Thứ Năm, 31 tháng 10, 2019

Ngọn lửa càng ấm nồng

Ngọn lửa càng ấm nồng
Tôi lại vinh hạnh được làm người đầu tiên đọc cuốn sách bạn đang cầm trên tay, Giữ lửa (tập 3) của nhà báo, nhà thơ, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Vinh. Sau Giữ lửa (tập 1) năm 2014 và Giữ lửa (tập 2) năm 2017, bước vào mùa thu năm 2019 này Giữ lửa (tập 3) ra mắt công chúng. Các bài trong ba cuốn sách dày dặn cùng chung dòng chảy đã được in trên các báo và tạp chí, một số bài cùng lúc đăng trên nhiều tờ báo lớn ở trung ương và các địa phương, lẽ đương nhiên đã có nhiều, rất nhiều người đọc, biết, tương tác luận bình, nhưng sắp xếp hoàn chỉnh thành tác phẩm dày gần 500 trang sách trang trọng như thế này thì tôi tự hào mình là độc giả được tác giả Nguyễn Hồng Vinh ưu ái.
Nếu Giữ lửa (tập 1) chọn lọc các bài xã luận ngắn gọn, súc tích, đề cập nhiều vấn đề trọng đại của đất nước, đặt dưới tiêu đề chuyên mục “Vấn đề tháng này” mở đầu số báo Nhân Dân ra hằng tháng, thì Giữ lửa (tập 2) bên cạnh những bài ấy, có thêm môt số bài cùng chung thể loại và hình thức thể hiện là “Vấn đề quan tâm” của Tạp chí Tuyên giáo, cơ quan của Ban Tuyên giáo Trung ương cũng phát hành hằng tháng; và đặc biệt thú vị là loạt bài chuyên luận, biên khảo, tham luận hội thảo khoa học…, mỗi bài đề cập một vấn đề cốt tủy trong cuộc sống đất nước ngày nay mà người Việt Nam không ai có thể không quan tâm: tình trạng xuống cấp dài dài của đạo đức xã hội. Đó là trăn trở của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi Ông còn tại thế: “Thuần phong mỹ tục mất dần, và thay vào đó không biết bao nhiêu thói hư tật xấu dần dần trỗi dậy hoặc xâm nhập từ ngoài…”, từ đó nhà văn hóa lớn tiền bối dóng tiếng chuông cảnh tỉnh: “Nếu môi trường ô nhiễm như hiện nay thì mọi người chúng ta sẽ sống làm sao, sống với ai và sống để làm gì?”.
Qua một số bài viết của mình trong Giữ lửa (tập 2), nhà báo, nhà thơ Nguyễn Hồng Vinh từng giữ cương vị một trong những người có trách nhiệm dẫn dắt ngành tư tưởng, văn hóa, báo chí nước ta, đã “nhập cuộc” với nhiệt tâm chung tay góp sức tìm lời giải cho vấn đề bậc tiền bối nêu lên một phần tư thế kỷ trước, mà đến hôm nay đà suy thoái và ô nhiễm đạo đức xã hội vẫn chưa chặn được.
Giữ lửa (tập 3) so với hai tập Giữ lửa trước có những nét mới: Cùng xuôi chiều với dòng chảy chính, chọn hơn 30 bài xã luận “Vấn đề tháng này”, còn có trên 20 bài được Nguyễn Hồng Vinh thông qua những thể loại báo chí, văn học như chuyên luận, bình luận, ký sự, chân dung, du ký, tùy bút, tham luận hội thảo, đối thoại với đồng nghiệp, trả lời phỏng vấn của phóng viên… đề cập nhiều vấn đề chính trị, văn hóa, báo chí nóng hổi diễn ra trên đất nước ta và thế giới, từ Hà Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hải Phòng, Khánh Hòa, Đồng Tháp, Tiền Giang, Cần Thơ… đến thủ đô Bình Nhưỡng nước Triều Tiên không xa cái vạch vô hình mà hiện hữu 65 năm nay là vĩ tuyến 38, mà Tổng thống Mỹ D. Trumph vừa qua trân trọng bước qua để bắt tay Chủ tịch Kim Jong Il; qua cố đô Saint Petersbourg của Liên Bang Nga nơi có Nghĩa trang an nghỉ nửa triệu chiến binh và dân thường bỏ mình trong Chiến tranh chống phát xít Đức, đến Hy Lạp xứ sở huyền thoại của nàng Vệ nữ và thần Jupiter; rồi sang Bun-ga-ri, xứ sở hoa hồng của thế giới... Đọc Giữ lửa (tập 3), bên cạnh những bài đề cập các vấn đề quen thuộc hằng tháng, tôi có cảm tưởng như tác giả Nguyễn Hồng Vinh là cánh én bay lượn trên trời cao, nhưng không quên đều đều sà xuống mặt đất nhặt hạt đậu, nhắm chồi hoa tiếp thêm sức sống.
Trở lại với phần chính cuốn Giữ lửa (tập 3): “Vấn đề tháng này” - mà tác giả đã bền bỉ viết đến nay tròn 22 năm. Tôi muốn khẳng định lại điều đã khẳng định: Từ “Người giữ lửa” (tập 1, 2014) đến “Ngọn lửa vẫn bền” (tập 2, 2017), tôi cảm nhận: “Nhiều chủ đề đồ sộ được Nguyễn Hồng Vinh lan tỏa qua cái nhìn của một nhà báo, nhà thơ luôn cố gắng giao hòa lửa báo với hơi văn, tôi tin rồi không ít bài sẽ tồn tại lâu dài, vượt qua khắc nghiệt thời gian…” (trích Lời giới thiệu sách Giữ lửa tập 2, Nxb Văn học 2017).
Lần này đọc Giữ lửa (tập 3), niềm tin của tôi vẹn nguyên như trước, hơn thế, còn thấy dường như ngọn lửa vẫn đang rần rật cháy kia, hơi ấm nó tỏa ra lúc này có phần dịu dàng, nồng thắm hơn, phải chăng do lan tỏa vào dịp cuối thu, khi thời tiết bắt đầu chuyển mát khiến cho cảnh vật càng mơ màng - mùa thu thiên nhiên và mùa thu của một đời báo, đời thơ. Tôi càng vui và trân trọng sự “nhả tơ” đều đặn của tác giả qua nhiều thể loại; sự kết hợp dung dị giữa báo chí và thơ ca, mà ở phần II cuốn sách này, nhiều nhà phê bình văn học đều có chung nhận xét. Không phải ngẫu nhiên, cuốn sách ra đời vào mùa Thu, vì chính tác giả từ trang đầu sách, đã mở đầu bằng bài “Xốc tới với ngọn lửa tháng Tám”; và bao trùm trong hai tập Thơ và Dấu ấn cuộc đời và Xanh mãi, có gần hai chục bài về mùa thu…
Mùa hè năm ngoái, kỷ niệm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, nhân đọc tập Thơ và Dấu ấn cuộc đời tác giả Nguyễn Hồng Vinh vừa gửi tặng, tôi viết bài ngắn dưới dạng phiếm đàm gửi đến riêng anh, tưởng đùa với nhau một chút cho thư giãn, không ngờ được đăng trang trọng trên báo Đảng. Theo mỹ tục từ tổ tiên chúng ta truyền lại, kính lão đắc thọ, nhiều người cầm bút về già, trong số đó có tôi, thường được các đồng nghiệp trân trọng gọi “nhà báo lão thành”, mỗi lần đến dự cuộc họp ngành báo chí hay văn chương, các mái đầu bạc lại được anh em mời lên ngồi hàng ghế trước. Có lần tôi buột miệng nói vui: “Lão còn khả dĩ, và chắc chắn đúng và ngày càng đúng hơn nếu trời quên chưa gọi đến tên, nhưng thành, chưa chắc!” Phó Giáo, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Vinh đã bỏ xa cái mốc “xưa nay hiếm”, thành đạt trong nghề báo, nghiệp thơ, nhưng anh tựa như dòng suối nước đầu nguồn ngày đêm xuôi chảy thuận chiều, thỉnh thoảng làm tóe lên một ánh đẹp bất ngờ khiến nhiều người thích thú, sao dám bảo Nguyễn Hồng Vinh “nhà báo lão”?
Tôi tin nhà báo “thành mà chưa lão”, nhà thơ còn “Xanh mãi” Nguyễn Hồng Vinh đang kỳ bút lực sung mãn, sẽ tiếp tục trình làng nhiều tác phẩm hay.
Hà Nội, tháng Tám 2019
 Phan Quang
Theo http://vanvn.net/

Đời người bất chợt

Đời người bất chợt
Thì ra, sau cái ồn ào, tạp nham và vênh vang giả tạo, nổi nênh bề ngoài kia, là một tâm hồn Nghiêm Đa Văn - nhà thơ vẫn còn trinh nguyên. Tôi nhận thấy, anh vẫn giữ nguyên niềm thiêng liêng đền đài với thi ca.
Nếu kể bạn bè thân nhất với Nghiêm Đa Văn, thì tôi chưa có trong danh sách ấy. Nhưng kỷ niệm về Nghiêm Đa Văn, trong tâm trí tôi lại không mờ nhạt.
Độ ấy, mùa hè 1976, chúng tôi đến ngôi nhà 330  phố Khâm Thiên (Hà Nội) thăm anh. Cái ngôi nhà mặt phố nhưng lại tụt vào, không nhô chiếm vỉa hè như những ngôi nhà khác, Nghiêm Đa Văn đang cởi trần trùng trục cúi mình gõ máy chữ. “Các ông uống nước, tôi dở tay một chút!” anh nói, mặt vẫn cúi gằm vào táp giấy dở dang trên cỗ máy. Tôi quan sát, không phải một cái máy chữ, mà trên bàn làm việc của anh có những ba cái máy chữ. Cái máy chữ nào cũng đang gài giấy, đang đánh dở dang. Cạch! Cạch! Cạch!... Đến mươi phút sau , anh mới thở phào và quay ra bàn uống nước tào lào phào với chúng tôi. Độ ấy, tôi nhìn cách thức làm việc của anh mà ghê quá! Thì ra ba cái máy chữ, để viết ba thể loại khác nhau. Cái viết thơ. Cái viết văn. Cái viết phê bình. Nếu bí bài nào, cứ việc để nguyên trên máy, quay ra gõ máy khác, bài khác. Hứng lên, lại quay trở lại, gõ tiếp bài dang dở kia, không bị đứt đoạn cảm xúc.
Xem ra, cách thức làm việc của Nghiêm Đa Văn lúc đó đã quá hiện đại với con mắt tôi. Khi mà tôi tập tọe viết lách bằng cái bút bi nhòe nhoẹt nét được nét chăng, thì anh đã viết bằng máy chữ lâu rồi. Cái ghê gớm hơn, là một lúc anh tư duy được mấy thể loại, với mấy luồng cảm xúc đan chéo. Năng lực sáng tạo của anh phải dồi dào lắm mới làm việc theo kiểu đó được.    
Nghiêm Đa Văn là người có vóc dáng to lớn, lại thuộc dạng ăn sấm nói sét. Bạn bè gặp Văn thì không thể không vui được. Cái chất tếu táo của Văn, tôi ngỡ chẳng bao giờ anh phải buồn.
Ấy trước đó, Văn từng làm nghề giáo viên. Anh là thầy giáo dạy cấp III. Học xong đại học sư phạm, Văn xin vào dạy học tận Đức Thọ, Hà Tĩnh. Cái huyện miền núi đang mù mịt khói đạn khói bom của cuộc chiến tranh chống Mỹ, đã cuốn hút anh. Thầy giáo Nghiêm Đa Văn trẻ trai, mặc quần áo màu cỏ úa, cùng học trò lăn lộn đào hầm, đắp tăng-xê trú ẩn và giảng rất hay những vần thơ Nguyễn Du, Nguyễn trãi cho các em học trò ngồi ngẩn ngơ nghe. Sau những giờ lên lớp, thầy Văn lại cùng học trò tăng gia trồng sắn trồng khoai. Đấy là giai đoạn chiến tranh chống Mỹ vào thời kỳ căng thẳng nhất. Trước cái sống cái chết của bao người dân miền khói lửa ấy, đã khơi gợi cho Văn bao nỗi niềm khát khao lăn xả vào cuộc sống. Sau giờ phút giảng bài dưới tiếng máy bay thù gầm xé, đêm đêm, Văn lại ngồi chong đèn dầu hạt đỗ ghi chép và lặng lẽ làm thơ. Văn viết nhiều. Bài thơ “Đàn trâu Nghệ” là kết quả của một thời lăn xả vào cuộc sống gian nan, vất vả và mơ mộng ấy. Đấy là thời đáng yêu của thầy giáo Văn. Có sáng tác mới nào, Văn lại chép gửi ra cho bạn bè làm báo ngoài Hà Nội. Các bạn ngoài Hà Nội vui mừng chuyền tay nhau đọc những sáng tác mới của Văn. Người xưa từng nói: văn là người, thời điểm ấy, chúng tôi thấy câu nói ấy thật chí lý.
Không phải nói quá, mà phải thừa nhận Nghiêm Đa Văn là người tài hoa. Làm thơ, viết văn, viết phê bình, soạn nhạc cảnh... cái gì anh cũng bắt tay vào làm được. Tôi còn nhớ ngày ấy, nhà xuất bản Kim Đồng cho ra mắt bộ sách nhiều tập với tên sách “Những đôi bàn tay khéo léo của cha ông” viết về các bậc tiền bối mở nghề, dạy nghề làm ăn cho dân chúng, Nghiêm Đa Văn có tham gia trong nhóm biên soạn bộ sách đó. Một người đồng tác giả, nhà nghiên cứu, nhà giáo Tạ Phong Châu người cao tuổi hơn Văn, chân tình nói “Phải chịu cái anh này, viết nhanh, viết sâu mà hóm hỉnh đáo để!” Tôi đem nhận định này, nói lại với Văn. Nghiêm Đa Văn to lớn, ngang tàng ấy lại lễ phép nói “Ông Châu là thầy tôi đấy. Ông ấy mới là người thông tuệ và sâu sắc!” Tôi hỏi: “Vậy lấy tài liệu từ đâu, mà anh hiểu và viết được nhiều nghề thế?” Nghiêm Đa Văn lại vỗ đùi, cười khanh khách “Tớ đi học mót. Phải học chứ. Đọc thiên kinh vạn quyển. Đống sách lù lù kia là tớ vừa kiếm được đấy!” Nếu tôi nhớ không nhầm, thì đã có ba bốn nhạc cảnh phát trên Đài mà anh viết lời và nhạc sỹ Nghiêm Bá Hồng làm nhạc. Có nhạc cảnh từng đi hội diễn và được giải thưởng. Tôi đem việc này ra chúc mừng anh. Anh cười hề hề “Ồi dào, trò ăn dỗ trẻ con đấy mà!”.
Phải nói cuốn truyện lịch sử “Nguyễn Đức Cảnh”, Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành, do anh viết, thu hút được khá đông đảo độc giả tuổi thơ. Mà không chỉ riêng lớp độc giả tuổi thơ, ngay chúng tôi có đọc cũng phải thán phục. Nhgiêm Đa Văn dàn dựng những sự kiện trong đời hoạt động của nhà cách mạng ấy sao tài tình và hấp dẫn thế?! Văn lại bông phèng nói với chúng tôi “Ông Cảnh người trong nhà tớ, tớ mài ông ấy ra. Ông ấy phù hộ cho tớ đấy!” Nói tếu táo thế thôi, chứ người biên tập cuốn sách đó, kể rằng anh Nghiêm Đa Văn làm bản thảo sách ấy cẩn thận và trách nhiệm lắm. Viết đi viết lại dăm lần. Hễ có chi tiết nào chưa chính xác, anh lại xin đi điều tra tìm hiểu cho đến đầu đến đũa.
Văn đã cho ra đời mấy tập truyện. “Ngã ba đất đỏ”, tập truyện ngắn. “Độ nóng mặt trời”, truyện vừa. “Tầm cao năm tháng”, “Gió mặn”, tiểu thuyết. Tập nào của Văn đọc cũng thấy được được. Tôi nhận thấy sức sống ngồn ngộn trong từng trang sách của anh. Tập sách viết cho thiếu nhi “Sừng rượu thề” là cuốn sách hay của anh. Năm 1987, tác phẩm này đã được giải thưởng văn học đề tài cho thiếu nhi của Hội nhà văn Việt Nam trao tặng.
Nghêm Đa Văn còn viết tay trái (theo cách nói của bạn bè) ba, bốn kịch bản phim truyện. Nào “Nhịp sống hài hòa”, “Chuyện đời không đơn giản”, “Trăng rằm”... Kịch bản được dựng thành phim, nhiều người đi xem cũng xuýt xoa khen. Như để khẳng định sự đam mê của mình, Nghiêm Đa Văn bô bô tuyên ngôn với bạn bè “Đây là thời kỳ của xi nê ma. Chỉ có xi nê ma mới quảng bá rộng rãi với khán giả!”. Thế rồi thầy giáo Nghiêm Đa Văn thôi không làm Báo “Người giáo viên nhân dân” nữa, anh chuyển sang làm phò tá cho ông Giám đốc xưởng phim truyện. Những xung đột gay cấn, những mối tình éo le, những nụ cười và những dòng nước mắt trong phim trường tưởng chừng phù hợp lắm với tính cách ồn ào của anh. Nhưng thực ra, đâu có phải vậy. Sau những tiệc tùng ồn ã của sân khấu, của phim trường, Văn trở về với bạn bè văn thơ vốn ngơ ngác, yếu đuối và khờ khạo của mình. Trong tâm khảm Nghiêm Đa Văn vẫn thấy cô đơn và trống vắng. Anh vốn mê thơ, từng lấy thơ làm sự nghiệp của mình, vậy mà Nghiêm Đa Văn chưa dám in tập thơ riêng nào. Đấy là nỗi niềm đau đáu của Văn, mà chỉ những bạn bè thân mới hiểu được. Trong một bữa trò chuyện vui bia bọt với bạn bè, Văn bốc lên tuyên bố không làm thơ nữa, vì đọc thơ của Vũ thấy hay quá. Vũ, đấy là Lưu Quang Vũ. Vũ qua  thời vinh  quang  rực  rỡ của “Hương cây”, mà đang thời sống chìm nổi vật vã và viết các bài   thơ “Cuốn sách xếp lầm trang”, “Mây trắng của đời tôi”, “Mặt trời trong nước lạnh”...bạn bè thân truyền tay nhau đọc. Độ ấy, Văn phục, tôi cũng phục thơ của Vũ lắm.
Thì ra, sau cái ồn ào, tạp nham và vênh vang giả tạo, nổi nênh bề ngoài kia, là một tâm hồn Nghiêm Đa Văn- nhà thơ vẫn còn trinh nguyên. Tôi nhận thấy, anh vẫn giữ nguyên niềm thiêng liêng đền đài với thi ca. Và có lẽ, anh vẫn tôn thờ thi ca, xếp nó vào vị trí, ngôi thứ quá cao sang, nên anh tự khó tính với mình thôi; chứ tôi nghĩ anh cứ tập hợp bao nhiêu bài thơ đã in rải rác trên các báo, thì làm gì anh chẳng có tập thơ dày dặn; mà có khi còn chững chạc hơn bao tập thơ khác trong cái xã hội văn chương nhốn nháo và ồn ã này. Tôi chợt thấy nét buồn trên khuôn mặt anh, cái khuôn mặt chợt nhìn tưởng luôn nghênh nghênh và hơn hớn ấy.
Bây giờ nghĩ lại cuộc tay của Văn với Thúy, nữ họa sĩ, người vợ của Nghiêm Đa Văn là có lý và tất yếu. Ngày ấy, tôi không thể lý giải nổi cái tổ ấm văn nghệ ấy làm sao mà tan vỡ được. Thỉnh thoảng đến nhà Văn, đôi khi chúng tôi trùng phùng được cả Văn và Thúy ngồi tiếp. Ngày đó, với chén nước chè nhạt, điếu thuốc lá quèn, hoặc cao hơn là chén rượu tạp, đã là sang lắm rồi. Ngày đó, Văn đã là nhà báo, còn Thúy là họa sĩ của báo Tiền Phong. Chúng tôi khi ấy kẻ thì chưa có vợ, kẻ thì vợ còn đang làm y sỹ hoặc dạy học tận Bắc Ninh, Bắc Giang; hoặc làm kế tóan, làm thủ kho tận Vĩnh Yên, Việt Trì...Đa phần sống độc thân, đến thăm bạn, thấy vợ chồng bạn sống điền viên, lại cùng dân báo chí cả, thân mật thết nhau bữa cơm tuyềnh toàng là thấy hạnh phúc và ấm cúng lắm.
Thế mà Văn và Thúy chia tay nhau thật. Chúng tôi thấy tiếc cho Văn và Thúy quá. Tôi có may mắn là được tiếp xúc với cụ thân sinh ra Thúy. Chả là, dạo đó tôi làm phóng viên Báo “Tiểu công nghiệp Thủ công nghiệp”, mà ông lại là người đứng đầu, Chủ nhiệm phụ trách nghành thủ công tỉnh Hà Nam Ninh. Ông cụ  biết tôi có quan hệ với Văn Thúy, cụ xuýt xoa tiếc cho đôi lứa. Cụ chả trách gì người con rể của cụ, mà chỉ thương cho nghiệp nghệ sỹ đã bám đuổi hành hạ đời Văn. Kiếp nghệ sỹ, thôi thì lận đận là phải.
Sau những đổ vỡ mất mát, Nghiêm Đa Văn có dạo bị ma men rượu bia kéo đi. Anh to lớn, uống chút bia vào là mặt mũi lại đỏ tưng bừng như Trương Phi. Nhưng Trương Phi- Nghiêm Đa Văn mà tôi biết, thì chẳng hung dữ gì. Nhìn lại sự nghiệp chữ nghĩa như tự thấy chưa tới đâu. Cái vũ trụ nhỏ bé gia đình lại tan vỡ, Nghiêm Đa Văn trôi dạt theo mọi con sóng. Đời sống xã hội khi ấy đã âm thầm phân hóa. Sự giầu nghèo, quyền chức đã len lỏi trong mỗi tế bào con người, tế bào xã hội. Bẵng đi một dạo, gặp nhau, Nghiêm Đa Văn đưa tôi cái danh thiếp với mấy chức danh giám đốc, trợ lý, cố vấn kinh tế cho một Công ty, một tập đoàn nào đó. Đấy là thời tôi thất thểu cũng chẳng kém gì Văn. Gồng gánh vợ con từ Bắc Ninh ra Hà Nội học hành sinh sống, tôi từng  phải cắm mặt kiếm kế sinh nhai, niềm khao khát chữ nghĩa đành tạm gác. Tâm trạng day dứt, dằn vặt của kẻ mộng mơ, phải lao vào kiếm tiền sinh sống, nên tôi hiểu Nghiêm Đa Văn và thương Văn nhiều hơn.
Văn lao vào thương trường. Các phi vụ kinh doanh cứ dền dứ cho anh tưởng béo bở. Rốt cuộc mấy năm quăng quật lúc Nam lúc Bắc, chẳng cải thiện chút gì đời sống kinh tế của văn. Bạn bè an ủi anh, không dính vòng lao lý tù tội là may  rồi!
Tôi không tiện hỏi ngôi nhà 330 phố Khâm Thiên của Văn đã chuyển quyền sở hữu cho chủ khác tự bao giờ. Văn một thưở sinh sống đàng hoàng và có phần vương giả so với chúng tôi, vậy nay không nhà không cửa, không chốn nương thân. Anh lang bang đó đây, lúc tỉnh Nam tỉnh Bắc, lúc xứ Đông xứ Đoài. Những nụ cười hềnh hệch thấy giảm bớt, nhưng sự phớt đời như thấp thoáng xuất hiện ngày một nhiều hơn trên nét mặt anh. Những bạn bè thân của anh, cũng chẳng rõ đầu cua tai nheo đời sống thường nhật của anh. Văn ít gặp bạn bè. Bạn bè cũng dần không thấy Văn xuất hiện văn thơ trên báo chí nữa. Họa hoằn gặp Văn túm tụm đi với mấy người nom rất “ngầu” không phải cánh văn chương báo chí. Văn đang đeo đuổi việc gì? Văn sống có khá hơn không? văn còn ôm ấp viết gì không? Không rõ. Chỉ rõ là Văn không gian giảo, không lừa đảo, không ám hại ai. Trong cái sự xô bồ xộc xệch phơi ra đấy, vẫn nhận thấy  cái vẻ trong sáng, tư cách của Văn.
Ấy rồi Văn đổ bệnh. Ngũ phủ lục tạng của Văn rệu rạo nhanh chóng. Anh bị mắc bệnh thận. Anh phải chạy thận nhân tạo. Nhà cửa không còn, anh phải thuê nhà trọ trong ngõ xóm tồi tàn đồng cảnh với những người bệnh thận như anh, ngày ngày lê lết đến bệnh viện, nhờ máy lọc nước tiểu giúp để sống qua độ nhật.
Có lẽ những ngày tháng sống trôi nổi, làm sức khỏe Văn giảm sút khủng khiếp. Cái vóc dáng to béo cao lớn của chàng thi sĩ phớt đời kia không còn nữa. Ai gặp Văn đều choáng váng bất ngờ thấy anh gày guộc, võ vàng, thần sắc nát. Cái gì đến đã đến với anh.
Bạn bè không cầm được nước mắt trong đám tang Nghiêm Đa Văn. Đấy là buổi chiều hè nóng bức 1997, nhà tang lễ Phùng Hưng thưa thớt bóng người. Lúc khênh linh cữu anh ra xe tang chỉ còn lại mấy người nhà và toán bạn chí cốt với Văn. Tôi theo một người bạn vừa ở xa về, chạy tới kịp đặt thẻ hương trên cỗ quan tài anh. Chúng tôi vái anh, vái một linh hồn xấu số.
Cái chết, như khép lại tất cả. Ấy vậy, nghĩ về anh tôi lại thấy day dứt rất nhiều. Ừ, sao anh phải chết sớm thế? Thời trai trẻ, anh là người khỏe mạnh nhất trong số bạn bè văn chương mà tôi quen biết. Ừ, sinh thời, anh sống nồng nhiệt tới mức ồn ào với bạn bè, sao phút tiễn biệt anh lại xao xác quá?!
Theo cách nói của một người bạn Văn, giá Văn biết sống cầm chừng một chút, khôn khéo một chút, thì làm gì đến nỗi. Có thể Văn sẽ là nhà thơ, một cán bộ có quyền chức kha khá trong giới văn chương báo chí. Giá Văn biết sống dung hòa một tý, thì gia đình riêng của Văn làm gì tan nát... Không! Tôi lại nghĩ ngược lại. Nghiêm Đa Văn đã sống hết mình, thật mình, không cơ hội, không thớ lợ, không gian dối. Có lẽ tại xã hội, tại cuộc sống chăng? Mà chắc tại cuộc sống thật. Văn là bi kịch của lớp tri thức trẻ giai đoạn đầu cuộc chiến tranh chống Mỹ băm bổ và lăn xả vào cuộc sống. Cái được và cái mất đã trần trụi đến với Văn. Văn trả giá và Văn được hưởng. Nói hẹp lại, đấy là bi kịch của một con người. Một toán bạn bè mê văn chương chữ nghĩ cùng học Sư phạm với anh thưở ấy, người trước người sau một vài ba khóa; có anh nay là giám đốc, phó giám đốc sở nọ sở kia. Có anh là nhà giáo ưu tú, ngày ngày vẫn thịnh soạn cắp cặp lên giảng đường. Lại có anh đường đường là nhà báo nhà văn, sách vở in ra đến mấy chục đầu sách, đài báo lăng xê ầm ĩ, đi Tây đi Tàu đủ cả. Lại có người từ văn chương chữ nghĩa đã tiến thân thành cán bộ chính trị cao cấp, luôn đi truyền bá giảng giải giáo lý, một bước có xe con đưa đón. Cũng không thiếu gì người vẫn đang sống nheo nhóc với đời thường. Lại có anh vì mê văn chương, đã chết bỏ xác tại chiến trường khi tuổi còn xanh. Thôi thì mỗi người một cảnh, biết thế nào mà so sánh được thua, hơn kém?!. Lại đổ cho số phận vậy. Mà đã là số phận, thì mọi tính toán được thua có nghĩa lý gì lắm đâu!..
Vũ Từ Trang
Theo http://vanvn.net/

Thơ Huy Cận - Sự khuếch đại và mở rộng không gian

Thơ Huy Cận - Sự khuếch đại 
và mở rộng không gian
Thơ Huy Cận đầy những dự phóng vô thức từ ấu thời. Một vì sao xuất hiện trong vũ trụ Thơ mới tuy muộn, nhưng Huy Cận lại sớm đạt tới đỉnh cao tân tinh ở tập Lửa thiêng (1940), khi mới ở độ tuổi hai mốt.
Hẳn, nhà thơ đã kết đọng Lửa thiêng từ khối lượng cảm nghiệm phong phú và sâu lắng đầu đời. Xuất phát từ một định đề của Sigmund Freud về sáng tạo thơ: “Có nên tìm ngay ở trẻ em những dấu tích đầu tiên của hoạt động thơ?”, chúng tôi thám mã ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh của Huy Cận từ lối tiếp cận phân tâm học, đặt giữa một bối cảnh không gian văn hóa để hy vọng có thể đi đến một cái nhìn mới, không-thời gian mới trong thơ.
Trong một nền học thuật với đòi hỏi ngày càng cao về những dữ liệu định lượng khách quan, việc áp dụng phân tâm học của Freud, đặc biệt là của Gaston Bachelard trong nghiên cứu văn học, nhắc nhở chúng ta rằng một cách tiếp cận khách quan tuy quan trọng nhưng đồng thời cũng có hạn chế trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và môi trường xung quanh. Không giống như các nhà khoa học tự nhiên, các nhà nghiên cứu khoa học xã hội nên mạo hiểm vận dụng sự tưởng tượng chủ quan của mình (hay cái tư biện) như một chất xúc tác trong quá trình nghiên cứu. Các nhà thơ quan tâm đến cái cá nhân, tính chủ quan và cái dị biệt về phong cách (idiosyncratic). Họ đi tìm ngữ nghĩa và ngữ cảnh trong trải nghiệm cá nhân, sau đó cấp nghĩa cho ngôn từ. Từ đó, thơ của họ khiến cho người đọc có một nhận thức mới, khác với cách thức truyền thống của các triết gia đi tìm chân lý. Do đó, cách tiếp cận phân tâm học đối với chất liệu thơ ca cho thấy những kết quả mới mẻ và đột phá, bởi những nhà phê bình phân tâm học tìm cách đồng dạng với nhà thơ.
Ấu thời là mảnh đất canh tác màu mỡ đối với các nhà phân tâm học. Sự phát triển của một cá nhân được định hình bởi những sự kiện thuở ấu thời, nên hiển nhiên, những ấn tượng, sang chấn hay mặc cảm xảy ra đối với đứa trẻ có ảnh hưởng rõ rệt, sẽ càng được biểu kiến ở tuổi trưởng thành. Một trong những biểu hiện cực đoan nhất là bệnh loạn thần/ nhiễu tâm. Trong nghiên cứu lâm sàng - trị liệu, sử dụng biện pháp liên tưởng tự do nhằm khai thác trần trụi các trải nghiệm bị dồn nén từ tuổi ấu thơ, nhà phân tâm học đưa ra một phác đồ hợp lý đối với các ca bệnh tâm thần. Còn đối với các nhà phê bình phân tâm học, đặc biệt theo lối phân tâm học tiểu sử, những ký ức hay biến cố thời thơ ấu là một dẫn liệu có tầm quan trọng bậc nhất nhằm minh định những ẩn ngữ trong thi phẩm. Qua lăng kính phân tâm học, việc xem xét quá trình sáng tạo của nhà thơ ví như đào lại những hóa thạch thời thơ ấu đã thoái triển.

Những mạng lưới hình ảnh là biểu hiện của các tập hợp vô thức bên trong tâm lý của tác giả, sự trùng hợp ngẫu nhiên được gợi lên dưới nhiều lớp văn bản chồng xếp. Các nhà phê bình phân tâm học phương Tây đầu thế kỷ XX như René Laforgue, Marie Bonaparte, Charles Mauron thường chọn những nhà thơ trữ tình lãng mạn làm chủ điểm nghiên cứu chính, bởi thi phẩm của họ hé lộ mạng lưới giàu có các hình ảnh biểu tượng. Chủ nghĩa lãng mạn phương Tây bấy giờ cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến khuynh hướng chung của Thơ mới Việt Nam giai đoạn 1932 - 1945, điển hình là cảm thức về cái tôi cá nhân cũng như cám cảnh thân phận giữa thời cuộc bi đát.
Những tiếp xúc ban đầu của con người với thế giới vật chất luôn có vai trò quan trọng và để lại dấu vết ẩn tàng lâu dài trong thế giới vô thức của họ. Nó nằm sâu trong vô thức cũng như trong quá trình sáng tạo của nhà thơ và được biểu kiến bằng sự sáng tạo. Bachelard phát hiện ra rằng thi ca hoàn toàn tuân theo sự quyến rũ của một hình ảnh ưa thích. Đồng thời, tiềm thức luôn “bình thường” bất cứ khi nào nó có nơi chốn neo đậu hạnh phúc và yên ổn. Trong lời giới thiệu cuốn Thi pháp không gian (The Poetics of Space, 1958), Bachelard ngụ ý sự cư trú hạnh phúc này chính là cảm giác tự tại như ở nhà. Phân tâm học đưa tiềm thức vào hữu thức giúp những người “vô gia cư” tìm thấy cảm giác cư trú neo đậu. Phương pháp phân tích địa thể (topoanalysis) của Bachelard trong phân tâm học khai phá những miền không gian, trong đó con người thoát khỏi nơi trú ngụ tiềm thức và đi vào hữu thức của sự tưởng tượng.
Quay trở về trường hợp thơ Huy Cận, đã có ít nhiều nghiên cứu về không gian nghệ thuật thơ Huy Cận, chỉ ra những định ngữ phổ quát dành cho thơ của ông như không gian mênh mông và vô tận. Nhưng để tìm thấy cơ sở nguồn gốc cho cảm quan đặc trưng này, cần phải nhìn nhận sáng tạo thơ ông như một quá trình khuếch đại, phóng rộng về mặt không gian. Thơ Huy Cận tuân theo cơ chế đồng vọng của tiềm thức, ký ức phân mảnh thơ ấu được gợi lại, khuếch đại tạo nên những không gian hùng vĩ hơn, với một cường độ sử thi hơn. Ký ức thơ ấu này gắn liền với nơi khai sinh của Huy Cận, tức quê nhà, một phạm trù mở rộng không gian nhà của Bachelard. Cảm nghe cái mênh mông của vũ trụ, hay cảm quan cô liêu bơ vơ, thực chất, là những động cơ thúc đẩy Huy Cận truy tìm sự neo đậu ở nơi chốn quê nhà tưởng tượng, tìm bến giữa dòng. Thơ Huy Cận, trước hết, phản chiếu không gian tự nhiên - không gian vùng văn hóa. Không gian đó gắn liền với quê hương ông - Hương Sơn, Hà Tĩnh, một phần của vùng văn hóa Lam Hồng. Nhà thơ thừa nhận, cảnh quan quê hương nên thơ đã hun đúc nên thi hứng của mình: “Sông núi đất đai ấy như đã làm ra xương thịt của tôi và tâm hồn tôi nữa” (Hồi ký song đôi), với chủ đạo là nỗi buồn man mác, mang màu sắc lãng mạn đặc trưng. Thực chất, trong các bài thơ xuất sắc của Huy Cận như Tràng giang, Nói chuyện với Kim Tự Tháp… luôn tồn tại đồng thời hiếu kỳ và hoài niệm, choáng ngợp trước không gian mới - không gian hiện tại, và vô thức liên hệ với không gian cũ - không gian ấu thời.

Hình ảnh sông trong thơ ca trữ tình Việt Nam luôn ngụ chỉ quê hương. Có lẽ bởi phần lớn các nhà thơ sinh ra trước 1986 đều có xuất thân gắn bó với thôn quê. Làng, đơn vị nông thôn đặc trưng của Việt Nam, thường phân bố trên các triền sông. Mục đích thứ nhất và quan trọng hơn cả, nhằm đáp ứng nhu cầu thủy lợi tưới tiêu của hình thức canh tác nông nghiệp lúa nước. Mục đích thứ hai, khi các làng tập hợp thành một mạng lưới dọc theo sông, thì đường thủy trở thành con đường thuận lợi nhất để phục vụ giao thông và thương mại. Do đó, sông là một phần thiết yếu trong đời sống nông thôn và của con người chốn đây. Không gian nghệ thuật của thơ Huy Cận luôn tồn tại những dòng sông mênh mang nước. Những trải nghiệm ấu thời của nhà thơ diễn ra trên bãi cát dài ven sông, tả ngạn sông Ngàn Sâu uốn quanh chân núi Mồng Gà. Con sông mang đủ đầy hai sắc thái, dữ dội và êm ả. Đoạn sông nằm ở thượng nguồn sông La, vào mùa lũ nước lên cao. Khi trời yên, gió sông thổi mát, bờ sông lại trở về là chốn lý tưởng cho những trò chơi dân gian của lũ trẻ. Thơ Huy Cận in hằn con sông miền niên thiếu. Nó đã luôn là một dòng nghịch lưu chảy ngầm trong mạch nguồn hữu thức của thi nhân.
Tràng giang, bài thơ nổi tiếng nhất của Huy Cận, phát lộ được gốc tích sáng tác vào lúc nhà thơ đứng ở bến Chèm, phóng tầm mắt ngắm nhìn con sông Hồng. Lối bình giảng truyền thống quy nạp bài thơ với tâm trạng lẻ loi, chơ vơ của Huy Cận trước không gian bao la rộng lớn và tình yêu quê hương, đất nước. Song, Tràng giang giống như một bức tranh khổ lớn, tuân theo quy luật viễn cận, mở rộng biên độ vút về phía xa. Ở đó, tác giả vẽ lại hình ảnh cậu bé Huy Cận tuổi nhi đồng, đứng trước con sông Ngàn Sâu với tâm thế đầy hiếu kì, tò mò và rợn ngợp. Mối liên hệ vô thức được ảnh xạ rõ nét hơn bao giờ hết: “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót”. Cách tác giả sử dụng từ “chót vót” ở đây, thoạt tiên đối với người đọc như một nghịch lí. Bởi chót vót là tính từ mô tả sự tột độ về chiều cao, chứ hiếm ai đi dùng nó để đặc tả chiều sâu. Nhưng nghịch đảo này lại hóa tài tình: sâu chót vót - Ngàn Sâu; Ngàn Sâu - sâu chót vót. Huy Cận kết thúc bài thơ bằng hoài niệm cố hương hướng tâm thân thuộc (Lòng quê dợn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà), nhưng tự thân tràng giang đã chảy ngược về khúc thượng nguồn sông La tự lúc nào.
Khi niềm ưa thích mạnh nhất của một đứa trẻ là chơi, thì hành động chơi của trẻ con là ứng xử của một nhà thơ, nhằm kiến tạo ra cho mình một thế giới tưởng tượng, một trật tự mới phù hợp với mình. Tuổi thơ Huy Cận đặc sắc những trò chơi dân gian, từ truyền thống phổ biến như thả diều, mang tính địa phương Hà Tĩnh như làm trống đất, cho tới sáng tạo trẻ thơ như trò đắp cối xay cát. Riêng trò chơi thứ ba này, khuấy động trong nhà thơ một ám ảnh đặc biệt đối với cát. Cát là ẩn dụ của sự luân hồi của thời gian, như đồng hồ cát, đặc biệt liên hệ đến sự diệt vong cuối cùng, như núi và kim tự tháp theo thời gian sẽ trở về cát bụi. Ẩn dụ này ngụ ý sự băng qua của thời gian, kéo dài hàng nghìn năm.

Cát còn là biểu tượng của sự hiện tồn thoáng chốc, như chữ viết trên cát, hay lâu đài cát sẽ bị cơn sóng đánh dạt cuốn trôi. Trò chơi cối xay cát, được Huy Cận ví như làm ra một chiếc “đồng hồ cát cổ đại”, thoạt đầu, chỉ là một trò chơi tuổi thơ vô tư. Ấn tượng được gắn với thứ cát thơ bé này là sự êm ả, gần gũi và rong ruổi theo đuổi Huy Cận trên những miền Tổ quốc, theo những con sông bồi tụ cát phù sa. Nhưng rồi, khi đến với xứ sở sa mạc, nơi vương quốc của cát, Ai Cập, để Nói chuyện với Kim Tự Tháp thì quan niệm chất phác về cát của nhà thơ bị nhận chìm. Trước chứng tích lịch sử của một nền văn minh từng huy hoàng rồi chợt tắt, tồn tại hàng thiên niên kỷ, Huy Cận mới thấu được cái thoáng chốc của cõi tạm. Cát bấy giờ trở thành hung thần cuồng nộ, hiện thân của thời gian xói mòn mọi thứ. Con người lãng mạn, đứng trước sự phong hóa tàn khốc của tự nhiên, nảy sinh sự lưỡng phân trong tâm trí, một mặt choáng ngợp sợ hãi (rúng lạnh, chết sững), một mặt hiếu kỳ và khởi đi niềm hi vọng (hoài vọng, phơi phới). Một lần nữa, mô thức hoài niệm quy giản về hình ảnh thơ ấu được minh chứng ở câu kết (Bóng Kim tự tháp trải lên bờ sông mát). Kim tự tháp là đỉnh cao của sự hiếu kỳ trong thơ Huy Cận, tựa khát vọng giải đáp câu đố của nhân sư, tìm được chìa khóa mở ra sự vô tận và rồi khuất phục sự hữu hạn của tồn tại.
Chùa là một không gian thiêng mang lại những ấn tượng đặc biệt, một trải nghiệm thần bí đối với Huy Cận lúc nhỏ. Trong không gian thiêng, thời gian là thời gian thiêng tách bạch với thời gian của đời thường, thế tục. Huy Cận từ nhỏ trong lúc nô đùa với bạn bè, đã có tiếp xúc đầu tiên với không gian này. Đó là ngôi chùa Bồn tọa trên rú Trùa đằng sau núi Mồng Gà. Đám trẻ rủ nhau lên chùa hái trái sơn trà, rồi tiện thể tò mò vào xem cảnh địa ngục và thiên đường được xây ở trong chùa: “Thiên đường thì ở trên cao, nhưng địa ngục thì ở tận mặt đất thấy rõ ràng từng cảnh đày đọa, người bị quăng vào vạc dầu, người bị chó ngao cắn, người bị xẻ dọc làm đôi… Bọn tôi sợ, nhưng cũng sợ vừa vừa thôi, chỉ có tò mò xem thử các tội ác được trừng phạt như thế nào” (Hồi ký song đôi). Cho tới giai đoạn theo học tại trường Quốc học Huế, nhà thơ luôn ấn tượng và bị ám ảnh bởi tiếng chuông chùa Thiên Mụ. Thay vì mang đến một cái nhìn thiền tuệ Phật giáo, cảnh chùa cấp cho nhà thơ một nhân sinh quan diệu vợi, khắc khoải. Cái nhìn này, được phóng chiếu trong Các vị La Hán chùa Tây Phương, cuội kết trở thành những cật vấn (Tôi đến thăm về lòng vấn vương/ Há chẳng phải đây là xứ Phật/ Mà sao ai nấy mặt đau thương?). Từ hình dung những pho tượng Phật, nhà thơ suy tư về nỗi yếm thế, bế tắc của chúng sinh giữa nghịch cảnh hiện thực cuộc sống. Song để tìm câu trả lời cho câu hỏi cuộc đời, hiếu kỳ nay đã chuyển thành thất vọng (Một câu hỏi lớn. Không lời đáp). Dấu ấn của những hiếu kỳ thuở nhỏ đã hiện hình trong những câu hỏi lớn và sự khắc khoải trước im lặng “không lời đáp”. Bởi thế, những tội ác bị trừng phạt, những đọa đày hay khổ nạn của chúng sinh thực chất đã được phóng đại, được tỏa rộng từ những chờn vờn trong sương khói ấu thời.
Muốn chắp cánh cho phong cách lãng mạn vút phóng lên đỉnh cao tận cùng, nhưng Huy Cận không thể đứng ngoài vô thức tập thể. Thơ Huy Cận giai đoạn sau 1945 chuyển từ cảm nghiệm nỗi buồn cá nhân sang truyền đạt không khí thời cuộc, để tiếp lửa. Lúc này nhà thơ đã hòa chung vào tâm thế yêu nước của dân tộc (Sống vững chãi bốn ngàn năm sừng sững/ Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa - Hai bờ suy tưởng). Bên cạnh yếu tố ngoại cảnh mang tính bước ngoặt là Cách mạng tháng Tám, bên trong con người Huy Cận vốn đã hình thành những cơ sở nội tâm để thực hiện sự chuyển biến phong cách này. Vùng đất quê ông, Hà Tĩnh, đã nổi tiếng với truyền thống yêu nước và đánh giặc. Đây là cái nôi sản sinh ra những vị anh hùng như Mai Thúc Loan, Đặng Dung, Nguyễn Biểu, nơi diễn ra cuộc khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng. Thời niên thiếu ở quê hương, Huy Cận đã tiếp xúc và thấm nhuần tinh thần yêu nước thông qua thơ văn của Phan Bội Châu, Trần Tuấn Khải cùng nhiều nhà yêu nước khác. Thơ văn của họ, tề tựu đủ ý chí “văn dĩ tải đạo” từ các tác giả trung đại đi trước, đăng đối giữa văn chương và truyền tải đạo lý. Cách mạng tháng Tám là một sự kiện bước ngoặt đưa cảm thức yêu nước trở thành dòng chủ lưu trong sáng tác của Huy Cận, đưa các tác phẩm thơ của ông về với chủ đề ngợi ca tinh thần quật khởi của con người Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến. Nhờ dấn thân vào chính luận, Huy Cận đi vào quần chúng và trở thành nhà thơ của quần chúng. Nhưng, như đã nói, ký ức vùng miền, những trải nghiệm ấu thời vẫn tỏa bóng trong sáng tác của ông.
Cái làm nên đặc sắc thơ Huy Cận là lực trường sáng tạo của ông. Nó đến từ những chi tiết ký ức tuổi thơ, được nhà thơ sắp xếp vào một trật tự hệ thống mới. Sức huyền diệu của kỷ niệm, vô thức khởi đi lòng tò mò muốn khám phá không-thời gian mới với dự phóng tiềm tàng từ những ấn tượng thơ dại. Khi nhà thơ gặp gỡ một địa điểm cảnh quan tương ứng có quy mô rộng lớn bao trùm, quá khứ và hiện tại đồng nhất với nhau và khuếch đại mang tới một cảm quan mới giàu tính biểu tượng. Phân tâm học với ưu thế và cũng là đặc trưng của mình mở ra cơ hội cho việc soi chiếu những vùng không gian bị khuất lấp, bị kìm nén, nằm xa vùng ý thức. Bởi vậy, một hình dung nhỏ về Huy Cận trong cái nhìn phân tâm học, nơi những ký ức ấu thời âm thầm lan tỏa lên vùng không-thời gian hiện tại, có thể sẽ mang lại cho chúng ta những dư vị mới mẻ, nuôi dưỡng những dự phóng.
Minh Quân 
Nguồn: VNQĐ
Theo http://vanvn.net/



Nhà thơ Lưu Trọng Lư: Gánh tình trĩu nặng hai vai

Nhà thơ Lưu Trọng Lư: 
Gánh tình trĩu nặng hai vai
Thi sĩ nào mà chẳng đa tình là câu nói cửa miệng của mọi người dành cho giới văn nghệ sĩ, đặc biệt là các nhà thơ. Người thơ mà không đa tình mới là chuyện lạ. Thi ca từ thoạt kỳ thủy, trong bản chất của nó đã là một nàng.
Chẳng thế mà trong thần thoại Hy Lạp, người thống lĩnh thi ca là một nữ thần, chứ không phải là nam thần như ở các lĩnh vực khác. Còn ở ta, trong số các nhà thơ hàng đầu, có lẽ Lưu Trọng Lư là người đa tình nhất, xét cả về khía cạnh thi ca và cả về tình cảm riêng tư.
Nhà thơ Lưu Trọng Lư sinh ngày 19/6/1912 tại xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình quan lại nhỏ, có truyền thống Nho học. Hầu hết từ người cha là Lưu Trọng Kiến và cả ba anh em Lưu Trọng Tuần, Lưu Kỳ Linh, Lưu Trọng Lư đều lớn lên cùng theo bút nghiệp và đều đã để lại cho đời những tác phẩm văn chương có giá trị.
Thuở nhỏ, ông học ở quê, rồi lên tỉnh. Lớn lên ông theo học tại trường Quốc học Huế cho đến hết năm thứ ba, thì ra Hà Nội học tiếp. Tuy nhiên ông đã bỏ học giữa chừng để đi dạy tư, viết văn và làm báo kiếm sống.
Năm 20 tuổi, 1932, Lưu Trọng Lư là một trong những nhà thơ khởi xướng và tích cực cổ vũ cho Phong trào Thơ Mới khi nó mới manh nha. Sau đấy một năm, 1933-1934, Lưu Trong Lư chủ trương mở Ngân Sơn tùng thư tại Huế.
Ông mất ngày 10/8/1991 và hiện thi hài của ông được lưu giữ trong nhà lưu niệm tại quận VII, thành phố Hồ Chí Minh. Đám tang ông có nhiều vị lãnh đạo của các cơ quan Đảng, Nhà nước và Chính phủ cũng như đại diện văn nghệ sĩ của các tỉnh đến viếng, dâng hương. Bên cạnh lời viếng của đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười khi ấy và Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn có bài thơ của nhà thơ Tố Hữu, người cùng thời đã khóc ông: Lưu Trọng Lư ơi biệt cõi trần/ Tiếng thu man mác nhạc trong ngần/ Nửa đêm sực tỉnh đời pha mộng/ Da diết lòng anh một chữ Nhân. Ông được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học- Nghệ thuật, năm 1996.
Cuộc đời văn nghiệp của ông đã để lại một khối lượng tác phẩm khá đồ sộ. Về thơ có: Tiếng thu (1939), Tỏa sáng đôi bờ (1959), Người con gái sông Gianh, 1966), Từ đất này (197l), Chị em (1973), Đây mùa thu tới (1987), Bâng khuâng (1988), Bao la sầu (1989),…Về sân khấu: Nữ diễn viên miền Nam (cải lương), Cây thanh trà (cải lương), Xuân Vỹ Dạ (kịch nói), Anh Trỗi (kịch nói), Hồng Gấm, tuổi hai mươi (kịch thơ, 1973). Văn xuôi có: Người sơn nhân (truyện, 1933), Chiếc cáng xanh (truyện, 1941), Khói lam chiều (truyện, 194l), Mùa thu lớn (tuỳ bút, hồi ký, 1978), Nửa đêm sực tỉnh (hồi ký, 1989).
Cùng thời với Lưu Trọng Lư có nhiều tài năng thơ như: Tế Hanh (Quảng Ngãi), Tố Hữu (Thừa Thiên- Huế), Chế Lan Viên (Quảng Trị), Hàn Mặc Tử, Nguyễn Xuân Sanh (Quảng Bình), Xuân Diệu (Hà Tĩnh),... Số bạn bè cùng trang lứa từ Hàn Mạc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên đến Lưu Trọng Lư và một số người khác đã lần lượt ra đi trở thành người thiên cổ và bất tử, bởi họ đã ghi đậm tên tuổi mình trong ký ức của nhiều người cùng thời và hậu thế. Đã có người cho rằng Lưu Trọng Lư là chủ soái của Phong trào Thơ Mới. Xét về một khía cạnh nào đấy không phải là quá. Chả thế mà trong Thi nhân Việt Nam, Lưu Trọng Lư là người đứng thứ hai về số bài thơ được Hoài Thanh và Hoài Chân tuyển chọn, 11 bài, chỉ xếp sau Xuân Diệu, 15 bài. Điều ấy cho thấy vị thế của ông trong làng Thơ Mới lúc bấy giờ. Còn giới văn nghệ sĩ Quảng Bình đã đặt tên cho giải thưởng văn nghệ tỉnh nhà: Giải thưởng Văn học- Nghệ thuật Lưu Trọng Lư, 5 năm trao giải một lần.
Không chỉ riêng với thi sĩ họ Lưu, mà thời ấy nhiều thanh niên trí thức mới hai mươi tuổi đời đã đàng hoàng lắm, chí ít họ cũng tự cảm thấy mình là chủ nhân đích thực của chính cuộc đời mình, bằng cách nhận lấy việc thay đổi những thói quen cũ mèm, nhàm chán của mấy ông đồ suốt ngày đi rao giảng đạo đức theo sách thánh hiền. Lưu Trọng Lư cũng chỉ là một người có học hơn tí chút so với đám thanh niên thời ấy, nhưng ông đã đón nhận Thơ Mới một cách hồ hởi, như diều đón gió để rồi ông lao vào làm tất cả những gì có thể, đặng thúc đẩy nó tấn tới. Ông đã từng đi diễn thuyết về sự cần thiết phải ủng hộ Phong trào Thơ Mới, viết thư để tranh luận với Tản Đà về quan niệm về thơ thời nay, làm cả một bài thơ trào phúng để giễu cợt lối thơ cảm khái theo niêm luật, thù tạc vô cảm. Lưu Trọng Lư luôn hướng ngòi bút của mình vào sự phân biệt tâm lý già trẻ một cách rạch ròi khiến Hoài Thanh và Hoài Chân đã dẫn lại trong phần mở đầu cuốn Thi nhân Việt Nam, 1932-1941: Các cụ ta ưa những màu đỏ choét, ta lại ưa những màu xanh nhạt... Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya, ta nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ....
Xét về khía cạnh con người, trong thơ Lưu Trọng Lư còn nhiều duyên nợ với các nhà Đường thi như Lý Bạch, Đào Tiềm, Tô Đông Pha,… và có một phần giống với Tản Đà. Trong khi với Xuân Diệu luôn muốn ôm lấy cả cuộc đời, hăm hở đi tìm những cảm giác mới lạ và có được những cuộc hưởng thụ thật đủ đầy hay như Hàn Mạc Tử thì: Hôm nay có một nửa trăng thôi,/ Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi!... (Một nửa trăng)
Còn Lưu Trọng Lư dường như lại chỉ mong được sống phóng túng giữa tình thực và tình mộng. Chính vì lẽ đó mà thơ Lưu Trọng Lư như một thế giới xa vắng, mộng ảo, rất gần với cổ thi. Ông như người đi trên một chiếc cầu bập bênh, chỉ cần trọng lực của thế giới tâm tưởng lắc nhẹ sang đời thực là ông có thể yên tâm với cuộc sống hiện hữu.
Trớ trêu là, ông sinh ra giữa buổi giao thời, đổi thay chóng mặt. Luồng gió lạ Tây phương thổi vào nước ta những năm đầu thế kỷ XX theo sau gót giày đinh xâm lược của thực dân Pháp, khiến một người như Lưu Trọng Lư cũng dễ dàng bị cuốn theo chiều gió, hỏi còn ai có thể ngồi yên được. Phong trào Thơ Mới dù chỉ tồn tại khoảng 10 năm (1932- 1941) đã nhanh chóng tạo thành một diễn ngôn có tính lịch sử, bởi chính sự mới lạ, phóng túng của nó, khiến cả một thế hệ thanh niên trí thức thời ấy hùa theo. Phong trào Thơ Mới đã thực sự giải phóng cho những năng lượng sáng tạo tiềm tàng trong giới trẻ lúc bấy giờ, làm nên bản hợp xướng thi ca mang tinh thần của một thời đại mới.
Nói đến Lưu Trọng Lư, người ta không thể không nhắc đến tập thơ Tiếng Thu của ông. Vì ở đấy dường như tất cả bản thể thi ca, những gì tinh túy nhất của hồn thơ ông đã được phơi bày ra quá phân nửa, đặc biệt là bài Tiếng Thu: Em không nghe mùa thu/ Dưới trăng mờ thổn thức?/ Em không nghe rạo rực/ Hình ảnh kẻ chinh phu/ Trong lòng người cô phụ?/ Em không nghe rừng thu/ Lá thu kêu xào xạc/ Con nai vàng ngơ ngác/ Đạp trên lá vàng khô?
Hình ảnh, giọng điệu và ngôn ngữ thơ không có gì quá mới lạ. Có chăng cái mới ở đây là tâm trạng của thi nhân. Hình ảnh con nai vàng ngơ ngác/ đạp trên lá vàng khô thời ấy rất phổ biến, đến mức trở thành câu cửa miệng đối với lớp thanh niên trí thức thành thị và từ hơn nửa thế kỷ nay nó đã trở thành biểu tượng cho những người đang trên đường đi tìm lý tưởng sống cho mình, mà loay hoay mãi vẫn chưa tìm được. Có thể nói những thời khắc tâm trạng như thổn thức, rạo rực, xào xạc, ngơ ngác chính là tiếng lòng của những chàng trai, cô gái ở tuổi mới chập chững bước trên con đường đời. Ngay cả một người được coi là có ý chí sắt đá như Tố Hữu cũng không tránh khỏi cảm giác bâng khuâng, ngơ ngác, khi tuổi đời mới đôi mươi: Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước/ Chọn lấy một dòng hay để nước trôi (Từ ấy).
Tâm trạng chới với, hụt hẫng khi thời cuộc đổi thay mau lẹ, khiến những người trẻ tuổi chưa có kinh nghiệm sống dễ bị chao đảo. Họ như bị lạc vào cõi u mê, không biết đâu là thực, đâu là mộng, không nhìn rõ cái gì và cũng không biết điều gì sẽ xảy ra, nên đành chấp nhận làm kẻ đi đêm, sờ xoạng, lẩn thẩn mong sao trời mau sáng: Cái quay búng sẵn lên trời/ Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm (Cung oán ngâm khúc - Nguyễn Gia Thiều).
Thậm chí, đối với Lưu Trọng Lư tiếng gà gáy trưa lại xao xác, não nùng hơn nỗi buồn xa ngái của tiếng gà gáy đêm. Tâm trạng vừa muốn tiến về phía tương lai, nhưng vừa đi vừa ngoái nhìn lại quá khứ, như một thế giằng co ghê gớm được chuyển hóa vào nội lực cá nhân làm cho người thơ không thể nào vượt thoát. Tâm trạng u sầu, dùng dắng ấy là rất phổ biến đối với đại bộ phận thanh niên trí thức lúc bấy giờ, nhưng với thi sĩ họ Lưu nó càng được biểu hiện rõ nét hơn: Mỗi lần nắng mới hắt bên song,/ Xao xác gà trưa gáy não nùng./ Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,/ Chập chờn sống lại những ngày không./ Tôi nhớ me tôi, thuở thiếu thời/ Lúc người còn sống tôi lên mười./ Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,/ Áo đỏ người đưa trước dậu phơi./ Hình dáng me tôi chửa xóa mờ,/ Hãy còn mường tượng lúc vào ra./ Nét cười đen nhánh sau tay áo,/ Trong ánh trưa hè trước dậu thưa. (Nắng mới).   
Hay hình ảnh cô gái hàng xóm có mái tóc hương đồng, ngồi quay tơ, đệt lụa dưới ánh trăng suông cũng làm cho thi sĩ động lòng trắc ẩn, khiến nỗi buồn lan từ mái tóc sang thơ của chàng, để rồi đến một lúc nào đấy nỗi buồn kia chuyển thành nỗi buồn tênh của dòng thời gian hay là của dòng đời thi sĩ buổi giao thời, chắc hẳn chỉ có người thơ mới biết: Vầng trăng từ độ lên ngôi/ Năm năm bến cũ em ngồi quay tơ/ Để tóc vướng vần thơ sầu rụng/ Mái tóc buồn thơ cũng buồn theo/ Năm năm tiếng lụa se đều/ Những ngày lạnh rớt, gió vèo trong cây/ Nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay/ Mùi hương hàng xóm bay đầy mái đông/ Nghiêng nghiêng mái tóc hương nồng/ Thời gian lặng rót một dòng buồn tênh (Thơ sầu rụng).
Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh từng tâm sự: Mỗi lúc buồn đến, tôi lại trở về với Lưu Trọng Lư. Bởi vì thơ Lư nhiều bài thật không phải thơ, nghĩa là những công trình
nghệ thuật mà chính tiếng lòng thổn thức cùng hòa trong tiếng thổn thức của lòng ta.
Nhà văn Nguyễn Đình Thi, nguyên Chủ tịch Hội liên hiệp VHNTVN đã có một nhận xét khá tinh tế, gọn mà đủ về Lưu Trọng Lư: Thơ Lưu Trọng Lư chân thật, hồn nhiên, dịu dàng nhiều bài mình thích.
Có lẽ một trong những mối tình đẹp và cũng xứng với trai tài sắc, gái sắc tài trong giới thi nhân Việt những năm đầu thế kỷ XX là mối tình thơ mộng của chàng thi sĩ họ Lưu với mỹ nữ Phùng Thị Cúc (*)
Trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân, Lưu Trọng Lư được đánh giá rất cao, xếp hàng nhất nhì trong làng Thơ Mới với các bài thơ nổi tiếng như: Nắng mới, Thơ sầu rụng, Giang hồ, Tình điên, Tiếng thu, Còn chi nữa, Xuân về, Một mùa đông, Chiều cổ, Điệu huyền, Thú đau thương, nhưng đáng chú nhất là bài Một mùa đông. Bài thơ vừa như tình thuật, vừa như tự truyện, hồi ký về diễn tiến mối thâm tình thơ mộng mà dang dở bằng thơ của thi sĩ với cô nữ sinh trường Đồng Khánh, Huế, Phùng Thị Cúc.
Khi Phùng Thị Cúc mới là một cô nữ sinh, từ Huế ra Hà Nội học trường Thăng Long. Trên chuyến tàu tốc hành từ Huế ra Hà Nội, cô được người chị là bạn của nhà thơ Lưu Trọng Lư gửi gắm nhà thơ trông nom giùm em gái, với lời dặn thân tình Dọc đường giúp em một chút. Vì chàng thi sĩ họ Lưu hơn cô nữ sinh họ Phùng những 8 tuổi, lại đã từng quen với đất Hà thành từ trước đó khá lâu, nên ra dáng một ông anh và đáng để cho bạn tin cậy, gửi nhờ cô em.
Các cô gái Huế thời ấy thường sang trọng, đài các. Còn Cúc lại là hoa khôi của trường Đồng Khánh, nên sự kiêu kì có thể vì thế mà tăng lên? Với một gương mặt kiều diễm, kiêu sa, một đôi mắt buồn vời vợi, cùng má lúm đồng tiền mỗi khi nhoẻn miệng cười đã hút hồn chàng thi sĩ đa tình, giàu mộng tưởng Lưu Trọng Lư ngay từ phút gặp gỡ ban đầu. Suốt chặng đường dài từ Huế ra Hà Nội, trên tàu hai người chẳng mấy khi nói với nhau. Cúc ngồi im lặng ngắm cảnh dọc đường, còn thi nhân cũng chỉ biết lặng người ngồi ngắm giai nhân.
Con tàu hú còi vào ga Hà Nội. Cúc có vẻ như lo lắng vì lần đầu tới thủ đô. Còn chàng thi sĩ họ Lưu chỉ biết giữ lời bạn dặn rằng đưa em nó đến tận nơi. Tìm đến đúng địa chỉ, Lư đưa Cúc lên tận căn gác nhỏ, lắt léo những bậc cầu thang, nơi những người bạn, người chị của Cúc đang tá túc ở đấy. Sau vài câu dặn dò, chàng bịn rịn chia tay. Chẳng hiểu duyên số thế nào, khi vừa ra đến đường, tình cờ Lưu Trọng Lư gặp thi sĩ Phạm Hầu, một người bạn khi ấy đang học trường Cao đẳng Mỹ thuật, Hà Nội mời vào nhà chơi. Trớ trêu là khi lên gác nhà Phạm Hầu, mở cửa sổ ra, Lưu Trọng Lư giật mình khi nhìn thấy Cúc ở ngay căn phòng đối diện.
Lưu Trọng Lư vốn là người hồn nhiên, thật thà và mơ mộng, nên khi thấy thế ông liền quay vào nói ngay với bạn: Mình ở luôn đây với cậu được không? Được lời như cởi tấm lòng Phạm Hầu đồng ý ngay lập tức, không một chút đắn đo vì ông đâu biết tình ý sâu xa của Lưu Trọng Lư. Thế là chàng thi nhân si tình sung sướng ngây ngất vì được ở cạnh ngắm giai nhân. Suốt mùa đông năm đó, giữa cái giá lạnh của tiết trời Hà Nội nhà thơ đã được sống trong sự ấm áp dịu nhẹ của một mối tình sáng trong, thơ mộng.
Ở bên này cô gái đâu dám vô tình. Bởi ngay lần đầu tiên, khi ông anh dẫn đường cho mình vừa nhìn qua cửa sổ đã bắt gặp đôi mắt Cúc mở to, sững sờ nhìn thi sĩ rồi sau đó bối rối mỉm cười rời khỏi khung cửa. Sau này, thật lạ lùng mỗi khi nhà thơ bất thần mở cửa sổ lại nhìn thấy Cúc khi thì ngồi đọc sách ôn bài, lúc thì đang cắm một lọ hoa hay chẳng làm gì chỉ ngồi suy tư mơ mộng. Chỉ cần nghe một tiếng ho nhẹ, nhà thơ mở hé cửa nhìn sang đã bắt gặp nụ cười bối rối, e thẹn của hoa khôi Đồng Khánh thưở nào. Một lần, không biết vì chuyện gì mà nàng ném sang bên này một cái nhìn hờn giận, trách móc khiến nhà thơ ngơ ngẩn mấy hôm liền.
Thế rồi chẳng hiểu từ bao giờ hình bóng cô nữ sinh xứ Huế cao sang và kiêu sa ấy đã
in đậm trong tâm trí chàng thi sĩ đa tình và trở thành nguồn cảm hứng cho việc ra đời nhiều tác phẩm thi ca, trong đó có bài thơ Một mùa đông. Bài thơ như một The love story (thiên tình sử) đầy mộng và thơ. Riêng nỗi đau của thi nhân là có thật. Bài thơ được cấu tứ làm 4 đoạn diễn tả và lý giải vì sao người thơ buồn, một nỗi buồn sáng trong đến thánh thiện. Kể từ lần đầu gặp em, rồi suốt quá trình đeo bám tận đến ngày tiễn biệt em lên tàu sang Pháp chữa bệnh và cũng là sang một bến bờ mới tình yêu và vĩnh viễn anh mất em, nếu còn chỉ là trong tâm tưởng: Thuyền yêu không ghé bến sầu/ Như đêm thiếu phụ bên lầu không trăng/ Hãy như chiếc sao băng băng mãi/ Ðể lòng buồn, buồn mãi không thôi.
Sinh thời nhà thơ Lưu Trọng Lư có kể lại rằng, sau một thời gian hai người quen biết và sống gần nhau, tình cảm cũng vì thế mà gắn bó hơn. Một lần hai người đi chơi chùa Thầy cùng với một số bạn bè. Sau một hồi leo núi, vãn cảnh chùa, chẳng hiểu ông Trời xui khiến thế nào để lại chỉ có chàng và nàng đi bên nhau trong sự bẽn lẽn, ngập ngừng, ai cũng biết mà chẳng ai tiện nói ra lúc này. Đến trưa mọi người cùng trở lại tụ tập nơi sân chùa ăn trưa với gà quay và rượu vang Pháp. Cúc uống vài li rượu vang nho khiến đôi má ửng hồng và cặp môi nhuốm màu nho chín. Trán mỹ nhân buông vài lọn tóc đen nhánh cứ xõa mãi vào tâm chí nhà thơ. Để rồi vào một ngày đẹp trời tất cả hình bóng người con gái ấy đã tạo nên một tuyệt phẩm thi ca với những hình ảnh và câu thơ rất cụ thể, thực sự đã ám ảnh bao người, nhất là đối với những ai đang say trong mối tình đầu.
Mọi cuộc tình kết thúc có hậu âu cũng là chuyện thường tình, nhưng chỉ là sự được việc mà thôi. Mà đã chăm chăm để được việc thì còn lấy đâu ra mộng đẹp, tình thơ nữa. Hồ Dzếnh, một thi sĩ cùng thời, kém Lưu Trọng Lư 4 tuổi, đã rất có lý khi ông cho rằng: Tình chỉ đẹp những khi còn dang dở… Thế nhưng, có lẽ bởi chính cái sự dang dở ấy giữa thi sĩ họ Lưu và mỹ nhân Phùng Thị Cúc, mà hậu thế mới được tận hưởng câu chuyện tình bằng thơ vừa mơ mộng, vừa vời vợi buồn đến tan nát lòng nhau, để đến khi hai người gặp lại nhau (1975) chàng đã ngoại lục tuần, còn nàng cũng đã ở tuổi 55 trong tư cách là nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị không chỉ nổi tiếng ở Pháp, mà còn nổi tiếng khắp châu Âu.
Thế mới hay câu trai anh hùng, gái thuyền quyên luôn đúng, cả trong cuộc đời cũng như trong thi ca và mãi vẫn là niềm mơ ước của biết bao người.
Tham khảo:
(*) Phùng Thị Cúc sinh ngày 18/8/1920 tại làng Châu Ê, xã Thủy Bằng, ven đô Huế, quê nội ở xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Cúc là con ông Phùng Duy Cẩn từng làm quan triều Nguyễn, có thời làm tham công chỉ huy việc xây lăng Khải Định. Mồ côi mẹ từ lúc 3 tuổi, Cúc theo cha lên sống ở Tây Nguyên. Cúc đã đi khắp các tỉnh vùng cao nguyên trung phần này ròng rã 9 năm, rồi mới trở lại  Huế học trường Đồng Khánh.
Năm 1946, cô theo học Nha khoa, Đại học Y Hà Nội, ngay khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày toàn quốc kháng chiến, tân sinh Phùng Thị Cúc ra vùng tự do phục vụ cho cách mạng. Vì một cơn bạo bệnh, cô được đưa sang Pháp điều trị. Tại Pháp sau khi khỏi bệnh, Phùng Thị Cúc tiếp tục theo học và tốt nghiệp bác sĩ nha khoa. Sau đó cô đã kết hôn với bác sĩ Bửu Điềm. Có lẽ vì thế mà cái tên Điềm Phùng Thị ra đời từ đó.
Tuy nhiên đến tuổi 30, cuộc đời Phùng Thị Cúc lại rẽ sang một lối khác. Người bác sĩ trẻ này tìm đến với nghệ thuật điêu khắc. Và phải mất tới 16 năm sau nữa, bà mới có cuộc triển lãm đầu tiên. Bà được bầu là Viện sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm khoa học, văn học và nghệ thuật châu Âu và được đưa vào danh sách những tài năng lớn của nghệ thuật thế kỷ XX trong từ điển Larousse của Pháp. Những năm cuối đời bà quay về sống ở quê hương và đã mất ở Huế năm 2002.
ĐỖ NGỌC YÊN
Nguồn:Newvietart.com/
Theo http://vanvn.net/

Tình thu

 Tình thu
Bây giờ đã vào Thu, khí trời thay đổi, lòng người do đó cũng có phần đổi thay. Nhớ buổi nào hãy còn là những ngày hè nắng rực, cây lá xanh tươi, trăm hoa khoe sắc. Con người vì thế cảm thấy vui tươi năng động. Giờ thì Thu đã tới, rừng cây với đầy lá vàng bao phủ; thỉnh thoảng lại có một vài làn gió lành lạnh hây hây thổi vỗ nhẹ vào má khiến tâm hồn ta cảm thấy lâng lâng và mơ mộng. Tha nhân do ảnh hưởng của ngoại cảnh nên có những nỗi buồn vẩn vơ man mác.

So với các tiết quanh năm thì mùa Thu quả thật chẳng có gì vui, Thu thiếu hẳn cái tươi thắm của Xuân; không rực rỡ như Hè; trời Thu lại ảm đạm; trăng Thu nhạt và tình Thu thì chao ôi! Buồn ơi Thu vẫn cô đơn là buồn. Và, có lẽ không còn nổi buồn nào da diết bằng giữa đất khách quê người, một mình ngồi trong căn phòng vắng lạnh, vừa độc ẩm vừa thưởng thức những điệu tình buồn tỉ: Mùa Thu Paris của Phạm Duy, Em ra đi mùa Thu của Phạm Trọng, Thu Sầu của Lam Phương, đặc biệt khi được lắng nghe tiếng ca vượt thời gian của nữ ca sĩ Thái Thanh qua nhạc bản Buồn Tàn Thu của Văn Cao thì cảm thấy tâm hồn lắng đọng, lòng lại tự hỏi lòng rồi kêu trời! Ôi! Sao cái buồn ở xứ người nó lại quá thấm thía và ghê rợn đến thế.

Thu quả thật là buồn, ấy vậy mà lắm văn nhân thi si, đặc biệt với những ai vốn chịu ảnh hưởng văn chương lãng mạn của Pháp, họ thường đua nhau ca tụng mùa Thu. Nhiều áng văn, lắm bài thơ trữ tình bất hủ xuất phát từ nguồn cảm hứng về Thu mà sáng tác và được nhiệt liệt ngợi khen.
Có lẽ Thu sở dĩ được ca tụng vì trong bốn mùa quanh năm nó là một mùa mà cảnh vật có nhiều đổi thay nhất. Cũng vì nguyên nhân đó khiến mùa Thu đã gây nhiều xúc cảm. Niềm cảm xúc đó chính là sự chia ly, xa cách, khắc khoải và trông chờ. Thế nên khi diễn tả về Thu, thi nhân thường cho đó là mùa đau thương nhung nhớ. Và khi đã nói đến Thu mà không bàn đến chuyện thi ca thì quả thật đó là một điều thiếu sót quá lớn. Vậy quý độc giả hãy thử xem, từ Á sang Âu, từ Đông sang Tây, chúng ta thấy thi nhân đã diễn tả nỗi niềm nhung nhớ về Thu như thế nào.
Thu, theo nữ sĩ Tương Phố bà viết, Thu là tất cả và ở khắp nơi. Nó từ màu trời, màu đất, nhiều màu thuộc cỏ cây hoa lá, và nó ở ngay trong lòng người. Vì vậy trong bài "Giọt lệ thu"
, nữ sĩ  đã viết:
Trời Thu ảm đạm một màu
Gió Thu hiu hắt thêm sầu lòng em
Trăng Thu bóng ngả bên thềm
Tình Thu ai để duyên em bẽ bàng.
Một bài khác, khóc vì cảnh tử biệt chồng, nữ sĩ đã dùng đến cảnh thê lương ảm đạm của mùaThu nức nở viết:

Anh ơi!
Thu về như gợi nhớ mối thương tâm
Mỗi độ Thu sang em lại võ lòng than khóc
Mỗi năm có một lần Thu
Như Thu năm nay đi, năm sau còn trở lại
Hỏi, ba năm hương lửa
Thì ái ân kia dễ mấy kiếp hẹn hò nhau
Chẳng hay cơ trời dâu bể vì đâu?
Xui nên chăn gối vừa êm
Sắt cầm dìu dặt ngón đàn
Bỗng ai xô lộn
Bình tan gương vỡ
Cho người lỡ duyên
Trong "Đoạn Trường Tân thanh", mặc dù mối tình giữa nàng Kiều và Thúc Sinh, một chàng trai sợ vợ xem ra chẳng có gì là mặn nồng và say đắm cho lắm. Tuy nhiên, cụ Nguyễn Du vẫn thi vị hóa cảnh chia tay bằng cách lấy cái buồn man mác của Thu làm bối cảnh để tả cuộc chia ly của hai người:
Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong Thu đã nhuộm màu quan san
Đạm hồng bụi chốn chinh an
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh
Người về chiếc bóng năm canh
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xuôi
Vừng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa in dậm trường.
Tả cảnh biệt ly và nhắc đến sự chia tay thì bao giờ cũng thấy có sự buồn thảm. Thử gợi lại cảnh chia tay giữa chinh nhân và hiền nội trong "Chinh phụ ngâm", tuy sắc thái của Thu chỉ phảng phất và bàng bạt đâu đó, tuy nhiên tác giả cũng vận dụng ý Thu để nói cho ta biết, khi chàng ra đi, thì chim oanh chưa về, hoa mai chưa nở, nhưng trời Thu vẫn là nhân chứng của sự chia ly và cảnh tiễn đưa một chén quan hà vì thế thi nhân đã viết:
Thuở lâm hành (lúc ra đi) oanh chưa bén liễu
Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca
Nay quyên đã giục oanh già
Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo
Thuở đăng độ mai chưa dạn gió
Hỏi ngày về chỉ độ đào bông
Nay đào đã quyến gió đông
Phù dung lại nở trên sông bơ phờ.
Một đoạn khác trong "Chinh Phụ Ngâm", thi nhân lại sử dụng hoa cúc vàng, một loại hoa nở vào mùa Thu đễ diễn tả nổi niềm nhung nhớ khắc khoải của cảnh chia ly:
Xót người lần lữa ải xa
Xót người nương chốn hoàng hoa dậm dài
Một tiểu đoạn trong "Cung Oán Ngâm Khúc", dù tác giả không nói đến cảnh bẽ bàng chia ly của đôi lứa như ở "Chinh Phụ Ngâm" diễn tả những tình tiết về chàng, vì nghĩa vụ nhẹ bước chinh yên, còn nàng thì ở tại nhà chờ trông ngày về. Trái lại những vần thơ trong bài Cung Oán lại chỉ tả người cung nữ bị vua phế bỏ vì đã phải gặp cảnh liễu chán hoa chê, cái buồn khổ của người cung nữ trong cảnh cô đơn: mới ngày nào đó ở gác Thừa Lương còn được vua sủng ái, cùng với vua hoan hỉ yến ẩm đàn ca xướng hát. Nay trong cảnh cô liêu vò võ mơ màng trong gió Thu hiu hắt. Cảnh Thu một lần nữa đã lộ nét:
Đền Vũ Tạ, nhện giăng cửa mốc
Gác Thừa Lương, ngủ thức Thu phong.
Với thơ Đường, thi ca thịnh đạt nhứt trong lịch sử văn học Trung Hoa thì người Tàu thường dùng nguồn cảm hứng của Thu đễ sáng tác. Một bài thơ nổi tiếng, diễn tả về cuộc chia tay tại bến Tầm Dương mà khách chủ đã cùng nhau gợi lại những khúc ca cũ (trúc ty) lấy Thu làm bối cảnh, Bạch Cư Dị viết và Phan Huy Vịnh dịch:
Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi Thu lau lách đìu hiu
Người xuống ngựa khách dừng chèo
Chén quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc ty.
Ở cổ văn, làm thơ để mô tả khung cảnh thiên nhiên và lòng người, thi nhân thường hay sử dụng đến phần ước lệ. Tả đến mùa nào, thì đã có thức của mùa ấy. Ví dụ, Xuân phải nhắc đến hoa Mai, Hạ đã có Lan, Thu có Cúc và mùa Đông thì đã có Trúc. Riêng mùa Thu, ngoài hoa Cúc, vẫn còn nhắc đến lá ngô đồng qua câu:
Ngô đồng nhất diệp lục
Thiên hạ cộng tri Thu
(Một khi thấy lá ngô đồng rụng, ấy là dấu hiệu của mùa Thu tới.)
Người làm thơ mới như Xuân Diệu, khi tả cảnh mùa Thu vẫn phải nhắc tới lá ngô đồng. Thi nhân viết:
Ô hay! Vàng rơi cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi thu mênh mông
Tuy cùng là gió, nhưng gió Thu còn được gọi là "Kim Phong" hay gió Tây, vì mùa Thu thuộc Kim và theo Ngũ hành trong Kinh Dịch, Thu thuộc hướng Tây, vì vậy mới gọi gió Thu là gió Tây. Gió Tây thường mang cái lạnh từ miền Tây Bá Lợi Á về nên rất lạnh vì thế ca dao mới có câu:
Ra về để lại áo đây,
Để khuya em đắp gió Tây lạnh lùng.
Không những ở cổ văn thi nhân mới tả Thu với những nổi niềm nhung nhớ của nó. Ngay cả loại thơ nửa cổ điển, nửa có mang màu sắc lãng mạn mà Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu là tiêu biểu, thì tiên sinh cũng đã sử dụng bút pháp tài tình của mình để nói về Thu hầu diễn tả cái buồn, sầu cô đơn khắc khoải của mình. Ông viết:

Ngọn gió Thu phong rụng lá vàng
Lá bay hàng xóm, lá bay sang
Vàng bay mấy lá, năm già nửa
Hờ hửng ai xui thiếp phụ chàng.
Hay:
Ngọn gió Thu phong rụng lá hồng
Lá bay tường Bắc lá sang Đông
Hồng bay mấy lá, năm hồ hết
Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng trông.
Ở bốn câu đầu tác giả muốn nói đến cảnh ngộ của người hàng xóm để so với hoàn cảnh của mình mà cảm thấy buồn. Nhà người ta thì sum họp đầm ấm, trái lại mình thì"vàng bay mấy lá",Thu đã đến, lại già thêm nửa năm rồi mà tại sao nàng nỡ hờ hửng và lạnh lùng đến thế?
Trong bốn câu sau, thi nhân càng viết rõ, đầu Thu lá vàng, cuối Thu thì lá lại hồng. Từ xanh trở vàng qua đỏ. Qua thật thời gian trôi nhanh quá nhỉ. Mới đó "vèo" một cái đã hết năm. Nàng thì đã dứt khoát phụ chàng, trái lại thì chàng vẫn còn thẩn thờ đợi trông. Buồn quá nhỉ.
Có thể nói nhà thơ Tản Đà là người mở đầu phong trào thi ca lãng mạn trong văn học Việt Nam. Song, ở một vài bài thơ khác, tiên sinh cũng không quên những hình ảnh mang tính cách ước lệ trong khi diễn tả về Thu, thi nhân viết:
Từ vào Thu đến nay
Gió Thu hiu hắt
Sương Thu lạnh
Trăng Thu bạch
Khói Thu xây thành
Lá Thu rơi rụng đầu ghềnh
Sông Thu đưa lá bao ngành biệt ly
Nhạn về, én lại bay đi
Đêm thì vượn hú, ngày thì ve ngâm
Lá sen tàn tạ trong đầm
Nắng mang giọt lệ âm thầm khóc hoa.
Như đã nói trên, hể muốn nói đến bốn mùa, tác giả thường phải kèm theo Mai, Lan, Cúc, Trúc. Và, nói đến Thu thì không thể nào quên sương, khói. Sương, khói trong thơ mới của Tản Đà một phần nào đã phảng phất khói của Thôi Hạo trong hai câu:
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử muôn sầu
Tản Đà dịch:
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.
Trong phần đầu, người viết đã cho rằng, có lẽ vì chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn chương Pháp, vì thế một số thi nhân Việt Nam mà đặc biệt là các nhà văn tiền chiến thường ca tụng mùa Thu. Đọc bài Ý Thu của Xuân diệu, ta thấy phảng phất đâu đây những vần thơ bất hủ của Anatole France qua Pensée d'Automme.Theo Anatole thì Thu là mùa lá rụng, những chiếc lá vàng rơi rụng phủ đầy các pho tượng trưng bày trong công viên Luxembourg, và cuối cùng thì những chiếc lá vàng đó theo thời gian đã mục nát tưởng như hàng trăm ngàn đôi chân vô tình chà đạp và dẫm lên nó. Thi sĩ Xuân Diệu trong Ý Thu, tương tự cũng đã viết:
Bị nhầu ai tưởng dưới trăm chân
Đi xa hơn Anatole, Xuân Diệu còn viết để diễn tả: Xuân hết, Hè lại qua, hoa tàn nhụy đã héo mà Hè hết, thì tiếng ve sầu cũng tắt theo. Khác với nữ sĩ Tương Phố tả trong cổ văn, bà chỉ nói gió Thu hiu hắt. Trái lại trong trường phái lãng mạn, thi sĩ Xuân Diệu vì quá đa cảm nên hỏi thẳng:Chắc rằng gió cũng đau thương chứ?Thi nhân viết:                       
Những chiếc hồn buông trong lá rụng
Bị nhàu ai tưởng dưới trăm chân
Bông hoa rứt cánh, rơi không tiếng
Chẳng hái mà hoa vẫn hết dần
Dưới gốc nào thấy đâu xác ve
Thế mà ve đã tắt theo hè
Chắc rằng gió cũng đau thương chứ
Gió vỡ ngoài kia, ai có nghe?
Hôm nay tôi đã chết trong người
Xưa hẹn nghìn năm yêu mến tôi
Với bóng hình xưa tăm tiếng cũ
Cách xa chôn hết nhớ thương rồi
Yên vui xây dụng bởi người quen
Muốn bước, trang đời phải dẫm trên
Muôn tiếng kêu than thầm lẳng lặng
Nhưng hoa có thể cứ lâu bền
Ờ nhỉ! Sao hoa lại phải rơi
Đã xa sao lại hứa yêu hoài
Thực là dị (*) quá, mà tôi nữa
Sao nghĩ làm chi chuyện nhạt phai!
(* dị, tiếng người Huế thường dùng hay cho tiếng kỳ cục)
Đọc xong Ý Thu, ta thấy tác giả cho rằng Thu là xa cách, là đau thương nhung nhớ, chính nó đã đạp dẫm trên nổi khổ đau và làm tê tái lòng người. Nhưng dù sao hoa vẫn là hoa mãi. Chắc chắn đó không phải loại hoa nhân tạo, hoa vải hay hoa giấy, vì hai loại nay không tàn héo hay rơi rụng mà chỉ cũ đi, và sau cùng chỉ có tình yêu mới là hoa bền lâu.

Hầu hết trong các văn thơ tiền chiến, ta thấy chưa có ai diễn tả Thu  vui, Thu tươi sáng, mà toàn là những nổi buồn nhớ nhung man mác. Do ảnh hưởng quá sâu đậm của hai nền văn học Tây cũng như Tàu. Tây thì từ Lamartine, Verlaine, Valery. như những nổi buồn của René (La mélancolie de René), của Chanson d'Automme cho đến Guillaume Apolinaire v.v... thì làm sao Thu mà vui cho được. Riêng thơ của Tàu, từ Trương Kế cho đến Thôi Hiệu hay Lý Bạch, Thu chỉ có lạnh lẻo và bẽ bàng. Mời độc giả hảy liếc nhìn qua bài Phong Kiều Dạ Bạc, tạm dịch "đổ thuyền ở Phong Kiều" của Trương Kế, độc giả sẽ thấy Thu lại càng lâm ly bi đát hơn; thi nhân viết:
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên     
Cô tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền  
Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Hàm Ninh, thường bị nhầm là của Tản Đà:
Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
Có điều đáng nói, là thơ Tây (Pháp) khác hẳn với lối thơ xưa của ta cũng như Tàu, thơ của họ thê lương ảm đạm vô cùng. Thu buồn đến nỗi mở miệng mà nói không ra lời nên Hàn Mạc Tử đã viết:
Ấp úng không ra được nửa lời
Tình Thu bi thiết lắm Thu ơi
Vội vàng cánh nhạn bay đi trớt
Hiu hắt hơi mây thoáng lại rồi
Nằm gắng đã không thành mộng được
Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi
Ngàn trùng bóng liễu trong xanh ngắt
Cảnh sắp về Đông mắt lệ vơi.
 
Ngoài ra, xin đơn cử thêm một vài vần thơ của Guillaume Apollinaire, một thi sĩ người Pháp viết bài L'Adieu để tặng người yêu, nàng Marie Laurencin, và nhạc sĩ Phạm Duy đã dịch ra tiếng Việt trong nhạc bản "Mùa Thu chết" đễ thấy Tây họ tả Thu một cách bi thảm như thế nào. Apollinaire viết:
J'ai cueilli ce brin de bruyère
L'Automme est morte, souviens-t'en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temp brin de bruyère
Et souviens-toi, que je t'attends!
Nhạc sĩ Phạm Duy dịch và phổ nhạc:
Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
Em nhớ cho mùa Thu đã chết rồi,
Mùa Thu đã chết em nhớ cho, 

Em nhớ cho chúng ta chẳng còn nhìn nhau nữa
Trên cõi đời này, từ nay mãi mãi không thấy nhau!
Ôi ngát hương, thời gian mùi thạch thảo.
Em nhớ cho rằng ta vẫn chờ em, vẫn chờ, vẫn đợi em.
(Nhạc sĩ Phạm Duy dịch và phổ nhạc đã hay, thêm với giọng hát ngọt ngào êm dịu của Họa Mi quả thật Mùa Thu chết là một bản nhạc bất hủ.)
Nói đến thi văn mùa Thu, mà quên Lưu Trọng Lư, đó là điều thiếu sót quá lớn. Lý do: thứ nhất, thi nhân quá yêu mùa Thu, nên đã soạn hẳn một tập thơ với đề tựa "Tiếng Thu", thứ hai, thơ Lưu Trọng Lư cũng phảng phất đâu đó ý thơ của Verlaine qua bài "Chanson d'Automme", đặc biệt, từ trước đến giờ chưa có thi nhân Việt Nam nào nói đến Thu mà có tả hình con nai, mà lại một con nai vàng ngơ ngát. Hình ảnh những vần thơ nầy, gần nửa thế kỷ nay đã trở nên một "thành ngữ" trong những câu nói thường nhật của người Việt. Mời quý vị xem tác giả mô tả Tiếng Thu như thế nào mà khiến ông đã nỗi tiếng:
Em không nghe mùa Thu
Dưới trăng mờ thổn thức
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người chinh phụ
Em không nghe rừng Thu
Lá Thu kêu xào xạt
Con nai vàng ngơ ngát
Đạp trên lá vàng khô!
Mơ mộng như thi sĩ họ Lưu, có lẽ không thể nào không buồn khi thấy Thu tới lá vàng rơi rụng, thế nên trong bài Mùa Thu Lá Rụng ông đã viết:
Lòng anh như nước hồ Thu lạnh
Quạnh quẽ đem soi bóng nguyệt tà
Ngày tháng anh mong chầm chậm lại
Hửng hờ em mặc tháng ngày qua.
Nói đến nai trong Tiếng Thu Lưu Trọng Lư, chúng ta chớ nên lầm lẩn với nai của Huy Cận trong Rừng Thu. Vì nai của Lưu Trọng Lư thì trong mùa Hạ nó lên vùng cao kiếm ăn, mùa lạnh nó lại trở xuống vùng thấp cho đỡ lạnh, do đó mới có thành ngữ "con nai vàng ngơ ngác" (mới trở về, lạ chỗ nên ngơ ngác) Huy Cận thì khác hẳn, nai của thi nhân thì rõ hơn, đó là loại nai vùng cao, gót chân thường lẫn trong sương mờ, lần bước đi theo những nẻo đường quen thuộc. Trong "Rừng Thu"  Huy Cận viết:
Bỗng dưng buồn bả không gian
Mây bay lũng thấp giăng màn âm u
Nai cao lần gót sương mù
Xuống rừng nẻo thuộc nhìn Thu mới về
Sắc trời trôi nhẹ dưới khe
Chim đi lá rụng cành nghe lạnh lùng
Sầu Thu lên vút song song
Với cây hiu quạnh với lòng quạnh hiu
Sắc xanh ngày cả buồn chiều
Nhân gian e cũng tiêu điều dưới kia (Lửa Thiêng)

Theo các nhà thơ Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử, Lưu Trọng Lư và Huy Cận khi tả Thu các thi sĩ trên chỉ nói đến sự  buồn bã, đơn côi. Đó vì chịu ảnh hưởng của Pháp trong thơ mới và ước lệ trong thơ cũ. Trong khi đó thi sĩ Hồ Dzếnh khi nói đến Thu, thi nhân mô tả Thu rất Việt Nam. Bài Mùa Thu năm ngoái, (riêng chữ năm ngoái thôi cũng đã thấy rất nôm na, mộc mạc của người nhà quê Việt Nam và dễ yêu) ông viết:
Trời không nắng cũng không mưa
Chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ nhung
Ông tiếp:              
Đâu hình tàu chậm quên ga
Bâng khuâng gió nhớ về qua lá dày
Dù một chút nhớ thôi, nhớ một cách bâng khuâng nên dù tàu chạy chậm đâu có nhanh lắm thế nhưng thi nhân hình như đã quên hẳn nhà "Ga" nên ông lại viết:
Tất cả một mùa thơ
gió mây đưa buồn lắng xuống
Cả lòng tôi, với cả lòng cô
Có một nghìn cây rũ rượi buồn
Dăm thân thiếu nữ gầy như trúc
Đứng chịu tang trời đổ bóng đơn
Thu xa bằng gió bằng mây
Không gian thở nhẹ, buồn vây chìm chìm
Lòng không ai cấm mà im
Không nhưng bổng nhớ, không tìm bổng mong
Nơi tôi còn ít lá lòng
Chiều nay rơi nốt vào trong lá rừng.
Thơ văn mà các thi nhân Việt Nam viết để ca tụng mùa Thu còn quá nhiều. Trong khuôn khổ hạn hẹp của một bài viết, khó mà diễn tả cho hết cái hay, cái đẹp và cái tinh túy khắt khoải của Thu. Người viết chỉ biết và góp nhặt được một phần rất hạn hẹp, và ước mong độc giả bốn phương cùng nhau ôn lại nguồn cảm hứng của các thi nhân đã dày công sáng tác để tích lũy và góp thêm vào kho tàng văn học Việt Nam.
Phùng Ngọc Sa
Theo https://tinparis.net/


  Cái Tôi của Phạm Duy  trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...