Cái nhìn mang xu hướng nữ hóa
Lê Đạt sinh ra ở Yên Bái, được mệnh danh là "phu chữ"
bởi những nỗ lực to lớn trong cuộc cách tân ngôn ngữ, hình thức thơ ca. Năm
2008, "Bóng chữ" là một trong ba tác phẩm của ông được tặng giải thưởng
Nhà nước về văn học nghệ thuật.
Bài viết này là sự tri ân nhà thơ - người con của
quê hương Yên Bái.
Nói tới cái nhìn nghệ thuật là người ta nói đến quan niệm chủ thể sáng
tạo đối với hiện thực mà người nghệ sĩ phản ánh. Nó quyết định cách
thức thể hiện của tác phẩm từ hình ảnh, ngôn ngữ, đến thủ pháp nghệ thuật. Cái
nhìn là cái thuộc về chủ thể sáng tạo, mang đậm dấu ấn cá nhân độc đáo của người
sáng tác. Cùng một đối tượng thẩm mỹ nhưng mỗi người với cái nhìn riêng sẽ tạo
nên hình tượng nghệ thuật mang quan niệm, giá trị thẩm mỹ riêng trong "vân
chữ" của mình. Thiên nhiên trong thơ Lê Đạt thường biểu hiện nét duyên
dáng, gợi cảm, tinh khôi, thánh thiện của người thiếu nữ. Đồng thời, cũng qua
cái nhìn có xu hướng nữ hóa, các hình ảnh hiện lên lại có cả sự bỏng rát, rạo rực
qua cái đẹp trinh nguyên mà thế giới thơ Lê Đạt đem lại.
Thưởng thức "Bóng chữ" của Lê Đạt,
chúng tôi nhận thấy có ít nhất 42 trên tổng số 108 bài của tập thơ bộc lộ rõ
cái nhìn theo xu hướng trên. Có những bài xu hướng nữ hóa lộ ngay từ nhan đề: Thu
nhà em, Tóc phố, Tuổi chín, Mắt bão, Tình hoa, Phố xuân, Nai phố, Mắt Maria… Có
những thi phẩm, cách đặt nhan đề ngỡ rằng không thể có bóng dáng của người con
gái xuất hiện như "Ông cụ chăn dê", "Ông cụ nguồn",
"Tuổi Việt Minh", "Đào Uyên Minh"… vậy mà những hình ảnh
nữ hóa vẫn đậm đặc.
Toàn tập "Bóng chữ", hình tượng
em hoặc bóng dáng em xuất hiện ở hầu khắp mọi sự vật, sự việc, hiện tượng với
các hình ảnh mắt, mi, mày, môi, má, đùi, tóc, áo, thân trắng, đường nét thon
cong… Những kết hợp từ trên cũng nằm trong quan niệm F.De.Saussure giữa hình thức,
nội dung của cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Nhưng, hầu hết nhiều hình ảnh,
nhiều kết hợp từ chỉ đến từ cái biểu đạt; người đọc phải ngụp lặn sau để tìm
nghĩa bên trong cái bóng hất loang loáng ra bên ngoài. Ai cũng lý giải được
theo cơ chế tư duy lô gic "Em đùi thắng cảnh mắt danh lam" là
một cách so sánh vẻ đẹp của cô gái với vẻ đẹp của danh lam thắng cảnh dù từ
dùng để so sánh đã bị lược bỏ. Thế nhưng, "mắt lá tre đằng ngâm mộng
ba giăng" là ngụ ý gì quả không phải hời hợt để thoáng đọc hiểu. Có lẽ,
từ sự liên tưởng đến lá tre đằng ngà, vẻ thon dài óng chuốt đặc trưng của vật
thể tự nhiên. Nhưng, lá tre ngâm mộng ba giăng thì đã ảo hóa mắt cô gái. Tương
tự, "mắt hải đăng" chỉ con mắt sáng, con mắt soi đường, dẫn đường
tình nhưng "mắt ảo đăng" thì lại thành trừu tượng. Những kết
hợp từ miêu tả má, ngực người con gái đều rất gợi hình, gợi cảm khiến người đọc
cảm nhận được sự trẻ trung về vóc dáng, căng tràn sức sống của tuổi trẻ. Có thể
nói, qua con mắt thơ của mình, Lê Đạt đã đem hình ảnh mới cho vỏ bọc đã cũ để tạo
hiệu ứng mỹ cảm mới cho người yêu thơ.
Hơn nữa, ở chính cái nhìn mang xu hướng nữ hóa,
thi sĩ đã khoác lên vạn vật thiên nhiên vô tri một sức sống mãnh liệt, dồi dào,
mơn man giàu cảm giác xác thịt. Dù là người vô cảm, đời sống tinh thần nghèo
nàn nhưng nhắc đến hoa mười giờ - loài hoa phổ dụng ấy thì có lẽ hầu như
ai cũng biết. Thế nhưng, để tinh tường quan sát, ngắm nhìn dáng hoa tròn vành để
đặt tuổi cho nó thành "em mười bảy", có từng tia cánh nhỏ với các sắc
màu rạng rỡ: vàng, đỏ, cam đều kết ở độ rực màu, hóa thành:
"Mắt đuôi chớp xuân về
Hoa chạy hường lên má
Hoa em đền hoa má
Thơm má hoa mười giờ"
thì chắc chỉ có Lê Đạt với con mắt xanh của mình chiêm ngắm
mà thôi. Lê Đạt "trông thấy" hồn nhiên qua cử chỉ "Mắt đuôi chớp" làm
cho màu sáng của xuân như hiện về. Cái nhìn tinh tế dẫn đến sự liên tưởng độc
đáo “hoa chạy hường lên má" và trở thành hình ảnh đồng nhất "hoa"-
" hoa má"- "hoa mười giờ". Iu Lotman đã nói với chúng
ta đại ý rằng: cuộc sống xung quanh ta là vô vàn ký hiệu, người đối diện sẽ
"đọc" được thông tin, sẽ giải mã được chủ thể ấy thông qua kí hiệu giản
đơn hay phức tạp. Với "Hoa mười giờ" Lê Đạt đến với chúng ta bằng thứ
ngôn ngữ thiên nhiên đã được tấu hòa không chỉ về màu sắc, kiểu dáng, hình khối
mà còn cả phát xạ hương thơm: "Thơm má hoa mười giờ".
Hay trong bài "Hái hoa" cũng
vậy, lối nói mơ hồ đầy biểu tượng để biểu thị tình yêu của Lê Đạt cũng được tỏ
bày thật lãng mạn qua ánh nhìn đa tình, trai trẻ.
"Anh rừng anh hái hoa
Hoa lúm hoa bông thắm
Hoa bông môi thật hồng"
Lối nghệ thuật cắt dán, đảo cấu trúc chúng ta
chưa lạm bàn. Chỉ xét riêng cái nhìn, chúng ta đã nhận thấy sự hòa trộn giữa
hoa và người, giữa người với hoa. Rõ ràng, trang thơ mở ra là "rừng
hoa" nhưng thoắt chuyển hóa thành "hoa lúm", thành "hoa
bông thắm" và thành sự gợi cảm đến nồng nàn "hoa bông
môi" với cảm giác "thật hồng". Sự biến ảo kỳ diệu ấy
diễn ra thật nhanh bởi cặp mắt của nhân vật trữ tình "anh" ngay ở đầu
bài. Sắc thái tình yêu say đắm càng như nhân lên sau sự tếu đùa của cô gái ở giữa
bài, cho nên toàn bộ khổ sau, vẫn nói đến hoa nhưng đã trở thành hoa người, hoa
em, hoa cô gái trong mong ước "hái", trong động tác "hái" của
chàng trai.
"Anh lòng anh hái hoa
Hoa hái hoa bông thắm
Hoa bóng hoa rỏ hồng
Hoa hồng bông hồng bông"
Đúng là thế giới thơ, theo như cách nói của Bích
Khê là một cõi trời xa với một không gian bất tận và vĩnh viễn. Thơ là tinh
hoa, là bí ẩn của trời đất, là nhịp điệu của vũ trụ, là chốn tương giao của mọi
vẻ đẹp: nhạc điệu, sắc màu, hương thơm và giai nhân. Nhất là với "Quan
họ", hình ảnh:
“Cây gạo già
lơi tình
lên hiệu đỏ
La lả cành
cởi thắm
để hoa bay”
Chúng ta nhận thấy rõ nhất tín hiệu trao cho cây
gạo nét duyên, nét nữ tính có phần khêu gợi, gọi tình bởi chính sự "lơi
tình", sự "la lả" và "cởi thắm" của
cây gạo già. Màu sắc như bỗng vỡ òa, được bung ra sau một thời gian dài bị kìm
nén, làm cho hiệu đỏ trở nên rực rỡ. Đó cũng chính là sự trẻ trung, đa tình, là
trạng thái vận động tràn đầy sức sống của cây gạo già trong mùa xuân, gọi ra
bóng dáng người con gái quan họ tình tứ, uyển chuyển trong tà áo mớ ba mớ bảy của
ngày hội.
Bên cạnh đó, cái nhìn mang xu hướng nữ hóa còn
là sự thổ lộ thành thật nhất với lòng mình của nhà thơ. Yêu người phụ nữ, yêu
cái đẹp - đó là bản chất chung rất đỗi nhân loại mà nhiều lúc vì sự sĩ diện người
đàn ông, người ta cứ đeo mặt nạ để chối bỏ cảm xúc thực của mình. Với Lê Đạt
thì không, thi nhân cứ nhìn rồi viết, viết để nhìn như kẻ say cảnh, say người,
say vật.
“Nụ xuân chớp đông
hoa xuân chợp hồng
Chũm cau tứ thì chúm chím
Ú ớ mơ ngần
một giấc chim xuân
Chiều bóng mây
hay mắt em rợp tím
Hè thon cong thân nắng cựa mình
Gió ngỏ tình
xanh nín lộc
giả làm thinh”
Dựa trên sự tích nhựa của mùa đông để quẫy chồi
vào xuân mới của quy luật tự nhiên, thi nhân đã có cách gọi từ thật đẹp "nụ" vào
lúc "chớp đông" để vào xuân, viên mãn thành "hoa" với
màu sắc bừng dậy như "chợp hồng". Người viết không quan niệm
từ "xuân" thứ nhất được nhắc đến là chỉ trạng từ mùa thời
gian mà nó là tính từ chỉ bản chất "nụ", sắc thái của "nụ" chứa
sức xuân. Đặt hình ảnh trong hệ thống toàn bài, "Chũm cau" chính
là biểu trưng của tuổi dậy thì, của cô gái. Nó hô ứng và nhất hợp với cái
nhìn "giấc chim xuân" để từ áng mây chiều hóa thành "mắt
em rợp tím", để từ cái nắng ấm xôn xao như mùa hè thành dáng "thon
cong" khẽ "cựa mình". Bóng người đẹp tinh khôi bước
tràn vào thơ một cách tự nhiên và cuốn quyện. Nhất là cách nói "Gió
ngỏ tình/ xanh nín lộc/ giả làm thinh" mới đậm chất cô gái Việt Nam
làm sao. Sự e ấp, sự ngúng ngại, sự trả lời "có" trong cái biểu hiện
"không" làm thinh ấy thật đáng yêu trước lời tỏ tình của người khác
giới.
Có thể nói, chúng ta đã quá quen thuộc với những
hình ảnh mang tính công thức ước lệ với kiểu mồ hôi nhễ nhại, mắt lá răm, lông
mày lá liễu… những hình ảnh quen thuộc đến nỗi hễ bắt gặp, người đọc liền không
cần dùng hình dung tưởng tượng hay suy đoán gì đã có thể hiểu ngay ý nghĩa của
chúng. Và chính vì quá quen như vậy nên nhiều khi hình ảnh không còn thực hiện
được vai trò là một hình thức trữ tình cơ bản của nghệ thuật thi ca nữa. Do vậy,
sự kiếm tìm và tạo diện mạo mới cho những "nguyên liệu" truyền thống,
"nguyên liệu" vốn sẵn đã biểu hiện năng khiếu người nghệ sĩ Lê Đạt và
khởi phát từ cái nhìn của chính ông- cái nhìn đa tình, lãng tử và mơ mị đã tạo
sức hút liêu trai, ma mị.
Mọi trạng thái xúc cảm qua cái nhìn lồng quyện của
cảnh vật - người đẹp nhiều khi làm mờ hóa chính cảm xúc của con người trong sự
thăng hoa của cảm giác. Loáng thoáng ta vẫn gặp một vài cách nói cụ thể, trực
tiếp nhưng đa phần, trong cái nhìn nữ hóa ấy chúng ta thấy cái được biểu hiện,
được biểu đạt thường ẩn đi. Nó chủ yếu đến với người đọc thơ bởi sự khơi gợi, bởi
ám thị. Và cách miêu tả thế giới thông qua giai nhân chính là phương thức làm
cho sự sống xung quanh hiện lên giàu sức vẫy gọi, giục mời và cũng là lời thổ lộ
chân thực của một người si mê, đắm say cái đẹp - mà trung tâm của cái đẹp ấy
chính là người, là nàng, là giai nhân.
Lưu Khánh Linh





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét