Trăng nước Tầm Dương
Ngỏ
Những điều không bình thường...
Trong cõi vô biên xứ Internet ảo hóa thênh thang này, chúng ta có
thể bắt gặp rất nhiều điều không bình thường lẫn bình thường. Bình thường vốn
là những quy ước của đời sống được mọi người tôn trọng, dù đôi khi nó có vẻ
không bình thường nhưng khéo được che dấu nên ta cứ ngỡ là bình thường. Còn những
điều không bình thường ư? Thường người ta không lấy làm thoải mái đối với
những hiện tượng không bình thường của thế gian, người ta hay đòi hỏi những gì
được gọi là bình thường theo quy ước thế gian, dù đó là quy ước mà đôi khi
không hẳn là được tất cả mọi người chấp nhận, vì vậy, không bình thường cũng là
một khía cạnh không thể thiếu ở thế gian này, dù dưới đất hay là cõi
...trên.
Một trong những điều không bình thường mà các bạn có thể bắt gặp ở
đây, trên trang Web Một Cõi Thênh Thang, nơi tạm dừng chân, nơi cất giữ những
tài sản tinh thần của Hạt Cát, một trong những điều không bình thường là một
cái gì đó không được hoàn hảo, một bài thơ không hoàn hảo, một trang web không
hoàn hảo, nghĩa là có những tiêu đề được nêu lên nhưng chưa hoạt động, hoặc có
thể là sẽ không bao giờ được hoạt động. Nhưng điều đó không sao, bạn cứ hãy
thong thả dạo chơi xem những gì đã hoạt động và mời trở lại vào một ngày khác,
một ngày nào đó nó sẽ được hoàn hảo hơn, mà cho dù nó không được hoàn hảo,
không toàn bích thì cũng là điều tự nhiên, dễ hiểu, bởi vì, mọi việc trên thế
gian này có gì là toàn bích là hoàn hảo đâu, cái gì cũng có thể dở dang, thậm
chí cuộc đời của mỗi con người chúng ta, cũng là những điều không hoàn hảo, chỉ
khác nhau ở mức độ nhiều hay ít mà thôi.
Mà, một bức tranh, một bài thơ không hoàn hảo xem ra vẫn có thứ giá
trị riêng của nó, bởi vì, nó luôn luôn làm cho người ta cảm thấy thiêu thiếu một
thứ gì đó, làm cho người ta luôn luôn cảm thấy khát khao, cảm thấy thú vị khi
mường tượng rằng nó sẽ ra sao nếu nó như thế này hay như thế kia, và cuối cùng
thì người ta luôn chờ đợi một cái gì đó, chờ đợi trong đời sống là mục đích để
cho ta sống vậy mà. Cũng giống như một đứa trẻ khi được sinh ra, lớn lên trong
một hoàn cảnh có đầy đủ tất cả mọi thứ chung quanh, không bao giờ cảm thấy có một
thứ khát vọng nào đó, chắc chắn rằng đời sống của nó sẽ vô cùng tẻ ngắt, chán đến
đổi nó không còn thiết sống nữa, chuyện này đã xảy ra với những nhân vật thừa
hưởng những gia tài kết sù của cha ông để lại. Cho nên, ta đừng mong mỏi thứ gì
hoàn hảo quá, hoàn hảo quá cũng có nghĩa là không bình thường đấy, bạn ạ.
Vậy thì, xin đừng thắc mắc tại sao có trang Web này góp mặt với cuộc
đời trong một tình trạng không hoàn hảo, mời bạn cứ thong thả tự nhiên, hãy tận
tình thưởng ngoạn những gì đang sẵn có, xin hãy nở một nụ cười tha thứ bao dung
nếu như có những điều làm cho bạn không hài lòng.
Nào, xin mời bạn hãy cứ thong thả dạo bước... một cõi thênh thang!
Hạt Cát, một ngày mùa thu, 2008.
Trăng nước Tầm Dương
Dạ thâm giang thủy tâm vu hoang,
Ðãng đãng vân thiên quyển điệu đàn.
Lãng phách thiết tha hàm thán tứ,
Nguyệt minh u uất yểm sầu nhan.
Thiên thu hiểu vãn đa tồn thất,
Chích ảnh hôn triêu kỷ hợp phân.
Tịch chử linh đinh hồn viễn xứ,
Bạc chu hàn dạ sầu mang mang.
Ðãng đãng vân thiên quyển điệu đàn.
Lãng phách thiết tha hàm thán tứ,
Nguyệt minh u uất yểm sầu nhan.
Thiên thu hiểu vãn đa tồn thất,
Chích ảnh hôn triêu kỷ hợp phân.
Tịch chử linh đinh hồn viễn xứ,
Bạc chu hàn dạ sầu mang mang.
Sông nước chèo khuya dạ ngổn ngang,
Trời mây lồng lộng quyện cung đàn.
Nỉ non sóng vỗ niềm than thở,
Ray rứt trăng soi mặt héo hon.
Nghìn thu sớm tối bao còn mất,
Một bóng mai chiều mấy hợp tan.
Bến vắng chơi vơi hồn viễn xứ,
Đò neo đêm lạnh sầu mang mang.
Trời mây lồng lộng quyện cung đàn.
Nỉ non sóng vỗ niềm than thở,
Ray rứt trăng soi mặt héo hon.
Nghìn thu sớm tối bao còn mất,
Một bóng mai chiều mấy hợp tan.
Bến vắng chơi vơi hồn viễn xứ,
Đò neo đêm lạnh sầu mang mang.
Trăng đêm nay đẹp quá.
Trăng dằng dặc mênh mông trời nước.
Trăng nhỏ từng giọt, từng giọt lung linh mặt sóng lao xao, trăng lấp lánh ngân nhũ đong đưa hàng liễu rũ.
Trăng huyễn hoặc mông lung. Trăng ảo mờ sương khói.
Trăng kết ngọc, dát vàng bãi sậy bờ lau.
Trăng nhỏ từng giọt, từng giọt lung linh mặt sóng lao xao, trăng lấp lánh ngân nhũ đong đưa hàng liễu rũ.
Trăng huyễn hoặc mông lung. Trăng ảo mờ sương khói.
Trăng kết ngọc, dát vàng bãi sậy bờ lau.
Chân trời thăm thẳm, ngàn sao nhấp nháy trường không.
Ðom đóm lập lòe bóng ma trơi thấp thoáng lùm cây bụi cỏ, côn trùng rỉ rả tiếng vọng âm cung văng vẳng xa xôi.
Gió phất phơ ngọn cỏ hiu hiu mang theo chút hơi hướm rong rêu lãng đãng mạn thuyền, gió vỗ về lượn sóng nhấp nhô xô dạt chân cầu xào xạc v.v...
Ðom đóm lập lòe bóng ma trơi thấp thoáng lùm cây bụi cỏ, côn trùng rỉ rả tiếng vọng âm cung văng vẳng xa xôi.
Gió phất phơ ngọn cỏ hiu hiu mang theo chút hơi hướm rong rêu lãng đãng mạn thuyền, gió vỗ về lượn sóng nhấp nhô xô dạt chân cầu xào xạc v.v...
Chao ôi! Ðất trời hạo đãng như thế đó, ánh trăng
diễm lệ như thế đó, mà nàng, Cầm Nương, một mình, ngồi cạnh mạn thuyền buông
neo bên dòng nước bồng bềnh sóng bạc. Hỡi ơi!
Nhất phiến nguyệt hàn lạc sấu nhan,
Dạ thâm khuê đẩu trụy trường giang.
Mặc mặc tinh cầu luân chuyển lão,
Man man cô tịch dữ thùy phân?
Dạ thâm khuê đẩu trụy trường giang.
Mặc mặc tinh cầu luân chuyển lão,
Man man cô tịch dữ thùy phân?
Dữ thùy phân! Dữ thùy phân!
Lạnh lẽo viền trăng soi má nhạt,
Ðằng đẵng sông dài sao rớt khuya.
Lặng lẽ tinh cầu xoay chuyển mãi
Cô đơn vời vợi biết ai chia???
Ðằng đẵng sông dài sao rớt khuya.
Lặng lẽ tinh cầu xoay chuyển mãi
Cô đơn vời vợi biết ai chia???
Biết ai chia! Biết ai chia!
Không có ai cả!
Trước sau chỉ một mình nàng đối nguyệt trầm tư!
Cầm Nương ngắm bóng, ngắm trăng nghĩ ngợi miên man.
Trời trăng mây nước bao la bát ngát diễm lệ vô cùng, nó khiến lòng thế nhân chìm đắm vào một cõi hư hư huyễn huyễn. Ánh trăng kia đã chiếu xuống trần gian từ bao đời bao kiếp, đã chứng kiến biết bao thịnh suy của cõi nhân gian, của một đời người. Ôi! Ánh trăng nào soi mặt chinh phu quạnh hiu gió cát, còn ánh trăng nào ngậm ngùi phòng khuê lạnh lẽo canh khuya? Ánh trăng nào theo dấu Minh phi Hán Hồ lưu lạc, còn ánh trăng nào rơi rụng chuông ngân trên bến Phong Kiều? Từ thủa khai thiên lập địa thăm thẳm hoang sơ, nguyệt cầu kia đã là niềm cảm hứng vô tận cho nhân thế. Con người đã tốn biết bao bút mực, tim óc để ngợi ca cái ánh sáng huyền hoặc này, thậm chí đã có người nhảy xuống nước ôm trăng mà chết, thử hỏi nếu trăng không quyến rũ thì sao có thể như vậy. Tưởng tượng rằng một ngày nào đó nguyệt cầu kia tự dưng vắng bóng thì thế gian này sẽ ảm đạm ra sao. Chao ôi, một kiếp người ngắn ngủi biết bao so với ánh trăng chiếu ngời trong vạn đại.
Trời trăng mây nước bao la bát ngát diễm lệ vô cùng, nó khiến lòng thế nhân chìm đắm vào một cõi hư hư huyễn huyễn. Ánh trăng kia đã chiếu xuống trần gian từ bao đời bao kiếp, đã chứng kiến biết bao thịnh suy của cõi nhân gian, của một đời người. Ôi! Ánh trăng nào soi mặt chinh phu quạnh hiu gió cát, còn ánh trăng nào ngậm ngùi phòng khuê lạnh lẽo canh khuya? Ánh trăng nào theo dấu Minh phi Hán Hồ lưu lạc, còn ánh trăng nào rơi rụng chuông ngân trên bến Phong Kiều? Từ thủa khai thiên lập địa thăm thẳm hoang sơ, nguyệt cầu kia đã là niềm cảm hứng vô tận cho nhân thế. Con người đã tốn biết bao bút mực, tim óc để ngợi ca cái ánh sáng huyền hoặc này, thậm chí đã có người nhảy xuống nước ôm trăng mà chết, thử hỏi nếu trăng không quyến rũ thì sao có thể như vậy. Tưởng tượng rằng một ngày nào đó nguyệt cầu kia tự dưng vắng bóng thì thế gian này sẽ ảm đạm ra sao. Chao ôi, một kiếp người ngắn ngủi biết bao so với ánh trăng chiếu ngời trong vạn đại.
Vạn đại! Vạn đại!
Vạn đại bắt đầu từ bao giờ và bao giờ sẽ chấm dứt, sau ta rồi
sẽ là ai cho vầng trăng ấy sáng soi. Chỗ ta ngồi hôm nay, nghìn xưa ai đã từng ngồi? Một
câu hỏi không có câu trả lời. Nhất định là như thế, ai có đủ thẩm quyền để
trả lời câu hỏi kia, nàng chẳng biết, chỉ thấy dòng sông cứ miên man trôi
chảy, trôi chảy không ngừng. Bấc giác mấy câu thơ đời trước hiện về, nàng ngậm
ngùi cảm ngộ, người xưa đã chẳng từng than thở thế ư???
Giang bạn hà nhân sơ kiến nguyệt,
Giang nguyệt hà niên sơ chiếu nhân.
Nhân sinh đại đại vô cùng dĩ,
Giang nguyệt niên niên vọng tương tự
Bất tri giang nguyệt chiếu hà nhân,
Ðản kiến trường giang tống lưu thủy
(XGHND-Trương Nhược Hư )
Giang nguyệt hà niên sơ chiếu nhân.
Nhân sinh đại đại vô cùng dĩ,
Giang nguyệt niên niên vọng tương tự
Bất tri giang nguyệt chiếu hà nhân,
Ðản kiến trường giang tống lưu thủy
(XGHND-Trương Nhược Hư )
Người bên sông ai nhìn trăng trước,
Trăng soi người buổi trước năm nao
Ðời đời kiếp sống nối nhau
Tháng năm sông nước trăng sao vẫn cùng
Chẳng biết trăng soi chung ai đấy
Chỉ thấy dòng nước chảy miên man…
Trăng soi người buổi trước năm nao
Ðời đời kiếp sống nối nhau
Tháng năm sông nước trăng sao vẫn cùng
Chẳng biết trăng soi chung ai đấy
Chỉ thấy dòng nước chảy miên man…
Chao ôi!
Nguyệt thủy nhất phương!
Trăng nước một vùng!
Trăng nước một vùng!
Tịch mịch! Thậm tịch mịch!
Cái không gian tịch mịch này, Cầm Nương đã đối diện với nó
không biết từ bao giờ. Tuy vậy, nó vẫn không đáng sợ bằng nỗi tịch mịch
trong lòng của nàng. Người ta nói đáng sợ nhất là cái tịch mịch trong lòng
người đàn bà khi về chiều. Không phải chính là nàng bây giờ hay sao?
Tâm tư Cầm Nương chùng xuống, chùng xuống thật sâu.
Nàng ngồi đó, ngồi bên mạn thuyền, rất lâu, rất lặng lẽ, lòng nàng chìm theo tiếng nước trôi sóng vỗ, tiếng vạc kêu sương. Mắt nàng ngắm những tảng mây bay qua tầng không trong vắt ánh trăng nhưng lòng nàng trôi theo làn nước miên man xuôi tận cuối dòng. Không thấy gì cả, không một bóng con thuyền nào thấp thoáng cho nàng khởi lên niềm hy vọng, hy vọng trông thấy một hình ảnh quen thuộc đang trở về, dù chỉ là hy vọng thoáng qua rồi tan biến.
Nàng ngồi đó, ngồi bên mạn thuyền, rất lâu, rất lặng lẽ, lòng nàng chìm theo tiếng nước trôi sóng vỗ, tiếng vạc kêu sương. Mắt nàng ngắm những tảng mây bay qua tầng không trong vắt ánh trăng nhưng lòng nàng trôi theo làn nước miên man xuôi tận cuối dòng. Không thấy gì cả, không một bóng con thuyền nào thấp thoáng cho nàng khởi lên niềm hy vọng, hy vọng trông thấy một hình ảnh quen thuộc đang trở về, dù chỉ là hy vọng thoáng qua rồi tan biến.
Sương xuống hơi nhiều, không gian chớm thu chừng như giăng
thêm tơ mới, mông lung hơn, huyền ảo hơn. Nàng nghe lành lạnh bờ vai, bất
giác, nàng đưa đôi tay gầy guộc ôm choàng bờ vai nhỏ bé của
mình. Ðã lâu, đã lâu, bờ vai của nàng dường như quên mất cái thói quen tựa
vào vai của người khác, nó trống trải, nó lẽ loi quá.
Bấc giác, nàng nhìn lại đôi tay của mình. Dưới ánh
trăng diễm ảo, đôi tay nàng vẫn nổi bật lên một màu trắng muốt. Ôi! Ðôi
bàn tay của nàng. Ðôi bàn tay một thời khoấy động chốn Ngũ
Lăng, đôi bàn tay một thời khiến lòng người điên đảo.
Nàng nhớ quá những trận cười hào sảng, nàng nhớ quá những lụa đỏ khăn hồng.Nàng
nhớ chung Lục Nghị sóng sánh màu hổ phách, nhớ chung Bồ Ðào phơn phớt sắc ráng
pha…Lâng lâng, lâng lâng men rượu ngọt. Nao nao, nao nao sóng hồ thu…Tất cả
những hình ảnh ấy đã chìm sâu vào dĩ vãng xa lắc xa lơ. Thu ba đào kiểm! Má phấn
môi hồng! Chao ôi! Còn nhắc làm chi nữa. Ðã là dĩ vãng! Ðã
là dĩ vãng! Giờ này còn gần gũi với nàng nhất, còn trung
thành với nàng nhất, họa chăng là chiếc tỳ bà cũ kỹ thiết thân.
Nàng thở dài thán tức, không dừng được cảm hoài, nàng đứng
lên khom lưng đi vào khoang thuyền, nàng khêu ngọn bạch lạp, vói tay lên
vách đỡ nhẹ cây tỳ bà xuống. Ôm đàn vào lòng, nàng nhẹ nhàng vuốt ve những
phím tơ như đang vuốt ve một đứa trẻ thơ. Nàng mường tượng nàng đang sờ
vào đầu nó, sờ vào má nó, đôi má thơm lừng hơi sữa ngọt ngào. Nàng áp
mặt lên bụng đàn thon thả bóng nhẵn, hít vào phế nang mùi hương quen thuộc của
chất gỗ thấm đẫm hơi tay nàng. Nàng đã sờ vào đó, chạm vào đó
không biết bao nhiêu lần mà nói, mấy chục năm qua có đêm nào nàng không ít nhất
một lần nâng niu nó, dù nàng có nhã hứng hay không có nhã hứng khảy nên cung bậc,
nàng vẫn săm soi nó như săm soi một món cổ ngoạn quý giá. Ðã từ bao năm nay
nó là vật bất ly thân của nàng.
Ðêm nay trăng đẹp quá, lòng nàng mênh mông quá, tâm sự trùng
trùng của nàng chỉ có thể gửi gấm cùng mây cùng gió, cùng tiếng đàn dặt dìu
khoan nhặt. Nước trời lồng lộng bao la, một thuyền một lái bỏ neo đêm vắng
lạnh lùng, nàng biết tỏ bày mối cảm hoài với ai ngoài tiếng đàn của nàng.
Khoác thêm chiếc áo, ôm cây đàn trong tay, nàng lại khom lưng bước ra đầu
thuyền. Nàng chẫm rãi khơi một đỉnh trầm, khói hương thoang thoảng quyện vào
không gian tịch mặc khiến nàng không dám chuyển động mạnh, nàng nhẹ nhàng ngồi
xuống khoanh chân, thẳng lưng, hít thở mấy hơi dài, chiếc đàn đã đứng gọn
nghiêng nghiêng trong lòng, nàng bắt đầu nắn phím, so tơ, đôi tay nàng nhẹ
nhàng lướt qua hàng phím, những âm thanh trầm trầm bổng bổng run rẫy vang lên.
Nàng khép hai hàng mi lại, thôi không nhìn, không ngắm trời
mây nữa. Trong bóng đêm mờ ảo ánh trăng, nàng có mở mắt cũng không thấy được
gì nhưng cho dù nàng có nhắm mắt đi nữa thì nàng vẫn thấy rõ mồn một từng phím,
từng phím tơ của nàng, từng vị trí cung bậc của thang âm, nàng đã quá quen thuộc
với nó. Ðôi tay của nàng có gầy guộc xanh xao hơn nhưng vẫn còn nhanh
nhẹn, vẫn còn nhạy bén trong việc thay đổi vị trí cung bậc. Làm sao nàng có thể
quên được chứ, làm sao nàng có thể chậm được chứ, nàng và đàn đã hòa làm một từ
lâu, máu thịt, hơi thở của nàng được tiếp tục sinh tồn là nhờ âm thanh dìu dặt
réo rắt của tiếng đàn kia mà.
Nàng nhắm nghiền đôi mắt nhưng đôi tai của nàng vẫn tinh nhạy
vô cùng, tiếng đàn réo rắt nhặt khoan hòa lẫn tiếng gió vi vu xào xạc, tiếng
sóng vỗ rì rào, tiếng côn trùng rỉ rả. Ôi! Còn có bản hợp tấu nào vượt qua nổi
bản hợp tấu đặc biệt này, nàng đắm chìm trong tiếng đàn của mình, đôi tay nàng
lướt trên phím đàn một cách vô tâm vô thức, nàng quên hết phiền muộn, quên hết
chờ đợi nhớ nhung, quên hết trời rộng đất dày. Kìa là hình ảnh chập chờn thủa
trước, xuân thắm má đào, chúc quang rực rỡ, tử y hồng quần thướt tha quấn
quít theo cung đàn tiếng nhạc, kìa là những khuôn mặt thẫn thờ, những
đôi mắt đam mê dõi theo dải lụa quay tít của nàng. Leng keng ngọc bội kim hoàn,
lách cách cung thương sênh phách, những âm thanh ma mị ru hồn người văng vẳng
bên tai. Ðắm chìm! Ðắm chìm! Mê man! Mê man!!! Nàng không nhớ, không
biết mình là ai nữa.
Tiếng đàn réo rắt quá như gió lướt rừng thông, tiếng đàn nỉ non quá như ve sầu
khóc hạ, tiếng đàn miên man như nước cuốn Trường Giang, tiếng đàn thánh thót
như mưa rơi phiến đá. Cung bậc ấy, thanh âm ấy hẳn là phải do một bàn tay ngà
ngọc chuốt trau. Chao ôi, ở chỗ đất thô lậu này sao lại có thể sản sinh một dìệu
thủ như vậy. Tư Mã Giang Châu ghìm cương ngựa lại lắng nghe. Ðêm thu quạnh
quẽ, lác đác lá phong, hơi may se sắt lướt qua. Chàng chợt nhớ đến tấm áo
choàng hãy còn nằm vắt vẻo trên yên ngựa, tấm áo choàng màu xanh của chàng đã
cũ kỹ, bông đã sờn đôi chỗ nhưng Tư Mã chẳng màng thay đổi, thân phận trích thần
như chàng có vui gì, có thích gì mà xênh xang áo mũ. Quanh năm đối mặt với đám
dân đen chơn chất nghèo nàn ở chốn sơn lam chướng khí này, chàng có ăn mặc đẹp
cũng chẳng lấy làm hãnh diện với ai. Lúc còn bé ở Từ Châu, chàng đã sống qua những
tháng năm loạn lạc, mắt thấy dân tình điêu đứng khổ sở bởi họa binh đao và bị
nhũng nhiễu bóc lột bởi đám quan lại tham ô nên chàng thấu hiểu những nỗi thống
khổ của người dân quê, rồi khi trưởng thành, được cơ hội lên kinh đô Trường An,
thi cử đỗ đạt, bắt đầu lui tới trong chốn quan trường, căm ghét bọn triều thần
hủ bại thối nát, dùng ngòi bút lời thơ của mình mà đả kích khiến chàng trở
thành cái gai trong mắt những kẻ nắm trọng quyền, và cũng vì thế mà chàng hết bị
đày biếm chốn này đến trích giáng xứ kia, toàn là những chốn mà bọn quan lại
sâu mọt chán chê vì chẳng có gì để gặm nhắm, thì hỏi sao dân tình không cơ cực
điêu linh. Người dân quê chất phát tay lấm chân bùn chưa dám nghĩ đến việc ăn
no mặc ấm, huống hồ là ăn ngon mặc đẹp. Chàng đành lòng nào áo mão xun xoe. Tư
Mã kéo tấm áo khoác lên mình rồi nhìn sang bạn, cả hai không nói lời nào nhưng
cả hai đều hiểu, tiếng đàn kia đã làm cho buổi đưa tiễn hôm nay bị đình trệ mất
rồi. Men rượu vừa nâng toan uống đã không đủ làm ấm lòng hai kẻ sắp chia tay,
sông nước mênh mông bàng bạc một màu trăng, buồn biết mấy, không đàn không sáo.
Vậy mà, vó ngựa chàng vừa dợm bước đi thì bỗng đâu trỗi lên tiếng đàn dìu dặt
khoan thai này, bảo sao chàng không ghìm cương ngựa được.
Người bằng hữu của chàng dường như cũng đã dừng chèo, cũng đang lắng nghe như chàng. Tiếng đàn tuyệt vời mang theo âm hưởng kinh thành từ đâu mà vang vọng tới đây? Ðã hai năm qua kể từ ngày giã biệt đế khuyết phụng hành trích giáng, chàng không được nghe những tiết điệu nhã nhạc của chốn phồn hoa đô hội nữa. Dường như tiếng đàn lãng đãng trôi theo dòng nước quanh đây, vậy là đâu đó trên sông khuya có một con người đang mang mang tâm sự. Tư Mã quày quả xuống ngựa, chàng dắt ngựa cột vào gốc cây phong đứng trơ vơ bên cạnh thủy đình rồi ra dấu cho thuyền ghé sát độ kiều để chàng bước xuống, chàng khoát tay với bạn “Ta hãy đi tìm tông tích tiếng đàn kia”.
Người bằng hữu của chàng dường như cũng đã dừng chèo, cũng đang lắng nghe như chàng. Tiếng đàn tuyệt vời mang theo âm hưởng kinh thành từ đâu mà vang vọng tới đây? Ðã hai năm qua kể từ ngày giã biệt đế khuyết phụng hành trích giáng, chàng không được nghe những tiết điệu nhã nhạc của chốn phồn hoa đô hội nữa. Dường như tiếng đàn lãng đãng trôi theo dòng nước quanh đây, vậy là đâu đó trên sông khuya có một con người đang mang mang tâm sự. Tư Mã quày quả xuống ngựa, chàng dắt ngựa cột vào gốc cây phong đứng trơ vơ bên cạnh thủy đình rồi ra dấu cho thuyền ghé sát độ kiều để chàng bước xuống, chàng khoát tay với bạn “Ta hãy đi tìm tông tích tiếng đàn kia”.
Cầm Nương chưa rời được nỗi niềm xúc cảm tự tâm tư vừa được
nàng khơi dậy qua đôi tay tuyệt vời với tiếng đàn réo rắt của nàng thì lạ chưa,
dường như có tiếng người văng vẳng đâu đây. Nàng có nghe lầm chăng? Bến vắng
tha phương này đã bao đêm âm thầm lặng lẽ giống như đời sống của nàng, sao hôm
nay, khuya khoắt dường này, có điều gì bất ổn chăng? Tiếng chèo khua nước ngày
càng gần hơn và hình như…, hình như …họ đang cao giọng hỏi nàng thì phải…Té ra
họ đang đi tìm xuất xứ của tiếng đàn nàng. Cầm Nương ngập ngừng, có nên
cho họ biết là mình vừa đàn hay không? Là quen hay lạ, là dữ hay lành? Cầm
Nương hắng giọng, toan lên tiếng rồi lại thôi. Ích gì đâu, một tiếng đàn lạc
lõng cô đơn đã trải bao sông nước đìu hiu rồi cũng sẽ lại trải thêm những đìu
hiu sông nước cho đến lúc nào đó không còn tinh diệu nữa thì thôi, chẳng có gì
thay đổi nữa đâu, là lạ hay quen, nào có gì trọng đại!
Nhưng kìa, tiếng chèo khua sóng dường như đang ở đâu đó quanh thuyền nàng, và tiếng người hỏi han vẫn cao giọng, chân thành. Cầm Nương tần ngần một đỗi. Chao ôi! Tâm hồn mẫn cảm như nàng sao có thể làm ngơ cho được. Cầm Nương cất giọng hồi đáp:
Nhưng kìa, tiếng chèo khua sóng dường như đang ở đâu đó quanh thuyền nàng, và tiếng người hỏi han vẫn cao giọng, chân thành. Cầm Nương tần ngần một đỗi. Chao ôi! Tâm hồn mẫn cảm như nàng sao có thể làm ngơ cho được. Cầm Nương cất giọng hồi đáp:
- Là dân phụ, là tiếng đàn của dân phụ, xin hỏi quý quan nhân
có điều chi chỉ dạy”.
- Chúng tôi, hai khách nhàn du, nhân lạc bước qua đây, nghe được khúc đàn tuyệt vời của tôn nương, muốn thỉnh tôn nương tương kiến.
- Chúng tôi, hai khách nhàn du, nhân lạc bước qua đây, nghe được khúc đàn tuyệt vời của tôn nương, muốn thỉnh tôn nương tương kiến.
Chao ôi! Tương kiến nữa à? Thật khó cho nàng quá, nàng
đâu phải là một ca kỹ đàn ca múa hát để mua vui cho khách hào hoa như ngày nào
nữa chứ. Nàng bây giờ đã là Nương tử của trượng phu nàng, tương kiến cùng
kẻ xa lạ, e là nàng sẽ lỗi đạo chăng? Huống nữa, ngày xưa dù còn là một ca kỹ
nhưng đâu phải ai cũng có thể tương kiến cùng nàng, cũng đâu phải hễ ai bỏ ra
nghìn vàng là có thể nghe được tiếng đàn của nàng(1), lui tới với nàng thường
chẳng phải là hạng tục khách. Nàng cất giọng thưa trình:
- Xin quý quan nhân rộng tình lượng thứ, thật là thất lễ, dân
phụ thiếp không thể đáp ứng thỉnh cầu. Dân phụ vốn là hữu chủ chi hoa nên không
thể tùy tiện tương kiến người xa lạ.
- Xin tôn nương hãy yên tâm, chúng ta đây thật ra cũng không
phải người xa lạ. Ta, Hương Sơn Cư Sĩ, tính Bạch danh gọi Lạc Thiên, cũng chính
là quan Tư Mã Giang Châu sở tại, từ đế kinh bị trích giáng đến đây. Ðã hai năm
qua, Bạch ta chưa từng nghe được những điệu nhã nhạc thánh thót du dương tựa
như ở chốn tiên cung này, ngưỡng mộ người đồng điệu nên mới tìm đến mong thỉnh
kiến tôn nương, quyết không dám làm điều chi mạo phạm tôn giá.
Cầm Nương ngẩn người khi nghe khách lạ xưng hô danh tánh. Phải
chăng đó là thi nhân nức tiếng đương thời Bạch Cư Dị (2) ở đế đô? Làm sao
mà người lại lưu lạc tha phương mãi tận chốn này? Nếu thực đúng là người ấy
thì chắc chắn không phải là kẻ phàm phu tục tử rồi. Tuy rày đây mai đó theo
thuyền buôn của trượng phu trên khắp Ðại Giang nam bắc(3) nhưng nàng vẫn có dịp
được nghe phong thanh lời ca ngợi tài đức của vị danh sĩ họ Bạch này. Nàng từng
nghe rằng người đối với chị em giới kỹ nữ tuyệt không có lòng rẻ rúng khinh khi
như hầu hết khách mua vui chức trọng quyền cao nhiều tiền lắm bạc khác. Không
biết hư thực thế nào, âu là, hôm nay nàng mạo muội diện kiến một phen cho biết
giả chân.
Hàn lộ dạ quân quy,
Cầm nguyệt lạc kiều bi.
Thủy miên thâm dạ trạo,
Phù vân quyển thanh y.
Cầm nguyệt lạc kiều bi.
Thủy miên thâm dạ trạo,
Phù vân quyển thanh y.
Người về sương lạnh canh thâu,
Ðàn tôi nhỏ giọt bên cầu rụng trăng.
Chèo khuya sông nước miên man,
Áo xanh một phiến bàng hoàng mây trôi.
Ðàn tôi nhỏ giọt bên cầu rụng trăng.
Chèo khuya sông nước miên man,
Áo xanh một phiến bàng hoàng mây trôi.
Tiếng chèo khua nước xa dần rồi mất hẳn.
Mặt sông trở lại nỗi mênh mang tịch lặng ban đầu, cái mênh
mang tịch lặng trước khi có hai con người đến đây khoấy động những ngày đêm âm
thầm một bóng của nàng. Cầm Nương thở dài thán tức. Họ đã đi rồi! Và chắc có lẽ
không bao giờ trở lại nữa đâu. Ðó là tính chất của cuộc đời, nàng vẫn thường
biết vậy, có gặp gỡ nào mà không kết thúc bằng chia xa, có hợp nào mà không
tan. Cuộc đời nàng đã chứng kiến biết bao tương ngộ phân ly, biết bao hợp
tán. Nhưng mà, tương ngộ phân ly lần này chắc chắn sẽ để lại cho nàng những
tháng ngày còn lại khó nguôi ngoai. Từ nay, đêm đêm nàng sẽ cưu mang thêm một nỗi
đợi chờ khắc khoải khác dù nàng biết là vô vọng. Nàng và họ …bình thủy
tương phùng…bèo nước gặp nhau …rồi…nước trôi dòng nước, bèo trôi đời bèo, trong
muôn một dễ đâu mà có cơ hội tương ngộ lần thứ hai.Vả lại, hãy còn một khoảng
cách lễ nghi, cho dù người ấy có trở lại để nghe tiếng đàn của nàng thì mọi việc
cũng sẽ diễn ra trong âm thầm lặng lẽ mà thôi. Chao ôi! Nếu được như vậy thì
cũng không uổng phí cho tiếng đàn của nàng, nàng nào mong muốn gì hơn.
Hỡi ơi! Lão thương thiên trớ trêu chi bấy! Sao lại khơi dậy trong lòng nàng những hồi ức xa xăm tưởng chừng như đã chìm lắng mất hút dưới tận đáy sông sâu vực thẳm kia. Những đêm dài trở trăn mộng mị cùng ký ức đầy hình ảnh một thời huy hoắc đã xâu xé tâm tư nàng quá đủ rồi, huống hồ, đêm nay, một bậc đương thời danh sĩ đã rơi lệ đầm đìa vì cảm khái tiếng đàn của nàng, một thiên trường thi vì nàng mà tác xuất. Nàng tự biết rằng mình sẽ lại phải trải qua lắm đêm dài mộng mị từ đây. Người lữ khách không mời mà đến, thân thế phi thường kia đã chẳng nề hà đẳng cấp, hạ cố đến nàng mà thốt nên câu “Ðồng thị thiên nhai luân lạc nhân” há không đáng để cho nàng cảm kích muôn phần sao. Huống nữa, nàng, một đóa hoa phấn nhạt hương phai, chút cầm nghệ riêng tư của nàng so với bọn đương thời danh kỹ ở chốn đế đô cũng đã trở thành lỗi điệu mất rồi. Vậy mà, người ấy, một người đã từng lai vãng biết bao nhiêu là trà đình tửu quán, giao kết biết bao nhiêu là hào môn vọng tộc, xuất nhập đế khuyết biết bao nhiêu triêu mộ, lại có thể vì thân phận của nàng mà nhỏ lệ rơi châu ướt đầm tấm áo. Lòng nàng ngập tràn nỗi cảm kích. Tri âm trong trời đất thực hiếm hoi, khó gặp khó tìm. Tâm sự trùng trùng của nàng không ai hay biết, vậy mà người chỉ nghe vài tiếng đàn của nàng là đã lập tức thấu suốt. Nàng có nói muôn lời nghìn chữ cũng không nói hết được lòng cảm kích chân thành. Chỉ ân ân cần cần nghiền ngẫm cái câu “Ðồng thị thiên nhai luân lạc nhân - Cùng một lứa bên trời lận đận” là đã đủ khiến nỗi tịch mịch trong lòng nàng vơi đi, là đã đủ cho nàng tâm trung mãn nguyện, mai sau bèo dạt hoa trôi chung cuộc thế nào cũng mặc, một lần gặp gỡ trong đời như thế là đã quá xứng đáng để bù đấp cho chuyện mất còn nhân thế. Nàng cảm kích, cảm kích muôn vàn …
Hỡi ơi! Lão thương thiên trớ trêu chi bấy! Sao lại khơi dậy trong lòng nàng những hồi ức xa xăm tưởng chừng như đã chìm lắng mất hút dưới tận đáy sông sâu vực thẳm kia. Những đêm dài trở trăn mộng mị cùng ký ức đầy hình ảnh một thời huy hoắc đã xâu xé tâm tư nàng quá đủ rồi, huống hồ, đêm nay, một bậc đương thời danh sĩ đã rơi lệ đầm đìa vì cảm khái tiếng đàn của nàng, một thiên trường thi vì nàng mà tác xuất. Nàng tự biết rằng mình sẽ lại phải trải qua lắm đêm dài mộng mị từ đây. Người lữ khách không mời mà đến, thân thế phi thường kia đã chẳng nề hà đẳng cấp, hạ cố đến nàng mà thốt nên câu “Ðồng thị thiên nhai luân lạc nhân” há không đáng để cho nàng cảm kích muôn phần sao. Huống nữa, nàng, một đóa hoa phấn nhạt hương phai, chút cầm nghệ riêng tư của nàng so với bọn đương thời danh kỹ ở chốn đế đô cũng đã trở thành lỗi điệu mất rồi. Vậy mà, người ấy, một người đã từng lai vãng biết bao nhiêu là trà đình tửu quán, giao kết biết bao nhiêu là hào môn vọng tộc, xuất nhập đế khuyết biết bao nhiêu triêu mộ, lại có thể vì thân phận của nàng mà nhỏ lệ rơi châu ướt đầm tấm áo. Lòng nàng ngập tràn nỗi cảm kích. Tri âm trong trời đất thực hiếm hoi, khó gặp khó tìm. Tâm sự trùng trùng của nàng không ai hay biết, vậy mà người chỉ nghe vài tiếng đàn của nàng là đã lập tức thấu suốt. Nàng có nói muôn lời nghìn chữ cũng không nói hết được lòng cảm kích chân thành. Chỉ ân ân cần cần nghiền ngẫm cái câu “Ðồng thị thiên nhai luân lạc nhân - Cùng một lứa bên trời lận đận” là đã đủ khiến nỗi tịch mịch trong lòng nàng vơi đi, là đã đủ cho nàng tâm trung mãn nguyện, mai sau bèo dạt hoa trôi chung cuộc thế nào cũng mặc, một lần gặp gỡ trong đời như thế là đã quá xứng đáng để bù đấp cho chuyện mất còn nhân thế. Nàng cảm kích, cảm kích muôn vàn …
Tạ Tri Âm
Thiên địa tri âm dĩ thậm hi,
Tâm sự mang mang nhân bất tri.
Chỉ thính cầm thanh quân triệt ngộ,
Hựu năng vị ngã tác trường thi.
Tâm sự mang mang nhân bất tri.
Chỉ thính cầm thanh quân triệt ngộ,
Hựu năng vị ngã tác trường thi.
Ða tạ quân ân đối ngã trân,
Thiên ngôn vạn ngữ bất trần chân.
Chỉ nãi ân cần tham nhất cú,
“Ðồng thị thiên nhai luân lạc nhân”(TBH)
Thiên ngôn vạn ngữ bất trần chân.
Chỉ nãi ân cần tham nhất cú,
“Ðồng thị thiên nhai luân lạc nhân”(TBH)
Dĩ năng thỏa ngã vọng tâm trung,
Lưu thủy phù bình nhiệm sở chung.
Nhất sinh trần thế nhất tương hội,
Khả thích nhân gian bổ tồn vong.
Lưu thủy phù bình nhiệm sở chung.
Nhất sinh trần thế nhất tương hội,
Khả thích nhân gian bổ tồn vong.
Tạ khách tri âm
Than ôi!
Tri âm trời đất hiếm hoi,
Nao nao tâm sự ai người biết cho.
Người nghe suốt một tiếng tơ,
Lại vì ta phổ thành thơ vắn dài.
Nao nao tâm sự ai người biết cho.
Người nghe suốt một tiếng tơ,
Lại vì ta phổ thành thơ vắn dài.
Tạ ơn tấc dạ quan hoài,
Ngàn lời vạn chữ khó bày lòng chân.
Một câu nghiền ngẫm ân cần,
“Bên trời lận đận đôi đàng khác đâu”
Ngàn lời vạn chữ khó bày lòng chân.
Một câu nghiền ngẫm ân cần,
“Bên trời lận đận đôi đàng khác đâu”
Ðủ ta thỏa nguyện thâm sâu,
Bèo trôi nước chảy mai sau mặc lòng.
Kiếp người một buổi tương phùng,
Thế gian san lấp tồn vong cũng vừa.
Bèo trôi nước chảy mai sau mặc lòng.
Kiếp người một buổi tương phùng,
Thế gian san lấp tồn vong cũng vừa.
Chao ôi!
Có ai biết được rằng buổi hội ngộ trăng nước Tầm Dương kia đã
để lại cho hậu thế cả ngàn năm sau một áng văn chương tuyệt tác mãi làm rung động
lòng người. Nhưng mà có thực là đã xảy ra buổi tương ngộ ấy chăng? Hay chỉ vì
muốn ký thác tâm sự thầm kín khó nói trước những thế lực của cung đình và sự
hàm hồ của một đấng quân vương mà tác giả đành phải mượn lời kỹ nữ để ví với
thân phận của mình??? Ai mà biết được!.
Chú thích:
(1) Nghề kỹ nữ: Khái niệm "nghề",
theo nhà kinh tế học Thomas Robert Malthus, người Anh, là một cái gì có lợi cho
bản thân, vừa có ích cho xã hội. Và nếu hiểu theo cái nghĩa nghiêm túc đó thì kỹ
nữ không thể là một nghề. Kỹ nữ, người con gái làm nghề bán phấn buôn hương, còn
có nghĩa là ả đào, con hát. Nếu người ta có thể chấp nhận ả đào con hát là một
nghề thì người ta khó có thể chấp nhận được chữ nghề trong cái người ta gọi là
bán phấn buôn hương. Trong thơ của Đỗ Mục, kỹ nữ còn được gọi là "thương nữ":
Thương nữ bất tri vong quốc hận
Cách giang do xướng hậu hoa đình
(Đỗ Mục - Bạc Tần Hoài)
Cách giang do xướng hậu hoa đình
(Đỗ Mục - Bạc Tần Hoài)
Nói thì nói thế nhưng trong xã hội Trung Hoa ngày xưa, một xã
hội vốn coi người phụ nữ là đồ chơi của đàn ông, có thể dễ dàng mua, bán, bắt
cóc, sang nhượng hoặc đem làm quà tặng giữa những người đàn ông với nhau thì sự
xuất hiện của nghề kỹ nữ cũng là điều rất bình thường, thậm chí được coi là hợp
lý.
Nghề kỹ nữ có từ thời nào? Người ta khó mà xác định được thời điểm xuất hiện của nghề này, tuy nhiên cũng có thể khẳng định được nghề này gắn liền với chén rượu câu khách, mời khách đàn ca làm vui và bán dâm cho khách. Theo tư liệu của ông Nguyễn Tôn Nhan đăng trên tạp chí Kiến thức ngày nay, ông tổ của nghề kỹ nữ là Bạch mi thần. Thần mày trắng có thể là Hồng Nhai tiên sinh, tên gọi Linh Luân, bầy tôi dưới thời vua Hoàng Đế, người làm ra âm luật đã được ghi trong Lã Thị xuân thu của Lã Bất Vi thời Tần. Thần mày trắng cũng có thể là Liễu Đạo Chích, thời Xuân Thu; Quản Trọng (Quản Di Ngô), thời Xuân Thu, người có công lập ra 700 nhà chứa gái để đàn ông đến mua vui, thu tiền lời để lo tiền quân quốc cho Tề Hoàn Công; cũng có thể là Lã Động Tân trong nhóm Bát tiên, nhân vật chuyên dạy hát kiêm trị bệnh hoa liễu cho phụ nữ làng chơi. Trong bất kỳ thời đại vua chúa nào ở Trung Hoa, nghề kỹ nữ cũng vẫn được hoạt động, các "viện" chứa gái vẫn mọc lên ở khắp nơi.
Nghề kỹ nữ có từ thời nào? Người ta khó mà xác định được thời điểm xuất hiện của nghề này, tuy nhiên cũng có thể khẳng định được nghề này gắn liền với chén rượu câu khách, mời khách đàn ca làm vui và bán dâm cho khách. Theo tư liệu của ông Nguyễn Tôn Nhan đăng trên tạp chí Kiến thức ngày nay, ông tổ của nghề kỹ nữ là Bạch mi thần. Thần mày trắng có thể là Hồng Nhai tiên sinh, tên gọi Linh Luân, bầy tôi dưới thời vua Hoàng Đế, người làm ra âm luật đã được ghi trong Lã Thị xuân thu của Lã Bất Vi thời Tần. Thần mày trắng cũng có thể là Liễu Đạo Chích, thời Xuân Thu; Quản Trọng (Quản Di Ngô), thời Xuân Thu, người có công lập ra 700 nhà chứa gái để đàn ông đến mua vui, thu tiền lời để lo tiền quân quốc cho Tề Hoàn Công; cũng có thể là Lã Động Tân trong nhóm Bát tiên, nhân vật chuyên dạy hát kiêm trị bệnh hoa liễu cho phụ nữ làng chơi. Trong bất kỳ thời đại vua chúa nào ở Trung Hoa, nghề kỹ nữ cũng vẫn được hoạt động, các "viện" chứa gái vẫn mọc lên ở khắp nơi.
… Kim Dung cũng cho biết các cấp bậc trong các kỹ viện ở
Dương Châu. Má má là chủ viện, người bỏ tiền ra mua gái về, có toàn quyền sinh
sát đối với các cô gái. Mụ đầu là những người đàn bà lớn tuổi, chuyên môi giới
giới thiệu, làm môi giới mại dâm. Kỹ nữ là người trực tiếp bán dâm trong
các kỹ viện, lại kiêm nhiệm vụ mời khách uống rượu và kêu đồ nhậu. Công việc
của họ là khuyên khích bọn khách chơi xài tiền càng nhiều càng tốt. Hoa nô là
những chàng trai cô gái có nhiệm vụ phục vụ các công việc vặt trong kỹ viện: nấu
nướng thức ăn, pha rượu, dọn bàn ghế, mua đồ ăn cho kỹ nữ và... đánh đập những
cô gái nhà lành, dằn mặt họ nếu họ không chịu bán trinh, không chịu tiếp khách.
Nhưng thật ra, kỹ viện không chỉ là nơi mại dâm. Nếu trong tiểu
thuyết võ hiệp Kim Dung, bọn hào sĩ giang hồ bị bọn quan binh truy nã; người bị
thương lánh vào kỹ viện trị thương, thì trong thực tế, các danh sĩ thường tìm đến
kỹ viện để nghe hát làm thơ, rồi dạy các kỹ nữ hát những bài thơ của mình thành
nhạc phổ. Kỹ viện trở thành nơi nương náu của những tâm hồn cô độc, của những
người bị vua chúa lưu đày. Trong những trường hợp đó thì kỹ nữ trở thành
người bạn tri âm. Chúng ta đã từng biết Bạch Cư Dị bị giáng làm Tư Mã Cửu
Giang, đã từng làm bài Tỳ bà hành ca ngợi tiếng đàn của một kỹ nữ dài 622 câu.
Triong phần đề tựa, Bạch Cư Dị đã viết: "Năm Nguyên Hoà thứ mười (816), ta
bị giáng làm Tư mã huyện Cửu Giang... tiễn khách ở bến Bồn, giữa đêm nghe tiếng
tỳ bà ở trên thuyền... hỏi ra thì đó là ca nữ ở Trường An" Tác giả ngồi
nghe tâm sự của người ca nữ đó. Bản thân người ca nữ đó là một nhân vật có học,
có lòng tự trọng, không phải khách nào mời cũng ra.
Di thuyền tương cận yêu tương kiến
Thiên tửu hồi đăng trùng khai yến
Thiên hô vạn hoán thi xuất lai
Do bão tỳ bà bán già diện(TBH)
Thiên tửu hồi đăng trùng khai yến
Thiên hô vạn hoán thi xuất lai
Do bão tỳ bà bán già diện(TBH)
(Ghé thuyền đến cạnh chào mời
Khêu đèn thêm rượu lại bày tiệc hoa
Nằn nì mời mãi mới ra
Ôm đàn che nửa mặt hoa thẫn thờ)
(Trân Trọng Kim dịch)
Khêu đèn thêm rượu lại bày tiệc hoa
Nằn nì mời mãi mới ra
Ôm đàn che nửa mặt hoa thẫn thờ)
(Trân Trọng Kim dịch)
( Theo Vũ Đức Sao Biển trong “Kim Dung giữa đời tôi”)
(2) Bạch Cư Dị: (772 - 848) đại thi hào đời Ðường, tác
giả bài thơ Tỳ Bà Hành, nguyên ủy của câu truyện ngắn này.
(3) Tầm Dương: Khúc sông Trường Giang chảy qua tỉnh Giang
Tây, thị trấn Cửu Giang.
Viết tại Khán Vân Hiên
29/8/2003
Hạt Cát











Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét