Thứ Tư, 1 tháng 2, 2023
Quá khứ của hôm nay
Vào buổi sáng mùa hè cuối thập niên 60 thế kỷ trước, khi mặt
trời lên khoảng nửa con sào, bầu trời trong xanh, không một gợn mây. Vào những
ngày thời tiết tốt như hôm nay, không quân Mỹ thường đưa máy bay từ hạm đội
ngoài biển Đông ào ạt vào Thanh Hóa, ném bom, bắn phá các trọng điểm: Ga Bỉm
Sơn, ga Đò Lèn, cầu Hàm Rồng. Cầu Cừ, tuy nhỏ hơn nhưng lại giữ vị trí quan trọng,
cho đường sắt và đường bộ, huyết mạch của cả nước, vẫn còn nguyên vẹn. Vậy mà
anh Thoại dám đứng trên cây cầu ấy như không biết chiến tranh đang xảy ra ác liệt,
chăm chú nhìn những cây cột lim có niên đại hàng trăm năm, loại gỗ quý đã lên
nước đen như mun, rắn như thép, bất chấp nắng mưa, mối mọt. Nó chính là những
cây cột trụ của miếu Triệu Tường.
Con cá được - Con cá mất
Con cá được - Con cá mất…
Thấy cô bạn nước mắt lưng tròng, Phương bực dọc quát khẽ:
– Có việc gì thì nói đi, sao phải khóc!
– Tôi phát hiện ông Tuệ quay lại tình cũ! Chuyến này, có lẽ
tôi viết đơn ly dị thôi! Hôm qua, nhìn thấy ông ấy giở ảnh người yêu cũ
chụp ra ngắm!
– Đàn ông như vậy là thường mà. Quan trọng, ông ấy vẫn coi vợ
là nhất!
– Thế thì nói làm gì, đọc trộm tin nhắn của ông ấy với người
yên cũ! Nói đến đây Huệ nức lên… mùi mẫn lắm, chẳng muốn xem tiếp!
Phương bắt đầu nóng mắt:
– Thế tóm lại, nhắn gì ?
– Cũng chừng mực thôi nhưng ỡm ờ cái kiểu thả thính, điên hết
cả ruột. Cô ta trước đây ra nước ngoài, lấy chồng rồi theo chồng về tỉnh khác,
giờ trục trặc, chồng vẫn ở nước ngoài, vợ nuôi 2 đứa con!
Ra về, Phương cứ nghĩ mãi việc của Huệ! Phương thân thiết nên
giúp đỡ Huệ nhiều việc, vì thế cũng là nơi mà bạn trút bầu tâm sự. Chồng Huệ đẹp
trai, tính cách khá hoàn hảo, chỉ mỗi cái chuộng hình thức, cô người yêu
trước vốn là hoa khôi cùng lớp Đại học. Chả biết vì sao họ chia tay. Huệ
cũng là trang sắc nước… nhưng rồi vì bao lo toan cuộc sống, lại là mẹ 2 con đã
lớn nên phần nào phôi pha nhan sắc, hoàn cảnh kinh tế trước kia không mấy
dư dả, không có điều kiện ăn diện. Nhiều lúc ở nhà, thấy Huệ sơ sài trễ
nãi, trong khi chồng thì làm nhà nước, dù là viên chức quèn nhưng cũng gặp
người này người nọ, tránh sao khỏi so sánh với người ta, các cụ đã đúc
rút “Đàn ông yêu bằng mắt” mà.
Nhà văn Bùi Thu Hằng
Tuệ háo hức thông báo về sự kiện họp lớp diễn ra vào cuối
tháng này, đây là lần họp đầu tiên kể từ khi tốt nghiệp
Đại học, và dĩ nhiên sẽ có cô người yêu cũ… Tuệ tự sắm thêm mấy bộ quần
áo đắt tiền với phong cách trẻ trung. Ngày nào Tuệ cũng cập nhật Zalo
nhóm để thông tin với bạn bè… Có hôm đang ăn cơm, chuông điện thoại réo,
anh buông vội bát đũa, hào hứng góp ý kiến chương trình, khách mời, ăn uống
hát hò… cơn ghen cứ sùng sục trong Huệ!
Sát đến ngày hội lớp, Huệ ngỏ ý muốn được tham gia nhưng anh
viện cớ gạt phắt,với lý do không mời dâu rể! Tuy nhiên, Huệ bất ngờ nhận
được giấy mời đích danh, kèm theo lời mời đăng ký văn nghệ! Thấy vậy, Tuệ
hơi bất ngờ, có vẻ không vui, còn Phương chỉ tủm tỉm và giục Huệ ra phố
làm đẹp, mua váy mới . Phương nháy mắt “Chúc bà có buổi vui chơi vui vẻ nhé”
****
Chương trình họp lớp phải 9 giờ sáng mới bắt đầu! Cuộc
hội ngộ bên lề hấp dẫn không kém vì sau 15 năm, bao chuyện muốn kể.
Tuệ sốt ruột và bực dọc ra mặt, lúc sáng vợ dặn
anh đi trước vì bận chút việc cơ quan! Anh lẩm bẩm: “Đã bận thì cứ nghỉ luôn
cho đỡ mệt lại còn cố mà làm gì”
– Anh Tuệ!
Tuệ giật mình quay lại! Một người phụ nữ trung niên, dáng vẻ
cao to, hơi xồ xề, với lớp son phấn dày và bộ cánh cầu kỳ ..
– Em Huyền Anh đây!
Tuệ thoáng sững lại giây lát nhưng kịp trấn tĩnh để che
đi nỗi thất vọng!
– Anh đang đợi em, mải nghĩ, thành ra…
– Còn anh vẫn vậy nhỉ, bao năm trông không già đi mấy!
Chỉ nói chuyện qua điện thoại nhưng em vẫn tưởng tượng anh như ngày nào, quả
không sai!
Còn Tuệ lúc này hơi ngược một chút, thấy thời gian đúng là kẻ
tàn nhẫn, thời gian đã biến một hoa khôi trong mộng ngày nào thành một phụ
nữ cũ kỹ, son phấn không che nổi những nếp nhăn mỏi mệt cùng thân hình hơi quá
khổ. Bỗng nhiên, bao ý nghĩ và sự chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ ôn lại kỷ niệm lúc
này tan biến trong Tuệ…
– Thế chị nhà đâu anh!
– À, vợ anh có lẽ đến muộn! Vừa nói, Tuệ vừa nén tiếng thở
dài khi mường tượng cảnh vợ mình quần ống thấp ống cao, tóc tai bu xù với
những tiếng gắt gỏng… Ôi, sao thấy đau đầu choáng váng thế nhỉ, nếu cô ấy ra
đây thì rồi Huyền Anh cũng sẽ thấy cuộc sống của mình chẳng còn được như xưa!
-Và sau đây! Chúng ta hãy giành tràng pháo tay thật lớn để
chào mừng một cây văn nghệ, đó là chị Minh Huệ với một ca khúc sâu lắng. Xin bật
mí, cô ca sỹ đó là nàng dâu của lớp ta, bà xã cây ghi ta tài hoa Phan Tuệ…
Tuệ dụi mắt, gì thế này, trên sân khấu, một dáng người thon
thả với chiếc váy xanh ngọc cúp sâu cổ gợi cảm cũng làn tóc mềm mượt xõa ngang
vai. Cả căn phòng lặng đi trong giai điệu du dương ngọt ngào…
Tiếng vỗ tay cũng những lời xuýt xoa khi Huệ bước xuống bên
chồng… những ánh mắt ngưỡng mộ và ghen tỵ của mấy tay bạn nam…
– Em chào mọi người ạ! Huệ vui vẻ khoác tay chồng, Tuệ luống
cuống..
– Chị đây là… Huyền Anh sững lại!
– Giới thiệu với em đấy là Huyền Anh bạn cùng lớp, còn xin giới
thiệu với Huyền Anh, đây là Huệ – bà xã anh!
Huệ chủ động đưa tay bắt nhẹ với Huyền Anh, thoáng sự bối rối
thiếu tự tin trong ánh mắt cô bạn gái cũ của chồng!
– Lần đầu tiên được gặp bà xã anh Tuệ, vì hồi anh Tuệ cưới
Huyền Anh đã đi nước ngoài rồi! Bà xã vừa xinh vừa hát hay thế này thì anh Tuệ
phải giữ đấy nhé, chắc nhiều người ngưỡng mộ lắm nhỉ!
Đúng lúc đấy, mấy ông bạn của Tuệ đến gần, cứ nhìn chăm
chăm vào vóc dáng nổi bật của Huệ, một anh ghé tai Tuệ:
– Cậu có bà vợ quyến rũ quá, mình phát ghen đấy!
Có chút gì đấy khó chịu ghen tuông vô cớ trong lòng Tuệ, mặc
kệ Huyền Anh đứng đấy ngơ ngác, Tuệ kéo vợ ra sảnh và gắt lên:
– Sao em đăng ký văn nghệ mà không nói với anh! Em đến đây là
được rồi!
Huệ cố nhịn cười trước thái độ của chồng, điện thoại của
Phương:
– Thế nào, chương trình thành công không!
– Nỡm ạ! Có phải bà bày ra kịch bản này không!
Tiếng Phương cười khanh khách:
– Không cảm ơn bạn thì thôi còn định trách nhau à! Hừm, vô
tình biết tay lớp trưởng của chồng bà lại chơi với chồng tôi, nên tôi nghĩ ra
cái món giấy mời dâu rể, thế mà hay!
Từ lúc nào không biết, Tuệ cứ kè kè bên vợ, nhất là đến phần
hát song ca, Huệ liên tục nhận được lời mời của các giọng ca nam!
Huệ khẽ gỡ tay chồng ra khỏi vai mình và ghé tai chồng nhắc
nhở:
– Hãy cố gắng giữ lấy con cá nhỏ thôi nhé, vì nếu không sẽ mất
luôn cả cá nhỏ đấy!
Tuệ giật mình, liếc vợ, lại nhớ những tin nhắn với cô bạn gái
cũ, giờ đang đứng ở kia: “Người ta nói quả không sai, con cá mất là con cá to…”
BÙI THU HẰNG
27/6/2020
Nguyễn Lê Vân Khánh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Về bên kia núi
Về bên kia núi
Câu chuyện về thân phận những người đàn bà, ở một nơi mà tác
giả gọi là xó rừng, được kể qua một giọng độc thoại buồn, rưng rưng những giọt
nước mắt không rơi ra được, nhưng tinh khiết và trong veo. Niê-Thanh Mai có
trong văn mình cái mãnh liệt của người dân vùng cao nguyên, thế nhưng cái mãnh
liệt ấy lại được kìm nén rất giỏi khi cô diễn tả những day dứt và trăn trở của
cuộc sống, những tình yêu vô vọng… để đến cuối chuyện, nỗi buồn không vỡ òa
trong vài câu chữ, mà thấm dần thấm dần vào lòng người đọc…
Nhà văn Niê Thanh Mai
Em mặc yên bằng bàn tay gân guốc của mẹ. Yên cứng và còn thơm
mùi hồ. áo tròng qua cổ, cổ tay em nhỏ và mềm ngọ nguậy dưới lớp áo đen thẫm.
Áo mới, em theo chị đi dự lễ tối nay.
Chị Xuân đẹp. Chị mặc yên mặc áo một mình. Cứ xoay trước xoay
sau trước mặt bà để bà khen. Bà già rồi, nhưng bà muốn nhìn thấy ngày xưa từ
dáng tròn mây mẩy hồn nhiên như lá của cháu gái. Vì vậy mỗi khi mặc yên mới, áo
mới chị Xuân lại làm bà rơm rớm nước mắt. Nước mắt bà lăn từ những nếp nhăn xếp
đều đặn trên mặt. Em thấy thương bà.
Chị Xuân không muốn ở mãi một xó rừng.
Chị nói với em điều đó khi chị em cặm cụi lên rẫy buổi sớm.
Con đường mòn gập ghềnh và dốc. Mùa khô gió bốc từng nắm bụi ném vào mặt người.
Mặt em lấm lem, mặt chị cũng thế.
Chị ném những quả bắp to bằng bắp chân trẻ con của em vào
bao, bực dọc. Trưa chị không ăn cơm, em ngồi một mình với nắm cơm gạo trắng.
Cơm ăn với muối vừng. Chị ngồi mãi ở gốc cây muồng, mông lung nhìn về cuối chân
trời. Chung quanh chị hoa vàng rụng kín. Em thấy chị lau nước mắt vào chiếc yên
cũ kỹ và sờn hết gấu.
Em thấy anh Plin nhìn chị. Ánh mắt anh sáng lấp lánh như vòng
đồng bắt gặp ánh nắng buổi sớm. Anh nhổ củ mì cho em bằng đôi tay rắn như gỗ rừng,
củ mì gãy đôi, sữa trắng lấm lem đất.
Anh nhặt cây khô nướng củ mì cho em ngay bên bìa rẫy. Em bẻ một
nửa cho chị, nhưng chị không ăn. Chị bảo không thích ăn củ mì, chị thích ăn xôi
nếp với thịt gà chấm muối ớt xanh. Câu nói của chị làm mắt anh hơi tối lại.
Ngày hôm sau anh mang đến rẫy một con gà rừng. Gà bọc trong đất sét, trắng nõn
khi anh lôi ra từ đống than hừng hực. Chị nhấm nhấm chiếc đùi gà rồi bỏ xuống,
xách gùi đi bẻ đọt mây. Chị bảo chị không thích nữa. Em thương anh Plin. Nhìn
theo dáng khập khiễng của anh, em thấy chạnh lòng.
Chỉ có em mới biết chị muốn gì.
Chị không nói chuyện với mẹ. Chỉ thì thầm hát với em.
Những hôm trời mưa, em nằm gọn trong lòng chị. Tay vân vê những
sợi tóc dài mượt đen bóng vì gội bằng bồ kết rừng. Em nghe chị hát. Giọng chị
trong trong và ngọt như nước đầu nguồn tuồn trong ống lồ ô. Chị hay mân mê yên
mới trong tay. Em thấy chị dệt túi mới, may áo mới. Mặt chị ngời ngời sáng.
Chị muốn lên phố. Bạn chị lên phố ba năm, quay trở về làng bằng
đôi dép cao nghều nghệu, gót nhọn hoắt, chênh vênh như người ta chơi trò cà
kheo. Áo xanh lông két, váy mềm lòe xòe bay bay khi bạn chị leo lên cầu thang.
Em nép sau cửa buồng nhìn chị gói quần áo vào túi xách. Hớn hở.
Khi chị xách túi bước xuống cầu thang thì quay lại nhìn em, ngùi ngùi. Chị thơm
em thật lâu ở má trái, má phải. Nước mắt chị thấm ướt má em. Vậy mà chị vẫn đi.
Chị giúi vào tay em tờ giấy nghệch ngoạc. Em nhỏ quá chẳng biết
chị viết gì. Chỉ thấy mí trở về ngã xuống sàn nhà. Từ hôm ấy câm lặng cho đến
khi em lớn.
Mí giận em. Nếu chị với em đều là núm ruột của mí có lẽ lại
khác. Chị Xuân là con gái mẹ lớn. Mẹ lớn về với ông bà ngay sau khi sinh chị
Xuân được hai giờ đồng hồ. Không có người chăm sóc trẻ con, không có người dỗ
nó khóc lúc nửa đêm gần sáng, không có người bón nước cháo lúc nó đói. Cha nối
dây với mí của em. Rồi cha mất, chị Xuân ở với mí. Mí không xem chị Xuân là con
chồng. Nhưng người làng mấy ai hiểu hết lòng mí.
Em lớn và biết mặc váy áo một mình. Em tự dệt váy cho mình. Mền
cũng tự em dệt cho mình. Bà không còn ngồi bên khung cửi nữa. Chân bà run và yếu,
bà không đủ sức duỗi chân để dệt áo cho bà nữa. Mí đi rẫy suốt và trở về đến
nhà vào lúc chiều tối, khi ánh nắng là những vệt mờ xa tít ở chân trời. Mí chẳng
bao giờ nói chuyện với em, cũng chẳng nói chuyện với bà. Mí nhìn em bằng cái
nhìn sẫm buồn.
Em chẳng có bạn cùng lứa. Bạn em là những đứa trẻ con, tóc
vàng hoe và cháy khét. Chẳng đứa nào mang dép. Chúng có những chiếc quần đùi mỏng
thếch, áo thun nhàu nhàu mùi đất.
Chiều nào em cũng tắm gội cho chúng. Em lôi từng đứa xuống suối,
vò đầu vò tóc và kỳ cọ. Chúng bám lấy vai em, hò hét om tỏi. Tắm xong chúng
trèo lên trên bờ, lúp xúp trên những tảng đá và hát. Chúng chờ em giặt quần áo
cho bà.
Ừ
Em nhìn thấy Plin một mình.
Plin ngồi trên tảng đá với con chó nhỏ. Con chó có lông vàng
và gầy tong teo. Anh thổi sáo bằng hai tay, bằng cả đôi mắt nhắm nghiền, một
chân vung vẩy và mái tóc xoăn xoăn mềm.
Em đứng chôn chân nhìn. Cách Plin khoảng hai chục bước chân.
Bỗng thấy trong lòng mình một cảm giác rất lạ lùng.
Tiếng sáo kéo em lên lưng chừng không gian. Từ trên đó nhìn
xuống dưới mọi thứ thật nhỏ bé và thơm. Mùi cỏ, mùi bùn, mùi hoa lan nép mình dịu
dàng trên những thân cây.
Khi em mở mắt thì Plin đang nhìn em. Ánh mắt anh buồn và mệt
mỏi. Từ ngày chị đi, anh cứ ngồi mãi chỗ này mỗi buổi chiều. Anh đợi chị quay về
bằng cây sáo sáu lỗ với những âm thanh da diết. Chân anh lấm đất, đầu anh khét
mùi nắng nhưng hai tay anh lúc nào cũng ôm cây sáo.
Em mỉm cười rồi quay lưng đi, suýt vấp vào con chó vàng gầy
tong teo đang quấn dưới chân.Ừ.
Bà đã ngủ một giấc trưa. Và không tỉnh dậy nữa.
Mí khóc vật vờ và dai dẳng. Người ta lôi cái trống lớn nhất,
đánh bên phía bịt da con trâu đực. Sầm sầm và buồn. Trống báo tin làng có người
mất. Chỉ chốc lát nhà em đã đông nghịt là người, đàn bà trong làng vừa leo lên
cầu thang đã khóc, khóc từ cầu thang lết dần vào nhà. Những tiếng khóc buồn miết
vào không gian não nùng.
Em ngồi ở bậc cửa sau, luôn phải nép người sang một bên cho
người phụ nữ lo cơm nước đi lên đi xuống. Em không khóc, em mân mê chiếc yên mới
tự tay em dệt mà bà chưa kịp mặc lần nào.
Người ta đưa bà đến nghĩa địa. Ðến ở chung với những người đã
chết. Người đi đưa đông. Nhưng không có chị. Chị không biết tin nên không về.
Không ai biết chị ở đâu để báo tin. Em vùi xuống đất một chiếc ché mới, nắm ba
nắm cơm gạo nếp đặt vào đó. Em khóc khi mọi người về hết. Em ngồi một mình cho
đến khi không còn nhìn thấy mặt người. Plin đến đưa em về, ngọn đuốc của anh chập
chờn ma quái đã mang em khỏi nghĩa địa của bà.
Bà trở về nhà đêm ấy.
Bà đi vào từ nhà trước và ngồi xuống bếp lửa. Bà bảo sao
không vùi khoai vào bếp cho nhà có mùi thơm. Không khí trong nhà chết chóc quá.
Bà mặc chiếc áo mới, yên mới. Cổ tay đeo đầy vòng đồng. Gót chân bà nứt nẻ và
thâm sì. Bà bảo đau chân, đau cả lồng ngực nữa. Bà không thấy cháu gái về nên
không đi đâu được. Bà nhớ cháu gái của bà, cháu xinh và người tròn đầy mây mẩy.
Em tỉnh dậy khi mồi hôi ướt đẫm. Bà không có ở đây, chỉ có mí
ngồi thờ thẫn bên bếp. Dáng mí còng và tội nghiệp. Gian nhà nhỏ xíu thơm thơm
mùi khoai lang nướng. Có lẽ mí cũng nghe lời bà. Bà chẳng bao giờ ăn khoai nướng
nhưng thích mùi thơm của nó. Em sờ lên má mình, thấy má ướt. Em đã khóc khi
đang vùi trong giấc ngủ chập chờn.
***
Em không ngủ được vì tiếng giã gạo của mí mỗi đêm. Em nghe cả
tiếng hát ư ử buồn buồn phía dưới sàn nhà. Nhà thênh thang và buồn. Em đi tìm
Plin.
Ừ.
Em nói với Plin rằng muốn đi tìm chị.
Plin nhìn vào mắt em. Không nói. Nhưng em biết Plin đang hỏi
em có biết chị ở đâu không mà đi tìm. Em khóc, nước mắt làm khuôn mặt em mờ đi
và nóng hổi. “Em không biết, nhưng em phải đi tìm chị về”.
Em chạy vào nhà. Em bỏ quần áo vào túi xách. Mí nhìn thấy
không hỏi gì. Em đứng tần ngần trước mí, chào nghèn nghẹn. Mí không hỏi em đi
đâu, vì sao lại đi. Em chạy xuống cầu thang, vừa chạy vừa khóc. Em hay khóc thế
có khi nào em không còn thấy đường trước mặt nữa không.
Em đi một mình trên phố. Em mặc áo vải hoa và quần tây. Em nhớ
mùi hồ của yên, cái cấn cấn của tay áo em tự dệt. Nhưng em phải mặc quần áo người
Kinh để đi tìm chị cho dễ. Em xuống chợ. Mỗi sáng gùi một gùi măng lấy lại của
người cùng làng. Em mong gặp chị vì em chẳng biết chị ở đâu.
Chợ đông và ồn ã. Em không biết rao. Ai dừng lại ở hàng em,
em cười và dịu dàng mời mọc. Tiếng em nhỏ. Em hay nhìn sâu vào mắt những người
phụ nữ ngồi trên xe, bịt mặt kín mít.
Họ mua hàng và luôn miệng kêu đắt. Có khi nào trong số đó có
chị của em. Em bị xe đô thị hốt hai lần, cả hai lần em đều níu gùi lại cật lực
và khóc. Họ sửng sốt nhìn em. Họ không biết em chẳng tiếc gì những cành măng
trong gùi. Em chỉ sợ không gặp được chị khi vắng một buổi chợ.
Nhưng em không gặp chị. Chị không đi chợ và không mua hàng của
em.
Em không gặp chị. Có lẽ chị của em đã đi mất rồi.
Em đứng một mình giữa trời nắng. Khóc và thấy trống rỗng.
Em phải về làng. Mí chắc không vui. Nhưng em chẳng biết làm
sao.
***
Em vào sâu trong chợ. Em muốn mua cho mí một cái gì đó. Em
cũng sẽ mua cho Plin một cái mũ. Plin vẫn để đầu trần. Tóc xoăn và cháy nắng.
Nhìn Plin hoang dã. Em thương cái hoang dã ấy của Plin.
Em nhìn mọi thứ bằng con mắt lạ. Rụt rè và không dám dừng lại
ở bất cứ hàng nào. Mọi người nhìn em cũng bằng con mắt lạ. Nhưng họ quên ngay
em sau đó và đổ xô đến cuối chợ xem một đám cãi nhau. Tiếng gào thét ầm ĩ. Hình
như hai người đàn bà đang túm tóc nhau. Họ hét vào tai nhau những tiếng tục tĩu
lanh lảnh. Em nghe như tiếng hét của chị.
Ðó là chị của em.
Chị dừng cuộc vật nhau bằng bộ dạng tơi tả. Tóc chị rối tung.
Quần áo có nhiều vết toạc. Em nép vào tường. Mép tường nham nhở. Em nhìn chị từ
xa xa sau những vết nham nhở ấy. Chị của em. Có lẽ không. Chị em mặc yên mới,
áo mới chứ không nhàu nhĩ như thế kia. Tóc chị em không xù và vàng rực như thế
kia. Chị em không bao giờ nói với ai nặng lời, nhăn mày với ai quá một ngày.
Em rời mép tường nham nhở. Rón rén đến gần đám đông bằng bước
chân run run. Em sẽ ôm chị và khóc tức tưởi nhé. Em sẽ bảo chị về nhà. Mí không
mắng chị vì chị bỏ nhà đi lâu đến thế. Em sẽ nói với chị rằng Plin đang đợi chị.
Mà có khi không phải chị đâu. Em muốn thế. Em run run nghĩ thế.
Lô nhô người. Họ xúm quanh người ngồi bệt dưới đất một cách
hiếu kỳ. Nhìn quay vai của những người đang xúm đông ấy, em thấy vết sẹo dài và
nhỏ như sợi chỉ vắt ngang trên thái dương bên trái. Dấu vết của lần cành cây
rơi xuống khi chị và em đi rẫy về gặp giông.
Chị nhìn em.
Chị có thấy không mà mắt thảng thốt thế kia.
Chị có nhận ra em không mà xoay người phủi đất cát dưới mông
mà quay lưng đi thẳng một mạch thế kia.
Chị quên mặt em hay chị không muốn em thấy chị như thế này.
***
Ðám đông tan ngay sau đó. Chỉ có em đứng thẫn thờ giữa lối
đi. Có người đi ngang mắng em sao đứng nghênh ngang giữa đường. Chị không xuất
hiện để bênh em.
Có lẽ chị đi thật rồi.
Ừ
Em trở về làng vào một buổi sáng.
Em đã đi bộ suốt đêm trên con đường nhấp nhô đá. Hai bàn chân
em tê buốt. Nhưng không buốt bằng khi em nhớ về chị. Má em nóng rát vì nước mắt.
Mí ôm chầm lấy em. Mí sờ soạng khắp người em như kiểm chứng rằng
em có phải bằng xương bằng thịt hay không. Ðứng thật gần mí, em mới phát hiện
ra mí già đi nhiều quá. Khóe mắt không đếm nổi có bao nhiêu vết chân chim.
Mí không hỏi em có tìm thấy chị hay không? Em cũng không nói
rằng em đã gặp chị và không nói được rằng chị nhất quyết không trở về làng. Chị
không muốn sống cuộc sống của mí, của em. Chị muốn là người thành phố. Chị bảo
có thể sống khốn khó nhục nhã ở đây cũng được. Chị quen rồi.
Em nhìn thấy Plin trên đường ra suối. Plin ôm chầm lấy em,
cái ôm của Plin chặt và nóng ấm. Em gục vào ngực Plin và khóc tức tưởi. Nước mắt
em thấm ướt một vạt áo. Plin thầm thì “Em ơi đừng khóc. Em đừng đi tìm chị Xuân
nữa. Chị Xuân trở thành người dưng của làng mất rồi. Chị Xuân không trở về nữa
đâu”.
“Chị đi mãi vì làng mình nghèo phải không Plin”.
“Anh không biết. Nhưng làng hết nghèo thì chị Xuân cũng không
trở về nữa đâu em à”.
Em im lặng. Chị không về Plin có đau lòng không. Plin yêu chị.
Em im lặng. Chị không về mí có đau lòng không. Vì mí luôn thấy
có lỗi khi chị rời bỏ làng.
Nhưng chị không về, trái tim em nhói buốt. Mí tưởng rằng em
không tìm được chị. Mí vẫn đợi cửa chị mỗi khi đi ngủ. Mí chờ chị rời phố phường
và về bên kia núi. Em thương mí. Và em thương em.
NIÊ THANH MAI
27/6/2020
Nguyễn Lê Vân Khánh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Nước mắt hình ngọn lửa
Nước mắt hình ngọn lửa
Chị nhìn người đàn bà ôm búp bê ầu ơ ru con, thở dài đưa cây
kem dâu, nè ăn chơi. Cô rạng rỡ cầm, bẻ một miếng đút cho con búp bê vải cũ mềm
mặt đã rách lòi mớ bông xơ.
Kem tan ra, thấm vào vải, cô hồ hởi nghĩ nó đang ăn thật sự.
Ngồi bệt xuống kế bên, chị ăn cây kem đậu xanh của mình.
Nghe đâu người đàn bà này điên vì mất con, tội nghiệp. Mà thật
ra ở đây ai cũng tội nghiệp. Ai cũng có nỗi khổ, có lý do để chọn trốn tránh bằng
cách điên. Điên là kiểu lãng quên đau đớn của những người chọn cách chối bỏ thực
tại mà họ cảm thấy giữa họ và nó không còn hiện hữu sợi dây liên hệ nào. Họ gặp
nhau ở đây, nhà thương điên, bằng cách này hay cách khác.
Nhà văn trẻ Phát Dương
Người ta thường nói người điên đáng sợ. Chị thấy điều đó bình
thường. Ai điên lên thì cũng có lúc đáng sợ, và ai mà không từng điên một vài lần
trong đời. Chị chỉ thấy thương họ, như thương chính mình. Chị cũng vừa lội khỏi
vũng điên của mình, rũ nước chờ lòng khô tỉnh lại. Khi thấy đã khỏe, chị xin
làm việc công ích cho bệnh viện. Chị muốn làm điều gì đó cho nơi này, trước khi
rời đi. Như làm bạn với những người ngủ trong cơn mê mệt mỏi mà chị đã từng ngủ.
Người đàn bà cắn miếng kem, bật khóc u u. Nước mắt đổ ra ràn
rụa, chảy xuống đôi môi nứt nẻ đang trào kem hồng sánh. Tôi nhớ hiệp sĩ mùa
đông của tôi. Chị nhặt trong nhiều lời đứt quãng của cô ráp thành một câu trọn
vẹn như vậy. Cũng lạ, chị không hiểu sao mình lại hiểu được cô, như hiểu những
người ở đây, bằng khả năng cắt nghĩa thứ ngôn ngữ không rõ lời.
Người đàn bà nói hiệp sĩ mùa đông của bà đẹp trai lắm. Hiệp
sĩ đi bỏ nước đá cho mấy quán cà phê. Cô lúc đó là nhân viên quán Ba Chuồn, một
trong những chỗ hiệp sĩ giao nước đá. Nhưng là chỗ ghé lại lâu nhất.
Chị lắng nghe, cắn một miếng kem đậu xanh bùi bùi. Thứ kem
quê mùa này ít người chuộng, dù buồn cười là nó thật sự làm bằng đậu xanh chứ
không phải hương liệu pha loãng như dâu như sô-cô-la như sầu riêng… Cái lạnh ngọt
ngào thấm vô kẽ răng, hợp với câu chuyện quá. Chị nhắm mắt, tưởng tượng thành
phim cho dễ hình dung. Người đàn bà vẫn ư ư kể, tay không ngừng vuốt tóc con
búp bê vải đầy trìu mến.
***
Anh giao nước đá tướng người cao lớn, mặt vuông, vai rộng, da
ngăm rắn rỏi. Anh tròng bên ngoài áo cái bao ni-lông cứng trong suốt cắt hai
bên đáy để xỏ tay, ngăn không cho hơi lạnh thấm vô người. Tay đeo găng, chân
mang ủng, hông buộc dây cố định bao ni-lông. Anh đi làm mà như đi chơi, mặt lúc
nào cũng thư thả nhìn về phía trước, ngực ưỡn vai mở, oai như đang đi lập chiến
công. Bởi vậy mà Đỗ Miên (tên đi bán cà phê của người đàn bà đang kể chuyện,
còn tên thật bà làm rớt mất rồi) tưởng tượng ra anh thành hiệp sĩ.
Anh trút bao nước đá vô thùng, chưa vội đậy nắp mà nán lại
làm bộ ngó ra hồ cá coi mấy con cá sáng sớm giành mồi. Mộng Cát (bạn Đỗ Miên)
đưa cùi chỏ thúc hông Miên chọc, hiệp sĩ mùa đông của mày tới kìa. Anh ngẩng
lên hỏi, ủa hiệp sĩ gì cô Cát. Miên xấu hổ không dám nhìn anh, cầm cái mâm nhựa
để bưng cà phê che ngang chân mày cũng không giấu nổi màu đỏ đang lan dần. Cát
cười cười giải thích, mặc kệ Miên lắc đầu ra hiệu đừng đừng, thì nó nói nhờ anh
giao nước đá, quán mới có đá bào bán cho tụi nhỏ. Nên nó nói anh y chang hiệp
sĩ đem mùa đông mát lạnh tới, coi khùng không.
Anh gãi đầu, cười hiền. Miên cười ngại ngùng. Cát cười hớn hở.
Bà chủ quán Ba Chuồn tằng hắng, rồi thùng đá hổng đóng tan hết lấy gì bán ta.
Anh hết hồn, đậy lại lẹ lẹ. Bà liếc qua hai cô nhân viên, bàn ghế chưa dọn đứng
đây dẹo trai tao trừ lương à. Ba người lập tức giải tán, việc ai nấy về làm.
***
Anh hiệp sĩ ngồi bứt trụi hết đám rau dền mọc dại, vẫn chưa sắp
xếp được câu trả lời hợp ý người thương. Đỗ Miên hỏi có năm chữ, mà đầu anh ngổn
ngang suy nghĩ. Chừng nào anh cưới em?
Miên vẫn nhìn chờ đợi. Cô không bứt lá, không đá sỏi, không
làm gì cả. Như ngừng luôn thở. Chỉ chờ đợi. Giương đôi mắt đỏ hoe chờ đợi. Như
đó là lẽ tồn tại duy nhất của cô, câu trả lời từ người thương.
Minh họa: Hoàng Đặng
Cuối cùng anh chỉ bật được tiếng thở dài. Miên nghe đầu mình
đau rần khi thất vọng đập vào. Cô đã từ chối đám dạm hỏi thứ ba, má cô chịu
không nổi đòi tự tử ép cô cưới lẹ. Anh biết quá rõ nhưng anh có gì trong tay để
cưới cô bây giờ. Anh giao nước đá, cô bán cà phê, sống qua ngày cầm cự lấy đâu
ra tiền cưới. Rồi lỡ có con? Nợ mỗi nhà còn treo trên đầu, đến hạn chủ nợ thiếu
điều muốn tới siết cổ.
Miên đứng dậy, phủi đít quần, quăng lại một câu trước khi tê
dại bước về. Em cho anh một năm.
***
Đủ một năm, Đỗ Miên từ Bình Dương về. Lương công nhân tằn tiện
nhẹ được mấy phần nợ. Anh ngồi đợi cô chỗ cũ, với câu nói lồng lộn cắn đau
trong miệng sẵn. Cô vừa ngồi xuống, anh đã nói. Rất nhanh nhưng không phải câu
mà Miên chờ đợi.
Miên tưởng mình đã bị chặt đôi, nửa thân trên lăn lông lốc bằng
câu nói đó. Tháng sau anh cưới Mộng Cát. Không có câu nói nào thể hiện được sự
bùng nổ trong người cô. Sức nén không chịu nổi bung ra, nổ thành tiếng nấc. Và
nước mắt rớt. Cố gắng chờ đợi để nhận bẽ bàng, ông trời có thấu không.
Anh cũng khóc. Không giải thích không phân trần. Chỉ khóc. Lần
đầu tiên Miên thấy hiệp sĩ của mình yếu đuối. Cô tưởng như đây không phải anh,
hay là ai đang đóng giả anh? Phải rồi, một trò đùa ác ý. Ai đó mặc lớp da y hệt
anh để gạt cô. Cô cầm cục đá lên, vung tay đập bể lớp vỏ giả tạo. Nhưng chỉ có
máu trào ra. Anh vẫn khóc, không phản kháng gì. Cô vừa khóc vừa đập, đập cả vào
chính mình.
Cơn tức tưởi dần nuốt chửng lấy Miên, cô buông đá sụp xuống.
Cô nhìn máu. Máu của anh hòa máu của cô. Cô vươn tới, tìm mặt anh. Đặt môi lên
môi cho hai dòng nước mắt hòa một. Giữa đêm tối, hai bóng người cũng trộn vào
nhau.
***
Miên đốt lửa đi tìm con. Đứa con chưa có hình dạng, nhưng cô
biết nó ở đây. Ở ngôi nhà mới xây của anh và Mộng Cát.
Đã quá rõ sự thật, Cát tìm người lắp vào vị trí cha cho cái bầu
không chủ. Đã hơn một lần cô thấy Cát ghi vội số điện thoại vào hóa đơn cho những
ông khách đi xe hơi ghé quán. Anh hợp tuổi hợp mạng, vừa hợp mẹ anh cần tiền trả
nợ. Màn kịch chưa bao giờ cũ, một trận say khướt sáng ra hai người không quần
áo nằm chung, đàn ông thì phải chịu trách nhiệm. Nhất là đàn ông tốt.
Miên đã chịu lùi bước. Cô có muốn giành giật gì nữa đâu. Cô
chỉ muốn thứ thuộc về mình. Thứ của cô chỉ của cô. Thì có đứa con trong bụng,
cô sẽ ở với nó suốt đời này. Mà sao người ta tàn nhẫn cũng cướp đi. Cát gửi qua
chai thuốc bổ, lấy danh anh. Thứ thuốc tẩm bùa, vừa để đứt duyên còn lại của hai
người vốn đã không thể gần. Vừa để bắt hồn đứa nhỏ về làm vật trấn cho nhà ăn
nên làm ra, con ruột thì thương ba nó. Tất cả, chỉ từ lời của ông thầy bói.
Miên hềnh hệch tưới xăng trong đêm. Anh? Cát? Đứa con? Ai
đang ở đây ai đang ở đâu. Ai thương ai vì ai làm ai đau. Cô cười khùng khục,
nhìn ngọn lửa trên tay mình. Nhìn từng hy vọng đang tí tách cháy lép bép, đỏ rực.
Ngọn lửa nặng quá, và nóng. Tay cố giữ càng ngày càng mỏi. Thì buông. Nước mắt
hình ngọn lửa rơi xuống.
Thùng đá đặt ngoài nhà bén lửa. Mút xốp cháy ngọt, đá bên
trong chảy ra. Như chính Miên đang tan chảy. Họ định mở quán cà phê tại nhà,
anh thôi đi giao nước đá. Hiệp sĩ của cô không mang mùa đông tới nữa. Hiệp sĩ
không chiến công, hiệp sĩ ngoan ngoãn làm chồng.
Ngôi nhà đứng im giữa những bông lửa thi nhau nở. Miên phá ra
cười, bất chấp đánh thức bầy chó thi nhau sủa rân. Bất chấp ai thức dậy. Bất chấp
ngọn lửa có thể bùng lên, lan ra, ôm cả cô vào lòng nó.
***
Khi tỉnh dậy, người đàn bà được đưa vô đây. Không biết ngọn lửa
có được dập tắt không, không biết có ai bị đốt chết không. Không biết sau đó họ
ra sao, nếu họ còn sống. Anh có đau buồn. Cát có hả hê. Đỗ Miên quăng cả cái
tên, màng gì đâu nữa. Cô cũng chẳng muốn nhớ bất cứ gì, chỉ nhớ mình được ẵm
con vào lòng. Ai đó đã cho cô con búp bê. Cô chỉ cần ở bên con ầu ơ cả ngày là
đủ. Tỉnh hay điên cũng được. Ngoài đời thiếu gì kẻ điên cho là mình tỉnh.
Chị nhìn người đàn bà mút hoài cây kem đã rớt hết chỉ còn que
gỗ, thở dài. Cây kem trong tay chị cũng sắp tan hết. Câu chuyện buồn quá. Những
câu chuyện như vầy, người ta muốn quên cũng phải. Tốt nhất là xé nó ra, thả xuống
xoáy nước, cho cuốn trôi đi. Hoặc được xóa trắng thì quá tốt.
Người đàn bà la, bướm kìa, chỉ tay về phía gầm ghế đá. Con bướm
vàng nhỏ xíu, chấp chới, bay tới lui trong khoảng râm. Không, nó không phải bướm.
Chị căng mắt nhìn kỹ. Nó chỉ là một cái lá me bị mắc vào sợi tơ nhện căng giữa
hai chân ghế, gió xô đẩy không ngừng. Chiếc lá me vàng như đang bay, hóa ra mắc
kẹt.
“Uống thuốc chưa mà ra ngồi đây mình ên đó? Ai cho kem ngon vậy
ta?”. Tiếng nói làm chị giật mình. Người đàn ông mặc áo trắng cúi xuống nhìn chị,
có vẻ quan tâm.
Chị nhìn ông ta. Nhìn lại mình. Con búp bê mặt lem luốc kem
giương mắt nhìn chị. Người đàn bà kia đâu rồi, sao lại đặt con búp bê trong
lòng chị.
Cây kem trên tay chị tan ra, chảy xuống đất nhoe nhoét. Cây
kem màu hồng. Chị ngơ ngác ngó quanh, tìm người đàn bà có cái tên bán cà phê Đỗ
Miên. Tự nhiên con búp bê cất tiếng oe oe. Chị ôm nó áp vào ngực, bật khóc ngon
lành.
PHÁT DƯƠNG
27/6/2020
Nguyễn Lê Vân Khánh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Ăn nửa trái sim
Ăn nửa trái sim
1. Nội nói với Lãng, người ta thường không thể giữ những
điều tốt đẹp nhất ở cạnh bên mình. Mãi sau này, khi đi qua những thăng trầm của
đường đời, cái người ta giữ được chẳng qua chỉ là vừa vặn với chính mình mà
thôi.
Năm đó Lãng mười sáu. Cơn mưa cuối hạ vắt ngang triền đồi. Gió
hắt những cơn buốt nhói lòng. Dương tử trổ đòng ngợp trời. Vậy mà An vẫn đi.
An bỏ cao nguyên đất đỏ nghèo nàn này mà xuôi đời mình về phố
thị. An ngán lắm cái cảnh mỗi buổi tối ngồi lê ngay chợ đêm mà nhìn thiên hạ dập
dìu qua lại. Chàng trai sành điệu nhón tay mua cái móc khóa đan hình trái dâu tặng
cô bạn gái xinh đẹp như một món quà kỷ niệm cho tình yêu của họ. An thèm thuồng
khi nhìn những cô gái chớm xuân thì xênh xang áo quần hợp mốt, tay đỏ màu sơn,
môi cong chúm chím, nước hoa sực nức.
Nhà văn trẻ Tống Phước Bảo
Miền cao nguyên này chẳng có gì ngoài nắng ngoài gió, ngoài
cái lạnh tê tái, ngoài những đêm mệt nhoài theo dòng người du lịch nhận về trăm
ngàn tiền hàng, nhưng là cả đống khát khao ước vọng của tuổi trẻ. An phải đi
thôi Lãng. Đời cho mình bao lần cơ hội đâu Lãng. An nói với bố mẹ rồi. Nhất quyết
phải đi. Nhất quyết phải hết nghèo. Bố mẹ mình nghèo quá rồi, giờ mà mình nghèo
theo thì là lỗi của mình đó Lãng.
An lên chiếc ô tô của người bác họ, vẫy tay chào Lãng. Nhẹ
bâng. Lãng đạp xe quanh vòng bờ hồ như thằng dại. Trĩu trịt. Gốc thông quen, một
mình Lãng ngồi nghe tiếng chuông từ nhà thờ Con Gà đổ từng hồi. Thành phố buồn
tê lòng.
2. Thời dịch, thành phố du lịch vắng ngắt. Trời Đà Lạt bỗng
xanh lành như hồi nội còn đôi mươi, thường địu gùi men theo những con dốc gồ ghề
xuống chợ. Nội hay nhắc về những năm tháng hoang sơ khi đất còn chưa thuần hóa,
khi nước còn trong vắt từ những con suối xa, khi hoa lá cứ si dại mà mọc ven đường,
khi thông vẫn xào xạc hát bài hương ca vô tận. Khi ấy, nội chỉ là cô bé tộc ngẩn
ngơ hái trái sim rừng mỗi mùa trái tím lịm chân mây. Thoảng khi giữa buổi chè sớm
với thằng cháu, nội ngân nga hát: “Đói lòng ăn nửa trái sim, uống lưng bát nước
đi tìm người thương”. Lãng nghe hoài thành ra cũng thuộc. Trái sim ăn hoài
thành ra cũng ngán. Nội không ăn sim từ ngày ông mất. Lãng không ghé đồi sim từ
ngày An đi. Một già một trẻ, vẫn cứ bên ấm chè sớm mà mỗi người the thắt mấy
chuyện riêng mang. Nội nhìn về phía đồi chè sau nhà. Lãng nhìn ra đồi Dương tử
trước sân. Ấm chè nhiều khi nguội ngắt mà chẳng ai hay.
Nội lại pha ấm chè, trời còn chưa hửng nắng phía đằng đông. Nội
bảo dạo này sao cứ khó ngủ, mới hai ba giờ sáng mắt đã trơ trơ. Nằm miết thành
đầu óc mụ mị. Thì thôi vận động cái thân thể già nua cho giãn gân giãn cốt. Nhờ
vậy mà nội hái được loại chè quý “quý nương”, mà phải là “quý nương một tôm hai
lá” uống cho đã cơn thèm. Chè “quý nương” là loại chè phải hái khi lá còn đọng
sương hôm, khi mặt trời còn chưa chiếu những tia nắng buổi bình minh. Nếu chỉ
hái loại đúng một búp dính chùm hai lá, ấy là của quý trong cả đồi chè. Lắm khi
quãng đồi thênh thênh vậy chỉ có khoảng độ mấy chục đọt “một tôm hai lá”. Nội
nói hễ để mặt trời mọc rồi, thì loại chè mình hái, phải gọi là chè “bà lão”. Độ
chát và độ thanh cũng như hương thơm bốc lên không sao sánh bằng chè “quý
nương”.
Lãng gật gù ra điều biết thế, chứ kỳ thực, thằng cháu nhấp ngụm
trà nào cũng thấy thanh, cũng thấy chát, có bao giờ thấy ngọt chi đâu. Có lần
Lãng nói vậy với nội. Nội cười rồi cầm ấm trà rót vào ly tống, từ ly tống nội lại
chia đều ra hai ly quân. Lần đó nội nhìn Lãng, rồi nhìn phía đồi Dương tử đang
bung cánh trắng rực rỡ trong nắng sớm. Nếu dễ dàng cảm nhận ly chè ngon, thì
người ta đâu có nhọc lòng mà thưởng chè. Cầm ly chè, đảo quanh, hương thơm mát
rượi nơi cánh mũi. Nhấp một hớp, vị chát quấn lấy đầu lưỡi. Nhưng khi mình uống
nó vào, tận sâu trong cuống họng, mới nghe vị ngọt thấm dần một cách thanh thản.
Uống có ly chè, nội kỳ công chi dữ. Mình ngồi đây tốn năm ba
phút cho ly chè, ngoài kia người ta đi năm ba chục bước. Mình còn phải làm vườn,
bông cắt bán, chè hái bán. Cuộc sống này đều quy ra thành tiền để sống đó nội.
Nội không biết, đất giờ rục rịch thành vàng. Bữa con ra chợ người ta nói, đất
chợ vào quy hoạch, sẽ xây trung tâm thương mại. Tỉnh đòi thành phố phải phát
triển du lịch. Một căn nhà ngoài ấy, bán ra giờ năm bảy tỉ. Đất trong mình nghe
nói sốt vô cùng. Theo giá tụi cò đất tính, một miếng vườn chỉ trăm mét vuông
thì đâu chừng hai ba trăm triệu đó nội. Dân thành phố bắt đầu chạy kiếm mấy khu
đất trồng trọt xa trung tâm để mua đầu cơ, chờ quy hoạch trúng là họ ôm tiền chạy
về đây.
Nội lại cười cái khì, đất là để sống, nhưng người ta ai rồi
cũng chết vì nó. Cuối cùng cũng chỉ là nằm trọn trong lòng đất mà thôi. Chỉ những
người đi qua thác ghềnh gieo neo của cuộc đời này, khi mang nhiều đớn đau hằn
sâu thành vết sẹo trong tâm hồn mình, thì mới thưởng thức được cái vị ngọt của
lá chè.
Lãng hai mươi sáu vẫn chưa gọi là già. Nội đã tuổi bảy mươi
nhưng chẳng chịu già.
3. Xưa, nội có mối tình cùng anh giải phóng quân đóng bên ven
đồi sim tím. Mối tình của thời chiến. Mối tình cô gái tộc và anh miền xuôi.
Nhưng rồi chiến tranh phân ly. Anh giải phóng một lần nhổ trại hành quân. Biền
biệt chẳng còn tăm tích. Nội đợi, đợi chừng hai tháng thì nghe bụng mình khang
khác. Vậy là có tội với Giàng. Làng đem nhốt nội vào một căn nhà hoang trên ngọn
đồi cao. Vạt cỏ mỗi ngày nội ngồi ngóng về phía làng mòn dẹt theo thời gian.
Rồi nội hạ sinh thằng con trai. Một đêm rừng hoang u tịch. Nội
đặt cho bố cái tên Sim. Thằng Sim của nội năm 14 tuổi cũng bị Giàng bắt đi
trong một lần ra chợ bán măng rừng. Địch quần rát ổ. Tên bay đạn lạc. Thằng Sim
nằm ngay góc chợ, trước cái cửa ổ trốn, thân mình bao phủ một anh giải phóng
quân. Người dưới chợ nói với nội, thằng Sim cố cứu một anh lính bị thương.
Nhưng không may cả hai đều trúng đạn.
Nội quay về ngọn đồi cao. Vạt cỏ ngồi ngóng làng nay lại ngồi
ngóng con mỗi buổi chiều hôm. Từng nhát cuốc khai hoang như thêm trĩu trịt.
Quãng đường gùi hàng về chợ, không còn để mua bán, mà là để đưa tin.
Chiến tranh tàn, nội vẫn giữ đồi, phát đất làm nương rẫy trồng
chè, trồng ngô. Người ta chỉ thấy cô gái tộc tuần hoặc mươi ngày đổi lấy ít đồ
đạc rồi lủi thủi gùi hàng leo lên những con dốc, những ngọn đồi thoai thoải.
Dân di cư bắt đầu tràn về. Ngọn đồi thêm nhiều nóc nhà cất lên, hình thành cái
xóm chè đồi Côi. Chẳng biết ai đặt cái tên nghe bi xót. Nhưng cứ lâu rồi thành
quen.
Năm bà quá lứa bốn mươi, một chị trên hội phụ nữ huyện ngỏ ý
nhờ bà nhận nuôi đứa trẻ vừa bị mẹ bỏ rơi trên bệnh viện. Người con gái trẻ
không dám đem theo cái tàn tích của một lần lầm lỡ, bỏ con trốn mất tiêu. Nội gật
đầu cái rụp. Có đứa hủ hỉ, một sinh linh được cứu rỗi. Tiện đôi bề. Vậy là nội
lên bệnh viện huyện làm thủ tục, rồi tận tay ẵm thằng nhỏ về. Nội đặt tên cho
thằng con hoang là Lãng. Nội cho nó nhận Sim là bố. Con nào cũng phải có cha,
cháu nào cũng phải có bà. Cho nó đủ đầy như người ta. Mãi sau này, có lần Lãng
hỏi nội sao đặt mình cái tên kỳ cục. Đi học mấy đứa bạn cứ ưa trêu là thằng
lãng nhách, lãng xẹt. Nhiều khi quê với đám con gái lắm nội. Nội quay qua nhìn
Lãng, rồi đưa mắt lên không trung u tịch của một đêm không trăng. Tại Lãng có một
cái bớt nhỏ ngay má phải, y hệt anh giải phóng quân bên đồi sim năm ấy. Khoảnh
khắc đó, hình như giọng nội rè đi. Lãng từ ấy không hỏi han gì đến cái tên hay
mấy câu chuyện bên đồi sim ngày thanh tân của nội. Nội vẫn trồng chè. Lãng vẫn
chăm đồi Dương tử.
4. Hồi ấy, cũng có lần An về. Đó là năm thứ nhất sau khi đi
Sài Gòn theo bác. An về cùng đám bạn học của mình. Lãng rụt rè nhìn An thay đổi
phổng phao trắng hồng khác lạ. An đi giày cao gót, môi son đỏ tía, phảng phất
mùi hương nước hoa quanh mình. Mấy cậu bạn đi chung luôn chiều chuộng ra điều lấy
lòng An. Lãng dẫn cả nhóm đi tắm suối, vào rừng hái sim. Giữa những khoảnh khắc
nô đùa ấy, Lãng thấy An không còn hồn nhiên như thời hai đứa chiều chiều tan học
lén nhà chạy lên đồi nằm nghêu ngao hát “ăn nửa trái sim”. Trả về cho Lãng, buổi
ấy, chỉ là một cô gái lạ lẫm quá đỗi.
Lãng lừng khừng hỏi An khi nào về lại với phố núi cao nguyên
này, những mùa Dương tử trổ đòng ngợp trời vẫn đợi chờ. An cười, nụ cười phảng
phất nét kiêu kỳ trên vành môi. An trả lời câu gì đó bâng quơ. Lãng nghe trong
tiếng thông reo có lời xa cách. Từ buổi đó, An không về nữa. Thoảng khi Lãng nhắn
tin, An trả lời bận lo việc học. Có lần An khoe, được bác họ cho đi du học. Nước
phương Tây nào đó, xa lắc lơ, Lãng nghe An nói cái tên, mà chẳng nhớ nổi.
Lãng bắt đầu dựng cổng, treo bảng cho du khách tới tham quan
đồi hoa Dương tử. Mỗi khách vào là ba mươi ngàn. Sáng sớm Lãng lựa cành nào đẹp
nhất thì cắt rồi bó thành chục giao cho mối lái. Trời hửng nắng, cứ thế mà ngồi
thu tiền du khách. Đồi Côi từ dạo đó bỗng xôm tụ hẳn lên. Người mở quán ăn phục
vụ khách du lịch. Người làm vườn hướng dương, làm vườn hồng, làm quán cà phê
nguyên chất. Cuộc sống nhộn nhịp và khấm khá hơn.
5. Nhưng chẳng được bao lâu, một sáng trời trong, hết mùa dịch,
thiên hạ rần rần kéo về cái thành phố ngàn hoa này hưởng thụ sau những ngày bó
gối giam mình trong bốn bức tường nhà, nội hớt hải chạy về báo tin với Lãng.
Nghe đâu người ta trả giá đất cao, muốn mua hết khu này làm làng du lịch đó
con. Người ta bù cho một căn chung cư mới xây, lại còn đưa cả mấy trăm triệu
cho mình làm ăn nữa. Phía đầu đồi nghe nói ba bốn người chịu rồi. Lãng nghe thất
thần. Cái điều lo lắng bấy lâu, chẳng sớm thì muộn thiên hạ cũng thâu tóm cái đồi
Côi. Vị trí đồi có tầm nhìn xuống thành phố, đường sá đã được làm thành lộ lớn.
Hồi trước tết đã có mấy ông đại gia rậm rịch đi xem đất, xem đồi…
Lãng bảo nội ở nhà canh vườn, Lãng phóng xe ra đầu đồi, thấp
thoáng vài chiếc xe hơi láng coóng đậu ngay lộ. Nhiều người ăn mặc sang cả đứng
chỉ tay hướng này hướng nọ. Lãng chạy tới nắm lấy tay thằng Phồn, khẽ lắc. Trời,
mầy đừng có bán đất. Bán là hết đường sống đó. Mình ra phố rồi biết làm gì. Đừng
có nghe họ dụ mà ham. Thằng Phồn nhìn Lãng rồi phủi tay cái mạnh. Khùng quá đi,
họ bù cho mình một căn nhà khang trang ngay cái khu cao ốc mới xây. Họ cho mình
thêm vài trăm triệu đến cả tỉ. Cả đời này mình kiếm còn không ra được. Họ hứa họ
làm khu du lịch xong, họ nhận mình về làm công nhân cho họ. Mình có đói đâu mà
sợ. Mầy cũng bán đi, tao chỉ họ mấy miếng đất rồi. Họ mua được một miếng đất là
tao có thêm năm mươi triệu đó. Mà đất nhà mầy bán không, tao chỉ cho?… Lãng
không trả lời, leo lên xe máy nhắm hướng đỉnh đồi mà chạy. Nghe trong lòng nhiều
thứ vỡ vụn ra. Thông khóc lao xao dọc triền đồi.
Chiều đó, nội bảo Lãng có khách. Ánh hoàng hôn phủ vàng mênh
mông cả vùng trời. Lãng dẫn khách đi ra đồi Dương tử. Cái lạnh bắt đầu bủa vây
triền đồi. Dương tử bung cánh xoe tròn, từng bông vẫn trắng muốt. Cả hai đứng
nhìn và lặng im. Rất lâu. Rất khẽ. An bảo Lãng phải thức thời chứ. Cái triền đồi
có bao nhiêu chủ đất đâu. Bác An trả giá tốt nhất thời điểm này rồi, mùa dịch
qua, nhưng cũng còn khốn khó, chuyện tiền bạc bây giờ nó mới là lẽ sống của con
người ta. Đâu cứ phải bám víu vào đất cả đời cực khổ hoài. Bây giờ là điều kiện
để Lãng cho nội nghỉ ngơi an hưởng. Lãng kiếm gì đó mà học một cái nghề. Lãng
thông minh, Lãng phải nghĩ tiền đồ của mình chứ. Hổng lẽ suốt cuộc đời Lãng cứ
quần đùi áo thun bán mặt cho đất bán lưng cho trời. Ngửa bàn tay lên đi Lãng.
Lãng thấy gì không?…
Chẳng có câu trả lời nào dành cho An. Mái tóc đen dài nay
thay bằng ánh vàng thuốc nhuộm, ngắn cũn cỡn ôm sát vai. Tay đỏ màu sơn, môi
cong kiêu kỳ. Giữa cái ánh hoàng hôn phản chiếu, hình ảnh người con gái Lãng từng
thương trên đồi Dương Tử sao nó lấp lánh mà diệu vợi muôn trùng. An quay gót
đi, khi Lãng vẫn lầm lì chẳng thốt lời nào. Lãng chẳng tiễn An như cái lần An bỏ
triền đồi mà đi lên Sài Gòn. Lãng chỉ đứng nhìn bóng dáng khuất dần theo tia nắng
chiều. Nội bảo sao không mời An vào nhà chơi. Lãng hẫng nhẹ trả lời, An nào đâu
nội, người ta là khách ghé mua đất thôi.
Lâu lắm rồi, dễ chừng cũng chục năm, từ cái hồi An về thăm rồi
đi biền biệt, Lãng mới lên đồi sim. Đồi loang tím. Con đường mòn quen thuộc vẫn
còn y nguyên, khác chăng là những bụi sim nay mọc lên um tùm và rậm rạp. Lãng
ngồi ngay gốc cây có khắc tên hai đứa hồi mười sáu trẻ dại. Rồi đất sẽ rùng
mình chuyển thành lô lốc. Nứt nẻ vỡ toạc ra thành những khu vila, biệt thự. Người
ta chẳng chọn nơi này để sống, mà chỉ là vung tiền hưởng thụ cái thú tao nhã của
mình. Người ta có biết nghe thông hát? Người ta có biết sim tím vì đâu? Thương
nhớ là một thứ đâu thể vay mượn. Chỉ có dân đồi Côi này, mới thương thông nhớ
sim mà giữ gìn và vun bồi đất rừng.
Lãng nhìn đêm buông sẫm xuống triền đồi. Nội chẳng thể đi
đâu, đất này là cả cuộc đời của nội. Vườn chè là nguồn ký ức để nội sống những
tháng năm cạn cùng. Lãng cũng chẳng thể đi đâu. Dương tử vẫn trổ đòng chờ Lãng
mỗi sớm tinh sương. Thông hát chờ Lãng nghe. Sim chín chờ tay Lãng hái. Lãng chỉ
ăn nửa trái sim thôi. Rồi Lãng sẽ tìm người thương, như câu hát mà nội hay hát…
TỐNG PHƯỚC BẢO
27/6/2020
Nguyễn Lê Vân Khánh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Truyện ngắn Phan Thị Mỹ Huệ: Lão Khục
Truyện ngắn Phan Thị
Mỹ Huệ: Lão Khục
Để thằng nhỏ yên!
Nhà văn trẻ Phan Thị Mỹ Huệ
Tôi giật mình quay lại. Trước mắt tôi là một hình nhân kì dị
hết sức, một hình nhân héo quắc như cây gòn mùa đông già nua, trụi lá. Dáng người
lão hơi nghiêng sang trái và đầu hơi chúi về đằng trước. Hai cánh tay của lão
lèo khoèo, lều khều như được gắn vụng về vào hai vai. Lão mặc quần đùi để lộ
hai ống chân cũng lèo khoèo, lều khều như vậy. Nhưng kì dị nhất là gương mặt của
lão, gương mặt với cái trán hõm vào một lỗ ngay phía trên hàng lông mày bên phải,
nó làm cho tôi cảm giác lão có con mắt thứ ba. Một vết sẹo dài bên má trái khiến
tất cả các đường nét trở nên xô lệch, chuệch choạc đến mức nom lão không khác
gì một nhân vật hắc ám trong những câu chuyện kinh dị, rùng rợn. Lão phóng về
phía tôi một cái nhìn đầy hằn học và dữ tợn. Ánh mắt của lão khiến tôi hoảng sợ,
vì nó đùng đục như màu trời vào mùa sương giá, mà lại xam xảm như có bao nhiêu
gỉ than tro lơ lửng trong đó. Người đàn ông lầm bầm trong miệng. Ông ta có vẻ hậm
hực nhưng vẫn buông tay tôi ra và bỏ đi. Tôi muốn chạy theo nhưng vừa dợm bước
chân thì tiếng nói hình nhân quái dị kéo tôi lại :
– Đứng đó!
– …
– Mầy đứng lại đó! Muốn chết hử?
Tôi không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Lão già này muốn gì ở
tôi? Tại sao lão lại…? Nhưng mà lão còn làm tôi giận hết sức khi người đàn ông kia
đi rồi, lão chẳng nói chẳng rằng cũng quay lưng đi. Dáng lão khệnh khạng như một
người say. Đôi vai lão rung rung khổ sở đỡ lấy cái đầu to quá khổ với mái tóc
lơ thơ vài sợi ngắn dài mọc lẫn lộn, không trật tự. Tôi chạy theo để hỏi lão có
oán thù gì mà lại tuyệt đường sống của tôi như vậy. Nhưng lão không nói gì trước
thái độ của tôi. Lão vẫn lặng yên và đôi vai vẫn rung theo từng bước chân lê lết,
thất thểu trong bóng chiều chạng vạng. Trước khi rẽ ngoặt vào con đường dẫn đến
thung lũng Ma trơi, lão quay lại nhìn tôi và bằng một giọng nói không thể nào u
ám hơn, lão thẽ thọt:
– Muốn chết, thì cứ leo xuống hầm!
Đó là lần đầu tiên tôi gặp lão Khục. Tên lão là Khục. Người
ta hay gọi lão như vậy. Hình như lão cũng có tên, tên Tư Tài thì phải. Nhưng vì
lão nói chuyện cứ lục khục, lẹt khẹt trong miệng nên người ta gọi Khục cho dễ
nhớ. Lão cũng không cảm thấy phiền vì tên gọi chói tai đó. Ở bãi vàng Đaklay
này, lão là người có tiếng nói rất quan trọng. Không ai dám làm trái ý lão.
Không phải vì lão có võ công cao cường như mấy tay anh chị giang hồ tứ chiếng ở
đây. Người ta ớn lão vì lão có khả năng nói chuyện với người cõi âm. Lão có thể
gọi hồn người chết về nói chuyện. Chết sốt, chết chém, chết nghiện, chết hầm,
chết hố, chết bờ, chết bụi gì lão cũng gọi được. Chuyện là cách đây hơn 10 năm,
một tay kỹ sư địa chất có cô vợ xinh như hoa từ thị về để nghiên cứu cách đào
vàng tốt nhất, nhanh nhất để mau giàu. Một buổi chiều đông rét mướt, người ta
nghe cô vợ gào khóc thảm thiết vì không thấy chồng về. Hỏi bọn trẻ nhặt đá thì
tụi nó bảo thấy anh chồng kỹ sư lang thang ở cái hầm đầu núi. Cái hầm này đã bỏ
hoang vài tháng vì đào xuống hơn chục mét mà không thấy vàng đâu, chỉ thấy
mạch nước trong lòng núi đổ ra ào ạt. Mấy người chết chìm, chết dúi trong đó.
Cũng không ai dám xuống kiếm xác. Dưới hầm, người ta đào dọc đào ngang như địa
đạo, tìm đâu cho thấy. Người ta không tìm cũng vì một lí do khác là không ai
thuê mướn. Đám người trôi nổi dưới hầm chủ yếu là giang hồ tứ phương dạt về. Mấy
tay này kẻ vượt ngục, người trốn tù, bị gia đình chối bỏ, bị cuộc đời lãng
quên… trôi nổi qua Campuchia, Lào rồi lại dạt về đây…
Vậy là cái hầm bị bỏ hoang.
Tay kỹ sư không hiểu sao lại mon men đến miệng hầm và không
biết ma xui quỷ khiến thế nào lại rơi xuống cái hố sâu hun hút đó. Cô vợ không
thể để chồng chết lạnh chết lẽo nên thuê người lặn ngụp kiếm tìm mấy ngày liền
nhưng vẫn không thấy. Cái xác chết chắc bị đám cô hồn lôi vào mấy kẹt địa đạo.
Mà ai xuống đó cũng ớn lạnh xương sống không dám xuống lần hai. Người ta cũng
mê hai cái khâu vàng cô vợ đưa ra. Nhưng vô vọng. Hồi ấy lão Khục mới dạt về
bãi này. Lão chỉ đi nhặt đá để bán kiếm tiền nuôi đứa con gái cũng khẽ khọt như
lão. Đứa con gái xanh rớt và ốm yếu như tàu lá chuối tàn. Lão bồng đứa con bằng
đôi tay lèo khoèo, bảo với cô vợ anh kỹ sư:
– Cô lập cho tui cái bàn thờ ở đây, 12 chén chè, 12 dĩa xôi,
nhang đèn…
Vậy là trước khói nhang nghi ngút, lão Khục nhảy múa, uốn éo
như người ta lên đồng với những câu thần chú thần anh rùng rợn. Dưới bóng chiều
âm thâm, heo hút, hơi lạnh cắt da, thấu thịt, lão mặc độc một cái quần đùi mà
chồm chỗm bên này, ngả nghiêng bên kia. Mắt lão lúc trợn ngược, lúc sụp xuống,
lúc liếc ngang, khi đảo dọc, lúc lờ đà, khi lờ đờ như người mới được vớt dưới
sông Pô Kô lên. Người ta tụ tập đến coi đông lắm. Đúng 6h chiều, mặt trời vừa
khuất sau cánh rừng thông, công cuộc gọi hồn kêu vía kết thúc, một mình
lão ngồi vào cái thùng cột chặt vào ròng rọc để tìm xuống cái địa ngục tối tăm,
thâm u, nơi chỉ toàn cô hồn các đảng. Sợi dây vừa thả xuống thì đứa con gái của
lão bật khóc thảm thiết. Tiếng khóc thẽ thọt nghe thảm thương lắm. Một giờ, hai
giờ rồi nhiều giờ, không thấy cái dây động đậy. Càng về khuya, sương càng buốt,
cái dây vẫn đóng băng một chỗ. Người ta bảo nhau :
– Tiêu rồi!
– Lão Khục tiêu rồi!
– Lão già điên!
– Ai nuôi con nhỏ!
– Thiệt tình khốn khổ!
– Đi đời nhà ma rồi!
– Chết chắc!
…
Nhưng rồi đúng lúc tiếng gà rừng eo óc gáy canh ba, cái dây đột
nhiên rung rinh. Ai nấy kinh hồn. Bao nhiêu ánh mắt đổ dồn về hồi hộp, sợ hãi.
Lão Khục về hay hồn của lão đây? Nhưng rồi đám người vẫn ùa tới cái tay quay.
Quay lấy, quay để. Quay nhanh, quay mạnh. Đứa con gái lão cũng hồi hộp hay sao
mà nó nín khóc, nó đưa mắt về phía sợi dây. Còn ẵm trên tay mà khôn dữ! Có tiếng
ai đó. Người ta cứ quay và quay. Rồi cái thùng từ từ tiếp miệng hang. Đám đàn
ông trai tráng ùa vào. Một mùi gây nhức xương long óc lan tỏa trong không gian.
Xác người đàn ông trương phình ngồi thỏm thọt trong cái thùng vuông vức dùng để
kéo đá. Nghĩ phận người trôi dạt ở bãi vàng này thật đáng nguyền rủa. Sống đã
khốn khổ mà chết càng khốn khổ hơn. Chứ ai nói chết đi rồi sẽ nhẹ nhàng. Nhẹ
nhàng đâu không thấy, chỉ thấy cái bụng trương phình đầy nước và ứ đọng bao
nhiêu tử khí. Hai con mắt lõm vào bên trong đẩy cái mặt đầy lên cũng trương
phình, nhìn gớm ghiếc. Trên tay người chết còn đeo cái đồng hồ senko chặt góc,
mấy tay giang hồ nhìn thèm lẻm. Nhưng không ai dám động đến vì nó lún sâu
vào trong thịt. Cô vợ gào khóc vật vã thảm thiết trong tay mấy bà nhặt sái. Đau
thương, nẫu ruột. Người ta nhanh chóng trải ra ngay miệng hầm một chiếc chiếu
cũ quắt queo để có chỗ nằm cho kẻ xấu số. Ai đó đắp lên một tấm mền cũ kỹ, tơi
góc. Thảm thương. Người ta cố quên cái mùi hôi thối để tiếp tục hành trình nhân
từ còn sót lại nơi đáy sâu tâm hồn của những phận đời trôi dạt.
– Còn lão Khục!
Cái thùng được tiếp tục thả xuống. Nửa giờ sau, người ta thấy
lão Khục cũng lọt thỏm trong cái thùng. Kể ra thì sống hay chết thì có gì khác
nhau. Lão ngồi, đầu gục xuống, hai vai nhô lên, trông lão càng kì dị. Nhưng cái
thùng vừa được kéo khỏi miệng hầm, lão đã đứng dậy, bước ra, tiến về phía con
gái lão, dòm thom lom vào mặt nó. Con bé nhoẻn miệng cười. Lão cũng cười khọt
khẹt ý chừng vui vẻ, mừng rỡ, cảm động lắm. Rồi lão quay sang nói với cô vợ kẻ
xấu số:
– Tui chỉ lấy công 1 chỉ, còn lại về mà lo đám ma.
Lão đón lấy đứa con từ tay người đàn bà. “Về tắm rửa đã rồi mới
ẵm con nhỏ”. Lão trợn mắt: “Đưa đây!”. Người đàn bà trao đứa bé cho lão. Lão ẵm
nó trong đôi tay và thân thể còn nặc mùi tử khí. Lão đi nhanh về phía thung
lũng Ma trơi. Nơi ấy chỉ có hai cha con lão và những oan hồn chết bờ chết bụi.
Từ đó, hễ có chuyện gì khó khăn trong việc kiếm người chết,
bãi này lại nhờ đến lão Khục. Bao nhiêu câu chuyện kì dị cũng từ đó được thêu dệt
nên. Rùng rợn hết sức.
…
– Cái hầm đó vừa đánh thuốc nổ. Tụi nó kêu mầy xuống xem đã hết
khói thuốc chưa. Mầy mà xuống. Kết cục như thằng Chì thôi!
Thằng Chì là cháu nội bà Tám Chột. Ba mẹ nó chết sớm, nghèo
quá, hai bà cháu ở dưới Đăkto trôi dạt lên đây để kiếm chút sái chứ không mơ mộng
gì giàu có đổi đời. Thằng Chì tuổi 13, khỏe mạnh và đen nhẻm. Bởi có lẽ nó được
mấy tay đào hầm đem thử nghiệm thuốc nổ nên người nó lúc nào cũng hăng hắc cái
mùi chết chóc ấy. Chả là người ta đánh đá bằng thuốc nổ rồi kêu nó xuống coi
khói thuốc đã tan chưa. Nó đứng vào cái thùng, dây thả xuống, thấy
ngợp thì giật dây họ sẽ kéo nó lên. Cứ như vậy, nếu nó xuống tới đáy hầm mà dây
không giật, coi như khói thuốc đã tan. Họ sẽ xuống mà lấy đá. Nhưng lần ấy, cái
hầm gần đỉnh núi, đào gần hai chục mét mới thấy hơi vàng. Sâu lắm. Thằng Chì
cũng đứng vào thùng và sợi dây được thả vội xuống. Tầm mươi mét, cái dây giật
liên hồi. Người ta vội vã quay cái tay quay. Nhưng chỉ được hai vòng thì họ thấy
nhẹ hẫng. Ai nấy bạt vía. Một ngày sau, thằng Chì được đưa lên, sọ vỡ nát. Bà nội
nó cũng lao đầu xuống một cái hầm bỏ hoang, mất xác. Nghe đâu hầm ấy trúng đậm
còn xác thằng nhỏ thì đang nằm mồ côi dưới thung lũng Ma trơi.
Đó là tôi nghe lão Khục kể lại, lão kể bằng một cái giọng hập
hà hập hửi. Thi thoảng mắt lão ánh lên một tia nhìn dữ tợn. Có lẽ vì câu chuyện
ấy mà lão không để đám giang hồ tiếp cận tôi. Thật ra tay giang hồ cũng đã giúi
cho tôi năm ngàn để đứng vào cái thùng và giật sợi dây. Tôi thật sự rất
thèm số tiền có thể mua được mấy zem vàng đó. Tôi có thể xuống nhiều lần trong
một ngày và chẳng bao lâu, tôi sẽ có vài cây vàng và rời khỏi nơi chết tiệt
này. Tôi sẽ về quê mua cho má tôi một chiếc xe máy để má chở võng đi bán, không
phải gánh lên vai đi từ khuya hôm trước. Nghĩ đến má, tôi muốn ứa nước mắt,
nhưng nhìn lão Khục tôi càng thấy thảm thương hơn. Lão Khục ở dưới thung
lũng Ma trơi cùng với đứa con gái đã hơn mười năm nay. Đứa con gái hồi nhỏ
xanh rớt, hai tuổi rồi vẫn còn bế trên tay. Lão bọc con như con gà mái mơ nhà
tôi vẫn bọc con mỗi ngày mỗi đêm. Hồi nhỏ tôi vẫn theo dõi đám gà má nuôi, tôi
thấy gà mẹ thương con chẳng khác gì con người. Lão Khục thương con luôn phần của
mẹ nó. Nghe đâu vợ lão sinh con xong rồi bỏ đi vì xấu hổ khi phải ở chung nhà với
một hình nhân quái dị, hình nhân thoát ra từ bom đạn, từ những chất độc hủy diệt
của chiến tranh. Lẽ ra lão phải được đeo huân chương, được ca ngợi như một người
hùng. Nhưng rồi tất cả bị thời cuộc lãng quên. Dị nghị, gièm pha, thương hại…,
người đàn bà nức tiếng xinh đẹp đã không thể sống với những kỉ niệm và bóng
hình đã phôi pha. Nên một đêm muộn thị đã rời xa lão. Lão Khục ngẩn ngơ một thời
gian dài và sau đó lão bế con ngược xuôi, cuối cùng neo lại thung lũng Ma trơi ở
xứ Đaklay này.
Đứa con gái lớn lên xinh xẻo lắm, mới mười hai, mười ba mà mắt
miệng đã biết lúng liếng làm duyên. Lão thường bảo tôi về mà tiếp tục đi học, đỗ
vào đại học thì lão sẽ gả con gái cho. “Mầy có thiếu tiền đi học, tao cho! Ở
đây riết, phần người rồi cũng khó giữ!”. Những lúc như vậy, lão cười hiền lành
lắm. Nhưng chuyện đời đâu thể ngờ. Con gái lão trong một đêm đã rời chốn thâm u
ám lạnh này để đi đến một nơi mà nó nghĩ là tươi sáng ấm áp hơn. Năm ấy nó mới
14 tuổi. Tôi còn nhớ buổi chiều hôm ấy, lão điên dại thét gào khi tìm thấy một
bức thư với nét chữ nguệch ngoạc. Con bé đã được lão dạy cho biết đọc, biết viết.
Nhưng nó trả lại cho lão những con chữ đầu tiên cùng một nỗi đau thấu trời. Lão
quắt queo trong nỗi đau đớn, thương nhớ con. Lão không đi nhặt đá nữa, cũng
không nhận lời xuống hầm sâu kiếm xác người. Lão cũng không còn thần anh thần
chú, cũng không gọi hồn gọi vía cho ai. Lão đang để hết tâm hết lực để gọi hồn
đứa con gái và gọi hồn cho chính lão. Đêm đêm, dưới thung lũng Ma trơi, người
ta nhìn thấy những ánh lửa chờn vờn cùng với bao âm thanh ai oán ghê rợn lắm. Rồi
một đêm, lão Khục đi đâu không ai rõ. Tự nhiên ai cũng nhớ cái dáng khập khàng
với hai cánh tay lúc loẻo liêu xiêu trong chiều. Lão Khục đi đâu? Chẳng ai có
thể biết được. Chỉ biết rằng từ đó khắp các bãi vàng xứ Tây Nguyên, người ta
thi thoảng nhìn thấy một hình nhân quái dị, đôi mắt xam xảm màu tro tàn. Và đêm
đêm vẳng trong rừng sâu tiếng gọi con khẽ khọt và thảm thiết lắm.
Sài Gòn,18.6.2020
PHAN THỊ MỸ HUỆ
27/6/2020
Nguyễn Lê Vân Khánh
Theo https://vanhocsaigon.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Cái Tôi của Phạm Duy trong 'Xuân ca' N hạc sĩ Phạm Duy có nhiều bài hát về mùa Xuân như "Nụ Tầm Xuân", "Hoa Xuâ...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...
.png)
.png)



