Lý Minh không còn lời nào để nói nữa, đành phải mời trưởng thôn đến thuyết phục vợ giúp.
Hai người đến trước Tuyết Mai, trưởng thôn trước tiên phê bình chồng: «Lý Minh này, anh thật là, việc lớn như thế này mà anh cũng không bàn bạc với Tuyết Mai một chút! Cha là Trời, mẹ là Đất, vợ là Ngọc hoàng thượng đế, anh chân thành thẳng thắn, Tuyết Mai nhất định sẽ ủng hộ.
Tuyết Mai nói: «Mọi phiền phức bản thân anh ấy gây ra thì tự giải quyết, bảo tôi có cách gì giúp đỡ đây!».
Trưởng thôn nói: «Tuyết Mai ơi! Cô nên yên tâm, Lý Minh là một người thông minh...».
«Còn nói thông minh? Có ai không chê anh ta là «thằng ngốc làm bừa?», những người có chút đầu óc cũng không thể đem tiền rải lên chỗ núi hoang!»
Trưởng thôn nói: «Tối hôm qua tôi đã tính thay Lý Minh, theo anh ấy làm như thế, lâm trường là không thể thua lỗ. Có câu: Qua cơn gió lớn mới biết cây cứng mềm, có đi đường xa mới biết sức ngựa».
Lúc này, Lý Minh cũng lên tiếng, nói: «Tuyết Mai, em nói có lẽ đúng. Nhưng anh lấy tiền không phải đi đánh bạc, đi chơi gái, mà là đi làm xanh đồi hoang, đem lại hạnh phúc cho nhân dân, việc này còn vượt xa việc sửa cầu sửa đường của các bậc tiền bối. Huống hồ thiên hạ hưng vong mọi người đều có trách nhiệm chứ?».
Trưởng thôn cũng nói một cách kích động: «Tuyết Mai, cô nên nghe lời tôi, ủng hộ Lý Minh, tôi ủng hộ anh ấy từ đáy lòng. Tôi kiến nghị cô và Lý Minh cùng lên núi, vợ chồng một lòng, rơm rạ cũng biến thành vàng, hai bạn chỉ cần kết thành một sợi thừng, nhất định sẽ thành công».
«Ôi!» Tuyết Mai thở dài một cái, cuối cùng nói: «Trước đây làm sao tôi đã lấy anh, một con người như thế này! Thật là làm cho người ta dở khóc dở cười!».
Rút cuộc người vợ đã bị thuyết phục, đem tất cả hành lý và đồ đạc dùng sinh hoạt chuẩn bị đầy đủ, ngày hôm sau đã cùng Lý Minh lên núi.
Ở trên, trưởng thôn và Lý Minh thuyết phục Tuyết Mai chính là dùng thuật «nhu thắng».
Họ đã tìm được chỗ đột phá từ trong tư tưởng của Tuyết Mai chủ yếu lo lắng làm lâm trường lỗ vốn, «cắt thuốc đúng bệnh» tiến hành thuyết phục, lời lẽ êm dịu khéo léo, trong êm dịu có lý lẽ rõ ràng, rất chân thành đủ để cảm hóa lòng người, đạt được mục đích sẵn sàng.
Đã dùng phương pháp này thì giọng nói và thái độ trước hết phải nhẹ nhàng êm dịu, còn nội dung trong đó lại phải tương đối cứng rắn.
Dùng «mềm quấn rắn mài» càng nên chú ý đến nhiều cách bày tỏ cung kính, giọng nói êm dịu khéo léo, lấy «mềm mỏng» tranh thủ lòng người, tạo nên tình thế biện luận có lợi cho mình; lại phải sử dụng thích đáng những câu hỏi ngược lại.
Nghĩa là trong mềm mại cần phải ẩn sắc nhọn, nhưng ẩn mà không lộ liễu. Là phương pháp sắc nhọn ẩn trong mềm mại, mấu chốt là ở chỗ sắc nhọn của bạn, cái sắc nhọn này không nên quá cứng, mà phải thật sự chọc trúng chỗ hiểm yếu của đối phương, chọc để không tránh được, tránh mà không chọc.
Là người đàm phán, trong việc chọn cách «mềm quấn rắn mài», ẩn sắc nhọn trong mềm mỏng thực thi lập đi lập lại nhiều lần, lại phải làm thế nào để nắm vững thuật từ chối nhẹ nhàng khéo léo?
Hoạt động đàm phán giống như nhiều hoạt động xã giao, có nhu cầu được người khác lý giải và hợp tác, nhưng đồng thời cũng có thể gặp tình huống đối phương nêu ra yêu cầu đối với mình.
Từ việc nâng cao trình độ giao tiếp giữa người này với người khác để xét, nếu như ai cũng đều có thể gặp may mắn thì đương nhiên là mọi việc đều vui vẻ.
Nhưng trong cuộc sống hàng ngày luôn tràn ngập quan hệ lợi ích, quan hệ mâu thuẫn, quan hệ kiềm chế, không hoàn toàn việc nào cũng thuận lợi cả.
Bởi vì việc giao tiếp ở trong đó có phân biệt hợp lý và không hợp lý, hợp tình và không hợp tình, có thể làm được và không làm được.
Nếu như tùy tiện hứa lung tung với người khác, thì bạn sẽ dẫn lửa tự thiêu, gây ra đủ mọi phiền phức.
Ngoại trưởng Mỹ, Tiến sĩ Kissinger trong tác phẩm của mình, đã viết:
«Bất cứ hoạt động xã giao nào bao gồm cả đàm phán kinh tế mậu dịch, để đạt được hiệu quả bình đẳng cùng có lợi, không phải là cứ một mực tùy tiện hứa lung tung. Trên thực tế, quá trình đàm phán chính là một quá trình lấy hiệp thương làm phương châm, lấy cùng có lợi làm mục đích thông qua hoạt động của hai bên, cùng có từ chối, cùng có hứa hẹn, cuối cùng đạt được thống nhất chung. Một người đàm phán tài giỏi, phải khéo nắm chắc kỹ xảo từ chối «không», lại phải linh hoạt vận dụng hiệu quả từ chối «không».
Trong đàm phán, nếu những yêu cầu đối phương nêu lên vượt qua mức độ phía mình có thể đồng ý, cãi chày cãi cối, không còn cách nào hơn. Vậy thì để làm cho đối phương thật sự ý thức được khả năng uổng công tính toán, có thể bày ra trước đối phương một lá chắn, tức tỏ ra mình thực tế «lực bất tòng tâm», thương nhưng đành chịu (không giúp được), từ đó làm cho đối phương vứt bỏ những điều làm rầy rà đó, đồng thời thông cảm với những điều từ chối của mình.
Lá chắn nói ở đây là có thể nhấn mạnh từ hai phương diện khác nhau.
Trước tiên, một số điều kiện tất yếu nào đó mà tự mình không thể thỏa mãn được yêu cầu của đối phương, như lực lượng kỹ thuật, hạn chế quyền lực, tiền vốn v.v...
Hai là, lá chắn chính là hạn chế của xã hội như pháp luật, chế độ, kỷ luật, phong tục, tình thế v.v...
Giám đốc tiêu thụ của một tập đoàn đồ điện gia đình đàm phán với giám đốc một cửa hàng đồ điện về việc buôn bán ti vi màu và bảo hành sau khi bán hàng.
Khi đàm phán đến điều khoản giá cả, giám đốc tiêu thụ của công ty đồ điện gia đình nêu lên giá để đối phương bán buôn đồng thời ưu đãi thêm một loạt tủ lạnh.
Giám đốc cửa hàng đó điện qua suy nghĩ cẩn thận, cảm thấy không nên nhập thêm tủ lạnh nữa, liền nói với giám đốc tiêu thụ:
«Cảm ơn sự giới thiệu và quan tâm của ông, nhưng chúng tôi đã ký hợp đồng bán buôn tủ lạnh với công ty đồ điện gia đình khác rồi. Hiện tại nguồn hàng đã có đủ, hàng tồn kho cũng đã đủ. Nếu như muốn nhập thêm hàng nữa thì, một là tiền vốn quay vòng của chúng tôi có hạn, hai là chúng tôi đã đặt ra một điều quy định: phàm là đặt hàng vượt quá dự toán, phải tập thể lãnh đạo thảo luận. Hiện tại hai giám đốc khác đã đi công tác xa, thật là không phải. Xin lỗi, chúng tôi từ nay về sau nếu cần ký hợp đồng nữa, nhất định sẽ liên hệ với quý công ty.»
Trong ví dụ này, giám đốc của hàng đồ điện vừa nêu ra lá chắn tự mình không có quyền quyết định được; hễ là đặt hàng vượt qua dự đoán phải cả tập thể lãnh đạo thảo luận, cũng đã nêu ra những giới hạn khách quan như hàng tồn còn nhiều, tiền vốn không đủ, lãnh đạo đi công tác ở ngoài, từ đó đã chặn được một cách có hiệu quả sự vương vấn thêm một bước của đối phương.
Dù đối phương vẫn còn thắc mắc chưa rõ, truy hỏi:
«Hợp đồng của các ông ký với công ty nào?»
«Giá hàng nhập vào là bao nhiêu?»
Giám đốc cửa hàng có thể bắt chước làm theo, ung dung dựng lên tấm lá chắn, ví như trả lời:
«Xin lỗi, theo quy định chế độ của công ty là phải từ chối điều bí mật, tôi là một giám đốc không thể dẫn đầu vi phạm được!»
Đứng trước một số yêu cầu của đối phương trong đàm phán nêu ra mình cho là không hợp lý hoặc hành vi quá mức, hoặc khiêu khích bới lông tìm vết, tốt nhất không nên phản bác nói thẳng ra ngay, càng không cần nổi cáu, tranh luận kịch liệt, có thể thông qua biện pháp như để đạt được mục địch từ chối.
Biện pháp thao tác cụ thể là: trước hết không trả lời thẳng, mà nên nói bóng gió đưa ra một số vấn đề đã kinh qua suy nghĩ dẫn đối phương tự mâu thuẫn.
Một nhân viên bán hàng điện cơ bàn việc mua bán máy điện với giám đốc một công ty, vị giám đốc công ty này cầm sách thuyết minh sản phẩm lên xem, đột nhiên nổi giận:
«Chất lượng của loại máy điện kiểu HL của công ty các bạn bán ra quá kém! Lần trước suýt nữa thì tôi bị bỏng tay!»
Nhân viên bán hàng nghe xong không biện luận với đối phương, mà mỉm cười nói với vị giám đốc này:
«Thưa ngài giám đốc, nếu thật như thế, thì tôi không phải xin lỗi ngài, mà còn phải để ngài trả lại hàng.»
Tiếp đó, anh ta bắt đầu nổi liên hồi:
«Đương nhiên, bất cứ máy điện nào khi làm việc đều có phát nhiệt ở mức độ nhất định, chỉ là phát nhiệt không nên vượt quá tiêu chuẩn của Hội kỹ thuật điện toàn quốc quy định. Ngài nói có phải không?»
«Đúng thế.»
Nhân viên bán hàng nói tiếp:
«Theo tiêu chuẩn kỹ thuật nhà nước, nhiệt độ của máy điện có thể cao 5 độ C so với nhiệt độ trong phòng; có phải thế không?»
Giám đốc nói: «Đúng vậy, nhưng nhiệt độ máy điện của các bạn quá cao, lúc đó tôi sờ vào suýt nữa thì làm bỏng tay tôi!»
Nhân viên bán hàng nói: «Thế thì thật xin lỗi. Nhưng tôi muốn xin hỏi một chút, nhiệt độ phân xưởng của các bạn cao hơn nhiệt độ ngoài trời bao nhiêu?»
«Khoảng 7,5 độ C»
Nhân viên bán hàng đã rõ, cười nói: «Thế thì đúng rồi, nhiệt độ ngoài trời 35 độ C, cộng thêm hai lần nhiệt độ tăng 7,5 độ C tổng công là 50 độ C, xin hỏi nếu tay của ngài đem đặt vào trong nước có nhiệt độ 50 độ C, liệu có thể bị bỏng không?».
Giám đốc chẳng còn gì để đối đáp lại.
Nhân viên bán hàng nói: «Vậy thì ngài giám đốc có còn ý kiến nào khác đối với máy điện kiểu HL của chúng tôi không?».
Giám đốc nói: «Không, chúng tôi se mua thêm 3 chiếc nữa nhé!».
Khi một số yêu cầu của người ta bị đối phương từ chối, sẽ luôn cảm thấy khắp người không được tự nhiên. Là một bên phải ngỏ lời từ chối, nếu như muốn chấp nhận từ chối cho đối phương, thì bạn nên khẳng định một bộ phận, từ chối một bộ phận.
Nói chung, trước tiên dùng giọng đồng tình để bày tỏ ý tứ để phòng ngừa phát sinh tâm lý đối kháng trong tiếp xúc và đàm phán.
Là một người đàm phán, biết người biết mặt lại phải biết lòng, trước tiên từ trong ý kiến của đối phương tìm ra một số nội dung không phải là thực chất mà hai bên đều không thể phản đối, dùng gốc độ thích hợp này đưa ra lời đánh giá khẳng định, trình bày ra những chỗ chung trong đó, bày tỏ sự hiểu biết và tôn trọng đối với đối phương.
Sau đó, đối với nội dung mà hai bên đánh giá không thống nhất sẽ nhẹ nhàng khéo léo kích dậy sự đồng tình của đối phương.
Như vậy, do đối phương đã dành được sự thỏa mãn, tâm ý dược tôn trọng, được hiểu biết trước, khoảng cách về tâm lý hai bên sẽ xích lại gần, kể cả sau khi bị từ chối sẽ cảm thấy đối thủ của họ tương đối thấu tình đạt lý. Từ đó, hai bên có thể dắt tay nhau cùng đi qua lịch trình đàm phán.
27. Lấy thoái làm tiến
Lý Ngao, nhà văn nổi tiếng Đài Loan, trong những bài viết của ông thường chuyên môn bác bỏ Tưởng Giới Thạch. Bởi vì Tưởng Giới Thạch thường nói mình từ nhỏ đã theo Tôn Trung Sơn làm cách mạng.
Lý Ngao đưa ra dẫn chứng Tưởng Giới Thạch khi Tôn Trung Sơn gặp lúc khó khăn đã thoát ly phe cách mạng, từ đó làm cho người đời nhìn thấy một Tưởng Giới Thạch khác.
Ở đây, chỉ nói riêng vấn đề mưu lược, đem việc chạy trốn của Tưởng Giới Thạch cố ý làm mưu kế nhân sinh mà ông ta vẫn dùng.
Bởi vì, tất cả mọi việc làm của ông ta đều cố ý.
Trong suốt 6 năm, từ 1918, Tưởng Giới Thạch lần đầu tiên từ chức chủ nhiệm tác chiến bộ Tư lệnh «quân Việt viện Mân» (quân Quảng Đông – Quảng Tây viện trợ Phúc Kiến), đến tháng 4 năm 1924 ông ta chính thức nhận chức Hiệu trưởng trường Quân sự Hoàng Phố, ông ta đã đúng đủ mọi cớ từ chức rồi lại phục chức, tất cả đến 13 lần, đây là trò bịp thường dùng lấy thoái làm tiến, nâng cao địa vị, mưu giành quyền lực.
Lúc đó, Tưởng Giới Thạch sử dụng trò bịp này thường áp dụng ba khúc nhạc như sau:
Trước hết, trình bày việc bị bức từ chức của mình là bị «tiểu nhân ghen ghét» và «chèn ép», quảng cáo mình tính cách cương trực, giận thói đời, mình tham gia cách mạng không vì theo đuổi địa vị cá nhân, cho nên khi ý kiến không hợp, quyết không «luyến tiếc», để giành được sự đồng tình và tán thưởng của Tôn Trung Sơn.
Sau đó, lại nhắm trúng thời cuộc, nêu lên đủ mọi kiến nghị về phương diện quân sự với Tôn Trung Sơn, tỏ ra mình tuy từ chức, nhưng vẫn quan tâm «những việc lớn trong đảng», khiến Tôn Trung Sơn càng cảm thấy tài của ông ta đáng quý.
Cuối cùng, khi bày tỏ muốn cố gắng gượng làm, không thèm để ý đến mọi việc của cá nhân, phục tùng mệnh lệnh của Tôn Trung Sơn trở lại công tác trong quân đội, còn bày tỏ tốt nhất là không đảm nhận bất cứ chức vụ gì, chỉ mong được ở bên cạnh Tôn Trung Sơn «tham gia đánh giá việc quân sự» khiến Tôn Trung Sơn cho rằng Tưởng Giới Thạch đối với ông là hoàn toàn trung thành.
Xin nêu ví dụ để xét, tháng 3 năm 1918 Tưởng Giới Thạch khi được Tôn Trung Sơn cử nhận chức chủ nhiệm tác chiến «quân Việt viện Mân», tương đối được Trần Quýnh Minh, Đặng Trọng Nguyên tín nhiệm, nhưng Tưởng Giới Thạch cảm thấy là một người xứ khác đặt mình trong quân địa phương toàn là người Việt, sẽ gặp lực cản rất lớn, khó mà có triển vọng.
Thế là, ngày 31 tháng 7, đã viết đơn từ chức gửi cho Trần Quýnh Minh «phẩy tay áo ra đi». Mặc dù Trần Quýnh Minh và Đặng Trọng Nguyên nhiều lần viết thư mời ở lại, nhưng Tưởng Giới Thạch tất thảy đều bỏ mặc.
Ngày 23 tháng 8, khi ông đến chỗ ở của Tôn Trung Sơn yết kiến Tôn Trung Sơn trình bày lý do từ chức của mình, không nói tình hình công tác bị cản trở, khó có triển vọng, lại nói là vì Trần Quýnh Minh dung túng những người dưới quyền bêu riếu Tôn Trung Sơn nên làm cho mình bực mới xin từ chức.
Mãi đến ngày 18 tháng 9, sau khi quân Việt giành được tình thế có lợi trên chiến trường Phúc Kiến, đánh chiếm được thành phố Chương Châu căn cứ địa của quân Bắc Dương tại Mân Nam, Tưởng Giới Thạch mới lại trở lại quân Việt, đồng thời thăng chức Tư lệnh chi đội 2.
Ngày 17 tháng 9 năm 1919, Tưởng Giới Thạch lại từ chức Tư lệnh chi đội 2 quân Việt, đầu tiên nói là đi sang Nhật Bản, sau đó lấy lý do dưỡng bệnh, ở lánh tại Thượng Hải và đảo Cổ Lãng (đảo kích sóng).
Trong quân Việt ông đột nhiên đến rồi lại đột nhiên đi, du ngoạn sông núi, về thực chất lại đang thi thố thuật giành quyền «lấy thoái làm tiến» của ông ta.
Bởi vì ông nhìn thấy, sau khi quân Việt mở rộng thành hai quân đoàn, Trần Quýnh Minh không ngừng đào tạo thế lực riêng của mình, nếu mình lại bằng lòng làm Tư lệnh chi đội, hoàn toàn là «may quần áo cưới cho người khác».
Mãi đến ngày 30 tháng 9 năm 1920, bọn quân phiệt Quế hệ đóng trên đất Quảng Châu lâm vào thế tan vỡ, quân Việt thắng lợi nhanh chóng. Tôn Trung Sơn lại bổ nhiệm Tưởng Giới Thạch làm Tổng tham mưu trưởng quân đoàn số 2 quân Việt đã nâng cao thêm một nấc địa vị của Tôn Trung Sơn, ông mới từ Thượng Hải lên đường ra mặt trận Việt Đông.
28. Bình an là phúc
Một đời người ai cũng đều muốn bình an, thuận lợi.
Trong đêm liên hoan văn nghệ đón xuân năm 1999, bài hát «Thường về thăm nhà» của Trần Hồng và Thái Quốc Khánh trong thời gian rất ngắn đã truyền khắp cả nước Trung Quốc.
Đây là vì nguyên nhân gì?
Vì bài hát mang phong cách dân gian, mộc mạc, nắm bắt được tâm lý của dân chúng Trung Quốc.
«Thường về thăm nhà, về thăm nhà,
Dù là giúp mẹ rửa bát rửa đũa
Bà già chẳng mong con cái cống hiến nhiều cho gia đình.
Chẳng phải một đời chẳng dễ dàng, chính chỉ mong một cuộc đoàn viên.
Thường về thăm nhà, về thăm nhà,
Dù là đấm lưng, bóp vai cho cha
Ông già chẳng mong con cái cống hiến nhiều cho gia đình,
Chẳng phải một đời gian lao vất vã, chỉ mong được một cuộc đoàn viên.»
Bất kể một đời bạn giàu sang hiển đạt bao nhiêu, bất kể đời bạn gian nan gập ghềnh bao nhiêu, người thân của bạn đều mong muốn bạn được sống bình an và đoàn viên.
Trong bài thơ «Thủy điều ca đầu» của Tô Đông Pha nhà đại văn hào thời Tống viết:
Đời người có vui buồn, ly hợp,
Mặt trăng có tỏ mờ tròn khuyết,
Xưa việc này đã khó vẹn toàn.
Chỉ mong người «trường cửu»,
Ngàn dặm cùng thuyền quyên.
Mà tình cảm này, trong thơ của Tương Cửu Linh, nhà thơ thời Đường, càng biểu hiện đầy đủ.
.....
Trăng sáng mộc trên biển,
Càng lúc ở chân trời.
Lý Bạch, nhà thơ lớn thời Đường cũng có những câu thơ tương tự:
Trăng sáng lộ Thiên Sơn,
Mênh mang mây giữa biển.
Tràng An suốt một đêm,
Vang tiếng chầy đập áo.
Ngửng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.
Tình cảm xum hợp không những là chất dính kết gắn bó người thân, hơn nữa cũng là chất xúc tác hy vọng người thân một đời bình an, sự nghiệp thành công.
Thơ cũng vậy, ca cũng vậy, sao lại không phải là kết tính của trí tuệ được?
Do đó, ở chỗ không dùng đến mưu kế, thì thơ ca chính là sức mạnh làm rung động lòng người nhất.
29. Sống trong gian khổ, chết trong yên vui
Muốn đoàn viên, muốn bình an, nguyện vọng tốt đẹp này không có gì đáng chê trách.
Nhưng, đời người vận mệnh khôn lường, phần nhiều đều có gập ghềnh, nhất là về sự nghiệp, nhiều bậc đại trượng phu, nhiều trang nam tử có hoài bão lớn, lại suốt một đời gập ghềnh chẳng làm nên việc gì.
Nghịch cảnh, là người ai ai đều có thể gặp.
Không nên ngây thơ cho rằng, mình một đời sẽ bình an, không thể gặp bất cứ khó khăn và phiền phức gì, mà phải nghĩ nhiều về cảnh ngộ xấu, hy vọng mình có thể tôi luyện trong nghịch cảnh hoặc trong sóng to gió lớn – trí tuệ và kinh nghiệm của con người đều nảy sinh từ trong khó khăn và bất hạnh.
Mạnh Tử từng nói: «Sống trong gian khổ, chết trong yên vui».
Mỗi người chỉ có trong nghịch cảnh và vận đen, để cho sinh mệnh của mình phải khảo nghiệm: chỉ có dũng cảm đối mặt với khó khăn, đón nhận thách thức, mới có thể trở thành tài cao.
Dân chúng Trung Quốc xưa nay đều nói: «Nhíu lông mày, bày ra kế».
Vì sao phải nhíu lông mày? Bởi vì gặp khó khăn đòi hỏi bạn phải dùng trí tuệ để giải quyết. Bạn không giải quyết khó khăn, khó khăn sẽ nuốt chửng bạn.
Người ta khi phấn khởi, chỉ biết vui mừng hởi lòng hởi dạ, hoàn toàn không thể nhíu lông mày. Sở dĩ nhíu lông mày là do sự nghiệp, tình yêu, cuộc sống... của bạn xuất hiện nguy cơ, đòi hỏi bạn phải giải quyết. Chỉ có những lúc như vậy, bạn mới có thể vận dụng trí tuệ một cách nghiêm túc, có ý thức để giải quyết những vấn đề khó khăn.
Vì sao phải vận dụng trí tuệ một cách tiềm thức?
Hãy thử nghĩ xem, trong cuộc sống hàng ngày bạn thường chịu khó đào sâu suy nghĩ, vận dụng trí tuệ một cách có ý thức để làm công việc của bạn được tốt hơn chưa?
Freud từng nói: «Trí năng của con người, tuyệt đại đa số nằm trong trạng thái tiềm ý thức hoặc vô ý thức. Đó là một biển lớn sâu rộng hiện nay, sự tìm hiểu của người ta đối với nó còn quá ít, thậm chí nhiều người vẫn không thừa nhận sự tồn tại của nó. Nếu như thế, giống như những thiên tài như Da Vinci, như Michelangelo, như Beethoven, như Johann Strauss... như những tác phẩm của các bậc thiên tài ấy, thì không có cách nào hiểu nổi».
Giáo sư nổi tiếng người Mỹ Stephen K. Kovy qua mấy chục năm nghiên cứu đã báo cáo với nhân loại rằng: «Trí năng của con người, cho đến tận ngày nay, chỉ mới khai thác 12-15%. Dù cho thiên tài như Shakespeare, Goethe như thế, nhiều nhất cũng mới khai thác được 20%. Ngoài ra có hơn 80% trí lực, tiềm ẩn chưa được coi trọng và khai thác». Đồng thời ông khuyên người ta: «Nếu muốn khai thác phần trí lực này, biện pháp hữu hiệu nhất chính là khi người ta rơi vào trong nghịch cảnh và khó khăn, dùng ý chí «kích hoạt» nó».
Do đó, chúng ta nói: Hy vọng sống một đời bình an, thật ra không phải là sai.
Nhưng chúng ta càng phải nói rằng: một người nếu muốn hoàn thành một sự nghiệp, thì phải dũng cảm tiếp nhận thách thức, không sợ bản thân mình rơi vào trong nghịch cảnh, thậm chí không sợ mình lâm vào chỗ chết.
Người xưa nói: «Đặt mình vào chỗ chết mà sao lại sống». Điều đó sẽ khiến cho người ta càng có ý thức «đặt» mình vào những nơi có thể kích hoạt trí lực của mình, vận dụng mưu kế của mình.
Bằng không thì, bạn nhất định chỉ là con người có cuộc đời tầm thường.
30. Thử thay đổi phương pháp tư duy
Người ta trong cuộc sống khi suy nghĩ vấn đề phần nhiều đều quen theo một đường lối nghĩ xuôi chiều – tức là tư duy theo hướng dọc.
Nhưng, phương thức tư duy thông thường này, lại có thể làm cho sự nghiệp, tình yêu, gia đình, hôn nhân... của mình không thể theo ý nguyện được.
Đó là nguyên nhân gì?
Đó là vì, rất nhiều người không hiểu cái hay của tư duy ngược hướng. Carnegie đã từng nói: «Thực ra, người ta chỉ cần hơi thay đổi một phương thức tư duy, thì sẽ dành được hiệu quả tốt hơn nhiều so với dự tính».
Đổi một sinh hoạt tư duy – hoặc khi nói «dương mưu» đồng thời biết dùng một chút «âm mưu». Âm dương cùng cứu giúp, nhất định sẽ làm cho sự nghiệp và đời người của bạn giành được vẻ vang.
Do sự phân công xã hội và quan hệ giữa người với người, sẽ có thể hình thành đủ mọi «vai».
Điều này sẽ giống như là một sàn diễn: bạn kết hôn, bạn có vợ, có con cái, bạn sẽ phải diễn tốt vai người chồng và người cha; bạn lấy người ta, bạn đã có chồng, bạn sẽ sắm vai người vợ tốt. Nếu bạn có cháu thì bạn phải diễn tốt vai người ông hoặc người bà.
Trong một nhà máy, có giám đốc, có chủ nhiệm phòng ban, có thư ký, cũng có người quét dọn, những người này đều là các «vai».
Người bình thường suy nghĩ vấn đề, thường là: «Tôi đã làm ngành nghề này, thì sẽ làm không tốt ngành nghề kia». «Tôi đã đảm đang vai này, thì không nên để tâm đến vai khác».
Suy nghĩ như thế có tốt hay không?
Ở thời đại «làm một nghề, yêu một nghề», tinh thần này là rất đáng ca ngợi.
Nhưng sau cải cách mở cửa, xã hội đã hàng ngày biến đổi rất lớn, cơ chế cạnh tranh đã đi vào các lĩnh vực. Mỗi một «vai» bất cứ lúc nào đều có thể quá cố chấp, khư khư giữ cái cũ, mà nên suy nghĩ lại một chút: mình có thể đổi một vai khác.
Tục ngữ có câu: Cây dịch chuyển thì chết, người dịch chuyển thì sống». Chỉ có trong lao động, chỉ có trong so sánh, con người mới có thể phát hiện ra chỗ mạnh chỗ yếu của mình, biết mình thích hợp làm việc gì, không thích hợp làm việc gì, từ đó phát huy chỗ mạnh tránh chỗ yếu, thiết kế tương lai của mình.
Thời kỳ phồn thịnh nước Anh có một Nữ hoàng tên là Victoria, khi bà 21 tuổi, phụng mệnh kết hôn với Công tước Albert cùng tuổi với bà.
Đương nhiên, theo chế độ của nước Anh, Nữ hoàng là vua của một nước, còn chồng của bà lại không có một địa vị chính trị nào.
Một lần, Nữ hoàng và ông chồng xảy ra xích mích, hai người nổi giận cãi nhau, trong cơn thịnh nộ, Albert giam mình ở trong phòng, tránh không ra ngoài.
Đến đêm, hai người vẫn lạnh nhạt với nhau, Nữ hoàng Victoria muốn ngủ, bất đắc dĩ phải gõ cửa phòng.
«Ai đấy?» Albert hỏi.
«Tôi là Nữ hoàng đây!» Victoria trả lời.
Nhưng, trong phòng vẫn không có tiếng đáp lại, cửa phòng vẫn khóa chặt không mở ra. Một lúc, Nữ hoàng lại gõ cửa lần nữa.
«Ai đấy?»
«Tôi là Nữ hoàng đây!» Victoria nâng cao giọng trả lời, nhưng bên trong cửa phòng vẫn không đáp lại.
Nữ hoàng Victoria đã gỡ cửa ba lần, đều được xơi món «chè đóng cửa», không thấy cửa phòng mở. Cuối cùng, Nữ hoàng đành phải thay đổi thái độ, lại gõ cửa lần nữa.
«Ai đấy?»
«Tôi là vợ thân mến của anh đây, Albert ạ!»
Lúc này, Albert mới mở cửa phòng.
Nói chung, nam giới không ai thích vẻ ngạo mạn của «nửa bên kia» cao hơn họ, mạnh hơn họ; cho nên trong lời nói, nếu có thể giành cho nam giới một chút «tôn nghiêm» và «thể diện», phải nên biết giảm bớt xung đột, làm cho việc gắn bó với nhau càng thêm vui vẻ.
Nữ hoàng là nguyên thủ cao nhất trong quốc gia, nhưng về đến gia đình, phải biết đổi lại vai trò, trở thành người «vợ tốt» của chồng mình.
Nếu như Nữ hoàng không đổi vai trong gia đình hoặc không tìm đúng vị trí của mình, thế thì tình yêu của bà, gia đình của bà khẳng định là nát bét, là không thể có được hạnh phúc.
Đổi vai, đổi vị trí suy nghĩ, thường có thể nhận được hiệu quả tốt không ngờ tới.
Chúng ta đem việc suy nghĩ theo hướng dọc xuôi chiều, nếu xem là «dương mưu», thế thì việc suy nghĩ theo hướng ngược sẽ phải là «âm mưu». Đổi vai chính là một loại của «âm mưu».
Vương X ở Đại Tây Bắc, vợ rất hiền hòa. Vương X công tác ở ngoài xã hội một lòng một dạ lao vào sự nghiệp, về đến nhà, vợ đem nước rửa mặt, chuẩn bị cơm nước đầy đủ, mọi việc trong nhà nhất loạt không để cho anh ta phải bận tâm. Có khi công việc không thuận lợi, hoặc cơm nước không hợp khẩu vị, Vương X còn thường xuyên nổi cáu với vợ. Theo anh, người nam giỏi phải lao vào sự nghiệp ở ngoài, còn nữ giới ở nhà trông coi việc nhà, hầu hạ chồng là sự việc lẽ đương nhiên, không có gì lạ.
Một lần, nhà vợ có việc, phải đi mất hơn một tháng, nhà máy của Vương X lại đúng lúc được nghỉ, thế là anh đã tự làm mọi việc trong nhà.
Lúc bình thường, những việc xem ra rất dễ dàng, nhưng bắt tay làm lại không đơn giản chút nào, phải quét nhà, phải lau chùi bàn ghế, phải làm cơm, phải rửa bát đũa, phải giặt quần áo, phải chăm sóc con cái, phải cho lợn ăn, lại phải... bận rộn đến mức làm cho anh đầu óc rối mù, chú ý cái trước thì mất cái sau, để ý cái bên trái thì mất cái bên phải, tìm không ra hướng.
Lúc này, anh ta mới nghĩ đến bấy nhiêu năm nay, vợ mình bằng cách nào mà làm được mọi việc gọn gàng ngăn nắp?
Đổi vai như thế để suy nghĩ, mới cảm thấy trên con người của mình đang tồn tại «chủ nghĩa đại nam tử» tương đối nghiêm trọng, đồng thời việc phàn nàn, quở trách đối với vợ trước kia là hoàn toàn không nên.
Người ta sống ở nhà và làm việc trong xã hội là một đạo lý. Luôn thích men theo một luồng suy nghĩ, tư duy theo hướng thuận (xuôi chiều) như thế, đôi khi có thể dẫn mình vào chỗ sai lầm.
Khi người ta đi vào tư duy ngược hướng, thì có thể thử đặt mình vào địa vị thay đối phương để suy nghĩ. Đồng thời cũng có thể phát hiện ra nhược điểm của mình, uốn nắn hành vi của mình, làm cho mình không dẫn đến phạm sai lầm tương tự.
31. Làm Gia Cát Lượng sau khi việc xảy ra, có gì không thể?
Người ta luôn mong muốn mình thông minh, đồng thời mong sự thông minh của mình sẽ mang lại lợi ích cho sự nghiệp và tình yêu của mình. Cho nên, hy vọng mình trở thành nhân vật kiểu Gia Cát Lượng.
Tài năng lớn nhất của Gia Cát Lượng không phải là có thể xử lý tốt mọi cục diện lộn xộn ngay lúc đó, mà là ông rất có tài nhìn xa trông rộng. Trước khi chưa ra khỏi núi năm đó, chia ba thiên hạ đã dự đoán trước có một phần của ông. Từ đó về sau sự cố gắng suốt một đời của ông đều không vượt ra khỏi lời dự đoán này.
Gia Cát Lượng đã từng nói: «Bậc đại trượng phu, chí phải đặt ở nơi cao xa».
Trong hý kịch và tiểu thuyết xưa của Trung Quốc, người ta đã thần thoại hóa Gia Cát Lượng là bậc thần tiên «trên biết thiên văn địa lý, dưới biết mọi việc nhỏ mọn». Nhiều người đều trăm phương nghìn kế bắt chước Gia Cát Lượng. Hai tỉnh Hồ Bắc và Hà Bắc, đều đang nịnh Gia Cát Lượng, giành nhau nói Gia Cát Lượng là người đồng hương của mình.
Do Gia Cát Lượng có thể bấm tay để tính toán, cho nên trong xã hội, hàng ngàn năm nay, những tiên sinh đoán mệnh cũng đều dựng cờ bát quái đi đây đi đó xưng mình là «Khổng Minh tái thế».
Những năm gần đây ở các vùng phía Nam như Quảng Châu, Quảng Tây, Hồ Nam, Triết Giang, Giang Tô... những người tin đoán mệnh, tạo quẻ ngày càng nhiều.
Chúng ta có thể nhìn thấy: trên một sạp xem quẻ bói nhỏ có thể vây quanh vài chục, thậm chí vài trăm người đàn ông đàn bà thành kính.
Người ta đến gặp đoán mệnh tiên sinh, rốt cuộc là vì cái gì?
Bất kể là nam nữ trẻ già, phần nhiều đều hỏi mấy vần dưới đây:
- Tiền đồ sự nghiệp của tôi như thế nào?
- Tình yêu và hôn nhân của tôi như thế nào?
- Tài vận của tôi như thế nào?
- Quan vận của tôi như thế nào?
Về cơ bản đều là nội dung của mấy mặt này. Mà mấy phương diện này lại hầu như đã khái quát được vận mệnh một đời của con người.
Con người không phải là thần thánh, ai cũng đều không biết được ngày mai của mình ra sao. Nhưng ở nơi sâu thẳm trong lòng của mỗi người: ai cũng đều muốn biết tương lai của mình rốt cuộc sẽ như thế nào; ai cũng đều hy vọng ngày mai của mình tốt hơn hôm qua, tốt hơn hôm nay.
Song, ai cũng không phải là thần thánh. Vì vậy, người ta sẽ hỏi những người đoán mệnh, những người xưng là «Khổng Minh tái thế» chiêm bốc.
Hiện tượng này, có người luôn nói là mê tín. Còn chúng tôi cho rằng: Nó sở dĩ cấm mãi không thôi, vấn đề mấu chốt là ở chỗ nó đón được nhu cầu tâm lý của người ta muốn biết ngày mai ra sao?
Vậy thì, càng nhiều người muốn làm Gia Cát Lượng, đều muốn dự đoán biết trước tương lai của mình. Song bản thân Gia Cát Lượng lại không biết được mình khi nào hưng vượng, khi nào suy bại, khi nào tử vong.
Sự tích một đời của ông được người đời sau khái quát lại bằng hai chữ «trí tuệ». Mà «trí tuệ» của Gia Cát Lượng, trong con mắt của Tào Tháo, trong con mắt của Tôn Quyền, không nghi ngờ gì chính là «âm mưu».
Nói đến âm mưu của Gia Cát Lượng, không ai không nói «thất – không – trảm» (mất – bỏ không – chém). Việc này thật ra không phải nói Gia Cát Lượng có thể biết trước tương lai, chính là nói Gia Cát Lượng không tài nào biết trước tương lai, bất đắc dĩ mới phải dùng biện pháp «mất bò mới lo rào chuồng».
Từ đó ta thấy cách nói «Việc đã xong rồi mới là Gia Cát Lượng» là có căn cứ.
Trong cuộc sống, người ta thường thích «nổi lên trên», tranh làm Gia Cát Lượng trước khi việc xảy ra, lại không muốn làm Giá Cát Lượng sau khi việc đã xảy ra, cho rằng làm Gia Cát Lượng sau khi việc đã xảy ra thì chẳng khác gì như «Mã sau Pháo» trong trò đánh cờ tướng.
Mà họ không biết rằng: Một người, hoặc một người có chí hướng, chỉ cần sinh mệnh của họ vẫn còn, dù rằng luôn luôn sai lầm, luôn luôn bị trắc trở, luôn luôn dấn thân vào cảnh khó khăn, chỉ cần họ sành sỏi làm Gia Cát Lượng sau khi việc đã xảy ra, sẽ có một ngày có thể có được kết quả tốt hơn người khác.
Cạnh tranh xã hội ngày càng kịch liệt, nhiều nhà triết học không hẹn mà gặp đều từng nói: «Đời người chính là chiến trường». Trên chiến trường này mặc dù không có thuốc súng, không có súng gươm, không có thảm cảnh máu chảy thành sông, thây chất đầy đồng. Nhưng, xét theo sự căng thẳng của sinh tồn và sức ép tâm lý người ta phải chịu đựng, chiến tranh của hòa bình so với chiến tranh của luồng dao ánh kiếm càng kịch liệt hơn.
Ở nước Mỹ, mỗi ngày đều có hơn 3 vạn xí nghiệp mới, công ty mới khai trương. Đồng thời trung bình mỗi ngày đều có 54.220 xí nghiệp cũ tuyên bố phá sản.
Theo tờ «Thời báo phố Wall» đưa tin: Những xí nghiệp (doanh nghiệp) phá sản - tức những người bại trận trong cạnh tranh kịch liệt, có người đã chọn treo cổ, có người đã chọn nhảy lầu, có người đã chọn uống thuốc độc, có người đã chọn «mai danh ẩn tính», có người đã chọn bệnh viện tâm thần...
Ở Thâm Quyến, Trung Quốc, thường có hiện tượng như sau: có người từ tay không chiếm thiên hạ. Một thời kỳ, có thể là: «phú ông lưng dắt vạn quan». Song, trong nháy mắt lại là kẻ nợ nần chồng chất, đi ăn mày, lang thang đầu phố.
Đời người thất thường, trong «Hồng lâu mộng» đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần đạo lý này với mọi người.
Cạnh tranh trong bất cứ lúc nào cũng đều là động lực thúc đẩy lịch sử nhân loại tiến lên phía trước.
Không có cạnh tranh, loài người sẽ không thể có phát triển. Khi đối thủ lớn mạnh hơn bạn, bạn nên áp dụng sách lược như thế nào khiến cho sức mạnh của hai bên phải biến đổi? Bạn nhắc nhở mình: Hãy thực thà làm Gia Cát Lượng sau khi việc xảy ra phải không?
Nói chung, so sánh sức mạnh giữa các đối thủ là một quan hệ bên này tăng lên bên kia giảm xuống, một mất một còn, rất khó nói có thể thông qua đối thủ lớn mạnh để bảo hộ mình, phát triển mình, hai bên đối lập nếu muốn cả hai đều thắng hầu như là không có khả năng.
Nhưng, điều này cũng không phải là tuyệt đối không thể, trong lịch sử đã có cao thủ tỳ bà gảy ngược mà giành được thành công lớn như thế.
Thời Chiến quốc, nước Trung Sơn là một nước nhỏ nằm xen kẽ giữa các nước lớn. Tướng quốc của nước này là Tư Mã Hy là một nhà chính trị có tài và có tư tưởng mưu lược rất được Quốc vương của Trung Sơn tín nhiệm. Nhưng vì ông là một vị Tướng quốc ngay thẳng, giỏi giang, nên bị kẻ thù, sủng phi của Quốc vương là Âm Giản ghen ghét và công kích, bà ta thường ở bên Quốc vương nói xấu Tư Mã Hy.
Tất cả mọi việc đó làm cho Tư Mã Hy thường xuyên rơi vào chỗ tiến thoái lưỡng nan. Nếu như ngang nhiên đối đầu và thách thức với Âm Giản, thì rất có thể thất bại và mang tiếng xấu, hơn nữa có thể càng tăng thêm tính ngang ngạnh của bà ta; còn nếu như không chống lại, thì Âm Giản sẽ xem hành động đó của Tư Mã Hy là yếu hèn có thể bắt nạt được, hơn nữa về chính trị bà ta càng ra sức tiến công hơn, khiến cho nịnh thần gian thần sẽ tha hồ được thể hùa theo.
Do đó, đối với địch thủ chính trị này chỉ có thể sử dụng mưu kế kỳ diệu, khéo chế ngự và hàng phục, mới có thể vừa giữ được vị trí Tướng quốc, lại có thể triệt tận gốc sự xoi mói và hoạt động phá hoại của địch thủ chính trị.
Về sau, Tư Mã Hy lại áp dụng thêm một kế sách của nhà thông thái nước Trung Sơn, Điền Giản bày cho, dùng phương pháp «đạo dẫn» bí mật theo dõi, lợi dụng thời cơ có lợi để đạt được và thực hiện mục đích chính trị đã định trước.
Một hôm, từ nước Triệu, một nước láng giềng cử đến một sứ giả. Lúc đó, nước Triệu là một trong bảy nước hùng mạnh thời Chiến quốc, đối với nước nhỏ như nước Trung Sơn này để xét, nước Triệu có thể ngạo nghễ sai bảo bất cứ lúc nào, cho nên trong cuộc tiếp đãi sứ giả nước Triệu, không dám qua loa sơ xuất một chút nào. Tướng quốc Tư Mã Hy càng phải theo sát vị sứ giả này không dời một bước. Trong bữa tiệc chiêu đãi sứ giả, Tư Mã Hy tùy tiện hỏi sứ giả của Triệu vương: «Nghe nói nước Triệu các ông có rất nhiều mỹ nữ giỏi âm nhạc, có phải như thế không?». Vị sứ giả này vừa nghe, lại quả quyết phủ nhận nói: «Không! Thực tế không phải như thế».
Nhưng lúc đó, Tư Mã Hy lại cố ý dằn giọng xuống, cố làm ra vẻ thần bí nói với sứ giả nước Triệu: «Nhưng ở nước Trung Sơn chúng tôi, lại có một mỹ nữ đủ để khiến cho triều đình và dân chúng, các vị có công lao hiển quý của quý quốc đều phải hết sức kinh ngạc, người đó chính là «ái phi» của Quốc vương nước Trung Sơn chúng tôi, tên bà là Âm Giản, người trông thật là giống các tiên nữ trên trời». Những lời nói này, sứ giả nước Triệu nghe xong hết sức thú vị trong lòng.
Sau khi về nước, liền vội vàng bẩm báo ngay với Triệu vương, Triệu vương vừa nghe, tuy chưa trông thấy người mỹ nữ này, lại như đã thèm muốn từ lâu, nóng lòng muốn giành về tay mình. Thế là Triệu vương lại sai sứ giả đến nước Trung Sơn lần nữa, yêu cầu Quốc vương nước Trung Sơn đem mỹ nữ Âm Giản tặng cho Triệu vương, đồng thời yêu cầu phải hết sức nhanh chóng.
Theo lệ thông thường về chính trị giữa các nước lúc đó, mỹ nữ của hậu cung sẽ giống như vàng bạc châu báu, đều có thể làm quà tặng cho người khác. Còn như nước mạnh, nước lớn như nước Triệu thế này, đưa ra yêu cầu đó đối với nước Trung Sơn nhỏ vừa là rất tự nhiên cũng không có gì quá mức. Mà Triệu vương, Quốc vương nước Trung Sơn và Âm Giản lại đều không biết nhau, việc này tất cả chính là cái tròng mưu kế của Tư Mã Hy đã bày đặt ra từ lâu mà thôi.
Đối với yêu cầu này, Quốc vương nước Trung Sơn thật là khó xử. Nếu đáp ứng yêu cầu của Triệu vương, đem Âm Giản ngoan ngoãn nhường cho người khác, đối với Tu Mã Hy để xét, liền có thể rất nhanh thoát khỏi cảnh khó khăn chính trị, vì địch thủ chính trị đã chuyển dịch mà không tồn tại nữa. Đây là phương án «loại một» Tư Mã Hy thi hành mưu kế, cũng là một trong những kết quả có thể chọn.
Song, mới đầu Quốc vương Trung Sơn lại vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của Triệu vương. Xét về tình lý, việc này cũng rất tự nhiên và hợp với tình lý, bởi vì ai cũng không thể đem người và vật mình thích dễ dàng chuyển nhượng cho người khác sở hữu được. Nhưng lại khiến cho «bách quan quần thần» của nước Trung Sơn hoảng loạn, bởi vì Triệu vương không được mỹ nữ, trong cơn thịnh nộ, rất có thể sẽ phải phát binh đi đánh Trung Sơn, sự việc tương tự như thế, lúc đó có vô khối không thể kể hết.
Giữa nước này với nước nọ, vì tranh giành mỹ nữ, gấm vóc ngọc ngà mà dấy binh đánh lẫn nhau là chuyện rất bình thường. Một thời, trong triều ngoài dân trên dưới, cộng thêm quốc vương và các bà phi trong cung, đều cảm thấy bó tay chẳng có kế gì, không biết làm như thế nào mới có thể vượt qua khó khăn này. Mà sứ giả của Triệu Sơn thì ở lại nước Trung Sơn nóng lòng chờ đợi câu trả lời, mà còn thúc rất gấp gáp nữa.
Chính trong giờ phút có tính then chốt đó, Tư Mã Hy lại hết sức trấn tĩnh nói với Quốc vương: «Hiện tại, thần có một biện pháp hay vừa có thể từ chối yêu cầu của Triệu vương, lại có thể không làm cho Triệu vương tức giận mà bảo đảm chắc chắn an toàn cho nước ta, không bị khổ của tai nạn chiến tranh». Quốc vương Trung Sơn vừa nghe như vớ được của báu, liền vội vàng nói với Tư Mã Hy: «Cái gì? Khanh lại có thể có được kế sách vạn toàn phải không?». Tư Mã Hy lại trả lời: «Quốc vương chẳng thà lập tức đem Âm Giản chính thức phong làm Vương hậu của Quốc vương quách đi, như vậy, vừa đem bẩm báo việc này với Triệu vương, từ chối yêu cầu của ông ta cũng không thể làm cho họ tức giận được, đồng thời cũng sẽ làm cho họ hết hy vọng, ngoài việc đó ra, chẳng có kế hay cách làm tốt nào nữa».
Quốc vương Trung Sơn vừa nghe lập tức tiếp nhận kiến nghị của ông ta. Chính là như vậy, nước Trung Sơn không những được bảo toàn, mà còn từ đó về sau, Âm Giản đối nhờ Tướng quốc Tư Mã Hy giúp đỡ to lớn khiến mình được thăng lên địa vị vương hầu, đương nhiên cũng không đối địch nữa, mà còn mang ân mang huệ.
Trong quá trình thực thi mưu kế chế ngự, chế phục đối thủ chính trị Âm Giản, Tư Mã Hy chủ yếu áp dụng phương pháp dắt dẫn hướng phát triển mâu thuẫn nội bộ đối thủ chính trị chuyển dịch. Từ chỗ nhằm thẳng mũi nhọn vào ông ta, khéo léo mượn yêu cầu của sứ giả của Triệu vương mà dẫn dắt thành mâu thuẫn giữa Triệu vương, Quốc vương Trung Sơn và Âm Giản. Sách lược có tính mấu chốt này có ba bước: Bước thứ nhất là tiết lộ cho sứ giả của Triệu vương biết sắc đẹp và tài hoa của ái phi Âm Giản của Quốc vương Trung Sơn, khiến cho Triệu vương mắc mưu vào tròng, đó là dẫn dắt lần thứ nhất. Bước thứ hai là Triệu vương lại sai sứ giả khăng khăng đòi Âm Giản với Quốc vương Trung Sơn, mà còn đưa ra những lời nói cứng rắn, thúc ép rất căng thẳng, có thể như không đòi được đến tay thì phải đem quân sang đòi, làm tăng kích thích của mâu thuẫn nội bộ địch thủ chính trị, đó là dẫn dắt lần thứ hai; bước thứ ba là trong giờ phút then chốt Tư Mã Hy đã hiến kế giải nguy, vừa làm cho nước Trung Sơn bảo toàn, Âm Giản được thăng lên ngôi vị vương hậu, lại khiến cho Triệu vương không còn lý do xuất quân, mà còn làm cho hết hy vọng đòi Âm Giản. Còn Tư Mã Hy lại càng trở thành công thần đã cứu nguy làm cho nước Trung Sơn thoát khỏi cảnh khốn đốn, là người làm ơn làm phúc giúp cho Quốc vương và vương hậu. Từ đó, về chính trị, về đạo nghĩa, về tâm lý đã giành được thắng lợi to lớn, sẽ chế ngự, chế phục đối thủ chính trị, đã thoát khỏi cảnh khốn đốn chính trị trước mặt sau lưng đều có kẻ đối địch, tiến thoái lưỡng nan của mình ở trong nước. Đó là dẫn dắt lần thứ ba, thật là tuyệt diệu.
32. Phá vỡ quy luật tư duy ngôn ngữ
Nói đến tự mâu thuẫn nhau, mọi người có thể dễ dàng nghĩ đến một câu chuyện trong sách «Hàn Phi tử».
Ông ta khen lá chắn của ông: «Lá chắn của tôi rất cứng, không có vật gì có thể chọc thủng được nó».
Tiếp theo lại khen cây giáo của ông: «Cây giáo của tôi rất sắc nhọn, bất kể vật gì nó đều có thể chọc được thủng».
Một người liền hỏi ông ta: «Dùng cây giáo của ông chọc lá chắn của ông, thì sẽ như thế nào?». Người đó không có cách gì trả lời được.
Câu chuyện này lưu truyền đã mấy ngàn năm, nó cho người ta một gợi ý về ý nghĩa chung: lá chắn chọc không thủng và cây giáo vật gì cũng đều chọc thủng là không thể đồng thời tồn tại.
Nhưng câu chuyện này phần nhiều được người ta dùng giải thích về triết học và về lôgic học, khiến cho ý nghĩa của nó sâu sắc hơn.
Đề chuyện này là nó sự tự mâu thuẫn nhau đem lại cho người ta hiệu quả hài hước. Chỗ đứng của chúng ta là trên giao điểm của ngôn ngữ học và lôgic học.
Lời nói phù hợp với nguyên tắc lôgic, ngôn ngữ vận hành trên quỹ đạo bình thường là điều kiện tối thiểu mọi người có thể thuận lợi trao đổi tư tưởng, thực hiện qua lại với nhau, nhưng trong đó không tồn tại một chút giá trị hài hước nào.
Còn tự mâu thuẫn nhau về lôgic, lại có thể sản sinh hài hước thú vị. Bởi vì trong tình huống tự mâu thuẫn nhau, ngôn ngữ mất cân bằng, lôgic sai lạc, liền đó bí tắc về lôgic, về ngôn ngữ sẽ đem lại cho chúng ta vẻ kinh sợ, thú vị hài hước liền thai nghén từ trong đó.
Nguồn chuyện cười tự mâu thuẫn trong cuộc sống, có thể nói là đâu đâu cũng kiếm được, xin dẫn ra vài chuyện:
Có một ông già đã hơn 60 tuổi, nghỉ hưu tại gia đình nhàn rỗi không có việc, một hôm đột nhiên hưng phấn, muốn làm một chiếc ghế gỗ nhỏ cho đứa cháu gái.
Nhưng thật không may, người thợ mộc mà ông lão mời đến là người giữa chừng đổi nghề, lại không chịu chăm chú học nghề, nên công việc làm rất tồi.
Người thợ mộc làm mất một ngày ở nhà ông lão, vội vàng hoàn thành để đòi tiền công.
Ông lão nói: «Công việc anh làm quá chậm».
Người thợ mộc nói: «Cụ không nghe nói làm việc chậm thì sẽ cẩn thận tỉ mỉ ư?».
Ông lão nói: «Việc anh làm không những chậm, điều quan trọng hơn là chất lượng quá kém, làm cho tôi đã phải thết đãi mất ba bữa ăn. Như thế này nhé, tôi sẽ đem chiếc ghế này trả cho anh để bù tiền công».
Người thợ mộc ngưng làm việc, tranh luận: «Đừng xem người ta là thằng ngốc, vài đồng bạc tôi không cần, ai thèm lấy chiếc ghế này của cụ? Khe hở vừa to, ván lại xiên, bốn chân đều không bằng nhau, chẳng đáng tiền!».
Nếu là thầy giáo dạy học sinh tiểu học khẳng định nêu lên vấn đề như sau: Người thợ mộc là thông minh hay là ngu đần? Không nghi ngờ gì nữa, nếu trả lời thiên về một phía đều là không được điểm cao.
Nên trả lời như thế này: Người thợ mộc bề ngoài thông minh nhưng chứa đựng cái cốt lõi bên trong là ngu đần.
Đương nhiên, sau khi xem xong câu chuyện hài hước này, chắc không có ai để ý lâu làm gì, nhưng vấn đề này khẳng định là có thể sinh ra trong vô thức của người ta.
Bởi vì nhìn vẻ bề ngoài của người thợ mộc giống như là thông minh nhưng thực tế lại biện bạch rất ngu xuẩn, khiến cho người chứng kiến phải bật cười. Trong câu chuyện hài hước này, điều mà chúng ta chăm chú không phải là ông già đối phó với người mộc ra sao, mà là ông già nhìn thấy chiếc ghế tồi tệ này thì chán chường biết dường nào.
Điều làm người ta tức cười là những lời nói của chàng thợ mộc, bởi vì nó là nguyên nhân của hài hước, không có điểm tựa này toàn bộ sự hài hước sẽ xảy ra, nó có lẽ sẽ biến thành một mẫu chuyện nhỏ chứa đựng ý nghĩa giáo dục xã hội nào đó, mà không có một tí cảm giác hài hước nào.
Sự hài hước do cách tự mâu thuẫn nhau tạo nên, nói chung đều có mùi vị trào phúng, nhưng không phải là nói loại hài hước này lùi xuống biến thành một thứ thuyết giáo nào đó; thuyết giáo làm cho người ta chán ngấy, hình thức khô khan tẻ ngắt của nó không thể mang lại cho người ta niềm vui mừng khoái chá. Điểm tựa của loại hài hước này cũng sai lệch về lôgic.
Có hai ông bủn xỉn ở hai nhà hai phía Đông và Tây. Bình thường hai người đều sợ tốn kém rất ít đi lại với nhau. Một hôm, ông chủ nhà phía Đông sai con sang nhà phía Tây mượn một chiếc búa.
«Xin lỗi, cho cháu mượn chiếc búa của nhà bác dùng một lát được không?»
«Có thể được.» Ông chủ nhà phía Tây trả lời, «Nhưng, cháu đóng đinh thép hay là đinh gỗ?».
«Đinh thép», cậu con trai nhà ông chủ phía Đông cứ thực thà trả lời.
«Ôi» vừa nghe lời này, người đó liền vội vàng đổi giọng: «Thật là không may, cái búa của nhà tôi đã cho nhà khác mượn đem đi rồi».
Cậu con trai trở về. Ông chủ nhà phía Đông nghe xong đầu đuôi sự việc rất bực tức: «Đinh gỗ, đinh thép gì, rõ ràng là «buốt ruột» không muốn cho mượn búa, trên đời lại còn có kẻ bẩn bụng như thế?».
«Thế thì làm thế nào?» đứa con hỏi.
«Thôi! Thôi! Vẫn là lấy cái búa của nhà mình ra để dùng vậy!»
Nhìn một cách riêng biệt, ông chủ nhà phía Đông trách ông chủ nhà phía Tây là không chơi được, đồ bủn xỉn đương nhiên là phải bị người khác quở trách. Nhưng suy nghĩ một cách toàn diện lời nói của ông ta một chút, thì hài hước sẽ sinh ra.
Đồ bủn xỉn quở trách đồ bủn xỉn, nhận thức của mọi người đối với sự bần tiện của kẻ bủn xỉn bị phá vỡ, trạng thái bình thường, hoang đường xuất hiện.
Phẩm chất bủn xỉn của ông chủ nhà phía Đông tự bộc lộ và lòng bất mãn của ông ta đối với ông chủ nhà phía Tây bủn xỉn hầu như là hai thứ so sánh trắng đen, nổi bật lên màu sắc hài hước ở trong đó một cách rõ ràng.
Quy luật hài hước của việc tự mâu thuẫn nhau, huyền bí sẽ ở chỗ phá vỡ quy luật tư duy của ngôn ngữ bình thường biến mất thông qua việc đi ngược lại quy luật bình thường để giành được hiệu quả hài kịch.
Chương ba
ÂM DƯƠNG KINH «DƯƠNG DỤNG» ÂM MƯU NHƯ THẾ NÀO?
Lấy âm khắc dương, lấy nhu khắc cương
Lấy tĩnh chế động, lấy hằng ứng biến.
Đạo âm dương, bên căng bên trùng.
Thường thường người ta chỉ chú ý «Đạo dương» mà bỏ qua «Đạo âm». Theo quan điểm của «Kinh Dịch»: «Một âm một dương mới thành đạo».
Bất kể là thời xưa hay thời nay, bất kể là Trung Quốc hay là nước ngoài, bất kể là thời chiến hay thời bình, bất kể là người dân thường sống ở nhà hay là chính khách trên «chiến trường» hoặc lẫn lộn trên «thương trường» đều không tách rời đạo của Âm, Dương.
Trước kia người ta hiểu lầm rằng những người dùng phương thức «đường vòng» để làm một việc, bị gọi là con đường không chính đáng. Hoặc nói: «Người này đang thực hiện âm mưu, giở mánh khóe. Thật ra trong cuộc sống mỗi một người ngay thẳng chỉ cần họ dám nhìn thẳng vào mình, sẽ thấy trong cuộc sống thường ngày mình vẫn thường xuyên có thể giở một chút «âm mưu nhỏ» làm một chút trí trá. Mục đích cuối cùng chẳng qua là để cho mình sống được tốt hơn một chút!
Ở đây chúng ta cần phải chỉnh lý ngữ nghĩa của từ «âm mưu» - âm mưu kỳ thực không ngấm ngầm, âm mưu hoàn toàn có thể «dương dụng», từ đó làm cho hướng tư duy của người ta chuyển biến, phá bỏ những khuynh hướng sai lầm cứng nhắc cực đoan hóa lâu nay như «không đúng tức sai, không phải ta tức địch, không phải đẹp tức xấu, không thật tức giả» qua đó mỗi người đối đãi với thế giới, đối đãi với người khác, đối đãi với mình một cách biện chứng.
1. Giả dại giả ngây tài tình
Trong tình huống bình thường, người ta đều tranh giành nhau tỏ rõ trí tuệ và tài năng của mình, lấy tinh khôn tài giỏi làm tự hào.
Song, trong thời đại phong kiến đen tối «hôn quân bạo chúa, có lúc trí tuệ và ngày tháng trở thành tai họa người ta phải tự hủy hoại tự chịu nhục nhã, giả điên giả dại mới thoát nạn.
Đây thật là bi kịch của lịch sử, làm cho người ta không tài nào hiểu được đây là chỗ khôn khéo hay là chỗ đáng buồn của nhân loại. Chỉ vì sinh tồn, người ta phải nảy sinh thủ đoạn mới sống được.
Vận dụng giả điên giả dại, điển hình nhất chính là dùng hình tượng giả điên giả dại để che giấu tài năng của mình, nhẫn nhục chịu đựng, dùng sách lược thoái để tiến. Cơ Tử thời nhà Thương là một ví dụ.
Thương Trụ vương là vua cuối thời nhà Thương, ông ta quen thói bạo ngược, hoang dâm vô độ, suốt ngày đêm chè chén vui chơi với Đát Kỷ là sủng phi của ông và bọn sủng thần quý tộc, sống cuộc sống hư bại «rượu tầy hồ thịt tầy núi», «ăn uống thâu đêm». Ông ta thường ra ngoài đi săn du chơi, khiến cho đồng ruộng hoang vu, dân chúng không sống nổi.
Những năm cuối, Trụ vương ngày càng thậm tệ, hình phạt nặng nề nghiêm ngặt, dâm loạn vô độ, từ chối những lời khuyên can, che giấu khuyết điểm, đánh mạnh vào các trọng thần tôn thất, sát hại người trung thành lương thiện, dẫn đến tình thế đất nước nguy ngập, lòng người rối loạn. Thứ huynh của ông là Vi Tử nhiều lần khuyên can, ông căn bản không nghe. Để tránh tai họa, Vi Tử đã tức giận bỏ đi. Cơ Tử là chú ruột của Thương Trụ vương, ông ta với tư cách là Thái sư, nhìn thấy tình huống này nhưng cũng chịu bó tay. Một ông chú khác của Thương Trụ vương, Thiếu sư Tỷ Can cho rằng làm một viên đại thần không thể không bất chấp cái chết để khuyên can.
Thế là, ông đã vất vã khuyên răn Trụ vương, khuyên liền ba ngày không dời, Trụ vương nổi nóng đem giết chết ông, lại còn moi tim của ông để xem, nói: «Tỷ Can tự cho mình là bậc thánh, ta nghe nói tim của bậc thánh có bảy buồng, ta phải xem tim của ông ta có phải có bảy buồng không?». Cơ Tử vô cùng sợ hãi, sợ Trụ vương tàn bạo giở ngón độc ác đối với mình. Thế là đã giả vờ điên, đầu tóc rũ rượi, nói năng lung tung, không có một chút vẻ tôn nghiêm của Thái sư, hoàn toàn giống như một người điên. Trụ vương thấy ông ta như thế, liền đem ông giam vào trong nhà lao.
Nước Chu vốn là chư hầu của nhà Thương, khi Chu Văn vương ở ngôi đã dự định tiêu diệt nhà Thương liền tiến hành nhiều việc chuẩn bị. Sau khi Chu Võ vương lên ngôi, chiêu nạp kẻ hiền người tài, dốc sức vì nước, làm cho đất nước hưng thịnh lên rất nhanh.
Lúc đó, ông thấy Thương Trụ vương làm nhiều điều ngang trái, khiến cho các đại thần và chư hầu đồng loạt đều ly khai ông ta, cảm thấy thời cơ diệt Thương đã chín muồi, liền bàn bạc với mưu thần Lã Thượng, nhanh chóng dẫn 3.000 dũng sĩ, 45.000 giáp binh liên hợp với 800 quân chư hầu ồ ạt đi đánh dẹp Thương Trụ vương.
Trụ vương đem quân chống lại tại Mục Dã (nay là phía Nam huyện Kỳ tỉnh Hà Nam). Nhưng binh sĩ do căm giận Trụ vương cho nên đã quay giáo phản chiến. Thương Trụ vương thấy mọi người chống lại, người thân thì xa rời, thế lớn đã mất, liền chạy trốn về quốc đô Triều Ca (nay thuộc huyện Kỳ, Hà Nam), trèo lên Lộc Đài, mặc áo báu vào, rồi tự thiêu chết. Triều nhà Thương diệt vong, vương triều Tây Chu được thành lập. Lúc này, Chu Võ vương đã thả Cơ Tử từ trong nhà tù ra.
Cơ Tử là một nhà chính trị đầu tiên từ thời xưa đã vận dụng kế giả điên giả dại.
Ông bản thân là Thái sư, nhưng lại không có cách gì khuyên Trụ vương thi hành chính sách lương thiện. Đối mặt với hành vi tàn bạo của Trụ vương, ông từ sợ hãi nảy ra kế bảo toàn mình, là thông qua việc giả điên để làm cho mình may thoát khỏi nạn. Khi Trụ vương lên ngôi không lâu, bắt đầu sử dụng đũa ngà voi, sau khi Cơ Tử trông thấy đã nói: «Dùng đũa ngà voi, thế thì nhất định không thể dùng các đồ dùng bằng đất sét nữa, mà là phải dùng cốc bằng tê ngọc». Dùng đũa ngà voi và cốc tê ngọc, cũng nhất định không thể ăn những thứ «trà thô cơm đạm», mặc những thứ «vải thô áo ngắn» và ở dưới mái nhà tranh được rồi. Áo gấm chín tầng, đài cao phòng lớn, lấy đó làm tiêu chuẩn, trắng trợn theo đòi, thiên hạ không đủ để cung cấp. Cống phẩm quý lạ ở nơi xa xôi, việc chế tác xe ngựa, xây dựng cung thất, đều không có chỗ tận cùng. Bắt đầu từ đây, tôi e rằng ông ta sắp bước đến con đường cùng».
Quả nhiên, không ngoài dự định của Cơ Tử, Trụ vương nhanh chóng bắt xây dựng Lộc Đài, xây dựng «quỳnh thật ngọc môn» chứa chất ê hề các đồ quý hiếm ở trong đó, còn dân chúng thì chịu không hết khổ, lòng người ly tán.
Trụ vương còn thường xuyên ăn uống thâu đêm, uống tới mức choáng váng, say túy lúy, đến ngày tháng đểu quên hết, không biết hôm đó là ngày nào tháng nào, liền hỏi người xung quanh, người xung quanh đều trả lời: «Không biết». Trụ vương liền sai người đi hỏi Cơ Tử.
Cơ Tử nghĩ một lát, trả lời nói: «Tôi uống say rồi, cũng không rõ hôm nay là ngày gì». Sau khi sứ giả đi, các đệ tử của ông hỏi Cơ Tử: «Ngài biết hôm nay là ngày gì, vì sao lại nói không biết?». Cơ Tử nói: «Là chủ của thiên hạ, mà làm cho cả một nước chuyển dịch cả khái niệm về thời gian và ngày tháng, thiên hạ đã đến lúc nguy cấp rồi. Nhưng việc mà mọi người cả một nước đều nói không biết, chỉ có một mình ta nói biết, thế thì ta há chẳng phải là cái nguy đang đến trước mắt rồi ư? Cho nên ta giả vờ mượn say rượu, cũng thoái thác nói không biết». Từ sự việc này có thể thấy, Cơ Tử đề phòng Trụ vương có lòng nghi đối với mình, mọi chỗ mọi nơi đều phải bo bo giữ mình.
Là một nhà chính trị, Cơ Tử dựa vào tài chính trị của mình, từ lâu đã nhạy bén từ việc nhỏ. Nhìn nhận ra Trụ vương ắt sẽ đi vào con đường diệt vong. Nhưng không có sức xoay chuyển trời đất, lại thấy lòng son dạ sắt của Tỷ Can được đổi lại một kết cục hết sức bi thảm. Cho nên, để bảo toàn mình, đã nghĩ ra kế hay giả điên giả dại, qua việc ngụy trang khéo léo, dựng cảnh tượng giả để mê hoặc Trụ vương, với mục đích là thực hiện thoát chết.
Trụ vương mặc dù đem Cơ Tử giam lại, nhưng rốt cuộc không biết ông ta. Đây chính là chỗ thành công của ông mượn cái giả để che giấu cái thật.
Không chỉ là các bầy tôi bình thường, mà ngay cả các con em hoàng gia, người được phong vương, cũng không thể không sử dụng phương pháp này để bảo toàn mình. Bắc Hải vương Lưu Mục thời Đông Hán ham đọc sách, coi trọng người hiền tài, xưa nay được Quang Vũ đế và Hán Minh đế yêu thích. Khi đó, Tây Vực đi lại hữu nghị với vương triều Đông Hán, Thiện Thiện vương gửi con trai của mình đến Lạc Dương làm con tin.
Theo quy định, Bắc Hải vương cử sứ giả đến Kinh sư chúc mừng. Trước khi sứ giả lên đường, Lưu Mục hỏi ông ta: «Nếu như Hoàng thượng hỏi đến ta, ông nói như thế nào?». Sứ giả nói: «Đại vương lòng trung hiếu thuận, nhân từ lương thiện, kính trọng người hiền, làm sao thần không cứ theo tình thực tâu lên?».
Lưu Mục nghe những lời này xong, liền nói: «Nếu ông cứ nói thật như thế, thì ta sẽ nguy mất. Đó đều là việc của ta thời nhỏ. Ông nếu vì ta tính liều, thì chỉ có thể nói ta từ sau khi kế thừa vương vị, ý chí sút kém, chỉ thích vui chơi, nữ sắc và ca xướng. Cứ như thế, ta mới có thể tránh được tai họa». Sứ giả liên tục nói vâng. Con em hoàng gia và cả những người được phong vương, nếu như có tiếng làm tốt, uy vọng càng cao càng có thể làm cho Hoàng đế không yên tâm, bởi vì họ có khá năng uy hiếp ngôi vua của Hoàng đế.
Do vậy, Lưu Mục vì để làm cho Hoàng đế yên tâm, mới dùng kế mượn giả để che giấu cái thật, đây là biện pháp tốt nhất bảo toàn mình.
Quách Tử Nghi thời Đường công trạng lừng lẫy, nhưng cửa lớn của nhà ông thường xuyên mở, mặc cho mọi người vào ra, cũng không hỏi đến. Con em gia đình họ Quách cho rằng bất kể người sang hèn đều có thể vào nhà trong, sẽ có thể mở lòng gần gũi mà suồng sã.
Song Quách Tử Nghi lại nói: «Việc này, đạo lý ở trong đó làm sao các người hiểu được. Năm trăm con ngựa của ta hoàn toàn dựa vào quốc gia cung cấp cỏ, hưởng quan bổng có 1.000 người, tiến lên không có chỗ, lùi lại không có đường. Nếu như kín cổng cao tường, trong ngoài không thông, nếu như người có lấy cớ vu tội, gán cho tội danh không phục, xử chém cả nhà, đến lúc đó thì hối lại không kịp. Hiện tại mở toang hết cửa, dù có người muốn nghĩ đủ mọi lời gièm pha, cũng không có cơ hội nữa». Mọi người nghe xong, đều hoàn toàn bái phục.
8/2/2021
Tư Mã Sơn Nhân - Nguyễn An biên soạn
Theo https://vnthuquan.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét