MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Thơ lục bát là thể
thơ truyền thống của dân tộc Việt Nam. Nếu như người Trung Quốc có Đường thi,
người Nhật có thơ Haikư, người Anh và người Italia tự hào vì có thơ Sonnet...,
thì chúng ta cũng có quyền tự hào vì có thơ lục bát. Đó là một trong những thể
thơ đã có từ lâu đời, tồn tại và phát triển thông qua lời ăn, tiếng nói của cha
ông ta truyền lại cho con cháu, qua tục ngữ, ca dao và qua các làn điệu dân ca
ở khắp mọi miền đất nước. Thơ lục bát đã luôn được các thế hệ nhà thơ Việt Nam
yêu mến và dành nhiều cảm xúc để làm mới, hấp dẫn thông qua các ngôn từ, lời lẽ
trong thơ.
1.2. Thơ lục bát
không dễ làm vì nó có quy luật chặt chẽ. Cùng với sự vận động của đời sống xã
hội, lục bát cũng có thêm sự phát triển mới. Thơ lục bát không những là thể thơ
truyền thống đặc thù cho thi ca cổ truyền, mà đã trở thành một thể thơ giàu cảm
xúc, có sức truyền cảm trong trào lưu thi ca hiện đại. Từ Tản Đà, Nguyễn Bính,
Tố Hữu, Bùi Giáng, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn,... đến một số cây bút trẻ sau này,
lục bát đã trở thành những tác phẩm mang phong cách hiện đại, là những tác phẩm
“đóng đinh” trong sự nghiệp văn chương của họ.
1.3. Được hình
thành từ điều kiện văn hóa - lịch sử của dân tộc, vượt qua mọi khoảng cách thời
gian, không gian, sự sàng lọc trong văn hóa, văn học, lục bát như thứ “vàng
mười” vẫn tồn tại để minh chứng cho sự bất diệt, trường tồn của tiếng Việt, tâm
hồn Việt, văn hóa Việt. Từ những câu ca dao mộc mạc, ngọt ngào, tha thiết cho
đến thơ hiện đại và đương đại, lục bát vẫn tồn tại và khẳng định được vị trí
của mình trong nền văn học luôn vận động và biến đổi không ngừng để phù hợp với
nhu cầu thẩm mỹ của con người.
Nghiên cứu và tìm
hiểu thơ lục bát một cách toàn diện, hệ thống để thấy được những cái hay, cái
đẹp truyền thống và thấy cả những sáng tạo mang màu sắc hiện đại của nó là một
nhu cầu cấp thiết của tiến trình văn học Việt Nam, của đời sống dân tộc Việt
Nam.
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng
nghiên cứu của luận án là thể thơ lục bát với các phương diện biểu hiện từ
khi mới hình thành, qua các giai đoạn phát triển, cho đến hôm nay.
2.2. Phạm vi
nghiên cứu của luận án là các sáng tác tiêu biểu trong tiến trình vận động
lịch sử của thơ lục bát.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích: Đề tài hướng tới mục tiêu là phát hiện và khẳng định giá
trị tư tưởng, giá trị thẩm mỹ của thơ lục bát truyền thống, sự tiếp biến của
thơ lục bát hiện đại, các hiện tượng thơ, các nhà thơ, các phong cách thơ lục
bát tiêu biểu.
3.2. Nhiệm vụ: Luận án làm sáng rõ những vấn đề lý luận cơ
bản về thể loại và thể lục bát, nét độc đáo của thể lục bát trong các thể thơ,
đồng thời phân tích, đánh giá các xu hướng nghiên cứu thơ lục bát trên các vấn
đề chung, đặc biệt là vấn đề truyền thống và hiện đại. Luận án đưa ra một cái
nhìn khái quát về nguồn gốc, sự hình thành, các giai đoạn phát triển của thể lục
bát, đi sâu phân tích đặc trưng thể loại: cấu trúc hình thức và biến thể lục
bát. Từ việc tìm hiểu khái niệm truyền thống và những giá trị truyền thống
trong thơ, luận án chỉ ra những giá trị cốt lõi, những trường hợp điển hình của
thơ lục bát truyền thống. Qua khái luận về hiện đại, tính hiện đại, sự tiếp biến
truyền thống và hiện đại trong thơ, luận án làm sáng tỏ mối quan hệ truyền thống
và cách tân, những hiện tượng tiêu biểu của thơ lục bát hiện đại.
4. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp
nghiên cứu chính: phương pháp lịch sử - xã hội; phương pháp loại hình; phương
pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp tiếp cận thi pháp học.
Luận án còn sử dụng
phương pháp nghiên cứu liên ngành (văn học với văn hóa, tâm lý học, ngôn ngữ
học), phương pháp cấu trúc, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê… và các
thao tác nghiên cứu khác.
5. Đóng góp mới của luận án
- Luận án là công
trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện, có hệ thống thơ lục bát với cấu trúc, đặc
trưng thể loại, những giá trị bền vững, những hiện tượng tiêu biểu trong diễn
trình vận động lịch sử từ truyền thống đến hiện đại.
- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần khẳng định vị thế và đóng góp to lớn
của thơ lục bát cho thi ca, văn nghệ, văn hoá dân tộc, cho cuộc sống đất nước từ
xa xưa đến hôm nay.
6. Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở
đầu và Kết luận, luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thơ lục bát - lịch sử phát triển, đặc trưng thể loại
Chương 3: Giá trị của thơ lục bát truyền thống
Chương 4: Tiếp biến của thơ lục bát hiện đại
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Vấn đề thể loại và thể lục bát
1.1.1. Thể loại nói chung và thơ nói riêng
Thể loại mang
tính lịch sử và dân tộc, tính kế thừa và sáng tạo. Mỗi thể loại cũng thường
xuyên tự điều chỉnh để hoàn thiện chính mình. Nó song song hai quá trình kế
thừa truyền thống quá khứ và cách tân, sáng tạo cái mới. Ranh giới giữa các thể
loại mang tính chất tương đối, không phải là sự ngăn cách và phân chia tuyệt
đối. Giữa các thể loại luôn luôn có hiện tượng giao thoa, sự chuyển hoá, thâm
nhập, vay mượn lẫn nhau và từ đó sản sinh ra những thể như cầu nối giữa
các thể loại khác nhau.
Thơ là một thể
loại trong văn học. Chia theo phương thức biểu hiện, khả năng phản ánh hiện
thực và khả năng vận dụng ngôn ngữ, thơ - loại hình trữ tình, đặt ngang hàng với
loại tự sự, loại kịch. Trong thơ lại có những thể nhỏ hơn, từ thể bi ca, tụng
ca, thơ đồng quê,… cho đến các thể thơ trữ tình trong thời kỳ hiện đại. Mỗi thể
thơ lại mang trong nó những đặc trưng riêng và thích hợp cho việc bộc lộ những
xúc cảm, tình cảm khác nhau.
1.1.2. Các thể thơ và thể lục bát
Thông
qua giao lưu giữa các nền văn hóa, các thể thơ được tăng dần, từ những cấu
trúc đơn giản đến những cấu trúc phức tạp. Trong các thể thơ ở Việt Nam ta có
thể kể đến lục bát, song thất lục bát, các thể thơ Đường luật như thất
ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cú rồi đến các
thể thơ mới và thơ tự do. Mỗi thể thơ có những quy luật kiến tạo
riêng về âm, thanh, vần, điệu; tuy nhiên, trong một số trường hợp vẫn chấp nhận
sự phá cách.
Lục bát là thể
thơ một câu sáu chữ rồi đến một câu tám chữ cứ thế nối liền nhau. Bài thơ lục
bát thông thường được bắt đầu bằng câu lục và kết thúc bằng câu bát; đôi khi
cũng có trường hợp kết thúc bằng câu lục để đạt một dụng ý tư tưởng nghệ thuật
nhất định. Trong bài thơ, chữ thứ sáu của câu lục vần với chữ thứ sáu của câu
bát, chữ thứ tám của câu bát vần với chữ thứ sáu của câu lục kế tiếp và cứ theo
quy luật đó cho đến hết bài thơ. Lục bát là thể thơ dân tộc mang đậm bản sắc và
phong vị quê hương.
Ba thể thơ lục bát, tuyệt cú và haikư
đều là thể thơ cách luật ngắn nhất trong văn học dân tộc của Việt Nam, Trung
Quốc và Nhật Bản. Ba thể thơ này có nhiều điểm giống hoặc gần gũi nhau. Mặt
khác, ba thể thơ này cũng có nhiều điểm khác nhau, trong đó có sự khác nhau
ngay trong những điểm tương đồng. Có lẽ cách luật của thơ lục bát là chặt chẽ
nhất, cách gieo vần cũng phức tạp hơn. Lục bát còn có khả năng “lắp ghép” để
thành một bài thơ trường thiên; đặc biệt, người ta có thể viết truyện thơ bằng
cách lắp ghép hàng ngàn (hoặc vô số) cặp câu lục bát lại. Khả năng “sinh nở”, lắp
ghép này không thấy có ở tuyệt cú và haikư.
1.2. Tình hình nghiên cứu thơ lục bát
1.2.1. Nghiên cứu các vấn đề chung của thơ
lục bát
1.2.1.1. Khuynh hướng nhận xét, đánh giá
tổng quan về thơ lục bát
Lục
bát có từ ngàn đời, có sức sống mãnh liệt. Rất nhiều thi nhân tài danh và biết
bao “thi sĩ thảo dân” đã sáng tác thơ lục bát. Trên các báo, tạp chí mỗi năm
đăng tải hàng trăm, hàng ngàn bài thơ viết theo thể lục bát. Đồng thời cũng có
không ít đầu sách thơ lục bát của các nhà thơ được xuất bản, càng khẳng định
lục bát luôn được duy trì, ngày càng phát triển. Năm 1998, sau cuộc thi thơ lục
bát, báo Giáo dục và thời đại phát hành ấn phẩm Những tác phẩm vào
chung khảo cuộc thi thơ lục bát. Năm 2000, Nxb Văn hoá Thông tin in Tuyển
tập thơ lục bát Việt Nam. Với sự kiện kỷ niệm Đại lễ 1.000 năm Thăng Long -
Hà Nội, nhiều báo, tạp chí đã phát động cuộc thi làm thơ theo thể lục bát với
chủ đề “Ngàn năm thương nhớ”, thu hút đông đảo người yêu thơ tham gia. Có nhiều
bài viết, công trình nghiên cứu khẳng định giá trị, sức sống của thơ lục bát.
1.2.1.2. Khuynh hướng nghiên cứu nguồn gốc,
lịch sử, đặc trưng thể loại của thơ lục bát
Chu Xuân Diên
trong Tục ngữ Việt Nam khẳng định sự ra đời của lục bát có chịu ảnh
hưởng và khả năng nhiều bắt nguồn từ trong tục ngữ. Bửu Cầm, trong bài Ca
dao, nền tảng văn học dân tộc khẳng định: “Lục bát sinh thành từ ca dao”.
Khi viết bài Thể lục bát từ ca dao đến Truyện Kiều, Nguyễn Văn Hoàn đã
ngầm thừa nhận rằng lục bát bắt nguồn từ ca dao. Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn Xuân
Đức, Phan Diễm Phương cũng đã đặt ra vấn đề trên một phương pháp luận khoa học.
Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức khẳng định lục bát là thể thơ dân tộc (Thơ ca
Việt Nam - hình thức và thể loại). Các nhà nghiên cứu Hoa Bằng, Nguyễn Đổng
Chi cũng có ý kiến tương tự.
Về diễn trình
lịch sử của thơ lục bát, Phan Ngọc viết Thể thơ lục bát - một vài suy nghĩ,
Nguyễn Duy Bắc viết Bản sắc dân tộc trong thơ ca Việt Nam hiện đại, Mã
Giang Lân viết Tiến trình thơ Việt Nam hiện đại, Ngô Văn Phú viết Thơ
lục bát sẽ đi tới đâu. Các nhà nghiên cứu tập trung sự chú ý để phân tích
làm rõ khả năng phát triển cũng như sự biến đổi linh hoạt, tài tình của thể thơ
lục bát. Trong bài viết Thể lục bát từ ca dao đến Truyện Kiều, Nguyễn
Văn Hoàn đã có những khẳng định về sự tiến triển đi lên và đổi thay của lục bát
Việt Nam. Phạm Quốc Ca trong Mấy vấn đề thơ Việt Nam 1975 - 2000 cũng
phác hoạ sự vận động của thể thơ lục bát qua các giai đoạn của thế kỷ XX.
Nói về cách làm
thơ lục bát và phân tích những đặc trưng nghệ thuật của thơ lục bát có Cách
làm thơ lục bát (Nguyễn Bính), Khảo luận luật thơ (Lam Giang), Chung
quanh mấy quan niệm về luật bằng trắc trong thơ lục bát (Hồng Diệu), Tiếng
Việt và thể thơ lục bát (Nguyễn Thái Hòa), Giới thiệu các thể thơ, luật
thơ và cách làm thơ (Hoàng Xuân Soạn) v.v… Các bài viết của Võ Bình, Mai
Ngọc Chừ, Hồ Văn Hải đã nghiên cứu thể thơ lục bát dưới góc độ của chuyên ngành
ngôn ngữ, cho thấy thơ lục bát kết tinh tinh hoa văn hóa - ngôn ngữ dân tộc.
1.2.1.3. Khuynh hướng nghiên cứu các hiện
tượng, tác giả, tác phẩm, phong cách tiêu biểu của thơ lục bát
Trong tiến trình
vận động, phát triển, thơ lục bát để lại dấu ấn đậm nét ở những hiện tượng tiêu
biểu, điển hình. Trước hết, các nhà nghiên cứu tập trung chú ý vào lục bát ca
dao: Sơn Tùng viết Thử tìm cái đẹp trong ca dao; trong Tục ngữ - ca
dao - dân ca Việt Nam, Vũ Ngọc Phan tường giải khả năng phản ánh hiện thực
và biểu hiện tâm hồn người Việt của ca dao; Nguyễn Tài Cẩn và Võ Bình viết Thử
bàn thêm về thể thơ lục bát văn hóa dân gian; Nguyễn Xuân Đức viết Về
thể lục bát trong ca dao. Sau ca dao, một lĩnh vực mà nội dung tự sự và trữ
tình được truyền tải bằng lục bát là truyện Nôm. Nghiên cứu hiện tượng đó, Lại
Nguyên Ân viết Nhu cầu diễn Nôm - diễn ca và khả năng của thơ lục bát,
Nguyễn Văn Hoàn viết Thể lục bát từ ca dao đến Truyện Kiều, Nguyễn Văn
Bon viết Vài suy nghĩ về nền đạo lý nhân bản nhân đọc lại truyện Lục
Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu. Bông Tràm khảo sát thơ lục bát ở Nam
Bộ qua bài viết Thơ lục bát - một cõi trời mênh mông. Đặng Diệu Trang
viết Về sự khác nhau giữa lục bát trong ca dao và lục bát trong Thơ mới.
Nhiều nhất là các
bài viết, các công trình nghiên cứu các tác giả, tác phẩm, các phong cách thơ
lục bát tiêu biểu: Tản Đà, Nguyễn Bính, Tố Hữu, Bùi Giáng, Nguyễn Duy, Lê Đình
Cánh, Phạm Công Trứ, Đồng Đức Bốn v.v…
Vấn đề
truyền thống và hiện đại trong thơ lục bát đã được đề cập đến trong một số công
trình nghiên cứu. Hà Quảng chú ý tới Một số cách tân thể thơ lục bát hiện
đại. Vũ Duy Thông viết Về sự phá vỡ truyền thống trong thể lục bát.
Phan Diễm Phương viết về những nhà thơ thời nay có bản lĩnh, giàu khát vọng,
mạnh dạn tìm tòi, đổi mới để thơ lục bát phản ánh sự kiện cuộc sống, nói lên
tình ý con người đương thời (Thể lục bát ở một thế hệ nhà thơ hiện đại).
Cùng chung cảm thức với Phan Diễm Phương, Nguyễn Hoà Bình viết Về sự đổi mới
của thơ lục bát, v.v…
Có thể thấy,
những công trình nghiên cứu trên đều đi sâu vào những phương diện, những vấn đề
cụ thể, thực sự chưa có một cái nhìn xuyên suốt, mang tính hệ thống về thơ lục
bát từ truyền thống đến hiện đại.
Tiểu kết chương 1
So với các thể
thơ khác như song thất lục bát, thể thơ bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, bảy chữ, tám
chữ, thơ tự do,… thì lục bát không chỉ là một trong những thể thơ dễ nhận diện
nhất mà còn là thể thơ đã tạo nên cho dân tộc vô số tác phẩm văn chương, trong
đó nhiều tác phẩm đã trở thành cổ điển. Các công trình nghiên cứu về thơ lục
bát, từ những vấn đề chung đến vấn đề chuyên biệt là truyền thống và hiện đại,
đều tập trung khẳng định giá trị của thể thơ này, sự tiếp biến mạnh mẽ, mới mẻ
của nó trong tiến trình văn học, trong diễn trình lịch sử dân tộc Việt Nam.
Chương 2
THƠ LỤC BÁT - LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN,
ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI
2.1. Lịch sử hình thành, phát triển thể
lục bát
2.1.1. Nguồn gốc, sự hình thành thể lục
bát
Có hai
hướng tiếp cận chủ yếu về nguồn gốc thể loại: lục bát có dấu vết của tục ngữ,
ca dao, tức là có ngọn nguồn từ văn học dân gian; lục bát xuất phát, hình thành
từ đặc trưng, sự vận động nội tại của tiếng Việt, văn hóa Việt.
Một cách khái
quát và khách quan có thể nói dòng chảy lục bát là hợp lưu của cả hai ngọn
nguồn trên, nó được hình thành từ tiến trình vận động của văn học dân gian, từ
chính đặc điểm ngữ âm của tiếng Việt và xu hướng thẩm mỹ mang tính chất tâm lý
xã hội riêng của dân tộc Việt trong việc xây dựng âm luật thơ ca, nhất là sở
thích sử dụng vần và nhịp. Bài lục bát sớm nhất còn được lưu trữ là một bài hát
cửa đình của Lê Đức Mao (1462-1529), đó là bài Nghĩ hộ tám giáp giải thưởng
hát ả đào.
2.1.2. Các giai đoạn phát triển của thể
lục bát
Thơ lục bát bắt
nguồn từ trong ca dao Việt Nam, thể hiện thành công cả về nội dung lẫn hình
thức nghệ thuật, góp phần tạo nên sự phong phú đa dạng trong văn học dân gian.
Thời
gian định hình của lục bát khoảng từ thế kỷ X đến thế kỷ XV. Thơ lục bát ở giai
đoạn cuối thế kỷ XV đến trước Truyện Kiều còn trong tình trạng chưa hoàn
chỉnh, hình hài chưa cụ thể, còn xô bồ, tự do và có đôi chút lỏng lẻo.
Trong dòng
văn chương bác học, đến cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII, địa vị thơ lục bát
đã trở nên vững vàng với sự xuất hiện của khá nhiều tác phẩm giá trị như Lâm
Tuyền văn của Phùng Khắc Khoan, và Ngọa Long Cương văn cùng Tư Dung
văn của Đào Duy Từ. Sang thế kỷ thứ XVIII và XIX, lục bát đã trải qua thời
kỳ cực thịnh với những tác phẩm danh tiếng như Nhị độ mai, Bích Câu
kỳ ngộ, Hoa Tiên truyện. Vào nửa
cuối thế kỷ XVIII, Trần Danh Án đã sưu tập và biên soạn Quốc phong giải
trào và Nam phong nữ ngạn thi. Một số soạn giả đã ghi chép tục ngữ, ca dao bằng
chữ Nôm, rồi dịch ra chữ Nho và chú thích.
Kế thừa truyện
thơ lục bát của thế kỷ XVIII, giữa thế kỷ XIX đã xuất hiện hàng loạt truyện thơ
lục bát, như: truyện Thạch Sanh, Phạm Công Cúc Hoa, truyện Phan
Trần…
Truyện Kiều đã đánh dấu son cho sự mẫu
mực, cổ điển của thể loại lục bát. Hai yếu tố gieo vần và phối điệu đã đạt tới
sự thống nhất, ổn định. Câu thơ đã xuất hiện hình thức đối. Mặt khác, so với
lục bát ca dao, sự sáng tạo ở Truyện Kiều còn thể hiện trong việc
đưa vào tác phẩm những từ láy, điệp từ, thành ngữ và cả những lời nói trong
sinh hoạt hàng ngày của quần chúng lao động. Câu thơ của Nguyễn Du càng về sau
càng uyển chuyển, đầy nhạc tính, nâng nghệ thuật thơ lục bát đến một giá trị
độc đáo. So với Truyện Kiều, yếu tố ca dao - dân ca trong Lục Vân
Tiên được khai thác và sử dụng với tần số lớn hơn, âm điệu câu thơ nhẹ
nhàng hơn, êm ái hơn. Bên cạnh đó, những cách xưng tên trong lối bạch, lối
tuồng, những bài học nhân quả, triết lý sống không màng danh lợi là những dấu
ấn mà lục bát ca dao đã để lại trong tác phẩm.
Lục
bát thời kỳ nửa sau thế kỷ XIX đến những năm 30 của thế kỷ XX đều đi theo hướng
mẫu mực đã được khẳng định chắc chắn từ trong Truyện Kiều. Cuối thế kỷ
XIX, lục bát không kể chuyện được nữa mà chuyển sang nhận chức năng trữ tình
làm chức năng chủ yếu. Trong số những nhà thơ hồi đầu thế kỷ XX nổi lên tên
tuổi Tản Đà (Nguyễn Khắc Hiếu) với những vần điệu quả thực đã làm rung động
lòng người.
Sau Tản Đà, giai
đoạn 1932-1945, Thơ mới xuất hiện với hầu hết những bài thơ mang tâm trạng u
buồn man mác của số đông công chúng lúc bấy giờ. Thơ lục bát của những nhà thơ lãng mạn mới mẻ ở “cái tôi” tiểu tư sản. Ngôn ngữ thơ trau chuốt,
đạt đến sự tinh tế hiếm có trong nghệ thuật diễn tả những rung cảm của tâm hồn.
Có thể nhặt ra nhiều hạt châu ngọc như Ngậm ngùi, Buồn
đêm mưa (Huy Cận), Chiều (Xuân Diệu), Thơ sầu rụng (Lưu Trọng Lư), Lũy tre xanh, Rằm tháng giêng (Hồ Dzếnh), v.v…
Trong bầu trời lục bát Thơ mới, người ta biết đến Nguyễn Bính với một hồn
thơ lai láng nét đẹp chân quê. Thơ lục bát của Nguyễn Bính được sáng tạo trên
cái nền của ca dao xưa và phát triển thêm để nâng nó lên tầm cao mới.
Đến
giai đoạn kháng chiến chống Pháp, lục bát phát triển theo định hướng tư tưởng
của thời đại: văn hoá văn nghệ phục vụ công nông binh. Lục bát gần với vè kể chuyện, ít chất thơ. Thời này, đa
số các nhà thơ làm thơ tự do, rồi chen vào ít câu lục bát, như Bài ca vỡ
đất, Bao giờ trở lại
(Hoàng Trung Thông); Bầm ơi, Sáng
tháng Năm (Tố Hữu) v.v… Lục bát của Tố Hữu giai đoạn này (tập thơ Việt
Bắc) và cả giai đoạn sau (các tập Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa, bài thơ dài Nước non ngàn dặm) có
nét chung: Tố Hữu sử dụng ngôn ngữ biểu cảm của ca dao, ông đưa vào thơ hình
ảnh quần chúng, nói cái giọng quần chúng, nói cái tình kháng chiến, tình công
dân.
Lục bát sau năm
1954 được thừa hưởng những thành tựu nghệ thuật giai đoạn trước, nó mới mẻ ở cả
hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật. Lục bát những năm này phát
triển theo hai hướng: tiếp tục khai thác chất liệu ca dao, thể hiện những tình
tự dân tộc theo hướng Nguyễn Bính, hoặc phản ánh đời sống, hướng về quần chúng,
nói tiếng quần chúng, nói tình ý công dân, theo hướng của Tố Hữu. Ở miền
Nam, Phạm Thiên Thư tiếp bước Nguyễn Du bằng lục bát sang trọng, ngôn ngữ trong
veo. Bùi Giáng làm mới lục bát bằng chữ nghĩa trùng trùng điệp điệp, bằng tài
hoa rất mực trong những lời cợt đùa như con trẻ, nói chuyện không đâu mà thành
tư tưởng.
Từ sau
năm 1975, thơ lục bát ngày càng khẳng định sức sống mãnh liệt của mình. Có
nhiều tập thơ lục bát chiếm được sự yêu mến của đông đảo công chúng như Sáu
và tám (Nguyễn Duy), Thơ lục bát (Nguyễn Trọng Tạo), Ngàn xưa
(Nguyễn Thanh Mừng), Thơ lục bát (Kim Chuông), v.v… Ở một số tập
thơ (của một tác giả hoặc một nhóm tác giả), số lượng bài làm theo thể lục bát
thường chiếm tỉ lệ khá cao.
Trong tiến trình
phát triển của thơ hiện đại, lục bát tuy không phải là thể loại chủ đạo nhưng
nó vẫn duy trì được sức sống và tạo được diện mạo mới mẻ cho mình. Những cuộc
thi hay những trang thơ chỉ dành riêng cho lục bát đã phần nào chứng tỏ điều đó
như cuộc thi của báo Văn nghệ, báo Văn nghệ trẻ, báo Giáo dục
và thời đại, … Có nhiều nhà thơ viết nhiều, viết hay và khẳng định được
mình ở thể lục bát như Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Lê Đình Cánh, Phạm Công Trứ,
Trương Nam Hương, Đinh Nam Khương v.v… Lục bát Nguyễn Duy đã tạo ấn tượng bởi
lối suy nghĩ táo bạo, sắc sảo, tinh tế. Tình cảm đậm đà được thể hiện trong
hình thức thơ dân tộc giản dị, tự nhiên rất gần các mô týp ca dao. Đồng Đức Bốn
có gần 200 bài lục bát với cảm hứng mạnh mẽ bắt nguồn từ quê hương, cuộc sống,
đời tư, từ hình ảnh thơ quen thuộc nhưng đầy ấn tượng.
Gần
đây, Trần Ngọc Tuấn viết lục bát tứ tuyệt với tư tưởng Thiền. Qua dốc sương
mù là một thành công bước đầu. Những nhà thơ trẻ như Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Thế Hoàng Linh có chạm đến
lục bát, nhưng hồn thơ chưa định hình.
2.2. Đặc trưng thể loại của thơ
lục bát
2.2.1. Cấu trúc hình thức thể lục bát
2.2.1.1.
Đặc điểm của thanh, âm và vần trong tiếng Việt
Thanh là cách phát
âm cao hay thấp, bổng hay trầm của mỗi âm. Chữ quốc ngữ dùng để viết tiếng
Việt chỉ có năm dấu ‘sắc’, ‘huyền’,‘ hỏi’, ‘ngã’, ‘nặng’, và chữ ‘không
đánh dấu’, tương ứng với 6 thanh.
Sáu thanh nêu
trên có thể cô đọng thành 2 loại
âm ‘bằng’ và ‘trắc’.
Bằng (nghĩa đen là bằng phẳng) gồm những tiếng lúc phát ra nghe đều đều.
Trắc (nghĩa đen là nghiêng, lệch) gồm những tiếng phát ra mang âm từ thấp
lên cao, hoặc từ cao xuống thấp.
Những tiếng có
vần với nhau là những tiếng không những cùng một thanh (bằng hoặc trắc) mà còn
phải có âm hoặc hoàn toàn hợp nhau, hoặc tương tự nhau. Có hai loại vần là ‘vần
chính’ và ‘vần thông’.
2.2.1.2. Khuôn khổ của thơ lục bát
‘Lục bát’ là ‘sáu tám’ vì theo thể thức, lối thơ
này bao gồm cứ một câu sáu chữ rồi đến một câu tám chữ. Có thể xem cặp 6 tiếng
+ 8 tiếng là đơn vị tế bào, một chỉnh thể tối thiểu của thơ lục bát, bởi vì nó
hoàn chỉnh về mặt ngữ nghĩa và nhất là hoàn chỉnh về mặt cấu âm theo chiết đoạn
trong quy luật hòa thanh của âm nhạc.
2.2.1.3. Luật bằng trắc trong thể lục bát
Một bài thơ lục
bát bao gồm một hoặc nhiều cặp các câu thơ lục bát mà trong đó, mỗi cặp thơ
tuân theo quy luật: Câu lục: b B t T b B; Câu bát: b B t T b B t B. Hai câu đều ở giữa dòng. Câu
bát tiến ra ngoài khoảng hai chữ so với câu lục. Những chữ viết hoa bắt buộc
phải theo đúng quy luật bằng trắc.
2.2.1.4. Cách gieo vần
Vần (hay vận)
là tiếng đồng thanh với nhau. Cách gieo vần phổ biến là vần bằng, vừa gieo
vần chân, vừa gieo vần lưng. Tiếng cuối của câu lục hiệp vần với tiếng thứ 6 của câu bát,
tiếng thứ 8 của câu bát lại hiệp vần với tiếng 6 của câu lục tiếp theo.
2.2.1.5. Luật phối thanh
Các tiếng chẵn 2 và 6 là thanh bằng, đối nhau qua thanh trắc (4), câu bát có
thêm một nhịp bằng nhưng bằng (6) và bằng (8) phải đối nhau về âm vực trầm
(thanh huyền), bổng (thanh ngang). Trong câu bát, tuy hai chữ thứ sáu và thứ tám đều là
tiếng ‘bằng’, nhưng không được cùng một ‘thanh’.
Thường thì thể lục bát
có một loại nhịp cơ bản, trực tiếp tạo nên âm luật cho nó là nhịp gồm hai tiếng
(gọi tắt là nhịp hai). Nhưng thực tế, không phải lúc nào, câu thơ lục
bát cũng chia một cách máy móc thành từng nhịp hai một như thế, thật ra
nhịp điệu dù tính theo đơn vị nào cũng gắn chặt với cảm xúc và tư duy được diễn
đạt qua lời thơ.
2.2.1.7. Đối
Thơ lục bát không quy định nhất thiết phải có đối. Tuy vậy, đặc trưng phổ biến
của lục bát lại là tiểu đối và là đối thanh trong hai tiếng thứ tư hoặc thứ sáu
của câu bát với tiếng thứ tám của câu đó. Có khi đối ý, có khi lại đối cả ý và
thanh.
2.2.2. Biến thể lục bát
2.2.2.1. Tăng giảm số lượng âm
tiết
Giảm số
lượng âm tiết là một nét khả dĩ của biến thể lục bát. Nhưng gia tăng số
lượng âm tiết mới là quy luật đích thực của nguyên lý tạo sinh. Gia tăng
nhiều hay ít số lượng âm tiết sẽ kéo theo sự biến đổi về giai điệu, tiết tấu.
Những dòng lục bát biến thể đã sinh sôi liên tục, trước tiên nó nằm sẵn trong
các loại hò, hát dân gian, rồi “chui” vào thơ các nhà thơ bác học thời trung -
cận đại, và tái sinh trong thơ hiện đại.
2.2.2.2. Biến tấu thanh điệu, tiết
điệu
Biến
thể lục bát không nhất thiết phải giảm thiểu hay gia tăng âm tiết mà chỉ cần
biến tấu thanh điệu, tiết điệu. Có nghĩa là nó có thể quy chuẩn ở hình thái
chung nhưng lại biến tấu ở những đơn vị cấu trúc khác.
2.2.2.3. Biến đổi ở cách gieo vần
Với biến thể
vần bằng,
có thể thay đổi cách gieo vần ở câu bát: chữ cuối của câu lục cùng vần với chữ
thứ tư của câu bát chứ không phải với chữ thứ sáu như luật thông thường. Với biến thể vần trắc, chữ cuối của
câu lục và chữ thứ sáu của câu bát cùng là âm trắc và hiệp vần với nhau.
2.2.2.4. Ngắt nhịp, ngắt câu
Ở thơ lục bát còn
có lối ngắt nhịp linh hoạt và rất đa dạng. Lục
bát biến thể ngắt câu là một dạng lục bát mới xuất hiện khoảng 30 năm gần đây,
và thường được coi như một trong các dạng thơ tự do. Thể loại này khá hay, đặc
biệt là diễn tả được tiết tấu nhanh chậm, hối thúc, hoặc ngập ngừng, chậm rãi
của mạch thơ.
Tiểu kết chương 2
Thơ
lục bát đi từ lục bát ca dao qua lục bát trung đại đến lục bát hiện đại, từ xô
bồ, lỏng lẻo đến chỗ tương đối hoàn chỉnh và có thể coi là khuôn mẫu cho nhiều sáng
tác ở những giai đoạn tiếp theo. Thể loại lục bát có chính thể cổ điển, tuy
nhiên trong thực tiễn tồn tại, nó lại có nhiều biến thể linh hoạt và sinh động.
Chính sự uyển chuyển của câu thơ lục bát tạo cho nó khả năng biểu hiện được
nhiều lĩnh vực của cuộc sống, nhiều sắc thái, cung bậc của tình cảm con người.
Chương 3
GIÁ TRỊ CỦA THƠ LỤC BÁT TRUYỀN THỐNG
3.1. Khái luận về truyền thống và giá trị
truyền thống trong thơ
3.1.1. Khái niệm truyền thống và truyền
thống văn học
“Truyền thống”
là một danh từ chỉ thói quen hình thành đã lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ
được truyền lại từ thế hệ này đến thế hệ khác, hoặc là một tính từ chỉ các tính
chất, phẩm chất được truyền lại từ các đời trước. Khái niệm truyền thống được
áp dụng cho nhiều trường hợp khác nhau để chỉ những đặc trưng cơ bản về một vấn
đề nào đó trong đời sống xã hội, trong phẩm chất của một cộng đồng… khi những
phẩm chất hoặc hạt nhân của vấn đề đó được duy trì, tô đậm, khẳng định để tạo
thành nền tảng, cơ sở cho sự tồn tại và phát triển.
Khái niệm “truyền
thống văn học” chỉ những thành tựu chung, đặc sắc, tương đối bền vững, ổn
định trên cả hai phương diện nội dung, hình thức của văn học được lưu chuyển,
kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nội hàm của khái niệm truyền thống
văn học còn được mở rộng, nó chỉ nét đặc sắc của một bộ phận văn học đã trở
thành bản chất, thành nét đặc trưng của một nền văn học, hoặc những mảng đề
tài, những loại hình nghệ thuật đặc sắc được duy trì ở nội dung và hình thức
của nền văn học dân tộc trong quá trình văn học.
3.1.2. Truyền thống trong thơ và những giá
trị truyền thống trong thơ Việt Nam
Truyền thống gắn với dân tộc,
tính truyền thống có điểm tương đồng với tính dân tộc, biểu hiện được màu sắc,
âm thanh, lối sống, tính cách, tinh thần của dân tộc tức là đã biểu hiện được
bề mặt truyền thống. Thơ lưu giữ những nội dung ấy bằng những hình thức truyền
thống - hình thức mà những tác giả từ buổi sơ khai của thơ đã sử dụng và được
vun đắp trong một quá trình tồn tại và phát triển. Truyền thống trong thơ biểu
hiện trên cả nội dung và hình thức, nhưng không phải những gì dễ dãi, giản đơn,
mà là cái đã được khẳng định, là “thành tựu chung”, “bền vững”.
Tinh thần yêu
nước là khí
chất mạnh mẽ nhất tạo thành sức sống, phần tinh anh khỏe khoắn trong nhiều sáng
tác văn học. Tình yêu ấy kết thành những bài thơ ca ngợi thiên nhiên đẹp và
giàu, ca ngợi những con người thông minh, cần cù lao động. Đặc biệt, tình yêu
ấy bộc lộ sâu sắc, mạnh mẽ nhất khi vận mệnh sống còn của dân tộc đặt ra một
cách cấp thiết. Cùng với tinh thần yêu nước, tinh thần nhân đạo cũng là
một nét chính trong nội dung thơ ca. Cốt lõi của tinh thần này là tình tương
thân tương ái; người Việt sống với nhau bằng cái nghĩa cao cả, bằng sự gắn kết
giữa các thành viên trong cộng đồng. Ngôn ngữ thi ca
Việt Nam giàu nhạc điệu, dễ hiệp vần đã tạo cơ sở để hình thành nhiều
thể loại thơ ca giàu năng lực biểu hiện phù hợp với tiếng nói yêu thương nhân
đạo, với tâm hồn giàu tính chất trữ tình của người Việt Nam.
3.2. Thơ lục bát truyền thống - những giá
trị cốt lõi
Thơ lục bát truyền thống như
tấm gương soi in bóng cuộc sống hiện thực của đất nước và con người Việt Nam.
Vẻ đẹp của phong cảnh thiên nhiên thấm sâu tình yêu mến thiết tha của con người
với quê hương xứ sở. Hình ảnh làng quê, phố thị mang vẻ đẹp hài hòa của đời
thường, cư dân đông đúc và nét trữ tình của khung cảnh nên thơ. Từ thuở ca dao,
thơ lục bát đã trực tiếp phản ánh đời sống lao động của người Việt, những người
chăm chỉ, cần cù luôn phải mưu sinh trong hoàn cảnh đầy khó khăn, vất vả. Cùng
với cuộc sống lao động là cuộc sống đấu tranh với “kẻ thù hai chân và bốn chân”
để tồn tại, chiến thắng và vươn lên trên dải đất này.
Tinh thần yêu nước là một giá
trị truyền thống của thơ ca Việt Nam. Khi đất nước bị xâm lăng, Đại Nam quốc
sử diễn ca đã trực tiếp bày tỏ tình cảm yêu quý, xót thương của người Việt
với Tổ quốc của mình, đồng thời ngợi ca những tấm gương xả thân vì nước suốt
dọc dài lịch sử. Có bài thơ thể hiện tâm sự yêu nước thầm kín qua nỗi niềm u
uẩn, hoài nhớ về một thời đã xa (Sông lấp - Trần Tế Xương). Ngư tiều
y thuật vấn đáp (Nguyễn Đình Chiểu) cho thấy vẻ đẹp của một tư thế sống
giữa cuộc đời đau thương của đất nước - đó là ý chí kiên quyết giữ vững nhân
cách, khí tiết, giữ vững đạo lý của nước nhà, của dân tộc, của gia đình, không
chung sống, không hợp tác với kẻ thù.
Cũng như thơ ca nói chung,
thơ lục bát thấm sâu chủ nghĩa nhân đạo truyền thống của người Việt: thương người,
trân trọng tình người, ca ngợi phẩm giá, nhân cách cao đẹp, hướng tới cuộc sống
hạnh phúc của con người. Ca dao bày tỏ quan điểm, thái độ, tình cảm của người
xưa đối với các mối quan hệ trong xã hội. Truyện Kiều là niềm cảm thương
sâu sắc với thân phận con người trong xã hội phong kiến đen tối xa xưa. Trong Sơ
kính tân trang, qua việc miêu tả một mối tình tự do, thơ mộng, có phần kỳ
ảo, Phạm Thái khẳng định khát vọng mạnh mẽ về tình yêu lứa đôi, cũng có nghĩa
là khẳng định quyền được sống hạnh phúc của con người.
Bản sắc văn hóa dân tộc thể
hiện trước hết ở vẻ đẹp của con người theo quan niệm truyền thống. Thơ lục bát
thường biểu đạt một cách trực tiếp, giản dị, tự nhiên những ý nghĩ tâm tư tình
cảm của các nhân vật trữ tình. Ở dạng này, nội dung của lời ca hướng vào một ý
lớn với ngôn ngữ mang tính tự sự thường được sử dụng trong sinh hoạt dân ca
nghi lễ phong tục và dân ca lao động. Ở các nhân vật trữ tình trong ca dao, cái
tâm thức văn hóa vùng miền cũng biểu hiện khá rõ. Đặc biệt, một giá trị cốt lõi
của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, xứ sở trồng lúa nước, là chất đồng quê,
là văn hóa làng quê, mang ý nghĩa khái quát, biểu trưng cho những giá trị tốt
đẹp của truyền thống dân tộc.
3.2.2. Nghệ thuật biểu hiện đậm chất dân
gian
Ngôn ngữ thơ ca dân gian có
nguồn gốc dân dã, thể hiện bản chất bình dị, chất phác, hồn nhiên của người dân
lao động. Lời kể giàu khẩu ngữ, như lời ăn tiếng nói trong cuộc sống
thường ngày đi thẳng vào câu thơ lục bát ca dao. Một số thi phẩm lục bát đã vận
dụng thành công những thành ngữ, tục ngữ, khẩu ngữ quen thuộc trong dân gian (Phạm
Công Cúc Hoa, Truyện Kiều, Lục Vân Tiên) v.v… Giọng điệu chủ
yếu trong thơ ca dân gian là điệu than. Biện pháp tu từ so sánh cũng được sử
dụng sáng tạo theo hướng cụ thể hoá để gợi nỗi buồn thương, chua xót trong lời
than vãn. Thơ thầy Thông Chánh (Nam Bộ) dùng lối nói quá của dân gian để
gợi sâu nỗi đau trong lời than ai oán.
Cấu trúc câu thơ lục bát
nhiều khi cũng biến đổi theo cách nói, cách suy cảm của dân gian trong đời
thường. Vần và nhịp có những thay đổi khá tự do, táo bạo, phá vỡ sự nhàm chán
của cấu trúc âm luật lục bát thông thường. Nhịp điệu câu thơ phối hợp chẵn lẻ,
dồn nén hơn, góp phần bộc lộ các cung bậc tình cảm khác nhau. Tiểu đối xuất
hiện trong thơ lục bát là kết quả của một quá trình phát triển theo hướng dân
gian hoá, nó làm cho ý thơ trở nên súc tích, cô đọng hơn, đem lại cái đẹp cân
đối, nhịp nhàng.
Không gian trong thơ lục bát
truyền thống thường có tính chất phiếm chỉ, những không gian này không
có tính xác định, cụ thể hoá trong sự miêu tả bởi mục đích chính của lời thơ là
bộc lộ tâm tư, tình cảm của chủ thể trữ tình. Thời gian thường có tính chất
ước lệ, những con số, những đại lượng thời gian cụ thể lại không phải là
những đại lượng chính xác mà thực sự là “đại lượng trữ tình”.
3.3. Thơ lục bát truyền thống - những
trường hợp điển hình
3.3.1. Lục bát ca dao, dân ca
Thể lục bát
truyền thống trong ca dao bộc lộ trực tiếp những tâm tình nảy sinh từ thực tiễn
cuộc sống; thể hiện từ những bức tranh lao động đến những suy nghĩ về cuộc đời,
từ khoảnh khắc hồn nhiên vô tư của con người đến những diễn biến tình cảm trữ
tình phong phú... Ngôn ngữ mộc mạc giản dị khiến những lời thơ trong ca dao
dường như trở nên lung linh, đằm thắm hơn thể hiện đậm nét những giá trị nghệ
thuật truyền thống.
Các tác phẩm ca
dao theo thể lục bát được vận dụng linh hoạt và nhiều vẻ nhất trong dân ca,
trong những giai điệu ngâm ngợi, ca xướng uyển chuyển. Sở dĩ như vậy là do kết
cấu đặc trưng riêng biệt về âm luật của thể loại thơ này.
Phương thức ngắt
nhịp hai ở thể lục bát cũng là loại nhịp được vận dụng phổ biến và bao trùm
trong dân ca, thích nghi với sinh hoạt lao
động, sinh hoạt nghi lễ và các sinh hoạt khác trong đời sống xã hội. Sự
phân chia đều đặn của nhịp câu thơ là cơ sở trực tiếp cho nhịp điệu âm nhạc để
rồi từ đó hình thành nên những giai điệu thích ứng với từng thể loại. Dấu ấn đối thoại thể hiện không chỉ ở
những bài ca được kết cấu hai vế đối đáp mà ngay cả ở những bài ca mang tính
độc thoại vẫn là sự thể hiện của lối trò chuyện giãi bày trực tiếp được sử dụng
linh hoạt trong các cuộc hát lẻ và hát cuộc của sinh hoạt dân ca.
Thời gian nghệ thuật trong ca
dao là thời gian hiện tại. Ngôn ngữ diễn tả không gian là ngôn ngữ miêu tả và
bộc lộ cảm xúc. Đó là lối diễn tả hình ảnh, màu sắc sống động mang âm điệu của
hình thức diễn xướng đậm đà chất dân gian.
Tính phiếm chỉ,
xu hướng không cá thể hóa nhân vật là đặc điểm của thơ ca dân gian Việt Nam mà
lối sử dụng đại từ nhân xưng là một trong những thủ pháp nghệ thuật nổi bật làm
tăng thêm giá trị diễn xướng của lời ca.
3.3.2. Lục bát truyện thơ Nôm
Trong
tiến trình văn học Việt Nam, các tác giả truyện thơ Nôm thế kỷ XVIII - XIX
không thể sáng tạo những trường ca, sử thi. Họ sử dụng thể thơ để sáng tác loại
truyện, khá gần gũi với truyện hiện đại. Họ chọn thể thơ lục bát, qua những thể
nghiệm sàng lọc, có tính văn hóa. Họ chấp nhận thể thơ này vì sự hòa quyện đều
đặn và liên tục, có khả năng bất tận, rất phù hợp với mạch thời gian của
truyện. Đây còn là thể thơ có biểu hiện kết gắn với truyền thống văn hóa của
cộng đồng cư dân bản địa, có biểu hiện phần đề kháng với văn hóa ngoại lai. Về
mặt giải pháp tình thế văn hóa, việc sáng tạo truyện bằng thơ ca, vốn có từ cổ
đại, còn tạm thời đáp ứng yêu cầu ghi nhớ - lưu truyền, khi mà đại bộ phận nhân
dân không sử dụng thông thạo các thứ chữ viết, đang được bộ phận sĩ phu trí
thức xem đó là một công cụ, hoặc hơn thế, là một vũ khí văn hóa dân tộc.
Thể loại truyện
thơ Nôm, sau bước dò dẫm sáng tạo diễn ca lịch sử với Thiên Nam ngữ lục,
yếu tố tự sự đã bước đầu vận động tự thân để phù hợp với nhu cầu thẩm mỹ của
cộng đồng. Mặt khác, do hoàn cảnh đặc thù của văn hóa Việt, thể thơ lục bát dễ
dàng chuyển hóa trở thành một thể văn phương tiện - đa chức năng biểu đạt.
Thể lục bát
đã từ bỏ một phần chức năng trữ tình cao cả, quan trọng của thể loại Thi, để
đảm nhận phần lớn chức năng giải trình bình dị, thiết thực và phổ cập thay thế
cho thể văn xuôi dân tộc, ở vào một giai đoạn đặc thù của đời sống xã hội - văn
hóa Việt; đồng
thời vẫn vừa phát huy hiệu quả
gợi nhớ của thể văn vần dân tộc, vừa đa dạng hóa giá trị mỹ học sinh động của
nó.
3.3.3. Lục bát kinh sách Phật giáo
Kinh sách
của Phật giáo được chia làm ba tạng (Tam tạng kinh điển): Kinh tạng, Luật tạng, Luận
tạng. Giáo lý của đạo Phật xuất phát từ thực tế cuộc sống, không trừu
tượng, siêu hình, giáo điều hay khiên cưỡng, không ép buộc mà hoàn toàn chỉ
mang tính định hướng để cho mọi người tùy điều kiện, hoàn cảnh, nhận thức áp
dụng linh hoạt để đạt đến mục đích sống yên vui, ấm no và hạnh phúc cho mỗi
người, cho gia đình và xã hội. Đối với người Việt, lục bát là một thể thơ quen
thuộc đến bình dị, tự nhiên, một thứ hơi thở của đời sống tâm hồn - nơi
gửi gắm tất cả tâm sự thiết tha về cuộc sống thăng trầm, khắc khổ, mà khỏe
khoắn đến hồn hậu của người lao động bình dân chiếm tuyệt đại đa số cộng đồng
Việt suốt chiều dài lịch sử. Điều thú vị mà ít bất ngờ nhất là khả năng khế hợp
rất tự nhiên và thấm thía của thể thơ này, từ truyền thống đến hiện đại với
tinh thần Phật giáo. Khi hòa mình vào sắc điệu văn hóa bản địa của người Việt,
kiến tạo đáng kể chiều sâu tư duy cho dân Việt cổ và trở thành quốc giáo từ
thời đại Đinh, Lý, Trần, trong những thời kỳ được lịch sử thượng tôn, Phật giáo
có những chi phối mạnh mẽ tới các di sản vật chất và tinh thần, trong đó có thi
ca nghệ thuật. Nếu thơ lục bát được ví là cây đàn muôn điệu biểu trưng sự phong
phú, phức điệu của tâm hồn dân gian, thì với văn học Phật giáo, đó cũng là phương
tiện thiện xảo để chuyển tải nội dung giáo lý qua Kinh, Luật, Luận cũng như các
trạng thái tinh thần tu chứng, để các cốt lõi tinh hoa của Phật giáo dễ dàng
được truyền thông trực tiếp vào đời sống của quảng đại dân chúng.
Qua trường hợp
thơ lục bát về Kinh - Luật - Luận Phật giáo, ta thấy Phật tính luôn biểu lộ sâu
sắc và tràn đầy trong tinh thần nguyên ủy của tâm hồn Việt. Điều ấy góp phần lý
giải bởi đâu mà Phật giáo ở Việt Nam luôn trường tồn bền bỉ và rực rỡ như vậy
trong cuộc đồng hành dài lâu cùng dân tộc.
3.3.4. Lục bát Truyện Kiều
Trước
Nguyễn Du đã có người dùng bát cú Đường luật để kể chuyện và không thành công.
Nhiều người khác cũng đã dùng thơ lục bát để diễn nôm lại các truyện cổ nhưng
cũng rất ít thành công về mặt nghệ thuật văn chương. Nhưng khi viết Truyện
Kiều, Nguyễn Du vẫn lựa chọn thể lục bát. Có lẽ là vì ông đã nhìn thấy
những ưu việt hơn hẳn của thể thơ lục bát so với các thể thơ khác; chỉ nói
riêng về phép gieo vần của thơ lục bát dường như cũng nó cũng đã tổng hợp được
mọi phép gieo vần của các thể thơ.
Còn
trường hợp Truyện Kiều có độ dài hàng ngàn câu lục bát mà vẫn được người
Việt yêu thích, một mặt bởi tác phẩm đã hàm chứa tính nhân văn cao cả, nhưng
quan trọng hơn lại bởi chính tài năng sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Du qua
cách xây dựng nhân vật, nhất là cách sử dụng tài tình ngôn ngữ nghệ thuật dân
tộc.
So với lục bát dân gian thì
lục bát Truyện Kiều không còn các dạng biến thể nữa. Có thể xem lục bát Truyện
Kiều là một thứ lục bát thuần khiết. Với 3.254 câu lục bát, Nguyễn Du đã
huy động hầu hết các bộ vần trong tiếng Việt vào tác phẩm. Tính đa năng của lục
bát Truyện Kiều còn được tăng cường thêm ở cách ngắt nhịp. Nhạc của lục
bát Truyện Kiều là nhạc của hình tượng, không phải nhạc của kỹ thuật.
Với
Nguyễn Du, thể lục bát đã được làm mới, với một cơ cấu chặt chẽ và một hình
thức diễm lệ chưa từng có từ 3 thế kỷ trước. Nguyễn Du đã đưa thể thơ dân tộc
lên đến mức phát triển cùng độ. Chính thể lục bát, với khả năng biến chế tinh
vi của Nguyễn Du, đã nâng cao tầm vóc của Truyện Kiều.
3.3.5. Lục bát Lục Vân Tiên
Truyện Lục Vân Tiên là
một cuốn tiểu thuyết về luân lý, cốt bàn đạo làm người với quan niệm văn dĩ
tải đạo. Tác giả muốn đem gương người xưa mà khuyên người ta về cương
thường - đạo nghĩa. Truyện được viết bằng thể lục bát, vì được in
nhiều lần nên có nhiều văn bản khác nhau, có khi thêm bớt cả trăm câu thơ.
Lục Vân Tiên là một trong những tác phẩm
xuất sắc nhất của Nguyễn Đình Chiểu, một truyện thơ nôm mang tính chất là
truyện để kể nhiều hơn là truyện để đọc và để xem. Truyện có kết cấu ước lệ gần
như đã thành khuôn mẫu. Tác phẩm khắc họa thành công những phẩm chất đẹp đẽ của
hai nhân vật Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga. Cho đến bây giờ, truyện Lục
Vân Tiên vẫn giữ được vị trí của nó trong nền văn học Việt Nam.
Với ngôn ngữ bình dân gần gũi nên mọi tầng lớp trong xã hội đều nhớ thuộc lòng
có khi cả bài thơ. Ảnh hưởng của nó còn lan rộng ra cả toàn quốc, được lưu
truyền dưới hình thức sinh hoạt văn hóa như “kể thơ”, “nói thơ Vân Tiên”, “hát
Vân Tiên” ở Nam Kỳ và Nam Trung Kỳ.
Qua
sự biểu hiện bằng thể thơ lục bát, Lục Vân Tiên quả là tác phẩm đáng
dành làm bài ca hát ru con trẻ, làm lời ngâm tặng vợ chồng son, làm lời nghiêm
răn những kẻ ăn ở hai lòng... Âm điệu du dương trầm bổng; chuyện lương duyên kỳ
lạ, éo le; lắm thủy chung mà cũng nhiều phản trắc... đó là sức lay động, sức
xuyên thấm mãnh liệt của khúc ca này.
Tiểu kết chương 3
Truyền
thống trong thơ là những giá trị đã được khẳng định, và những giá trị đó là đại
diện xứng đáng nhất của một cộng đồng dân tộc, là “gương mặt điển hình” cho tâm
hồn con người của cộng đồng dân tộc ấy, được thể hiện bằng thơ. Với nghệ thuật
biểu hiện đậm chất dân gian, thơ lục bát đã truyền tải giá trị hiện thực, tinh
thần yêu nước, nhân đạo, bản sắc văn hóa của dân tộc. Lục bát ca dao, dân ca,
lục bát truyện thơ Nôm, lục bát kinh sách Phật giáo, lục bát Truyện Kiều,
lục bát Lục Vân Tiên là những hiện tượng tiêu biểu thể hiện sâu sắc
những giá trị cốt lõi của thơ lục bát truyền thống.
Chương 4
TIẾP BIẾN CỦA THƠ LỤC BÁT HIỆN ĐẠI
4.1. Khái luận về hiện đại, tiếp
biến truyền thống và hiện đại
4.1.1. Khái niệm hiện đại và tính hiện đại
Hiện
đại không phải là một sản phẩm của một giai đoạn lịch sử tách biệt, cũng không
phải là biểu hiện của một nền văn hóa cá biệt, mà bắt nguồn từ một mạng lưới phức
hợp của mọi hoạt động con người. Chính những hoạt động này mới duy trì, phát
triển và hoàn thiện cuộc sống của chúng ta. Do đó, hiện đại bao gồm cả tính
lịch sử và động lực biến đổi lịch sử. Lẽ tất nhiên, hiện đại thường được coi
như là biểu hiện của giai đoạn lịch sử hiện thời, nhưng nếu xét cho kỹ từ gốc
rễ, nó là tinh thần thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại. Hiện đại hoá nói lên
cuộc sống nhân bản tốt hơn, được xây dựng dựa trên cơ sở lý trí cao, nơi phát
minh kỹ thuật và sự ứng dụng các phát minh đó.
Tính hiện đại thực chất cũng là tính dân tộc hình thành từ truyền thống, mang
đặc điểm và giá trị văn hóa truyền thống với những bản sắc độc đáo của mỗi dân
tộc, nhưng nó đã được phát triển, hiện đại hóa cho phù hợp với nhu cầu xã hội
mới. Tính hiện đại trong văn hóa văn nghệ thể hiện với sự đổi thay về chất
lượng và có ảnh hưởng rộng, chịu được thử thách bởi thời gian.
4.1.2. Tiếp biến truyền thống và hiện đại
Truyền
thống và hiện đại không hoàn toàn ngăn cách, tách biệt nhau, mà chúng có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau, bổ sung cho nhau. Điều này được thể
hiện tập trung ở mấy điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, truyền thống là điểm
xuất phát của hiện đại, hiện đại là sự tiếp nối của truyền thống ở một trình độ
cao hơn.
Thứ hai, loại bỏ những cái lạc hậu, không còn phù hợp, đồng
thời cũng kế thừa, thâu nhận có chọn lọc những giá trị hiện đại.
Thứ ba,
truyền thống là cơ sở để tiếp thu hiện đại.
Thứ tư, cả truyền thống và
hiện đại đều thống nhất chặt chẽ với nhau trong mục tiêu tạo lập sự phát triển
ổn định và bền vững của đất nước, dân tộc.
Chính
nghệ thuật giữ được ngọn lửa truyền thống văn hóa đem đến ý nghĩa sinh động cho
khái niệm truyền thống như Thomas Morus nhận chân: “Truyền thống không
có nghĩa gìn giữ đống tro, mà là chuyển tiếp ngọn lửa”. Giữ “lửa” và
tiếp “lửa” là thổi sinh khí truyền thống văn hóa vào hiện đại, mang sức ấm mùa
xuân vào ngày hôm nay, đó là công việc đồng thời của nhà văn hóa và của cả một
thế hệ thức tỉnh và sáng tạo.
4.2. Thơ lục bát hiện đại - truyền thống
và cách tân
4.2.1. Truyền thống và hiện đại trong nội
dung phản ánh
Thơ lục bát hiện đại đã tiếp
nối những giá trị cốt lõi của thơ lục bát truyền thống, trước hết ở nội dung
phản ánh, thể hiện. Tình cảm đất nước, quê hương đằm sâu trong những câu thơ
hướng về quá khứ, nói chuyện người xưa để gợi nhắc đời nay. Nhiều nhà thơ khơi
nguồn lục bát từ cảm hứng đó: Bùi Văn Trọng Cường viết Truyền thuyết Loa
Thành, Nguyễn Thanh Mừng viết Đám cưới Huyền Trân, Vương Trọng viết Bên
mộ cụ Nguyễn Du v.v… Gợi hồn quê hương là những khúc dân ca mang bản sắc
văn hoá độc đáo của dân tộc. Quê hương cũng được khắc hoạ với những nét đẹp cổ
truyền, những hình ảnh gợi hồn xưa của đất nước. Những địa danh cụ thể gắn với
những nét gây ấn tượng sâu sắc bởi ở đó có những con người mang tinh thần yêu
nước nồng nàn góp sức mình vào cuộc kháng chiến cứu nước.
Hướng về quê hương là hướng
về cội nguồn. Hình ảnh cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình luôn là
những hình ảnh sâu đậm và quá đỗi thiêng liêng trong tâm hồn mọi người cũng như
các thi nhân lục bát. Nguyễn Duy viết về cha không nhiều, chỉ thoáng qua thôi,
nhưng mang dáng hình của bao người cha trên khắp nẻo đường đất nước, một người
cha bước ra từ truyền thống văn hoá dân tộc, và đó cũng là một nét khá đắt giá
cho hình ảnh Tổ quốc, quê hương trong những trang thơ lục bát.
Tiếp nối truyền thống nhưng
mang tâm thức thời đại, thơ lục bát hiện đại phản ánh, thể hiện những nét hiện
thực của thời đại. Những năm đầu thế kỷ XX, đất nước rên xiết dưới ách đô hộ
của thực dân Pháp, những vần thơ lục bát đau đớn, nghẹn ngào trước tình cảnh
khốn cùng của phu làm đường ở Lào Cai,Yên Bái. Nỗi đau thời thế ở một người sống tận cùng với đời như Trần Huyền Trân
thì câu thơ có một sức nặng khác thường (Với Tản Đà). Hình ảnh những
người chiến sĩ anh dũng đấu tranh, sẵn sàng xả thân cho đất nước trong những
năm cách mạng và kháng chiến được khắc hoạ sâu đậm trong lục bát Nguyễn Bính (Đồng
Tháp Mười). Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giữa chiến trường
Quảng Trị, những người lính trẻ vẫn hồn nhiên Nghe chim kể chuyện trên đồi
chốt (Hoàng Nhuận Cầm). Lục bát trong vùng tạm chiếm miền Nam những năm
tháng đó lại mang nỗi buồn sầu u uất của cả một thế hệ (Kiếp sau - Cung
Trầm Tưởng).
Thời hậu
chiến, trở về cái đời thường, cảm hứng thơ ca bắt nguồn từ cái hàng ngày, dù
nhỏ bé. Trong thơ hình thành một dòng thơ thế sự với cảm hứng sự thật, nội dung
thành thật và thái độ của người viết cũng hết sức thành thật. Con người khẳng
định mình, trải lòng mình, vừa thành thực vừa xót xa (Thiếu khoảng trời xanh
- Nguyễn Thị Thu Hồng). Trước cuộc sống đầy biến động, có thi nhân đưa ra những
trăn trở của mình, những câu hỏi day dứt, ám ảnh (Ai? - Phạm Đông Hưng).
Những suy tư về nhân tình thế thái còn mở rộng chiều không gian (Tình cờ gặp
người quen trên tàu tốc hành Xêvaxtôpôn-Matxcơva - Trần Nhuận Minh). Có thể
nói, thơ lục bát hiện đại đã hướng tới cuộc sống đa diện, nhiều chiều với cái
nhìn trung thực và nỗi trăn trở, ưu tư sâu
sắc.
4.2.2. Những cách tân về nghệ thuật biểu
hiện
Trước hết là cách tân về ngôn
ngữ thơ. Nhiều tác giả lục bát thời kỳ này sử dụng ngôn ngữ mang tính hiện đại
và táo bạo. Có nhiều cách tạo lập từ ngữ mới, cách sử dụng từ láy mang giá trị
biểu cảm cao, gợi tả và sinh động. Có cách nói quen thuộc, dùng nhiều khẩu ngữ,
những từ “bụi”, dân dã; lại có cách nói rất lạ, ám ảnh, giàu liên tưởng. Những
câu thơ lục bát thời này không hướng tới việc xác lập sự hoàn chỉnh ngay ở một
dòng thơ mà thường để cho những câu liên tiếp nhau có mối quan hệ mật thiết, có
cảm giác cả đoạn thơ dài mới diễn tả hết ý của một câu nói trọn vẹn.
Với những cái tôi bản ngã đầy
cá tính, thơ lục bát hiện đại mang phong cách phức âm, đa giọng điệu. Đầu thế
kỷ XX, người ta “nghe” rõ giọng tráng khí, bi phẫn, bi hùng trong thơ Trần
Huyền Trân (Say ca). Những năm kháng chiến, lục bát Tố Hữu mang giọng
điệu tâm tình thương mến (Việt Bắc). Trong cuộc sống đời thường nhiều
biến động, lục bát lại càng nhiều giọng điệu: giọng trầm tư, độc thoại tự ý
thức (Về làng - Nguyễn Long); giọng điệu dửng dưng, có chút bất cần (Quát
thơ - Hồ Tăng Ấn); giọng điệu tưởng như tưng tửng, thản nhiên mà ngậm ngùi,
xót xa (Bùa lá - Nguyễn Thị Đạo Tĩnh); nhiều nhà thơ không chỉ viết bằng
giọng điệu dửng dưng, giọng đùa cợt, … mà có khi còn mạnh mẽ đến quyết liệt (Lục
bát lỡ nhịp - Nguyễn Thái Sơn).
Về cấu trúc hình thức, để
diễn tả những tình ý mới của con người hiện đại, câu thơ có hình dáng rất khác
lạ so với lục bát truyền thống. Xếp các chữ trong câu thơ theo kiểu bậc thang
tạo những điểm nhấn cho lời thơ (Hoa lúa - Hữu Loan). Chia tách hai dòng
lục bát thành nhiều câu thơ nhỏ (Không đề - Đào Phong Lan). Cách chấm
câu giữa dòng tạo nhịp ngắn như nhấn mạnh cảm xúc (Sài Gòn - Lê Huy
Quang). Có cách gieo vần rất độc đáo (Không còn bức tranh ngày cũ -
Hoàng Ngân). Có những câu thơ hầu như không ngắt nhịp (Sự tích cột thu lôi
- Bùi Chí Vinh); lại có những câu thơ ngắt nhịp rất linh hoạt, một câu được ngắt
thành 5 hoặc 6 tiết tấu (Xem ảo thuật - Thúc Hà) v.v…
4.3. Thơ lục bát hiện đại tiêu biểu
4.3.1. Lục bát Tản Đà
Trong
toàn bộ sáng tác thơ của Tản Đà, thơ lục bát có 35 bài chiếm tỉ lệ 13% nhưng
lại khắc hoạ khá rõ nét thần thái thi ca của ông, đó là cách nhìn nhận và đánh
giá dưới góc nhìn của ca dao.
Tình
yêu quê hương, đất nước của Tản Đà được biểu hiện một cách kín đáo, nhẹ nhàng
trong bài thơ Thề non nước và một số bài thơ khác. Trong thơ Tản Đà ta
còn bắt gặp những dòng thơ ca thán cho thân phận phụ nữ, đặc biệt là người phụ
nữ trong tình yêu, hôn nhân. Cảm thương thân phận người phụ nữ là đề tài được
nhắc đến nhiều trong văn học từ xưa đến nay và cả trong văn học dân gian (ca
dao). Nhưng Tản Đà đã khéo léo biến thể lục bát để biểu trưng hiện thực thời
đại và tiếc thương cho phận người con gái lấy chồng không xứng với mình (Cô
tây đen). Ngay trong lúc dịch thơ Đường, Tản Đà cũng khiến thơ dịch của ông
thấm nhuần phong vị trữ tình cổ xưa mà vẫn mới mẻ (Hoàng Hạc lâu, Kinh
Thi). Cũng như thơ ca bình dân, bên cạnh tính chất trữ tình, thơ ca Tản Đà
còn luôn ánh lên nụ cười trào phúng ý nhị, đôi khi là tiếng cười phúng thích
khá cay độc nhằm vào những đối tượng đáng phải phê phán, đả kích đương thời.
Thơ
lục bát Tản Đà tràn đầy những kỹ xảo mỹ từ pháp và thủ pháp tu từ. Đó là các
phép dùng định ngữ, ẩn dụ, nhân cách hóa, phúng dụ, điệp ngữ, đảo ngữ…những
biện pháp này cũng vô cùng quen thuộc trong ca dao, dân ca. Ngôn ngữ thơ Tản Đà
có tính chất bóng bẩy, tình cảm thể hiện tinh tế, có tác dụng gợi lên được tinh
thần của sự kiện, đối tượng mà nhà thơ muốn diễn tả.
4.3.2. Lục bát Thơ mới và Nguyễn Bính
Khảo sát hệ thống
thể loại Thơ mới được thống kê từ 1.083 tác phẩm của 89 nhà thơ được tuyển chọn
trong cuốn Thơ mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm do Lại Nguyên Ân tập
hợp và biên tập có thể thấy về số lượng, thể lục bát có 147 tác phẩm, chiếm
13,6%. Lục bát Thơ mới đã khai thác triệt để, đa dạng các chức năng và nội dung
thể loại. Trong đó nổi bật nhất là chức năng trữ tình với nội dung bày tỏ tư
tưởng, tình cảm của cái tôi cá nhân cá thể. Về cơ bản, các bài thơ lục bát của
Thơ mới 1932-1945 vẫn hướng tới mô hình cấu trúc đã trở thành chuẩn mực, điển
phạm của lục bát cổ điển, đồng thời có những sáng tạo mới về gieo vần, ngắt nhịp,
giọng điệu, sử dụng từ ngữ, cấu trúc dòng thơ v.v…
Điển hình cho lục
bát Thơ mới là lục bát Nguyễn Bính. Nếu lục bát ca dao mang vẻ tươi thắm của
chất trữ tình đồng quê, nếu lục bát Truyện Kiều rất mềm mại, uyển chuyển
thì những bài thơ lục bát của Nguyễn Bính như Lỡ bước sang ngang, Chân
quê, Người hàng xóm, Tương tư, Đêm cuối cùng, Chờ
nhau, Giấc mơ anh lái đò, v.v… vừa thanh thoát, gợi cảm, vừa trau
chuốt, điêu luyện. Trong những sáng tác thi ca của Nguyễn Bính trước
Cách mạng, thể lục bát chiếm số lượng tới 45 phần trăm. Cũng như nhiều nhà thơ
tài năng khác của dân tộc, Nguyễn Bính biết cách làm giàu cho sáng tác của mình
trên mảnh đất văn hóa dân gian, từ đó khai thác và khơi nguồn cảm hứng để tạo
nên những thi phẩm mới. Cũng như thơ lục bát dân gian, âm điệu chung của thơ
Nguyễn Bính là buồn. Đặc biệt, Nguyễn Bính đã phát huy cao độ sự phù hợp giữa
đặc trưng của thể lục bát là uyển chuyển, mềm mại, giàu nhạc điệu với phong
cách thơ của mình là mộc mạc, đằm thắm, dịu dàng.
4.3.3. Lục bát Tố Hữu
Tố Hữu để lại cho đời sau một
di sản thơ đồ sộ với 286 bài thơ, trong đó thơ lục bát hoàn toàn là 75
bài, thơ lục bát phối xen là 25 bài, chứng tỏ thơ lục bát là thành tựu nổi bật
trong sáng tác thơ của Tố Hữu.
Đọc thơ lục bát Tố Hữu, ta
thường thấy tiếng hát ru của ca dao, dân ca, nó làm cho cái cao xa trở thành
gần gũi, cái riêng hòa vào cái chung, tư tưởng cách mạng dễ hóa ra một nếp nghĩ
hồn nhiên (Tiếng ru). Tố Hữu đã học tập ca dao, dân ca để xây dựng từng
nhân vật cụ thể và dùng cách miêu tả cụ thể để nói về những con người trong đời
sống hiện đại. Đó là những nhân vật vừa kế thừa được những truyền thống tốt đẹp
của dân tộc, vừa mang những đặc điểm của thời đại. Một chị phụ nữ phá đường,
một anh vệ quốc quân, một bà mẹ Suốt… là sự khái quát những đức tính tốt đẹp xưa
nay của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam.
Lục bát Tố Hữu có những
bài cực dài, nhưng cũng có bài ngắn. Các kiểu cấu trúc câu thơ lục bát của Tố
Hữu bị chi phối bởi dụng ý sáng tạo nghệ thuật, nó phù hợp với việc biểu lộ tâm
trạng, cảm xúc của con người hiện đại. Đọc Tiếng hát sông Hương,
Trường tôi, Phá đường, Việt Bắc của Tố Hữu ta nhận ra lối kết
cấu mang hình thức đối đáp của ca dao, dân ca. Ngôn ngữ thơ lục bát Tố Hữu mang
tính đại chúng mà không hề dễ dãi, nói lên được những tư tưởng lớn của thời
đại, những cái rất mới trong đời sống và con người Việt Nam. Ông khéo léo kết
hợp truyền thống với hiện đại, nội dung và hình thức, dân tộc và đại chúng. Vì
thế, thơ lục bát của ông dễ cảm, dễ hiểu, dễ gần, nhận được sự yêu mến của
nhiều người Việt Nam.
4.3.4. Lục bát Bùi Giáng
Thể lục bát chiếm
một vị trí đặc biệt trong sự nghiệp thơ Bùi Giáng. Trong tập thơ đầu tay (Mưa
nguồn) với 139 bài thơ thì đã có tới 57 bài lục bát, chiếm tỷ lệ 40%. Càng
về sau này, Bùi Giáng làm lục bát càng nhiều: tập Rong rêu (1995) có 83
bài thì 42 bài là lục bát, tập Mười hai con mắt (2001) có 113 bài thì 93
bài là lục bát. Trong Từ điển văn học (bộ mới), Bùi Giáng được đánh giá
là người đã “tái dựng lục bát trong bối cảnh mới của thời đại hiện sinh”.
Với Bùi Giáng, lục
bát biến thể được ông “tuôn ra” một cách tự nhiên giống như khi ông làm lục bát
nguyên thể, gắn liền với biến động bão giông trong lòng ông và có một tần suất
lặp đi lặp lại rất cao. Bùi Giáng biến thể, nhưng cái sự biến thể này khiến
người đọc cảm thấy hứng thú bởi ông đã thổi vào một làn gió lạ, làm dậy sóng
cái vần điệu tĩnh tại bấy lâu như mặt nước hồ thu của lục bát nguyên thể. Với
sức sống mạnh mẽ tự nhiên, chỉ cần chuồi theo dòng chảy của âm thanh theo cơ
chế tự động, Bùi Giáng đã làm nên những vần thơ bất chấp mọi quy tắc kết hợp
ngữ nghĩa (Ngẫu hứng). Với thơ thì chuyển tải là ngôn ngữ. Ngôn ngữ tạo
ra cảm giác, cảm giác dẫn tới đam mê. Vì thế tìm kiếm lớn nhất của Bùi Giáng là
tìm kiếm ngôn ngữ, tạo ra một ngôn ngữ lục bát khác với các thể thơ khác (Mắt buồn).
4.3.5. Lục bát Nguyễn Duy
Ngay từ sớm,
Nguyễn Duy đã tỏ ra khá có duyên với thể lục bát và ông tiếp tục phát triển cảm
hứng với thể loại này trong hơn 10 tập thơ công bố từ năm 1973 tới 2002. Trong
tuyển tập Thơ Nguyễn Duy gồm 381 bài thơ thì đã có tới 151 bài là
lục bát, chiếm tỷ lệ 40% toàn tập.
Nguyễn Duy sử dụng
ca dao nhưng không phải sử dụng một cách hững hờ làm duyên mà thường đẩy đến
tận cùng ý tứ, buộc người đọc phải hiểu sâu sắc thêm, chú ý thêm đến một góc
hiểu mới. Nguyễn Duy có những đột phá, những bước tiến mới, đó là khi tác giả
viết thường ở đầu câu, chia câu lục thành nhiều dòng (Tre Việt Nam). Vào
thơ Nguyễn Duy, ca dao như được “nhuận sắc” - hiện đại và độc đáo, hơn nữa
lại trở thành một công cụ diễn đạt nhuần nhị những thông điệp, những chân
lý có vẻ như giản đơn nhưng lại tận cùng sâu sắc (Khúc dân ca). Nguyễn
Duy không chỉ tận dụng những chất liệu nội dung của ca dao mà còn tận dụng
những chất liệu hình thức để chỉnh trang cho câu thơ lục bát của mình.
Dung hòa được chất
truyền thống và hiện đại, tạo ra cái mới mà không xung đột với cái cũ, Nguyễn
Duy phần nào đã khẳng định được phong cách nghệ thuật riêng của mình qua những
thể nghiệm trên. Thơ lục bát Nguyễn Duy ngầm chứa cái hồn dân gian bình dị
trong vẻ ngoài hiện đại, khoẻ khoắn. Chúng hoàn toàn phù hợp với cá tính ưa suy
ngẫm và thích mô tả chi tiết những “việc lớn việc nhỏ” đang ngày ngày diễn ra
trong cuộc sống ở nhà thơ, “thi sĩ thảo dân”.
4.3.6. Lục bát Đồng Đức Bốn
Khảo sát tổng thể thi phẩm của Đồng Đức Bốn, có thể thấy
xấp xỉ 80% (gần 200 bài) là thơ lục bát. Trên con đường nghệ thuật của mình, Đồng Đức
Bốn có những tìm tòi nhất định, tuy nhiên khuynh hướng dân gian được thi sĩ
khai thác triệt để. Ta bắt gặp nhiều hình ảnh dân dã trong đời sống hàng ngày
và cả những hình ảnh quen thuộc trong ca dao ở thơ lục bát Đồng Đức Bốn. Tất cả
không chỉ là những hình ảnh có tính chất cụ thể, hay mang phong vị ca dao mà
còn thể hiện cái nhìn sâu sắc của tác giả về con người và cuộc sống (Đêm
sông Cầu, Thức với Côn Sơn). Có những hình ảnh đã trở thành biểu
tượng trong ca dao, dân ca lại mang tính đa chiều hơn trong lục bát Đồng Đức
Bốn (Nhà quê).
Ngôn ngữ thơ lục
bát Đồng Đức Bốn đậm chất dân gian, mang hơi thở đời thường. Đồng Đức Bốn còn
học tập lối nói ưa dùng của người Việt với những kiểu ví von, so sánh, ẩn dụ
thật tinh tế, ý nhị khi giãi bày cảm xúc cá nhân. Nhưng đây là dân gian hiện
đại; tác giả lại làm cho câu thơ lung linh, đa nghĩa bởi những từ ngữ, hình ảnh
được lạ hóa, mờ hóa, ảo hóa (Nhà quê, Tình tôi tình em).
Về hình thức thể
loại, Đồng Đức Bốn khá trung thành với những niêm, luật thơ lục bát có từ thuở
ca dao. Tuy nhiên, trong hành trình sáng tạo, ông cũng có những phá cách nhất
định trong cấu trúc thơ. Thơ lục bát của Đồng Đức Bốn rõ ràng là một tiếng nói
mới, nổi lên vắt giữa hai bờ thế kỷ XX và XXI của nền văn học hiện đại Việt
Nam.
Tiểu kết chương 4
Lục bát hiện đại
có sự đổi mới khá toàn diện, nó thỏa mãn những đòi hỏi về tư tưởng, tình cảm,
nhu cầu thẩm mỹ của con người Việt Nam ở những giai đoạn phát triển khác nhau.
Nội dung mở rộng, phong phú, bám sát thực tế, lịch sử. Hình thức cách tân ở nhiều
mặt: cấu trúc câu thơ, dòng thơ, ngôn ngữ, giọng điệu, nhịp điệu v.v… Sự tiếp
biến truyền thống và hiện đại thể hiện rõ ở những trường hợp điển hình: lục bát
Tản Đà, lục bát Thơ mới và Nguyễn Bính, lục bát Tố Hữu, lục bát Bùi Giáng, lục
bát Nguyễn Duy, lục bát Đồng Đức Bốn. Các tác giả có ý thức tìm về với lục bát
như một sự trân trọng truyền thống dân tộc, đồng thời góp phần làm cho lục bát
có một gương mặt mới mẻ hơn trong nhịp sống hiện đại.
KẾT
LUẬN
Thơ ca Việt Nam từ xưa đến
nay luôn là phương tiện hữu hiệu truyền đạt nội dung tư tưởng qua nghệ thuật
biểu hiện độc đáo, đem lại những giá trị Chân - Thiện - Mỹ tinh tế, sâu sắc cho
con người. Trong hàng ngàn năm tồn tại và phát triển của thơ ca dân tộc, chúng ta
đã chứng kiến sự vinh quang cũng như sự mai một của rất nhiều thể thơ. Có những
thể loại khẳng định được sự trường tồn của mình theo thời gian, nhưng cũng có
những thể loại dần bị lãng quên và được thay thế. Lục bát là thể thơ cổ truyền
của Việt Nam, dù ra đời từ rất sớm và đạt được thành tựu đỉnh cao nhưng nó vẫn
tồn tại, phát triển và ngày càng được khẳng định trong thời hiện đại.
1. Thơ lục bát là một
trong những thể thơ mang đậm tính dân gian, tính dân tộc, tính truyền thống. Kể
từ khi ra đời vào khoảng thế kỷ XV, thể lục bát vẫn luôn khẳng định vai trò là
thể thơ có nhiều ưu thế trong việc thể hiện điệu tâm hồn dân tộc. Trải qua bao
biến cố thăng trầm, thể thơ này ngày càng trở nên hoàn thiện hơn và được nhiều
người yêu thơ Việt trân trọng. Tùy từng thời kỳ mà lục bát phát triển nhiều hay
ít. Trải qua thời gian có thể nhận thấy lục bát có mặt ở hầu hết các giai đoạn
quan trọng, chứng tỏ sức sống bền bỉ, mãnh liệt của mình. Trong thể thơ lục
bát, thường thì các tác giả sử dụng thi pháp ca dao làm nền tảng; tuy nhiên, ở
mỗi bài thơ, lục bát có thêm “bộ cánh” mới, hợp thời, hợp với thị hiếu và tư
duy người đọc. Lục bát ca dao có nhiều đặc sắc, nó là những khuôn mẫu cho lục
bát giai đoạn sau phát triển. Lục bát trung đại là sự kế thừa lục bát ca dao
đồng thời sáng tạo thêm những phương cách biểu hiện mới, nâng lục bát lên thêm
một bậc với những âm điệu, ngôn từ, hình tượng phong phú, góp thêm cho dòng thơ
Việt Nam nhiều thi phẩm có giá trị cao, được người đọc hôm nay và mãi mai sau
yêu thích và mến mộ.
Có được những thành tựu đó là
do lục bát mang những nét đặc sắc nghệ thuật riêng: gần gũi với ca dao, dân ca,
ngôn ngữ lời nói đọc lên như là câu hát, lời ru, làm cho đời sống tinh thần của
người Việt thêm sinh động và sảng khoái. Khó có một thể thơ nào có được những
điểm riêng độc đáo như lục bát. Cái âm hưởng lục bát từ bao đời dường như trở
thành một âm hưởng ít nhiều mang tính chất tượng trưng cho xóm làng dân dã, cho
đồng quê, cho tâm tình người dân quê Việt Nam. Câu thơ sáu - tám mượt mà, êm ái
như lời ru cùng với niêm luật chặt chẽ, phối thanh hài hoà, vần điệu nhịp
nhàng… là tất cả những nét riêng, độc đáo mà qua lao động, qua sáng tác, người
Việt Nam đã tạo dựng được. Bên cạnh đó, thơ lục bát là thơ cách luật, nhưng nó
lại cho phép chấp nhận mọi sự tìm tòi, sáng tạo về âm luật trong hoạt động sáng
tạo nên các bài thơ cụ thể. Mặt khác, khả năng biểu đạt nội dung của nó khá
linh hoạt, vừa trung tính vừa có thể chuyên biệt hóa tùy thuộc vào những trường
hợp vận dụng cụ thể. Lục bát Việt Nam xứng đáng với danh xưng thể thơ truyền
thống của dân tộc là vì thế.
2. Lục bát có thể tự hào đã khẳng định vị trí
lâu bền và sức sống mạnh mẽ nhất bên cạnh hàng loạt những thể thơ cùng giữ
những vị trí đỉnh cao trong thời kỳ trước như thơ Đường luật, song thất lục
bát. Sở dĩ như vậy bởi lục bát mang trong nó những yếu tố nhạy bén đáp ứng nhu
cầu của con người và cuộc sống trong thời kỳ hiện đại. Thơ Đường luật đã được
khai thác đến tận cùng, thơ song thất lục bát thì hướng quá mạnh vào cái truyền
thống, giữ tính quy phạm nghiêm ngặt, nên đã dần bị mai một. Lục bát chứa đựng
trong nó những yếu tố mới, linh hoạt, những biến thể, biến dạng phong phú, có
khả năng kích thích sáng tạo, tìm tòi, để tạo nên diện mạo ngày càng mới mẻ
hơn.
Lục bát hiện đại vừa kế thừa
truyền thống vừa có những cách tân, đổi mới, sáng tạo. Nó mang trong mình những
yếu tố mới, nội dung cảm hứng vẫn thiên về tinh thần yêu nước, tình cảm nhân
đạo thiết tha, sâu lắng, nhưng quan trọng hơn hết là cái tôi cá tính được bộc
bạch chân tình, thành thật đến tận cùng, trước chính mình và trước cuộc đời.
Giống như các hình thái văn hóa nói chung, hình thức thơ ca cũng có tính xã hội
và tính thời đại của nó. Lục bát có quá trình biến đổi riêng, tiếp thu có chọn
lọc các yếu tố mới, để hiện đại mà vẫn không xa rời truyền thống, để có thể
khẳng định rằng dù cách tân nhưng vẫn đậm đà bản sắc dân tộc.
Hiện thực cuộc sống chi phối,
nhu cầu sáng tạo trong mỗi nghệ sĩ đã tạo nên những đổi thay đáng kể của lục
bát hiện đại. Một nguyên nhân cũng cần phải đề cập đến đó là sự đổi mới do nhu
cầu nội tại và bắt buộc của thơ lục bát. Các nhà thơ có ý thức tìm tòi và làm
mới cho những gì đã trở nên cũ mòn, không đủ sức biểu hiện tình cảm của con
người trong đời sống hiện đại. Thể lục bát cũng tự du nhập thêm nhiều yếu tố để
làm mới mình. Nó cách tân bởi một ý thức rằng sự mới mẻ và độc đáo sẽ làm nên
sức sống của mọi thể loại, không riêng bất cứ thể loại nào, ở thời kỳ nào. Đổi
mới là một cách duy trì sức sống cho lục bát trong thời kỳ mới. Lặp lại là một cách
tự xóa bỏ mình và bởi “cái bình thường là cái chết của nghệ thuật”
(Victor Hugo). Đặc biệt với thể lục bát, nó ra đời từ rất sớm, đạt được những
thành công tưởng chừng khó vượt qua, nếu không tìm tòi sẽ khó có được một chỗ
đứng trên thi đàn dân tộc hiện đại.
Đổi mới như một nhu cầu tất
yếu, quan trọng, cần thiết để lục bát ngày càng xác lập và chứng tỏ vai trò một
thể thơ cổ truyền của dân tộc. Dung hoà, tiếp biến yếu tố truyền thống và hiện
đại, cổ điển và cách tân là một “ứng xử”, một lựa chọn khôn ngoan của lục
bát trong hành trình vừa tự khẳng định vừa đổi mới mình để làm nên một diện mạo
riêng trong vườn hoa thi ca dân tộc.
3. Trong
thời buổi hội nhập, toàn cầu hoá hiện nay, dường như đang có hai thái độ trái
ngược đối với lục bát. Có người thờ ơ, hoài nghi khả năng của lục bát. Họ thành
kiến rằng lục bát là thể thơ quá gò bó về vần luật, về thanh luật, về tiết tấu;
nó đơn điệu, nó bằng phẳng, quê mùa. Họ vội cho rằng lục bát chỉ biểu hiện được
những cảm xúc quen thuộc của người Việt truyền thống. Còn tâm sự đầy những suy
cảm tinh vi phức tạp của người hiện đại thì lục bát khó chuyển tải. Họ lầm
tưởng rằng lục bát sẽ khó theo kịp nhịp biến hóa đầy bấn loạn của tư duy thơ
hiện đại. Thậm chí, có người còn coi lục bát như một rào cản đối với những lối
tư duy nghệ thuật tân kỳ. Và, họ từ chối lục bát để một mực chạy theo những thể
khác. Thực ra, mọi vẻ đẹp cùng biến thái mơ hồ nhất của thiên nhiên, mọi biến
động phức tạp khôn lường của đời sống, mọi tầng sống sâu xa huyền diệu nhất của
tinh thần cá thể, mọi khuynh hướng tư duy nghệ thuật, dù truyền thống hay tối
tân, đều không xa lạ với lục bát. Vấn đề là người viết có đủ tài để làm chủ
được lục bát hay không.
Vì thế mà có
xu hướng ngược lại, nhiều người đã nhận thấy ở lục bát những ưu thế không thể
thơ nào có được. Họ đã tìm về lục bát. Họ ý thức rõ, từ xưa đến nay, lục bát
luôn là thể thơ đầy thách thức. Sự gò bó có thể là một khó khăn bất khả vượt
đối với ai đó, nhưng lại là một thách thức đầy hấp dẫn đối với những tài năng
thơ thiết tha với tiếng Việt, thiết tha với điệu tâm hồn Việt. Họ nâng niu,
chăm chút. Họ làm mới, họ cách tân, để gửi gắm tấc lòng của con người hôm nay
vào thể thơ hương hỏa của cha ông. Họ dùng lục bát như một phương tiện tâm tình
gần gũi, để nói những gì sâu sắc nhất của tâm tư. Trong thực tế, lục bát với
người này là sở trường, với người kia là sở đoản. Nhưng, về thái độ, thì sẽ là
không quá lời khi bảo rằng: trân trọng lục bát cũng là một thước đo về văn hoá
thơ với một người thơ Việt. Nhờ những tấm lòng và tài năng ấy mà thế kỷ XX, đầu
thế kỷ XXI vẫn chứng kiến một cuộc chạy tiếp sức hào hứng không biết đến mệt
mỏi của lục bát. Có thể thấy rõ rệt, càng về sau, dáng điệu lục bát càng trẻ
trung, hơi thở lục bát càng hiện đại hơn so với hồi đầu. Điều đó là bằng chứng khẳng
định lục bát vẫn trường tồn, lục bát vẫn gắn bó máu thịt với tâm hồn Việt trên
con đường hiện đại.
Với bản lĩnh
truyền thống mà hiện đại, thơ lục bát bước ra với thế giới rộng lớn, cho thấy
tầm vóc của văn hóa Việt, nhân cách Việt, tầm vóc của đất nước và con người
Việt Nam.
Tài liệu tham khảo:
1. Trần Văn Trọng (2014), “Quê hương Việt Nam trong
thơ lục bát Nguyễn Bính”, Tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam (231),
tr.26 - 29.
2. Trần Văn Trọng (2014), “Thơ lục bát Nguyễn Bính -
truyền thống và cách tân”, Tạp chí Văn nghệ quân đội (796 - 797),
tr.183 - 186.
3. Trần Văn Trọng (2016), “Phương pháp tiếp cận văn
hóa học với nghiên cứu thơ Nguyễn Bính”, Tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt
Nam (258), tr.3 - 7.
4. Trần Văn Trọng (2016), “Thơ lục bát với kinh
sách Phật giáo”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật (390), tr.68 - 70.
Trần Văn Trọng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét