Thứ Tư, 29 tháng 7, 2026
Thần thoại Sisyphus
Lời giới thiệu
Nếu tôi buộc cho một người
vô tội một tội ác ghê gớm, nếu tôi nói với một người sống rất đạo đức rằng
anh ta thèm muốn cô em gái ruột, thì anh ta sẽ trả lời rằng cáo buộc ấy là
phi lý. Sự phẫn nộ của anh ta ẩn chứa khía cạnh hài hước trong nó. Nhưng nó
cũng đồng thời chứa đựng lý trí nền tảng. Khi đáp trả như vậy, con
người đạo đức ấy chỉ rõ sự mâu thuẫn giữa hành động tôi gán cho anh ta
và các nguyên tắc suốt đời anh ta tuân thủ. “Điều đó là phi lý” có nghĩa là
“Chuyện đó là không thể nào”, cũng có ý là “Điều đó thật mâu thuẫn”. Nếu
tôi nhìn thấy một người đàn ông chỉ có thanh gươm trong tay mà tấn công cả
nhóm người có mang súng máy, tôi sẽ cho rằng hành động của anh ta là phi lý.
Nhưng tôi thấy phi lý chỉ vì ý định của anh ta và cái thực tế anh ta
phải đối mặt bất cân xứng; vì tôi nhận thấy mâu thuẫn giữa sức mạnh
thực sự anh ta có và mục tiêu anh muốn đạt được. Tương tự như vậy,
chúng ta coi một nhận định nào đó là phi lý khi đối chiếu nó với điều
được thực tế khẳng định rõ ràng. Và cũng như vậy, phi lý phô bày khi
so sánh hậu quả của một lập luận như thế với thực tế hợp lý mà
người ta muốn dựng nên. Trong mọi trường hợp tương tự, từ trường hợp
đơn giản nhất cho đến phức tạp nhất, khoảng cách giữa hai vế trong
phép so sánh của tôi càng xa thì độ phi lý càng lớn.
Giờ chuyện chính đã
xét xong, tôi quy tụ được một số nền tảng không thể tách rời. Những
gì tôi biết, những gì là chắc chắn, những gì tôi không thể phủ nhận, những gì
tôi không thể gạt bỏ - đây là những điều đáng kể. Tôi có thể phủ nhận toàn
bộ cái phần trong tôi muốn sống với nỗi hoài vọng mơ hồ, ngoại trừ
mong muốn về sự hợp nhất, khát khao làm sáng tỏ mọi điều và nhu cầu
thấy thế giới này là rõ ràng và gắn kết. Tôi có thể bác bỏ tất cả mọi thứ
phạm đến tôi hoặc khiến tôi say mê trong thế giới xung quanh mình, ngoại
trừ sự hỗn loạn này, cơ hội thần diệu này và phép tương đương thần thánh
sinh ra từ chính tình trạng hỗn loạn. Tôi không rõ thế giới này có hay không
một ý nghĩa vượt cao hơn nó. Nhưng tôi biết rằng nếu có thì tôi cũng không
biết, và ngay lúc này tôi không có cách nào tìm biết. Làm sao tôi cảm
thấu được một ý nghĩa siêu nghiệm vượt ngoài bối cảnh nhân sinh? Tôi
chỉ có thể hiểu những gì trong giới hạn con người. Tôi hiểu được thứ
tôi chạm được vào, những thứ chống kháng lại tôi. Tôi cũng biết mình
không thể nào dung hòa hai điều chắc chắn như nhau: là nỗi khao khát
hướng về sự tuyệt đối và nhất nguyên, cũng như nỗi bất lực không thể
quy giản thế giới này về một nguyên tắc lý trí duy nhất mà (con
người) có thể lý giải được. Tôi có thể thừa nhận sự thật nào khác
mà không phải dối trá, mà không làm nảy lên niềm hy vọng tôi vốn
thiếu và cũng chẳng có ý nghĩa gì trong hoàn cảnh của tôi?
[41] Một khái niệm
hoàn toàn khác nhưng được phản ánh tương tự là ý niệm về hư vô vĩnh
cửu. Nó không thêm cũng không bớt gì từ hiện tại. Trải nghiệm tâm lý
về hư vô đặt hư vô vĩnh cửu trong tâm thế rằng sau hai nghìn năm nữa
sự hư vô của chúng ta mới thật sự có ý nghĩa. Xét theo một khía
cạnh, hư vô vĩnh cửu được cấu thành đúng bằng những sự sống tích
tụ, không phải của chúng ta - sẽ xuất hiện trên thế gian sau này.-
Gốc
Luôn luôn sẽ đến một
thời điểm mà người ta phải chọn lựa giữa chiêm nghiệm và hành động.
Đó gọi là quá trình trở thành một con người. Nỗi vặn mình trăn trở
ấy quả là khủng khiếp. Nhưng trái tim kiêu hãnh không có chỗ cho sự
thỏa hiệp. Chúa trời hay thời gian, cây thập tự kia hay lưỡi gươm này.
Thế giới này mang một ý nghĩa siêu vượt khỏi những lo lắng, hay
chẳng gì là thật ngoài những lo lắng ấy. Người ta phải sống trong
thời gian và chết cùng thời gian, hoặc là tránh đối mặt với nó để
mong về một cuộc sống huy hoàng hơn. Tôi biết người ta vẫn có thể
thỏa hiệp và sống trong thế giới này trong khi giữ niềm tin về cõi
bất diệt. Đó gọi là chấp nhận. Nhưng tôi ghê tởm từ ấy, tôi chỉ
muốn hoặc là tất cả, hoặc là không chút gì. Nếu tôi chọn hành
động, thì xin đừng cho rằng chiêm nghiệm suy ngẫm trở thành phạm trù
xa lạ với tôi. Chỉ là nó không thể cho tôi mọi điều, và một khi đã
tách khỏi bất diệt, tôi muốn kết đồng minh với thời gian. Tôi không
muốn chỉ tích lấy những hoài vọng và cay đắng, tôi chỉ muốn nhìn
rõ. Để tôi nói với quý vị, ngày mai, quý vị sẽ bị điều động. Đối
với quý vị cũng như đối với tôi, đó là sự giải phóng. Cá nhân không
thể làm gì, nhưng cũng có thể làm tất cả. Khi ở trong trạng thái
không bị ràng buộc tuyệt vời đó, quý vị sẽ hiểu vì sao tôi cùng
lúc vừa đề cao vừa nghiền nát cá nhân. Thế giới này nghiền nát cá
nhân, còn tôi thì giải phóng. Tôi trao cho cá nhân tất cả mọi quyền.
Vì thế đấng thần linh
nhắc đến ở đây hoàn toàn ở ngay tại trái đất này. Kirilov nói:
“Trong suốt ba năm, tôi tìm kiếm các thuộc tính thánh thần trong tôi
và đã tìm ra nó. Thuộc tính thánh thần chính là sự độc lập”. Đến
đây tiền đề lập luận của Kirilov đã rõ: “Nếu Chúa không tồn tại,
thì tôi là Chúa”. Trở thành Chúa chỉ đơn giản là trở nên tự do trên
trái đất này, không phải phụng sự một đấng bất tử nào. Tất nhiên,
trên hết, có thể rút ra mọi kết luận từ sự độc lập đau đớn đó.
Nếu Chúa tồn tại, mọi sự đều cậy vào ngài, và ta không thể làm gì
trái với ý chí của ngài. Còn nếu ngài không tồn tại, thì mọi sự
đều tùy thuộc vào chính chúng ta. Đối với Kirilov, cũng như với
Nietzsche, giết Chúa là tự mình trở thành chúa: là nhận ra cuộc
sống vĩnh cửu trên trái đất này, như Phúc Âm đã viết [11]. Nhưng nếu
chỉ riêng tội ác siêu hình này cũng đã đủ thành toàn cho con người,
vậy thì cần thêm tự sát làm gì nữa? Tại sao phải tự sát và rời
khỏi thế giới này một khi đã giành được tự do? Đó là điểm mâu
thuẫn. Kirilov cũng nhận rõ điều đó, vì ông có nói thêm rằng: “Nếu
anh cảm thấy được điều đó, thì hẳn anh là Sa hoàng, và thay vì tự
sát, anh sẽ sống ngập trong huy hoàng”. Nhưng nói chung, con người không
hiểu điều đó. Họ không cảm thấu được điều đó. Con người ấp ủ những
hy vọng mù quáng hệt như thời thần Prometheus [12]. Họ cần được chỉ
lối và không thể làm gì nếu không nghe thuyết giảng. Do đó, Kirilov
phải tự sát vì tình yêu nhân loại. Ông phải cho những người anh em
của mình thấy con đường vương giả và khó khăn mà ông tiên phong dấn
bước vào. Đó là vụ tự sát có tính giáo dục. Kirilov hy sinh bản
thân. Nhưng dù ông có bị hành hạ đi nữa, thì ông cũng sẽ không bị
biến thành vật hy sinh. Ông vẫn là một vị-thần-người, tin tưởng vào
cái chết không có gì sau nó nữa, thấm đẫm vẻ sầu muộn của kinh
phúc âm. Ông nói: “Tôi bất hạnh bởi tôi buộc phải khẳng định sự tự
do của mình”.
Quan điểm trên hẳn sẽ dễ hiểu hơn nếu tôi nói rằng tư tưởng vô hy vọng thật tình cờ lại được định nghĩa nhờ nhưng tiêu chuẩn đối lập với nó, và tác phẩm bi kịch có thể là tác phẩm mô tả cuộc đời của con người hạnh phúc, sau khi mọi hy vọng vào tương lai đều bị lưu đày. Cuộc đời càng nồng nhiệt, thì ý nghĩ đánh mất nó lại càng phi lý. Có lẽ đây chính là bí mật của vẻ khô cằn kiêu hãnh ta cảm thấy được trong tác phẩm của Nietzsche. Dường như Nietzsche là nghệ sĩ duy nhất rút trích được những hậu quả cực đoan của mỹ học về Sự phi lý tự thông điệp cuối cùng của ông gửi gắm trong sự sáng suốt đã nắm quyền chế ngự và vô ích lẫn sự phủ định khăng khăng trước mọi sự xoa dịu từ mọi thế lực siêu nhiên.
14/11/2017
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Thần thoại Sisyphus
Thần thoại Sisyphus Lời giới thiệu Trong thần thoại Hy Lạp, Sisyphus bị các vị thần trừng phạt phải suốt đời phải đẩy một khối đá lớn lên đ...
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét