Trúc Linh lan, nhà thơ của những thân phận đàn bà đa truân miền sông nước
Thơ ca - một thế giới thi ảnh đầy ma lực - bên cạnh sự truyền cảm sâu xa, thơ chính là sợi dây thần vô hình đầy linh động, kéo con người đứng lên từ bờ vực của vô vọng, khổ đau. Cái lạ kỳ của kẻ ăn thơ uống chữ là dù ở những khúc quanh nào của cuộc đời, họ cũng có thể tìm được một hướng đi. Dù trời có đổ lửa thì họ vẫn từ tốn tìm được cho mình một bóng râm. Và nhà thơ, không cần khua chiên gõ trống, họ lặng lẽ xới đất trồng hoa cho khu vườn nghệ thuật đầy giá trị nhân sinh của mình.
Là vậy đó, khi ta sâu nặng với thế giới thi ca mới thấy hết
cái hàm sâu ẩn chứa huyền diệu mà nó mang lại. Cái cẩn mật, biến hoá của ngôn từ
thật là diễm tuyệt lắm thay! Và, Trúc Linh Lan - nhà thơ của đồng bằng - luôn
trăn trở về muôn trùng nhân thế, buồn thương cho số phận đa đoan người đàn bà
cùng những thăng trầm, đổi thay cuộc sống.
“Một đời mẹ vất vả
Đi qua bao mùa đông
Đi qua nhiều cơn gió
Đi qua nhiều dòng sông
(Một ngày xin đừng đến)
Với đời, có lẽ thứ khiến chị đau đáu, suy tư vẫn là thân phận
người đàn bà, kẻ hồng nhan giữa những đoạn trường của cuộc bể dâu. Vì lẽ đó, tiếng
thơ chị khi trầm lắng, nỉ non; lúc bi ai, bất lực… đầy thương cảm. “Kiếp
hường nhan lắm lao đao/ Luồn kim se chỉ nghẹn ngào tâm tư/ À ơi! ngọn gió “mùa
thu…”/ Năm canh mẹ thức để ru đời mình” (Tiếng ru buồn), Chị đúng là nhà
thơ của những thân phận đàn bà đa truân miền sông nước.
Khi đứng trước một tấm ảnh ở bảo tàng, cảm xúc trong chị rung
lên, tràn dâng một sự đắng chát, nghèn nghẹn “Đập vào mắt tôi là một bàn
chân/bàn chân lam lũ,nứt nẻ, sần sùi/ bàn chân của mẹ/đi suốt chiều dài chiến
tranh”(ấn tượng từ một tấm ảnh ở bảo tàng Bến Tre). Nếu là bạn, bạn sẽ thế
nào trong hoàn cảnh ấy? khi ngắm một bức ảnh? Thực ra, với nhà thơ, lúc đó
không phải là một bức ảnh nữa, mà là cả một cuộc đời. Cuộc đời của một người
đàn bà, và những người đàn bà bi đát, bất hạnh, khốn cùng bởi tội ác chiến
tranh. Tất cả đang hiện ra, trải dài ra trước mắt chị. Điều đó khiến nhà thơ phẫn
uất, đau xót và thương cảm.
“Bàn tay mẹ gầy như nhánh lá kia
Mùa đi qua mẹ nhớ thương bạc tóc
Hát bài ca của lá
Những đứa con đi mãi không về…”
(Lời hát của bà mẹ Kam-Pu-Chia)
Thơ không phải là thứ để dạy đời, để đánh tráo… nếu “cố rặn”
thì thứ “rặn ra” chỉ là thứ giống với thơ thôi, tôi nghĩ vậy. Nên hơn hết, tôi
chỉ có thể cảm được những gì được rung rẩy, thành khẩn từ tim từ óc của người
thơ. Và ở đây, chính trong thơ Trúc Linh Lan, tôi đã nhìn thấy điều đó, cảm được
điều đó, một trái tim thấm đẫm tình yêu thương dành cho kiếp người truân
chuyên, lận đận. “Mẹ tần tảo, mẹ gian truân/ Một đời mưa nắng lưng chừng sắc
hương/ Cánh cò chịu khó chịu thương/ Hai vai nặng gánh nhân thường đục-trong
(Tiếng ru buồn). Chị cũng không quên dành cho phận hồng nhan bạc mệnh những
ngậm ngùi “Tôi chạm vào em, giọt lệ hoàng phi/ Đêm sáng lửa đưa người về với
Phật/ Ai rơi lệ xuống thuyền xuôi cố quốc! Gửi lại một thiên thần mang mệnh đế
vương? (Chiều Mỹ Sơn). Với đàn bà khổ hạnh, kém phần may mắn, chị dành cho
họ niềm cảm thương sâu sắc “Mẹ chồng hy sinh bỏ chị lại giữa đời/ con gởi
cô bác, chị lao vào công tác/ đất nước và con-hai vai gánh vác/ lúc một mình chị
cắn nát nỗi cô đơn” (Chị). Từ ngữ nhà thơ chọn dùng không quá trau chuốt,
chẳng cần bóng bẩy; nhưng tinh tường, sắc sảo. Giọng thơ như lời ru, nhẹ nhàng
mà chạm vào ta, thấm thía đến rát đau.
Chưa lần nhận miếng trầu say
Pháo hồng áo cưới – rủi may sang đò
Tình nồng còn ủ lớp tro
Bếp chưa bén lửa… đâu ngờ mưa rơi!
(Năm canh mẹ thức để ru đời mình)
Lứa đôi với những chuyện tình, những ngọt ngào, mất mát; những
sum vầy, ly tan… luôn là nỗi niềm rách xước ở mỗi trái tim đi trong cuộc đời
này. “Chưa lần nhận miếng trầu say” bước chân theo chồng khi trái tim
chưa biết yêu là gì? Và rồi “Bếp chưa bén lửa” cái tình chưa kịp nồng
sau buổi vu quy, thì trời nỡ “mưa rơi”. Thế là tắt lửa, đành một cuộc bi
ai cho lần “sang đò” may rủi. “Đôi ta mới gặp đã lìa/ Trách ai bẻ
khoá quăng chìa xa nhau” (Ca dao) xót xa nào bằng? Một tuổi xuân phơi phới,
một khát vọng đầy tràn… phút chốc tan biến cõi không. Và làm sao mà không chơi
vơi, hụt hẫng; không mơ ước, khát khao?“Biển xô dạt đời em/ Theo từng cơn sóng
dữ/ Một chuỗi đời mệt mỏi/ Bồng bềnh trong cô đơn!/ Một vòng tay - một nụ hôn/
Em từng đêm khao khát/ Ước chi anh là con sông hát/ Đổ vào đời em yêu thương (Ước
gì).
Bất chợt, tôi nhớ về những câu thơ của nhà thơ Phú Sĩ “Tôi
muốn viết cho em/ Về câu chuyện nợ duyên không chỉ sắc màu hồng/ Đổ vỡ những niềm
tin nào trách người bỏ lại/ Muộn phiền vẫn vây quanh đắng cay em nếm trải/ Vẫn
như viên ngọc mài… rồi sẽ lại sáng trong”(Người đàn bà vẫn thế đợi yêu thương).
Rõ là, đường nợ duyên của phận hường nhan mấy ai là bằng phẳng? nếu không phải “trâm
gãy bình tan”,“Tro tàn bếp lạnh”, thì cũng là “quất ngựa truy phong”.
Người đàn bà đã cũ
Trong trái tim người đàn ông bội bạc
Lâm râm thời gian trên màu tóc
Đa đoan cuộc đời trên mắt xưa
(Những ký âm tháng chín)
Tự hỏi, cuộc đời này, có bao “đàn bà” được “bạch
đầu giai lão” trong hạnh phúc lứa đôi? Mỗi một thời đại, mỗi sự đổi thay,
tốt dần lên hơn. Tuy vậy, đàn bà vẫn là thân phận mang nhiều nỗi thua thiệt,
trái ngang, đau khổ. “Thời gian chừng như vô nghĩa/ Mẹ bạc đầu thức trắng
những đêm thâu/ Cô gái nhà bên dù chẳng làm dâu/ Ngày giỗ anh vẫn sang nhà thắp
hương lặng lẽ” (Nỗi nhớ của mẹ), nhà thơ ẩn dụ trong sự đồng dạng, miêu tả
gợi cảm với đầy đủ màu sắc, âm thanh từ: “mái đầu bạc”, “tiếng bước
chân cô gái nhà bên” đến “tiếng thắp hương”… rồi phủ kín không gian,
phủ kín bóng người, từ đàn bà già đến đàn bà trẻ, một nỗi xót đau, tróng lạnh.
Có những buổi chiều
Ta buồn
Khi nhìn bóng mẹ ngã theo hoàng hôn
Tóc mù sương
Còng lưng gánh nỗi buồn ký ức
(Chiều)
Đôi lúc, người đọc sẽ bắt gặp chị làm thơ kiểu như đang tâm
tình, nó nhẹ nhàng, bình dị nhưng lại chạm vào ta bởi sự chân thiệt sâu sắc nơi
lòng “Chuyện cổ tích ngày xưa! Ai khóa kín khu vườn?/ Bầy con lớn lên đứa
còn, đứa mất…/ Ba đã trăm năm chuyến đi xa khuất/ Thương má một mình thắp bóng
trăng xưa” (Thương má một mình thắp bóng trăng xưa). Những người mẹ, người
vợ, những người đàn bà vùng sông nước đồng bằng, yêu chồng thương con. Chẳng
màng vất vả. Chẳng màng thanh xuân, “Xanh ngắt màu lá tôi giấu trong chồng
thư cũ/ Vô tình gió mở/ Giật mình!/ Xanh đã tàn phai”(Sắc thu phai). Cả một đời,
khi bình yên, họ sống vì gia đình; khi ngoại bang xâm lấn, họ sống cho nước
nhà. Trái tim họ luôn tím ngát thuỷ chung như giàn hoa cát đằng nở rộ “Giặc
càn về máu đỏ nhuộm sông/ Mẹ hy sinh đêm đánh tàu biệt kích/ Trong vòng tay cô
bác/ Đưa mẹ về bên giàn cát đằng nở tím thuỷ chung” (Câu chuyện bên dòng Xà
No).
Giọng thơ của chị là giọng nói bên trong của không ít số phận
người đàn bà. Trước những suy tư, thấu cảm trong tiếng thơ của chị, đôi lúc tôi
thấy ám ảnh, bởi nó thật quá, và cũng đau đớn, xót xa quá: “Đi qua ngày/
Khu vườn lạnh tanh hâm hao cơn khát nước/ Mặt trời cười trôi ngược/ Tôi tự nhận
ra mình đang đứng ở cuối đông. (Vô thường). Sẽ có không ít người đàn bà bắt
gặp bóng hình mình nơi thơ chị. Ngậm ngùi, chua chát.
Trực giác của chị là phần hoà hợp đến thăng hoa của ý thức và
tiềm thức, của lý trí và bản năng, của kinh nghiệm sống và nỗi niềm trắc ẩn… và
vì lẽ đó, thơ chị bên cạnh vẻ đẹp của ngôn từ, là sự tuôn đầy những khắc khoải,
yêu thương, trầm mặc “Chiếc lá xanh em giữ lại cho mình/Vàng mùa thu đi rất
khẽ” (Sắc thu phai). Bên cạnh những mới lạ, độc đáo, tinh tế của diễn
ngôn, là sự khai thác mọi góc cạnh của đời sống con người, đăc biệt là phận đàn
bà, phận hường nhan truân chuyên. Từ cõi thực đến cõi tâm linh, chị đều dành
cho họ tình yêu thương, sự trân quý cùng nỗi niềm hoài vọng, tiếc
thương.
Ta chạm vào em. Nỗi buồn nghìn năm trước
Trên từng bức tượng nun dấu tích mấy vương triều
Sự huyền dịu lung linh những bàn tay múa
Từ nụ cười ẩn dấu nét bi thương
(Chiều Mỹ Sơn)
Với đời thường, cùng những gập gềnh, cheo leo, đỉnh dốc… nhà
thơ vẫn cố gắng tìm lấy niềm vui sống. Là chị động viên chính mình? Hay động
viên những bóng liễu, những tóc dài phận hẩm cõi trần gian này?
Tôi luôn mang theo nụ cười
Mặc dù cuộc đời chẳng mấy niềm vui
Tôi mặc cả hồn nhiên
Cho trái tim ngậm ngùi.
Tôi thấy hình như mình đang leo dốc,
Đỉnh núi mờ xa
(Tôi lừa dối tôi)
Chị không bị khuất phục, dù “Đỉnh núi mờ xa”, và chị
mong muốn mọi đàn bà quanh chị cũng đừng khuất phục. Dẫu đôi lúc đó là sự lừa dối
chính mình, chị vẫn muốn có sức mạnh để vượt qua tất cả. Và những ai yêu thơ
Trúc Linh Lan, bên cạnh nỗi buồn man mác, họ sẽ biết cách tự vỗ về, tự an ủi… để
sống vững vàng hơn, để sống kiêu hãnh hơn, “Ta tận dụng hết các sắc
màu/ Vẽ cho mọi người biếc xanh hi vọng/ Một đóa hồng không phai cho xuân
thiếu nữ/ Một chàng trai tựa cửa/ Ôm cây đàn dạo liên khúc tình si”. Họ vẫn
không ngừng mơ ước, không ngừng khát vọng, không ngừng tìm kiếm. “Tặng ai
đó ước mơ!/ Tặng ai đó nụ cười!/ Tặng ai đó trái tim đỏ thắm!/ Ta yêu người/ Ta
yêu ta! (Quà tặng của gió). Đàn bà giữa cuộc đời này thường được ví như
là “Liễu”, lả lướt, yếu mềm. Tôi thì lại thấy, đàn bà chẳng khác tuyết
tùng, một loại cây thân dẻo. Dẫu bão giông và tuyết có dập dùi, dẫu bao cây cao
to quanh nó đều ngã đổ, chết khô. Tuyết tùng vẫn sừng sững, xanh tươi, “Ta
đứng trên đỉnh vô ưu/ Để không thấy phận người đầy định mệnh/ Không còn ai
chông chênh đơn lẻ/ Không còn ai lỡ những chuyến tàu” (Yêu phận của người). Nói
đến sự dẻo dai, cang trường của kiếp má hồng, tôi chợt nhớ về những lời thơ đầy
gai góc, đa mang mà cũng đầy kiêu hãnh của nhà văn Trầm Hương “Người đàn
bà làm thơ/ Như bao bà mẹ tảo tần/ Lội trên cánh đồng chữ nghĩa/ Một
tay bịt trái tim đau/ Tay kia lau nước mắt/ Tay bồng con tay viết
sách/ Mà trải lòng. Mà phẫn nộ, đớn đau”. (Người đàn bà làm thơ).
Đó chính là sợi dây thần vô hình của thơ. Sức mạnh của nó là
vô biên. Và nhà thơ, họ luôn ở đó, như những con ong quý không ngừng góp những
giọt mật quý cho cuộc đời này. Ta không khỏi trân quý họ, những tài thơ cần mẫn,
miệt mài.
“Người đàn bà buồn làm thơ
Những con chữ mang tiếng nhạn kêu sương trong khuya khắc khoải”
(Người đàn bà buồn)
Và, cũng thật đúng với quan niệm của chính chị “Thơ Là cứu
cánh tâm hồn, cứu cánh nỗi đau, nỗi cô đơn tuyệt vọng, cứu cánh những khát vọng,
những cái đẹp không vươn tới được, những nỗi buồn không tên…”. Thật vậy, khi
hố lòng trống hoác, thơ chính là sự lấp đầy. Khi cõi lòng bi ai, thơ chính là
ánh chiếu rọi. Thơ là vậy, huyền diệu và tinh tường. Nên, thơ phải là thứ được “rút
ruột”, có vậy, thơ mới có thể chạm sâu và vĩnh hằng “Người đời sau/ Người
nghìn sau/ Trăm năm còn thao thức/ Linh thiêng rụng một nốt trầm” (Linh
thiêng rụng một nốt trầm).
Nhà thơ Xuân Diệu đã từng nói “Thơ là một sản phẩm của
tâm hồn, trí tuệ con người mà tâm hồn và trí tuệ đó có một tác động trở lại vào
thực tại... Thơ phải xuất phát từ thực tại, từ đời sống, nhưng phải đi qua một
tâm hồn, một trí tuệ và khi đã đi qua như vậy, tâm hồn, trí tuệ ấy phải in dấu
vào đó thật sâu sắc, càng cá thể, càng độc đáo, càng hay, thơ là tiếng gọi đàn,
là sự đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu của những con người”. Trong
trường hợp này, quan niệm đó thật phù hợp với tiếng thơ, tiếng lòng của nhà thơ
Trúc Linh Lan biết bao.
Tôi cầm nụ cười trên tay
Tặng những ai buồn bã
Mà sao ai đó không vui?
Niềm vui xin đừng ngã giá!
Bóng hạnh phúc vô thường.
(Tôi lừa dối tôi)
Augustinô, một triết gia phương tây, đã nói “Hãy
yêu thiệt nhiều đi, rồi bạn sẽ biết mình nên viết cái gì?”. Quả thực, với giọng
thơ đầy sự thổn thức, khắc khoải như tiếng vọng của “nhạn kêu sương”, người
đọc dễ nhận thấy ở nhà thơ một tình yêu sâu nặng dành cho cuộc đời, dành cho những
kiếp nhân sinh bạc phần, bạc phận. Chị thực sự là nhà thơ của cõi lòng đàn bà
giữa cuộc hồng trần, giữa cuộc bể dâu. Nỗi khát khao hạnh phúc, niềm tiếc
thương hoài vọng, những trăn trở, ngậm ngùi… tất cả, tràn trong thơ chị bằng
thi pháp trữ tình, kiểu diễn ngôn mượt mà và những liên tưởng độc đáo; bằng sự
rung cảm, thành khẩn và bằng cả trí huệ.
Cần thơ, 23/9/2024
Bảo Bình
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét