Thứ Tư, 1 tháng 2, 2023

Quá khứ của hôm nay

Quá khứ của hôm nay

Vào buổi sáng mùa hè cuối thập niên 60 thế kỷ trước, khi mặt trời lên khoảng nửa con sào, bầu trời trong xanh, không một gợn mây. Vào những ngày thời tiết tốt như hôm nay, không quân Mỹ thường đưa máy bay từ hạm đội ngoài biển Đông ào ạt vào Thanh Hóa, ném bom, bắn phá các trọng điểm: Ga Bỉm Sơn, ga Đò Lèn, cầu Hàm Rồng. Cầu Cừ, tuy nhỏ hơn nhưng lại giữ vị trí quan trọng, cho đường sắt và đường bộ, huyết mạch của cả nước, vẫn còn nguyên vẹn. Vậy mà anh Thoại dám đứng trên cây cầu ấy như không biết chiến tranh đang xảy ra ác liệt, chăm chú nhìn những cây cột lim có niên đại hàng trăm năm, loại gỗ quý đã lên nước đen như mun, rắn như thép, bất chấp nắng mưa, mối mọt. Nó chính là những cây cột trụ của miếu Triệu Tường.
Năm đó Thoại mới mười tuổi, nhớ như in sức mạnh của dân làng được sử dụng không đúng cách.
Người ta tập trung hàng trăm người trước miếu Triệu Tường. Sau tiếng hô của người chỉ huy, đoàn người ào ạt tông cửa Tam quan, xông vào nhà thờ Nguyễn Kim, Nguyễn Hoàng, đập nát bàn thờ sơn son thiếp vàng, phá tan chiếc khảm để bài vị ghi những chiến tích của Nguyễn Kim. Một toán người trèo lên mái nhà lật tung ngói, rui mè, đòn tay… quẳng xuống đất. Gỗ của miếu được kéo về, bắc nên cây cầu Cừ vững chắc này.
Nhà văn Nguyễn Trường
Bố Thoại là người có chí lớn, ông tham gia cách mạng, làm chủ tịch ủy ban kháng chiến xã Hà Long. Ông đang là trưởng tộc họ Nguyễn, trông coi việc thờ cúng lăng mộ Triệu Tổ và miếu Triệu Tường theo gia phả để lại. Vào cuối năm 1954, đợt hai cuộc cải cách long trời lở đất diễn ra ở Thanh Hóa, bố anh bị quy là địa chủ tàn ác, lại là con cháu của giai cấp vua chúa phong kiến phản động. Đi học, Thoại khép nép ngồi cuối lớp, không dám chơi với ai. Bữa học bài lịch sử “Nguyễn Ánh cõng rắn cắn gà nhà”, thằng Tuấn, bặm trợn nhất trong lớp chỉ vào Thoại nói lớn “Là ông tổ nhà thằng Thoại đó bay ơi…”. Một nhóm, vây lấy Thoại đồng thanh: “Bọn phong kiến, bọn địa chủ cường hào ác bá”. Thoại cúi gằm mặt, nước mắt lưng tròng. Nhưng trời cho Thoại cái gen thông minh, luôn đứng nhất lớp về các môn học làm cho Thu rất có cảm tình, thường đến nhà Thoại nhờ chỉ bảo, giải những bài toán khó. Nếu không có Thu, liệu Thoại có đủ can đảm học hết cấp ba?
Càng học lên lớp, đôi bạn càng thân nhau, tình yêu đến lúc nào không biết. Thoại xin vào bộ đội, nhưng không được chấp nhận vì thành phần lý lịch, anh đành xin vào thanh niên xung phong, ở tuyến lửa Quảng Bình. Là người dũng cảm, sau loạt bom Mỹ, anh xông lên trước, tháo kíp bom nổ chậm, mở đường, nếu có chết ít ra còn được là liệt sỹ. Đơn vị nhận xét rất tốt về anh, dự tính kết nạp Đảng cho anh, nhưng khi chi bộ xem lý lịch thì họ đành phải xếp hồ sơ của anh lại. Anh trở về quê trong nỗi thất vọng ê chề.
Càng lớn Thu càng đẹp, nàng có khuôn mặt tròn, làn da trắng, dáng thanh mảnh, biết bao chàng trai ngấp nghé, nhưng Thu vẫn kiên nhẫn chung thủy chờ Thoại. Anh trở về lại là niềm vui của nàng vì họ được sống bên nhau. Tình yêu đã chín muồi, họ quyết định đi đến hôn nhân. Sau đám hỏi, họ đã đăng ký kết hôn, chỉ còn lễ cưới thì một biến cố xảy ra. Tuấn, con ông chủ tịch huyện vẫn theo đuổi Thu. Cậu học trò chỉ vào Thoại khi học đến bài “Nguyễn Ánh cõng rắn cắn gà nhà” hồi ấy đã cho người đến nhà ép gia đình Thu, họ còn bóng gió dọa: “Lấy thằng con địa chủ, phản động thì con cái không thể ngóc đầu lên được…”. Bên nhà Thu cuối cùng đành khuất phục. Hôm sau Thu đến nhà gặp Thoại, mí mắt sưng húp nhưng ánh mắt rực lên quyết tâm hiến dâng trinh tiết cho anh để áp lực lại với gia đình Tuấn và buộc gia đình mình không hủy hôn. Nhưng mà nàng có hiểu giọt nước tràn ly. Khổ quá rồi, Thoại không muốn dắt người yêu của mình vào con đường cụt… Cùng đường, Thu ra cầu Cừ lao đầu xuống dòng nước…Thoại không còn thiết sống. Anh đi lang thang như người mộng du, cứ theo con đê, đi mãi, vô tình đến cây cầu định mệnh, cây cầu bắc bằng nỗi đau của dòng họ anh, của chính anh.
Ầm ầm, ào ào, tiếng động cơ máy bay Mỹ quen thuộc lớn dần lên xen trong tiếng kẻng báo động từ xa đến gần vọng về, dồn dập. Trên trời từng tốp máy bay ào ạt hiện ra. Chúng bay theo hình tam giác nhọn. Chiếc máy bay giống như hình vĩ ruồi, thỉnh thoảng lại sáng lên lấp lóa trong nắng. Tiếng pháo phòng không đặt ở ga Bỉm Sơn, cả trận địa bên cầu Cừ đồng loạt nhả đạn. Tiếng pháo 37 ly nổ từng hồi, tiếng súng 12 ly 7 nổ thành từng tràng liên thanh. Trên trời, xung quanh tốp máy bay hiện những cụm khói trắng lập lòe, tiếng đạn nổ lụp bụp như bắp rang, văng miểng thành trận mưa rơi rào rào trên lá cây, lủm bủm dưới mặt nước. Máy bay Mỹ bổ nhào ném bom. Khói bốc lên thành cụm hình nấm rồi tiếng nổ dội đến. Nhìn từ xa, có lẽ chúng ném bom cầu Hàm Rồng, cầu Đò Lèn. Còn cầu Cừ? Nhưng ai đứng trên cầu thế kia, lại còn mặc áo trắng nữa, chắc là phản động chỉ điểm cho máy bay Mỹ rồi? Một người tự vệ thét to:
– Anh kia, xuống hầm ngay!
Mặc, Thoại đứng trên cầu như câm, như điếc, cúi đầu ngẫm nghĩ. Thì cứ để bom đạn giết chết mình đi cho nhẹ nhàng. Sống ở trên đời mà không có ý nghĩa thì chết còn sướng hơn…
Một tốp máy bay tách đội hình, một chiếc chúi xuống, càng thấp nó càng hiện to hơn, tiếng rít động cơ chói tai, hai quả bom tách ra khỏi thân máy bay lao xuống. Thoại là người nhìn chính diện nên anh không còn thấy cánh, đuôi máy bay mà chỉ thấy một khối tròn đen sì, lớn rất nhanh. Quen với cảnh này trong chiến trường, anh biết chúng ném bom vào nơi mình đứng. Anh hiên ngang giơ hai tay hình chữ V lên trời thét to: “Ông tổ ơi!”.Tiếng kêu đau thương bị ngắt quãng bởi khối lửa bùng lên. Ngọn lửa chói lòa và tiếng bom dậy đất, tức ngực. Bụi khói dầy đặc trùm lên cây cầu.
***
Thoại thấy nhẹ bỗng, lơ lửng trên không. Anh bay nhanh về làng Gia Miêu ngoại trang. Trên cao anh thấy quê mình thật đẹp, kia là dãy núi Bái Sơn xanh đậm bởi rừng nguyên sinh, uốn lượn trong mây như con rồng đang vươn mình về phía biển. Xã Hà Long, tên quê anh có con sông mang dáng rồng bên dãy núi cũng hình rồng, có phải nơi đây chính là mảnh đất địa linh nhân kiệt mới phát tích chín chúa, mười ba vua? Kia là miếu Triệu Tường, giờ chỉ là một mảnh đất phẳng xanh um tùm những vạt mía. Anh bay về núi Thiên Tôn, rồi đứng trước lăng Trường Nguyên, nơi mộ phần của bảy vị khai quốc công thần và tướng lĩnh dòng tộc anh, bắt đầu từ thủy tổ Nguyễn Biện, tứ tổ Nguyễn Công Duẩn, cho đến Triệu tổ Nguyễn Kim.
Bây giờ, không hiểu sao tổ lại đưa Thoại trở về khu lăng mộ này? Anh đang ngơ ngác nhìn thì thấy có tiếng gọi:
– Hậu sinh, lại đây nào?
Thoại dụi mắt đứng nhìn, kia rồi, ngay cạnh Phương cơ, một vị đại quan đang ngồi. Ngài để râu dài, mắt sáng quắc, khuôn mặt xương xương…Vị đại quan vuốt râu cười khà khà, tiếng ông vang như như sấm:
– Ta vừa được Cao Hoàng Đế sai đến đón hậu duệ của dòng họ Nguyễn về Phú Xuân gặp Ngài – Ngừng một chút vị đại quan tiếp – Ta quên chưa giới thiệu, ta là Tham tri bộ Lễ thời Nguyễn Vương, tên là Ngô Tòng Chu.
– Ông nhận là Tham tri bộ Lễ thời Nguyễn Vương thì ông phải biết mộ cụ Nguyễn Kim táng ở đâu?
Ngô Tòng Chu nhìn Thoại bằng ánh mắt thương hại:
– Ta nói cho ngươi biết, Cụ táng ở đây. Dân làng bịa ra chuyện trời táng, hổ táng là để sau này không ai biết huyệt mộ ông tổ Nguyễn Vương ở đâu mà phá lăng, đào mộ.
– Nhưng tại sao Nguyễn Ánh “Cõng rắn cắn gà nhà” lại chiến thắng được Anh hùng dân tộc Quang Trung?!…
Ngô Tòng Chu quắc mắt:
– Ngươi chớ nói càn. Không có chuyện hơn thua vì Nguyễn Vương được trời cho thu phục giang san. Ta nhắc lại, con dám nói những lời nghịch tử như vậy sẽ bị khép vào tội trảm. Nguyễn Vương anh hùng mới được thiên định giao cho việc mở cõi. Con mở to mắt để ta cho con thấy tài điều binh khiển tướng của Chúa công ta trong trận Thị Nại.
Thoại lại thấy mình lướt đi nhẹ như không có trọng lượng. Chớp mắt anh đã đứng trước một eo biển, ngoài khơi sóng lượn nhấp nhô, càng xuống thấp anh càng thấy rất nhiều tầu thuyền, chúng đều có buồm với nhiều mầu sắc, hai bên sườn là hàng mái chèo đều tăm tắp.
Thoại được nhìn toàn cảnh đầm Thị Nại. Đang mùa nước lên, mặt đầm rộng mênh mông, sóng nhấp nhô như biển. Theo tay chỉ của Ngô Tòng Chu, Thoại trông thấy Nguyễn Ánh đứng trước mũi thuyền chỉ huy đoàn thuyền nhờ gió Nam thổi, buồm no gió, lướt sóng băng băng. Nguyễn Vương có dáng người tầm thước, thân thể cường tráng, da đỏ hồng, rám nắng, nét mặt cương trực. Ông khoác áo mầu vàng, đầu đội khăn  trùm gọn búi tóc, gươm đeo xệ bên hông, dáng dũng mãnh của người đàn ông  trung niên, đang độ chín của tài năng.
Mấy giờ sau, thuyền của ông đã đến trước cửa Thị Nại. Ông quan sát thực địa để chuẩn bị cho trận đánh lớn. Nhìn thấy cách bố phòng cẩn mật của Đại Tư đồ  Vũ Văn Dũng, ông quay sang nói với Quân sư Đặng Đức Siêu: “Người ta nói Vũ Văn Dũng đứng đầu trong Tây Sơn hổ tướng quả không sai. Nhìn cách bày trận của ông ta thì biết, trong ngoài, trên dưới liên thủ nhau rất chặt chẽ, có kém gì Gia Cát Lượng thời Tam quốc”. Rồi Nam Vương ngửa cổ lên trời than rằng Trời chưa muốn ta diệt Tây Sơn chăng! Sao để cho tướng giỏi của ta bị khốn mãi ở đây?
Ngô Tòng Chu hãnh diện nói với Thoại – Là Chúa thượng nói về ta và Đại tướng quân Hậu dinh Võ Tánh đang bị vây hãm trong thành Bình Định đó, tấm lòng bậc quân vương như thế thì tướng sĩ sẵn lòng chết vì xã tắc cho chủ tướng cũng không có gì là khó hiểu.
Đoạn ông chỉ cho Thoại thấy Đặng Đức Siêu đang tấu trình Nguyễn Vương:
– Bẩm Chúa công, nhìn cách Vũ Văn Dũng liên kết các chiến thuyền lại với nhau, bên trên lát ván có thể đi lại được như trên mặt đất, giống như cách mà Tào Tháo cho xích thuyền lại với nhau để chống sóng dữ thời Tam quốc trước trận Xích Bích?
Nguyễn Vương cười lớn:
– Ta cũng đã nghĩ như vậy, chìa khóa của trận này là chữ hỏa trong lòng tay ta và ngươi, đúng không? Vẫn thiếu gió Đông?
– Bẩm Chúa công, phen này trời sẽ giúp Chúa công thắng lợi, trước khi ta xuất quân thì trời nổi cơn bão đánh tan tầu thuyền Tề Ngôi, nếu không thế dễ gì chúng ta được tự do ở đây. Thần xem thiên văn, đến trung tuần tháng này thời tiết sẽ thay đổi, sẽ có gió Đông cho chủ tướng đánh giặc.
Nguyễn Vương ngửa cổ lên trời nói rằng: “Nếu trời ủng hộ nhà Nguyễn khôi phục lại giang san thì trung tuần tháng này hãy nổi gió Đông”.
***
Rằm tháng giêng năm Tân Dậu (1801), mới vào canh một trời đang quang, trăng tròn sáng vằng vặc, mặt biển rõ như ban ngày, bỗng nhiên mây đen kéo đến ùn ùn, mặt biển tối sầm, trời bỗng nổi gió Đông thổi từ ngoài khơi vào đất liền, sóng cuộn ầm ầm. Nguyễn Vương bước ra đầu thuyền, những nét ưu tư trên khuôn mặt vốn nghiêm nghị của ông dãn ra, chiếc nốt ruồi có chòm lông bên má trái phất phơ trong gió:
– Trời giúp quân ta rồi. Báo ơn nước chính lúc này, sống thì cùng chung hưởng giầu sang, chết thì không quên ân điển. Tướng sĩ, xuất phát!
Lệnh xuất quân được ban ra, chỉ trong thời gian ngắn hàng trăm tầu thuyền cùng nhất loạt xuất quân theo đội hình tác chiến.
Từ trên cao Thoại có cơ hội quan sát khắp trận địa. Đoàn thuyền của thủy quân Nam Hà đã đến cửa Thị Nại. Bảo vệ Nguyễn Vương có ba tầu lớn bọc đồng do ba ông Tây, cai đội làm thuyền trưởng đó là Nguyễn Văn Chấn (Philirpe Vannier). Nguyễn Văn Thắng (Jean- Baptiste). Lê Văn Lăng (Godfrey De Foranz).
– Thưa Tiền bối – Thoại ngạc nhiên nhận xét – Hóa ra người Pháp chỉ làm đến chức cai đội, tổng số cũng chỉ mấy chục người thế mà các sử gia thuộc địa tô vẽ rằng, Bá Đa Lộc là tổng chỉ huy quân Nam Hà, là người đề ra sách lược, chiến lược cho quân Gia Định.
Ngô Tòng Chu vuốt râu cười:
– Những người Tây Dương kia khởi thủy chỉ là những người lính binh nhì, viết chữ Tây Dương chưa thạo, bị sung lính tình nguyện, đào ngũ sang làm việc cho Chúa công. Sức học cỡ đó, làm đến cai cơ là vừa rồi.
***
Cuối canh tư, lúc này tinh thần quân sĩ mỏi mệt, tiếng trống, tiếng mõ cầm canh, tiếng hô của quân lính đi tuần yếu ớt, rời rạc. Thường giờ này người ta dễ chìm trong giấc ngủ say. Ánh trăng nhạt nhòa, gió Đông lại thổi mạnh hơn, sóng biển đẩy nước thủy triều lên cao, réo ồ ồ đổ vào cửa đầm Thị Nại, rất thuận cho tầu thuyền của quân Nam Hà áp sát và tiến công.
Trong khi đó tướng quân Gia Định là Võ Di Nguy chỉ huy 20 hỏa thuyền lặng lẽ lẻn vào trong đầm. Thấy lửa ở Tiêu cơ bốc cháy, Nguyễn Vương ra lệnh cho toàn quân đội tiến công. Đại tướng Nguyễn Văn Thành liền chia quân từ sườn núi đánh xuống thủy trại, chia lửa với thủy quân. Hai tầu Định Quốc lập tức khai hỏa, bắn đại pháo đùng đùng, lửa đầu nòng sáng lòa. Trên núi Tam Tòa, hàng trăm khẩu đại pháo cũng chúc nòng xuống cửa biển nã đạn giòn giã, lửa đạn sáng rực, rung chuyển cả đất trời. Tiếng trống trận thúc liên hồi, tiếng tù và tiếng la hét của quân sĩ, tiếng gươm giáo đụng nhau chí chát ghe rợn người, tiếng đại bác, tiếng đạn rít trên đầu… tưởng như trời long đất lở.
Ngoài cửa đầm, Tư đồ Vũ Văn Dũng chỉ huy hơn trăm chiến thuyền túa ra chặn chiến thuyền của Lê Văn Duyệt được pháo hạng nặng trên đồn Tam Tòa bắn xuống dọn đường. Bỗng phía sau quân của Tư đồ Vũ Văn Dũng lửa cháy sáng rực, lửa lan thành bức tường dài hàng cây số, bốc lên ngang trời. Quân Tây Sơn nhốn nháo la to, “thủy trại bị đánh hỏa công rồi”. Thì ra đoàn thuyền của Võ Di Nguy đã áp sát thuyền quân Tây Sơn, đầu thuyền đã đóng đinh sắt, quân lính liền lấy móc câu móc vào thuyền địch rồi phóng hỏa. Củi khô rưới nhựa trám nên bắt lửa rất nhanh, được gió Đông thổi cháy bùng lên thiêu sống không biết bao nhiêu người. Lửa lan đến thuyền chứa thuốc súng cháy nổ đùng đùng. Một vùng đầm Thị Nại trở thành biển lửa.
Mặt trời to tròn đỏ như quả cầu lửa chui lên từ mặt biển rập rờn sóng gió, một bình minh không yên tĩnh đến trong khói lửa và trong âm thanh tưởng như trận động đất. Ánh sáng phơi ra trên đầm nước, trên các bãi cát những xác người máu me bê bết. Hai đội quân vẫn còn hăng chiến, như không biết gì đến buổi ban mai, lẽ ra rất đẹp, rất thơ mộng. Trời sáng lại là lợi thế của quân Tây Sơn vì lúc này họ mới phát huy được ưu thế của các khẩu đại bác. Đêm qua họ cũng có sử dụng hỏa lực nhưng vì tối trời nên không phân biệt đâu là quân ta, quân địch. Bây giờ mọi thứ phơi bày ra trước mắt, các họng đại bác chễm chệ trên núi Tam Tòa, trên hai đại thuyền Định Quốc. Quân Nguyễn Vương bắt đầu hứng những đợt đại bác bắn xuống như mưa. Tướng cao lớn Võ Di Nguy thấy tầu của quân mình trúng đạn vẫn vẫy quân xông lên. Bỗng một loạt đạn rầm rầm trúng vào thuyền của ông làm chiếc thuyền vỡ tan, tướng cầm cờ ngã xuống, giãy đành đạch. Quân Nguyễn khựng lại, mấy người đứng ở gần đó khiếp đảm chạy lui. Chợt nghe tiếng quân lệnh “Ai chạy lui sẽ bị chém đầu”. Lệnh của viên tướng thấp bé đang hăng máu la hét quân sĩ xông lên, đó là tướng tiên phong Lê Văn Duyệt. Khói thuốc súng khét lẹt, khói bay mù mịt, tiếng pháo nổ oành oành liên tiếp vang trời chuyển đất, pháo của hàng ngàn chiến thuyền Tây Sơn cùng lúc khạc lửa. Quân Tây Sơn đã chỉnh đốn lại đội ngũ, xông lên quyết không nao núng. Quân Gia Định có vẻ núng thế. Nguyễn Vương thấy quân sĩ thương vong nhiều, giặc đang có ưu thế về hỏa lực nên cho tiểu sai cầm bài rồng đến nói với tướng tiên phong Lê Văn Duyệt:
– Trình quan thống chế, Đức chúa truyền cho lui binh để bảo toàn lực lượng.
Lê Văn Duyệt, mặt lấm đầy máu me và vết bầm, ngoảnh lại, nhìn thấy bài rồng, sợ quân sĩ nao núng, quắc mắt nói như thét:
– Ngươi về bẩm với Chúa thượng, ta liều chết giành cho được thắng lợi chứ nhất quyết không lui binh.
Rồi bỏ mặc tên tiểu sai đứng đó, Duyệt vẫy cờ đốc thúc quân sĩ liều chết xông lên. Ông ta cầm gươm đứng choãi chân trên thuyền chém tới tấp vào quân địch. Bỗng trời chuyển gió Đông Nam, làm cho thuyền của quân Gia Định gặp thuận gió, bởi đầm Thị Nại ngoài biển đi vào từ hướng Đông tới hướng Tây, nhưng vào trong đầm lại là hướng Đông Nam. Quân Nam Hà đã vào qua cửa đầm thì không còn thuận gió nữa. Hỏa công đã phát huy tác dụng, đốt cháy tầu địch bên tả đầm, nhưng còn bên hữu chưa thuận gió nên không thể dùng hỏa công. Nguyễn Vương thấy đổi gió Đông Nam, giơ tay lên trời khích lệ ba quân: “Người tính không bằng trời tính. Hỡi tướng sĩ, thời cơ đến rồi! Các ngươi hãy liều chết, xông lên!”. Lúc này các họng súng trên núi Tam Tòa chợt câm bặt. Thì ra Đại tướng Nguyễn Văn Thành đã cho quân bộ tập kích lên núi Tam Tòa nhanh chóng bịt họng hàng trăm khẩu pháo hạng nặng đang khống chế cả một vùng rộng lớn, rất nguy hiểm cho đại quân chiến đấu dưới đầm nước. Đúng như nhận định của Nguyễn Vương, khi quân Gia Định áp sát hai tầu Định Quốc thì đại bác của quân Tây Sơn hết phát huy tác dụng. Quân Nam Hà tung đuốc tẩm nhựa trám lên hai chiếc tầu đồng. Tầu Định Quốc chứa nhiều thuốc súng, bén lửa cháy rần rật làm hàng trăm lính trên tầu cháy theo. Đô đốc Nguyễn Văn Dũng, không kịp cởi chiến bào, nhảy xuống nước, bị bộ áo giáp kéo chìm mất dạng.
Phía sau lưng địch, Lê Văn Duyệt đánh rát ra cửa đầm. Quân của Nguyễn Văn Trương cùng thuyền Long Phi, Bằng Phi, Phượng Phi của ba ông Tây Dương chỉ huy đánh áp vào. Quân Tây Sơn núng thế, tướng Nguyễn Văn Trương đánh rất hăng, chém chết hàng loạt tướng địch. Đô đốc quân Tây Sơn Nguyễn Văn Trà thấy phía trước là đại quân của Nguyễn Vương, phía sau là quân của Nguyễn Văn Trương, Tống Phước Lương đánh ép quân mình vào giữa, chưa tìm ra cách xoay trở đã bị Nguyễn Văn Trương chém bay đầu. Quân sĩ của Đô đốc Trà hoảng loạn nhảy cả xuống nước chết đuối rất nhiều.
Tư đồ Vũ Văn Dũng chỉ huy cánh quân bên hữu còn lại chống trả quyết liệt, nhưng khi gió Đông Nam thổi đến lại thấy bức tường lửa của quân Gia Định dựng lên cháy ràn rạt về phía quân mình, bèn ngửa cổ lên trời than: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Bất khả cường dã”. Bỗng thấy đứng đầu thuyền một người cầm kiếm Thái A, mặc áo chiến mầu vàng, đội nón chiến chỉ vào Dũng: “Giặc Vũ Văn Dũng, bỏ gươm xuống đầu hàng đi”. Dũng nghe nói nhiều về Nguyễn Phúc Ánh, đến bây giờ mới nhìn thấy mặt, nghiến răng thét to: “Ta quyết sống mái với ngươi”, rồi xua quân xông thẳng vào thuyền Nguyễn Vương. Đây là thuyền Long Phi, bọc đồng. Ông tây Nguyễn Văn Thắng mặt mũi đỏ au, vung gươm xáp vào chém giết rất hăng làm cho quân của Vũ Văn Dũng phải thối lui. Biển lửa càng lúc càng lớn thiêu cháy không biết bao nhiêu chiến thuyền của quân Tây Sơn. Hai tầu Định Quốc cuối cùng cũng chìm xuống nước sâu, chôn theo hàng trăm quân chết cháy và hàng chục khẩu đại bác. Thủy trại của quân Tây Sơn đều làm bằng gỗ và tre nứa nên bắt lửa rất nhanh, nổ đùng đùng, cháy ngút trời. Vũ Văn Dũng cùng với vài trăm quân còn sống sót nhảy lên bờ, chạy về phía quân của Trần Quang Diệu bên ngoài thành Bình Định.
Mặt trời lên cao, gió Đông Nam ngừng thổi, trận đánh cũng kết thúc. Đầm Thị Nai trở nên quang đãng hẳn. Ven bờ chỉ còn những đụn khói bốc lên. Mùi thịt người, mùi thuốc súng cháy khét lẹt. Hàng trăm tầu thuyền cháy dở nằm ghếch đầu lên bờ bãi nghi ngút khói. Hàng ngàn tầu thuyền của Tây Sơn, chiếc thành tro bụi, chiếc chìm sâu dưới đáy đầm. Xác người ngổn ngang. Thoại vỗ tay như một đứa trẻ, “Đúng là thiên hạ đệ nhất vũ công. Cũng bị lây phấn khởi, Ngô Tòng Chu gật đầu:
– Thắng trận này, quân ta phá tan hầu hết tầu thuyền của quân Tây Sơn, thế của ta mạnh, thế của Tây Sơn suy. Ta hơn họ về đánh thủy, nên sau này đánh với vua Tây Sơn Nguyễn Quang Toản ở cửa Tư Điền, phía Đông Phú Xuân, quân Tây Sơn đã bị mất tinh thần nên dễ vỡ trận. Quân Nguyễn Vương tiến thẳng về Phú Xuân. Chúa công ta chiếm lại kinh đô cũ sau gần ba mươi năm rời kinh thành bôn ba tìm đường phục quốc…
Nhìn vào mắt Thoại, Ngô Tòng Chu tiếp:
– Ta biết trong lòng con vẫn ngờ rằng Chúa công ta nhờ Tây Dương mới thắng Quang Trung. Giờ, con đi theo ta về năm Nhâm Tý (1792)…
***
Thoại lại thấy mình lướt rất nhanh, lại những con sông, những ngọn núi, những thửa ruộng vun vút lùi lại phía sau. Kia là sông Đồng Nai, khi đổ về hạ lưu chia ra hai nhánh, cách không xa là sông Sài Gòn uốn lượn, cũng trên bến dưới thuyền tấp nập, trù phú hơn kinh đô Phú Xuân. Thành Gia Định kiến trúc theo hình bát quái, rộng rãi, vững chắc nằm bên sông Bến Nghé nước cuồn cuộn chảy. Thoại thấy mình đứng trong hành tại của Nguyễn Vương. Lúc này Chúa công tráng kiện, khuôn mặt đầy đặn, nước da rám nắng của người dầu dãi, bước đi nhanh nhẹn của một chàng trai mới trưởng thành. Thoại nghe rõ chất giọng miền Trung đầm ấm, của người cha lúc Nguyễn Vương nói chuyện với Hoàng tử Cảnh, còn ở tuổi thiếu niên:
– Chút nữa gặp Thượng sư của con. Thầy đến chào chúng ta để về cố quốc.
– Hài nhi thấy Phụ hoàng đối đãi rất tốt với Thượng sư, sao thầy nỡ bỏ con…
– Con làm sao hiểu được lòng dạ người Tây Dương. Chỉ tại ông ta và một số người Tây Dương thấy rằng Tây Sơn Nguyễn Huệ vừa đại thắng quân Thanh, thanh thế lẫy lừng, đang chuẩn bị đem ba mươi vạn quân đánh vào Gia Định của ta. Theo thiển nghĩ của họ, chúng ta khó mà chống cự lại một đội quân đang lẫy lừng thanh thế. Họ sợ liên lụy đến tính mạng mà chạy trước đó thôi.
– Phụ hoàng đã có kế gì chống lại Tây Sơn, giữ gìn bờ cõi?
– Lúc cha gửi con cho Bá Đa Lộc sang Tây Dương, con mới bốn tuổi, cha chỉ còn vài chục người đi theo, có lúc phải nhịn đói, phải đi xin ăn. Bây giờ Cha có gần một nửa nước với đội quân hùng hậu, há lại sợ Tây Sơn ư?
Ngay lúc đó có người lính hầu bước vào cúi lạy, nói:
– Bẩm… Có thầy Bá Đa Lộc xin bái kiến.
– Truyền cho vào.
Nói xong, Nguyễn Vương bước lại ngai vàng. Hoàng tử Cảnh vội lui vào sau trướng.
Một người Tây Dương to cao, khuôn mặt dài, cằm núng nính thịt, trán rộng, mắt sâu bước vào. Ông ta khoác áo mầu xanh ngọc, cổ áo hình chữ nhật mầu đen, hàng khuy và ống tay áo rộng viền mầu đỏ, trước ngực lủng lẳng cây thánh giá. Ông quỳ xuống theo nghi lễ của nước Việt. Nguyễn Vương vội chỉ tay vào chiếc ghế đối diện nói:
– Miễn lạy! Khanh ngồi vào ghế.
Bá Đa Lộc ngồi xuống ghế, nói tiếng Việt lơ lớ:
– Bẩm Chúa thượng. Thần đến đây để xin với Chúa thượng cho thần được trở về cố quốc. Thần cảm ơn Chúa thượng đã giúp chúng thần trong thời gian qua. Nhưng ở trong nước chúng thần cũng còn rất nhiều việc phải làm.
Nguyễn Vương nghĩ nhanh, cho những người Tây Dương này về thì được thôi, thời gian qua họ cũng không giúp được nhiều việc, có lẽ vì ta không tin dùng họ. Họ cũng tạo ra không ít phiền toái, ngày Hoàng tử Cảnh mới về nước đã không chịu vái lạy bàn thờ tổ tiên. Gần chục năm họ ở đây đã nắm rất rõ những bí mật về quân sự, xã hội của nước Nam. Họ ở lại rồi đi theo Tây Sơn thì thành đại họa. Nguyễn Vương chưa biết trả lời thế nào cho phải thì Bá Đa Lộc, vốn là người rất thông minh và hiểu rõ lòng dạ Nguyễn Vương, nói tiếp:
– Thần cũng xin lỗi Chúa thượng, gần mười năm qua thần cũng đã hết lòng giúp rập, nhưng cũng không thành việc gì. Ngày Chúa thượng giao Hoàng tử Cảnh cho thần sang cầu viện nước Pháp, nhưng nước Pháp không giúp, thần cũng có đi vận động nước Pháp giúp Chúa thượng vũ khí, tầu thuyền, kỹ thuật súng đạn… nhưng rút cuộc, cũng chẳng được khẩu súng, con tầu nào…
– Quả nhân cũng cảm ơn Đức Giám mục đã dạy bảo Hoàng tử Cảnh nên người. Quả nhân cũng đã có thư gửi cảm ơn Hoàng đế Tây Dương vì đã không giúp. Chính vì vậy mà Gia Định mới có ý chí tự cường…
Chợt có người lính hầu bước vào cúi đầu tay dâng ngang mày bức thư vẻ trịnh trọng. Nguyễn Vương hiểu, hiếm khi ông đang tiếp khách mà có người đột ngột vào dâng thư, đó phải là việc cực kỳ quan trọng. Nguyễn Vương liền bóc thư ra xem, đoạn ngồi thừ trên ngai vàng, khuôn mặt đăm chiêu.
Sực tỉnh, Nguyễn Vương ngẩng lên, nói với Bá Đa Lộc:
– Tin báo về: Tây Sơn Nguyễn Huệ chết rồi.
Khuôn mặt Bá Đa Lộc bỗng giãn ra, như trút được gánh nặng, ông nở nụ cười tươi:
– Bẩm Chúa thượng, là tin tốt lành, sao Chúa thượng không vui?
Nguyễn Vương ngậm ngùi:
– Ta tiếc không còn cơ hội đọ sức với ông ấy nữa. Đó là một người anh hùng nhưng bạc mệnh. Giờ thì Đức Giám mục an tâm ở lại giúp chúng tôi rồi chứ?
Biết mình lỡ lời, Nguyễn Vương dừng ngay lại. Bá Đa Lộc sượng sùng, nhưng là nhà truyền giáo, ông ứng xử rất nhanh, với một thái độ thẳng thắn, tôn trọng sự thật:
Vâng, chúng thần xin ở lại sát cánh bên Chúa thượng, góp sức cho đến ngày toàn thắng.
Thoại từng nghe kể Bá Đa Lộc chết vì một trận dịch tả năm Kỷ Mùi (1799), giờ anh hiểu thêm, ông ta mất trước cả năm diễn ra trận đánh Thị Nại nên không được biết Nguyễn Vương có tài thao lược còn hơn cả những gì ông biết…
***
Ngô Tòng Chu nắm lấy tay áo của Thoại kéo đi, hai người bay vun vút, qua những con sông rộng quanh co, lấp lánh ánh bạc, qua những dãy núi hùng vĩ, những ngọn tháp đầy nắng đứng cô đơn trên những đỉnh đồi, sông Hương trong xanh trôi giữa mây trời, uốn lượn quanh những quả đồi xanh biếc. Kìa rồi kinh thành Huế. Lầu son gác tía, lá đại kỳ bay phấp phới trên Đại Nội. Điện Thái Hòa lộng lẫy, tấp nập những người. Đang buổi thiết triều, vua Gia Long ngồi uy nghi trên ngai vàng. Gần nơi ngài ngồi là các vương gia, các quan tứ trụ triều đình, dưới sân chầu, các quan văn võ đứng thành hai hàng lớn nhỏ theo thứ bậc, quan văn bên tả, quan võ bên hữu.
Ngô Tòng Chu thì thầm cho Thoại vừa nghe:
– Hoàng đế đang bận buổi thiết triều, ta đưa con đến để yết kiến. Nhớ không được nói những lời phạm thượng, những chữ phạm húy…
Thoại quỳ trước ngai vàng vua Gia Long, dập đầu năm cái, không dám ngước lên nhìn mặt rồng. Tiếng nhà vua truyền ra:
– Bình thân. Ngươi đã nghe Tham tri bộ Lễ nói chuyện về thời của tiên tổ. Giờ ngươi còn điều chi chưa thấu hiểu?
– Bẩm bệ hạ, thảo dân đã hiểu, nhưng không biết phải làm cách nào để đời sau hiểu đúng công lao tiên tổ…
– Vì vậy đã làm liên lụy đến đời của cháu, đúng không. Lịch sử bao giờ cũng khách quan, không ai có thể thay đổi lại được lịch sử. Không nên giải thích lịch sử bằng cách chôn vùi sự thật. Tuy nhiên thời nào cũng có sai lầm, cái chính là biết sớm nhận ra sai lầm mà sửa chữa. Thời của cháu, gọi là “Cải cách ruộng đất” phải không, đã sửa chữa rồi. Nào, nhà của cháu đã được trả lại, cái mà thời cháu gọi là “thành phần gia đình” đã sửa sai, “Lệnh” (Quyết định) ban ra từ năm Đinh Dậu (1957) “Lệnh” còn nằm trên phủ, cũng tại thuộc cấp chưa trao lại cho gia đình cháu.
– Bẩm bệ hạ, thảo dân rất đau lòng về đình miếu tiên tổ đã bị phá sạch, không còn chỗ để thờ cúng.
Vua Gia Long có vẻ giận:
– Ta nói cho ngươi biết: Lăng miếu của ta, có nơi nào bị tàn phá, ta không oán trách nếu những người dại dột đó biết xả thân để bảo vệ giang san của ta. Ta cho phép, khi nào đuổi hết giặc ngoại xâm rồi sửa lại để cho các ngươi thờ tự cũng không muộn. Ngươi mau về cùng muôn dân bảo vệ giang san, biển đảo, không để bọn ngoại xâm giày xéo! – Rồi vua Gia Long hạ giọng – Thôi ta đưa cháu về để nhìn lại những đổi thay ở quê mình.
Thoại bỗng thấy mình đã ở bên ngoài điện Thái Hòa, Tham tri bộ Lễ Ngô Tòng Chu nắm tay anh bay rất nhanh về làng Gia Miêu. Chiếc cầu Cừ giờ đã là cây cầu bê tông dự ứng lực hoành tráng. Bỉm Sơn vốn um tùm rừng núi bỗng biến thành thị xã với những tòa nhà cao tầng nhấp nhô sầm uất.
Miếu Triệu Tường bây giờ đã hiện ra hai tòa nhà ba gian hai chái, ngói đỏ, mái uốn lượn với nhiều trang trí đẹp lộng lẫy hơn xưa. Bên tả là nhà thờ Nguyễn Kim, bên hữu nhà thờ Nguyễn Hoàng.
Ngoài miếu, tấp nập công nhân đang đào xới, đó là đoàn khảo cổ của tỉnh tìm lại dấu vết tam quan, nền móng tường lũy cũ để phục hồi lại nguyên trạng. Trong nhà, hoành phi câu đối, bát hương, bài vị… được thỉnh từ kinh đô Huế về nằm trang trọng trên bàn thờ. Thoại mừng quá bật dậy kêu lên: “Ông tổ ơi”. Một người y tá nói như reo:
– Tỉnh rồi!
Thoại nhỏm ngay dậy, hỏi: “Đây là đâu?”
– Đây là bệnh viện dã chiến của bộ đội – Cô trả lời và đỡ anh nằm xuống.
Bỗng có tiếng kẻng báo động dồn dập, tiếng máy bay Mỹ quen thuộc lại nổi lên ầm ầm, tiếng cao xạ pháo nổ ran… Thoại nhớ ra, anh vẫn ở thời đất nước đang chìm trong khói lửa chiến tranh. Trận máy bay Mỹ ném bom xuống cầu Cừ, sức ép đã hất anh văng xuống sông, nhưng lại như có phép mầu, anh vẫn không chết.
Thoại nở nụ cười vì tin chắc rằng nửa thế kỷ sau quê hương mình sẽ đổi thay như trong giấc mơ anh vừa trải qua.
Anh mượn tờ giấy và chờ khi các cô y tá bận chăm sóc các chiến sĩ và nhân dân bị thương, anh hý hoáy viết đơn tình nguyện gia nhập quân đội. Trong đơn, Thoại nói rõ đã có quyết định giải oan cho gia đình anh…
Khi huyện đội nhận được lá đơn của Thoại, nhiều người rơi nước mắt vì chữ viết bằng máu. Người phụ trách tuyển quân nghẹn ngào bảo: “Lòng yêu nước không của riêng ai!”.
NGUYỄN TRƯỜNG
 
27/6/2020
Nguyễn Lê Vân Khánh
Theo https://vanhocsaigon.com/
 

Con cá được - Con cá mất

Con cá được - Con cá mất…

Thấy cô bạn nước mắt lưng tròng, Phương bực dọc quát khẽ:
– Có việc gì thì nói đi, sao phải khóc!
– Tôi phát hiện ông Tuệ quay lại tình cũ! Chuyến này, có lẽ tôi viết đơn ly dị thôi! Hôm qua, nhìn thấy ông  ấy giở ảnh người yêu cũ chụp ra ngắm!
– Đàn ông như vậy là thường mà. Quan trọng, ông ấy vẫn coi vợ là nhất!
– Thế thì nói làm gì, đọc trộm tin nhắn của ông ấy với người yên cũ! Nói đến đây Huệ nức lên… mùi mẫn lắm, chẳng muốn xem tiếp!
Phương bắt đầu nóng mắt:
– Thế tóm lại, nhắn gì ?
– Cũng chừng mực thôi nhưng ỡm ờ cái kiểu thả thính, điên hết cả ruột. Cô ta trước đây ra nước ngoài, lấy chồng rồi theo chồng về tỉnh khác, giờ trục trặc, chồng vẫn  ở nước ngoài, vợ nuôi 2 đứa con!
Ra về, Phương cứ nghĩ mãi việc của Huệ! Phương thân thiết nên giúp đỡ Huệ nhiều việc, vì thế cũng là nơi mà bạn trút bầu tâm sự. Chồng Huệ đẹp trai, tính cách khá hoàn hảo, chỉ mỗi cái chuộng hình thức,  cô người yêu trước vốn là hoa khôi  cùng lớp Đại học. Chả biết vì sao họ chia tay. Huệ cũng là trang sắc nước… nhưng rồi vì bao lo toan cuộc sống, lại là mẹ 2 con đã lớn nên  phần nào phôi pha nhan sắc, hoàn cảnh kinh tế trước kia không mấy dư dả, không có điều kiện ăn diện. Nhiều lúc ở nhà, thấy Huệ  sơ sài trễ nãi, trong khi chồng  thì làm nhà nước, dù là viên chức quèn nhưng cũng gặp người này người nọ, tránh sao khỏi so sánh  với người ta, các cụ đã đúc rút “Đàn ông yêu bằng mắt” mà.
Nhà văn Bùi Thu Hằng
Tuệ háo hức thông báo về sự kiện họp lớp diễn ra vào cuối tháng  này, đây là  lần họp  đầu tiên  kể từ khi tốt nghiệp Đại học, và dĩ nhiên sẽ có cô người yêu cũ… Tuệ tự  sắm thêm mấy bộ quần áo đắt tiền với phong cách  trẻ trung. Ngày nào Tuệ cũng cập nhật Zalo nhóm  để thông tin với bạn bè… Có hôm đang ăn cơm, chuông điện thoại réo, anh  buông vội bát đũa, hào hứng góp ý kiến chương trình, khách mời, ăn uống hát hò…  cơn ghen cứ sùng sục trong Huệ!
Sát đến ngày hội lớp, Huệ ngỏ ý muốn được tham gia nhưng anh viện cớ gạt phắt,với lý do không mời dâu rể!  Tuy nhiên, Huệ bất ngờ nhận được giấy mời đích danh, kèm theo lời mời đăng ký văn nghệ!  Thấy vậy, Tuệ hơi bất ngờ, có vẻ không vui, còn Phương chỉ tủm tỉm và giục Huệ ra phố  làm đẹp, mua váy mới . Phương nháy mắt “Chúc bà có buổi vui chơi vui vẻ nhé”
 ****
Chương trình họp lớp phải 9 giờ sáng mới bắt đầu!  Cuộc  hội ngộ bên lề hấp dẫn không kém vì sau 15 năm, bao chuyện muốn kể.
Tuệ  sốt ruột và bực dọc ra mặt, lúc sáng  vợ dặn anh đi trước vì bận chút việc cơ quan! Anh lẩm bẩm: “Đã bận thì cứ nghỉ luôn cho đỡ mệt lại còn cố mà làm gì”
– Anh Tuệ!
Tuệ giật mình quay lại! Một người phụ nữ trung niên, dáng vẻ cao to, hơi xồ xề, với lớp son phấn dày và bộ cánh cầu kỳ ..
– Em Huyền Anh đây!
Tuệ  thoáng sững lại giây lát nhưng kịp trấn tĩnh để che đi nỗi thất vọng!
– Anh đang đợi em, mải nghĩ, thành ra…
– Còn anh vẫn vậy nhỉ, bao năm trông  không già đi mấy! Chỉ nói chuyện qua điện thoại nhưng em vẫn tưởng tượng anh như ngày nào, quả không sai!
Còn Tuệ lúc này hơi ngược một chút, thấy thời gian đúng là kẻ tàn nhẫn, thời gian đã biến một hoa khôi trong mộng ngày nào thành một  phụ nữ cũ kỹ, son phấn không che nổi những nếp nhăn mỏi mệt cùng thân hình hơi quá khổ. Bỗng nhiên, bao ý nghĩ và sự chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ ôn lại kỷ niệm lúc này tan biến trong Tuệ…
– Thế chị nhà đâu anh!
– À, vợ anh có lẽ đến muộn! Vừa nói, Tuệ vừa nén tiếng thở dài khi mường tượng cảnh vợ mình  quần ống thấp ống cao, tóc tai bu xù với những tiếng gắt gỏng… Ôi, sao thấy đau đầu choáng váng thế nhỉ, nếu cô ấy ra đây thì rồi Huyền Anh cũng sẽ thấy cuộc sống của mình chẳng còn được như xưa!
-Và sau đây! Chúng ta hãy giành tràng pháo tay thật lớn để chào mừng một cây văn nghệ, đó là chị Minh Huệ với một ca khúc sâu lắng. Xin bật mí, cô ca sỹ đó là nàng dâu của lớp ta, bà xã cây ghi ta tài hoa Phan Tuệ…
Tuệ dụi mắt, gì thế này, trên sân khấu, một dáng người thon thả với chiếc váy xanh ngọc cúp sâu cổ gợi cảm cũng làn tóc mềm mượt xõa ngang vai. Cả căn phòng lặng đi trong giai điệu du dương ngọt ngào…
Tiếng vỗ tay cũng những lời xuýt xoa khi Huệ bước xuống bên chồng… những ánh mắt ngưỡng mộ và ghen tỵ của mấy tay bạn nam…
– Em chào mọi người ạ! Huệ vui vẻ khoác tay chồng, Tuệ luống cuống..
– Chị đây là… Huyền Anh sững lại!
– Giới thiệu với em đấy là Huyền Anh bạn cùng lớp, còn xin giới thiệu với Huyền Anh, đây là Huệ –  bà xã anh!
Huệ chủ động đưa tay bắt nhẹ với Huyền Anh, thoáng sự bối rối thiếu tự tin trong ánh mắt cô bạn gái  cũ của chồng!
– Lần đầu tiên được gặp bà xã anh Tuệ, vì hồi anh Tuệ cưới Huyền Anh đã đi nước ngoài rồi! Bà xã vừa xinh vừa hát hay thế này thì anh Tuệ phải giữ đấy nhé, chắc nhiều người ngưỡng mộ lắm nhỉ!
Đúng lúc đấy, mấy ông bạn của Tuệ đến gần,  cứ nhìn chăm chăm vào vóc dáng nổi bật của Huệ, một anh ghé tai Tuệ:
– Cậu có bà vợ quyến rũ quá, mình phát ghen đấy!
Có chút gì đấy khó chịu ghen tuông vô cớ trong lòng Tuệ, mặc kệ Huyền Anh đứng đấy ngơ ngác, Tuệ kéo vợ ra sảnh và gắt lên:
– Sao em đăng ký văn nghệ mà không nói với anh! Em đến đây là được rồi!
Huệ  cố nhịn cười trước thái độ của chồng, điện thoại của Phương:
– Thế nào, chương trình thành công không!
– Nỡm ạ! Có phải bà bày ra kịch bản này không!
Tiếng Phương cười khanh khách:
– Không cảm ơn bạn thì thôi còn định trách nhau à! Hừm, vô tình biết tay lớp trưởng của chồng bà lại chơi với chồng tôi, nên tôi nghĩ ra cái món giấy mời dâu rể, thế mà hay!
Từ lúc nào không biết, Tuệ cứ kè kè bên vợ, nhất là đến phần hát song ca, Huệ liên tục nhận được lời mời của các giọng ca nam!
Huệ khẽ gỡ tay chồng ra khỏi vai mình và ghé tai chồng nhắc nhở:
– Hãy cố gắng giữ lấy con cá nhỏ thôi nhé, vì nếu không sẽ mất luôn cả cá nhỏ đấy!
Tuệ giật mình, liếc vợ, lại nhớ những tin nhắn với cô bạn gái cũ, giờ đang đứng ở kia: “Người ta nói quả không sai, con cá mất là con cá to…”
BÙI THU HẰNG
 
27/6/2020
Nguyễn Lê Vân Khánh
Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Về bên kia núi

Về bên kia núi

Câu chuyện về thân phận những người đàn bà, ở một nơi mà tác giả gọi là xó rừng, được kể qua một giọng độc thoại buồn, rưng rưng những giọt nước mắt không rơi ra được, nhưng tinh khiết và trong veo. Niê-Thanh Mai có trong văn mình cái mãnh liệt của người dân vùng cao nguyên, thế nhưng cái mãnh liệt ấy lại được kìm nén rất giỏi khi cô diễn tả những day dứt và trăn trở của cuộc sống, những tình yêu vô vọng… để đến cuối chuyện, nỗi buồn không vỡ òa trong vài câu chữ, mà thấm dần thấm dần vào lòng người đọc…
Nhà văn Niê Thanh Mai
Em mặc yên bằng bàn tay gân guốc của mẹ. Yên cứng và còn thơm mùi hồ. áo tròng qua cổ, cổ tay em nhỏ và mềm ngọ nguậy dưới lớp áo đen thẫm. Áo mới, em theo chị đi dự lễ tối nay.
Chị Xuân đẹp. Chị mặc yên mặc áo một mình. Cứ xoay trước xoay sau trước mặt bà để bà khen. Bà già rồi, nhưng bà muốn nhìn thấy ngày xưa từ dáng tròn mây mẩy hồn nhiên như lá của cháu gái. Vì vậy mỗi khi mặc yên mới, áo mới chị Xuân lại làm bà rơm rớm nước mắt. Nước mắt bà lăn từ những nếp nhăn xếp đều đặn trên mặt. Em thấy thương bà.
Chị Xuân không muốn ở mãi một xó rừng.
Chị nói với em điều đó khi chị em cặm cụi lên rẫy buổi sớm. Con đường mòn gập ghềnh và dốc. Mùa khô gió bốc từng nắm bụi ném vào mặt người. Mặt em lấm lem, mặt chị cũng thế.
Chị ném những quả bắp to bằng bắp chân trẻ con của em vào bao, bực dọc. Trưa chị không ăn cơm, em ngồi một mình với nắm cơm gạo trắng. Cơm ăn với muối vừng. Chị ngồi mãi ở gốc cây muồng, mông lung nhìn về cuối chân trời. Chung quanh chị hoa vàng rụng kín. Em thấy chị lau nước mắt vào chiếc yên cũ kỹ và sờn hết gấu.
Em thấy anh Plin nhìn chị. Ánh mắt anh sáng lấp lánh như vòng đồng bắt gặp ánh nắng buổi sớm. Anh nhổ củ mì cho em bằng đôi tay rắn như gỗ rừng, củ mì gãy đôi, sữa trắng lấm lem đất.
Anh nhặt cây khô nướng củ mì cho em ngay bên bìa rẫy. Em bẻ một nửa cho chị, nhưng chị không ăn. Chị bảo không thích ăn củ mì, chị thích ăn xôi nếp với thịt gà chấm muối ớt xanh. Câu nói của chị làm mắt anh hơi tối lại. Ngày hôm sau anh mang đến rẫy một con gà rừng. Gà bọc trong đất sét, trắng nõn khi anh lôi ra từ đống than hừng hực. Chị nhấm nhấm chiếc đùi gà rồi bỏ xuống, xách gùi đi bẻ đọt mây. Chị bảo chị không thích nữa. Em thương anh Plin. Nhìn theo dáng khập khiễng của anh, em thấy chạnh lòng.
Chỉ có em mới biết chị muốn gì.
Chị không nói chuyện với mẹ. Chỉ thì thầm hát với em.
Những hôm trời mưa, em nằm gọn trong lòng chị. Tay vân vê những sợi tóc dài mượt đen bóng vì gội bằng bồ kết rừng. Em nghe chị hát. Giọng chị trong trong và ngọt như nước đầu nguồn tuồn trong ống lồ ô. Chị hay mân mê yên mới trong tay. Em thấy chị dệt túi mới, may áo mới. Mặt chị ngời ngời sáng.
Chị muốn lên phố. Bạn chị lên phố ba năm, quay trở về làng bằng đôi dép cao nghều nghệu, gót nhọn hoắt, chênh vênh như người ta chơi trò cà kheo. Áo xanh lông két, váy mềm lòe xòe bay bay khi bạn chị leo lên cầu thang.
Em nép sau cửa buồng nhìn chị gói quần áo vào túi xách. Hớn hở. Khi chị xách túi bước xuống cầu thang thì quay lại nhìn em, ngùi ngùi. Chị thơm em thật lâu ở má trái, má phải. Nước mắt chị thấm ướt má em. Vậy mà chị vẫn đi.
Chị giúi vào tay em tờ giấy nghệch ngoạc. Em nhỏ quá chẳng biết chị viết gì. Chỉ thấy mí trở về ngã xuống sàn nhà. Từ hôm ấy câm lặng cho đến khi em lớn.
Mí giận em. Nếu chị với em đều là núm ruột của mí có lẽ lại khác. Chị Xuân là con gái mẹ lớn. Mẹ lớn về với ông bà ngay sau khi sinh chị Xuân được hai giờ đồng hồ. Không có người chăm sóc trẻ con, không có người dỗ nó khóc lúc nửa đêm gần sáng, không có người bón nước cháo lúc nó đói. Cha nối dây với mí của em. Rồi cha mất, chị Xuân ở với mí. Mí không xem chị Xuân là con chồng. Nhưng người làng mấy ai hiểu hết lòng mí.
Em lớn và biết mặc váy áo một mình. Em tự dệt váy cho mình. Mền cũng tự em dệt cho mình. Bà không còn ngồi bên khung cửi nữa. Chân bà run và yếu, bà không đủ sức duỗi chân để dệt áo cho bà nữa. Mí đi rẫy suốt và trở về đến nhà vào lúc chiều tối, khi ánh nắng là những vệt mờ xa tít ở chân trời. Mí chẳng bao giờ nói chuyện với em, cũng chẳng nói chuyện với bà. Mí nhìn em bằng cái nhìn sẫm buồn.
Em chẳng có bạn cùng lứa. Bạn em là những đứa trẻ con, tóc vàng hoe và cháy khét. Chẳng đứa nào mang dép. Chúng có những chiếc quần đùi mỏng thếch, áo thun nhàu nhàu mùi đất.
Chiều nào em cũng tắm gội cho chúng. Em lôi từng đứa xuống suối, vò đầu vò tóc và kỳ cọ. Chúng bám lấy vai em, hò hét om tỏi. Tắm xong chúng trèo lên trên bờ, lúp xúp trên những tảng đá và hát. Chúng chờ em giặt quần áo cho bà.
Ừ
Em nhìn thấy Plin một mình.
Plin ngồi trên tảng đá với con chó nhỏ. Con chó có lông vàng và gầy tong teo. Anh thổi sáo bằng hai tay, bằng cả đôi mắt nhắm nghiền, một chân vung vẩy và mái tóc xoăn xoăn mềm.
Em đứng chôn chân nhìn. Cách Plin khoảng hai chục bước chân. Bỗng thấy trong lòng mình một cảm giác rất lạ lùng.
Tiếng sáo kéo em lên lưng chừng không gian. Từ trên đó nhìn xuống dưới mọi thứ thật nhỏ bé và thơm. Mùi cỏ, mùi bùn, mùi hoa lan nép mình dịu dàng trên những thân cây.
Khi em mở mắt thì Plin đang nhìn em. Ánh mắt anh buồn và mệt mỏi. Từ ngày chị đi, anh cứ ngồi mãi chỗ này mỗi buổi chiều. Anh đợi chị quay về bằng cây sáo sáu lỗ với những âm thanh da diết. Chân anh lấm đất, đầu anh khét mùi nắng nhưng hai tay anh lúc nào cũng ôm cây sáo.
Em mỉm cười rồi quay lưng đi, suýt vấp vào con chó vàng gầy tong teo đang quấn dưới chân.Ừ.
Bà đã ngủ một giấc trưa. Và không tỉnh dậy nữa.
Mí khóc vật vờ và dai dẳng. Người ta lôi cái trống lớn nhất, đánh bên phía bịt da con trâu đực. Sầm sầm và buồn. Trống báo tin làng có người mất. Chỉ chốc lát nhà em đã đông nghịt là người, đàn bà trong làng vừa leo lên cầu thang đã khóc, khóc từ cầu thang lết dần vào nhà. Những tiếng khóc buồn miết vào không gian não nùng.
Em ngồi ở bậc cửa sau, luôn phải nép người sang một bên cho người phụ nữ lo cơm nước đi lên đi xuống. Em không khóc, em mân mê chiếc yên mới tự tay em dệt mà bà chưa kịp mặc lần nào.
Người ta đưa bà đến nghĩa địa. Ðến ở chung với những người đã chết. Người đi đưa đông. Nhưng không có chị. Chị không biết tin nên không về. Không ai biết chị ở đâu để báo tin. Em vùi xuống đất một chiếc ché mới, nắm ba nắm cơm gạo nếp đặt vào đó. Em khóc khi mọi người về hết. Em ngồi một mình cho đến khi không còn nhìn thấy mặt người. Plin đến đưa em về, ngọn đuốc của anh chập chờn ma quái đã mang em khỏi nghĩa địa của bà.
Bà trở về nhà đêm ấy.
Bà đi vào từ nhà trước và ngồi xuống bếp lửa. Bà bảo sao không vùi khoai vào bếp cho nhà có mùi thơm. Không khí trong nhà chết chóc quá. Bà mặc chiếc áo mới, yên mới. Cổ tay đeo đầy vòng đồng. Gót chân bà nứt nẻ và thâm sì. Bà bảo đau chân, đau cả lồng ngực nữa. Bà không thấy cháu gái về nên không đi đâu được. Bà nhớ cháu gái của bà, cháu xinh và người tròn đầy mây mẩy.
Em tỉnh dậy khi mồi hôi ướt đẫm. Bà không có ở đây, chỉ có mí ngồi thờ thẫn bên bếp. Dáng mí còng và tội nghiệp. Gian nhà nhỏ xíu thơm thơm mùi khoai lang nướng. Có lẽ mí cũng nghe lời bà. Bà chẳng bao giờ ăn khoai nướng nhưng thích mùi thơm của nó. Em sờ lên má mình, thấy má ướt. Em đã khóc khi đang vùi trong giấc ngủ chập chờn.
***
Em không ngủ được vì tiếng giã gạo của mí mỗi đêm. Em nghe cả tiếng hát ư ử buồn buồn phía dưới sàn nhà. Nhà thênh thang và buồn. Em đi tìm Plin.
Ừ.
Em nói với Plin rằng muốn đi tìm chị.
Plin nhìn vào mắt em. Không nói. Nhưng em biết Plin đang hỏi em có biết chị ở đâu không mà đi tìm. Em khóc, nước mắt làm khuôn mặt em mờ đi và nóng hổi. “Em không biết, nhưng em phải đi tìm chị về”.
Em chạy vào nhà. Em bỏ quần áo vào túi xách. Mí nhìn thấy không hỏi gì. Em đứng tần ngần trước mí, chào nghèn nghẹn. Mí không hỏi em đi đâu, vì sao lại đi. Em chạy xuống cầu thang, vừa chạy vừa khóc. Em hay khóc thế có khi nào em không còn thấy đường trước mặt nữa không.
Em đi một mình trên phố. Em mặc áo vải hoa và quần tây. Em nhớ mùi hồ của yên, cái cấn cấn của tay áo em tự dệt. Nhưng em phải mặc quần áo người Kinh để đi tìm chị cho dễ. Em xuống chợ. Mỗi sáng gùi một gùi măng lấy lại của người cùng làng. Em mong gặp chị vì em chẳng biết chị ở đâu.
Chợ đông và ồn ã. Em không biết rao. Ai dừng lại ở hàng em, em cười và dịu dàng mời mọc. Tiếng em nhỏ. Em hay nhìn sâu vào mắt những người phụ nữ ngồi trên xe, bịt mặt kín mít.
Họ mua hàng và luôn miệng kêu đắt. Có khi nào trong số đó có chị của em. Em bị xe đô thị hốt hai lần, cả hai lần em đều níu gùi lại cật lực và khóc. Họ sửng sốt nhìn em. Họ không biết em chẳng tiếc gì những cành măng trong gùi. Em chỉ sợ không gặp được chị khi vắng một buổi chợ.
Nhưng em không gặp chị. Chị không đi chợ và không mua hàng của em.
Em không gặp chị. Có lẽ chị của em đã đi mất rồi.
Em đứng một mình giữa trời nắng. Khóc và thấy trống rỗng.
Em phải về làng. Mí chắc không vui. Nhưng em chẳng biết làm sao.
***
Em vào sâu trong chợ. Em muốn mua cho mí một cái gì đó. Em cũng sẽ mua cho Plin một cái mũ. Plin vẫn để đầu trần. Tóc xoăn và cháy nắng. Nhìn Plin hoang dã. Em thương cái hoang dã ấy của Plin.
Em nhìn mọi thứ bằng con mắt lạ. Rụt rè và không dám dừng lại ở bất cứ hàng nào. Mọi người nhìn em cũng bằng con mắt lạ. Nhưng họ quên ngay em sau đó và đổ xô đến cuối chợ xem một đám cãi nhau. Tiếng gào thét ầm ĩ. Hình như hai người đàn bà đang túm tóc nhau. Họ hét vào tai nhau những tiếng tục tĩu lanh lảnh. Em nghe như tiếng hét của chị.
Ðó là chị của em.
Chị dừng cuộc vật nhau bằng bộ dạng tơi tả. Tóc chị rối tung. Quần áo có nhiều vết toạc. Em nép vào tường. Mép tường nham nhở. Em nhìn chị từ xa xa sau những vết nham nhở ấy. Chị của em. Có lẽ không. Chị em mặc yên mới, áo mới chứ không nhàu nhĩ như thế kia. Tóc chị em không xù và vàng rực như thế kia. Chị em không bao giờ nói với ai nặng lời, nhăn mày với ai quá một ngày.
Em rời mép tường nham nhở. Rón rén đến gần đám đông bằng bước chân run run. Em sẽ ôm chị và khóc tức tưởi nhé. Em sẽ bảo chị về nhà. Mí không mắng chị vì chị bỏ nhà đi lâu đến thế. Em sẽ nói với chị rằng Plin đang đợi chị. Mà có khi không phải chị đâu. Em muốn thế. Em run run nghĩ thế.
Lô nhô người. Họ xúm quanh người ngồi bệt dưới đất một cách hiếu kỳ. Nhìn quay vai của những người đang xúm đông ấy, em thấy vết sẹo dài và nhỏ như sợi chỉ vắt ngang trên thái dương bên trái. Dấu vết của lần cành cây rơi xuống khi chị và em đi rẫy về gặp giông.
Chị nhìn em.
Chị có thấy không mà mắt thảng thốt thế kia.
Chị có nhận ra em không mà xoay người phủi đất cát dưới mông mà quay lưng đi thẳng một mạch thế kia.
Chị quên mặt em hay chị không muốn em thấy chị như thế này.
***
Ðám đông tan ngay sau đó. Chỉ có em đứng thẫn thờ giữa lối đi. Có người đi ngang mắng em sao đứng nghênh ngang giữa đường. Chị không xuất hiện để bênh em.
Có lẽ chị đi thật rồi.
Ừ
Em trở về làng vào một buổi sáng.
Em đã đi bộ suốt đêm trên con đường nhấp nhô đá. Hai bàn chân em tê buốt. Nhưng không buốt bằng khi em nhớ về chị. Má em nóng rát vì nước mắt.
Mí ôm chầm lấy em. Mí sờ soạng khắp người em như kiểm chứng rằng em có phải bằng xương bằng thịt hay không. Ðứng thật gần mí, em mới phát hiện ra mí già đi nhiều quá. Khóe mắt không đếm nổi có bao nhiêu vết chân chim.
Mí không hỏi em có tìm thấy chị hay không? Em cũng không nói rằng em đã gặp chị và không nói được rằng chị nhất quyết không trở về làng. Chị không muốn sống cuộc sống của mí, của em. Chị muốn là người thành phố. Chị bảo có thể sống khốn khó nhục nhã ở đây cũng được. Chị quen rồi.
Em nhìn thấy Plin trên đường ra suối. Plin ôm chầm lấy em, cái ôm của Plin chặt và nóng ấm. Em gục vào ngực Plin và khóc tức tưởi. Nước mắt em thấm ướt một vạt áo. Plin thầm thì “Em ơi đừng khóc. Em đừng đi tìm chị Xuân nữa. Chị Xuân trở thành người dưng của làng mất rồi. Chị Xuân không trở về nữa đâu”.
“Chị đi mãi vì làng mình nghèo phải không Plin”.
“Anh không biết. Nhưng làng hết nghèo thì chị Xuân cũng không trở về nữa đâu em à”.
Em im lặng. Chị không về Plin có đau lòng không. Plin yêu chị.
Em im lặng. Chị không về mí có đau lòng không. Vì mí luôn thấy có lỗi khi chị rời bỏ làng.
Nhưng chị không về, trái tim em nhói buốt. Mí tưởng rằng em không tìm được chị. Mí vẫn đợi cửa chị mỗi khi đi ngủ. Mí chờ chị rời phố phường và về bên kia núi. Em thương mí. Và em thương em.
NIÊ THANH MAI
 
27/6/2020
Nguyễn Lê Vân Khánh
Theo https://vanhocsaigon.com/
 

Nước mắt hình ngọn lửa

 Nước mắt hình ngọn lửa

Chị nhìn người đàn bà ôm búp bê ầu ơ ru con, thở dài đưa cây kem dâu, nè ăn chơi. Cô rạng rỡ cầm, bẻ một miếng đút cho con búp bê vải cũ mềm mặt đã rách lòi mớ bông xơ.
Kem tan ra, thấm vào vải, cô hồ hởi nghĩ nó đang ăn thật sự. Ngồi bệt xuống kế bên, chị ăn cây kem đậu xanh của mình.
Nghe đâu người đàn bà này điên vì mất con, tội nghiệp. Mà thật ra ở đây ai cũng tội nghiệp. Ai cũng có nỗi khổ, có lý do để chọn trốn tránh bằng cách điên. Điên là kiểu lãng quên đau đớn của những người chọn cách chối bỏ thực tại mà họ cảm thấy giữa họ và nó không còn hiện hữu sợi dây liên hệ nào. Họ gặp nhau ở đây, nhà thương điên, bằng cách này hay cách khác.
Nhà văn trẻ Phát Dương
Người ta thường nói người điên đáng sợ. Chị thấy điều đó bình thường. Ai điên lên thì cũng có lúc đáng sợ, và ai mà không từng điên một vài lần trong đời. Chị chỉ thấy thương họ, như thương chính mình. Chị cũng vừa lội khỏi vũng điên của mình, rũ nước chờ lòng khô tỉnh lại. Khi thấy đã khỏe, chị xin làm việc công ích cho bệnh viện. Chị muốn làm điều gì đó cho nơi này, trước khi rời đi. Như làm bạn với những người ngủ trong cơn mê mệt mỏi mà chị đã từng ngủ.
Người đàn bà cắn miếng kem, bật khóc u u. Nước mắt đổ ra ràn rụa, chảy xuống đôi môi nứt nẻ đang trào kem hồng sánh. Tôi nhớ hiệp sĩ mùa đông của tôi. Chị nhặt trong nhiều lời đứt quãng của cô ráp thành một câu trọn vẹn như vậy. Cũng lạ, chị không hiểu sao mình lại hiểu được cô, như hiểu những người ở đây, bằng khả năng cắt nghĩa thứ ngôn ngữ không rõ lời.
Người đàn bà nói hiệp sĩ mùa đông của bà đẹp trai lắm. Hiệp sĩ đi bỏ nước đá cho mấy quán cà phê. Cô lúc đó là nhân viên quán Ba Chuồn, một trong những chỗ hiệp sĩ giao nước đá. Nhưng là chỗ ghé lại lâu nhất.
Chị lắng nghe, cắn một miếng kem đậu xanh bùi bùi. Thứ kem quê mùa này ít người chuộng, dù buồn cười là nó thật sự làm bằng đậu xanh chứ không phải hương liệu pha loãng như dâu như sô-cô-la như sầu riêng… Cái lạnh ngọt ngào thấm vô kẽ răng, hợp với câu chuyện quá. Chị nhắm mắt, tưởng tượng thành phim cho dễ hình dung. Người đàn bà vẫn ư ư kể, tay không ngừng vuốt tóc con búp bê vải đầy trìu mến.
***
Anh giao nước đá tướng người cao lớn, mặt vuông, vai rộng, da ngăm rắn rỏi. Anh tròng bên ngoài áo cái bao ni-lông cứng trong suốt cắt hai bên đáy để xỏ tay, ngăn không cho hơi lạnh thấm vô người. Tay đeo găng, chân mang ủng, hông buộc dây cố định bao ni-lông. Anh đi làm mà như đi chơi, mặt lúc nào cũng thư thả nhìn về phía trước, ngực ưỡn vai mở, oai như đang đi lập chiến công. Bởi vậy mà Đỗ Miên (tên đi bán cà phê của người đàn bà đang kể chuyện, còn tên thật bà làm rớt mất rồi) tưởng tượng ra anh thành hiệp sĩ.
Anh trút bao nước đá vô thùng, chưa vội đậy nắp mà nán lại làm bộ ngó ra hồ cá coi mấy con cá sáng sớm giành mồi. Mộng Cát (bạn Đỗ Miên) đưa cùi chỏ thúc hông Miên chọc, hiệp sĩ mùa đông của mày tới kìa. Anh ngẩng lên hỏi, ủa hiệp sĩ gì cô Cát. Miên xấu hổ không dám nhìn anh, cầm cái mâm nhựa để bưng cà phê che ngang chân mày cũng không giấu nổi màu đỏ đang lan dần. Cát cười cười giải thích, mặc kệ Miên lắc đầu ra hiệu đừng đừng, thì nó nói nhờ anh giao nước đá, quán mới có đá bào bán cho tụi nhỏ. Nên nó nói anh y chang hiệp sĩ đem mùa đông mát lạnh tới, coi khùng không.
Anh gãi đầu, cười hiền. Miên cười ngại ngùng. Cát cười hớn hở. Bà chủ quán Ba Chuồn tằng hắng, rồi thùng đá hổng đóng tan hết lấy gì bán ta. Anh hết hồn, đậy lại lẹ lẹ. Bà liếc qua hai cô nhân viên, bàn ghế chưa dọn đứng đây dẹo trai tao trừ lương à. Ba người lập tức giải tán, việc ai nấy về làm.
***
Anh hiệp sĩ ngồi bứt trụi hết đám rau dền mọc dại, vẫn chưa sắp xếp được câu trả lời hợp ý người thương. Đỗ Miên hỏi có năm chữ, mà đầu anh ngổn ngang suy nghĩ. Chừng nào anh cưới em?
Miên vẫn nhìn chờ đợi. Cô không bứt lá, không đá sỏi, không làm gì cả. Như ngừng luôn thở. Chỉ chờ đợi. Giương đôi mắt đỏ hoe chờ đợi. Như đó là lẽ tồn tại duy nhất của cô, câu trả lời từ người thương.
Minh họa: Hoàng Đặng
Cuối cùng anh chỉ bật được tiếng thở dài. Miên nghe đầu mình đau rần khi thất vọng đập vào. Cô đã từ chối đám dạm hỏi thứ ba, má cô chịu không nổi đòi tự tử ép cô cưới lẹ. Anh biết quá rõ nhưng anh có gì trong tay để cưới cô bây giờ. Anh giao nước đá, cô bán cà phê, sống qua ngày cầm cự lấy đâu ra tiền cưới. Rồi lỡ có con? Nợ mỗi nhà còn treo trên đầu, đến hạn chủ nợ thiếu điều muốn tới siết cổ.
Miên đứng dậy, phủi đít quần, quăng lại một câu trước khi tê dại bước về. Em cho anh một năm.
***
Đủ một năm, Đỗ Miên từ Bình Dương về. Lương công nhân tằn tiện nhẹ được mấy phần nợ. Anh ngồi đợi cô chỗ cũ, với câu nói lồng lộn cắn đau trong miệng sẵn. Cô vừa ngồi xuống, anh đã nói. Rất nhanh nhưng không phải câu mà Miên chờ đợi.
Miên tưởng mình đã bị chặt đôi, nửa thân trên lăn lông lốc bằng câu nói đó. Tháng sau anh cưới Mộng Cát. Không có câu nói nào thể hiện được sự bùng nổ trong người cô. Sức nén không chịu nổi bung ra, nổ thành tiếng nấc. Và nước mắt rớt. Cố gắng chờ đợi để nhận bẽ bàng, ông trời có thấu không.
Anh cũng khóc. Không giải thích không phân trần. Chỉ khóc. Lần đầu tiên Miên thấy hiệp sĩ của mình yếu đuối. Cô tưởng như đây không phải anh, hay là ai đang đóng giả anh? Phải rồi, một trò đùa ác ý. Ai đó mặc lớp da y hệt anh để gạt cô. Cô cầm cục đá lên, vung tay đập bể lớp vỏ giả tạo. Nhưng chỉ có máu trào ra. Anh vẫn khóc, không phản kháng gì. Cô vừa khóc vừa đập, đập cả vào chính mình.
Cơn tức tưởi dần nuốt chửng lấy Miên, cô buông đá sụp xuống. Cô nhìn máu. Máu của anh hòa máu của cô. Cô vươn tới, tìm mặt anh. Đặt môi lên môi cho hai dòng nước mắt hòa một. Giữa đêm tối, hai bóng người cũng trộn vào nhau.
***
Miên đốt lửa đi tìm con. Đứa con chưa có hình dạng, nhưng cô biết nó ở đây. Ở ngôi nhà mới xây của anh và Mộng Cát.
Đã quá rõ sự thật, Cát tìm người lắp vào vị trí cha cho cái bầu không chủ. Đã hơn một lần cô thấy Cát ghi vội số điện thoại vào hóa đơn cho những ông khách đi xe hơi ghé quán. Anh hợp tuổi hợp mạng, vừa hợp mẹ anh cần tiền trả nợ. Màn kịch chưa bao giờ cũ, một trận say khướt sáng ra hai người không quần áo nằm chung, đàn ông thì phải chịu trách nhiệm. Nhất là đàn ông tốt.
Miên đã chịu lùi bước. Cô có muốn giành giật gì nữa đâu. Cô chỉ muốn thứ thuộc về mình. Thứ của cô chỉ của cô. Thì có đứa con trong bụng, cô sẽ ở với nó suốt đời này. Mà sao người ta tàn nhẫn cũng cướp đi. Cát gửi qua chai thuốc bổ, lấy danh anh. Thứ thuốc tẩm bùa, vừa để đứt duyên còn lại của hai người vốn đã không thể gần. Vừa để bắt hồn đứa nhỏ về làm vật trấn cho nhà ăn nên làm ra, con ruột thì thương ba nó. Tất cả, chỉ từ lời của ông thầy bói.
Miên hềnh hệch tưới xăng trong đêm. Anh? Cát? Đứa con? Ai đang ở đây ai đang ở đâu. Ai thương ai vì ai làm ai đau. Cô cười khùng khục, nhìn ngọn lửa trên tay mình. Nhìn từng hy vọng đang tí tách cháy lép bép, đỏ rực. Ngọn lửa nặng quá, và nóng. Tay cố giữ càng ngày càng mỏi. Thì buông. Nước mắt hình ngọn lửa rơi xuống.
Thùng đá đặt ngoài nhà bén lửa. Mút xốp cháy ngọt, đá bên trong chảy ra. Như chính Miên đang tan chảy. Họ định mở quán cà phê tại nhà, anh thôi đi giao nước đá. Hiệp sĩ của cô không mang mùa đông tới nữa. Hiệp sĩ không chiến công, hiệp sĩ ngoan ngoãn làm chồng.
Ngôi nhà đứng im giữa những bông lửa thi nhau nở. Miên phá ra cười, bất chấp đánh thức bầy chó thi nhau sủa rân. Bất chấp ai thức dậy. Bất chấp ngọn lửa có thể bùng lên, lan ra, ôm cả cô vào lòng nó.
***
Khi tỉnh dậy, người đàn bà được đưa vô đây. Không biết ngọn lửa có được dập tắt không, không biết có ai bị đốt chết không. Không biết sau đó họ ra sao, nếu họ còn sống. Anh có đau buồn. Cát có hả hê. Đỗ Miên quăng cả cái tên, màng gì đâu nữa. Cô cũng chẳng muốn nhớ bất cứ gì, chỉ nhớ mình được ẵm con vào lòng. Ai đó đã cho cô con búp bê. Cô chỉ cần ở bên con ầu ơ cả ngày là đủ. Tỉnh hay điên cũng được. Ngoài đời thiếu gì kẻ điên cho là mình tỉnh.
Chị nhìn người đàn bà mút hoài cây kem đã rớt hết chỉ còn que gỗ, thở dài. Cây kem trong tay chị cũng sắp tan hết. Câu chuyện buồn quá. Những câu chuyện như vầy, người ta muốn quên cũng phải. Tốt nhất là xé nó ra, thả xuống xoáy nước, cho cuốn trôi đi. Hoặc được xóa trắng thì quá tốt.
Người đàn bà la, bướm kìa, chỉ tay về phía gầm ghế đá. Con bướm vàng nhỏ xíu, chấp chới, bay tới lui trong khoảng râm. Không, nó không phải bướm. Chị căng mắt nhìn kỹ. Nó chỉ là một cái lá me bị mắc vào sợi tơ nhện căng giữa hai chân ghế, gió xô đẩy không ngừng. Chiếc lá me vàng như đang bay, hóa ra mắc kẹt.
“Uống thuốc chưa mà ra ngồi đây mình ên đó? Ai cho kem ngon vậy ta?”. Tiếng nói làm chị giật mình. Người đàn ông mặc áo trắng cúi xuống nhìn chị, có vẻ quan tâm.
Chị nhìn ông ta. Nhìn lại mình. Con búp bê mặt lem luốc kem giương mắt nhìn chị. Người đàn bà kia đâu rồi, sao lại đặt con búp bê trong lòng chị.
Cây kem trên tay chị tan ra, chảy xuống đất nhoe nhoét. Cây kem màu hồng. Chị ngơ ngác ngó quanh, tìm người đàn bà có cái tên bán cà phê Đỗ Miên. Tự nhiên con búp bê cất tiếng oe oe. Chị ôm nó áp vào ngực, bật khóc ngon lành.
PHÁT DƯƠNG
 
27/6/2020
Nguyễn Lê Vân Khánh
Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Ăn nửa trái sim

 Ăn nửa trái sim

 1. Nội nói với Lãng, người ta thường không thể giữ những điều tốt đẹp nhất ở cạnh bên mình. Mãi sau này, khi đi qua những thăng trầm của đường đời, cái người ta giữ được chẳng qua chỉ là vừa vặn với chính mình mà thôi.
Năm đó Lãng mười sáu. Cơn mưa cuối hạ vắt ngang triền đồi. Gió hắt những cơn buốt nhói lòng. Dương tử trổ đòng ngợp trời. Vậy mà An vẫn đi.
An bỏ cao nguyên đất đỏ nghèo nàn này mà xuôi đời mình về phố thị. An ngán lắm cái cảnh mỗi buổi tối ngồi lê ngay chợ đêm mà nhìn thiên hạ dập dìu qua lại. Chàng trai sành điệu nhón tay mua cái móc khóa đan hình trái dâu tặng cô bạn gái xinh đẹp như một món quà kỷ niệm cho tình yêu của họ. An thèm thuồng khi nhìn những cô gái chớm xuân thì xênh xang áo quần hợp mốt, tay đỏ màu sơn, môi cong chúm chím, nước hoa sực nức.
Nhà văn trẻ Tống Phước Bảo
Miền cao nguyên này chẳng có gì ngoài nắng ngoài gió, ngoài cái lạnh tê tái, ngoài những đêm mệt nhoài theo dòng người du lịch nhận về trăm ngàn tiền hàng, nhưng là cả đống khát khao ước vọng của tuổi trẻ. An phải đi thôi Lãng. Đời cho mình bao lần cơ hội đâu Lãng. An nói với bố mẹ rồi. Nhất quyết phải đi. Nhất quyết phải hết nghèo. Bố mẹ mình nghèo quá rồi, giờ mà mình nghèo theo thì là lỗi của mình đó Lãng.
An lên chiếc ô tô của người bác họ, vẫy tay chào Lãng. Nhẹ bâng. Lãng đạp xe quanh vòng bờ hồ như thằng dại. Trĩu trịt. Gốc thông quen, một mình Lãng ngồi nghe tiếng chuông từ nhà thờ Con Gà đổ từng hồi. Thành phố buồn tê lòng.
2. Thời dịch, thành phố du lịch vắng ngắt. Trời Đà Lạt bỗng xanh lành như hồi nội còn đôi mươi, thường địu gùi men theo những con dốc gồ ghề xuống chợ. Nội hay nhắc về những năm tháng hoang sơ khi đất còn chưa thuần hóa, khi nước còn trong vắt từ những con suối xa, khi hoa lá cứ si dại mà mọc ven đường, khi thông vẫn xào xạc hát bài hương ca vô tận. Khi ấy, nội chỉ là cô bé tộc ngẩn ngơ hái trái sim rừng mỗi mùa trái tím lịm chân mây. Thoảng khi giữa buổi chè sớm với thằng cháu, nội ngân nga hát: “Đói lòng ăn nửa trái sim, uống lưng bát nước đi tìm người thương”. Lãng nghe hoài thành ra cũng thuộc. Trái sim ăn hoài thành ra cũng ngán. Nội không ăn sim từ ngày ông mất. Lãng không ghé đồi sim từ ngày An đi. Một già một trẻ, vẫn cứ bên ấm chè sớm mà mỗi người the thắt mấy chuyện riêng mang. Nội nhìn về phía đồi chè sau nhà. Lãng nhìn ra đồi Dương tử trước sân. Ấm chè nhiều khi nguội ngắt mà chẳng ai hay.
Nội lại pha ấm chè, trời còn chưa hửng nắng phía đằng đông. Nội bảo dạo này sao cứ khó ngủ, mới hai ba giờ sáng mắt đã trơ trơ. Nằm miết thành đầu óc mụ mị. Thì thôi vận động cái thân thể già nua cho giãn gân giãn cốt. Nhờ vậy mà nội hái được loại chè quý “quý nương”, mà phải là “quý nương một tôm hai lá” uống cho đã cơn thèm. Chè “quý nương” là loại chè phải hái khi lá còn đọng sương hôm, khi mặt trời còn chưa chiếu những tia nắng buổi bình minh. Nếu chỉ hái loại đúng một búp dính chùm hai lá, ấy là của quý trong cả đồi chè. Lắm khi quãng đồi thênh thênh vậy chỉ có khoảng độ mấy chục đọt “một tôm hai lá”. Nội nói hễ để mặt trời mọc rồi, thì loại chè mình hái, phải gọi là chè “bà lão”. Độ chát và độ thanh cũng như hương thơm bốc lên không sao sánh bằng chè “quý nương”.
Lãng gật gù ra điều biết thế, chứ kỳ thực, thằng cháu nhấp ngụm trà nào cũng thấy thanh, cũng thấy chát, có bao giờ thấy ngọt chi đâu. Có lần Lãng nói vậy với nội. Nội cười rồi cầm ấm trà rót vào ly tống, từ ly tống nội lại chia đều ra hai ly quân. Lần đó nội nhìn Lãng, rồi nhìn phía đồi Dương tử đang bung cánh trắng rực rỡ trong nắng sớm. Nếu dễ dàng cảm nhận ly chè ngon, thì người ta đâu có nhọc lòng mà thưởng chè. Cầm ly chè, đảo quanh, hương thơm mát rượi nơi cánh mũi. Nhấp một hớp, vị chát quấn lấy đầu lưỡi. Nhưng khi mình uống nó vào, tận sâu trong cuống họng, mới nghe vị ngọt thấm dần một cách thanh thản.
Uống có ly chè, nội kỳ công chi dữ. Mình ngồi đây tốn năm ba phút cho ly chè, ngoài kia người ta đi năm ba chục bước. Mình còn phải làm vườn, bông cắt bán, chè hái bán. Cuộc sống này đều quy ra thành tiền để sống đó nội. Nội không biết, đất giờ rục rịch thành vàng. Bữa con ra chợ người ta nói, đất chợ vào quy hoạch, sẽ xây trung tâm thương mại. Tỉnh đòi thành phố phải phát triển du lịch. Một căn nhà ngoài ấy, bán ra giờ năm bảy tỉ. Đất trong mình nghe nói sốt vô cùng. Theo giá tụi cò đất tính, một miếng vườn chỉ trăm mét vuông thì đâu chừng hai ba trăm triệu đó nội. Dân thành phố bắt đầu chạy kiếm mấy khu đất trồng trọt xa trung tâm để mua đầu cơ, chờ quy hoạch trúng là họ ôm tiền chạy về đây.
Nội lại cười cái khì, đất là để sống, nhưng người ta ai rồi cũng chết vì nó. Cuối cùng cũng chỉ là nằm trọn trong lòng đất mà thôi. Chỉ những người đi qua thác ghềnh gieo neo của cuộc đời này, khi mang nhiều đớn đau hằn sâu thành vết sẹo trong tâm hồn mình, thì mới thưởng thức được cái vị ngọt của lá chè.
Lãng hai mươi sáu vẫn chưa gọi là già. Nội đã tuổi bảy mươi nhưng chẳng chịu già.
3. Xưa, nội có mối tình cùng anh giải phóng quân đóng bên ven đồi sim tím. Mối tình của thời chiến. Mối tình cô gái tộc và anh miền xuôi. Nhưng rồi chiến tranh phân ly. Anh giải phóng một lần nhổ trại hành quân. Biền biệt chẳng còn tăm tích. Nội đợi, đợi chừng hai tháng thì nghe bụng mình khang khác. Vậy là có tội với Giàng. Làng đem nhốt nội vào một căn nhà hoang trên ngọn đồi cao. Vạt cỏ mỗi ngày nội ngồi ngóng về phía làng mòn dẹt theo thời gian.
Rồi nội hạ sinh thằng con trai. Một đêm rừng hoang u tịch. Nội đặt cho bố cái tên Sim. Thằng Sim của nội năm 14 tuổi cũng bị Giàng bắt đi trong một lần ra chợ bán măng rừng. Địch quần rát ổ. Tên bay đạn lạc. Thằng Sim nằm ngay góc chợ, trước cái cửa ổ trốn, thân mình bao phủ một anh giải phóng quân. Người dưới chợ nói với nội, thằng Sim cố cứu một anh lính bị thương. Nhưng không may cả hai đều trúng đạn.
Nội quay về ngọn đồi cao. Vạt cỏ ngồi ngóng làng nay lại ngồi ngóng con mỗi buổi chiều hôm. Từng nhát cuốc khai hoang như thêm trĩu trịt. Quãng đường gùi hàng về chợ, không còn để mua bán, mà là để đưa tin.
Chiến tranh tàn, nội vẫn giữ đồi, phát đất làm nương rẫy trồng chè, trồng ngô. Người ta chỉ thấy cô gái tộc tuần hoặc mươi ngày đổi lấy ít đồ đạc rồi lủi thủi gùi hàng leo lên những con dốc, những ngọn đồi thoai thoải. Dân di cư bắt đầu tràn về. Ngọn đồi thêm nhiều nóc nhà cất lên, hình thành cái xóm chè đồi Côi. Chẳng biết ai đặt cái tên nghe bi xót. Nhưng cứ lâu rồi thành quen.
Năm bà quá lứa bốn mươi, một chị trên hội phụ nữ huyện ngỏ ý nhờ bà nhận nuôi đứa trẻ vừa bị mẹ bỏ rơi trên bệnh viện. Người con gái trẻ không dám đem theo cái tàn tích của một lần lầm lỡ, bỏ con trốn mất tiêu. Nội gật đầu cái rụp. Có đứa hủ hỉ, một sinh linh được cứu rỗi. Tiện đôi bề. Vậy là nội lên bệnh viện huyện làm thủ tục, rồi tận tay ẵm thằng nhỏ về. Nội đặt tên cho thằng con hoang là Lãng. Nội cho nó nhận Sim là bố. Con nào cũng phải có cha, cháu nào cũng phải có bà. Cho nó đủ đầy như người ta. Mãi sau này, có lần Lãng hỏi nội sao đặt mình cái tên kỳ cục. Đi học mấy đứa bạn cứ ưa trêu là thằng lãng nhách, lãng xẹt. Nhiều khi quê với đám con gái lắm nội. Nội quay qua nhìn Lãng, rồi đưa mắt lên không trung u tịch của một đêm không trăng. Tại Lãng có một cái bớt nhỏ ngay má phải, y hệt anh giải phóng quân bên đồi sim năm ấy. Khoảnh khắc đó, hình như giọng nội rè đi. Lãng từ ấy không hỏi han gì đến cái tên hay mấy câu chuyện bên đồi sim ngày thanh tân của nội. Nội vẫn trồng chè. Lãng vẫn chăm đồi Dương tử.
4. Hồi ấy, cũng có lần An về. Đó là năm thứ nhất sau khi đi Sài Gòn theo bác. An về cùng đám bạn học của mình. Lãng rụt rè nhìn An thay đổi phổng phao trắng hồng khác lạ. An đi giày cao gót, môi son đỏ tía, phảng phất mùi hương nước hoa quanh mình. Mấy cậu bạn đi chung luôn chiều chuộng ra điều lấy lòng An. Lãng dẫn cả nhóm đi tắm suối, vào rừng hái sim. Giữa những khoảnh khắc nô đùa ấy, Lãng thấy An không còn hồn nhiên như thời hai đứa chiều chiều tan học lén nhà chạy lên đồi nằm nghêu ngao hát “ăn nửa trái sim”. Trả về cho Lãng, buổi ấy, chỉ là một cô gái lạ lẫm quá đỗi.
Lãng lừng khừng hỏi An khi nào về lại với phố núi cao nguyên này, những mùa Dương tử trổ đòng ngợp trời vẫn đợi chờ. An cười, nụ cười phảng phất nét kiêu kỳ trên vành môi. An trả lời câu gì đó bâng quơ. Lãng nghe trong tiếng thông reo có lời xa cách. Từ buổi đó, An không về nữa. Thoảng khi Lãng nhắn tin, An trả lời bận lo việc học. Có lần An khoe, được bác họ cho đi du học. Nước phương Tây nào đó, xa lắc lơ, Lãng nghe An nói cái tên, mà chẳng nhớ nổi.
Lãng bắt đầu dựng cổng, treo bảng cho du khách tới tham quan đồi hoa Dương tử. Mỗi khách vào là ba mươi ngàn. Sáng sớm Lãng lựa cành nào đẹp nhất thì cắt rồi bó thành chục giao cho mối lái. Trời hửng nắng, cứ thế mà ngồi thu tiền du khách. Đồi Côi từ dạo đó bỗng xôm tụ hẳn lên. Người mở quán ăn phục vụ khách du lịch. Người làm vườn hướng dương, làm vườn hồng, làm quán cà phê nguyên chất. Cuộc sống nhộn nhịp và khấm khá hơn.
5. Nhưng chẳng được bao lâu, một sáng trời trong, hết mùa dịch, thiên hạ rần rần kéo về cái thành phố ngàn hoa này hưởng thụ sau những ngày bó gối giam mình trong bốn bức tường nhà, nội hớt hải chạy về báo tin với Lãng. Nghe đâu người ta trả giá đất cao, muốn mua hết khu này làm làng du lịch đó con. Người ta bù cho một căn chung cư mới xây, lại còn đưa cả mấy trăm triệu cho mình làm ăn nữa. Phía đầu đồi nghe nói ba bốn người chịu rồi. Lãng nghe thất thần. Cái điều lo lắng bấy lâu, chẳng sớm thì muộn thiên hạ cũng thâu tóm cái đồi Côi. Vị trí đồi có tầm nhìn xuống thành phố, đường sá đã được làm thành lộ lớn. Hồi trước tết đã có mấy ông đại gia rậm rịch đi xem đất, xem đồi…
Lãng bảo nội ở nhà canh vườn, Lãng phóng xe ra đầu đồi, thấp thoáng vài chiếc xe hơi láng coóng đậu ngay lộ. Nhiều người ăn mặc sang cả đứng chỉ tay hướng này hướng nọ. Lãng chạy tới nắm lấy tay thằng Phồn, khẽ lắc. Trời, mầy đừng có bán đất. Bán là hết đường sống đó. Mình ra phố rồi biết làm gì. Đừng có nghe họ dụ mà ham. Thằng Phồn nhìn Lãng rồi phủi tay cái mạnh. Khùng quá đi, họ bù cho mình một căn nhà khang trang ngay cái khu cao ốc mới xây. Họ cho mình thêm vài trăm triệu đến cả tỉ. Cả đời này mình kiếm còn không ra được. Họ hứa họ làm khu du lịch xong, họ nhận mình về làm công nhân cho họ. Mình có đói đâu mà sợ. Mầy cũng bán đi, tao chỉ họ mấy miếng đất rồi. Họ mua được một miếng đất là tao có thêm năm mươi triệu đó. Mà đất nhà mầy bán không, tao chỉ cho?… Lãng không trả lời, leo lên xe máy nhắm hướng đỉnh đồi mà chạy. Nghe trong lòng nhiều thứ vỡ vụn ra. Thông khóc lao xao dọc triền đồi.
Chiều đó, nội bảo Lãng có khách. Ánh hoàng hôn phủ vàng mênh mông cả vùng trời. Lãng dẫn khách đi ra đồi Dương tử. Cái lạnh bắt đầu bủa vây triền đồi. Dương tử bung cánh xoe tròn, từng bông vẫn trắng muốt. Cả hai đứng nhìn và lặng im. Rất lâu. Rất khẽ. An bảo Lãng phải thức thời chứ. Cái triền đồi có bao nhiêu chủ đất đâu. Bác An trả giá tốt nhất thời điểm này rồi, mùa dịch qua, nhưng cũng còn khốn khó, chuyện tiền bạc bây giờ nó mới là lẽ sống của con người ta. Đâu cứ phải bám víu vào đất cả đời cực khổ hoài. Bây giờ là điều kiện để Lãng cho nội nghỉ ngơi an hưởng. Lãng kiếm gì đó mà học một cái nghề. Lãng thông minh, Lãng phải nghĩ tiền đồ của mình chứ. Hổng lẽ suốt cuộc đời Lãng cứ quần đùi áo thun bán mặt cho đất bán lưng cho trời. Ngửa bàn tay lên đi Lãng. Lãng thấy gì không?…
Chẳng có câu trả lời nào dành cho An. Mái tóc đen dài nay thay bằng ánh vàng thuốc nhuộm, ngắn cũn cỡn ôm sát vai. Tay đỏ màu sơn, môi cong kiêu kỳ. Giữa cái ánh hoàng hôn phản chiếu, hình ảnh người con gái Lãng từng thương trên đồi Dương Tử sao nó lấp lánh mà diệu vợi muôn trùng. An quay gót đi, khi Lãng vẫn lầm lì chẳng thốt lời nào. Lãng chẳng tiễn An như cái lần An bỏ triền đồi mà đi lên Sài Gòn. Lãng chỉ đứng nhìn bóng dáng khuất dần theo tia nắng chiều. Nội bảo sao không mời An vào nhà chơi. Lãng hẫng nhẹ trả lời, An nào đâu nội, người ta là khách ghé mua đất thôi.
Lâu lắm rồi, dễ chừng cũng chục năm, từ cái hồi An về thăm rồi đi biền biệt, Lãng mới lên đồi sim. Đồi loang tím. Con đường mòn quen thuộc vẫn còn y nguyên, khác chăng là những bụi sim nay mọc lên um tùm và rậm rạp. Lãng ngồi ngay gốc cây có khắc tên hai đứa hồi mười sáu trẻ dại. Rồi đất sẽ rùng mình chuyển thành lô lốc. Nứt nẻ vỡ toạc ra thành những khu vila, biệt thự. Người ta chẳng chọn nơi này để sống, mà chỉ là vung tiền hưởng thụ cái thú tao nhã của mình. Người ta có biết nghe thông hát? Người ta có biết sim tím vì đâu? Thương nhớ là một thứ đâu thể vay mượn. Chỉ có dân đồi Côi này, mới thương thông nhớ sim mà giữ gìn và vun bồi đất rừng.
Lãng nhìn đêm buông sẫm xuống triền đồi. Nội chẳng thể đi đâu, đất này là cả cuộc đời của nội. Vườn chè là nguồn ký ức để nội sống những tháng năm cạn cùng. Lãng cũng chẳng thể đi đâu. Dương tử vẫn trổ đòng chờ Lãng mỗi sớm tinh sương. Thông hát chờ Lãng nghe. Sim chín chờ tay Lãng hái. Lãng chỉ ăn nửa trái sim thôi. Rồi Lãng sẽ tìm người thương, như câu hát mà nội hay hát…
TỐNG PHƯỚC BẢO
 
27/6/2020
Nguyễn Lê Vân Khánh
Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Truyện ngắn Phan Thị Mỹ Huệ: Lão Khục

Truyện ngắn Phan Thị
Mỹ Huệ: Lão Khục

Để thằng nhỏ yên!
Nhà văn trẻ Phan Thị Mỹ Huệ
Tôi giật mình quay lại. Trước mắt tôi là một hình nhân kì dị hết sức, một hình nhân héo quắc như cây gòn mùa đông già nua, trụi lá. Dáng người lão hơi nghiêng sang trái và đầu hơi chúi về đằng trước. Hai cánh tay của lão lèo khoèo, lều khều như được gắn vụng về vào hai vai. Lão mặc quần đùi để lộ hai ống chân cũng lèo khoèo, lều khều như vậy. Nhưng kì dị nhất là gương mặt của lão, gương mặt với cái trán hõm vào một lỗ ngay phía trên hàng lông mày bên phải, nó làm cho tôi cảm giác lão có con mắt thứ ba. Một vết sẹo dài bên má trái khiến tất cả các đường nét trở nên xô lệch, chuệch choạc đến mức nom lão không khác gì một nhân vật hắc ám trong những câu chuyện kinh dị, rùng rợn. Lão phóng về phía tôi một cái nhìn đầy hằn học và dữ tợn. Ánh mắt của lão khiến tôi hoảng sợ, vì nó đùng đục như màu trời vào mùa sương giá, mà lại xam xảm như có bao nhiêu gỉ than tro lơ lửng trong đó. Người đàn ông lầm bầm trong miệng. Ông ta có vẻ hậm hực nhưng vẫn buông tay tôi ra và bỏ đi. Tôi muốn chạy theo nhưng vừa dợm bước chân thì tiếng nói hình nhân quái dị kéo tôi lại :
– Đứng đó!
– …
– Mầy đứng lại đó! Muốn chết hử?
Tôi không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Lão già này muốn gì ở tôi? Tại sao lão lại…? Nhưng mà lão còn làm tôi giận hết sức khi người đàn ông kia đi rồi, lão chẳng nói chẳng rằng cũng quay lưng đi. Dáng lão khệnh khạng như một người say. Đôi vai lão rung rung khổ sở đỡ lấy cái đầu to quá khổ với mái tóc lơ thơ vài sợi ngắn dài mọc lẫn lộn, không trật tự. Tôi chạy theo để hỏi lão có oán thù gì mà lại tuyệt đường sống của tôi như vậy. Nhưng lão không nói gì trước thái độ của tôi. Lão vẫn lặng yên và đôi vai vẫn rung theo từng bước chân lê lết, thất thểu trong bóng chiều chạng vạng. Trước khi rẽ ngoặt vào con đường dẫn đến thung lũng Ma trơi, lão quay lại nhìn tôi và bằng một giọng nói không thể nào u ám hơn, lão thẽ thọt:
– Muốn chết, thì cứ leo xuống hầm!
Đó là lần đầu tiên tôi gặp lão Khục. Tên lão là Khục. Người ta hay gọi lão như vậy. Hình như lão cũng có tên, tên Tư Tài thì phải. Nhưng vì lão nói chuyện cứ lục khục, lẹt khẹt trong miệng nên người ta gọi Khục cho dễ nhớ. Lão cũng không cảm thấy phiền vì tên gọi chói tai đó. Ở bãi vàng Đaklay này, lão là người có tiếng nói rất quan trọng. Không ai dám làm trái ý lão. Không phải vì lão có võ công cao cường như mấy tay anh chị giang hồ tứ chiếng ở đây. Người ta ớn lão vì lão có khả năng nói chuyện với người cõi âm. Lão có thể gọi hồn người chết về nói chuyện. Chết sốt, chết chém, chết nghiện, chết hầm, chết hố, chết bờ, chết bụi gì lão cũng gọi được. Chuyện là cách đây hơn 10 năm, một tay kỹ sư địa chất có cô vợ xinh như hoa từ thị về để nghiên cứu cách đào vàng tốt nhất, nhanh nhất để mau giàu. Một buổi chiều đông rét mướt, người ta nghe cô vợ gào khóc thảm thiết vì không thấy chồng về. Hỏi bọn trẻ nhặt đá thì tụi nó bảo thấy anh chồng kỹ sư lang thang ở cái hầm đầu núi. Cái hầm này đã bỏ hoang vài tháng vì đào xuống  hơn chục mét mà không thấy vàng đâu, chỉ thấy mạch nước trong lòng núi đổ ra ào ạt. Mấy người chết chìm, chết dúi trong đó. Cũng không ai dám xuống kiếm xác. Dưới hầm, người ta đào dọc đào ngang như địa đạo, tìm đâu cho thấy. Người ta không tìm cũng vì một lí do khác là không ai thuê mướn. Đám người trôi nổi dưới hầm chủ yếu là giang hồ tứ phương dạt về. Mấy tay này kẻ vượt ngục, người trốn tù, bị gia đình chối bỏ, bị cuộc đời lãng quên… trôi nổi qua Campuchia, Lào rồi lại dạt về đây…
Vậy là cái hầm bị bỏ hoang.
Tay kỹ sư không hiểu sao lại mon men đến miệng hầm và không biết ma xui quỷ khiến thế nào lại rơi xuống cái hố sâu hun hút đó. Cô vợ không thể để chồng chết lạnh chết lẽo nên thuê người lặn ngụp kiếm tìm mấy ngày liền nhưng vẫn không thấy. Cái xác chết chắc bị đám cô hồn lôi vào mấy kẹt địa đạo. Mà ai xuống đó cũng ớn lạnh xương sống không dám xuống lần hai. Người ta cũng mê hai cái khâu vàng cô vợ đưa ra. Nhưng vô vọng. Hồi ấy lão Khục mới dạt về bãi này. Lão chỉ đi nhặt đá để bán kiếm tiền nuôi đứa con gái cũng khẽ khọt như lão. Đứa con gái xanh rớt và ốm yếu như tàu lá chuối tàn. Lão bồng đứa con bằng đôi tay lèo khoèo, bảo với cô vợ anh kỹ sư:
– Cô lập cho tui cái bàn thờ ở đây, 12 chén chè, 12 dĩa xôi, nhang đèn…
Vậy là trước khói nhang nghi ngút, lão Khục nhảy múa, uốn éo như người ta lên đồng với những câu thần chú thần anh rùng rợn. Dưới bóng chiều âm thâm, heo hút, hơi lạnh cắt da, thấu thịt, lão mặc độc một cái quần đùi mà chồm chỗm bên này, ngả nghiêng bên kia. Mắt lão lúc trợn ngược, lúc sụp xuống, lúc liếc ngang, khi đảo dọc, lúc lờ đà, khi lờ đờ như người mới được vớt dưới sông Pô Kô lên. Người ta tụ tập đến coi đông lắm. Đúng 6h chiều, mặt trời vừa khuất sau cánh rừng thông, công cuộc gọi hồn kêu vía kết thúc,  một mình lão ngồi vào cái thùng cột chặt vào ròng rọc để tìm xuống cái địa ngục tối tăm, thâm u, nơi chỉ toàn cô hồn các đảng. Sợi dây vừa thả xuống thì đứa con gái của lão bật khóc thảm thiết. Tiếng khóc thẽ thọt nghe thảm thương lắm. Một giờ, hai giờ rồi nhiều giờ, không thấy cái dây động đậy. Càng về khuya, sương càng buốt, cái dây vẫn đóng băng một chỗ. Người ta bảo nhau :
– Tiêu rồi!
– Lão Khục tiêu rồi!
– Lão già điên!
– Ai nuôi con nhỏ!
– Thiệt tình khốn khổ!
– Đi đời nhà ma rồi!
– Chết chắc!
…
Nhưng rồi đúng lúc tiếng gà rừng eo óc gáy canh ba, cái dây đột nhiên rung rinh. Ai nấy kinh hồn. Bao nhiêu ánh mắt đổ dồn về hồi hộp, sợ hãi. Lão Khục về hay hồn của lão đây? Nhưng rồi đám người vẫn ùa tới cái tay quay. Quay lấy, quay để. Quay nhanh, quay mạnh. Đứa con gái lão cũng hồi hộp hay sao mà nó nín khóc, nó đưa mắt về phía sợi dây. Còn ẵm trên tay mà khôn dữ! Có tiếng ai đó. Người ta cứ quay và quay. Rồi cái thùng từ từ tiếp miệng hang. Đám đàn ông trai tráng ùa vào. Một mùi gây nhức xương long óc lan tỏa trong không gian. Xác người đàn ông trương phình ngồi thỏm thọt trong cái thùng vuông vức dùng để kéo đá. Nghĩ phận người trôi dạt ở bãi vàng này thật đáng nguyền rủa. Sống đã khốn khổ mà chết càng khốn khổ hơn. Chứ ai nói chết đi rồi sẽ nhẹ nhàng. Nhẹ nhàng đâu không thấy, chỉ thấy cái bụng trương phình đầy nước và ứ đọng bao nhiêu tử khí. Hai con mắt lõm vào bên trong đẩy cái mặt đầy lên cũng trương phình, nhìn gớm ghiếc. Trên tay người chết còn đeo cái đồng hồ senko chặt góc, mấy tay giang hồ nhìn thèm lẻm. Nhưng không ai dám động  đến vì nó lún sâu vào trong thịt. Cô vợ gào khóc vật vã thảm thiết trong tay mấy bà nhặt sái. Đau thương, nẫu ruột. Người ta nhanh chóng trải ra ngay miệng hầm một chiếc chiếu cũ quắt queo để có chỗ nằm cho kẻ xấu số. Ai đó đắp lên một tấm mền cũ kỹ, tơi góc. Thảm thương. Người ta cố quên cái mùi hôi thối để tiếp tục hành trình nhân từ còn sót lại nơi đáy sâu tâm hồn của những phận đời trôi dạt.
– Còn lão Khục!
Cái thùng được tiếp tục thả xuống. Nửa giờ sau, người ta thấy lão Khục cũng lọt thỏm trong cái thùng. Kể ra thì sống hay chết thì có gì khác nhau. Lão ngồi, đầu gục xuống, hai vai nhô lên, trông lão càng kì dị. Nhưng cái thùng vừa được kéo khỏi miệng hầm, lão đã đứng dậy, bước ra, tiến về phía con gái lão, dòm thom lom vào mặt nó. Con bé nhoẻn miệng cười. Lão cũng cười khọt khẹt ý chừng vui vẻ, mừng rỡ, cảm động lắm. Rồi lão quay sang nói với cô vợ kẻ xấu số:
– Tui chỉ lấy công 1 chỉ, còn lại về mà lo đám ma.
Lão đón lấy đứa con từ tay người đàn bà. “Về tắm rửa đã rồi mới ẵm con nhỏ”. Lão trợn mắt: “Đưa đây!”. Người đàn bà trao đứa bé cho lão. Lão ẵm nó trong đôi tay và thân thể còn nặc mùi tử khí. Lão đi nhanh về phía thung lũng Ma trơi. Nơi ấy chỉ có hai cha con lão và những oan hồn chết bờ chết bụi.
Từ đó, hễ có chuyện gì khó khăn trong việc kiếm người chết, bãi này lại nhờ đến lão Khục. Bao nhiêu câu chuyện kì dị cũng từ đó được thêu dệt nên. Rùng rợn hết sức.
…
– Cái hầm đó vừa đánh thuốc nổ. Tụi nó kêu mầy xuống xem đã hết khói thuốc chưa. Mầy mà xuống. Kết cục như thằng Chì thôi!
Thằng Chì là cháu nội bà Tám Chột. Ba mẹ nó chết sớm, nghèo quá, hai bà cháu ở dưới Đăkto trôi dạt lên đây để kiếm chút sái chứ không mơ mộng gì giàu có đổi đời. Thằng Chì tuổi 13, khỏe mạnh và đen nhẻm. Bởi có lẽ nó được mấy tay đào hầm đem thử nghiệm thuốc nổ nên người nó lúc nào cũng hăng hắc cái mùi chết chóc ấy. Chả là người ta đánh đá bằng thuốc nổ rồi kêu nó xuống coi khói thuốc đã tan chưa. Nó đứng vào cái thùng, dây thả  xuống,  thấy ngợp thì giật dây họ sẽ kéo nó lên. Cứ như vậy, nếu nó xuống tới đáy hầm mà dây không giật, coi như khói thuốc đã tan. Họ sẽ xuống mà lấy đá. Nhưng lần ấy, cái hầm gần đỉnh núi, đào gần hai chục mét mới thấy hơi vàng. Sâu lắm. Thằng Chì cũng đứng vào thùng và sợi dây được thả vội xuống. Tầm mươi mét, cái dây giật liên hồi. Người ta vội vã quay cái tay quay. Nhưng chỉ được hai vòng thì họ thấy nhẹ hẫng. Ai nấy bạt vía. Một ngày sau, thằng Chì được đưa lên, sọ vỡ nát. Bà nội nó cũng lao đầu xuống một cái hầm bỏ hoang, mất xác. Nghe đâu hầm ấy trúng đậm còn xác thằng nhỏ thì đang nằm mồ côi dưới thung lũng Ma trơi.
Đó là tôi nghe lão Khục kể lại, lão kể bằng một cái giọng hập hà hập hửi. Thi thoảng mắt lão ánh lên một tia nhìn dữ tợn. Có lẽ vì câu chuyện ấy mà lão không để đám giang hồ tiếp cận tôi. Thật ra tay giang hồ cũng đã giúi cho tôi năm ngàn để đứng vào cái thùng và giật sợi dây. Tôi thật sự  rất thèm số tiền có thể mua được mấy zem vàng đó. Tôi có thể xuống nhiều lần trong một ngày và chẳng bao lâu, tôi sẽ có vài cây vàng và rời khỏi nơi chết tiệt này. Tôi sẽ về quê mua cho má tôi một chiếc xe máy để má chở võng đi bán, không phải gánh lên vai đi từ khuya hôm trước. Nghĩ đến má, tôi muốn ứa nước mắt, nhưng nhìn lão Khục tôi càng thấy thảm thương hơn. Lão Khục ở dưới thung lũng  Ma trơi cùng với đứa con gái đã hơn mười năm nay. Đứa con gái hồi nhỏ xanh rớt, hai tuổi rồi vẫn còn bế trên tay. Lão bọc con như con gà mái mơ nhà tôi vẫn bọc con mỗi ngày mỗi đêm. Hồi nhỏ tôi vẫn theo dõi đám gà má nuôi, tôi thấy gà mẹ thương con chẳng khác gì con người. Lão Khục thương con luôn phần của mẹ nó. Nghe đâu vợ lão sinh con xong rồi bỏ đi vì xấu hổ khi phải ở chung nhà với một hình nhân quái dị, hình nhân thoát ra từ bom đạn, từ những chất độc hủy diệt của chiến tranh. Lẽ ra lão phải được đeo huân chương, được ca ngợi như một người hùng. Nhưng rồi tất cả bị thời cuộc lãng quên. Dị nghị, gièm pha, thương hại…, người đàn bà nức tiếng xinh đẹp đã không thể sống với những kỉ niệm và bóng hình đã phôi pha. Nên một đêm muộn thị đã rời xa lão. Lão Khục ngẩn ngơ một thời gian dài và sau đó lão bế con ngược xuôi, cuối cùng neo lại thung lũng Ma trơi ở xứ Đaklay này.
Đứa con gái lớn lên xinh xẻo lắm, mới mười hai, mười ba mà mắt miệng đã biết lúng liếng làm duyên. Lão thường bảo tôi về mà tiếp tục đi học, đỗ vào đại học thì lão sẽ gả con gái cho. “Mầy có thiếu tiền đi học, tao cho! Ở đây riết, phần người rồi cũng khó giữ!”. Những lúc như vậy, lão cười hiền lành lắm. Nhưng chuyện đời đâu thể ngờ. Con gái lão trong một đêm đã rời chốn thâm u ám lạnh này để đi đến một nơi mà nó nghĩ là tươi sáng ấm áp hơn. Năm ấy nó mới 14 tuổi. Tôi còn nhớ buổi chiều hôm ấy, lão điên dại thét gào khi tìm thấy một bức thư với nét chữ nguệch ngoạc. Con bé đã được lão dạy cho biết đọc, biết viết. Nhưng nó trả lại cho lão những con chữ đầu tiên cùng một nỗi đau thấu trời. Lão quắt queo trong nỗi đau đớn, thương nhớ con. Lão không đi nhặt đá nữa, cũng không nhận lời xuống hầm sâu kiếm xác người. Lão cũng không còn thần anh thần chú, cũng không gọi hồn gọi vía cho ai. Lão đang để hết tâm hết lực để gọi hồn đứa con gái và gọi hồn cho chính lão. Đêm đêm, dưới thung lũng Ma trơi, người ta nhìn thấy những ánh lửa chờn vờn cùng với bao âm thanh ai oán ghê rợn lắm. Rồi một đêm, lão Khục đi đâu không ai rõ. Tự nhiên ai cũng nhớ cái dáng khập khàng với hai cánh tay lúc loẻo liêu xiêu trong chiều. Lão Khục đi đâu? Chẳng ai có thể biết được. Chỉ biết rằng từ đó khắp các bãi vàng xứ Tây Nguyên, người ta thi thoảng nhìn thấy một hình nhân quái dị, đôi mắt xam xảm màu tro tàn. Và đêm đêm vẳng trong rừng sâu tiếng gọi con khẽ khọt và thảm thiết lắm.
Sài Gòn,18.6.2020
PHAN THỊ MỸ HUỆ
27/6/2020
Nguyễn Lê Vân Khánh
Theo https://vanhocsaigon.com/
 

  Cái Tôi của Phạm Duy  trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...