Nguyễn Hữu
Cảnh
Người mở cõi Nam bộ Việt Nam
Nguyễn Hữu Cảnh (1650-1700), người con ưu tú của vùng đất
Quảng Bình nhiều nắng gió đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử tổ chức khai phá, mở
mang bờ cõi, thiết lập bộ máy hành chính Nam Kỳ, xác lập chủ quyền lãnh thổ Việt
Nam trên vùng đất Nam bộ, định hình nước Việt Nam thành dải đất hình chữ S như
ngày nay.
Công lao to lớn của ông đã được triều đình nhà Nguyễn ghi nhận,
phong tước hiệu Lễ Thành hầu - Khai quốc công thần - Thượng đẳng công thần.
Nguyễn Hữu Cảnh, tên thật là Nguyễn Hữu Thành, húy Kính, tộc
danh là Lễ, người thôn Phước Long, xã Chương Tín, huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng
Bình (nay là xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình). Theo các nhà
nghiên cứu lịch sử thì tổ tiên của ông là Đinh Quốc Công Nguyễn Bặc - vị khai
quốc công thần thời nhà Đinh, hậu duệ 9 đời của Nguyễn Trãi - vị đệ nhất khai quốc
công thần thời nhà Lê. Ông nội là quan tham chiến Triều Văn hầu Nguyễn Triều
Văn, vì bất mãn với chúa Trịnh lấn át quyền hành của vua Lê, nên theo phò chúa
Nguyễn vào Đàng Trong. Bước dừng chân đầu tiên của dòng Nguyễn Hữu vào năm 1609
do Triều Văn hầu Nguyễn Triều Văn định hướng là đất Quảng Bình, khi ấy người
con trai thứ năm của ông là Chiêu Vũ hầu Nguyễn Hữu Dật (cha của Nguyễn Hữu Cảnh)
mới được 5 tuổi. Trưởng thành, Nguyễn Hữu Dật cùng vợ Nguyễn Thị Thiện đã cùng
đồng cam, cộng khổ với chúa Nguyễn trong cuộc đối đầu với chúa Trịnh. Sinh ra
và lớn lên trong thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, Nguyễn Hữu Cảnh chuyên tâm
luyện tập võ nghệ, rèn luyện bản thân với niềm hy vọng lớn lao được cống hiến sức
mình cho chúa Nguyễn. Trí thông minh cùng sự nỗ lực hết mình của bản thân, ông
đã lập nên nền hành chính Nam Kỳ- một trung tâm đô hội của vùng đất phía Nam.
Hành
trình mở cõi về phía Nam của cha ông ta được tính từ thời Lý, trải qua các triều
đại phong kiến lãnh thổ Đại Việt được mở rộng dần cho tới năm 1635, chúa Nguyễn
Phúc Nguyên dời thủ phủ vào Kim Long, bên bờ sông Hương và Phú Xuân - Huế ra đời
đánh dấu mốc quan trọng trong hành trình mở cõi của dân tộc Việt Nam. Đối với
vùng đất Nam Bộ cho đến thế kỷ XVII vẫn còn hoang vu, mà nhà truyền giáo
Alexandre de Rhode đã mô tả “quạnh hiu, hoang mạc” và chú thích “không có vật
gì thuộc về sự sống”, cuốn Phủ biên tạp lục cũng khẳng định: “…từ các cửa biển
Cần Giờ, Soài Rạp, cửa Tiểu, cửa Đại trở lên toàn là rừng rậm hàng nghìn dặm” [1,
tr 439-440]. Trong một thời gian khá dài (từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVII), vùng
đất Nam Bộ “hình như đang ở trong quá trình hoang hóa do sự tan rã cơ cấu dân
cư. Những nhóm người thưa thớt chỉ còn quần tụ ở một số vùng Vũng Tàu - Bà Rịa,
Prei Nokor, Sóc Trăng, Trà Vinh, Thất Sơn,… Trừ một vài nhóm lẻ tẻ người Khmer
nghèo khổ đi tìm cuộc sống … , trong một thời gian dài vùng hoang dã Nam Bộ là
nơi bôn tẩu, ẩn nấp của những phe phái thất thế, những “phó vương”, “đệ nhị
vương”,… khi tranh giành quyền lực ở triều đình Chân Lạp, nơi tụ họp của các phần
tử bất hảo, nơi những người Khmer nghèo bị áp bức bóc lột đến lánh nạn,… Những
người dân này không bị ràng buộc bởi một chính quyền nào” [2, tr 37]. Điều đó
đã thể hiện khả năng quản lý yếu cùng với sự thờ ơ vùng đất này của Chân Lạp tạo
điều kiện cho chúa Nguyễn nhanh chóng mở rộng lãnh thổ vào Đàng Trong. Năm
1691, vua Chiêm Thành thường đưa quân vượt biên giới, sát hại dân Việt ở Diên
Ninh (Diên Khánh), tình hình biên giới Việt - Chiêm căng thẳng. Năm Quý Dậu
(1693) vua nước Chiêm Thành là Bà Tranh bỏ không tiến cống, chúa Nguyễn Phúc
Chu phái quan tổng binh Nguyễn Hữu Cảnh đem binh bình định vùng biên cương, “bắt
được Bà Tranh và bọn thần tử là Tả trà Viên, Kế bà Tử cùng thân thuộc là Bà Ân
đem về Phú Xuân. Chúa Nguyễn đổi đất Chiêm Thành làm Thuận phủ, cho Tả trà
Viên, Kế bà Tử làm chức Khám lý và ba người con của Bà Ân làm đề đốc giữ Thuận
phủ, lại bắt phải đổi y phục theo như người Việt Nam để phủ dụ đất Chiêm Thành.
Qua năm sau lại đổi Thuận phủ ra làm Thuận Thành trấn, cho Kế bà Tử làm đô đốc”
[3, tr 81- 82]. Vị quan trấn thủ đầu tiên vùng đất mới mở- Chưởng cơ Nguyễn Hữu
Cảnh đã nhanh chóng thiết lập hệ thống cai quản, tổ chức nhân dân khẩn hoang, ổn
định cuộc sống, đề ra chính sách hòa đồng sắc tộc Chăm - Việt. Công việc bình định
vừa xong, một nhóm người Thanh, đứng đầu là A Bân xúi giục bè đảng dấy loạn,
ông lại nhận chỉ lệnh đi dẹp loạn và được cử làm trấn thủ dinh Bình Khương (nay
là Khánh Hòa, Ninh Thuận).
Tháng hai, năm Mậu Dần (1698), vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc
Chu, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, xác định chủ quyền của người
Việt trên vùng đất mới. Theo đường biển, thuyền của Nguyễn Hữu Cảnh đi ngược
dòng Đồng Nai đến ở tại cù lao Phố còn gọi là Đông Phố (cảng sầm uất nhất miền
Nam lúc bấy giờ). Ông cho đặt bản doanh tại cù lao Phố, nghiên cứu vùng đất này
và nhận xét đất đai rộng mênh mông nhưng toàn là sình lầy, rừng rậm trong khi
đó nhân lực thì ít, di dân lập ấp tự do không quy củ, đời sống sinh hoạt của cư
dân quá khó khăn. Vùng đất đai hoang hóa, hiểm trở, sông rạch chằng chịt, gai
góc ngút ngàn, đầy rẫy hang ổ của các loài mãnh thú, ác ngư, thật đúng là “ Đồng
Nai địa thế hãi hùng; Dưới sông sấu lội, trên giồng cọp um…”. Với ý chí quả cảm,
bất chấp tất cả mọi khó khăn, ông nhanh chóng vạch ra kế sách chiêu mộ lưu dân,
khuyến khích khai hoang, ổn định dân tình, dàn xếp biên cương, thiết lập cơ sở
hành chính thôn xã, lập Gia Định phủ trên phần đất từ sông Đồng Nai đến sông Tiền
và chính thức cho sát nhập vào bản đồ Đại Việt (hai vùng Tân An và Gò Công chưa
nội thuộc chủ quyền người Việt). Ông “lấy Đồng Nai làm huyện Phước Long và Sài
Gòn làm huyện Tân Bình. Đặt Trấn Biên dinh (tức là Biên Hòa) và Phiên Trấn dinh
(tức là Gia Định) sai quan vào cai trị. Lại chiêu mộ những kẻ lưu dân từ Quảng
Bình trở vào để lập ra thôn xã và khai khẩn ruộng đất. Còn những người Tàu ở đất
Trấn Biên (Biên Hòa) thì lập làm Thanh Hà xã; những người ở đất Phiên Trấn (Gia
Định) thì lập làm Minh Hương xã. Những người ấy thuộc về sổ bộ nước ta” [3, tr
81- 82]. Mỗi dinh đặt chức Lưu thủ, Cai bạ và Ký lục để cai quản. Nha thuộc có
2 ty là Xá sai ty (coi việc văn án, từ tụng, dưới quyền quan Ký lục) và Lại ty
(coi việc tài chính, do quan Cai bộ đứng đầu). Quân binh thì cơ, đội, thuyền,
thủy bộ binh và thuộc binh để canh phòng thôn trang và bảo vệ chủ quyền vùng đất
mới mở. Phủ Gia Định lúc bấy giờ từ Sài Gòn, Đồng Nai, Nhà Bè đến Long An. Đất
đai được mở rộng ngàn dặm, dân chúng “tứ vạn hộ” được quy tụ thành các xóm làng
có sổ đinh, sổ điền. Tất cả người Hoa cùng đều nhập sổ bộ nước ta, nhưng theo
cách quản lý của Nguyễn Hữu Cảnh thì người Hoa tập trung sinh sống ở hai nơi:
Thanh Hà xã, huyện Phước Long (Đồng Nai, Biên Hòa) và Minh Hương xã, huyện Tân
Bình (Sài Gòn, Bến Nghé). Để đảm bảo thương mại phát triển, sự giao lưu thông
suốt giữa các vùng dân cư trong Phủ, ông cho lập đường thủy ven các nhánh sông,
lấy khu chợ nổi Nhà Bè cổ nơi ngã ba sông Bình Dương làm trung tâm giao dịch,
thương lưu với cù lao Phố, Bến Nghé, Cần Giờ, Rạch Cát, Vũng Cù (Cần Giuộc) và
Gò Vấp. Nhờ vậy, tàu thuyền chở hàng hóa có thể ra vào một cách dễ dàng. Đặc biệt,
bến tàu Châu Đại Phố của nhóm thương nhân người Hoa đã được củng cố lại, đảm bảo
hoạt động quy củ với tên gọi mới cảng Đại Phố. Dân chúng được chiêu mộ chủ yếu
từ châu Bố Chánh (Quảng Bình), Quảng Nam, các phủ Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy
Nhơn đến vùng đất mới làm ăn, bởi vậy số dân lúc bấy giờ đã lên tới 4 vạn hộ,
yên tâm chung vai gánh vác công cuộc mở cõi. Cuộc sống của dân cư nhanh chóng ổn
định và khá phát triển. Trong cuốn “Phủ biên tạp lục”, Lê Quý Đôn đề cập: Hàng
năm vào tháng 11, tháng 12 - tháng giã thành gạo, bán lấy tiền để ăn tết chạp. Từ
tháng giêng trở đi là không làm việc xay giã. Bình thời chỉ bán ra Phú Xuân để
đổi lấy hàng Bắc, lụa lĩnh, trừu đoạn, áo quần tốt đẹp, ít có vải bố. Đất ấy
nhiều ngòi lạch, đường nước như mắc cửi, không tiện đi bộ. Người buôn có chở
thuyền lớn thì tất đèo theo xuồng nhỏ để thông đi các kênh. Từ cửa biển đến đầu
nguồn đi 6- 7 ngày, hết thảy là đồng ruộng bằng phẳng, bát ngát, rất thích hợp
trồng các loại lúa nếp, lúa tẻ, gạo đều trắng dẻo.
Từng bước từng bước một, chủ quyền của người Việt được xác lập
trên vùng đất Nam Bộ. Tổ chức bộ máy chính quyền từ cấp dinh, trấn cho đến tận
các thôn, xã được thống nhất, Nhà nước quản lý đất đai, hộ khẩu, thu thuế và
trưng thu các nguồn lợi tự nhiên. Sài Gòn- Gia Định đã trở thành trung tâm kinh
tế, văn hóa của vùng đất mới. Như vậy, tính từ thời điểm cuộc hôn nhân Chey
Chetta II - Ngọc Vạn 1620, qua công chúa Ngọc Vạn (hoàng hậu Chân Lạp), người Việt
được tự do vào khai hoang, kinh doanh ở Prey Nokor, Đồng Nai (Biên Hòa), Mô
Xoài (Bà Rịa)… ngày càng nhiều. Mối quan hệ giữa người Chân Lạp và người Việt
thân tình, thường xuyên giúp đỡ nhau; đến năm 1698, chủ quyền người Việt được
xác lập chính thức từ Đồng Nai đến bên bờ tả ngạn sông Tiền, nhưng bước khai
phá của người Việt đã vượt qua sông Tiền, sông Hậu tiến sát đến Cà Mau, Hà
Tiên. Người Việt đã vượt biển và nhận thấy khả năng giao lưu khá thuận lợi bằng
hệ thống sông rạch của vùng đất Nam Bộ. Bằng khối óc, đôi bàn tay khéo léo, mồ
hôi, nước mắt, xương máu những con người đó đã biến miền đất hoang sơ thành đồng
ruộng phì nhiêu, phố phường ngày càng phồn thịnh. Điều này khẳng định xu thế
phát triển về phương Nam của người Việt trong lịch sử.
Năm 1699, vua Chân Lạp là Nặc Thu đắp lũy Bích Đôi, Nam Vang
và Cầu Nam cướp bóc dân buôn người Việt. Tướng Long môn là Trần Thượng Xuyên bấy
giờ đóng giữ Doanh Châu (cù lao Giêng) báo lên. Chúa Nguyễn Phúc Chu cử Lễ
Thành hầu
Nguyễn
Hữu Cảnh làm Thống suất cùng Phó tướng Phạm Cẩm Long, Tham tướng Nguyễn Hữu
Khánh đem quân lính, thuyền chiến hợp cùng tướng Trần Thượng Xuyên lo việc đánh
dẹp và an dân. Lực lượng thủy binh của ông đã tiến thẳng đến thành La Bích
(Nam Vang), đánh tan quân Nặc Thu. Vua Chân Lạp đầu hàng, nơi đây Nguyễn Hữu Cảnh
sử dụng chính sách đoàn kết các dân tộc, không phân biệt đối xử dù là Khmer,
Hoa hay Việt, khuyến khích giữ gìn tình thân thiện, tương thân, tương ái giúp đỡ
nhau lúc thường cũng như lúc gặp khó khăn, hoạn nạn, dân chúng tin theo.
Tháng 4 năm 1700, Nguyễn Hữu Cảnh cầm quân tiến kéo về
đóng ở cồn Cây Sao còn gọi là cù lao Sao Mộc hay Tiêu Mộc hoặc châu Sao Mộc,
sau này dân địa phương nhớ ơn ông nên gọi là cù lao Ông Chưởng (nay thuộc chợ Mới,
An Giang), báo tin thắng trận về kinh. Theo Gia Định thành thông chí thì tại
đây, một thời gian ông bị “nhiễm bệnh, hai chân tê bại, ăn uống không được. Gặp
ngày Tết Đoan Ngọ (mùng 5 tháng 5 âm lịch) ông miễn cưỡng ra dự tiệc để khuyến
lạo tướng sĩ, rồi bị trúng phong và thổ huyết, bịnh tình lần lần trầm trọng.
Ngày 14 ông kéo binh về, ngày 16 đến đến Sầm Giang (Rạch Gầm, Mỹ Tho) thì mất
[4, tr 179] để lại bao nuối tiếc thương của nhân dân Đại Việt. Mộ phần của ông
được an táng tại cù lao Phố (Biên Hòa, Đồng Nai). Năm 1802, sau khi được cải
táng về địa táng tại Thác Ro, Trường Thủy, huyện Lệ Thủy theo câu sấm của tiền
nhân dòng họ: “Thượng Yên Mã, hạ đùng đùng, trung trung nhất huyệt” (Trên là
núi Yên Mã, dưới có phá Hạc Hải, giữa nhất quyết hạ huyệt).
Sự khai phá, xác định chủ quyền người Việt ở vùng đất mới
của Nguyễn Hữu Cảnh là cơ sở để chúa Nguyễn từng bước thu phục các vùng đất
khác. Từ khi Gia Định phủ ra đời, thế lực của chúa Nguyễn trên vùng đất Nam Bộ
phát triển ngày càng mạnh, ngược lại thế lực của Chân Lạp đang suy yếu do mâu
thuẫn nội bộ tranh giành ngai vàng, quân Xiêm đang ngày đêm trông chờ cơ hội để
chen vào can thiệp. Mạc Cửu nhận thấy cần phải dựa vào chúa Nguyễn để tiếp tục củng
cố và mở rộng thế lực vùng đất Hà Tiên, nên xin dâng Hà Tiên cho chúa Nguyễn
(1708). Sự kiện đất Hà Tiên được sát nhập vào lãnh thổ của chúa Nguyễn, mở ra
bước ngoặt cho hành trình mở cõi, chỉ trong vòng nửa thế kỷ mà chúa Nguyễn đã
chiếm lĩnh trọn đất đồng bằng sông Cửu Long. Năm Đinh Sửu (1757), chúa Nguyễn
tiếp quản vùng đất Tầm Phong Long do Nặc Ông Tôn dâng tặng (tức vùng từ Sa Đéc
lên đến vùng biên giới đầu nguồn, từ phía Bắc đến phía Nam sông Tiền, sông Hậu
hiện nay), lập nên các đơn vị hành chính miền Tây Nam Bộ: đạo Tân Châu, đạo
Châu Đốc, đạo Đông Khẩu. Lần lượt 5 phủ phía Tây Hà Tiên là Hương Úc, Cần Bột,
Trực Sâm, Sài Mạt và Linh Quỳnh thuộc về chúa Nguyễn. Hà Tiên và Tầm Phong Long
được sát nhập lãnh thổ Đàng Trong đánh dấu hành trình mở cõi về phía Nam hoàn
thành, góp phần ngăn chặn tham vọng “Đông tiến” của người Xiêm, đập tan âm mưu
khuynh đảo, cát cứ của đám người Hoa lưu vong, hoạch định biên giới quốc gia của
cha ông ta tạo nên sự ổn định an ninh khu vực Đông Nam Á trong thế kỷ XVIII.
Nguyễn Hữu Cảnh - vị tướng khai biên xuất sắc, nhà chính trị
tài giỏi, nhân hậu, yêu quê hương, đất nước tha thiết. Công đức và nhân cách của
ông ấn đọng sâu sắc trong tiềm thức của người dân và mãi mãi được lưu truyền hậu
thế. Nhân dân vùng đất mới khai phá, người Việt cũng như người Hoa, Chăm… đều
nhớ ơn ông - người đã giúp họ khai hoang - mở đất - an cư - lạc nghiệp và đã lập đền
thờ hoặc lập bài vị ông ở nhiều nơi: Nam Vang (Cam pu chia), Quảng Bình, Quảng
Nam, Biên Hòa, Long Xuyên, Châu Đốc… Vùng đất mới mở rộng mãi mãi là một phần đất
của nước Việt, chủ quyền lãnh thổ của nước Việt Nam được khẳng định. Thế hệ con
cháu chúng ta hôm nay và mai sau luôn có ý thức phấn đấu hết sức mình gìn giữ,
bảo vệ chủ quyền lãnh thổ; xây dựng nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh.
Chú thích:
1. Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, tập 2, Lê Xuân Giáo (dịch), Ủy ban dịch thuật Nha Văn hóa Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản, Sài
Gòn, 1973
2. Cao Thanh Tân, Lịch sử khai phá và bảo vệ chủ quyền vùng đất
Châu Đốc thời Nguyễn, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009.
3. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, quyển II, Trung tâm học
liệu xuất bản, Sài Gòn, 1971.
4. Theo Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền trong “Lễ Thành Hầu Nguyễn
hữu Cảnh với công cuộc khai sáng miền Nam nước Việt cuối thế kỷ thứ XVII, Nhà
xuất bản Văn học, 1999 ”thì Nguyễn Hữu Cảnh mất đúng ngày 9 tháng 5 âm lịch năm
Canh Thìn tại Rạch Gầm, cho nên từ Mỹ Tho trở xuống cù lao Ông Chưởng cho đến cả
Nam Vang đều làm lễ giỗ ông vào ngày này. Riêng cù lao Phố làm lễ giỗ vào ngày
16 tháng 5 âm lịch, có thể do người xưa tính ngày đình cữu (nơi dừng quan tài)
và quyền táng (nơi được quyền chôn tạm) thân xác ông ở đây.
Phạm Thị Hồng Thủy
Theo http://bienphongvietnam.vn/


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét