Thứ Tư, 19 tháng 4, 2023

Bản di chúc tinh thần của Nguyễn Minh Châu qua Di cảo

Bản di chúc tinh thần của
Nguyễn Minh Châu qua Di cảo

1. Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn tiêu biểu của nền văn học giai đoạn chống Mỹ và thập niên tám mươi. Từ sau khi ông mất sự nghiệp của Nguyễn Minh Châu được nối dài bằng Cỏ lau, Trang giấy trước đèn và một số truyện ngắn, ghi chép đăng trên các báo. Hai mươi ba năm trôi qua nhưng dường như Nguyễn Minh Châu vẫn hiện diện trong đời sống văn học đương đại bằng những bài viết mới trên các báo, trong chương trình văn học phổ thông; hầu như năm nào văn phẩm của ông cũng được sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh lấy làm đối tượng cho các đề tài nghiên cứu khoa học của mình.  

Di cảo Nguyễn Minh Châu ra đời cách đây không lâu đã càng cho chúng ta có một hình dung rõ hơn về Nguyễn Minh Châu, thấy được phần nào sự thật của một giai đoạn lịch sử cũng như những trăn trở, suy tư về cuộc chiến tranh, về trách nhiệm người nghệ sĩ, số phận dân tộc và số phận con người.
2. Phần I của tập Di cảo hầu hết gồm những ghi chép trong chuyến đi chiến trường Quảng Trị từ năm 1967 trở đi. Đây là quãng thời gian xảy ra chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, bối cảnh mà sau này ông chọn để viết nên Dấu chân người lính và một số truyện ngắn khác. Đọc những trang ghi chép tỉ mỉ về chiến trường Quảng Trị (Làng Vây, trận đánh Dốc Miếu - ghi ngày 20.3.1967, trận Đông Hà...) với những con người cụ thể mà Nguyễn Minh Châu gặp trên đường, từ vị chính uỷ đến các anh lái xe, từ cảnh hành quân của những người lính trên đường vào chiến dịch đến cảnh vượt sông Bến Hải, cảnh những con sông Lam, Sebangchiêng, đến Trường Sơn mà ông gọi là “con trăn xanh”... người đọc thấy như hiện ra mồn một trước mắt mình tất cả cái ngổn ngang, bộn bề của những năm chiến tranh ác liệt. Khó khăn, gian khổ hi sinh là điều mà thế hệ tuổi hai mươi giờ đây cũng đã thật khó hình dung ra dầu chỉ riêng những cuộc đi luồn rừng hàng tháng trời trải bao gian nan và hiểm hoạ để chuyển cho được những chiếc xe xích kéo pháo vào đến chiến trường. Rồi còn là những ngày đói quay đói quắt trong mùa mưa năm 1971 khi mà ước ao của người lính là chỉ cần được ăn bát cơm không độn sắn. Cùng với đói ăn là đói mặc, là sự khắc nghiệt của thiên nhiên hoang sơ, của khí hậu miền Trung, là thuốc độc từ những chiếc máy bay trực thăng phun thẳng xuống những cánh rừng mà chúng biết chắc đang có bộ đội ém quân, là đạn bom từ phi pháo, từ những họng súng, những vũ khí giết người hiện đại của kẻ thù giăng mắc khắp nơi... Muôn vàn cái chết khác nhau. Muôn vàn gian khổ khác nhau. Di cảo của Nguyễn Minh Châu cũng đã cho chúng ta thấy được những hi sinh quả cảm của nhân dân và bộ đội với những câu chuyện cực kỳ cảm động về những anh hùng vô danh trong chiến đấu. Từ việc nắm bắt cái hồn cốt trong cuộc sống, trong tâm hồn mỗi chiến sĩ, mỗi người dân, Nguyễn Minh Châu đã từng chưng cất lên thành một Dấu chân người lính mượt mà trong cảm hứng sử thi. Và những con người có thật ngoài đời đó đã sống lại một cuộc đời khác trong tác phẩm của ông để rồi tái sinh trong đời sống. Cũng trong những trang ghi chép này, lắm khi Nguyễn Minh Châu bất ngờ đúc kết nên một thứ triết lý giản dị nhưng đó là sự trải nghiệm, suy ngẫm của ông về quy luật cuộc sống, về lẽ đời, lòng người. 
Có thể nói Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn suy nghĩ một cách sâu sắc về vai trò của gia đình đối với cuộc sống của người chiến sĩ. Năm 1969, trong ghi chép của ông có bài Tiễn người đi bộ đội của Hà Nội đã ghi lại được không khí của dân tộc vào thời điểm Tổ quốc lâm nguy. Những trang ghi chép đó sau này gần như được đưa nguyên vào Lửa từ những ngôi nhà, cuốn sách ông viết lâu nhất, đến 7 năm, cũng là cuốn sách mà sinh thời ông thích nhất. Ngoài việc viết về những người phụ nữ - hậu phương của người lính với một sự thông hiểu và chia sẻ sâu sắc những mối tình cảm của họ, ông đã phê phán tư tưởng công thần, đặc biệt là phê phán việc nhìn nhận không đúng của một chiến sĩ về vai trò của tình cảm gia đình trong cuộc sống. Nhật ký đề 18.3.73 của ông có ghi lại một câu hát của lính lái xe mà tôi nghĩ, chắc chắn nó là một trong những tư tưởng quan trọng thể hiện trong Lửa từ những ngôi nhà: “Trung đoàn 13 trung đoàn thép/ Không cho đi phép thành trung đoàn nhôm/ Cho đi vài hôm thành trung đoàn thép”. Phần thư từ ông gửi cho vợ con trong suốt hơn ba mươi năm được in lại một số trong tập sách này sẽ bổ sung thêm quan niệm đối với tình yêu, với tình cảm gia đình, cách nhìn đối với phụ nữ của ông mà sau này quan niệm đó được khúc xạ trong Cỏ lau, Mảnh đất tình yêu cùng một số sáng tác khác. 
3. Có thể nói những trang ghi chép của Nguyễn Minh Châu về cuộc chiến đấu của nhân dân và chiến sĩ trong mấy đợt đi B ngắn, ghi dọc đường vào miền Trung từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, đặc biệt là vùng đất Quảng Bình, Quảng Trị đã cho thấy ông rất có ý thức ghi chép, quan sát và dần cảm nhận sâu sắc về “một năng lượng mới xuất hiện” ở người chiến sĩ mà trong thâm tâm ông cho rằng nhà văn “phải khám phá và chứng minh”. Nhiều trang Di cảo cho thấy tư tưởng, tình cảm của ông đã vượt ra ngoài cái khung chính thống. Trong thời kỳ đầu, những ghi chép của ông chủ yếu là về những sự kiện, con người, địa danh cụ thể. Càng về sau, sự chọn lọc, độ suy ngẫm, tính triết lí càng được tăng dần. Ông, như cách nói của chính ông, là một tờ giấy có thể thấm hết tất cả những gì lọt vào tầm nhìn. Trước đó viết về những hi sinh của bộ đội, thanh niên xung phong, của nhân dân là hầu như ông viết về một chủ nghĩa anh hùng trong chiến tranh. Nhưng sau này những trang ghi chép của ông còn là sự thẩm thấu một nỗi đau không thể nói thành lời trước những mất mát mà chiến tranh gây ra cho dân tộc nói chung, cho mỗi con người cụ thể nói riêng. Năm 1973, Nguyễn Minh Châu trở lại chiến trường Quảng Trị. Lúc này Hiệp định Pari được ký kết và tiếng súng giao tranh đỡ hơn. Đó là những ngày người chạy vào, kẻ chạy ra, có những người trở về trên nền đất cũ của nhà mình mà không thể nào nhận dạng được vì bom đạn đã cày nát, xoá đi các vật chuẩn cần thiết, làm biến dạng không chỉ là mảnh vườn nhà họ mà cả làng xã. Với chiếc xà cột bên hông, ông lên chốt, đến những địa danh một thời máu lửa, tiếp xúc với một số người lính bên kia, quan sát kỹ hơn những vùng đất trước đó là chiến địa dữ dội, trò chuyện với nhiều hạng dân khác nhau. Ông ghi lại những gia cảnh thương tâm khi trong một gia đình có người đứng ở cả hai chiến tuyến, ghi lại cảm tưởng đau xót của mình trước việc “một tấc đất, một thước đất trong hoà bình thì bỏ đấy trong quên lãng của mọi người, vậy mà có lúc phải trả bằng máu của hàng chục, hàng trăm người, giành giật nhau, con người trở nên hung bạo, găm cái chết lên nhau”. Ghi chép ngày 9.5.1973, ở Đông Hà: buổi sáng, khi ông đi rửa mặt, ông gặp một người đàn bà điên nhưng lúc này cô ta không hề có một vẻ điên nào. Cô ta trò chuyện với ông và bảo ông: “Các anh muốn giải phóng miền Nam hử, có cách chi giải phóng mà không chết người, không đổ nhà không hử?”. Cũng nơi đây, những con người còn sót lại, bé nhỏ, kiệt quệ đang đi trong đổ nát, nhặt những gì có thể dựng lại mái lều trên sự hoang tàn, hoang hoá đã “gợi lên lòng thương của tôi đến mức muốn khóc”. “Chiến tranh, nhiều lần tôi tự than thở, làm con người ta, nhà cao, chiếu sạch không muốn ở, đem nhau ra tỉ thí, nhà đổ chiếu rách, rồi đi moi, đi tìm vài mảnh mà che mà vá, mà sống thế này đây”. Và chua chát trước cảnh “con người như một lũ điên. Ngày nào tôi cũng phải lội trong tàn phá, chết người và nỗi đau khổ của người sống nghĩ về người chết”. Những ghi chép trong chuyến đi 559 (đường mòn Hồ Chí Minh) lần thứ hai là những ghi chép vượt qua thói quen ghi chép đơn thuần về những sự tích anh hùng mà nhìn xuyên qua vào mặt sau của nó. Từ quan sát đến suy ngẫm đều mang sự trải nghiệm sâu sắc. Ở đây bao trùm lên tất cả là một cái nhìn mới về cuộc chiến tranh. Đương nhiên, hoàn toàn không phải là tư tưởng phản chiến mà là cảm hứng nhân văn, là nỗi đau đồng cảm trước những mất mát, cùng khổ mà nhân dân hứng chịu, trước sự huỷ diệt tàn bạo của chiến tranh đối với cuộc sống của con người. Là người đã sống qua hai cuộc chiến tranh, có lẽ vì thế mà ông thấu nỗi đau khổ, gian nan để giữ mạng sống, để mưu sinh, để sống bình thường của người dân ở vùng đất vốn là nơi tranh chấp quyết liệt trong bao năm trời: “Cái khổ cái chết giăng bẫy khắp mặt đất, khắp mặt trái đất này. Không, nơi khác, người ta không sống thế. Hình như chiến tranh vẫn chưa kết thúc... Sau chiến tranh mà người bị thương vẫn nằm la liệt trong các lán bệnh viện, nhưng xét cho cùng, cái chết chóc thương tật cũng không tác hại người ta bằng cái khổ sở, cái thiếu thốn, cái bệnh tật, cái nhếch nhác, cái buồn tủi, cái chia ly, cái chia lìa mẹ con, vợ chồng, cái mồ hôi và nước mắt vẫn chảy thành đại dương và cái máu chỉ là con sông”. Trước nỗi đau đó trái tim ông từng nhức nhối: “Hai bên, ai sẽ là người thách thức đối phương một thái độ này: tất cả mọi việc mình làm chỉ để cho việc người dân bình thường đỡ bớt đi phần đau khổ. Ai sẽ nghĩ đến con người bình thường hơn một chút” (11.5.73). Những ngày đối mặt với căn bệnh hiểm nghèo, ý thức được sự hữu hạn của cuộc sống, ông có dịp suy ngẫm về những được mất của một thế hệ lớn lên giữa hai cuộc kháng chiến mà ông cho rằng “chưa kịp bước vào đời đã như một con chim bị kẹp giữa hai thanh sắt nung đỏ”. Đây cũng là  thời điểm đổi mới của đất nước. Ý thức dân chủ đã giải phóng cho ông khỏi “thói quen của một người vốn quen đi trong một hành lang hẹp, vừa hẹp vừa thấp” khi lật trở những suy nghĩ của mình: “Chiến tranh? Hình như hai chữ này chưa hề có trong ý thức và vốn từ vựng của đám thanh niên hai tư, hai nhăm tuổi chúng tôi hồi ấy”. Chỉ đến cuộc chiến tranh chống Mỹ, sống với đám lính trẻ, quan sát, ông mới nhìn ra “rõ rệt cái tính hồn nhiên như trẻ thơ, thậm chí như chim chóc như thiên thần của đám người trẻ tuổi luôn ồn ào vui nhộn đang tham gia chiến tranh. Một thứ tính hồn nhiên đáng cảm phục đến dễ sợ. Hồn nhiên trước cả cái chết - mà nếu ta nhìn họ bằng con mắt của những người cha người mẹ họ không biết ta sẽ lấy làm đau lòng biết chừng nào!”. Ông nhớ lại một người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp đã từng lên ban chỉ huy đại đội nói thẳng ý kiến của mình: “Tôi không cầm súng đi giết bất kỳ ai. Những người mà tôi bắn họ, họ có tội tình gì?”. Mặc dù người lính đó, sau đó đã bị “chúng tôi nhìn như một thằng điên trong đại đội” nhưng trong trận công đồn đêm ấy, anh đã hi sinh. Nguyễn Minh Châu đã nhớ về “người lính ấy, cái phần ý thức đi trước cả một biển người mang đầy tính khí hồn nhiên mà chính nhờ cái phần hồn nhiên, đám quần chúng binh sĩ của những người lính mới có chiến thắng cuối cùng ngày nay”. “Tôi biết có rất nhiều cán bộ chỉ huy hi sinh vì không thể đề cao lòng tự trọng bị xúc phạm, trước cái nhìn của người lính hoặc trước cái nhìn của cấp trên. Sĩ diện, hai chữ này lớn lắm và trong những tình huống chiến đấu, nó là tính mạng con người. Giá đến được những nghĩa trang cán bộ và làm một cuộc phỏng vấn quy mô: vì sao đồng chí hi sinh, sẽ thấy nổi lên cái lòng tự trọng không muốn kẻ khác bảo mình không biết bảo toàn danh dự”. Ông đã nhìn sâu vào bản tính, nhân cách của con người cá nhân và rút ra rằng: nhận thức về sự đổi đời, truyền thống yêu nước cùng với bản tính hồn nhiên và phần nào nữa là lòng tự trọng... những đức tính đó đã xuất hiện đồng thời trong những con người tham gia chiến tranh và tạo nên một sức mạnh tổng hợp làm nên chiến thắng. Tôi cho rằng phải có một tình cảm và tư tưởng đến độ nào đó thì vào thời điểm ấy mới có một cách nghĩ thấu đáo, cách nhìn nhân văn về chiến tranh như vậy. (Truyện ngắn Tiếng khóc của Nguyễn Văn Thọ in trên phụ san Văn nghệ số Tết Kỷ Sửu cũng đã thể hiện chiến tranh dưới cái nhìn này).
4. Toát ra từ trong những trang di cảo, đó là tinh thần và ý thức trách nhiệm của Nguyễn Minh Châu. Một ý thức công dân? Điều đó không còn nghi ngờ gì nữa. Ông đã đến các vùng giao tranh ác liệt trong chiến tranh, ghi được những tư liệu quý, viết ra được những tác phẩm đã xuất bản và còn rất nhiều những tác phẩm ở dạng phác thảo, hoặc đã có đề cương chi tiết như Chân trời vỏ đạn, hoặc đang có những dự kiến về cốt truyện, nhân vật như Những người anh hùng của tiểu đội tôi ngoài chiến hào, Hai bờ sông Hiền Lương, Cô gái trong làng, Những dặm đường - Những người trẻ tuổi... Tất cả những điều đó đã cho thấy tính chuyên nghiệp của nhà văn. Với ông, luôn luôn là những dự định cho những sáng tác mới để khi viết xong tác phẩm này ông có thể bắt tay ngay vào tác phẩm khác. Ngay cả những ngày thọ bệnh, hình như ông vẫn đang ấp ủ những truyện ngắn, tiểu thuyết về con người và mảnh đất Quảng Trị, về con người Nghệ Tĩnh. Đọc, nghĩ và lật xới, luôn trăn trở trong suy nghĩ, đó là đặc tính của ngòi bút Nguyễn Minh Châu. Phần Nghề văn trong Di cảo đã cho thấy rõ được điều này. 
Nhiều trang di cảo đã từng là phác thảo của một số bài tiểu luận phê bình được công bố, ở đó ông đã sửa sang, đẽo gọt cho hoàn chỉnh hơn và cũng an toàn hơn. Rải rác trong Di cảo có những nhận định xem ra không hẳn là không gợi cho chúng ta những suy nghĩ: “Văn học ta hàng chục năm qua lao vào chứng minh và giải thích - chứng minh thì chứng minh sai, giải thích thì giải thích trật - nhưng cái tật chứng minh và giải thích vẫn là một căn bệnh”. “Vài chục năm nay văn đối thoại của ta tiến triển nhiều lắm, con người trong truyện mỗi ngày một hay nói với nhau nhưng nó chỉ phát triển về sự chan chát, hòn đá quăng đi, hòn chì ném lại, chứ nghệ thuật đối thoại thì lại nghèo đi (về những dạng đối thoại). Chủ nghĩa hiện thực diễn tả cái bản chất của hiện thực. Thực ra lâu nay ta nhầm hiện thực là cái gì bày ra bề mặt mọi người đều nhìn thấy: tham ô, hợp tác hoá, chủ nghĩa xã hội...”. “Các nhà văn đang cố nắm bắt không những cái thực mà cả cái hư ảo của đời sống, không những nắm bắt hiện thực mà còn muốn nắm bắt cái bóng của hiện thực và cái đó mới là cái hiện thực đích thực”. Những năm cuối đời của ông là những năm đất nước đang trong quá trình đổi mới. Đây cũng là thời gian ông trăn trở nhất về nhân cách của nhà văn. “Nhà văn không phải là diễn viên trên sàn diễn. Nhà văn không phải là loài có cánh. Nhà văn phải đứng hai chân giữa mặt đất đầy hiểm hoạ, giữa thập loại chúng sinh. Suốt cả đời làm công việc đau đáu quan sát con người, vậy thì trước mặt nhau - giữa anh và tôi đều là cái thằng nhà văn - hãy sống bằng cái gì mình có là tốt nhất, bởi anh có sống dối trá thì cũng không thoát khỏi mắt tôi, và ngược lại, giữa mấy thằng cầm bút mà đầy dối trá, thủ đoạn, thật thảm”. Trong những trang nhật ký ghi về chuyến thăm quê hương Quỳnh Lưu lần cuối cùng, ông đã có rất nhiều suy nghĩ sâu sắc về văn chương, về cuộc sống. Tư tưởng này sau đó đã được ông viết nên Hãy đọc lời ai điếu cho một nền văn nghệ minh hoạ và Ngồi buồn viết mà chơi. Đọc di cảo của ông, qua những ghi chép giàu chất văn học về thiên nhiên, con người, những suy nghĩ về nghề nghiệp... càng thấy rõ hơn tư chất nghệ sĩ ở một nhà văn luôn khao khát được lái con thuyền văn của mình đi vào dòng chảy của văn chương nhân loại.
5. Hơn hai mươi năm qua. Đất nước nói chung và văn học nói riêng đã có nhiều thay đổi, đã tiến được những bước khá dài. Vậy nhưng Di cảo Nguyễn Minh Châu vẫn mới. Mới vì đó là những trang tư liệu sống mà đọc nó, ta như được sống lại một thời đạn lửa, đau thương. Mới bởi ông là nhà văn viết về chiến tranh đau nỗi đau sâu thẳm, tận cùng của con người trước sự huỷ diệt ghê gớm của nó. Mới bởi ông thật sự là một nhà cách tân: ông không chịu vừa lòng với những gì được viết ra, luôn tự làm mới mình bằng những suy nghĩ hướng văn chương trở về với ý nghĩa đích thực của nó. “Nhà văn trong khi làm ra tác phẩm một cách đầy nhọc nhằn thì tác phẩm cũng là một cái gì đầy hiệu quả để tạo nên diện mạo của nhà văn”. Ý nghĩ đó của Nguyễn Minh Châu quả là trùng khít với cảm giác của nhiều người khi đọc ông.
Di cảo Nguyễn Minh Châu còn cho chúng ta hiểu thêm về một thế hệ văn nghệ sĩ dấn thân, một thế hệ trong hoàn cảnh đặc biệt đã làm tròn vai trò công dân nhưng cũng thấy rất rõ những hạn hẹp của một nền văn chương thời chiến và ý thức trách nhiệm của người nghệ sĩ chân chính. 
4/4/2012
Tôn Phương Lan
Theo http://vanchuong.com.vn/
 
 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Truyện Cái Giường Tôi là một cái giường hư bỏ trong nhà chứa đồ cũ. Tôi buồn lắm. Cái nhà nhỏ như một cái hộp lớn, tồi tàn, dơ bẩn, bụi ...