Thứ Ba, 28 tháng 7, 2026

Âm Dương kinh 5 0000000

Âm Dương kinh 5

19. Phải dám mạo hiểm
Sự phát triển của bất kỳ sự vật nào trên thế giới, đều không phải chỉ có một khả năng, mà là hai hoặc thậm chí nhiều khả năng hơn.
Sự phát triển của lịch sử xã hội do con người hợp thành sẽ càng như thế. Cái gọi là tích lũy tiến thủ sẽ có triển vọng, trên ý nghĩa nào đó chính là dám chịu trách nhiệm, dám mạo hiểm, làm những việc người khác không dám làm, nếu như căn bản không có đủ điều kiện, thì bất cứ vĩ nhân nào cũng không thể thành công.
Có thể nói, không dám mạo hiểm sẽ không thành việc lớn, càng không trở thành nhà chính trị lớn.
Ví như: Vi hoàng hậu của Đường Trung tông Lý Hiển, là một phụ nữ chuyên quyền phóng đãng mà lại thủ đoạn độc ác. Bà từ khi lên ngôi Hoàng hậu, tất cả mọi việc đều học mẹ chồng của bà là Võ Tắc Thiên.
Trung Tông ngự triều, bà cũng tham dự vào chính sự. Trung Tông qua mấy phen lật đổ, đối với ngôi báu Hoàng đế cũng xem chẳng thiêng liêng lắm, nhiều sự việc đều phóng tay để cho Vi hậu xử lý. Vi hậu một khi nắm quyền, liền cấm những người thân tín vào, lập nên tạo phản.
Triều thần là Lang Ngập và Yên Khâm Dung liều chết dâng thư, vạch trần Vi hậu làm loạn quốc chính và tố cáo công chúa An Lạc, Võ Diên Tú, Tông Sở Khách theo đuổi Vi hậu âm mưu toan làm nguy hại xã tắc.
Trung Tông qua điều tra thấy tình hình quả thực như thế, liền có dự định phế bỏ Vi hậu. Nhưng Vi hậu và con gái là công chúa An Lạc ngấm ngầm câu kết với nhau, cuối cùng đã bỏ thuốc độc vào thức ăn của Trung Tông trước.
Vi hậu sau khi dùng thuốc độc giết chết Trung Tông, lập con của Trung Tông 16 tuổi là Lý Trọng Mậu làm vua, tôn Vi hậu lên Thái hậu, dự triều nắm quyền của Hoàng đế. Tông Sở Khánh khuyên Vi hậu tuân theo biện pháp của Võ hậu, xóa bỏ vận mệnh của nhà Đường, mưu hại Lý Trọng Mậu, lập triều mới khác.
Vi hậu rất ghét chú em vốn đã từng làm Hoàng đế là Tương vương Lý Đán, bèn dự trù trước một cuộc bạo động, trước tiên bãi chức của Lý Đán, lại giết hại Lý Trọng Mậu để quét sạch địch thủ chính trị.
Con trai của Tương vương là Lâm Tri vương Lý Long Cơ, mắt nhìn thấy những hành vi bạo ngược của Vi hậu, căm giận đến cực độ. Đối mặt với dâm uy bạo quyền của Vi hậu, ông không chút sợ hãi, ngầm chiêu mộ dũng sĩ, hào hiệp và những người cùng chung chí hướng trong quân Vũ Lâm (quân cấm vệ), trù tính kế hoạch làm thế nào cứu vãn vận mệnh của vương triều nhà Đường.
Thị lang bộ Binh Thôi Nhật Dụng biết âm mưu của bọn Tông Sở Khách, đã bí mật sai người đến chỗ Lý Long Cơ báo cáo, yêu cầu ông sớm đưa ra dự tính.
Lý Long Cơ và cô là công chúa Thái Bình đã bí mật vạch ra kế hoạch, quyết định dấy binh dẹp phản nghịch, đánh trước để đè bẹp đối phương, tiêu diệt phái của Vi hậu và vây cánh của họ.
Lý Long Cơ nói một cách phẫn nộ: «Vi hậu can thiệp vào triều chính, làm ô uế cung đình, dùng thuốc độc giết Trung Tông, ngự triều nắm quyền Hoàng đế. Hiện nay là dự mưu giết hại «ấu đế», quét hết những người không theo mình, đã làm cho thiên hạ vô cùng phẫn nộ, tôi không thể tha chết».
Không ít người đều cho rằng, Vi hậu giết vua làm đảo lộn đất nước, không giết đi thì không thể làm thỏa mãn lòng căm phẫn của dân! Nhưng hiện tại bà ta đang nắm quyền lớn trong tay, các cửa kinh thành đều có nhiều quân canh giữ, quân Vũ Lâm lại còn trong tay của Vi hậu, không may việc cơ mật không giữ kín, kế hoạch không chu đáo, ắt sẽ chuốc lấy họa «sát thân»!
Lý Long Cơ kiên định nói: «Quốc vận của Đại Đường nguy nan trong sớm chiều, tôi với tư cách là một vương tử, làm sao có thể ngồi nhìn không hỏi đến được? Xưa nay người làm nên việc lớn, đều có một chút tinh thần mạo hiểm. Buộc phải mạo hiểm có thế sẽ thành công. Sợ hãi chùn lại chỉ có thể ngồi để chờ chết! ».
Mọi người đều cảm động bởi lòng chính nghĩa và quả quyết của ông, đã tham gia một cách dũng cảm.
Có người nói: «Việc lớn như thế nên báo trước với Tương vương, mời ông về tham mưu cho».
Lý Long Cơ phản đối nói: «Chúng ta phát động việc lớn, mục đích ở chỗ báo đền đất nước, việc thành thì hạnh phúc quy về Tương vương, không thành công thì hy sinh mình vì đất nước, cũng không thể liên lụy đến Tương vương. Hiện tại nói với ông, nếu ông đồng ý, thì có điều hiềm nghi tham dự vào việc nguy hiểm; không đồng ý thì hỏng việc lớn».
Mọi người đều khâm phục sự quyết đoán của ông. Tất cả đều chuẩn bị tốt, vào tối thứ 18 sau khi Trung Tông chết, Lý Long Cơ và Lưu U Cầu mặc tiện y đến «cấm uyển» (vườn cấm) gặp Chung Thiệu Kinh thương lượng.
Ai ngờ Chung Thiệu Kinh nhất thời hối lại, từ chối tiếp đón Lý Long Cơ. Sự việc này làm Lý Long Cơ hết sức sốt ruột, sắp đến thời gian hẹn sẵn chỉ còn có hai canh giờ.
Lý Long Cơ trong lòng nghĩ, con người này không thể làm mất lòng được, một khi để lộ tin tức, việc lớn sẽ hỏng hết.
Trong lúc nguy ông đã nảy ra kế hay, vội vàng sai Lưu U Cầu mang nhiều vàng từ cửa sau đi vào, đi xúi giục bà họ Hứa, vợ của Chung Thiệu Kinh, để bà đi theo cùng hành động.
Lưu U Cầu trình bày rõ ý kiến, bà Hứa hoàn toàn đáp nhận nói: «Việc này cứ giao cho tôi! Tôi nhất định sẽ làm tốt!».
Lưu U Cầu đi xong, bà Hứa ra nói với Chung Thiệu Kinh: «Xả thân cứu nước, trời ắt sẽ giúp, mà đồng bọn đã hẹn sẵn xong từ trước, bây giờ muốn không làm cũng không thể được».
Bà Hứa cuối cùng đã thuyết phục được Chung Thiệu Kinh. Đến đêm, Lý Long Cơ dẫn quân ẩn nấp vào «cấm uyển», quân Vũ Lâm đã đóng ở cửa Huyền Vũ từ trước.
Lý Long Cơ xông thẳng đến nơi ngủ của Tổng quản quân Vũ Lâm Vi Bá, giết chết Vi Bá, sau đó xách đầu tập hợp quân Vũ Lâm, khảng khái tuyên bố: «Vi hậu dùng thuốc độc giết chết Tiên đế, làm loạn chính sự và tiếm quyền, làm nguy hại quốc vận Đại Đường. Bây giờ vâng lệnh của Tương vương, để báo thù cho Tiên đế, bắt giết bọn họ Vi và bọn nghịch thần, ủng hộ lập Tương vương để làm yên ổn thiên hạ. Nếu có kẻ ăn ở hai lòng, giúp bọn phản nghịch làm điều ác, là phạm tội phải diệt chết ba họ, sau khi thành công nhất định bình công khen thưởng. Thời cơ báo đền đất nước, lập công dựng nghiệp đã đến, mọi người hãy nhanh chóng theo tôi».
Những lời này được Tướng sĩ quân Vũ Lâm hưởng ứng và ủng hộ. Lý Long Cơ dẫn các hào kiệt và 300 lính do Tổng binh quân Vũ Lâm do Chung Thiệu Kinh dẫn đầu, hợp binh một chỗ, đi thẳng đến chỗ ngủ của Vi hậu.
Vi hậu thấy có loạn, lập tức chạy trốn sang «phi kỵ doanh». Lý Long Cơ vừa trông thấy Vi hậu chạy trốn, liền trong cơn thịnh nộ dẫn mọi người đuổi bắt.
Thử nghĩ xem, Vi hậu gót vàng ba tấc này, làm thế nào có thể chạy thoát được? Lý Long Cơ đuổi kịp, một nhát dao đã kết liễu tính mạng của bà ta.
Vi hậu gây ra nhiều tội ác đã làm Lý Long Cơ nổi giận, cũng làm cho một số trung thần của Đại Đường nổi giận, họ đều không nén nổi giận mới tụ tập lại, giết chết Vi hậu. Hành vi của một người đừng để xúc phạm mọi người, bằng không thì mọi người sẽ nổi giận. Sự nổi giận sẽ biến thành sức mạnh hủy diệt.
Trong lịch sử Trung Quốc, Lý Long Cơ dám mạo hiểm, đã hoàn thành nghiệp lớn.
Trong xã hội ngày nay, mặc dù là những tháng năm hòa bình, nhưng xét từ khía cạnh cạnh tranh và sinh tồn, nguy cơ mọi người phải đối mặt, thật ra không nhỏ hơn nguy cơ mà Lý Long Cơ đã phải đối mặt năm xưa.
Do đó, tinh thần dám vì thiên hạ mạo hiểm, thật ra ngày nay vẫn không lỗi thời, mà mức độ mạo hiểm càng lớn, cơ hội cũng càng lớn, khả năng giành được thành công sẽ càng lớn.
20. Vua «phần mềm» đã làm việc ra sao?
Bill Gates, Chủ tịch Hội đồng Quản trị hãng Microsoft Mỹ, chính là một anh hùng thời đại đối mặt với cao trào cạnh tranh tri thức, dám mạo hiểm.
Khẩu hiệu của hãng Microsoft mà ông lãnh đạo, trong lĩnh vực khai thác phần mềm máy vi tính chính là: Dám nghĩ những vấn đề người khác không dám nghĩ, dám làm những việc mà người khác không dám làm.
Quyển sách xuất bản mới nhất của ông «Công ty vận hành với tốc độ của tư duy: sử dụng hệ thống thần kinh số» (Business @ the speed of Thought: Using a Digital Nervous System) đã ra mắt toàn thế giới.
Ông nhắm vào những vấn đề phát triển xí nghiệp từ năm 2000 về sau, đưa ra «tốc độ» là mấu chốt cạnh tranh và chỉ ra chỉ có những xí nghiệp điều khiển được thế giới con số mới có thể giành được ưu thế cạnh tranh. Ở đây, chúng tôi trích chọn một bộ phận nội dung tuyệt vời, cung cấp cho những người dám mạo hiểm tham khảo:
- Mùa xuân năm 1997, khi tôi đang chuẩn bị bài nói tại Hội nghị cấp cao những người đứng đầu bộ phận chấp hành lần đầu tiên của chúng tôi, điều tôi nghĩ trong đầu là thế giới con số sẽ làm thay đổi phương thức kinh doanh xí nghiệp như thế nào.
Điều tôi muốn nói không chỉ là tiến triển khoa học kỹ thuật khoe tài với mọi người, mà là muốn thử bàn thêm một bước những vấn đề mà các người đứng đầu xí nghiệp vật lộn lâu nay: Khoa học kỹ thuật làm thế nào có thể từ nay về sau giúp bạn kinh doanh sự nghiệp được tốt hơn?
Khoa học kỹ thuật làm thế nào có thể giúp bạn một tay trong 5 năm hoặc 10 năm sau trở thành một người chiến thắng?
* Thế giới kết thành một mạng
Nếu như chủ đề của những năm thứ 80 là chất lượng sản phẩm, của những năm thứ 90 là tạo lại công ty, thế thì mấu chốt của những năm sau năm 2000 chính là tốc độ cũng chính là về: tốc độ thay đổi bản chất xí nghiệp nhanh bao nhiêu, tốc độ giao dịch của xí nghiệp nhanh như thế nào, những thông tin thu được làm thay đổi phương thức sinh hoạt của người tiêu dùng như thế nào và sự mong đợi đối với xí nghiệp. Sự đáp lại của nhà chế tạo hoặc nhà bán lẻ đối với sự thay đổi tiêu thụ, không phải là mấy tuần lễ một lần, mà là mấy giờ một lần; lúc này về bản chất chung đã không phải là công ty sản phẩm nữa, mà trở thành công ty phục vụ cung cấp sản phẩm.
Sự phát sinh của những thay đổi này, hoàn toàn nhờ cậy vào một quan niệm đơn giản đến mức làm cho người ta khó tin sự lưu động của thông tin con số (The flow of digital information).
Lần đầu tiên, tất cả mọi thông tin – văn tự, âm thanh, tranh ảnh – dùng hình thức con số để máy tính lưu giữ xử lý và truyền đi.
Lần đầu tiên, bàn phần cứng tiêu chuẩn hóa kết hợp với phần mềm tiêu chuẩn hóa cùng chung lập nên phương án giải quyết tính toán kinh tế quy mô, sản xuất lớn mạnh, các công ty lớn nhỏ đều mua được.
Còn «cá nhân» trong máy tính cá nhân, chỉ là người làm công việc tri thức cá biệt, trang bị cho công cụ lớn mạnh, có thể phân tích và sử dụng những thông tin thông qua những công cụ này chuyển hóa và mang lại.
Cách mạng của bộ vi xử lý không những ban cho máy vi tính cá nhân năng lực siêu cường, cũng nằm trong đêm trước của thiết kế số mang theo người đời mới – máy vi tính xách tay, máy vi tính trên ôtô, «thẻ trí tuệ» và mọi loại phát minh khác sẽ xuất hiện, mở rộng sử dụng thông tin số một cách rộng khắp.
Còn mấu chốt của việc mở rộng sử dụng máy tính gia đình, chính là khoa học kỹ thuật của phương diện mạng, nó đem cả thế giới của chúng ta kết nối thành một mạng.
* «Hệ thống thần kinh số» (Digital nervous system)
Khi suy nghĩ những việc này và xác định nội dung bài nói của Hội nghị cấp cao những người đứng đầu bộ phận chấp hành, một khái niệm mới ùa vào đầu óc của tôi: «Hệ thống thần kinh số».
Giống như hệ thống thần kinh của con người, hệ thống thần kinh số chính là xí nghiệp đem thông tin có thứ tự ngăn nắp lưu động, cung cấp số lượng phù hợp cho công ty đúng lúc.
Hệ thống thần kinh số bao gồm cả lưu trình số, công ty có thể mượn nó tìm hiểu hoàn cảnh bên ngoài và đưa ra hỏi đáp, có thể trông thấy sự thách thức của người cạnh tranh, nhu cầu của khách hàng, sau đó đưa ra biện pháp ứng phó kịp thời.
Hệ thống thần kinh số đòi hỏi tổ hợp của phần cứng và phần mềm; mạng máy vi tính đơn thuần không thể nào đặt ngang hàng với nó được. Nó có thể cung cấp thông tin chính xác, trực tiếp và phong phú cho người làm việc bằng tri thức, mà những thông tin này cũng làm tăng tiến khả năng hiểu rõ của người làm việc bằng tri thức và sự hợp tác giữa người này với người kia.
Quyển sách này viết cho những người đứng đầu bộ phận chấp hành, người tổ chức lãnh đạo và giám đốc các cấp xem. Tôi miêu tả hệ thống thần kinh số, thông qua ba yếu tố lớn tăng cường ngành thương mại như khách hàng hoặc bạn hàng, nhân viên, lưu trình ra sao để ngành thương mại chuyển loại hình, để cơ quan chính phủ phản ứng càng nhanh nhạy hơn.
Tôi đem kết cấu của quyển sách này xoay quanh ba công năng lớn của xí nghiệp: thương vụ điện tử, quản lý tri thức và vận hành kinh doanh xí nghiệp, chúng thực hiện ba yêu tố lớn nói trên.
«Vận hành xí nghiệp với tốc độ tư duy: lợi dụng hệ thống thần kinh số» không phải là sách khoa học kỹ thuật, việc nó muốn giải thích là lưu trình số giải quyết công năng và lý do của vấn đề kinh doanh xí nghiệp thực tế.
Nếu muốn tìm hiểu thêm đối với nội dung khoa học kỹ thuật, trạm mạng www.speed-of-thought.com sẽ cung cấp nhiều thông tin bối cảnh đối với các ví dụ thực nêu trong sách, cung cấp kỹ thuật đánh giá năng lực hệ thống thông tin hiện có cùng với kiến tạo kết cấu khung hệ thống thần kinh số và phương pháp khai thác. Trạm mạng này cũng liên kết với các trạm mạng khác mà tôi nhắc tới.
* Tiến vào sinh hoạt mạng
Nhìn thấy mọi người trải qua sinh hoạt mạng, lợi dụng Internet để học tập và dùng phương pháp mới để mua hàng hóa, khiến người ta cảm thấy phấn khởi.
Bất kể bạn đối xử với báo cáo của viện kiểm soát độc lập của nước Mỹ Stare đối với Clinton như thế nào, Internet là môi trường duy nhất có thể truyền tải với tốc độ nhanh văn kiện 445 trang. Trong tuần lễ đầu tiên, ước có khoảng 6 triệu đến 9 triệu người được xem thoáng qua văn kiện này.
..........
Ở đây, Bill Gates đã đem vấn đề mạng của thời đại thông tin, nâng đến một độ cao quan trọng để làm cho mọi người nhận thức.
Mạng vì sao lại quan trọng như thế?
Kết luận của Bill Gates chính là: trong thời đại thông tin, mạng đã giải quyết vấn đề tốc độ.
Việc này giống như đánh trận, ai có tốc độ, người đó sẽ chiếm được chủ động. Chúng tôi hy vọng rằng, đông đảo bạn đọc có thể cùng với chúng tôi coi trọng mạng, trong thế kỷ XXI, giành được «tốc độ», nắm chắc chủ động, mở ra thời đại mới.
Chương sáu
VẬN DỤNG TRONG CHÍNH TRỊ QUÂN SỰ
Khi âm đến dương, dương là âm
Giả đến chỗ thật, thật cũng giả.
''Mưu'' chia thành âm mưu và dương mưu, không biết là bắt đầu từ niên đại nào, cũng không biết là xuất phát từ phát minh của người Trung Quốc hay là của người nước ngoài.
Cho đến ngày nay, từ «âm mưu» chắc chắn là mang ý chê bai rất lớn.
Khổng Tử, bậc thầy của nhân nghĩa ngàn thu, tấm gương về đạo làm người muôn đời của người Trung Quốc, từ trước đến nay đã không thích từ «âm» này. Ông đem «nữ nhân», «tiểu nhân», «gian tặc» đều qui về phạm trù thuộc «âm». Trung Quốc từ Khổng Tử về sau hơn hai ngàn năm nay, thanh danh của từ «âm» này càng xấu.
Song, Lão Tử lại rất suy tôn chữ «âm».
Trong «Đạo đức kinh», ông đã từng nhiều lần nhấn mạnh: «Dĩ âm khắc dương», «Dĩ nhu khắc cương», «Dĩ tĩnh chế động», «Thị nhược thủ thư» (Tỏ ra yếu đuối để giữ mình phái yếu) v.v...
Theo Lão Tử và Đạo gia, nhu, tĩnh, nhược, thư v.v... đều thuộc phạm trù của «âm». Từ đó ta thấy, «âm» thật ra không đáng xấu.
Theo triết học truyền thống Trung Quốc: «Nhất âm nhất dương vi chi đạo» (Một âm một dương tạo thành đạo).
«Âm» và «Dương» vốn không có cái gọi là chê khen, nên âm thì âm, nên dương thì dương.
Đạo lý này dẫn ra, về binh pháp chính là: đạo của văn võ, một bên căng một bên trùng. Khi làm học vấn, viết văn chương chính là văn đã xen kẽ, nhã tục cùng hài hòa.
Không có độc nhất vô song.
Không phải chỉ có người Trung Quốc giỏi vận dụng mưu lược – hoặc gọi là âm mưu, hoặc gọi là dương mưu – mà mọi người của các nước trên thế giới, bất kể chủng tộc như thế nào, bất kể lịch sử như thế nào cũng đều tinh thông lẽ này.
Ví như Napoléon, Coolidge, Kemal, Roosevelt, Marshall, Churchill, De Gaulle, Sukarno, Mitterrand, Nixon, Margaret Thatcher...
Những nhân vật này đã từng có ảnh hưởng đến thế giới, đều là những cao thủ vận dụng mánh khóe (sách lược).
Từ đó ta thấy, «mưu» không kể là âm hay dương, chỉ là lúc mới đầu đặt tên cho nó, đem nó gọi là «âm mưu», cho nên mới làm cho thanh danh của nó bị làm xấu.
Ở đây, chúng ta tạm thời không thảo luận vấn đề này. Nếu như nói «âm mưu» nghe không hay, vậy thì chúng ta sẽ dùng «âm mưu dương dụng» đề thảo luận vấn đề. Hoặc là nói, âm mưu dương mưu cũng đúng, cần biết chỉ có như thế mới có thể hoàn thành sự nghiệp lớn. Đặc biệt là trong hoạt động chính trị quân sự từ xưa đến nay, biểu hiện ra rất nổi bật.
Ở đây, có thể giới thiệu với các bạn đọc một số ví dụ nổi tiếng. Hoặc bạn thông qua sự tích của họ có thể học được một ít mưu mẹo làm cho mình thông minh hơn!
1. Trong phạm vi cai quản của mình
Tháng 7 năm 1888, Wilhelm II kế ngôi, năm đó mới 29 tuổi.
Trước đó, ông rất kính trọng lão thần Bismarck, chính là mấy tuần trước khi ông lên ngôi, ông còn dự bữa tiệc sinh nhật của Bismarck 73 tuổi, và trong lời chúc rượu khen ngợi nói: «Bismarck là người cầm cờ mà 46 triệu trái tim trung thành của nước Đức đang hướng về». «Thủ tướng cần phải lãnh đạo chúng tôi, chúng tôi sẽ đi theo ông». Nhưng Wilhelm II lên ngôi mới được một tháng, đã nói với mọi người xung quanh: «Ta giành cho cụ già đó 6 tháng hấp hối, sau đó tự ta chấp chính.»
Bismarck không muốn rút lui khỏi vũ đài chính trị, tháng 3 năm 1890 ông tuyên bố lại pháp lệnh của Nội các Preussen (Phổ) năm 1852, quy định vua và quan viên liên bang đi lại phải thông qua Thủ tướng. Ông còn tự ý tiếp kiến lãnh tụ Đảng trung ương. Wilhelm II hết sức bực mình.
Tối 14 tháng 3, Hoàng đế sai người mang đến đưa cho Bismarck một bức thứ tay, thông báo cho ông biết sáng hôm sau Hoàng đế sẽ đến chỗ Thủ tướng cùng bàn việc với ông. Khi thư tay đưa đến, Bismarck đã đi ngủ.
Cho nên, sáng sớm hôm sau khi Hoàng đế đến phủ Thủ tướng, ông vẫn còn đang nằm trong mơ. Ông vội vàng dậy mặc quần áo, lúng ta lúng túng. Lời trách hỏi của Hoàng đế đối với ông tuôn ra giống như súng liên thanh không ngớt, cuối cùng đòi ông phải thu hồi pháp lệnh của Nội các năm 1852.
Ngày 17 tháng 3, Wilhelm II sai người chuyển lời cho Bismarck, hoặc là thu hồi pháp lệnh của Nội các, hoặc là đưa ra đơn xin từ chức. Đến tối không thấy có hồi âm, Hoàng đế lại nhờ người đi hỏi, vì sao đơn xin từ chức vẫn không đưa vào cung?
Cuối cùng ngày 18 tháng 3, Bismarck đã đưa đến Hoàng đế đơn xin từ chức chính thức. Wilhelm II cuối cùng đã phế bỏ Bismarck.
Từ đó, ông đã sửa đổi chính sách của Bismarck từ chỗ chỉ chú trọng tranh bá ở đại lục châu Âu, sang chú trọng «chính sách thế giới», muốn xây dựng nước Đức thành «đế quốc thế giới», tích cực lao vào tranh đoạt phân chia lại thế giới.
Để xây đựng nước Đức thành một cường quốc công nghiệp và quân sự, ra sức mở rộng ra nước ngoài, ông ráo riết mở rộng hải quân, chỉ trong vòng vài năm đã trở thành cường quốc hải quân thứ hai chỉ đứng sau nước Anh tích cực việc chuẩn bị phát động đại chiến thế giới.
2. Quan tâm đến người cấp dưới
Trong lịch sử, người nguyên thủ quốc gia có thể đem hành vi chính trị của mình tách riêng hẳn với hành vi đời sống hàng ngày một cách hợp lý, họ giỏi trình diễn thân phận nguyên thủ trên vũ đài chính trị, cũng giỏi xuất hiện với thân phận của người bình thường trong cuộc sống, từ đó giành được sự mến phục, ủng hộ và kính trọng của những người bên dưới.
Sa hoàng Nga Peter I trong xử lý vấn đề chính trị rất cay nghiệt khắc khe; khi xét hỏi và phán quyết phạm nhân, Peter I khiến cho thủ đô của nước Nga như bị bao phủ trong mưa máu của việc giết hàng loạt trong một thời kỳ dài, nhưng Peter I trong cuộc sống đời thường lại biểu hiện ra một tính cách rất gần với người dân.
Khi vợ một người bạn của Peter I mất, Peter I đã viết thư cho người bạn này, khuyên ông ta bớt buồn, giữ gìn sức khỏe.
Khi mẹ của một người bạn khác mất, Peter I trong thư nói: «Nghe nói ông vì mẹ mất nên rất đau buồn. Vì Thượng đế, xin ông hãy bớt buồn, chú ý giữ gìn sức khỏe, bởi vì ông đã có tuổi rồi, hơn nữa từ lâu đã có bệnh».
Peter I hết sức quan tâm đối với các đại thần, quan viên và bạn bè của ông, có khi ông tỏ ra không yên tâm vì bệnh tim của một số người, có khi dặn dò ngự y cung đình chữa bệnh cho con trai của một người nào đó, có khi bày tỏ lời an ủi đối với quả phụ của một người bầy tôi v.v...
3. Ngồi không ngư ông đắc lợi
Trong đại chiến thế giới lần I, hai tập đoàn quân sự lớn ở châu Âu – các nước hiệp ước và các nước đồng minh đều phải trả giá rất nặng nề. Còn nước Mỹ ở bên bờ kia Đại Tây Dương thì vẫn ngồi ung dung trên đài câu cá.
Từ lúc mở đầu cuộc đại chiến, nước Mỹ đã tuyên bố trung lập, tổng thống Wilson cho rằng, bất cứ một bên giao chiến nào giành được toàn thắng đểu là không lợi đối với nước Mỹ, nước Mỹ thà bằng lòng để cho châu Âu phân chia thành hai tập đoàn không đội trời chung.
«Nếu như phía các nước hiệp ước thắng, có nghĩa là phần lớn lục địa châu Âu thuộc nước Nga thống trị, còn nước Đức thắng cuối cùng sẽ trở thành tai họa của chúng tôi.»
Điều diệu kỳ nhất là dưới danh nghĩa «trung lập», tiến hành mậu dịch với cả hai bên giao chiến, như thế, không những có thể kiếm được khoản lợi nhuận lớn, mà còn làm cho hai bên giao chiến bên nào cũng không có cách thắng được triệt để đối phương.
Đôi lúc hai tập đoàn quân sự lớn châu Âu cả hai đều bại và tổn thương, sẽ là lúc nước Mỹ «ngồi không ngư ông đắc lợi».
Đến năm 1917, Wilson nhìn thấy nước Đức sắp sửa không chống nổi, liền đưa quân sang châu Âu, để «dây máu ăn phần».
4. Giương đông kích tây
Năm 1789, Napoléon xuất thân đi đánh Ai Cập. Ông ta lo lắng sẽ bị hạm đội của nước Anh chặn đánh tại Địa Trung Hải, bèn lợi dụng đủ mọi thủ đoạn tung ra tình báo giả, nói Hạm đội Địa Trung Hải của nước Pháp sẽ tiến vào Đại Tây Dương, đổ bộ ở Ireland.
Năm 1787, quả thực đã có một Hạm đội Pháp mưu toan tiến sang Ireland, khiến cho người Anh bị một trận hoảng sợ.
Lần này, Nelson vị chỉ huy hạm đội Hải quân Anh sợ Napoléon có thể lén đến sân sau của họ thật, liền vội vàng điều động hạm đội đến Gibraltar, chuẩn bị chặn đánh Hạm đội Pháp khi đi qua eo biển.
Chính lúc này, Napoléon thừa cơ xuất phát từ quân cảng Toulon đưa Hạm đội đến thẳng Ai Cập. Nelson biết mình bị trúng kế, lập tức giương buồm đuổi theo, chưa phát hiện ra hình bóng Hạm đội Pháp, lại lạc đến thành Constantine, trong khi ấy hạm đội Pháp đã đổ bộ thành công lên cảng Alexandria, Ai Cập, tiến chiếm Ai Cập.
5. Tỏ ra giả để che thật
Ngày 9 tháng 11 năm 1789, Napoléon phát động chính biến tháng sương mù, thành lập chính quyền chấp chính do Napoléon đứng đầu. Mùa xuân năm sau, quân đội các nước đồng minh chống Pháp của châu Âu, từ mấy hướng khác nhau tiến công vào nước Pháp.
10 vạn đại quân của Áo áp sát biên giới Pháp, đã uy hiếp nghiêm trọng nhất đối với nước Pháp. Napoléon biết chắc rằng, nếu dùng lực lượng của mình thì rất khó chống lại được Đồng minh, thế là ông ta đã đạo diễn một trò «giả ẩn thật».
Một mặt, Napoléon bí mật nhanh chóng xây dựng một quân đoàn dự bị có thực lực hùng hậu.
Mặc khác, ông ta cho bộ máy tuyên truyền hoạt động, thổi phồng mình là đã tổ chức và xây dựng một đội quân dự bị lớn mạnh, đội quân của ông ta sẽ tập kết tại một địa điểm nào đó, và quyết định tự mình duyệt binh.
Các nước đồng mình chống Pháp xôn xao cử hàng loạt gián điệp đến chỗ gọi là hiện trường duyệt binh để thu thập tình báo thực lực tác chiến của quân đội dự bị.
Kết quả họ nhìn thấy là mấy đoàn tân binh vừa mới chiêu mộ về. Lưa thưa, trang phục không chỉnh tề, trang bị chẳng có gì, phần nhiều là những người già yếu bệnh tật.
Các nước đồng minh châu Âu cho rằng Napoléon đang hư trương thanh thế, nhằm tăng thêm lòng dũng cảm cho nước Pháp, mục đích cuối cùng chẳng qua là mong cho quân đội Áo nghe tin đã khiếp đảm, không dám tiến công vào đất nước Pháp nữa.
Thế là quân Áo liền chia quân đi xuống phía Nam, một cánh quân nhanh chóng bao vây và tấn công thành Genova lúc đó vẫn do nước Pháp khống chế, một cánh quân khác tích cực chuẩn bị tiến công vào đất Pháp.
Đúng lúc các tướng soái quân Áo đang đầy tham vọng xâm lược, Napoléon đột nhiên tự mình dẫn đầu mấy vạn đại quân dũng mãnh, đi vòng qua Thụy Sĩ, vượt qua hai đèo Saint Bernard lớn, nhỏ của dãy núi Alps, đột nhiên xuất hiện ở phía sau quân Áo một cách bất ngờ, giống như quân từ trên trời xuống, quân Áo đột ngột không kịp đề phòng, đã nhanh chóng tan rã. Napoléon nhân cơ hội tốt thừa thắng tiến lên, sát miền Nam nước Áo, buộc Hoàng đế Áo phải ký hòa ước. Chỉ một hành động mưu lược Napoléon đã đập tan Đồng minh chống Pháp.
6. Cơ động thần tốc
Goethe nói: «Napoléon một đời giống như một vị thần có bước chân lớn, đi từ chiến dịch này đến chiến dịch khác, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác». Hegel ca ngợi Napoléon là «thế giới linh hồn cưỡi trên lưng ngựa».
Napoléon cho rằng sự vận động chính xác và nhanh chóng của một đội quân lớn là thủ đoạn quan trọng xác định hình thế có lợi và bảo đảm chắc chắn lực lượng ưu thế của chiến dịch.
Những chiến dịch Napoléon chỉ huy, thường lấy ít thắng nhiều, một trong những nguyên nhân quan trọng đó là nhanh chóng cổ động di chuyển quân đội. Napoléon có câu danh ngôn: «Hành quân chính là chiến tranh».
Chiến dịch Ulm năm 1805, Napoléon chủ yếu đã dựa vào hành quân cổ động và thần tốc để giành thắng.
Trước lúc này, Napoléon đang ở doanh trại Boulogne (Bulônhơ) tập kết đại quân chuẩn bị tiến công nước Anh.
Khi ông tin chắc rằng kế hoạch này không thể thực hiện, mà lại đang đối mặt với cục diện Liên quân chống Pháp trên đại lục đang tập kết, sắp tiến công vào ông, bèn thay đổi phương diện tác chiến, hạ lệnh cho 17 vạn đại quân dùng tốc độ hành quân nhanh chóng đúng hạn phải đến được vùng Reims (Rems).
Sau khi chiến đấu kết thúc, binh sĩ của Napoléon đồng thanh ca ngợi thắng lợi của trận chiến đấu này: «Hoàng đế đã phát minh ra một phương pháp tác chiến mới, cái ông lợi dụng là đôi chân của chúng ta mà không phải là lưỡi lê của chúng ta».
Chiến dịch Marengo năm 1800, Napoléon dẫn đại quân vượt qua đường hẻm Saint Bernard hiểm yếu của dãy núi Alps, đột nhiên ở phía sau quân địch một cách bất ngờ, vừa mở đầu liền đã xác lập được ưu thế và quyền chủ động của chiến dịch.
Thống soái quân địch là Melaz cho rằng sự hiểm yếu của dãy núi Alps có thể tạo thành phòng tuyến thiên nhiên, Napoléon lại cho rằng, chỉ cần cho sơn dương (dê rừng) có thể bước tới, thì quân đội sẽ có cách đi qua.
Napoléon cho rằng, muốn thực hiện cơ động nhanh chóng, quân đội phải khắc phục được tất cả mọi khó khăn, mà yếu tố đầu tiên của binh sĩ là chịu đựng được mọi mệt mỏi và cực khổ một cách bền bỉ bất khuất.
7. Đan xen và vu hồi
Napoléon nhấn mạnh rằng, tại địa điểm và thời gian nhất định tập trung binh lực trong cùng một thời gian, cùng một địa điểm chiếm ưu thế hơn quân địch tiến hành chiến đấu, «phía quân đông ắt giành thắng». Giai đoạn I chiến dịch Italia, quân đội của Napoléon và Liên quân là 3 vạn, quân địch 8 vạn; về tổng thể là ở thế kém.
Khi chiến tranh bắt đầu, Napoléon cầm quân thông qua đan xen và vũ hồi, dùng hành động quân sự nhanh chóng và liên tục đã giáng những đòn liên tiếp cho quân địch, mỗi lần đều tạo nên ưu thế của phía mình và kém thế của phía địch.
Hành động quân sự xuất sắc của Napoléon giữa hai cánh quân địch lần lượt đang uy hiếp thủ đô Iurino và Milano của họ, gần như bắt quân địch mỗi bên phải tự rút để giữ thủ đô của mình, phân tách liên quân.
Tiếp đó, Napoléon liền tập trung binh lực chiếm ưu thế lần lượt tiến hành bao vây và tiêu diệt quân địch. Do đó trong vòng một tháng, đã kết thúc một cách thắng lợi chiến dịch Italia thuộc giai đoạn I.
8. Tiến công giành thắng lợi
Để tiêu diệt sinh lực của quân địch, giành được thắng lợi của chiến dịch và chiến đấu, Napoléon chủ yếu dùng phương thức chiến đấu chủ động mà tiên quyết để tiến công.
Engels cho rằng, giống như Alexandros, Hanibal và Caesar, Napoléon cũng là một thống soái đặc biệt thích tấn công.
Napoléon cũng cho rằng cách nghĩ của ông ta giống như Friedrich, một người luôn ra tay tấn công trước. Khi ông còn là một sĩ quan trẻ đã để lộ tài hoa ở chiến dịch Toulon (Tulông) đã nhận định phàm là những người ở lại trong chiến hào, nhất định có thể bị đánh bại. Ông coi đó là một điều công lý trong nghệ thuật chiến tranh.
Chúng ta hãy xem mấy chục chiến dịch Napoléon một đời chỉ huy, ngoài chiến dịch Leipzig năm 1813 là phòng ngừa thuần túy ra, còn lại hầu như đều là đánh tấn công. Napoléon cho rằng, kiên quyết tấn công phải nên đánh nhanh thắng nhanh, vì thế cần phải có tinh thần dám mạo hiểm và quyết làm đến cùng. Chiến dịch Austerlitz lừng danh chính là một ví dụ điển hình.
Napoléon rất giỏi vận dụng đội quân dự bị. Ông đã chỉ ra rõ ràng rằng, toàn bộ nghệ thuật chiến tranh chính là sau phòng ngự hợp lý mà thận trọng thì tiếp theo nó là tấn công chớp nhoáng và táo bạo.
Trong chiến dịch Toulon, sau hai ngày nã pháo dữ dội, quân đội của những người phái Cộng hòa mà Napoléon cũng ở trong đó mở đợt tấn công mãnh liệt vào căn cứ Toulon của những người phái Bảo hoàng chiếm giữ, qua chiến đấu ác liệt, những người phái Cộng hòa thấy sắp thất bài đến nơi. Trong giờ phút then chốt này, Napoléon đã dẫn đội quân dự bị xông lên, từ đó giành được thắng lợi.
Chiến dịch Eckmuhl năm 1809, đứng trước sự tấn công của hơn 6 vạn quân chủ lực của quân Áo đối với nước Pháp, Napoléon ra lệnh cho Nguyên soái Davout đang ở thế yếu, lợi dụng địa hình có lợi, tiến hành phòng ngự tích cực và đã ngăn chặn thành công cuộc tấn công của quân địch. Napoléon đồng thời dẫn 4 vạn quân nhanh chóng kịp đến nơi đó, với sự phối hợp của Davout đã phản công mạnh mẽ vào quân Áo, kết quả giành được toàn thắng.
9. Lợi dụng độ khác biệt tương phản
Trong cuộc vận động bầu cử năm 1840, người ứng cử Tổng thống của Đảng Whigs (tiền thân của Đảng Cộng hòa) là William Harrison. Để hạ thấp ông ta, một nhà báo của tờ báo Đảng Dân chủ chế giễu nói: «CDho ông ta một thùng rượu táo loại mạnh, phát cho ông ta mỗi năm 2.000 USD tiền lương, tôi bảo đảm rằng, ông ta sẽ một đời ngồi bên cạnh chiếc lò sưởi trong ngôi nhà gỗ nhỏ của ông để học triết học đạo đức».
Để phản kích đối phương đảng Whigs đã mất rất nhiều tâm sức mãi mới đưa ra được một «tương kế tựu kế». Trên tác phẩm của mình họ viết, in ra hình đầu của Harrison và một thùng rượu, một ngôi nhà gỗ nhỏ, có ý làm nổi bật Harrison là một người chất phác đơn thuần, một người bình thường ngồi trong một ngôi nhà gỗ nhỏ uống rượu táo loại mạnh. Đồng thời còn công kích người ứng cử của Đảng Dân chủ là Van Buren «kiểu quý tộc», nói ông ta uể oải ở trong phủ Tổng thống, dùng loại nước hoa cổ lỗ nhẹ nhàng lau các ngón tay, đang nhấp rượu sâm banh từ trong bộ làm lạnh bằng bạc rót vào trong chiếc ly chạm hoa nhập khẩu.
Kết quả là cuộc sống bình dân giản dị, chất phác của Harrison vừa khéo hình thành dự đối lập rõ ràng dứt khoát với vẻ hào nhoáng bề ngoài xa xỉ đến tột độ của Van Buren, cuối cùng giúp cho Đảng Whigs đã giành thắng trong cuộc vận động tranh cử lần này.
10. Lợi dụng chỗ trống
Ngày 4 tháng 3 năm 1841, Harrison tuyên thệ nhậm chức Tổng thống Mỹ, tại lễ nhậm chức ông bị cảm lạnh sau chuyển bệnh viêm phổi, nhậm chức được một tháng sau thì tạ thế. Văn phòng Quốc vụ khanh thông báo cho Phó Tổng thống Tyler mời ông thừa hành chức vụ Tổng thống.
Lúc đó, hiến pháp của nước Mỹ chỉ quy định: «Nếu khi Tổng thống bị miễn chức, chết, từ chức hoặc mất năng lực điều hành quyền lực và trách nhiệm của Tổng thống, thì chức vụ Tổng thống nên do Phó Tổng thống thực hiện».
Còn về lúc đó Phó Tổng thống là chính thức kế nhiệm làm Tổng thống, hay là với thân phận Phó Tổng thống thực hành chức quyền của Tổng thống, hiến pháp thật ra chưa nói rõ ràng.
Tyler không biết là xuất phát từ cố ý hay vô ý, ông ta tuyên bố mình chính thức kế nhiệm Tổng thống Mỹ. Khi đó, dư luận Mỹ chỉ trích Tyler cố tình giải thích sai Hiến pháp.
Nhưng, do điều khoản có liên quan của Hiến pháp mơ hồ, Quốc hội đối với Tyler tuyên bố kế nhiệm Tổng thống chưa đưa ra ý kiến khác nhau, thế là việc làm này của Tyler trở thành hành vi hợp pháp.
Về sau, nước Mỹ lại có 7 vị Tổng thống chết trong nhiệm kỳ, Phó Tổng thống đều lấy Tyler làm ví dụ kế nhiệm Tổng thống. Lệ này kéo dài suốt hơn 120 năm, mãi đến bản dự án sửa đổi Hiến pháp năm 1967, điều khoản thứ 25 mới quy định rõ bằng lời văn: «Nếu khi Tổng thống miễn chức, qua đời hoặc từ chức, do Phó Tổng thống kế nhiệm Tổng thống».
11. Tỏ ra là người chất phác
Khi Lincoln và Douglas tranh cử Tổng thống, Douglas tỏ ra rất tin tưởng, tưởng như nhất thiên hạ. Ông ta đã thuê một con tàu hào nhoáng, và đặt một cỗ súng trên toa cuối cùng, đến mỗi ga sẽ bắn súng chào và cử nhạc.
Sau đó, ông ngồi trên chiếc xe 6 ngựa kéo đi đến trung tâm thành phố, thị trấn phát biểu diễn thuyết. Ở phía trước có những chàng trai vạm vỡ cưỡi tuấn mã mở đường, Douglas hò hét: «Tôi muốn Lincoln, người quê mùa này ngửi thử mùi quý tộc của tôi».
Lincoln không có tài riêng, ông mua vé ngồi tàu, đến mỗi ga, ngồi trên chiếc xe ngựa kéo vẫn dùng cày ruộng mượn từ các bạn.
Trong diễn thuyết, ông thường nói: «Thượng nghị sĩ Douglas là người nổi tiếng thế giới, là một nhân vật lớn, ông ta có tiền cũng có thế, có khuôn mặt tròn tròn, béo đẫy, đã từng giữ các chức quan hệ bưu điện, đất đai, nội các, ngoại giao v.v... Ngược lại, không có ai cho rằng tôi có thể làm Tổng thống. Có người viết thư cho tôi, hỏi tôi có bao nhiêu tài sản. Tôi chỉ có một người vợ và một đứa con trai, đều là của không đáng giá. Ngoài ra, còn thuê một gian văn phòng vừa cũ, vừa nát, trong phòng chỉ có một chiếc bàn giá trị 2,50 USD; 3 chiếc ghế giá trị 1,00 USD. Ở góc tường, còn có một giá sách lớn, sách trên giá đáng được mỗi người đọc. Tôi, bản thân vừa nghèo vừa gầy, mặt rất dài, không thể béo đẫy, thực tế tôi chẳng có gì đáng dựa, duy nhất đáng dựa là các bạn».
Diễn thuyết của Lincoln giành được cảm tình của đông đảo dân chúng, hình tượng người vô sản của ông đã giành được đồng tình và ủng hộ của đông đảo cử tri.
Đối với người yếu, người ta đều sinh ra tâm lý bảo vệ, ủng hộ và yêu mến mạnh mẽ.
Lincoln dùng bộ mặt hoàn toàn mới cùng hít thở vận mệnh chung với dân chúng, tự nhiên chiếm được ưu thế tuyệt đối về đạo nghĩa so với Douglas sặc mùi quý tộc và hùng hổ hăm dọa người.
Cuối cùng, Lincoln tự xưng là khó mà làm được Tổng thống thì đã làm Tổng thống, còn Douglas mang niềm tin tất thắng, khinh rẻ, không thèm quan tâm đến Lincoln thì đã thua cuộc.
12. Đôla thay thế súng đạn
Tháng 11 năm 1908, William Howard Taft người thuộc Đảng Cộng hòa được bầu làm Tổng thống Mỹ thứ 27. Khi đó, các nước Anh, Đức, Pháp là ba nước chủ yếu xuất khẩu tài chính tiền vốn, những người này có hàng loạt đầu tư ở nước ngoài thu được khoảng lợi nhuận lớn. Nước Mỹ là nước đế quốc mới nổi dậy, bức thiết cần vốn xuất khẩu.
Do đó, năm 1912 Taft chính thức lấy «ngoại giao đồng đôla» làm chính sách bành trướng đối ngoài của ông. Taft giải thích nói, «ngoại giao đồng vàng» chính là «lấy đồng Đôla thay thế súng đạn», mở rộng thương vụ đối ngoại của Mỹ, chính phủ Mỹ «Dốc toàn lực ủng hộ tất cả xí nghiệp hợp pháp và hữu ích của Mỹ kiều ở nước ngoài».
Ông còn tuyên bố, sự thâm nhập kinh tế của Mỹ là «một loại viện trợ đặc biệt và lực lượng ổn định» đối với các nước không phát triển.
Tư bản Mỹ vừa bắt đầu đã ùa vào châu Mỹ Latinh, đến năm 1913, tổng kim ngạch đầu tư ở đó của Mỹ đã đạt đến 12.000 tỷ USD.
Đến năm 1914, đầu tư của Mỹ ở Trung Quốc đạt đến 59,29 triệu USD. Chính là dưới khẩu hiệu viện trợ này, Mỹ đã tăng cường khống chế đối với những nước có quan hệ với Mỹ.
13. Lấy cúi lụy để cầu phát triển
Sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất kết thúc, nước Đức vì thua trận nên rơi vào cảnh khó khăn mặc người xâu xé.
Tháng 6 năm 1920, Stresemann nhận nhiệm vụ trước nguy nan, đứng ra nhận chức Chủ tịch Ủy ban Ngoại giao của Quốc hội, từ năm 1923 đến năm 1929 làm Bộ trưởng Ngoại giao, ở giữa chừng còn từng đảm nhiệm Thủ tướng. Đứng trước thời cuộc, ông tỉnh táo nhận thức được, nước Đức bị ràng buộc bởi «Hiệp ước Versailles» (Véc xây), không có khả năng dùng chính sách tranh giành cứng rắn đối với các nước thắng trận, trong mấy năm hoạt động ngoại giao dần dần hình thành mưu lược ngoại giao «dùng thế lực của một nước chống lại thế lực của một nước khác».
Phương châm cụ thể là, lợi dụng đầy đủ các mâu thuẫn giữa các cường quốc sau chiến tranh và giữa họ với Liên Xô, dùng cúi lụy để cầu phát triển, lấy thoái làm tiến, tìm được sự sinh tồn và phát triển trong việc cân bằng hai loại mâu thuẫn này, giành được lợi ích lớn nhất của nước Đức.
Khi đó Anh, Pháp đối lập gay gắt với Liên Xô là tình thế cơ bản của cục diện chính trị ở châu Âu, nước Đức quyết định lợi dụng mâu thuẫn này cắt đứt sư phụ thuộc đối với các cường quốc phương Tây.
Năm 1922, nước Đức ký kết với Liên Xô «Hiệp ước Rabaro» với mục đích xây dựng quan hệ hữu nghị bình đẳng, năm 1925 ký kết với Liên Xô «Hiệp định mậu dịch», năm sau lại ký «Hiệp ước hữu nghị trung lập Đức - Xô».
Anh và Pháp hết sức kinh sợ, phút chốc điều chỉnh chính sách đối với Đức, bức thiết hy vọng dùng địa vị bình đẳng làm cái mồi để lôi kéo nước Đức gia nhập Liên minh Quốc tế, ngăn chặn Đức – Xô nhích gần nhau. Stresemann lấy việc hữu nghị với Liên Xô để làm Anh, Pháp kinh sợ, vừa không ký kết liên minh với Liên Xô, cũng không làm đội đột kích của Pháp, việc mưu cầu là địa vị và lợi ích của mình.
Như thế, nước Đức không những gia nhập Liên minh Quốc tế, mà còn được hưởng địa vị nước thường trực Liên minh Quốc tế.
Stresemann còn lợi dụng sự bất đồng về chính sách đối với nước Đức của Anh – Mỹ với Pháp ép buộc Pháp tiếp nhận «kế hoạch Dawes» lấy việc nâng đỡ nước Đức phục hưng kinh tế làm hạt nhân do Mỹ đề ra. Kinh tế nước Đức đã thực hiện cất cánh với tốc độ nhanh, đã đặt nền móng vững chắc trở thành cường quốc quân sự sau này.
14. Lợi dụng thu thập con tem
Trong các Tổng thống Mỹ chỉ có Franklin D. Roosevelt (Tổng thống nhiệm kỳ thứ 32) thích chơi tem. Ông không những thích thu thập tem, mà còn đem việc thu thập tem làm thủ đoạn giành được nhiều phiếu bầu khi tranh cử tổng thống.
Danh vọng của Roosevelt trong giới thu thập tem rất cao, do đó đã giành được một lượng lớn phiếu bầu của những người thích chơi tem. Tem của ông chủ yếu bắt nguồn từ Quốc vụ viện của nước Mỹ.
Trong nhiều năm, phòng thu phát của Quốc vụ viện Mỹ theo thường lệ đem những con tem dán trên phong bì thư phân phát cho con cái của các nhân viên công tác tại Quốc vụ viện, về sau Roosevelt ra lệnh, tất cả thư tín gửi cho Quốc vụ viện cần phải đưa đến văn phòng của ông trước, để ông chọn lựa, ông sẽ chỉnh lý và phân loại.
Một lần, khi bộ tham mưu của ông mô phỏng cách đánh phản kích của Mỹ đối với Nhật Bản, nêu lên địa điểm phản kích tại quần đảo Solomon, một viên sĩ quan quay mô hình Quả đất lớn (địa cầu) đặt bên bàn làm việc của Roosevelt đến vị trí của quân đảo Solomon nói: «Thưa Tổng thống, xin báo cáo với Tổng thống về vị trí của quần đảo Solomon ở chỗ nào». «Không cần», Roosevelt trả lời. «Đừng quên tôi là một người thu thập tem».
15. Im hơi lặng tiếng
Tháng 5 năm 1940, Churchill ra nhận chức Thủ tướng nước Anh thời chiến, là một người thuộc phái cứng rắn nổi tiếng chủ trương khống chế Hitler xâm lược. Do sự dung túng và nhượng bộ của Thủ tướng Chamberlain đứng đầu phái hòa hoãn đối với Hitler, làm cho Hitler «được đàng chân lân đàng đầu», nước Pháp đã tan rã nhanh chóng.
Lúc này, dư luận xã hội của nước Anh tán thành Churchill đứng ra lập Nội các, nhưng đảng viên Đảng Bảo thủ không hoan nghênh Churchill, do vậy bản thân Churchill không thể để lộ tài năng cũng như không thể để lộ quá mức ý đồ ham muốn ngôi Thủ tướng của ông.
Churchill từng nhiều lần tuyên bố trước mọi người, trong thời kỳ chiến tranh ông muốn ra làm chính trị để phục vụ tổ quốc trong điều kiện bất kỳ ai đảm nhận thủ tướng.
Khi Thủ tướng Chamberlain tuyên bố trước các nhân vật tai to mặt lớn thuộc Đảng Bảo thủ, kiến nghị Halifax ra nhậm chức Thủ tướng mới thay ông ta từ chức, Churchill vẫn giữ im lặng. Mà dư luận xã hội lúc đó lại yêu cầu cấp bách Churchill ra nhậm chức Thủ tướng, Halifax biết rõ hướng của lòng dân, bày tỏ mình không thích hợp làm Thủ tướng. Quốc vương Anh buộc phải giao quyền cho Churchill tổ chức Chính phủ mới.
16. Ký kết hiến chương
Từ ngày 9-12 tháng 8 năm 1941, Tổng thống Mỹ Roosevelt và Thủ tướng Anh Churchill ngồi trên chiến hạm đã bí mật tiến hành gặp nhau bàn chiến sự lần thứ nhất trên mặt biển bán đảo Akinsa thuộc Newfoundland.
Nước Mỹ lúc đó còn chưa chính thức cuốn vào chiến tranh, đang tiến hành đàm phán bí mật với Nhật Bản, thì chiến tranh Xô – Đức đã xảy ra được hơn 1 tháng, không ai biết được Liên Xô rút cuộc có thể giữ vững được bao lâu.
Trong tình huống này, hai bên Anh – Mỹ đã ký kết «Hiến chương Đại Tây Dương nổi tiếng». Hiến chương này trình bày tôn chỉ hòa bình của hai nước, tuyên bố hai nước đều không có ý bành trướng lãnh thổ, tôn trọng quyền lợi của nhân dân các nước tự lựa chọn hình thức chính phủ của mình, và mong muốn nhìn thấy các dân tộc có chủ quyền và tự trị.
Khôi phục chủ quyền và tự trị của nó; hai nước hy vọng nhân dân các nước trên thế giới hữu nghị hợp tác, thực hiện tiêu chuẩn lãnh đạo và bảo đảm xã hội công bằng, được hưởng tự do, khỏi phải sợ hãi, khỏi phải thiếu thốn, và tự do vận chuyển trên biển, phản đối sử dụng vũ lực v.v...
Thoạt nhìn, hiến chương này hiện ra rất trừu tượng, không thực thi. Có người đã bình luận «Hiến chương Đại Tây Dương» là một con voi to, nó giống như một cái cây, giống như một bức tường, một sợi thừng, cứ như một người mù đang sờ vào từng bộ phận trên mình nó».
Cái mà Roosevelt lúc đó cần, chính là một thứ chính sách ảo khó nắm được, về sau sẽ có thể căn cứ sự thay đổi của tình hình và nhu cầu lợi ích của nước Mỹ, làm cho những nguyên tắc này cụ thể hóa hơn.
17. Lợi dụng cảnh tượng giả
Ngày 7 tháng 12 năm 1941, Nhật Bản bắt đầu tập kích bất thình lình Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) giành được thành công chưa từng có, chỉ có một hành động đã phá tan lực lượng hải quân của Mỹ trên Thái Bình Dương.
Hành động quân sự quy mô lớn như thế của Nhật Bản rất khó tránh khỏi con mắt của cơ quan tình báo Mỹ. Nhưng hàng loạt động tác giả trước trận đánh của Nhật Bản cũng đã làm được việc không sơ hở chút nào.
Một năm trước khi chuẩn bị chiến tranh Nhật Bản đã tiến hành đàm phán với Mỹ, người Mỹ còn cho là thực sự Nhật Bản không dám đánh nước Mỹ.
Để tạo nên cảnh tượng giả như hải quân Nhật Bản chưa rời hải phận Nhật Bản, Tư lệnh Hạm đội liên hợp Nhật Bản – Yamamoto yêu cầu bộ phận tình báo tung tin tình báo giả, tạo nên ấn tượng Nhật Bản đang chuẩn bị tiến hành chiến tranh với Liên Xô. Để làm được như thật có sự việc đó, Nhật Bản đã đem đội quân Quan Đông ở Đông Bắc Trung Quốc tăng từ 11 sư đoàn lên đến 29 sư đoàn.
Trước sau ngày 15 tháng 11, khi chiến hạm chở máy bay rời căn cứ huấn luyện cùng với các chiến hạm đi theo đến chỗ tập kết bí mật để làm cho việc thay đổi này không gây nên sự chú ý của gián điệp Mỹ, Yamamoto ra lệnh đưa mấy trăm chiếc máy bay tương tự vào đậu tại căn cứ huấn luyện, và vẫn bình thường giữ thông tin vô tuyến tới tấp giữa Bộ tư lệnh Hạm đội liên hợp với các căn cứ huấn luyện.
Không những thế, Yamamoto còn đặc biệt chú ý phái một chiếc tàu làm bia đến phía quần đảo Tây Nam, thu phát điện báo giả mô phỏng hoạt động của binh lính hàng không mẫu hạm. Lính hải quân ở lại trên biển của Nhật Bản và không quân đóng trên bờ của quần đảo Kyusyu cũng tiến hành hàng loạt thông tin vô tuyến giả, về tổng thể đã hình thành cảnh tượng giả khiến người ta thấy đúng là Hạm đội Nhật Bản chưa rời lãnh hải Nhật Bản.
Mấy ngày trước sự kiện Trân Châu Cảng, Chính phủ Nhật Bản đặc biệt tổ chức mấy trăm học viên của trường Hải quân đổi đai mũ mang dòng chữ «Hải quân đế quốc Đại Nhật Bản» và đi dạo chơi các khu phố Tokyo.
Liền ba ngày, những học viên này được phép hoạt động tự do, còn các tòa báo nhân cơ hội đã phái đi không ít tin tức, ám chỉ các thủy binh này là thuộc binh lính chủ lực Hạm đội liên hợp Nhật Bản. Lúc đó, sĩ quan Hải quân Mỹ đóng ở Nhật Bản tin tưởng cho là thật, báo cáo với cấp trên nói: Nhật Bản trong thời kỳ sắp tới không thể có hành động tập kích, bởi vì trong thành phố Tokyo có hàng ngàn hàng vạn binh lính và sĩ quan hải quân đang nhàn tản đi tìm thú vui.
Dưới sự che đậy của hàng loạt cảnh tượng giả, đội quân tập kích Trân Châu Cảng của Nhật Bản bắt đầu bí mật tập kết. Các chiến hạm rời khỏi cảng thời gian xen kẽ nhau, với đường chạy khác nhau, lặng lẽ chạy về đảo Takushukamaru vịnh Tankan ở phương Bắc hẻo lánh, giữa các chiến hạm thực hiện bí mật vô tuyến nghiêm ngặt.
Ngày 22 tháng 11 đã hoàn thành việc tập kết, ngày 26 tháng 11 trước tảng sáng theo giờ đã định tàu khởi hành. 7 giờ 40 phút ngày 7 tháng 12, lượt máy bay đầu tiên bắt đầu ném bom, quân Mỹ còn đang ngủ say, có sĩ quan trực ban còn cho là máy bay của mình đang diễn tập, kết quả Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ hầu như tất cả đều bị chìm nghỉm. Hai quân Nhật Bản phút chốc giành được quyền chủ động của chiến trường Thái Bình Dương, làm cho nó trở nên có ưu thế của Hải quân đối với việc cướp đoạt châu Á.
18. Lợi dụng mức độ nổi tiếng
De Gaulle do kiên trì cuộc đấu tranh chống phát xít, sau khi chiến tranh chống phát xít thắng lợi đã được nhậm chức Chủ tịch Chính phủ lâm thời Pháp, về sau lại được mời làm Thủ tướng và Tổng thống.
Eisenhower có thể thắng đối thủ tranh cử, ra nhậm chức Tổng thống nước Mỹ thuận lợi, một nhân tố quan trọng trong đó là trong thời kỳ Đại chiến thế giới lần thứ II, ông đã từng đảm nhận chức Tư lệnh tối cao Liên quân châu Âu, được đông đảo nhân dân Mỹ xem là anh hùng chống phát xít.
Còn Peron của Argentina trong cuộc tổng tuyển cử toàn quốc, ông sở dĩ có thể hạ bệ nguyên Tổng thống Farayl để mình thay thế cũng là do khi ông làm Bộ trưởng Bộ lao động đã áp dụng lập trường chống Mỹ và đủ mọi biện pháp làm tăng phúc lợi lao động, từ đó giành được sự ủng hộ của công nhân và các tầng lớp xã hội.
Về sau, những người nắm quyền Chính phủ đem ông bỏ tù, công nhân đã tổ chức một cuộc biểu tình thị uy quy mô lớn, buộc nhà cầm quyền phải thả ông.
Qua đó danh vọng của Peron ở Argentina đã đạt đến trình độ chưa từng có, cuối cùng chỉ sau mấy tháng, nhân dân đã đẩy ông lên ngôi Tổng thống. Mitsugi Takeo Nhật Bản ra nhậm chức Thủ tướng là dựa vào thanh danh «liêm khiết» của ông trong dân chúng.
Lúc đó, chính quyền Tanaka Kadoei vì bị chỉ trích là chính quyền tiền bạc nên bị đổ, ý dân trong xã hội nghiêng về sự «liêm khiết» của Mitsugi Takeo, nên có ấn tượng tốt. Thế là, ông ta đã dễ dàng giành quyền cao từ trong tay Tanaka Kadoei.
19. Cuộc tiến quân vào muối ăn
Gandhi được gọi là «Mahatma», trong cuộc đấu tranh lãnh đạo nhân dân Ấn Độ thoát khỏi chủ nghĩa thực dân Anh, ông đã sáng tạo một phương thức đặc biệt, tức triển khai phong trào phi bạo lực, bất hợp tác.
Gandhi cho rằng, Ấn Độ phải độc lập, nhưng các cuộc đấu tranh vũ trang dân tộc từ trước đến nay lại bị nước Anh đế quốc trấn áp tàn bạo.
Do vậy, ông chủ trương cuộc đấu tranh chống Anh chỉ có thể dùng phương thức đấu tranh hòa bình. Gọi là «phi bạo lực» tức là không dùng vũ lực. Nội dung «không hợp tác» bao gồm: Người Ấn Độ từ chối công chức và tước vị của bọn thực dân Anh ban tặng, không tham gia bất cứ cuộc mít tinh nào của chính phủ thực dân. Không tiếp nhận giáo dục của nước Anh, dẫn con cái từ các trường công lập về, tự lập ra các trường tư để thay thế. Không mua hàng của Anh, tự mình dệt vải lụa, sử dụng vào trong nước. Người Ấn Độ không gửi tiền vào «Ngân hàng Anh quốc», không mua công trái của nước Anh v.v...
Năm 1930, nhà đương cục thực dân Anh đã định ra «Luật chuyên doanh muối ăn», khống chế nghiêm ngặt việc sản xuất muối ăn, tùy tiện nâng cao giá muối ăn và thuế muối, gây nên bất mãn rất lớn của nhân dân Ấn Độ.
Tháng 3 năm đó, Gandhi hơn 60 tuổi, mình để trần đã dẫn dắt các tín đồ «phong trào phi bạo lực, bất hợp tác» của ông, đến một «Tu đạo viện» thuộc thành Ahmadabad phía Tây Bắc Ấn Độ, trước cửa viện nhìn về hướng biển lớn Tây Nam, giơ chiếc gậy trúc trong tay lên tuyên thệ: «Trừ phi nhà đương cục thực dân Anh sửa đổi Luật chuyên doanh muối ăn, Ấn Độ giành được tự do, bằng không thì, chúng ta quyết không về nơi đây nữa!».
Họ suốt ngày đêm lặn lội đường xa, trải qua muôn vàn gian khổ, đi bộ đến bờ biển, dùng nước biển để nấu muối. Mỗi khi đến một thôn trang, họ đều mở đại hội quần chúng, kêu gọi người dân trong thôn tham gia «phong trào phi bạo động bất hợp tác».
Nhiều nhà báo các nước bám theo để phỏng vấn, đem các ảnh chụp và tin tức phát khắp thế giới. Gandhi đã đi bộ liền 24 ngày mới đến được thôn trang Dandi bên bờ biển. Lúc này, đội ngũ đi theo ông đã có hàng ngàn người. Ngay đêm hôm đó hộ tuyệt thực để cầu nguyện.
Trưa ngày hôm sau, Gandhi liền dẫn nhiều tín đồ ra bờ biển tắm, sau đó bắt đầu dùng nước biển nấu muối. Họ không sợ gió thổi nắng thiêu, lưng mỏi chân đau, kiên trì suốt ba tuần lễ liền. Các tờ báo đã đưa tin rộng rãi cuộc «tiến quân vào muối ăn» của Gandhi, các miền duyên hải toàn Ấn Độ cũng đều triển khai phong trào tự chế muối ăn.
Đồng thời với việc này, thành phố và nông thôn các nơi khắp cả nước tiến hành biểu tình thị uy, bãi công, bãi khóa, một cuộc đấu tranh phát triển mạnh mẽ. Cuộc đấu tranh phi bạo lực, không hợp tác này của Gandhi, tuy gặp phải sự trấn áp của nhà đương cục thực dân Anh, nhưng cuộc đấu tranh nổ ra liên tiếp đã thức tỉnh dân chúng, cuối cùng đã buộc nhà đương cuộc thực dân Anh chuyển giao chính quyền một cách hòa bình vào tháng 6 năm 1947.
20. Luật «Chính phủ nhị nguyên»
Tháng 7 năm 1918, để duy trì sự thống trị thực dân đối với Ấn Độ, Chính phủ Anh đã đưa ra quyết định, ở Ấn Độ thực hành «Chính phủ nhị nguyên» trong một số tỉnh, nghĩa là: trong cơ quan chính phủ địa phương, một số bộ ngành hành chính không quan trọng lắm như: Y tế bảo vệ sức khỏe, Giáo dục quốc dân v.v... giao cho người Ấn Độ do Hội nghị lập pháp bầu ra đảm nhiệm chức bộ trưởng, còn các bộ quan trọng như Cảnh sát, Tư pháp, Tài chính vẫn do Tổng đốc tỉnh bổ nhiệm người Anh làm bộ trưởng, Hội nghị lập pháp các tỉnh thì hoàn toàn theo lệnh Tổng đốc tỉnh do người Anh đảm nhận.
Người Anh hy vọng dùng việc đó để lung lạc các nhân vật tầng lớp trên của Ấn Độ, tạo nên một ấn tượng trả chính quyền cho Ấn Độ, lấy việc đó để hòa hoãn mâu thuẫn với Ấn Độ, làm yếu phong trào giải phóng dân tộc đang ngày càng cao trong đất nước Ấn Độ.
Sự thật chứng tỏ phương thức thống trị kiểu «nhị nguyên» này quả thực đã gây được tác dụng nhất định.
21. Thả lỏng những việc không quan trọng
Năm 1924, Coolidge là người ứng cử Tổng thống của Đảng Cộng hòa, trúng cử Tổng thống Mỹ liên nhiệm. Triết học chính trị của ông là «Chính phủ ít quản những việc không quan trọng là chính phủ tốt nhất», ông theo đuổi «chủ nghĩa chính phủ nhỏ», ông tán tụng chính phủ Liên bang phải «quản lý theo tự nhiên» (vô vi nhi trị), sự việc quản càng ít càng tốt. Nếu như việc không thể không quản được thì chỉ có thể thông qua pháp lệnh với số lượng cố gắng ít mà tính linh động cố gắng nhiều, dành cho việc phục vụ xã hội ở giới hạn thấp nhất.
Ông cho rằng, nếu như đem quyền lực và sự nghiệp xã hội giao cho giới doanh nghiệp nhiều hơn thì có thể «quốc thái dân an, thiên hạ thái bình».
Vì vậy, ông còn tán tụng thuyết «tự trị địa phương» và «cá nhân trên hết». Ông nói: «Một xã hội sẽ có thể gặp nguy hiểm càng lớn, nếu như nó không phải là đem càng nhiều quyền lực lưu đến cho xã hội (cơ sở), để cho họ gánh vác trách nhiệm giải quyết mọi vấn đề. Nếu như đem quyền lực giao cho chính phủ trung ương, có nhiều vấn đề chính phủ trung ương có điều kiện tìm hiểu đầy đủ và có thể đảm nhận việc xử lý một cách thoải mái.
Tập tục địa phương của nước Mỹ rất mạnh mẽ như thế, chủng tộc và tín ngưỡng là phức tạp như thế, lực lượng của Chính phủ Liên bang trên thực tế lại là mỏng manh như thế, do đó biện pháp hữu hiệu có thể áp dụng là cực kỳ có hạn.
Do đó, cách làm sáng suốt nhất là gắng hết khả năng đem càng nhiều nhân lực, vật lực và tiền của chia nhỏ cho nhà đương cục địa phương, để họ gánh vác bớt trách nhiệm để tập trung giải quyết vấn đề của mình».
Đối với các xí nghiệp lớn, ông nhấn mạnh buông tay không quản là «nguyên tắc cơ bản nhất», Chính phủ Liên bang không nên dùng chính trị để tấn công kinh tế, nguy cơ kinh tế và tranh chấp thợ và chủ có thể do quy luật kinh tế và việc tự điều chỉnh của xí nghiệp giải quyết.
Ông bày tỏ chính phủ không nên phản đối các trust (tơ-rớt), bởi vì như thế sẽ trở thành một sự xâm phạm đối với tài sản cá nhân. Ông cổ vũ chính phủ Mỹ cần phải bớt thu thuế và giảm bớt chi tiêu, để tránh tổn hại tài sản của cá nhân.
Trong nhiệm kỳ ông đã phê chuẩn một số pháp lệnh khuyến khích tư nhân đầu tư đối với công nghiệp mới, trong đó bao gồm giảm thuế suất thuế lợi tức. Trong thời kỳ Coolidge chấp chính, kinh tế nước Mỹ đã phát triển nhanh chóng. Lịch sử gọi là sự «Phồn vinh Coolidge».
22. Chí công vô tư
Người lập công dựng nước, Tổng thống nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ – nước Cộng hòa của giai cấp tư sản đầu tiên khu vực Trung Đông là Kemal được nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ tôn xưng là Quốc phụ (Atatiirk).
Ông được hưởng sự tôn kính cao cả như thế trong nhân dân cả nước là có liên quan chặt chẽ với việc ông không dùng quyền để mưu việc riêng, là người chí công vô tư.
Kemal chấp chính 15 năm, không hề để lại kỷ lục lạm dụng quyền lực, làm theo cảm tình cá nhân trái pháp luật.
Ông rất chú ý những lời nói việc làm gây áp lực người thân và nhân viên của mình, rất khó chịu đối với ý đồ của vợ là Latifer can thiệp vào công việc chính trị của quốc gia, việc này đã trở thành nguyên nhân chủ yếu họ ly hôn nhau. Một thư ký làm việc bên cạnh ông cả thời gian dài chỉ vì nhận quà biếu mà bị cách chức.
Ông chán ghét việc a dua nịnh hót của những người xung quanh, có một lần khi đi thăm các địa phương, một vị thị trưởng chỉ biết nịnh hót chiêu đãi ông, Kemal cuối cùng không chịu nổi liền lớn tiếng quở trách nói: «Hãy nhìn lên mặt thánh Ala, ngồi xuống! Ông là một người đứng hầu, hay là thị trưởng của thành phố này?».
23. Tôn trọng ý dân
Tổng thống dựng nước Thổ Nhĩ Kỳ – Kemal trong thời gian chấp chính, mỗi khi có điều kiện và sức khỏe ông đều đi đến các nơi ở ngoài thủ đô để thị sát, tìm hiểu tình hình nhân dân. Ông nhấn mạnh mọi người phải nói thật lòng, phải báo cáo cả những điều vui, và cả những điều lo lắng.
Trong cuộc tuyển cử thị chính năm 1930, Đảng Phản đối, Đảng Tự do từng giành được một vài thắng lợi, thành viên của họ ở địa phương cá biệt có người thậm chí được bầu làm thị trưởng.
Không lâu Đảng Tự do giải tán, đối với những người lấy thân phận đảng viên Đảng Tự do trúng cử làm thế nào? Kemal khi thị sát tại một thành phố cảng ở Hắc Hải, thị trưởng thành phố này vốn là người Đảng Tự do không có mặt tại buổi đón tiếp.
Sau khi Kemal phát hiện ra liền cho mời ông ta đến, thẳng thắn và chân thành nói: «Ông là người do nhân dân chọn bầu ra, cần phải tiếp tục làm tốt chức thị trưởng của ông, không nên phụ lòng tín nhiệm của nhân dân!».
24. Lợi dụng phu nhân
Roosevelt trước khi nhậm chức tổng thống, tháng 5 năm 1933, đã từng xảy ra một sự kiện 2,5 vạn quân nhân đưa thỉnh nguyện đòi cải thiện đãi ngộ sinh hoạt, Tổng thống đương thời Herbert C. Hoover đã phái quân đội đi trấn áp tàn khốc.

Sau khi Roosevelt chấp chính, Washington lại xuất hiện đoàn thỉnh nguyện của quân nhân giải ngũ, họ quyết tâm không đạt được mục đích không thôi, thậm chí đòi trả nợ máu.
Roosevelt phái trợ thủ của mình là Louis House cùng đi với phu nhân Tổng thống là Eleanor đến thăm nơi trú quân của các quân nhân giải ngũ.
Eleanor một mình xuống xe, trong nước bùn đến mắt cá chân bà đi tới chỗ những người quân nhân giải ngũ. Các quân nhân giai ngũ rất cảm động, vội vàng cử hai người đến dìu Tổng thống phu nhân lại.
Eleanor lắng nghe yêu cầu của họ, thăm hỏi nỗi đau khổ của họ, còn cùng ca hát với họ. Thế là một vấn đề vô cũng bó tay đã giải quyết một cách thuận lợi.
Roosevelt vừa thay đổi cách làm theo thói quen, đã cảm hóa quân nhân giải ngũ, làm cho sự kiện lắng hẳn xuống.
25. Lợi dụng nhà báo
Năm 1933, Roosevelt nhậm chức Tổng thống Mỹ, ông lên nắm chính quyền vừa lúc gặp ngay nguy cơ suy thoái kinh tế lớn của Mỹ, tâm trạng dân chúng ảm đạm cần phải khích lệ động viên.
Ông lợi dụng tối đa công cụ tuyên truyền, ngoài việc định kỳ thông qua phát thanh, vào các buổi «Nói chuyện bên lò sưởi» cho mọi người cảm giác thân thiết, ông còn giữ quan hệ tốt với giới báo chí, tận dụng mọi khả năng làm ảnh hưởng dư luận, để giới báo chí phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu chính trị của mình.
Trong buổi chiêu đãi các nhà báo, ông dùng cách nói đùa dí dỏm và gọi thẳng tên từng người với thái độ bình dị gần gũi nhằm truyền cảm mạnh mẽ đến họ. Do đó nhà báo rất vui vẻ với những trận cười vang lên trong buổi tiệc.
Roosevelt không những dành cho nhà báo thu tập tin tức thuận tiện, ông còn thông qua việc xây dựng quan hệ tốt với nhà báo, giành được sự đồng tình và ủng hộ của họ, từ đó thông qua nhà báo để hướng dẫn dư luận tốt hơn, từ đó giành được lòng người ủng hộ và yêu mến chính phủ.
26. Nói chuyện bên lò sưởi
Con đường hữu hiệu nối thông với nhân dân cả nước của Roosevelt khi đang trị vì chính là buổi phát thanh «Nói chuyện bên lò sưởi» của ông.
Tiết mục nói chuyện khác với bình thường này, trước tiên là do giám đốc cơ quan đại diện của Công ty phát thanh Columbia tại Washington là Beacher buột miệng nói ra.
Lúc đó, ba công ty Phát thanh lớn của nước Mỹ lắp đặt thiết bị phát âm ở ngay trước lò sưởi trên tường trong phòng tiếp khách nước ngoài ở Nhà trắng, Roosevelt nói với các nhân viên làm việc ở bộ phận này, rằng ông mong muốn các bài nói thân thiết hơn một chút, sẽ giống như những chuyện thường trong nhà và với hàng xóm. Trước khi diễn thuyết không cần xen vào những lời phô trương kiểu cách. Becher liền nói, thế thì gọi là «nói chuyện bên lò sưởi» là được. Roosevelt gật đầu tỏ vẻ vừa ý, từ đó trở thành tên gọi chính thức.
«Nói chuyện bên lò sưởi» của Roosevelt khác thường vừa không thuyết giáo khô cứng, cũng không thanh minh biện bạch, nó giống như ngồi kề nhau tâm sự với bạn thân. Những lời nói năng có duyên dễ nghe đó của ông làm cho trong lòng người nghe dấy lên niềm tin, dần dần loại bỏ được tâm tư tình cảm xa lạ, làm nguồn động viên tư tưởng hiệu quả rất tốt cho việc nước Mỹ tham chiến sau này.
27. Dùng nhân tài vượt khung
Trước Đại chiến thế giới lần thứ II, chế độ dùng người của quân đội Mỹ rất chú trọng lai lịch, hiện tượng căn cứ vào lai lịch để xếp cấp bậc rất nghiêm trọng.
Lúc đó, tuổi trung bình của thượng úy đạt tới 43 tuổi, còn có trung úy 47 tuổi.
Do lai lịch là căn cứ duy nhất để thăng chức đã kìm hãm hàng loạt sĩ quan trẻ có tài, khiến cho tinh thần binh lính không phấn khởi. Đứng trước nguy cơ chiến tranh, Chính phủ Mỹ quyết tâm cải cách chế độ thăng chức bất hợp lý đó của quân đội, đề chỉnh đốn đội ngũ sĩ quan.
Tổng thống Roosevelt đã phá khung dùng Chuẩn tướng Lục quân Marshall có tinh thần cải cách đảm nhiệm Tổng tham mưu trưởng quân đội Mỹ.
Việc đầu tiên sau khi Marshall lên nhậm chức là thực hành chế độ sĩ quan mới, áp dụng các biện pháp quyết đoán, loại bỏ chế độ cũ lấy lai lịch làm tiêu chuẩn dùng người. Thông qua chế độ dùng người mới, một lần đã phá khung đề bạt 4.088 sĩ quan trẻ, trong đó có Eisenhower, Clark và Paton sau này trở thành những tướng lĩnh nổi tiếng.
Eisenhower chỉ trong thời gian 4 năm, đã từ một Thiếu tướng tham mưu, trở thành Thượng tướng 5 sao thuộc quân hàm cao nhất của quân đội Mỹ, thống soái 3 triệu quân Mỹ.
Paton là Tư lệnh quân Mỹ một mình đảm đương một chiến trường tác chiến tại châu Phi, làm cho quân Đức nghe tiếng đã khiếp đảm, cả đến danh tướng quân Đức là Rommel có tên gọi là «con cáo sa mạc» cũng bị thua trận dưới tay của ông ta.
Chiến tích vẻ vang của những người này, đều phản ánh sự tài giỏi về việc dùng người của Marshall. Do chiến công nổi bật của Marshall, năm 1943 Quốc hội Mỹ dự định phong cho ông ta quân hàm cao nhất trước nay chưa từng có trong lịch sử nước Mỹ – Nguyên soái Lục quân, nhưng Marshall không đồng ý. Để tỏ lòng kính trọng đối với công lao và nhân cách của Marshall, từ đó quân Mỹ không đặt ra quân hàm nguyên soái nữa.
28. Trước lục địa, sau hải dương
Sau khi bọn phát xít Đức lên cầm quyền, đã định ra một kế hoạch xưng bá thế giới «Trước lục địa, sau hải dương» to lớn.
Nhưng nước Đức nằm trong vòng vây của mấy nước lớn xung quanh, nó cần phải đánh phá từng mảnh, tránh đi theo vết xe đổ của việc đánh trận tuyến phía Tây Đại chiến thế giới lần thứ I.
Hitler có giác quan chính trị hết sức nhạy cảm đã xảo quyệt lợi dụng tâm lý sợ Cộng sản chống Liên Xô của những người thống trị Anh và mưu đồ dẫn tai họa về phía Đông. Vừa lên nắm quyền liên giương lên ngọn cờ «chống Cộng sản, chống Liên Xô» đã thành công thi thố trò lừa bịp «giương đông kích tây».
Hitler nói: «Tôi ắt phải cùng đọ sức với chủ nghĩa tư bản, mượn bóng ma của chủ nghĩa Bônsơvích để ngăn cản thế lực của hệ thống Versailles, làm cho họ tin rằng nước Đức đích thực là dinh lũy cuối cùng phòng ngừa «tai họa đỏ». Đây là biện pháp duy nhất vượt qua giai đoạn khẩn cấp, tiêu diệt hệ thống Versailles và chỉnh đốn lại quân đội».
Việc «giương đông» của Hitler là để che chở cho việc «kích tây».
Thực ra, sức chú ý chủ yếu của phát xít Đức trước tiên đặt tại Tây Âu. Nó chỉ chiếm lĩnh được Tây Âu, dựa vào thực lực kinh tế, tài nguyên và địa vị chiến lược có lợi của Tây Âu mới có thể đặt nền móng cho việc bành trướng sang phía Đông và bành trường ra hải ngoại.
Hitler mỗi khi áp dụng một biện pháp tăng cường quân đội chuẩn bị chiến tranh, mỗi khi xé đi một trang «Hòa ước Versailles» đều phải kêu to lên một hồi đối phó «uy hiếp của chủ nghĩa Bônsơvích», tìm mọi cách dẫn sự chú ý của các nước phương Tây ra khỏi bản thân mình. Trò hề này của Hitler rất «linh nghiệm» trong các nước phương Tây.
Họ xem bọn phát xít là lực lượng đột kích trấn áp cách mạng châu Âu và tấn công Liên Xô, không những khoan nhượng hành vi xâm lược của Hitler, mà còn không ngừng cho nước Đục vay tiền, vũ khí và tài nguyên, khao thưởng đối với việc chống Cộng sản của Hitler.
Biện pháp «dùng bánh bao nhân thịt đánh bả chó» của các nước phương Tây, làm cho bọn phát xít càng nuôi càng khỏe, cuối cùng, sau khi Hitler có «binh tinh lương đủ», trước tiên đã đánh thốc vào các nước phương Tây.
29. Khiêm tốn tiếp nhận can gián
Roosevelt là một nhà chính trị hiện thực sáng suốt, đối với những kiến nghị của người dưới quyền trinh bày với ông, mặc dù mới đầu không lý giải, có bất đồng, nhưng chỉ cần phù hợp lợi ích quốc gia, có luận chứng khoa học, ông đều có thể tiếp nhận.
Ngày 1 tháng 9 năm 1939, Marshall nhậm chức Tổng mưu trưởng Lục quân, quân đội Mỹ, đứng trước sự ngạo mạn quá trớn của Hitler, Marshall cảm thấy sâu sắc sự bạc nhược của quân lực Mỹ. Ông đưa ra một kế hoạch tăng cường quân bị tốn gần 700 triệu USD, nhưng không được mọi người ủng hộ.
Thế làm, ông cùng với Bộ trưởng Tài chính Morgenthu đi đến Nhà trắng, thỉnh cầu Roosevelt để được trao quyền cần thiết hoặc phê chuẩn đối với kế hoạch tăng cường quân bị này.
Tổng thống mới đầu cảm thấy Marshall có ý nghĩ viển vông, trong tình huống chủ nghĩa cô lập thịnh hành là mọi người ghét chiến tranh, tiến hành tăng cường quân bị, Quốc hội không thể phê chuẩn.
Marshall với lời lẽ bình tĩnh, đã trình bày tình hình quốc tế và chỗ thiếu sót của thủ đoạn bảo vệ an toàn quốc gia của Mỹ. Ông nói đến chiến tranh châu Âu và sự uy hiếp của Nhật Bản.
Ông chỉ ra một cách rõ ràng và cụ thể tình trạng kém cỏi về các mặt binh lính, vũ khí, trang bị và tinh thần binh sĩ của quân đội Mỹ. Marshall càng nói càng kích động, hết sức thuyết phục Tổng thống nên có hành động ngay.
Cuối cùng ông nói: «Nếu như Tổng thống không lập tức dùng hành động, tôi rất khó tưởng tượng, đất nước này sắp tới sẽ có thể gặp tai họa ra sao».
Tổng thống gật gật đầu, tỏ ý cuộc gặp đến đây kết thúc, và nói: «Cám ơn ông, Tướng quân».
Khi Marshall bước ra khỏi cửa, Roosevelt lại cất cao giọng nói: «Đúng rồi, Tướng quân, ngày mai ông lại đến gặp tôi, đem tất cả những thứ ông cần ghi ra một tờ giấy cho tôi».
Hai ngày sau, Roosevelt đem kế hoạch của Marshall đệ trình lên Quốc hội, ông yêu cầu rút ra một khoản 900 triệu USD cho mục đích này.
30. Khoan dung đại lượng
Ngày 11 tháng 5 năm 1940, giữa lúc nước Pháp bị Hitler tập kích chớp nhoáng, đất nước lâm nguy, Liên quân Anh – Pháp luống cuống chạy tan tác, Churchill trong lâm nguy nhận lệnh tổ chức Nội các thời chiến. Trong 5 thành viên Bộ trưởng của Nội các thời chiến, có 2 vị là người thuộc Công đảng. Giữa Công đảng và Đảng Bảo thủ của Churchill luôn luôn mâu thuẫn kịch liệt, bản thân Churchill cũng rất phản đối nhưng cương lĩnh chính sách có màu sắc chủ nghĩa xã hội nhất định của Công đảng, cộng thêm Công đảng lại là đối thủ chính trị của Đảng Bảo thủ, do đó hai bên thường xuyên công kích, trách cứ lẫn nhau trong Nghị viện.
Song kẻ thù lớn đang ở trước mắt, Churchill cảm thấy cần phải bỏ bớt mối hiềm nghi trước, tăng cường hợp tác với Công đảng, đặc biệt là sự hợp tác của Nội các 5 người thời chiến tốt hay xấu có quan hệ đến việc tồn vong của quốc gia.
Đúng như ông đã nói: «Nếu như chúng ta không thể đánh thắng cuộc chiến tranh này, người cần phải được đưa đến núi Tower (núi Tower là nơi nước Anh thời trung thế kỷ giam cầm các tử tù) chém đầu, sẽ chỉ có thể là 5 người này».
Để đoàn kết chống kẻ thù, Churchill đã để cho lãnh tụ Công đảng Attlee đảm nhận chức Đại thần giữ ấn vua có trách nhiệm quan trọng trong Nội các thời chiến.
Ngoài ra, một đối thủ chính trị khác của Đảng Bảo thủ, trong Đảng Tự do cũng có một loạt người được vào trong Nội các. Đối với một số nhân vật quan trọng trong chính phủ nước của Đảng Bảo thủ, Churchill cũng không dựa vào ân oán cá nhân để quyết định thân sơ.
Trong chính giới và công chúng lúc đó, có rất nhiều người yêu cầu trừng phạt đối với những người theo chính sách thỏa hiệp cầu an trong Nội các trước, những người này khi chấp chính cũng đã từng làm đối với bản thân Churchill.
Song, việc Churchill sau khi lên nắm quyền nghĩ đến không phải là báo thù. Ông nói với mọi người: «Nếu như muốn lấy hiện tại xét xử quá khứ, thì sẽ có thể đánh mất tương lai».
Ông yêu cầu mọi người xuất phát từ cục diện lớn, tất cả phục tùng lợi ích của nước Anh, lấy lợi ích của cuộc đấu tranh chống phát xít làm trọng, đoàn kết tất cả mọi người có thể đoàn kết.
Có thể nói, nước Anh sau này đứng được ở chỗ không bị thua trong cuộc đọ sức với Hitler, trên chừng mực rất lớn nên quy công cho Churchill, một người có lòng khoan dung đại lượng.
31. Khéo ví dụ
Cuối năm 1940, nước Anh anh dũng chống lại cuộc xâm lược của nước Đức phát xít, nước Mỹ đáp ứng cho nước Anh bằng viện trợ quân sự khổng lồ, nhưng lúc đó nước Anh đã không có khả năng tài chính «mua bằng tiền mặt».
Churchill lại một lần nữa gửi điện cho Roosevelt nhấn mạnh khó khăn kinh tế của nước Anh. Ông nói: «Tôi không tin rằng Chính phủ và nhân dân Mỹ cho rằng, đem súng đạn và hàng hóa khảng khái đáp ứng viện trợ chúng tôi chỉ hạn chế trong việc cần phải thanh toán ngay mới có thể cung ứng là phù hợp với nguyên tắc chỉ đạo hành động của họ... ».
Chính các bức điện báo dài đến hàng vạn chữ này đưa đến chỗ Roosevelt hạ quyết tâm, sau khi thảo luận thương lượng thời gian dài với Bộ Tài chính. Quốc vụ viện và các bên có liên quan của nước Mỹ mới đưa ra «pháp lệnh cho thuê» nổi tiếng.
Ngày 17 tháng 12 năm 1940, trong buổi chiêu đãi các nhà báo, Roosevelt dùng ví dụ thông tục để thuyết minh ý tưởng của ông. Ông nói: «Giá như hàng xóm của tôi cháy nhà, ở ngoài bốn năm trăm thước Anh (1 ft = 30,48 cm) tôi có một đoạn dây ống nước tưới vườn hoa, nếu như để cho người hàng xóm lấy để nối vào vòi nước, tôi có thể giúp ông ta dập tắt lửa. Tôi làm như thế nào? Tôi vẫn không thể trước khi cứu hỏa đã nói với anh ta: «Ông bạn này, cái ống nước này tôi phải mua 15 USD, ông phải trả tiền theo giá». Vậy tôi nên làm như thế nào đây? Tôi không cần 15 USD, tôi cần ông ta sau khi dập tắt lửa, trả lại tôi đoạn ống nước, chính là như thế. Nếu như lửa dập tắt, ống nước vẫn tốt, không hư hỏng, thế thì ông ta sẽ có thể cám ơn lia lịa, trả lại vật nguyên xi. Nhưng, giả thiết lắp ráp bị làm hỏng - làm thủng một số lỗ, chúng ta cũng không cần nói khách sáo, sẽ nói với ông ta: «Tôi rất vui cung cấp cho ông đoạn ống nước này, bây giờ nó bị làm hỏng, không thể dùng lại». Ông ta nói: «Tất cả bao nhiêu thước Anh». Tôi nói với ông ta: «Một trăm năm mươi thước Anh». Ông ta nói: «Được, tôi sẽ theo đó để đền không sai chút nào». Bây giờ tôi cầm về làm một đoạn ống nước tưới vườn có thể dùng, tôi sẽ không bị thiệt ».
Tiếp đó, Roosevelt quay về chuyện chính: «Nói cách khác, nếu như bạn cho mượn một lượng vũ khí nhất định, sau chiến tranh được trả lại, nếu như súng đạn hoàn hảo như trước, không có hư hỏng, bạn sẽ không thiệt; nếu như chúng bị hư hỏng, hoặc cũ kỹ, hoặc thẳng thắn là bị mất mát, chỉ cần người mượn nhận bồi thường, theo tôi xét thì bạn sẽ không thiệt».
Những lời nói rõ ràng dễ hiểu này của Roosevelt, làm cho mọi người ngồi xung quanh kinh ngạc.
Ngày 8 tháng 3 năm 1941, Thượng viện với 60 phiếu/31 phiếu, Hạ viện với 317 phiếu/71 phiếu lần lượt thông qua «Pháp lệnh cho thuê». Churchill cuối cùng đã thở phào nhẹ nhõm.
32. Giáng trả khéo léo
Ngày 21 tháng 5 năm 1941, chiếc tàu vận tải Robin Moor của Mỹ trên đường đi từ New York đến Cape Town bị tàu ngầm Đức bắn chìm.
Sự kiện này xảy ra không bao lâu, Bộ trưởng Hải quân Mỹ Knox nhân cơ hội đưa ra chủ trương Hải quân Mỹ hộ tống. Phái cô lập trong Quốc hội lập tức đưa ra phản ứng mạnh mẽ. Họ chỉ trích nói, hộ tống chính là tuyên chiến, sẽ dẫn đến chiến tranh toàn diện với nước Đức. Phái cô lập Fishe thậm chí muốn vạch tội Knox, hai bên đấu tranh rất kịch liệt.
Đúng lúc hai bên đang đấu tranh giằng co, ngày 4 tháng 9 năm 1941, tàu ngầm Đức bắn chìm tàu khu trục Green của nước Anh, Roosevelt cho rằng đây là thời cơ tốt giáng trả phái cô lập.
Ngày thứ hai sau khi sự kiện xảy ra, Roosevelt tiến hành một cuộc họp báo. Ông nói: «Nếu như không để ý tới lần tấn công này thì giống như một người làm cha, con cái của ông ta trên đường đi học bị bọn côn đồ nấp trong lùm cây bắn, mặc dù không bắn trúng, ông ta cũng không thể không nghe không hỏi được, ông ta cần phải đi tìm kiếm trong các lùm cây, tóm bắt những tên côn đồ, tiêu diệt chúng».
Ngày 11 tháng 9, Roosevelt ra lệnh cho quân hạm Mỹ «hễ nhìn thấy là đánh» đối với quân hạm của Đức. Ông lại dùng ví dụ nói: «Khi rắn đuôi kêu làm ra bộ muốn cắn bạn, thì không thể đợi nó cắn rồi bạn mới giẫm chết nó».
Hai ngày sau, ông lại ra lệnh tiến hành hộ tống toàn diện đối với tàu thuyền Mỹ trên tuyến hàng hải từ Bắc Mỹ đến Iceland.
33. Sút cú bóng cuối cùng
Trong Đại chiến thế giới II, Tổng thống Roosevelt đã định ra cho nước Mỹ một nguyên tắc chiến lược: Để cho Liên Xô và nước Anh kéo chặt Hitler ở châu Âu, để cho Trung Quốc kéo chặt Nhật Bản ở châu Á, khi hai bên đều sức cùng lực kiệt, nước Mỹ sẽ bước vào cuộc.
Tháng 1 năm 1943, trong lúc nói chuyện với con trai ông, Roosevelt đã đem ý đồ của nước Mỹ bày tỏ ra rất rõ ràng. Ông nói: «Trước mắt chúng ta biết được chỉ có hai điểm, người Trung Quốc đang giết người Nhật Bản còn người Nga đang giết người Đức. Việc trang bị và năng lực của Hải Lục quân của chúng ta còn chưa đầy đủ và trước khi giúp đỡ họ, chúng ta cần phải làm cho họ có thể tiếp tục nhiệm vụ trước mắt này. Cho nên, ta có thể tìm cách tặng cho họ số vật chất gấp hàng trăm hàng ngàn lần trước kia họ nhận được từ chúng ta... Còn có thể xem nó (chiến tranh) là một trận bóng đá kiểu Anh, chúng ta sẽ giống như đội dự bị, trước tiên hãy ngồi trên ghế xem người ta... Khi trận bóng tiến hành đến lúc đội viên tiên phong của chúng ta sắp mệt lử, chúng ta sẽ nên sút cú bóng cuối cùng, để quyết định thắng lợi toàn cuộc».
34. Người gần gũi không có nhu cầu
Roosevelt có cảm tình rất sâu sắc với Hopkins, trợ lý Tổng thống của ông. Hopkins là người tin cẩn của Roosevelt, người ta gọi là «Quốc vụ khanh siêu cấp». Ông ta thường đem sứ mệnh quan trọng của Roosevelt đi thăm Liên Xô và nước Anh, theo Roosevelt tham gia hội nghị quốc tế.
Mặc dù không có quan hàm chính thức, nhưng quyền thế của ông ta chỉ sau Roosevelt, trở thành nhân vật khét tiếng của Nhà Trắng, ngay cả Stalin, Churchill đều tiếp đãi ông giống như đón nguyên thủ quốc gia.
Có người hỏi Roosevelt: «Vì sao Ngài cần để Hopkins gần gũi Ngài như thế?». Roosevelt trả lời nói: «Nếu có ngày bạn trở thành Tổng thống Mỹ, bạn có thể hiểu rõ làm Tổng thống là một nghề cô đọc biết mấy, hầu như mỗi một người bước vào cửa đều có yêu cầu đối với bạn.
Do vậy, bạn sẽ có thể cảm thấy, bạn là người cần đến một người như Hopkins biết bao, ông ta ngoài việc hiến công hiến sức cho bạn, không có bất cứ nhu cầu nào khác».
Chương sáu (tt)
35. Dùng người thích đáng
Hopkins là người tin cẩn, nhân vật hạt nhân của nhóm chuyên gia cố vấn, nhân vật «Quốc vụ khanh siêu cấp». Ông thường mang theo sứ mệnh quan trọng của Roosevelt đi thăm Liên Xô và nước Anh, theo Roosevelt tham gia hội nghị quốc tế.
Ông mặc dù không có hàm quan chính thức, nhưng quyền thế của ông chỉ đứng sau Roosevelt, đây cũng là một đặc điểm lớn của Roosevelt trong thuật dùng người.
Roosevelt muốn do mình trực tiếp nắm quyền ngoại giao, đã đem Hopkins và một số người lập thành một «bộ ngoại giao tư nhân», có thể triển khai hoạt động ngoại giao theo ý riêng mình.
Ngày 22 tháng 6 năm 1941, nước Đức phát động tấn công bất ngờ đối với Liên Xô, Roosevelt có ý liên doanh Liên Xô và nước Anh chống phát xít, nhưng lại không biết Liên Xô có thể chống lại cuộc tấn công của bọn phát xít được hay không, phải chăng có thể như người Đức nói: Liên Xô giống như một cánh cửa vỡ, vừa đạp đã đổ.
Do đó, Roosevelt liền cử Hopkins bí mật đến Liên Xô đưa cho «thượng phương bảo kiếm». Ông ta yêu cầu Stalin tín nhiệm Hopkins giống như tín nhiệm bản thân ông.
Hopkins lưu lại 3 ngày ở Liên Xô, hội kiến hai lần với Stalin, đã tiến hành hội đàm 7 tiếng đồng hồ. Khi bàn đến vấn đề cung ứng, Stalin nói rất cần pháo cao xạ, máy bay ném bom, xăng máy bay, nhất là rất cần nhôm chế tạo máy bay.
Việc đó khiến cho Hopkins cảm thấy được quyết tâm chống bọn Quốc xã của Stalin rất lớn, mà còn tràn ngập niềm tin. Ông báo cáo lại ngay với Roosevelt, đã nói ý kiến của mình, làm cho các nước phương Tây như Anh, Mỹ tăng cường mạnh mẽ lòng tin đối với Liên Xô, từ đó quyết định ra sức viện trợ Liên Xô.
36. Giữ một khoảng cách
De Gaulle cho rằng, làm một người nguyên thủ trong công việc và đời sống hàng ngày, cần phải giữ một khoảng cách nhất định với đồng nghiệp và cấp dưới của họ, làm cho những người đồng nghiệp và cấp dưới không có cách nào quen thuộc, gần gũi bản thân người nguyên thủ được, từ đó tự nhiên hình thành một hình tượng tâm lý nhân vật nguyên thủ cao hơn những người khác.
De Gaulle cho rằng, để làm được điều này, người nguyên thủ cần phải mang theo một cảm giác thần bí nào đó.
Ông nói: «Không có cảm giác thần bí thì không thể nói đến uy vọng, bởi vì đối với mọi người quá quen thuộc thì không thể sinh ra sự tôn kính. Tất cả mọi tôn giáo đều có bàn thờ, còn bất cứ ai trong con mắt người phục vụ bên cạnh họ đều không phải là một anh hùng. Do vậy, bất kể là vận trù quy hoạch hay là cử chỉ và xử lý mọi việc, đều cần có một số cái khiến người khác suy đoán không ra, khiến họ cảm thấy mê hoặc, kích động và gây nên sự hiếu kỳ tò mò của họ».
«Cảm giác thần bí» này của De Gaulle trên thực tế là ảnh hưởng còn rớt lại của phương pháp «thần thánh hóa nguyên thủ» và «sùng bái cá nhân» của rất nhiều nhân vật nguyên thủ đã từng dùng từ trước trong mấy ngàn năm trở lại đây.
37. Thực hành thuật cân bằng
Metternich đã từng nhận chức ngoại giao đại thần và Thủ tướng Áo trong 40 năm là một đại sứ ngoại giao về thế thăng bằng nổi tiếng.
Ông dựa vào sức phán đoán nhạy bén và tài ngoại giao xuất chúng của mình, dùng thủ đoạn ngoại giao đa biến đa bắt nối làm quen khéo léo giữa các nước lớn, chia rẽ lôi kéo, ra sức giữ «cân bằng thực lực» ở châu Âu, từ đó bảo vệ được lợi ích an toàn của nước Áo.
Năm 1809, nước Áo là nước thành viên chủ yếu của Liên minh chống Pháp bị nước Pháp đánh bại, phạt cắt đất bồi thường, thậm chí có nguy cơ mất nước.
Metternich một mặt dùng biện pháp liên hôn Hoàng gia để điều hòa quan hệ với nước Pháp, ông tự mình chắp mối se duyên cho cuộc hôn nhân của Marie Louise, công chúa nước Áo với Napoléon, từ đó đã hòa hoãn được tình thế nguy cấp của quốc gia.
Mặt khác, ông lại ngầm liên hệ với nước Nga Sa hoàng, một nước lớn ở phương Đông. Ông nhìn thấy nước Pháp và nước Nga Sa hoàng có xung đột lợi hại, liền áp dụng thủ đoạn hai mặt thúc đẩy cuộc tranh đấu Pháp – Nga, một mặt nói dối tích cực ủng hộ nước Pháp, cử ra hơn 3 vạn quân Áo; một mặt lại bí mật bảo đảm với nước Nga «cố gắng ủng hộ ít nhất cho nước Pháp, cố gắng tiến quân sang nước Nga ít nhất và phải cố hết khả năng tạo nên tổn hại ít nhất».
Như thế, nước Áo lấy lòng cả hai bên, tránh được sự xâm hại đến từ hai bên Pháp và Nga.
Năm 1812, Napoléon đi đánh Nga bị thất bại, nước Pháp đã suy yếu ghê gớm. Trong sự so sánh mạnh yếu của lực lượng quốc tế mới, Metternich lai bày ra kế mới.
Metternich cho rằng nước Pháp đã ngã một keo không dậy được nữa, nếu làm suy yếu nước Pháp sẽ có thể phá hoại cân bằng thực lực của đại lục và sẽ mở đường cho nước Nga xây dựng bá quyền.
Ông cho rằng thực lực của nước Pháp cần phải giữ trong giới hạn vừa có thể chống chọi được nước Nga, lại không dẫn đến hình thành uy hiếp quá lớn đối với nước Áo.
Để đạt được mục đích này lai không mắc lỗi với nước Anh và nước Nga, Metternich giả vờ nói là trung lập, đồng thời đi đến thỏa thuận mặc cả hậu trường với các nước Liên minh chống Pháp; do ông ta làm người điều đình giữa nước Pháp với Liên minh chống Pháp, tranh thủ đi đến thỏa hiệp; nếu như điều đình thất bại, nước Áo sẽ gia nhập Liên minh chống Pháp lần thứ 6.
Ngày 22 tháng 6 năm 1813, Metternich đích thân đến Paris, hết sức khuyên Napoléon thỏa hiệp, nhưng không thành công.
Thế là, nước Áo đã tham gia Liên minh chống Pháp, nhưng trong hàng loạt hoạt động quân sự về sau, nước Áo thật ra không đưa ra được cống hiến quan trọng nào.
Sau khi nước Pháp chiến bại, lực lượng của nước Nga và Preussen (nước Phổ) bắt đầu bành trướng, Metternich lôi kéo Anh, Pháp ký kết Đồng minh bí mật ba nước vào tháng 1 năm 1815, Nga và Phổ không thể không có chỗ thu lại bớt. Nhưng liên hợp Anh, Pháp đối kháng với Nga, Phổ cũng chỉ là kẻ quyền biến của Metternich.
Tháng 9 năm 1815, phong trào dân tộc châu Âu lên cao, Metternich lại dựng lên «Liên minh thần thánh» với Nga và Phổ, cùng chung trấn áp bão táp cách mạng chống lại chuyên chế phong kiến châu Âu. Trong nội bộ Liên minh, Metternich lo lắng sự bành trướng thế lực của Nga, lại trước sau lôi kéo nước Anh và nước Pháp vào Đồng minh. Nước Áo nhất thời đã trở thành trung tâm chính trị của xã hội châu Âu, dấn mình vào trong các nước mạnh châu Âu.
38. Biện chứng âm dương, dùng cả hai tay
Phép biện chứng là bản sắc vốn có của nền văn minh Trung Hoa, nó cũng thể hiện trong việc quản lý quốc gia và quản lý nhân sự. «Kinh Dịch» đã tràn đầy tư tưởng biện chứng âm dương. Cho đến ngày nay đọc lại vẫn lóe lên ánh sáng của trí tuệ.
Phép biện chứng vận dụng vào trong các lĩnh vực khác nhau, mỗi lĩnh vực đều có hình thức biểu hiện khác nhau. Trị quốc (quản lý đất nước) thì văn võ dùng song song; trị dân thì khoan (khoan dung) mãnh (mạnh mẽ) tương hỗ lẫn nhau; trị chính (chính sự) thì vương bá pha trộn; trị lễ thì cùng thi hành theo Nho pháp; trị pháp (pháp chế) thì thưởng phạt cùng phối hợp; trị quân (quân đội) thì nêu cao cả đức và uy; trị địch (kẻ thù) thì thả bắt đều phải tính toán; trị loạn thì nhúng vào nước sôi hoặc vỗ về an ủi đều dùng; trị đạo (trộm cướp) thì hình phạt và thủ đoạn đều cần đến; trị sự (quản lý công việc) thì cương nhu đều giúp lẫn nhau.
Thuật cương nhu dùng trong ngoại giao biểu hiện là văn võ song song. Văn và võ vốn xưa nay là hai cột trụ lớn trong quản lý đất nước làm cho dân chúng có cuộc sống an định (trị quốc an bang), không thể thiếu một trong hai cái được.
Văn trị võ công (thành tích văn hóa giáo dục và thành tựu về quân sự) bổ sung lẫn nhau, võ công tách khỏi văn trị, dốc hết binh lực đi gây chiến, bên ngoài mạnh bên trong yếu, quốc gia tất nhiên khó mà củng cố và giữ được lâu bền; văn trị tách khỏi võ công, thể chất yếu đuối, không chịu nổi một trận đánh, quốc gia sẽ mất bức thành che chắn.
Khổng Tử am hiểu sâu sắc lễ độ. Trước giờ phút hội minh Tề Lỗ, ông đã nêu ra tư tưởng: «Người có văn sự tất phải có võ sẵn, người có võ sự tất phải có văn sẵn», chủ trương văn võ không thể tách rời nhau, đã phản ánh những nhận xét thâm thúy quan hệ biện chứng của Khổng Tử đối với «văn trị võ công».
«Sử ký. Khổng Tử thế gia tập 17» đã miêu tả Khổng Tử thành một người toàn tài «văn có thể trị quốc, võ có thể an bang». Trong cuộc hội ngộ Tề Lỗ, Khổng Tử đã thi thố «văn tài võ lược», làm khuất phục nước Tề lớn mạnh, không những bảo vệ được vẻ tôn nghiêm của Lỗ hầu, còn buộc nước Tề phải trả lại phần lãnh thổ đã xâm chiếm, chỉ một hành động mà đã nâng cao được uy thế của nước Lỗ.
Trong thời gian Khổng Tử chấp chính nước Lỗ, nước Lỗ đang trong lúc nguy cơ dồn dập bốn bề rối ren. Khổng Tử văn võ dùng song song, một tay nắm lễ chế, khiến dân chúng chú trọng lễ nghĩa, biết liêm sĩ, duy trì và phát huy đạo trị quốc của Chu công; một tay nắm pháp chế, lập kỷ cương giết Thiếu Chính Mão, làm cho nước Lỗ một thời thái bình hưng thịnh.
Trong vấn đề quan hệ văn và võ, lịch sử nhân loại đã trải qua một quá trình phát triển từ phân ly đến hòa hợp rồi từ hòa hợp đến phân ly. Xã hội loài người ở thời kỳ mông muội, văn và võ không tài nào có thể phân chia, thủ lĩnh bộ lạc cầm đầu dân chúng sản xuất, săn bắt, tác chiến, thông thường đều là lãnh tụ trí dũng song toàn của bộ lạc đó.
Khi loài người bước vào xã hội văn minh, lấy chế độ tư hữu làm cơ sở, văn và võ dần dần phân ly. Quan văn không thạo võ, thậm chí coi thường võ; quan võ không thạo văn, thậm chí không biết một chữ, người toàn tài văn võ đều kiêm toàn thật sự, có học vấn cao siêu và bản lĩnh thật là hiếm hoi.
«Trị quốc an bang» như thế nào, giữa văn và võ ai quan trọng nhất, thường là quan văn dựa vào văn, quan võ dựa vào võ, bên nào cũng cho mình hơn, khó mà kết luận được. Đến nay, do văn hóa khoa học phát triển nhanh chóng, văn và võ có xu hướng hòa hợp trở lại, trở thành một bộ phận hữu cơ tạo nên bộ máy nhà nước. Xét về tố chất thành viên của bộ đội, có thể đem dũng, trí và học hòa thành một thể thống nhất hay không đã trở thành tiêu chỉ quan trong để xem xét tiêu chuẩn chỉ huy các cấp có đạt hay không.
Tóm lại, văn và võ là phân ly hay là hòa hợp, thường do thời đại khác nhau mà nhìn nhận khác nhau, xét về nghĩa rộng đều là phép mầu làm cho nước giàu quân mạnh không thể tách rời được. «Văn trị võ công» hai bên hợp với nhau càng tốt đẹp, là đặc điểm chung của thời kỳ toàn thịnh của các thời đại. Hơn hai ngàn năm trước, tư tưởng văn võ không tách rời nhau mà Khổng Tử chủ trương, đến nay vẫn lóe lên ánh sáng chân lý.
Trước khi làm một việc, người ta luôn có thể hỏi: «Cần phải trước lễ sau binh».
Trên thực tế việc này chính là vận dụng phép biện chứng. Lễ là nhu, binh là cương, cương nhu giúp lẫn nhau, mới có thể làm nên sự việc.
Ví như bạn là một người lao động, nếu như bạn suốt ngày lầm lầm sắc mặt, nghiêm túc với cấp dưới, như thế thì cấp dưới của bạn rất có thể do sợ bạn, mà không dám tiếp cận bạn, có một số kiến nghị và ý kiến rất hay, đều không thể nói với bạn, làm cho bạn trở thành cô độc. Dù cho bạn tài năng rất lớn, cũng không thể làm nên được thành tích kỳ diệu.
Nhưng, nếu bạn là một lãnh đạo, bình dị gần gũi người quá mức, suốt ngày gặp ai đều cười cười nói nói, không có một chút uy nghiêm, như thế, bạn có thể cũng không thành công một việc gì.
Bởi vì trong con mắt của cấp dưới, bạn không có một chút tôn nghiêm, mệnh lệnh và chỉ thị bạn ban ra cấp dưới sẽ tiếp nhận giống như trò chơi trẻ con, không được họ coi trọng.
Học được phép biện chứng, mới có thể trở thành lãnh đạo theo ý nghĩa chân chính tức là người lãnh đạo giỏi thì nhất định là phải ân uy đều đúng, cương nhu đều có.
Nên giết gà để dọa khỉ, cứ phải giết gà để cho khỉ xem; nên ba lần đến lều tranh thì ba lần phải đến lều tranh (ý nói đến cầu Gia Cát Lượng của Lưu Bị) - lãnh đạo phải chính là lãnh đạo.
39. Coi chừng cái tròng bày sẵn
Khéo léo bày ra cái tròng, tức là khéo léo bày ra mưu kế, làm cho đối phương bị lừa mắc vào tròng, xem hiện tượng làm bản chất, tin cho là thật, sau đó khuất phục đối phương. Đây là một phương pháp ly gián. Phương pháp khéo léo bày ra cái tròng cũng có rất nhiều.
Dưới đây nêu lên tóm tắt một số ví dụ trong lịch sử, để bạn đọc tham khảo.
1) Thuật lừa phỉnh
Cái gọi là lừa phỉnh, tức là nhân lúc quốc vương vui vẻ lừa phỉnh đối phương đến dâng lời can gián, làm cho quốc vương mất hứng sinh cáu giận. Thế là liền thừa cơ hội khôn khéo dùng tay nhà vua hãm hại đối phương.
Cuối thời nhà Tần, Triệu Cao vì mình giết người quá nhiều, sợ Lý Tư vạch ra, liền dùng kế lừa phỉnh. Triệu Cao nói với Lý Tư: «Hiện nay vùng Quan Đông trộm cướp nổi lên, mà Thiên tử không cử quân đi dẹp. Ngược lại đi xây dựng gấp gáp cung A Phòng. Thừa tướng vì sao không dâng lên một lời khuyên gián?». Lý Tư nói: «Thiên Tử không lên triều, ở trong cung kín, không gặp được Ngài».
Triệu Cao nói: «Không sao, đợi khi Thiên Tử có dịp thuận tiện, tôi sẽ bảo ông». Đợi khi Tần Nhị Thế vui vẻ, Triệu Cao liền sai người đến thông báo cho Lý Tư biết Thiên Tử đang rỗi rãi trong triều. Lý Tư liền vào cung dâng lời khuyên gián, mà còn lặp đi lặp lại nhiều lần. Tần Nhị Thế rất bực mình, Triệu Cao liền thừa cơ hội đó nói bịa đặt cha con Lý Tư thông đồng với bọn cướp, Tần Nhị Thế tin là thật, liền đem Lý Tư và cả gia tộc giết sạch.
2) Thuật dụ vạch tội
Cái gọi là dụ vạch tội, tức là trước được quốc vương đồng ý, phá lệ cũ bãi bỏ một biện pháp lớn nào đó, dụ đối thủ chính trị đến can thiệp vào, từ đó để đổi lấy sự đồng tình của quốc vương, đạt được mục đích công kích đối thủ chính trị.
Thời Hán Nguyên đế, Thạch Hiện để củng cố vị trí của mình, mật tấu riêng với Nguyên đế, kiến nghị để thuận tiện cho việc tâu trình nên mở cửa cung ban đêm, Nguyên đế ưng thuận.
Thạch Hiện mấy lần ra vào cửa cung về đêm khuya, liền có người nói với Nguyên đế, Nguyên đế lại chỉ đưa ra một cái cười. Thạch Hiện lại thừa cơ hội nói: «Bệ hạ sủng ái vi thần, quần thần đều rất ghen tỵ, giành mưu hãm hại, may nhờ Bệ hạ sáng suốt, không khiển trách nghiêm khắc. Từ nay về sau thần sẽ lui về chức cũ, để tránh có người nhìn lấm lét».
Nguyên đế nghe xong càng rủ lòng thương hại, từ đó nếu có tâu trình vạch tội Thạch Hiện, nhất luật không để ý nữa.
3) Thuật dụ gián
Dụ gián tức là đem gái đẹp tặng cho quốc vương nước thù địch làm vui, khiến cho ông ta chểnh mảng chính sự, từ đó các trung thần của ông ta sẽ tất nhiên bất bình bỏ đi, đạt được mục đích làm tan rã quân địch.
Tề hầu từ sau khi Khoái Giáp Cốc tạ thế, Yến Anh bị ốm chết, đang buồn vì trong triều thiếu người thì được biết Khổng Tử làm Tể tướng nước Lỗ, nước Lỗ hưng thịnh, cảm thấy lo lắng: «Nước Lỗ sau khi cường thịnh tất sẽ xưng bá chiếm đất, mà nước Tề lại là nước láng giềng của họ, họa binh đao e rằng đến nước Tề ta trước, làm thế nào bây giờ?».
Đại phu Lê Di liền hiến kế nói: «Thần nghe nói một nước sau khi quản lý yên ổn ắt sẽ sinh ra kiêu căng chủ quan. Xin đem những cô gái đẹp trang điểm lộng lẫy tặng cho Lỗ vương, khi Lỗ vương tiếp nhận nhất định sẽ chìm đắm trong nữ sắc, chểnh mảng công việc chính sự. Từ đó xa lánh Khổng Tử, Khổng Tử chịu không nổi, tất nhiên sẽ dời nước Lỗ đi sang nước khác. Nếu quả nhiên như thế thì chúa công sẽ có thể tha hồ kê cao gối mà nghỉ ngơi rồi». Tề hầu thực hiện kế của ông ta, Lỗ vương quả nhiên trúng kế, Khổng Tử dâng lời khuyên ngăn đều không nghe.
Khổng Tử không chịu nổi, buồn rầu thở dài, liền thay đổi trang phục đi khỏi nước Lỗ. Tử Lộ và Nhiễm Hữu cũng bỏ quan cùng đi theo Khổng Tử. Từ đó về sau, nước Lỗ lại bắt đầu suy sụp.
4) Thuật dụ xem xét
Dụ xem xét tức là biết nội tình của đối phương, nhưng lại không nói rõ ra, dụ làm cho người cầm quyền tự mình đi xem xét để biết, từ đó dẫn đến nghi ngờ. Khiến cho người cầm quyền không dùng đối phương, thậm chí làm hại thêm đối phương.
Thời Tống Nhân tông, Vương Tăng và Lã Di Giản làm Tể tướng, Thịnh Độ và Tống Thụ, Thái Tề cùng tham tri chính sự, ở đây Vương Tăng có quan hệ tốt với Thái Tề, Lã Di Giản có quan hệ tốt với Tống Thụ, duy nhất có Thịnh Độ là không được hai Tể tướng sủng ái.
Một hôm, hai ông Vương Tăng và Lã Di Giản đồng thời muốn từ chức Tể tướng, Nhân tông không biết rõ tình hình nội bộ, liền hỏi Thịnh Độ. Thịnh Độ nói: «Người tâm phúc của hai người ấy, kẻ hạ thần không rõ. Nhưng, xin Bệ hạ cứ hỏi hai người ấy có thể thay thế thì có thể biết nội tình của họ». Nhân tông hỏi hai Tể tướng Vương và Lã, Vương Tăng cử Thái Tề, Lã Di Giản tiến cử Tống Thụ.
Nhân tông liền đem bãi chức quan của cả bốn người này, duy nhất để lại Thịnh Độ và thăng chức của ông lên Khu mật viện tri sự.
5) Thuật phản vấn
Phản vấn tức là cố ý ngược với ý họ mà hỏi đối phương, làm cho bộ mặt chân thực của họ hoàn toàn lộ ra sau đó trừng trị họ.
Lưu Diệp giỏi ứng biến. Ngụy đế dự định tấn công nước Thục, triều thần trong ngoài đều nói không thể. Lưu Diệp khi cùng ở bên Hoàng đế thì nói có thể, nhưng khi cùng ở chỗ với triều thần thì lại nói không thể. Trung lãnh quân Dương Ký kiên quyết phản đối tấn công nước Thục, mỗi lần gặp Lưu Diệp, Lưu Diệp cũng nói không thể.
Không lâu, Dương Ký đi theo Hoàng đế vi hành tại đất Thiên Uyên, Hoàng đế lại nói đến việc tấn công nước Thục, Dương Ký vẫn phản đối. Hoàng đế không cho là đúng, nói: «Ông là một thư sinh, không hiểu việc dùng binh!». Dương Ký nói: «Bệ hạ nói rất đúng, nhưng Bệ hạ đề bạt thần trên lục quân, thần có lời tâm sự không dám nói ra. Ý kiến của thần không thể dùng, nhưng Thị trung Lưu Diệp lại cũng thường nói không thể tấn công Thục».
Hoàng đế nói: «Nhưng ông ta lại nói với quả nhân có thể tấn công». Dương Ký kiến nghị tìm Lưu Diệp lại để hỏi, Lưu Diệp sau khi đến lại không nói một lời. Sau đó, Lưu Diệp một mình gặp Hoàng thượng nói: «Tấn công Thục là mưu lược lớn, sau khi thần biết thường lo lắng mình tiết lộ trong lúc ngủ say, làm sao dám nói với người khác! Kế dùng binh, quý là ở chỗ biết giả vờ, việc quân chưa làm không thể tiết lộ. Mà bệ hạ lại đem nó nói toạc ra hết, thần e rằng nước Thục đã biết».
Hoàng đế liền cám ơn Lưu Diệp, Lưu Diệp lại quở trách Dương Ký nói: «Người câu cá khi câu được con cá to, phải thả lỏng tay để cho con cá bơi lội tung tăng, sau đó mới có thể dần dần kiềm chế nó, bắt được nó. Mà cái uy của ông vua, đâu chỉ vì một con cá to. Ông ta là một người bầy tôi thẳng thắn, song phương pháp làm không thích đáng, không thể không suy nghĩ kỹ được!».
Dương Ký cũng cám ơn Lưu Diệp. Đối với Lưu Diệp, thường giữ đặc điểm hai đầu, đã từng có người nói với Hoàng đế Lưu Diệp đối với Hoàng thượng không tận trung, lời nói và hành động của ông ta chỉ là để lấy lòng Hoàng thượng, đồng thời hiến kế nói, nếu không tin, có thể dùng ý ngược lại nói chuyện trực tiếp với Lưu Diệp để thử xem. Hoàng đế dùng cách phản vấn để thử, quả nhiên tìm ra sự xảo trá của Lưu Diệp, sau đó Hoàng đế đoạn giao với Lưu Diệp. Lưu Diệp do vậy đã phát điên, suốt ngày buồn rầu mà chết.
6) Thuật bày tròng
Bày tròng tức là muốn một cảnh tượng làm cho đối phương biểu diễn hành vi không hợp lý nào đó, từ đó gây nên phẫn nộ của người thứ ba, đạt được mục tiêu làm hại thêm đối phương.
Thời nhà Thương, mẹ kế của Hiếu Kỷ có nhiều mưu kế xảo quyệt, nhân lúc người chồng ngồi trên đài ngắm cảnh, đã hẹn con trai của chồng đi dạo chơi vườn hoa, bà ta liền giấu ong trong tay áo, gọi cho con trai của chồng đến kéo tay áo lên để bắt ong, hai người cứ lôi lôi kéo kéo.
Lúc này, bà ta liền cố ý làm ra bộ chân tay luống cuống, kinh sợ hoảng hốt, để cho người chồng ngồi trên đài từ xa xa nhìn thấy mà hiểu lầm, cho là con trai đang đùa chớt nhả mẹ kế. Người chồng trong cơn tức giận không hỏi rõ đầu đuôi, đã đánh con trai thậm tệ, buộc anh ta phải bỏ trốn đi nơi xa xôi.
Sủng phi của Hiến công nước Tấn thời Xuân Thu là Li Cơ hãm hại Thân Sinh cũng là dùng thủ đoạn này.
7) Thuật xung kích
Xung kích tức là nhân lúc A đang làm trò sai trái dụ B đến chỗ A chứng kiến, để A hận B gây nên mâu thuẫn.
Hạ Kim Quế trong «Hồng lâu mộng» nhân lúc Tiết Bàn cùng với Bảo Thiềm trò chuyện, sai Hương Lăng đi vào trong phòng lấy chiếc khăn mặt, Hương Lăng vừa đi vào thì bắt gặp, không tránh kịp, thẹn chín cả mặt. Tiết Bàn và Bảo Thiềm đều cho là Hương Lăng cố ý phá quấy, liền cùng đuổi đánh Hương Lăng.
8) Thuật nghiệm chứng
Nghiệm chứng tức là cố ý biểu hiện ra một hành vi, để đối phương bắt được, báo cho người khác biết, đôi khi người được phái đến nghiệm chứng, lại khôi phục lại trạng thái bình thường, chứng minh thật ra không có việc đó.
Thời Tam quốc, Tào Tháo thường bị người chú xoi mói rồi bị đánh bị chửi.
Một hôm, khi người chú đi đến chỗ ông, ông giả vờ bị ngất xỉu, người chú hoảng hốt lo sợ, chạy đi báo cho cha Tào Tháo biết. Nhưng đến khi cha Tào Tháo chạy vội đến, ông ta lại vui chơi như thường, không hề có một chút bệnh trạng nào. Người cha hỏi đây là duyên cớ làm sao. Tào Tháo liền nhân dịp tố khổ nói ông chú đã chia rẽ như thế nào, lâu này bị đánh là đều do vu khống. Cha ông rất tin không nghi ngờ gì nữa, từ đó bèn không tin lời ông chú nói nữa.
..........
Cố nhiên, các mánh khóe không chỉ có ngần ấy loại, những mánh khóe nổi tiếng xưa nay có hàng ngàn hàng vạn, khi người ta vận dụng nó cũng phải phân biệt vận dụng dành cho từng người, từng nơi và từng lúc.
Vận dụng mưu kế một cách đúng chỗ, có thể làm cho cuộc sống của chúng ta trở nên phong phú, có thể làm cho sự nghiệp của chúng ta trở nên hưng vượng phát đạt.
- Chỉ cần ở chỗ có thiện ý là được.
40. Nhắm vào chỗ lớn, làm nên việc lớn
Sự việc trên đời đều là phức tạp.
Muốn làm nên việc lớn, các biến số gặp phải càng nhiều. Nhiều sự việc đều có đặc điểm không thể ngờ tới, có chỗ mạo hiểm không thể tránh. Không dám mạo hiểm, mọi việc cần hoàn toàn không có sai sót mới làm, bảo hiểm như thế thì chắc chắn, nhưng cũng có thể đã để mất cơ hội, việc có thể thành, có khả năng chỉ là những việc nhỏ.
Có câu nói là: «Nhát gan không thể làm tướng quân, sợ chết cũng phải gặp Diêm vương».
Những người làm nên việc, lập nên nghiệp, không thể không chú ý đến điều này. Hãy đem Gia Cát Lượng được mọi người tin phục nhất ra để xét, sẽ có những bài học đáng được tổng kết.
Gia Cát Lượng sau khi thu phục Mạnh Hoạch củng cố miền Tây Nam, bèn theo phương châm chiến lược đã định trong kế sách Long Trung, bắt đầu lên phía Bắc đánh Trung Nguyên. Đại quân đi đến Miện Dương, thám mã về báo, Đô đốc quân Ngụy là Hạ Hầu Mậu «điều quân mã các lộ Quan Đông đến để chống địch».
Lúc này danh tướng xuất thân từ nhà binh là Ngụy Diên nêu lên với Gia Cát Lượng một kiến nghị khiến người ta tỉnh ngộ:
«Hạ Hầu Mậu là công tử bột, nhu nhược vô mưu. Diên này muốn được 5 ngàn tinh binh, chọn đường ra Bao Trung, men theo phía Đông Tần Lĩnh, thẳng khe Tý Ngọ lao lên phía Bắc. Không đầy mười ngày có thể đến được Tràng An. Hạ Hầu Mậu nếu nghe tin thần đột nhiên đến, ắt sẽ bỏ thành nhằm về phía Hoàng Môn. Để Các chạy trốn. Thần sẽ từ phía Đông đánh vào, Thừa tướng có thể thúc đại quân từ đường Tà Cốc tiến lên: làm như thế thì từ Hàm Dương về phía Tây, chỉ một trận là có thể định được.»
Nhưng thật đáng tiếc, Gia Cát Lượng lại cho rằng chủ ý của Ngụy Diên «không phải là kế vẹn toàn», do đó đã cố chấp quyết định «từ Lũng Hữu chọn con đường lớn bằng phẳng, tiến quân đúng phép».
Lúc đó, quân Thục từ Hán Trung bắc tiến đến Trung Nguyên cần phải thông qua vài trăm dặm núi cao khe hiểm.
Vì điều kiện địa hình hạn chế, chỉ có hai hướng có thể dùng để chọn: một là ra Tần Lĩnh vào Quan Trung. Hướng này có ba đường tức là đường Tý Ngọ, đường Thảng Lạc và đường Bảo Tà. Ba đường này đều là khe dài đường hiểm, mang lại rất nhiều khó khăn cho hành động quân sự, đặc biệt là hành động binh đoàn lớn. Nói một cách tương đối, đường Tý Ngọ nằm phía Đông dãy Tần Lĩnh cách Tràng An gần nhất. Căn cứ giới thiệu của «Binh yếu địa chí», phía nam khe gọi là Ngọ, phía bắc khe gọi là Tý, bắt đầu từ Thạch Tuyền về phía Bắc đến phía nam Tràng An khoảng hơn một trăm dặm, chiều dài khe là 600 dặm.
Một hướng khác là từ Hán Trung qua Bình Dương quan, Võ Hưng, Kỳ Sơn đến Thiên Thủy. Đường tuy xa, nhưng tương đối bằng phẳng.
Kiến nghị của Ngụy Diên, đối với các mặt như tình hình địch, đường xa, phương án tác chiến, diễn biến chiến dịch, đều được phân tích tương đối sát hợp với thực tế, phải nói là tương đối có hiểu biết.
Giá như Gia Cát Lượng tiếp nhận và lấy đó làm tư tưởng chỉ đạo quân sự cho việc tiến lên phía bắc tác chiến, có thể sẽ thực hiện được mục đích chiếm đoạt Tràng An và thu phục Tam Tần một cách nhanh chóng.
Tính đúng đắn trong kiến nghị của Ngụy Diên, chủ yếu biểu hiện tại mấy mặt dưới đây.
Trước hết là tác chiến ở vùng núi rừng phải chú ý dùng «kỳ binh» (quân đánh úp), bao gồm hành động quân sự bất ngờ như tập kích đột ngột, phục kích. Đánh thắng bất ngờ về mặt chỉ huy quân sự là một quy tắc chung. Bất kể đồng bằng, miền núi hoặc sông ngòi, đầm hồ đều phải kiên trì dùng «kỳ binh» để giành thắng. Điều này tại vùng rừng núi lại càng quan trọng. Đó là do hạn chế của địa hình phức tạp, không có lợi cho đại binh đoàn triển khai tác chiến chính quy, mà thích hợp nhất cho cánh quân nhỏ, lực lượng tác chiến đặc chủng hoạt động. Còn cần phải nhìn thấy, đối với người tấn công để xét, núi cao đèo dốc vừa là trở ngại ảnh hưởng hành động quân sự. Những vị tướng thích đánh thắng bất ngờ, luôn thích dưới sự yểm hộ của bức màn chắn này xoáy vào chỗ sơ hở của địch, tạo nên sự chênh lệch thời gian và không gian khi đối phương tác chiến phòng thủ. Hán Trung và Tần Xuyên là do núi non trùng điệp của dải núi Tần Lĩnh ngăn cách, thích hợp cho «thủ» mà không cho «công». Quân Thục muốn lên phía Bắc đến Tần Xuyên nếu không dùng tập kích bất ngờ thì khó mà thắng được. Ngụy Diên chính là căn cứ tình hình thực tế này nêu lên kiến nghị tập kích bất ngờ tự mình «dẫn 5000 tinh binh», «men theo phía Đông Tần Lĩnh, thẳng khe Tý Ngọ lao lên phía Bắc». Nhưng Gia Cát Lượng lại từ chối không tiếp nhận kiến nghị đúng đắn này, ngược lại lại dùng cách đi vòng rất xa, từ Hán Trung đi về phía Tây, ra Kỳ Sơn dẫn 10 vạn quân tiến đánh «diễu hành vũ trang lớn» trong rừng rậm núi cao. Bày ra thế trận tác chiến chính quy này không những mục tiêu lớn, khó mà đạt được đánh bất ngờ, mà còn làm mệt mỏi quân tướng, tất nhiên tạo nên lực lượng hậu bị của mình không đủ.
Kiến nghị này của Ngụy Diên không chỉ là kế sách kỳ lạ, đồng thời còn là một mưu lược «kỳ chính» (đánh úp và chính quy, chính diện) đều dùng, cùng tỏa sáng. Trong binh pháp thời xưa, «kỳ» và «chính» là hai cách dùng binh trái ngược nhau nhưng hỗ trợ lẫn nhau, nếu như chỉ dùng một cách tất nhiên hình thành thế lẻ loi, cô đơn, chỉ có dùng cả hai cách song song mới có thể thu được hiệu quả hai bên phối hợp nhau càng tốt đẹp.
Tôn Tử nói: «Phàm chiến giả, dĩ chính hợp, dĩ kỳ thắng». Hợp nói ở đây là chỉ hội hợp, giao chiến. Ý của câu này là: Khi dùng binh tác chiến, đều là dùng «chính binh» hợp chiến, dùng «kỳ binh» giành thắng.
Năm 718 trước công nguyên, nước Trịnh tấn công nước Vệ, nước Yên xuất quân cứu viện, chiến đấu với quân Trịnh tại Bắc Chế (nay nằm trong huyện huỳnh tỉnh Hà Nam).
Quân Trịnh xếp sắp quân sĩ ở trước mặt quân Yên, ngoài ra dùng một bộ phận binh lực khác đánh úp sườn phía sau của nó. Khi quân Yên chỉ chú ý phòng bị phía trước, phía sau lưng lại bị tập kích bất ngờ của quân Trịnh, kết quả bị thua to.
Tương tự, trong kiến nghị của Ngụy Diên, một mặt nêu lên mình dẫn 5000 tinh binh từ khe Tý Ngọ đột kích quân Ngụy phòng ngự vùng trung tâm Tràng An, một mặt lại nhấn mạnh Thừa tướng có thể thúc đại quân từ đường Tà Cốc tiến lên, như thế sẽ hình thành thế tiến công «kỳ chính» phối hợp với nhau. Theo tư tưởng dùng binh của Tôn Tử về «kỳ chính», trong tình huống «kỳ chính» đều dùng song song với nhau, «chính binh» chủ yếu là thu hút kẻ địch biểu lộ ra trước địch, để ngụy trang tính đột nhiên của hành động «kỵ binh» (quân đánh úp).
Gia Cát Lượng trong «đối sách Long Trung» đã nêu lên việc chiếm đoạt Tần Xuyên làm phương hướng chủ yếu xuất kích chiến lược, thống nhất Hoa Hạ, không chút nghi ngờ là kinh nghiệm lịch sử noi gương Lưu Bang đem binh ra Quan Trung tranh đoạt thiên hạ với Hạng Võ.
Lúc bấy giờ, Đại tướng của Lưu Bang là Hàn Tín dùng kế «công khai sửa chữa đường sàn, ngấm ngầm vượt Trần Thương», từ Hán Trung đánh vào Quan Trung, một trận đã bình định được Tam Tần. Mục đích của việc «công khai sửa chữa đường sàn», chính là ở chỗ tỏ rõ tình thế ra trước địch, thu hút sự chú ý của quân địch, cũng coi như là một loại dùng «chính».
Còn khi kẻ địch tập trung chú ý vào con đường sàn cũ thông đến Quan Trung, thì Hàn Tín lại dẫn quân ngấm ngầm theo đường nhỏ vòng đến Trần Thương (nay là miền Đông huyện Bảo Kê tỉnh Thiểm Tây) gây nên cuộc tập kích bất ngờ, làm cho kẻ địch không kịp trở tay.
Cần phải thừa nhận, nếu không có việc «công khai sửa chữa đường sàn» là không thể giành được thế trận «ngấm ngầm vượt qua Trần Thương». Nguy Diên kien nghi Gia Cat Luong dan dai quân « tu Ta Coc tien ra», cung là co y thu hut suc chu y cua ke dich lai, de bao dam cho ông ta tu khe Ty Ngo bat ngo danh ra giành thang loi.
Nhung dang tiec là Gia Cat Luong lai xem kien nghi cua Nguy Diên là « ke nguy hiem », kiên tri dem quân ra Ky Son, tu do xây dung the danh ve mot phia.
Kiến nghị của Ngụy Diên, còn bao hàm quan hệ biện chứng kỳ với hiểm (bất ngờ với hiểm) và hiểm với di (hiểm và bình yên). Một bộ sử chiến tranh sinh động đã chứng tỏ, không có bất ngờ thì không nguy hiểm. Dùng binh bất ngờ bản thân đã mang ý nghĩa dám đảm nhận mạo hiểm, xông vào chỗ khó.
Song, phép biện chứng quân sự chính là như thế, chỗ cửa vào địa ngục cũng là cửa lớn đi tới thiên đường, trong nhiều trường hợp, những chỗ nguy hiểm kỳ thực cũng chính là chỗ không dự đoán của đối thủ, chính là «góc chết» trong tư duy phán đoán của tướng lĩnh phía địch.
Do đó, từ ý nghĩa này để xét, trong nguy hiểm lớn nhất, thường bao hàm nhân tố an toàn và thành công nhiều nhất; người ta cho rằng thời gian, địa điểm không thể giành thắng, những con đường bằng phẳng có thể đi tới thắng lợi.
Cái gọi là «trên chỗ vách đá cheo leo an toàn nhất» không phải là không có lý.
Bởi vì tại chỗ đối phương không ngờ đến rất có khả năng tránh được cạnh tranh, tránh được nguy hiểm.
Trong thương chiến hiện đại chúng ta nhìn thấy đã quá nhiều. Khổng Minh dùng binh luôn luôn cẩn thận, khi quyết định sách lược chỉ nhìn thấy mặt nguy hiểm trong kiến nghị của Ngụy Diên, lại bỏ qua một mặt khác trong nguy hiểm có bình yên, trong nguy hại có lợi.
Do đó cũng nói rõ một đạo lý, tướng soái quá cẩn thận mặc dù mọi chỗ suy nghĩ rất chu đáo, nhưng thường vì không dám mạo hiểm dấn thân nên khó mà sáng tạo được công tích phi thường.
Gia Cát Lượng sau lần ra Kỳ Sơn, mặc dù về chiến thuật giành được một số thắng lợi, nhưng do về tư tưởng chỉ đạo tác chiến chung áp dụng sách lược cẩn thận và bảo thủ, cho nên cuối cùng không giành được thành công lớn.
Ngoài ra, về tính đúng đắn của kiến nghị này của Ngụy Diên, vẫn có thể được phản chứng từ trong một đoạn lời của Tư Mã Ý.
Trong «Tam quốc diễn nghĩa» nói, về sau khi Tư Mã Ý đem quân đến chóng quân Thục, đã từng nói với tướng tiên phong Trương Cáp: «Gia Cát Lượng xưa nay cẩn thận, không dám tạo nên hành động tồi. Nếu là ta dùng binh, trước hết từ khe Tý Ngọ tiến quân đánh giành Tràng An, thì sớm được nhiều thời gian. Ông ta không phải là vô mưu, những sợ có sai sót không dám mạo hiểm».
Tác giả thông qua lời nói của Tư Mã Ý, một lần nữa nhắc đến do Gia Cát Lượng quá cẩn thận, đã tạo nên thất sách về chỉ đạo quân Thục tác chiến.
Ngụy Diên kiến nghị từ đường Tý Ngọ xuất quân đánh úp thẳng chiếm Tràng An, trong lịch sử đích thực có việc đó.
Trong sách «Ngụy lược» nói: «Hạ Hầu Mậu là An tây tướng quân, trấn giữ Tràng An. Gia Cát Lượng bàn kế với các thuộc hạ tại Nam Trịnh, Ngụy Diên nói: «Nghe nói Hạ Hầu Mậu còn trẻ, là con rể chúa thượng (con rể của Tào Tháo), nhát gan mà vô mưu. Nay giá như Diên dẫn năm ngàn tinh binh, kèm lương năm ngàn, đi thẳng từ Bao Trung ra, men theo phía Đông Tần Lĩnh, thẳng khe Tý Ngọ lên phía Bắc, không quá 10 ngày có thể đến Tràng An. Mậu nghe Diên đột nhiên đến, ắt sẽ lên thuyền chạy trốn. Trong Tràng An chỉ còn có Ngự sử và Kinh Triệu Thái thú thôi, lương thực của Hoành Môn, Để Các và dân sơ tán đầy đủ để ăn. So với việc tụ hợp ở phía Đông vẫn cần khoảng 20 ngày, còn Thừa tướng sẽ từ phía Tà Cốc đánh tới. Chắn chắn là đầy đủ mà lại đạt. Như vậy, thì chỉ một trận đã có thể bình định được cả vùng từ Hàm Dương về phía Tây». Gia Cát Lượng cho rằng việc này có phần nguy hại, không bằng đi theo đường bằng phẳng, có thể lấy được Lũng Hữu, hoàn toàn dành được mà lại không có gì lo lắng, cho nên không dùng kế của Diên». Có không ít nhà nghiên cứu lịch sử đều từ trong tác chiến Kỳ Sơn nhìn ra chỗ thiếu sót về cách dùng binh của Gia Cát Lượng – Mặc dù ông là người «đa mưu túc trí», tài thao lược đầy người. Nhưng về chỉ đạo dùng binh chỉ vì tính cách cẩn thận nên đã kiên trì sách lược bảo thủ.
Đối với việc này lời bình luận của Trần Thọ trong «Tam Quốc Chí» càng là thành khẩn chân thực: «(Lượng) là người chủ soái quân đội nhà Hán, nhưng dùng muu bất ngờ là không giỏi; xử lý việc liên quan đến con người giỏi về mưu lược dùng binh».
Tác giả của «Tam quốc diễn nghĩa» mặc dù muốn đem Khổng Minh miêu tả thành người hoàn mỹ, đặc biệt là về trí mưu thao lược, hòng dựng Gia Cất Lượng thành hóa thân của trí tuệ, nhưng giống như một số sự thực lịch sử quan trọng Gia Cát Lượng sau lần ra Kỳ Sơn không giành được tiến thủ gì cả như thế, cũng không thể làm trái ngược được.
Do đó, Khổng Minh dưới ngòi bút của La Quán Trung cũng tất nhiên là một hình tượng nhân vật cơ bản là tốt chỉ có khuyết điểm nhỏ thôi như một viên ngọc đẹp có vết nhỏ.
Muốn thành sự, đòi hỏi phải có đủ mọi tố chất, dám mạo hiểm là một trong những tố chất ắt không thể thiếu.
41. Giương cờ lớn, làm da hổ
«Kéo cờ lớn làm da hổ bao hàm ý mình hăm dọa người khác», câu nói này của Lỗ Tấn tiên sinh mọi người đều biết, chỗ này ý của nó bao hàm sự chê tránh là chủ yếu.
Thực ra, trong đấu tranh chính trị, trong đời sống xã hội, đây là một hiện tượng rất phổ biến, là thủ đoạn rất có hiệu quả. Đây cũng là vận dụng thuyết Tuân Tử gọi là «thiện giả vu vật dã».
Cách này cũng gọi là mượn danh giúp đỡ, tức là mạo danh dùng một loại cờ hiệu nào đó, để kêu gọi các lực lượng phản đối, khiến họ quy thuận về mình, từ đó tiến hành phân hóa và làm tan rã, đập tan từng bộ phận. Nhìn lại lịch sử, kẻ âm mưu khi lòng người chưa theo, lực lượng chưa đủ, phần nhiều đều dùng cách này, mượn oai người khác để làm mạnh mình, thực hiện âm mưu của mình.
1. Tôn vương
Thời Xuân thu – Chiến quốc, các chư hầu tranh bá, tranh chấp liên miên không ngừng, tai nạn chiến tranh dồn dập, nhân dân không được sống yên ổn.
Lúc đó, Chu Thiên tử quyền lực suy yếu không đủ sức thống trị, nhưng địa vị cao nhất của ông ta, thì ai cũng không dám công khai phản đối.
Không chỉ như vậy, một quốc quân mới lên ngôi, cũng phải được Chu Thiên tử thừa nhận. Tề Hoàn công dẫn đầu nêu lên khẩu hiệu «tôn vương».
Khẩu hiệu này và những hành động dưới khẩu hiệu này có tác dụng tích cực không nhỏ đối với nước Tề thôn tính các nước nhỏ yếu và mở rộng lãnh thổ.
Lại như cuối thời Đông – Hán, các «quần hùng» đánh lẫn nhau, tai họa chiến tranh không ngừng diễn ra, đặc điểm nổi bật của nó là dùng thiên tử làm chiêu bài, lấy danh nghĩa của thiên tử làm việc của mình, đem danh nghĩa của thiên tử làm công cụ thực hiện mục đích của mình.
Đổng Trác sau khi vào Lạc Dương không lâu, liền phế bỏ Thiếu đế, bức ép Hán Hiến đế để ra lệnh cho các nước chư hầu. Bởi vì lấy danh hiệu của Hán Hiến đế để ra lệnh, các nước chư hầu không dám không phục tùng.
Về sau, Tào Tháo lại lợi dụng tờ trình hữu danh vô thực này để ra lệnh cho các chư hầu, lịch sử gọi là ông ta «cưỡng ép thiên tử để lệnh cho chư hầu». Ông lại thông qua thủ đoạn nhất định buộc Hán Hiến đế phong cho ông là Đại tướng quân, ngôi vị trên các đại thần, không những địa vị của mình cao hơn tất cả mọi quan lại, mà hành động của mình cũng danh chính ngôn thuận, các đại thần mặc dù trong lòng có chỗ không phục, nhưng về hành động lại không dám làm khác, đành phải nghe theo sự điều khiển của ông.
Như vậy, Tào Tháo liền chiếm được ưu thế rất lớn về chính trị. Việc này đã có tác dụng rất quan trọng đối với việc sau này nắm được quyền lớn và dựng lên nước Ngụy.
2. Mượn danh nghĩa người khác
Trong đấu tranh, vay mượn một danh nghĩa nào đó, ra lệnh cho bốn phương, danh chính ngôn thuận, mượn danh nghĩa người khác để thực hành âm mưu của mình, từ đó đạt được mục đích của mình.
Thời Tây Hán, Giả Nghị, Tiều Thố và Chủ Phụ Yển chủ trương làm yếu quyền lực của các phiên trấn, Hán Cảnh đế đã nghe theo kiến nghị của họ, quả nhiên đã giảm bớt một số quyền lực của phiên trấn chư hầu. Các phiên trấn chư hầu bị tước bớt quyền lực này đều cảm thấy rất kinh động. Trong căm giận bất bình liền đem bực tức đổ lên đầu Tiều Thố.
Lúc đó, Ngô vương phát binh đi giết quan binh nhà Hán trước. Rất nhanh, sáu nước khác cũng tiếp tục cử binh tấn công nhà Hán. Bảy nước này cùng chung mưu phần đều tiến hành với danh nghĩa giết chết Tiều Thố.
Ngô vương Lưu Tỵ gửi thư cho các nước chư hầu, tức đã mượn danh nghĩa đó.
Trong thư gửi cho Hán Hiến đế, ông viết: «Ngày nay, Hán thất có một tên tặc thần, ông ta chính là Tiều Thố. Ông ta chẳng có công gì với chư hầu, và cử quan lại quản chế chư hầu, đây thật là điều sỉ nhục của các chư hầu. Đồng thời, Tiều Thố cũng không dùng lễ tiết của quân hầu để trọng thị những người ruột thịt họ Lưu, toàn dùng những kẻ gian trá, để tiện giết sạch công thần của các vị tiên đế ta, đây là uy hiếp lớn nhất đối với Hán thất ta. Hiện nay, Bệ hạ ốm đau nhiều, không thể kiểm tra đối với những tình huống cụ thể này, cần phải cử quân di trừng phạt Tiều Thố, bình định thiên hạ, xin Hoàng thượng hãy thẩm tra».
Khi Ngô Thừa tướng Viên Ang đến, Hán Cảnh đế hỏi đến việc liên quan 7 nước, nhưng Viên Ang nói: «Thưa Bệ hạ, xin hãy nghe thần nói, hai nước Ngô Sở đã từng cùng viết thư nói, tặc thần Tiều Thố xâm phạm lợi ích của các chư hầu, chiếm đoạt lãnh thổ của các chư hầu, do đó kích dậy hành động phản loạn của các chư hầu. Họ sở dĩ cùng hò hét khẩu hiệu giết Tiều Thố, mục đích chỉ ở chỗ thu hồi đất cũ mà thôi. Theo ý thần, nên lập tức chém Tiều Thố, khôi phục quyền lực cần có của bảy nước, trả lại lãnh thổ vốn có của họ, như thế, thì có thể tránh đổ máu mà đạt được mục đích loại bỏ chiến tranh».
Hán Cảnh đế quả thật đã nghe theo kiến nghị của Viên Ang giết chết Tiều Thố, lấy đó để tạ tội 7 nước.
Nhưng sau khi Tiều Thố bị giết, bảy nước không bãi binh, mà là từng bước ép chặt, có ý để thoán nghịch. Đến lúc này, Hán Cảnh đế mới biết đã mắc lừa, trong tình huống bất đắc dĩ, mới phái Chu Á Phu dẫn binh đi đánh dẹp.
Trải qua thời gian dài chinh chiến, liên quân bảy nước mới bị đánh bại, phản loạn mới dẹp xong. Nhưng Tiều Thố là người lo xa cho quốc gia, lại bị cướp đi tánh mạng, thực tế khiến người ta bất bình. Đây cũng nói lên kế «mượn danh nghĩa người khác» là một kế có sức mạnh.
3. Mượn lời người khác
Thời xưa có người mượn thiên tai, niệm thần chú mê tín để tạo ra dư luận, hoặc làm việc thoán nghịch. Hoặc ám chỉ đối địch chính trị để thực hành ý chí của mình. Để cướp ngôi, Vương Mãng đã từng sử dụng cách mượn lời người khác.
Vương Mãng sai người khác bịa ra một câu chuyện như sau: Nói Lã Hưng đình trưởng trong một đêm mơ thấy nhiều chiêm bao. Trong mơ, mang máng như có người nói với ông ta: «Ta là sứ giả nhà trời, trời bảo ta đến nói cho đình trưởng biết, Hoàng đế đang nhiếp chính phải là thiên tử, mà không phải bất cứ người nào khác. Nếu như không tin lời của ta, thì các ngươi có thể vào trong đình để xem thử, trong đình đã xuất hiện một cái giếng mới tinh».
Đình trưởng nửa tin nửa ngờ, chạy đến đình xem, quả nhiên có một giếng mới, sâu xuống dưới đất có đến trăm trượng.
Đình trưởng càng tin không chút nghi ngờ đối với sự việc này. Vương Mãng lại sai người vẽ một bức tranh bùa bằng đồng, ở trên viết 8 chữ «Thiên cáo đế phù, hiến giả phong hầu», sau đó đặt ở trước một tảng đá nơi dễ nhìn thấy.
Đồng thời, Vương Mãng còn sai người làm một tấm biển bằng đồng hai mặt, một bên viết «Thiên đế hành tỉ kim quỹ đồ», một bên khác viết «Xích đế tỉ mỗ truyền dữ Hoàng đế kim sách thư». «Mỗ giả» ở đây tức là Cao Hoàng đế. Viết Vương Mãng tức là Thiên tử, vẽ trên tranh cũng là Vương Mãng đang đội chiếc mũ Hoàng đế ngồi trên vị trí của Thiên tử, và định hiệu của thiên hạ gọi là «Tân».
Sau khi Vương Mãng thoán quyền thành công, định quốc hiệu chính là Tân. Vương Mãng cướp ngôi thành công cố nhiên có nhiều nhân tố, nhưng việc vận dụng thành công thủ đoạn mượn lời người khác của ông, không thể không nói là một mặt dư luận quan trọng của nó.
Thủ đoạn mượn lời người khác, trong lịch sử con có rất nhiều ví dụ.
Trọng hiện thực, «kẻ mượn lời người khác» cũng được vận dụng rộng rãi, nhất là trong việc tuyên truyền quảng cáo...
42. Liên hợp là để chống chọi
Người Trung Quốc chú trọng đạo đức nhân nghĩa, còn người Mỹ thì có một tín điều trong sự nghiệp: «Khi tôi không bằng anh, biện pháp tốt nhất là bước vào cửa của anh; khi tôi cảm thấy tôi có khả năng chiến thắng anh, thì nhất định thừa cờ đưa ra kế chống chọi với anh».
Trong «Hồng lâu mộng», Tào Tuyết Cần mượn miệng của Tiểu Hồng nói với mọi người: «Ngàn dặm dựng lều dài, thiên hạ không có bữa tiệc nào không tan».
Đúng thế, trên thế giới không có người bạn vĩnh cửu, chỉ có lợi ích vĩnh cửu.
Tất cả mọi cái người ta tranh cướp nhau, xét đến cùng đều là có liên quan với lợi ích của họ. Đây là chân lý của một nhà triết học vĩ đại đưa ra. Đừng mong muốn giải quyết bất cứ mọi vấn đề một cách chỉ khó nhọc một lần, an nhàn mãi mãi được.
Đã vậy, địch và bạn sẽ đều có thể nằm trong sự biến động không ngừng. Chỉ cần trước mặt có lợi đối với mình, thì không thể không tiến hành tranh giành nó, bạn bè tạm thời cũng là ban bè, cũng cần phải lợi dụng.
Có lúc biết rõ rằng sau này phải mỗi người đi một nẻo, thậm chí trở thành kẻ địch cũng phải liên hợp với họ.
Không nói cũng đủ hiểu, lúc này nhất định có đối thủ càng lớn mạnh nhiệm vụ càng quan trọng.
Ví như:
Thời kỳ cuối nhà Tùy, khởi nghĩa nông dân nổi lên rầm rộ, tất cả có đến vài trăm cánh quân khởi nghĩa, có tính chất đại biểu, ở vùng biên giới phía Bắc có Lý Quỹ, Tiết Cử, Lương Sư Đô, Quách Tử Hòa, Lưu Vũ Chu, Ly Khai Đạo; ở vùng lưu vực Hoàng Hà có Lý Uyên, Vương Thế Xung, Lý Mật, Đậu Kiến Đức, Mạnh Hải Công, Từ Viên Lang; ở vùng Giang Tây có Thẩm Pháp Hưng; Lâm Sĩ Hoằng, Tiêu Tiển; vùng giữa Giang Hoài có Đỗ Phục Uy, Lý Tử Thông, Vũ Văn Hóa. Giữa các đội quân khởi nghĩa nông dân với nhau đều có mưu toan tiêu diệt lực lượng lân cận mình, để làm lớn mạnh mình.
Trong các cuộc đấu tranh kịch liệt này, ai vận dụng chiến thuật chất lượng đúng đắn, đồng thời làm tốt công tác phân hóa chính trị, thì người đó sẽ chiếm ưu thế, từ đó giành được thắng lợi.
Trong chiến tranh thống nhất, cha con Lý Uyên chính là đã thực hành phân hóa làm tan rã đối với quân khởi nghĩa nông dân, đánh tan từng bộ phận, từ đó thống nhất thiên hạ, dựng nên chính quyền Lý Đường.
Lý Uyên vốn là Thái thú Thái Nguyên của nhà Tùy, xuất thân từ địa chủ quý tộc. Thừa cơ hội khởi nghĩa nông dân khắp nơi trong toàn quốc, ông ta đã lãnh đạo bộ phận khởi nghĩa ở Thái Nguyên, trước tiên nhận được sự hưởng ứng của các hào kiệt Sơn Tây, đã giành được nhiều sự ủng hộ của các nhân sĩ thuộc tầng lớn địa chủ, chỉ trong hai tuần đã triệu tập được hàng vạn quân đội và quyết kế tây tiến về Quan Trung.
Nhưng, hai vấn đề hiện thực bày ra trước mắt:
Một là tộc Đột Quyết lớn mạnh đã nhiều lần xâm chiếm Thái Nguyên, đây là một trở ngại lớn của việc Tây tiến.
Hai là Lý Uyên đã từng dẫn quân trấn áp khởi nghĩa nông dân.
Là địch thủ với nông dân, bây giờ nên đối xử với khởi nghĩa nông dân ra sao?
Trước tiên, Lý Uyên sai Lưu Văn Tinh đi Đột Quyết xưng thần với Đột Quyết, trong giới hạn lớn nhất tranh thủ được thỏa hiệp với Đột Quyết, để tránh đối kháng trực tiếp với Đột Quyết.
Đối xử với khởi nghĩa nông dân, Lý Uyên lại dùng thủ đoạn lôi kéo nhẹ nhàng, lập quan hệ hữu hảo với Lý Mật, đồng thời suy tôn Lý Mật làm chủ, mục đích của ông ta là bảo tồn mình trong kẽ trống của khởi nghĩa nông dân, để cầu phát triển mở rộng thêm một bước nữa.
Kế này quả nhiên đã sinh ra hiệu quả lý tưởng:
Một là, Lý Uyên tiến quân về phía Tây được Lý Mật ủng hộ, đồng thời làm cho quân của Lý Mật chặn đứng quân nhà Tùy ở phía Đông, tiện lợi cho mình Tây tiến.
Hai là, Đột Quyết bởi vì Lý Uyên xưng thần với họ, nên không tiến hành đề phòng quá nhiều, ngừng hẳn việc xâm phạm và quấy nhiễu đối với Thái Nguyên, từ đó làm cho Lý Uyên có thể tập trung binh lực tiến thẳng về phía Tây.
Ba là, sau khi Lý Uyên tiến vào Quan Trung, biên chế lại nhiều cánh quân khởi nghĩa, trong thời gian rất ngắn liền có được 9 vạn tinh binh, lực lượng quân sự đã tăng lên mạnh mẽ, tiếp tục Tây tiến và chiếm lĩnh Tràng An.
Sau khi tiến vào Quan Trung, các quần hùng Sơn Đông tranh giành lẫn nhau, tàn sát lẫn nhau.
Thế là, Lý Uyên liền vạch ra kế hoạch đánh lực lượng cắt cứ của một vùng Tây Bắc, để củng cố và mở rộng địa bàn thống trị.
Trước tiên đánh Tiết Cử chiếm cứ một vùng Lan Châu và Thiên Thủy. Tiết Cử thì mưu đồ liên hợp với Lương Sư Đô, đồng thời câu kết với Đột Quyết cùng chống lại Lý Uyên. Nhưng mưu đồ này thật ra chưa được thực hiện. Lý Uyên sai người dùng vàng lụa hậu hĩnh hối lộ Đột Quyết, tách rời liên minh giữa họ với nhau, và lợi dụng mâu thuận của Tiết Cử với Lý Quỹ, gửi thư kết thân thiện với Lý Quỹ, cô lập Tiết Cử, cuối cùng chỉ một trận đã tiêu diệt Tiết Cử.
Sau khi Tiết Cử đầu hàng, mũi nhọn của Lý Uyên liền chỉ vào Lý Quỹ cắt cứ một vùng Hà Tây Vũ Uy. Trước là kết thân với Thổ Cốc huy để cô lập Lý Quỹ, tiếp đó là lợi dụng mâu thuẫn nội bộ Lý Quỹ, lôi kéo An Tu Nhân và An Hưng Quý, sau cùng là phát động chính biến vào tháng 5 năm 619.
Kết quả là, thế lực Lý Quỹ bị tiêu diệt, Lý Uyên đã chiếm lấy Hà Tây.
Đúng lúc Lý Uyên tấn công Lý Quỹ, Lưu Vũ Chu lại câu kết với Đột Quyết tiến công Thái Nguyên vào tháng 3 năm 619, nhưng kết quả ngược lại Lý Uyên dã chiến thắng.
Thắng lợi này, chủ yếu do công của Lý Thế Dân giỏi dùng binh. Đương nhiên Lý Uyên sử dụng thủ đoạn có hiệu quả tách rời liên minh của họ cũng là nhân tố không thể xem thường.
Sau khi Đột Quyết bại trận, lại quay trở về cùng với quân Đường của Lý Uyên đánh Lưu Vũ Chu. Ảo tưởng phá diệt xong, Lưu Vũ Chu và Tống Kim Cương muốn chạy trốn thoát khỏi Đột Quyết, nhưng bị Đột Quyết bắt được, kết quả là Tống Kim Cương bị chém ngang lưng, Lưu Vũ Chu bị chém đầu, việc này đương nhiên là có lợi đối với Lý Đường (chính quyền Lý Đường).
Đến đây, sự uy hiếp sau lưng và phía sau sườn của Lý Đường về cơ bản được loại bỏ, hành động quân sự của tuyến Tây Bắc cũng tạm thời kết thúc, mũi nhọn tiến công của Lý Đường bèn quay sang vùng rộng lớn phía Đông.
Trong thời gian từ năm 618 Lý Mật thất bại đến khi quân Lý Đường đông tiến, tình hình chiến tranh nông dân nhà nước ở phía đông và phía nam đã có biến đổi rất lớn.
Trong quá trình thôn tính, đến đây chỉ còn lại ba lực lượng lớn nhất của Vương Thế Xung ở Sơn Đông, Đậu Kiến Đức ở Hà Nam, Đỗ Phục Uy ở phương Nam. Xét về lực lượng tổng hòa của 3 lực lượng này là mạnh hơn Lý Đường, nhưng bất kỳ một cánh nào của 3 nhóm quân này đều không đuổi kịp Lý Đường.
Nếu như ba lực lượng này thống nhất hành động đối phó với Lý Đường thì việc ai thắng ai thua rất khó đoán trước, nhưng trên thực tế giữa họ với nhau không những phân tán, mà còn ở trong trạng thái đối địch với Vương Thế Xung tiến công Lê Dương của Đậu Kiến Đức, Đậu Kiến Đức thì tiến công Ân Châu xua Vuong Thế Xung.
Trước khi Lý Đường còn chưa đông tiến, Lý Uyên đã sai người du thuyết đến phương đông lôi kéo các bộ phận cũ của Lý Mật và quân khởi nghĩa chống Tùy trước kia (như Vương Bạc).
Đặc biệt quan trọng là Đỗ Phục Uy của Giang Nam đã tiếp nhận phong hiệu của Lý Đường, hợp tác với Lý Đường, đồng thời năm 621 đã phái binh hiệp trợ với Lý Đường. Đây là một thắng lợi rất lớn về chính trị của Lý Đường. Cộng với La Nghệ của Đậu Kiến Đức ở mặt bắc, chiếm giữ tai U Châu, cũng đã hàng Đường từ trước.
Như vậy, Đậu Kiến Đức và Vương Thế Xung liền bị bao vây hai mặt của lý Đường. Hơn nữa Đỗ Phục Uy hợp tác với Lý Đường khiến cho tình thế bao vây của Lý Đường đối với họ đã thật sự thành một thể thống nhất.
Tháng 7 năm 620, Lý Đường ổn định tình hình ở Tây Bắc xong, liền cử Lý Thế Dân thống soái đại quân tiến công Vương Thế Xung, Vương Thế Xung tự biết mình không địch nổi, liền cầu cứu Đậu Kiến Đức. Tháng 3 năm 621, Đậu Kiến Đức sau khi đánh bại Mạnh Hải Công, tự mình dẫn 10 vạn quân viện trợ Vương Thế Xung.
Lý Đường cử Lý Thế Dân đi đến Hổ Lao, dựa vào chỗ hiểm chống địch, ngăn chặn Đậu Kiến Đức tiến từ phía tây.
Quả nhiên, quân của Đậu Kiến Đức bị chỗ hiểm yếu của Hổ Lao ngăn cản, không thể tiến quân, rơi vào cảnh tiến thoái lưỡng nan.
Trong tháng 5, quân Lý Đường như quân của Đậu Kiến Đức đến quyết chiến. Đậu Kiến Đức trúng kế, huy động toàn quân ra, dàn trận từ Bản Chử ra Trung Khẩu, phía Bắc đến Hoàng Hà, phía Tây sát sông Vị Thủy, phía Nam nối liền với Thước Sơn, dài đến 20 dặm.
Lý Thế Dân đứng trên chỗ cao quan sát thế trận của Đậu Kiến Đức. Ông ta «án binh bất động», dưỡng sức chờ khi quân địch khi đã mỏi mệt, chỉ dùng một bộ phận binh lực phá tan toàn bộ quân của Đậu Kiến Đức. Mãi đến giữa trưa, quân của Đậu «binh sĩ đói mệt, ngồi thành hàng, lại tranh giành nước uống», thế trận lộn xộn, Lý Thế Dân nhìn thấy là thời cơ quyết chiến đã đến liền ra lệnh quân «khinh kỵ» vượt qua sông Vị Thủy, tiến công quân của Đậu Kiến Đức. Lúc đó, Đậu Kiến Đức và lũ bầy tôi vội vã dẫn quân ứng chiến, thế trận càng lộn xộn nhiều hơn.
Lý Thế Dân dẫn đội quân tinh nhuệ thọc vào trận địa quân của Đậu Kiến Đức, quân của Đậu càng hỗn loạn, cùng rút chạy tán loạn. Lý Thế Dân đuổi giết đến 30 dặm, bắt sống được hơn 5 vạn tên, Đậu Kiến Đức bị thương, bị bắt sống và bị giết tại Tràng An. Vương Thế Xung chẳng bao lâu cũng đầu hàng, đến đây, chiến tranh thống nhất căn bản kết thúc.
Thông qua những việc này chúng ta thấy, thắng lợi của Lý Đường không phải là việc ngẫu nhiên mà có.
43. Đặt bẫy cho đối thủ
Đặt bẫy chính là dùng đủ mọi thủ đoạn lừa gạt dụ đối thủ đến, rồi vào bẫy mình đã bày ra sẵn, sau đó tiến hành bắt và giết.
Thời kỳ kháng chiến, cuộc chiến đấu của sư 115 Bát Lộ quân tại Bình Hình quan chính là thuộc loại này.
Một đặc điểm quan trọng của phương pháp này, không phải là đi giao phong chính diện với đối thủ, mà là nhử đối thủ mắc mưu, tự chui vào lưới, ít tốn sức lực mà thành công lớn.
Trong thương chiến hiện đại, có thể vận dụng đầy đủ chiến thuật này, tất nhiên sẽ giành được hiệu quả đánh thắng bất ngờ.
Muốn học cách vận dụng mưu lược, vẫn là thử xem người xưa đã làm như thế nào.
Trong chiến tranh và đấu tranh chính trị thời xưa, đã sử dụng phương pháp này rất nhiều:
1) Dụ sát
Dụ sát, tức là tìm một cái cớ hoặc lý do, dụ địch đến sau đó bắt và giết đi.
Năm 207 trước công nguyên, Triệu Cao, Thừa tướng nước Tần muốn cướp ngôi hoàng đế, nhưng không dám trực tiếp đảo chính, do đó đã áp dụng biện pháp quá độ, trước giết Tần Nhị Thế (Hồ Hợi), lập Vương Tử Anh làm vương, sau đó lại giết Vương Tử Anh, thực hiện đảo chính.
Nhưng, dụng ý của Triệu Cao đã bị Vương Tử Anh khám phá, Vương Tử Anh không muốn làm ma, liền nói với Tần Nhị đế: «Thừa tướng Triệu Cao giết Nhị Thế là để cướp ngôi, nhưng lại sợ quần thần phản đối, không giữ nổi mình, liên nói dối là lập thần làm vương. Nhưng thần biết Triệu Cao có bí mật hẹn riêng với nước Sở, nói là diệt xong tông thất nhà Tần, sau đó họ lần lượt xưng vương ở Quan Trung. Đây chính là bộ mặt thật của ông ta. Hiện nay sai người đến mời thần đi đến miếu, là muốn giết thần ngay trong miếu. Do vậy, thần có ý nói bị ốm không đi. Ông ta ắt sẽ đến, thần có thể sẽ bắt và giết ông ta ngay tại chỗ, để bảo đảm an toàn cho Tần thất». Triệu Cao sai người đến mời Vương Tử Anh, nhưng Vương Tử Anh giả vờ ốm không đi. Triệu Cao nén không nổi, quả nhiên tự mình đến mời, vừa nhìn thấy mặt hỏi: «Tông miếu là việc trọng, Vương làm sao không đi?».
Vương Tử Anh tuyệt nhiên không trả lời, nhưng người dưới quyền liền tóm lấy Triệu Cao, giết chết ngay.
Tiếp đó, Vương Tử Anh lại chu diệt cả ba họ của Triệu Cao. Chính biến cung đình mà Triệu Cao vạch ra, lại kết thúc bằng cái chết của chính mình. Thủ đoạn và tâm tư của hai bên là như nhau, nhưng Vương Tử Anh đã cao hơn một nước cờ, chính là đã chuẩn bị đầy đủ hơn.
2) Dụ tạ ơn
Dụ tạ ơn là tặng cho đối phương món quà rất hậu trước, khiến cho đối phương đến thăm lại và cám ơn, rồi thừa cơ bắt và giết chết.
Tổ Đình là Thượng thư Hữu nghị sạ Bắc Tề, có quyền lực rất lớn ở trong triều, nhưng lại ghét cay ghét đắng Hàm Dương vương Học Luật Quang, muốn đánh đổ ông ta. Thế là Tổ Đình liền nghĩ ra một kế ly gián.
Trước tiên, ông ta đã tạo ra một lời đồn: «Bách thăng bay lên trời, Minh Nguyệt chiếu Tràng An». Lại nói: «Núi cao không ủi tự đổ, cây sồi không đỡ tự dựng lên». Ra lệnh cho mưu sĩ đem những lời đồn đại này truyền đến đất Nghiệp, dạy cho trẻ con, đứng bên đường ca hát. Tổ Đình còn thêm cho những lời đồn này hai câu: «Ông già mù lưng đeo chiếc rìu lớn, bà già lắm điều không được nói».
Sau đó, ông ta sai người anh vợ của mình là Trịnh Đạo bẩm tâu với Hoàng thượng. Hoàng đế không hiểu rõ ý thật sự của tin bịa này, liền tìm Tổ Đình đến, nhờ ông ta giải thích giúp.
Tổ Đình nhân cơ hội giải thích nói: «Tin đồn này không thể xem nhẹ, ý của Bách thăng chính là Hộc, ông già mù nói là thần, là chỉ thần cũng lo lắng với Quốc vương, không tiếc sức mình. Bà già lắm điều hầu như là chỉ Lục thị trong nữ tỳ. Gia đình Học Luật có nhiều đời là đại tướng, Minh Nguyệt tiếng tăm lẫy lừng Quan Tây, Phong Lạc uy danh lưu hành ở Đột Quyết, nữ làm hoàng hậu, nam lấy công chúa, lời đồn đáng sợ, Hoàng thượng đáng phải suy nghĩ mà làm!».
Hoàng đế vốn đã có chút hoài nghi Học Luật Quang, nghe Tổ Đình giải thích như thế, càng thêm hoài nghi hơn, bèn quyết định ra tay trị người trước, trừng trị Luật Quang đến mất mạng. Hoàng thượng chuẩn bị triệu Quang vào triều, nhưng lại sợ ông ta khám phá ra kế sách không đến.
Thế là, Tổ Đình lại hiến kế: «Trước tiên ban cho Học Luật Quạng một con tuấn mã, và truyền tin nói: «Ngày mai Hoàng thượng sẽ đi du chơi ở Đông Sơn, Hàm Dương vương có thể cưỡi tuấn mã cùng đi theo». Như thế, Học Luật Quang khẳng định sẽ đến để tạ ơn, ông ta vừa đến, liền có thể bắt ông ta đem giết».
Hoàng thượng nghe theo sự sắp đặt của Tổ Đình, Học Luật Quang quả nhiên đến tạ ơn, Tổ Đình liền bắt và giết ngay ông ta. Cách dụ tạ ơn của Tổ Đình, đã thành công.
3) Dụ đến chúc mừng
Dụ đến chúc mừng là tổ chức đại hội chúc mừng dụ địch thủ đến, từ đó đem giết họ.
Khi Hán Cao tổ Lưu Bang đem quân đi đánh Trần Hy, Hàn Tín muốn dấy binh mưu phản. Lã Hậu bí mật lập mưu với Tiêu Hà làm thế nào để chế ngự Hàn Tín, ngăn chặn mưu phản của Hàn Tín.
Họ giả vờ nói có người từ tiền tuyến về nói Trần Hy đã bị bắt và bị giết chết, các chư hầu và quần thần đang chúc mừng thắng lợi của trận đánh.
Tướng quốc Tiêu Hà cố ý nói dối với Hàn Tín: «Mặc dù ông có bệnh, nhưng cũng nên miễn cưỡng đến chúc mừng để chiếu cố đến cảnh tượng bề ngoài». Hàn Tín tin cho là thật, quả nhiên vào triều chúc mừng, Lã Hậu liền nhân cơ hội bắt Hàn Tín và chém tại cung Trường Lạc, giết cả ba họ của ông.
4) Dùng lời lẽ ngon ngọt mời đến
Dùng lời ngon ngọt mời đến là tỏ ý tốt đẹp với đối phương mời họ đến, sau đó đem giết họ.
Năm 835, Lý Huấn đời Đường sau khi phát động chính biến thất bại, Trịnh Chú trả lại Phong Tường. Cừu Sĩ Lương lệnh cho giám quân Phong Tường Trương Trọng Thanh bắt Trịnh Chú. Trương Trọng Thanh hoảng sợ không biết làm thế nào.
Áp nha Lý Thúc Hòa hiến kế nói: «Trương công nên dùng lời lẽ khéo léo mời Chú, để ông ta đến, sau đó đuổi lính đi theo ông ta ra ngoài, có thể để ông ta ngồi vào chỗ rồi hãy bắt. Như thế Trịnh Chú khó mà trốn thoát!». Trương Trọng Thanh đã nghe theo kế này. Trước tiên dùng lời lẽ khôn ngoan mời Trịnh Chú đến, ngầm bố trí quân mai phục để chờ Trịnh Chú.
Trịnh Chú được những người lính đi theo vây quanh. Lý Thúc Hòa giữ những người lính đó lại ở bên ngoài, chỉ giành Trịnh Chú một mình đi vào, cùng hàn huyên và nhấp nháp trà với Trương Trọng Thanh.
Đột nhiên, Lý Thúc Hòa rút dao ra đâm thẳng vào lưng Trịnh Chú, Trịnh Chú còn chưa kịp phản ứng gì, đã bị đâm chết. Lý Thúc Hòa đóng chặt cửa lớn lại, giết chết tất cả bọn lính đi theo Trịnh Chú. Kế dùng lời ngon ngọt mời đến của Trương Trọng Thanh đã thành công.
5) Tụ hội
Tụ hội là lợi dụng việc tụ hội tầng lớp trên, quét một mẻ hết sạch kẻ địch.
Mâu thuẫn giữa Thành Cát Tư Hãn với Kuokuochu (Khoát Khoát Xuất) tương đối lớn, Thành Cát Tư Hãn một lòng muốn trừ bỏ ông ta. Do đó, Thành Cát Tư Hãn bày ra tiệc lớn, mời Kuokuochu đến dự. Kuokuochu nhận lời mời đến, Thành Cát Tư Hãn ra lệnh cho dũng sĩ đọ tài với Kuokuochu, bảo dũng sĩ ngầm đem giết ông ta.
Sau đó, Thành Cát Tư Hãn tuyên bố tội trạng của ông ta: «Kuokuochu gây chia rẽ, đánh anh em của ta, làm nhiều việc xấu, lẽ trời không tha thứ».
Tiếp đó, liền tiến hành tàn sát và biên chế lại quân đội của Kuokuochu. Từ đó, Thành Cát Tư Hãn tiêu diệt Kuokuochu, củng cố sự thống trị của mình đối với Mông Cổ.
6) Dụ bắt
Dụ bắt là tán thành một mưu kế nào đó của đối phương, dùng kế của họ để đánh bại họ (tương kế tựu kế), rồi đem bắt họ.
Thời nhà Ngụy, Đặng Ngôn giết Vương Khang, tự lập làm Thứ sử, triều đình đã mấy lần cử binh chinh phạt, đều không thành công trở về. Không còn cách nào, triều đình đã mời Thổ Cốc Huy giúp sức.
Thế là, Vũ Văn Thái cử Giáp Huy đi dụ bắt Đặng Ngôn. Sau khi Giáp Huy nhận lệnh đã dẫn một đoàn 50 người đến phủ Thứ sử, đã vào ở trong nhà khách. Đặng Ngôn biết được số người đến rất ít, đã không có điều gì đang nghi nữa.
Giáp Huy sai người đến khuyên nhủ Đặng Ngôn quy thuận triều đình, Đặng Ngôn đương nhiên không theo, từ chối không nhận lệnh. Giáp Huy lại sai người đến nói, đồng ý lưu Đặng Ngôn ở lại đây, Đặng Ngôn liền đổi giận thành vui, tin tưởng Giáp Huy là chân thành, liền đến nhà khách gặp mặt với ông ta.
Còn Giáp Huy đã có mưu kín từ lâu, bèn đem Đặng Ngôn trói lại, sau đó tuyên bố trước dân chúng việc bắt Đặng Ngôn là ý chỉ của Hoàng đế.
Để ngăn chặn gây rối loạn trong thành, Giáp Huy lại nói: «Đại quân của triều đình lập tức sẽ đến». Như vậy, trong thành mới không đám động tĩnh. Giáp Ngôn đã dùng kế dụ bắt, đã bắt được Đặng Ngôn thành công đưa đến Tràng An.
7) Công nhiên hứa hẹn
Công khai hứa hẹn tức là trước đáp ứng yêu cầu của kẻ địch, tạm thời làm ổn định kẻ địch, sau đó dụ kẻ địch đến giết đi.
Lưu Bang đi đánh Trần Hy, mượn quân của Lương, nhưng Lương vương là Bành Việt lại nói có bệnh không đi.
Lưu Bang rất bực tức, đúng dịp có người nói vu là ông ta tạo phản, Lưu Bang dùng phương thức đánh bất ngờ, bắt Bành Việt, sau đó đem giam ông ta lại Lạc Dương, tha cho làm thứ dân bị đi đầy tại đất Thục, vừa khéo gặp Lã Hậu từ Tràng An về, Bành Việt xin gặp Lã Hậu, nước mắt đầm đìa, tự nói là không có tội, mong được đầy ở Xương ấp.
Lã Hậu đồng ý trước mặt, lại đi tiếp về phía đông, đến Lạc Dương, gặp Lưu Bang nói: «Bành Việt là một dũng sĩ, chuyển ông ta vào đất Thục, tự lưu lại họa ngầm, chi bằng nhanh chóng giết ông ta đi».
Thế là, cho người tổ cáo lên Bành Việt mưu làm phản, thêu dệt thành tội, chém Bành Việt và cả ba họ của ông ta.
8) Giả đi du chơi
Giả đi du chơi tức là giả mượn đi du chơi thị sát, dụ kẻ địch ra khỏi cửa để đón, từ đó sẽ bắt và giết.
Đại tướng Hàn Tín chinh chiến tài giỏi, nước cũng mạnh và lớn nhất (tức nước Sở), thật là làm cho Lưu Bang phải kiêng dè.
Năm thứ 6 đời Hán, có người dâng thư tố cáo Hàn Tín mưu phản. Cao đế (tức Hán Cao tổ) hỏi mưu kế các tướng, mọi người đều nói phải xuất quân tấn công, nhưng Trần Bình lại nói: «Hiện nay chúng ta, quân không tinh nhuệ như Sở, tướng không mạnh bằng Sở, xuất quân đánh chiếm, thực khó giành thắng được».
Hán Cao tổ hỏi phải có kế sách gì, Trần Bình trả lời nói: «Thời xưa, Thiên tử dùng phương thức đi tuần thú, hội kiến chư hầu. Ngày nay, phương Nam có một nơi gọi là Vân Mộng, bệ hạ có thể mượn danh nghĩa đi chơi Vân Mộng, để các chư hầu đều tụ hội tại Trần. Nước Trần ở phía Tây nước Sở giáp giới với nước Sở, Hàn Tín biết bệ hạ đi du chơi, khẳng định phải ra đón tiếp. Lúc đó sẽ có thể bắt sống ông ta, việc này chỉ cần một võ sĩ cũng có thể làm được».
Hán Cao tổ cảm thấy kế này có thể dùng, bèn thông cáo cho chư hầu tụ hội tại Trần, nói: «Ta sẽ nam du đến Vân Mộng». Rất nhiều đại thần đều đi theo, đến Trần, Hàn Tín đến đón tiếp. Lưu Bang đã tổ chức vô sĩ từ trước, vừa thấy Hàn Tín lập tức bắt ngay và trói lại.
9) Dụ điều đi khỏi cương vị
Dụ điều đi khỏi cương vị, chính là điều động họ dời khỏi trại phủ, đến giữa đường thì bắt giết.
Thời Đường Hiến tông, triều đình dấy binh đánh Vương Biện nhưng lại sợ hai châu Biểu và Vận nhân cơ hội tấn công, do đó đã dùng kế dụ điều khỏi cương vị. Trước tiên đề bạt Vương Biện làm Thứ sử Kinh Châu, sai người thúc giục ông ta đi nhận nhiệm vụ.
Vương Biện tin là thật, lên đường ngay, xuất phát từ Nghi Châu, người ngựa gia đình đi theo cũng cùng xuất phát. Đi vào đất Từ Châu đã không còn là phạm vi thế lực của Vương Biện nữa, ông ta thế cô lực mỏng, quân hộ tống đột nhiên trở mặt, liền bắt ông ta, sau đó đem chém ngang lưng tại Đông thị.
Sử dụng kế dụ đi khỏi cương vị, dùng binh ít, hiệu quả tốt.
10) Ngầm giết
Ngầm giết tức là đối với công thần, khó giết hại công khai, để ngăn chặn dư luận xôn xao, có thể sai người, ngầm tiến hành giết hại, để loại bỏ những người đối lập.
Thời nhà Đường, Lý Phụ Quốc thường làm ngược với Hoàng thượng. Khi Đại tông làm Thái tử nghe thấy rất bực.
Đại tông lên ngôi, Phụ Quốc lại lập công, việc đó càng không tiện công khai giết ông ta, do đó bí mật cử người giết rồi chặt đầu ông ta đem quăng xuống cống rãnh, chặt đôi cánh tay của ông đem đến tế Thái Lăng.
Tất cả mọi việc này đều lặng lẽ tiến hành, không ai biết. Sau đó, Đại tông lại giả vờ nhân từ, xuống chiếu truy bắt hung thủ, tiến hành an ủi đối với gia đình để tỏ ra thương xót, sau đó làm một cái đầu giả, tay giả bằng gỗ để chôn cất, vẫn phong Lý Phụ Quốc chức Thái phó.
11) Xuống chiếu gọi
Xuống chiếu gọi tức là xuống chiếu triệu kiến đối thủ, sau đó bắt và giết. Câu chuyện Khang Hy bắt Ngao Bái mà mọi người đều biết, ở đây không miêu tả thêm nữa, chẳng qua cách dùng chính là phương pháp này.
12) Giả lệnh để giết
Chính là giả tạo ra mệnh lệnh của hoàng đế, dụ đối thủ đến và giết họ.
Cuối thời Đông Tấn, Hoàn Huyền cướp ngôi, đời Tấn đế vào Tầm Âm, Hoàn Tu đã nối giáo cho giặc. Lưu Dụ tạo giải chiếu lệnh của hoàng đế đã giết Hoàn Huyền.
Vì vậy, họ trước tiên đã tiến hành bố trí chu đáo. Lưu Nghị tập hợp 27 «nghĩa đồ», 110 người bằng lòng đi theo, vào giờ Bính Thìn, đợi khi cửa thành mở, Hà Vô Kỵ mặc chiếu phục đứng đầu đọc chiều, «nghĩa đồ» cùng nhau chạy ùa vào và kêu to lên.
Bọn quan lại luống cuống, lao nhao tan đi. Họ liền nhân cơ hội giết chết Hoàn Tu. Lưu Dụ còn khóc nức nở mãi không thôi và cấp tiền chôn cất hậu hĩnh. Mạnh Sưởng thì khuyên Hoàn Hoằng đi săn, khi trời còn chưa sáng, Mạnh Sưởng cùng năm, sáu mươi tráng sĩ, nhân cửa thành mở đã vào. Hoàn Hoằng còn chưa rõ đầu đuôi, liền bị chém chết.
Sau khi nghĩa quân bắt đầu vào thành, Lưu Dụ trèo lên thành nói to: «Chúng tôi mang theo mật chiếu tiêu diệt dị đảng, tên phản tặc đã bị giết, thủ cấp của nó đã làm mồi cho chim rồi. Các vị chẳng lẽ không muốn làm bầy tôi cho Đại Tấn?». Địch quân tin đây là thật bèn rút lui, không dám dùng vũ lực.
13) Dịch dụ
Dịch dụ chính là lợi dụng quân đồng minh của kẻ địch hoặc bản thân của kẻ địch để dụ và giết kẻ địch.
Thời nhà Minh, viên quan ở châu Quy Thuận là Sầm Chương, là người rất có mưu trí. Điền châu Sầm Mãnh lại là con rể của ông ta.
Sầm Mãnh phạm pháp luật, người ta đã tâu rõ tội trạng của ông ta, Hoàng đế xuống chiếu bắt Sầm Mãnh và tuyên bố ai bắt được sẽ được thưởng vàng bạc và chức quan.
Đô ngự sử Diêu Mạc định xuất quân đi đánh, nhưng lại sợ hai người họ Sầm hợp mưu với nhau, liền hỏi Đô chỉ huy sứ Thẩm Hy Nghi về đối sách. Thẩm biết thuốc hạ là Triệu Thần có quan hệ tốt với Chương, liền tìm Triệu Thần đến, nói: «Nghe nói con gái của Sầm Chương bị thất sủng, Sầm Chương rất hận con rể là Sầm Mãnh, ta muốn để cho Sầm Chương đi đánh Sầm Mãnh có được không?». Triệu Thần đã tiến cử mưu kế của mình.
Ngày hôm sau, Triệu Thần gặp Sầm Chương, hai người cùng ngồi uống rượu. Triệu Thần nói: «Quân môn phụng chỉ đi đánh Điền châu, mà ông là bố vợ của Sầm Mãnh, quân môn sẽ dùng lính trấn an đến tập kích ông. Tôi không bảo với ông, ông ắt sẽ chết không nghi ngờ gì nữa, tôi nói với ông, tôi cũng sẽ chết».
Hai người cùng khóc một hồi. Sầm Chương lập tức phái người đi đến chỗ «quân môn», trình bày rõ những tội trạng của Sầm Mãnh mưu phản, và tự nguyện đi bắt Sầm Mãnh. Thẩm Hy Nghi đồng ý. Thế là cử người đi đánh Sầm Mãnh. Con trai của Sầm Mãnh bị chết trận, thua to. Sầm Chương đã dụ Sầm Mãnh đến Quy Thuận.
Trong lúc uống rượu, Chương nói: «Lính triều đình bắt ông rất gấp, tôi không thể che chở cho ông được!». Sầm Mãnh kêu to: «Ta đã mắc vào tròng lão giặc già này rồi!». Thế là liền uống thuốc độc chết. Sầm Chương đã chém thủ cấp ông ta đưa đến quan môn.
Hành vi của Sầm Chương bị các tướng bêu riếu. Sầm Chương hậm hực, cuối cùng bỏ đi học đạo với đạo sĩ Hoàng quan.
14) Kế dụ
Kế dụ, tức là lợi dụng người thông mưu của kẻ địch đến dụ bắt kẻ địch.
A Khê và con của ông là A Thích, hai người đều cùng muu trí cao, hoàng hành trong thôn bản, người Mẹo khắp xa gần không ai không khiếp sợ.
Thời Hoằng Trị nhà Minh, Đô ngự sử Khổng Dung là Tuần phủ Quý Châu, sau khi biết tình hình này, liền thông qua tìm hiểu sâu, biết rõ chỉ huy Vương Tăng và Tổng kỳ Trần Thụy, hai người này là chỗ dựa của họ. Khổng Dung bày kế nói: «Ta muốn chọn một Tuần quan». Đồng thời tỏ ý chọn Vương Tăng, sau đó nói trắng ra là Vương Tăng nhận hối lộ của A Khê, tội đáng chém đầu.

Vương Tăng sợ hãi, bằng lòng cùng với Trần Thụy đi bắt A Khê. Dân tộc Mẹo có phong tục chọi trâu. Trần Thụy đi tìm một số con trâu tốt buộc ở bên đường, mai phục sẵn hơn một trăm tráng sĩ ở đó. Sau đó vào trại gặp A Khê, thăm hỏi vài lời, hai bên xem chọi trâu.
Bỗng nhiên có người báo cáo Tuần quan đại nhân đến. A Khê vừa nhìn thấy là Vương Tăng, liền không cho là đúng. Trần Thụy lấy cớ «quan mới gặp đao», cho là không lợi, bảo A Khê và A Thích bỏ dao xuống.
Vương Tăng cố ý nói: «Các ông không làm tốt cái lều vải che, vờ vịt ở đây làm gì?» A Khê và A Thích cho là nói đùa, không thèm quan tâm.
Vương Tăng cả giận nói: «Chẳng lẽ cho rằng ta không dám bắt các ông?». A Khê và A Thích vẫn cả cười ngạo mạn, Vương Tăng hô một tiếng to, phục bình đều xông ra, qua một trận vật lộn, cuối cùng đã áp phục được hai người, đưa đến Quý Dương gặp Khổng Dung, sau đó đem họ phân thây trước công chúng.
Đến đây, trong vùng đất người Mèo mới thật sự an ninh.
44. «Đặt cửa» phải đúng «cửa»
Trên vũ đài chính trị, nếu muốn đóng một vai nhất định, ắt phải bước vào sàn diễn. Việc này đòi hỏi phải biết chọn lựa và phán đoán, nói thông tục một chút chính là «đặt cửa». Đây có thể là một vấn đề trí tuệ lớn, một tầm nhìn rộng.
Có một người đàn bà trong lịch sử Trung Quốc, bà đã đóng một vai trò quan trọng, mà ở mức độ rộng có thể nói là một cuộc hôn nhân ngẫu nhiên tạo thành.
Lã hậu tên là Trĩ (241 trước CN – 180 trước CN), là người Đan Phụ, Sơn Đông (nay là huyện Đan, Sơn Đông), là Hoàng hậu của Hán Cao tổ Lưu Bang. Sau khi Lưu Bang mất, bà trở thành Thái hậu, ngự triều điều khiển 16 năm, là Nữ hoàng không mũ miện đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc.
Trong lịch sử thời đầu Tây Hán, Lã hậu chiếm địa vị quan trọng, nhưng ở phía sau bà thì khen chê mỗi người mỗi ý.
Đánh giá khách quan, trong thời kỳ bà nắm quyền lớn, đã thực hành chính sách «nghỉ ngơi dưỡng sức», khiến cho chính trị, kinh tế và văn hóa của triều Hán đều được phát triển vững chắc, đã đặt nền móng chính trị và vật chất cho việc quản lý của Văn đế và Cảnh đế sau này.
Nhưng phẩm hạnh chính trị của bà vì dùng họ Lã thay cho họ Lưu đã không từ thủ đoạn nào thoán quyền điều hành đất nước, tự buông thả lộng hành, độc ác gian trá, gây bè kéo cánh, lại khiến cho bà đứng vào hàng những nhà âm mưu thời xưa của Trung Quốc không mấy ai bì kịp.
Lã công, cha của Lã Trĩ thuộc tầng lớp những người làm quan ở Đan Phụ, do đó Lã Trĩ từ thuở nhỏ đã được sống cuộc sống của con gái nhà quyền quý, lớn lên xinh đẹp như ngọc.
Năm 221 truớc công nguyên, Lã công vì trốn tránh một gia đình thù địch, đã đem cả gia quyến rời khỏi Đan Phụ, đến ở vùng giáp huyện Bái, nhờ vả người bạn tốt của ông là Huyện lệnh (quan) huyện Bái. Huyện lệnh huyện Bái chiếu cố đến tình bằng hữu đã giữ gia đình Lã công ở lại.
Xuất phát từ thiện ý kính trọng, Huyện lệnh huyện Bái quyết định tổ chức bữa tiệc lớn đón Lã công, đồng thời mời các thân sĩ địa phương và các quan chức của huyện Bái đến chúc mừng, từ đó mà dẫn đến cuộc hôn nhân của Lã Trĩ với Lưu Bang mang đầy màu sắc truyền kỳ.
Cha Lưu Bang là một người làm ruộng, nhưng Lưu Bang lại không thích lãnh đạo, dựa vào võ nghệ có thể vung gậy vung thương, lại xin được một chức Đình trưởng Tứ Thủy con con, đi lại rất thân mật với Công tào Tiêu Hà, Điển ngục trưởng Tào Tham, huyện lại Hạ Hầu Anh của huyện Bái.
Lưu Bang cũng tham dự bữa tiệc lớn của Huyện lệnh huyện Bái tổ chức đón Lã công, mà còn thản nhiên bình tĩnh ngồi trên mâm đầu, nói cười vui vẻ, uống rượu tới tấp như bên cạnh không có người.
Rượu tàn tiệc tàn, mọi người khách đều cáo từ ra về, Lã công dùng mắt tỏ ý muốn Lưu Bang lưu lại. Chờ lúc không có ai, Lã công nói với Lưu Bang: «Tôi thời trẻ đã xem tướng cho người khác, vẫn chưa từng nhìn thấy người có tướng phúc như ông, chẳng hay ông đã có người thân chưa?».
Lưu Bang đã sống tới 36 tuổi, vẫn chưa từng có người quan tâm đến việc hôn nhân của mình, vội vàng trả lời: «Gia đình bần hàn, còn chưa cưới vợ».
Lã công vui vẻ nói: «Thế thì thật hay, tôi có một con gái, vẫn đợi trong khuê phòng, nếu như không ghét bỏ, muốn hứa gả cho ông».
Lưu Bang nghe xong cảm thấy việc vui từ trên trời giáng xuống, một xu không mất được ăn một bữa tiệc thịnh soạn thì chẳng nói làm gì, lại kiếm không được cô vợ, trong lòng vui mừng khôn xiết. Lập tức vươn người vái xuống nhận lời, sau khi định ngày đón dâu, hớn hở cáo từ về nhà.
Lã công về đến nhà, đem chuyện hứa hôn nói với vợ, vợ ông nghe xong rất tức giận.
Bởi vì vợ chồng Lã công có 2 con trai, 3 con gái. Hai trai là Lã Trạch và Lã Thích Chi, 3 gái là Lã Trường Cú, Lã Trĩ và Lã Tu. Trong ba cô gái chỉ có Lã Trĩ là trông dáng vẻ xinh đẹp, có tướng «quý nhân», do đó thường được cưng chiều, không thể nhẹ nhàng hứa gả cho người thường được.
Lã công đã đem vị «quý nhân» này hứa gả cho Lưu Bang thật là việc không đâu vào đâu, Lưu Bang hay nói khoác, mà hơn kém nhau trên 10 tuổi, giống như một đóa hoa đẹp cắm vào bãi phân trâu.
Lã phu nhân nói với chồng: «Trước kia ông nói cô con gái thứ hai phải gả cho quý nhân, Huyện lệnh huyện Bái cầu hôn ông đều không ưng, ngày nay lại vô cớ đem gả cho Lưu Bang, ông ta có phải là quý nhân không?».
Lã công không nổi nóng, vẫn cười ha hả bền bỉ giải thích nói: «Phận đàn bà của các bà không biết lý của nó, bà hãy yên tâm, con mắt của tôi không thể nhầm được».
Lã phu nhân không thể thay đổi được ý chồng, đành phải đồng ý việc hôn nhân này.
Chẳng mấy chốc ngày tốt đã đến, Lưu Bang thay lễ phục, tự đến đón dâu.
Lã Trĩ trang điểm xong, ngồi lên xe hoa, theo Lưu Bang đi. Nếu như nói Lã công gả con gái là xuất phát từ ngẫu nhiên nhưng việc lấy nhau của Lưu Bang với Lã Trĩ, lại làm thay đổi hẳn vận mệnh của Lã Trĩ, làm cho một người con gái bình dân thông thường như bà, được bước lên vũ đài chính trị, để thi thố tài trí của mình trong những năm tình thế biến đổi.
Sau khi Lã Trĩ kết hôn với Lưu Bang, do nhu cầu của chức trách, Lưu Bang thường phải đi công cán ra ngoài, khiến cho Lã Trĩ, tiểu thư lá ngọc vàng này cũng buộc phải thay đổi phương thức sống trước kia của bà, phải cày bừa trồng trọt tại phong ấp, nuôi dưỡng cha mẹ già, lo liệu công việc gia đình, từ một ý nghĩa nào đó để xét, cuộc sống lao động sau khi lấy chồng này đã rèn luyện Lã Trĩ tinh thông sinh kế và cá tính làm việc già dặn.
Lưu Bang từ nhỏ đã phóng đãng, trước khi chưa cưới Lã Trĩ, đã tằng tịu với một cô gái con nhà họ Tào. Nhưng trong lòng Lưu Bang, gia đình Lã Trĩ cao quý, người lại xinh đẹp như hoa như ngọc, đương nhiên lấy bà làm vợ chính, còn cô gái họ Tào làm vợ bé (thiếp).
Về sau, Lã Trĩ đã sinh cho Lưu Bang một trai một gái, chính là Hán Huệ đế Lưu Doanh và trưởng công chúa Lỗ Nguyên, Tào thiếp cũng sinh được một con trai, vốn là con trai trưởng, nhưng vì dòng thứ nên không được lập.
Năm 210 trước công nguyên, Lưu Bang đã lôi kéo được một đội ngũ tạo phản khoảng một trăm người tại núi Mang Đãng. Ngày qua tháng lại, khó tránh sinh ra tư tưởng nhớ nhà, liền nhờ người mang hộ một phong thư cho Lã Trĩ, bảo bà đến núi gặp. Nhưng lúc đó Lã Trĩ đang bị ngồi tù thay cho Lưu Bang tại huyện Bái.
Bởi vì, từ sau khi Lưu Bang dung túng bọn tù, lôi kéo thành đội ngũ tạo phản, tin đó truyền đến huyện Bái, Huyện lệnh ngay lập tức sai người đến lục soát nhà Lưu Bang, Lã Trĩ vì liên quan đến tội của chồng đã bị bắt ngồi tù thay chồng.
Lã Trĩ lúc này tứ cố vô thân (ngó bốn bề không có ai thân thích), đành phải bền chí, chịu đựng sỉ nhục. Về sau may nhờ có Tiêu Hà giúp đỡ mới được tha về nhà.
Lã Trĩ trải qua việc lớn này, càng trở nên chín chắn hơn, đồng thời có một mối hận thù không thể kể hết, vùi sâu trong đáy lòng.
Mấy ngày sau, Lã Trĩ cuối cùng đã đến được núi Mang Đãng để gặp Lưu Bang. Lưu Bang đối với việc này cảm thấy hết sức kinh ngạc, liền trước mặt mọi người hỏi Lã Trĩ: «Bà là phận đàn bà, làm sao biết được hành tung của chúng tôi?».
Lã Trĩ hiểu ý của Lưu Bang nói, lập tức cảm thấy đây là thời cơ tốt dựng lên uy tín của chồng, liền nói với vẻ đầy thần bí: «Tiểu thiếp có thể nhận ra khí của Thiên tử, thiếp hễ nhìn thấy nơi có Thiên tử khí thì đi đến chỗ đó, quả nhiên đã tìm được Chàng».
Những lời này của bà một truyền mười, mười truyền trăm, các thanh niên xa gần khắp huyện Bái đến nương nhờ Lưu Bang, danh tiếng của Lưu Bang đồn đi khắp nơi, đến khi Trần Thắng và Ngô Quang khởi nghĩa, đội quân mã của Lưu Bang đã có mấy trăm người.
Lúc này, Tiêu Hà, Tào Tham và Phàn Khoái ở huyện Bái, triệu Lưu Bang trở về huyện Bái giết Huyện lệnh, mọi người đồng ý cử Lưu Bang làm Huyện lệnh, Lưu Bang vẫn xưng và Bái công, quay lưng lại với Tần, tự làm chủ. Việc này trong đó đều có công của Lã Trĩ, bà bịa ra câu chuyen «thiên mệnh» đã mở rộng ảnh hưởng cho Lưu Bang, đây chứng tỏ Lã Trĩ thời trẻ có thể tùy cơ ứng biến, có sở trường về mưu toan. Cuộc tranh giành giữa Lưu Bang với Hạng Võ kéo dài một thời gian, Lưu Bang liền để Lã Trĩ cùng với cha già và con nhỏ ở lại phong ấp quê nhà, trong một trận đánh, trưởng công chúa Lỗ Nguyên dẫn em trai là Lưu Doanh lẫn trong dân lánh nạn chạy trốn đã gặp Lưu Bang. Còn Thái công (cha), Lã Trĩ và thuộc hạ Thẩm Thực Kỳ, ba người lại bị Hạng Võ bắt giữ.
Từ tháng 5 năm 205 trước CN đến tháng 7 năm 2002 trước CN, Lã Trĩ làm tù nhân 3 năm trong quân của Hạng Võ.
Trong 3 năm này, Hạng Võ đem Lã Trĩ và Thái công nhốt trong xe tù, thường xuyên đặt ở tiền tuyến. Hạng Võ còn đào một cái hố to trên trận địa, đặt lên một chiếc nồi lớn, uy hiếp Lưu Bang lui quân, bằng không thì bắt Lã Trĩ và Thái công chịu hình phạt bỏ nồi nấu chín.
Mãi đến sau khi Hán Sở ký hiệp định đình chiến lấy Hồng Câu phân chia thiên hạ, Lã Trĩ và Thái công mới trở về ở bên cạnh Lưu Bang.
Lã Trĩ trải qua 3 năm rèn luyện của cuộc sống tù đầy, không những càng thêm ngoan cường, mà còn học được khả năng co được duỗi được, giấu tài. Về sau này bà trở thành một nhà chính trị lớn, hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên.
45. Tử vong bức ép ra trí tuệ
Trong cuộc sống, mọi người đều có thể gặp khó khăn ở đằng này hoặc đằng khác, có người thậm chí trong một đời còn nhiều lần gặp tai nạn nguy hiểm đến tính mệnh.
Tục ngữ nói: «Chín phần chết, một phần sống» - chỉ cần người ta có thể khi đứng trước cái chết, giữ được bình tĩnh, tránh được khiếp sợ thần chết, sẽ có thể giành được sự hồi sinh.
Trần Nghị trong vòng bị địch bao vây, thân thể bị trọng thương, đã để lại những vần thơ bất hủ cho đời.
Đoạn đầu kim nhật dĩ như hà?
Huyết vũ tinh phong bách chiến đa.
Thử khứ tuyền đài chiêu cựu bộ,
Tinh kỳ thập vạn trảm Diêm La.
Bài thơ đã bày tỏ khí phách anh hùng vô cùng gan dạ xem thường cái chết của một nhà cách mạng của giai cấp vô sản.
Đứng trước cái chết, mỗi người đều có thể đưa ra sự chọn lựa cho mình.
Nêu một ví dụ:
Trước kia, có hai anh em dính líu đến một bản án, họ rõ ràng là rất oan uổng, nhưng đối mặt với bọn hôn quan, họ lại bất lực.
Thế là, họ bị xử tội chết, bị giam lại chỉ đợi đến sáng hôm sau sẽ chém đầu trước công chúng.
Sinh mệnh đối với họ là vô cùng quý báu, thời gian để họ sống thêm cũng chỉ có đúng một đêm.
Người anh đau khổ khóc lóc, túm chặt cửa nhà lao hét to: «Oan uổng quá! Oan uổng quá! Chúng tôi đích thực không làm việc gì xấu cả! Các ông dù giết chết chúng tôi, chúng tôi cũng là ma chết oan ức. Ở trên dương gian không thể kêu oan, xuống đến âm phủ cũng phải đến Diêm vương khiếu nại oan tình...».
Người em vẫn đứng một bên không nói một lời.
Người anh thấy kêu la lớn cũng chẳng có ích gì, liền nói với người em: «Lúc này, anh em mình thế là hết! Vì sao số phận chúng ta lại khổ như thế!» đồng thời đem một mẩu bánh duy nhất nhét cho em, để người em ăn no, nói: «Chết thì chết, nhưng anh vẫn xem như sống nhiều hơn em mấy năm, em phải đem mẩu bánh này ăn đi, không nên làm một con ma đói!».
Người em không ăn mẩu bánh nói: «Anh ơi! Bây giờ còn chưa đến lúc chết, cách lúc trời sáng còn mấy canh giờ nữa, anh làm sao cứ nói chết, nói chết? Sao chúng ta lại không thể nghĩ ra một chút biện pháp?».
Người anh nghe em nói, càng tuyệt vọng: «Cái chết đã rơi xuống đầu rồi, trời sáng thì sẽ bị chém thôi, còn có biện pháp gì hay mà nghĩ nữa?» lại thúc giục người em ăn bánh tiếp.
Lúc này, người em đẩy tay của người anh ra, phát hiện ở cạnh mình có một đống rơm, liền men theo đống rơm dò dẫm về phía trước. Trong lòng nghĩ: chỉ cần có một phần vạn hy vọng sống, đều phải nghĩ cách để sống tiếp.
Người em thông qua rơm đã phán đoán: gian nhà lao này rất có thể là một cái chuồng súc vật. Đúng như dự đoán, anh ta từ phía đống rơm đã phát hiện ra phân súc vật.
Anh ta vừa chau lông mày đã nảy ra mưu kế, liền lôi kéo nguoi anh bò lên phía trước.
Bởi vì anh ta đoán: phàm là chuồng súc vật, đều phải có máng ăn; máng ăn thì ở giữa đều là rỗng. Lúc này, người em liền nói với anh: «Chúng ta có cách cứu rồi». Kéo tay người anh, họ liền đi dọn máng ăn.
Hai anh em lều chết cào đất, cuối cùng từ dưới đáy máng ăn đã đào được một đường thông, trước lúc trời sáng đã dìu nhau trốn ra khỏi.
Câu chuyện này nói lên rằng, bất kể gặp khó khăn to lớn bao nhiêu, đều không nên mặt ủ mày ê: dẫu là đứng trước uy hiếp của cái chết, cũng không nên tuyệt vọng, có một tia hy vọng đều phải dốc hết sức đi tới để giành lấy.
46. Trừng phạt một người răn đe trăm người
Chúng ta thường nói phải nắm điển hình, lấy điểm đại diện đẩy mạnh toàn diện.
Thực ra, người xưa cũng biết những điều này, hơn nữa trong tiến trình lịch sử mấy ngàn năm, họ làm được tương đối thành công.
Ví như:
Năm 271 trước CN, Triệu Xa nhậm chức lại bộ Điền nước Triệu, đó là một chức quan nhỏ chuyên thu thuế ruộng đất.
Ông ta đến nhà Bình Nguyên quân thu thuế, nhưng nhà Bình Nguyên quân không chịu nạp. Lúc đó Quốc vương nước Triệu là Triệu Huệ Văn vương, Bình Nguyên quân Triệu Thắng chính là em trai của Quốc vương mà ông ta lại là Tướng quốc.
Ở trong nước ông ta có ấp phong rất lớn, ruộng liền bờ, đại quản gia thay ông ta quản lý điền trang các nơi đã có tới 9 người, tiểu quản gia thì không biết bao nhiêu mà kể.
Mấy đại quản gia này đã dựa vào quyền thế của Bình Nguyên quân, từ chỗ không chịu giao nạp thuế ruộng đất cho quốc gia mà còn «cáo mượn oai hổ» làm hại dân chúng.
Việc này đã khiến cho bọn cấp dưới làm theo, hành vì tồi tệ của họ đã ảnh hưởng đến các quý tộc và quan viên khác đều không chịu giao nạp thuế ruộng đất.
Triệu Xa một mực chờ mãi đến thời gian phải hoàn thành thuế theo quy định, cũng không thấy mấy vị quản gia này động tĩnh gì, liền sai người đến đốc thúc, từng người một vẫn trở về tay không, thậm chí còn không gặp được mặt các quản gia nữa.
Do vậy, Triệu Xa quyết đoán kịp thời, lập tức phái một đội dũng sĩ bắt hết thảy 9 vị quản gia giết chết, gây nên chấn động rất lớn.
Triệu Xa lúc đó ở nước Triệu không có địa vị và danh tiếng gì, chẳng qua là một vị quan nhỏ thu thuế ruộng đất. Mà Bình Nguyên quân Triệu Thắng, lại không những là em trai của Triệu Huệ Văn vương, lại đã từng ba lần làm Tướng quốc nước Triệu.
Khi đó, ông ta cùng với Mạnh Thường quân của nước Tề, Tín Lăng quân của nước Ngụy và Xuân Thân quân của nước Sở hợp thành cái tên «Tứ Quân», là một trong bốn công tử nổi tiếng thời Chiến quốc.
Ông ta giàu có nhất thiên hạ, nuôi ba ngàn kẻ sĩ, giao du rộng rãi, môn khách đầy nhà, lại thân với hiệp sĩ, không những thanh danh hiển hách ở nước Triệu, là đại quý tộc, đại hào kiệt người người ngưỡng mộ, chính là cũng có danh vọng rất cao trong các nước chư hầu, được công nhận là nhà chính trị hàng đầu.
Ông ta có ấp phong rất lớn, nhưng 9 người đại quản gia của ông cậy thế không nạp thuế, bởi vì Bình Nguyên quân là thân tộc của Triệu vương, là Tướng quốc đương triều, ai dám làm gì ông? Huống chi một viên quan nhỏ bộ Điền, địa vị thấp hèn vừa mới nhậm chức? Họ căn bản không thèm để ý đến Triệu Xa, bề ngoài ầm à ầm ừ vài câu, trong lòng rất khinh thường Triệu Xa.
Lại còn cảm thấy Triệu Xa mới nhậm chức, chưa thông việc đời, chính là «quan mới nhậm chức chỉ ba bó đuốc» cũng phải tìm đúng chỗ mới dám đốt lửa, đâu dám làm gì Bình Nguyên quân? Nhưng Triệu Xa cho rằng mình là viên quan đảm nhận việc thu thuế ruộng đất của quốc gia, ấp phong của Bình Nguyên quân lớn, thuế ruộng đất đương nhiên là nhiều, lại không chịu nạp, ông ta không tuân theo pháp luật, phụng sự việc công, người khác ắt sẽ bắt chước, đây đích thực là một việc lớn có quan hệ đến sự hưng suy tồn vong của nước Triệu.
Cho nên Triệu Xa muốn chỉnh đốn thuế ruộng đất của quốc gia, giải quyết tệ nạn này ắt sẽ phải bắt đầu giơ đao lên từ nhà Bình Nguyên quân, mới đủ gây được tác dụng «giết gà dọa khỉ», giết một người răn trăm người.
Cho nên ông kiên quyết bắt 9 đại quản gia của Bình Nguyên quân dựa thế lừa người, từ chối không theo pháp luật về, lập tức chém đầu họ.
Khi Bình Nguyên quân biết được 9 người đại quản gia của ông bị Triệu Xa giết chết, đương nhiên đùng đùng nổi giận, lập tức sai người bắt Triệu Xa, chuẩn bị giết Triệu Xa để trả thù cho các quản gia.
Sau khi Triệu Xa bị bắt đến Tướng phủ, mặc cho Triệu Xa chửi mắng, uy hiếp, mặt không hề biến sắc, không chút sợ sệt, điềm tĩnh thản nhiên như không.
Việc này gây được chú ý của Triệu Thắng, khiến cho Bình Nguyên quân Triệu Thắng tự cho mình là hào kiệt nhân nghĩa không thể không ngầm khâm phục. Do đó đã dùng thái độ hòa hoãn: «Khanh dựa vào cái gì dám cả gan không thông qua ta, đã giết chết các quản gia của ta?».
Triệu Xa bình tĩnh nói: «Xin đại nhân nghĩ lại xem, Ngài ở nước Triệu địa vị cao nhất, được tôn kinh nhất. Nhưng, các quản gia của Ngài dẫn đầu chống nạp thuế ruộng đất, cứ như vậy thì nhiều người có quyền có thế đều bắt chước không nạp thuế ruộng đất. Mà ruộng đất của các Ngài lại rất nhiều, đều không nạp thuế, thì quốc gia làm thế nào? Nạp thuế là pháp lệnh của quốc gia, nếu như thần đối với việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng như thế nên Tướng phủ, bỏ mặc không quản lý, điều này ắt sẽ làm suy yếu và phá hoại pháp lệnh của quốc gia; pháp luật lỏng lẻo, quốc gia ắt suy yếu; quốc gia suy yếu, các nước chư hầu khác sẽ thừa cơ đột nhập, nước Triệu có thể có nguy cơ diệt vong. Nếu như nước Triệu diệt vong, thử hỏi Tướng quốc còn có thể hưởng thụ vinh hoa phú quý của Ngài được không? Hiện nay thần đối với 9 người quản gia của Tướng quốc vi phạm pháp luật đều không tha thứ, cả nước trên dưới ai còn dám chống thuế chống nạp nữa? Nếu như mọi người trong cán đều tuân theo pháp luật, phụng sự việc công, quốc gia sẽ có thể yên ổn, giàu mạnh; quốc gia giàu mạnh, các nước chư hầu không dám ức hiếp. Ngài là thân tộc của nước Triệu, là quý công tử của nước Triệu, phải chăng nên suy nghĩ cho đất nước. Chẳng lẽ, Ngài bằng lòng vì việc nhỏ này đi làm hại quốc gia của mình chăng? Đối với thần, nếu như Ngài không sợ người trong thiên hạ cười chê, thì có thể tùy ý xử phạt thần».
Những lời này, trong mềm dẻo có cứng rắn, hợp tình hợp lý. Bình Nguyên quân không thể không «tâm phục khẩu phục». Ông phát hiện Triệu Xa là một người gan dạ và sáng suốt, là một nhân tài hiếm có.
Do vậy, ông chẳng những không xử phạt Triệu Xa, ngược lại ông đem mọi nguyên nhân và sự kiện của việc Triệu Xa giết chết 9 người quản gia trình bày với Triệu vương không sót một chữ, mà còn hết sức tiến cử Triệu Xa. Triệu Huệ Văn vương tiếp nhận kiến nghị của Bình Nguyên quân bắt đầu sử dụng Triệu Xa, để ông ta phụ trách thu thuế và quản lý tài chính quốc gia.
Sau khi nhậm chức, Triệu Xa dốc sức chỉnh đốn thuế khóa và tài chính, có gương của 9 đại quản gia nhà Bình Nguyên quân, các hào môn quý tộc của nước Triệu, ai cũng không dám thọc gậy bánh xe. Vài năm sau, thu nhập thuế khóa và tài chính của nước Triệu đã tăng cường với mức độ lớn, quốc khố sung túc, trở thành một nước mạnh trong các nước chư hầu.
Ở đây, Triệu Xa đã vận dụng đúng đắn phương pháp đấu tranh tài giỏi, ông thực hiện có lý, có kiềm chế, «chờ đợi», «đôn đốc» nhắc nhở, đều không được, mới dùng thủ đoạn cứng rắn quả quyết, đem giết chết cả 9 người quản gia.
Ông đã chọn nhà Bình Nguyên quân chức cao thế lớn để khai đao, pháp luật không làm theo tình riêng đã gây được hiệu quả «giết gà dọa khỉ» tốt nhất. Một viên quan nhỏ bộ Điền địa vị thấp hèn, lại dám xúc phạm Bình Nguyên quân thanh danh hiển hách, đã thuyết minh rõ Triệu Xa là lo lắng cho quốc gia, không tính đến an nguy của cá nhân, giữ vững pháp luật, đích thực là một người có gan dạ và hiểu biết, giỏi mưu lược.
Về sau, Triệu Xa đã từng được bổ nhiệm làm Tướng quân, giỏi dùng binh.
Năm 270 trước CN, Tần đánh nước Hàn bao vây tại Dữ (nay là Hòa Thuận tỉnh Sơn Tây), nước Hàn sai người sang cầu cứu nước Triệu, lúc đó Lận Tương Như và Liêm Pha đều cho rằng «tại Dữ đường hiểm trở mà hẹp, cứu không thuận tiện».
Chỉ có Triệu Xa khuyên nên cứu viện. Triệu vương liền hạ lệnh cho Triệu Xa đem quân đến cứu. Ông củng cố thành lũy, vờ làm như cố thủ tại chỗ, chỉ thủ không cứu viện làm cho quân Tần lơ là cảnh giác. Nhưng liền đó lại quấn giáp vội vã đi thẳng tới gần Dữ, chiếm cứ Bắc Sơn, để tỏ thanh thế chiếm của người trước, đại phá quân Tần. Đích thực là một nhân tài quản lý quốc gia.
Người xưa có phương pháp giết một người răn trăm người «trị quốc an bang» (quản lý đất nước và làm dân chung sống yên vui) đã giành được hiệu quả rất tốt, mà còn lưu truyền lại rất nhiều, chuyện mọi người, mọi nhà đều biết.
Đến thời nay, để trừng trị hủ bại, Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã có quyết tâm rất lớn, trừng phạt bọn tham quan lớn như Tỉnh trưởng Giang Tây – Nghê Hiến Sách, Bí thư Thị ủy Bắc Kinh – Trần Hy Đồng làm cho dân chúng cảm thấy hả lòng hả dạ.
Không nói cũng đủ hiểu, hủ bại là kẻ thù lớn của Đảng Cộng sản Trung Quốc, kẻ thù lớn của chính quyền nhân dân Trung Quốc, kẻ thù lớn của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc.
Xét theo đó, Đảng và Chính phủ Trung Quốc hết sức coi trọng đối với việc chống hủ bại. Đã đặt ra hết văn bản này đến văn bản khác, tiến hành giáo dục tư tưởng sâu sắc và chu đáo tỉ mỉ đối với cán bộ, đặc biệt là đối với các phần tử hủ bại. Kiểm tra có chứng cứ thực phải xử lý theo pháp luật và tiến hành trừng phạt nghiêm ngặt, có người ngồi tù, có người tử lưng, để trừng trị một người răn đe trăm người, khiến mọi người nhìn thấy mà khiếp sợ, qua đó nhận được sự giáo dục cần thiết.
Mấy năm trước, Quản Chí Thành của Công ty Gang thép Thủ đô, vì tham ô và nhận hối lộ bị xử tử hình, song tiếp ngay sau đó Trâu Quân, Triệu Đông Tường, Ứng Hải Minh, Chu Bắc Phương lại bắt chước làm theo, phạm tội kim ngạch đều từ 1 triệu NDT trở lên.
Lại như tháng 1 năm 1995, bà Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Quý Châu, Ủy viên Thường vụ «Chính Hiệp» tỉnh, chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty ủy thác đầu tư Quốc tế Quý Châu là Đảng mới nhậm chức Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc của công ty đó là Hướng Minh Tự, lại vi phạm tội nhận hối lộ mà phải vào tù.
Một cán bộ lãnh đạo cấp giám đốc sở tuổi trẻ, sức khỏe, tương đối có tài, chỉ vẻn vẹn hơn 1 năm, đã bước theo vết xe đổ của Diêm Kiến Hồng đi đến hủy diệt. Xe trước đã đổ, xe sau phải lấy đó làm răn.
Vì lẽ gì những phần tử hủ bại này không rút ra được bài học của những người đi trước, không nhảy xuống hố lửa không được chăng?
Thực ra, những phần tử hủ bại này không phải là không hiểu được kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước càng không phải là hạng người vô tri.
Khi bàn đến việc «Lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt», họ cũng ba hoa thiên địa, hăng hái khảng khái. Tên quan tham ô Hồ Kiến Học, khi nhậm chức Bí thư Thị ủy An Thái, đã từng đem việc chống hủ bại đề xướng liêm khiết ra nói thông vanh vách, đâu ra đấy.
Trong một đại hội cán bộ, ông ta đưa ra cách giải thích tuyệt hay, kích động lòng người đối với chữ «Tiền»: «Các bạn đã thấy chưa? Chữ «Tiền» này (chỉ chữ tiền viết theo phồn thể) bên trái là một kho vàng (chữ kim), bên phải là hai chữ «qua», đại biểu cho hai vệ sĩ đang cầm cây thuong (vũ khí thời xưa) để canh giữ. Cho nên quyết không để thò tay vào lấy tiền, thò tay vào tất nhiên sẽ bị tóm».
Song đồng thời với việc ba hoa nói «quyết không thể thò tay vào lấy tiền» thì bản thân ông ta lại tham ô nhận hối lộ, bán quan để kiếm tiền, nhét căng túi mình một cách điên cuồng.
Những người này nói một đàng, làm một nẻo, tận xương tủy không tin những câu châm ngôn cảnh cáo «Lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt», «thò tay vào tất nhiên sẽ bị tóm» như thế.
Họ có một tâm lý của kẻ đánh bạc, tin tưởng những kẻ tham gia đánh bạc dứt khoát có người thắng, cũng không thể hoàn toàn thua. Trong sòng bạc nếu như luôn luôn thua, đi vào đó chính là mất tiền, như thế thì làm gì có sức quyến rũ nữa? Có con bạc nào bước vào sòng bạc là để mất trắng hết tiền? Bởi vì thua trong sòng bạc thật ra không may chỉ có hiệu quả nhanh chóng như thế, mà là có lúc lên lúc xuống, có khúc khuỷu quanh co.
Cho nên con bạc bước vào sòng bạc chính là muốn thắng, muốn gặp vận lớn phát tài to, đứng trước sự cám dỗ của việc thắng, tâm tư hoang mang trôi nổi, tay ngứa ngáy khó chịu, đủ cho khuynh gia bại sản, ly tán vợ con, cũng phải liều một phen, ảo tưởng vớt vát lại tất cả những cái trước kia đã mất.
Các nhà y học đã từng làm thực nghiệm: Con người chỉ có khi đánh bạc trong cơ thể mới có thể sinh ra một loại vật chất đặc biệt gọi là Opinum peptide, loài vật chất này có thể làm cho con người ta ở mức độ lớn nhất nhận được kích thích, nằm trong trạng thái hưng phấn tột độ và tinh thần tập trung cao độ.
Nhiều con bạc bước vào sòng bạc đều là trước tiên thưởng thức được món hời, cũng nhìn thấy người xung quanh thắng được từng đống từng đống tiền lớn, dần dần trở nên thích thú, làm sáng mắt lên, hưng phấn khác thường, từ đó bước lên con đường nguy hiểm.
Tâm lý của tên quan tham trên quan trường rất gần gũi với tâm lý của con bạc trên sòng bạc. Những tên quan tham vơ vét tiền hàng đống lớn, tham ô nhận hối lộ một cách điên cuồng, thật ra không phải không biết làm như thế sẽ bị trừng phạt của pháp luật, mà là do sự cám dỗ của đồng tiền, dục vọng cá nhân tham lam không biết chán gây nên.
«Lưới pháp luật lồng lộng, thưa mà không lọt», «thò tay vào lấy ắt bị tóm» đó là từ tổng thể, về cơ bản và về kết cục cuối cùng.
Trong đời sống thực tế là: việc thực thi của pháp luật có một quá trình, không phải là cứ mỗi một hành vi hủ bại của mỗi một tên quan tham đều có thể bị trừng phạt ngay tức khắc, việc này sẽ khiến cho những tên quan tham có một tâm lý may mắn, tin tưởng quá mức vào «tài trí thông minh» của mình, hầu như chỉ cần thủ đoạn của mình tài giỏi, liền có thể chuyển nguy thành yên ổn, trốn tránh được trừng phạt của pháp luật.
Khi nhìn thấy xung quanh có bọn quan tham còn chưa bị phát hiện, liền cho là người thắng; khi có một số hành vi tham ô nhận hối lộ nào đó của mình tạm thời chưa bị phát giác, liền thưởng thức được món hời, được cổ vũ, thế là bèn bất chấp tất cả, dám liều với nguy hiểm bi chém đầu hoặc ngồi tù, vớt vát tiền của một cách điên cuồng, còn vui mừng vì mình may mắn có thể tránh được trừng phạt của pháp luật mà ngông nghênh đắc ý.
Mao Trạch Đông nói: «Chúng ta nên làm việc một cách thực thà; trên đời phải làm nên mấy việc, không có thái độ thực thà thì căn bản không làm được». Bọn đánh bạc và quan tham, họ tự cho là thông minh, tự cho là đắc kế, thực ra là ngu xuẩn nhất.
Sự vật không thể phát triển theo nguyện vọng chủ quan của họ, lòng tham lam làm cho họ thấy lợi thì tối mặt lại, cuối cùng bước vào con đường bại gia, bại nghiệp và hủy hoại mình.
Người xưa nói: «Ham muốn quá mức thì u mê không biết đến nghĩa lý. Ham muốn nảy sinh trong một khoảnh khắc mà họa tràn ngập ngút trời». Đây chính là nguyên nhân của bi kịch và kết cục của bọn con bạc và quan tham.
Một người làm quan, nếu muốn giữ được trong sạch, thì phải kiềm chế được «ham muốn» và tránh được «tham lam», thực thà làm người, đường đường chính chính làm quan, không giành tiền tài bất nghĩa, không tham cái phúc không an phận. Như thế, bạn đều có thể «phá tan» được, «chịu đựng» được và «ngăn chặn» được mọi cám dỗ vật chất và viên đạn bọc đường.
Mục Lục
Lời nói đầu
Chương một
ÂM DƯƠNG KINH DÙNG TRONG QUAN HỆ CON NGƯỜI (NHÂN TẾ)
1. Biết nói dối một cách có thiện ý
2. Đọ sức khéo léo
3. Lấy gậy ông đập lưng ông
4. Việc lớn hóa nhỏ, việc nhỏ bỏ đi
5. Thuật trèo cao rút thang
6. Tôi đã ở chỗ đồng chí bây giờ
7. Bằng không thì bạn hãy cứ giẫm lại tôi một cái
8. Chỉ khác hai chữ, hiệu quả khác hẳn
9. Đột phá thói quen nhận thức
10. Giữa tiến công với phòng thủ
11. Mượn tên phát huy
12. Dùng vui đùa gỡ thế
13. Qua sông không dỡ cầu
14. Nước lên và nước xuống
15. Bắt tay vào từ việc nhỏ
16. Bí quyết tránh bị từ chối
17. Xử thế nhường một bước cao
18. Không lộ thanh sắc, hóa giải bất hòa
19. Bắt đối phương tiến thoái lưỡng nan
20. Âm ở ngoài dây, ý ở ngoài lời
21. Lấy lý lẽ của họ trị lại chính họ
22. Giả thiết táo bạo trong xã giao
23. Kỹ xảo phân loại
24. Tốt và xấu là do so đọ mà ra
25. Tỳ bà gảy ngược, tư duy ngược hướng
26. Hứng thú của người tự khiêm tốn
27. Biết tự «đánh trống lấp» mới được gọi là người biết đùa
28. Hạnh phúc ở ngay bên mình
29. «Âm mưu» nhỏ khi con dâu đối xử với mẹ chồng
30. Quà tặng tốt nhất là ca ngợi
31. Hãy cẩn thận với cái bẫy tuyển dụng người làm
32. Trong tâm lý nghĩ ra ý thắng người khác trước
33. Buông lời cảnh giác, vờ tha để bắt thật
34. Mánh khóe nhỏ, niềm vui lớn
35. Hãy cho đối phương một chút lợi
36. Lời nói dối của vợ
37. Lời nói tốt đẹp mọi người đều thích nghe
38. Nói lời linh hoạt, làm việc linh hoạt
39. Giả vờ phải giống như thật
40. Biết vứt bỏ
41. Thỏ khôn xây ba tổ
42. «Âm mưu» nhỏ trong đời sống vợ chồng
43. Của người phúc ta và lấy giả làm thật
44. Cương nhu đều có
Chương hai
ÂM DƯƠNG KINH DÙNG TRONG NHÂN SINH
1. Muốn chiếm đoạt phải đem cho trước
2. Trước giúp tăng thêm vẻ ngạo mạn, sau ra tay diệt mạnh
3. Trước mở, sau khép
4. Trước nhường lợi, sau được lợi
5. Nếu muốn duỗi cần phải co trước
6. Phát sinh ra thế thắng người sau, vẫn có thể xem là mưu cao
7. Khi nào co lại, khi nào duỗi ra
8. Lòng thương xót dùng cho ta,
9. «Nhân vô thập toàn» con người có chỗ yếu nhưng cũng có chỗ mạnh
10. Phải khéo làm «tiêu tan nghi ngờ»
11. Làm con cháu có gì không tốt
12. Khôi hài dí dỏm sẽ ra sao?
13. Đẩy thuyền trôi theo dòng, tương kế tựu kế
14. Lấy sai phủ định sai, thành đúng
15. Một mũi tên hai đích
16. Điều hòa sự mất cân bằng như thế nào?
17. Nhận đá ném lại người
18. Khéo léo cho đối phương vào tròng
19. Đánh chính là không đánh, không đánh chính là đánh
20. Cố ý tạo nên hiểu nhầm xuyên tạc
21. Vận dụng chiến thuật đánh thọc sườn
22. Vận dụng nguyên lý đợi chờ tâm lý
23. Cố ý giải thích sai lệch
24. Cố ý vi phạm lẽ thường tình
25. Nằm ngoài ý định và nằm trong tình lý
26. Am hiểu tường tận chân tướng
27. Lấy thoái làm tiến
28. Bình an là phúc
29. Sống trong gian khổ, chết trong yên vui
30. Thử thay đổi phương pháp tư duy
31. Làm Gia Cát Lượng sau khi sự việc xảy ra, có gì không thể?
32. Phá vỡ quy luật tư duy ngôn ngữ
Chương ba
ÂM DƯƠNG KINH «DƯƠNG DỤNG» ÂM MƯU NHƯ THẾ NÀO?
1. Giả dại giả ngây tài tình
2. Giữ vẻ bề ngoài ngờ nghệch (đại trí nhược ngu)
3. Lấy bất biến ứng vạn biến
4. Trong lộn xộn, phải bình tĩnh
5. Tinh nhanh là mưu lược
6. Trong việc dùng người có thể dùng một ít mưu toan
7. Lấy âm khắc dương, lấy nhu khắc cương
8. Không nên dễ dàng bộc lộ ý đồ chân thực
9. Hãy làm một lần «phạm lỗi»
Chương bốn
ÂM DƯƠNG KINH DÙNG TRONG KINH TẾ VÀ TIỀN BẠC
1. Tiền là một vật tốt
2. Dám hướng tới đỉnh cao phát triển
3. Thích ứng mới có thể sinh tồn
4. Kiếm tiền như chạy thuyền xuôi dòng
5. Đá ở núi khác, có thể chạm trổ thành ngọc
6. Vì sao phải cõng gánh nặng
7. Hãy học tổ tiên vài mưu kế
8. Gợi ý của «quả táo» (Apple)
9. Đứa trẻ cắt sữa có thể sống được không?
10. Kinh nghiệm của General (thông dụng)
11. Nắm tốt bánh lái của bạn
12. Hôm nay bạn có dám tiêu tiền của ngày mai không?
13. Khống chế và phát triển
14. Hãy thay đổi quan niệm trước khi mua nhà ở
15. Nghệ thuật tâm lý trong mua bán nhà
16. Thái độ đối với tiền bạc
17. Kiếm tiền và trả nợ tiền
18. Bạn có biết buôn bán không?
19. Động tác nhỏ của Motorola
20. Coi chừng cạm bẫy phía trước
21. Không nhìn thấy thỏ không thả diều hâu
22. Người Đài Loan tinh khôn
23. Chớ vội vàng, hãy từ từ
24. Vì sao người Đức có thể kiếm được nhiều tiền?
25. Tiền vốn là máu
26. Xếp sắp tiền vốn mua nhà phải có sách lược tốt
27. Tiền không tốt ư?
Chương năm
ÂM DƯƠNG KINH DÙNG TRONG SỰ NGHIỆP VÀ CẠNH TRANH
1. Cách giải quyết nhanh chóng và cách kéo dài dây dưa
2. Nghiêm khắc và khoan dung
3. Ra oai và quan sát
4. Mua chuộc để khống chế và bỏ qua tội lỗi xưa
5. Người không nên xem là thần thánh
6. Không nên làm đế vương
7. Thu nạp nhân vật hạng nhất
8. Giữ khoảng cách nhất định
9. «Âm mưu» kiểu Washington
10. Liên hợp thôn tính
11. Việc đề cử không tránh người thân và nhường quyền ra ngoài
12. Hãy nhìn Napoléon, một người tài giỏi
13. Tỏ ra ngoan ngoãn vâng lời làm đối phương lơ là cảnh giác
14. Chiến thắng đối thủ cạnh tranh ra sao?
15. Bổ nhiệm những người có khuyết điểm
16. Xí nghiệp làm thế nào đứng lên từ trong nghịch cảnh
17. Mở nhạc cho người điếc nghe
18. Ứng phó linh hoạt khi nguy cấp
19. Phải dám mạo hiểm
20. Vua «phần mềm» đã làm việc ra sao?
Chương sáu
ÂM DƯƠNG KINH VẬN DỤNG TRONG CHÍNH TRỊ QUÂN SỰ
1. Trong phạm vi cai quản của mình
2. Quan tâm đến người cấp dưới
3. Ngồi không ngư ông đắc lợi
4. Giương đông kích tây
5. Tỏ ra giả để che thật
6. Cơ động thần tốc
7. Đan xen và vu hồi
8. Tiến công giành thắng
9. Lợi dụng độ khác biệt tương phản
10. Lợi dụng chỗ trống
11. Tỏ ra là người chất phác
12. Đôla thay thế súng đạn
13. Lấy cúi lụy để cầu phát triển
14. Lợi dụng thu thập con tem
15. Im hơi lặng tiếng
16. Ký kết hiến chương
17. Lợi dụng cảnh tượng giả
18. Lợi dụng mức độ nổi tiếng
19. Cuộc tiến quân vào muối ăn
20. Luật «Chính phủ nhị nguyên»
21. Thả lỏng những việc không quan trọng
22. Chí công vô tư
23. Tôn trọng ý dân
24. Lợi dụng phu nhân
25. Lợi dụng nhà báo
26. Nói chuyện bên lò sưởi
27. Dùng nhân tài vượt khung
28. Trước lục địa, sau hải dương
29. Khiêm tốn tiếp nhận can gián
30. Khoan dung đại lượng
31. Khéo ví dụ
32. Giáng trả khéo léo
33. Sút cú bóng cuối cùng
34. Người gần gũi không có nhu cầu
35. Dùng người thích đáng
36. Giữ một khoảng cách
37. Thực hành thuật cân bằng
38. Biện chứng âm dương, dùng cả hai tay
39. Coi chừng cái tròng bày sẵn
40. Nhắm vào chỗ lớn, làm nên việc lớn
41. Giương cờ lớn, làm da hổ
42. Liên hợp là để chống chọi
43. Đặt bẫy cho đối thủ
44. «Đặt cửa» phải đúng «cửa»
45. Tử vong bức ép ra trí tuệ
46. Trừng phạt một người răn đe trăm người.
8/2/2021
Tư Mã Sơn Nhân - Nguyễn An biên soạn
Theo https://vnthuquan.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tóc mai sợi vắn sợi dài 00000000

Tóc mai sợi vắn sợi dài Chương 1 Tóc mai sợi vắn sợi dài Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm. (Ca dao) Ba mẹ tôi mua một ngôi nhà nhỏ...