Thứ Tư, 12 tháng 4, 2023

Trịnh Công Sơn qua góc nhìn người nghe nhạc

Trịnh Công Sơn qua
góc nhìn người nghe nhạc

1. Lời giải:
1. Số phận con người do đâu?
2. Tài năng nghề nghiệp do đâu?
3. Vì sao ca từ nhạc Trịnh trở nên huyền ảo đến khó hiểu?
4. Vốn ca từ ở đâu Trịnh Công Sơn lấy để sáng tác âm nhạc?
5. Người nghệ sĩ khi sáng tác nghệ thuật là thế nào?
6. Tài năng của người nghệ sĩ?
7. Cảm hứng và sự tưởng tượng của người nghệ sĩ trong sáng tác nghệ thuật?
8. Dòng nhạc Trịnh ảnh hưởng chủ thuyết nào?
9. Cái thú nghe nhạc Trịnh đêm khuya theo cảm nghĩ riêng.
Để hiểu phần nào về nhạc và con người của Trịnh Công Sơn, theo tôi: Suy bụng ta ra bụng người và nghe nhạc của ông thường xuyên. Nói hiểu ở đây là cảm về ca từ của ông theo cách riêng của mỗi người. Lời giải chỉ khơi gợi cho những điều còn thắc mắc: vì sao và tại sao Trịnh Công Sơn trở thành nhạc sĩ tài hoa được mọi người yêu thích qua hai dòng nhạc: Phản chiến và Tình ca vượt thời gian…
Lời giải 1: Số phận con người do đâu?
Những người theo phái duy tâm cho rằng số phận con người do thần thánh chi phối tạo nên; thuyết luân hồi nhân quả của đạo Phật cho rằng số phận do tạo nghiệp của người đó lúc còn sinh thời; người theo phái thực tế cho số phận là do con người tự tạo: vì tư tưởng sinh ra hành động - hành động sinh ra thói quen - thói quen sinh ra tính cách - tính cách sinh ra số phận. Ví dụ: Một anh có thói quen ăn trộm, trước tiên anh ta phải có suy nghĩ ăn trộm, suy nghĩ này dẫn anh ta đến hành động ăn trộm, ăn trộm lâu ngày trở thành thói quen, “ăn cắp quen tay ngủ ngày quen mắt”. Thói quen lặp lại thường xuyên trở thành tính cách của một người dẫn tới số phận. Rồi một ngày nọ anh ta bị bắt ở tù vì tội ăn trộm: đó là số phận theo quy luật nhân quả do chính bản thân mình tạo ra. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp người ta không thể giải thích được số phận của một con người theo quan niệm trường phái thì họ dung hòa: số phận do con người tự tạo 70% + thần thánh chi phối 30% = 100 % số phận một người.
Ngoài ra, người ta còn có cách quy ra số phận con người kể từ khi người đó sinh ra là lớn lên rồi chết:
Thời đại người đó sinh ra và lớn lên…
Sinh ra thời chiến hay thời bình, ở đô thị hay làng quê, trong gia đình giàu hay nghèo, khuyết tật hay bình thường….
Học thức nghề nghiệp: tài năng do thiên phú hay do di truyền hoặc do sự học hỏi trui rèn của bản thân.
Nhân sinh quan, tâm lý, tính cách, sở thích v.v…
Lời giải 2: Tài năng nghề nghiệp do đâu?
Xin đưa ra công thức tham khảo cho các ngành nghề:
Nền văn hóa và đất đai phong cảnh thiên nhiên của một vùng đất nơi sinh ra và lớn lên + Thời đại sinh sống + Tài năng thiên phú hay di truyền + Tài năng học hành của bản thân + Sở thích, tính cách… + Trao dồi tôi luyện + Quá trình làm việc và sự sáng tạo không ngừng + v.v…. = Nghề nghiệp tài năng của một người.
Tới đây có thể hình dung ra tài năng của Trịnh Công Sơn và tài năng của ta do đâu mà có. Như vậy số phận con người và tài năng nghề nghiệp được hình thành gồm nhiều yếu tố. Trịnh Công Sơn giống như chúng ta cũng sinh ra trong một hoàn cảnh nào đó. Trịnh Công Sơn là người xứ Huế, có lẽ đất đai phong cảnh nên thơ của dòng sông Hương núi Ngự…Vùng đất sinh nhiều anh hùng hào kiệt đã thấm sâu bao đời mà Trịnh Công Sơn là người may mắn thừa hưởng tinh hoa đó chăng?
Lời giải 3: Vì sao ca từ nhạc Trịnh trở nên huyền ảo đến khó hiểu?
Cách nói lạ không phải là mới mẻ đối với các nhạc sĩ, thi sĩ… Nói lạ là một phương pháp sáng tác trong văn học có từ lâu đời. Cách nói lạ của các nhạc sĩ thi sĩ khác chỉ là hơi lạ - cái hơi lạ này thường ai cũng đoán hiểu theo một ý nào đó không làm mọi người ngỡ ngàng hay kinh ngạc...Cách nói lạ của Trịnh Công Sơn thì rất đổi xa lạ và rất tân kỳ. Ngôn từ nói lạ của ông nghe hoa mỹ và cuốn hút lạ lùng. Cách sắp xếp ca từ của ông về hình thức trông rất tân kỳ và khi nghe cho nhiều cung bậc cảm xúc lạ… Nên ca từ của ông trở trừu tượng và khó lý giải theo cách hiểu thông thường, nên nhiều người kinh ngạc vì cái độc đáo tân kỳ của ông! (Nói ông sắp xếp ca từ: không có nghĩa là ông viết ca từ ra giấy, rồi suy ngẫm xếp nó lại theo lý trí rạch ròi, nếu có thì rất ít,…Mà sự sắp xếp này là do cảm xúc sắp xếp tự nhiên, nó bật ra từ trong sâu kín tâm hồn của ông)
Tạm chia ca từ nhạc Trịnh Công Sơn làm 2 cấp độ:
- Cấp độ 1: Ca từ tân kỳ đến ngỡ ngàng: có bài cảm hiểu rõ ràng, có bài cảm hiểu lơ mơ nhưng hiểu ý tác giả. Ca từ đẹp như bài thơ và có sức hút ma mị gồm các ca khúc: Ướt my,  Diễm xưa, Biển nhớ.v.v…(có khoảng vài chục ca khúc yêu thích và thịnh hành ở cấp độ một)
- Cấp độ 2: Ca từ tân kỳ đến kinh ngạc và hại não: hiểu lơ mơ, không hiểu, trăn trở suy nghĩ về ca từ nói lạ. Theo ước đoán những ca khúc đứng tóp 100 trở lên thì rất khó hiểu, nhưng người ta vẫn nghe vẫn thích vì cách nói lạ ngộ nghĩnh giàu hình ảnh và giàu màu sắc ca từ. Vì sao mà nhạc Trịnh Công Sơn càng về sau thì càng khó hiểu: Trịnh Công Sơn có khoảng 600 ca khúc, mỗi ca khúc cho là 36 trường canh, mỗi trường canh là một cụm ca từ, đem nhân cho 600 thì bằng: 21.600 cụm ca từ khác nhau. Từ 100 ca khúc trở xuống hầu như không thấy sự trùng lấp ca từ. Ngoài dòng nhạc Phản chiến ông chỉ có một chủ đề nói về  Tình yêu & thân phận, như vậy ông có trăm cách nói lạ khác nhau về tình yêu thân phận. Ví dụ: “Anh yêu em, anh nhớ em…” Ông có trăm cách nói hàm ý bóng gió không bị trùng lấp câu chữ. Giã sử 600 ca khúc không có sự trùng lấp ca từ thì Trịnh Công Sơn phải moi tim vắc óc mới nặn ra những ca từ luôn khác biệt, nhưng người nhạc sĩ tài hoa này giàu sức tưởng tượng thì dù có một ngàn ca khúc thì ông cũng dễ dàng đặt ca từ. Chỉ cần ông đặt tựa bài hát ra như, “Đóa hoa vô thường” thì ông sẽ cảm tác ngay và các ca từ trước đó sẽ không bị lặp lại. Nhạc của ông mang hơi hám của: Đạo ca, Kiếp ca, Tâm ca, Suy niệm ca…
Theo tôi, cách nói lạ “Tân kỳ độc đáo và sắc sảo” của Trịnh Công Sơn chưa có trong văn học cổ kim tính cho tận bây giờ. Ông nói đến sự vật nào thì sự vật đó như nằm trong không gian ba chiều cảm sờ nắn được. Trịnh Công Sơn không phải người rối loạn ngôn ngữ, ông chỉ nói quanh quẩn về tình yêu kiếp nhân sinh như bao nhà thơ, nhà văn và các nhạc sĩ sáng tác khác. Lắm lúc ông không dùng phép tu từ trong sáng tác văn chương thông thường, hoặc ông không dùng trực từ chỉ định về cái chết cụ thể như: Anh chết, em chết hay sự thương yêu đau khổ nhớ nhung… Mà ông hình dung sự vật, sự việc qua lăng kính riêng biệt của ông đó là cách nói hàm ý lạ. Từ đó ông diễn lại tiếng mẹ đẻ bằng cách sắp xếp ngôn ngữ nghe rất xa lạ của cách nói thông thường. Tuy nhiên, không gây cảm giác khó chịu, trái lại còn thu hút người nghe vì nó lạ ngộ chưa từng nghe thấy! – Từ đó sinh ra cách nói lạ độc đáo khó hiểu, khó lý giải. Ông không cho là mình nói lạ như mọi người nghĩ về ông, ông nói lạ vượt khuôn phép khuôn khổ của cách nói cách nghĩ bình thường là đương nhiên khó hiểu. Nghe nhạc của ông lắm lúc không hiểu hết thâm ý của ông, nhưng cảm thì rất nhiều cung bậc. Thông thường con người có xu hướng nghe nói rõ ràng trong giao tiếp hàng ngày, nên cho Trịnh Công Sơn sáng tác trong tinh thần không ổn định. Vì ngôn ngữ đời thường được ông tu sửa theo cách ông nghĩ. Ông có cảm xúc cực nhạy và siêu phàm cũng là tự nhiên của ông vì đó là bẩm sinh thiên phú. Có lần tôi bắt chước cách nói lạ của ông, tôi thử rồi thấy mình như thằng khùng thằng điên!... Mọi người làm được thì xã hội sẽ ra sao? Ông có thần giao cách cảm đặc biệt giao tiếp với trời đất vũ trụ với tiềm thức nhiều kiếp luân hồi của mình thì đố ai biết!...Mà không tin không được vì không có cách lý giải nào thuyết phục hơn. Tôi nhớ đã đọc trong một quyến sách: Một nhà văn nước ngoài viết về tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết tả lại cảnh chiến tranh đã xảy ra trên một vùng đất rất xa nơi nhà văn ở và cách xa thời đại nhà văn sống vài trăm năm… Ông tả các vũ khí đánh nhau và nhiều thứ khác giống hệt các vật mà các nhà khảo cổ khai quật. Rồi không có sự giải thích nào thuyết phục bằng cách cho ông là người của tiền kiếp luân hồi và nơi xảy ra chiến tranh là quê hương của ông, ông là người lính chết trong trận chiến đó. Người ta cho rằng tiền kiếp của con người nằm ở tiềm thức, nằm mơ thấy mình hóa bướm hóa rắn là do tiền kiếp trước của mình là bướm là rắn! Những hiện tượng như vậy xảy ra trong đời sống thường ngày, khoa học không giải thích được thì con người mượn sự mầu nhiệm huyền bí để giải thích đó là tự nhiên xưa nay.
Tôi có nghe hai ca khúc của Trịnh Công Sơn do danh ca Khánh Lý hát, tôi không biết tên tựa bài hát vì nghe qua usb. Bài thứ nhất có lời:Tôi là ai, là ai ba trăm năm trước, tôi là ai, là ai, là ai, vu vơ đất bồi, em ngồi ngọn sóng mang thai. Tôi là ai, là ai ba trăm năm trước, tôi là ai, là ai, là ai, Sài Gòn gánh gió trên vai, mưa lầy lội, tôi tìm tập trung dấu vết hươu nai, không ai chờ đợi hình bóng tôi phai. Tôi là ai, là ai, hôm nay tôi đến tôi tìm tôi. Tôi là ai, là ai ba trăm năm trước, tôi là ai, là ai, là ai, ra đi vời vợi, gót hồng lạc dấu em tôi. Tôi là ai, là ai ba trăm năm trước, tôi là ai, là ai, là ai, trở lại hóa kiếp rong chơi giữa nơi nầy. Phố phường Sài Gòn nhớ nhớ quên quên, đi quanh tôi tìm hình bóng xưa quen, đi tìm em, tìm em, cho tôi dấu vết bóng phù nam. Tôi là ai, là ai, hôm nay tôi đến tôi tìm tôi.
Bài thứ hai có lời: Nhật nguyệt í a trên cao, ta ngồi ối à dưới thấp, một dòng í a trong veo, sao lòng í a còn đục, bầy vạc í a bay qua kêu còn í a tịch lặng, đường đời í a không xa, sao chồn í a gối chân. Nhật nguyệt í a trên cao, ta ngồi ôi à dưới thấp, một đường í a cong veo, nắng vàng ối a đột ngột, từ độ í a chim thiên hót lời ối a mệnh bạc, từng giọt í a vô biên, chối chim ối à tiếng tăm./. Bài này Khánh Ly hát giọng như tụng kinh niệm Phật với cây đàn guitar khẩy hai dây nghe tịch lặng, đều đều như tiếng gõ mõ tụng niệm của các thiền sư ở chùa. Bài này thuộc loại “khổ nghe” ở cấp độ 2, hại não!
Riêng hai bài nhạc này cho nhiều nghi ngờ: Trịnh Công Sơn có thể là Phật tử tại gia. Ông rất tin vào thuyết luân hồi nhân quả của Phật giáo, và tin sẽ hóa kiếp là Trịnh Công Sơn sau 300 năm nữa. Ai có thể chờ 300 năm sau coi có Trịnh Công Sơn luân hồi như ông nghĩ không? Trịnh Công Sơn sáng tác qua giấc mơ tiềm thức, thần giao cách cảm v.v… Ông cảm cái kiếp trước của mình qua những ca từ khó hiểu cũng là chuyện bình thường của con người, vì ai cũng có cái đặc biệt không giải thích được. Trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn thường luôn nói lạ và nói lạ là bẩm sinh là thiên phú của ông. Như câu “Em ngồi ngọn sóng mang thai” – Nghe lạ ngộ!
Những ca khúc ông xưng hô “anh, em” thì nghe dễ hiểu như dòng nhạc Boléro thịnh hành. Trái lại, những ca khúc ông xưng “ta, tôi” hoặc có những ca khúc ông xưng hô rất ít từ: “anh, em, ta, tôi, thậm chí không xưng từ nào”…Ông nói bóng gió và tạo ghép rất nhiều hình ảnh lạ ngộ đến vô lý để diễn đạt sự chiêm nghiệm ở tầng siêu thức tiềm thức của ông thì hàm súc rất sâu xa khó hiểu. Nhạc của ông có cái hiểu cái không là ngôn ngữ nào ông sử dụng đời thường thì dễ, câu nào ông sắp xếp ngôn ngữ nói lạ thì rất khó hiểu. Có bài ông tự sự với núi, gió, suối, mây…bằng triết lý suy niệm của riêng ông, cho thấy ông có tâm trạng cô đơn không biết giải bày cùng ai: vì…người yêu đã bỏ ông đi! Hoặc ông gọi “người ơi, ai ơi” da diết nỗi lòng thương nhớ khôn siết! Có những ca khúc ông so sánh tình yêu với cỏ cây nghe rất hay lạ và đậm chất thơ trữ tình.
     Tựa bài hát của Trịnh Công Sơn thường nghe: đẹp và thơ, nhưng có bài nghe rất ngộ lạ, hàm ý sâu xa khó hiểu, rất khó đoán được nội dung ca khúc muốn nói cái gì. Ở dòng nhạc Bolero thì tên ca khúc thường biểu thị nội dung khá rõ nét. Nói vui!: Muốn nghe hiểu nhạc Trịnh thì nghĩ như đang giao tiếp với một người nước ngoài mà ta nghe chưa quen và nói chưa thạo ngôn ngữ của họ. Vì nhạc Trịnh có câu hiểu dễ, có câu nhíu mài lơ mơ, có câu vỗ trán lắc đầu không hiểu gì hết, giống như nghe thằng Tây nói chuyện vậy. Khi biết chủ đề ca khúc thì phải: cảm ca từ, đón câu ý, cảm giọng ca và tiết tấu giai điệu, rồi phối lại thành câu ý coi muốn nói hay ám chỉ cái gì. Vì vậy, không giỏi tiếng Tây mà nghe thằng Tây nói 10 chữ hiểu được năm ba chữ, rồi phối câu ghép từ, đón ý nó muốn nói cái gì: là giỏi rồi!... Nghe nhạc kiểu này thì mất cảm xúc và hại não chết luôn, nhưng nhạc Trịnh thì trái lại. Có lẽ Trịnh Công Sơn bị ảnh hưởng chủ thuyết siêu thực nên ca từ của ông đậm hình ảnh của thể loại thơ siêu thực khó hiểu. Tuy nhiên: nhờ hòa âm hay + giai điệu nhẹ nhàng tự sự + tiếng hát Khánh Ly truyền cảm sâu lắng = làm cho hình ảnh ca từ như trôi trong không gian ba chiều: tạo nhiều cảm giác thực - ảo và lơ mơ bềnh bồng rất thích thú!... Và có cả sự tò mò thắc mắc: là vì sao và tại sao, Trịnh Công Sơn lại nói lạ với những dụng ý gì!?
Lời giải 4: Vốn ca từ ở đâu, Trịnh Công Sơn lấy để sáng tác âm nhạc?
Vốn ca từ được Trịnh Công Sơn: lấy từ ca dao tục ngữ tiếng mẹ đẻ, lấy từ tiếng ru của bà và sự dỗ dành âu yếm của mẹ, lấy từ ký ức tuổi thơ hồn nhiên, từ nền văn hóa nơi ông sinh ra và lớn lên; lấy từ kiến thức văn học triết học mà ông học hỏi và trải nghiệm, lấy sự chiêm nghiệm từ tiềm thức của những giấc mơ, từ linh cảm siêu nhiên huyền bí… Ông còn lấy thành phố, con đường, công viên, quán nước, vỉa hè, ánh điện… Ông vay mượn trời đất: mây, núi, cây cỏ, sông suối, chim muông…Nói chung ông lấy thế giới vật chất và thế giới tinh thần trộn lẫn để sáng tác ca từ theo cách riêng của mình. (Nói vui là không đụng hàng!) Vì khi trời đất đã ưu ái thì phải cho phải giúp ông những cái ông cần để cảm tác về “cuộc đời” về “cái tôi” về “sự huyền bí” mà tạo hóa vô tình hay hữu ý ban phát cho ông cũng như ban phát cho những tài năng khác là có nhiệm vụ làm đẹp cuộc đời như là cách trả nợ đời và trả nợ tạo hóa chăng? (…)
Lời giải 5: Người nghệ sĩ khi sáng tác nghệ thuật?
Người nhạc sĩ sáng tác quan trọng nhất là tiếng đàn nhạc cụ, tôi không có đàn piano nên không biết âm thanh của nó có gợi ra nhiều ý tưởng sáng tác hơn đàn guitar không? Theo tôi thì người nhạc sĩ chuyên loại nhạc cụ nào thì sáng tác loại đó. Tuy nhiên, có những nhạc cụ khó gây men và khơi dậy nỗi lòng sâu kín của người nhạc sĩ. Âm thanh tiếng đàn là sợi dây kết nối vô hình từ cảm xúc tới tiềm thức, ký ức và vượt xa không gian hiện thực… Trừ những nhạc sĩ sáng tác không cần tiếng đàn, họ xướng âm là la la lá, đồ mi sol… là sáng tác được một bản nhạc hay đàng hoàng. Thời chiến tranh các nhạc sĩ cách mạng sáng tác chỉ cây đàn măn-đô-lin, bơm đạn bắn không còn thì lấy gì sáng tác, vậy mà họ làm được. Tiếng đàn có âm tối, âm sáng, âm buồn âm vui nên dễ kích thích nỗi niềm người nhạc sĩ, người nhạc sĩ sáng tác không gian thời gian chung quanh như lắng đọng…Họ không nghe thấy gì ngoài tiếng đàn và giai điệu mà họ ngân nga thả hồn tìm kiếm để bắt lấy nó cho kỳ được! Một tiếng động không làm họ bị chi phối, một tiếng động lớn sẽ làm họ giựt mình, lúc đó mạch cảm xúc bị gián đoạn thì làm họ rất bực mình, vì nối lại mạch cảm xúc không như trước, giống như cắt sợi dây đứt hai rồi đem nối nó lại vậy. Theo quan niệm phương đông thì người nghệ sĩ nằm trong thế giới “Thiên-địa-nhân”. Cái khí thiêng của núi sông, văn hóa cội nguồn của một vùng đất cũng ăn sâu vào ký ức tiềm thức của người nghệ sĩ tự bao đời. Trịnh Công Sơn sáng tác ra ca từ và những ngôn từ đó âm vang tận tiềm thức, ký ức đã được lưu giữ tự bao đời của cha ông truyền lại. Sự ấp ủ trăn trở của người nghệ sĩ vốn hình thành như men say dầy dậy trong tâm thức, tiềm thức hồi nào không hay biết… Và chỉ khi người nghệ sĩ dâng trào cảm xúc thì men say ấy đã chín mùi thành chất xúc tác giúp cho người nghệ sĩ sớm thăng hoa trong sáng tác nghệ thuật: người nghệ sĩ say men lâng lâng rồi cho ra những ý tưởng tân kỳ độc đáo!... Khoảnh khắc, hơi men tan vào vũ trụ để lại tâm hồn người nghệ sĩ nỗi khắc khoải triền miên về điều mà mình vừa miên man chạm tới: hơi men tan đi, khao khát vẫn còn. Và nó để lại cho người nghệ sĩ áng thơ văn tuyệt tác, như những bản Tình ca của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại cho đời! Tới đây đã hiểu phần nào về con người Trịnh Công Sơn và hiểu về ta ra sao. Sao ta không tài hoa như ông, đừng vội, vì chúng ta có tài năng khác mà ông không có.
Lời giải 6: Tài năng của người nghệ sĩ?
Theo quan niệm Á đông - cái tài là do thiên phú, cái tài còn là tinh hoa của dân tộc của trời đất ưu ái cho một người nào đó. Vì vậy khi người nghệ sĩ sáng tác thì trời đất núi sông phát ra siêu lực giúp họ cảm tác nghệ thuật - vì trời đất ưu ái thì phải giúp họ, đây cũng là quy luật tự nhiên của vũ trụ vô cùng và khó hiểu! Tài năng của người nghệ sĩ như tảng băng trôi: “phần nổi là thực, phần chìm là ảo, khi sáng tác hai cái này tan chảy vào nhau”. Nhạc sĩ và nhà thơ thì cho ra những ngôn từ thực-ảo, vì nhà thơ và nhạc sĩ luôn mạnh về cảm xúc: Người thiên về sắc thái cuồng nhiệt, người thiên về triết lý trữ tình tinh tế như Trịnh Công Sơn… Độc đáo ở Trịnh Công Sơn là cách biểu đạt ngôn từ một cách ma mị nên có người tặng ông là Phù thủy văn chương!... Ca từ của ông như có hồn níu kéo người nghe một niềm cảm xúc kỳ lạ! Ông có sức hình dung sự vật lạ kỳ nên cho ra những ngôn từ cũng kỳ lạ không kém. Bấy nhiêu đã thấy trí tưởng tượng của Trịnh Công Sơn là siêu việt!… Đôi mắt của ông rất tinh tường tinh tế, đầu óc của ông thì rất tự do phóng khoáng, giúp ông vượt khỏi ngưỡng hiện thực để đi đến cái siêu cao hơn. Sự vật mà ông nghĩ tới luôn nằm trong không gian ba chiều nên trở thực và ảo, lung linh trong trí giúp ông tạo ra ca từ cũng lung linh thực-ảo. Và cái thực-ảo làm ngôn ngữ của ông trở nói lạ, nhằm diễn đạt sự vật theo suy niệm của riêng ông. Vì ông sáng tác cho “cái tôi” của ông, chứ không cho “cái tôi của mọi người”. Ngoài sáng tác nhạc, Trịnh Công Sơn còn được biết đến là một nhà thơ và họa sĩ, ông sáng tác nhạc giống như khi làm thơ hoặc vẽ, nên nhạc của ông đậm sắc thái thơ và họa… Ví như ông cầm bút cọ phát thảo lên khung vẽ những nét sơ khai rồi đậm dần theo cái mà ông tưởng đến… Và đôi khi chỉ là những nét mơ hồ, trừu tượng và rất khó hiểu. Một người nghệ sĩ mang trong người nhiều yếu tố nghệ thuật thì khi sáng tác những thứ đó bị chi phối lẫn nhau, cái này có hồn xác của cái kia ngự trị ít nhiều: Hỏi vì sao trong âm nhạc Trịnh Công Sơn luôn có thơ có họa… Chính hai cái này trộn lẫn làm ngôn ngữ trở nên huyền ảo chăng!?
Một nhạc công đệm đàn “mùi” quá làm cho Khánh Ly hát “mùi” hơn. Hát xong, Khánh Ly tươi cười bước xuống vỗ vai anh nhạc công: “Cám ơn tiếng đàn réo rắc của anh, tôi say theo tiếng đàn mà hát không muốn nghỉ!” – Anh nhạc công cười phấn khích: “Nghe Khánh Ly hát “mùi” làm tôi đắm đuối đàn theo muốn đứt ruột gan!” – Một khán giả bước tới hỏi: “Anh nói vậy, mà bây giờ anh có đàn được như vậy cho thần tượng của tôi hát lại được không?... Chứ tôi thấy anh phăng anh phiu dữ lắm đó nghen!” – Anh nhạc công toe toét: “Anh có bắn tôi thì tôi chịu, chứ bắt tôi đàn giống như lúc nảy thì chịu thua!” – Khánh Ly và nhạc công cười xòa. Vị thính giả bước tới hỏi Trịnh Công Sơn đang ngồi ghế danh dự: “Nhạc sĩ sáng tác nghe hay quá!…Mà sao ca từ nghe lạ quá, hỏng hiểu gì hết! – Trịnh Công Sơn cười nín thinh không trả lời vì sợ anh ta hỏi thêm: Nhạc sĩ sáng tác như vậy mà nhạc sĩ có hiểu nhạc của mình nói gì hay không? Trịnh Công Sơn suy nghiệm: “Tại sao lúc đó mình sáng tác như vậy, nghe cũng là lạ và khó hiểu!” Có thể ông hiểu lơ mơ về ca từ nhạc của mình như ta hiểu bây giờ vậy, vì đó là cảm xúc nên không theo qui luật nào! (Tôi nói xàm cho vui rồi lại xàm tiếp!). Như câu chuyện là thật thì Trịnh Công Sơn khó giải bày, vì ông giống như anh nghệ sĩ đàn guitar ngẫu hứng theo tiếng hát mùi mẫn của Khánh Ly vừa rồi. Anh ta phấn khích phăng phiu, nhấn nhá mọi cách gây hứng thú cho Khánh Ly hát mỗi lúc một hay và ngược lại tiếng hát Khánh Ly đã làm anh phấn khích. Người nghệ sĩ luôn có cái cảm đồng điệu như vũ trụ đồng điệu với người nghệ sĩ trong sáng tác. Tương tác xảy ra nhất thời, người nghệ sĩ phải nhanh trí bắt lấy cái thần khí lúc đạt đỉnh thăng hoa: nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn đều cảm được cái này, không có nó họ không thể sáng tác, cố ép chỉ là con số không!
Lời giải 7: Cảm hứng và sự tưởng tượng của người nghệ sĩ trong sáng tác nghệ thuật?
Ở người nghệ sĩ quan trọng nhất là cảm hứng và sự tưởng tượng, cảm hứng giúp người nghệ sĩ sáng tác qua hình dung tưởng tượng của mình. Khi cảm hứng đạt đỉnh lúc này tinh thần người nghệ sĩ hòa vào trời đất vạn vật rồi tương tác lẫn nhau. Người nghệ sĩ cảm thấy tinh thần sáng suốt và tinh tế hơn. Người nghệ sĩ có cảm giác tinh thần bềnh bồng, nhịp tim đập nhanh hơn như có luồng khí thiên nhập vào người(…)Lúc này người nghệ sĩ tập trung cao độ, quên đi mọi thứ để cho nhiều ý tương mới lạ xuất hiện…Người nghệ sĩ chưa kịp nắm bắt ý này thì ý kia lướt tới xô đẩy như sóng trào: là nhà thơ trong đầu âm vang tiếng thơ rồi tuôn trăm dòng nối tiếp ra trang giấy cách vô thức, nhà văn thì viết hằng giờ liền mà ý tưởng cứ luôn mới mẻ không ngừng!... Đôi tay cầm bút của người nghệ sĩ thường khó đuổi kịp ý nghĩ vì vậy mà bản thảo nguệch ngoạc chữ khó đọc, bản thảo không kịp sửa bỏ lâu ngày làm người nghệ sĩ khó đọc lại chữ của mình, vì vậy người nghệ sĩ khá vất vả để ghi chép hết những dòng ý nghĩ mới lạ lúc cảm hứng lên đến cao trào. Linh thức của người nghệ sĩ là điểm nối: tiềm thức con người với vũ trụ… Vì vậy con người mới sáng tạo ra cái kỳ diệu độc  đáo như Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn! Bao nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn khác cũng sáng tác như thế. Tôi không thần thánh Trịnh Công Sơn, vì ai cũng có thể trở thành vĩ nhân về thiên tài xuất chúng của mình. Tôi trân quý và cám ơn ông đã để lại cho cuộc đời tôi đang ở một tài sản âm nhạc vô giá về: Tình yêu và Thân phận - cho mọi người có cái để suy ngẫm riêng tư về cuộc đời mình đang sống… Và cuộc đời này đâu chỉ có tôi và bạn!? Nghe nhạc Trịnh Công Sơn, tôi cảm con người ông rất hiền lành và cảm được sự cô đơn đâu đó của ông (…). Tôi không thấy có lời bon chen nào trong ca từ âm nhạc của ông. Và ông đã đứng giữa ngã rẽ của thế sự cuộc đời (…) Ông không đai nghiến, yếm thế cuộc đời ông ở, ông yêu nó vô cùng. Tâm ông thấm nhuần triết lý Đạo Phật về lòng bác ái, yêu thương đồng loại (ở dòng nhạc Phản chiến).
Trong âm nhạc của ông ta nghe ông tự sự về “cái tôi cái ta”: cái tôi thương, cái tôi nhớ, cái ta nghĩ ngợi, cái ta suy niệm, cái tôi của tiền kiếp, cái ta chiêm nghiệm về thế giới huyền bí v.v… Biết bao “cái tôi cái ta” đã hình thành trong con người nói lạ của Trịnh Công Sơn. Tôi không may mắn nghe hết 600 ca khúc mà ai đó liệt kê. Theo tôi những ca khúc chưa phát hành còn rất nhiều điều trăn trở về “cái tôi cái ta và cái độc đáo” của ông chưa thật sự được khám phá: “Người nào phát kiến ra cái mới mẻ chưa từng có trong lịch sử cổ kim, hoặc, một câu nói làm kinh động thế giới thì người đó có thể trở thành vĩ nhân về cái tài đặc biệt của mình”
Tóm lại, tưởng tượng ví như mây ngũ sắc của buổi hoàng hôn có nhiều hình dạng kỳ quái: Nhà thơ hình dung kia là đàn ngựa chạy tung khói bụi, kia là núi non chập chùng trong bão tố. Nhà văn thì hình dung đó là vị thần đang cưỡi trâu cưỡi bò, hay đó là bồng lai tiên cảnh có các vị tiên râu dài tới ngực đang ngồi đàm đạo đánh cờ v.v… Phúc chốc, sinh ra cảm hứng cảm tác, cái mình cảm cái mình nghĩ. Trịnh Công Sơn thì khác, ông cho đó là cảnh cái chết, cảnh biệt ly….Cảm hứng còn được viết ra bằng trí tưởng tượng vô song và không tưởng của các nhà thơ, nhà văn, họa sĩ, nhạc sĩ… Lúc đó cái thần thái vượt lên chín tầng mây để giao thoa cùng trời đất vũ trụ: họ nói, họ hát, họ vẽ như người cõi trên! Hỏi mấy ai hiểu được tranh trừu tượng, thơ siêu thực gì đó cho đúng nghĩa của người cảm tác: biết đâu chính cái khó hiểu là đỉnh cao nghệ thuật của trăm năm sau, vì thế giới này cũng đã từng như vậy!
Lời giải 8: Dòng nhạc Trịnh ảnh hưởng chủ thuyết nào?
Con người sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh hay thời đại nào đó…Tư tưởng và trào lưu của thời đại đó ít nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng của một số người đương thời. Tư tưởng trào lưu đôi khi hợp thời này nhưng không hợp thời kia, tư tưởng người này không hẳn giống người kia là chuyện hiển nhiên (…).
Trịnh Công Sơn sinh sống vào thời đất nước bị chia đôi (…). Thời đó có nhiều chủ thuyết ra đời: thuyết lâu đời nhất là Phật giáo trong đó có thuyết luân hồi; gần hơn là thuyết siêu thực trong thơ ca và thuyết hiện sinh trong lối sống v.v… Trịnh Công Sơn là một nghệ sĩ trí thức nên ít nhiều bị ảnh hưởng các thuyết trên là đương nhiên. Là người nghệ sĩ trí thức ông không thể đứng ngoài thế sự (…). Hoàn cảnh lúc đó buộc ông đứng trước ngã rẽ và rất khó cho ông(…) Là một nhạc sĩ tài năng ông chọn dòng nhạc Phản chiến để bày tỏ quan điểm và thức tỉnh mọi người (…). Âm nhạc Trịnh Công Sơn chủ yếu có hai dòng: “Tình yêu - Thân phận” và “Phản chiến”. Ở dòng Tình yêu và Thân phận: Ngôn ngữ có bài đậm nét của thể thơ siêu thực khó hiểu. Phần lớn nói về: cái tôi của tình yêu, cái tôi của chiêm nghiệm, cái tôi của kiếp nhân sinh v.v... Ở dòng Phản chiến ông ngầm kêu gọi buông bỏ: Tham-sân-si và kêu gọi lòng yêu thương bác ái của con người. Đây là giáo lý chủ chốt của Đạo Phật và là cội nguồn của mọi khổ đau do lòng tham của con người sinh ra. Ngôn ngữ ca từ của ông diễn đạt một hình thái khác, nhưng ẩn chứa cái tâm của ông về thế sự cuộc đời mà ông đang ở trọ. Có thể nói Trịnh Công Sơn được biết đến và nổi tiếng từ dòng nhạc Phản chiến: Thời đó sinh viên và các tầng lớp trí thức sử dụng nhạc Phản chiến của ông trong các dịp du ca hội họp và nghỉ hè v.v... Như vậy, Trịnh Công Sơn ít nhiều chịu ảnh hưởng của các chủ thuyết nói trên. Theo tôi về tư tưởng sáng tác, ông ảnh hưởng giáo lý nhà Phật là chủ yếu. Thiết nghĩ, đó là cái Tâm Phật của người nghệ sĩ chân chính: vì tâm sinh tướng - Tâm tướng ông không thuần khiết thì không biểu thị ra bên ngoài bằng cái Tâm tướng của ngôn từ ca từ thông qua cách nói lạ. Ông nói lạ mà nghe cuốn hút, ông nói lạ mà nghe tình cảm, ông nói lạ mà nghe sâu sắc, ông nói lạ mà nghe ngộ nghĩnh đáng yêu v.v… Và cái nói lạ đó không ngoài tình yêu thân phận, tình người và cuộc đời chúng ta đang sống. Những lời ông nói đó còn thật hơn cuộc đời thực, vì cái thật đó được ông khơi gợi nói ra mà ai cũng có thể cảm nhận được theo cách riêng của mình; còn cái thật của cuộc đời thì đôi khi bị khuất lấp, ít người thố lộ ra cho mọi người cảm được mùi vị đắng cay, thương yêu, nhung nhớ, khổ đau của cuộc đời v.v… Đôi khi cái lạ đẹp, cái kỳ ảo đó không hiểu mấy nhưng vẫn hay và nghe tự nhiên. Ngôn từ của Trịnh Công Sơn nghe đẹp cả hình thức lẫn nội dung. Và cái đẹp đó không của riêng Trịnh Công Sơn mà là của mọi người nghe nhạc của ông: cần vươn tới chân thiện mỹ trong đời sống hiện đại ngày nay.
Lời giải 9: Cái thú nghe nhạc Trịnh đêm khuya theo cảm nghĩ riêng
Đêm nghe nhạc Trịnh: hình dung như thước phim chiếu trong đầu: không gian mở rộng nhiều bối cảnh quen thuộc đến ngỡ ngàng, phụ thuộc vào độ cảm, sức tưởng tượng của người nghe. Nhân vật thường mờ nhạt nhưng đậm ngôn ngữ kỳ ảo đến cuốn hút. Nghe một lúc ngỡ lạc vào xứ sở lạ kỳ… Rồi phấn khích đứng xem nhà ảo thuật ngôn ngữ dùng mọi thủ pháp đánh lừa thị giác người xem… Ngôn ngữ hoán đổi liên tục tạo nhiều ngữ nghĩa, nhiều sắc thái cung bậc đến choáng ngộp! Rồi nhà ảo thuật như vẽ vào tâm trí người nghe hỗn độn tranh ấn tượng lẫn trừu tượng… Người nghe nhanh trí phối những tranh ấy thành bức tranh tổng thể để có cái hiểu cảm riêng. Và đây cũng là cái thú độc đáo khi nghe nhạc Trịnh: câu rõ nghĩa đứng cạnh câu lờ mờ nghĩa, câu dễ hiểu đứng cạnh câu khó hiểu… Người nghe hụt hẩng bơ vơ thì câu rõ nghĩa lại xuất hiện kéo cảm xúc trở lại. Nghe nhạc Trịnh giống như trò chơi đố chữ xếp hình, trò rượt đuổi của mấy đứa con nít, ý này đuổi ý kia loạn xà ngầu… Người nghe chú ý tìm bắt sao cho được tên đứng gần nhất là thích lắm rồi! Ngôn ngữ âm nhạc có khác hơn ngôn ngữ thơ văn, vì: ca từ + phối âm + tiếng hát…= Thường cho ra nhiều hình ảnh cung bậc cảm xúc khác nhau. Nhất là ngôn ngữ nhạc Trịnh biến hóa nhiều hình ảnh không tưởng, bất ngờ, choáng ngộp, một phần nhờ vào âm thanh phối khí, độ cảm của ca sĩ khi hát – ngôn ngữ ca từ như bóng ma ám ảnh người nghe, nhạc ngưng rồi mà dư âm còn kéo, lòa nhòa thực hư – mà hay mà say mê! Nói vui: Một cô gái đẹp dễ tán tỉnh sẽ không thu hút bằng cô gái bí hiểm… Cái bí hiểm này làm mình tức trăn trở tìm mọi chiêu trò để chinh phục nàng, nhưng chinh hoài mà nàng không phục, cứ tiếp tục chinh, chinh mãi! Nghe nhạc Trịnh cũng vậy!
Quá trình nghe nhạc Trịnh Công Sơn, tôi có một số lý giải theo cách nghĩ riêng: Trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn, ông hiếm dùng ngôn ngữ của dòng nhạc bình dân Bolero, ông dùng phong cách văn chương ít hơn ngôn ngữ đặc thù nói lạ của ông. Như ông ẩn dụ A với B… thì cùng một lúc ông cho ra nhiều hình ảnh ở B… Nhạc Trịnh Công Sơn có bài như bức tranh trừu tượng với những mảng màu kết hợp ngẫu nhiên qua cách ông dựng ngôn ngữ… Nó chứa nhiều hình ảnh biến ảo và những hình ảnh đó như một phần tiềm thức hay giấc mơ của ông: vì giấc mơ thường rời rạc, đứt quảng và mờ nhạt... Hình ảnh này vừa khơi gợi thì hình ảnh kia hé mở níu kéo người nghe lạc vào mê cung của ngôn ngữ nói lạ đầy sắc thái cung bậc cảm xúc, khơi gợi trí tò mò…Nghe ông nói cái này lại nghĩ đến cái kia, có cái nghe nghịch lý, vậy mà hay mà mê! Ông là nhà ngôn ngữ nói lạ đại tài biết dẫn dụ người nghe đến cuốn hút: “Hãy nghe nữa đi để tìm ra kho báu bí mật được cất giấu bên trong những con chữ tầm thường” v.v… Nói vui!: Ngôn ngữ của ông giống như khi chiếu phim thì cần 24 ảnh trong một giây để tạo hình ảnh thật cho não nhận diện sự vật sự việc cho người hiểu biết, đằng này máy chiếu của ông bị hư, lúc thì thiếu ảnh lúc thì dư ảnh làm cho sự vật sự việc mờ nhòa không rõ nét, chỉ cố hình dung phán đoán sự vật sự việc đó một cách thiếu chính xác và mơ hồ đến khó hiểu. Hay ông kết hợp giữa “thực và ảo”: tức A và B: A là vật thực, B là vật ảo; hay A là ảo, B là thực… Và cùng một lúc ông đưa ra nhiều hình ảnh thực - ảo... Khó phân phân đâu là thực và đâu là ảo, đâu là có và đâu là không v.v… Vì vậy, tôi xin đưa ra công thức tham khảo khi nghe nhạc Trịnh Công Sơn theo cách lý giải riêng của mình:
Ngôn ngữ nhạc Trịnh Công Sơn = Lời nói thông thường đứng cạnh lời nói không thông thường + Lời thông thường đứng cạnh lời hàm súc triết lý + Hình ảnh thực đứng cạnh hình ảnh ảo và ngược lại + Ngôn ngữ thường ngày được hoán đổi hay định danh lại một từ nào đó nghe rất mới lạ + Ngôn ngữ ca từ có hình ảnh thơ siêu thực + Ngôn ngữ nói lạ đôi lúc nằm ngoài phép tu từ + Ngôn ngữ tiềm thức, ngôn ngữ giấc mơ của cái tôi bí hiểm + Ngôn ngữ linh thức về thế giới siêu hình huyền bí + Thế giới nhân sinh quan của Trịnh Công Sơn + v.v…= Ngôn ngữ huyền ảo của Trịnh Công Sơn tạo ra hai thế giới thực và hư.
Như nói ở trên: từ đây người xem bị lóa mắt chăm chú nhà ảo thuật mong tìm ra cái sơ hở, cái tẩy, cái mẹo, cái siêu kỹ thuật của nhà ảo thuật, kết quả là con số không!... Cuối cùng chỉ biết vỗ tay cảm thán trước cái biệt tài kỳ ảo, cái độc đáo và cái khéo tay của nhà ảo thuật ngôn ngữ đại tài! Lạc vào “vườn âm nhạc của Trịnh Công Sơn như lạc vào “vườn kỳ ngộ” của xứ sở không tưởng!... Ở đó ta tìm thấy ta về tình yêu kiếp nhân sinh, về cuộc đời ta đang ở qua vô số mảnh ghép vỡ vụn. Nghe nhạc Trịnh như say men chếch choáng, suy nhớ tháng ngày yêu xa thương gần của một thời đẹp đẽ hay cay đắng… Nói như vậy để hiểu khi nghe nhạc Trịnh thường bắt con người ta phải suy tưởng viễn vong. Ngôn từ của ông đậm hình ảnh kỳ ảo thì trí não người nghe cũng phải đậm hình ảnh tưởng tượng… Và chính ngôn ngữ kỳ lạ xuất hiện bất ngờ suốt chiều dài giai điệu đã làm người nghe phải kinh ngạc đến kinh dị! Rồi tưởng thưởng hết lời vì đã cho họ thưởng ngoạn một thế giới mộng mị chưa từng có bao giờ và kể cả trong chiêm bao! Nghe nhạc Trịnh đêm khuya, giai điệu cùng tiếng hát Khánh Ly như thay lời muốn nói giùm ta về tình yêu, về cuộc đời, về thân phận kiếp luân hồi… Rồi cái ta cái tôi nhỏ bé cảm lớn hơn đẹp hơn trong ý nghĩ: yêu không cuồng, nhớ không lụy, hờn tợ gió bay, không đai nghiến yếm thế và yêu mọi người. Âm nhạc của ông còn nhắc ta khi đã thương thì lòng phải mở phải đẹp, phải trách nhiệm với người mình thương - vì sống là phải đẹp phải trách nhiệm để khi cái ta vĩnh hằng thì lòng thanh thản cho gió cuốn bay đi!... Mọi thứ được cảm nhận qua ngôn ngữ kỳ ảo của ông, ông nói thương nói nhớ nghe mộng mị lạ lùng và ngộ, ông rất rất nhiều cách nói thương nhớ như thế. Ngôn ngữ của ông đa dạng về hình thái ngữ nghĩa và hàm súc sâu sắc – cái nào nghe, coi, cũng hay cũng đẹp cũng lạ! Hỏi sao mà người nghe nhạc của ông mỗi lúc một nhiều. Giới trẻ hát và nghe nhạc của ông cũng chỉ mong cảm được cái đẹp, cái cao quý cao thượng về: “yêu tình, yêu đời, yêu người, yêu mình”: Yêu như yêu lần đầu, xa như chưa bao giờ, nhớ như nhớ thuở nào, và quên như chưa bao giờ…Mọi thứ đều đẹp trong ngôn ngữ lung linh sắc màu, và cái ma mị ẩn hiện tâm trí người nghe qua “triết lý tình/ triết lý đời/ triết lý cái tôi chiêm nghiệm” của Trịnh Công Sơn về cõi vô thường: hai tay buông xuôi thì chẳng còn gì ngoài thân xác trở về cát bụi!... Vũ trụ này có bao la vô cùng thì ngày nào đó nó cũng chết như kiếp người nhỏ bé: vì có sinh tất có diệt! Tưởng chừng ngôn ngữ rất nghịch lạ và khó hiểu sẽ làm Trịnh Công Sơn rời xa mọi người rồi đi vào quên lãng mãi mãi, trái lại, người nghe một nhiều. Các nhà chuyên môn thì tốn thời gian giấy mực hội thảo hội đàm về ngôn ngữ nói lạ của ông – coi Trịnh Công Sơn là một hiện tượng lạ trong ngôn ngữ nghệ thuật hiếm thấy. Theo tính toán của các nhà làm nghệ thuật, nhạc Trịnh Công Sơn có nhiều người nghe và yêu thích nhất kể từ thế kỷ trước cho đến nay, dù rằng ngôn ngữ ca từ của ông có mơ hồ trừu tượng. Và nhạc của ông có thời được trả tác quyền nhiều nhất.
Xin mượn ý Khổng Tử: “Âm nhạc giúp con người thưởng ngoạn tinh thần, âm nhạc còn là cách tập hợp để truyền bá tư tưởng đẹp của tác giả” - Trịnh Công Sơn là những tác giả như thế! Đó là cái Tâm Phật của ông về tình yêu thương kiếp người, về cuộc đời mà ông đã sống!
Cuối cùng xin mượn lời Trịnh Công Sơn để kết: “Tôi chỉ là một tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo!”
Chú thích:
Bài chia sẻ về Trịnh Công Sơn và âm nhạc của ông qua góc nhìn người nghe nhạc: người viết không có tham vọng mở ra thế giới tâm hồn, tâm linh của Trịnh Công Sơn hay bình phẩm điều gì về ông. Người viết chỉ cảm thấy những gì khi nghe nhạc của ông rồi nói ra cái cảm nghĩ riêng của mình. Bài chia sẻ còn nhiều sai sót hạn hẹp mong mọi người lượng thứ.
2. Nhìn lại chặng đường Văn học Việt thì có rất nhiều văn sĩ thi sĩ nổi tiếng được lưu danh vào lịch sử Văn học nước nhà qua các thời kỳ vàng son, sáng giá nhất trên bầu trời Nghệ thuật văn chương là cụ Nguyễn Du với truyện Kiều 3.254 câu lục bát bất hủ, cụ Du là nhà thơ có sức học uyên bác vào thời Văn học Trung Đại, tác phẩm truyện Kiều đưa Cụ cùng thể thơ lục bát đạt đến đỉnh cao của danh vọng và nghệ thuật thơ ca.   
Từ ngày cụ Du tạ thế năm 1820, mãi đến khi Trịnh Công Sơn ra đời mới có ngôi sao Nghệ thuật Tân nhạc lấp lánh trên bầu trời Đất Việt. Hai trăm năm không quá dài không quá ngắn, cụ Du có đủ thời gian ra thách thức và tự khẳng định mình là số một thi ca từ cổ chí kim, không nhân vật tài ba nào có thể sửa dùm cho Cụ một chữ trong 3.254 câu lục bát tuyệt tác. Tuy nhiên cụ Du vẫn hiểu là “nghệ thuật không có đỉnh cao tuyệt đối”, nghệ thuật sau cao hơn nghệ thuật trước là định luật phát triển tự nhiên xưa nay. Và thời gian còn là cái nôi sinh ra nhân tài cho đất nước, đất nước có nhiều nhân tài thì sự tôn trọng cũng bắt nguồn từ đó, đó còn là sự may mắn cho một dân tộc. Trịnh Công Sơn là nhân vật hậu thế, nổi danh khoảng thập niên 50 của thế kỷ 20, danh của ông lan rộng ra nước ngoài vì tài năng âm nhạc xuất chúng của ông, nhất là dòng nhạc Phản Chiến, thể hiện rõ tấm lòng yêu quê hương đất nước, yêu con người và hòa bình của ông; ông có “Đĩa vàng” và Giải thưởng âm nhạc tại Nhật, có tên trong Tự điển bách khoa Encyclopédie de tous les pays du monde của Pháp (1). Năm 2019, do nhạc và danh tiếng của ông có tầm ảnh hưởng rộng rãi trong nước và cộng đồng quốc tế, Google đã vinh danh ông vì sự cống hiến đó.
Ngôn ngữ ca từ của Trịnh Công Sơn được giới chuyên môn xem là thơ, nếu xem Trịnh Công Sơn là một thi sĩ “nói lạ” độc đáo thì Văn chương Việt có thêm một nhà thơ cá biệt và hiếm có.
    Thơ cụ Du sinh động hiện thực bởi muôn màu cuộc sống tả chân, người đọc Kiều cảm cùng cảnh ngộ với nhân vật mà cụ Du quan niệm Tài – Mệnh tương đố, đồng thời bừng bừng căm giận chế độ phong kiến hà khắc và thối nát, quan lại tham ô sách nhiễu dân lành, chà đạp lên thân phận người phụ nữ như: Sở Khanh, Mã Giám Sinh, Tú Bà v.v…
Bút pháp của cụ Du đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật tả chân bằng lối thơ lục bát có thủ pháp điêu luyện. Trái với cụ Du, ngôn ngữ ca từ của Trịnh Công Sơn được xem là thơ thì bảng lãng sương mai của thể thơ siêu thực khó hiểu. Ngôn ngữ lạ kỳ của Trịnh Công Sơn dẫn đến người yêu thích nhạc của ông gọi ông với nhiều mỹ danh thán phục: Phù thủy văn chương/ Phù thủy ngôn từ/ Phù thủy của chiếc đũa thần: ví như ông gõ vào con chữ nào thì lập tức nó biến hóa có hồn có xác theo ý ông muốn. Các nhà chuyên môn gọi ông là “hiện tượng Trịnh Công Sơn”, họ còn tìm thấy ở ngôn ngữ của ông chứa đựng nhiều tầng nghĩa: Triết học/ Phật học/ Thiền học, v.v… Từ cổ chí kim có ngôn ngữ nghệ thuật nào cùng một lúc chứa đựng nhiều tầng nghĩa như vậy không? Hỏi thiên tài âm nhạc thế giới là có ngôn ngữ ca từ nào như Trịnh Công sơn không?
Tài năng của Trịnh Công Sơn có thể nằm trong 2 câu mà cụ Du đã tả tài nghệ nàng Kiều:
Thông minh vốn sẵn tư trời
Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.
Trịnh Công Sơn có thông minh không, tất nhiên là có, ông là thi sĩ, họa sĩ, ca sĩ, nhạc sĩ, vì vậy ngôn ngữ ca từ của ông mang đậm thơ và họa, có thể hai cái này làm ngôn ngữ của ông nhòa nhạt vào nhau nên bảng lãng khói sương của bức họa như thơ: họa tức thơ, thơ tức tình, tình tức cảnh,… Cứ nối tiếp xuyên suốt đi từ quá khứ đến hiện tại và tương lai: quá khứ hư ảo, hiện tại mờ nhòa, tương lai bảng lãng, nó làm người nghe quay cuồng không bắt kịp hình ảnh nào là thực và hình ảnh nào là hư….
Về niềm tin sáng tác cụ Du chủ trương Tài Mệnh tương đố:
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh, khéo là ghét nhau.
Trịnh Công Sơn thì tin kiếp luân hồi huyền bí trong giáo lý nhà Phật, như: Một cõi đi về/ Cát bụi/ Ngẫu nhiên,…
Cụ Du và Trịnh Công Sơn đều lấy thiên nhiên làm thước đo cái đẹp, Cụ tả chị em nàng Kiều:
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da (Thúy Vân)
Làn thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh (Thúy Kiều)
Trịnh Công Sơn tả mỹ nhân của mình:
Nắng có hồng bằng đôi môi em
Mưa có buồn bằng đôi mắt em
Tóc em từng sợi nhỏ
Rớt xuống đời làm sóng lênh đênh
Gió sẽ mừng vì tóc em bay
Cho mây hờn ngủ quên trên vai (Như cánh vạc bay)
Cụ Du tả thực một cách tài tình, như sờ như thấy trước mắt, Trịnh Công Sơn thì thần kỳ hư ảo, hai ông thổi hồn vào mây gió, hoa lá,…đều biết ghen biết hờn.
Tóm lại, hai ông đã đứng trên đỉnh núi cao của Nghệ thuật ngôn từ, bút pháp tả chân của cụ Du đạt đến đỉnh toàn bích; bút pháp của Trịnh Công Sơn phù phiếm biến hóa của thế giới siêu thực. Hai ngọn núi Ngôn từ hùng vĩ của thơ ca sừng sửng đứng giữa bầu trời Đất Việt: đệ nhất thắng cảnh trong kho tàng Văn hóa văn học Việt cho đến tận ngày nay: “Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười”, ví như cụ Du đã tả vẻ đẹp cân phân của chị em Thúy Kiều.
Phần cụ Du tới đây là hết.

Trịnh Công Sơn có hơn 600 ca khúc, mỗi ngôn ngữ ca từ được xem là một bài thơ hay, đem nối các ca khúc đơn lẻ thành một bản “Trường ca về tình yêu thân phận và quê hương đất nước” thì số câu chữ khá kinh ngạc. Giả sử mỗi ca khúc có 32 trường canh, mỗi trường canh là 5 chữ ca từ (xin tính giùm).
Người ta đồn là nhạc của Trịnh Công Sơn chứa nhiều chữ “học”: Triết học/ Phật học/ Thiền học, v.v…Mấy chữ ‘học’ này là ngoài sự hiểu biết, người viết cảm được cái gì thì nói ra cái đó:
Nghe nhạc Trịnh rất cần sự yên tỉnh nhất là lúc đi ngủ, bên cạnh chiếc máy nghe nhạc, nằm nhắm mắt hít thở thật sâu rồi thở ra nhẹ nhàng làm nhiều lần cho tâm bình ổn như khi ngồi Thiền, sau đó lắng nghe Hồng Nhung, Ngọc Lan, Khánh Ly hát nhạc Trịnh… Nên chọn tiếng hát Khánh Ly trước 1975, khi đó chị còn trẻ, tâm trạng của một người trẻ khi yêu hay bị dỡ dang thường có khác hơn lúc lớn tuổi, mọi cảm xúc được thể hiện rõ qua giọng hát nồng nàn tình ái và sâu lắng của chị. Là người trẻ thì chọn những ca khúc đầu tay của Trịnh Công Sơn: Ướt mi/ Biển nhớ/ Diễm xưa,… vì Trịnh Công Sơn lúc này còn trẻ, ông yêu cuồng nhiệt và say đắm hơn. Người già bệnh tật, sắp chết thì chọn: Một cõi đi về/ Cát bụi/ Ngẫu nhiên, nghe thường xuyên thì không còn hoang mang sợ chết khi bệnh tật tuổi già, hoặc nghe những ca khúc có triết lý suy niệm sâu xa thì rất tuyệt. Đây chỉ là gợi ý.
Đúng là nhạc Trịnh cho ta nhiều tầng nghĩa như chữ “học” nói ở trên, nghe nhạc Trịnh đêm khuya, tính Thiền xuất hiện lúc cái tâm đuổi rượt theo ca từ nói lạ, nó làm quên đi mọi thứ buồn vui của cuộc đời, bởi sự chiêm nghiệm về cuộc đời được Trịnh Công Sơn khắc họa vào lời ca tiếng hát, người nghe tập trung cao độ vì sự khó hiểu của ngôn ngữ ca từ nói lạ của ông, người nghe cố suy viễn cách nào đi nữa thì cũng không ngoài những ý đẹp mà Trịnh Công Sơn muốn đưa vào ca khúc của mình. Và chính cái này đã làm cái tâm như được thanh lọc qua «lớp lọc ca từ» (như sỏi, cát, đá của bình lọc nước) nhằm loại bỏ cặn bã: phiền muộn lo âu sẽ biến mất khi tâm được thanh lọc qua lớp ca từ, rồi dần dần đi vào giấc ngủ bình yên.
Giai điệu slow, boston đi thư thả cùng lời ca tiếng hát, tựa hồ như gõ mõ tụng kinh của các vị thiền sư ở chùa ngồi Thiền: tay gõ mõ, mắt nhắm nghiền, miệng râm rang kinh Phật, mọi hành động chìm sâu vào vô thức, lúc ấy, sắc dục không còn xâm thực nội tâm, chỉ có lời kinh Phật như cây bút tẩy, tẩy xóa vết hằn dục vọng nơi trang giấy lòng đã bị thời gian hoen ố lâu ngày bởi cuộc sống kim tiền bề bộn. Ví như mặt hồ nước: tâm động làm sóng động, sóng động che tâm, dẫn đến tâm hành động thiếu sáng suốt; tâm tịnh sóng yên, lúc đó tâm nhìn tận đáy của tâm một cách sáng suốt nhất để biết đâu là đúng là sai. Nghe nhạc Trịnh thường xuyên làm tâm bớt vọng động, sáng suốt trong cách nghĩ cách làm: đó là Thiền tâm khi nghe nhạc Trịnh, cũng không nhất thiết phải nghe ban đêm, nghe bất kỳ lúc nào và ở đâu.
Có lẽ Trịnh Công Sơn đúc rút từ chân lý cuộc sống thực và sách vở mà ông đã chiêm nghiệm nó, ông lấy đó làm nền tản cho triết lý sống của mình bằng ba trụ cột: Chân Thiện Mỹ, đây là hình dạng của chữ Đức trong mọi ý nghĩ của những con người có trí tuệ; ông nhìn sự vật hiện tượng nào thì ở đó lóe lên cái đẹp, cái chân thiện, vì vậy mọi sự vật hiện tượng đối với ông đều có hồn có xác như một sinh linh thật sự, dẫn ông đến mọi ý nghĩ và hành động: yêu thương cỏ cây, sỏi đá, yêu thương con người và quê hương đất nước của ông, nổi bật ở dòng Phản Chiến ông luôn ngầm kêu gọi mọi người cần hướng đến ba đức tính cao đẹp đó. Nghe nhạc Trịnh cho ta triết lý sống đẹp, sống chân thành, sống vị tha, sống cho đến lúc hai tay buông xuôi, chỉ để cho gió cuốn tấm lòng đẹp đó bay đi, một triết lý diệu mỹ của Phật pháp về tình yêu thương bất vụ lợi mà Trịnh Công Sơn đã cảm tác vào nhạc. (…). Triết lý sinh tử trong các ca khúc: Một cõi đi về/ Cát bụi/ Ngẫu nhiên, nó làm người nghe tỉnh tâm không lo sợ chết và an nhiên trong cuộc sống bề bộn, vì chết không phải là hết, chết là sự bắt đầu cho kiếp sống mới.
Thuở thiếu thời Trịnh Công Sơn có dịp xây cho mình một tượng đài vững chắc đó là tính Phật trong ông, theo như ông mô tả dưới đây:
Tôi là Phật tử trong một gia đình có tôn giáo chính là Phật giáo. Từ những ngày còn trẻ, tôi đã học kinh và thuộc kinh Phật. Thuở bé tôi hay đi đến chùa vì thích yên tĩnh. Có những năm tháng bệnh, đêm nào mẹ tôi cũng nhờ một thầy đến nhà tụng kinh cầu an và tôi thường đi vào giấc ngủ êm đềm giữa những cầu kinh đó. Có thể vì một tuổi trẻ đã có cơ duyên đi qua những cổng nhà Phật nên trong vô thức, bên cạnh những di sản văn hóa Đông Tây nhặt được, còn có kinh kệ vô tình nằm ở đấy. (2)
Trong ông thấm nhuần triết lý nhà Phật về lòng từ bi hỉ xả chúng sinh, vì vậy, trong các ca khúc ông luôn thể hiện một tình yêu cao đẹp với mỹ nhân của mình “yêu em yêu thêm tình phụ”, v.v… Ở dòng nhạc Phản Chiến, tính Phật của ông bừng bừng sự phẫn nộ khi chiến tranh làm cho đồng bào và đất nước ông điêu linh. Nghe nhạc Trịnh ta thấy: yêu thương không thù hận/ bao la không hẹp hòi/ vị tha không cố chấp,… đây là Phật tính nổi bật nhất trong âm nhạc Trịnh Công Sơn.
Ảnh hưởng nhạc Trịnh trong đời sống xã hội đương thời: Thế giới ngày nay không quá cách xa, âm nhạc trở thành những người bạn kết nối và giao lưu không biên giới ngày tràn ngập thị trường âm nhạc trong nước bằng nhiều thể loại nhạc trẻ trung, mang nhiều phong cách mới lạ và phong phú đa dạng, góp phần đẩy nhanh nền Tân nhạc Việt theo hướng hiện đại, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu nghe nhạc của đông đảo người nghe, nhất là giới trẻ. Tuy nhiên, một bộ phận của giới trẻ ngày tỏ ra mệt mỏi với lối sống nhanh sống gắp, họ muốn tìm về cội nguồn: “Nhân chi sơ tính bổn thiện” để ngẫm lại chính mình. Và tìm cách thanh lọc nội tâm đã có ít nhiều tham vọng trong cuộc sống kim tiền, qua con đường “Nghe hát nhạc Trịnh”. Nhạc Trịnh dẫu có mơ hồ khó hiểu, trừu tượng hay siêu thực ra sao thì ở đó họ vẫn bắt gặp được cái đẹp, mong tìm cho mình sự thanh thản trong tâm hồn vốn nặng nề của cuộc sống thực dụng. Nghe nhạc Trịnh như nghe ông thầy sống giảng luân lý, hoặc cùng một lúc nghe nhiều môn học:Triết học/ Phật học/ Thiền học/ Ngữ học/ Văn học, vv…phụ thuộc độ nhạy và sự hiểu biết của mỗi người, vì lẽ đó, nhạc Trịnh mới tồn tại và được mọi giới mọi ngành hát và nghe như một “Thánh kinh” về cuộc đời tạm bợ. Có thể khẳng định: bao giờ “Chân Thiện Mỹ” không còn trong đời sống xã hội thì nhạc Trịnh sẽ biến mất vĩnh viễn.
Xin bịa câu chuyện vui để kết:
Cụ Du và cụ Sơn, hai cụ thắp trầm hương bàn chuyện thơ nhạc, cụ Sơn gọi cụ Du bằng cụ Cố thầy vì tài làm thơ xuất chúng của cụ Du, cụ Du đỉnh đạc trong bộ áo dài khăn đống thời Trung Đại, Cụ nói với học trò Trịnh Công Sơn khả quý của mình:
- Ta rất mừng vì có đồ đệ xuống đây để cùng ta đối ẩm và đàm đạo chuyện thơ văn… - cụ Du vuốt râu trầm ngâm - Gần 200 năm nay ta rất cô đơn buồn tẻ vì không thấy ngôi sao nào lấp lánh trên bầu trời Văn học nghệ thuật Đất Việt như ta từng mong muốn bấy lâu, nay có đồ đệ là Ngôi sao Tân nhạc sáng chói trên bầu trời Nghệ thuật văn chương Đất Việt làm ta rất mừng vui! – cụ Du cười mãn nguyện – Ta biết hậu sinh khả quý mà! – Cụ nhắm trà thơm trông thích thú.
Trịnh Công Sơn trong bộ veston lịch lãm, vẫn cặp kính trắng ngày nào cùng nụ cười hiền lành, ông vuốt mái tóc dài nghệ sĩ nói:
- Dạ thưa cụ Cố, con nói ra điều này xin Cụ thứ lỗi… - Trịnh Công Sơn ởm ờ, cụ Du giục:
- Trò nói mau cho ta biết chuyện là sao?
- Dạ, tại cái thuyết Tài Mệnh tương đố của Cụ đã làm con không sống tới tuổi “thất thập cổ lai hi”, để con có thêm thời gian cống hiến cho những người yêu thích nhạc cùng bạn bè quốc tế ạ!
- Vậy mi tạ thế năm bao nhiêu tuổi? – cụ Du vuốt chòm râu bạc như tiên, hỏi:
- Thưa Cụ, 62 tuổi ạ! – Trịnh Công Sơn buồn buồn.
Cụ Du ngẫm nghĩ rồi cười:
- Trò còn thọ hơn ta 8 tuổi!
-… !!!
Câu chuyện vui trên đây cho thấy sự mất mát trong nền Văn học nghệ thuật Việt là không nhỏ.
Chú thích:
(1) Bách khoa toàn thư mở
(2) Trịnh Công Sơn, Tập san Giác Ngộ, năm 2004.
Người viết không có ý so sánh Thi hào Nguyễn Du với Trịnh Công Sơn, chỉ gợi lên những gì đã đọc qua Kiều và nghe nhạc Trịnh, cảm nghĩ ra sao thì viết ra vậy. Nếu Trịnh Công Sơn lọt vào tốp thiên tài âm nhạc thế giới như Mozart, Beethoven thì Đất Việt có vui  không, tất nhiên là có. “Tài năng xuất chúng sẽ mang vinh quang cho tổ quốc”, đúng như Google đã vinh danh cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. 
3. Chiến tranh đã kết thúc hơn bốn mươi năm, các thế hệ con người tiếp tục sinh ra sống và làm việc trong một đất nước hòa bình thịnh vượng, tự do và hạnh phúc, có cả những con người từ hai phía còn sống sót qua cuộc chiến tranh khốc liệt và dai dẳng của người Mỹ trên đất nước Việt Nam một thời khói lửa. Vết thương chiến tranh ngày một lành, tư tưởng những con người một thời khắc khe đã có cách nhìn mới về thời đại mà người nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn sinh sống và làm việc.
Thời ấy, chiến tranh ác liệt đã thôi thúc người nghệ sĩ có tấm lòng nhân ái đã phải bày tỏ tình cảm của mình qua dòng nhạc Phản chiến đã làm khuấy động hàng triệu con tim người Việt trong nước và lan rộng ra nước ngoài, ảnh hưởng tới những con người yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới xuống đường đòi chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Lúc ấy, sinh mạng của người nghệ sĩ thực sự đi giữa hai lằn tên mũi đạn, nhưng người nhạc sĩ có trái tim “nhân ái” thực sự can đảm không chùng bước, không nghiêng ngả mà dùng âm nhạc để nói lên số phận dân tộc, số phận đồng bào ruột thịt phải sống trong cảnh chiến tranh dầu soi lửa bỏng.
Có lẽ Trịnh Công Sơn là người nhạc sĩ rất đặc biệt trong các nhạc sĩ cùng thời, ông đem lòng nhiệt huyết có trách nhiệm của một công dân bằng cách dấn thân vào con đường âm nhạc Phản Chiến mà không sợ nguy nan, nó như thứ vũ khí đắc lực duy nhất thay cho tiếng nói của những con người thống khổ và vô tội. Lời nhạc Phản chiến của ông bừng bừng phẫn nộ, lúc tha thiết cảm thương dân tộc cảm thương đồng bào mình, lúc hô hào quyết liệt đòi hòa bình cho dân tộc nhỏ bé, lúc thở than bất lực trước sức mạnh vũ khí chiến tranh hiện đại cày xéo quê hương đêm ngày trong lửa đạn, uất hận nhìn đồng bào mình chết trong cảnh nhà tan cửa nát, ruộng vườn bỏ hoang, v.v…
Ca Khúc “Gia Tài Của Mẹ” là ca khúc tóm lược lịch sử và là quan điểm rõ nét của Trịnh Công Sơn về cuộc chiến tranh cùng với ca khúc: “Nối Vòng Tay Lớn” thể hiện niềm vui dân tộc - đó là hai ca khúc chủ đạo nói lên sự khởi đầu và kết thúc chiến tranh vào ngày 30/4/1975.
“Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngày (…)
Mẹ mong con chớ quên màu da
Chớ quên màu da nước Việt xưa….” (Gia Tài Của Mẹ)
“Rừng núi dang tay nối lại biển xa
Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà
Mặt đất bao la, anh em ta về
Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng
Bàn tay nắm nối tròn một vòng Việt Nam (…)
Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay
Ta đi từ đồng hoang vượt hết núi đèo
Vượt thác cheo leo tay ta vượt đèo
Từ quê nghèo lên phố lớn năm tay nối liền
Biển xanh sông gấm nối liền một vòng tự sinh. (Nối Vòng Tay Lớn)
Âm nhạc Phản Chiến của Trịnh Công Sơn mô tả chiến tranh tàn phá khốc liệt không khác những thước phim thời sự chiến trường có góc nhìn hiện thực và rõ nét nhất, nó làm người nghe phải chứng kiến cảnh chiến tranh tàn khốc trước mắt là có biết bao số phận người già và em bé kêu gào trong lửa đạn, lê lếch thịt da nát tan, nhà cửa cháy rực, ruộng vườn hoang phế, v.v… Người nghe cảm cùng cảnh ngộ đến rơi lệ, thương cho dân tộc, cho đất nước nhỏ bé của mình, v.v…
“Đại bác đêm đêm dội về thành phố
Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe
Hàng vạn tấn bom trút xuống đầu làng
Hàng vạn tấn bom trút xuống ruộng đồng
Cửa nhà Việt Nam cháy đỏ cuối thôn…..” (Đại Bác Ru Đêm)
“Bên xác người già yếu
Có xác còn thơ ngây
Xác nào là em tôi dưới hố hầm này
Trong những vùng lửa cháy
Bên những vồng khô khoai…” (Hát Trên Những Xác Người)
“… Đường anh em sao đi hoài không tới
Đường văn minh xương cao cùng với núi
Đường lương tâm mênh mông hoài bóng tối….” (Hãy Nhìn Lại)
“Mẹ ngồi ru con đong đưa võng buồn năm qua tuổi mòn
Mẹ nhìn quê hương nghe con mình buồn giọt lệ ăn ăn
Giọt lệ ăn năn đưa con về trần tủi nhục cung thân…” (Ca Dao Mẹ)
“Người già co ro chiều thiu thiu ngủ
Người già co ro buồn nghe tiếng nổ
Em bé lõa lồ khóc tuổi thơ đi…” (Người Già Em Bé)
“Xác người nằm trôi sông phơi trên ruộng đồng
Trên nóc nhà thành phố trên những đường quanh co
Xác người nằm bơ vơ dưới mái hiên chùa
Trên giáo đường thành phố trên nền nhà hoang vu…” (Dành Cho Những Xác Người)
“Mẹ vỗ tay reo mừng chiến tranh
Chị vỗ tay hoan hô hòa bình
Người vỗ tay cho thêm thù hận
Người vỗ tay xa dần ăn năn…” (Hát Trên Những Xác Người)
“… Giọt nước mắt thương con con ngủ mẹ mừng
Giọt nước mắt thương sông ấp ủ rêu rong
Giọt nước mắt thương đất đất cằn cỗi bao năm
Giọt nước mắt thương dân, dân mình phận long đong…” (Nước Mắt Cho Quê Hương). v.v…
Trên dưới 60 ca khúc Phản Chiến, chỉ vài lời mô tả ít ỏi cũng đã cho thấy cảnh chiến tranh tàn phá đến thê lương ra sao. Chiến tranh đến nỗi người ta điên cuồng vỗ tay hoan hô trong trạng thái hoảng loạn của người mẹ người chị…
Lời nhạc Phản Chiến đậm tính nhân bản, dễ dàng nhìn được cái Tâm Phật của Trịnh Công Sơn về lòng từ bi bác ái và lòng yêu thương chúng sinh của Phật pháp, một tôn giáo ảnh hưởng đến tư tưởng và tình cảm của Trịnh Công Sơn trong sáng tác nghệ thuật ở cả hai dòng nhạc Tình Ca và Phản Chiến. Ngôn ngữ ở dòng nhạc Phản Chiến có thể coi là một chứng tích hùng hồn về lịch sử chiến tranh một thời đã đem đến sự thống khổ cho dân tộc và là bức tranh hiện thực của cuộc chiến được lưu giữ dưới dạng ký ức và ngôn ngữ âm nhạc trong kho tàng Văn chương nghệ thuật Việt.
Người ta cho rằng Trịnh Công Sơn là người viết Tình Ca hay nhất, nghĩ lại, ông viết dòng nhạc Phản Chiến hay hơn Tình Ca, vì đó là nỗi đau thực và lớn lao của một dân tộc nhỏ bé đã có hàng triệu cái chết vô tội của các lớp người già trẻ….
Ở dòng Tình Ca, bài hát nào cũng thắp thoáng bóng giai nhân như khói lam sương mai, thơ mộng và trừu tượng. Trái lại ở dòng Phản Chiến thì hình tượng về đất nước điêu linh, hình tượng về người mẹ thống khổ, hình tượng về em bé trần truồng đầy vết bỏng cháy, tất cả được đẩy lên hiện thực đến nao lòng qua ngôn ngữ tả thực đến trần trụi bởi sự uất hận tột cùng của tác giả. Ở dòng Tình Ca ông mở rộng vòng tay tha thứ, buồn bã mềm yếu, trái lại, ở dòng nhạc Phản Chiến ông mạnh mẽ kiên cường quyết đấu tranh đòi hòa bình cho quê hương đất nước của mình, ông ôm khổ đau dân tộc vào con người nhỏ bé của ông, ông xem đó là trách nhiệm của mỗi người con Việt qua những bài hát tự tình quê hương, tự tình dân tộc, bất lực trước cảnh bom đạn trút đổ lên đầu đồng bào và đất nước của ông.
Hãy nghe đoạn tự sự dưới đây để thấy tính “Phật” của ông đã hình thành từ lúc thiếu thời và là nguồn gốc âm nhạc của ông sau này.
Tôi là Phật tử trong một gia đình có tôn giáo chính là Phật giáo. Từ những ngày còn trẻ, tôi đã học kinh và thuộc kinh Phật. Thuở bé tôi hay đi đến chùa vì thích yên tĩnh. Có những năm tháng bệnh, đêm nào mẹ tôi cũng nhờ một thầy đến nhà tụng kinh cầu an và tôi thường đi vào giấc ngủ êm đềm giữa những cầu kinh đó. Có thể vì một tuổi trẻ đã có cơ duyên đi qua những cổng nhà Phật nên trong vô thức, bên cạnh những di sản văn hóa Đông Tây nhặt được, còn có kinh kệ vô tình nằm ở đấy. (1)
Trịnh Công Sơn, một nửa con người Nhà Phật, một nửa văn hóa Đông Tây, hai nền văn hóa đại diện cho văn minh nhân loại đã hình thành nên cái Tâm chính kiến của người nghệ sĩ khi đã giác ngộ minh triết.
Nhạc Trịnh Công Sơn càng lúc có nhiều thế hệ nối tiếp “nghe – hát” và lan rộng ra thế giới bên ngoài: vì trong âm nhạc của ông luôn chứa đựng hai chữ “Tình thương” giữa người với người, nhất là ở dòng nhạc Phản Chiến, chính vì vậy năm 2019, Google đã vinh danh ông vì sự cống hiến đó và ông  là người Việt Nam đầu tiên được tôn vinh.
Trịnh Công Sơn không phải là người cầu an cho danh vọng riêng tư, như vậy âm nhạc của ông sẽ lem máu đồng bào của mình. Không! Ông cùng đồng bào đứng lên đòi hòa bình như ông từng ôm đàn hát trước hàng ngàn sinh viên ở hai trường đại học Sài Gòn và Huế vào thời trước 1975, những ca khúc Phản Chiến của ông được giới sinh viên trí thức nồng nhiệt đón nhận, họ chuyền tay chép rồi hát những lúc sinh hoạt cấm trại và hội họp qua những ca khúc Phản Chiến có trong các tập: Khúc Da Vàng/ Kinh Việt Nam/ Ta Phải Thấy Mặt Trời/ Phụ khúc Da Vàng. Nên truyền thông nước ngoài ví Trịnh Công Sơn và Khánh Ly như đôi danh ca Bob Dylan và joan Baez ở Mỹ với những ca khúc Phản Chiến tranh nỗi tiếng thế giới (2).
Nhạc sĩ Văn Cao đã viết về Trịnh Công Sơn như sau: “Sơn đã hát về quê hương đất nước bằng cả tấm lòng của một đứa con biết vui tận cùng niềm vui, biết đau tận cùng của nỗi đau của tổ quốc mẹ hiền” (3)
Thế giới không ngừng chiến tranh thì âm nhạc Phản Chiến của Trịnh Công Sơn vẫn còn giá trị ở đâu đó trên quả địa cầu.
Nguồn:
- (1) Trịnh Công Sơn, Tập San Giác Ngộ, tháng 4 năm 2001
- (2) Bùi Văn Phú talawas. Org. 01.04.2008.
- (3) Nhiều tác giả - Trịnh Công Sơn - Rơi lệ ru người. NXB Hội Nhà Văn Hà Nội, 2012.
- Bách khoa toàn thư mở.
- Trịnh Công Sơn có được “Đĩa vàng” và (Giải thưởng âm nhạc) tại Nhật, ông có tên trong bộ tự điển bách khoa Encyclopédie de tous les pays du monde của Pháp. Rất nhiều binh lính của Thiệu bỏ ngũ khi nghe bản nhạc “Người con gái Việt Nam da vàng”. Lệnh cấm nhạc Phản chiến của Trịnh Công Sơn, do Tổng thống Thiệu ký mang số: 33 ngày 8.2.1969(Wikipedia tiếng Việt).
- Năm 2019, Google vinh danh Trịnh Công Sơn do sự cống hiến của ông.
4. “Khánh Ly và Trịnh Công Sơn là đôi nghệ sĩ tài hoa làm nên tên tuổi của nhau qua dòng nhạc Trịnh một thời làm khuấy động hàng triệu con tim người nghe qua các giai đoạn lịch sử như dầu sôi lửa bỏng của dân tộc”.

Trịnh Công Sơn và Khánh Ly, mỗi người sở hữu một tài năng: Trịnh Công Sơn, người nhạc sĩ với dòng nhạc trữ tình lãng mạn; Khánh Ly thì có chất giọng của nhạc Trịnh - cho đến nay khó có người thể hiện trọn vẹn như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn mong muốn. Với chất giọng đục và mộc, Khánh Ly hát với tâm thế trải lòng cùng ca khúc, chị đã gặt hái được thành công và ghi dấu ấn sâu đậm vào lòng công chúng nghe nhạc trước năm 1975 qua dòng Tình ca và Phản chiến của Trịnh Công Sơn, chị như chiếm lĩnh ngôi thứ mà lớp trẻ bây giờ khó có ca sĩ nào sánh bằng, do chị có lợi thế hơn hẳn các ca sĩ khác về chất giọng thích hợp và được Trịnh Công Sơn dìu dắt cho cách hát và phó thác hát mọi ca khúc mà ông sáng tác. (…)
Ngày nay có rất nhiều ca sĩ trẻ đã hát dòng nhạc Trịnh thành công và thất bại đều có, sự thành công thì chỉ một vài bản hợp giọng nào đó, nhưng để hát chuyên về dòng nhạc Trịnh thì chưa thấy ca sĩ nào nối gót theo Khánh Ly. Người ta tranh cãi liệu chị Khánh Ly đến tuổi về trời thì lẽ nào không có người thể hiện được nhạc Trịnh hay sao?
Có nhiều ý kiến cho rằng ca sĩ trẻ ngày nay thể hiện nhạc Trịnh có hồn hơn các ca sĩ đàn chị đàn anh qua cách nhìn mới về thời đại mà họ đang sống. Đúng là vậy - ca sĩ trẻ ngày nay thể hiện với tâm thế của người trẻ sống trong thời đại internet, giao lưu về văn hóa âm nhạc trên hành tinh chỉ cần cái nhấp chuột là có đủ: phong cách mới mẻ và cá tính thời đại cũng lây lan nhanh chóng qua dòng nhạc thị trường… Một phong cách mới hấp dẫn thì dễ dàng gây được sự chú ý về tên tuổi kể cả ngoại hình và thời trang, đây là nền tản của sự làm nên tên tuổi của các ca sĩ sau này, không những hát bằng chất giọng mới mà còn biểu hiện phong cách và cá tính âm nhạc độc đáo để khác với mọi người và phù hợp thời đại mới. Một điều thấy rõ là các ca sĩ trẻ ngày nay muốn thể hiện khác người, mong tạo sự chú ý nên thường lạm dụng kỹ thuật hòa âm và thanh nhạc hoặc tự mình làm mới lấy mình. Nhìn chung thì chú ý phong cách độc lạ của mình hơn là thể hiện đúng tinh thần nội dung bản nhạc mà người nhạc sĩ đã trăn trở làm nên nó với một tâm thế của cái tôi tình cảm riêng tư, nên có nhiều ca sĩ trẻ đã thất bại khi thể hiện dòng nhạc Trịnh mà đàn anh chị mình đã thành công ít nhiều để có tên tuổi với thiên hạ.
Dòng nhạc Trịnh dễ hát, nhưng hát để thành công thì rất khó. Có lẽ lớp ca sĩ thuộc thế hệ con cháu sau này, không được may mắn như chị Khánh Ly là được Trịnh Công Sơn cầm tay chỉ việc, nên muốn thể hiện trọn vẹn một ca khúc của Trịnh là khó, vì chính như chị Khánh Ly có lần thố lộ trên sóng ti vi là chị hát có bản chị chưa hiểu hết ý của tác giả nhưng vì gần gũi Trịnh Công Sơn, chị hiểu tâm tư tình cảm của ông nên chị thể hiện ca khúc nào cũng rất thành công. Nhạc Trịnh có bài dễ hiểu và cũng có bài có những câu đoạn khó hiểu đan xen nhau, ý tứ ca từ đôi khi không liền mạch đã làm cho ca sĩ cảm thụ một tác phẩm chưa thật trọn vẹn, khó đặt hết tình cảm của mình vào giai điệu lời ca, vì vậy khi thể hiện ca khúc không chạm đến tình cảm của người nghe nhạc Trịnh thuộc hàng khó tính, vì họ đã từng mê giọng ca nồng nàn tình ái của chị Khánh Ly một thời khuấy động hàng triệu con tim. (…)
Dòng nhạc Trịnh không phải là dòng nhạc thị trường mì ăn liền thuộc đơn đặt hàng của các ca sĩ ngày nay, trái lại, nó được sinh ra từ một con người xứ Huế thâm trầm và sâu sắc về đời sống tình cảm, về thế giới quan và nhân sinh quan của một tác giả có trí tuệ; ông có những triết lý thâm sâu về đạo và đời, sinh và tử, về lòng yêu thương con người và yêu thương đất nước của mình một thời khói lửa. (…)
Có người cho rằng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sáng tác đơn điệu về thể loại, ca từ thì chỉ quanh quẩn mây mưa sương khói mơ hồ…Và họ đã nói đúng với góc nhìn cá nhân cuả mình. Tuy nhiên, nếu như Trịnh Công Sơn sáng tác đủ thứ chủ đề, đủ thứ thể loại nhịp điệu từ: slow, boston đến bolero, twist… nhằm phô trương tài năng đa dạng của người nghệ sĩ, chắc chắn không có Trịnh Công Sơn như ngày nay, và người yêu nhạc của ông không phải gắn cho ông đủ thứ nhãn hiệu và thế giới cũng không biết đến ông như google đã vinh danh vì sự cống hiến đặc biệt của ông về âm nhạc mà người ta cho rằng là đơn điệu. Thực ra không ai có quyền bắt người nghệ sĩ phải thế này thế nọ theo ý riêng của mình. Người nghệ sĩ khi sáng tác là đặc ân của nhiều điều huyền bí mà tạo hóa đã cố ý ban phát cho họ khác người. Và cuộc đời này có đẹp hay không là một phần do những người nghệ sĩ làm nên.(…)
Hiếm khi một ca sĩ thể hiện được tất cả những dòng nhạc từ trữ tình đến sôi động, vì vậy có ít ca sĩ thành công ở dòng nhạc Trịnh chỉ để có tên tuổi với thiên hạ, sau đó thì hát chuyên về dòng nhạc sở trường của mình, và cũng có ca sĩ hát nhạc Trịnh để thử sức ở thể loại khó hát, v.v…
Có một lần xem chương trình “Solo cùng Bolero”, ca sĩ Nguyễn Chánh Tín làm giám khảo khách mời đêm hát dòng nhạc Trịnh, ông nói: “Có lần ông hát nhạc Trịnh Công Sơn, vừa bước xuống khán đài, Trịnh Công Sơn vẫy tay gọi lại nói: “Nhạc của anh đâu có hát luyến láy mà sao em hát có luyến?”
Có người cho rằng hát nhạc Trịnh rất dễ, chỉ cần đặt hết trái tim vào bài hát và hiểu ý đồ của tác giả đã viết ra nó trong một tâm thế và bối cảnh ra sao là sẽ thành công; nhưng không riêng vì nhạc Trịnh, bất kỳ thể loại nhạc nào thì người ca sĩ dễ dàng thành công và chạm đến trái tim người nghe là biết đặt hết tình cảm của mình vào bài hát và thấu hiểu ca từ và tình cảm của tác giả. Người ta cũng cho rằng hát nhạc Trịnh thì chỉ cần giọng ca mộc và chân, không cần phải quá điêu luyện, ca theo thể loại tự sự, nói kể về tình cảm của mình cho mọi người nghe là như thế nào, không cần phải biểu diễn cơ thể hay khoe giọng lên cao xuống thấp quá đà… Một người có học thanh nhạc thì thường giọng khỏe khoắn, cột hơi vững,…nên có thể hát bất kỳ một thể loại nhạc nào, tuy nhiên từng thể loại nhạc đều có cách hát khá khác nhau, vì vậy không thể áp dụng tùy tiện. Nhiều ca sĩ khi hát nhạc Trịnh đã lạm dụng quá nhiều kỹ thuật thanh nhạc nên khó chạm đến tình cảm của người nghe. Hát gào, hát nức nở, hát bi hát buồn,… đôi khi chỉ là sự cố ý của ca sĩ muốn thể hiện trạng thái tâm lý của mình qua cung điệu ca từ, chứ không hẳn là sự rung động thật sự của con tim người hát nó - vì hát là truyền cảm xúc từ người hát đến người nghe một cách chân thành nhất.
Ngày nay cùng một dòng nhạc lại có hai trường phái hát khác nhau: hiện đại và cổ điển, phái nào cũng có cái hay riêng, cũng ghi được dấu ấn vào lòng người nghe, thường thì giới trẻ thích hát hiện đại là có gì đó tươi mới và gần gũi với tâm thế thời đại trẻ; giới lớn tuổi thì thích hát cổ điển nghe sâu lắng dạt dào hơn. Tuy nhiên việc làm mới ca khúc nhạc Trịnh chỉ hạn chế ở ít bài nhạc có thể thay đổi được chút ít tiết tấu để khoe giọng khoe hơi, khoe cái mới mẻ của thời đại, nhưng đa phần nhạc Trịnh không thể làm mới hoàn toàn, nếu có mới thì mới ở giọng ca trẻ khỏe khoắn hoặc làm mới ở phối khí hòa âm cho nghe bắt tai với những âm hưởng thời đại; không riêng vì nhạc Trịnh Công Sơn, nhạc Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Phạm Duy,… khó mà hát mới hoàn toàn cho được, vì thể loại âm nhạc của các lão tiền bối trứ danh này đã được định hình từ trước 1975, nó đã ghi dấu ấn vào lịch sử âm nhạc về cách hát cách thể hiện như một dòng nhạc cổ điển đặc trưng, cũng như dòng nhạc trẻ ngày nay cũng đã ghi dấu ấn vào tai nghe giới trẻ, đó là sự tươi mới sôi động….
Giai điệu nhạc Trịnh đẹp và thư thả: lời và nhạc như hình với bóng, vì hình nào thì bóng đó, không thể thay hình mà giữ bóng, thay bóng giữ hình..., vì “hình và bóng” là con người của Trịnh Công Sơn, ông là người sâu sắc sống cổ điển thì không thể bắt ông giả vui giả náo động như tuổi trẻ ngày nay. Nhạc của ông mang nhiều triết lý: về cái tôi, về sinh tử, về cuộc đời,… thì không thể hát một cách tùy tiện sẽ làm mất đi bản sắc âm nhạc độc đáo của ông; vì vậy có những ca sĩ trẻ hát nhạc Trịnh chỉ mong để làm mới làm lạ, thấy xuất hiện trên sân khấu lần đó rồi biến mất và cái tên ca sĩ cũng khó mà nhớ. Người ta cho rằng nhạc Trịnh rất kén người hát, nên chị Khánh Ly mới độc nhất vô nhị!
Ai là người kế thừa chị Khánh Ly?
Kế thừa chị Khánh Ly để hát thành công nhạc Trịnh thì có rất nhiều ca sĩ trẻ lớp sau này như Hồng Nhung,… Điều khó với ca sĩ trẻ đó là tâm thế đương đại mà hát tâm thế cổ điển, tâm tư tình cảm của người trẻ sống trong thời đại của bác gu-gồ thì rất khác với thời bác Trịnh Công Sơn còn đánh máy chữ, xài điện thoại dây,… cái nữa là ca từ của Trịnh Công Sơn có bài bảng lảng sương mai của bài thơ “khổ đọc”, hoặc một bức họa trừu tượng khó hiểu, nên khó bắt được ý chính của tác giả để tìm cách thể hiện cho đúng cung bậc tình cảm - vì khi ca sĩ hát là phải biết tình cảm của bài hát nói cái gì thì ca sĩ mới thể hiện được trọn vẹn, nếu không thì như ca thuộc lòng hay ca trả bài. Một số ca sĩ trẻ đã định hình lối hát đương đại quen thuộc, khi chuyển sang hát dòng nhạc Trịnh để thử sức thì hát có chút gào thét nhằm thể hiện sự đau thương tiếc nuối; luyến láy phiu bay thể hiện cảm xúc dâng trào; hát to hát nhỏ quá mức, v.v…, cốt là “hát cách tân, hát phá cách” để thể hiện một tình cảm mới của thời đại, nhưng không đúng tâm tư tình cảm của tác giả, vì ca từ của Trịnh Công Sơn thường là một bài thơ hay và cấu trúc ca từ đôi khi rất lạ về ngữ nghĩa, thơ thì phải hát nhẹ nhàng truyền cảm của thể thơ, không thể hát sôi nổi như ngôn ngữ giao tiếp thông thường một cách tự do. Nếu như nhạc Trịnh hát gào hát thét, hát luyến láy phiu bay từ bản nhạc đầu tay là “Ướt my” thì Trịnh Công Sơn sẽ không có tiếng tăm như bây giờ.
Đặc biệt là nhạc Trịnh Công Sơn được chuyển từ nhạc có lời sang nhạc không lời do các danh kèn saxo như Quyền Văn Minh, Trần Mạnh Tuấn, hay các danh cầm guitar chơi theo phong cách nhạc Trịnh thì nghe rất hay, và rất hiếm nhạc sĩ có nhiều giai điệu đẹp để chuyển sang không lời như Trịnh Công Sơn.
Có thời cho rằng Nhạc vàng ở miền Nam hát sướt mướt, hát như không còn sức sống của kẻ yêu đương… Thời đó, các ca sĩ hát có khác hơn bây giờ rất nhiều: họ hát tự nhiên như kể chuyện và giọng điệu nghe rất rõ ràng, không uốn éo lã lơi và nghe rất chân tình, người nghe như cảm được trái tim của mình thật sự rung động qua lời ca tiếng hát của các ca sĩ. Thời đó rất ít ca sĩ, nhưng ca sĩ nào khi cất giọng thì nghe rất truyền cảm và nồng nàn sâu lắng, người nghe có thể yêu mến tất cả các ca sĩ mà họ đã một lần nghe qua và không fan cuồng... Đặc biệt là mỗi ca sĩ đều có giọng hát rất riêng và khi cất lên thì biết đó là: Thanh Tuyền, Duy Khánh, Chế Linh, Nhật Trường, Lệ Thu,… vì họ hát giọng thật của trời cho, không sửa không giả giọng, không sử dụng quá nhiều kỹ thuật thanh nhạc, kỹ thuật lọc tiếng lọc âm như bây giờ. Ngay nay các ca sĩ có giọng hát trung bình sẽ trở thành hát hay khi qua các công đoạn xử lý kỹ thuật: nghe hát na ná giống nhau (máy hát một phần), phong cách biểu diễn cũng na ná, ăn mặc cũng na ná và rất thời thượng như nhau, vì vậy để nhớ giọng thật của một ca sĩ là hơi khó. Một điều thừa nhận là ca sĩ trẻ ngày nay rất tài năng, phong cách rất mới và rất sôi động và không thua gì nước ngoài (…)
Những năm dòng nhạc Bolero rộ lên trong nước, các ca sĩ thường làm mới lối hát để cho khác hơn các anh chị đi trước nhằm tránh mang tiếng bắt chước, vì có nhiều cuộc thi ca nhạc các giám khảo thường hay bắt lỗi thí sinh: là giọng của em sao giống Mạnh Quỳnh, Phi Nhung,… như vậy là không được, dễ bị đánh rớt lắm. Giám khảo yêu cầu thí sinh phải hát khác và mới hơn. Cái này hơi bị khó ! Trừ trường hợp thí sinh cố bắt chước giọng điệu ca sĩ nào đó, nhưng nếu đó là giọng ca bẩm sinh của thí sinh thì sao? (người giống người, giọng giống giọng là bình thường). Hay ở cuộc thi hát nhạc trẻ cũng vậy, qua một vòng thi hát thì giám khảo cố moi ra cho được cái lỗi hát không mới và hát giống ca sĩ này nọ, nên nhạc ngày nay đôi khi nghe rối bù cào là không phải lỗi ở các thí sinh mà còn ở giám khảo thích làm mới và khuyến khích các thí sinh, họ làm cho thí sinh sợ rớt nên tìm đủ mọi chiêu trò mới mẻ để thể hiện cho có phong cách riêng thì mới lấy lòng được giám khảo (…).
Những năm gần đây, các ca sĩ lão luyện của dòng nhạc trữ tình Bolero từ hải ngoại trở về sinh hoạt văn nghệ như: Danh ca Phương Dung, Họa My, Giao Linh… đã định hình lại dòng nhạc Bolero theo phong cách cổ điển khi tuổi trẻ hát và nghe dòng nhạc bình dân này ngày một nhiều.
Nếu cái đà đổi mới áp dụng vào nhạc Trịnh Công Sơn thì ông Trịnh có thể kiện ra tòa: vì ca sĩ Nguyễn Chánh Tín chỉ mới phiu một chút “luyến” mà ông đã gọi lại nhắc nhở là nhạc của ông không nên hát luyến láy tùy tiện. Trịnh Công Sơn viết nhạc là để nói lên cái tôi của ông, nên nhạc của ông thường không có luyến láy ở cuối mỗi câu nhạc, vì luyến láy có thể là sự điệu đà không tự nhiên, không hợp với tâm tư tình cảm sâu kín của ông, vì ông viết cho ông, không viết theo đơn đặt hàng.
Mỗi thể loại âm nhạc đều có cách phối khí phối âm khác nhau, chị Khánh Ly hát nhạc Trịnh thường thì đệm bằng hai cây guitar thùng, tiếng đàn mộc trung thực và gần gũi với giọng ca mộc và đục của chị Khánh Ly, người nghe cảm sâu ở tiếng hát rất nhiều vì không bị chi phối quá nhiều tiếng nhạc réo rắc của loại nhạc cụ điện tử. Ngày nay người ca sĩ hát thường nhờ vào công nghệ âm thanh giúp tiếng ca của ca sĩ trở nên tốt và hay hơn, dù kỹ xảo âm thanh có là đỉnh cao thì không thể tạo ra cung bậc tình cảm của người ca sĩ một cách chân thật nhất, vì người nghe rất thính tai và nhạy cảm, họ biết chắt lọc cái nào thật cái nào giả, nếu có hay thì chỉ hay về phần hòa âm kỹ thuật, chưa hẳn hay ở giọng ca tự nhiên và truyền cảm.
Cuối cùng theo thiển ý: Người hát nhạc Trịnh không nên lạm dụng kỹ thuật thanh nhạc quá mức, không phiu bay luyến láy như ở các dòng nhạc khác, hát tự sự và đặt hết tình cảm vào bài hát. Nếu làm mới cho có tính trẻ trung thời đại thì cũng tùy bài và ít thôi, thì sẽ dễ dàng chạm đến tâm tư tình cảm của người nghe, và chắc chắn sẽ không thua chị Khánh Ly, sẽ thay thế ngôi vị của chị là điều tất nhiên trong nay mai. Và ông Trịnh Công Sơn cũng không phải nhắc nhở như ông đã nhắc nhở danh ca Nguyễn Chánh Tín - nam ca sĩ đã một thời làm rung động trái tim người nghe qua dòng nhạc trữ tình của Sài Gòn.
5. Hồi nhỏ tôi đã thích nghe nhạc Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Phạm Duy, Từ công Phụng,… nhưng thích nhất vẫn là nhạc Trịnh Công Sơn. Ngồi quán cà phê yên tĩnh nghe chị Khánh Ly hát trong băng thì thích lắm. Hỏi có hiểu nhạc Trịnh không: có bài hiểu bài không, nghịch lý là bài nào hiểu thì không thích bằng bài không hiểu. Lời nhạc Trịnh được cho là bài thơ hay, nhưng có bài cũng thuộc loại “khổ nghe” trong rất nhiều sáng tác của Trịnh Công Sơn. Nó làm cho nhiều người phải đau đầu vì câu từ “độc lạ” chưa từng hiện diện trong văn học cổ kim. Một nghệ thuật dùng chữ mà người đời thán phục, gán cho ông nhiều tên gọi và xưa nay hiếm đối với một nhạc sĩ. Có lẽ ông không cố tình tạo câu từ độc lạ, nhằm gây khó hiểu cho người yêu nhạc của ông, đó chỉ là cảm xúc nhất thời về hiện tượng hay sự vật nào đó mà ông nghĩ đến hoặc nhìn thấy trong lúc sáng tác âm nhạc của mình.
Nói đến phổ hay phỏng thơ ra nhạc. Thường người nhạc sĩ bắt được cái nhịp hồn của một bài thơ, rồi hà hơi thổi vào bài thơ một làn điệu mới mẻ. Có thể ví thơ là “cánh diều”, nhạc là “cánh gió”… gió nâng cánh diều bay cao tận trời xanh. Lúc này “thơ và nhạc” dễ dàng dẫn dắt người nghe đi đến cảm xúc cao nhất. Nếu tách “giai điệu nhạc” ra khỏi “lời bài thơ”, thì giống như diều bị đứt dây hay gió ngừng thổi. Điều này cho tôi thắc mắc, là tại sao nhạc sĩ đi tìm “nhạc hứng” qua các bài thơ, trong khi thi sĩ không đi tìm “thi hứng” ở những bài nhạc, khi thơ và nhạc được hiểu: trong thơ có nhạc trong nhạc có thơ. Hay đã có người làm công việc này rồi mà tôi chưa biết !? Dù là có. Tôi cũng muốn nói lên quan điểm của mình về việc phỏng nhạc ra thơ.
Âm nhạc thường dễ gây cảm hứng cho người nghệ sĩ, trừ những người không thích nghe nhạc. Âm nhạc còn là nguồn cảm hứng cho tất cả các ngành nghệ thuật nghiêng về hình dung và tưởng tượng. Tôi có biết họa sĩ Phạm Nam ở Cà Mau, anh được báo giới cho là người chép tranh số một Việt Nam. Bước vào phòng tranh của anh, có từ tranh vẽ đến tranh chép. Ấn tượng là bức vẽ nàng Mona Lisa của danh họa Leonardo da Vinci. Cạnh nơi anh ngồi vẽ là cây đàn guitar thùng, đàn piano và  máy nghe nhạc…vang lên thứ âm nhạc du dương dễ chịu. Tôi hỏi: “Anh có bị tiếng nhạc làm phiền khi đang vẽ không ?” Anh cười hiền rồi vuốt mái tóc dài nghệ sĩ (tôi trông anh có nét giống nhạc sĩ Trịnh Công Sơn). Anh nói: “Lúc tôi cầm cọ hay không thì âm nhạc luôn vang lên trong phòng gần như 24/24, vì thời gian làm việc đêm của tôi dài hơn ngày. Tôi nghe nhiều thể loại, từ giao hưởng thính phòng đến nhạc trữ tình. Tôi chọn nhạc nhẹ nhàng, sâu lắng để nghe. Tôi chú ý từng tiếng nhạc cụ, véo von như violon, thánh thót như piano… vì tiếng đàn violon được mệnh danh là Hoàng hậu, piano thì là ông Vua của các loại nhạc cụ. Và tôi cũng chú ý cách phối âm và bối cảnh của một bản nhạc. Mọi thứ tôi vừa nói, điều giúp cho tôi rất nhiều trong việc vẽ và sáng tác nghệ thuật. Tôi không những nghe nhạc mà còn đàn, sáng tác thơ văn và đọc rất nhiều sách. Kể cả những tác phẩm nổi tiếng nước ngoài”. Anh dụi tàn vào gạt thuốc, nói tiếp: “Tôi không dám nhận mình là người chép tranh số một như các báo đã nói. Tôi có nghề nghiệp như hôm nay là cả một quá trình học hỏi, nghe nhạc, đàn và đọc sách… mọi thứ dễ dàng dẫn tôi đến sự hình dung và tưởng tượng. Từ đó cho ra những nét vẽ mà chính bản thân tôi cũng không ngờ là mình đã vẽ được như thế”. Anh trầm ngâm một lúc: “Cái Tâm cái Tài của người nghệ sĩ, phần lớn có được từ những gì tôi vừa nói”. 
Một điều dễ thấy: nhạc - thơ - họa ví như chiếc ghế ba chân, không thể thiếu trong tâm hồn của người họa sĩ tài hoa Phạm Nam. Có lẽ họa sĩ Phạm Nam là người truyền ý tưởng và cảm hứng cho tôi về việc “phỏng nhạc ra thơ”. Nhưng khổ thay, tôi không phải là nhà thơ, chỉ là người thích làm thơ cho vui nhà vui cửa.
Tới đây xin nói vui cũng là nói thiệt: kể từ ngày “bình điện thơ” trong tui nó cạn sạch, đi sạt mấy lần nhưng nó vẫn không chịu nạp điện, bất đắc dĩ tui phải mượn “bình điện nhạc” thử coi có đề cái “máy thơ” chạy được không. Thế là tui lấy nhạc của ông Trịnh Công Sơn, làm con chuột bạch thí nghiệm, cho ý tưởng không mấy hay ho của mình. Tui chọn phương án thứ nhất: tự đàn tự hát một bài nhạc yêu thích nào đó để gây cảm hứng. Sau đó thì phỏng ý nhạc ra thơ theo cảm xúc của mình. Tui lấy giấy viết để sẵn cho tiện việc ghi chép… Rồi so dây nấn phím cất giọng vịt cồ ồ ồ, tui hát mấy bài liền mà không phê phiếc gì. Thế là tui đổi qua phương án hai: lấy cuồn băng “Sơn ca 7” cho vào máy thâu băng đời cổ lỗ sĩ, bắt chị Khánh Ly hát. Tui thầm xin chị…chị hát sao cho em có cảm hứng để phỏng nhạc ra thơ, chứ không thì ý tưởng khùng điên của em sẽ không thành hiện thực. Đúng là chị hát như nhéo vào tim. Chị hát tới đâu thì tui cảm tác tới đó trong trạng thái hưng phấn vô cùng!... Đến khi chị ngừng hát, thì niềm thi hứng trong tui cũng lập tức ngừng như đạp thắng xe. May là ông Trịnh Công Sơn đã qua đời, nếu không, ông có thể kiện tui ra tòa vì làm “nhục” nhạc của ông, hoặc ông mắng cho một trận nên thân: “Sao mi dám phỏng nhạc của ta ra thơ, nhạc của ta là thơ, thơ của ta là nhạc, mọi thứ đều có sẵn trong đó, mi quả là thằng điên”. Biết rằng mình sai, nhưng tui cũng vặn vẹo lại ông: “Tại sao mấy ông nhạc sĩ hay mượn thơ của mấy ông thi sĩ để phổ nhạc, còn tui chỉ mượn ý nhạc của mấy ông để phỏng thơ, hỏi tại sao không!?” Có lẽ Trịnh Công Sơn thở phào trút giận mà nghĩ: “Ừ, nó nói có lý, nghệ thuật là tự do mà, đâu ai cấm ai. Thôi mặc kệ thằng điên đó, nó làm sao thì làm, miễn đừng ăn cắp hoặc sửa lời nhạc của ta là được rồi.” Nhưng ông vẫn ấm ức: “Ta đố mi phỏng được nhạc của ta ra thơ, nghe hay hơn thì ta mới phục. Không thì ta sẽ kiện mi ở tòa án Diêm Vương, chờ ngày mi rụm nụ thì xét xử.” Nếu ông Trịnh nói câu này, mồ tổ tui còn hổng dám đụng tới nhạc của ổng. Nhưng ông Trịnh không nói thì tui cứ làm thử coi sao ! Làm được thì tới luôn bác tài, không thì… bác tài ơi cho em xuống xe rồi chuồn là thượng sách!
… Vài ngày sau thì việc thử nghiệm cũng đã kết thúc. Kết quả phỏng nhạc ra thơ là “hoàn toàn thất bại thảm thương!”. Tui xấu hổ hổng dám trình làng những bài thơ đã phỏng. Đúng như lời ông Trịnh thách thức: “Nghe hay hơn thì ta mới phục”. Nhưng tui không mất niềm tin: dở là tại tui dở nên thơ mới dở, gặp phải cao thủ thì họ sẽ phỏng hay hơn là điều tất nhiên.
Biết rằng nhạc phỏng thơ của tui nó dở thiệt. Nhưng được cái nó cho tui có thêm trải nghiệm và rút ra một điều: đừng bao giờ đi theo lối mòn, đừng bao giờ ngại cái mới mẻ và đừng bao giờ ngại dư luận. Sau cùng là nó giúp cho tui có thêm niềm vui trí óc và bớt đi sự lú lẫn của tuổi già. Được như vậy là quý lắm rồi!.
10/9/2019
Phan Thanh Tâm
Theo http://vanchuong.com.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được...