Trần Nguyệt Ánh với tập thơ Vọng núi
Theo dõi tình hình văn học mấy năm gần đây, thấy trong các nhà thơ trẻ Đăk Lăk, Trần Nguyệt Ánh có niềm đam mê, sự nỗ lực sáng tạo và tình yêu tha thiết với thơ. Chị viết đều tay, có nhiều tác phẩm thơ hay. Hành trình sáng tạo của Nguyệt Ánh cũng là hành trình tìm kiếm, khám phá, đào sâu vào bản ngã để khẳng định cái “tôi” đa tình, đa đoan và định hình một cá tính sáng tạo. Nhân Ngày Sách Việt Nam, 21/ 4/ 2022, tại Đường Sách thành phố Buôn Ma Thuột, nhà thơ Trần Nguyệt Ánh đã giới thiệu với bạn đọc hai tập thơ mới xuất bản: Miền gió say (NXB Hội Nhà văn, 2021) và Vọng núi (NXB Hội Nhà văn, 2022). Vọng núi là tập thơ thứ ba của Nguyệt Ánh, gồm 132 bài thơ 1 - 2 - 3, thể hiện nỗ lực đổi mới, trải nghiệm và sáng tạo của nhà thơ cả về nội dung cảm hứng cũng như tư duy nghệ thuật.
Về nội dung cảm hứng, Vọng núi có sự mở rộng đề
tài, phạm vi đời sống trong quá trình sáng tác của nhà thơ. Những tập trước,
thơ Nguyệt Ánh chủ yếu là thơ tình yêu, trở đi trở lại là những cung bậc cảm
xúc yêu đương, những nhớ thương, hờn giận, cô đơn, hạnh phúc và sầu muộn. Đến tập Vọng
núi, chị đã biểu hiện cảm xúc, suy tư về nhiều vấn đề, phương diện đời sống hiện
thực và tâm hồn con người: Từ tình cảm yêu đương, tình cảm gia đình, tình yêu
quê hương đất nước đến những khám phá về thiên nhiên và văn hoá bản địa Tây
Nguyên, những trăn trở phận người, suy tư về thơ ca, chuyện đền ơn đáp nghĩa đối
với thương binh, liệt sĩ, chuyện tình người thời Covid, v.v…Trong đó có ba nội
dung cảm hứng chủ yếu là: Tình yêu đôi lứa, văn hoá Tây Nguyên, quê hương và
người mẹ. Hẳn nhiên, việc phân chia chỉ là tương đối, tạm thời để nhận diện; về
bản chất, nhiều trạng thái cảm xúc đã hoà quyện vào nhau trong các bài thơ. Tập
thơ đã thể hiện một tâm hồn nhạy cảm, thiết tha yêu thương, ân tình, những tình
cảm đẹp đối với quê hương đất nước, niềm tin yêu cuộc sống, trân quý những giá
trị tinh thần của con người. Đó là ý nghĩa nhân văn tốt đẹp đáng ghi nhận của
tác phẩm.
Thơ là niềm giao cảm của con người và tình yêu là niềm giao cảm
mãnh liệt, nồng nàn, say đắm nhất. Nguyệt Ánh viết nhiều bài thơ tình, nhưng ở
tập thơ này, chị ít khi biểu hiện trực tiếp cung bậc cảm xúc tình yêu mà biểu
hiện bằng những ẩn dụ. Chị có những bài thơ hay về tình yêu, gợi những suy tư về
sự lựa chọn trong cuộc đời, về hạnh phúc và khổ đau: “Giữa bóng tối và ánh
sáng/ Em chọn lối nào cho chúng ta/ Để trái tim không bị tù đày/ Ánh sáng kia
làm mắt chói loà/ Không thấy đường đi làm em vấp ngã/ Trong bóng tối, anh dẫn
đường, tâm hồn được hồi sinh”. Sống giữa không gian văn hoá Tây Nguyên, tình
yêu của thi nhân hoà vào hình ảnh sông suối cuộn chảy, mãnh liệt và nồng cháy
như ngọn lửa đại ngàn: “Vũ điệu xoang nóng bừng lên ngọn lửa/ Chạm ánh mắt anh
cháy cả đại ngàn/ Tình em mãi là con sông dòng suối/ Chảy về nguồn giữa làng bản
mênh mông” (Gió nay lạnh làm run chiều phố núi). Tình yêu là cảm xúc say mê đắm
đuối, khát khao hạnh phúc lứa đôi: “Hoàng tử anh nhặt chiếc giày em vội vã đánh
rơi/ Ta thành đôi uyên ương bay trong bầu trời hạnh phúc/ Căn nhà chật dội cơn
mưa rào đẫm ướt giấc mơ em” (Lọ Lem say giấc mơ miền cổ tích), “Ngày hôn
phối của mặt đất và bầu trời/ Anh quyết dụ trái tim em ngược lối/ Giữa biển mơ
tràn nụ sóng hôn bờ/ Anh tan vào khoảng khắc đêm mơ/ Em chấp chới sóng ngầm
nghe biển hát” (Hôm nay ngày biển động). Tâm hồn thi nhân rạo rực yêu
thương và ngập tràn hạnh phúc giữa không gian hoa lá phồn sinh: “Và anh đến như
mùa xuân phồn thực/ Tháng Giêng em mơn mởn dậy thì/ Bông cúc tím giấu mình sau
vạt cỏ”. Tình yêu không chỉ là hưởng thụ mà còn đầy trăn trở, là trải nghiệm nỗi
đau, cô đơn, chờ đợi, thất vọng, tình yêu thanh cao, đẹp đẽ mà cũng đầy luỵ tục:
“Mũi tên thấm giọt đau thương tim mình chết yểu/ Anh mải mê hái những vì sao cuối
tận chân trời/ Hòn vọng phu em ngàn năm bạc đầu Tô Thị” (Em độc hành hun
hút phía không anh). Đôi khi là nỗi buồn của một lần lỗi hẹn: “Mắt phố chiều
nay vắng anh buồn hoang hoải/ Công viên hai ghế đá nhìn nhau/ Trống vắng một chỗ
ngồi” và những ẩn ức, bất lực khi phát hiện khoảng cách giữa ước vọng và hiện
thực cuộc đời: “Ngàn năm anh kiến tạo mặt hồ/ Tình em hoà vào biển lớn/ Hồ anh
gợi nhẹ lăn tăn/ Biển em mênh mông bất tận/ Làm sao chứa sóng mặt hồ” (Em đi
tìm lời ru trên sóng)…
Cao nguyên hùng vĩ, kỳ bí và hoang sơ với nhiều hình thức
sinh hoạt văn hoá dân gian đa dạng, độc đáo, là không gian Văn hoá Cồng chiêng,
không gian Sử thi và những nghi lễ đầy huyền tích văn hoá gắn với đời sống cộng
đồng các dân tộc. Trần Nguyệt Ánh thể hiện ý đồ nghệ thuật: “muốn khám phá bản
sắc văn hoá, phong tục của người Tây Nguyên” và cố gắng biểu hiện những nét đặc
sắc của đời sống và văn hoá Tây Nguyên. Trong mảng thơ này, Nguyệt Ánh đã thể
hiện những tri nhận, suy tư và xúc cảm chân thành về thiên nhiên sông núi, về
những giá trị văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc bản địa: “Chiều bên
dòng Krông Ana/ Con dựa vào sông Mẹ/ Lắng nghe nước chảy dọc tim mình/ Dòng
tình yêu từ lòng Cư Yang Sin bất tận/ Cùng hoà nhập sông Cha/ Krông Ana hiền
hoà dáng mẹ!”. Đã đến Tây Nguyên, không thể quên tiếng chiêng huyền bí, ngân
nga, là âm thanh của sông núi, của hồn người, nối liền nhân thế với thần linh:
“Bản hoà tấu cồng chiêng vút lên/ Âm thanh cuộn trào từ dòng Sê - rê - pôk/ Bật
ra từ những cánh rừng già/ Bung lên từ lòng đất ba – zan/ Tiếng của núi sông
hoà vào hồn dân tộc/ Bên nhà rông, lễ thổi tai cho một sinh linh chào đời”.
Thiên nhiên, sông núi, các chất liệu văn hoá luôn gắn với những tâm tư, tình cảm,
thân phận của người dân nơi đây, nhất là người phụ nữ Tây Nguyên: “Người đàn bà
bên nhà sàn cô đơn/ Mượn trăng núi rừng soi bóng mình cho tỏ/ Mượn choé rượu cần
để quá khứ tiêu tan/ Nhịp chiêng xoá nhoà âm thanh ngày cũ đục buồn/ Thắp lửa
lòng sưởi ấm cả mùa đông/ Mảnh trăng cô đơn năm tháng ấm nồng vĩnh cửu!”.
Trong những thập niên cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, rừng
Tây Nguyên bị tàn phá nặng nề, bị khai thác đến mức tận diệt. Nhà thơ đã thể hiện
niềm xót thương trăn trở vì môi trường thiên nhiên bị tàn phá, thú rừng chim
muông mất dần địa bàn cư trú: “Tiếng hươu con thảm thiết bìa rừng/ Ngọn lủa
cháy không tìm đâu lối thoát/ Lũ voi rừng gọi bầy rủ nhau chạy trốn”. Những
cánh rừng xưa kia làm nên đại ngàn xanh thắm nay chỉ còn là đồi khô núi trọc,
những sản phẩm và giá trị văn hoá truyền thống cũng bị mai một dần: “Hỏi rừng về
đâu? Thác lũ về đâu?/ Để linh hồn tượng gỗ cũng đớn đau/ Ngàn linh hồn ai oán gửi
lời khẩn cầu nhân thế!” (Những linh hồn cô độc lang thang trên bầu trời).
Nhà thơ không lên tiếng tố cáo hay kêu gọi mà gợi những lời tự vấn thổn thức,
hay thể hiện niềm trắc ẩn, gợi giúp con người ý thức điều chỉnh thái độ, hành
vi đối với thiên nhiên: “Voi thuần hoá dịu dàng thánh thiện/ Cong tấm lưng
trần cõng cả một trời thu/ Ta là khách lãng du miền đất đỏ/ Khát khao cưỡi voi
du ngoạn đại ngàn/ Chợt trong mắt em giọt châu rơi sót lại/ Cho ta nhắc mình dừng
bước trước lưng em!”…
Đối với người tha hương, quê hương luôn là chốn yêu thương đi
về trong tâm tưởng. Trần Nguyệt Ánh lớn lên ở Tây Nguyên nhưng quê hương Thái
Bình với hình ảnh đặc trưng của đồng bằng châu thổ luôn thao thức, vương vấn: “Cánh
đồng thảo thơm phảng phất mùi ngọc của trời cuối vụ/ Hương vị tuổi thơ thấm đượm
quê nghèo lam lũ” (Đi xa vương vấn làng quê ngấm tận lòng mình). Nhà thơ
khát khao được về thăm những danh thắng gắn với lịch sử văn hoá quê hương: “Ước
cùng anh một lần về dự lễ hội chùa Keo/ Thăm đền Trần thấm nhuần công lao tổ
tiên giữ nước”. Yêu quê hương, tự hào về truyền thống lịch sử, văn hoá của quê
hương, nhà thơ hân hoan giới thiệu: “Em tự hào phụ nữ quê mình Năm Tấn/ Lúa thảo
thơm một thời nuôi quân đánh đuổi giặc thù/ Anh hẹn đưa em về thăm Đồng Cói, Đồng
Châu/ Thăm lễ hội chùa Keo, xem du thuyền, hát chèo, hát hội…”.Trong tập thơ,
quê hương gắn với hình ảnh người mẹ vất vả, tảo tần và tận hiến. Hình ảnh người
mẹ hiện lên thật đẹp đẽ: “Mẹ đội cả bầu trời nâng cánh ước mơ con”, “Ánh mắt mẹ
sáng bừng trang cổ tích/ Soi cho con thoát kiếp nhọc nhằn/ Bàn tay mẹ chai sần
vất vả/ Dắt con qua vùng lam lũ mưu sinh”. Nhà thơ biểu hiện tình cảm biết ơn,
yêu thương gần gũi của một người con gái đối với mẹ: “Thời gian vụt trôi mẹ
quên đếm tuổi/ Mấy lần trốn trong tóc mẹ chơi trò đuổi bắt/ Mùa trôi ngang qua
mắt mẹ những lần thất bát/ Võng mạc lằn sợi vất vả thâm trầm/ Con trưởng thành
trên phên liếp bao dung” (Mùa thức cùng mẹ bỏ quên tháng năm). Nhà thơ thấu cảm
nỗi vất vả, nhọc nhằn và hy sinh của mẹ bằng sự trải nghiệm của bản thân mình,
cũng vất vả, đớn đau vượt qua những thử thách của cuộc đời: “Bốn mươi năm con nếm
trải cuộc đời/ Thấu hiểu những buồn vui của người từng trải/ Cũng mang thai
hình hài máu mủ/ Để con thấu nỗi nhọc nhằn vất vả hy sinh”…
Về thi pháp nghệ thuật, Vọng núi là kết quả sự thể
nghiệm của Nguyệt Ánh với thể thơ 1 - 2 - 3, một thể thơ mới xuất hiện những
năm gần đây, có đặc điểm là ngắn gọn, cô đọng, mỗi bài chỉ có sáu câu và câu
thơ đầu cũng là tiêu đề của bài thơ (gần giống thơ Hai kư của Nhật Bản nhưng số
câu nhiều hơn). Đây là một thử thách đối với người viết vì không dễ gì gói gọn
tứ thơ, cảm xúc, ý tưởng, hình tượng trong một dung lượng nhỏ như vậy. Nguyệt
Ánh đã có sự táo bạo, nỗ lực và những thành công bước đầu được ghi nhận bằng Giải
thưởng cuộc thi thơ 1 - 2 - 3 của Ban tổ chức cuộc thi trên trang Văn học Sài
Gòn. Chị đã có những bài thơ hay như: Bản hoà tấu cồng chiêng vút lên (tr
19), Mùa thức cùng mẹ bỏ quên tháng năm (tr 21), Giữa bóng
tối và ánh sáng (67), Voi thuần hoá dịu dàng thánh thiện (tr
71), Mẹ quên tuổi mình trên vòm lá quê hương (tr 128), v.v…
Một đặc điểm rõ nét là Nguyệt Ánh dùng với mật độ khá dày
phép chuyển nghĩa, lạ hoá để tạo nên nét mới mẻ, đa nghĩa cho hình tượng
thơ. Chị đã dụng công khi sáng tạo những ngôn từ và hình ảnh mới mẻ, táo bạo để
tăng sức biểu hiện cho thơ: “Người đàn bà gánh sóng lên phơi”,“Thu vặn mình bật
nhánh tình non”, “Mặc cho tình anh mãi vồng lên bất diệt”, “Để xuân trong em chực
trào núi lửa”, “Tháng giêng em mơn mởn dậy thì”, “Con cúi nhặt bàn chân cha
trong mùa đông cũ/ Ghép kỷ niệm xưa trên phiên nứa nhọc nhằn”, “mầm yêu”,
“nhánh mây”, “hạt mùa đông”, “nụ sóng”, “ đêm vỡ lòng”, “sợi nắng”, “ngực đất”, vv…
Tuy nhiên có những trường hợp liên tưởng quá xa, tạo ra sự tối nghĩa, khó cảm
nhận: “Đêm nỗi lòng tự khúc nỗi riêng em”, “Ý nghĩ chúng mình hôm nay dị bản”,
“Đích cuối cùng đến mộ địa tình anh”, vv…Thơ 1 - 2 - 3 đòi hỏi sự cô đọng và có
sức khái quát cao. Có lẽ vì vậy, nhà thơ đã dùng quá nhiều hình ảnh ước lệ quen
thuộc, nhiều ẩn dụ để xây dựng hình tượng thơ. Điều này làm chất thơ
nghiêng về suy tưởng mà nhạt về cảm xúc, hạn chế tính chất cụ thể, sinh động,
tươi mới và biến ảo của thi ảnh và thi cảm trong nhiều bài thơ, ví như: “Biển
chiều nay định vị trái tim em/ Bước chân khách cô liêu chợt như quen như lạ/ Vô
định lòng mình lạc bến nẻo xa/ Biển gọi tên em rộn khúc hoan ca/ Xếp lại nỗi nhớ
nơi ngăn tim ngập chìm hoài niệm”. Đây đó vẫn thấy một số bài cảm xúc thơ chưa
thật chín, chưa nhập sâu vào bản chất để biểu hiện được cái hồn của chất liệu
văn hoá Tây Nguyên. Hẳn nhiên, đây là một việc khó, đòi hỏi những nỗ lực tích
luỹ vốn văn hoá lâu dài, bền bỉ và sáng tạo.
Nhìn chung, Vọng núi là tác phẩm thành công của Trần Nguyệt Ánh, thể hiện tình yêu mãnh liệt đối với thơ và khát vọng vươn lên, khẳng định bản sắc riêng của nhà thơ trong sáng tạo nghệ thuật. Tác phẩm có nội dung phong phú, mang trị nhân văn tốt đẹp và nhiều nét mới mẻ, hấp dẫn về nghệ thuật thể hiện. Đây là một đóng góp ý nghĩa của chị đối với thơ ca Đăk Lăk nói riêng, thơ ca nước nhà nói chung. Rất mong Trần Nguyệt Ánh tiếp tục phát huy những thành quả đã đạt được và nỗ lực hơn nữa để sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc hơn trong tương lai.
24/9/2025
Nguyễn Phương Hà
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét