Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2020

Trịnh Công Sơn và khát vọng hòa bình 1

Trịnh Công Sơn 
và khát vọng hòa bình 1
Chẳng phải nỗi buồn chiến tranh và niềm mong mỏi hòa bình da diết trong những Trịnh Khúc kia đã có sức lay động mãnh liệt đến cõi lòng một người từng đi qua chiến tranh… và lan tỏa trong tâm hồn tôi, níu giữ trái tim tôi từ thời thơ bé?
Tôi nghe nhạc Trịnh từ nhỏ - những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Hồi ấy phương tiện nghe nhìn còn thô sơ, thiếu thốn lắm chứ không phải như bậy giờ. Tôi hay sang nhà ông cậu họ, nghe ké Khánh Ly hát Ca khúc da vàng qua chiếc cassette cũ. Nghe để có cái mà nghe giữa cái thời mà đối với bọn trẻ con nông thôn chúng tôi, âm nhạc hãy còn là một cái gì xa xỉ lắm chứ chẳng phải vì hiểu biết hay tâm đắc gì.
Ông cậu tôi vốn là sinh viên ở Sài Gòn trước năm 1975, một người trí thức từng kinh qua chiến tranh mà cho đến tận bây giờ dư chấn của cuộc chiến thảm khốc ấy chừng như vẫn còn nặng trĩu trong tâm trí cậu, hiện hữu trong một ánh mắt buồn xa xăm. Tôi để ý thấy mỗi lần nghe nhạc Trịnh, cậu hay nằm vắt tay lên trán, vẻ mặt trầm tư, thỉnh thoảng lại buông ra một tiếng thở dài, mắt ngân ngấn nước. Tuổi thơ “như đá ngây ngô” (1), tôi chẳng thể nào lý giải nổi vì sao cậu lại như thế, cũng chẳng hiểu gì về những ca từ của Trịnh. 
Vậy mà những khúc hát trầm buồn, khắc khoải kia đã vận vào tôi lúc nào không biết. Chỉ biết rằng mỗi khi có nhạc Trịnh mở lên ở đâu đó, dù đang làm việc gì tôi cũng cố gắng dừng lại để lắng nghe, nghe bằng tất cả niềm háo hức và say mê tuổi nhỏ.
Khi lớn lên, tôi bắt đầu nghe nhạc Trịnh một cách có ý thức. Những trải nghiệm xen lẫn buồn vui; hạnh phúc, đắng cay của cuộc đời giúp tôi tự tạo cho riêng mình một cách để hiểu Trịnh. Thế giới của Trịnh lúc này rộng lớn, sâu thẳm hơn rất nhiều lần so với những cảm nhận ngu ngơ của tôi thời thơ bé. Nhạc Trịnh trong tôi là những giai điệu, những ca từ bình dị mà quyến rũ: lúc trong sáng hồn nhiên như “nỗi niềm cổ tích” (2); lúc trữ tình êm ái như tiếng đàn rơi trên tay người thiếu nữ; lúc lại ma mị, khói sương như vọng về từ huyền sử xa xăm.
Nhạc Trịnh trong tôi là tiếng nức nở phận người trong sự bủa vây của lạc lõng, cô đơn, tuyệt vọng. Nhạc Trịnh trong tôi là tiếng ca say đắm về tình yêu - phép màu xoa dịu mọi niềm đau. Nhạc Trịnh trong tôi là tấm lòng thao thiết hướng đến thế giới ngoài kia “Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ” (3)…
MƯA HỒNG (Trịnh Công Sơn) - Ngọc Lan
Trong vô vàn những cảm xúc, suy tư về Trịnh; lạ thay nỗi ám ảnh vây phủ tâm hồn tôi vẫn là những khúc hát da vàng như tiếng thở dài khắc khoải mà tôi đã nghe từ chiếc cassette cũ của ông cậu hồi nhỏ. Tôi nhận ra trong những ca khúc mà ngày xưa tôi chẳng hiểu gì ấy chứa đựng một nỗi đau chiến tranh nhức nhối, một khát vọng hòa bình thiết tha.
Ai đó thật có lý khi cho rằng chỉ có những người trực tiếp cảm nghiệm nỗi đau thương trong chiến tranh mới thực sự hiểu hết ý nghĩa, thấy hết giá trị của hai tiếng “hòa bình”. Trịnh Công Sơn là một trong những người như thế. Ông như được sinh ra để mang trong mình sứ mệnh của sự hóa giải: hóa giải buồn đau, thù hận, cay đắng, xót xa bằng khát vọng hòa bình cháy bỏng trong những ca khúc của mình.
Trong vô vàn những cảm xúc, suy tư về Trịnh; lạ thay nỗi ám ảnh vây phủ tâm hồn tôi vẫn là những khúc hát da vàng như tiếng thở dài khắc khoải.
Thế hệ Trịnh Công Sơn là “thế hệ lạc lõng”, “thế hệ bỏ đi” theo cách nói của văn hào người Mỹ E. Hemingway. Đó là thế hệ của những con người bị ném vào lò lửa chiến tranh trở ra là những con người  lầm lì, hoang hoải, bơ vơ. Với trái tim nghệ sĩ mẫn cảm, đa đoan, Trịnh Công Sơn hiểu hơn ai hết cái giá khủng khiếp mà con người phải trả cho cuộc chiến. Vì thế mà trong những ca khúc của ông, đặc biệt là Ca khúc da vàng, bóng ma chiến tranh cứ lởn vởn, chập chờn tạo thành một nỗi âu lo thường trực. Chiến tranh là đổ nát, hoang tàn “Hàng νạn tấn bom trút xuống đầu làng/ Hàng νạn tấn bom trút xuống ruộng đồng/ Ϲửɑ nhà Ѵiệt Nɑm cháу đỏ cuối thôn” (4); là tiêu điều, chết chóc “Một ngày mùa đông/ Trên con đường mòn/ Một chiếc xe tang/ Trái mìn nổ chậm/ Người chết hai lần/ Thịt da nát tan” (5); là đói khát, vất vưởng “Ghế đá công viên, dời ra đường phố/ Người già co ro, buồn trong mắt đỏ/ Người già co ro, nhìn qua phố chợ/ Khi chiến tranh về, đốt lửa quê hương” (6) để rồi nó trở nên đầy ám ảnh trong hình bóng còm cõi, già nua của bà mẹ Việt Nam “Nhớ tới một đời đã xới vun, hôm nay bỏ vườn với xóm thôn/ Chân mẹ già sao run quá, qua xương trắng với máu hồng” (7).
15/3/2020
 Hồ Tấn Nguyên Minh
Theo https://vanhocsaigon.com/


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

000000Tiếp cận tư tưởng Việt Nam và vấn đề triết học

Tiếp cận tư tưởng Việt Nam và vấn đề  triết học Mục lục Lời dẫn nhập Quyển một Vấn đề triết học và truyền thống tư tưởng Việt Nam Tập I: Vấn...