Thứ Tư, 19 tháng 4, 2023

Dân ca quan họ diện mạo một di sản

Dân ca quan họ
diện mạo một di sản

Dân ca quan họ Bắc Ninh là một trong những loại hình sinh hoạt văn hóa âm nhạc độc đáo của người Việt vùng châu thổ Bắc Bộ, được UNESCO đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2009. Trong bối cảnh hội nhập văn hóa toàn cầu hiện nay, nghiên cứu dân ca quan họ, từ lịch sử nghệ thuật đến giải pháp quản lý là một vấn đề có tính chiến lược, không chỉ giúp nó luôn được duy trì và phát triển trong đời sống đương đại mà còn tạo lợi thế, tiềm năng du lịch thu hút khách trong và ngoài nước. Đây là nhận thức, cũng là trách nhiệm chung của xã hội và ngành văn hóa đối với mỗi di sản, nghệ nhân và môi trường sống của văn hóa nghệ thuật nước nhà.
Nguồn gốc, nghệ thuật và không gian lan tỏa
Về nguồn gốc, theo các tác giả Lưu Khâm, Nguyễn Đình Tấn, Nguyễn Viêm, quan họ đã có khoảng 12 đời: “12 đời trước có hai người làm quan trong triều, một người quê ở làng Diêm Xá (Bắc Ninh), một người quê ở làng Bựu Sim (Tiên Du) là bạn thân của nhau từ khi còn làm quan tới lúc về hưu. Trong những dịp lễ khao, lễ cưới quan trọng đều mời cả hai họ tới dự và hát những câu hát đúm, một sinh hoạt nghệ thuật dân gian vốn đã có từ xưa kia”(1). Từ đó các tác giả cho rằng hát quan họ là hai họ nhà quan hát với nhau.
Tác giả Trần Văn Khê căn cứ vào những chuyến điền dã, và qua nghiên cứu truyền thuyết Trạng Bựu vinh quy về làng, hay quân lính ông Trạng Bựu “đi kéo gỗ trên ngàn về bị cạn” tại sông Tiêu Tương, “hò hét kéo gỗ rồi sau cứ lưu truyền mãi với tên quan họ”, ông tổng hợp và đưa ra con số quan họ có khoảng 300 năm (2).
Cũng có thuyết cho rằng quan họ có nghĩa quan là quan quân, họ là đứng lại, vì ngày xưa khi vua nhà Lý (khoảng 1000 năm trước) chạy giặc qua Bắc Ninh, nhân dân hát đúm cho quan quân họ lại để vua chạy(3).
Tương tự, theo tác giả Nguyễn Tiến Chiêu, thứ nhất, quan họ phát sinh từ thời Lý (1010 - 1025); thứ hai, quan họ xuất xứ từ những làng thuộc tỉnh Bắc Ninh, nhất là những làng thuộc huyện Tiên Du, Yên Phong, Từ Sơn; thứ ba, quan họ thoát thai từ hát đúm hay có liên quan gần xa tới hát đúm, hoặc hát đúm là một trong những nguyên nhân đã cấu tạo nên quan họ (4).
Còn có thuyết giải thích nguồn gốc quan họ trên truyền thuyết Trương Chi - Mỵ Nương, và cho rằng mối tình dang dở dẫn đến kết cục bi thảm giữa Trương Chi và Mỵ Nương (5).
Thời gian gần đây, dựa vào phương pháp nghiên cứu văn bản cổ và sự suy luận, tác giả Nguyễn Hùng Vĩ cho biết, quan họ là từ quan hộ mà ra: “Sau khi đã tìm hiểu quan họ trong thư tịch cũ thì hiểu từ quan họ là đơn giản. Đó là chỉ những sinh hoạt ca hát thuộc về nhà quan, trong nhà quan, phục vụ nhà quan”(6).
Về nghệ thuật âm nhạc, tác giả Nguyễn Trọng Ánh, qua quá trình nghiên cứu chuyên sâu về âm nhạc quan họ kết hợp với tư liệu của nhiều tác giả đi trước, đã đưa ra một cái nhìn toàn cảnh về số lượng làn điệu, bài bản quan họ lên tới trên dưới 300 bài khác nhau (7). Theo tác giả Tú Ngọc: “Giai điệu trong nhiều bài hát quan họ được xây dựng trên các loại thang âm 5 cung không có bán âm. Có bài chỉ một loại thang âm nhưng có bài lại dựa trên một vài thang âm theo lối chuyển dịch từ dạng thang âm này sang dạng thang âm khác, mà độc đáo nhất trong âm nhạc quan họ, là sự chuyển dịch thang âm xuất hiện vào lúc gần cuối, gọi là câu đổ”. Ông cũng cho biết, thỉnh thoảng có những bài dùng thang âm có bán âm, và cũng chỉ được dùng trong hai trường hợp là ở những cụm âm luyến lên hoặc xuống và ở những chổ kết câu, kết đoạn (8).
Nét đặc trưng trong nghệ thuật hát quan họ chính là hát đối đáp giữa một bên là liền anh và một bên là liền chị trong không gian văn hóa quan họ. Nét độc đáo trong hát quan họ chính là ở kỹ thuật hát vang, nền, nảy, ngắt, rớt...; khi hát thì chủ yếu hát đối đáp. Nhạc đệm cho quan họ chỉ mới xuất hiện từ những năm 60 của TK XX. Tuy vậy, nó cũng góp phần quan trọng vào quá trình bảo tồn, phổ biến và phát huy vốn di sản quan họ đến ngày nay. Các nhạc cụ đệm thông thường gồm: tam thập lục, tranh, sáo, nhị, đàn bầu, mõ, trống cơm...
Về không gian, trước khi quan họ được mở rộng và lan tỏa, địa danh tiêu biểu của hình thức sinh hoạt độc đáo này thường được các nhà nghiên cứu nhắc tới là làng Viêm Xá (nay là làng Diềm thuộc TP Bắc Ninh). Ở đây, có đền thờ vua Bà - vị thủy tổ của quan họ. Theo truyền thuyết, vua Bà chính là người đã sáng tác ra các làn điệu và nghề chơi quan họ. Từ đầu TK XX, dân ca quan họ Bắc Ninh đã được thực hành ở 49 làng, mà cộng đồng xác định đó là những làng quan họ cổ, trong đó có 44 làng thuộc về Bắc Ninh, 5 làng thuộc tỉnh Bắc Giang.
Ngoài 49 làng được gọi là quan họ cổ, gần đây có sự lan tỏa của quan họ ở 13 làng khác cùng huyện của tỉnh Bắc Giang. Hiện nay, với nhu cầu của xã hội và sự lôi cuốn của nó, đặc biệt là sau khi được UNESCO ghi danh, quan họ đã và đang được thực hành ở trên 300 làng, chủ yếu thuộc tỉnh Bắc Ninh.
Thực trạng quản lý sinh hoạt quan họ
Thực tế cho thấy, từ sau 1945 đến nay, không ít nét độc đáo trong văn hóa quan họ đã biến đổi. Nguyên nhân trước hết là các nghệ nhân mất dần, việc thi hát lấy giải được tổ chức rất ít, chủ yếu ở cấp tỉnh mà không còn duy trì trong các làng quan họ, làm cho sự ứng tác các bài mai một.
Năm 2009, sau khi quan họ Bắc Ninh chính thức được UNESCO, chuyên đề Dân ca quan họ Bắc Ninh đã được xây dựng và đưa vào giảng dạy ở nhà trường, từ trung học cơ sở đến trung học phổ thông trong chương trình văn học địa phương. Đưa vào chương trình học là các bài hát phù hợp về nội dung và kỹ thuật cho từng lớp, với khoảng 10 bài trong một năm học. Tuy nhiên, vấn đề giáo dục những hiểu biết chung về các hình thức quan họ còn chưa được phổ biến.
Khắc phục vấn đề này, một chương trình nghiên cứu giúp đỡ cộng đồng tổ chức tự quản lý, thực hiện các kế hoạch bảo tồn và phát huy những giá trị tiêu biểu của quan họ đã xuất hiện. Bên cạnh đó, từ năm 2003, với sự hỗ trợ của văn phòng UNESCO tại Hà Nội, Sở VHTTDL Bắc Ninh đã thực hiện Dự án thí điểm nghiên cứu xây dựng danh sách nghệ nhân quan họ tiêu biểu của tỉnh. Song song với đó, các cơ quan nghiên cứu đã xuất bản nhiều công trình về di sản quan họ. Song, về mặt khoa học còn nhiều điều cần phải quan tâm, đặc biệt là phương diện quản lý văn hóa, cụ thể là việc nghiên cứu chi tiết từng khía cạnh của đời sống sinh hoạt quan họ. Ngành văn hóa Bắc Ninh cần đề cập tới việc nghiên cứu cụ thể để đưa giải pháp tương ứng, trong đó có vấn đề quản lý các hình thức sinh hoạt quan họ. “Điều đáng lo ngại là tính nghi lễ trong quan họ nhạt dần. Hiện nay quan họ không còn gắn kết chặt chẽ với tín ngưỡng, lễ hội nữa”... Tuy nhiên, “việc vừa hát quan họ vừa xin tiền, tổ chức lều hát quan họ bên cạnh các hàng quán tạp nham trong hội Lim mấy năm trước... cũng không phải là điều đáng lo ngại. Bởi những hiện tượng tiêu cực này có thể sửa chữa rất nhanh, nó trong tầm tay của nhà quản lý văn hóa”(9).
Không gian và môi trường diễn xướng của quan họ, mặc dù đã được tỉnh Bắc Ninh quan tâm, nhưng vấn đề quản lý còn chưa chặt chẽ. Các hình thức sinh hoạt quan họ cổ chưa được nhìn nhận một cách đúng mức. Đây là nguyên nhân và là động lực dẫn những ảnh hưởng tích cực hay hạn chế trong công tác quản lý di sản quan họ hiện nay. Đoàn Quan họ Bắc Ninh, với một lực lượng diễn viên hùng hậu, bên cạnh vai trò giúp quan họ có được sức sống mới trong xã hội đương đại cũng không tránh khỏi những vấn đề hạn chế trong bảo tồn vốn cổ, nhất là việc dẫn dắt hoạt động ca hát quan họ theo lối mới. Trong khi, theo truyền thống, đòi hỏi người hát phải có sự đào luyện tương đương với các thể loại chuyên nghiệp như ca trù, hát văn, chèo... Trong văn hóa quan họ, để có thể hát cả đời với nhau, liền anh liền chị khi đã kết nghĩa, đi hát với nhau nguyền không lấy nhau. Luật chơi nghiêm ngặt này góp phần đưa quan họ vươn tới những vẻ đẹp độc đáo trong kỹ thuật hát. Tuy vậy, quan họ hiện nay đã và đang biến đổi rất nhiều, nói cách khác, những người chịu trách nhiệm thừa hưởng gia tài nghệ thuật này chưa thật sự tâm huyết, khiến quan họ chưa được bảo tồn và phát huy một cách hiệu quả.
Một số giải pháp
“Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta”(10). Nghiên cứu giải pháp quản lý di sản quan họ không nằm ngoài định hướng chung này. Đó là điểm tựa cơ bản để đưa ra các giải pháp quản lý cụ thể dưới đây:
Đẩy mạnh công tác tập huấn cho cán bộ làm công tác văn hóa địa phương
Cần khẳng định rằng, những người làm công tác quản lý nói riêng ở cấp cơ sở, nếu không biết về di sản quan họ cũng như những giá trị, đặc trưng và các hình thức sinh hoạt của nó sẽ gặp nhiều khó khăn trong quản lý, định hướng và duy trì sự phát triển của quan họ. Do đó, họ cần thường xuyên được trang bị những kiến thức cơ bản về quản lý di sản, trong đó có nội dung nghiệp vụ quản lý. Sở VHTTDL cần tổ chức nghiên cứu toàn bộ nội dung bảo tồn di sản quan họ Bắc Ninh. Tham gia tập huấn là các cán bộ quản lý và những người làm công tác văn hóa có chuyên môn về âm nhạc, văn hóa. Quá trình tập huấn có thể diễn ra theo nhiều đợt, mỗi đợt sẽ quy định đối tượng và mức độ chuyên sâu khác nhau. Đợt một, tổ chức tập huấn cho cán bộ cấp huyện, tức là người làm văn hóa ở các phòng, trung tâm văn hóa. Đợt hai, tổ chức cho cán bộ ở các ban văn hóa xã. Mỗi đợt như thế có thể kéo dài từ 20 ngày cho tới 2 tháng. Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu quả, cần tiến hành đồng bộ và tổng thể nội dung trong thời gian đầu để những cán bộ này sẽ đưa kiến thức vừa học áp dụng vào quản lý lễ hội, tổ chức các hội thi văn nghệ quần chúng hàng năm.
Tiếp tục nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và phổ biến các hình thức sinh hoạt quan họ cổ
Những năm gần đầy, do sự thay đổi trong đời sống kinh tế, xã hội, nên hiện tượng mai một, thất truyền, đứt gãy ít nhiều trong quan họ đã xảy ra. Chính vì thế, khi nghiên cứu giải pháp quản lý các hình thức sinh hoạt quan họ sau công tác tập huấn, thì chú ý tới công việc sưu tầm quan họ. Nhiệm vụ trước mắt là phải tổng kiểm kê toàn bộ vấn đề liên quan tới quan họ, trong đó có các hình thức sinh hoạt, lề lối, văn hóa ứng xử, hệ thống làn điệu, bài bản..., từ đó có kế hoạch sưu tầm, nghiên cứu, đưa ra biện pháp quản lý và bảo tồn một cách hiệu quả. Thứ nữa, phải có kế hoạch từng bước bảo tồn, phát huy và quảng bá di sản quan họ một cách hữu hiệu, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Công tác bảo tồn, lưu trữ để duy trì và phát huy di sản quan họ, cụ thể là, thống nhất tiếp thu giải pháp của các nhà khoa học, đưa ra hai hình thức bảo tồn: tĩnh và động. Liên quan đến vấn đề này là việc phổ biến, trao truyền di sản phi vật thể tới cộng đồng. Ngoài ấn phẩm bằng văn tự là những ấn phẩm nghe nhìn: ảnh, băng casstte, băng video, đĩa CD - ROM, DVD...
Tăng cường giáo dục nhân dân và thế hệ trẻ về những giá trị tiêu biểu trong các hình thức sinh hoạt quan họ
Triển khai tuyên truyền thường xuyên nội dung này bằng cách phát trên sóng phát thanh của các làng xã vào một thời điểm nhất định. Thời lượng phát sóng phát thanh kéo dài từ 40 phút tới 1 giờ. Nội dung phát sóng có thể đan xen giữa những kiến thức về các hình thức sinh hoạt quan họ với một vài bài hát quan họ lời cổ hoặc lời mới. Về tổ chức lớp học, thực hiện theo hai hướng là đưa vào dạy ngoại khóa hoặc chính khóa ở trường phổ thông. Cũng có thể tổ chức nói chuyện chuyên đề tại trường học, hay trong các buổi sinh hoạt ở nhà văn hóa xã, huyện vào một dịp thích hợp. Người nói chuyện là nhà nghiên cứu hay nghệ nhân giỏi, có khả năng truyền đạt thông tin và kiến thức về quan họ tới học sinh, công chúng.
Đẩy mạnh hoạt động giao lưu, trao đổi giữa các làng, các câu lạc bộ quan họ
Theo kết quả khảo sát đợt tháng 6-2010 của Sở VHTTDL tại 663/707 làng của tỉnh Bắc Ninh cho thấy: có 329 làng đảm bảo tiêu chí sinh hoạt của một làng quan họ thực hành với tổng số 8.042 người tham gia. Trong đó, nam 1518 người (19%), nữ 6272 người (81%). Độ tuổi tham gia cũng rất đa dạng, từ 6 đến 60 chiếm 65%, trên 60 chiếm 35% (11). Điều đó thuận lợi để người làm công tác quản lý, nghiên cứu đưa những giải pháp bảo tồn và phát huy những giá trị độc đáo của nghệ thuật quan họ. Để làm được điều này, trước hết các làng, câu lạc bộ hay các đội quan họ cần có những nội quy, quy chế hoạt động rõ ràng dưới sự kiểm soát của các cơ quan quản lý văn hóa địa phương. Song song với đó, ngành VHTTDL cũng khuyến khích hoặc có quy định cụ thể cho các làng, câu lạc bộ trong việc tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về văn hóa, những giá trị đặc trưng của quan họ, trong đó có các hình thức sinh hoạt quan họ.
Xây dựng chính sách đãi ngộ với nghệ nhân
Bảo tồn quan họ trước hết phải bảo tồn những người đang lưu giữ nó, đó là các nghệ nhân. Để làm được việc này, Sở VHTTDL cần tham mưu với UBND tỉnh tiếp tục triển khai việc tổng kiểm kê, đặt ra các tiêu chí về nghệ nhân, từ đó nghiên cứu một chính sách phù hợp. Đã đến lúc chúng ta không thể tôn vinh kho di sản nhân văn sống bằng băng rôn, khẩu hiệu và những giấy khen mãi được, trong khi cuộc sống của nhiều nghệ nhân giỏi hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn. Trong và sau khi giải quyết những vấn đề về vật chất cho nghệ nhân, ngành VHTTDL cũng cần gấp rút tổ chức cho họ trao truyền vốn liếng, bài bản quan họ mà họ đang nắm giữ.
Khuyến khích tuyển chọn, phát triển tài năng trẻ trong các làng, câu lạc bộ
Có lẽ nên phát động các cuộc thi thực hành về văn hóa quan họ. Cuộc thi này được chia ra làm hai hình thức ứng với hai mục đích: một là tìm ra những thí sinh trẻ tuổi say mê nghiên cứu về quan họ; hai là tìm ra những gương mặt trẻ có năng khiếu đặc biệt trong hát và trình diễn quan họ. Nội dung của cuộc thi này được thực hiện theo hai hướng. Đối với mục tiêu lựa chọn ra người có hiểu biết về dân ca quan họ thì nên dành một cuộc thi riêng gắn với tên giải riêng. Đối với những bạn trẻ có giọng hát hay và tài năng diễn xuất tốt thì tổ chức cuộc thi giọng hát hay quan họ tỉnh Bắc Ninh, hoặc giải liền anh, liền chị xuất sắc tỉnh Bắc Ninh... Công tác tuyển chọn tài năng trẻ thông qua các cuộc thi sẽ thu hút sự chú ý của thế hệ trẻ vào quá trình sinh hoạt, bảo tồn và phát huy di sản quan họ nói chung, thực hành các hình thức sinh hoạt quan họ hiện nay nói riêng. 
Chú thích:
1. Lưu Khâm, Nguyễn Đình Tấn, Nguyễn Viêm, Tìm hiểu nguồn gốc và sinh hoạt quan họ, tập san Âm nhạc, số 1-1956, tr. 17.
2, 3. Trần Văn Khê, Hát quan họ, tạp chí Bách khoa, số 43-1958. tr. 161, 162.
4. Nguyễn Tiến Chiêu, Tìm hiểu nguồn gốc quan họ Bắc Ninh, tạp chí Bách khoa, số 65-1959, tr. 183.
5. Lê Văn Hảo, Hợp tuyển tài liệu nghiên cứu lý luận phê bình Âm nhạc Việt Nam thế kỷ XX, tập 2, Viện Âm nhạc, Hà Nội, 2004, tr. 1189.
6. Nguyễn Hùng Vĩ, Hai chữ quan họ trong thư tịch cổ, tạp chí Xưa và Nay, số 367-2010, tr. 25.
7. Nguyễn Trọng Ánh, Âm nhạc quan họ, Viện Âm nhạc, Hà Nội, 2004, tr. 15-47.
8.Tú Ngọc, Những bài hát giao duyên, Tạp chí Âm nhạc, số 4-1982, tr.28.
9. www.bienphong.com.vn ngày 26-6-2008, Đáng ngại là không gian văn hóa quan họ Bắc Ninh đã rạn vỡ.
10. Luật Di sản văn hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 5.
11. Sở VHTTDL Bắc Ninh, Dự án bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể dân ca quan họ Bắc Ninh, Bản thảo, 2010, tr. 15.
9/4/2012
Hà Chí Cường
Theo http://vanchuong.com.vn/
 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Truyện cái giường

Truyện cái giường Tôi là một cái giường hư bỏ trong nhà chứa đồ cũ. Tôi buồn lắm. Cái nhà nhỏ như một cái hộp lớn, tồi tàn, dơ bẩn, bụi đâ...