu ngã đan thường y. 
GHI LẠI GIẤC MỘNG 

Nhất Uyên 
Dòng nước ngày đêm chảy 
Người biệt chốn cố hương 
Bao năm không gặp mặt 
Làm sao hết nhớ thương? 
Trong mộng rành rành thấy 
Tìm ta nơi bến sông 
Dung nhan vẫn như trước 
Y trang buồn biếng chăm. 
Trước kể nỗi đau ốm 
Rồi than những ngày xa 
Nghẹn ngào không nói hết 
Dường cách bức màn sa 
Bình sinh không thuộc lối 
Mộng hồn biết thật chăng 
Núi Điệp đầy hổ báo
Sông Lam lắm thuồng luồng 
Đường đi thật hiểm trở 
Phận gái nhờ ai không? 
Mộng đến đèn côi sáng
Mộng tan gió lạnh lùng. 
Người đẹp nào thấy nữa 
Lòng ta rối tơ vương 
Nhà trống vắng trăng xế 
Soi manh áo cô đơn.
Chú thích: Ngày trước Đào Duy Anh căn cứ vào câu “Du tử hành vị quy” cho rằng qua bài này Nguyễn Du ý nói nhớ vua Lê Chiêu Thống; các ông Lê Thước và Trương Chính cho là Nguyễn Du nhớ một người bạn cũ nhưng sau lại đổi ý cho rằng Nguyễn Du nhớ vợ, nhưng lúc đó Nguyễn Du chưa lấy vợ. Ngoài ra từ mỹ nhân không thể ám chỉ nhà vua hay bạn cũ. 
Lê Phụng 
Ngày đêm dòng nước chảy xuôi 
Người đi đi mãi xa xôi không về 
Bao năm cách trở sơn khê
Chẳng gì khuây khoả nhớ kia mong này 
Rõ ràng trong mộng đêm nay 
Bên sông lận đận thân gầy tìm ta  
Dung nhan dường vẫn như xưa 
Áo quần xốc xếch, gió mưa bạc màu 
Thoạt đầu kể chuyện ốm đau 
Rồi than xa cách bấy lâu bên trời 
Sụt sùi nói chẳng hết lời 
Màn đâu thấp thoáng ngăn đôi đôi mình
Suốt đời đường lối chẳng rành 
Thực hư chẳng rõ, mộng xanh chập chờn 
Hùm beo Ba Dội đầy đường 
Sông Lam sóng cả thuồng luồng cách ngăn 
Dặm dài hiểm trở khó khăn 
Tay mềm chân yếu xa gần cậy ai? 
Mộng về đèn lụi đêm dài 
Mộng đi lạnh lẽo song ngoài gió đưa. 
Tờ mờ bóng dáng người xưa 
Rối bời một mối tơ vò lòng ta 
Khắp nhà vàng ánh trăng tà 
Soi trên tấm áo xót xa nỗi mình.
Lời bàn của Lê Phụng: Người trong giấc mộng đây theo giới nghiên cứu chính là bà vợ tên Huệ, em gái Đoàn Nguyễn Tuấn. Câu Phảng phất như cách duy cho người đọc thấy nỗi thương nhớ vợ của Nguyễn Du chẳng kém nỗi nhớ thương Dương Quý Phi của Đường Minh Hoàng trong bài Trường Hận Ca của Bạch Cư Dị đã phải nhờ một đạo sĩ dùng pháp thuật để gọi hồn nàng về để được gặp lại dù chỉ thấp thoáng sau một tấ màn. 
BS Nguyễn Văn Bảo cũng có lập luận giống như Lê Phụng. 
Tuy nhiên, Nguyễn Du rất ít nói tới tình gia đình trong các tập thơ của ông, ngay cả cha mẹ ông cũng không bao giờ nhắc nhở tới ngoại trừ bài thơ nhớ lại ngày thân phụ về hưu là bài Giang Đình Hữu Cảm. Hơn nữa các thi nhân thời xưa, ngoại trừ Lý Thương Ẩn, cũng rất ít nói về vợ hoặc chỉ nhắc tới một lần mà thường cũng không mấy đằm thắm như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy v.v... Người vợ theo lề lối xưa là phải ở nhà săn sóc con cái, phụng dưỡng mẹ già, tề gia nội trợ chứ không bỏ cửa nhà mà đi thăm chồng nên chắc không có trong giấc mộng của mấy du tử tha hương. 
Khi nhận được bài thơ này, Hồ Xuân Hương hiểu rằng mối tình của hai người hiện chỉ là một giấc mộng vì tâm trí Nguyễn Du còn bị ràng buộc bởi tình non nước, công danh sự nghiệp. Sau đó lại nghe tin Nguyễn Du bị bắt giam, Xuân Hương bèn lấy ông lang xóm tây Nghi Tàm. Chuyện này được Phạm Đình Hổ, tác giả Vũ Trung Tùy Bút và Tang Thương Ngẫu lục kể lại: 

HOÀI CỔ 
Khứ tuế đào hoa phát
Lân nữ sơ học kê  
Kim tuế đào hoa phát  
Dĩ giá lân gia tê. 
Khứ tuế đào hoa phát
Xuân phong hà thê thê 
Lân nữ đối hoa khấp 
Sầu thâm mi chuyển đê. 
Kim tuế đào hoa phát 
Xuân thảo hà thê thê 
Lân nữ đối hoa tiếu 
Ngâm thành thủ tự đề. 
NHỚ XƯA 
Nhất Uyên 
Năm xưa hoa đào nở 
Em tôi học cài trâm 
Năm nay hoa đào nở 
Mẹ gả xóm Tây gần. 
Năm xưa hoa đào nở 
Gió xuân sao lạnh lùng 
Em nhìn hoa mà khóc 
Sầu vương né mi cong. 
Năm nay hoa đào nở 
Cỏ xuân mượt trời mơ 
Bên hoa em cười nụ 
Ngâm thành tự đề thơ. 
Không biết Vũ Đình Liên có đọc bài thơ này trước khi viết bài thơ Ông Đồ không? 
Còn Nguyễn Du cũng nghĩ chuyện tình của mình chỉ là mộng ảo, cả với cô Cúc làng Trường Lưu trước kia và cô Xuân xóm Nghi Tàm bây giờ qua bài TẠP THI I trong đó có đoạn: 
Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên 
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên 
Xuân lan thu cúc thành hư sự 
Hạ thử đông hàn đoạt thiếu niên... 
Bạc đầu tráng sĩ ngẩng trời than 
Dựng nghiệp mưu sinh thảy lỡ làng 
Thu Cúc, Xuân lan thành mộng ảo 
Hạ nồng, đông lạnh cướp ngày xanh... 
Sau khi được Nguyễn Thận tha khỏi tù, Nguyễn Du ra Bắc tìm Hồ Xuân Hương thì hay tin nàng đã có chồng là ông lang xóm Tây Nghi Tàm, Nguyễn Du tại một quán trọ, bên một mâm trà, tức thì viết liền hai bài ký tên Chí Hiên tặng, bài I oán trách nàng thậm tệ nhưng bài II chỉ giãi bày tâm sự của mình: 
CHÍ HIÊN TẶNG I 
Chữ giao nguyền với mấy năm tròn 
Xe/ Nón tình kia mãi mãi còn 
Chẳng biết dạ người đen tựa mực 
Sao hay lòng khách thắm như son 
Còn tai chửa lãng lời vàng ngọc 
Có mắt mà xem mặt nước non 
Chớ trách chúa Xuân lòng mỏi mệt 
Mận đào được thể tiếng công môn. 
CHÍ HIÊN TẶNG II 
Rủi may nào xá nghĩ cùng thông 
Chưa dễ tri âm tỏ nỗi lòng 
Ra Bắc phen này mong nổi việc 
Vào Nam ngẫm trước cũng hoài công 
Bạn tao năm hết mâm trà lạt 
Quán khách canh chày mảnh áo mong  
Gớm nhẽ trông ra mù khói bể 
Nguyệt Đường bao nả thấy gương trong. 
Chú thích: Tình xe/ nón hay xa/ lạp theo sách Phong Thổ Ký về tập tục nước Việt ngày trước, hai bên kết nghĩa thường có lời thề, ”Anh cỡi xe, tôi đội nón, khi gặp nhau anh sẽ xuống xe chào tôi còn khi anh cầm ô, tôi cỡi ngựa khi gặp nhau, tôi sẽ xuống ngựa chào anh.” Vì thế trong thơ của Khổng Bình Trọng có câu, “Việc đời biến đổi khôn lường/ Cưỡi xe chớ thấy nón nhường mà khinh.” 
Sau vụ thất tình này, Nguyễn Du được anh là Nguyễn Nễ cùng với Đoàn Nguyễn Tuấn tác thành cuộc hôn nhân với em gái út Đoàn Nguyễn Tuấn và cùng vợ về Quỳnh Hải trông coi gia trang năm 1797. 

Theo Phạm Trọng Chánh, Nguyễn Du sống chờ thời tại đây trong 5 năm, chiêu binh mãi mã, luyện quân tới năm 1802 nghe tin vua Gia Long ra Bắc đã đem thủ hạ cùng ngựa xe, lương thực đón đường nhà vua tại huyện Phù Dung, Hưng Yên và được bổ nhiệm tri huyện huyện này ngay lập tức, khởi đầu cho việc theo phò triều Nguyễn đã toan tính trong lòng từ lâu. 
Năm 1804, sau khi tiếp đón sứ thần và vợ mất để lại sau bốn lần sinh một con trai duy nhất là Nguyễn Tứ, Nguyễn Du đang làm tri phủ Thường Tín xin nghỉ bệnh một tháng và tìm đến Cổ Nguyệt Đường thì chỉ thấy cảnh hoang vu mà vắng bóng người xưa. Nàng, sau khi chồng là thầy lang xóm Tây mất sau khi thành hôn ít lâu, đã trở về sống với mẹ, dạy học và nảy sinh mối tình thắm thiết với Mai Sơn Phủ, hai người toan tính lấy nhau nhưng khi chàng nói về quê thưa cùng cha mẹ về việc hôn nhân thì biến mất luôn trong khi đang có cuộc ác chiến quyết liệt giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn. Nàng cùng gia đình lánh nạn lên làng Gáp, Tứ Xã, Vĩnh Phúc, nay thuộc huyện Lâm Thao, Phú Thọ tại nhà một môn sinh cũ của thân phụ là Nguyễn Công Hòa tức Tổng Cóc rồi nhận làm lẽ và có thai, nhưng thường rất buồn phiền và phẫn uất vì bị vợ cả đánh ghen và những lời đồn đại của dân làng thiếu thiện cảm về nàng.
Ngôi nhà Tổng Cóc 
Bên song cửa Cổ Nguyệt Đường, Nguyễn Du nhớ lại truyện nàng Tiểu Thanh đã đọc khi còn ở Hàng Châu, cảm thương cho số phận Ḥồ Xuân Hương không khác gì nàng Tiểu Thanh cùng chịu cảnh hồng nhan đa truân, cảm khái viết bài thơ về nàng Tiểu Thanh và gửi cho Xuân Hương: 
ĐỘC TIỂU THANH KÝ 
Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư 
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư 
Chi phấn hữu thần liên tử hậu 
Văn chương vô mệnh lụy phần dư 
Cổ kim hận sự thiên nan vấn 
Phong vận kỳ oan ngã tự cư 
Bất tri tam bách dư niên hậu 
Thiên hạ hà nhân khấp tố như? 
ĐỌC TIỂU THANH KÝ 
Nhất Uyên 
Tây Hồ vườn cảnh đã hoang vu 
Bên cửa viếng nàng một áng thư 
Son phấn có phần chôn vẫn hận 
Văn chương vô mệnh cháy còn dư 
Mối hờn kim cổ trời khôn hỏi 
Cái án phong lưu khách lụy sầu 
Ba trăm năm nữa trong thiên hạ 
Còn nàng ai khóc một niềm đau? 
Ý nói: Vườn hoa bên Tây Hồ đã thành bãi hoang. Trước cửa sổ, một mình với trang sách. Son phấn như có hồn nên thương xót nàng sau khi chết. Văn chương đâu phải là sinh mệnh mà cũng bị liên lụy chỉ sót lại một phần. Nỗi hận này xưa nay khó hỏi trời. Cái oan của kẻ phong lưu sao cũng dường như vận vào ta. Không biết ba trăm năm lẻ nữa, trong thiên hạ có ai khóc tố như chăng? 
Hai câu cuối này, ông Nguyễn Mai, cháu 5 đời của Nguyễn Du, vào năm 1924, mới công bố và bảo chỉ là khẩu chiếm của Nguyễn Du trước khi nhắm mắt, nhưng năm 1941 Đào Duy Anh, từ một cuốn sách của một người bạn tại Vinh cho mượn, phát giác hai câu này nằm cuối bài Độc Tiểu Thanh Ký và là người đầu tiên công bố toàn bài Độc Tiểu Thanh Ký, tuy nhiên hai câu này lại sai niêm luật nên nhiều học giả khác lại suy đoán là người đời sau viết thêm vào bài thơ còn dang dở của Nguyễn Du vì ông rất thận trọng về thi luật trong những bài thơ khác. 
Hai câu cuối này từng là đề tài tranh luận sôi nổi và dai dẳng suốt từ khi truyện Kiều được lưu hành, tới hiện giờ cũng chưa ngã ngũ. Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim nghĩ rằng Nguyễn Du vì gặp thời thế, thế thời phải thế, nghĩa là tuy ra làm quan với triều Nguyễn nhưng lòng vẫn hoài niệm nhà Lê nên cả đời ôm một mối sầu vì đã làm trái với đạo lý vẫn dạy rằng tôi trung không thờ hai vua, cho mình không bằng phẩm giá Tiểu Thanh trinh tiết cùng chồng mà đành chết, tự hỏi mình hiểu lòng nàng 300 năm về trước nhưng sau mình 300 năm nữa có ai trong thiên hạ hiểu lòng mình hay không? Đào Duy Anh cũng giữ lập luận này, do đó tại các trường học, các học sinh cũng được giảng dạy như vậy. Sau này các học giả Hoài Thanh, Trương Chính, Mai Quốc Liên bác bỏ lập luận hoài Lê này nhưng cũng không đưa ra được các bằng chứng có tính thuyết phục. 
Giáo sư Bác sĩ Trần Ngọc Ninh cũng suy luận theo hướng Đào Duy Anh, giãi bày thay Nguyễn Du tâm tư của tác giả truyện Kiều. Theo giáo sư, Nguyễn Du muốn kín đáo nói lên nhiều tâm tư của mình: một là nỗi buồn của mẹ trong địa vị một vợ lẽ và tuy ông không có bài thơ nào về mẹ nhưng ông đã trao lòng yêu cha mẹ của ông cho Thúy Kiều, bằng chứng là trong truyện Kiều, đoạn Kiều ở với Thúc Sinh rồi bị Hoạn Thư bắt về làm con hầu chỉ có vài tháng mà được kể ra dài hơn cả hai lần làm kỹ nữ lầu xanh, dài hơn cả hơn sáu năm sống với Từ Hải; hai là nỗi buồn về thời thế do khi ra làm quan ông đã thấy rõ bộ mặt thực của bọn sai nha vô loại, đầu trâu mặt ngựa; ba là tuy đã rời bỏ giấc mộng phục Lê và quy phục triều đình mới nhưng như phần lớn các nho sĩ Bắc Hà vẫn còn nặng lòng với nhà Lê và ông đã hận không làm được như Khuất Nguyên thà trầm mình xuống sông Tương hơn là nhìn cảnh nước mất nhà tan. Tấm lòng trung này của Nguyễn Du đối với nhà Lê đã được giãi bày - Quách Tấn dịch - trong những câu: 

... Minh nguyệt chiếu cổ tỉnh
Tỉnh thủy vô ba đào... 
Trăng trong lòng giếng cổ 
Nước giếng không ba đào... 
Và: 
... Trạm trạm nhất phiến tâm 
Minh nguyệt cổ tỉnh thủy. 
Vằng vặc một mảnh lòng 
Giếng trong trăng rọi bóng. 
Chú thích: Theo tiến sĩ Phạm Trọng Chánh, trong tự điển Thiều Chửu thì Tố là tơ trắng, và tố như có nghĩa bóng là người có phẩm hạnh cao quý như nàng và như vậy ý của hai câu cuối là: không biết rồi đây ba trăm năm lẻ nữa, trong thiên hạ có ai khóc người có phẩm hạnh cao quý như nàng Tiểu Thanh?. Theo ông, tố như không phải là bút hiệu của Nguyễn Du vì chỉ được dùng một lần độc nhất trong bài thơ này, thêm nữa các đấng nam nhi, nhất là Nguyễn Du chắc không muốn đem mình ra so sánh với các nữ nhi thường tình. Bài thơ tuy khóc Tiểu Thanh nhưng Nguyễn Du cũng có ý chỉ Hồ Xuân Hương vì cùng có số hồng nhan đa truân như Tiểu Thanh. 
Phạm Trọng Chánh, với những tài liệu mới nhất nghĩ rằng Nguyễn Du chỉ là một võ quan nhỏ triều Lê, sau khi tới Yên Kinh cùng Cai Gia Nguyễn Đăng Tiến thì đã vỡ mộng phục Lê và quyết tâm tìm đường về với chúa Nguyễn nên đã chiêu binh mãi mã, luyện tập quân sĩ rồi đón đường Gia Long tại Phù Dung, Hưng Yên và nhận chức Tri huyện tại chỗ năm 1802. 
Một số các tác giả khác giải thích về chữ phong vận có hai nghĩa. Thứ nhất người con gái có tư thái tốt đẹp, thứ hai chỉ phong cách chung của thi, thư, họa và như vậy không phải chỉ mình Tiểu Thanh bị oan ức mà cả thơ văn lẫn bức họa của nàng đều bị kỳ oan, bị liên lụy và bị đốt hết. 
Tiếp theo cụm từ ngã tự cư ý nói là Nguyễn Du tự coi nỗi kỳ oan của Tiểu Thanh, của thơ nàng, của bức chân dung nàng cũng là của ta nghĩa là ta hiểu thấu nỗi oan ức của nàng nên khóc thương nàng. Nỗi kỳ oan và những đau khổ này nào phải chỉ riêng nàng mang kiếp hồng nhan bạc mệnh mà là của mọi con người trên cõi trần thế từ xưa tới nay và mãi mãi sau này. Ta đã hiểu nàng, khóc nàng tức là hiểu đời và khóc đời thì không biết có ai hiểu ta và khóc ta chăng? Nhưng trong câu hỏi này đã hàm ý câu trả lời tất nhiên là có rồi. Quách Tấn, dựa theo bài tham luận của Trương Chính cũng cho rằng nếu lấy thơ văn làm bằng chứng thì Nguyễn Du không có tâm sự hoài Lê, vì trong bài Á Phủ Mộ, đã từng chê những kẻ “nhất tâm trung sở sự” thì lẽ đâu lại khăng khăng giữ một dạ với nhà Lê và dưới con mắt sáng suốt, cảnh thay đổi triều đại là sự thường trong thiên hạ, nhất là triều Lê mạt, nhà vua chỉ để làm vì. 
Tuy nhiên ông cũng cho rằng Nguyễn Du có lòng bất mãn khi ra làm quan với nhà Nguyễn có lẽ vì những lý do sau đây: những hiềm khích ganh tỵ giữa các đại thần tạo ra các vụ án Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường rồi Lê Văn Duyệt, Lê Chất, sự kỳ thị Đàng trong và Đàng ngoài trong đó có Nguyễn Du, còn về vật chất ông hay đau yếu, lương bổng không đủ chu cấp cho gia đình gồm ba vợ và 12 con trai, 6 con gái, nên thường phải chịu cảnh cơ hàn. 
Thái độ tiêu cực do bất đắc chí ông giữ cho tới cuối đời, không biết có ai trong hậu thế hiểu rõ lòng ông không? 
CÁC BÀI DỊCH KHÁC: 
Quách Tấn 
Hồ Tây hoa kiển giải gò hoang 
Cửa hé trang thơ chạnh điếu nàng 
Hận luống vương thêm hồn phấn đại 
Tro chưa tàn hết nghiệp văn chương. 
Thanh thương khó hỏi oan chồng chất 
Phong nhã đành chung nợ vấn vương
Rồi Tố Như này ba kỷ nữa 
Trần gian ai kẻ sụt sùi thương? 
Đinh Quốc An  
Hoa cỏ Tây Hồ hóa bãi hoang 
Xem văn bên cửa tiếc thương nàng 
Nếu son phấn hiển về rơi lệ 
Thi phú văn linh chửa cháy tàn 
Kim cổ mối hờn trời có hiểu 
Ta/ Người một hội ngậm hờn oan 
Ba trăm năm nữa, còn ai nữa? 
Khóc Tố Như lòng lệ chứa chan. 

Chú thích: Phùng Tiểu Thanh sống vào khoảng đầu nhà Minh, lấy lẽ Phùng Sinh, bị vợ cả ghen bắt ra ở riêng dưới chân núi Cô Sơn cạnh Tây Hồ, có để lại một tập thơ bị vợ cả đem đốt nhưng còn sót lại một số bài, người đời sau gọi là Phần Dư Cảo. Hai câu cuối ý nói: Tiểu Thanh chết đã hơn 300 năm còn có mình khóc vì mình hiểu nàng, còn phần mình sau 300 năm nhắm mắt biết có ai hiểu minh và khóc mình không?. 
Lê Phụng 
Vườn Tây Hồ hóa bãi hoang 
Đọc trong sách cổ thương nàng xót xa 
Hữu thần lãng đãng hồn ma 
Văn thơ không mệnh nửa ra tro rồi 
Hận muôn thủa khó hỏi trời 
Riêng ta một hội kiếp người khổ đau 
Ba trăm năm lẻ về sau 
Khóc Tố Như biết còn bao nhiêu người?
Chú thích: Tiểu Thanh, tên thật Phùng Huyền Huyền là một phụ nữ tài sắc thời nhà Minh, năm 16 tuổi lấy lẽ Phùng Sinh tức Phùng Tử Hư tại Hàng Châu, giỏi thơ phú nhưng vợ cả ghen tuông rất mực, bắt ra ở riêng tại Cô Sơn khiến Tiểu Thanh buồn bực mà chết năm 18 tuổi, sau nhiều lần từ chối không chịu lấy chồng khác. 
Nàng để lại một tập thơ nhưng bị vợ cả đem đốt, còn sót lại 12 bài gọi là Phần Dư Tập. Chữ hữu thần trong câu thứ ba là do Tiểu Thanh trước khi chết cho người vẽ chân dung đến vẽ lần thứ ba mới được nàng nhận là có hồn và linh động nên bảo được rồi. Nàng đứng khấn vái trước bức họa, “Tiểu Thanh! Tiểu Thanh! Chốn này không phải duyên phận của mi đâu.” Nói xong, nước mắt chan hòa, nấc lên một tiếng mà chết. Tiểu Thanh là tên người đời gọi các nàng hầu, đáng lẽ là Phùng Tiểu Thanh nhưng vì kiêng tên họ chồng nên chỉ gọi tắt là Tiểu Thanh.  
Theo Lê Phụng, ông không tìm được trong ba tập thơ của Nguyễn Du bài nào ý nói hoài Lê và ý hai câu thơ cuối là muốn hỏi ba trăm năm nữa biết có ai hiểu lòng mình nghĩ về thân phận con người như mình nghĩ về thân phận Tiểu Thanh hay không? 
Trước 1975, trong Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam, Linh mục Giáo sư Thanh Lãng viết có đoạn, “Từ xưa người ta cứ cho rằng Nguyễn Du u uất vì mang mối tình với nhà Lê. Nhưng trong suốt sự nghiệp thơ văn chữ Hán của ông không có một nét nào cho thấy ông ghét Nguyễn, thương Lê cả. Ngay cả đến nhà Tây Sơn khi Tây Sơn thất bại Nguyễn Du còn cảm thấy thương tiếc tất cả cơ nghiệp vĩ đại của nhà Tây Sơn chỉ còn lại một ca sĩ già và nhà thơ đã đau lòng để nước mắt rơi ướt áo”.
Lê Thước 
Hồ Tây cảnh đẹp hóa gò hoang 
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn 
Son phấn có hồn chôn vẫn hận 
Văn chương không mệnh đốt còn vương 
Nỗi buồn kim cổ trời khôn hỏi 
Cái án phong lưu khách tự mang 
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa 
Người đời ai khóc Tố Như chăng? 
Nguyễn Ngọc Bích 
Tây Hồ hoa uyển: đống gò hư 
Mảnh giấy bên song khóc người xưa 
Son phấn có thần thương vẫn mất 
Văn chương không mệnh sót tàn dư 
Xưa nay hận sự trời khôn hỏi 
Phong vận niềm oan khách tự mua 
Chẳng biết rồi ba trăm năm nữa 
Thiên hạ còn ai khóc Tố Như? 
Nhận được và có lẽ do ảnh hưởng của bài thơ này, Xuân Hương dù đang mang thai 6 tháng, quyết định dứt tình với Tổng Cóc, trở lại Cổ Nguyệt Đường, mở tiệm sách tại phố Nam 25 gần đền Lý Quốc Sư và cạnh trường ông nghè Phạm Quý Thích, vừa tuổi 35, sau tuy không giữ được cái thai nhưng vẫn là gái một con, sắc đẹp mặn mà, làm mòn bao cặp mắt xanh của các môn sinh ông nghè. Nàng trả lời bằng bài thơ: 
CHƠI TÂY HỒ NHỚ BẠN 
Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa 
Người đồng châu trước biết bao giờ 
Nhật Tân đê lở nhưng còn lối 
Trấn Quốc rêu phong vẫn ngấn thơ 
Nọ vực Trâu vàng trăng lặn bóng 
Kìa non Phượng đất khói tuôn mờ 
Hồ kia thăm thẳm sâu dường mấy 
So dạ hoài nhân dễ chửa vừa. 
Ý muốn nhắc lại những kỷ niệm xa xưa cùng Nguyễn Du tại Hồ Tây và tuy cuộc tình đã lỡ nhưng lòng mình không thay đổi, vẫn đợi cơ hội nối lại và hồ kia có sâu mấy chăng nữa cũng không bằng lòng em thương nhớ chàng. 
Chú thích: Phủ Tây Hồ có đền thờ bà chúa Liễu Hạnh và Trâu vàng do sự tích sư Minh Không quốc sư triều Lý xin đồng nhà Tống để đúc chuông, khi tiếng chuông ngân xa, con trâu vàng trong cung nhà Tống ngỡ tiếng mẹ gọi chạy sang Tây Hồ rồi biến mất tại đây. Tại Hồ Tây xưa có gò Phượng, nay thuộc khu vực trường Chu Văn An. Nguyễn Du cũng nhắc lại chuyện xưa đi hái sen cùng nàng qua bài thơ Mộng Đắc Thái Liên ta đã biết ở phần trên. 
Năm 1813 Nguyễn Du được thăng Cần chánh Điện Học sĩ, tước Du Đức Hầu, được cử làm chánh sứ sang triều cống nhà Thanh. Hồ Xuân Hương hay tin này làm bài thơ: 
CẢM CỰU KIÊM TRÌNH CẦN CHÁNH HỌC SĨ NGUYỄN HẦU 
Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung 
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng 
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn 
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không 
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập̣ 
Phấn son càng tủi phận long đong 
Biết còn mảy chút sương siu mấy
Lầu Nguyệt năm canh chiếc bóng chong. 
Chú thích: Sương siu theo GS Hoàng Xuân Hãn có nghĩa là bịn rịn. Có bản chép là sương đeo mái? Theo giáo sư Trần Ngọc Ninh, bài thơ được viết từ lầu Nguyệt, nhắc lại mối tình văn thơ ba năm tròn nhưng dang dở giữa hai người và kín đáo nói rằng nếu Nguyễn Du còn một chút nhớ đến người cũ thì đêm nay ghé lại lầu Nguyệt, chỉ có một mình nàng đèn chong chờ chàng. Tuy nhiên vì tình thế bắt buộc, Nguyễn Du không đáp ứng cũng không trả lời và ông đã khổ tâm lắm về điều này.
Lúc đó Nguyễn Du đã có công danh sự nghiệp, lên xe xuống ngựa và nhiều thê thiếp tất cả là 4 bà vợ và 18 đứa con. Phái đoàn từ Phú Xuân ra tới sông Vị Hoàng, được đón tiếp long trọng tại Thạch Đình bởi Tổng trấn Bắc Thành là Nguyễn Huỳnh Đức. Phạm Trọng Chánh suy đoán Xuân Hương cũng tới đây là nơi nàng đã tiễn đưa chàng 20 năm trước, nhưng vì lễ nghi đông đảo, nghiêm ngặt không thể mặt gặp mặt, nên đành về nhà viết bài thơ: 

MỪNG GẶP BẠN Ở SÔNG HOÀNG 
Nhà Xuân từ được bén hơi xuân 
Nửa khắc: vàng xem nặng mấy cân 
Trót hẹn nhớ cho đành một kiếp 
Nặng nề quên cả đến trăm thân 
Cạn dòng Tô thủy còn duyên nợ 
Đầy giọt Hoàng giang những ái ân
Nồng nhạt mặc dù đâu nhẽ dám 
Tấc son này vẫn thắm mười phân. 
Theo giáo sư Trần Ngọc Ninh, Nguyễn Du chưa hề quên người tình Hồ Xuân Hương nhưng lúc bấy giờ ông đường đường là một Chánh Sứ, đại diện cho nhà Vua nên mọi người đều để ý từng hành động của ông, 
Nghĩ mình phương diện quốc gia 
Quan trên nhằm xuống, người ta trông vào 
Nên ông đành phụ lòng người tình nhưng trong lòng vẫn luôn day dứt nhớ. Trên đường đi sứ trở về, Nguyễn Du có ghé lại lò sứ Cảnh Đức ở Giang Tây để đặt làm đĩa sứ, bên trong trang trí hình cây mai và chim hạc với bài thơ lục bát chữ Nôm do ông sáng tác, viết theo chiều dọc ba cột: 
6 Nghêu ngao vui thú yên hà 
2 Mai là 
6 bạn cũ, hạc là người quen 
Giáo sư Ninh phỏng đoán, khởi đầu Nguyễn Du viết Mai là người cũ, hạc là bạn xưa, nhưng như thế thì lộ liễu quá vì Mai là Hồ Phi Mai, tên của Hồ Xuân Hương nên phải xóa đi, viết lại. 
Bài thơ Mừng gặp Bạn ở sông Hoàng, Nguyễn Du không nhận và đọc được, sau đó được Xuân Hương cất giữ kỹ trong tập Lưu Hương Ký. Khi đó nàng đã 41 tuổi và trải qua nhiều cuộc tình lẫn duyên với thầy Lang, Mai Sơn Phủ, Tổng Cóc, Tốn Phong Thị tức Phan Huy Huân, Phạm Đình Hổ, Cự Đinh, ̀ quan Hiệp trấn Sơn Nam Hạ Trần Quang Tĩnh, Hiệp trân Sơn Nam Thư ́ ợng Trần Ngọc Quán và đang có tình với Tri phủ Tam Đái - sau đổi là Vĩnh Tường - Trần Phúc Hiển. 
Dần dà, Hồ Xuân Hương hiểu rằng duyên số của nàng đã do trời định: hồng nhan đa truân và nàng quyết định lấy lẽ Trần Phúc Hiển lúc đó từ Tri phủ Vĩnh Tường, được thăng Tham Hiệp Trấn Yên Quảng tức Quảng Yên sau này.
Xuân Hương tự than trách số phận của mình qua bài thơ: 
HOÀI CỰU/ NHỚ BẠN CŨ 
Chữ tình ngang ngửa biết bao nhiêu 
Một chút duyên xưa dở lắm điều 
Bèo lạc không kinh còn trẻ lại 
Trăm hoa thêm tủi cái gì theo 
Tài tình nợ ấy vay nên trả 
Phong cảnh vui đâu đã gửi nhiều 
Đưa đón biết tường tay đại Tạo 
Cánh hoa trên nước thắm tin triều. 
Quả vậy, con Tạo chưa chịu tha cho hồng nhan khỏi gian truân. Từ vụ án Nguyễn Văn Thuyên do Lê Văn Duyệt và Lê Chất muốn triệt hạ vây cánh Nguyễn Văn Thành, khiến cho thân phụ của Thuyên là nguyên Tổng Trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành phải tự tử năm 1816, Binh bộ Thượng Thư Đặng Trần Thường bị thắt cổ, tiến sĩ Vũ Trinh, anh rể Nguyễn Du bị đầy đi Quảng Nam 12 năm, Hiệp Trấn Sơn Nam Trần Ngọc Quán chết bất ngờ năm 1818, chắc là tự tử, tới vụ án chồng Xuân Hương là Hiệp Trấn Yên Quảng  Trần Phúc Hiển bị vu oan tội hối lộ 700 quan tiền bị hành hình. Hồ Xuân Hương có chứng kiến buổi hành hình, khóc cười như điên dại, bỏ đi tu tại núi Yên Tử một thời gian, rồi về lại Cổ Nguyệt Đường sống được vài năm thì mất, mộ nằm bên hồ sen cạnh chùa Kim Liên, nay nằm chìm trong đáy Hồ Tây. 
Tiến sĩ Phạm Trọng Chánh cho rằng, “Còn với Nguyễn Du, tình yêu với nàng như tơ trong cuống sen, ́vấn vương hoài không dứt. Trước khi nhắm mắt năm 1820, nếu Nguyễn Du có ngâm câu: "Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp tố như" thì không phải Nguyễn Du muốn ai khóc mình đâu mà Nguyễn Du tiếc thương người con gái tên Hồ Phi Mai, một kiếp hồng nhan bạc mệnh, mong manh như một cành mai trước gió xuân.” 
TÀI MẠO HỒ XUÂN HƯƠNG 
Tại sao Nguyễn Du lại thương cảm Hồ Xuân Hương cho tới lúc sắp mất cũng chưa nguôi và hai người 
Trong các đoạn khác: 

Xuân Hương là một nữ lưu phù hoa, vẻ mặt như hoa đào, nhan sắc như nước thu, nào đàn, nào cờ, nào rượu, nào thơ, có thể viết nên thiên “Phong Tình Tân Lục.”... 
Dáng nàng chừ, hoa khoe đẹp, cúc khoe thơm. Duyên nàng chừ, lửa trong đá, sáng trong chớp...  
Nữ lưu tài giỏi trên đời, không ai bằng Cổ Nguyệt Đường. Nữ lưu bạc mệnh trên đời, không ai bằng Cổ Nguyệt Đường. 
 Ban Chiêu (45-116) giúp anh là Ban Cố viết cuốn sử đầu tiên là Tiền Hán Thư; Sái Văn ́ Cơ bị quân Đổng Trác bắt rồi lưu lạc sang Hung Nô, sau được Tào Tháo quen biết với gia đình, lấy vàng chuộc về nhưng phải để hai con lại, có tài soạn nhạc, nổi tiếng về khúc bi phẫn ca, tả nỗi uất hận hải bỏ con ở lại; Tô Tiểu Muội, em Tô Đông Pha có tài làm thơ; Tạ Uẩn, người Đông Tấn có tài ngâm vịnh. Trong Tam Tự Kinh có viết: Thái Văn Cơ/ Năng biện cầm. Tạ Đạo Uẩn/ Năng vịnh ngâm. 
Trong truyện Kiều, Kim Trọng khen Kiều: Khen tài nhả ngọc phun châu/ Nàng Ban ả Tạ cũng đâu thế này. 
Vậy là cái tài của Hồ Xuân Hương không ai phủ nhận được, nhưng còn cái sắc thì sao? Tam Nguyên Vị Xuyên ca ngợi nàng tài sắc song toàn như vậy có gì quá đáng không? Đành là phải căn cứ vào những lời truyền tụng và một vài thư liệu nói về nàng. 
Nhà nho Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến (1875-1941), trong cuốn sách Giai Nhân Dị Mặc, xuất bản năm 1917, không biết dựa vào đâu, tả rằng Hồ Xuân Hương có nước da hơi ngăm ngăm đen, mặt hơi rỗ hoa, da không mịn màng mà giống như vỏ mít, tuy không xinh đẹp nhưng có duyên thầm; Ngô Tất Tố trong truyện dã sử của ông, tả nàng có dáng dấp yểu điệu, dung nhan xinh đẹp. 
Trong những người thầm yêu trộm nhớ nàng Hương có Tốn Phong Thị tức Phan Huy Huân, người viết tựa cho cuốn Lưu Hương Ký gồm 24 bài thơ chữ Hán và 28 bài thơ chữ Nôm, đã làm 31 bài thơ tinh̀ chữ Hán riêng gửi cho nàng Hương, trong đó có nhiều câu miêu tả về tài mạo nàng là tài liệu đáng tin cậy hơn cả, và đã được tiên sĩ Phạm Trọng Chánh thu thập và diễn dịch như dưới đây. 
Bài 1 có những câu: 
... Hơn đời phong cách ta sao ví 
Nổi tiếng văn chương tiên xuống trần 
Tỏa ngát hương mai nâng chén rượu 
Gặp nàng ngờ trước sẵn nhân duyên. 
Bài 2 ca tụng nàng Hương tức Hồ Phi Mai lên tận mây xanh: 
Tao Đàn xuất hiện vì Thơ Thần 
Đồng quận duyên may được biết nàng 
Hoàng các vốn gia đình vọng tộc  
Hồng nhan tiên giới thác sinh chăng? 
Châu Hoan thuần túy từ ngàn trước 
Khuê tú tinh hoa vẹn thập phần 
Chín chín đỉnh non Hồng có nhớ 
Hoa Mai xuân sắc nhất kinh thành. 
Bài 3 viết khi tới thăm nàng một ngày xuân: 
... Nghê Vũ người tiên mây giáng hiện 
Quân Thiều thiên khúc bóng ca trăng 
Một bầu mây nước hoa nhuần nhị 
Vạn dặm sao trời mắt sáng trong... 
Bài 5 nói tính hiếu khách và mê say sách đàn: 
... Rất quý thần hoa yêu mến khách 
Sách đàn đâu cũng áo cơm nhà. 
Bài 9 van xin nàng đường buồn vì một nụ cười của nàng đủ làm ta sướng mê tơi: 
... Sầu vương nét mi gầy với tuyết 
Hương vào ngọn bút nở xuân tươi 
Lưu danh ngày tháng thơ tìm đến 
Một thoáng hoa cười đủ sướng vui. 
Bài 14 ca ngợi sắc đẹp của nàng như hàn mai, như mỹ nhân: 
... Ghen chi mai lạnh trắng sương ngần 
Một vẻ yêu kiều sánh mỹ nhân... 
Bài 17 nói về vóc dáng nàng: 
... Mai gầy cung điệu gió thanh thanh 
Bài 18 cũng nói vậy: 
... Sức vóc đào tơ như tự cổ 
Bài 22 cho ta biết rõ hơn: 
... Thanh thoát vẻ mai gầy cốt cách  
Rõ ràng xuân sắc vẹn mười phân... 
Bài 15 và 25 nói nàng đã một lần sinh nở: 
... Chốn đời hoa mới nẩy thêm cành... 
... Hàn Mai vừa nở một cành Xuân 

Bài 19 ca tụng son sắc nàng tới trời Nam và ánh xuân tràn đất Bắc:
... Mười phần son phấn trời Nam đến 
Quá nửa xuân quang cửa Bắc tràn... 
Bài 22 không ngừng tán tụng: 
... Thanh thoát vẻ mai gầy cốt cách 
Rỡ ràng xuân sắc vẹn mười phân. 
Bài 23 cũng đề cao vẻ đẹp: 
... Nghìn vàng khôn chuộc tuổi thanh xuân... 
... Hoa Mai rực rỡ núi mây ngàn. 
Bài 25 còn bốc hơn nữa, vi ́nàng như vầng Trăng tỏa sáng và hoa nở rộ trời Xuân: 
... Trăng cũ tỏa ngời bao dạ ý 
Hoa trời khai nở rộ đình xuân... 
Bài 28 còn cho biết rõ nàng có ba đời chồng: 
... Mai quả đã từng ba độ kết 
Xem vậy ta thấy Tốn Phong Thị rất trung thực trong việc tả cuộc đời và tài mạo Hồ Xuân Hương, ngay cả về việc chồng con của nàng cũng không giấu giếm gì cả, lại là người đồng thời thì ta có thể tin hơn lời của Nguyễn Hữu Tiến. Cũng nên chú ý là trong những câu thơ của Tốn Phong Thị đều cố ý đưa tên nàng Xuân Hương tức Phi Mai và Nguyệt vào thơ một cách kín đáo. 
Một bạn thơ trong Tao Đàn Cổ Nguyệt là Trần Ngọc Quán, đang làm Cai Bạ doanh Quảng Đức tức Thừa Thiên thì được bổ nhiệm chức Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng lúc ấy gồm hai tỉnh Hà Nội và Hưng Yên, khi vừa tới Bắc Thành đã tìm đến thăm Hồ Xuân Hương và ra mắt bằng bài thơ ca tụng nàng trong đó có những câu được Nhất Uyên dịch như sau: 
... Tài cao nhả phượng thế gian kinh 
May đến Long Thành được thấy danh... 
... Giao du đất khách lòng mơ thỏa  
Tài mạo khuê dung, trời vốn sinh... 
Trong một bài họa thơ, Trần Ngọc Quán viết: 
... Tơ liễu đã khoe tài lạ trước 
Nguồn Đào học hỏi lối quen xưa 
Giai nhân tài tử dường nào đấy 
Hay nợ bình sinh chửa giả cho. 
Phạm Đình Hổ (1768-1839), trong Vũ Trung Tùy Bút, có viết bốn bài thơ về Hồ Xuân Hương, trong đó có bài Nhớ Bạn đã kể ở trên, còn bài Cảm Hứng được Nhất Uyên dich như sau:
CẢM HỨNG 
Trường An cô gái nhỏ     
Đôi tay vấn tóc thề     
Khuê phòng không biết khổ    
Quét hoa rụng bay về.    
Trường An cô gái nhỏ     
Mi đen vầng trăng non    
Vì yêu mai thanh khiết    
Chẳng nề gió lạnh lùng      
Trường An cô gái nhỏ     
Nhìn hoa tựa bên song     
Buông đàn cười chẳng gẩy
Sợ làm ai chạnh lòng.
THIẾU NỮ LÀM DUYÊN   
Thiếu nữ nhà ai đó    
Trước gió vụng điểm trang    
Mày thưa học nét liễu 
Tóc ngắn vừa tỏa hương.     
Trước gương thướt tha đứng    
Ưỡn ẹo như đoạn trường  
Nào hay nơi gấu váy    
Đầy cỏ may bên đường? 
Qua mấy bài thơ trên, ta hình dung được phần nào nhan sắc của nàng Hương, hẳn không thể giống như lời Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến miêu tả. 
Về những lời truyền tụng, ta có thể căn cứ ở bài viết của cụ giáo Dương Văn Thâm, 93 tuổi, người cùng làng Gáp, xã Tứ Xã, huyện Phong Châu, Vĩnh Phúc, với Tổng Cóc.  
Theo cụ, ông Hồ Phi Diễn có tới đây ngồi dạy học cùng cô con gái là Hồ Phi Mai. Số môn sinh khoảng 60 người, trong đó có ba người si tình nàng Hương là Tú Điếc, có công giới thiệu cụ đồ Diễn về làng, giúp xây trường và nhà cho thầy, Nho Trâm tuy là học trò yêu của thầy nhưng lại không lọt mắt xanh và Tổng Nguyễn Bình Kình, tục gọi là Tổng Cóc, một chức sắc trong tổng, cháu nội ông nghè Nguyễn Quang Thành, nhà sung túc, tính tình hào phóng nhưng lại đã có hai vợ. 

Theo dân làng nhân dịp tết khi các môn sinh tới chúc tết thầy thì Xuân Hương đóng cửa lại và ra câu đối, thử tài: 
Tối ba mươi, khép cánh Càn khôn kẻo nữa ma vương đưa quỷ tới. 
Mọi người đứng nghĩ mãi không ra câu đáp, tiu nghỉu ra về, nhưng sáng hôm sau nàng vừa mở cửa thì Tổng Cóc đã đứng đó sẵn và đọc câu đối lại: 
Sáng mồng một, mở then Tạo hóa để cho thiếu nữ đón xuân vào. 
Kết quả là nàng Hương chọn Tổng Cóc làm chồng. Người xưa truyền lại là Tổng Cóc rất cưng chiều nàng Hương, cho trồng liễu chung quanh một cái hồ lớn bảy bờ, chạy từ đầu tới cuối làng và Xuân Hương đặt tên là hồ Thất Liễu, Tổng Cóc còn cho xây cả một nhà Thủy Tạ giữa hồ Thất Liễu, chung quanh thả toàn sen, cho nàng ra chơi, ngắm cảnh làm thơ, không phải lo lắng việc đồng áng như hai vợ trước cho nên dân làng không mấy ưa gì nàng, cho rằng nàng đã phá hoại hạnh phúc và gia cang người khác. Dân làng còn truyền tụng câu, “Đánh gốc, bốc trà may Tú Điếc/ Cá Kình mắc lưới, phúc Nho Trâm”. 
Người ta còn cho rằng Hồ Xuân Hương làm hai bài thơ “Bánh trôi” và“ Đánh đu” là tại đây vì hàng năm cứ tới ngày 3 tháng 3 thì có cuộc đánh trận giữa hai làng Gáp và Mương bên cạnh và làm bánh trôi để thưởng quân đức Tản Viên và năm nào đón xuân cũng có cuộc thi đánh đu... Cũng theo truyền tụng, Xuân Hương có mái tóc dài đen nhánh, chấm xuống tận đất mà lại thích gội đầu bằng chanh cho nên Tổng Cóc dành riêng một khu vườn trồng toàn chanh cho nàng lấy quả gội đầu. 
Mặc dầu Tổng Cóc hết mực chiều chuộng nhưng rồi do tính tình không hợp nhau, lại thêm bị vợ cả đánh ghen, hai người rút cuộc phải chia tay dù lúc đó nàng Hương đang mang thai. Hồ Xuân Hương tự cảm thương cho thân phận của mình qua bài thơ Khóc Tông Cóc. 
Tóm lại, căn cứ trên các câu truyện truyền tụng, trên thơ văn của những người bạn của Hồ Xuân Hương và số khá nhiều các văn nhân, tài tử và quan chức lui tới với nàng thì ta có thể suy luận nàng Hương là người tuy không sắc nước hương trời nhưng cũng tài sắc hơn người, có chứa trong nhà vàng cũng không phải là quá đáng như lời Tam Nguyên Vị Xuyên phẩm bình.  
Tranh Nguyễn Sơn 
Trở lại đề tài “Mối tình của Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương” theo giáo sư Hoàng Xuân Hãn, ông có cảm tưởng, “Nguyễn Du, trong khi viết nhiều câu Kiều, đã không khỏi nghĩ đến thân phận Xuân Hương thời niên thiếu.” Giáo sư Trần Ngọc Ninh, cùng luận cứ như trên, lại còn đi xa hơn nữa khi đoan chắc rằng hai người đã từng giắt tay nhau đi dạo Hồ Tây và câu Kiều, 
Ngày Xuân lắm lúc đi về với Xuân 
thì chữ Xuân sau ám chỉ chính Hồ Xuân Hương. 
Hai người cũng đã có nhiều kỷ niệm với nhau trong cá thú vui tao nhã, thanh lịch của một cặp tài tử giai nhân mà Nguyễn Du đã tả lại trong Truyện Kiều: 
Khi gió gác, khi trăng sân 
Bầu tiên chuốc rượu, câu thần nối thơ 
Khi hương sớm, khi trà trưa 
Bàn vây điểm nước, đường tơ họa đàn.  
và tuy mối tình chỉ dài có ba năm nhưng đã để lại muôn nghìn nỗi nhớ nhung như trong bài thơ Xuân Hương viết cho Nguyễn Du khi ông trở lại Thăng Long trên đường đi sứ. 
Trong truyện Kiều, tên của nàng là Mai, là Hương, là Xuân, là Nguyệt đã được đặt vào những câu tình tứ nhất, âu yếm nhất và nhất là mặt trăng không rời khỏi bước đường của ông suốt từ Thăng Long tới lầu Hoàng Hạc và ánh trăng cũng soi suốt dọc tập thơ Đoạn Trường của Nguyễn Du. 
Mối tình ba năm trọn vẹn (1790-1793) thêm hai mươi năm tình một thuở còn vương (1793-1813) của Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương tuy không đưa tới cảnh sum họp một nhà, nhưng các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam như Hoàng Xuân Hãn, Trần Ngọc Ninh, Phạm Trọng Chánh đều cho rằng nhiều bài thơ của Nguyễn Du và nhiều câu thơ trong Kiều phảng phất bóng dáng nàng Hương và đã để trong lòng ông nhiều nuối tiếc, ngậm ngùi: 
Tiếc thay chút nghĩa cũ càng 
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.
Tượng đài Nguyễn Du tại Hà Tĩnh 
Tranh Phùng Dzi Thuần: Hồ Xuân Hương
 
Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương.
TÀI LIỆU THAM KHẢO CĂN BẢN: 
- Các bài biên khảo về Nguyễn Du của Tiến sĩ Giáo dục Phạm Trọng Chánh, Đại học Paris V. 
- Tạp chí TRUYỀN THÔNG số 39-40 đặc biệt về Nguyễn Du - Xuân 2011. Lê Phụng và giáo sư Trần Ngọc Ninh biên tập. 
TỐ NHƯ THI Quách Tấn. 
Các bài trên mạng: Nhiều tác giả. 
Theo https://www.alascaonline.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Phan Tấn Hải, bên trời ngồi viết... Mở đầu tuyển tập Đuổi Bắt Một Mùi Hương*, là bốn câu thơ: Bên trời ngồi viết tóc rối như mây quê...