Thứ Tư, 12 tháng 4, 2023

Thẩm định tự sướng - Trao đổi với Trần Đình Sử

Thẩm định tự sướng
Trao đổi với Trần Đình Sử

Thấy chị em vung gậy tự sướng cũng vui con mắt. Nghĩ đến sứ mệnh Chủ tịch Hội đồng thẩm định của GS. Trần Đình Sử lại lo ngại. Cụ Ngô Đức Kế kết thúc thiên đại luận “… Chính học cùng tà thuyết…” bằng điển tích sau:

“Trịnh Khải ở đời Đường, vì tiếng hay thơ mà làm quan đến Tể tướng, anh ta lấy làm ái ngại mà tự nói rằng: Trịnh Khải mà làm Tể tướng thì cuộc đời chẳng nói cũng biết rồi”. Ôi! Than ôi! Kim Vân Kiều mà cai trị nước Việt Nam, thì xã hội nước Việt Nam không nói cũng biết rồi!…”.

(Tranh luận về Truyện Kiều. Nguyễn Ngọc Thiện và Cao Kim Lan sưu tầm biên soạn. NXB Văn học. H.2014. Trg.76-83).
Chúng tôi cũng có cơ sở để nói rằng GS. Trần Đình Sử mà làm Chủ tịch Hội đồng thẩm định SGK Đổi Mới tổng thể Trung học phổ thông môn Ngữ văn thì SGK chẳng nói cũng biết rồi!…
Vì các lẽ sau:
1) Không thể khách quan:
Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết là Tổng chủ biên chương trình này. Nhưng cả hai Giáo sư đã và đang đồng chủ biên Ngữ văn 9, in đến lần thứ 13, năm 2018. Như thế là chân ngoài thì Giáo sư Chủ tịch Hội đồng… thẩm định Giáo sư Tổng chủ biên. Còn chân trong là cùng đồng đội… thì thẩm định nỗi gì. Cứ theo luật Hồi tị (hay Bất Hồi tị) của người xưa thì hậu sinh này bất khả lắm! Cũng chỉ là hợp pháp hóa cái sự như ở Hà Giang, Sơn La vừa rồi thôi.
Chúng tôi chưa tìm hiểu hết, nhưng sự hợp tác của GS. Nguyễn Minh Thuyết và GS. Trần Đình Sử có lẽ còn nhiều hơn nữa. Vì trong thời gian giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa – Giáo dục… GS. Nguyễn Minh Thuyết còn biên soạn rất nhiều và GS. Trần Đình Sử cũng là như thế.
2) Khi GS. Trần Đình Sử đã chia tay với Lý luận văn học Nhà nước, lại vẫn nhận thẩm định SGK Ngữ văn của Nhà nước… thì chỉ là sự “giả vờ li hôn”. Thế là tham lắm. Con Rô cũng tiếc. Con Diếc cũng ham. Người xưa nói: Thất thập tòng tâm sở dục bất du củ (Bảy mươi tuổi thì tùy thích nhưng không được quá ngưỡng). Đến Minh Mệnh còn phải dùng Minh Mệnh Thang nữa là Giáo sư. Bởi vì SGK Văn học của Nhà nước làm sao lại không tuân thủ lý luận văn học của Nhà nước đó được. Quan điểm giáo dục của Nhà nước thể hiện ở nội dung môn Ngữ văn. Nhà nước chi tiền cho Giáo dục, đâu phải các Thầy Đồ hiện đại tự soạn sách dạy học trò.
Ở lĩnh vực văn hóa, tinh thần, tư tưởng… khi đã bất đồng quan điểm thì không nên đồng hành sự. Đã dị mộng thì không nên đồng sàng. Nếu tự nguyện được cưỡng hiếp thì chỉ sinh ra quái thai như đề thi Văn “Đánh thức tiềm lực”. Người quân tử, bậc thầy, kẻ sĩ nên học theo gương Chu An. Lại cứ nửa chui nửa chống thì chẳng ra làm sao cả. Vì còn có học trò trông lên, phụ huynh trông vào. Và nếu cứ hành xử kiểu “sọc dưa” là tự dối mình. Bởi vì, trên lĩnh vực này, khi đã có quan điểm trái ngược nhau, sẽ không có hành sự thống nhất được. Khi đã quyết “làm cho lý luận văn học Nhà nước mất thiêng”, khi quan niệm lý luận văn học không nằm ở trung tâm mà chỉ có, chỉ phát triển ở đường biên, ở ngoại biên… thì đi vào cụ thể lựa chọn, bình giảng từng bài văn, bài thơ… nó sẽ như thế nào? Tiêu chí nào để lựa chọn, để bình giảng. Giáo sư Trần Đình Sử hết sức bênh vực cho Luận văn Vị trí của kẻ bên lề… Trực tiếp hướng dẫn Luận văn Lý thuyết trò chơi… là tư tưởng dùng văn học làm trò chơi để phá hủy cái hiện tại, cái tiền lập… Chơi là để phá hủy, như Trần Dần, ở mấy dòng này: “tức là con nữ kĩ sư truồng nằm jữa xé sử kí jao cấu trên tôi và thằng Truồng – ở các mông đít-ism lỗ ngực jây truyền nách mặt lẹm cổ họng” (Jờ Joạc).
Xin quí vị lưu ý cụm từ xé sử kí jao cấu… ở các mông đít-ism…
Trong tiếng Việt không có phụ tố ism, nó chỉ có ở các ngôn ngữ khác như tiếng Pháp, khi tạo thành từ chủ nghĩa. Đây có lẽ là tinh hoa của Bác-tin mà Trần Dần và Trần Đình Sử tiếp thu được…
Có người nói GS. Trần Đình Sử là đồng tác giả đề thi Văn “Đánh thức tiềm lực”, cùng với một vị nữa có tên là Long gì đấy. Xin Bộ Giáo dục – Đào tạo công khai danh tính tác giả đề thi Văn năm nay. Như chúng tôi đã nói, đây là một động thái chính trị nhằm tạo chỗ đứng cho các thành viên Văn đoàn Độc lập hoặc các cá nhân chống đối như Đặng Hoàng Giang năm trước.
Như thế, GS. Trần Đình Sử quyết tâm tận dụng mọi cơ hội để lái nền giáo dục (ở phần Văn học) đi theo con đường đối lập, đi ra ngoại biên… Thế thì xu hướng “thẩm định” SGK Ngữ văn Tổng thể như thế nào, không nói cũng biết rồi!…
Vậy thì mục đích của môn Ngữ văn, của đổi mới Tổng thể SGK lần này là gì, mong Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ cho đông đảo bạn đọc được biết.
3) Năng lực biên soạn SGK của GS. Trần Đình Sử rất hạn chế. Qua Ngữ văn 9 mà ông là đồng chủ biên; qua biên soạn, chú thích Truyện Kiều mà ông là Trưởng ban văn bản Truyện Kiều của Hội Kiều học thì thấy rất rõ. Chúng tôi đã nêu lên vấn đề này từ mấy năm trước. Song rất đáng tiếc là GS. Trần Đình Sử và các tác giả đồng biên soạn đã rất học phiệt, lờ bỏ mọi góp ý có cơ sở của chúng tôi, đã được đăng báo và in lại ở Luận chiến văn chương Q. III, năm 2015, bài Ngữ văn 9 chưa chín; ở Luận chiến văn chương Q. IV, năm 2017, bài Chú giải Truyện Kiều của Hội Kiều học và bài Mặt trái của SGK trên Văn Nghệ TP.HCM, số 507, tháng 7-2018.
Kiến thức sách vở, bằng cấp học vị có thể rất nhiều nhưng tri thức thực tiễn, vốn sống thực tiễn nghèo nàn thì cũng không hiểu được thơ văn, càng khó mà bình chọn, thẩm định. Nếu chỉ hiểu cuộc đời trên trang sách thì “Đôi con Diều Sáo lộn nhào tầng không” thành ra con Diều (hâu) với con Sáo lộn nhào chọi nhau. Càng rõ hơn là biển Đồ Sơn, Sầm Sơn, Nha Trang, Vũng Tàu… cứ tắm mà câu “Mặt trời xuống biển như hòn lửa” cứ… tụng. Khen cá song ngon mà vẫn chú thích nó sống ở vùng bờ biển. Cá song chỉ sống ở vùng nước lợ tức là vùng cửa sông ngược lên một chút. Bờ biển như ở Cà Ná (Phan Rang) thì mặn chát. Chuối chín vẫn ăn mà không chú thích chuối hương, chuối mường hương vị ra sao, có ở vùng nào…
Vì GS. Trần Đình Sử quyết giải trung tâm, quyết ngoại biên hóa lý luận văn học – nền tảng của đời sống văn học. Ông cũng quyết như vậy trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, biên soạn SGK, hướng dẫn khoa học cho các Luận án Tiến sĩ, tham gia các Hội đồng Khoa học, thỉnh giảng trường này lớp kia nên chúng tôi đành phải nói ra điều không muốn nói, rằng GS. Trần Đình Sử là người không trung thực nhất quán, không có lương tri khoa học. Biết là lý luận văn học Xô Viết xơ cứng nhưng ông vẫn học, vẫn đọc và lặng lẽ tìm đọc các “tinh hoa” lý luận Xô Viết như Bác-tin, Lu-gat-chép, Lốt-man để về nước có cái dựng lên lý thuyết thi pháp học. Sao không nói to lên với bạn đồng môn, với Tùy viên Văn hóa Đại sứ quán, lại cứ lủi đi một mình, khôn thế.
Từ 1985 trở về trước, ông hết lời ca ngợi văn học cách mạng, văn học xã hội chủ nghĩa. Ca ngợi thành tựu đưa chính trị vào văn học… Cho đến 1987, ông vẫn ca ngợi Tố Hữu bằng cả công trình dài hơi nặng ký Thi pháp thơ Tố Hữu, xem thơ Tố Hữu đã trở thành thơ ca dân tộc… Nay ông lại đắc ý rằng đã góp phần làm cho lý luận văn học Nhà nước mất thiêng… Ông ca ngợi, khuyến khích những thứ rác rưởi, nghĩa địa, chơi để phá hủy… Ông ám chỉ phê bình văn học “Nhà nước” là phê bình kiểm dịch… Biên soạn SGK sai trầm trọng, bạn đọc góp ý nhưng ông vẫn im lặng chìm xuồng. Ông góp phần làm tốn kém thêm một lần in Truyện Kiều mà chú giải vẫn sách vở, non kém; làm cho cuộc Đại lễ kỷ niệm 250 năm Nguyễn Du thành ra chuyện dở cười dở khóc… Không được giải ở Hội Nhà văn Việt Nam, ông vẫn nhận giải của Hội Nhà văn Hà Nội do một thành viên của Văn đoàn Độc lập trao tặng (cho Trên đường biên của lý luận văn học). Không biết cái giải văn chương nó dài bao lăm mà ham hố thế…
Người xưa khuyên Kiến lợi tư nghĩa… Lại bảo đa thọ cũng chưa hẳn là đa sướng… Khôn chi khôn trẻ khỏe chi khỏe già… Nên truyền lại cho con em cái kinh nghiệm, chứ việc gì cũng nai lưng ra gánh vác, thồ tải… thì khi mình trăm tuổi, con em nó biết dựa vào đâu… Giáo sư đã sắp bát tuần, đến cái tuổi cao quý. Danh hiệu cao quý có rồi. Giải thưởng cao quý có rồi. Còn cái sĩ khí thì cố mà giữ cho nó được cao quý, cho cuộc đời được đồng bộ… Đồng bộ cao quý, có phải đồng phục văn chương (mỹ học đồng phục, văn học đồng phục…) đâu mà sợ.
Cuộc tranh luận văn học năm 1924 rồi qua đi, Phạm Quỳnh vẫn leo lên ghế Thượng thư đầu triều. Dư luận văn học, dẫu là một thiên đại luận, vẫn có giới hạn trước quyền lực chính trị. Rồi các thế hệ thay nhau thành người thiên cổ. Thiên đại luận của cụ Ngô vẫn tràn đầy sức sống. Ấy là sức sống của chân lý, của lương tri, của điều chí thiện. Tạm thời Giáo sư nắm được quyền lực ở trung tâm của Giáo dục – Đào tạo. Nhưng tâm thành của Giáo sư lại ở chốn Ngoại biên. Cái sự “Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm chàng Khanh…” ấy, chúng tôi lấy làm ái ngại. Càng nhớ bến sông Thương Lang, nhớ Hứa Do – Sào Phủ… càng ái ngại cho Giáo sư bên bến sông Nhĩ Hà nhiều lắm.
Chúng tôi xin cung cấp tư liệu để bạn đọc có thể thẩm định lại Chủ tịch Hội đồng thẩm định SGK… GS.TS Trần Đình Sử.
Công trình Thi pháp thơ Tố Hữu của Giáo sư – Nhà thi pháp học Việt Nam Trần Đình Sử do NXB Tác phẩm mới thuộc Hội Nhà văn Việt Nam ấn hành năm 1987 được trích in vào Tố Hữu – Thơ và đời (Nhiều tác giả) do NXB Văn học ấn hành năm 2010, phần trích của GS. Trần Đình Sử là dài nhất: (Tố Hữu) đỉnh cao thơ trữ tình chính trị Việt Nam. Kiểu nhà thơ, thể tài từ trang 384 đến 455. Dẫn liệu dưới đây là từ Tố Hữu – Thơ và đời và công trình mới nhất của Giáo sư: Trên đường biên của lý luận Văn học. NXB Văn học. H.2014.
Phần I: Trích Tố Hữu – Thơ và đời
1) Đồng thời gắn liền với sự phát triển của phong trào cách mạng vô sản, có sự phát triển sâu rộng của văn học vô sản, và cuối cùng, sau Cách mạng tháng Mười Nga đã xuất hiện nền văn học xã hội chủ nghĩa có tầm vóc thế giới. (Sđd. Trang 384)
2) Có thể thấy rằng thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu, dù là nghiêng về thể tài thế sự, đời tư hay nghiêng về thể tài sử thi, đều là một sự tổng hợp độc đáo các truyền thống văn học dân tộc. Còn có thể phân tích thêm sự hấp thu tài tình vốn văn học nước ngoài nữa, một nhân tố cực kỳ quan trọng của quá trình đổi mới truyền thống. Tất cả làm cho thơ Tố Hữu vừa quen thuộc, vừa mới mẻ, vừa tươi mát mến thương, vừa nghiêm trang cổ kính. (Sđd. Trang 454)
3) Gần nửa thế kỷ vừa làm cách mạng vừa làm thơ, Tố Hữu đã xây dựng một hệ thống thơ mới so với thơ cổ điển và thơ mới lãng mạn xét về mặt tiếng thơ, cá nhân trữ tình và thể tài. Đó là thơ trữ tình chính trị, một hiện tượng nổi bật của thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại. Tố Hữu chẳng những đã kết hợp nhuần nhuyễn tuyên truyền và trữ tình, khẳng định vị trí và vai trò của thơ trữ tình chính trị trong đời sống văn hóa tinh thần hiện đại của người Việt Nam, mà còn mở ra các khả năng khác nhau cho thơ trữ tình chính trị phát triển. Bên cạnh lối thơ sử thi được khẳng định phổ biến, cũng cần đánh giá đúng mức thơ trữ tình chính trị đời tư của Tố Hữu. Với bài Đêm cuối năm (1981), có thể hứa hẹn các sáng tác trữ tình chính trị – thế sự. Hiện nay thơ thế sự ở ta chỉ đóng khung trong phạm vi thơ đả kích, trào phúng; thực ra phạm vi của nó còn có thể rộng hơn, trữ tình hơn.
Tố Hữu đã góp phần chủ đạo trong việc đổi mới thơ trữ tình tiếng Việt từ góc độ thơ chính trị mà nét nổi bật mới nhất của nó là tính dân tộc hiện đại. Đổi mới truyền thống, kết hợp nhuần nhuyễn với tư tưởng giải phóng dân tộc và lý tưởng xã hội chủ nghĩa là một hướng phát triển của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Về mặt này, thơ Tố Hữu rõ ràng là một đóng góp xuất sắc cho thơ ca xã hội chủ nghĩa trên thế giới. (Sđd. Trang 455)
4) Quá trình đổi mới Văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám vấp phải một mâu thuẫn rất lớn. Những người mang tư tưởng tiên tiến nhất, cách mạng nhất, am hiểu nhu cầu tinh thần của thời đại nhất bị tước bỏ mất điều kiện sáng tạo bình thường. Những người có điều kiện sáng tạo đổi mới hình thức văn học lại là những người không mang tư tưởng tiên tiến, trong thế giới quan có nhiều điều mơ hồ, thậm chí phản động. Đó là trường hợp của các nhà “thơ mới” lãng mạn, của văn chương Tự Lực văn đoàn, của các nhà văn hiện thực phê phán.
Sự đổi mới văn học dân tộc do đó đòi hỏi một cá tính văn học có khả năng kết hợp hai mặt đó lại, tạo nên những tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu nhất cho trình độ tư tưởng và nghệ thuật của thời đại. Trên lĩnh vực thơ ca, người ấy chính là Tố Hữu. Tố Hữu là người đầu tiên kết hợp hài hòa tư tưởng cách mạng cao đẹp nhất, sáng rõ nhất của thời đại với hình thức ngôn ngữ thơ tiếng Việt hiện đại và không ngừng đổi mới, làm phong phú cho nó. (Sđd. Trang 388)
5) Tố Hữu đã diễn đạt yêu cầu mới về thơ một cách giản dị, đậm đà sắc thái dân tộc: “Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí”. Như vậy thì nhà thơ không thể là con người siêu cá thể đứng trước vũ trụ như trong thơ cổ, cũng như không thể là cái tôi tự biểu hiện, khép kín của Thơ mới.
Cái mới của Tố Hữu đóng góp thơ ca tiếng Việt hiện đại là tạo ra một kiểu nhà thơ mới, một cái tôi hấp dẫn, mạnh mẽ, thuộc về quần chúng lao khổ và cách mạng. (Sđd. Trang 410)
6) Thơ Tố Hữu hầu như không có sự phân biệt giữa thơ tuyên truyền vận động cách mạng và thơ biểu hiện cảm xúc cá nhân, không có sự phân biệt giữa thơ tuyên truyền vận động người khác và thể hiện tình cảm, cảm xúc của chính mình. Ông thuyết phục người đọc bằng cảm xúc mãnh liệt chân thành của riêng ông, và cảm xúc ấy là cảm xúc trước chân lý, bước đi, trước đường lối chủ trương, trước con người và hiện thực cách mạng.
Tố Hữu trong một lúc nhất định cũng có làm đôi bài thơ tuyên truyền, nhưng không đáng kể. Về căn bản, Tố Hữu đang san bằng sự phân biệt hai loại thơ trên, và cùng với ông càng về sau trong sáng tác của các nhà thơ cách mạng nói chung không còn có sự phân biệt ấy nữa. (Sđd. Trang 394)
7) Thơ Tố Hữu là thơ thể hiện các tư tưởng, tình cảm chính trị của thời đại, là thơ phát hiện ý nghĩa chính trị của các hiện tượng đời sống. Vinh dự của nhà thơ Tố Hữu là đã đưa thơ ca cách mạng lên đỉnh cao của thơ ca dân tộc, góp phần đổi mới cho nó. Ông chứng tỏ con đường phục vụ cách mạng là con đường sáng tạo chân chính. (Sđd. Trang 395)
8) Cái hay tiêu biểu của thơ Tố Hữu chủ yếu không nằm ở phía tái hiện đời thường, mà ở phía khái quát chính trị sâu sắc, thấm thía đậm đà.
Chẳng hạn như bài Người con gái Việt Nam hầu như chẳng có chi tiết sinh hoạt đời thường nào, mà rất “Tố Hữu”, và rất hay. Ngay tập thơ Việt Bắc giàu hiện tượng đời thường hơn cả thì nội dung của nó vẫn là ý thức chính trị của con người kháng chiến, khác hẳn chi tiết đời thường kiểu Nazim Hikmét. (Sđd. Trang 398)
9) Như vậy, thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu dựa trên tiền đề thống nhất hoàn toàn, lắm khi đồng nhất chủ thể trữ tình cá nhân và chủ thể của hoạt động chính trị là giai cấp Đảng, Nhân dân, Tổ quốc. Sự thống nhất cao độ ấy tự nó đã thủ tiêu lý do phân biệt tuyên truyền và trữ tình, làm gần lại phút bùng cháy của tâm hồn trữ tình với thời điểm bùng nổ của sự kiện chính trị. Tố Hữu đã kết hợp một tình yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội thuần túy nhất với một tình cảm cá nhân đằm thắm trong sáng nhất. Nhờ thế, ông đã đưa thơ trữ tình chính trị Việt Nam đến một trình độ mới. Thơ Tố Hữu đã tạo ra một kiểu tác giả mới, khác hẳn kiểu tác giả cổ điển, tác giả lãng mạn, và do đó góp phần hình thành một kiểu thơ trữ tình mới trong thơ ca dân tộc. (Sđd. Trang 401)
10) Thời đại cách mạng đòi hỏi thơ ca phải là vũ khí tư tưởng sắc bén, là tiếng nói tình cảm trực tiếp hướng tới đông đảo quần chúng. Thơ phải là tiếng hát của tinh thần hiện đại, là bài ca đoàn kết, giục giã đấu tranh. Đó cũng là đòi hỏi chung của thơ ca cách mạng trên thế giới ở thời đại chúng ta. (Sđd. Trang 409)
11) Thơ mới đã tạo ra một quan hệ hết sức gần gũi trong xưng hô của tiếng thơ, nhưng lại bó hẹp trong tình yêu trai gái hoặc quan hệ cá nhân đời tư. Tố Hữu đã làm cho tất cả mọi lời xưng hô thi vị đều chan chứa nội dung công dân, dù đấy là “Bác ơi”, “Em ơi”, “chim ơi” hay “xuân ơi”, và làm cho quan hệ công dân trở nên hết sức gần gũi, đưa tình cảm chính trị vào phạm vi tâm tình. (Sđd. Trang 420)
12) Tố Hữu là nhà thơ đầu tiên đưa vấn đề quan hệ số phận cá nhân và cách mạng xã hội lên thành chủ đề trung tâm của thơ. Cách mạng xã hội là con đường duy nhất để đổi thay cuộc đời con người và mỗi cá nhân phải đứng lên tham gia vào cách mạng, hy sinh cho cách mạng… Tố Hữu nhìn cách mạng từ góc độ nhu cầu giải phóng của từng cá nhân, đối với cá nhân. Ông đã phát huy ngòi bút sắc sảo của một nhà thơ có con mắt miêu tả tự sự để khắc họa tự bên trong nỗi xao động khát khao sống xứng đáng của những kiếp người bế tắc. (Sđd. Trang 433 – 434)
13) Mọi mưu đồ của giới lý luận tư sản, xét lại, hòng đào một hố sâu ngăn cách giữa thơ và chính trị đều là vô ích, giả tạo…
Về nguyên tắc, đặc trưng của thơ có thể bị biến đổi, phát triển, nhưng không hề bị biến chất do thể hiện tư tưởng chính trị, cũng như đặc trưng của chính trị không hề biến chất do thể hiện trong thơ. (Sđd. Trang 392)
Phần II: Trích trên đường biên của lý luận văn học
1) Là lý luận khoa học thứ phát, lý luận văn học luôn bị phụ thuộc vào tình trạng, địa vị của các lý luận nguyên phát mà nó dựa vào. Đó là lý do tại sao, khi hệ thống chủ nghĩa sụp đổ, các nước xã hội chủ nghĩa thay đổi mô hình xã hội lý luận Marxist phổ thông phải xem xét lại, thì lý luận văn học Marxist cũng trở nên bơ vơ, hầu như không nơi nương tựa. (Sđd. Trang 277)
2) Lý luận cũ với hệ giá trị cũ đã mất hiệu lực nhưng chưa mất đi thực sự, lý luận mới đã được nối kết nhưng chưa được hình thành và thừa nhận hẳn. (Trang 274)
3) Có thể nói cả một hệ thống nguyên lý luận văn học chặt chẽ đã mất thiêng, không còn sức ràng buộc và xuất hiện một không khí lý luận rộng mở để cho đủ thứ lý luận đa dạng tràn vào. (Trang 264)
4) Các tác phẩm của Hồ Chí Minh, Tố Hữu trong phê bình văn học hiện nay được coi là kinh điển của văn học cách mạng. Tất nhiên vị trí kinh điển của văn học không phải nhất thành bất biến. Một khi hệ giá trị có thay đổi thì vị trí kinh điển của tác giả, tác phẩm văn học cũng thay đổi theo. (Trang 298)
5) Nghiên cứu sâu sẽ thấy cấu trúc văn học tuyên truyền chính trị trong thơ Tố Hữu, nơi tác giả chỉ quan tâm cái chung, bỏ qua cái cá thể, hình tượng nhân vật vẽ theo bút pháp tranh tuyên truyền cổ động. (Trang 397)
6) Trong kháng chiến chống Pháp, xu hướng dân tộc hóa theo kiểu học tập ca dao như bài Bầm ơi, Bà Bủ trong khi thắng thế so với xu hướng sáng tạo hình thức mới, nhưng kết quả chỉ tạo ra những sáng tác “nhại ca dao”, một hiện tượng “lại giống”… (Trang 251)
7) Theo nhà lý luận văn học Mỹ Jonathan Culler, ngôn ngữ văn học thực chất cũng là ngôn ngữ hành vi của nhà văn, nhà thơ. Khi nhà thơ nói: “Tôi đã là con của vạn nhà/ Là em của vạn kiếp phôi pha/ Là anh của vạn đầu em nhỏ…” hay “Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt/ như mẹ như cha như vợ như chồng…” thì trước hết đó chỉ là lời thề, là quyết tâm thư, là những cái biểu đạt, những lời nói hành vi. Nói rộng ra, trong xã hội thường xuyên bắt gặp những ngôn ngữ hành vi mà rất khó phán đoán sự thật/ giả, chân/ ngụy trong đó… (Trang 221)
8) Ý thức ngự dụng phát triển từ trong ý thức phục tùng vô điều kiện của thời chiến đã cơ hồ làm biến chất cả một thế hệ trí thức của đất nước, mất khả năng tư duy độc lập và phản biện xã hội. (Trang 334)
9) Tranh luận tự do, xây dựng những nhân cách độc lập trong giới nghiên cứu lý luận, xóa bỏ những nô lệ về lý tưởng. (Trang 284)
Chú dẫn:
1) Cùng với Thi pháp thơ Tố Hữu, năm 1987 Giáo sư cũng công bố bài viết trong công trình biên soạn chung: Một thời đại văn học mới do Nguyễn Đăng Mạnh chủ biên. Ở đây Giáo sư đánh giá rất cao thành tựu chính trị hóa cả con người và văn học trong văn học cách mạng Việt Nam cũng như văn học xã hội chủ nghĩa thế giới. Cả hai công trình này đều công bố sau “Cú hích 1986” (Cởi trói cho văn nghệ) cả năm trời, đủ thời gian để các tác giả xem xét lại các trước tác của mình.
2) Quan niệm nghệ thuật về con người – bộ phận quan trọng nhất trong mô hình thi pháp học của Giáo sư đã được học trò vận dụng từ 1995 trong đề tài KX07: Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi Việt Nam 1945 – 1975 (Thạc sĩ Nguyễn Thị Bình và…).
3) Trên đường biên của lý luận văn học có những bài viết từ các năm 2004, 2005, 2007, 2008, đều được sửa chữa bổ sung lại khi in vào sách năm 2014.
Cho thấy tính phong phú đa dạng và sức mạnh tư duy cả hai chiều lịch đại và đồng đại của Giáo sư. Có hai Tố Hữu trong một Trần Đình Sử và ngược lại, có hai Trần Đình Sử trong một Tố Hữu.
Bao giờ bạn đọc cũng tiếp nhận nhà khoa học ở hai phần: Thái độ học thuật và nội dung học thuật, dù mức độ hoạt động của họ như thế nào. Nhà nghiên cứu – lý luận – phê bình văn học – Giáo sư Trần Đình Sử không nằm ngoài thông lệ đó.
Về thái độ học thuật, hơn một lần, các tác giả đã nêu lên tính chất bất quán của ông có thể tóm tắt thế này: Tuy Giáo sư thông hiểu Hán học, bình luận trích dẫn từ Khổng Tử đến Chu Quang Tiềm… nhưng Giáo sư không có được thái độ trung dung như Khổng Tử đã nói (Bất vị thiên nhi vị trung. Bất vị dịch nhi vị dung – Không thiên vị ấy là Trung, không thay đổi xê dịch, ấy là Dung). Không thay đổi ở đây được hiểu là không thay đổi cái nguyên tắc, dĩ bất biến ứng vạn biến.
Trong bài này chúng tôi không trở lại vấn đề thái độ, phẩm chất học thuật của Trần Giáo sư – vì đã được nói nhiều nói rõ, có sở cứ. Nay đi vào khảo sát nội dung đổi mới lý luận văn học của Giáo sư Trần. Có ba vấn đề cơ bản thâu tóm toàn bộ công trình mới nhất của ông (Trên đường biên của lý luận văn học. NXB Văn học. H.2014).
1.Phản ánh luận và sáng tạo văn học.
2.Cái khả năng – cái khả nhiên và vô thức xã hội.
3. Thi pháp học và nghiên cứu giảng dạy văn học.
Phản ánh luận và sáng tạo văn học
Đây là cơ sở đầu tiên quan trọng nhất để Giáo sư Trần phê phán hệ lý luận văn học Marxist chính thống ở Việt Nam cho rằng đã mất thiêng, mất thế độc tôn… Sự phê phán dựa trên cách hiểu của ông về phản ánh luận của Lênin. Ông cho rằng Lênin quan niệm phản ánh chỉ là sao chụp lại, hoàn toàn không có tính chủ động của chủ thể phản ánh. Theo quan niệm này thì văn học phản ánh hiện thực chỉ là sao chép lại sao cho giống như thực. Và đấy là nguồn gốc của văn học minh họa, tuyên truyền làm công cụ cho quyền lực chính trị. Ông đã tưởng tượng ra phép toán số học để khẳng định Lênin đã đối lập phản ánh với sáng tạo, như sau:
Ý thức = phản ánh + sáng tạo.
Do đó, phản ánh = ý thức – (trừ đi) sáng tạo. Nghĩa là quá trình phản ánh, theo Lênin là không có sáng tạo. Phép trừ muôn năm.
Giáo sư Trần đưa ra phép toán trên là suy luận từ mệnh đề sau: “Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới khách quan mà còn tạo ra thế giới khách quan” (Lênin. Bút ký triết học). Tạo ra có là sáng tạo không? Chủ thể phản ánh ở đây có mất quyền, mất khả năng sáng tạo không? Giáo sư đưa ra một nhận xét rất buồn cười:
Lênin hiểu đúng về ý thức luận nhưng không hiểu được cơ chế của phản ánh, đối lập phản ánh với sáng tạo. Quả thật là một khả năng biện luận siêu việt! Vừa giống Gơben, vừa giống mấy anh bán cờ thế.
Lý luận văn học Marxist chính thống và các dòng phái sau đó, cho đến trước “Cú hích 1986” (Đổi mới ở Việt Nam) có vô vàn ấu trĩ sai lầm, đầy những ngộ nhận… Giáo sư muốn phê phán thế nào chả được, có để cả đời vào đấy cũng không hết việc. Từ cái sân gạch, cái hom giỏ, cái Ao làng, Đất làng đến Rừng xà nu, cái Đất nước đứng lên, cái Đường chúng ta đi… chả thấy chủ thể sáng tạo nó ở đâu cả… Nói sao cho hết lời nào cho đủ. Nhưng khi đã truy tìm nguồn gốc, thì phải cho nó đúng. Thật khó nói quá, chả lẽ Giáo sư mà lại không hiểu được những luận điểm rất sáng rõ của Marx và Lênin? Chả lẽ lại bảo Giáo sư đã cắt xén xuyên tạc? Một bậc thầy danh cao tuổi trọng làm gì có thế. Có lẽ tại cái bất quán, cái bất Trung Dung. Âu cũng là lẽ thường. Nên ta cùng đối thoại cho nó ra môn ra khoai. Cái tinh thần sẵn sàng tổng thanh toán những ngộ nhận trong quá khứ mà Giáo sư lo lắng cho nhiều người… hóa ra khó thật. Nếu thanh toán những ngộ nhận này bằng những ngộ nhận khác thì chẳng khác gì sáng bốn chiều ba rồi lại sáng ba chiều bốn… hoài hủy cả công lênh, của đau con sót sao đành!
Hiện thực cái khả năng – cái khả nhiên và cái vô thức
Đây là một trong những tư tưởng lý luận mới của Giáo sư. Biện luận về hiện thực và khả năng tuy dài dòng mà không cần thiết. Cũng là sẵn giấy vẽ voi. Bởi mối quan hệ hiện thực – khả năng nó đã quá rõ. Chả phải bàn lại làm gì. Cái mới của Giáo sư ở đây là cho rằng hiện thực là một hay một số khả năng nào đó trong những điều kiện nhất định đã trở thành hiện thực. Quan trọng hơn là có vô vàn khả năng đã không trở thành hiện thực và đây mới là đối tượng của văn học. Rằng con người có nhu cầu tìm hiểu cái khả năng lớn gấp trăm ngàn lần tìm hiểu cái hiện thực. Vì hiện thực là đã có đã biết rồi. Đã biết rồi, đã có đó mà cứ phản ánh, khám phá, sáng tạo thì biết rồi, khổ lắm nói mãi! Cái khả năng được nghệ sĩ khám phá phản ánh gọi là cái khả nhiên. Cái khả nhiên do đó có sức mạnh nghệ thuật rất lớn. Vừa dự báo, vừa mở rộng chân trời nhận thức, chống lại cái quy phạm cùn mòn máy móc… Đưa con người vượt qua cái hữu hạn, tiến tới cái vô hạn, chiếm lĩnh tự do.
Về nhận thức luận, theo chúng tôi, tư tưởng của Giáo sư chứa đựng những sai lầm quan trọng.
Trong đời sống thực tiễn, trên mọi lĩnh vực, bao giờ con người cũng cố gắng tìm ra những khả năng và lựa chọn những khả năng tối ưu, có tính khả thi nhất. Khả năng chưa trở thành hiện thực. Khả năng có thể trở thành hiện thực. Khả năng đã trở thành hiện thực. Khả năng phát sinh trong lòng hiện thực hiện tại, hiện tồn… Nghĩa là vô cùng rộng. Lựa chọn khả năng có tính hiện thực, khả thi, ưu việt… là vô cùng quan trọng và toàn bộ lịch sử nhân loại đã diễn ra theo quy luật của sự lựa chọn các khả năng. Từ những mảnh tước ở thời đại đồ đá đến thời đại điện tử, số hóa, tự động hóa là quá trình phát hiện các khả năng (ở đây cũng đồng nghĩa với tính chất) của thế giới hiện thực, thế giới vật chất cũng như thế giới tinh thần. Đánh nhanh thắng nhanh là một khả năng. Đánh chậm chắc thắng là một khả năng. Trang bị vũ khí đến tận răng là một khả năng. Bám lấy thắt lưng đối phương mà đánh là một khả năng. Có khi đưa ra khả năng mà thực chất là khẳng định hiện thực:
Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng
Chàng hỏi thì em đáp rằng
Tre đà đủ lá non chăng hỡi chàng!
Xác định những khả năng quan trọng, có tính bản lề, đòn bẩy, những khả năng làm xoay chuyển tình thế, là vấn đề nan giải của từng cá nhân đến cả cộng đồng, quốc gia, nhân loại. Nếu văn học chỉ khám phá vô vàn các khả năng không có cơ trở thành hiện thực, sáng tạo ra các khả năng, các tình thế rồi thể hiện tư tưởng, tình cảm chủ quan của nhà nghệ sĩ nào đó… thì văn học đúng là “trò chơi vô tăm tích”. Như cái khả năng Nguyễn Trãi tôn tên hàng tướng Thái Phúc làm đại huynh, vái lạy ba vái, hết lòng biết ơn vì “Đại huynh” đã cứu cho bao nhiêu sinh linh của cả hai phía trong cơn binh lửa.
Giáo sư cho rằng “Bản chất của nghệ thuật văn học là phá bỏ mọi quy phạm, là phủ định mọi hình thức và quan niệm cũ để sáng tạo ra cái mới chưa từng có” (Sđd. Trang 27). “Đối với nhu cầu sáng tạo và đời sống tinh thần của con người thì cái khả năng là quan trọng nhất, bất kỳ là khả năng nào” (Sđd. Trang 127).
Đó là luận điểm phản khoa học, vô trách nhiệm, rất liều lĩnh. Chúng tôi thấy không cần phải chứng minh. Vì có quá nhiều sở cứ, không phải khó khăn gì để nhận ra. Chỉ lấy làm ngạc nhiên, là một Giáo sư có danh vọng, học hàm học vị vào bậc cao nhất, lại có thể có tư tưởng ấy. Còn nếu Giáo sư và có bạn đọc nào đòi hỏi phải phân tích chứng minh, xin trân trọng đón nhận để hồi đáp trong một bài khác.
Giáo sư còn đưa ra luận điểm vô thức xã hội – là nguồn khám phá, tìm tòi vô tận của văn học (Sđd. Trang 179). Vô thức xã hội đối lập với ý thức xã hội. Ý thức xã hội là gì? Giáo sư lại diễn giải theo Fromm: “Mỗi xã hội chỉ cho phép một số tư tưởng, tình cảm nào đó có thể đạt đến trình độ ý thức, còn một số khác thì chỉ tồn tại trong trạng thái vô thức” (Sđd. Trang 178).
Đó là… “Khi các ý nghĩa, tình cảm độc lập, thành thực của các cá thể người bị đè nén, ức chế, rơi vào tình trạng mất tiếng nói” (Sđd. Trang 174). “Ý thức đại diện cho con người xã hội”, “Vô thức đại diện (…) cho con người nhân loại, tức con người toàn diện, con người được tự nhiên hóa, mà tự nhiên đó là tự nhiên được người hóa” (Sđd. Trang 175). “… Giải tỏa, giải phóng mọi uất kết trong đời sống xã hội là nhận thức cái vô thức xã hội” (Sđd. Trang 176). Và “Bản chất xã hội của các diễn ngôn văn học là vượt qua cấm kỵ của diễn ngôn xã hội thông dụng, tạo thành ý thức mới” (Sđd. Trg.177).
Vả lại theo nhà lý luận văn học Mỹ J. Culler thì “Chính các yếu tố bất kham trong văn học sẽ làm sụp đổ ý thức hệ” (Sđd. Trg.178). Giáo sư Trần cho rằng cái yếu tố bất kham đó là ý chí vượt qua vô thức tập thể để tạo ra tiếng nói mới. Mà “Nói được những điều đáng nói là khoái cảm vô biên của văn học. Vô thức xã hội có thể nói là nguồn khám phá tìm tòi vô tận của văn học” (Sđd. Trg.179).
Đến đây ta càng hiểu rõ vì sao Giáo sư hết sức bảo vệ tiếng nói bên lề của Nhã Thuyên, tận dụng hướng dẫn “Trò chơi văn học” cho Trần Ngọc Hiếu. Đâu phải mâu thuẫn thế hệ, hệ hình khoa học hay khung tri thức. Chỉ tiếc là Giáo sư rậm lời quá. Cứ nói toạc ra là “Trên đường biên của ý thức hệ”. Vòng vo tam quốc mà hàm oan cho lý luận văn học quá lắm! Giáo sư nói “Lý luận văn học khủng hoảng…” thì trước hết là chính con người Giáo sư nó khủng hoảng mà khủng hoảng tận gốc, tận ý thức hệ. Thế mà cứ bảo văn học không có chức năng tuyên truyền… Đã giấu thì giấu cho khéo. Lại cứ loanh quanh cái đầu…
Thi pháp học và nghiên cứu giảng dạy văn học
Từ nhiều năm qua Giáo sư đã nghiên cứu, giảng dạy, hướng dẫn đào tạo về thi pháp học. Thi pháp học chủ yếu nghiên cứu hình thức của tác phẩm, phương thức cấu tạo của tác phẩm. Bản thân thi pháp học với lịch sử lâu dài (từ Aristot) là một khoa học lý thú. Vấn đề đáng nói là cách vận dụng. Cách vận dụng như của Lã Nguyên thì chẳng thấy giá trị tư tưởng – nghệ thuật của tác phẩm đâu cả. Nhà thi pháp học chấm vào tác phẩm tác giả nào thì nó thành độc sáng. Trong đêm tối mà vẫn nhìn thấy đám lông mu đen mượt như nhung! Thế mới tuyệt chiêu. Nhìn thấy kích thước cuộc chiến trong kích thước một con chó! Lại càng tuyệt chiêu độc sáng. Chuyện dài lắm, để khi khác. Vì Giáo sư nhiều lần trích dẫn Tôđôrôp (Bài Toàn cảnh thi pháp học. Sđd, từ trang 343-381). Tôi cũng theo gương đó trích dẫn Tôđôrôp chút ít:
“Hiểu biết văn học không phải là cái đích mà là một trong những phương tiện vững chắc và vẻ vang dẫn con người đến chỗ hoàn thiện”
(Văn chương lâm nguy. Trần Huyền Sâm dịch. NXB Văn học. H.2013. Trang 25).
“Các thi pháp phân tích ngày càng tinh và cho phép soạn thảo những công trình khảo luận chuẩn xác hơn, nhưng mục đích tối hậu vẫn là để hiểu ý nghĩa của tác phẩm” (Sđd. Trg.27).
“Nghiên cứu văn học là nghiên cứu con người, quan hệ giữa con người với nhau và với xã hội, và quan hệ con người với thế giới khác” (Sđd. Trg.81).
“Phải làm thế nào để giãi bày ý nghĩa của một tác phẩm và bộc lộ tư tưởng của một tác giả? “Phương pháp” nào cũng hay miễn là nó chịu làm phương tiện, chứ không biến mình thành cứu cánh” (Sđd. Trg.82).
“Thực tế văn học muốn tìm hiểu thật đơn giản (nhưng lại vô cùng phức tạp) là kinh nghiệm sống của nhân loại” (Sđd. Trg.69).
Tôđôrôp đã nói lên quan niệm hẹp hòi về văn học trong nhà trường đại học, trong giới chuyên ngành điểm sách… theo một giáo điều đã được truyền giảng: Văn học chỉ nói về chính nó và cách tốt nhất để tôn vinh nó là khai thác mối liên hệ giữa các yếu tố tạo nên nó” (Sđd. Trg.32). Và tình trạng các Giáo sư văn học “… Giảng dạy lý thuyết của mình chung quanh tác phẩm hơn là chính tác phẩm” (Sđd. Trg.33), là rất tiêu biểu ở GS. Trần Đình Sử.
Xin tóm lại với GS. Trần Đình Sử ở hai điều khái quát sau:
- Về thái độ, tư cách học thuật: Ông là người bất nhất, trước sau tự mâu thuẫn với nhau. Như thế không thể có được sự trung thực.
- Về nội dung học thuật: Ông chỉ chạy theo, làm theo các lý thuyết nước ngoài. Không tự xác định được tư tưởng khoa học của mình. Cái hay cái đúng như Tôđôrôp thì không theo, lại thích theo cái ngoại biên… Nói theo Jonathan Culler thì ngôn ngữ hành vi của Trần Đình Sử rất khó phán đoán thật/ giả, chân/ ngụy trong đó… và đúng là nó như thế.
Đồng Nai hạ, 18/8/2018
Năm Châu Đốc
Nguồn: Báo Văn Nghệ TP.HCM, số 510
Theo http://vanchuong.com.vn/
 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Đoàn Giỏi và những áng văn của đất của rừng phương Nam

Đoàn Giỏi và những áng văn của đất của rừng phương Nam Đất rừng Phương Nam (1957) của Đoàn Giỏi không chỉ là tác phẩm phổ biến trong giới ...