Công ty Siemens Đức nổi
tiếng với lực lượng kỹ thuật hùng hậu, có sức cạnh tranh rất mạnh trong ngành.
Nhân viên kỹ thuật trong công ty này chiếm trên 40%, từ chủ nhiệm phân xưởng đến
lãnh đạo đều có trình độ kỹ sư hoặc cao hơn.
Bản thân Siemens, người
sáng lập công ty chính là một nhà phát minh có thành tựu nổi bật rất lớn, là một
điển hình của chuyên gia quản lý nhà máy.
Hals, người hợp tác của
ông, là một kỹ sư cơ khí, một nhà chế tạo cơ khí chính xác có tài năng đặc biệt
trời ban cho. Việc thiết kế sản phẩm và kế hoạch, Hals không những hiểu thấu
đáo mọi ý, hơn nữa thông qua sáng tạo của ông các thiết kế ban đầu càng được
hoàn hảo và mang đậm những phát minh.
Em trai của Siemens,
Wihelm Karl cũng là một chuyên gia điện khí và tay giỏi xây dựng nhà máy, hai
anh em vừa là chủ nhà máy vừa là quản lý và chỉ đạo kỹ thuật cao nhất.
Siemens là một nhân vật
kiểu Bá Lạc mến tài năng, hiểu tài năng và tiếp nhận tài năng, xung quanh ông
còn có một loạt lớn các kỹ sư, chuyên gia có tài và học vấn cao mạnh dạn sáng tạo
cái mới và những người kinh doanh tinh thông nghiệp vụ.
Những người này đã tổ chức
thành tầng lớp lãnh đạo cao nhất, nắm vững nghiệp vụ rộng lớn trong công ty
Siemens, điều hòa quản lý, kỹ thuật và nghiệp vụ thành một khối.
Sau khi Siemens tạ thế,
công ty này vẫn tiếp tục truyền thống người trong họ hàng Siemens quản lý nhà
máy.
Mọi quyền lớn của xí nghiệp
và các công ty quản lý tài chính về cơ bản đều truyền cho thành viên gia đình
những người có chí hướng sự nghiệp và tinh thần trách nhiệm. Các công tử phóng
đãng vô học, không theo đuổi sự nghiệp chính, ăn chơi lêu lổng, dù là thành
viên của gia đình Siemens cũng vứt bỏ không dùng.
Thành viên gia đình
Siemens tiếp nhau nối nghiệp đến lớp con cháu đời sau của họ như Ernst Von
Siemens v.v... Họ đều là những chuyên gia kỹ thuật hàng đầu và quản lý kinh
doanh xuất sắc trong đó có Ernst Von Siemens sau chiến tranh thế giới thứ II từng
đảm nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị và Chủ tịch Hội đồng giám đốc; Peter
Siemens lại là nhà thực hành thật sự có kinh nghiệm phong phú đối với các mặt
kinh doanh nghiệp vụ đối nội và đối ngoại, hiện tại vẫn nắm giữ quyền lớn của Hội
đồng quản trị.
Đồng thời với những việc
đó, công ty này còn chú ý nâng cao tố chất của công nhân.
Để làm cho công nhân viên
nhanh chóng nắm bắt được kỹ thuật mới và công nghệ mới, từ năm 1992 đã xây dựng
khoản kinh phí chi cho «quỹ học tập», chuyên dùng để bồi dưỡng đào tạo công
nhân và coi việc đó là một chế độ cố định.
Mấy chục năm trở lại đây,
công ty đã bồi dưỡng đào tạo ra hàng ngàn công nhân lành nghề. Gần đây, còn trực
tiếp chọn lựa các nhân viên trong nhà máy dựa vào các trường đại học đào tạo
lâu dài.
12. Hãy nhìn Napoléon, một
người tài giỏi
Là người châu Âu,
Napoléon chỉ có tầm thước một mét năm mấy, thuộc loại «tàn phế loại ba» không đạt
tiêu chuẩn.
Những câu danh ngôn của
Napoléon lại là: «Tôi đứng trên núi Alps, tôi cao hơn núi». Núi Alps là ngọn
núi cao nhất châu Âu. Napoléon chính là dùng giới hạn tinh thần cao nhất này để
chỉ đạo mình, vung đao lên ngựa chinh phục châu Âu.
Giai thoại về mưu trí và
xử thế của Napoléon rất nhiều. Ngày nay trong cuộc cạnh tranh gay gắt của cơ chế
thị trường nhiều giai thoại về ông vẫn là những bài học cho ta noi theo.
1) Kẻ mạnh làm vua
Ngày 27 tháng 9 năm 1797,
nước Áo bị nước Pháp đánh bại, cử một nhà ngoại giao có tài là Copenz tiến hành
đàm phán với Napoléon.
Copenz phải tốn rất nhiều
lời để biện bạch: Việc bồi thường của nước Pháp cho Hoàng đế Áo không nổi một
phần tư tổn thất của Hoàng đế, nước Pháp nếu chiếm Mantua và một miền sông
Adije, trên thực tế đã bằng thôn tính cả nước Italia; Hoàng đế vẫn như tảng đá
không thể lay chuyển, thà có thể bất chấp tất cả nguy hiểm của chiến tranh, thậm
chí dời khỏi kinh đô của mình.
Copenz chỉ trích Napoléon
không muốn hòa bình, và tuyên bố uy hiếp: ông ta sẽ lên đường về nước, tất cả mọi
hậu quả của chiến tranh đều cho nước Pháp chịu trách nhiệm.
Napoléon càng nghe càng
không nhẫn nại, ông nghĩ: một nước bại trận còn nói năng cứng cỏi như thế, bỗng
chốc từ chỗ ngồi ông đứng phắt dậy lớn tiếng hét lên: «Quốc vương của ông là
con đĩ kiểu cũ quen bị tất cả mọi người hãm hiếp... Ông đã quên, nước Pháp là
nước chiến thắng, các ông là thua,... ông đã quên, là ông đang tiến hành đàm
phán với tôi trong sự bao vây của lính và súng cối của tôi».
Napoléon tiếp tục uy hiếp:
«Thôi được! Thế thì đình chiến đến đây kết thúc, cuộc chiến tranh mới sẽ tuyên
bố bắt đầu! Nhưng xin các ông hãy nhớ cho: Trước cuối thu tôi nhất định phải đập
tan vương quốc của các ông, sẽ giống như bây giờ tôi đập tan bộ đồ trà này».
Ông thuận tay cầm bộ đồ
trà Nữ hoàng Nga Ekaterina tặng cho nhà ngoại giao Áo – Copenz mang đến quăng
xuống sàn nhà. Các mảnh vỡ của bộ đồ trà văng ra khắp mặt sàn nhà, ông gật gật
đầu trước mọi người rồi bỏ ra ngoài.
Dưới sức ép quân sự của
Napoléon, cuối cùng Copenz đã ký hòa ước vào ngày 17 tháng 10. Lời nói khéo rốt
cuộc không chống nổi cường quyền, lời nói suông chặn không nổi thực lực.
2) Nắm chắc chỗ trống
Tháng 6 năm 1800 trận quyết
chiến Marango, buổi sáng quân Áo đánh bại quân của Napoléon, thống soái quân Áo
– Melas tạm thời rời khỏi chiến trường, giao quân đội lại cho Tham mưu trưởng
chỉ huy, binh sĩ quân Áo sau khi vừa thu được thắng lợi cũng có vẻ uể oải, việc
này giống như trong sân bóng đá một hậu vệ nhất thời xuất hiện chỗ trống.
Napoléon nắm chắt cơ hội
này, nảy ra mưu kế phản công, ông được tăng viện một sư đoàn, lập tức phản
công, chuyển bại thành thắng.
Nếu như đợi đến lúc thống
soái quân Áo trở về, quân đội Áo nhất định sẽ sắp xếp mới, quả «bóng » này của
Napoléon sẽ sút không vào «cầu môn» của đối phương.
Napoléon đã từng nói nhiều
lần: «Một con cừu dẫn một đàn sư tử đánh trận, tất nhiên có thể thua trận, còn
một con sư tử dẫn một đàn cừu đi đánh trận, khẳng định có thể đánh thắng trận».
Ở đây, ông cho rằng nhân
tố giành thắng, chủ yếu ở «người cầm đầu», mà «người cầm đầu» ngoài dũng cảm
ra, trước tiên cần phải có trí tuệ, biết vận dụng mưu lược.
3) Bắt giặc phải bắt vua
trước
Nước Pháp của giai cấp tư
sản chuyên chính nhiều lần chiến thắng Liên minh chống Pháp của bọn phong kiến
không thể bỏ qua chiến lược thành công của Napoléon.
Napoléon khi học tập tại
trường sĩ quan thiếu niên Brienne, Pháp, một buổi trưa ông đi dạo trong trường
có mấy bạn học từ phía trước đi lại, trong đó có một học sinh quý tộc luôn tỏ
ra vênh váo, cậu ta cậy vào tầm vóc cao hơn Napoléon một cái đầu, choạc hai
chân đứng chắn ngang giữa đường, tỏ bộ khiêu chiến hòng dùng trò «nhà quê» này,
để làm trò cười cho vui.
Nhưng Napoléon nhỏ gầy
không hề tỏ ra yếu đuối, giơ nắm đấm lên, đấm đá liên tục cho cậu ta một trận,
đánh mãi cho đến lúc tên «quý tộc con» kia phải co dúm lại, van lạy xin tha.
Chính lúc ông đánh cậu học
sinh đó, ban bè của tên «quý tộc nhỏ» tuy cùng lúc ùa lên, nhưng lại khiếp sợ
khí thể của Napoléon, không ai dám thật sự dùng sức lực liều lĩnh.
Từ trong từng trải của
mình, Napoléon đã hiểu được, đối phó với liên minh rời rạc đó, tập trung sức mạnh
giáng mạnh vào tên đầu sỏ của nó, các tên lâu la khác sẽ có thể không đánh cũng
tự tan.
Khi đối phó với nhiều lần
tấn công của Đồng minh chống Pháp của châu Âu, ông luôn luôn áp dụng cách đánh
tập trung binh lực, đánh bại từng bộ phận, và luôn luôn giành được thắng lợi.
Khi đập tan Liên minh chống
Pháp lần thứ ba, Napoléon cũng đã áp dụng cách đánh này. Ông trước tiên tập
trung quân lực đánh bại quân Áo, sau đó thắng quân Nga, tranh thủ sự trung lập
của Preussen (Phổ), mãi đến lúc Napoléon đánh bại quân Áo tiến quân vào Wien
(Viên), nước Preussen (Phổ) cảm thấy trước nguy cơ sắp giáng đến, mới thay đổi
thái độ trung lập.
Nhưng lúc đó, Napoléon đã
chiếm được địa vị chủ đạo.
4) Phân hóa làm tan rã
Napoléon trong chiến
tranh ròng rã coi kẻ thù chủ yếu nhất là nước Anh khống chế bá quyền trên biển,
đối với các nước Đồng minh chống Pháp khác thì áp dụng sách lược phân hóa làm
tan rã.
Napoléon lên nắm chính
quyền không lâu đã bắt đầu lợi dụng mâu thuẫn của nước Nga với Anh và Áo, tìm
con đường tiếp cận với nước Nga của phương Đông.
Lúc đó, hai nước Nga, Anh
vì chiếm đoạt Malta sinh ra đối lập nghiêm trọng, Napoléon quyết định dùng kế
lôi kéo nước Nga.
Tháng 7 năm 1800, ông
thông qua Bộ trưởng Ngoại giao Talleyrand Périgord gửi Sa hoàng một bức thư,
bày tỏ quân Pháp có thể ngay lập tức và vô điều kiện đem hơn 6.000 tù binh Nga
cùng với tất cả quân kỳ của họ trả về nước Nga, đồng thời tuyên bố trang bị cho
mọi tù binh vũ khí mới và cấp phát quân phục mới.
Napoléon còn tự tay viết
thư cho Sa hoàng Pavel I, nhắc lại quyết tâm nước Pháp đánh nước Anh, bảo vệ
Malta. Nước Nga Sa hoàng vốn là không đội trời chung với nước Pháp của
Napoléon.
Trong lời dụ lên ngôi,
Pavel I đã từng tuyên bố phải dùng tất cả mọi thủ đoạn lật đổ «nước Cộng hòa
France cường bạo».
Hiện giờ, kẻ thù không đội
trời chung này lại đối xử với tù binh Nga hữu hảo như thế và bày tỏ muốn bảo vệ
Malta không bị nước Anh xâm chiếm, còn nước Anh bạn đồng minh của mình lại giở
mặt lật lọng, chiếm Malta vốn do Sa hoàng khống chế làm của mình.
Thế là, lợi ích đã quyết
định thái độ của Pavel I. Ông quyết định xây dựng quan hệ hữu hảo với nước
Pháp, bỏ chính sách can thiệp vào nội chính nước Pháp.
Ông kiến nghị nước Pháp
áp dụng biện pháp ở vùng ven bờ biển nước Anh. Pavel I tuyên bố thực hành phong
tỏa cảng đối với tất cả tàu thuyền của nước Anh, đuổi Louis XVIII, nguyên Quốc
vương nước Pháp, sai sứ giả đến Paris ký hòa ước và thương thuyết việc thành lập
Liên minh Nga – Pháp. Sa hoàng thậm chí còn vạch kế hoạch liên hợp với nước
Pháp, đuổi nước Anh ra khỏi Ấn Độ.
5) Không hạn chế một quy
cách nào chọn nhân tài
Napoléon sở dĩ xưng hùng
một thời trong lịch sử châu Âu là vì ngoài thiên tài quân sự của ông ta, còn biết
tìm hiểu và sử dụng người, dám không câu nệ một quy cách nào để dùng người cũng
là nhân tố quan trọng.
Ông có câu danh ngôn:
«Binh sĩ không muốn làm nguyên soái không phải là binh sĩ tốt».
Một khi phát hiện người
nào đó thật sự có tài tướng soái, đâu ngại địa vị của họ rất thấp, ông cũng dám
cất nhắc. Trong 26 vị nguyên soái của ông, chỉ có 2 người xuất thân từ quý tộc,
số còn lại đều xuất thân từ tầng lớp bình dân.
Đúng như một số tác giả
truyện ký đã nói, mỗi người binh sĩ Pháp hầu như đều cảm thấy trong ba lô của
mình có một chiếc gậy nguyên soái, tin tưởng có một ngày nào đó dựa vào sự dũng
cảm tác chiến, chiến công vẻ vang của mình sẽ có thể trở thành nguyên soái
trong quân đội của Napoléon.
Năm 1805, khi tiến hành
trận quyết chiến Austerlitz lừng danh, các sĩ quan chỉ huy cao cấp trong quân đội
của Napoléon đều tuổi trẻ sức khỏe, nguyên soái Bernardot 42 tuổi được xem là
đã già, còn nguyên soái Davout lúc đó chỉ mới có 35 tuổi.
Napoléon mở cửa quân chức
rộng rãi đối với tất cả mọi người anh dũng thiện chiến, đã nâng cao mạnh mẽ sự
gắn kết và sức chiến đấu của quân đội. Napoléon từng nói: «Chúng ta đang tạo ra
một thời đại mới, đối với quá khứ, chúng ta nên chỉ ghi nhớ những cái hay, mà
quên đi những cái xấu. Thời gian, hoạt động thực tế và kinh nghiệm đã đào tạo rất
nhiều người có tài, mà còn làm biến đổi tố chất của những con người này».
Dựa trên nhận thức đó,
ông dùng người có cách nhìn riêng, lại có độ lượng với mọi người. Trong việc
tuyển dụng người của ông, có phần tử của đảng bảo hoàng tạo chính quyền mới, có
nhân vật quan trọng của các đảng phái và trong chính quyền các khóa.
Bất kể họ quá khứ ra sao,
chỉ cần họ có tài năng và nguyện phục vụ cho chính quyền mới, Napoléon đều nhất
loạt xét tình hình cụ thể sử dụng. Fouche Ney đã từng phản bội ông, cũng vì tài
cao đột xuất mà được giao cho nhiệm vụ quan trọng.
Napoléon rất tôn trọng đối
với những người có tài và trình độ học vấn thực sự. Nhà toán học kiêm thiên văn
học Laplas tặng ông một cuốn sách «Tài học thiên thể» ông vui mừng đến nỗi ngay
lập tức viết thư tỏ lòng cảm ơn, đồng thời mời ông tham dự tiệc tối.
Nhà luật sư Konbasireis sức
khỏe không tốt, Napoléon lập tức gửi thư hỏi thăm, và muốn ông phải đặc biệt
chú ý nghỉ ngơi và điều trị, Napoléon học được nhiều tri thức luật pháp từ
Cambacérès và luôn luôn tín nhiệm ông.
Khi Napoléon đi vắng,
luôn để Konbasireis đại diện quản lý chính sự. Sự tôn trọng và chăm sóc của
Napoléon đối với nhân tài còn đặc biệt biểu hiện trong một câu danh ngôn của
ông: «Tôi không muốn giết con gà mẹ để lấy tất cả các quả trứng».
Câu nói nổi tiếng này được
khắc ở chính giữa trần nhà phòng học lớn hình thang trường khoa học tự nhiên
Paris. Khi Napoléon viễn chinh Ai Cập đã mang theo nhiều nhà khoa học, khi hành
quân, ông luôn để cho các nhà khoa học đi giữa quân đội, để bảo đảm an toàn của
họ.
6) Dùng lễ đối xử với nước
bại trận
Ngày 14 tháng 6 năm 1807,
trong chiến dịch Friedland, Napoléon đã hoàn toàn đánh bại quân Nga buộc Sa
hoàng nước Nga Alexander bãi chiến cầu hòa. Napoléon vốn có thể tiếp tục chỉ
huy quân đội tiến về phía đông, nhưng ông lại hữu hảo tiếp nhận kiến nghị cầu
hòa của Alexander.
Vị hoàng đế hét ra lửa
này của nước Pháp sau khi dốc hết oai phong hùng mạnh của con sư tử trên chiến
trường, lại bắt đầu giở trò xảo trá của con cáo trước bàn đàm phán.
Ngày 25 tháng 6 năm 1807,
Hoàng đế hai nước Pháp – Nga đã tiến hành gặp nhau tại một chiếc bè gỗ trên
sông Neman ở biên giới.
Trong tiếng súng chào
đón, Napoléon ôm chặt Alexander, sau đó làm bộ rất thân thiết nói: «Hoàng đế,
chúng ta vì sao lại đánh nhau?».
Alexander trả lời: «Tôi
và Ngài đều ghét cay ghét đắng người Anh, khi Ngài dùng mọi biện pháp đối với họ,
tôi là một người trợ thủ của Ngài».
Napoléon nói: «Như vậy, tất
cả đều giải quyết dễ dàng, hòa bình đã xác lập ».
Napoléon tiếp: «Chúng ta
hội đàm trực tiếp, không thông qua các bộ trưởng, như thế chúng ta sẽ tìm hiểu
lẫn nhau tốt hơn, hoạt động một giờ đồng hồ của chúng ta có thể thu được tiến
triển lớn hơn so với đàm phán của họ mấy ngày. Chỉ hai người chúng ta, không cần
có người thứ ba».
Hoàng đế hai nước đã hội
đàm không đầy một tiếng đồng hồ. Họ cũng tâng bốc lẫn nhau. Napoléon hết sức
lên án những hoạt động bán rẻ của các nước liên minh với Nga trước Alexander,
thổi phồng quân đội Nga anh dũng thiện chiến, đồng thời tỏ ý riêng kiến nghị
hai nước cùng hợp tác phân chia thế giới.
Trò biểu diễn tuyệt vời của
Hoàng đế nước Pháp giành được ấn tượng tốt với Alexander.
Về sau, Alexander nói với
mọi người rằng: «Tôi đối với bất cứ ai từ trước đến nay đều không giống như đối
với ông ta có nhiều thành kiến đến như thế! Nhưng qua 45 phút nói chuyện, những
thành kiến này giống như mộng tưởng, hoàn toàn mất hết!».
Ông còn nói: «Nếu như tôi
gặp được ông ấy sớm hơn một chút thì tốt, cách biệt đã loại bỏ, hiểu lầm đã
thành quá khứ».
Do Napoléon dùng nghi lễ
đặc biệt đối đãi với vị Hoàng đế nước thua trận này, kết quả là hai nước Pháp –
Nga không những đã ký hòa ước Tilsit, mà còn ký một điều ước «Công thủ đồng
minh».
Việc ký kết những hòa ước
này đã tuyên cáo sự thất bại của Liên minh chống Pháp lần thứ 4, càng củng cố
hơn địa vị của Napoléon ở châu Âu, nước Anh thì bị rơi vào chỗ cực kỳ cô lập.
7) Lợi dụng hòa hảo
Napoléon cũng có lúc xui
xẻo, cũng có lúc trúng mưu kế của người khác.
Trong một dạ hội hóa
trang mùa thu năm 1809, Napoléon tự mình tới cầu thân với phu nhân Bộ trưởng
Ngoại giao Áo – Metternich, ông muốn cưới công chúa Marie-Louis, con gái của
Hoàng đế Áo làm vợ.
Metternich phu nhân nghe
xong trong lòng mừng thầm, bởi vì đây chính là điều bản thân Metternich đang hy
vọng. Theo Metternich, thời cơ đánh bại Napoléon còn chưa đến. Trước mặt chỉ có
lấy hòa hảo thay thế chiến tranh, tranh thủ một thời gian nghỉ ngơi, bởi vì bảo
kiếm của Napoléon luôn luôn treo trên đầu nước Áo.
Đúng như ông từng nói với
Hoàng đế: «Trước mắt biện pháp ứng phó của chúng ta phải là nhìn giờ để điều
khiển bánh lái, kiềm chế mình và nhìn sắc mặt của kẻ thắng làm việc, chỉ có như
thế, chúng ta còn có thể tiếp tục sinh tồn được».
Còn lúc này, Napoléon mặc
dù ở Hoàng cung Paris có hoàng hậu chính thức là Joséphine, tại Warszawa có một
«phu nhân Ba-Lan» mà ông yêu tha thiết, nhưng vì họ đều không phải là con gái của
đế vương, nên ông quyết tâm một lần nữa cần một con gái của Hoàng đế làm vợ.
Thoạt đầu, ông chú ý đến
công chúa Anna, em gái của Sa hoàng Nga Alexander I, gặp phải trở ngại. Hiện tại
lại suy nghĩ đến công chúa Áo, việc này đối với Metternich có thể gọi là vừa
trúng ý muốn của ông.
Ngày 15 tháng 12 năm
1809, Napoléon và Joséphine chính thức làm thủ tục ly hôn. Metternich thừa cơ hội
sốt dẻo, xúc tiến công chúa và Napoléon ký hôn ước.
Napoléon đắc ý quá quên hết
tất cả, đúng lúc ông đang chìm đắm trong niềm vui tân hôn, Metternich giữ vai
trò ông tơ bà nguyệt lại đang tính toán trong lòng các đối sách làm thế nào ép
phục Napoléon một bước nữa.
Ông cho rằng việc hôn
nhân của công chúa đã ngăn chặn Liên minh Nga – Pháp, làm cho đất nước của mình
tránh được hủy diệt. Nhưng nước Áo vẫn phải vũ trang lại, chuẩn bị đánh nhau, để
loại bỏ uy hiếp từ thanh bảo kiếm của Napoléon đang treo trên đầu.
Napoléon đối với thủ đoạn
gian trá của Metternich, không thể nói là có chút nhận thức gì. Ông đã từng nói
một câu nói của Metternich: «Có lúc mọi người đều đang nói dối, nhưng lời nói dối
của ông ta luôn có vẻ đặc biệt nhiều».
Nhưng trong hôn nhân này,
Napoléon lại mắc vào tròng của Metternich.
Việc này chủ yếu là
Napoléon ham quyền lợi đã hun cháy lòng, dục vọng chiếm hữu quá nặng.
Thất bại cuối cùng của
Napoléon, trên mức độ nào đó để xét, đích thực có liên quan với việc ông trúng
«kế mỹ nhân» của Metternich.
13. Tỏ ra ngoan ngoãn
vâng lời làm đối phương lơ là cảnh giác
Napoléon anh hùng một đời.
Cuộc đời của ông ta tràn đầy màu sắc truyền kỳ, nhưng lại trúng «kế mỹ nhân» của
Metternich. Mà kẻ ngoan ngoãn tuân theo làm lơ là cảnh giác của Alexander lại
càng lừa được Napoléon, từ đó làm cho vị «Hoàng đế châu » tiếng tăm lừng lẫy
này trở thành «bại tướng» của Sa hoàng.
Năm 1801, Alexander tham
gia chinh biến cung đình do giới quý tộc Nga phát động, giết cha đoạt quyền lên
làm Sa hoàng.
Khi gặp mặt Napoléon trên
sông Neman, ông tỏ ra hợp với ý thích Napoléon, cố ý giả bộ không có kinh nghiệm,
bày tỏ mình cũng căm ghét người Anh, thậm chí giả vờ nói: «Về mặt đối phố người
Anh, tôi là một trợ thủ của bệ hạ».
Sau này, trong lá thư gửi
cho mẹ, Hoàng thái hậu Maria Phedorofura, ông mới thổ lộ tâm tình chân thực của
mình: «May sao, Napoléon là mot nhân vật thiên tài, lại cũng có nhược điểm, đó
chính là ông ta sùng bái hão huyền, còn con thì quyết định để cứu vớt đất nước
nên hy sinh lòng tự tôn của cá nhân».
Sự biểu diễn tuyệt vời nhất
của Alexander còn ở lần gặp mặt Napoléon tại Erfurt mùa thu năm 1808.
Lúc đó quan hệ Pháp - Nga
do các vấn đề Thổ Nhĩ Kỳ và Ba-Lan đã xuất hiện dấu hiệu xấu đi.
Nội bộ cung đình Nga phản
đối Alexander đi hội kiến với Napoléon. Nhưng Alexander lại có chủ trương riêng
của mình, cho rằng nước Nga hiện tại chưa đủ lực lượng, vẫn phải giả vờ đồng ý
kiến nghị của Napoléon, do đó bất chấp mọi phản đối của nhiều người trong cung
đình, lên đường đi tới Erfurt.
Trên đường đi, ông «chân
thành» thành bỏ với nguyên soái quân Pháp Lana đến đón mình. Tôi rất thích
Hoàng đế Napoléon, nhất định phải lợi dụng tất cả mọi cơ hội bày tỏ lòng mình với
ông ấy».
Sau khi đến Erfurt,
Alexander càng ăn nói khéo léo, trổ hết sở trường a dua nịnh hót. Trong cuộc hội
ngộ hai tuần lễ, ông không rời Napoléon như hình với bóng.
Một lần xem kịch, khi nữ
diễn viên nói một câu «kết giao với nhân vật lớn, thật là hạnh phúc thượng đế
ban cho» trong vở kịch «Ôdifusư» của Voltaire, Alexander nhanh trí chợt lập tức
đứng lên bắt tay Napoléon nói: «Ở đây tôi luc nào cũng cảm thấy sâu sắc điều
này».
Trong lần hội đàm này, bề
ngoài Alexander rất ngoan ngoãn nghe theo Napoléon, nhưng trong việc liên quan
đến vấn đề lợi ích căn bản của nước Nga lại một bước không nhường, hai bên cuối
cùng đã ký hiệp ước đồng minh lấp lửng nước đôi.
Năm 1812, Alexander cho rằng
nước Nga đã làm tốt việc chuẩn bị chiến tranh, liền đưa ra cho Napoléon một
thông điệp nước Pháp không thể tiếp nhận được, cố ý làm Napoléon tức giận đưa
binh lính sang nước Nga, để bị người Nga đánh bại.
Sau khi chiến thắng
Napoléon, Alexander nói một cách đắc ý rằng: «Ông ta (Napoléon) đã đánh giá sai
lầm về tôi, nên đã rơi vào chỗ bất hạnh».
14. Chiến thắng đối thủ cạnh
tranh ra sao?
Chúng ta thường nói xã hội
luôn là một xã hội cạnh tranh, mà cạnh tranh thường là rất tàn khốc, rất phức tạp,
vật lộn với đối thủ vô vàn khó khăn.
Ví dụ: Tống Khai Bảo năm
thứ 19 (tức năm 976, Tống thái tổ Triệu Khuông Dận ốm chết, em trai là Triệu
(Khuông) Quang Nghĩa lên nối ngôi, tức Tống Thái tông, đời niên hiệu là Thái
bình hưng quốc.
Triệu Khuông Dận chết
không có con trai truyền ngôi, đem ngôi vua cho em kế vị, chủ yếu là tổng kết
bài học triều đình Hậu Chu vì chúa nhỏ lên ngôi, bị các anh em phát động chính
biến Trần Kiều, «hoàng bào» mặc vào người chỉ một hành động mà cướp cả thiên hạ,
lo lắng sau khi truyền cho con còn nhỏ, bị người khác bằng trò cũ mình đã sử dụng,
trút hại lên đầu Hoàng đế của họ Triệu nhà Đại Tống.
Từ Kiến Long năm thứ hai
(tức năm 961), khi Đỗ Thái hậu bệnh nguy đã gọi Thái tổ Triệu Khuông Dận và mưu
thần Triệu Phổ đến trước giường bệnh, công khai hỏi Triệu Khuông Dận: «Con có
biết vì nguyên nhân gì mà con có được thiên hạ, lên ngôi Hoàng đế không?». Triệu
Khuông Dận nói là nhờ phúc ấm của tổ tông và thái hậu. Đỗ Thái hậu nói: «Sai rồi,
là vì họ Sài nhà Hậu Chu dùng ấu chúa trị vì thiên hạ». Nếu như nhà Hậu Chu có
vua trưởng thành, thì con sẽ không thể có vị trí hôm nay rồi. Con và Quang
Nghĩa đều là con ta sinh ra, sau khi con trăm tuổi, phải nên truyền ngôi cho em
Quang Nghĩa, sau đó Quang Nghĩa truyền ngôi cho em Đình Mỹ, Đình Mỹ chết lại
truyền ngôi cho con trai của con là Đức Chiêu. Thiên hạ đất rộng việc nhiều, có
thể lập được vua trưởng thành, đây là sự việc tạo phúc cho xã tắc. Tống Thái tổ
thờ mẹ trung hiếu, cẩn thận giữ lời dạy của mẹ, liền ưng thuận làm theo Đỗ Thái
hậu, và ra lệnh cho Triệu Phổ đứng bên cạnh ghi lại lời di huấn của Thái hậu.
Triệu Phổ vội vàng nghe theo lệnh, sau khi chép xong còn ký lên ba chữ «Thần Phổ
ký» (Thần là Triệu Phổ ghi chép), Thái tổ tự tay niêm phong lại cất trong phòng
kín Kim Quỹ để bảo tồn. Đương nhiên hiện nay nhìn lại việc này chưa hẳn là chân
thực, rất có thể là Triệu Quang Nghĩa và Triệu Phổ bịa đặt ra, bởi vì việc này
không thấy có trong chính quyền, hơn nữa sau khi Triệu Khuông Dận chết nhiều
năm mới truyền ra. Việc lớn việc tốt như thế làm sao phải giữ kín, trong đó có
rất nhiều chỗ không thể tự giải thích theo lý của mình được.
Tống Thái tổ Triệu Khuông
Dận chú ý vào chỗ an nguy của vương triều Tống của họ Triệu, sau khi chết, quả
nhiên nhường ngôi cho em trai. Hoàng hậu Tống thị của Thái tổ lúc mới đầu cũng
muốn lập cho con trai mình, nhưng bị phe phái riêng của Triệu Quang Nghĩa cài
bên cạnh đã giở trò sai sứ mời Triệu Quang Nghĩa lúc đó còn là Tấn vương vào
cung kế thừa ngôi vua. Tống Hoàng hậu nói với ông ta: «Bản thân gia đình và
tính mạng của mẹ con chúng tôi, tất cả đều phó thác cho chú cả». Quang Nghĩa
ngay trước mặt khóc lóc thề thốt rằng: «Nhất định cùng bảo đảm giàu sang, xin
chớ lo lắng ưu phiền».
Nhưng Triệu Quang Nghĩa vừa
lên ngôi lớn, mọi lời nói việc làm đã hoàn toàn khác. Anh cả Triệu Khuông Dận
có 4 đứa con trai, hai đứa đã chết, còn lại Đức Chiêu và Đức Phương, khi đó Đức
Chiêu 25 tuổi, đã là người trưởng thành, rất có khả năng nối ngôi.
Cho nên, Triệu Quang
Nghĩa trước tiên chỉ muc tiêu vào Đức Chiêu.
Thái Bình hưng quốc năm
thứ 4 (tức năm 979), khi Triệu Quang Nghĩa dẫn Đức Chiêu đi đánh U Châu, Quang
Nghĩa có ý thử thăm dò, sai người tung tin đồn nói Hoàng đế không biết tăm tích
đâu nữa, nhiều người trong quân đội luống cuống mãi, quả nhiên có người muốn lập
tức ủng hộ Đức Chiêu xưng vua.
Thái Tôn phát hiện khả
năng Đức Chiêu lên nắm chính quyền rất lớn, sau khi xuất chinh trở về kinh, lấy
lý do lần này xuất chinh không giành được thắng lợi lớn, nên lần lữa mãi không
bình công khen thưởng. Triệu Đức Chiêu có thiện ý khuyên gián, đôn đốc chú là
Quang Nghĩa nhanh chóng quyết định việc này, Triệu Quang Nghĩa thấy cháu
khuyên, cố ý đúng lời lẽ kích thích Đức Chiêu: «Đợi khi cháu làm Hoàng đế, sẽ
khen thưởng cũng không muộn», chế giễu Đức Chiêu tự tiện can thiệp vào chính sự.
Triệu Đức Chiêu tính cách thẳng thắn, có lòng vì nước, mà lại bị sỉ nhục, sau
khi về phủ cảm thấy uất ức, liền tự vẫn chết.
Hai năm sau, em trai của
ông, 22 tuổi, Triệu Đức Phương, cũng bị ốm chết.
Như vậy, nguy cơ uy hiếp
con cháu đời sau của Thái tông kế vị Hoàng đế đến từ cành trưởng của Tống Thái
tổ đã hoàn toàn loại trừ, mục tiêu sau đó chính là Đình Mỹ, em trai của Triệu
Quang Nghĩa.
Tần vương Đình Mỹ là em
trai của Quang Nghĩa, theo lời di huấn của Thái hậu thì sau khi Triệu Quang
Nghĩa chết sẽ lên kế ngôi.
Ông đã nhìn thấy Triệu
Quang Nghĩa ở thời anh cả là Tống Thái tổ đã mở rộng thế lực, đặt nền móng vững
chắc cho sau này lên ngôi thuận lợi, thế là cũng muốn bắt chước, ngoài việc đã
nuôi dưỡng một loạt tướng tá và quan lại trợ tá trong phủ Tần vương từ trước,
còn có Tể tướng đương triều Lư Đa Tốn cũng mới nhập vào.
Lư Đa Tốn này vốn là tay
chân quan trọng trong vương phủ Triệu Quang Nghĩa, từng đậu Tiến sĩ, thời Tống
Thái tổ làm quan đến chức Trung thư xá nhân, Tham tri chính sự. Thái tông vừa
lên nắm quyền, bổ nhiệm ông làm Trung thư thị lang, Bình Chương sự, làm Tể tướng
đương triều được trọng dụng.
Việc móc nối giữa Lư Đa Tốn
với Tần vương với nhau, rất nhanh chóng có người lên báo cho Thái tông Quang
Nghĩa, Triệu Quang Nghĩa mặc dù rất bực, nhưng nghĩ đến việc này có quan hệ đến
việc lớn kế thừa ngôi Hoàng đế, sự việc liên quan đến Hoàng đế tương lai trong
di mệnh của Thái hậu và Tể tướng ở triều đình, mà thái độ của quần thần trong
triều rốt cuộc ra sao, mình còn chưa hoàn toàn nắm vững, liền muốn tìm trong
triều đối thủ chính trị của Lư Đa Tốn, thôi thúc người đó cùng tấn công, việc
này vừa có thể không tổn hại cho mình, lại có thể ngồi để thu lợi tấn công địch
thủ của người khác.
Do đó, Tể tướng Triệu Phổ
của thời kỳ Tống Thái tổ được triệu vào kinh đô, muốn lợi dụng mâu thuẫn của
Triệu Phổ và Lư Đa Tốn, đạt được mục đích loại bỏ Lư Đa Tốn và Đình Mỹ.
Triệu Phổ là Khai quốc
nguyên huân của triều Tống, Triệu Khuông Dận lên cầm quyền đã đắc lực bày mưu
tính kế cho ông ta, sau đó được trọng dụng làm mưu thần chính trị quan trọng của
Tống Thái tổ.
Năm Thái tổ Càn Đức thứ
2, được tấn thăng Môn hạ thị lang, Tể tướng, Tập hiền đại học sĩ, một mình ở chức
Tể tướng, xử lý chính sự của nước Đại Tống. Nhưng vì vơ vét của cải nhận hối lộ,
vận chuyển gỗ lậu mở rộng phủ đệ, cộng thêm việc kết quan hệ thông gia với Khu
mật sứ Lý Sùng Cự, bị Thái tổ coi thường.
Còn chính lúc này, Lư Đa
Tốn với thân phận «Hàn lâm viện học sĩ» đương thời, mỗi khi triệu về là luôn
công kích Triệu Phổ, dẫn đến việc Triệu Phố bị bãi chức Tể tướng năm Khai Bảo
thứ 6 (tức năm 937), giáng chức đến Hà Dương làm một Tiết độ sứ ba thành trì.
Triệu Phổ nhìn Lư Đa Tốn
là kẻ thù xưa không đội trời chung, cho nên nghe được tin Thái Tông triệu về
kinh đã lên đường đi về kinh liền mấy ngày.
Thái Tông đối với hoạt động
ngấm ngầm của Tần vương Đình Mỹ và Lư Đa Tốn, vừa bắt đầu không dùng biện pháp
quá khích, vì lo ngại hai người bị quá kích sẽ liên kết trong triều chống lại,
cho nên khi một số bạn đồng liêu của Lư Đa Tốn vì bất mãn với sự chuyên quyền của
ông ta đã bí mật tố cáo Lư Đa Tốn và Đình Mỹ lên trên, Thái Tông không ra tay
bãi miễn Lư Đa Tốn ngay tức khắc mà chỉ khen thưởng đối với những người mật
báo. Ông làm như vậy có hai lý do: một là ngầm cổ vũ địch thủ chính trị của Lư
Đa Tốn tố giác thêm, đưa đến chỗ cùng nhau tấn công. Hai là, Triệu Quang Nghĩa
cho rằng những người này còn chưa đủ để đè bẹp Lư Đa Tốn và Đình Mỹ, vẫn cần có
địch thủ chính trị cao hơn một cấp nữa xuất đầu lộ diện, dẫn đến tranh giành
chính trị càng kịch liệt hơn, mới có thể thực hiện, tóm luôn một mẻ. Cho nên
sau khi gọi Triệu Phổ về, đã phục hồi chức Tể tướng cho Triệu Phổ, đã hãm chân
Đình Mỹ và Lư Đa Tốn.
Khi Triệu Phổ được phục hồi
Tể tướng, Lư Đa Tốn quả nhiên cảm thấy lo ngại mà vị trí của Triệu Phổ được đặt
vào hàng «Khai quốc nguyên huân» như cũ, Tần vương Đình Mỹ cũng tự cảm thấy khó
mà cao hơn, đã chủ động nêu lên việc nhường địa vị «Thủ phủ» của mình cho Triệu
Phổ.
Triệu Phổ trở lại chức Tể
tướng, đã tổng kết bài học lần trước Thái tổ bãi chức Tể tướng của mình, hết sức
để được lòng Thái tông Triệu Quang Nghĩa, ông đem chuyện mình và Thái tổ nhận
di mệnh của Thái hậu kể lại tỉ mỉ, còn nói mình phải «có chức vụ trọng yếu để
xem xét tùy cơ ứng biến».
Thế là, ông đã công kích
mạnh mẽ đối thủ chính trị Lư Đa Tốn, kể ra hết các tình huống Lư Đa Tốn lấy thế
đè người, kết giao bè đảng, làm việc độc quyền. Thái tông thấy Triệu Phổ đã mắc
mưu, lập tức mệnh lệnh Triệu Phổ điều tra vụ án Lư Đa Tốn câu kết với Tần vương
Đình Mỹ.
Triệu Phổ nhận được «thượng
phương bảo kiếm» của Triệu Quang Nghĩa đưa cho, không tiếc sức lực lại còn xác
minh điều tra những điều mờ ám. Đình Mỹ địa vị ở ngôi Tần vương, là người hiển
quý hoàng tộc, còn Lư Đa Tốn chức vị ở hàng Tể tướng, nắm quyền binh trong triều,
hai người đều là nhân vật chức vị cao dưới một người, trên trăm người, bình thường
hàng ngày kết giao đi lại rất nhiều với các quan tướng triều thần, nếu có ý tìm
những lỗi lầm ở khâu này, đương nhiên không phải là việc khó.
Triệu Phổ còn đem Lư Đa Tốn
tra hỏi tại cung đình. Dưới thế ép của Triệu Phổ, Lư Đa Tốn thú nhận mình đã từng
sai thuộc quan tâm phúc mật cáo những điều cơ mật trong triều với Tần vương
Đình Mỹ, đầu hàng nương nhờ Tần vương, còn nói với Tần vương: Đợi Thái tông chết,
tôi sẽ đem hết sức lực tôn thờ Tần vương. Tần vương cũng dùng mũi tên tặng lại
mình để tăng thêm tín nhiệm. Triệu Phổ nắm được tội chứng của Lư Đa Tốn, cho rằng
ông ta câu kết với Tần vương, âm mưu tiếm đoạt là tội nặng đại nghịch vô đạo, lập
tức tâu lên Tống Thái tông.
Tống Thái tông đương
nhiên nhân đà ra lệnh tước bỏ quan tước của Lư Đa Tốn, đầy đi Nhai Châu (nay là
miền nam đảo Hải Nam, Quảng Đông), cùng với gia quyến.
Tần vương Đình Mỹ, năm
Thái bình hưng quốc thứ 7 đã bị miễn Phủ duẫn Khai Phong, đi làm Lưu thú Tây
Kinh. Lần này Triệu Phổ đặc biệt kiến nghị với Triệu Quang Nghĩa: «Thái tổ đã
sai lầm, bệ hạ đâu lại có thể tái phạm sai lầm?» cổ vũ Triệu Quang Nghĩa truyền
ngôi cho con trai của mình, khỏi phải nói việc này đương nhiên sẽ được Triệu
Quang Nghĩa tán thành 100%.
Triệu Phổ càng không tiếc
sức lực xúi giục Thái tông khử bỏ Tần vương, trong lòng sợ một ngày nào đó Tần
vương lên nắm chính quyền mình sẽ rơi vào chỗ bi thảm. Cho nên khi thẩm tra Lư
Đa Tốn, ông ta cố sức dẫn vụ án Lư Đa Tốn lên đầu Tần vương, mượn cơ hội liên lụy,
để tránh hậu họa. Sau khi Lư Đa Tốn thú nhận, ông lập tức gợi ý cho Phủ duẫn
Khai Phong là Lý Phù, lấy cớ là Đình Mỹ liên lạc với Lư Đa Tốn, yêu cầu đem Tần
vương giáng chức đầy đi thật xa. Lý Phù còn vu cáo Tần vương trong thời kỳ lưu
thú Tây Kinh, không hối cải, còn oán trách Hoàng thượng «không lợi cho triều
đình». Triệu Quang Nghĩa xem Tần vương Đình Nghĩa là tai họa ngầm bên cạnh
mình, Triệu Phổ có sức chặn công của người khác như thế, ông ta vui như mở cờ
trong bụng, lập tức chiếu lệnh giáng Đình Mỹ làm Huyện công Bồi Lăng xếp đặt tại
Phòng Châu (nay là huyện Phòng, Hồ Bắc) không cho phép đi vắng ra ngoài.
Sau một năm, Đình Mỹ suốt
ngày lo sợ, chết vì bệnh tại nơi giáng chức.
Triệu Đình Mỹ và Lư Đa Tốn
vừa đi xong, kế hoạch Triệu (Khuông) Quang Nghĩa tùy ý truyền ngôi cho con cháu
của mình được thực hiện. Di huấn «anh chết thì đến lượt em» của Đỗ Thái hậu (nếu
như là có) đến đây bị vứt sang một bên, mà chế độ kế thừa dòng trưởng của chi
nhánh Tống Thái tông Triệu Quang Nghĩa đã giành được địa vị củng cố. Từ đó về
sau, ngôi Hoàng đế nhà Tống của họ Triệu đều nằm trong tay «hậu đại» (đời sau)
của Thái tông tiếp tục nối truyền cho nhau.
Triệu Quang Nghĩa lợi dụng
kế «ngồi cách bờ xem lửa», khi Lư Đa Tốn và Đình Mỹ cấu kết với nhau, thế lực tỏ
ra mạnh, mặc dù một số dịch thủ chính trị của Lư Đa Tốn cũng công kích ông ta,
nhưng không đủ mạnh để thắng. Cho nên dùng thái độ ngồi yên xem thời cuộc diễn
biến, quan sát chặt chẽ hành động của hai người đó, để xác định sách lược của
bước sau, về sau lại điều «Khai quốc nguyên huân» Triệu Phổ vào, lợi dụng quan
hệ xung khắc như nước với lửa giữa Triệu Phổ và Lư Đa Tốn, ngầm giúp ông ta
công kích lẫn nhau, khởi lên ngọn lửa cháy to hơn, chỉ một hành động đã gạt bỏ
Lư Đa Tốn và Tần vương Đình Mỹ khỏi «quyền đàn», giáng chức đến nơi xa xôi hẻo
lánh.
Triệu Phổ đuổi được Lư Đa
Tốn đi, tự cho rằng đã trút ra được nỗi bực dọc, không ngờ tới ông ta có cái
tên «mưu thần hàng đầu» nhà Tống của họ Triệu. Chức Tể tướng của ông còn chưa ấp
nóng chỗ, Triệu Quang Nghĩa đã tuyên bố trước triều thần: «Triệu Phổ có công với
quốc gia xã tắc, với trẫm là bạn cũ năm xưa, hiện nay tuổi đã quá «hoa niên»,
đã là đầu bạc răng long, nghĩ đến tình xưa, cũng không nở lại để ông vất vả
gian khổ nữa, nên chọn một nơi tốt lành, để tận hưởng tuổi già». Triệu Phổ lập
tức thu thập hành trang, ngoan ngoãn đi đến «nơi tốt lành» Trịnh Châu, làm một
Tiết độ sứ.
Cổ kim đồng lý (xưa nay đều
cùng một lý). Chỉ có điều là việc nói trên xảy ra trên lĩnh vực chính trị, còn
cạnh tranh hiện nay xảy ra trong lĩnh vực kinh tế mà thôi. Một người muốn giành
thắng trong cạnh tranh, tuy nhiên lòng hại người không thể có, nhưng lòng đề
phòng người không thể không có. Bằng không, thì bạn có thể mơ hồ thua cuộc từ
trong ca múa thanh bình và trên bàn ăn uống ngon lành.
15. Bổ nhiệm những người
có khuyết điểm
Mọi người đều có ưu điểm,
nhưng mọi người đồng thời đều có khuyết điểm. Đối với mình cũng thế, đối với
người khác cũng thế, đều phải biết nhìn vấn đề một cách biện chứng, tuyệt đối
không nên đòi hỏi mọi bề đều phải tốt đẹp, dám và giỏi dùng người có khuyết điểm
hoặc người có khuyết điểm rất lớn là một thử thách đối với trí tuệ lãnh đạo.
Giai đoạn đầu cuộc chiến
tranh miền Nam – Bắc nước Mỹ, về các phương diện nhân lực, vật lực miền Bắc mạnh
hơn miền Nam, chiếm ưu thế tuyệt đối. Nhưng trong thời gian 3 năm từ 1861 –
1864, thế tấn công quân sự của quân Đồng minh miền Bắc lại không có chút tiến
triển lớn nào, nguyên nhân mặc dù là do nhiều mặt, nhưng cũng có quan hệ rất lớn
tới việc dùng người của hai miền.
Thống soái quân đội miền
Nam, tướng Robert E. Lee kiên trì việc dùng người chú ý từ chỗ mạnh, các tướng
lĩnh được dùng từ Stonewall Jackson trở đi, hầu như tất cả mọi người đều có
không ít thiếu sót và khuyết điểm rõ ràng.
Robert Lee cho rằng những
mâu thuẫn và khuyết điểm này thật ra không làm trở ngại công việc, ông đã vận dụng
một cách đúng đắn chỗ mạnh của họ, phát huy chỗ mạnh tránh chỗ yếu kém, làm cho
chỗ mạnh của họ đã được phát huy tốt trong quân sự, đủ để chống chọi với ưu thế
về nhân lực, vật lực của quân miền Bắc.
Điều kiện Tổng thống
Lincoln của miền Bắc bổ nhiệm tướng lĩnh chủ yếu là xem có khuyết điểm lớn và
nghiêm trọng không, yêu cầu «các phương diện đều tốt», trước sau đã tuyển chọn
và bổ nhiệm ba, bốn chủ soái, đều bị các tướng lãnh dưới quyền Robert Lee chỉ
«giỏi một nghề» đánh bại.
Bài học thất bại cuối
cùng đã khiến Lincoln nhìn thấy sai lầm của việc dùng người, ông đã chuyển đổi
tư tưởng chỉ đạo dùng người yêu cầu phải tốt đẹp mọi bề trước kia, mạnh dạn bắt
đầu dùng Grant nổi tiếng thích rượu mà có thiên tài quân sự làm Tổng tư lệnh
quân đồng minh.
Lúc đó, có người khuyên
Lincoln thu hồi mệnh lệnh đã ban ra, không thể trọng dụng người nát rượu,
Lincoln đã dùng câu «Nếu như biết ông ta thích loại rượu gì, trái lại tôi sẽ phải
đem tặng cho ông ta vài thùng» để đáp lại lời khuyên của những người chủ nghĩa
cầu toàn.
Sự thực chứng minh, việc
bổ nhiệm Grant chính là bước ngoặt của cuộc chiến tranh Nam Bắc, cuối cùng đã
hoàn thành sứ mệnh lịch sử thống nhất nước Mỹ.
Về sau, Lincoln nói một
cách rất có cảm xúc: «Kinh nghiệm sống của tôi khiến tôi tin tưởng sâu sắc rằng,
những người không có khuyết điểm thường thường ưu điểm cũng rất ít».
Lại như công ty Chrysler
chuyên mong giúp những «người không thể dùng», từ đó giành được thành công.
Chrysler là công ty ôtô đứng
hàng thứ 3 ở Mỹ, lấy sản xuất xe ôtô con và xe ca là chính, đồng thời còn sản
xuất tàu du lịch, xe tăng, động cơ hàng không vũ trụ và sản phẩm hóa chất công
nghiệp, đã từng dùng sách lược kinh doanh cải tiến và đổi mới đánh bại Henry
Ford. Ông trở thành công ty ôtô lớn thứ 2 của Mỹ, và đứng vào hàng «10 xí nghiệp
lớn của thế giới».
Song, công ty này ở thời
kỳ toàn thịnh của Henry Ford cháu đã rơi vào cơn xoáy của nguy cơ nghiêm trọng,
mỗi năm lỗ vốn 160 triệu USD.
Để «sống lại trong đóng
tro tàn», công ty Chrysler nghĩ đến Iacocca đang ở công ty Ford có rất nhiều
thành tích nhưng lại bị áp bức và lăng nhục.
Công ty này vì sự sinh tồn,
so với Ford cháu năm đó làm còn triệt để hơn, do Chủ tịch Hội đồng quản trị gặp
Iacocca trực tiếp nói: «Chỉ cần bằng lòng đến chủ trì công việc, sẽ nhường lại
cho chức Chủ tịch Hội đồng quản trị». Để báo thù lại đòn của Ford cháu, Iacocca
đã dũng cảm xông ra nhận.
Iacocca hậu duệ của người
di dân Italia, sinh năm 1924, tại thành phố Allentown, bang Pennsylvania; cha
là một thương nhân tháo vát, do kinh doanh món ăn «hot dog» mà giàu có lên.
Ảnh hưởng tốt của gia
đình khiến cho Iacocca khi học tiểu học đã làm thuê kiếm tiền, khi 15 tuổi làm
buôn bán ôtô, lúc 16 tuổi đã có ôtô riêng của mình, lúc này ông đang học trung
học, còn thông qua tranh cử làm Chủ tịch Hội học sinh, năm thứ hai vì «không chịu
vận động» nên không trúng tuyển.
Đối với việc chìm nổi nho
nhỏ này, câu trả lời của Iacocca là: «Cần phải tiếp nhận một chút bi kịch nho
nhỏ trong cuộc sống, nếu như không có cái để so sánh với hạnh phúc, thì không
thể hiểu thế nào là hạnh phúc chân chính. Hãy quên đi điều buồn phiền hiện tại,
nghĩ đến những việc của ngày mai!».
Về sau ông thi vào Đại học
Lehigh nổi tiếng, đã học chương trình công nghiệp và thương mại 4 năm, tinh lực
quá dư thừa khiến ông đồng thời học xong tâm lý học và tâm lý học biến thái.
Năm 1944 tốt nghiệp đại học,
đã vào làm tại công ty General, vì không thể thi thố được nên đã lợi dụng tiền
học bổng nghiên cứu của Đại học Princeton ra sức học tập chương trình môn chất
dẻo. Năm 1946 tốt nghiệp liền nhận giấy gọi vào Công ty Ford làm một kỹ sư thực
tập.
Ở Công ty Ford đầu tiên
ông tiếp thụ đào tạo bồi dưỡng toàn bộ chương trình về kỹ thuật ôtô, tiếp đó
làm công việc tiêu thụ ôtô, chưa đầy một năm đã làm giám đốc tiêu thụ một khu vực
bang Pennsylvania, sau đó dựa vào năng lực và tài trí được thăng lên giám đốc
tiêu thụ thành phố Philadelphia.
Năm 1956 sức tiêu thụ xe
ôtô Ford không tốt, ông nghĩ ra biện pháp tiêu thụ mới trả góp «chi ra 56 USD
cho xe mỗi năm 1956», không những giành được thành công lớn, mà còn trở thành
chiến lược tiêu thụ toàn quốc của ôtô Ford.
Ông được Bleach thạo nghiệp
vụ đề bạt liên tục, đến năm 1960 được đề bạt thành Phó tổng giám đốc Công ty và
Tổng giám đốc tiêu thụ.
Trong thời gian đó đã xúc
tiến bộ mặt thị trường của xe mác «Ngựa hoang» (Wild Horse), được giới công
nghiệp ôtô Mỹ ca ngợi là «người cha của ngựa hoang», trước sau đã làm lợi cho
công ty Ford 1,1 tỷ USD. Do được lời khoản lớn nên sau đó ông đã làm Tổng giám
đốc của Công ty Ford.
Không ngờ, thành tích của
ông càng lớn, Ford cháu càng lo lắng quyền lợi bị tuột mất, nên đã nghĩ ra một
loạt biện pháp để chỉnh đốn lại ông ta. Trước hết là cản trở hết mọi chỗ, tiếp
đó là «thanh trừng những người gần gũi ông ta», tiếp nữa là «tăng thêm những chức
hão huyền hạ thấp địa vị tổng giám đốc, cuối cùng là cách chức đuổi đi coi
kho».
Ngày đó vừa đúng là ngày
sinh lần thứ 54 của Iacocca, người đã từng tạo được tiền lãi hàng mấy tỷ USD,
nhưng ông lại đau đớn không muốn sống nữa. Tầng lớp quản lý cấp cao của Công ty
Ford vì việc đó đã làm náo động lên.
Ngày đầu tiên Iacocca bước
chân vào công ty Chrysler, công ty này sắp đổ vỡ, cổ phiếu bán ra thị trường lập
tức lên giá, mệnh giá tăng lên 3/8, thị trường tín nhiệm ông ta.
Nhưng tình hình rồi rén đến
mức khó mà thu xếp được: Đối thủ cạnh tranh chèn lấn, hàng hóa Nhật Bản đổ vào
ào ạt, nguy cơ dầu mỏ, tài chính hỗn loạn, vốn tiền mặt khô cạn, 25 phó tổng
giám đốc mỗi người xưng bá một phương, sản phẩm thấp kém, mấy vạn chiếc ôtô ứ đọng,
nhưng vẫn còn làm dối ẩu! Iacocca lập tức đưa ra lời thề: Mình từ trong thất bại
đứng dậy, Công ty Chrysler từ trong thất bại sống lại.
Ông vừa mới lên nhậm chức,
một mặt mời các phần tử mũi nhọn về nghiệp vụ của Công ty Ford đang bị thất thế
về làm việc, một mặt khai thác, để bắt các phần tử ưu tú bên trong Công ty
Chrysler, tiến hành cải cách quản lý mạnh dạn, chỉnh đốn đội ngũ kinh doanh và
tiêu thụ, để cắt giảm nhân viên thừa và 33 phó tổng giám đốc, ông dẫn đầu giảm
bớt tiền lương của mình.
Sau khi giải quyết nhanh
gọn các việc, ông đã nén nỗi đau khổ nhường ra nghiệp vụ ôtô nước ngoài, chuyển
tiếp sản xuất xe tăng có lợi nhuận ổn định. Tất cả mọi việc này, làm cho
Chrysler đã có được điều kiện vận động tìm được kế sinh tồn.
Nhưng tình hình kinh tế
suy thoái có tính toàn quốc xuất hiện do nguy cơ dầu mỏ, lại không thể dựa vào
sức mạnh bản thân công ty chống đỡ nổi. Ông không chút do dự quyết định xin vay
tiền chính phủ, và tự mình đứng ra bảo đảm. Nhưng cách này bị những người cùng
ngành chỉ trích là «vi phạm tinh thần xí nghiệp tự do», dư luận toàn quốc lại
cùng phản đối.
Để tranh thủ Quốc hội
thông qua, hàng ngày ông phải vượt việc làm chứng, trả lời bảo vệ và tranh luận,
ông đã đem hậu quả nghiêm trọng của việc phá sản kê thành bảng biểu mời từng
nghị sĩ kiểm tra, nêu ra hàng loạt sự thực thuyết minh cách làm này vừa không
phải là lần đầu tiên, cũng không trái với nguyên tắc tự do của xí nghiệp.
Sự hùng biện của ông đã cảm
hóa Quốc hội, Hạ viện và Thượng viện thông qua với đa số phiếu, khoản vay 1,2 tỷ
USD đã được phê chuẩn, nghề nghiệp làm ăn của mấy chục vạn người của công ty được
bảo đảm, nhưng lãi suất rất cao, điều kiện khắc khổ, vẫn cần cố gắng hết mức.
Công ty Chrysler dưới sự
chủ trì của Iacocca đem việc nghiên cứu chế tạo xe ôtô nhỏ kiểu K làm con đường
sống, trên dưới đều nhất trí lao vào cuộc đọ sức mới.
Năm 1981, xe ôtô kiểu K bắt
đầu đưa vào thị trường, chốc lát giành được phân ngạch của thị trường 20% trở
lên, làm cho Công ty Ford đã không may lại gặp rủi thêm.
Năm 1982, ông ra sức bảo
vệ, ra lệnh khôi phục sản xuất xe ôtô gập mui đã bị đào thải từ lâu, nếu như
năm ấy bán ra 2,3 vạn chiếc, cộng thêm với việc xe ôtô kiểu K bán chạy sẽ làm
cho công ty bước ra khỏi cảnh khó khăn, bắt đầu làm ăn có lãi.
Năm 1983, công ty thu lợi
925 triệu USD, đồng thời phát hành 432 triệu USD cổ phiếu, là cổ phiếu bán ra
thị trường lớn thứ 3 trong lịch sử nước Mỹ. Lúc này Iacocca không những thực hiện
mọi lời hứa đối với khoản tiền vay của Quốc hội, mà còn tuyên bố với toàn quốc:
Trả hết toàn bộ khoản vay trước 7 năm.
Năm 1984, Công ty thu được
2,38 tỷ USD lãi ròng, vượt khá xa kỷ lục kiếm lời tạo ra cho xe «Ngựa hoang»
(Dã mã) tại Công ty Ford của ông trước đây.
Đến năm 1986, cổ phiếu của
Công ty Chrysler trong 8 năm tăng lên 34%, lãi cổ phiếu trong 6 năm đã tăng
86%, trở thành một công ty cao nhất trong 500 công ty lớn của nước Mỹ.
Iacocca trở thành nhân vật
anh hùng của nước Mỹ, các báo chí nhiều lần đưa tin, gọi ông «mang lại cho các
xí nghiệp Mỹ suy yếu niềm hy vọng phục hưng». Tự truyện của ông trở thành loại
sách bán chạy trên thế giới.
Có người hy vọng ông đứng
ra tranh cử tổng thống, nhưng ông bày tỏ lòng nhiệt thành vẫn là «sự nghiệp ôtô
không có bờ bến», ông yêu cầu toàn công ty trên dưới «phải dùng nhiệt tình tín
ngưỡng thượng đế để theo đuổi chất lượng». Ông tuyên bố mục tiêu phấn đấu mới
là: Giành được 15% thị trường ôtô, 25% thị trường ôtô ca.
Hơn nữa, ông còn muốn trả
mối hận thù của Công ty Ford. Vì thế ông đã định ra một giới luật quản lý cho
Chrysler – bảo lưu người có ý kiến bất đồng, cho phép tự do bày tỏ cá nhân,
nhưng tuyệt đối không dùng người đắc ý quá quên hết tất cả mọi việc.
Nhắc đến Công ty
Chrysler, thì không thể không làm cho người ta liên tưởng đến Công ty Ford của
Mỹ, ông cháu Ford có kinh nghiệm rất thành công về phương diện dùng người, cũng
được bài học thất bại vô cũng đau đớn.
Khi bay trên bầu trời
Detroit bang Michigan, có thể nhìn xuống Công ty ôtô Ford, một trong những xí
nghiệp liên hợp lớn nhất thế giới. Nó chiếm diện tích 120 mẫu Anh (1 mẫu Anh =
4.046,82m2) gồm nhà máy gang thép, nhà máy phalê, nhà máy lắp ráp ôtô, còn có
110 dặm Anh đường sắt chuyên dùng (1 dặm Anh = 1.852m), sản lượng năm là 15 vạn
chiếc xe đua nhãn hiệu «Ngựa hoang» (Dã mã).
Nhưng, ở đây chỉ là một bộ
phận nhỏ của toàn bộ sản nghiệp Ford, nó còn có hơn 100 nhà máy ở 22 bang nước
Mỹ, sản lượng năm của những năm cuối thập kỷ 70 thế kỷ XX là 2,04 triệu chiếc
xe, công nhân làm thuê là 245 vạn người, co tài sản là 22,1 tỷ USD, mức tiêu thụ
năm là 42,8 tỷ USD, các nhà máy và các hãng buôn hợp tác ở nước ngoài là 4 vạn
đơn vị, khoản tiền kinh doanh là 20 tỷ USD. Nó còn sản xuất tên lửa, máy tính,
thiết bị hàng không vũ trụ, là công ty mang tính tổng hợp lớn thật sự.
Tất cả mọi cái này đều được
sáng tạo ra từ tay Henry Ford ông (người Mỹ đều gọi ông là «Henry Ford đời I».
Henry Ford I sinh ra
trong gia đình nông dân, lúc 16 tuổi đã từng làm công nhân trong công ty chiếu
sáng của nhà phát minh Edison, đã có hứng thú đặc biệt với chiếc ôtô vừa mới ra
đời.
Sau đó đã từng hai lần
thành lập công ty ôtô, đều vì không có kiến thức chuyên ngành, không biết quản
lý nên thất bại.
Năm 1903, khi ông đã 40
tuổi, dũng khí vẫn không giảm, năm đó lại lập công ty ôtô lần thứ 3. Lần này
ông đã mời 2 chuyên gia không được người khác trọng dụng, một người phụ trách
việc xác định phương hướng sản phẩm và tổ chức xây dựng mạng lưới tiêu thụ, một
người phụ trách thiết kế dây chuyền sản xuất tự động. Hai chuyên gia này đã
không phụ lòng ủy thác, không bao lâu đã thực hiện được mục tiêu định trước.
Đặc biệt đã sáng tạo ra
dây chuyền lắp ráp ôtô đầu tiên trên thế giới, làm cho thời gian lắp ráp mỗi
chiếc xe ôtô từ 12,5 giờ giảm xuống còn 9 phút, nâng cao năng suất của dây chuyền
sản xuất gấp 126 lần.
Ba năm sau, đúng lúc đối
thủ cạnh tranh dốc sức sản xuất xe ôtô cao cấp, xe ôtô kiểu N của công ty Ford
bán với giá 500 USD hàng loạt tung ra thị trường, ngay tức khắc chiếm được phần
lớn thị trường xe ôtô.
Hai năm sau, lại đưa ra
xe ôtô du lịch kiểu T chức năng cao bán với giá 850 USD. Về sau giảm đến 450
USD khiến nó vang bóng trên thị trường, bán chạy khắp thế giới.
Lại qua 2 năm, Công ty
Ford đã trở thành công ty chế tạo ôtô lớn nhất thế giới, Henry Ford I cũng
giành được danh hiệu «Vua ôtô», có hơn 7000 hãng buôn tiêu thụ xe ôtô của ông.
Thắng lợi đã làm mê mẫn đầu
óc của Henry Ford I, ông ngày càng chuyên quyền độc đoán, xem những người có ý
kiến khác là cái gai trong mắt, cái kim trong thịt, ắt muốn gạt bỏ họ đi, làm
cho các nhân tài đều kéo nhau bỏ đi gần hết.
Cuối cùng ngay cả hai
chuyên gia đã từng giúp Ford chiếm thiên hạ cũng chán ngấy sự ngoan cố tự phụ của
ông ta, một người được công ty ôtô General mời đi, còn một người nữa thì đi tìm
khoảng trời riêng của mình, về sau làm Thị trưởng thành phố Detroit, thượng nghị
sĩ.
Dưới sự thống trị ngang
ngược của Henry Ford I, trong 19 năm lại chỉ sản xuất một loại ôtô kiểu T màu
đen. Mà chuyên gia Công ty ôtô General mời về lại như hổ chắp thêm cánh, điều
chỉnh sách lược kinh doanh, sản xuất các loại ôtô nổi tiếng ba loại tốc độ cao,
vừa, thấp tranh giành thị trường, chen lấn xe kiểu T của Công ty Ford.
Từ đó Công ty Ford tuột
vào thế suy sụp. Đến năm 1929, tỷ lệ chiếm thị trường là 31,3%, năm 1940 lại giảm
xuống 18,9%, từ đây về sau càng mỗi ngày mỗi xuống.
Đến năm 1943, Ford ông đã
80 tuổi đành phải gửi thư cho Bộ Hải quân Mỹ, yêu cầu đem người cháu nội cùng
tên với mình là trung úy hiện đang phục vụ hải quân về đảm nhận Phó tổng giám đốc.
Đến năm 1945, ông ta giao toàn bộ quyền lực cho Ford cháu khi Công ty Ford đã
«kề bên bờ phá sản».
Henry Ford II tiếp quản cục
diện rối ren lung lay muốn đổ, mặt mày càng nhăn nhó càng khó chịu, công ty sổ
sách gì đều không có, chỉ còn lại lỗ vốn gánh vác không xuể, hơn 500 nhân viên
quản lý cao cấp, không có lấy một người được đào tạo qua giáo dục đại học, cũng
không đoái hoài đến quản lý kinh doanh.
Dùng biện pháp gì làm cho
công ty «cải tử hoàn sinh» đây? Ông nghĩ đến công ty ôtô General đang phơi phới
vươn lên, nghĩ đến những kế hay họ đã dùng – trọng dụng các nhân tài bị Ford
ông không dùng. Ông định ra chủ ý phải «dùng cách làm của người khác trở lại vị
trí họ».
Qua điều tra, ông phát hiện
Phó tổng giám đốc của nguyên công ty ôtô General là Ernest Bridge dần dần bị đối
xử lạnh nhạt. Henry cháu đi đến tận nhà thăm và khẩn thiết mời, xin ông cứu vớt
công ty Ford sắp sửa phải đóng cửa.
Bridge mới đầu lấy lý do
là «còn đang đảm nhận chức giám đốc Công ty Hàng không thuộc Công ty General»
khéo léo từ chối. Ford cháu vẫn khẩn thiết trình bày, nhiều lần nói: «Ông có thể
đi đến xem thử trước, sau đó sẽ quyết định có ở lại hay không». Lời khẩn cầu
như thế, khiến cho Bridge không nỡ tâm từ chối.
Đúng lúc này, Ford cháu
nhận được một điện báo của bạn, nói: «Có 10 sĩ quan trẻ, làm công việc quản lý
chế độ quy trình trong không quân, hiện tại vì chiến tranh kết thúc nên vội tìm
công việc, trong không quân họ được mệnh danh là «thần đồng». Ford cháu lập tức
đáp điện hẹn mời họ nói chuyện trực tiếp».
Các «thần đồng» quả nhiên
«danh bất hư truyền», tri thức quản lý chuyên ngành của họ làm cho Ford cháu
ngay lập tức tuyên bố tuyển dụng.
Tháng 6 năm 1946, Bridge
bắt đầu nhậm chức, việc đầu tiên ông làm là đem theo Crusoe và mấy nhân viên
cao cấp của Công ty ôtô General cùng đến.
Những người này vốn là kiện
tướng đắc lực của Bridge, cùng với Bridge vô cớ bị đối xử lạnh nhạt nên trong
lòng rất nhiều ấm ức.
Bridge và Crusoe với sự
trợ giúp của 10 «thần đồng», trước tiên xây dựng nên chế độ tài vụ có thể khiến
cho Công ty Ford thoát khỏi khó khăn, ngay năm đó đã chuyển lỗ thành có lãi, mặc
dù thu lãi chỉ có 2.000 USD nhưng lại đánh dấu Công ty Ford có khả năng tránh
được sụp đổ.
Từ đó về sau, họ bắt tay
vào một loạt cải cách chế độ quản lý, đồng thời từng năm nhìn thấy hiệu ích.
Năm thứ 2: công ty thu lợi
hơn 60 triệu USD.
Năm thứ 3: 100 triệu USD
Năm thứ 4: bình quân 170
triệu USD
Năm thứ 5: 260 triệu USD
Lúc này, tức là năm 1950,
Bridge và những người khác đã làm cho Công ty Ford khôi phục lại được địa vị là
«một trong những công ty công nghiệp lớn nhất thế giới».
Trong 10 năm đó, Công ty
Ford không ngừng đưa ra loại xe mới tốc độ vừa và thấp hoạt động sôi nổi trên
thị trường, trong đó loại xe kinh tế loại nhẹ rất được người tiêu dùng hoan
nghênh.
Đến năm 1960, Công ty
Ford đã bước vào thời kỳ đỉnh cao của sản xuất, Ford cháu cho rằng mình đã «đủ
lông đủ cánh», không thể lại nhường cho Bridge làm đại diện của công ty xuất đầu
lộ diện nữa, do đó nói với ông ta: «Bridge, tôi đã tốt nghiệp rồi».
Bridge rất thức thời, lập
tức rút lui khỏi chức vụ, chẳng bao lâu rời khỏi công ty. Vị soái tài này đã
làm cho Công ty Ford khởi tử hồi sinh, cũng đã bị gạt khỏi và ra đi như thế, 9
người trong số 10 «thần đồng» thấy tình huống đó cũng theo nhau ra đi.
Trong số họ có người làm
Bộ trưởng Quốc phòng, có người làm giám đốc Ngân hàng thế giới, có người trở
thành người chủ quản hãng ôtô khác, trở thành đối thủ mạnh của Công ty Ford.
Miler thay Bridge là do
Bridge đưa từ Công ty ôtô General đến. Ông đã cảm thấy sự biến đổi nho nhỏ của
thị trường ôtô, phát hiện thị hiếu của người tiêu dùng có thay đổi, thế là lại
mời Norson và Iacocca từ Công ty General về, chủ trì việc điều tra thị trường
và thiết kế sản phẩm, quy hoạch trong 2 năm hoàn thành thiết kế sản phẩm mới,
trong 2 năm đưa ra loại xe mới.
Mùa xuân năm 1964, triển
lãm thế giới của New York khai mạc, xe mới nhãn «Ngựa hoang» (Dã mã) của Công
ty Ford lập tức tung ra thị trường.
Nó có đuôi ngắn, thân
phía trước dài, 4 chỗ ngồi, trước xe gắn một con «ngựa hoang» bốn vó tung bay,
trọng lượng nhẹ, tốc độ nhanh, công suất lớn, dễ thao tác, kiểu dáng trang nhã
lịch sự, giá bán chỉ có 2.500 USD, thích hợp với nhu cầu của những người đủ mọi
tầng lớp: trẻ, có tiền và theo đuổi hưởng thụ, hơn nữa vì giá bán vừa phải nên
cũng làm cho những người già vẫn muốn mua.
Điều càng làm cho người
ta gọi là tuyệt vời vì nó không ảnh hưởng đến việc tiêu thụ các loại sản phẩm
khác của Công ty Ford. Xe mới bước đầu thành công, năm đó đã tiêu thụ 4,2 vạn
chiếc, sau đó càng tăng lên rất nhanh, các thư yêu cầu mua bay đến tới tấp.
Công ty ôtô Ford đã sáng
tạo kỳ tích trong các công ty công nghiệp lớn nhất thế giới.
«Thành công, quyền lợi và
tiền tài đôi khi có thể làm hư bại một con người, làm cho họ trở nên thiển cận
hẹp hòi, ghen ghét, người hiền tài, hủ hóa trụy lạc, cuối cùng hủy hoại mình».
Câu này của các nhà hiền triết nói hoàn toàn ứng nghiệm trên con người Henry
Ford cháu.
Năm 1968, ông dùng thủ đoạn
tập kích đột nhiên cho Miler «luôn làm việc rất tốt» thôi việc, hai năm sau lại
cho Norson, người thay thế cũng thôi việc, sau đó lại đột nhiên cho Iacocca
thay thế chủ quản đã từng lập nên công lao lớn cho loại xe «Ngựa hoang» thôi việc,
chỉ có một lý do duy nhất là «uy cao làm chủ hoảng sợ»!
Từ đây, Công ty Ford lại
bước vào con đường xuống dốc, đến năm 1981, tỷ lệ chiếm lĩnh thị trường chỉ là
16,6%, đến cả người thay thế thuần tính nhất cũng chỉ có thể than thở: «Chúng
ta nếu không lại sáng tạo cái mới nữa, thì không thể sống tiếp được!».
Ford cháu trông thấy thế
thất bại đã định, đành phải từ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Năm 1982, Henry Ford II
không thể không nghỉ hưu theo điều lệ của công ty, tất cả mọi chức vụ của ông ở
công ty nhất loạt đều bị thủ tiêu, và trong danh sách chi trả lương của công ty
bị gạch tên, duy nhất dựa vào cổ phiếu để sống.
Ông đau lòng, nhưng chẳng
biết làm sao được, than thở «tất cả đều trôi qua». Henry Ford ông và cháu đều dựa
vào kế «mượn cái đã bị đổ để hiện ra với hình thức khác» mà lập nên thành tích
huy hoàng, lại đều vì mang theo kế đó nên rơi vào cảnh ngộ nguy hiểm, trải qua
hết mọi tang thương lên xuống của «vua ôtô». Nhưng vở kịch cạnh tranh vẫn chưa
hạ màn, vẫn còn đang tiếp diễn.
Mọi người đều nói: Cạnh
tranh xã hội ngày nay ngày càng mạnh mẽ.
Xét đến cùng, cái gốc của
sự cạnh tranh chính là cạnh tranh nhân tài. Ai có thể được nhân tài và phát huy
được tác dụng của nhân tài, người đó sẽ có thể trở thành người nổi bật của thời
đại.
16. Xí nghiệp làm thế nào
đứng lên từ trong nghịch cảnh
Là sinh mệnh của một cá
thể, cần phải hô hào «kích hoạt» trí tuệ của mình trước cảnh khó khăn, nghịch cảnh
và cảnh chết chóc, là một xí nghiệp cũng phải như vậy.
Chúng ta nhận thức một
chút nghịch cảnh của xí nghiệp với hàm ý gì:
1) Đặc trưng nghịch cảnh
của xí nghiệp
* Nghịch cảnh của xí nghiệp
xét theo ý nghĩa thông thường là chỉ do đột biến của hoàn cảnh bên ngoài hoặc
điều kiện bên trong, làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp rơi
vào một tình huống của trạng thái cực kỳ khó khăn nào đó.
Nếu như phân tích từ đặc
trưng biểu hiện nghịch cảnh của xí nghiệp và góc độ phân biệt chỉ tiêu của nó,
nghịch cảnh xí nghiệp phải biểu hiện ra là: trong vận hành xí nghiệp, đại bộ phận
các khâu của một lĩnh vực hoạt động chủ yếu nào đó hoặc toàn bộ các khâu của
lĩnh vực hoạt động kinh doanh gặp trắc trở nghiêm trọng hoặc liên tục, dẫn đến
xí nghiệp lâm vào kinh doanh thua lỗ hoặc xuất hiện xu thế thua lỗ, đồng thời
có thể dẫn đến xí nghiệp có nguy cơ phá sản.
Định nghĩa giới hạn này đối
với nghịch cảnh xí nghiệp dùng các đặc trưng biểu tượng dưới đây làm điểm nhận
biết.
Một là, nó nhấn mạnh đại
bộ phận các khâu của các lĩnh vực hoạt động chủ yếu nào đó như sản xuất, cung
tiêu và dự trữ, tài vụ hoặc là toàn bộ các khâu trong lĩnh vực hoạt động kinh
doanh của xí nghiệp gặp phải khó khăn nghiêm trọng, gây ảnh hưởng lớn đối với
tình trạng chung của xí nghiệp.
Hai là, nó nhấn mạnh những
khó khăn và trắc trở gặp phải là nghiêm trọng hoặc liên tục, một khi gặp phải
thì khó có thể khôi phục được trạng thái bình thường ngay lập tức.
Ba là, nó nhấn mạnh xí
nghiệp đã phát sinh kinh doanh thua lỗ, hoặc đã xuất hiện xu thế thua lỗ.
Rõ ràng là xí nghiệp ở
trong trạng thái thua lỗ, nghịch cảnh của nó là đương nhiên, nhưng không phải
xí nghiệp không có sự thực thua lỗ thì không nằm trong nghịch cảnh. Nếu như lợi
nhuận của xí nghiệp trượt dốc không bình thường, chiến lược sản phẩm giảm xuống
nhanh chóng, phân ngạch thị trường giảm với biên độ lớn, dù rằng tạm thời chưa
xuất hiện thua lỗ, mà trạng thái không bình thường này chứng tỏ xí nghiệp đang
gặp phải và sẽ tiếp tục gặp phải trắc trở nghiêm trọng, như thế thì cái đang chờ
đợi xí nghiệp tất nhiên là thua lỗ.
Đây cũng chứng tỏ, nghịch
cảnh xí nghiệp là một quá trình có chiều hướng biến đổi.
Bốn là, nó nhấn mạnh xí
nghiệp gặp trắc trở, phát hiện thua lỗ, kết cục phát triển của nó là rơi vào
nguy cơ phá sản, trong rất nhiều xí nghiệp «đóng cửa, ngừng sản xuất, sát nhập,
chuyển đổi» ở Trung Quốc, quyền sinh tồn cơ bản của không ít xí nghiệp đều có
thể mất, tình cảnh rơi vào nguy cơ phá sản này là nghịch cảnh xí nghiệp nghiêm
trọng nhất.
Bốn trạng thái biểu hiện
này của nghịch cảnh xí nghiệp là cùng liên hệ nhau, là nhân quả của nhau, nó thống
nhất với nội dung bản chất của nghịch cảnh xí nghiệp.
Đương nhiên, trạng thái
trong nghịch cảnh của các xí nghiệp khác nhau có tính sai khác tương đối, dễ
làm cho người ta phát sinh khó khăn về nhận thức và đánh giá đặc trưng bản chất
đối với nghịch cảnh xí nghiệp.
Nhưng chúng ta có thể từ
trong hàng loạt hoạt động hiện thực của xí nghiệp, khảo sát và phân tích các hiện
tượng trong nghịch cảnh của nó, từ đó phân tích ra đặc trưng cơ bản của nghịch
cảnh xí nghiệp.
a) Tính phá hoại
Đây là đặc điểm cơ bản của
bất cứ nghịch cảnh xí nghiệp nào đều có. Nghịch cảnh tất nhiên dẫn đến cơ chế vận
hành của xí nghiệp bị phá hoại, tổn thất của nó tạo nên khó có thể bù đắp nhanh
chóng được, bởi vì trong tình cảnh khó khăn khó có thể tức khắc xoay chuyển và
có thể sinh ra hậu quả có tính chất dây chuyển. Hình thức phá hoại của nghịch cảnh
xí nghiệp, vừa có thể là kinh doanh thua lỗ, cũng có thể là không khống chế nổi
hoạt động quản lý, hoặc là kiêm cả hai đều có.
Hình thức phá hoại này lại
biểu hiện thành phá hoại có tính chất từ từ và phá hoại có tính chất nhanh
chóng. Cái trước biểu hiện thành hậu quả tích lũy những cái không tốt của việc
quản lý nội bộ xí nghiệp. Cái sau biểu hiện thành quyết sách lớn của xí nghiệp
đều sai lạc hoặc gặp phải đả kích bất ngờ của bên ngoài.
b) Tính vô trật tự
Là chỉ trạng thái hành vi
hoạt động của xí nghiệp đi ngược quy luật thị trường, vận hành nội bộ thoát ly
quy phạm bình thường. Nếu như xí nghiệp gặp nghịch cảnh, cơ chế quản lý của nó
tất nhiên bị đả kích và phá hoại nghiêm trọng, khiến cho hoạt động của xí nghiệp
sinh ra hỗn loạn.
Nhưng không phải là tất cả
mọi nghịch cảnh đều ngay tức khắc hoặc rõ nét tạo nên trạng thái vô trật tự của
xí nghiệp. Xí nghiệp nằm trong nghịch cảnh mà có thể trong thời kỳ nhất định vẫn
giữ được trạng thái có trật tự có hai loại:
Một loại là tác dụng của
cơ chế quản lý truyền thống, khiến xí nghiệp trong «trật tự» thị trường sản phẩm
vẫn sản xuất hàng loạt, theo đuổi tăng trưởng giá trị sản lượng ổn định. Duy
trì lực lượng «có trật tự» này là kế hoạch có tính chỉ lệnh bù đắp và làm giảm
thua lỗ của xí nghiệp.
Một loại khác là do đột
biến bên ngoài xí nghiệp và tạo nên nghịch cảnh, nhưng thể chế quản lý xí nghiệp
lúc đó là hoàn hảo và có thể khống chế. Xí nghiệp dưới hai trạng thái «có trật
tự» này vừa bước vào hoạt động thị trường đã có thể bị tác dụng của quy luật thị
trường mà biến thành trạng thái vô trật tự.
c) Tính đột phát
Nó cũng có hai ý nghĩa. Một
là hoàn cảnh bên ngoài phát sinh đột biến khiến cho xí nghiệp rơi vào nghịch cảnh
bất ngờ. Như trung tuần tháng 7 năm 1998, lưu vực Trường Giang và sông Hoài xảy
ra thiên tai lụt lội lớn khiến cho xí nghiệp trong tình huống không chuẩn bị đã
bị tổn thất. Hai là xí nghiệp không coi trọng những sai làm nhỏ khiến mâu thuẫn
tích lũy bùng nổ ra.
Tính đột phá của loại thứ
nhất chỉ thường là thiên tai lớn, sự cố nguy hiểm hoặc chính sách (pháp luật) đột
biến.
Tính đột biến của loại thứ
hai, thì biểu hiện nhiều hơn là quản lý nội bộ xí nghiệp không tốt, quyết sách
lớn sai lầm.
d) Tính không thể tránh
khỏi
Là chỉ tính tất nhiên
phát sinh nghịch cảnh. Khảo sát từ khía cạnh quy luật phát triển sinh mệnh của
xí nghiệp cá thể trong kinh tế hàng hóa, một xí nghiệp không thể vĩnh viễn thuận
lợi mãi mãi được mà không gặp vấp váp và thất bại.
Ngày nay cách mạng khoa học
kỹ thuật đổi mới từng ngày, hoàn cảnh kinh tế biến đổi nhanh chóng, làm tăng
tác dụng của cơ chế tốt thì thắng, kém thì bị thải giữa các xí nghiệp.
Xét từ một khía cạnh
khác, phương thức quản lý trong xí nghiệp cũng không thể thích ứng với hoàn cảnh
xí nghiệp một cách «khó nhọc một lần thảnh thơi mãi mãi» được, con người trong
xí nghiệp càng không thể nắm vững một cách tuyệt đối quy luật hoạt động của xí
nghiệp mà không phạm sai lầm. Do đó, việc phát sinh nghịch cảnh xí nghiệp đối với
mỗi xí nghiệp để xét là không thể tránh khỏi.
e) Tính có thể dự cảm
Là chỉ sự nắm chắc của
người ta đối với việc phát sinh nghịch cảnh xí nghiệp và quy luật của quá trình
phát triển nghịch cảnh. Do sự phát sinh nghịch cảnh là khách quan, là không thể
tránh. Việc này sẽ dự báo trước tính quy luật nội tại của nghịch cảnh, tức là sự
phát sinh của bất kỳ nghịch cảnh xí nghiệp đều có đặc trưng điểm báo trước của
nó, sự phát triển của nó cũng sẽ tuân theo quy luật nội tại.
Do đó, mấu chốt dự cảm
nghịch cảnh là khả năng quan sát và phân tích của những người quản lý xí nghiệp.
Trên thế giới chưa từng có nhà doanh nghiệp nào không phạm sai lầm, nhưng lại
có những nhà doanh nghiệp thành công giỏi ứng biến có thể rút ra những bài học
để không mắc sai lầm tương tự và có thể dự cảm được khó khăn tương lai.
Vì vậy, dự cảm được nghịch
cảnh xây dựng trên cơ sở tiếp thu bài học kinh nghiệm của người đi trước (hoặc
của chính mình) và nhận thức đối với quy luật của nghịch cảnh. Nghịch cảnh có
thể dự cảm trước, đại thể có thể chia thành hai loại.
Một là nghịch cảnh do nội
bộ xí nghiệp gây ra, đối với nó có thể xác minh nguyên nhân, thực hiện khống chế,
tìm cách khắc phục hoặc đột phá và tiến hành đề phòng trong tương lai.
Hai là nghịch cảnh do
hoàn cảnh bên ngoài xí nghiệp biến đổi gây nên, xí nghiệp khó khống chế đối với
nó, nhưng có thể tìm cách sớm áp dụng hành động tránh và giảm bớt sự phá hoại của
nghịch cảnh.
f) Tính thách thức
Là chỉ nghịch cảnh xí
nghiệp dẫn tới sự chọn lựa của xí nghiệp. Nghịch cảnh xí nghiệp ập đến, làm cho
việc sống còn của xí nghiệp chỉ trong sớm tối, nó làm cho người kinh doanh và
công nhân viên của xí nghiệp, kỹ thuật và sản phẩm của xí nghiệp đều đối mặt với
một lần chọn lựa mới.
Tình cảnh có tính chất
thách thức này, sẽ làm cho xí nghiệp đối diện một lần thử thách lớn.
2) Mục tiêu quyết sách của
xí nghiệp trong nghịch cảnh
Dựa theo đặc trưng của xí
nghiệp và đặc điểm nội dung của nó, chúng ta nhận rõ tình thế đối với xí nghiệp
khi gặp nghịch cảnh, nắm chắc việc phân tích hành vi phối hợp chặt chẽ và hoạt
động vạch kế hoạch trên một đề án khảo sát cơ bản.
Rõ ràng, việc xông pha đi
đầu đương nhiên là mục tiêu của hành vi quyết sách xí nghiệp trong nghịch cảnh
và hệ thống mục tiêu của nó, đối với việc giải quyết nghịch cảnh có gây được
tác dụng chuyển hại thành lợi hay không.
Sự thật rõ ràng, điều kiện
và hoàn cảnh quyết sách của xí nghiệp trong nghịch cảnh đã không giống hoàn cảnh
quyết sách trong tình huống thông thường, do đó mục đích quyết sách nghịch cảnh
xí nghiệp cũng không giống mục tiêu quyết sách trong tình huống thông thường.
Mục đích quyết sách nghịch
cảnh là làm cho xí nghiệp thoát khỏi nghịch cảnh để sau này mưu cầu phát triển,
việc cơ bản của nó ở chỗ khống chế tình thế nghịch cảnh, làm yếu mức độ phá hoại
của nghịch cảnh hoặc giảm bớt tổn thất, ngăn ngừa lại bị thất bại một lần nữa.
Do vậy, mục đích quyết
sách xí nghiệp xác lập trong nghịch cảnh, nên theo 5 mục tiêu quyết sách tạo
nên hệ thống mục tiêu quyết sách:
a) Phải nhanh chóng khống
chế tình thế nghịch cảnh, ngăn chặn xu hướng trầm trọng thêm của nó.
b) Phải làm yếu mức độ
phá hoại của nghịch cảnh hoặc hạn chế tổn thất của nó mang lại.
c) Phải tương ứng cải
cách và điều chỉnh, nhanh chóng làm cho vận hành xí nghiệp khôi phục bình thường.
d) Thẩm tra lại quy hoạch
và mục tiêu lâu dài của xí nghiệp, căn cứ hiện trạng của xí nghiệp và tình thế
biến đổi xác lập lại mục tiêu phát triển.
e) Tổng kết hoạt động quản
lý trong nghịch cảnh, đem phương pháp quyết sách nghịch cảnh hữu hiệu và thành
công chuyển hóa thành quy phạm quản lý bình thường của xí nghiệp, tăng cường khả
năng dự kiến và khả năng ứng biến của xí nghiệp đối với nghịch cảnh, bồi dưỡng
«sức miễn dịch» của xí nghiệp, để ngăn ngừa «đi theo vết xe đổ».
Hệ thống mục tiêu quyết
sách nghịch cảnh xí nghiệp này, về thực chất là một thể thống nhất tuân theo
yêu cầu nội tại của quyết sách nghịch cảnh mà tạo thành, nó hiện rõ thành 5
khâu tiến dần từng bước có tính giai đoạn, tính tầng thứ và tính toàn diện,
cùng liên hệ với nhau, thiếu một cái không xong, bằng không thì khó mà thu được
hiệu quả cuối cùng. Đặc biệt là mục tiêu thứ 5 (tức e) trong hoạt động xí nghiệp
hiện thực dễ dàng bị coi nhẹ.
Song, nó là khâu quyết
sách mấu chốt có lợi cho quyết sách tình huống thông thường, tồn tại tất nhiên
của nó đòi hỏi nhà kinh doanh xí nghiệp phải có tầm nhìn chiến lược nhìn xa
trông rộng.
Tính sai khác giữa mục
tiêu quyết sách nghịch cảnh của xí nghiệp với mục tiêu quyết sách trong tình huống
thông thường đã quyết định hành vi quyết sách xí nghiệp trong nghịch cảnh không
giống với hành vi quyết sách trong các tình huống khác.
Xác định rõ ràng tính
khác biệt này, đối với việc nhận ra đặc điểm quá trình nghịch cảnh, phân tích ảnh
hưởng và mức độ của các loại nhân tố đối với hành vi quyết sách trong nghịch cảnh,
vạch ra quy luật hành vi quyết sách trong nghịch cảnh, chắc chắn là những trọng
điểm suy xét của hoạt động quyết sách xí nghiệp.
17. Mở nhạc cho người điếc
nghe
Mở nhạc cho người điếc
nghe, hầu như là việc làm hoang đường.
Bởi vì mọi người đều biết:
cái tai của người điếc kỳ thực là không có ích gì, chỉ là một thứ trang trí.
Tương tự, đeo kính cho người mù cũng như vậy. Người mù là nhìn không thấy bất cứ
vật gì, chiếc kính đối với họ hoàn toàn là vật thừa.
Nhưng, xin chớ nên vì những
việc đó mà cười, mà nên dùng những chuyện «hoang đường» này để xem xét lai
mình, làm cho mình trở nên thông minh, trở nên trí tuệ hơn.
Cũng chính là người khác
muốn nghĩ như thế này, còn mình lại muốn nghĩ như thế kia, thử dùng một thứ tư
duy khác để chỉ đạo cuộc đời của mình. Leo cây tìm cá có gì không thể được?
Hoặc nói, đổi một phương
thức suy nghĩ, rất có thể sẽ là đổi một cách sống.
Ví dụ, theo phát triển của
khoa học kỹ thuật, mức sống của mọi người đều nâng cao, tuổi thọ thị trường của
hàng hóa ngày càng ngắn. Trước kia sản phẩm từ lúc đưa vào thị trường đến lúc
rút khỏi thị trường cách nhau có thể là mấy năm, thậm chị mấy chục năm, xí nghiệp
có thời gian đầy đủ để theo dõi và thích ứng nhu cầu nào đó của thị trường.
Song, hiện tại thời gian này đã rút ngắn khá nhiều, tuổi thọ thị trường của nhiều
sản phẩm chỉ có một hai năm, mấy tháng thậm chị ngắn hơn, cho người ta cảm giác
là «vừa tung ra đã mất». Xí nghiệp thường đuổi không kịp bước đi của thị trường,
nắm bắt không nổi mạch của thị trường, phát triển cất bước đều khó. Lúc này sẽ
cần phải chuyển biến sách lược kinh doanh, bồi dưỡng ý thức vượt trước. Cạnh
tranh thị trường mãnh liệt đã đào tạo một loạt nhà kinh doanh thông minh, họ có
tầm nhìn xa hiểu rộng, giỏi suy xét thời cơ, có đầu óc kinh doanh hoàn toàn đổi
mới, họ không đi theo con đường cũ «thích ứng nhu cầu», «theo đuổi nhu cầu» nữa,
mà là mạnh dạn «sáng tạo nhu cầu», dùng tư duy nghịch hướng để tích cực sáng tạo
thị trường, từ đó giành được quyền chủ động nắm chắc thị trường.
Sáng tạo nhu cầu là một
chiến lược kinh doanh hoàn toàn mới, nó đòi hỏi người quyết sách có thể bằng tầm
nhìn rộng lớn nhất, thông qua điều tra thị trường và phân tích thị trường chuẩn
xác, vận dụng một cách đầy đủ tư duy mới, khai thác nhu cầu tiềm tại ở nơi sâu
kín trong lòng người tiêu dùng, tiến tới thực hiện một cách quyết đoán thế tấn
công vào nhu cầu, dẫn dắt người tiêu dùng chuyến hóa nhu cầu tiềm tại thành nhu
cầu hiện thực, từ đó sáng tạo ra nhu cầu mới, khai thác thị trường mới. Trong
sáng tạo nhu cầu mới, xí nghiệp có 5 con đường có thể chọn, dưới đây lần lượt
giới thiệu:
1) Đưa tình cảm vào, khiến
hàng hóa có tình người
Trong quá trình tự thiết
kế đến tiêu thụ hàng hóa, các xí nghiệp đa số chỉ chú trọng công năng thực dụng
của hàng hóa, bỏ qua «mùi vị tình người». Nếu như xí nghiệp đồng thời bảo đảm
chất lượng và tính năng của hàng hóa, kết hợp công dụng và đặc điểm của hàng
hóa, thích đáng đưa vào tình cảm, thổi hồn cho hàng hóa, thì có thể hoàn toàn
được người tiêu dùng yêu thích.
Bởi vì đưa tình cảm vào
hàng hóa trên thị trường có hai công hiệu rõ rệt: một là thỏa mãn nhu cầu về vật
chất và về tinh thần của người tiêu dùng, hai là cho người ta có cảm giác mới mẻ.
Hàng hóa bình thường một khi đưa vào «mùi vị tình người», sẽ có thể cho người
ta cảm giác «lạ mắt, lạ tai, hoàn toàn mới», khiến hàng hóa có sức cạnh tranh
tương đối mạnh mẽ. Ví như một công ty đồ chơi sản xuất búp bê vải, để thích ứng
cạnh tranh thị trường, đã đưa sản phẩm «búp bê Yecaitou» đầy «mùi vị tình người»,
chỗ độc đáo của nó là khuôn mặt, kiểu tóc và trang phục của mỗi búp bê đều
không giống nhau, mỗi búp bê đều có họ tên của mình, trên mông của mỗi bup bê đều
in «ngày tháng năm sinh», «cầm tinh» kèm theo «giấy khai sinh».
Nhân viên bán hàng nói
«búp bê Yecaitou» là không bán, chỉ có thể nhận nuôi. Người bằng lòng muốn «nhận
nuôi» cần phải hứa: coi búp bê vải là «bé yêu» của mình, mới có đủ tư cách làm
thủ tục «nhận nuôi». Thông qua việc đưa tình cảm vào đã làm xúc động lòng nhân
ái ở nơi sâu kín trong lòng mọi người, do đó «búp bê Yecaitou» hoàn toàn được mọi
người yêu thích, không những giá cả lên cao, tiêu thụ cũng tăng lên rất mạnh đã
mang lại cho công ty khoảng lợi nhuận lớn.
2) Đưa ra tiện lợi, nắm
chắc thị trường tương lai
Cung cấp hàng hóa và phục
vụ tiện lợi, nhanh chóng cho người tiêu dùng là nhu cầu phát triển của thời đại,
cũng là cơ hội tốt sáng tạo nhu cầu mới của thị trường. Theo mức sống ngày một
nâng cao, người ta đưa ra những yêu cầu cao hơn đối với tính năng của hàng hóa,
cũng là cung cấp không gian lớn hơn cho sự phát triển sinh tồn của xí nghiệp.
«Tiện lợi» là một thị trường
tiềm tài rất lớn, chỉ có mở rộng cửa «tiện lợi», mới có thể vừa có được thị trường
trước mắt, lại có thể nắm chắc thị trường tương lai. Công ty Kosaimu Nhật Bản,
về mặt khai thác «tiện lợi» có những chỗ rất độc đáo.
Máy chụp ảnh thời kỳ đầu,
do phải điều chỉnh tiêu cự, khách hàng khi chụp cảm thấy không thuận tiện, còn
người yêu thích nghiệp dư mới học chụp ảnh thì cứ chú ý được cái này thì mất
cái kia, chụp không được một chiếc ảnh vừa ý.
Công ty Kosaimu đã nghĩ
thay cho khách hàng, nghiên cứu chế tạo thành công loại máy ảnh tiêu cự tự động,
loại máy ảnh kiểu mới này sau khi tung ra thị trường, chỉ cần biết lấy cảnh, ấn
nút bấm là được. Dù là người chưa có kinh nghiệm chụp ảnh, dùng loại máy ảnh
cũng có thể nhận được ảnh có ánh sáng thích hợp, nét ảnh rõ ràng. Do đó, mọi
người gọi đùa nó là «máy ảnh của thằng ngốc», từ đó có thể thấy chỗ tiện lợi của
nó. Loại máy ảnh mới tung ra thị trường chưa đầy hai năm, Công ty Kosaimu liền
trở thành người đứng đầu của ngành máy ảnh.
3) Hiến dâng màu xanh,
theo sát trào lưu mới của thời đại
Cách mạng công nghiệp
phát triển nhanh chóng cùng với tiến trình đô thị hóa tăng nhanh, cùng với việc
mang lại cho loài người văn minh vật chất phát đạt, cũng khiến cho tài nguyên của
quả đất nhanh chống giảm thiểu, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, ngày
càng có nhiều người kêu gọi «hàng hóa màu xanh» vừa không ô nhiễm lại có ích
cho sức khỏe con người. «Tiêu thụ màu xanh» đã trở thành trào lưu mới có tính
thế giới. Hiến dâng màu xanh lại là điểm xuất phát hiện thực sáng tạo nhu cầu mới.
«Hàng hóa màu xanh» là chỉ
những sản phẩm trong cả quá trình từ sản xuất đến sử dụng và cả xử lý thu hồi,
phù hợp yêu cầu bảo vệ môi trường, không có hại hoặc tổn hại rất ít đối với môi
trường sinh thái, có lợi cho việc thu hồi tái sinh nguyên vật liệu. Ngày nay ý
thức bảo vệ môi trường tăng cường, mọi người càng vui lòng sử dụng «hàng hóa
màu xanh».
Hãng ôtô Renault Pháp đã
đưa ra «ôtô màu xanh» chế tạo bằng vật liệu đặc biệt, loại ôtô này sau khi
không còn dùng được nữa, tất cả phế liệu đều có thể thu hồi sử dụng lại, không
để lại đống rác rưới khó xử lý cho xã hội. Có tài liệu liên quan đã chứng tỏ,
trên thị trường châu Âu, có 40% số người thích mua «hàng hóa màu xanh». Những
hàng hóa có dán các loại «tiêu chí màu xanh» trên thị trường rất được chú trọng,
cho nên giá trị không phải bình thường, lượng tiêu thụ của nó vượt khá xa sản
phẩm cùng loại không có «tiêu chí màu xanh».
Ở châu Á, người tiêu dùng
Nhật vốn kỹ tính càng không giống bình thường, đối với nước uống và không khí đều
lấy «màu xanh» làm tiêu chuẩn chọn lựa của họ, nước đóng hộp và khí ôxy sạch trở
thành món hàng hóa giành giật trên thị trường. Xí nghiệp chỉ việc sản xuất càng
nhiều càng tốt «hàng hóa màu xanh» mới dùng được địa vị có lợi trong cạnh tranh
thị trường.
4) Thách thức với quy tắc,
giành lấy những cái mới phát triển
Tất cả mọi phát minh sáng
tạo đều là thách thức với quy tắc đang tồn tại. Copernicus (Côpecnic) lật đổ
quy tắc thiên văn lấy quả đất làm trung tâm, đã sáng tạo «thuyết Nhật tâm» mang
tính thời đại. Hai anh em Wright (Wilbus và Oriville) phá bỏ quy tắc các trang
bị nặng hơn không khí không thể bay được trong vật lý kinh điển, đã đưa máy bay
lên trời xanh. Sáng tạo nhu cầu mới, cũng đòi hỏi phải có dũng khí và trí tuệ
thách thức với quy tắc đã có. Sáng tạo ý mới của sản phẩm mới thường trong suy
nghĩ thách thức với quy tắc trổ hết tài năng ra.
Trọng hiện thực, người ta
thường khuất phục trước mọi ràng buộc của lề thối cổ hủ, không dám đi ngược với
những gì vốn có, luôn quen tuân theo các quy tắc của người đi trước, kết quả là
kẻ thua nhiều hơn sáng tạo mới, bảo thủ áp chế phát minh.
Nếu như muốn khai thác thị
trường mới, thì phải tìm cơ hội mới trong việc phá vỡ quy tắc hiện có.
Một công ty điện khí Mỹ
khi tiến hành vạch kế hoạch sản phẩm mới của tủ lạnh, có người kiến nghị phá bỏ
giới hạn cứ nhất định phải lấy miền Nam nóng bức làm thị trường, mà giành ưu
tiên cho việc phục vụ cư dân của bang Alaska. Do bang Alaska nằm trong vòng Bắc
cực, quanh năm nhiệt độ dưới 0 độ C, vì thế nhiều người cười cho việc này là «ý
nghĩ viển vông».
Nhưng, người vạch kế hoạch
sản phẩm mới tài giỏi nhằm đúng đặc điểm khí hậu trong vòng Bắc cực, khai thác
ra một loạt tủ lạnh kiểu mới có thể làm tan băng nhanh các thực phẩm, sản phẩm
vừa ra đời đã nhận được sự hoan nghênh của mọi người. Vừa thỏa mãn được nhu cầu
mới của cư dân địa phương, vừa mở ra thị trường mới cho công ty, sáng tạo cơ hội
để phát triển xí nghiệp.
5) Khai thác mở rộng công
dụng, tạo ra không gian sinh tồn
Trong quá trình sản xuất
sản phẩm, do thị trường biến đổi và cạnh tranh gay gắt, tình trạng sản phẩm ứ đọng
bán chậm thường xảy ra. Nếu xí nghiệp bỏ sản phẩm vốn có, trang bị lại thiết bị
kỹ thuật mới, thường do hạn chế của các mặt về kỹ thuật và tiền vốn không thể
theo ý muốn. Lúc này xí nghiệp sẽ phải đứng vững trên hiện thực, lợi dụng một
cách đầy đủ kỹ thuật và thiết bị hiện có, vận dụng tư duy sáng tạo, khai thác mở
rộng công dụng của sản phẩm, sáng tạo thị trường mới. Công dụng của sản phẩm
thường ở thời kỳ mới đầu khai thác đã hình thành một khái niệm nguyên thủy, muốn
khai thác mở rộng công dụng, sẽ phải đột phá định thế tư duy «công năng cố định»,
từ trong sự ràng buộc của khái niệm nguyên thủy của sự vật giải phóng ra, giỏi
phát hiện công dụng mới của sự vật vốn có đưa ra việc phục vụ mới cho mọi người.
Có một vùng làm muối lấy
việc sản xuất muối tinh làm chính, do muối tinh phải kinh qua bãi phơi, cất lọc
và nhiều gia công nữa mới chế thành, giá thành tương đối cao, mà giá cả lại bị
chính sách nhà nước khống chế, không thể tăng lên bất cứ mức nào được, xí nghiệp
thường rơi vào trạng thái thua lỗ. Để sinh tồn và phát triển, xí nghiệp thông
qua điều tra thị trường, phát hiện khách sạn mọi nơi đều không thể thiếu món hải
sản tươi sống, nhưng các loại cá biển thật thả trong nước máy thì khó mà sống
được.
Thế là xí nghiệp liền
chuyển sang nghiên cứu và chế ra loại «nước biển quý» cho thêm vào trong muối
biển phơi khô một lượng vừa phải chất bảo quản chống thối rữa, sản phẩm này sau
khi tung ra thị trường rất được hoan nghênh, xí nghiệp cũng vì vậy mà chuyển lỗ
thành lãi.
Thực tiễn chứng tỏ, nhu cầu
của người tiêu dùng là mấu chốt của sự sinh tồn và phát triển của xí nghiệp.
Trong thị trường biến đổi khôn lường, nhu cầu của người tiêu dùng đòi hỏi xí
nghiệp phải không ngừng phát hiện, khai thác và sáng tạo, đòi hỏi người kinh
doanh phải khai thác cách suy nghĩ, luôn luôn động não, lợi dụng thời cơ chớp
nhoáng, phát ra linh cảm, nhạy bén liên tưởng tiến tới áp dụng các biện pháp,
chuyển hóa nhu cầu tiềm tại của người tiêu thụ ngành nhu cầu hiện thực, mở ra
không gian mới cho sự sinh tồn và phát triển của xí nghiệp.
Ngày nay trên sàn diễn ca
nhạc có một bài hát rất được lưu hành, gọi là: Dám liều mới có thể thắng.
Rất nhiều thanh niên nam
nữ, cả đến người đứng tuổi cũng đều hát theo. Hầu như trong xã hội cạnh tranh
ngày càng gay gắt hiện nay, người ta chỉ cần dám liều vật lộn, dám thách thức,
dám mạo hiểm, thì có thể giành được sự nghiệp thành công và cuộc đời huy hoàng.
Chúng ta không thể nói
trào lưu này không đúng. Nhưng, chúng ta muốn nói, nó chỉ đúng có một nửa, quá
lắm cũng chỉ có thể đúng được bốn năm phần mười, ngay cả mức trung bình cũng
không đạt được.
Đó là vì bản thân ý của
chữ «dám liều», mới đang nói đến chữ «dũng». Mà trí tuệ Trung Quốc, vốn cho rằng:
trong những cái có thể làm nên việc, «dũng» chỉ chiếm thành phần cực nhỏ.
Vì như từ xưa lưu truyền
lại đã có câu «Hữu dũng vô mưu bất thành đại sự» (Có dũng mà không cơ mưu không
thành việc lớn được). Khi đánh giá một người, nói «người này dũng cảm có thừa,
mưu trí không đủ» chính là có ý hạ thấp.
Từ đó ta thấy, người ta
không còn sùng tính «dám liều» một cách thái quá, mà phải là chú trọng «trí
mưu», vận dụng «trí mưu».
18. Ứng phó linh hoạt khi
nguy cấp
Trong cuộc sống, con người
đều có thể gặp đột biến.
Hoặc bạn đi công tác xa,
đột nhiên tình hình có thay đổi. Đứng trước những thay đổi này, bạn phải dùng
biện pháp như thế nào?
Sau khi mọi việc đã sắp xếp
đâu vào đấy, bạn trở về nhà xem truyền hình một cách thoải mái, đột nhiên có điện
thoại gọi đến báo cho bạn biết sự việc đã biến đổi bất ngờ, bạn nên làm thế
nào?
Hoặc bạn đang tràn ngập
hy vọng lên ca đi làm, vừa đến cơ quan đơn vị đã thấy, tất cả mọi việc đều
không phải như bạn hình dung trước đó, bạn phải làm sao đây?
Tục ngữ nói: «Trên trời
mây gió khôn lường». Đứng trước sự kiện khẩn cấp trong cuộc sống, bạn cần phải
có cách nhìn vượt hơn bình thường, vận dụng trí mưu, từ đó chuyển nguy hiểm
thành vô sự.
Sách «Tôn Tử binh pháp»
có nói: «Tướng tại ngoại, quân mệnh hữu sở bất thụ». Ý nói tướng quân khi xuất
chinh ra ngoài có thể căn cứ tình hình cụ thể chỗ mình đứng đưa ra phán đoán và
hành động, không nhất định hoàn toàn nghe theo mệnh lệnh của quân vương, bởi vì
quân vương ở nơi hậu phương xa xôi chưa hẳn có thể tìm hiểu đầy đủ tình hình
chiến tranh biến hóa khôn cùng.
Còn như lúc nguy cấp có cần
làm trái với mệnh lệnh của quân vương thực hành đối sách đúng đắn hay không, bất
kể là sách mưu kế ứng biến hay là chính sử tạp truyện đều không nói đến, không
có người dám công khai đứng ra ủng hộ cách làm này, càng không có người công
khai đề xướng dùng thủ đoạn lừa gạt, giả mạo, bức bép bằng vũ lực để thực hiện
đối sạch đúng đắn này.
Vì trong quốc gia quân chủ
tập quyền, mệnh lệnh của quốc vương là tất cả, chẳng có bất cứ thứ dân chủ nào
để nói, bất cứ mạo phạm nào đối với quốc vương đều là làm loạn phạm thượng, dù
là ý kiến đúng đắn hoặc là cách làm đúng đắn đều như nhau.
Nhưng, trong lịch sử
Trung Quốc lại có nhiều ví dụ điển hình ứng phó linh hoạt khi nguy cấp, họ vì
quốc gia hoặc vì «chính nghĩa», thường giả mạo danh nghĩa quân vương, có trường
hợp thậm chí dùng cả thủ đoạn lừa dối, bức ép.
Phương thức hành vi của họ
tuy không để ca ngợi là «chính nhân quân tử», nhưng do tính hợp lý bên trong của
nó mà lưu truyền lại, được dân chúng ca ngợi.
Ví như: «Huyền Cao khao
quân» thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc là một ví dụ nổi tiếng.
Năm 630 trước công
nguyên, Tấn Văn Công hội hợp nước Tần và các nước chư hầu đi đánh dẹp nước Trịnh,
để báo thù nổi nhục khi ông lang thang ở nước Trịnh năm xưa.
Khi các nước Tần và Tấn
bao vây nước Trịnh, người Trịnh là Chúc Chi Vũ đi thuyết phục nước Tần, cho rằng
nước Tần giúp nước Tấn diệt nước Trịnh, đất đai nước Trịnh cũng chỉ có thể thuộc
về nước Tấn, đối với nước Tần có hại mà không có lợi, không bằng để nước Trịnh
quy vào nước Tần, tương lai cũng tốt, trên tuyến phía Đông trông nom cho nước Tần,
làm chủ tuyến phía đông của nước Tần.
Tần Mục công cảm thấy rất
có lý, đã giữ Khởi Tử lại dẫn một cánh quân đi giúp nước Trịnh giữ thành, con
mình dẫn quân rút lui.
Nhưng người Tấn đánh
thành không ngừng, nước Trịnh đành lại quy thuộc về nước Tấn. Tần Mục Công cảm
thấy bị đùa giỡn, vô cùng tức giận, năm 628 trước công nguyên phái Mạnh Minh Thị
dẫn 300 chiến xa đi đánh nước Trịnh.
Luc này, Tấn Văn Công qua
đời, nước Tấn vì cử tang nên không thể phát binh chi viện nước Trịnh được, nước
Trịnh chỉ có một cánh quân do Khởi Tử dẫn đầu làm nội ứng.
Như vậy, đánh úp kiêm
đánh từ hai mặt lại, nước Trịnh không tài nào chống nổi.
Tháng 2 năm 627 trước
công nguyên, quân Tần đến Hoạt quốc thuộc miền Tây nước Trịnh.
Đang hành quân, phía trước
bỗng có người kêu lên: «Sứ thần nước Trịnh cầu kiến». Mạnh Minh Thị giật mình
chỉ lo rằng người Trịnh đã biết tin đánh úp.
Mạnh Minh Thị tự mình tiếp
kiến nói: «Tiên sinh tên là gì?». Người đến nói: «Tôi là sứ thần của nước Trịnh
là Huyền Cao».
Mạnh Minh Thị lại hỏi:
«Tiên sinh đến có việc gì quan trọng đây?». Huyền Cao trả lời: «Quốc vương của
chúng tôi nghe nói quân của quý quốc đi đến các nước miền duyên hải, vội vàng
sai tôi đến biếu 12 con trâu béo, đây tuy là một chút ý nhỏ, nhưng lại là cả tấm
lòng thành của Quốc vương chúng tôi, không thể tính là khao, chỉ là để cho các
tướng sĩ ăn một bữa no mà thôi. Quốc vương của chúng tôi còn nói, được quý quốc
phái binh giúp chúng tôi giữ Cửa Bắc, chúng tôi vô cùng cảm kích, bản thân
chúng tôi cũng sẽ phải chú ý cố gắng nhiều hơn, không dám có chút lười biếng,
tướng quân ngài sẽ không cần phải bận tâm».
Đến lúc này, Mạnh Minh Thị
biết nước Trịnh hoàn toàn đã biết kế hoạch đánh úp của nước Tần, việc đánh úp
đã không tài nào thành công, đành lừa gió xoay chiều, ấp a ấp úng nói với Huyền
Cao: «Chúng tôi không phải đến quý quốc, các ông hà tất phải làm phiền thế này?
Chúng tôi đến Hoạt quốc». Huyền Cao giao trâu xong, liền đi khỏi.
Kỳ thực, Huyền Cao không
phai là sứ giả của nước Trịnh. Mà là một thương nhân buôn bán trâu. Trên đường
đi buôn bán trâu, ông gặp một người nước Tần, ngẫu nhiên bàn luận biết được việc
nước Tần tiến quân vào nước Trịnh, ông vừa sai người đi báo với nước Trịnh, vừa
đánh trâu đi tìm quân Tần, việc này đã sinh ra sự kiện người dân thường yêu nước
nổi tiếng: «Huyền Cao khao quân».
Mạnh Minh Thị thấy việc
đánh úp không thành, cũng không muốn trở về tay không, liền tiện thể diệt luôn
Hoạt quốc, cướp hết tráng niên nam nữ và vàng bạc châu báu của Hoạt quốc chất đầy
mấy trăm chiếc xe lớn.
Nhưng khi đi qua núi Hào
Sơn nước Tấn, đúng như lời Bạch Lý Hề dự kiến lúc ban đầu xuất quân, gặp phải
quân Tấn phục kinh, kết quả tất cả toàn quân bị diệt gọn.
Đây là lần thất bại và sỉ
nhục nặng nề nhất mà nước Tần gặp phải từ sau khi Tần và Tấn giao hảo với nhau.
«Huyền Cao khao quân» là
một hành động yêu nước, mặc dù chưa được Quốc vương nước Trịnh đồng ý trước,
nhưng xét đến cùng phù hợp với ý nguyện của Quốc vương, cũng phù hợp với lợi
ích của nước Trịnh, do đó được cả trong và ngoài triều thần của nước Trịnh thậm
chí cả người đời sau ca ngợi.
Nhưng nếu như công nhiên
chống lại mệnh lệnh của Quốc vương, tự ý sửa chiếu lệnh giết tướng mà khởi động
đại quân thì sao? Điều này sẽ khó rất nói.
Loại hành động này trong
lịch sử Trung Quốc, sự kiện quan trọng, quá trình phức tạp, thành công nổi bật,
e rằng không thể vượt qua việc «Tín Lăng hầu chiếm đoạt hổ phù cứu Triệu» của
thời kỳ Chiến quốc.
Năm 260 trước công
nguyên, tướng nước Tần là Bạch Khởi bại quân nước Triệu, chiếm lĩnh vùng Thượng
Đảng, đã chôn sống 40 vạn hàng binh nước Triệu. Bạch Khởi đang chuẩn bị đánh một
trận diệt gọn nước Triệu, nhưng do Thừa tướng Phạm Tuy sợ ông ta lập công quá
nhiều, liền khuyên Tần vương rút binh, nước Tần đã để mất cơ hội tiêu diệt nước
Triệu.
Qua hai năm, Tần vương hối
hận lúc đầu không để Bạch Khởi chỉ một trận diệt xong Triệu, sắp phải cử Bạch
Khởi đi diệt Triệu một lần nữa. Nhưng Bạch Khởi cho rằng nước Triệu đã chuẩn bị
tốt, sẽ đối phó với nước Tần một cách căm thù, rất khó đánh chiếm.
Do Bạch Khởi trong lòng bất
mãn với việc lệnh ép rút quân lần trước vẫn dự phòng phản ứng, đã bị Tần vương
ban kiếm tự sát.
Tần vương lại sai Vương
Lăng dẫn 10 vạn quân đi vây Hàm Đan, sau lại sai Trịnh An Bình dẫn 5 vạn tinh
binh đi tăng viện, đồng thời để Đại tướng dày dạn kinh nghiệm Vương Linh đi
thay thế Vương Lăng, quyết tâm làm một mạch chiếm được Hàm Đan.
Đô thành Hàm Đan của nước
Triệu nằm trong nguy cơ muôn phần. Hiếu Thành vương nước Triệu liền sai sứ giả
thỉnh cầu nước Ngụy phát binh cứu viện, An Hi vương nước Ngụy chẳng biết làm ứng
sao được, đành sai Đại tướng Tấn Bỉ dẫn 10 vạn quân đến ứng cứu.
Lúc này, Tần vương đang tự
mình ra trận đốc chiến, nghe tin nước Ngụy xuất quân cứu viện, lập tức sai người
uy hiếp Ngụy vương: «Ai dám phái binh cứu viện nước Triệu, quân Tần diệt xong
nước Triệu, sẽ quay về tiêu diệt họ».
Ngụy vương vô cùng sợ
hãi, liền để Tấn Bỉ đóng quân tại biên giới, chờ đợi tình hình, tạm dừng tiến
quân.
Nước Triệu vừa thấy Tấn Bỉ
ngừng tiến quân, liền để cho Bình Nguyên quân viết thư cho Tấn Bỉ, Tấn Bỉ phúc
đáp thư trả lời: «Ngụy vương bắt tôi đóng quân lại tại đây, tôi không thể tùy ý
tiến quân được. Nếu muốn tiến quân, phải có mệnh lệnh của Ngụy vương».
Bình Nguyên quân nghĩ
không ra cách thuyết phục Ngụy vương, đành viết thư cho Ngụy công tử Tín Lăng
quân Vô Kỵ nói: «Tôi kết bạn thân thích với ông, cảm thấy vô cùng vinh hạnh, bởi
vì tôi khâm phục tinh thần nghĩa hiệp của ông. Hiện nay Hàm Đan của nước Triệu
thế như trứng đề đầu đẳng, đại quân của quý quốc lại dừng lại không tiến. Chẳng
lẽ nước Triệu bị diệt vong, quý quốc sẽ có thể tồn tại một mình được chăng? Chị
gái của Ngài sớm tối khóc lóc, những lời khuyên bảo tôi đã nói hết, nhưng vẫn
vô dụng. Ngài dù không lo nghĩ cho nước Triệu cũng phải vì chị gái của Ngài mà
lo nghĩ chứ!».
Tín Lăng quân vì lần trước
không thụ nhận Ngụy Tề từ nước Triệu chạy sang nhờ vả ông ta, đến nỗi làm cho
Ngụy Tề tự sát, luôn luôn cảm thấy xấu hổ với Bình Nguyên quân, lần này nhận được
thư cầu cứu kiêm trách cứ, càng cảm thấy như không có chỗ dung thân.
Trong lòng ông như lửa đốt,
nhưng vẫn nghĩ không ra cách thuyết phục Ngụy vương tiến binh, mặc dù đã nhiều
lần cầu khẩn, vẫn vô dụng. Trong cơn giận dữ, ông quyết định mang theo hơn một
ngàn môn khách của mình, đến liều mạng với quân Tần.
Khi đi qua cổng thành
phía Đông, ông xuống xe bái biệt với Hầu Sinh. Ông biết đây là lần từ biệt sống
chết, nhưng Hầu Sinh thật ra phớt lờ ông, việc đó khiến ông vừa đau lòng vừa tức
giận.
Nhắc đến Hầu Sinh, kể ra
thì dài dòng lắm. Ông vốn là một ông già trông coi cổng thành, đã hơn bảy mươi
tuổi, nhà rất nghèo, người cũng thật thà, người khác coi ông xoàng thôi, nhưng
Tín Lăng quân biết ông là một ẩn sĩ rất có bản lĩnh xét và trí mưu, đã dụng ý với
ông làm môn khách của mình.
Có một lần, Tín Lăng quân
tự mình đi đến gặp ông, bưng 20 cân vàng làm lễ gặp mặt. Hầu Sinh quyết ý từ chối
nói: «Tôi một đời giữ thanh bần, quyết không nhận bừa tiền tài của người khác,
hiện nay đã già rồi, càng không muốn thay đổi cách làm của một đời».
Tín Lăng quân thấy ông
không nhận lễ gặp mặt, đành xin ông chỉ định cho một ngày, do Tín Lăng quân mời
khách, cho mình một chút thể hiện. Hầu Sinh nói chung thì cũng đồng ý.
Đến ngày hẹn sẵn, Tín
Lăng quân bày ra tiệc rượu, tất cả các quan lớn quý tộc và các nhân vật tai to
mặt lớn trong môn khách nước Ngụy đều xếp sắp theo thứ tự để đón mời.
Đến cổng thành phía Đông,
đón Hầu Sinh lên xe, Hầu Sinh không một chút khách sáo ngồi ngay vào chỗ ngồi
chính, Tín Lăng quân lại cầm chiếc roi ngồi bên cạnh đánh xe cho ông.
Chính là như thế, chiếc
xe ngựa này rùm beng ầm ĩ đi qua những khu phố xá náo nhiệt phồn hoa nhất của
đô thành Đại Lương, nước Ngụy.
Đợi đi qua hết đường phố
này, Hầu Sinh đột nhiên nói: «Tôi có người bạn làm nghề thịt lợn, tên là Chu Hợi,
hiện tại đang trong chợ bán thịt, tôi muốn đến thăm một chút, không biết có được
không?».
Tín Lăng quân vội vàng
đáp rằng hoàn toàn có thể, liền đánh xe chở ông đi đến chợ bán thịt.
Đến chợ bán thịt, Hầu
Sinh xuống xe, để Tín Lăng quân đứng trên xe đợi, mình lại bắt đầu tán dóc với
Chu Hợi. Tín Lăng quân đứng đợi đau nhừ cá chân, Hầu Sinh vẫn chưa ngừng cuộc gặp
gỡ.
Người dưới quyền của Tín
Lăng quân không nén nổi cơn giận nói ra những lời oán trách Hầu Sinh thật không
biết điều. Tín Lăng quân lại vội vàng ngăn lại. Hồi sau sau đó người tụ tập lại
ngày càng đông, đợi nghe rõ đầu đuôi đều nói Hầu Sinh thật đáng ghét.
Hầu Sinh lại nói chuyện
phiếm thêm một lát nữa, hầu như là đợi mọi người nói đã đủ, lúc này mới lên xe
cùng đi về với Tín Lăng quân.
Khách trong nhà Tín Lăng
quân đã chờ đợi đến phát chán lên từ lâu, nhưng ai cũng không dám dời khỏi chỗ,
bởi chỗ Tín Lăng quân chừa lại là chỗ ngồi hàng đầu, ai cũng không biết rõ là
có vị quan chức quý nhân nào đến, chưa biết chừng có thể là chính Ngụy vương?
Cuối cùng nghe nói xe đã về đến nơi, mọi người vội vàng đứng lên cung kính đón
tiếp, ai ngờ vừa vào đến cửa vừa nhìn thấy lại hóa ra là một ông già tồi tàn
hơn 70 tuổi.
Mọi người nể mặt Tín Lăng
quân, không tiện nói ra điều gì, đều ngồi xuống buồn bã uống rượu. Hầu Sinh thì
không một chút khiêm nhường, đặt đít ngồi vào chỗ ghế đầu, Tín Lăng quân trước
tiên đứng lên để chúc rượu mừng thọ ông.
Đến lúc này, Hầu Sinh mới
đứng dậy nói: «Tôi vốn là kẻ vô danh tiểu tốt trông coi cổng thành, được công tử
coi trọng đã là vinh hạnh muôn phần, lại để cho Ngài đích thân đi mời, lại để
Ngài đứng đợi ở chợ bán thịt rất lâu, việc này thực ra là rất không nên làm. Vì
sao tôi có thể làm như thế? Đây đều là để giúp thanh danh của Ngài một cách chu
toàn! Tôi để Ngài đứng trong chợ bán thịt, nhiều người chửi tôi là lão già đáng
ghét như thế, người khác càng chửi tôi, càng nói tôi không biết điều, sẽ càng bất
bình thay Ngài, sẽ càng tôn kính Ngài. Tôi cố ý đến muộn, để các vị khách chờ đợi
đến mức sốt ruột, lại ngồi vào chỗ ghế đầu, cũng là cùng lý lẽ. Các vị khách
đang ngồi tại đây, có vị nào không từ lòng mình khâm phục công tử?»
Tín Lăng quân nghe những
lời này, bỗng nhiên thức tỉnh từ trong lòng cảm kích Hầu Sinh, càng tin tưởng
ông là một người có tài năng.
Từ đó, Hầu Sinh làm khách
quý của Tín Lăng quân.
Về sau Hầu Sinh đã tiến cử
Chu Hợi với Tín Lăng quân, Tín Lăng quân cũng dùng lễ tiết long trọng đi thăm
và mời Chu Hợi, nhưng tư thế của Chu Hợi càng lớn hơn Hầu Sinh, dứt khoát đã
không đến.
Lần này, Tín Lăng quân
mang theo hơn một ngàn môn khách ra cổng thành phía Đông, chia tay với Hầu Sinh
và nói rõ dự định của ông chuẩn bị liều mạng với quân Tần, nhưng thái độ của Hầu
Sinh rất lạnh nhạt, không nói một lời nào.
Tín Lăng quân vừa đi vừa
ngoái đầu lại, hy vọng có thể nhìn thấy thái độ của Hầu Sinh có chỗ thay đổi, Hầu
Sinh vẫn đứng tại nơi đó, không hề nhúc nhích.
Tín Lăng quân đã than thở:
«Thật là thế thái thờ ơ, nhân tình lạnh ngắt! Trước kia ta xem ông ta như người
tri kỷ, không ngờ ông ta lại là một người không có lương tâm như thế này».
Các môn khách đều khuyên
Tín Lăng quân không cần để ý đến ông già tồi tàn chẳng có chút tác dụng gì kia
nữa.
Tín Lăng quân đi được vài
dặm đường, càng nghĩ trong lòng càng khó chịu, nghẹn ngào không chịu nổi, liền
để các môn khách đứng đợi tại chỗ, ông một mình quay lại tìm Hầu Sinh.
Hầu Sinh vừa trông thấy
ông quay lại, liền cười nói với ông: «Tôi biết Ngài sẽ trở lại, đến một lời tiễn
tôi đều không có. Ngài không phạm việc giận tôi chứ?».
Tín Lăng quân nói: «Đúng
thế, tôi ngh ĩ tôi có chỗ sơ suất có lỗi với tiên sinh, cho nên đặc biệt quay lại
để xin chỉ đạo».
Hầu Sinh lúc này mới nói
một cách nghiêm chỉnh, đến nơi đến chốn: «Ngài đã nuôi các môn khách hơn 30
năm, khi ăn cơm có lúc đông tới hơn 3.000 người, đến giờ phút mấu chốt này, chẳng
lẽ không có lấy một người đưa ra cho Ngài một ý kiến ư? Ngài mang theo hơn
1.000 người này đi liều mạng với quân Tần, há chẳng phải là lấy trứng chọi với
đá, để cho con cừu non đi đấu với con sói hung dữ ư?». Tín Lăng quân nói: «Tôi
cũng biết đây không thấm vào đâu, tự đem tính mệnh uổng phí thôi, nhưng còn có
cách nào nữa? Sự việc đến như thế này, tôi cũng chỉ có thể tận tâm mà thôi».
Hầu Sinh nói: «Vẫn có biện
pháp có thể dùng». Hầu Sinh mời Tín Lăng quân vào trong nhà, nhìn ông hồi lâu,
cuối cùng đã vạch ra kế sách cho ông.
Hầu Sinh nói: «Bà phi sủng
ái nhất của Ngụy vương là Như Cơ. Thoạt đầu, cha của Như Cơ bị người giết, bà
đã tìm kẻ thù ba năm cũng chưa tìm ra. Về sau, bà đã khóc sướt mướt trước mặt
Ngài, mong muốn Ngài có thể giúp bà giết chết kẻ thù. Ngài lập tức đã sai môn
khách đi tìm kẻ thù, chẳng bao lâu đã đem đầu của kẻ thù dâng cho Như Cơ. Phải
chăng có việc như thế?».
Tín Lăng quân nói: «Có việc
đó. Nhưng thế thì sao nữa?».
Hầu Sinh nói: «Như Cơ vì
việc này vô cùng cảm kích Ngài, vì Ngài đã phải thịt nát xương tàn bà ta cũng
tình nguyện. Hiện tại nếu như có thể làm cho Như Cơ lấy trộm hổ phù của Ngụy
vương ra, Ngài cầm lấy hổ phù này đi điều động đại quân của Tấn Bỉ, há chẳng phải
có thể hành động được ư?».
Tín Lăng quân nghe đến
đây, sực hiểu ra, ngay tức khắc đi tìm gặp Như Cơ.
Hổ phù là một «tín vật»
điều động quân đội thời xưa, dùng đồng hoặc sắt đúc thành hình con hổ, từ giữa
xẻ đôi phân thành hai nửa, một nửa do tướng soái quản, một nửa khác do Quốc
vương quản. Nếu có hành động quân sự điều khiển quân đội quan trọng, cần phải cầm
một nửa hổ phù khác của Quốc vương đến ghép với nửa hổ phù chỗ tướng soái quản,
nếu phù hợp không sai mới có thể tin không phải là truyền mệnh lệnh giả. Tín
Lăng quân đến chỗ Như Cơ, đã nói rõ tình hình. Như Cơ quả nhiên đã không chút từ
chối tiếp nhận sứ mệnh ngay.
Ngay đêm hôm ấy, Như Cơ hầu
hạ Ngụy vương uống rượu say ngủ đi, liền lấy trộm hổ phù không ai biết giao cho
Tín Lăng quân.
Tín Lăng quân cầm hổ phù
đến gặp Hầu Sinh, Hầu Sinh nói: «Chỉ có hổ phù e rằng vẫn chưa được, hành động
quân sự lớn như thế, không có thư từ tay Ngụy vương viết, Tấn Bỉ e rằng vẫn
nghi ngờ, huống hồ Ngài lại không có đội danh dự và quân đội. Như thế này nhé,
bạn của tôi Chu Hợi là dũng sĩ vô địch trong thiên hạ, trong ống tay áo có thể
giấu một dải xích lớn nặng 40 cân. Nếu như Tấn Bỉ đồng ý xuất binh, thế thì
thôi, nếu như ông ta không đồng ý xuất binh, hoặc còn muốn thỉnh thị Ngụy
vương, Ngài sẽ để cho Chu Hợi đưa xích sắt từ trong tay áo ra giết chết ông ta
đi, sau đó đem hổ phù lệnh cho toàn quân, đây là một kế rất chu đáo.
Tín Lăng quân không nén nổi
bật khóc. Hầu Sinh nói: «Chẳng lẽ công tử sợ chết phải không?». Tín Lăng quân
nói: «Đâu dám sợ chết, chỉ là việc đó Tấn Bỉ ắt sẽ không đồng ý, phải giết một
vị lão tướng chiến công rất lớn như thế, ông xem tôi thực không nỡ lòng nào».
Hầu Sinh nói: «Giết một
người mà nước Triệu còn, lại cứu được nước Ngụy, vẫn là đại nghĩa, làm việc cần
phải nhìn từ chỗ lợi lớn, không thể dè dặt. Đúng ngày Ngài phất binh, tôi nhất
định nhìn về phương bắc tự sát, tạ tội thay Ngài là được rồi!».
Tín Lăng quân lại đi gặp
Chu Hợi. Chu Hợi nói: «Tôi chưa từng thăm đáp lễ công tử một lần, không phải là
tôi không hiểu lễ phép, thực tế là vì tôi không thích cái gọi là «có đi có lại
mới toại lòng nhau» của thế tục, hiện nay đất nước có nguy nan, chính là lúc
tôi báo đáp công tử».
Nói xong liền cầm dải
xích sắt đi theo Tín Lăng quân.
Tín Lăng quân trở lại
Nghiệp thành, gặp Tấn Bỉ, giao hổ phù lên, sau đó nói: «Ngụy vương nói tướng
quân ở ngoài đã lâu ngày, yên cương vất vả, nay cho tôi đến thay tướng quân».
Tấn Bỉ kiểm nghiệm rõ hổ
phù, tuy là không có gì sai sót, nhưng chỗ khó hiểu đáng nghi rất nhiều. Tấn Bỉ
từ chối nói: «Trong quân có nhiều việc lộn xộn, cho tôi ít ngày chỉnh đốn lại
rõ ràng sẽ giao lại cho Ngài».
Tín Lăng quân nói: «Nước
Triệu nguy cơ, cứu binh như cứu hỏa, làm sao có thể chờ đợi được?».
Tấn Bỉ nói: «Chẳng giấu
gì công tử, sự việc quan trọng như thế, chỉ có thể đợi thỉnh thị Quốc vượng
xong mới có thể quyết định được, chớ trách tôi không thể bàn giao quân đội cho
Ngài ngay được!».
Chu Hợi đứng bên cạnh thấy
tình hình đã không thể cứu vãn, liền giậm chân hét toáng lên: «Không nghe lệnh
vua chính là kẻ phản bội!».
Tấn Bỉ sợ hãi hỏi: «Đây
là người nào?». Chu Hợi hét: «Ta là chiếc chùy sắt lớn!» liền đưa dải xích sắt
từ trong ống tay áo ra đập chết Tấn Bỉ.
Vừa giết chết Tấn Bỉ, đoạt
lấy quân quyền, Tín Lăng quân cầm hổ phù ra lệnh cho toàn quân: «Ngụy vương sai
tôi cầm hổ phù đến thay Tấn Bỉ, phát binh cứu Triệu, Tấn Bỉ không phục tùng đã
bị diệt trừ. Các vị tướng sĩ chỉ cần phục tùng hiệu lệnh, dũng cảm giết giặc,
tương lai ắt sẽ có trọng thưởng».
Các tướng sĩ thấy chủ
soái đã chết, vốn muốn nổi dậy chống lại, nhưng trông thấy Tín Lăng quân lại có
hổ phù, đã yên tâm nghe ông chỉ huy.
Tín Lăng quân lập tức chỉnh
đốn lại quân đội, ông phát ra mệnh lệnh nói: «Cha con cùng ở trong quân đội,
người cha có thể về nhà; anh em cùng ở trong quân đội, người anh có thể đi về;
người con một có thể đi về nuôi dưỡng chăm sóc cha mẹ, người già yếu bệnh tật
cũng có thể về an dưỡng».
Như vậy, 10 vạn người
trong quân đội để đã có khoảng 2 vạn người ra về, 8 vạn tinh binh ở lại biên chế
lại tập huấn, lập tức mở đợt tấn công quân Tần.
Quân Tần không ngờ tới
quân Ngụy có thể đột nhiên tập kích, luống cuống chống lại một trận. Bình
Nguyên quân lại dẫn quân Triệu từ trong thành xông ra, trong ngoài đánh kẹp lại,
đánh quân Tần thua to, tử thương quá nhiều.
Trịnh An Bình vốn là người
nước Ngụy, liền dẫn 2 vạn quân Tần dầu hàng nước Ngụy.
Hầu Sinh quả nhiên vào
đúng ngày Tín Lăng hầu xuất binh, mắt nhìn về phương Bắc hô to chúc Tín Lăng
quân giành được thành công, bèn «nhìn về hướng Bắc tự vẫn».
Quân Tần gặp thua to lần
đầu tiên kể từ khi thực hiện chính sách «giao kết xa, tấn công gần» đến nay, việc
bao vây Hàm Đan cũng tự nhiên được loại bỏ. Chỉ là Ngụy công tử Tín Lăng quân lấy
trộm hổ phù giết soái, tuy có công lớn đối với nước Triệu, nhưng có tội lớn đối
với nước Ngụy, cũng đành phải tạm thời ở lại nước Triệu.
Ngày nay nhìn lại, cuộc
chiến tranh của nước Tần thống nhất sáu nước mang màu sắc tiến bộ nhất định,
nhưng xét theo cách nhìn của mọi người khi đó, nước Tần tấn công nước Triệu thuộc
về hành vi xâm lược, do đó Tín Lăng quân lấy trộm hổ phù cứu Triệu cũng sẽ mang
màu sắc đầy chính nghĩa, huống hồ nước Triệu bảo tồn lại được cũng là sự kiềm
chế đối với nước Tần, là sự ủng hộ đối với nước Ngụy.
Điều quan trọng hơn là
tinh thần nghĩa hiệp của Tín Lăng quân trong lúc nguy nan không để ý đến sự an
nguy của bản thân mình, càng làm cho mọi người cảm động và ca ngợi.
Ngoài ra cả một quá trình
lấy trộm hổ phù của nước Triệu quanh co phức tạp, đầy màu sắc truyền kỳ, cũng
làm tăng hứng thú của hậu thế đối với lịch sử.
Do vậy, Tín Lăng quân lấy
trộm hổ phù cứu Triệu luôn luôn được người đời sau xem là tượng trưng của chính
nghĩa, tinh nhanh tháo vát, dũng cảm và nghĩa hiệp để ca ngợi.
Nhưng hành vi này chắc chắn
là sự khinh miệt lớn lao, phản bội và thách thức đối với vương quyền nước Ngụy,
do đó đã gây nên phẫn nộ cực độ của Ngụy vương, cũng là bị lớp hủ Nho bảo vệ
vương quyền phỉ nhổ. Việc này hầu như là một mâu thuẫn vướng mắc khó hiểu, kỳ
thực rất đơn giản, bởi vì vương quyền không nhất định lúc nào, chỗ nào đều có
thể đại diện chính nghĩa, cho nên có lúc triển khai hành động chính nghĩa sẽ có
thể xúc phạm đến vương quyền. Trong ý thức nơi sâu kín của mọi người, chính
nghĩa là cao hơn vương quyền, sự ca ngợi của mọi người đối với Tín Lăng quân đã
chứng minh điều này một cách thuyết phục.
Tín Lăng quân ứng phó
linh hoạt khi nguy nan, điểm xuất phát của nó là chính nghĩa, nghĩa hiệp,
phương pháp của nó là táo bạo, khéo léo, quả đoán, kết quả là đánh bại quân Tần,
bảo toàn nước Triệu. Do đó có thể nói trong lịch sử quân sự Trung Quốc hàng
ngàn năm sau vẫn là một ví dụ nổi bật, điển hình ứng phó linh hoạt khi nguy
nan.
8/2/2021
Tư Mã Sơn Nhân - Nguyễn An biên soạn
Theo https://vnthuquan.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét