Nhà văn không phải người chép sử
Sách sử chẳng qua là “sách chép lại những việc đã qua”. Lịch
sử là “quá trình phát sinh, phát triển đã qua, hay đến tiêu vong của một hiện
tượng, một sự vật nào đó diễn ra theo thứ tự thời gian”.
Nhà sử học không chỉ cần tài năng, kiến thức lịch sử, văn hóa
uyên thâm mà còn cần đến cả khí phách, bản lĩnh của người làm khoa học thì mới
có cái nhìn khách quan để phân tích đánh giá khái quát các hiện tượng và nhân vật
lịch sử.Nhà văn với tư cách là người nghệ sĩ có cách lao động nghệ thuật sáng tạo riêng
không giống nhà sử học. Nhà sử học luôn lấy tiêu chí khách quan, khoa học để
hành nghề. Nhà văn lấy lý trí để sáng tác truyền đi một thông điệp tư tưởng,
nhưng cái tôi chủ quan cũng phải luôn thường trực trong cảm xúc sáng tạo.Nhà văn mô tả, kể chuyện các hiện tượng lịch sử như nó đã diễn
ra, dù công phu đến bao nhiêu cũng ra dạng chuyện sử, mà “Hoàng Lê nhất thống
chí” của Ngô văn gia phái là một ví dụ. Chuyện sử càng bám sát mô tả sự kiện lịch
sử thì càng xa rời thân phận con người với đời sống nội tâm phức tạp, phong
phú. Tác phẩm văn học đích thực bao giờ cũng ngầm chứa một thông điệp tư tưởng
nhân văn và có những đặc thù nghệ thuật như: tính khái quát cao, cấu trúc chặt
chẽ, hình tượng nhân vật điển hình, tình huống nghệ thuật, chi tiết nghệ thuật,
thời gian và không gian, ngôn ngữ, giọng điệu…vv… Lao động nhà văn thao tác tất
cả các điều đó chẳng qua cũng chỉ là làm một việc huyền diệu là… hư cấu nghệ
thuật. Chính lao động hư cấu nghệ thuật này đã làm cho nhà văn khác với nhà sử
học.Không có chân lý duy nhất trong sáng tạo văn học về đề tài lịch
sử.Có một trăm nhà văn viết về triều đại nhà Trần với cuộc chiến
tranh chống quân Nguyên - Mông thì sẽ có 100 vương triều Trần với 100 cuộc chiến
vệ quốc khác nhau. Bao nhiêu nhà điêu khắc sáng tác nhân vật lịch sử Trần Hưng
Đạo thì sẽ có bấy nhiêu tượng Trần Hưng Đạo với các giá trị tư tưởng và nghệ
thuật khác nhau. Tương tự, dưới con mắt nghệ sĩ của giới nhà văn, không chỉ có
1 cuộc chiến tranh ở Việt Nam có sự tham chiến của Mỹ mà có nhiều cuộc
chiến tranh Việt Nam trong tác phẩm văn học. Thậm chí, cũng chỉ 1 nhà
văn ấy thôi, 40 năm trước có 1 cuộc chiến tranh Việt Nam trong tác phẩm văn học
thì bây giờ đủ độ lùi xa, đủ độ lắng xuống… lại có 1 cuộc chiến tranh Việt Nam
khác trong hành trang văn chương của anh ta. Một nhà văn từ miền Bắc ra trận rồi
viết văn, sẽ có 1 cuộc chiến tranh của anh ta trong tác phẩm. Một nhà văn mặc
áo lính phía bên kia lại có 1 cuộc chiến tranh khác hoàn toàn theo ý thức hệ và
cách tư duy trong tác phẩm của họ. Cũng ở phía bên kia, một nhà văn phản chiến
sẽ có một cuộc chiến tranh ngược với một nhà văn cầm súng tình nguyện. Và đương
nhiên, nhà văn cựu chiến binh Mỹ đã từng có mặt trong đội quân xâm lăng ở miền
Nam Việt Nam lại có 1 cuộc chiến tranh theo cái cách tư duy của họ
khác hẳn với các nhà văn mang sắc phục nhà binh đến chiến hào từ bệ phóng xã hội
chủ nghĩa.Cũng như có 100 nhà văn viết về nhân vật lịch sử Nguyễn Ánh
thì sẽ có 100 ông Nguyễn Ánh trong văn học với những nét mờ - đậm, thật - ảo
khác nhau. Sáng tạo một hình tượng chuẩn nhất, hay nhất, tầm vóc, tính cách, cá
tính, ý chí, suy nghĩ, tình cảm, tâm trạng… Nguyễn Ánh nhất… cũng chỉ luôn là
khát vọng đối với mọi nhà văn.Nhà văn với cá tính sáng tạo khác nhau thì sẽ cho ra tác phẩm
khác nhau. Không có chân lý duy nhất trong sáng tạo văn học với đề tài lịch sử.Nhà văn đọc như thế nào sẽ viết như thế.Nhà văn cũng đồng thời là độc giả. Anh ta đọc như thế nào thì
sẽ viết như thế. Độc giả là nhà văn này thích đọc tác phẩm chuyện sử thì
sẽ sáng tác theo lối kể sự kiện như chính nó đã xảy ra. Độc giả là nhà văn kia
khoái đọc tác phẩm lịch sử hư cấu thì sẽ sáng tác bằng trí tưởng tượng nhiều
hơn là nệ thực. Nhà văn là một người đọc thông thái, anh ta sẽ biết mình phải
sáng tạo về đề tài lịch sử thế nào để khác với người đi trước đã từng viết. Tác phẩm văn học không bao giờ trùng khít với sự thật lịch sửNhà văn dù tài giỏi đến bao nhiêu cũng không bao giờ tái hiện được trung thực với
hiện thực lịch sử như nó đã xảy ra. Nhân vật văn học dù có hay đến bao hiêu
cũng không hể trùng khít với nhân vật lịch sử ngoài đời. Mọi ảo tưởng ngây thơ ấy
sẽ sớm sụp đổ bởi bi kịch cái nhìn không đồng đại, nhà văn không được chứng kiến
và không hiểu biết về cái sẽ viết. Sự thực ngay cả khi nhà văn sống cùng thời
thì việc tiếp cận sự thật cũng chỉ luôn là khát vọng.Nhà văn chọn cách mô tả sự thật hiện tượng và con người lịch
sử theo cách của nhà văn để sự thật văn học tiệm cận được sự thật ngoài đời. Những
cố gắng viết hiện tượng và nhân vật lịch sử thật như nó xảy ra chỉ đi đến những
cách diễn dịch khác nhau về lịch sử. Chỉ việc mô tả trang phục, hình dáng nhân
vật, không gian nhân vật lịch sử sống cũng đã quá khó khăn rồi, còn việc phân tích
tâm lý, tình cảm, ngôn ngữ con người lịch sử cách chúng ta hàng trăm năm thì
khó khăn lại càng chồng chất khó khăn.Có hai xu hướng văn học sáng tác về đề tài lịch sử.Về cơ bản văn học sáng tạo về đề tài lịch sử diễn ra ở 2 xu
hướng chính: Một là, xu hướng thiên về tái hiện chân thực hiện tượng và
nhân vật lịch sử. Hai là, xu hướng thiên về ngẫm nghĩ, lí giải hiện tượng và
nhân vật lịch sử.Ở xu hướng nghiêng về tái hiện lịch sử bằng tác phẩm văn
học, do quan niệm lịch sử là cái đã diễn ra không thay đổi, không có chuyện giá
như không diễn ra, nên nhà văn sáng tạo càng chân thực bao nhiêu càng thành
công bấy nhiêu. Bộ tiểu thuyết “Bão táp triều Trần” của Hoàng Quốc Hải, và “Trần
Quang Diệu” của Trần Thị Huyền Trang, hoặc “Hai Bà Trưng” của Hà Phạm Phú là
các tác phẩm tiêu biểu cho xu hướng này.Ở xu hướng nghiêng về ngẫm nghĩ, lý giải hiện tượng lịch sử bằng
tác phẩm văn học, do quan niệm không thể tiệm cận đến tận cùng sự thật lịch sử,
nên nhà văn mượn lịch sử, và lịch sử chỉ là cái cớ để lý giải chính cái hiện tượng
và nhân vật lịch sử ấy. “Hồ Quý Lý” của Nguyễn Xuân Khánh và “Giàn thiêu” của
Võ Thị Hảo, các truyện ngắn “Vàng lửa”, “Kiếm sắc”, “Phẩm tiết” của Nguyễn Huy Thiệp
là các tác phẩm tiêu biểu cho xu hướng này.Quyền hư cấu của nhà văn.Ngay cả tác giả sáng tác thiên về tái hiện lịch sử đúng như
nó đã xảy ra thì ít nhiều cũng đã làm cái việc hư cấu nghệ thuật rồi. Còn tác
giả sáng tác thiên về lý giải hiện thực thì tưởng tượng, hư cấu càng bay bổng.
Vấn đề mấu chốt là: Hư cấu đến đâu và hư cấu như thế nào? Đã tốn không biết bao
nhiêu giấy mực để tranh luận, thậm chí cãi vã và mạt sát nhà văn khi người đọc
hoặc nhà phê bình không đồng cảm với người sáng tác về cái sự hư cấu ấy.“Một Nguyễn Trãi uy nghi, tác giả bản thiên cổ hùng
văn Bình Ngô Đại cáo mang hào khí của cả dân tộc thắng giặc ngoại
xâm” đã là biểu tượng trong lịch sử với một Nguyễn Trãi đời thường, cô độc
trong Hội thề của Nguyễn Quang Thân; rồi tính hư cấu và tính chân thực lịch sử…
thì khen chê cũng khác nhau lắm.Nhà văn có quyền hư cấu trong sáng tạo về đề tài lịch sử. Cái
sự hư cấu ấy nhiều khi vượt ra khỏi “cái khung lịch sử” đóng cố định, vượt ra
khỏi “tấm áo choàng lịch sử” bao phủ. Cái sự hư cấu ấy phải đạt được tính nghệ
thuật, mà không khiên cưỡng, giả dối, không sai lệch bản chất của cái hiện tượng
lịch sử và con người lịch sử. Nhưng, trước khi sáng tạo với tinh thần hư cấu
nghệ thuật thì nhà văn đã phải trang bị cho mình một kiến thức văn hóa, lịch sử
càng dầy càng tốt. Không thể có một nhà văn sáng tạo hay về đề tài lịch sử mà
không có cái nền tảng sử học vững chắc, ít nhất thì cũng phải hiểu biết về cái
hiện tượng, nhân vật lịch sử anh ta định viếtTác phẩm là thành quả lao động nhà văn, nhưng tác phẩm cũng
là luật sư bảo vệ hoặc là quan tòa tuyên án nhà văn. Còn thẩm văn rồi khen hay
chê là quyền của người đọc và nhà phê bình. Nhà văn viết về đề tài lịch sử khi
đã có bản lĩnh không vì sự khen chê ấy mà “cãi nhau”, hoặc chạy theo bạn đọc và
nhà phê bình. Nhiệm vụ của nhà văn là… sáng tác - sáng tác bằng thiên bẩm văn
chương, bằng tri thức văn hóa, bằng cảm xúc và cả bằng quyền hư cấu của nhà
văn.
24/9/2012 |
Sương Nguyệt Minh |

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét