Thứ Ba, 31 tháng 1, 2023

Ước mơ của Nguyệt

Ước mơ của Nguyệt

Sài Gòn vào hạ, trời chợt mưa chợt nắng. Thi thoảng vài cơn giông như hối thúc lòng người, như hù dọa những kẻ yếu tim.Trời nổi gió, rồi cơn mưa đến bất chợt, đất chưa kịp thấm ướt,nhưng cũng vừa đủ tưới đều cái xác thân rã rời của Nguyệt. Trên con đường trở về nhà, lối dành cho xe máy, Nguyệt điều khiển tay lái với tốc độ ì ạch, lơ đễnh. Nước mắt hay nước mưa từng dòng rơi xuống. Một taychị cố giữ cho xe thăng bằng, một tay đưa ra phía sau, chị cố gắng luồn vào từng ngón tay nhỏ bé của con gái, như tìm một làn hơi ấm.
Nguyệt lắng nghe từng vị mặn ở đầu lưỡi, cái vị mằn mặn, mà chị nghĩ sẽ không bao giờ tự nhiên tác động, quấy rối mình. Nó có thể bắt đầu bằng những cảm xúc, những rung động từ tận cùng phế phủ. Chị biết, chị đang khóc, chị đang trong trạng thái rất yếu đuối. Cảm giác đang hiển hiện tồi tệ ấy, không phải là con người của chị, chị không bao giờ muốn rơi một giọt nước mắt nào, phương châm sống của chị là phải đấu tranh, phải vươn mình đứng dậy, phải là chính mình không lệ thuộc vào bất kỳ ai. Dù sự xa xót vẫn luôn khiến chị mủi lòng, xúc động.
Nhà văn trẻ Hồ Xuân Đà với tác phẩm 
“Bồ công anh nhỏ” mới xuất bản
Nhưng hình như từ sâu thẳm của tư duy, thường xuất hiện một thứ tình cảm, mà lý trí đành phải bất lực, Trên mặt phẳng của trí tuệ, chị thường tri kiến với chính mình. Rằng phải giải phóng năng lượng của bản thân để phụng sự cho tha nhân. Chị không coi tình yêu cá nhân là tất cả của đời mình nữa, chị muốn sống cho lý tưởng, cho ước mơ. Đôi khi Chị muốn chuyển dịch trong cái motus orbicularis (chuyển động lượn vòng), giống như sự chuyển động lượn vòng của một con Diều hâu bên trên một cái gì cám dỗ vô hình. Rồi Chị quyết định, muốn làm một điều gì đó, để xây dựng xã hội, muốn mình không chỉ bằng lòng với bữa cơm, cái tấm áo, những ham muốn đời thường.
Từ những hoài bão, ước mơ, đã thai nghén và nuôi lớn dần theo tỉ lệ thời gian. Nguyệt đến với con đường văn chương một cách say mê, đầy nhiệt huyết với tâm niệm tự cứu rỗi chính mình, chia sẻ những trải nghiệm có được bằng những sai lầm được nuôi bằng nước mắt để tồn tại và thành công ấy, đến với những người phụ nữ khác. Là một người đàn bà tự lo kinh tế cho gia đình, tự vào bếp chăm chút từng những điều nhỏ lẻ nhất cho các con, chừng đó thôi đã ngốn hết thời gian, chỉ cần tạm ổn là người ta đã cho rằng hoàn hảo rồi, chị lại thêm bôn ba với con chữ.
Hàng đêm, gát tay lên trán chị luôn ưu tư khắc khoải, câu chuyện này, mảnh đời kia buồn quá, những đứa trẻ nọ cô đơn bất hạnh, những gia đình đìu hiu, những cuộc tình ma mị, những cám dỗ đời thường. Con người yếu đuối, không đủ sức tự vượt qua  những cạm bẩy, là những bài toán khó của cuộc đời. Là vòng tuần hoàn, mà chu vi không biết giới hạn ở đâu. Khi tâm của nó thì có thể ở mọi nơi.
Chị đau đáu trước những vấn đề thời cuộc, phận đàn bà lo chuyện của vĩ nhân, của sinh tồn loài người, nghe sao thật xa xỉ. Mỗi khi, ngồi trong một nhóm bạn, chị đem những ước mơ, những lý tưởng của mình tâm sự, trước việc muốn thay đổi điều gì đó cho xã hội, trông chị thật khác người. Bạn bè chị, ngay cả người thân, đều mỉm cười lơ đi, chị cô đơn, loanh quanh trong mớ hỗn độn của chính mình. Chị tiếc thay ở nơi những con người không lãnh hội được, sự thiếu tâm hồn cởi mở và có lẽ thiếu cả chiều sâu, để thông hiểu bất cứ điều gì. Nếu đó không phải cách sống quen thuộc của họ.
Chị thất vọng, chán nản. Chị chẳng buồn chải tóc, ngồi nốc từng ngụm rượu gạo, rồi nửa đêm nôn thốc nôn tháo. Đêm ấy, chị cứ tưởng, mình chết đi thật rồi, cả lý tưởng, tâm hồn và thể xác rã rời. Mùi rượu, mùi tanh chua, chỉ khiến người ta muốn ói khi nhìn cảnh tượng lầy nhầy, chát đắng của một con đàn bà bất đắc chí, không tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống. Nóng hầm hực, như búa bổ vào từng sợi dây thần kinh, nghe như tiếng đứt ra từng đoạn một. Lổn nhổn, láo nháo.
Không biết rồi Nguyệt sẽ xoay sở với những mớ bòng bong, hỗn tạp ấy. Chuyện đời, chuyện người, chuyện sống với ước mơ từ thuở bé ra sao.
Nguyệt cố gắng đào xới, từ trong tiềm thức sâu thăm của chính mình. Những mối liên hệ tinh thần, tình cảm, Ôi có ý nghĩa gì, đó cũng là một mớ từ ngữ được người đời sử dụng một cách khinh xuất. Nhưng khi đã đối mặt thực tế với cuộc sống. Hẳn sẽ e dè trước sự mơ hồ, ma mị của nó.
Để trở thành một nhà văn, trở thành một người dám nói lên tư tưởng, nguyện vọng của mình, như một người nói thay nhiều người, như một nhân chứng của thời cuộc. Chị miệt thị cho cái khao khát không tưởng ấy, bản thân chị còn chưa lo xong cái thân của mình, thì lấy bản lĩnh gì để làm những điều to tát cho thiên hạ kia. Khát khao của một người phụ nữ dừng lại đơn giản vậy thôi sao?
Vài tháng sau, một người chị hàng xóm, sát bên nhà qua đời, vì căn bệnh ung thư cổ tử cung. Trước đó, cứ mỗi năm một sự cố lần lượt đè xuống gia đình tội nghiệp này. Lần lượt, đưa người chồng và hai đứa con trai qua đời, vì những căn bệnh của thế kỷ và tai nạn giao thông, chỉ trong vòng ba năm.
Nguyệt qua thăm, theo đúng tinh thần bà con xa không bằng láng giềng gần. Nguyệt cầm lấy tay chị, nước mắt tự nhiên rơi ào ào, không cách nào ngưng lại, dù không là tình thân, không là máu mủ, chỉ với tình làng nghĩa xóm, giữa con người với nhau. Nhìn người đàn bà bệnh hoạn, đôi gò má da bọc xương, bụng dưới đau từng cơn khô khốc đang cào xé tấm thân tội nghiệp, bà ta nằm nghiêng quay mặt vào sát bên tường, như cố nén lại từng cơn đau không muốn ai nhìn thấy. Tâm trạng của một con người khi bế tắc, vượt ngoài sức chịu đựng của thân xác, không còn muốn sống nữa, miệng luôn xin những viên thuốc ngủ để an giấc nghìn thu, không muốn vì mình mà đề thêm gánh nặng cho đứa con gái út đơn độc đi tiếp trên quảng đường đời còn lại.
Những hình ảnh đó, mãi luôn ám ảnh trong tâm trí Nguyệt. Một cuộc đời chỉ ngắn vậy sao? Một cuộc đời đau khổ đến thế sao? Dù rằng, người ta vẫn thường nói trên đời này đàn ông luôn là trụ cột, và đàn bà được sinh ra là món quà của thượng đế trao tặng. Cái chết này, cảnh tang gia của một người đàn bà quanh năm chăm sóc chồng con, cái bếp, cái quần, cái áo không dám mặt cho đẹp, ki cóp từng đồng, vỗ về từng giấc ngủ, khóc lóc, cầu nguyện bao lần, muốn ngất đi. Mà cuộc đời có tha thứ đâu, chồng con toàn dính vào tệ nạn xã hội, ngay cả chính mình thì định mệnh cũng ban cho cái án tử của căn bệnh ung thư. Người đàn bà hàng xóm ấy chết không hề nhắm mắt, dù hết người này, đến người kia vuốt mặt, van vái. Mãi đến chiều tối đứa con gái Út duy nhất còn lại nói bước đến gần bên mẹ thổn thức:
– Mẹ cứ đi đi, con hứa sẽ xóa hết mấy cái hình xăm trên người, rồi con sẽ lấy chồng, con không ở một mình đâu. Mẹ hãy yên lòng mà nhắm mắt đi theo ba và hai anh. Con sẽ sống tốt. Sẽ ổn thôi mà!
Cô bé vừa nói xong, như một phép lạ, đôi mắt người mẹ từ từ khép lại. Người của trại hòm cùng bà con, họ hàng tiến hành khâm liệm. Chẳng nhiều người thân ruột thịt, nhưng có rất nhiều người khóc.Họ nhìn lên những di ảnh của những người đã khuất trong nhà mà lặng yên không ai nói với ai lời nào. Chỉ lặng lặng phụ con bé gái lo chuyện ma chay cho người mẹ suốt một cuộc đời lam lũ, bất hạnh.
Bữa chợ hôm sau, mấy bà hàng quán gặp Nguyệt hỏi thăm, đủ thứ điều về chuyện của cái đám tang người hàng xóm ấy, rồi họ xót xa, thương cảm, lo lắng cho tương lai cô con gái út, đơn độc bước đi trong cuộc đời đầy cám dỗ. Rồi họ tiếp tục buôn chuyện, xì xào đến hoàn cảnh của vợ chồng bà Tám bán bún riêu, rằng ông Tám có nhân tình, về đánh bà Tám một trận nhừ tử, hay chuyện cô giáo trường trung học kia bị chồng cấm vận không cho ra khỏi nhà. Rồi vài bữa trước nữa thì có cô bán nước mía kia vừa mới ly hôn, nuôi hai đứa con nhỏ một mình, vì lý do chồng không có khả năng nuôi dạy, vì đang dính nghi án lừa đảo. Chuyện buôn chuyện nối dài trong những buổi họp chợ.
Nhìn lại bản thân mình, Nguyệt không dám xới lên cái tâm trạng rã rời của quá khứ, đang muốn ngủ yên trong tiềm thức, những trăn trở đã bào mòn xác thân  hồn phách. Những tháng này ấy, ngục tù, khổ ải, với quần ống thấp ống cao, với mùi khai của nước tiểu con dại, mùi oi bức nhếch nhác của căn phòng trọ rẻ tiền ẩm thấp, xuyền xoàn. Nguyệt không muốn nhớ lại, giấu nó vào trong ký ức, khóa ngăn kéo thật chặt, không bao giờ dám mở ra.
Nhưng rồi, lý trí cũng đánh thức, vực Nguyệt đứng lên đi tiếp trên con đường ước mơ trở thành một người đàn bà viết văn, xem văn chương như lý tưởng, là con đường giáo dục đúng nghĩa của con người. Nguyệt muốn từ những trải nghiệm của bản thân, biến những đau thương thành nghị lực, lồng ghép chắc chiu từng cảm xúc, đưa nghệ thuật sáng tạo lên đỉnh của thăng hoa, truyền tải đến  người đọc những liều thuốc bồi dưỡng tinh thần, để hoàn thiện một lối sống nhân văn hơn.
Khi ký ức tưởng đã chôn vùi ấy, đã trở về. Nguyệt gặp vô số rào cản, từ chính bản thân mình, và những người chung quanh. Họ nói nhiều lắm, những gì chị xây dựng, những gì chị tâm huyết là giáo điều, là không thực tế, giữa một thời cuộc đã không còn học tập từ những cuốn sách, việc đọc những câu truyện trên giấy đã quá xa rời thực tế trước sự phát triển của thời cuộc, đang chạy đua với hưởng thụ, làm giàu. Nguyệt rơi vào khủng hoảng, trong màn đêm không tìm ra vì sao dẫn lối.
Mang tâm trạng cô đơn và đau khổ ấy, suốt  ba tháng trời gặm nhấm suy tư. Nguyệt tự kỷ trong căn phòng khóa kín tư tưởng của chính mình, và quyết tâm cho bằng được. Phải thực hiện một cuốn sách về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em, cùng các bà mẹ. Nguyệt lên kế hoạch chuẩn bị cho một buổi ra mắt sách với truyền thông, bạn đọc thật chi tiết, chu đáo, Nguyệt tự tin lắm, mạnh dạn lắm, xông xáo lắm, bắt đầu những cuộc gặp giao lưu bàn bạc cho tác phẩm. Một công việc, mà bất cứ người viết văn nào cũng phải nên thực hiện để tác phẩm của mình được công chúng biết đến. Cùng thời điểm đó, Nguyệt bắt đầu gặp những cơn sang chấn tâm lý do chính người yêu thương mình ban cho. Nguyệt không muốn nghĩ tới, vì người đồng hành không tin Nguyệt có thể làm được.
Nguyệt chỉ nên là bông hoa đứng yên thôi cũng đẹp, chỉ nên cam phận trong bộ quần áo thướt tha, làm một người đàn bà tìm hạnh phúc cho bản thân trước, đừng nên nói gì tới lý tưởng xây dựng xã hội. Nguyệt ghét quá, chán tất cả, tiếc nuối cho một cuộc hẹn, một kịch bản ra mắt sách đã chính tay mình soạn rất chi tiết, phải bỏ ngang, chỉ vì một tình yêu ích kỷ.
Trên con đường trở về nhà, những hạt nước mưa vẫn còn vương trên bờ tóc rối, từng vệt dài của dòng nước mắt vừa khô. Nguyệt nặng nề, chán nản tấp xe vào lề, ngay cạnh một người phụ nữ bán hoa dạo dọc đường. Nguyệt cảm giác như muốn được cùng ai đó chia sẻ những bực bội, thất vọng đang no đầy trong cơ thể.
Một chút e dè, như ngại bắt chuyện với một người xa lạ, Nguyệt mở cốp xe, lấy ví tiền thanh toán hai bó hoa hồng, những tác phẩm của Nguyệt chuẩn bị để mang vào trung tâm thành phố tặng cho một người có uy tín trong làng văn, vẫn còn nguyên vị trí, khi cuộc hẹn đã bị hủy rồi. Nguyệt xa xót, cầm lên và nhìn ngắm nó, tiện tay chụp cho sách vài kiểu ảnh bên cạnh hoa hồng, hoa hướng dương, hoa thạch thảo đằm thắm rực rỡ trong nắng.
Người phụ nữ bán hoa, đầu đội nón lá, khẩu trang bịt nửa khuôn mặt, chừa lại hai con mắt đủ để giao tiếp với khách hàng, giờ đã tháo khẩu trang ra và đặt câu hỏi:
– Cô ơi, cô làm nghề gì, mà phải chụp sách vậy, nhìn cô say mê quá!
– Dạ, tại vì đây là những cuốn sách do em tự viết ra, là những ưu tư khắc khoải hàng đêm, hàng giờ, nên em phải yêu quý nó chị à!
– Tôi ngày xưa còn trẻ rất thích đọc truyện ngắn, giờ cuộc sống cơm áo, nên cũng mai một dần.
– Vậy chị cho phép em được ký tặng chị những cuốn sách này nhé.
– Thế thì còn gì bằng, nhà chị mấy đứa con đều thích đọc sách em à!
– Ôi! Hóa ra hôm nay em may mắn quá, gặp được một người hào hứng với sách, là hạnh phúc vô cùng của người viết văn đó chị.
– Chị thì cảm thấy rất tâm đắc, ngưỡng mộ những người tạo nên các tác phẩm văn học, nhất là các tác phẩm dành cho người lao động.
– Dạ, trước đây em cũng là người như chị, buôn gánh bán bưng, rồi em nhìn những cảnh người ta khổ, em quyết tâm trở thành một người ghi lại những nỗi đau khổ ấy, canh cánh bao ưu tư, rồi sau năm năm, hôm nay em đã thực hiện được.
– Chắc là em hạnh phúc, nhưng sao chị thấy gương mặt, ánh mắt của em buồn quá. Thần thái không tốt chút nào! Cố gắng lên em ạ, làm đàn bà đã khó, huống chi là một người đàn bà viết văn. Làm việc gì cũng không vất vả bằng việc viết đâu em, đau đầu lắm!
Nói rồi, người phụ nữ ấy, chọn cho Nguyệt một bó hoa hướng dương, Nguyệt nhất quyết trả tiền, nhưng không được. Đường về nhà, xa lại rất xa, Nguyệt chầm chậm trên con đường cao tốc, với những câu hỏi miên mang trong tâm tưởng. Người đọc đang truyền cảm hứng cho người viết, đủ động lực để nuôi lớn cái bào thai cho đứa con sáng tạo của người viết được khai sinh.  Hay người viết có nhiệm vụ phải truyền tải những tín hiệu thăng hoa của tinh thần và tạo nên những cảm xúc đồng hành cùng người đọc?  Ồ! Thì thật là phiêu bồng. Việc ta cố tạo dựng một cái tên trong bản tin của truyền thông, không bằng ý nghĩa của việc sống chất lượng hơn với cuộc đời chính mình, để mang vào trang viết những câu truyện thật sự giá trị và hữu ích cho cuộc sống hàng ngày.
Con gái của Nguyệt ngồi phía trước, không biết đã nghe được những gì từ các cuộc nói chuyện của người lớn, nó ra bộ hiểu biết, ủi an mẹ:
– Không sao đâu mẹ, mẹ đừng buồn, con không thích mẹ buồn, mẹ vẫn còn có con và anh Hai mà! Đừng khóc nha mẹ!
Chị hôn lên tóc con gái mình, và tiếp tục lái xe về phía trước, giữa dòng container đang chen từng vòng bánh vào cảng, khéo léo trên từng km, chị về tới nhà.
Đêm ấy, Nguyệt quên đi tất cả, ngủ trọn một đêm với ước mơ của chính mình, và lại bắt đầu những buổi len lỏi trong những câu chuyện, làng xóm láng giềng, cùng những buổi họp chợ náo nhiệt, ồn ào nghiệt ngã.
4/7/2020
Hồ Xuân Đà
Theo https://vanhocsaigon.com/

Áo nắng miền Nam

Áo nắng miền Nam

Chúng tôi cùng ngồi bệt xuống vệ cỏ, anh Dần ra hiệu bảo tôi im lặng. Chưa tới trưa nhưng trời đã chang chang nắng, thứ nắng đầu hè trắng sáng và mênh mang lạ. Không gian dường như cao vút lên, mấy đám mây trắng trôi bồng bềnh bồng bềnh. Chỗ chúng tôi ngồi ở sát mép một cái ao nhỏ, mặt ao loi thoi mấy chú bọ nước, làm gợn lên một chút xao động vẻ buồn buồn.
Anh Dần chụm tay lên tiếng gọi. Anh gọi vừa đủ nghe. Tôi có cảm tưởng như cái âm thanh “u oa” kia như một làn gió thổi nhẹ, nó luồn lách len lỏi vào đám sậy mọc lúp xúp quanh ao. Dứt ba lần “u oa” từ trong đám sậy xuất hiện một con thuyền nhỏ. Anh Dần với vẻ tập trung cao độ, từ từ kéo sợi dây mảnh. Con thuyền nhỏ được ghép hết sức công phu bằng các ống sậy cũng từ từ tiến lại phía chúng tôi ngồi. Không nhìn tôi, vẫn từ từ kéo sợi dây mảnh nối với đầu mũi con thuyền, anh Dần thầm thì “Cô ấy đến đấy”. Tôi cũng không nhìn anh, tôi như căng hết cả mắt, thì thầm hỏi lại “Chị ấy có đẹp không hả anh?”. “Đẹp” Anh Dần đáp nhỏ “Rất đẹp là đằng khác”. Tôi cất cái nhìn của mình xoay mặt qua bên anh, tôi hỏi “Anh nhớ chị ấy à?”. Anh Dần không đáp, con thuyền đã được kéo lại gần hơn. Trên thuyền là hình nộm một người con gái trong tư thế đứng chèo. Anh Dần đột ngột ra lệnh “Nhắm mắt lại!” Và anh dịu giọng xuống “Có hình dung ra được gì không?”. Tôi lắc đầu nhưng cố hỏi thêm “Chị ấy có nhớ anh không?”. “Cô ấy hy sinh rồi” Anh Dần nói rất nhỏ. Trên vòm trời, đám mây tỏa ra trôi tản mát, phiêu dạt.
Nhà văn Nguyễn Trọng Văn
Bấy giờ là cuối tháng tư năm một chín bảy hai, quê tôi dường như cũng bị cuốn vào không khí của trận mạc. Cái thị trấn nhỏ với hai dãy phố thấp, nằm ôm lấy đường 5 chợt bừng lên sau hồi thiêm thiếp ngắn. Những đợt bom B52 rải thảm đã làm mọi người sôi lên đau đớn. Những tin tức thiệt hại cứ lan truyền từ tai người này qua tai người khác. Sợ hãi có và nói là không sợ hãi cũng có. Bọn choai choai chúng tôi lại sướng ra mặt. Mắt hướng về phía Hải Phòng, chân nhảy cẫng lên, miệng hét ầm ĩ “Cháy rồi! Cháy rồi!”. Xa xa, trên nền trời xanh trong vô tận thi thoảng có vài đám khói trắng bốc lên. Anh Dần mắt ngó trân trân, hồi lâu mới lên tiếng rủa khẽ “Quân chó má. Ông sẽ cho chúng mày biết tay”. Rủa xong anh Dần lủi thủi bỏ đi để mặc lũ chúng tôi chạy ào lại chỗ giấu cặp sách. Đứa nào đứa nấy vơ quàng vơ vội rồi cắm đầu cắm cổ chạy đến lớp. Tiếng hò hét dài thành chuỗi.
Bấy giờ đang là mùa hoa sấu nở. Thoắt thế thôi dãy phố nhỏ choàng một chiếc áo màu trắng. Những cánh hoa sấu nhỏ li ti, li ti nở ken vào nhau. Nở chồng lên nhau chi chít và dậy một mùi hương thơm dìu dịu ngòn ngọt. Nếu có cơn gió nào chợt ùa qua, từng bông hoa sấu nhỏ nối nhau rơi xuống ào ào hệt như một trận mưa rào nhẹ chỉ toàn hoa. Hoa sấu rụng trắng mặt đường, rụng thành thảm dầy. Êm êm những bước chân trẻ con đang dón dén đặt lên mà không đứa nào dám giẫm mạnh. Cứ để nguyên cho những bông hoa sấu rụng như rắc lên tóc, anh Dần đi bộ dọc dãy phố. Anh đi chậm, rất chậm. Bàn tay phải vuốt rờ rờ vào thành những chiếc xe tải quân sự phủ bạt kín mít nằm im bên mép đường. Dưới gầm xe, hoặc khoảng cách giữa hai xe, các anh bộ đội lái xe đang ngủ say. Có anh nằm võng. Có anh trải ni-lông dưới nền đường. Cứ mỗi lần gặp một anh bộ đội nào đó đang ngủ thì anh Dần lại dừng lại. Anh nói khẽ: “Các đồng chí ngủ đi. Tối nay sẽ hành quân”. Anh Dần kiên nhẫn đi dọc rồi đi ngược dãy phố có đoàn xe. Một ngày của chiến tranh yên lặng và bình thản trôi.
Đó là những chiếc xe vận tải quân sự sơn màu rêu. Trên thùng xe, những ống đường kính 15cm được xếp hết sức chặt chẽ. Nằm im lìm và hình như đang chờ đợi cái gì đấy hệ trọng lắm. Anh Dần lại gần tốp các anh bộ đội đang sửa soạn bữa ăn. Anh Dần cúi xuống nhìn kỹ từng chiếc đĩa hai ngăn đựng thức ăn, hỏi thân mật “Mình vào trong hả?”. “Ừ vào trong” các anh bộ đội trả lời “Ông về làng lâu chưa?”. Anh Dần đáp “Cũng chưa lâu. Của khỉ gì trên xe đấy?”. Mấy anh bộ đội cười ồ lên “Bí mật quân sự”. Anh Dần không hỏi thêm nữa, chuyện bí mật quân sự đương nhiên không dược thóc mách, tay anh xoa xít vào mấy ống sắt câm lặng. Xoa mãi, xoa mãi. Hết xoa tay thì anh Dần nghiêng ngó nhìn ngắm. Cuối cùng hoặc như đã đoán ra hoặc vẫn chưa hiểu, anh Dần đứng nghiêm như tư thế gặp cấp trên, nói “Chào. Vào trong nện oách vào đấy nhé”. Các anh bộ đội hùa theo “Oách chứ lỵ”. Cả anh Dần, cả mấy anh cùng cười vui vẻ.
Trong họ, anh Dần là con bác, còn tôi là con cô. Nhưng thực tình là họ xa, nói ra thì vòng vèo lắm. Để bù lại khoảng cách “họ hàng bắn ca nông” ấy là một mối quan hệ khác, anh là học trò của bố tôi. Mà thực ra anh Dần cũng không học bố tôi một ngày nào. Nói chính xác thì anh Dần học trường cấp III do bố tôi làm hiệu trưởng. Ngôi trường ấy được xây dựng ở cuối phố. Nó là một trong vài ba trường cấp III hiếm hoi của tỉnh Hưng Yên được xây dựng trong thời kỳ năm năm lần thứ nhất. Thời của đầu những năm 60. Ngôi trường là niềm tự hào bởi nó hiện diện tại một thị trấn cũ kỹ đang dần bị quê trở lại. Cũng chẳng sao, một trường “cỡ” như vậy cũng đủ cho cả vùng quê gồm mấy huyện phía Bắc tỉnh trông chờ. Anh Dần đi bộ đội sau tết Mậu Thân, năm đó anh đang học lớp 10. Anh đến nhà tôi, nói trang nghiêm “Chào thày con đi”. Bố tôi vỗ vào vai anh: “Cháu đi… Em đi mạnh khoẻ”. Tôi lúc đó mới 11 tuổi.
Những năm đó, năm nào cũng có các đợt học sinh của trường lên đường. Các lớp học vãn hẳn đi. Bố tôi những lúc rỗi ngồi đọc sách thường chép miệng “Chúng nó toàn những thằng học được. Chỉ tiếc…”. Tôi còn bé, mải chạy rông nên không để ý lắm điều bố tôi nói “tiếc” là gì. Vả lại bụng tôi cũng đang giục cồn cào sao mau lớn để được đi như các anh ấy. Cũng những năm đó, lâu lâu lại có tin đưa về. Quê tôi tổ chức lễ truy điệu ngay tại sân đình cho các liệt sĩ có giấy báo tử. Trời nhem nhem tối, đèn đóm không được dùng. Anh Dần cũng có một lần được quê hương tiến hành như thế. Tôi ngơ ngác nhưng cũng cố lắng nghe những tiếng người đang ngồi ôm lấy nhau khóc sụt sịt. Tiếng khóc như bị ai bóp lấy miệng. Không có tiếng khóc to. “Khóc to là không dũng cảm”. Bố tôi có lần bảo với tôi như vậy.
Cuối năm 1971, anh Dần đột ngột đeo ba lô về làng. Cả làng đều chạy ra, có người còn sờ sờ nắm nắn xem có đúng là anh Dần thật không. Mẹ anh Dần đứng rất xa, bác tôi vốn ngại chỗ đông người mà. Bác tôi mắt dân dấn nước. Anh Dần thì trái lại, anh nói to rồi anh cười cũng rất to. Anh cười to đến nỗi chảy cả nước mắt. “Bị thương thôi. Lạc đơn vị. Chúng mày biết không? Tao chết thế đếch nào được”. Bọn trẻ con chúng tôi phục lắm. Phục thực sự và lại càng phục hơn khi biết anh Dần là đặc công nước. Anh bảo “Tao đánh nhau ở rừng Sác. Sướng phải biết nhá. Vận độc xà lỏn thôi. Như bọn mày mặc quần đùi chạy nhông ấy”.
Hóa ra anh Dần không chết. Anh bị thương và được đưa ra Bắc an dưỡng. Đợt này anh về quê nghỉ ít ngày. Bọn choai rồng rắn đi theo anh dọc con phố ngắn tun ngủn. Anh Dần vẫn khoác ba lô, anh chưa vội về nhà, anh bảo “Tao phải đến chào thày trước đã”. Anh đến nhà tôi. Bố tôi nhìn anh từ chân lên đầu ý như ướm xem anh cao lên bao nhiêu. Anh Dần thấy vậy cứ đứng nghiêm cố rướn người cho cao thêm. Rồi anh hỏi bố tôi “An dưỡng xong thày có cho em được vào lớp học lại không?”. “Học chứ” bố tôi nói “Nhất định các em trở về đều được trường nhận vào học”. Anh Dần vui lắm. Không ngờ đấy lại như câu chuyện đùa. Vết thương vùng đầu ngấm dần, ngấm dần. Anh Dần chỉ tỉnh táo vào mùa trời mát. Ở nơi an dưỡng anh được chăm sóc chu đáo. Bố tôi xem báo rồi nói “Chỗ anh Dần là trại thương binh tâm thần”. Tôi áy náy hỏi lại “Tâm thần là thế nào?”. “Là người lẩn thẩn mất trí ấy mà”. Bố tôi cố giấu nét buồn cúi mặt xuống tờ báo trả lời. Tôi không hỏi nữa nhưng suy nghĩ trẻ thơ bắt đầu nhen nhóm “Anh Dần mà lại bị thế à? Anh sẽ không học được nữa à?”.
Mọi sự lại đâu vào đấy. Mọi người đã quá quen với những điều chẳng hề muốn. Chiến tranh vẫn cứ ầm ĩ lúc xa lúc gần. Lại những đợt thanh niên lên đường. Lại những tin báo tử. Lại có những anh thương binh vác ba lô về làng. Tôi vẫn còn trẻ con, vẫn ăn vô tư ngủ vô tư và leo lên những cây sấu mọc xanh um ngoài phố. Lá sấu xanh và dày đặc tạo nên những chỗ ẩn cho những trò tinh quái của trẻ con. Thứ nhất là vào mùa sấu chín, mỗi thằng một con dao díp nhỏ tự tạo ngồi vắt vẻo trên cây thoải mái bứt quả chín gọt ăn rồi thả hột xuống đường. Ăn chán thì tụt xuống, một lũ a dua nhảy “tùm tùm” trên mặt sông nhỏ chảy cắt sau dãy phố. Trẻ con vẫn cứ là trẻ con.
Đến mùa hoa sấu nở thì anh Dần từ trại an dưỡng ở Ninh Bình trở về. Cũng đột ngột và bất ngờ như lần trước. Người anh béo và đen như vừa phơi nắng. Mái tóc cắt cua của anh trông ngồ ngộ. Anh về tay không, nghĩa là ngoài bộ quần áo bộ đội đã dung dúc mặc trên người ra anh Dần không mang theo một thứ gì. Anh đi bộ từ đầu phố lại, vừa đi vừa ngó nghiêng vẻ tìm kiếm. Thoạt đầu không ai nhận ra. Vả lại đang tầm trưa nên dãy phố vắng vẻ. Tôi vốc một vốc hoa sấu rụng từ chỗ vun trên mặt đường hất tung hê lên trời. Cánh tay tôi bị giữ lại. “Mày là thằng Trường hả?”. Tôi giật mình ngơ ngác nhìn, cánh tay đang giữ tay tôi nhả ra. Gương mặt người ấy nhìn tôi chờ đợi. Tôi kêu “Á” lên rồi vùng chạy miệng hét to “Anh Dần đã về! Anh Dần đã về!”. Những cánh hoa sấu nhỏ li ti, li ti rụng xuống rào rào, phủ trắng quanh nơi anh Dần đang đứng. Anh cười không thành tiếng.
Mấy ngày đầu anh Dần còn tỉnh táo. Anh ghé vào tai tôi nói nhỏ “Tao thích ngửi mùi hoa sấu. Tao trốn về đấy”. Đúng là anh Dần trốn trại an dưỡng về thật. Hàng ngày anh cứ đi đi lại lại trong cái dãy phố chỉ đảo mươi bước chân là hết. Anh đi im lặng, miệng luôn cười. Tháng Tư, trời cao, nắng trắng. Cho dù bận tíu tít cuối năm học nhưng cứ hở ra là bọn chúng tôi đòi anh Dần kể chuyện. Anh chỉ tay vào tôi bảo “Thằng Trường mày trắng quá. Trong bộ đội tất cả mọi người không ai được trắng. Trắng như vậy là không biết đánh nhau”. Không biết đánh nhau nghĩa là thua, tôi nghĩ vậy bèn hỏi riêng anh “Muốn đen thì làm thế nào hả anh?”. “Dễ ợt” anh Dần nói “Mày phải nhuộm đen. Bọn tao lúc đánh nhau còn trát người kín bùn ấy chứ lị. Như thế thằng địch mới không nhận ra. Lúc nó nhận ra thì…Bùm..bùm.”. Tôi hỏi lại: “Nhuộm bằng cách nào?”. “Ái cái thằng này đụt quá. Nghe tao bảo này”.
Thế là từ hôm đó sau bữa ăn trưa tôi và mấy thằng bạn nữa mình trần, chân đất, mặc quần đùi đi “chu du” ngoài nắng. Cái thứ da học trò nửa quê nửa tỉnh gặp nắng đỏ rực lên và tím dần. Nhưng chỉ được dăm hôm thì lớp da được “nhuộm” ấy thâm lại rồi bóc ra từng mảng. Nói gọn, trắng vẫn hoàn trắng. Tất nhiên là sau đận ấy cả bọn đều lên cơn sốt. Bố tôi biết chuyện, ông cười bảo “Rèn luyện là tốt. Nhưng rèn luyện phải có chừng mực và làm quen dần”. Anh Dần đứng thập thò ngoài cửa nói vọng vào, giọng tồi tội “Thày cho em được xin lỗi”.
Nhưng ác nhất là anh Dần bắt đầu tái phát bệnh. Ban đầu anh vừa đi vừa nói lảm nhảm những câu mà không ai hiểu. Bệnh tăng dần, nhất là hôm nắng to. Bộ quần áo bộ đội được anh Dần vận chỉnh tề, dép cao su đi đủ bốn quai, đầu không mũ nón, anh Dần chạy huỳnh huỵch và gào ầm ĩ. Dãy phố chạy tán loạn, họ bảo nhau: “Thằng điên. Thằng điên”. Tôi đứng bên một gốc sấu mắt nhìn theo mọi cử chỉ của anh Dần và thái độ của mọi người. Trong nhìn nhận của mọi người thì anh Dần là một “thằng điên” đang hò hét và thuận tay là phá phách. Dãy phố nhỏ có các cánh cửa cọt kẹt khép lại trước khi anh Dần tới và he hé mở ra khi giọng hò hét của anh Dần xa xa. Trời nắng chang chang, tiếng ve kêu sốt cả ruột. Bố tôi kéo tôi vào lòng “Anh Dần tội quá. Chỉ thương bác Đậu”.
Liên tiếp cả tuần anh Dần lên cơn. Tuần ấy dường như anh không ăn uống gì cả. Suốt ngày và suốt tối chỉ thấy một mình anh vừa chạy vừa gào trên phố. Giọng anh khô dần rồi đặc lại. Chỉ còn nghe tiếng khò khè mệt mỏi. Anh ngồi bệt xuống đường, hai mắt vô hồn mở to, người gầy đét lại, mái tóc cắt cua trở nên lởm chởm. Bố con tôi lại gần anh. Bố tôi lay nhẹ vào vai anh Dần gọi nhỏ “Anh Dần. Anh Dần. Thầy Bình đây. Em về nhà đi. Em tự về hay để thày đưa em về”. Anh Dần ngước mắt lên nhìn bố con tôi. Nhìn lâu lắm, có lẽ anh đã nhận ra nên từ tốn đứng dậy, miệng khè khè và lảo đảo đi về nhà. Sau khi được tiêm mấy ống trợ lực, anh Dần ngủ mê mệt. Hôm sau anh có vẻ tỉnh táo hơn, cặp mắt nhầu nhĩ, áo quần rách mướp. Mọi người đã kịp đưa anh về Trại.
Những ấn tượng về anh Dần nhạt dần theo năm tháng. Vả lại thời gian đã làm cơ thể tôi thay đổi, từ một cậu bé con giờ đây trông tôi đã ra dáng thanh niên. Tình hình chiến sự đem lại nhiều háo hức. Năm một chín bảy nhăm đến và kéo theo một không khí bừng bừng. Sau Tết, tôi có lệnh gọi nhập ngũ. Buổi tối hôm trước ngày tập trung, anh Dần đột ngột xuất hiện. Anh già đi nhiều so với tuổi. Đã ba năm “cái thằng điên” lại hiện diện. Cả nhà tôi thoáng một chút sững sờ. Bố tôi bình thản hơn, hướng mặt về phía anh Dần rồi gọi thân “Dần về đấy à? Vào đây đi em”. Anh Dần bước vào nhà, chẳng chào hỏi ai, anh đến thẳng bên tôi, nói bằng cái giọng khe khe mỏi mỏi “Được tin mày đi bộ đội. Tao về cho mày cái này”. Tôi nhìn anh cố níu anh ngồi xuống hòng hỏi chuyện “Anh uống chén nước đã”. Tay xua rối rít, anh Dần nói: “Đi theo tao. Đi theo tao”.
Chúng tôi đứng cạnh một mảng tường cũ, anh Dần đưa cho tôi một gói giấy nhỏ. Tôi hỏi “Anh cho em cái gì đấy?”. Anh Dần với giọng quan trọng thầm thì “Cho mày cái bùa hộ mệnh”. Tôi run run đỡ gói giấy và nhìn anh dò xét, anh Dần gật gật đầu tỏ ý bảo tôi mở ra xem.
Gói giấy được mở ra, qua ánh sáng của ánh đèn nhà ai đó hắt vào tôi nhận thấy đó là một chiếc áo bà ba nữ màu tím. Anh Dần kéo tôi ngồi xuống “Mày còn nhớ cô ấy không?”. Tôi lại hỏi “Cô nào cơ?”. Anh Dần không nói gì, đầu cúi trầm ngâm. Trông anh lúc này không có vẻ gì của một người điên. Im lặng kéo dài. Chợt tôi cảm thấy cay cay nơi mũi. Thì ra anh Dần đã tranh thủ khoảng thời gian thần kinh ổn định để kịp về tiễn tôi lên đường. Thì ra anh Dần không quên điều gì cả. Bảy năm trước, cũng hệt như hoàn cảnh tôi lúc này, anh Dần đi đánh giặc. Tôi nhìn anh biết ơn và lúc này mới nhớ ra câu chuyện về một người con gái Nam Bộ. Về “cô ấy” như anh đã kể cho tôi nghe bữa nào anh em tôi ngồi bên bờ ao có những cây sậy mọc lúp xúp ven bờ và con thuyền nhỏ từ từ chui từ đám sậy ra.
Bây giờ, nếu như nhắm mắt lại là xuất hiện trong tôi hình ảnh một dòng kênh Nam Bộ. Dòng kênh trong và xanh, hai bên bờ xanh rì lá cây dừa nước. Tiếng chèo khua dàn dạt. Trên con đò nhỏ có bóng dáng một người con gái miền Nam đang đứng chèo đò. Chiếc nón trắng quàng sau lưng, để mái tóc mặc cho gió thổi. Nắng miền Nam bao la làm khúc kênh ánh lên muôn vàn tia lấp lánh. Người con gái ấy đầu ngẩng cao, toàn thân vươn về phía trước, chiếc áo bà ba màu tím chỉ cài một chiếc cúc cổ để hai vạt áo xòa bay xuôi theo chiều gió thổi.
Bây giờ, nếu như nhắm mắt lại là xuất hiện trong tôi hình ảnh những chiến sĩ đặc công rừng Sác ngâm mình trong nước. Những chiến sĩ đặc công ấy mặt nhám nắng. Chỉ đôi mắt mở căng, chăm chú hướng cái nhìn về phía mục tiêu. Các anh ẩn khuất sau những tán lá dừa nước.
Bây giờ, nếu như nhắm mắt lại là xuất hiện trong tôi hình ảnh người con gái miền Nam với gương mặt đang căng ra quan sát nhưng lại ẩn dưới vành nón khoan thai. Con đò nhỏ lặng lẽ trườn đi. Nếu tinh ý một chút xuôi về hai sóng nước rẽ phía đuôi thuyền, thấp thoáng bóng các anh đặc công rừng Sác. Con đò vẫn trườn đi, luồn lách dưới tán lá của các cây dừa nước. Đến một khoảng trống, chợt trên trời xuất hiện một chiếc trực thăng. Trong nháy mắt nó đã phát hiện ra con đò, sau khi lượn vài vòng theo con đò thấy nghi ngờ chiếc trực thăng xoay quanh mục tiêu. Giây phút ấy vang lên một tiếng hô “Các anh tản ra nấp đi. Đừng lo cho em”. Và con đò bỗng lao vụt về phía trước, lướt mình tách khỏi đội hình đang bí mật của các anh bộ đội rừng Sác. Loạt đạn đầu tiên bắn xuống làm dựng lên những cột nước nhỏ. Rồi liên tiếp các cột nước. Con đò chìm trong các cột nước ấy rồi mất hẳn…
Bây giờ nếu nhắm mắt lại tôi lại thấy anh Dần đang ngồi cùng tôi bên bờ ao. Những con bọ nước chạy lăng xăng vẽ những vòng tròn nhỏ loang vào nhau. Con thuyền nhỏ từ từ chui ra từ đám sậy mọc lúp xúp. Trên thuyền có một người con gái mặc áo tím đang nhẹ nhàng đứng, người con gái ấy vươn người về đằng trước đẩy mái chèo. Giọng anh Dần bảng lảng, vời xa, vời xa, đượm chút buồn của cánh con trai “Chúng tao chỉ tìm được chiếc áo của cô ấy”. 
5/7/2020
Nguyễn Trọng Văn
Theo https://vanhocsaigon.com/

Chàng trông xe hạnh phúc

 Chàng trông xe hạnh phúc

“Xã hội phát triển, mối quan hệ giữa người với người, có hiện tượng gần như Vô cảm. Cuộc sống dù đầy đủ vật chất tới mấy, liệu người ta có được hạnh phúc, nếu các mối quan hệ trở nên lỏng lẻo thậm chí vô tình, vô tâm? Câu chuyện thật ra không chỉ kể về một nhân vật Chàng. Có ba thành viên trong một gia đình mù lòa, tật nguyền tưởng như chỉ có bất hạnh đáng để ta suy nghĩ. Tình tiết đơn giản, nhưng tinh tế tới run rẩy. Lại được liên kết với nhau một cách hết sức hợp lý, nhuyễn và cô đặc, đã tạo nên mạch chấn động, chạm vào phần thẳm sâu đầy tính Người. Ngôn ngữ bình thản, không cầu kỳ lộ liễu, sự phân chuyện hiện đại, thiên truyện ngắn khá thành công, mang được hơi thở cuộc sống mà lại dung hàm kín đáo được cái tình và quan niệm sống của nhà văn. Có những chân lý thật giản dị, nó chỉ ý nghĩa với con người khi dám sống, dám hy sinh dù là với kẻ nào đó, có khi lại là vô lý, là vụn vặt… như một dòng đặt riêng biệt thành một từ chương (như lời nghị án) trong truyện ngắn sắc sảo này: Có những bí mật đáng quẳng ngay vào sọt rác” - Lời bình của nhà văn Nguyễn Văn Thọ.
Nhà văn Phong Điệp
Tên chàng là Phúc, Trần Hạnh Phúc.
Sau cái tên của chàng là cả một câu chuyện dài.
Thông thường, cha mẹ nào cũng đều thấy mình hạnh phúc khi có đứa con chào đời. Với cha mẹ chàng, hạnh phúc ấy nhân lên trăm ngàn lần. Bởi lẽ, khác với những người khác, cha mẹ chàng đều bị mù. Mù bẩm sinh. Nhà đã nghèo, còn bị mù. Rõ là ông trời thích đùa còn gì. Mù thì sống thế nào, ai muốn lấy đây?
Hai người mù, trùng hợp thế nào, cùng xin được vào làm cho một cơ sở sản xuất tăm tre dành cho người mù, lại tình cờ thế nào toàn ngồi cạnh nhau. Rồi ngẫu nhiên thế nào, lúc đưa tre, đưa dao vót, toàn chạm vào tay nhau. Bàn tay lao động, xương xẩu khô khỏng. Ấy vậy mà hễ cứ chạm vào nhau là toàn thân nóng rực. Bạn bè rỉ rả nói chuyện còn hai người thì nín thinh, tim chỉ muốn nhảy ra khỏi lồng ngực.
Có lần, tay trong tay đến cả năm phút. Không nói nhưng mà thật ra cũng chả cần nói.
Nhưng rồi cũng có lúc cần phải nói…
Cơ sở sản xuất tăm tre tưng bừng mở tiệc ăn mừng đôi uyên ương thứ Sáu của mình. Đám cưới hai nhà làm khiêm tốn. Vì cũng chả có tiền mà làm to. Khách chỉ mời hạn chế, chủ yếu là họ hàng bạn bè thân thiết. Người thì nhiệt liệt chúc mừng. Người thì thở dài. Hai đứa mù, sống với nhau để mà chết à!
Đã vậy, cha mẹ chàng quyết sống cho người ta thấy, chết đâu phải là dễ. Hai người làm hùng hục bằng hai bằng ba người khác. Nào thì làm tăm, nào thì đan rổ rá, làm hàng thủ công xuất khẩu. Cơ sở sản xuất ngày càng đa dạng sản phẩm, mở rộng thị trường. Tuy mù lòa nhưng mẹ chàng khéo léo, cha chàng thừa sự kiên trì. Nhất là khi biết tin mẹ chàng có bầu, cha chàng càng làm việc hăng hái hơn.
Chuyện đến đây tuyệt đối không thể dài dòng. Vì ai cũng biết chàng chính là “tác phẩm vĩ đại” ấy. Và cũng phải nói ngay rằng, chàng không mù. Ơn trời. Ông trời cũng chỉ trêu chọc thế chứ cũng không làm khó cho chàng. Chàng trắng trẻo, mới đẻ ra chân tay đã đấm đá loạn xạ ra chiều phởn chí lắm.
Chàng khi đó, rõ là một đứa bé hiếu động và ngoan. Trong lúc mẹ chàng còn sờ miệng con để nhét ti vào, thì chàng đã nhanh nhẹn hóng cái miệng chim non đói mồi, tợm gọn lấy bầu sữa căng nức, mút lấy mút để. Mẹ chàng tựa lưng vào gối, đỡ đầu con lên cao cho “bữa tiệc” thêm phần thoải mái. Lúc con ngủ, mẹ mới có thời gian ve vuốt, lần sờ, nắn chân nắn tay con. Lần nào lần nấy, nước mắt mẹ cũng lã chã.
Con mở mắt dậy, quẫy đạp, là tim mẹ thót lại, bắt đầu cuộc chiến đấu mới. Dây buộc từ tay mẹ vào chân con. Tai mẹ nắm bắt từng cử động từ nơi con. Khi nào dây căng là hốt hoảng sờ tìm con, ngăn trước khi con lộn cổ xuống đất. Nhưng cũng chẳng ăn thua. Cái đứa trẻ là chàng sao mà hiếu động.
Lúc chàng lẫm chẫm biết đi, cha quây phòng lại, dẹp tất cả các chướng ngại vật. Chàng tha hồ lê la, bò, lăn, đi trong không gian chật hẹp ấy. Nhưng chàng vẫn bị ngã lên ngã xuống do mẹ không thể nhìn thấy con lúc sắp ngã mà đỡ…
Khổ nỗi, đã biết đi là ham chạy. Sổng một cái là chàng lao ra sân, đi như một mũi tên . Mẹ chàng khua khoắng trong không khí, gào lên bất lực: “Đợi mẹ, con…”. Mặc kệ tiếng mẹ gào, chàng thích cảm giác của một mũi tên xé gió. Hậu quả là đầu gối chàng tướm máu. Mẹ chàng cả đêm sụt sịt, cả đêm rờ rẫm da thịt con, đếm từng vết sẹo.
Tai nạn thống thiết nhất là khi chàng ba tuổi. Cái bếp lò mẹ vừa nhóm để đặt nồi kho cá. Lửa rần rật bén vào từng thớ than, rực sáng một góc sân. Chính vì thế cái bếp lập tức thu hút sự chú ý của chàng. Trong lúc mẹ chàng quay vào nhà thì chàng hí hửng lao đến. Chàng chọc chọc cành cây khô vào lửa. Lửa lóc bóc sém vào thân cây. Chàng hứng chí với tiếp một cành cây nữa, rơi gần đấy. Rồi cành nữa. Cành nữa. Chân chàng chạy vòng quanh bếp lò như hòn bi lăn tròn trên miệng vung. Trong lúc cuống quýt vì lửa bùng quá nhanh, chàng vấp chân, ngã sấp xuống.
Mẹ chàng chưa khi nào nghe tiếng gào của con đau đớn, khiếp đảm như thế.
Từ nhà lao ra, mẹ chàng cuống cuồng như vụn giấy trong lốc, nhưng trong cơn hoảng loạn, bà không biết làm cách nào để tìm được con một cách nhanh nhất sau tiếng gào chết ngất kia. Chỉ biết thảm họa đã xảy ra. Nó là cái gì? Bà không biết.
Trong tích tắc ấy, bà hàng xóm, chạy cắt ngay đầu xe ô-tô, sấn sang bên đường nhà chàng, nhấc chàng ra khỏi cái bếp đang rừng rực cháy. Những người hàng xóm gần đấy cũng lao đến. Nhưng chàng vẫn như một hòn than đang cháy. Cháy lớn đến độ chàng không chịu đựng nổi. Chàng gào lên.
Quá kích động trước tiếng gào thét của chàng, mẹ chàng trở nên hung tợn. Bà một mực xô hết mọi người ra, ôm chằm chặp lấy chàng. Nhưng chàng cần được sơ cứu khẩn cấp.
“Mẹ thằng Phúc, bỏ con ra đi!”.
Nhưng mẹ chàng quyết không bỏ. Bà gầm gào như một con hổ bị thương và gạt ngã tất cả ai đến gần chàng.
Quá đau đớn vì nóng, vì bị mẹ ôm quá chặt, chàng gào thét lạc giọng. Tiếng gào thét khiến mẹ chàng càng bị kích động hơn. Để bảo đảm an toàn cho chàng, một thanh niên buộc phải dùng vũ lực đưa bà vào trong nhà. Sau đó xe cấp cứu đến kịp.
Sau lần ấy, chàng bị hỏng nửa khuôn mặt. Dù đã chắp vá đủ kiểu, nửa khuôn mặt chàng vẫn dăn dúm và loang lổ. Giống mặt ruộng sau khi vừa đốt chân rơm.
Sau lần ấy, năm 12 tuổi, chàng tiếp tục gặp hạn. Trong lúc leo lên tầng hai, chàng bị ngã nhào. Cú ngã nhanh, bất ngờ đến mức chàng không hiểu vì sao mình ngã. Đến khi nằm lịm trên đất, hai chân mất cảm giác, chàng vẫn còn ngỡ ngàng.
Sau mấy tuần bó bột, ngứa phát rồ dại, chân chàng cũng đi lại được, nhưng cái dáng đi khuỳnh khoàng, hơi tức mắt. Như thế vẫn là tốt lắm rồi.
Tuy nhiên có phải vì lần ngã ấy mà sau này chàng không cao lớn được hay không, thì vẫn là câu hỏi còn bỏ ngỏ.
Dù sao chàng vẫn tên là Hạnh Phúc.
Chàng là ánh sáng của cha mẹ.
Bây giờ thì chàng làm nghề bảo vệ kiêm trông xe cho một Viện nghiên cứu ở H.
Cao chưa đến một mét rưỡi, một bên má nám xịt, dăn deo và đôi mắt luôn buồn rầu.
Thời gian đầu mới đi làm, chàng còn bối rối khi người ta dừng mắt ở biển tên chàng khá lâu. Rồi len lén nhìn nửa khuôn mặt như chân ruộng sau khi đốt đồng của chàng. Chàng cảm giác như mình đang bị bóc mẽ. Mà thật ra có gì để bóc mẽ đâu. Chàng nhỏ con, xấu xí, và làm nghề bảo vệ kiêm trông xe. Tất tần tật như thế. Có gì cần phải bóc mẽ. Dần dà, chàng biết tiết chế cảm xúc của mình. Khuôn mặt không biểu cảm.
Làm bảo vệ, trông xe ở Viện cũng nhàn nên những lúc vắng vẻ, chàng thích ngồi tựa ghế, nhìn cây lộc vừng mọc chênh chếch cổng ra vào. Cây mới trồng vậy mà ngay mùa đầu tiên, những tràng hoa đã chen nhau thả từng chùm dây hoa lúc lỉu như giăng câu. Rồi từng đóa bung nở, đỏ chói, sáng rực sân Viện. Chàng cứ nhìn hàng giờ chuỗi dây hoa lấp lánh trong nắng. Không ai biết chàng nghĩ gì, buồn hay vui. Chỉ biết khi mùa lộc vừng lụi, thì tóc chàng bỗng dưng ngả bạc. Thật sự không ai lý giải được. Nhưng mà cũng chả ai biết chia sẻ, hay động viên chàng thế nào. Vì cách giao tiếp với chàng chỉ là chìa tay nhận vé và dắt xe qua. Hỏi gì chàng cũng chỉ qua quýt vài câu cho phải lẽ. Rồi thì nín thinh cả ngày. Ngày qua ngày. Buồn cũng như vui. Chưa ai hỏi chàng có hạnh phúc không? Người mang tên Hạnh Phúc lẽ nào lại không hạnh phúc ư?
Chính thức sáng thứ hai, tuần thứ ba của tháng Mười một, Viện trưởng nhận được lá đơn xin thôi việc của chàng.
Trình tự mọi việc được báo cáo lại như sau:
Bảy giờ, cô nhân viên tạp vụ đến cơ quan dọn dẹp nhưng phát hiện phòng bảo vệ trống trơn. Cô này tìm mọi cách gọi, đánh động nhưng không thấy có tiếng thưa. Chuyện này chưa từng xảy ra. Thấy sự bất ổn, cô nhân viên tạp vụ tức tốc gọi điện cho trưởng phòng hành chính. Trong lúc điện thoại qua lại thì đã thấy bà hàng nước hối hả đi đến, xòe ra chùm chìa khóa. Nội dung thông báo như sau:
“Anh ấy không nói gì cả, chỉ nhờ tôi cầm hộ chìa khóa rồi đi. Thế thôi”.
“Thái độ anh ấy thế nào?”.
“Chẳng thế nào cả. Vẫn như mọi ngày”.
Bẩy giờ ba mươi, trưởng phòng hành chính có mặt ở cơ quan, tiến hành lập biên bản. Sau khi kiểm tra sơ bộ, đánh giá: Phòng bảo vệ không mất mát gì. Các phòng ban khác cửa vẫn khóa an toàn. Chỉ có nhân viên bảo vệ Trần Hạnh Phúc không xuất hiện.
Tại cuộc họp cơ quan lúc tám giờ ba mươi, Viện trưởng thông báo về nội dung lá đơn xin thôi việc của nhân viên bảo vệ Trần Hạnh Phúc. Đơn được đặt trên bàn làm việc của Viện trưởng.
Nội dung cuộc họp giao ban đầu tuần dành cho việc “phân tích, xử lý trường hợp nghỉ việc của nhân viên bảo vệ Trần Hạnh Phúc”.
Phòng hành chính cắt cử người làm thay công việc cho nhân viên bảo vệ Trần Hạnh Phúc. Phòng nhân sự tìm hiểu lý do vì sao nhân viên bảo vệ Trần Hạnh Phúc xin nghỉ việc. Phòng tài chính kiểm tra các khoản thu chi liên quan đến nhân viên bảo vệ Trần Hạnh Phúc. Ngày hôm đó, tên chàng được liên tục nhắc đến.
Ngạc nhiên. Thắc mắc. Tò mò. Âu lo. Nghĩ ngợi…
Người trong Viện nói chuyện về chàng với đủ mọi sắc thái tình cảm.
Cơ bản mọi người thống nhất được với nhau rằng, mọi thứ với chàng đang ổn thỏa. Ổn thỏa theo tiêu chí hiện thời: công ăn việc làm ổn định, cuối năm luôn được đánh giá là hoàn thành nhiệm vụ… Những lý do phải huy động trí tưởng tượng cũng đành bó tay. Người ta chỉ tập trung về mái tóc của chàng, trước khi chàng biến mất. Mái tóc của một ngày sương muối phủ dày. Tại sao?
Chàng có nỗi khổ tâm không thể nói ra? Nỗi khổ tâm đó là gì? Không một ai biết.
Và chàng thì đột ngột biến mất.
Người ta ngỡ ngàng, sửng sốt nhận ra rằng dù đã làm khá lâu ở Viện, nhưng đến lúc chàng đột ngột biến mất thì chỉ còn duy nhất lá đơn là xác nhận về sự (đã từng) tồn tại của chàng. Không điện thoại. Không một dòng địa chỉ. Lâu nay, mọi liên lạc, hay quản lý liên quan đến hành chính, cư trú, chàng đều lấy địa chỉ của Viện, xác nhận từ Viện. Nay, chàng từ chối nơi cư trú của mình.
Vả lại, nếu chàng thật sự muốn bỏ tất cả để ra đi, cần gì phải để lại một lá đơn. Lá đơn – rốt cuộc càng khiến mọi người bối rối hơn. Chàng vẫn giữ ý thức nền nếp của một nhân viên: nghỉ có báo cáo.
Chủ tịch công đoạn hối hận về việc chưa từng hỏi chàng về nhà cửa, gia cảnh. Thanh minh thanh nga rằng sợ hỏi về cha mẹ thì làm cho chàng buồn. Ừ, thì cha mẹ mù lòa, nghèo khó thì tôi mới ngồi làm bảo vệ ở đây chứ. Với lại quanh năm suốt tháng chàng ở trong phòng bảo vệ. Lúc nào cần là có chàng. Lẽ ra bảo vệ phải có hai người. Đằng này, kinh phí hạn hẹn, chàng lại đồng ý làm việc 24/24 giờ, 7/7 ngày…
Phòng bảo vệ chàng từng ở, ngăn nắp và không còn dấu vết gì của chàng.
Chàng đi đâu?
Năm chàng hai mươi, mẹ chàng mất. Người phụ nữ đến lúc lìa đời chỉ mong được nhìn mặt con trai, dù ngay cả khuôn mặt mình bà còn chưa từng được tỏ tường. Bàn tay khô xác của bà bò chậm chạm trên khuôn mặt chàng. Cuộc đời người mẹ mù lòa, cực nhọc đã không thể làm được gì tốt hơn cho con được nữa. Bàn tay bà dừng lại trên nửa khuôn mặt nhăn nhúm của con. Rồi nằm mãi ở đấy. Ngay cả khi tim bà đã ngừng đập, bàn tay vẫn nằm lại trên khuôn mặt đứa con trai. Bàn tay ăn năn, ân hận.
Gục trên ngực mẹ, chàng khóc rất lâu, thầm thì rất lâu. Mãi tới lúc ấy, bàn tay của người mẹ mới chịu rơi xuống, nép lại bên thân hình mỏng mảnh.
Ngôi nhà chỉ còn hai người đàn ông. Khác với mẹ, cha không bao giờ chạm vào khuôn mặt chàng. Có lẽ cách biểu lộ tình cảm và sự quan tâm của người đàn ông vĩnh viễn không bao giờ giống với những người phụ nữ. Ông cố ghìm những cơn ho khi đêm xuống, tránh không làm con thức giấc. Có khi ông bâng quơ nói với chàng về cuộc đời, mà ông chỉ có những trải nghiệm trong bóng tối mịt mùng. Mọi giác quan lúc nào cũng phải căng ra. Ông kể với chàng cảm giác lần đầu tiên được bế một đứa trẻ trên tay. Non nớt. Run rẩy… Ông nói với chàng cách ông đã nhìn ánh sáng trong bóng tối. Ánh sáng giúp ông nhìn thấy gương mặt chàng, ánh mắt chàng.
Ông ra đi vào một ngày đẹp trời. Phút lâm chung, ông nói với chàng về một bình minh mưa, trong veo, mát lạnh mà trong đó, trong bình mình mưa ấy, có một người phụ nữ với bàn tay khô gầy nhưng ông yêu hơn hết thảy…
Chàng đã không khóc lúc đưa tiễn cha về nơi an nghỉ cuối cùng.
Chuyện về chàng Hạnh Phúc hẳn sẽ mãi mãi là một bí mật.
Cho đến một hôm, cô nhân viên thư viện bỗng buột miệng ca cẩm về chuyện giấy báo cũ nhiều quá. Ngày xưa thể nào cái cậu bảo vệ tên là Hạnh Phúc chẳng lăm le trước cửa chực dọn. Mà có ai lại dở hơi như cậu ta không. Đi xin giấy báo cũ để cho cái con bé đồng nát sắt vụn ất ơ nào đó. Con bé đó trông mặt mũi thì có vẻ hiền lành thật thà. Nhưng hiền lành thật thà gì cái ngữ nó. Cái hôm nó loắng quắng lên dọn phòng thư viện, cô nhân viên thư viện bị mất tiêu một triệu đồng là gì. May mà hôm ấy trong ví chỉ có một triệu. Chứ nhiều hơn nữa thì có mà chết với quân vừa gian vừa tham ấy.
Tiện đà, cô nhân viên thư viện xả cả một tràng. Cho bõ.
Cái quân vừa gian vừa tham ấy, bỗng dưng nó xuất hiện, nó thì thọt với anh bảo vệ. Một điều anh ạ, hai điều anh ạ. Thế thì gì mà chả mụ mẫm cả người. Cậu kia hiền lành tốt tính thôi. Nhưng tốt gì thì cũng phải cảnh giác chứ. Mà khổ thế, cái cánh đàn ông, đắm sông đắm biển gì cho cam, toàn đắm phải đò đàn bà.
Cô bé thực tập sinh mắt tròn mắt dẹt, ngứa mồm hỏi thêm: “Sau đó thế nào hả chị?”.
Cô nhân viên thư viện chép miệng: “Còn thế nào nữa. Con bé mất tích luôn. Không tăm hơi hình dạng. Cậu bảo vệ thì khổ tâm thấy rõ. Thì ai bảo. Nghĩ đi nghĩ lại cũng thấy thương cho cậu ta hiền lành tử tế, nhưng thiếu kinh nghiệm lắm. Chắc bị con bé kia nó lừa phỉnh”.
“Lừa phỉnh gì ạ?”.
“Lừa tiền, lừa tình. Cái thứ ấy có mà đầy rẫy. Nên mày còn trẻ, phải cẩn thận đấy em ạ”.
Cuộc đối thoại trong phòng kín nhưng volume hơi to, khiến cho sếp tình cờ ngang qua phải dừng lại nghe ngóng.
“Sao chuyện này tôi chưa nghe ai kể gì hả” – Cửa phòng bật mở.
“Sếp ạ. Là tại vì… thật ra là …em chưa nói với ai. Em… em… chỉ… ngờ thế thôi. Chứ thật ra… chẳng có chứng cứ nào. Mà em cũng có nhắc cậu ấy phải cẩn thận, cảnh giác. Chứ cái việc cậu ấy xin nghỉ, em nghĩ chắc là có việc gì đó. Chứ ai lại dại dột nghe cái con bé lang thang đầu đường xó chợ ấy mà làm gì?”.
“Chị bảo ai lang thang đầu đường xó chợ?”.
Cửa đóng sầm trước con mắt ngơ ngác của hai cô cháu phòng thư viện.
Có những bí mật đáng quẳng ngay vào sọt rác.
Chàng tên là Hạnh Phúc.
Chàng có đi đâu, làm gì, chàng cũng có quyền được hạnh phúc.
Hà Nội, 6/1/2013
Phong Điệp
Theo https://vanhocsaigon.com/

Vợ chồng Ka Líu

Vợ chồng Ka Líu

Cơ sở dệt thổ cẩm dựa lưng vào cây dầu cổ thụ, bậc thang là khúc cây đẽo vụng gác lên sàn nhà bằng tre lồ ô, dưới gầm sàn có chiếc xe máy cũ kỹ bám đầy bùn khô cong. Trong nhà, trên kệ bày những món hàng thổ cẩm, túi, ví đầm, khăn, áo… tất cả đều dệt bằng sợi bông dầy và xốp, mầu sắc rực rỡ nhưng phủ một lớp bụi. Mỗi ngày nhìn mớ hàng tội nghiệp, Ka Líu thở dài, cặp mắt mầu khói buồn khắc khoải. Cảnh bán buôn ế ẩm này là do anh K’Hưng, chồng chị.
Nhà Ka Líu nằm ven sông. Con sông hiền hòa nhưng mùa lũ trở nên hung hãn, nước tràn bờ nhấn chìm vườn tược, rau màu. Ấp của Ka Líu có vài chục nóc nhà người Mạ, nhà nào cũng nghèo rơi nghèo rụng. Chỉ mỗi nhà K’Hồng chiêng ché xếp thành dãy, bộ ghế salon to chình ình choán hết lòng nhà. K’Hồng khá giả vì có cô vợ người Kinh khôn ngoan, giỏi buôn bán, anh ta lại khỏe như trâu, nhiều năm độc chiếm việc lái phà qua sông. Nhìn K’Hồng chiều chiều chở vợ con bằng chiếc xe tay ga mầu đỏ ớt chạy vè vè, dân ấp nhìn theo thèm khát và ganh tỵ đến khô cả họng. Nhưng làm thế nào để được như anh ta, câu trả lời là… những cái lắc đầu.
Bao đời nay, người Mạ sống bằng bẫy thú, hái măng, hái nấm, lấy dầu chai. Từ ngày nhà nước đóng cửa rừng, ná phải treo lên vách bếp. Hết bẫy thú, hết dầu chai, hết cả nấm. Đàn ông và lũ trai choai qua sông làm “cửu vạn”, phụ việc trong các xưởng sơ chế nông sản, tiền ít mà nhậu mù trời. Người già và những bà sồn sồn quanh quẩn với ruộng lúa, rẫy hoa màu khi úng khi hạn nên thu nhập chẳng đủ no bụng, nói gì đến dư dả. Một số hộ liều nuôi bò. Nhưng lũ bò đáng thương cũng đói rài đói rạc, chỉ no cỏ vào mùa mưa. Suốt sáu tháng mùa khô những trảng cỏ cháy sém, chúng gầy trơ xương, mõm sùi bọt trắng, đàn ruồi vo ve xung quanh. Nhà nước cứu trợ mỗi hộ một con trâu “xóa đói giảm nghèo”, nhưng chưa kịp hết nghèo thì trâu đã bị ngả thịt. Cũng vì… đói. Người Mạ nhận cứu trợ mãi thành quen, thấy bình thường, chẳng mắc cỡ hay áy náy gì…
Nhà văn Hoàng Ngọc Điệp
K’Hưng có thời gian nhập ngũ, đóng quân tận biên giới Lào. Anh cao lớn, hiền lành, cả ngày chẳng hé miệng, tâm hồn anh kín bưng như ngôi nhà đóng chặt mọi cánh cửa. Giải ngũ về, K’Hưng vẫn hiền lành ít nói, vẫn kín bưng, nhưng cuộc đời quân ngũ để lại trong anh thói quen cẩn thận, quần áo lúc nào cũng sạch bong. Cũng nhờ tính gọn gàng ngăn nắp và phong thái kín đáo, nghiêm cẩn mà K’Hưng được Ka Líu chọn làm chồng. Hàng chục cô gái Mạ cùng trang lứa, không ai xinh đẹp, hát hay, múa giỏi như Ka Líu. Cái váy cô tự dệt ôm sát thân hình khỏe khoắn, những bước chân cô nhẹ nhàng uyển chuyển như con mèo rừng. Mỗi khi Ka Líu cười, hàm răng sáng bóng như ngọc. Bọn trai ấp sôi lên ganh tỵ với K’Hưng. Thần may mắn nhậu say ngủ quên rồi nên anh chàng lù khù mới lấy được bông hoa đẹp nhất rừng.
K’Hưng chẳng lạ gì bụng dạ hẹp hòi đầy tỵ hiềm của bọn trai ấp. Tình yêu của anh nồng nàn nhưng lòng ghen của anh cũng âm thầm, mãnh liệt như ngọn núi lửa náu mình im lìm, chỉ chờ dịp là phực lên. K’Hưng muốn vợ quanh quẩn trong nhà, như con ngựa quanh quẩn bên máng cỏ. Mỗi lần Ka Líu đứng nói chuyện với đàn ông bất kể già trẻ, máu anh dường như đông đặc lại. Nếu lúc đó đang đi qua vũng nước, anh sẽ lấy chân té nước kỳ cho đến lúc quần áo, đầu tóc ướt nhẹp. Nếu Ka Líu cười với người lạ, K’Hưng sẽ đấm ngực thùm thụp, túm tóc mình giật mạnh, tưởng như sắp tróc cả da đầu.
Tính ghen lạ lùng của chồng làm Ka Líu sống không yên. Nhưng chị không buồn bã ủ ê, cũng không than van. Ka Líu đã quen dấu kín cảm xúc trong lòng. Được cái, K’Hưng rất chịu khó, ai thuê gì cũng làm, tiền thuê bèo bọt mấy cũng chẳng phàn nàn. Cả ngày anh phơi mặt trên rẫy hoa màu và vườn quýt còi cọc. Nhưng bầu bí của anh bán rẻ như cho, còn quýt thì trái nhỏ xíu như trái chanh lại toàn hột là hột. Cái nghèo lì lợm đeo đẳng đôi vợ chồng trẻ như con sói đói bám theo con mồi. Có hai đứa con thì Ka Mùi học trường dân tộc nội trú, chỉ còn thằng K’Tú ở nhà. K’Hưng thương vợ con, buổi chiều hay đứng lặng ngắm cảnh mặt trời lặn, thở dài, đầu óc đặc kịt nghĩ không ra kế thoát nghèo. Buồn và tự giận mình, anh lại theo K’Hải ra quán, đổ nỗi buồn vào ly rượu trắng pha cồn. K’Hải nức tiếng là đệ tử của lưu linh, rượu biến anh ta thành một hình nhân cằn cỗi, khòng khoèo như khúc củi phơi nắng. Vợ anh ta lép như trái bầu khô trên gác bếp, mặt lúc nào cũng buồn rượi, ì ạch mang cái bụng vượt mặt. Cứ rượu vào là K’Hải rủa vợ giống con nhện cái chỉ biết khư khư ôm bọc trứng, anh ta làm như thủ phạm khiến vợ mang bầu là… người hàng xóm. Nhà K’Hải có vườn, nhưng rau mọc loi ngoi chen với cỏ, cây mì, cây bắp èo uột như cọng đũa. Vợ con khổ nhưng K’Hải mặc kệ. Đói cũng chẳng chết, người Mạ đói quen rồi.
Một ngày, cán bộ tỉnh về triển khai xây dựng nông thôn mới. Trưởng ấp K’Mừng họp dân, giải thích bằng cả từ ngữ lẫn chân tay một hồi lâu mọi người mới hơi vỡ vạc. Ồ, nếu cái nông thôn mới làm cho nhà nhà no bụng, con nít có chỗ vui chơi thì tốt quá rồi. Phải theo cái nông thôn mới thôi. Ai nấy mừng khấp khởi, như thể thóc lúa đã vào nằm trong kho vựa và tiền thì đã đầy túi.
Xe ben bắt đầu rầm rập chở đến nào đất đá, xi măng, cả ấp biến thành công trường xây dựng. Buổi chiều sau giờ lên rẫy, trừ đàn bà phải lo chuyện bếp núc, còn thì ông bà già, con nít, đàn ông… đều rủ nhau ra ngắm công trường. Bụi trắng bay lơ lửng, phủ thành lớp trên những mái nhà xỉn mầu và trên những khu vườn tạp ngập trong cỏ dại.
Không bao lâu, giữa trảng trống mọc lên cái nhà văn hóa mái ngói công nghiệp tươi rói mầu hoa chuối rừng, cây cầu treo bằng sắt bốn nhịp vững chãi nối liền đôi bờ sông ằm ặp nước. Có cầu, không còn phải dài cổ chờ phà của K’Hồng. Dân ấp được mời ra nhà văn hóa dự tập huấn kỹ thuật nông nghiệp. K’Hưng ghi tên học lớp kỹ thuật trồng cây có múi cao sản. K’Hải ban đầu hoài nghi, không đi họp, nằm ngủ phè. Nhưng hôm sau nghe bà con khoe được nhà nước cho vay vốn, anh ta tỉnh rượu, cười hơ hớ vỗ đùi, phen này trúng mánh lớn. Rồi K’Hải bật dậy, chạy tới nhà K’Mừng, năn nỉ được vào lớp kỹ thuật nuôi dê. Lũ dê tạp ăn và dễ nuôi, thịt dê bán cho các quán nhậu bám cheo leo bên mép nước dài hai bên bờ sông chẳng bao giờ ế. Nhiều nhà còn liều hơn K’Hải, mạnh dạn lập trang trại, đào ao thả cá, nuôi heo, gà. Luồng gió mát từ cái “nông thôn mới” thổi qua ấp nghèo, làm mọi người tràn trề hy vọng.
Vườn quýt của K’Hưng được áp dụng kỹ thuật chăm sóc tốt sau vài năm đã “trẻ lại”. Những trái quýt to, vỏ bóng láng, mọng căng. Để chống sâu bọ phá hoại, K’Hưng thả kiến đen kiến vàng đầy vườn. Anh xoay như chong chóng với việc rẫy cỏ, tỉa cành, phun thuốc trừ sâu, đầu tóc ướt đẫm nước mưa, da mặt đen sạm. Những trái quýt rụng nằm lẫn trong cỏ tỏa mùi thơm cay nồng. Người trong ấp đi qua nhìn vườn quýt trĩu cành, trầm trồ “Chà. Nhà K’Hưng sắp giầu to rồi. Quýt ngọt này được giá phải biết”. K’Hưng mừng vì vườn quýt giúp gia đình anh thoát nghèo. Trong nhà anh đã có ti vi, tủ lạnh, thậm chí anh còn chiều vợ, sắm hẳn một dàn karaoke. Những hôm phấn chấn, K’Hưng mời bạn bè đến cùng “sinh hoạt văn nghệ” như cách nói của K’Hải.
Nhưng mọi thứ bỗng đột ngột thay đổi.
Bữa đó Ka Líu đi chợ về mang theo những cuộn chỉ mầu.
– Anh à. Em tính mở cơ sở vừa dệt vừa bán hàng thổ cẩm – chị nói, mắt sáng long lanh.
K’Hưng chau mày nhìn vợ. Ka Líu giải thích:
– Em mở cơ sở dệt thổ cẩm giúp phụ nữ có việc làm. Có nhiều hàng, em sẽ bán cho khách du lịch…
– Ai bảo em làm vậy? Ka Líu?
– Không ai bảo em cả… à… mà anh quên rồi sao? Cán bộ tỉnh vẫn khuyên mình phát triển nghề dệt thổ cẩm truyền thống của người Mạ mà…
K’Hưng đang ngồi trên bậc cửa đan gùi. Nghe vợ nói, anh đứng vụt dậy, ném phạch chiếc gùi đan dở xuống đất, mặt tối sầm. Trong bụng, K’Hưng không muốn vợ mở cơ sở dệt thổ cẩm, không muốn vợ bán hàng cho khách du lịch. Anh sợ Ka Líu quen nhiều người, sợ cái tai Ka Líu nghe nhiều chuyện. Tốt nhất là vợ cứ chăm sóc vườn rẫy, chăm thằng K’Tú, tới mùa thu hoạch thì bán hoa màu cho thương lái.
– Nhà có vườn rẫy, lo không hết còn ôm thêm việc làm gì – K’Hưng gằn giọng, nhổ bọt rồi mím chặt môi bỏ ra khỏi nhà. Đôi vai rộng của anh trĩu xuống, lưng anh khòm khòm như thể vừa bị một sức nặng nào đó đè dí. Ka Líu sửng sốt nhìn theo chồng. K’Hưng đã định cái gì thì khó bề lay chuyển. Anh như trái núi sừng sững chắn ngang bước chân chị. Xưa nay Ka Líu vẫn nhẫn nhịn chồng. Nhưng lần này thì khác. Ka Líu quyết không buông ý nguyện của mình.
Thật ra, có một điều bí mật mà từ lâu Ka Líu “đào sâu chôn chặt” trong lòng: Ý định mở cơ sở dệt và bán hàng thổ cẩm của chị có liên quan đến một người: anh Tâm, cán bộ sưu tầm văn hóa dân gian, người đã ươm mầm cho khát vọng của chị.
Hồi ấy, Tâm về công tác và dự lễ hội của người Mạ. Buổi trưa đó nắng như đổ lửa. Ka Líu và lũ bạn gái đi rẫy về rủ nhau xuống suối tắm. Khi Tâm mang máy ảnh đi ngang qua, các cô gái ríu rít đề nghị anh chụp hình. Thoạt đầu, Tâm bối rối. Rồi anh chợt hiểu phong tục “tốt khoe xấu che” của người Mạ. Ka Líu được chụp cận cảnh trong tư thế choài người hái bông hoa bên bờ suối. Nửa thân trên của cô để trần. Bọt nước trắng xóa tóe lên, che một bên ngực cong vểnh như ngà voi của cô. Làn da cô long lanh như phát sáng. Các cô gái xúm quanh Tâm nhìn vào ống kính. Họ trầm trồ, xuýt xoa ganh tỵ với Ka Líu. Cô gái Mạ cười sung sướng, lòng cô lâng lâng hạnh phúc…
Buổi tối, Ka Líu váy áo rực rỡ, bước ra sân hội sáng rực ánh đèn. Giọng hát của cô mộc mạc mà lay động, kể về đôi trai gái người Mạ yêu nhau. Bên cạnh Ka Líu, đống lửa lớn cháy rừng rực. Con heo rừng được quay trên những lưỡi lửa phần phật, gió mang đi mùi thơm thịt nướng lẫn mùi cháy khét của lông heo. Cả rừng người ngây ngất trong men rượu cần. Ka Líu múa. Thân hình vũ nữ uyển chuyển. Hai cánh tay trần vươn lên như hai cánh chim. Đám đông lặng phắc, mê mải nhìn cô như nhìn nữ thần. Ống kính máy ảnh của Tâm hướng về phía cô, đèn flas lóe sáng…
Đêm hội chưa kết thúc, trưởng ấp bảo Ka Líu và Ka Sơn đưa Tâm về nhà già làng, để anh nghỉ lại. Nhưng Ka Sơn hò hẹn với bạn trai nên chỉ có Ka Líu đi cùng Tâm. Cô đi trước, Tâm bấm đèn pin theo sau. Trời tối mịt. Họ men theo con đường len lỏi dưới vạt cỏ tranh, cây dại và gai góc chĩa ngang đường quệt vào người họ ràn rạt. Tiếng tắc kè núi và tiếng côn trùng nỉ non làm Tâm rờn rợn. Những cây gỗ mục phát ra ánh lân tinh xanh lè. Tuy nhiên, Tâm ấm lòng khi thấy ánh đèn le lói trong những ngôi nhà sàn phía xa. Anh hổn hển nói:
– Ka Líu à, chờ anh với. Em đi nhanh quá.
Ka Líu đứng lại:
– Em xấu quá. Tại em quen rồi nên đi nhanh.
– Gần tới nơi rồi phải không em? Mình… ngồi nghỉ chút đi.
Hai người ngồi xuống bãi cỏ. Dưới ánh sáng của những ngôi sao xa tít tắp, họ chỉ thấy nhau lờ mờ. Vẻ đẹp quạnh hiu bí ẩn của đêm vùng cao và cô gái Mạ ở sát bên khiến tâm hồn thi sĩ của Tâm rung động. Tối nay anh đã say sưa ngắm cô múa, hát. Chất hoang dã hồn nhiên ở cô khiến anh thích thú.
– Hôm nay là một ngày tuyệt vời, đúng không Ka Líu? Tâm hỏi, đưa tay lần tìm bàn tay mát lạnh hơi sương của cô gái và giữ nó trong tay mình. Ka Líu gật đầu, nói nho nhỏ:
– Anh Tâm nè. Lũ bạn gái của em… ưng anh lắm đó. Anh có sợ… bị con gái Mạ bắt làm chồng không?
– Được ai đó bắt về nhà thì càng hên chứ sao? Đỡ phải đi tìm vợ – Tâm cười, chợt nhớ ánh mắt hiếu kỳ của mấy cô gái Mạ nhìn anh lúc ở bên bờ suối. Có lẽ trong suy nghĩ của họ, anh là một người đàn ông rất “có giá”.
Họ nói chuyện với nhau và Tâm hiểu Ka Líu chỉ mới học chưa hết lớp sáu. Cô luôn mơ ước được đi đây đó, xa hơn cuộc sống tù túng, chật hẹp của người Mạ.
–  Có phải nhà anh ở Hà Nội không, anh Tâm? Ka Líu hỏi.
– Ừ. Nhà anh ở Hà Nội. Nhưng anh thường xuyên đi nhiều nơi. Kỳ này anh vào đây sưu tầm văn hóa dân gian. Em ủng hộ anh nhé. Công việc sưu tầm sẽ giúp cho những câu chuyện, bài hát của người xưa không bị quên lãng. Anh thấy người Mạ có nghề dệt thổ cẩm truyền thống rất tuyệt vời. Ka Líu có biết dệt thổ cẩm không?
– Biết. Em học từ bà ngoại và mẹ. Ở ấp này ai cũng khen em dệt thổ cẩm đẹp nhứt đó. Nhưng con gái bây giờ ít người muốn mặc quần áo của người dân tộc lắm. Mặc đồ của người Kinh đẹp hơn.
– Em nghĩ thế thôi. Chứ anh thấy hôm nay Ka Líu rực rỡ như bông hoa rừng. Nếu thành lập cơ sở dệt thổ cẩm, Ka Líu có dạy cho những phụ nữ khác học dệt được không?
– Dạ được.
Bỗng Ka Líu reo nho nhỏ:
– Anh Tâm nhìn kìa, có một chiếc máy bay đang bay trên đầu chúng ta. Em chưa bao giờ được đi máy bay.
Giọng cô gái xúc động như thể giữa cô và chiếc máy bay có mối liên hệ đặc biệt. Tâm nhìn lên bầu trời. Chiếc máy bay đang bay chậm rãi, đèn trên thân nó nhấp nháy. Sau lưng họ, nền trời chợt sáng chợt tối, chắc là ánh đèn pha từ đêm lễ hội. Không khí ban đêm nhẹ bỗng, thấm đượm mùi thơm của hoa dại. Màn sương lành lạnh khiến Tâm xo vai. Họ đứng lên, đi loanh quanh trên trảng cỏ, giữa những bụi cây dại lúp súp. Mãi khá lâu hai người mới về tới nhà già làng.
Cả tháng sau đó Ka Líu giúp Tâm sưu tầm truyện cổ Mạ. Cô cũng hát dân ca bằng tiếng mẹ đẻ cho anh thu âm. Sự đam mê của Tâm đã truyền cho Ka Líu lòng tự hào về tổ tiên của cô. Tình yêu và sự ngưỡng mộ của cô gái mới lớn dành cho chàng trai Hà Nội cứ mỗi ngày một đầy lên, như ly nước chực tràn ra ngoài. Mặt Ka Líu nhợt đi vì những đêm trắng, cảm xúc trong cô xáo trộn, lúc buồn, lúc vui. Đêm nào cô cũng ngồi bên cửa sổ, nhìn ra khoảng không mờ mờ, mường tượng về một thế giới tuyệt đẹp. Thế giới của cô và Tâm…
Tâm cũng đoán biết tình cảm của Ka Líu. Anh thấy thương cô gái tội nghiệp. Rồi anh sẽ ra đi khi công việc đã xong. Mọi chuyện giữa anh và Ka Líu sẽ thành dĩ vãng. Buổi tối trên trảng cỏ sẽ là kỷ niệm long lanh, thuần khiết như nắng mai và không lặp lại trong đời họ.
Ngày chia tay, Ka Líu đứng lặng nhìn Tâm, cái nhìn buồn rầu, đắm đuối và đau đớn. Cô bặm môi cố dằn cảm xúc để không òa khóc, đặt vào tay anh chiếc khăn thổ cẩm do chính tay cô dệt.
– Em nhớ chưa? Khi nào có dịp thì cứ mạnh dạn mở cơ sở dệt thổ cẩm, để giữ lại cho người Mạ vốn quý, đừng để thời gian nuốt mất nhé- Tâm nói và bắt tay Ka Líu. Cô gật đầu, trả lời anh bằng đôi mắt nhòa lệ. Giây phút ấy, Tâm không ngờ lời nói của anh đã in sâu vào tâm hồn cô gái trẻ.
K’Hưng đi bộ đội về, khỏe mạnh như cây cẩm lai trong rừng. Ka Líu không yêu K’Hưng. Trái tim cô chỉ mang hình bóng Tâm. Nhưng đôi trai gái vẫn thành vợ chồng.
Cơ sở dệt thổ cẩm của Ka Líu rốt cuộc vẫn ra đời. Khách du lịch đến tham quan, mua đồ kỷ niệm làm má Ka Líu ửng hồng. Đài truyền hình về quay phim, chụp hình và phỏng vấn chị. Một vị khách lấy hàng bỏ mối tặng Ka Líu chiếc điện thoại di động, để tiện liên lạc. Giọt nước cuối cùng tràn ly. Máu ghen của K’Hưng lồng lên như cơn lũ dữ. Lựa lúc vắng khách, anh ra tận nơi vợ làm việc, giật điện thoại của chị, ném bộp vào tảng đá. Chiếc điện thoại vỡ toang. K’Hưng vớ những món hàng bày trên kệ, quăng tới tấp ra cửa. Các cô thợ dệt kêu ré lên, dồn cục lại góc nhà, Ka Líu đứng sững như cái cây cụt ngọn…
Gây “bão” xong, K’Hưng ra quán, nốc rượu đến say nhừ. Mắt anh hoa lên. Rồi anh loạng choạng đứng dậy, bước thấp bước cao đến nhà K’Hải. Từ ngày bán được mấy lứa dê kiếm khá tiền, K’Hải phấn khởi mua luôn mấy chục con dê thả trong ba dãy chuồng. Lũ dê phàm ăn. Ngày nào K’Hải cũng lo kiếm thức ăn cho dê. Trong sân nhà anh ta, lá sầu đông chất thành đống, bốc mùi hăng sì. Anh ta ít nhậu hẳn đi và có vẻ khoái chí vì bây giờ cả ấp gọi anh bằng tên mới: Hải Dê.  Nhìn mặt K’Hưng đỏ bầm, K’Hải hiểu ngay sự tình.
– Ông không vui cái bụng khi người ta quan tâm tới vợ ông chớ gì? Giàng cho ông có được đứa vợ giỏi, đâu như vợ tôi là con gà mái chỉ biết đẻ trứng. Nghe lời tôi đi. Mặc cho vợ nó làm. Tiền nhiều cũng không thiu mà – K’Hải khuyên.
K’Hưng không tìm được đồng minh, buồn bực ra về.
Chuyện nhà K’Hưng loang nhanh như cháy rừng, sang cả ấp láng giềng. Đàn bà nhìn anh với con mắt giễu cợt. Đàn ông thì cười một cách khó hiểu. Ngay cả lũ con nít cũng tròn mắt nhìn anh, như thể mặt K’Hưng dính lọ nồi. K’Hưng buồn cay đắng. Anh lờ mờ nhận ra mình sai. Nhưng sai thì sai, K’Hưng mặc kệ. Ka Líu cũng không nói với anh một lời. Cơ sở thổ cẩm vẫn mở cửa nhưng ế hàng, thợ xin nghỉ, mình chị chạy qua chạy lại, lúc ngồi dệt, lúc lên rẫy, như cái bóng câm lặng. Tảng đá vô hình đè nặng lên ngôi nhà nhỏ, lên trái tim họ. Thằng K’Tú cũng sợ sệt, bám chặt lấy váy mẹ.
Một buổi chiều K’Hưng đi rẫy về, bất ngờ gặp trưởng ấp. Ông mời anh vào nhà. K’Hưng giật thót. Anh nghĩ có lẽ ông đã biết anh gây chuyện ở cơ sở dệt thổ cẩm. Nhưng trưởng ấp chỉ vấn một điếu thuốc sâu kèn to, mời K’Hưng một điếu, châm lửa cho anh và nhìn anh thân thiện:
– K’Hưng nè. Năm nay thu hoạch hoa màu có khá không?
– Dạ khá. K’Hưng nói cụt ngủn, mắt cắm xuống sàn. Anh cảm thấy không thoải mái khi phải đối diện với trưởng ấp. Ông là người kinh, lấy vợ người Mạ, cả ấp gọi ông là K’Mừng, cho thân mật.
– Lãnh đạo tỉnh rất vui vì Ka Líu khôi phục được nghề dệt truyền thống của người Mạ. K’Hưng cũng giỏi làm ăn, biết áp dụng kỹ thuật vào tăng gia sản xuất. Kỳ này Ban ấp chọn anh chị là điển hình xóa đói giảm nghèo. Mai mốt lên tỉnh dự hội nghị, lãnh đạo sẽ khen thưởng.
K’Hưng ngỡ mình nghe nhầm. Lạ quá. Sao trưởng ấp lại nói vậy? Anh bối rối nhìn ông.
– Trưởng ấp à. Tôi… không xứng đâu. Trưởng ấp chọn người khác đi.
– Ta biết anh nghĩ gì rồi. Đừng ngại.
K’Hưng ngồi im, thấy da mặt rân rân như có kiến bò. Trưởng ấp đột ngột hạ giọng:
– K’Hưng nè. Hồi đó anh đi bộ đội mấy năm?
– Năm năm.
– Vậy cũng lâu đấy -Trưởng ấp gật đầu – Bộ đội có dạy anh phải yêu dân không?
– Tôi… tôi không hiểu trưởng ấp muốn nói gì… K’Hưng càng thêm bối rối. Anh muốn ngay lập tức biến khỏi con mắt đang nhìn anh như muốn soi thấu tận tâm can. Trưởng ấp chậm rãi nhả khói thuốc. Hồi lâu ông mới thủng thẳng:
– Ta cũng từng ở lính, ta biết. Bộ đội cụ Hồ được dạy phải biết thương dân, trọng dân. Vợ con mình thì mình càng phải thương hơn. Chuyện anh làm với Ka Líu là sai rồi.
Từ nhà trưởng ấp, K’Hưng thập thững đi về nhà. Đầu óc anh mông lung, những ý nghĩ quay cuồng, rối rắm. Đứng dưới chân cầu thang, anh nghe thấy tiếng mẹ con K’Tú. Có lẽ vợ anh đang tắm cho thằng con sau bếp. Thằng bé bị mẹ cù nách, bật cười giòn như bắp rang. Tiếng cười vô tư của con và tiếng vợ la rầy con âu yếm làm tim K’Hưng se lại. Anh chợt nhận ra, trên đời không ai gần gũi, thân yêu với anh bằng mẹ con Ka Líu.
Buổi tối, K’Hưng lùa vội chén cơm rồi ra bậc cửa ngồi hút thuốc. Khói thuốc tan loãng vào không gian. Tiếng dòng sông chảy rầm rì nghe nao nao, buồn buồn. Ngồi một mình chìm đắm trong bóng tối tĩnh mịch đến tê dại hai chân, K’Hưng vào nhà, rón rén vén mùng, nằm xuống bên vợ. Anh khẽ khàng ôm bả vai tròn của Ka Líu, áp cặp môi nóng hổi vào gáy vợ. Từ ngày Ka Líu mở cơ sở dệt thổ cẩm, đây là lần đầu tiên anh có cử chỉ dịu dàng với chị.
– Mình à. Em sẽ dẹp bỏ cửa hàng thổ cẩm. Không làm gì nữa, chỉ ở nhà thôi. Cho mình vui cái bụng – Ka Líu quay lại, khịt mũi và cất giọng khàn khàn. Trong bóng tối, gương mặt chị mờ nhòa nhưng K’Hưng biết, chị đang khóc…
– Mình… đừng bỏ. Cứ làm đi mà… Tôi… anh sai rồi. K’Hưng vỗ vỗ vào lưng vợ. Cảm xúc bị kìm nén từ lâu, nỗi ân hận và tình yêu thương trào dâng làm anh gần như hổn hển. Nói được một câu với Ka Líu, anh đẩy được tảng đá nặng đè lên trái tim, lòng anh nhẹ bỗng và như bừng sáng. Ngoài bờ sông vọng lại tiếng chim ăn đêm…
Sáng hôm sau, thay vì ra vườn quýt như mọi ngày, K’Hưng đi tới cửa hàng điện thoại di động. Ở đó, anh sẽ lựa một chiếc điện thoại thật đẹp, để tặng vợ… 
7/7/2020
Hoàng Ngọc Điệp
Theo https://vanhocsaigon.com/

  Cái Tôi của Phạm Duy  trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...