Thứ Hai, 17 tháng 4, 2023

Mùa chay cả, chữ, và con người

Mùa chay cả, chữ, và con người

Vậy bay biết luận xét điềm giời, mà những dấu chỉ thì giờ bay chẳng biết được ru? Dòng dõi hung ác gian râm cầu phép lạ, song chẳng cho nó xem phép lạ, chỉ cho nó phép lạ tiên tri Jona.
Evan Ông Thánh Mattheô XVI, 4
Mỗi năm đến Mua Chay Cả, và đặc biệt là trong Tuần Thánh, dưới gầm trời, nơi nào có giáo họ và giáo dân người Việt, nơi đấy vang lên tiếng cung ngắm thê thiết, tường thuật cuộc tử nạn của Chúa Giêsu bằng một thứ văn xuôi tiếng Việt, rất xa lạ với tiếng Việt chúng ta vẫn chuyện trò và sử dụng hằng ngày. Một thứ văn xuôi tiếng Việt còn bảo lưu những lối xưng hô lạ lẫm, những câu đối thoại, những cách diễn đạt và đưa đẩy tự sự đã cơ hồ vắng bóng không những trong văn nói thường nhật, song thậm chí trong văn viết - dù là những lối văn phong cổ kính hay điển nhã cầu kỳ đến đâu - trừ phi kinh nguyện nhà đạo, chẳng còn thấy đâu nữa. Cứ đọc một hai câu trong Ngắm Mười Lăm Sự Thương Khó Đức Chúa Giêsu, chúng ta gặp phải những từ ngữ lạ hoắc, những cấu trúc đặt câu, nếu xét theo ngữ cảm tiếng Việt hiện đại, phải nói là vụng về và trúc trắc:
Thứ bốn thì ngắm: Khi quân dữ nộp Đức Chúa Giêsu cho An nát, là cha vợ Cai pha làm thầy cả Giudêu; mà Đức Chúa Giêsu chịu nhiều sự khốn khó trong nhà ấy, đoạn mới nộp cho Cai pha. Bấy giờ có một người các quan xỏ tay vào bao sắt mà vả ngang mặt Đức Chúa Giêsu trước mặt thiên hạ. Thầy cả Giudêu nghe thấy Đức Chúa Giêsu xưng ra mình là Con Đức Chúa Trời, thì mắng rằng: “Ấy bay đã thấy nó nói lời lỗi làm vậy, còn tìm chứng nào làm chi nữa, mà chẳng giết đi cho rồi?” Đêm ấy quân dữ bắt trói cánh tay Đức Chúa Giêsu vào cột đá, mà lấy khăn che mặt, đoạn mới nhổ cùng giật tóc và râu Đức Chúa Giêsu, lại lấy roi cùng bên dưới giầy đi, đánh ngang mặt, lại vả thâu đêm bốn trăm lần. Đêm ấy có kẻ hỏi ông Thánh Phêrô rằng: “Mày phải đầy tớ Giêsu chăng?” Ông Thánh Phêrô liền sợ mà chối ba lần rằng: “Min chẳng biết người ấy là ai.” Đức Chúa Giêsu thương mà trở mặt ra xem ông Thánh Phêrô, bấy giờ người mới ăn năn tội ấy lắm, ra ngoài khóc lóc chẳng có khi đừng; trọn đời đến sớm mai gà gáy, nhớ đến tội xưa, liền khóc lóc. Khi ngắm bấy nhiêu sự, thì nguyện một kinh Lạy Cha, mười kinh Kính mừng, thương Đức Chúa Giêsu, cho chúng tôi mạnh sức mà xưng đạo Đức Chúa Giêsu ra, kẻo ngày nào chối chăng. Amen.
Đoạn này, tôi chép theo văn bản chính thức của tổng giáo phận Hà Nội, lại chính đoạn này, tôi vừa mới nghe trong nhà thờ Kẻ Bưởi cách đây vài tiếng, song nếu đem đối chiếu với các văn bản viết bằng chữ nôm vào các thế kỷ trước đây, thì hầu như chẳng sai một chữ. Trừ kinh nguyện Công giáo ra, tôi thật chẳng biết còn nơi nào ở Việt Nam còn nghe được những đại từ nhân xưng như “min,” “tao” (dùng với sắc thái trung lập), “phô ông,” “các quan” không. Hay là những từ đa âm tiết như “cả và” (“cả và mình,” “cả và thiên hạ,” “cả và loài người ta”), hay “là đá” (“núi non là đá vỡ ra tan tác), giáo dân vẫn rất quen tai, dù đã biến hẳn khỏi tiếng Việt hiện đại. Thậm chí, chữ “là đá” này, các học giả nghiên cứu tiếng Việt trung đại vẫn phiên âm thành “la đá” mà có vẻ không hề biết rằng trong văn bản Công giáo lại có truyền thống đọc theo âm “là đá.” Có học giả hải nội đã viết hẳn một bài nghiên cứu giải mã từ “nương long” mà không hề biết từ “nương long” này vẫn xuất hiện thường xuyên trong kinh nguyện Công giáo.
Suốt một thế kỷ qua, những cuộc biến thiên và cải cách trong xã hội và văn hóa người Việt, vốn chẳng thể kể sao cho xiết. Song, ở một mức tinh vi nào đó, câu chuyện của lịch sử Việt Nam đương đại, là câu chuyện về sự hưng vong của những thế giới quan, nói đúng hơn là của cả những thế giới văn hóa và ngôn ngữ, có thể chia ranh giới theo những hệ thống văn tự Đông Tây, xưa nay. Một khi chữ vuông - bao gồm cả chữ Hán, chữ nôm - bị thay thế triệt để bởi chữ cái La Mã, khả năng của đa số người Việt để tiếp cận và thấu hiểu văn viết của người xưa đã chịu một cơn gián đoạn nào đó. Bảo là một sự cắt đứt triệt để, thì e rằng thái quá. Nhưng quả nhiên, không thể chối rằng đi kèm theo văn tự La Mã là sự hình thành của những khái niệm về ngữ pháp, về chánh tả, về một tiếng Việt “chuẩn,” đã ít nhiều thu nhỏ và làm nghèo nàn đi không gian ngôn ngữ của chúng ta. Cách đây một trăm năm, tổ tiên chúng ta có thể nhìn vào cùng một chữ nôm mà phát âm, rằng “trả,” rằng “giả”, rằng “lả” mà chẳng có phát âm nào đúng hơn phát âm nào. Vốn dĩ, xuôi ngược một, hai trăm năm trước đó nữa, thì cách phát âm phổ thông của cùng một chữ đó lại là “blả.” Đến nay, dư luận vẫn quanh quẩn mãi trong những cuộc tranh luận hăng hái về tiếng Việt, về phương âm này, phương âm nọ, mà thường không tự biết những gì chúng ta mặc nhiên cho là thường thức về tiếng Việt “chuẩn,” kỳ thực lắm lúc chẳng có căn cứ mấy.
Phép chấp bút, không thể tách rời khỏi sự học chữ. Chữ chữ này, tổ tiên chúng ta hiểu ngầm chỉ nói riêng về chữ Hán. Học chữ đối với người xưa, tức là học chữ Hán. Song, tôi chẳng có ý chủ trương rằng phải xổ Nho mới kể là kẻ cầm bút. Sự phân biệt của người xưa giữa văn tự (tức là chữ Hán) và quốc âm (tức là cái chúng ta gọi “chữ nôm” theo thói quen) không còn thiết thực đối với cảm thức ngôn ngữ của chúng ta. Đây là một hệ quả đáng kể của biến cố “La Mã hóa” của Việt văn. Cái hiểu của chúng ta về khái niệm chữ, mang tính bình đẳng và phổ quát, không có tiền lệ trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Song, phạm vi của chữ càng được khuếch trương bao nhiêu, thì cái sự thông thạo và quen thuộc cố hữu và thụ động của kẻ cầm bút về chữ lại chịu thu nhỏ bấy nhiêu. Một trăm năm trước, thiệp lãm vài chục pho “kinh, sử, tử, tập,” phiếm độc vài truyện quốc âm, đã đủ gọi là hay chữ rồi. Ngày nay, chỉ để trì bút hành văn, đòi hỏi nhiều hơn gấp bội. Chúng ta đang trải qua những ngày tháng, chắc chắn là không tiền khoáng hậu nhất trong lịch sử nhân loại. Cho dù các công cuộc sáng tác nghệ thuật của con người chưa bị thay thế hoàn toàn bởi máy móc, song kẻ sáng mắt, dù là kẻ thủ cựu ngoan cố, cũng đã nhận ra không những phương thức mà thậm chí đến cả định nghĩa và ý nghĩa của nghệ thuật nhân văn đã bị thay đổi triệt để bởi những công cụ AI còn ẩn chứa đầy những chấm hỏi kinh hoàng. Một thời gian nữa, chúng ta sẽ không còn phân biệt nổi giữa những cây bút tầm thường và máy móc.
Điều này là phước hay là hoạ cho kẻ cầm bút, thiết nghĩ ai nấy phải tự phải suy gẫm trong thầm kín của tâm hồn. Với tôi, có một điều hiển nhiên - những sáng tác tầm thường, có khi cả những sáng tác trung bình, của con người sẽ không cạnh tranh nổi với sản phẩm AI. Một, hai năm nữa, sẽ chẳng còn lý do nào cho con người hạ bút viết ra những thứ sáng tác rẻ mạt lâu nay vẫn tràn lan và chi phối thị trường. Ngày nay, chỉ để sở hữu đủ tư cách con người của một kẻ cầm bút, chúng ta phải nỗ lực làm sao để biện minh cho sự tồn tại đồng thời của chúng ta với những bộ não cơ khí chứa đựng kho thông tin gấp bội toàn thể những ông nghè cậu cử thủa xưa. Tất cả những sự cạnh tranh về mặt bác học, về những tiểu xảo tầm chương trích cú, đều sẽ thất bại khi lấy xác thịt mà chọi với máy móc. Cho dù ta đã có sẵn những miền tịch địa tinh thần, những “lâu đài nội tâm” theo cách gọi của bà thánh Têrêsa thành Avila, cuộc vây thành mục tiền sẽ đòi hỏi nhiều công phu phòng vệ chỉ để duy trì sự tự giác tối thiểu trước cơn thôi miên của tiện lợi. Hơn bao giờ hết, tôi hoài nghi tất cả những sự dễ dãi, tất cả những lẽ đương nhiên là bởi ma quỷ mà ra. “Sinh ư ưu hoạn, tử ư an lạc” đối với thế hệ chúng ta chẳng phải là sáo ngữ của cổ nhân, mà chính là hiện thực chúng ta đã mắc phải trong cuộc đổi ngôi cơ cấu xã hội khôn lường nhất lịch sử.
Tôi trình bày lan man, chung quy là để nói về vai trò của chữ trong công cuộc phản cách mạng này. Cạnh tranh với máy móc về sự hay chữ, chúng ta đã thua. Ít lâu nữa, cạnh tranh về khả năng hành văn “trong sáng” có lẽ chúng ta cũng sẽ thua. Song, bây giờ chúng ta đã có thể tự hỏi, một cách nghiêm túc hơn, rằng: sự “trong sáng”, sự “chuẩn” của văn viết, của ngôn ngữ có phải là điều chúng ta nên quan tâm và hướng tới trong sáng tác hay không? Văn phong có nên dễ hiểu và ngắn gọn không? Phạm vi của những từ vựng, những cấu trúc đặt câu, được xem là “chuẩn” và hợp ngữ cảm tiếng Việt cụ thể nằm ở đâu, và được xác lập thể nào? Thông thường, chúng ta cho rằng sự phồn diễn của Việt văn là hiện tượng của thế kỷ 20. Nhưng sự tồn tại của văn xuôi và kinh nguyện Công giáo lại phủ định hoàn toàn cách hiểu này. Văn phong trong văn hiến Công giáo Việt Nam trước thế kỷ 20, trừ những tác phẩm mang tính chất văn chương như các bài diễn ca của Phêrô Phạm Trạch Thiện hoặc ca vè của Cụ Sáu, phần lớn thiên hẳn về văn nói thông tục. Chính vì thế, tác giả Tây dương Gia tô bí lục đã nhạo, rằng chữ nghĩa trong kinh nguyện Công giáo quê kệch đến buồn cười. Chính trong sự quê kệch và thông tục đấy, tôi lại thấy có một nguồn sinh lực mạnh mẽ, đủ để sống sót qua những bước trời thăng trầm của lịch sử vốn đã đưa hầu hết văn hóa truyền thống vào chỗ diệt vong. Số người biết đến và thưởng thức được Mai đình mộng ký, Hoa tiên truyện, thơ của các vua chúa và danh sĩ thời trung hưng, cơ hồ chẳng còn ai ngoài một số chuyên gia. Kinh kệ Phật giáo, trừ nhà nghiên cứu ra, cũng chẳng còn ai đọc theo những bản quốc âm của thế kỷ 18 và 19. Song, bao lâu trong nhà thờ còn vang lên tiếng ngắm Mùa Chay Cả, bao lâu giáo dân vẫn đọc Kinh Cầu Chịu Nạn và Kinh Vực Sâu cho “ông bà, cha mẹ, anh em, bạn hữu” quá cố, bấy lâu những mảnh tinh thần thế kỷ 17 và thế kỷ 18 vẫn sẽ tồn tại như một mạch ngầm giữa lòng thời đại. Ít lâu nữa lãnh thổ này cũng sẽ bị xâm chiếm, và lúc đấy chúng ta sẽ ra lệnh cho AI soạn văn xuôi theo văn phong Các Thánh truyện của Girolamo Maiorica, theo Sách sổ sang chép các việc của Philiphê Bỉnh, theo Kinh Thánh cứ bản Vulgata của Cố Chính Linh. Nhưng bao lâu ngày giờ chưa muộn, chúng ta vẫn còn cơ hội để khẳng định và kiện toàn tư cách con người trong văn viết. Một cách nghịch lý, để duy trì tính cập nhật và thích đáng ở đời mạt quý này, chúng ta phải quy hướng về quá khứ.
Chúng ta là những kẻ vãn bối cực kỳ bất tiếu, vừa kế thừa vừa bỏ quên những di chỉ chúng ta không thật sự hiểu biết. Có lẽ tổ tiên chúng ta đã không hình dung được sẽ có một thế hệ sau họ, đọc tựa đề Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh mà còn nắm rõ ý nghĩa từng chữ còn hơn là khi đọc “Kinh này Bụt thốt cả blả ơn áng ná cực nặng.” Vì những nguyên nhân nào đó, vận động “chỉnh lý quốc cố” ở Việt Nam hầu như chẳng có thành tựu nào đáng kể, những trăn trở ưu thời mẫn thế của bao nhiêu thế hệ cải cách và cách mạng, nếu còn ai nhắc đến cũng chỉ để tán tụng một cách chung chung. Điều này có thể thấy rõ ở trường hợp các tiểu luận đăng trên báo Nam Phong liên quan tới vai trò của chữ Hán trong công cuộc bảo tồn và phát huy quốc túy. Khác với những biếm họa công kích các cây bút đắc lực của Nam Phong, những người thường bị xếp vào phái cựu học như Dương Bá Trạc hay Nguyễn Bá Trác, về cơ bản có chủ trương cải cách sĩ phong theo xu hướng Tây học. Chủ trương bảo tồn Hán văn của họ chỉ áp dụng vào trường hợp của những học viện giả tưởng, mà chủ yếu chỉ có mục đích bồi dưỡng một thứ mỹ cảm ngôn ngữ và văn hóa được cho là đặc trưng của Việt Nam. Quốc học, theo xu hướng này, kỳ thực là sự học hướng về thực tiễn trong đời sống cá nhân - hay như Pierre Hadot đã nói về triết học, là một phong cách sống (la philosophie comme manière de vivre). Riêng về việc “chỉnh lý quốc cố” theo khuynh hướng bồi dưỡng mỹ cảm, hầu đúc nên một phong cách sống, e rằng việc này cũng chỉ dừng ở lớp bì phu. Để canh tân về mặt tinh thần, ngoài sự đọc có ý thức và chọn lọc ra, còn đòi hỏi nhiều công phu quán tỉnh phép dùng chữ như một thực tiễn chứng minh cho sở học vậy. Vì chưng, “Chẳng phải của ăn vào miệng làm cho người ra ô uế; bèn là sự bởi miệng mà ra mới làm cho người lây ô uế”.
Việt Thạch 
Tuần Thánh, Kẻ Bưởi
17/4/2023
Nguyễn Thụy Đan
Theo https://vanchuongviet.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Số phận con người tiểu thuyết “Hoàng Cung” của Võ Chí Nhất Hoàng Cung là cuốn tiểu thuyết đầu tay của tác giả trẻ Võ Chí Nhất. Tập sách ...