Mỹ cảm của kiểu tự sự trong suốt trong tập tản văn “Nỗi buồn
trong suốt” của Nguyễn Đức Phú Thọ
Tản văn là một thể loại dễ tiếp cận với mọi mặt của đời sống
thông qua những lát cắt hiện thực, nhưng trung tâm tinh thần của thể loại này lại
là cái tôi tư tưởng, cảm xúc của người nghệ sĩ. Tản văn vừa đậm chất trữ tình,
vừa mang bản chất tự sự. Mỗi tác phẩm là một cách diễn giải về “Thế giới như
tôi thấy”, đồng thời cũng là một tấm gương phản chiếu cấu trúc nội tâm của nhà
văn.
Nỗi buồn trong suốt của Nguyễn Đức Phú Thọ là một tập tản
văn như thế. Đây có thể là một thử nghiệm về kỹ thuật viết ở địa hạt mới của
nhà thơ trẻ, cũng có thể là một sự kế thừa và phát triển từ tác phẩm đầu
tay, Nỗi buồn đập cánh (tập thơ, 2011). Xuyên suốt tác phẩm là mỹ cảm
của sự giản dị, trầm lắng khác xa với nhịp sống ồn ào vội vã bên ngoài trang
sách. Phú Thọ không triết lý, không gồng mình mà bằng sự tinh tế thiên phú, sự
trong vắt của ngôn từ, sự chạm đáy của cảm xúc đã mở ra những đường bay của nghệ
thuật.
Cấu trúc của Nỗi buồn trong suốt (tản văn,
Nxb. Hội Nhà văn & Cty sách Đông Tây, 2017) gồm ba mươi phiến đoạn
được đặt tên khác nhau và ba mươi bức thư cùng được gọi là Thư muộn. Tuy
nhiên, 30 đoản khúc Thư muộn lại được đặt ở vị trí trung tâm, sâu nhất
trong thế giới nội quan của chủ thể trữ tình. Điều đặc biệt là mỗi phiến đoạn
hay mỗi bức thư ấy tự thân lại là một kết cấu hoàn chỉnh và đồng thời nó cũng
là một mảnh ghép về cuộc đời nhân vật, về thế giới nội tâm sâu sắc, phong phú,
tinh tế và đặc biệt là sự trong veo hiếm có. Câu chuyện nội tâm được xé vụn rồi
dán lên trang giấy theo mạch của cảm xúc vô định, thời gian và không gian không
còn là trục quy chiếu mà cảm xúc của nhân vật là hệ tọa độ, là la bàn định vị.
Song, về cơ bản chúng ta có thể “tự sắp xếp” lại theo logic thông thường, dựa
trên những dữ liệu mà tác giả đã rải rác vung ra theo sự dẫn dắt của những hoài
niệm, cảm xúc. Toàn bộ câu chuyện như là lời tự thuật về bản thân dưới hình thức
một quyển nhật ký, những bức thư viết cho chính mình, nơi mà không cần sự rào
đón, sự khách khí, sự dòm ngó của bất kỳ ai, viết là để trải lòng, để đối diện
với chính mình, viết như là một hình thức tự giải thoát, tự chữa lành.
Mở đầu tập tản văn “tôi” viết về quán tên tên Trầm, chìm đắm
trong màu xanh (lặp lại 18 lần), đôi mắt “tôi” càn lướt, tô màu, tạo khối cho
hiện thực rồi phóng xa ra phố (Ở phố, màu xanh thật bất an) rồi phóng sâu vào nội
tâm, kỷ niệm (Chợt màu xanh khẽ nhói lên… Đẹp và xanh thơ dại). Tác phẩm khép lại
ở phiến đoạn thứ sáu mươi, ở “Dưới vòm hoa giấy, tôi ngồi”, ở “màu trắng tinh
tươm” nơi quán tên Phố vắng, ở niềm vui thinh lặng như vốn có, ở niềm tin an
trú, bình yên sẽ theo về. Dụng tâm của cách mở đầu và kết thúc ấy cho ta
thấy một vòng tròn chuyển hóa, một sự trưởng thành sau bao nhiêu quan sát,
chiêm nghiệm và tự vấn.
“Mình”/“Tôi” là một người trẻ, với tuổi thơ không trọn vẹn: một
người cha thiếu tình yêu, thừa đòn roi, một người mẹ tận tâm nhưng u buồn và
qua đời sớm, một người bà chăm sóc và một con chó ân nhân. “Mình”/“Tôi” đi qua
thời gian và tuổi thơ bị lạc mất, bị đánh cắp, bị ép chín sớm, trở thành người
hết tuổi thơ. K.D.N.Q. và một vài cái tên khác như Vy, Jun,… hoặc một người chị
không tên nào đó, và một người em gái tên My là những khảm ghép nên thế giới của
tôi. Những cái tên ấy là những mối quan hệ tình cảm khác nhau, duy chỉ có D. là
nam giới, là người “mình”/“tôi” chưa bao giờ gặp, và luôn ghen tỵ bởi D. có được
K…
Mỗi cái tên ấy lặp đi lặp lại, choán hết cuộc đời và ký ức
“mình”/“tôi”, mỗi ký tự là một thế giới trong “tôi”, nhưng chính tất cả các ký
tự ấy cũng ghép thành thế giới của “tôi”. Trong đó K. được xem là trung tâm (xuất
hiện 191 lần) và các nhân vật khác đều biết K., mọi vấn đề của “mình”/“tôi” dường
như bị xoay chuyển bởi K.K. chưa một lần hiện diện, nên không rõ mặt, có thể là
mối tình đầu của tôi, K. gắn với những kỷ niệm về mưa (lặp lại 41 lần), trong một
niềm gắn bó giao cảm khó giải thích, và không thể giải thích bằng ngôn ngữ. Sự
trong suốt của mối tình như tấm gương luôn soi chiếu những cảm xúc và kỷ niệm
trong “mình”/“tôi”, đến khi K. ra đi thế giới trở nên mù mờ và trống rỗng, “nỗi
buồn đau trở về thân thuộc” (Thư muộn 30) và đó cũng là lúc “Khi chẳng biết thế
nào là vui nữa” (Thư muộn 29). Cột chặt trong tâm trí của “mình” là “K”, từ
trong lý trí hay trong giấc mơ, từ quá khứ hay thực tại, từ ý thức đến vô thức.
K. là hiện thân của một nội tâm sống động, một quá khứ chưa thể hoàn thành và một
tương lai ngoài tầm với, một giấc mơ dịu dàng.
Tất cả những phiến đoạn Thư muộn (30 lần) đều viết
về K. những bức thư không bao giờ gửi, có phải vì vậy mà gọi là thư muộn? Muộn
khi K. đã bước ra khỏi đời “tôi” hay K. đã về bên kia thế giới? Muộn vì chưa kịp
nói hay những bộn bề ray rứt là hệ lụy sau cùng? K. là một cái gì đó không rõ
ràng bởi hai người quá hiểu nhau nên chẳng nói nhiều, chỉ dựa lưng vào nhau
cùng đọc sách, cùng ngắm mưa khi hai người hòa hợp ở cạnh nhau. Nhưng đến lúc
K. ra đi không một lời từ giã, không một lý do. Đó là điều căn bản khiến “tôi”
trở đi trở lại, tự vấn bản thân đến ráo riết để tìm một lý do. Dù “tôi” chấp nhận
được tất cả song lắm lúc quá mệt mỏi, “tôi” ước bản thân bị lừa dối:
“Sự ra đi của K. sẽ giản đơn biết bao. Nếu tất cả chỉ là sự lừa
dối. Đó phải chăng là lỗi của mình? Mình trẻ con ư? Hay mình đã vô cùng nông nổi?
Và chẳng thể là chỗ dựa? Nên khổ đau K. chịu đựng một mình? K. trả lời đi. Sao
K. cứ vô tình, im lặng? Giờ đây, mình chỉ thấy rã rời. Mình chỉ muốn ngủ vùi.
Mà tâm trí cứ trở mình nằng nặng. Mỗi giờ. Mỗi phút. Mỗi giây. K. chính là quá
khứ? Tương lai? Hay mọi thứ về K. vẫn chính là hiện tại?” (Thư muộn 24).
Khi đã mất K. tôi trở nên lạc lõng, không còn là chính mình,
mệt mỏi vùng vẫy muốn thoát ra khỏi cuộc đời đó, khỏi trạng thái đó, nhưng có
thể K. không còn là tình yêu mà là máu thịt, và sống động như bản thể, K. là giấc
mơ suốt đời tôi đeo đuổi, đến tận cùng “mình” có thể đạt được?
Nhiều năm sau, ngay cả khi được D. báo tin K. đã ra đi vĩnh
viễn, bao bận rộn và hành trình cuộc đời vẫn miên viễn mở ra nhưng với “mình”
K. vẫn ở đó, thân thuộc, bình yên. Những người bạn như Q., N. và ngay cả Jun,
được biết đến như người gắn bó tình yêu với “mình” để đến “những miền đất mới,
những chân trời bát ngát chân mây…” (Hành trình) đã hơn một lần hỏi “mình”
về K.: “Tôi còn nhớ K. không?” và “tôi” đã có Câu trả lời thành thật
với lòng mình, “Làm sao có thể quên, bởi chính ta vẫn cố tình không nhớ. Chúng
ta rồi sẽ tìm được câu trả lời, vào ngày đẹp trời nào đó. Còn lúc này, tôi muốn
được lặng yên” (Câu trả lời). Có lẽ đây cũng là câu hỏi lớn nhất mà tôi phải đối
diện, có dám đối diện thì mới tìm thấy bình yên thật sự!
Vẻ “trong suốt” hấp dẫn bạn đọc nhất ở Phú Thọ là giọng điệu.
Nhà văn đã thiết lập vị thế và tâm thế ngay khi họ lựa chọn cách xưng hô, cách
thể hiện. Chủ thể trữ tình trong Nỗi buồn trong suốt hầu hết xưng là
“mình” (618 lần), và thỉnh thoảng xưng “tôi” (269 lần). Cách tự xưng “mình” là
một chiến lược tự sự, khác với kiểu xưng “tôi” rất phổ biến trong tản văn Việt
Nam đương đại. “Mình” khác “tôi” không chỉ ở giọng thủ thỉ, ở sự chủ động phơi
bày thế giới nội tâm, ở mỹ cảm của sự dịu dàng, trong trẻo mà, hơn hết, “mình”
còn có năng lực cộng thông, kết nối với tinh thần của người đọc. Những nỗi niềm
rất riêng tư của lối diễn ngôn độc thoại, tự kể, tự chất vấn, tự giải bày của
chủ thể trữ tình thông qua cách xưng “mình” như một cuộc trò chuyện thân thuộc.
Người đọc hòa vào với câu chuyện được kể và như chìm đắm vào trong thế giới ấy
như thể là nội tâm của chính mình. Chính cách tự sự giàu tính liên tưởng, tăng
khả năng lan tỏa và giảm thiểu khoảng cách trần thuật đã đặt chủ thể trần thuật,
câu chuyện được kể và người tiếp nhận trong thế tương giao, dòng ý thức vẫy gọi
nhau theo kiểu “đi tìm thời gian đã mất”.
Bên cạnh việc lựa chọn ngôi kể, giọng kể và những điều được kể
mới thực sự giúp khơi nguồn, nảy nụ những mỹ cảm của sự thấu cảm và tinh tế nơi
người đọc. Dù là viết về tình bạn hay tình yêu, tình thân hay tình sơ, dù ngọt
ngào êm ái hay đau đớn đắng cay, qua ngòi bút giàu cảm xúc của nhà văn trẻ đều
toát lên sự ấm áp của tình người đáng tin cậy. Dẫu viết về nỗi đau chất chứa nỗi
đau về “người đàn ông” làm khổ đời “mẹ tôi” cũng chỉ khắc khoải trong câu hỏi bất
lực: “Ngồi lẳng lặng giữa niềm vô vọng. Mình muốn hỏi tại sao? Sao chẳng thể ra
đi? Sao phải tốt với người đàn ông ấy? Người đàn ông chỉ có lỗi lầm. Chỉ gieo
thêm nước mắt. Chẳng dám nhìn vào sự thật. Người sống như đã chết cả đời. Sao mẹ
chẳng nghỉ ngơi? Sao phải chịu đựng nhiều đến thế?” (Thư muộn 19). Hay những mất
mát trong tình yêu “tôi” cũng chỉ có thể để nó gặm nhấm trong suốt những đêm
dài, trong sự trằn trọc, mệt nhoài, hỗn độn, rồi tự chìm vào đêm tối: “Mình
trôi ngược về miền ký ức. Bằng tất cả sức lực còn lại. Chờ đợi giấc mơ. Để
thoát ly thực tại. Mình muốn giải phóng mọi ẩn ức. Mình chẳng thể chết. Mình sẽ
vượt qua nỗi sợ. Giữ lại K. nơi sự sống này. Chẳng cần biết vì sao. Mình phải sống.
K. có hiểu không? Chưa bao giờ đánh mất K., dù lắm lúc, mình lạc trong ý nghĩ”
(Thư muộn 13).
Khi đọc tập tản văn, tôi đã cố gắng kết nối những ký hiệu để
tạo lập mạng lưới đời sống của nhân vật, nhưng làm sao có thể vá víu những mảnh
vỡ ký ức? Một người sống theo tiếng gọi của trái tim nhưng trái tim ấy đã quá
nhiều vết xước, quá mệt mỏi, “mình”/“tôi” xem K. là chiếc la bàn định vị cuộc đời,
nhưng K. mãi là điều gì đó xa xôi, mơ hồ không rõ cứa cắt tâm hồn vì những mộng
ước tươi đẹp không còn. Những đợi chờ, bồn chồn, nghi ngại qua đi, K. lại trở về
trong suốt: “K. là một giấc mơ” (Thư muộn 23).
Nỗi buồn trong suốt toát lên vẻ đẹp thánh thiện của tâm
hồn, của cảm xúc. Trước hết, nó nằm ở lối tự sự không hẳn là giãi bày, không phải
là phân trần hay biện hộ, đơn giản chỉ là ghi lại như một thói quen, hay như bản
thân câu chữ ấy đã hiện lên trong trí não. Đó có thể là nỗi buồn lan tỏa từ cảnh
vật, chạm vào da thịt, đọng vào khóe mắt, rồi từ đôi mắt ấy lại ôm trùm vạn vật;
một nỗi buồn dịu, buồn mà không sầu. Hay nỗi nhớ miên man như dòng suối nhỏ miệt
mài: nỗi nhớ mẹ, nhớ tuổi thơ, nhớ K., nhớ Jun và bao nhiêu điều khác, mỗi thứ
nhắc nhở theo kiểu riêng. Một cơn mưa cũng có thể làm ướt những điều xưa cũ,
đánh thức những mộng đẹp không thành, một khung ảnh, một góc phố… cũng gợi dậy
bao nhiêu điều, lắm lúc cảm tưởng như ký ức trong “tôi” là vô tận, tự động chảy
tràn lên trang giấy. Đặc biệt nỗi nhớ dù cho lặp đi lặp lại bao nhiêu lần (nhớ
K.) cũng vẫn luôn tươi nguyên sống động, bởi mỗi thời khắc, mỗi không gian nỗi
nhớ ấy lại có khuôn mặt, hình hài riêng, rồi tự thân chuyển hóa thành khí thở,
mây trời mà “tôi” lắm lúc đã không còn ý thức. Vì chẳng bao giờ toan tính, đặc
biệt là trong tình yêu, nên với “tôi”, “đứng trước tình yêu thì kinh nghiệm trở
nên vô nghĩa”, nhưng có lẽ, không chỉ trong tình yêu, mọi cảm xúc trong tập tản
văn luôn tươi mới tinh nguyên, đầy màu sắc và hình khối. “Mình”/“Tôi” luôn tâm
niệm “yêu thương, gắn kết là đích đến của muôn đời” (Mùa hư ảo) nhưng cách yêu
thương của “mình”/“tôi” cũng khác người chỉ lặng lẽ nhớ nhung, lặng lẽ đợi chờ,
lặng lẽ truy vấn, lặng lẽ mệt mỏi và lặng lẽ vượt qua…Và nếu có niềm vui thanh
nhẹ dịu dàng cũng len lén được nhen lên từ sự lặng lẽ ấy.
Khi xã hội ngoài kia luôn vẫy gọi và kiến tạo nên những mẫu
người năng động, cuốn theo nhịp sống hối hả, thì Nỗi buồn trong suốt lại
khuyến khích một lối sống năng tĩnh, phô ra sức hấp dẫn, vẻ đẹp của sự lặng
yên. Đó là lặng yên của không gian cảnh vật, và cũng là sự lặng yên của nội tâm
để lắng nghe chính mình, để những hồi ức có cơ hội trở mình, để từng mảnh vụn ký
ức lại sống dậy trong tâm trí: “Có những ngày nắng tràn cả vào cơn mơ giấc ngủ.
Những bóng nắng sáng lòa, từng giọt mông lung (...). Những giọt nắng rơi về giữa
tâm tư bao hình ảnh sáng lòa. Nhưng tất cả lung linh, vô định. Những bóng người
đã vĩnh viễn xa ta” (Miền nắng). Sự lặng yên ấy không mang màu sắc của cô lập
hay từ khước thế giới, mà là một lựa chọn mỹ học: chậm lại để cảm nhận sâu hơn,
tinh tế hơn. Dưới ngòi bút của Nguyễn Đức Phú Thọ, sự lặng yên trở thành một
không gian tiếp nhận cảm xúc, là bầu khí quyển bao trùm lên toàn bộ thế giới
nghệ thuật, nơi từng giọt mưa, từng cái nhìn, từng nhịp thở đều trở thành chất
liệu cho dòng tự sự thấm đẫm tình người.
Chính trong sự lặng yên ấy, các tầng sâu của tâm trí được
đánh thức, các cung bậc cảm xúc tinh vi nhất được chưng cất, hiện hình. Càng lặng
yên, nhân vật “mình”/“tôi” càng có khả năng lắng nghe âm vang của những điều
chưa kịp nói, những mối quan hệ chưa kịp hóa giải, những khúc mắc của tình yêu,
tình thân còn day dứt. Càng lặng yên, tác phẩm càng đánh thức ở người đọc một
tâm thế đồng cảm, chậm rãi bước vào thế giới của hồi ức, của ký ức bị vỡ vụn
nhưng vẫn lung linh ánh sáng của niềm thương và nỗi nhớ. Tài năng của Phú Thọ
là gọi ra được tên của những nỗi niềm cảm xúc bằng tất cả sự chính xác và tinh
tế, nó tràn ra một cách dễ dàng, có lẽ, đằng sau sự dễ dàng ấy là một quá trình
rèn luyện công phu. K. Paustovsky từng nói “truyện hay đến một mức nào đó thì
thành thơ”, tản văn của Phú Thọ có lẽ đã chạm đến cái ngưỡng của sự chuyển động
ấy, với ngôn ngữ giàu sức gợi, giàu hình ảnh, tràn đầy màu sắc và hình khối được
thoát thai từ lối tư duy của một nhà thơ, đó thực sự là những bài thơ văn xuôi
mượt mà.
Sự tĩnh lặng sâu xa trong cảm thức của tác giả dù cho kỷ niệm
có vài vết xước, dù cho tuổi thơ sớm mất mát tình yêu, dù cho thời hoa mộng trải
qua nhiều chia rẽ thì ngòi bút vẫn ngọt ngào tí tách dòng chảy của cuộc sống,
dù cho cuộc sống ấy “có muộn phiền, có những giọt nước mắt hòa tan vào mưa,
trong suốt” (Mưa). Sự yên lặng, tịch liêu là không gian chủ đạo, song đó không
phải là sự tịch liêu chìm vào hư vô, thoát khỏi bản ngã để tiến tới vô ngã như
cảm thức “sabi” trong thơ haiku mà sự tĩnh lặng như là nếp nghĩ, nếp sống rất đời
của một tâm hồn rất trẻ đầy khao khát và tự vấn. Tự sự trong suốt ở đây, vì thế,
cũng là một hành vi đạo đức - viết là để giữ lại cái đẹp của đời sống, để sống
chậm lại, để con người không lạc mất chính mình giữa dòng đời vội vã.
Nỗi buồn trong suốt không chỉ là một tập tản văn ghi lại
những hồi ức, cảm xúc, ký ức cá nhân mà còn là một hành trình nghệ thuật của
cái tôi đang kiếm tìm bản thể giữa những đổ vỡ và chênh vênh của tuổi trẻ. Mỹ cảm
của kiểu tự sự trong suốt mà Nguyễn Đức Phú Thọ kiến tạo chính là ở sự tinh tế,
trong sáng của cảm xúc, ở giọng kể trầm lắng, giàu chất thơ và giàu tính đối
thoại liên tầng giữa ký ức và hiện tại, giữa nhà văn và bạn đọc. Những phiến đoạn,
những bức thư muộn như những ngấn tích tâm hồn của người kể chuyện, đồng thời,
cũng là khối pha lê trong suốt để người đọc chiêm nghiệm.
Ở cột mốc thứ hai trong hành trình sáng tạo, Nguyễn Đức Phú Thọ không chỉ khẳng định phong cách trữ tình, thiên về nội tâm, giàu mỹ cảm, tinh tế trong cảm xúc và ngôn ngữ trong thơ ca, mà còn nỗ lực mở ra hướng đi mới với tản văn, nơi anh thử nghiệm một kiểu tự sự trong suốt, mang tính đối thoại nội tâm mạnh mẽ. Có thể nói, từ Nỗi buồn trong suốt, cá tính sáng tạo của anh được định hình. Đó là mỹ học của sự tinh tế, giản dị và trong trẻo. Con đường phía trước còn dài, mong rằng tinh thần không ngừng tự vấn, không ngừng thử thách bản thân sẽ tiếp tục là động lực thôi thúc nhà văn trẻ khám phá những miền khác của nghệ thuật và con người.
25/8/2025
Nguyễn Thị Tuyết
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét