Nguyễn Kim Thanh với hương đồng gió nội miền Tây
Trong mỗi chúng ta ai chẳng có một quê hương để thương để nhớ. Với nhà văn Nguyễn Kim Thanh thì đó là cả một vùng ký ức với bao kỷ niệm vui buồn nhung nhớ. Đó là cảnh sắc quê nhà với hai mùa mưa nắng, là tiếng bà ru cháu, mẹ ru con, là lời ca điệu lý vang vọng bên những dòng kinh. Đó là bến nước, dòng sông, là những giề lục bình trôi với bông tim tím, hay bông điển điển vàng, bông súng mùa nước nổi, là con cá lòng tong, con cá linh, cá rô, con tôm càng quẫy đạp. Đó là những phận người lưu lạc, bất hạnh trong chiến tranh hay trong cuộc mưu sinh nhưng không bao giờ lùi bước bi kịch cuộc đời. Họ vẫn luôn lạc quan yêu đời, vựợt lên mọi gian nan thử thách khi cuộc sống trở nên “không thể chịu được nữa”. Tập truyện ngắn và tản văn “Mùa cá lòng tong” của chị là bức tranh sống động của miệt quê Nam Bộ mang vẻ đẹp hương đồng gió nội như một hành trang theo mỗi bước chân chị đã qua.
Nhà văn Nguyễn Kim Thanh với các bút danh: Duy Anh, Kim
Thanh, Huỳnh Duy, Hưng Phú đã trình làng nhiều tác phẩm in chung và bốn tác phẩm
in riêng. Nhiều sáng tác của chị đã được đăng trên các Báo, Tạp chí Văn nghệ
Trung ương và địa phương. Hiện nay chị là Phó Chủ tịch Hội Nhà văn thành phố Cần
Thơ, phụ trách Tạp chí Văn nghệ Cần Thơ. Công việc nhiều và hoàn cảnh còn khó
khăn nhưng đêm đêm chị vẫn miệt mài trên mỗi trang viết. Tình yêu văn chương đã
nhen nhóm trong lòng chị từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường Trung học
phổ thông Châu Văn Liêm. Đôi khi những bài thơ, những trang viết chỉ “một mình
mình biết, một mình mình hay”. Nhưng từ khi là hội viên Phân hội Văn học thuộc
Hội văn học nghệ thuật tỉnh Kiên Giang rồi chuyển về Cần Thơ và qua các lớp bồi
dưỡng ở các trại sáng tác, lý luận văn học, rồi đi thực tế nhiều chuyến thì những
truyện ngắn, tản văn của chị càng “nổi gió” hơn, ghim được vào trái tim người đọc.
Đề tài những truyện ngắn, tản văn của Nguyễn Kim Thanh phần lớn
đều xoay quanh số phận người miền Tây trong cuộc sống đời thường. Nhân vật thường
là những người phụ nữ chịu nhiều bất hạnh ở miền quê hay phố thị khác nhau. Con
người, cảnh vật trong truyện hiện lên rất sống động qua cách kể, cách tả, cách
dẫn truyện khá hấp dẫn nhiều lớp lang, nhiều tình tiết.
Với tập truyện ngắn và tản văn này, chị đem đến cho người đọc
cái nhìn đa chiều về con người và cuộc sống của cư dân miền Tây Nam bộ bằng một
giọng văn kể chuyện tâm tình với nhiều chi tiết sống động. Mỗi truyện ngắn, mỗi
tản văn là một lát cắt, là một clip quay cận cảnh về đời sống, cảnh sắc vùng đất
đầy nắng gió khi con nước lớn, ròng. Người đọc sẽ bắt gặp đâu đó hình bóng quê
nhà với những con người dễ thương dễ mến như: ông Mười Sẹo, chú Hân, chú Thi,
cô Út, cô Nguyệt, cô Sinh, cô Ngần, bà Hai Qườn trong “Chuyện nhà ông Mười Sẹo”
mà ông Mười Sẹo là người đáng thương hơn đáng trách. Người đọc khó quên tiếng
chửi của Mười Sẹo, nó khác với tiếng chửi cả làng Vũ Đại của Chí Phèo, “Ổng chửi
bầy trâu là chủ yếu nhưng lũ trâu có nghe lời ông chửi tụi nó hay không mà cứ ốm
o dần đi”… Hay “Chuyện ở xóm Miễu” ta bắt gặp một lão Tam với biết bao người
đàn bà qua tay lão mà “mụ Hinh vẫn khoái lão Tam ra mặt”. Lão từng hại ba má
lão, hại các đồng chí của ba má. Lão chính là thằng Ức “đã chết trong lòng dân
xóm Miễu”. Lão chỉ uống rượu và bạn với con chó thôi, và lão đã tự biết mình có
tội với dân. Nhưng tình thương con vẫn bùng cháy trong huyết quản của lão. Ở
đây ta còn bắt gặp một ông Ba Giỏi gốc miền Trung chạy vào Rạch Sỏi (Kiên
Giang) sinh sống, có cảm tình với cách mạng, được bà con yêu mến nhưng có thằng
con nghịch tử bán đứng cả ba má và đồng đội, và ông đã “hộc máu lên vì uất ức,
ông không dám nhìn vào mắt các đồng chí của mình”. Các nhân vật xóm Miễu hiện
lên qua lời kể của chị rất có duyên, đan xen giữa các nhân vật làm người đọc
như “vừa quen vừa lạ” như sờ thấy được. Nào Bà Bảy, thằng Xứng, Sa Sang, nào
bác Tấn, chị Mười, lão Tam và bà con xóm Miễu luôn chan hòa tình làng nghĩa
xóm… Những trang viết như thế cứ ám ảnh người đọc, nhẹ nhàng mà sâu lắng
đậm chất đời và tính nhân văn.
Ở các truyện “Hương cỏ mật”, “Lá bùa hộ mệnh”, “Lục bình trôi”, “Lưng chừng triền dốc”, “Luôn có một vì sao theo dõi anh” … Nguyễn Kim Thanh vẫn giữ giọng kể chuyện tâm tình để khắc họa tính cách nhân vật, tạo điểm nhấn cho mỗi truyện. Và tác giả kết thúc truyện theo hướng “mở” để “người đọc cùng sáng tạo”. Không gian và thời gian truyện luôn mở rộng biên độ. Từ chiến tranh chống Mỹ đến hòa bình lập lại, từ miền Tây tỏa đi Sài Gòn, Tây Nguyên, miền Trung, miền Bắc… nhưng nhân vật và ngôn ngữ truyện rất đậm chất Nam Bộ. Từ thành phố Cần Thơ, được xem là Tây đô của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, bàn chân chị đã qua hầu hết các nẻo đường. Tới đâu chị cũng ghi lại những cảnh, những người, những nét đặc trưng của vùng đất đó. Từ bông hoa ngọn cỏ, trái cây, bông súng, lục bình, bông điên điển tới cánh cò, con đò, dòng sông, cầu tre lắt lẻo, cầu khỉ gập ghình khó đi hay bến nước, ao hồ, câu ca điệu lý… đều ùa vào mỗi trang văn. Mỗi truyện của chị đều ánh lên vẻ đẹp nhân văn như hơi thở cuộc sống thường nhật vậy. Tất cả đều thấm đẫm tình người với những nỗi đau, niềm vui của thân phận con người, đôi khi yếu đuối nhưng cũng rất kiên cường, cho dù cuộc sống xô đẩy họ đối mặt với những nghịch cảnh của gia đình, xã hội nhưng ở họ không hề tắt niềm tin và hy vọng. Những góc khuất tận cùng của con tim nhân vật được chị diễn đạt như những lời tâm tình thỏ thẻ, khiến người đọc dâng lên một niềm cảm thương sâu sắc. Tôi có cảm giác Nguyễn Kim Thanh như hóa thân vào nhân vật, vào dòng chảy của ký ức với bao kỷ niệm vui buồn mà con tim thôi thúc. Quá khứ, hiện tại và tương lai cứ thôi thúc chị phải viết ra như trả món nợ cho đời.
Ở những tản văn, chị lại đưa người đọc trở về tuổi thơ với
quê hương thân thương trìu mến qua những trang miêu tả đậm chất thơ. Đó là cảnh “Má
trồng rau ngày Tết” và “Tiếng rao bánh tráng ngày xuân”. Và đây là cả một “Vùng
ký ức” với bao âm thanh, sắc màu của “Ninh Kiều ngày mới”, “Nỗi nhớ mùa
trăng”, “Nỗi nhớ dòng sông”, “Mùa cá lòng tong”. Và những lời thầy dạy vẫn văng
vẳng bên tai. Tất cả là một tình yêu quê hương nồng thắm. Những trang viết về mẹ,
gia đình, bè bạn, tình thầy trò, tình yêu cứ ùa vào ký ức làm sáng lên niềm tin
và lòng thủy chung bền chặt. Trong mỗi chúng ta ai mà chẳng có một quê hương để
thương để nhớ, và nếu ai đó “Quê hương nếu ai không nhớ/Sẽ không lớn nỗi thành
người” (Đỗ Trung Quân). Nhà thơ người Nga Ilia Erenbua đã viết: “Dòng suối đổ
vào sông, sông đổ vào đại trường giang Vonga. Con sông Voga đi ra biển. Lòng
yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”. Nhưng không
phải ai cũng có được tình yêu quê nồng nàn, tha thiết như thế. Tình yêu quê
hương làng xóm, yêu con người miền Tây dân dã, mộc mạc trọng nghĩa khinh tài,
nhân ái cứ lớn dần trong chị. Đó chẳng phải là lòng yêu dân tộc và Tổ quốc sao?
Ta hãy thưởng thức món cá lòng tong kho tiêu, cá lòng trong ăn lẩu có bông súng
lục bình, khô cá lòng tong chiên giòn của má trong những ngày mưa dầm nắng lửa
càng cảm thấy vị mặn mòi đậm tình quê hương. Chị tả cảnh má Mải bỏ lưới xuống
xuồng bắt cá lòng tong khá điệu nghệ: “Năm nào cũng vậy, từ tháng mười một âm lịch
cho tới tháng tư năm sau mùa cá lòng tong về. Cá lăn tăn khắp sông rạch… Những
ngày vào mùa cá khi bắt đầu con nước lớn, má Mải bỏ lưới xuống xuồng, Bà bơi xuồng
tới đầu dòng sông hay đầu các con kênh và bắt đầu thả lưới… Bà sử dụng hai đoạn
tre nhỏ cắm xuống nước nép bên đầu kênh hoặc đầu vàm và bắt đầu giăng lưới”. Và
đây là tiếng rao bán các loại bánh gần Tết ở vùng quê vui làm sao: “Bánh tráng
nhúng, bánh tráng mè đen, bánh tráng ngọt nước cốt dừa, bánh tráng khoai mì… có
luôn bánh phồng nếp ngọt, lạt đây bà con cô bác ơi”. Rồi hình ảnh chợ nổi
miền Tây - nét đặc trưng vùng sông nước Nam Bộ không thể thiếu trong tản văn của
chị. Chỉ cần nhìn cây “bẹo” du khách đã biết gì? Treo gì bán nấy chăng? Và chị
đã cho biết: “Làm ăn khấm khá treo tàu lá dừa nước, bán ghe nhỏ, mua ghe lớn
hơn. Làm ăn không được hoặc gia cảnh không đi ghe được nữa thì cũng phải treo
tàu lá dừa nước… có cái treo mà không bán đó là quần áo, đồ sinh hoạt của người
thương hồ…”
Mỗi mùa trăng, mỗi khi con nước lớn ròng, ghe xuồng tấp nập
trên sông, nhất là những ngày giáp tết. Tình yêu cũng nảy nở trên sông, trên
ghe xuồng những đêm trăng sáng. Tiếng đờn hòa tấu, lời vọng cổ xuống “xề” cùng
với tiếng cụng ly cười nói cứ văng vẳng trên sông từ khuya tới sáng… Miền Tây
miệt vườn Nam Bộ là thế đó. Nó hiện lên trên mỗi trang văn của chị thật đáng
yêu biết dường nào.
Chỉ với mười sáu truyện và tản văn, Nguyễn Kim Thanh đã cho
người đọc thưởng thức bao vẻ đẹp về con người và cuộc sống nơi thôn dã bình lặng
hay phố thị đông vui của miền Tây Nam Bộ. Đó là một bức tranh vừa mang tính tổng
thể vừa đặc tả những nét đặc trưng nhất của vùng đất này với bao hương đồng gió
nội đáng yêu.
Ngày nay giữa những ồn ào của của lối sống công nghiệp thời
hội nhập, đọc những truyện ngắn và tản văn của chị ta như đang lắng nghe lời
tâm sự của những con người, những mảnh đời khát khao, hy vọng vươn tới một hạnh
phúc trọn vẹn. Xã hội ngày càng phát triển, nhưng cuộc sống cũng còn nhiều khó
khăn, trăn trở, thì vẫn còn đó những mâu thuẫn, những đối lập nảy sinh. Nhưng
ta tin rằng cái cao cả, thiện lương mà tác phẩm đem lại luôn là bài ca chiến thắng
cái xấu, cái ác.
Bằng một giọng kể hồn nhiên, đôn hậu, từ ngữ mộc mạc, những phương ngữ Nam Bộ dùng đúng lúc đúng chỗ, chị đã chinh phục được trái tim người đọc bằng những câu chuyện đẹp, những tản văn hay đậm chất tình, chất thơ. Hy vọng đường văn của Nguyễn Kim Thanh còn tiến xa hơn nữa. Xin trân trọng giới thiệu “Mùa cá lòng tong” cùng bạn đọc.
21/9/2025
Lê Xuân
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét