Thứ Ba, 31 tháng 12, 2024

Thụy Khuê, nhà phê bình văn học mành mành

Thụy Khuê, nhà phê bình
văn học mành mành

Trong cuốn Phê bình văn học thế kỷ XX, khi đăng trên Văn Việt, Thụy Khuê phê phán quyết liệt một “nạn dịch” của phê bình Việt Nam, đó là “cái gì người ta cũng muốn biết, biết nhanh, biết gấp, cho nên, tất cả đều chớp nhoáng, đến độ chóng mặt”. Trong bài Trả lời nhà báo Thụy Khuê (2016), chúng tôi đã chỉ ra rằng những điều đó thật ra lại rất phù hợp để nói về bà. Đó là chưa kể việc bà thuổng ý của Zenkin. Không trả lời, nhưng khi in thành sách, bà ngấm ngầm cắt bỏ những đoạn bị phê phán và hai đoạn thuổng của Zenkin.
Nhưng sự kiêu ngạo thì không đổi. Bà trả lời Tuổi Trẻ: “Đúng là phê bình của chúng ta còn khá phôi thai. Sau khi đọc một số sách về lý luận phê bình văn học đã xuất bản trong nước, tôi nhận thấy phần lớn các sách ấy đều trình bày những lý thuyết phê bình thế giới theo lối: hoặc dịch hay chia các lý thuyết ra thành từng mảnh rời rạc, hoặc không đi đến tận cùng một vấn đề, hoặc đưa vấn đề ra một cách phiến diện, có thể gây hiểu lầm. Chưa kể chúng ta còn có thói quen không tiếp cận thẳng tác phẩm, mà thường đọc qua nhà nghiên cứu này, nhà phê bình kia của phương Tây, mà những “ông phương Tây” được chọn nhiều khi lại không phải là chuyên gia về vấn đề đó, hoặc có những sai lầm trầm trọng”[1].  Bà chê bai không chỉ các tác giả Việt Nam, từ Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh (tr. 70) đến Trần Đình Sử (tr. 132-133), mà cả các tác giả nước ngoài, từ Pháp, Nga đến Mỹ, như ta sẽ thấy dưới đây.
Tạ Duy Anh, người biên tập sách Phê bình văn học thế kỷ XX, ca ngợi: “Đây có lẽ là cuốn sách mà những người yêu văn học nước nhà chờ đợi từ lâu. Thụy Khuê, bản thân tên bà đã là một đảm bảo bằng vàng về sự nghiêm túc cũng như tinh thần khai phóng trong học thuật, không chỉ khảo cứu rất công phu những xu hướng chủ đạo bao trùm suốt thế kỷ 20 về sáng tác, phê bình văn học trên thế giới, mà còn – đây là phần đáng biểu dương nhất – có khả năng phi thường trong việc truyền đạt, diễn giải kiến thức đến bạn đọc khó có thể súc tích và rành mạch hơn, khiến những tư tưởng, những quan điểm lớn vốn vô cùng rắc rối, trừu tượng thậm chí mù mờ trở nên thú vị, hấp dẫn, sáng tỏ…”
Nhận xét của tôi hoàn toàn ngược lại. Cuốn sách của Thụy Khuê hết sức lộn xộn, cẩu thả và có vô số sai lầm mà nguyên nhân là bà rất ham nói to về những điều bà không biết và không hiểu.
Thụy Khuê tuyên bố rằng công trình của bà “là cuốn sách toàn cảnh về nền phê bình thế giới thế kỷ 20, nó sẽ giúp người nghiên cứu biết bản chất của văn chương và công việc của mình”[2]. Hãy giở cuốn sách. Cái đầu tiên là Mục lục, và nó làm ta bật cười. Để viết một công trình toàn cảnh, ta phải có tư duy hệ thống để trình bày vấn đề dựa trên những tiêu chí thống nhất. Chẳng hạn, theo trường phái (Phê bình cấu trúc, Phê bình tâm phân học, Phê bình Marxist…), hoặc theo thời kỳ (Tiền hiện đại, Hiện đại, Hậu hiện đại), hoặc theo quốc gia (Nga, Pháp, Đức…). Còn đây là cách của Thụy Khuê:
Chương 04: Phê bình phân tâm học của Freud
Chương 05: Ngôn ngữ học
Chương 06: Trường phái hình thức Nga
Chương 07: Những nhà cấu trúc Nga
Chương 11: Erich Auerbach (1892-1957)
Chương 13: Phê bình văn học Pháp – Jean-Paul Sartres
Chương 15: Maurice Blanchot – sự im lặng của văn chương
Thật chẳng khác gì phân loại bò thành bò tây, bò ta, bò cái và bò bị mất trộm! Nhưng xin các bạn đừng cười to quá, vì còn nhiều điều buồn cười hơn.
Thiếu tư duy khoa học đối với Thụy Khuê hóa ra lại là một ưu thế, vì nó cho phép bà viết một cuốn sách đồ sộ mà không cần nhiều công sức. Cách làm đặc trưng của bà là kể lể dông dài, đôi khi rất ngôn tình, về đời tư của nhân vật, kiểu: “Nhờ bài phê bình tập thơ Odes et Ballades của Victor Hugo mà Sainte-Beuve quen với nhà thơ nổi tiếng này; kết thân với gia đình Hugo và khoảng 1831, ông trở thành người tình của bà Hugo. Năm 1834, Sainte-Beuve đoạn tuyệt với Hugo, hai năm sau, chia tay với Adèle Hugo, rồi sang Lausanne ở một năm…” (tr. 44-45). Một cách khác mà bà hay sử dụng là đưa vào những đoạn trích dẫn rất dài (các trang 51-52; 53-54; 55-57 và rất nhiều chỗ khác) thay vì chiết xuất ra nội dung chính của chúng.
Phần lớn những điều bà đưa vào sách là thông tin thiếu kiểm chứng, được lượm lặt một cách dễ dãi. Ví dụ về Bakhtin. Chuyện như sau: Vì mắc bệnh từ nhỏ, Bakhtin chưa bao giờ học đại học, làm nghề kế toán, nhưng chơi với một nhóm bạn, trong đó có Medvedev và Voloshinov, hai giáo sư đại học nổi tiếng. Tại nhà thủ lĩnh Medvedev, nhóm bạn thường tranh luận về học thuật. Theo lời Bakhtin, ông chỉ ngồi chầu rìa. Khi Bakhtin bị bắt giam vì chống chính quyền, Voloshinov và Medvedev, khi đó là trưởng đại diện NXB Quốc gia tại Leningrad, đã sửa chữa bản thảo cuốn sách về Dostoievsky của Bakhtin và đem in để gỡ tội cho bạn. Năm 1936, khi Bakhtin mãn hạn đi đày, Voloshinov đã chết vì lao phổi. Medvedev xin cho Bakhtin làm giáo viên tại một trường trung cấp sư phạm dành cho các dân tộc thiểu số mới thành lập, chỉ có 10 giáo viên (Năm 1957, trường này được nâng cấp thành đại học). Năm 1938, Medvedev bị Stalin xử tử. Năm 1946, Bakhtin được đặc cách bảo vệ luận án phó tiến sĩ. Những năm 1960, Bakhtin tuyên bố rằng ông là người viết tất cả các công trình kiệt xuất của hai người bạn đã chết. Nhiều người đã tin vào chuyện bịa đặt đó, như Jakobson trong Lời tựa bản dịch cuốn Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ của Voloshinov (Minuit, 1977) và Aucouturier trong Lời tựa cuốn Mỹ học và lý luận tiểu thuyết của Bakhtin (Gallimard, 1978). Sau khi Liên Xô sụp đổ, việc khảo sát tài liệu lưu trữ đã bác bỏ những tuyên bố của Bakhtin. Tại Nga, người ta đã từ bỏ dự định gộp các công trình của Voloshinov và Medvedev vào Toàn tập Bakhtin. Hai tác giả Thụy Sĩ, Bronckart và Bota, trong cuốn sách hơn 600 trang Lột mặt nạ Bakhtin – câu chuyện về một kẻ lừa dối, một chuyện bịp bợm và một cơn mê sảng tập thể (Droz, 2011), bằng những khảo sát hết sức thuyết phục, đã khôi phục danh dự và tác quyền cho Voloshinov và Medvedev.
Tất nhiên, Thụy Khuê có quyền phản bác. Nhưng thay vì dựa trên cứ liệu, bà lại trích hai Lời tựa những năm 1970 của Jakobson và Aucouturier rồi phán: “Lời hai nhà nghiên cứu có uy tín trên đây giúp ta hiểu rõ hơn tình hình…”. Thật buồn cười. Hãy tưởng tượng: Ông X. dẫn ở đâu đó về mấy con chó. Vị trưởng thôn khả kính hỏi, ông X. nói: “Chó tôi nhờ người nuôi”. Về sau, công an thấy có đủ bằng chứng buộc tội ông X. ăn trộm, bèn tịch thu lũ chó để trả lại cho chủ cũ. Nhưng nhà phê bình uyên bác của chúng ta vẫn khăng khăng: “Ông X. không ăn trộm. Vị trưởng thôn khả kính giúp ta hiểu rõ tình hình!”
Một ưu thế khác của Thụy Khuê là ít hạ cố đọc ai. Một phê bình thực thụ khi bắt đầu viết về bất cứ điều gì đều bắt đầu bằng “Tổng quan tài liệu” – đó vừa là sự tôn trọng tiền bối, đồng thời là cách để chúng ta tiếp thu thành tựu và tránh sai lầm của. Nhưng Thụy Khuê không ứng xử như thế. Bà tung hoành như ở chỗ không người, hào hứng và cao ngạo phát minh lại những điều ai cũng biết.
Ví dụ là lý thuyết ngôn ngữ của Ferdinand de Saussure. Cuốn Cours de linguistique générale của ông đã có ít nhất hai bản dịch khá tốt, một của ĐH Tổng hợp Hà Nội (Khoa học Xã hội, 1973); một của Cao Xuân Hạo, cũng do NXB Khoa học Xã hội ấn hành. Hàng vạn sinh viên đã sử dụng các bản dịch này và đã quen với nhiều thuật ngữ như “Langue” (Ngôn ngữ), “Langage” (Hoạt động ngôn ngữ), “Parole” (Lời nói) v.v…
Nhưng Thụy Khuê dịch lại: “Langue là tiếng nói (như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt…); Langage là ngôn ngữ, bao gồm nhiều cách diễn đạt khác nhau (như ngôn ngữ loài chim, ngôn ngữ điện tử, ngôn ngữ con người, ngôn ngữ nhà văn…); Parole là lời nói (như lời anh Năm, chị Bảy…” (tr. 151)
Đoạn văn cho thấy rằng Thụy Khuê hoàn toàn không hiểu lý thuyết của Saussure. Xin hãy đọc chính Saussure qua bản dịch của Cao Xuân Hạo: “Nhưng ngôn ngữ (langue) là gì? Đối với chúng tôi, nó không đồng nhất với hoạt động ngôn ngữ (langage); nó chỉ là một bộ phận nhất định của hoạt động ngôn ngữ, tuy là bộ phận cốt yếu. Nó vừa là một sản phẩm xã hội của năng lực ngôn ngữ, vừa là một hợp thể gồm những quy ước tất yếu được tập thể xã hội chấp nhận, để cho phép các cá nhân vận dụng năng lực này. Nhìn chung toàn bộ, hoạt động ngôn ngữ vốn đa dạng và kỳ lạ; nó cưỡi lên nhiều lĩnh vực, vừa vật lý, vừa sinh lý, vừa tâm lý, lại còn liên quan đến lĩnh vực cá nhân, lĩnh vực xã hội nữa; không thể đem xếp nó vào một phạm trù nào của các sự kiện nhân loại, vì người ta không biết làm thế nào để xác định tính thống nhất của nó. Ngược lại, ngôn ngữ tự nó là một thể hoàn chỉnh và một nguyên lý phân loại. Hễ đặt nó lên hàng đầu các sự kiện trong hoạt động ngôn ngữ, thì chúng ta đưa ngay được một trật tự tự nhiên vào một tổng thể vốn không thích ứng với cách phân loại nào khác”[3].
Bất kỳ ai có kiến thức phổ thông về ngôn ngữ học cũng thấy rằng Thụy Khuê không hiểu bản chất cấu trúc luận trong lý thuyết của Saussure, nhất là sự phân biệt giữa ngôn ngữ và lời nói. Vì vậy, bà đồng nhất ngôn ngữ học với lý thuyết ngôn ngữ cấu trúc của Saussure và không biết rằng lý thuyết này đã bị Voloshinov (1929) và nhiều tác giả khác phê phán (Bà làm ra vẻ biết Voloshinov, nhưng nếu đã đọc, hẳn bà phải biết rằng Voloshinov chính là tác giả của Nguyên lý đối thoại cũng như các khái niệm Liên văn bản, Diễn ngôn, Thể loại diễn ngôn, Tiểu thuyết phức điệu và nhiều ý tưởng kiệt xuất khác). Chính sự phê phán ngôn ngữ học cấu trúc của Saussure đã mở đường cho Chủ nghĩa Hậu cấu trúc, về cơ bản là một tên gọi khác của Chủ nghĩa Hậu hiện đại.
Có hàng trăm thuật ngữ thông dụng bị Thụy Khuê dịch lại như vậy, không phải là vì chúng không chính xác, mà vì bà không hiểu. Chẳng hạn, cặp thuật ngữ signifiant/signifié vẫn được dịch là “cái biểu hiện/ cái được biểu hiện” hoặc “cái năng biểu/ cái sở biểu”, được bà dịch lại là “chữ/ nghĩa”: “Từ sự phân tích hành trình của lời nói trên đây, Saussure mới định danh ba thành phần chính của tiếng nói, là ký hiệu (sign), chữ (signifiant) và nghĩa (signifié)” (tr. 157). Bà không hiểu rằng trong ngôn ngữ nói, signifiant là “âm” chứ không phải là “chữ”.
Từ arbitraire vẫn được dịch là “võ đoán” (Hoàng Tuệ, Cao Xuân Hạo), hoặc “tùy ước” (Nguyễn Văn Độ). Nay Thụy Khuê dịch lại là “Bất kỳ”. Sao lại “bất kỳ”? Sự tương ứng giữa “âm” và “nghĩa” của một từ, theo Saussure, hoàn toàn không bất kỳ, mà là một-đối-một. Có điều, chúng ta không thể, nói đúng hơn là không cần, giải thích một cách logic.
Không hiểu nên không nhất quán. Các từ “Style” và “Stylistique” vẫn được dịch là “Phong cách” và “Phong cách học”, riêng Thụy Khuê có chỗ dịch là “Văn phong” và “Văn phong học”, chỗ khác lại dịch là “Văn cách”: “Theo Bakhtin, tiểu thuyết nhìn toàn diện, là một hiện tượng nhiều văn cách (pluristylistique), nhiều lọng lẹo (plurilingual), nhiều cách phát âm (plurivocal)” (tr. 295).
“Nhiều lọng lẹo” là gì vậy? Sợ rằng đây là lỗi nhà in, tôi phải kiểm tra trên trang cá nhân của bà. Vâng, đó đùng là điều bà viết. Tại sao bà lại dịch “Plurilingual” (đa ngữ) thành “Nhiều lọng lẹo” – điều ấy chỉ có trời biết!
Rồi bà đồng nhất “Style” với “Écriture”: “Thực ra style và écriture đồng nghĩa, nhưng chữ écriture có vẻ mới hơn, trực tiếp và trần trụi giống như tính khí của Sartre” (sic!). (tr. 172). Bà trích dẫn cuốn Độ không của lối viết của Roland Barthes, đoạn phân biệt giữa style (phong cách) và écriture (lối viết), rồi phán: “Barthes có nhiều câu ‘bùa phép’ như thế: rất văn chương, rất trí thức, nhưng khó đoán ông muốn nói gì, vì vậy, lập luận này của ông không mấy thuyết phục: đã đành style có nguồn cội từ cơ thể, mà tại sao écriture lại không?” (tr. 503).
Dễ thấy rằng Thụy Khuê dựa vào bản dịch của Nguyên Ngọc. Ông dịch “écriture” là “lối viết” – rất hay và rất đúng. Nhưng người Việt dễ liên tưởng “lối viết” với “phong cách”. Thực ra trong tiếng Pháp, sự khác nhau rất rõ. Nói đơn giản, écriture là “sự viết”. Barthes rất tinh tế nhận thấy rằng ngôn ngữ là chung cho mọi nhà văn cùng thời đại, còn phong cách (style) gắn liền với tác giả. Nhưng khi sáng tác, nhà văn có thể chọn những lối viết khác nhau, phụ thuộc vào đối tượng, mục đích, bối cảnh, cam kết chính trị và nhiều yếu tố khác nữa. Barthes viết: “…giữa ngôn ngữ và văn phong vẫn còn chỗ cho một thực tại hình thức khác: lối viết. Trong bất cứ hình thức văn học nào, cũng có sự lựa chọn tổng quát một giọng điệu, một đặc tính, nếu ta muốn gọi như thế, và chính tại đây nhà văn tự cá thể hóa rõ ràng, bởi chính ở đây anh ta dấn thân”. (Nguyên Ngọc dịch, Bản điện tử: Talawas).
Bằng thứ kiến thức hời hợt như vậy, Thụy Khuê bác bỏ Trần Đình Sử khi ông viết: “Phê bình phân tâm học là một trường phái phê bình rất rất thịnh hành ở phương Tây ở nửa đầu thế kỷ XX. Sức ảnh hưởng của nó đối với phê bình văn học phương Tây đương thời có thể nói không phương pháp phê bình văn học nào sánh được”. Bà đưa ra bốn bài tiểu luận của Freud và phán: “Không hiểu tại sao chỉ một đoạn văn ngắn như vậy mà lại chứa nhiều cái sai như vậy? Thực ra phê bình phân tâm của Freud chưa bao giờ có ảnh hưởng đến độ không phương pháp phê bình văn học nào sánh được, vì có mấy ai biết đến những bài phê bình của Freud mà chúng tôi vừa giới thiệu ở trên, trừ một số rất ít người nghiên cứu văn học”. (tr. 133)
Vẫn cái bệnh không chịu đọc đến nơi đến chốn! Trong đoạn văn trên, Trần Đình Sử bàn về Phê bình phân tâm học, chứ không phải về Phê bình phân tâm học của Freud. Freud có thể viết rất ít, thậm chí không hề viết, về văn chương, nhưng người ta có thể dựa trên lý thuyết của ông để xây dựng một trường phái phê bình. Tương tự, ta có Phê bình Marxist, Phê bình Hiện tượng luận, dù Marx và Husserl viết rất ít về văn chương.
Trần Đình Sử có sai như Thụy Khuê phán hay không? Trong vô số ví dụ, tôi xin dẫn ra đây cuốn Literary Theory của Terry Eagleton, một trong những nhà phê bình văn học nổi tiếng nhất thế giới hiện nay. In lần đầu năm 1983, cuốn sách đã được tái bản hàng chục lần, với hàng triệu bản, trở thành cẩm nang của sinh viên khắp thế giới (Bản năm 1983 của tôi là bản in lần thứ 12). Ngoài Lời nói đầu và Kết luận, cuốn sách có năm chương. Chương 1 bàn về sự xuất hiện và lên ngôi của các khái niệm “văn học” và “văn học dân tộc”. Chương 2 trình bày về ba trường phái Phê bình Hiện tượng luận, Phê bình thông diễn học và Phê bình Tiếp nhận. Chương 3 giới thiệu hai trường phái Phê bình Cấu trúc luận và Phê bình Ký hiệu học. Chương 4 dành trọn vẹn cho Phê bình Hậu cấu trúc và chương 5 dành cho Phê bình Phân tâm học. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của Phê bình hậu cấu trúc và Phê bình phân tâm học.
Thụy Khuê dành 42 trang cuối sách để chế giễu Chủ nghĩa Hậu hiện đại là “ảo tượng”. Trong bài phỏng vấn nói trên, bà nói: “Trường hợp lý thuyết hậu hiện đại mà tôi viết trong sách là một ví dụ sống động về sự “tam sao thất bản” này. Người Mỹ đã hiểu sai khi tiếp cận hậu hiện đại của Pháp và họ mang cái sai đó về bên kia châu lục, người Nga lấy lại cái sai đó của Mỹ và cuối cùng người Việt lại lấy cái sai đó từ Nga, cộng với việc dịch thuật không chuẩn thành ra méo mó hết cả”[4].
Ở đây nữa, bà đồng nhất Chủ nghĩa Hậu hiện đại với một vài ý tưởng cụ thể của Jean- François Lyotard. Bà không biết rằng Chủ nghĩa Hậu Hiện đại là một trào lưu rộng lớn với nhiều tác giả mà tinh thần chung là chống lại những quan niệm của Chủ nghĩa Hiện đại, trong đó đặc biệt là quan niệm máy móc về thế giới, niềm tin vào Lý trí phổ quát và ý niệm Cái tôi bản thể. Vào thập niên 1920, Voloshinov, Medvedev và Vygotsky đã chỉ ra rằng “Lý trí phổ quát” không hề tồn tại và “Cái tôi bản thể” cũng chỉ là “tổng hòa các quan hệ xã hội” (Marx). Mọi hiện tượng tư tưởng, theo họ, đều có bản chất xã hội, và ý tưởng về cơ sở khách quan và phổ quát cho nhận thức các hiện tượng tư tưởng (khoa học, thẩm mỹ, đạo đức, tôn giáo, giới tính, chính trị…) chỉ là những kiến tạo xã hội, những câu chuyện lớn mà thôi. Những lập luận nền tảng này về sau được các nhà tư tưởng Hậu hiện đại phát triển: Lyotard phê phán đại tự sự, Derrida nghiên cứu quá trình Giải kiến tạo, Foucault phân tích quan hệ quyền lực trong diễn ngôn, Gramsci và Said giải phẫu bá quyền văn hóa, Barthes nói về cái chết của tác giả v.v…
Vì khuôn khổ của bài báo, chúng tôi chỉ muốn nói rằng nhận định của Foucault được Thụy Khuê trích dẫn cuối sách với giọng chế giễu rất đúng để nói về bà: “Khi ta chưa biết hiện đại là gì thì khó có thể trả lời cầu hỏi: Hậu hiện đại là gì”. (tr. 565).
Thật khó để khen một điểm gì đó trong cuốn sách của Thụy Khuê: chỗ đúng thì không mới, mà chỗ mới lại không đúng. Phong cách đặc trưng của Thụy Khê là không đọc nhưng ra vẻ đọc. Ở chương 8, Bakhtin và xã hội học văn chương, bà nói đến hai cuốn sách của Medvedev là Phương pháp hình thức trong khoa học văn chương (1928) và Thi học xã hội nhập môn (1928). Chắc bạn đang phì cười: Vì không đọc, Thụy Khuê không biết rằng “Thi học xã hội nhập môn” chỉ là cái phụ đề của cuốn Phương pháp hình thức trong khoa học văn chương mà thôi!
Buồn cười hơn nữa là đoạn về thủ lĩnh của Tiểu thuyết mới: “Alain Robbe-Grillet không viết một cuốn sách lý luận nào về chủ nghĩa hậu hiện đại, người ta lầm với cuốn Vì một nền tiểu thuyết mới (Pour un nouveau roman) của ông. Robbe-Grillet nổi tiếng từ thập niên 1950-1960, với ba tiểu thuyết chính: Những cục tẩy (Les gommes, 1953), Kẻ nhòm trộm (Le voyeur, 1956) và Bức mành mành (La jalousie, 1957)” (tr. 561).
Chắc bạn lại phá lên cười. Cuốn La jalousie kể về một chuyện mơ hồ, có lẽ là tình tay ba, giữa một phụ nữ, một người đàn ông (có lẽ là nhân tình) và người kể chuyện (có lẽ là chồng của người phụ nữ). Người kể chuyện này không xuất hiện, nhưng lại hiện hữu mọi nơi. Nếu đọc, hẳn bà phải biết rằng tên chính xác của cuốn tiểu thuyết là Ghen. Nhưng nhà phê bình khả kính Thụy Khuê không cần đọc. Vì trong từ điển, “Jalousie” có một nghĩa khác là “Bức mành mành”, bà có thể yên tâm bàn luận một cách uyên bác về “Bức mành mành”!
Một biểu tượng tuyệt vời. Xin trân trọng tặng bà danh hiệu ấy: “Nhà phê bình văn học mành mành”!.
Chú thích:
[1] Thư Hân, Phê bình văn học thế kỷ XX có mở đại lộ cho văn chương?
[2] Thư Hân, đã dẫn.
[3] Ferdinand de Saussure, Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, Cao Xuân Hạo dịch, in lần thứ hai, NXB Khoa học xã hội, 2005, tr. 43-44.
[4] Thư Hân, đã dẫn.
11/10/2021
Ngô Tự Lập
Nguồn: Văn Nghệ bộ mới 41/2021
Theo https://vanvn.vn/

Những tình thâm lặng lẽ đã lá cành

Những tình thâm lặng lẽ đã lá cành

Nhà thơ Trần Kim Anh hiện sống và viết ở Hà Nội, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, đã xuất bản các tập thơ: “Giao Mùa”, “Nhện đỏ”, “Khi đàn ong bay đi”, “Chuyện của rêu”, được trao một số giải thưởng văn học.
Đối với nghề văn, nhà thơ Trần Kim Anh quan niệm: “Với tôi viết văn là nghiệp. Biết chữ là tôi đọc sách nhiều để bớt buồn. Thành mê văn chương rồi thích viết nỗi đời. Cám ơn những cú hích đẩy tôi viết tiếp. Dần dần tôi nhận ra  mình là riêng mà mình không là riêng nữa. Đi, học, đọc bao nhiêu cũng thấy ít. Nhọc nhằn, thầm lặng nhưng nói được ý nghĩ của mình nhỏ, thật nhỏ thôi, cũng là hạnh phúc”.
Với chùm thơ này, nghĩa sinh thành dưỡng dục đã thành nguồn thi hứng cuồn cuộn, lay động tâm cảm, đánh thức tình yêu thiêng liêng trong thơ Trần Kim Anh như một sự biết ơn vô tận.
Cây trái cũng cần ta
Ngày con tìm được cha
Cha bảo em trai ra dừa xin trái ngọt
Em lạy dừa cho buồng quả xum xuê
Dừa ngọt ướp trong veo tình thân ái
Con uống dừa nghe sông Mã uống hồn quê
Con thầm thĩ:
Đất Làng Cuội có gì mà dừa nhà ngọt rượi?
Cha nheo nhìn hun hút bóng dừa xa:
Ấy là muối, mồ hôi, tình cha gửi lá
Ủ vào cây, ruột đất con à
Vịn lời cha
Con chở đời qua những miền đất lạ
Làng Cuội hiền bao bọc dọc đường xanh
Ngày trở gió úa vàng thu rụng lá
Con nghe lòng vỗ sóng những lời cha…
Con lại quay về ngơ ngác trước hiên nhà
Mà cha đi đâu mà dừa tàn lụi
Mà khói mà hương khuất bờ khuất bụi
Con gái trống trơ bên cát sóng Hàm Rồng
Làng Cuội dịu lành lòng quê ruột đất
Ngọt dừa xưa con uống cả tình cha
Xin cứ tươi non trĩu mùa thơm quả
Những tình thâm lặng lẽ đã lá cành
Xin đừng làm mẹ buồn
Ngôi nhà sẽ không còn thang gác
Đất sẽ bằng đỡ gối mẹ mỗi ngày
Hoa sẽ gió bốn mùa về dịu ngọt
Êm đềm ru giấc mẹ say
Những bức tường không giám lắc đầu lần nữa
Được lem nhem tay mẹ vịn mỗi ngày
Không nói bẩn không phiền lòng khó chịu
Một đời bấu víu mẹ nuôi ta
Sân nhà biết dấu cơm canh mẹ vãi
Người rụt rè sau run rẩy cơm rơi
Không giám để mẹ già ngồi lặng lẽ
Để nâng niu thêm mãi tuổi người
Gường nệm ấm biết dấu mùi sau hương bồ kết
Mẹ già không ưa tắm mỗi ngày
Chớ có hắt hơi để mẹ buồn héo tuổi
Mẹ đã mòn sức lực đã sang ta
Những đọi bát nồi niêu xoong chảo méo
Hãy nhẫn nại để tự nhiên rơi vỡ
Hãy lễ phép và mỉm cười theo ý mẹ
Sau thăng trầm bát đĩa có hiểu không?
Và ta nữa đứa con chưa bao giờ thấu hiểu
Cùng ngôi nhà sàn gạch những bức tường
Bát đĩa nữa xoong nồi ga gối nhỏ
Xin cúi lạy người xin mẹ hãy thứ tha
Như ngày cuối
(Kính tặng mẹ tuổi 95)
Em nói với đêm
Mẹ như chiếc lá vàng
Em sợ
Một mình em
Trơ trọi giữa đường người
Đêm nhỏ nhẹ:
Hãy coi mỗi ngày như ngày cuối
Sống hết mình với mẹ
Nhớ nghe em…
Thuốc ấm cơm mềm
Êm đềm mẹ tựa
Đỡ mẹ bằng ân nghĩa sinh ta
Và như thế hằng đêm con bên mẹ
Người trở mình ngày mới hồi sinh
Miên man thế ngàn ngàn ngày cuối
Em thấy mình nho nhỏ gom bình minh
Và như thế
Ngày cuối ơi! Giả tưởng
Mà thật ôi, thật đến bất ngờ
Thuốc ấm cơm mềm và con gái mẹ
Xin dâng Người nhỏ nhẹ mỗi ngày vui
Con ngồi đếm tiếng mẹ ho
(Kính tặng mẹ tuổi 97)
Chín mươi bảy năm
Tiếng ho mẹ bậu nỗi niềm xa vắng
Bồn chồn đêm khô khản lòng con
Con ngồi đếm cùng tiếng gà gọi sáng
Nhận về từng buốt héo mẹ yêu ơi
Giá như được tiếng ho trong thủa trước
Mẹ lặng nhường áo đắp giấc mơ non
Tiếng rên mẹ ơi đừng chuồi đêm trắng
Mẹ ta xưa mài nước mắt ru con:
À hà ơi! A… A …hời…
Cái hờn nào ngủ đi cưng
Mẹ cha lặn suối…ơ… trèo rừng… mong… à… con
Lần theo… cơm áo… mỏi mòn…
Đôi chân bền bước…ơ… biển non… bằng người…
Nào dám mơ chi nhiều, ta không dám
Đêm đêm còn tiếng mẹ ho khàn
Con được đếm theo tiếng gà rựng sáng
Bình minh lên con mừng mẹ gọi ngày sang
Ngày mẹ nằm viện
Không biết bao lần mẹ rời cổng viện
Bỏ sau lưng gối ấm những ân cần
Viên thuốc nhỏ mũi tiêm thủ thỉ
Không biết bao lần con âm thầm theo giấc mẹ
Chợt bần thần xấp xỏa những lo âu
Con bỗng nhận ra tháng năm đè cong tuổi
Mẹ đơn côi giữa mất mát bạn bầu
Thìa cháo qua tay lời hờ mắt lặng
Mẹ nằm như lá chờ thu
Ngoảnh lại ngày mẹ che cho con mưa bão
Con thấy tim mình bất lực giữa âm u
Con có thể làm gì
Để mẹ đứng lên và bước tới
Cửa nhà mình mẹ chờ con vời vợi
Con trở về sau mướt mát mưu sinh
Mẹ ơi!
Mang những giọt nước mắt
Đi làm chứng tử
Con thấy lòng rào rạt bão giông
Đêm thao thức tìm bóng hình của mẹ
Ngày trống trơ rỗng rạc đến dư thừa
(14.8-30.9- 2020)
Mẹ đâu rồi
Chỉ còn tiếng “A Di Đà” gõ loang đêm vắng
Đỡ mẹ về cực lạc Tây phương
Con nhận cảm ý thức con trống rỗng
Đâu đâu cũng hun hút những con đường
Mẹ ơi
Đêm mơ hồ con canh chừng hơi thở mẹ
Con bơ vơ cơm cháo mỗi ngày
Thương viên thuốc nằm im dang dở
Bám vào con chua chát đắng cay
Mẹ ơi
Nước vẫn nguyên trong bình thủy tinh cô quạnh
Cốc thìa bát đĩa đợi tay người
Mẹ cứ lặng im lặng im sau ngàn dấu hỏi
Mẹ lặng im u uẩn tận cùng con
Mẹ ơi
Mẹ đâu rồi
Mẹ cứ chầm chậm bước như những lần mẹ bước
Mẹ cứ dềnh giàng trước con như bao lần mẹ dềnh giàng
Mẹ cứ quờ bàn tay lem nhem dọc ngang giường chiếu
Cho nghênh ngang ngôi nhà nhỏ thêm cũ càng
Để con được nhận mùi hương bùa ngải
Từ mẹ yêu con tựa dọc đường người
Mẹ ơi
Mẹ đâu rồi
Mẹ đừng trốn con im lìm sau hương khói
Mẹ đừng ngồi trong linh vị bàn thờ
Mẹ nói gì đi đừng đùa giai như thế
Con gái dận hờn đợi mẹ dỗ dành con
Tranh của họa sĩ Nguyễn Quang Thiều
Đi chợ ngày thừa
Đôi tay buông thõng phía hư không
Vòng vo quanh chợ vòng vo mãi
Con mua lê táo như bùa ngải
Mua thịt xay về nấu canh mềm
Lòng con chới với con chới với
Mua mua chọn chọn trong chợ trời
Ngỡ thơm môi mẹ vui mắt mẹ
Mà mồ hôi con giọt rối bời?
Con về bày biện khắp nhà cửa
Con nấu con xay những thẫn thờ
Mẹ ơi nâng tàn nhang trầm lặng
Mẹ về mẹ hưởng chén đầy vơi
Trống không cùng khói bàn thờ ơi
Cơm canh tỉ mẩn lòng theo mẹ:
Con khói con mây, con gió nhẹ
Xin đỡ bước người chốn rong chơi
61 ngày con nhớ mẹ
Từ đó ngày ngày
Con sờ vào núi thời gian
Con tỷ mẩn số 14 vô tri
Tâm tư vòng theo số 8 lạnh lùng
Của năm 2020
Ngày ngày con âm thầm
Mẹ ở đâu trong dãy số 20
Con nhận ra mình đang níu kéo từng tờ lịch
Những tờ lịch rũ, mèm nước mắt
Bất lực thuốc cơm chăn áo của bệnh viện của nhà ta
Đôi tay buông lơi
Hơi ấm mẹ chìm trong đáy tim con
Vón thành cô đơn
Vón thành hãi hùng
Con thành rỗng không
Mẹ ơi
Có phép mầu nào không
Mở mắt ra là con có mẹ để thức khuya dậy sớm
Có phép mầu nào không để mỗi tối con được mẹ rầy la
Có phép màu nào không cho con còn mẹ
Để niềm tin con còn nơi ẩn nấp phía người mà
Mai con giỗ mẹ năm đầu
Một năm chỉ nhìn thấy mẹ
Trong mơ giọt ngắn giọt dài
Tỉnh ra đêm đầm đìa gọi
Mẹ ơi! Mẹ ơi! Mẹ ơi
Một năm lần tìm bóng mẹ
Khói hương hoa quả tiền vàng
Cơm canh thuốc men đường sữa
Nôn nao đợi mẹ úa vàng
Mẹ ơi xa gần ảo ảnh
Lặng im buốt rát hao gầy
Cực lạc mở về sóng sánh
Mẹ yêu! Con đỡ bóng người.
19/9/2021
Trần Kim Anh
Theo https://vanvn.vn/

Chính nhân Nguyễn Minh Châu

Chính nhân Nguyễn Minh Châu

Nguyễn Minh Châu là một chính nhân. Những ngày cuối 1972, an dưỡng ở Quảng Bình, tôi đã đọc say mê “Dấu chân người lính” của ông. Cuốn hút tôi chính là đoạn ông viết về một cô gái Vân Kiều. Trong nhật ký tôi đã viết: “Ý nghĩ viết về cô gái bản và tình cảm của cô với bộ đội, rồi thượng nguồn con sông giới tuyến bỗng cháy trong lòng khi mình đọc Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu”. Tôi đã chép vào nhật ký những bài ca của người Vân Kiều mà Nguyễn Minh Châu đưa ra trong “Dấu chân người lính”.
Tìm anh khó hơn tìm ông trăng tròn
ông trăng tròn ở xa
mỗi tháng còn thấy một lần
anh ở gần
em tìm mãi không thấy
vắng anh, em ăn không no
hút thuốc không cháy
uống nước mà vẫn khát
trời mưa lâu làm chòi anh dột
chòi dột anh phải đi lợp lại
anh có ưng em, em cất lều lá chuối
giúp anh lợp mái chòi
không ưng nhau chòi lành cũng dột
ưng nhau, chòi dột anh cùng em lợp cái lá
anh là trái núi cao hay ngọn suối nước trong ngoài đầu bản
anh là ông trăng tròn ban đêm
hay là mặt trời ban ngày
anh là con chim Pít ăn lúa trên nương
hay là bắp hoa chuối đỏ trên nắp gùi cô gái đẹp nào?
em tìm anh như con voi phá chuồng
đi khắp núi khắp rừng
lâu ngày thành con voi điên…
Đến khi ra Hà Nội, do tôi hay đến chơi với anh Nguyễn Trung Thu (vốn tốt nghiệp Tổng hợp Văn làm ở Viện Văn học, đi bộ đội cùng tôi và là tác giả bài thơ “Đêm Trường Sơn nhớ Bác” nổi tiếng) ở khu tập thể số 3 Ông Ích Khiêm nên được gặp ông, vì ông là hàng xóm nhà anh Thu. Tính tình ông điềm đạm, dễ gần, rất chân thật và rất nghệ sĩ. Qua chia sẻ, tôi biết thêm nhiều và thân thiết hơn với Nguyễn Minh Châu.
Nguyễn Minh Châu sinh ngày 20.10.1930 ở Quỳnh Lưu – Nghệ An. Ở đây, đất này, sinh sau ông 15 năm là Thái Bá Lợi – bạn thân của tôi. Hóa ra Nguyễn Minh Châu cũng bắt đầu bằng nghề thợ khi theo học trường Kỹ nghệ Huế từ năm 1944 – 1945, như tôi bắt đầu là kỹ sư thông tin, Nguyễn Khắc Phục bắt đầu là thủy thủ v.v… 20 tuổi ông tiếp tục học chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng rồi sau đó gia nhập quân đội. Ông về Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội từ năm 1962.
Từ khi vào bộ đội, tôi đã được đọc những truyện ngắn của ông. Nhưng ấn tượng nhất là tiểu thuyết “Dấu chân người lính”. Sự lãng mạn say sưa lý tưởng đã giúp ông dựng lên hình tượng người lính thời chống Mỹ lấy “cuộc đời là chiến trận”. Đọc ông, những người lính chúng tôi dám dấn thân hơn trên hành trình khói lửa đầy đạn bom. Đọc ông, chúng tôi thấy mình kiêu hãnh hơn.
Sau thống nhất, ông lại tiếp tục gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc qua “Miền cháy”, “Lửa từ những ngôi nhà”, “Cửa sông” và đặc biệt là “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” – một tập truyện ngắn đầy phong cách riêng Nguyễn Minh Châu.
Nhưng cũng từ sự dấn thân đó, ông nhận ra những sự giả dối của một nền văn học chỉ thấy sự tô hồng, phản lại sự sống thực của dân tộc. Bởi thế, ngay từ đầu thời đổi mới, ông đã viết tiểu luận “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa” gây chấn động trong làng văn về sự thẳng thắn và dũng cảm.
Từ sự dấn thân đó, ông đã nhiễm bệnh ung thư. Nhìn ông với chiếc mũ nồi thường trực trên đầu, dáng điệu khoan thai hiền hậu, không nghĩ trong ông là một núi lửa của tư duy mạnh mẽ, là sự bất khuất, không khoan nhượng với giả dối. Nụ cười ông luôn thoáng một nét buồn. Buồn như “Phiên chợ Giát” truyện ngắn của ông hay “Những người ở quê ra” mà nhờ thế, “Phiên chợ Giát” được đánh giá như một kiệt tác.
Không mấy ai nhận ra được cái thần thái trong cái bóng dáng gày guộc cứ lặng lẽ đi men lối ngõ khu tập thể số 3 Ông Ích Khiêm rồi chui vào một căn buồng ẩm thấp. Số phận đã gắn ông với căn buồng mà nghe phong thanh đâu ở dưới nền nhà có một hài cốt của người Tầu. Đến khi được phân nhà mới thì lại nằm ở bệnh viện. Những ngày cuối cùng của Nguyễn Minh Châu ở Viện quân y 108, tôi và Lương Châu Phước đã đến ngồi rất lâu bên ông. Tuy làm tờ “Đất Việt” cho Hội Việt kiều ở Canada, Lương Châu Phước rất thông hiểu tình hình văn học Việt Nam và rất biết những ai đóng góp cho những ngày đầu đổi mới. Tiểu luận của Nguyễn Minh Châu khiến Phước rất cảm phục về sự đúng đắn và dũng cảm. Nhìn Nguyễn Minh Châu nở nụ cười yếu ớt trên giường bệnh, lòng tôi không khỏi xót xa, chùng xuống một cái gì mang mang khó tả. Đấy cũng là lần cuối cùng. Ngày 23.1.1989, Nguyễn Minh Châu đã ra đi khỏi cõi đời ở tuổi 60.
Đám tang Nguyễn Minh Châu được tổ chức nhanh gọn theo nghi thức nhà binh đối với một sĩ quan quân đội cấp bậc Đại tá. Số phận Nguyễn Minh Châu thật lạ lùng, khổ đến chết. Khi ý định quàn ông ở trụ sở Ủy ban toàn quốc các hội văn học nghệ thuật Việt Nam (sau là Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam) 51 Trần Hưng Đạo, Hà Nội được Hội Nhà văn đề xuất thì ông Chủ tịch Ủy ban toàn quốc các hội văn học nghệ thuật Việt Nam từ chối với lý do là nhà đang sửa, Nguyễn Minh Châu chưa đủ tiêu chuẩn. Hội Nhà văn đã định đầu hàng. Nhưng do nhiều ý kiến bênh vực Nguyễn Minh Châu nên cuối cùng đám tang cũng được diễn ra ở 51 Trần Hưng Đạo, chỉ có điều quá nhanh. Nhiều người mang hoa đến thì xe tang đã đi.
Điều còn lại với đời ở Nguyễn Minh Châu chính là tác phẩm và nhân cách của ông. Những năm cuối đời, sáng tác của Nguyễn Minh Châu biểu rõ tư chất nhà văn của ông. Ông đã tìm được cái của chính mình, cái mà mình mong mỏi ký thác với đời. Văn của Nguyễn Minh Châu là một giọng văn thật quý hiếm mà người viết chân chính nào cũng muốn gắng sức đạt đến, một giọng riêng không vay mượn, không bị thúc ép, cám dỗ bởi bất cứ động lực nào.
Nguyễn Minh Châu là một bản lĩnh văn xuôi, là một “chính nhân quân tử”. Ông, với tư cách của người lính, đã chiến đấu đến cùng cho điều mình cảm thấy là đúng. Cái chết của Nguyễn Minh Châu để lại một cảm giác bình yên. Bình yên cho ông và bình yên cho những người đang sống. Nhưng buồn. Dù sao thì cuối cùng, sự nhìn nhận về ông cũng đã đúng mức. Ngay năm 1989, ông đã được Giải thưởng Bộ Quốc phòng năm 1984-1989 cho toàn bộ tác phẩm viết về chiến tranh và người lính. Tập truyện cuối cùng của ông là tập truyện vừa “Cỏ lau” được tặng giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (1988-1989). Ông đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật Đợt II năm 2000.
Trong cuốn “Nhà văn của các em” do Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 1996, nhà phê bình Nguyễn An đã viết về Nguyễn Minh Châu: “Nguyễn Minh Châu là nhà văn viết rất kỹ và khá nhanh. Trong số lượng tác phẩm để lại… đọc truyện nào của ông cũng thấy lóe lên một cái nhìn sắc sảo, một sự đầm ấm trong tâm hồn. Nhân vật của ông cũng không đơn giản, sơ lược. Trong hành trình cuộc đời họ dường như luôn luôn có một cuộc đấu tranh dai dẳng, phức tạp. Lối kết cấu tác phẩm và mô tả của Nguyễn Minh Châu cho thấy một sự vận động đổi mới trong nghệ thuật viết văn của ông, trong hướng đi sâu vào thể hiện và phân tích nội tâm nhân vật… Cùng với các tập truyện “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”, “Bến quê”, “Mảnh đất tình yêu”… và đặc biệt là tập truyện vừa “Cỏ lau”, Nguyễn Minh Châu đã trở thành một trong những nhà văn đi đầu trong công cuộc đổi mới văn học ở ta”.
Đi sau xe tang ông trong nỗi buồn xót xa, khi đi về nhà qua phố Phủ Doãn lại gặp một đám tang khác. Tôi chợt nhận ra ngày nào tôi cũng đi từ phố Hàng Bông qua Phủ Doãn, ngày nào cũng đi qua tiếng khóc. Vậy là tôi đã viết “Tự khúc” để tưởng nhớ ông:
Ngày nào ta cũng đi qua tiếng khóc
phố Phủ Doãn gặp gỡ bao đám tang
trước mất mát nỗi đau người khác
sao ta dửng dưng 
và mọi người với ta cũng chẳng khác hơn
có lẽ bạn đường với đớn đau là cô độc
và mỗi lần sau khi làm ngơ trước cảnh đời
trái ngược                                                 
lại chỉ mình ta dằn vặt âm thầm
hôm qua ngừng đập một trái tim nhà văn
lặng lẽ chết khi biết mình sẽ chết
ai bảo bây giờ không còn bi kịch
ta buồn đi như thể mưa bay
bao người lính như anh dần khuất xa rồi
bệnh ung thư gậm nhấm từng số phận
chiến tranh còn di căn đeo đẳng
vết thương hồi nào nhức nhói nơi nao
Pop, rock hộc lên òng ọc ti vi màu
cố cưỡng lại kiếp người yếu đuối
quả tim nhỏ của anh đập trong bóng tối
cũng là sương là khói một đời văn.
12/10/2021
Nguyễn Thụy Kha
Nguồn: Văn Nghệ bộ mới, 41/2021
Theo https://vanvn.vn/

Tình yêu thương loài vật không thuộc về riêng ai

Tình yêu thương loài vật
không thuộc về riêng ai

Rất nhiều người đau lòng khi nghe tin bầy chó bị tiêu hủy ở Cà Mau chỉ vì chủ của chúng là F0. Chúng ta đau vì tình yêu thương loài vật không thuộc về riêng ai. Đó là thứ tình cảm mang tính nhân loại, nhân bản và gợi đồng cảm ở bất cứ đâu.
1. Truyện dài Tôi là Bêtô của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh vừa được xuất bản ở Hàn Quốc. Cuốn sách viết từ góc nhìn của Bêtô – một chú chó nghịch ngợm, đáng yêu, có tình cảm trìu mến với loài người và đồng loại.
Còn con người có nhiều kiểu. Có người như bà cố, rất yêu thương loài vật. Nhưng cũng có người như lão Hiếng, coi hành hạ loài vật là thú vui. Với những người như vậy, bầy chó có cách nhận diện rất riêng: chúng ngửi thấy “mùi ác” tỏa ra từ họ.
Cuốn sách cũng có nỗi đau của sự chia ly. Khi người chủ yêu dấu qua đời, bầy chó bơ vơ và suy sụp nhưng chúng cũng biết an ủi nhau: “Nếu tao vẫn luôn sống trong ký ức một ai đó, tao sẽ không bao giờ chết”. Và trái lại, có những kẻ “chết ngay lúc đang còn sống” vì họ vốn tàn nhẫn.
Một cảnh đáng yêu trong Tôi là Bêtô là khi cô chủ đi chơi về muộn, Bêtô sốt ruột và lo lắng y như cha mẹ cô.
Chú chó Bêtô, qua sự hóa thân của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, đã nhắn nhủ loài người: “Cũng như các bạn, chúng tôi có khả năng sở hữu tình yêu thương, lòng biết ơn, thậm chí cả sự minh bạch và khát vọng tự do”.
Tình yêu thương loài vật là thứ tình cảm xuyên qua không gian và thời gian. Loài vật đã và đang là chỗ dựa tinh thần cho con người. Và trên tất cả, con người cần hiểu rằng: giữa thời đại dịch, loài vật xứng đáng được sống.
2. Vụ việc ở Cà Mau khá trùng hợp với vụ 15 con chó bị giết ở Úc vào tháng 8 năm nay. 15 con chó cứu hộ, trong đó có 10 con nhỏ mới sinh. Sau khi chúng bị chủ bỏ bê, hội đồng địa phương vùng nông thôn Bourke Shire quyết định kết liễu bầy chó bằng những phát súng.
Lý do của hội đồng là tránh để tình nguyện viên ở các tổ chức cưu mang động vật đến nhận nuôi chó, làm tăng nguy cơ lây lan dịch.
Mang danh chống dịch, hành động giết bầy chó vẫn khiến dư luận Úc phẫn nộ. Cũng như lúc này, mạng xã hội ở Việt Nam dậy sóng vì tiếc thương đàn chó tội nghiệp ở Cà Mau.
Trong thời Covid-19, trang web của CDC vẫn khuyến cáo “hãy bảo vệ thú nuôi” chứ không phải là tiêu hủy chúng để bảo vệ mình.
Và trong nỗi đau về sự ra đi của bầy chó ở Cà Mau, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đăng lên mạng bài thơ Bầy chó của tôi được ông sáng tác năm 1991. Bài thơ có đoạn: “Chó ơi, đừng sủa nữa. Gió đêm thành gió dại rồi. Ai ném lại vầng trăng ra khỏi sự bình yên. Lao rồ dại trong mây trời xứ mẹ“.
Ai ném bầy chó ra khỏi sự bình yên? Không phải hai vợ chồng người chủ khốn cùng. Khi phải chất hết đồ đạc lên chiếc xe máy cũ rời Long An về Cà Mau, họ vẫn mang bầy chó theo. Trên đường đi, giữa trời mưa nặng hạt, chủ và chó vẫn quây quần đầm ấm, san sẻ với nhau mọi thứ.
Hay là đổ lỗi cho dịch bệnh? Không, không thể đổ lỗi cho Covid-19 về tất cả được nữa. Dịch bệnh không ép con người hành xử sai kiến thức. Dịch bệnh không quyết định lòng người.
13/10/2021
Mi Ly
Theo https://vanvn.vn/

Lúc nhọ mặt người

Lúc nhọ mặt người

Từ Bỉ nhà văn Kiều Bích Hương gửi về cho Báo Văn Nghệ một truyện ngắn mới nhất của chị, vừa hoàn thành trong tháng 7.2021.
Lấy bối cảnh tình hình dịch Covid-19 ở châu Âu, nhưng truyện là những lát cắt cảnh đời và tâm trạng của người Việt xa xứ. Một “chuyên gia tâm lý” ngoài giờ hành chính, một dân IT thích buôn chuyện, một “người rắn” rệu rã xứ người… Họ đều là đàn bà, những người rời quê hương mang trong mình những ký ức không thể xóa nhòa. Tất cả được Kiều Bích Hương ráp nối thành một câu chuyện tưởng lỏng lẻo, nhưng kỳ thực vô cùng chặt chẽ, không có một chi tiết thừa. Tình thế lưỡng nan của con người trong dịch bệnh đã trở thành một nỗi ám ảnh khi tác giả đặt các nhân vật trên cái nền ánh sáng lúc nhọ mặt người.
Cũng chính cách sử dụng ánh sáng và chuyển cảnh theo tâm trạng nhân vật, mượn thủ pháp của điện ảnh, mà truyện ngắn này trở nên đặc biệt.
TRẦN NHÃ THỤY giới thiệu
Thomas xộc vào “Cô quyết đi, có quay lại cái máng lợn này không? Đang sẵn cả đàn chầu chực thế chỗ kìa.”
Tôi thót tim, ai để ông ta vào đây. Kevin sao ngồi một mình dưới hiên thế kia, trong tay là cốc nước chứ không phải đi uống bia với bạn. Tôi cố gọi anh chỉ đáp bằng ánh mắt thẫn thờ đẫn đờ. Tôi lật đật tìm Trà trong phòng chat bí mật “Nhầm rồi, đây là app tìm bạn tình, không phải trò chuyện giải tỏa tâm lý.”
Quái quỷ thật. Chuyện Thomas lọt vào giấc mơ của tôi ấy. Vì thời hạn tạm nghỉ việc một năm sắp hết chăng? Chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật của công ty sản xuất hóa chất đa quốc gia cơ đấy. Chẳng khác mấy chị nhân viên tổng đài 1080. Chưa biết đúng sai người ta cứ gào vào tai mình trước đã. Hãi nhất là khách Hà Lan, giọng khào khào như bị bóp họng lời lẽ còn thô lỗ cục cằn. Thomas phụ trách nhân sự cho tôi theo khóa Tâm lý học cơ bản để hiểu hơn quá trình của nhận thức, tình cảm và giải thích hành vi con người. Xong 120 giờ học tôi nộp đơn xin nghỉ việc một năm để theo mấy khóa nghiên cứu tâm lý nữa. Công ty mong tôi mang kiến thức sơ đẳng đó về đối xử tử tế với khách, tôi lại áp vào dự án riêng. Gần năm nay ban ngày tôi học trực tuyến, cuối chiều nhận tiếp chuyện giải tỏa tâm lý cho đồng hương.
Tôi nhận ra bao năm nay mình như dòng nước mát làm dịu cơn nóng giận của khách về sản phẩm lỗi. Thực ra tôi không chữa được sản phẩm lỗi mà có thiên hướng lắp ráp lại những trục trặc về tinh thần.
Trà, có lẽ là vị khách đầu tiên của tôi. Có những ngày ở công ty đã váng đầu, vừa về tới nhà, Trà đã gọi “Chị, buôn chuyện một tí”; “Chị, cho em qua chốc lát được không?”… Dần dà tôi thoái thác “Đang có zoom meeting quan trọng, chị gọi lại sau”, “Kevin ho, đau họng. Đi test xem có dính cô Vy không, đừng qua vội”… Trà không tha “Thì em đeo khẩu trang ngồi bếp hay ra ngoài hiên nói chuyện.” Kevin nghi Trà tâm lí không bình thường. Buôn chuyện cũng phải có giới hạn chứ. Gọi nhiều, lần nào cũng bật kèm camera nhòm mặt người ta là thế nào. Trà vừa ra khỏi xe tôi đã kéo vội vào con đường dạo bộ phía sau nhà, tránh mặt Kevin. Chuyện nọ xọ chuyện kia, ngắm mây ngắm cây xong, tôi phải bảo “Cứ để nhà cửa con cái nhếch nhác một chút có sao. Cần thì mang con gửi trẻ, không gửi mẹ chồng nữa để bà ấy bớt can thiệp chuyện nhà. Chẳng ai chu toàn mọi thứ trên đời được. Nhiều khi cũng phải biết kệ.”
Người phụ nữ dáng thô mặt rỗ đầu quả gáo tưởng gai góc lầm lì giờ cũng thành rưng rưng yếu ớt “Chị nói sao giống ba em. Hồi ba còn sống, thỉnh thoảng các con về khóc lóc, ba cũng nói kệ nó đi con.” Rồi Trà chợt nghĩ ra “Em thấy chị làm dịch vụ trò chuyện giải tỏa tâm lý rất hợp. Khu này hàng xóm thưa thớt, ban ngày đi học hoặc đi làm tối trời mới nhận khách, ai biết. Cứ thử trước, sau này chị muốn đổi hẳn nghề bác sĩ tâm lý cũng tốt mà. Em dân IT nè, để em làm cho chị cái ứng dụng giúp hẹn khách. Người chán vợ kẻ chán chồng cũng dùng phòng chat bí mật để hẹn hò đó. Các ứng dụng đó không hiện sẵn trên điện thoại đâu. Phải có mã hoặc dùng vân tay nó mới hiện hình, chị yên tâm đảm bảo bí mật cả mình và khách.”
Đời nào Kevin chịu cho tôi đón người lạ vào nhà. Không phải vì chẳng kiếm ra tiền từ những cuộc trò chuyện ấy (ai gửi chút thù lao cũng không từ chối). Anh bảo tôi vi phạm giãn cách xã hội. Mở cửa thông gió trên mái, ngồi phòng kính dưới hiên có lối ra cổng ở vườn sau, về lí thuyết vẫn là gặp gỡ ngoài trời còn gì. Mỗi tuần cùng lắm chỉ tiếp một người, vi phạm gì nặng đâu. Kevin nhượng bộ. Anh chiều tôi. Chuyện con cái anh còn chẳng nỡ bắt tôi đẻ “Em thấy không đủ sức chịu trách nhiệm nuôi dạy một đứa trẻ thì mình không nhất thiết phải có con.” Nghe tôi than phiền khách hàng ở công ty, phàn nàn Thomas hẹp hòi phân biệt đối xử, Kevin cũng chỉ một câu “Em bỏ đi. Chuyển sang nấu ăn hay học nghề bác sĩ tâm lý cũng được. Anh đi làm cho cả hai cũng đủ.”; “Nhưng em gần bốn mươi rồi, thêm năm hoặc sáu năm học nghề bác sĩ tâm lý thì muộn quá”; “Ô, anh nghĩ tuổi này may ra mới biết mình thích gì ấy chứ. Học nghề mới bây giờ càng chín chắn.”; “Tính anh chưa làm ấm chỗ đã kêu thiếu thử thách, không có cơ hội phát triển, lại nhấp nhổm chuyển việc. Em vẫn lo.”; “Anh sẽ bớt tham vọng, được chưa?”
Chẳng coi chuyện mất việc thời buổi ai cũng chỉ mong giữ được việc là hệ trọng, thì tôi bị ám ảnh bởi cái gì mà dạo này lắm mộng mị vớ vẩn thế. Không đi làm nên tinh thần và sức lực của tôi trì trệ dần chăng. Hay tôi bất cẩn để khách hàng bước cả vào đời sống riêng của mình. Đấy, như chàng trai đến đây hai tuần trước dồn dập căng thẳng phẫn uất “Hầu như ngày nào lên tàu xe em cũng bị mấy thằng say xỉn, bọn trẻ trâu sán lại xin tiền, mượn điện thoại. Không cho chúng nó chửi bới thằng reo rắc virus này nọ… Em giả điếc giả mù bỏ đi. Chúng nó không tha, đi theo chửi, nhổ nước bọt trước mặt em. Cứ thế này em điên mất. Bố bảo phải tỏ ra là dân nghèo mới không bị chú ý, mới được an toàn. Em giả nghèo thế nào. Giả nghèo có thay đổi được cái mặt hay làn da này không? Em thà sống mái một trận.”
Thế mà đêm đó tôi mơ ngay cảnh cậu bé nằm trong vũng nước lớn, tay còn nắm chặt chùm chìa khóa trong túi áo nhưng lưỡi dao của đối phương dài hơn và rút ra trước rồi.
Chắc tôi không đến nỗi bị tẩu hỏa nhập ma đâu nhỉ. Phòng kính dưới mái hiên cũng tối giản đồ đạc, không có gì để ám vào. Hai bức tranh mặt Phật treo đối diện tôi và khách, tủ nhỏ kê giá nến đốt nóng vài giọt tinh dầu sả chanh, oải hương, ngọc lan tây hoặc bạc hà giữ cho không gian thơm, sạch và ấm. Trà đưa mấy đĩa nhạc kinh Phật tĩnh tâm cầu an vẫn để trong tủ chưa dùng đến. Trên bàn chính tôi chỉ đặt máy tính xách tay, mấy quyển sách tâm lý và giấy bút phòng khi cần ghi chép. Thêm chiếc ghế bọc nhung màu mận chín để ngả lưng đọc sách bên bàn trà nhỏ kê góc phòng cho đỡ trống. Khoảng nhìn mở hẳn ra vườn cỏ xanh mát, lối đi rải sỏi trắng và trang trí tre trúc hai bên. Hay thời điểm tôi nói chuyện với khách vào chiều muộn trong cuộc giao tranh của ánh sáng và bóng tối? Tiễn khách xong, tôi thường bước ngay vào giấc ngủ mà không có khoảng giãn đệm để giải phóng cảm xúc? Gần đây tôi còn mơ người ta phẫu thuật não cho mình, chỉ ra các nếp gấp đã doãng ra như sợi mì ăn liền ngâm nước.
Nhưng Thomas nhảy vào cơn mộng mị và hình ảnh Kevin cầm cốc nước ngồi một mình trong ánh đèn vàng đáng ngại thế kia, có thể do hôm qua khách nấn ná quá lâu chăng? Tôi đã không dọn dẹp hiện trường sạch sẽ và để một số ý nghĩ khó chịu đeo bám cả khi vào giường. Chắc thế!
Chị này lấy chồng bản xứ, hai con chung. Chồng ngoại tình. Trà  định kể nữa, tôi nhớ là đã ngăn “Để khách tự nói. Chị có phải thầy bói đâu mà cần chim mồi.”
Đây là vị khách đầu tiên gây cho tôi cảm giác sốt ruột. Gần mười giờ đêm, khoảng nửa tiếng nữa Kevin sẽ về sau buổi bia bọt với bạn nhân nới lỏng giãn cách. Chị D. vẫn chưa bình tĩnh lại được, còn bồi thêm:
– Lúc đến đây chị chạy xe vòng vòng, thấy đường phía vườn sau nhà em có bãi trống nho nhỏ. Kín đáo nữa. Lát chị đỗ vào đó ngủ qua đêm trong xe được không?.
Tôi hơi hoảng nên trả lời bằng một câu hỏi.
– Mới hôm nay hay bao lâu rồi chị không muốn về nhà ngủ nữa?.
– (Hức hức)… Dễ nửa tháng rồi ý. Chờ các con lên giường chị phóng ra bãi gần nhà thờ thị trấn, ngủ ở đó. Cũng sợ lắm, dạo này bắt đầu nới lỏng, đông người qua lại. Có thằng say hay cảnh sát thấy thì chết nhục. Chị biết đàn ông đàn bà ngoại tình chẳng phải chuyện hiếm. Mà sao rơi cảnh đó vẫn thấy tởm lợm quá. Cứ nghĩ lại phát nôn em ạ. Khổ nữa là lúc chuyển sang đây, chị trót mạnh miệng “Thà lấy Tây cho rõ ràng sòng phẳng, không còn yêu nó sẽ nói thẳng rồi chia tay chứ không lén lút vụng trộm hai lòng dối trá.” Nói cho sướng mồm, giờ mà li hôn thì bạn bè, gia đình cười cho thối mặt.
– Người ra ngoài ngủ phải là chồng chị.
– Đang xin cơ hội sửa sai, muốn bên nhau bù đắp, không chịu đi. Thật tởm.
– Anh ấy có biết chị ngủ ở bãi đỗ công cộng không?
– Chị nói đến bạn ngủ. Dịch giã ai dám nhờ bạn mở cửa cho vào. Đi nhà nghỉ khách sạn tốn kém lắm. Cuối tháng trước đã dốc tiền dành dụm gửi về trả viện phí, làm tang cho mẹ rồi. Huhuhu… Lúc ấy chỉ muốn bay về ngay mà không được. Chị phải chi hết chứ các em nghèo lắm. Chúng nó ở bên chăm sóc mẹ là báo hiếu rồi. Mình đi xa không chăm được ngày nào mà đến tiền còn không chi sau này chết không dám gặp mẹ. Đang khổ tâm chồng lại bồi thêm một vố, chị rỗng rồi em ơi. Ôi mẹ ôi!
Để chị ngồi khóc cho qua cơn chứ biết làm sao. Kevin có về chắc cũng biết ý. Anh sẽ lên gác tắm rửa, vào phòng ngủ ôm lũ mèo và xem bóng đá chờ tôi. Tôi lục tìm đống băng đĩa của Trà, chọn bài tụng sám hối hồng trần cho vào máy. Tiếng khóc của chị D. cao lên một chặp, rồi nhỏ dần, dừng hẳn.
– Chị đói bụng không, em còn ít xôi gấc từ Tết năm ngoái. Hồi đó không dám mang bánh chưng, sợ hải quan phạt vì nhân có thịt. Mẹ em nấu cho mấy đĩa xôi gấc vẫn để tủ đá ăn dần.
Chị D. gật gật. Ăn xong, thấy chị có vẻ hồi lại tôi mới nói tiếp:
– Mong là mẹ chị ra đi nhẹ nhàng. Nên mừng cho mẹ chị ạ. Chị giải quyết xong chuyện của mình cũng là cách giúp mẹ siêu thoát.
– Cảm ơn em. Ăn miếng xôi mẹ nấu ngon tỉnh người.
– Ngày mai người ta cho mở lại nhà hàng. Cứ đặt pizza cho chồng con, còn chị ra bể bơi rồi vào nhà hàng ăn một bữa thật ngon vào, rủ bạn càng tốt. Bây giờ lái xe về ngủ trên giường của mình cho ấm, đầu óc còn tỉnh ra nữa chị ơi.
Chị D. lại gật gật, để lại trên bàn hai mươi EUR sau hơn năm tiếng trò chuyện. Tiền công của người đi làm phụ bếp, đóng gói rau củ quả còn hơn thế. Tôi cũng nói tùy tâm còn gì. Đồng hồ chỉ nửa đêm. Tôi lên phòng, chui vào chăn, chà mặt lên khuôn ngực ấm nóng của chồng. Kevin bật dậy. “Anh đi đâu?”; “Ra kiểm tra. Có khi người ta ngủ trong xe phía sau vườn thật ấy chứ.”; “Ôi chết. Thật thì sao, anh đuổi đi à?”; “Ra xem rồi tính.” Hơn chục phút sau Kevin quay vào, người lạnh toát “Không thấy xe nào.” Anh chui vào chăn, đẩy con mèo ra một góc làm nó ngao lên một chặp. Tôi trằn trọc nhìn Kevin ngủ. Vẻ mặt còn thanh xuân kia, mái tóc màu hạt dẻ còn mềm mại bồng bềnh kia có đang lén lút bên người đàn bà khác mà chưa lộ dấu vết? Ngày mai tôi có nên chui vào xe, lật giở các tấm đệm dưới chân tìm sợi tóc dài lạ màu? Điện thoại của anh cũng cài những ứng dụng, phòng chat khó truy xuất nguồn?
Tôi chưa gọi điện hay gửi thư cho Thomas vội, kệ đã. Kể cả đêm nay Thomas có lại xuất hiện và giúi đầu tôi vào cái máng lợn lõng bõng nước. Nhưng tôi cần gọi và muốn bật camera để Trà nhìn rõ quyết tâm dừng đón khách, đừng giới thiệu ai gặp tôi nữa. Máy cứ báo Trà đang bận cuộc gọi khác. Đành nhắn tin. Hôm sau Trà mới gọi lại “Ô, em có buôn bán gì với ai đâu mà máy báo bận. Tin nhắn của chị bây giờ cũng mới tới. Em trót xếp lịch chị gặp người rắn tuần tới rồi. Thôi, gặp ca này xong chị có muốn đón khách tiếp hay quay về máng lợn thì tùy.”; “Sao lại người rắn?”; “A… ha, còn vương vấn chứ chưa dứt ngay được đâu. Chẳng qua một loại bệnh bác sĩ gọi như vậy. Em không nói thêm đâu, chị không phải thầy bói mà.”
Xác định đây là vị khách cuối cùng nên tâm lí tôi thoải mái hơn. Người rắn bước vào. Mông nở eo thon chân dài uyển chuyển trong chiếc váy bó xếp kín cườm ánh tím. Tóc cô kéo cả về phía trước ngực, từng sợi dầy suôn bóng như được chải bằng những ngón tay đã xức dầu dừa. Thêm khăn voan mỏng màu hạt dẻ thả trễ qua lưng, hai đầu khăn vắt trên tay tạo gió, cảm giác cô đang lướt vào trên đôi giày cao gót màu nghệ. Tháng Tư còn lạnh trời, tôi để chế độ đèn vàng trong phòng cho ấm, thấy rõ cô dặm lớp phấn nâu hơi dày, mắt dài và ướt, trán bẹt, sống mũi cao nhưng cánh mũi hơi to quá, khóe miệng cong vênh khác thường. Tổng thể thì đẹp, chẻ từng nét lại không nuột nà. Cô đứng chờ tôi kéo ghế mới đài các ngồi xuống, đầu gối khép lại và hơi đổ chéo sang trái, tay sơn móng cầu kì đặt trên đùi, dáng lưng thẳng như người mẫu. Không phải tôi ít gặp người đẹp mà đâm bối rối. Sang đây học nghiên cứu sinh rồi đi làm, tôi chủ yếu giao tiếp với dân làm khoa học giản dị. Khi trang điểm ăn mặc cầu kì dự tiệc những người đàn bà quanh tôi vẫn bật ra cốt cách năng động nhanh gọn kiểu nhảy tàu xe công cộng cho nhanh. Ít thấy ai điệu rũ ra như thế này. Đã thế, khi nói cô còn mở miệng hẹp, giọng điệu chậm và xin xít rất sốt ruột:
– Cho phép xưng hô mình và bạn nhé.
– Bạn sang lâu chưa?- Tôi gật đầu.
– Hơn ba năm. Mới vui vẻ tung tăng được một năm thì dính dịch. Rồi đủ thứ bệnh tật kéo đến. Chồng thương mình, chăm sóc nâng niu lắm nhưng mình vẫn chán, chỉ muốn bỏ hết về quê.
– Bạn bị đau răng?
– Ô, sao biết. Đúng rồi. Kinh khủng khiếp. Đau lên cả đầu, mắt. Đợi được cái hẹn của nha sĩ bên này chắc mình rụng cả hàm rồi. Thứ nhất đau mắt thứ nhì nhức răng mà họ cứ đủng đỉnh bảo chờ ai hủy hẹn mới thế chỗ. Chán đời. Họ khám cũng qua loa, nhòm nhòm gõ gõ năm đến mười phút thôi là thu một trăm năm mươi EUR, chụp phim xoẹt một cái cũng một trăm năm mươi EUR. Dã man.
– Giờ thế nào rồi?
– Chồng gọi hết bác sĩ vùng này đến vùng khác không được, muốn điên theo. May nghĩ ra gọi về nhờ nha sĩ bên mình khám qua zoom meeting, cho xem cả phim chụp. Kết luận áp xe răng, viêm nặng gây tiêu xương chân răng mới lung lay nhiều răng như thế. Phải điều trị tích cực một tháng liền. Họ kê đơn, mình in đơn ra, nói khó với bác sĩ gia đình bên này cho mua kháng sinh điều trị. Mấy hôm nay đỡ đau hơn mới nói chuyện với bạn được thế này đấy. Người ta đau một cái răng còn chết nữa là mình đau cả hàm, không ăn không ngủ cả tháng trời. Nuốt nước bọt cũng đau, hạch lên đầy cổ.
– Ngoài đau răng bạn còn muốn kể chuyện gì?
– Ôi, xin lỗi nhé, vừa gặp đã kể lể chuyện đau đớn. Thực ra mình mới sang, tiếng chưa thạo, sức khỏe yếu, chỉ ở nhà chờ chồng đi làm về mới đưa chơi chỗ nọ chỗ kia. Mình cũng quen một vài chị người Việt nhưng không nói chuyện sâu được. Họ cứ thóc mách kiểu “Ơ, sao không đẻ lấy một đứa con cho chắc suất quốc tịch?” “Sao ăn không ngồi rồi mà cái nhà cũng không chăm để chồng phải thuê người lau dọn.” Nói chung nhiều ô và a lắm, nhiều tra khảo đời tư lắm. Mình chỉ thích trồng hoa và rau trong những cái chậu ngoài vườn. Cả ngày mình nâng niu hoa, ngắm từng chiếc lá rau mà không nỡ hái ăn, rồi lại xót xa khi qua một đêm ốc sên chén sạch cả chậu rau. Loại người như mình bị cho là phù phiếm dở hơi. Sang đây hầu như không có bạn, mà cũng ngại bạn.
– Sao bạn không đi gặp bác sĩ tâm lý bên này?
– Tiếng địa phương của mình không tốt, tìm từ để diễn đạt cho họ nghe, để hiểu họ nói gì có khi còn căng thẳng hơn. Mình cần một người chịu nghe và cũng không phán xét gì mình, không lộ chuyện mình cho người khác, thế thôi. Mình sợ ma bạn ạ. Mình còn sợ tất cả những gì đang có ở đây, lúc này, đều không thật, rồi sẽ biến mất. Mà sao bạn chỉ tiếp khách lúc sắp tối trời thế này? Thời khắc này trong ngày mình buồn khủng khiếp. Trên đường đến đây, ngồi bên chồng trong xe ấm áp mà mình vẫn buồn phát khóc. Sao nó không hẳn đêm khuya, không hẳn là sáng rỡ ra mà cứ nhập nhoạng nhá nhem thế này?.
– À, bạn làm mình nhớ hồi xưa, bà nội hay nói lúc nhọ mặt người là lúc người và ma lẫn lộn khó tường… Bà kể chuyện ma làm mình sợ không dám thò chân xuống giường tìm dép, không dám chạy qua sân gạch xuống bếp rút củi nồi cám lợn đã nhừ.
– Đấy đấy, tuổi thơ nơi thôn quê của chúng mình, nhớ nhỉ. Mai giỗ mẹ mình, ngày kia giỗ bà nội. Hôm qua mình vào bếp khóc, nhưng không dám khóc lâu sợ chồng biết. Mình yếu đuối quá. Số thế rồi. Mình được ngủ với mẹ cho đến tám tuổi thì mẹ mất. Mẹ mất lạ lắm. Mẹ hay ốm, phải đi viện truyền nước. Cũng quen rồi, có bệnh trọng gì đâu. Hôm ấy mẹ vào viện truyền nước, rồi bảo bố ra ngoài mua cái gì đó hai bố con ăn, chứ chờ lâu lắm. Lúc hai bố con ra ngoài, mẹ bị sốc nước mà mất. Cứ như mẹ lừa bố con mình mà đi. Bà nội thay mẹ chăm mình, ba năm sau cũng đột quỵ. Hai người mẹ đều ra đi lúc mình còn nhỏ, chưa kịp báo đáp gì cho họ, đau lòng quá.
Ôn nghèo kể khổ, người rắn quên cả đau răng, hỏi tôi cho phép cởi giày ra và có thể mượn cái ghế kê chân được không vì xương cốt cô dạo này đau nhức quá. Không có ghế kê chân nên tôi bảo cô ra chiếc ghế mềm ở góc phòng ngả lưng nói chuyện cũng được. Mắt cô sáng lên. Tôi đưa thêm cái gối kê lưng.
– Bà và mẹ bạn còn sống có khi cũng chẳng vui vẻ gì khi bạn cứ buồn bã thế này.
– À, ừ. Có khi họ còn đau lòng hơn nếu phải chứng kiến cảnh mình cố mãi không thể có con, đành đòi li hôn để chồng lấy người khác. Chồng cũ giờ có hai con trai rồi. Thôi cũng nhẹ lòng. Chồng hiện nay cũng thương và chăm vợ lắm. Mình nghĩ đi hẳn một nơi xa sẽ nguôi ngoai, môi trường mới có khi tốt hơn cho sức khỏe. Nào ngờ sang đây vẫn quặt quẹo ốm đau, đơn điệu buồn chán. Tìm được người yêu thương mình chưa chắc đã đủ, chưa phải đã thuận, bạn nhỉ.
– Ý bạn khí hậu hàn đới không hợp?
– Ừm, vụ xương cốt thì yếu từ hồi trong nước, không mặc đủ ấm mình hay lạnh hai cánh tay, nhưng lạnh đều. Sang đây cứ chiều tối thế này mình bị tê lạnh một bên, buốt suốt cánh tay trái, chân trái, gối trái. Cảm tưởng sắp liệt nửa người. Cơ bắp cũng nhiều triệu chứng lạ, sang đây mới bị như thế. Đi xét nghiệm rồi, bác sĩ nghi mình bị nhiễm trùng máu. Họ cũng kêu trường hợp hiếm, kiểu cơ thể quá linh hoạt, cơ bắp không nâng được khớp và xương. Xương khớp cứ kêu răng rắc khắp người như sắp rơi từng mảnh. Bác sĩ trị liệu gọi mình là người rắn. Mình bảo chồng rằng em trẻ hơn anh hai chục tuổi, có khi em lại đi trước. Chồng mình mắng đừng nghĩ xa xôi, anh giờ đã sáu mươi thế nào cũng đi trước em.
– Anh ấy mà qua đời thì bạn về Việt Nam cho thoải mái.
– Mình cũng nghĩ thế. Nhưng chồng bảo nhà này của em, nên ở lại dù không còn anh. Vườn hoa chậu rau cần có em. Sau này bán đi cũng đủ tiền cho em vào nhà dưỡng lão để được chăm sóc tử tế cho đến cuối đời. Thôi ạ. Chồng mà mất chắc mình ở lại đó ba tuần là chết vì héo hon. Không có anh ấy, lấy ai bưng hoa bê rau vào mái hiên tránh cơn mưa nắng thất thường. Cái xứ gì đến mưa cũng vụng, không kịp che đậy là hoa lá tơi bời, xót xa làm sao.
– Lúc đó anh ấy còn sống đâu mà bảo nên với không. Phải thoát khỏi tâm trạng đó. Có thể chưa về quê vội mà chuyển đến một nơi hoàn toàn không dính dáng kỉ niệm về chồng một thời gian. Như vậy mới dễ nguôi ngoai. Chứ về quê mọi người xúm lại hỏi han chia buồn, càng không chịu nổi.
– Thế thật ấy nhỉ. Nói chuyện với bạn lần đầu đã thấy như tri kỉ. Cứ như đã thấu con người mình vậy, mọi yếu đuối tâm can mình lột hết ra cho bạn rồi.
– Bạn cứ nghĩ đi, ai cũng có một cuộc đời thôi nhưng có nhiều cách để sống. Kiểu này không xong phải xoay kiểu khác. Người khác nghĩ họ hơn bạn hoặc họ kém bạn, thực ra là ảo tưởng, là nhìn ngắn. Con người chỉ hơn nhau ở chỗ biết mình, biết đời, thấu tình. Mà sao không nói chuyện hiện tại, cứ nói về cái chết và những điều chưa xảy ra nhỉ?
– Hihihi, hâm nhỉ. Hay tại mình cứ ngồi nhà chìm vào bệnh tật mà thành thế. Nói chuyện với bạn mình thấy nhẹ nhõm, thoải mái hơn. Có khi phiền muộn lại dồn sang bạn rồi ý.
– À, cái này phải hiểu theo kiểu nỗi buồn của người này nhiều khi giúp người khác thấy mình đang sống vui hơn, đang may mắn hơn.
Tôi vừa nói vừa đứng lên rót hai cốc nước. Người rắn chăm chú nhìn cốc nước tôi đưa “Bạn biết không, suốt mười lăm ngày đau đớn cực độ vì áp xe răng, mình nghĩ nước đã cứu mình, là nguồn sống của mình. Không nhai nổi cái gì, kể cả nuốt cháo cũng đau. Mình chỉ còn biết nuốt từng ngụm, cảm nhận từng giọt nước đang chảy vào người, bò dưới da, thấm vào chân tóc, giữ cho mình sự sống. Lúc ấy mình bỗng hiểu trạng thái của mẹ khi vào viện truyền nước. Nước cũng có linh hồn, cũng chuyển biến theo tâm trạng con người. Có lẽ mẹ không muốn kéo dài sự sống như vậy nữa và nước đã hiểu lòng mẹ?
Người rắn ngồi hẳn dậy, các lớp cườm tím đổ xô vào nhau tạo nên ánh sáng kì ảo và tiếng động rầm rì. Cô đề nghị.
– Mình nghe nói về thí nghiệm này lâu rồi, chưa dám rủ ai cùng thử. Hay bạn làm cùng mình?.
Tôi vẫn ngồi cạnh bàn, kéo cốc nước gần mình hơn và chỉ kể chuyện vui ngày xưa, thời còn ở Việt Nam, rồi nhận học bổng nước ngoài và gặp Kevin trong phòng thí nghiệm. Người rắn nửa nằm nửa ngồi trên ghế mềm, hai tay giữ cốc nước đặt trên bụng và kể chuyện buồn, những mất mát ngày xưa và thất vọng về ngày nay.
– Đã năm giờ sáng, thưa các quý cô – Kevin gõ cửa và thò mặt vào.
Chúng tôi đã quên thời gian. Người rắn cuống quít “Chết rồi, mình quên điện thoại trong xe, lúc đến đây còn bắt chồng thả từ đầu phố để đi bộ vào. Chồng mình không biết chính xác số nhà của bạn đâu, vì mình cẩn thận chỉ nói tên phố như Trà dặn. Có khi anh ấy chạy vòng vòng cả đêm quanh phố này để tìm rồi ấy chứ. Ôi, lúc nào vợ chồng cũng kè kè bên nhau nên mình chẳng chịu nhớ số điện thoại của chồng, tai hại quá.”
Tôi và Kevin đưa người rắn ra ngoài, trời chưa sáng hẳn, đèn đường còn chưa tắt. Trong không gian ấy, lớp cườm trên váy của cô uốn lượn kì ảo vô cùng. Không thấy ai chạy vòng vòng ngoài phố, bãi trống phía vườn sau nhà cũng không thấy xe lạ nào. Kevin quay vào lấy áo khoác, ra bảo tôi “Có khi ông này tạt bãi đỗ công cộng nào rồi ngủ quên trong xe. Tìm loanh quanh lạnh lắm, sợ cô kia không chịu nổi. Để anh đưa cô ấy về nhà cho chắc rồi đi làm luôn. Em vào ngủ đi, mặt trắng bệch ra rồi.”
Tôi cố bò vào giường. Chừng mười lăm phút sau mắt khô, miệng khô, buồn ngủ mà mắt không nhắm lại được. Hình như điện thoại vẫn để ở phòng kính, phải mang lên để Kevin có gọi còn kịp nghe. Tôi mở cửa quét mắt tìm. Một sợi tóc dày suôn bóng vương trên miệng cốc nước người rắn để lại, đầy đặn và trong veo. Tôi vội liếc sang chỗ mình, các tinh thể nước đang tan vỡ và cuộn lên những luồng bụi mịn li ti trong lòng cốc.
14/10/2021
Kiều Bích Hương
Nguồn: Báo Văn Nghệ bộ mới 2021
Theo https://vanvn.vn/

  Cái Tôi của Phạm Duy  trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...