Thứ Hai, 17 tháng 8, 2026

Nguyễn Thị Thanh Ngọc - Người phu chữ đúng chất đồng bằng

Nguyễn Thị Thanh Ngọc - Người
phu chữ đúng chất đồng bằng

Trong tiến trình phát triển của văn học, thể loại đã song hành vận động và mỗi thể loại là một sự định dạng về tư duy và đời sống với sự đồng nhất của riêng nó. Sự xuất hiện của thơ 1-2-3 như thêm một nét đẹp mới cho diện mạo của nền văn học nói chung. Không kém phần mạnh mẽ và hứng khởi, thơ 1-2-3 có mặt ở khắp các diễn đàn, góp phần nói lên tiếng nói của chính mình, thâm trầm mà sắc sảo. Trong xu thế chung đó, Cần Thơ cũng không kém cạnh, một số văn nghệ sĩ nơi đây cũng thấy mình đồng điệu, cũng hòa cùng thể loại này trong đời sống văn nghệ, và Nguyễn Thị Thanh Ngọc là một trong số đó, cũng là tác giả mà tôi muốn đề cập ở đây, một Nguyễn Thị Thanh Ngọc riêng biệt như chính thể thơ này vậy.
Hội ngộ và chia ly
Cuộc vui nào không tàn
Trăm năm rồi cũng tan
Riêng tình yêu ở lại
Đằm sâu nghĩa đá vàng
Mây ngàn dù cách biệt, vẫn có ngày trùng hoan…
Với những qui luật cuộc đời vốn không hề xa lạ – hợp rồi tan, tan rồi hợp – vậy mà khi đọc qua ta lại nghe một niềm thương, nghe lòng yên ấm đến lạ lùng. Trong thế giới đầy những ma trá, dối lừa, thì vẫn lóng lánh đâu đó những thiêng liêng, quý báu “Riêng tình yêu ở lại/ Đằm sâu nghĩa đá vàng/ Mây ngàn dù cách biệt, vẫn có ngày trùng hoan”, vẻ đẹp của thủy chung, của một tình yêu son sắt như đang tỏa hương. Lời thơ dịu dàng mà dứt khoát, nồng nàn mà kiên định và tôi thấy nơi đây một người đàn bà, rất Việt Nam.
Với tình là vậy. Với người, chị cũng vô cùng trân quý.
Vọng bái người chết trẻ bậc thầy
Một cõi trăm năm nghiền ngẫm
Có sanh ra cùng kiếp, cùng thời, cùng thấu cảm
Kiếp này xin làm hạt bụi dưới chân thầy
Dấn thân, hành động
Dấu ấn nào không như vết triện son thay đổi phận người…
Phải nghiêm túc mà rằng, trong bản ngã loài người thì sân – si thường chiến thắng. Khi đứng trước thành công của người khác, khi đứng trước một người giỏi hơn mình hoặc đơn giản là ở họ có gì đó tốt hơn, là ganh ghét nơi ta bùng dậy, là đố kỵ nổi lên. Và bất chấp, ta đối với họ bằng sự ngã mạn. Vọng bái người chết trẻ bậc thầy của chị khiến ta dừng lại để suy ngẫm, vẻ đẹp trong sáng thiện lương nơi tâm hồn con người vẫn còn đó, thanh khiết vô cùng. Khi ta biết yêu kính người, quý trọng người là khi ta đã biết yêu quý chính bản thân mình, biết không ngừng tu dưỡng và thế là phúc khí lan tỏa. Từ ngữ không hoa mĩ, nhưng lối so sánh hình tượng đã tạo nên một biểu cảm tinh tế, một kiểu tự sự đầy tính khiêm hạ mà cũng vô cùng thấu cảm, nhân văn.
Cây viết
Nhỏ, nhẹ, mỏng như chiếc xuồng ba lá
Chở trời mây, hoa cỏ, tình yêu
Hạt cát thật lẫn hạt bụi hoà trong nắng
Những phận người…
Nhẹ bẫng, nhả ngàn cân đong nỗi niềm nhân thế!
Có phải chỉ đơn giản là miêu tả cây viết? Phải, và không phải. Tác giả miêu tả cây viết, nhưng lại nói về giá trị của ngòi bút. Nếu thiên chức của ta là cầm bút, thì không chỉ để ngợi ca những đẹp đẽ của trời mây hoa lá nơi chốn nhân gian này, mà quan trọng hơn, hãy xoáy ngòi bút ấy vào “nỗi niềm nhân thế”, xoáy ngòi bút ấy vào sâu hơn nơi “những phận người”. Đó mới chính là trách nhiệm, là giá trị thực sự của người cầm bút. Bởi, văn thơ chính là đời sống, thoát khỏi đời sống thì văn thơ đã không còn giá trị nữa.
Nói về tính chính danh, thì phải kể đến:
Tư cách
Một công dân. Một chức trách. Một phết sơn sắc đỏ
Nét họa nào vẽ khổ đau trần trụi kiếp người
Ai gióng chuông thức tỉnh giả chân
Lòng trần không áo khoác che điều trí trá
Một bức tâm thư thổn thức chiếu soi tự vấn kẻ làm nghề…
Không phải bàn cãi về độ thâm thúy nơi thơ 1-2-3 – súc tích và triết lý – Nguyễn Thị Thanh Ngọc đã quán triệt điều này, chị đồng thời vận dụng nó một cách hiệu quả. Tư cách đã mở ra một suy ngẫm về đạo làm người, và “Một bức tâm thư thổn thức chiếu soi tự vấn kẻ làm nghề” đã kết lại một tư duy sắc bén về đạo làm nghề. Đây tuy không là điều mới lạ, nhưng mới lạ trong diễn đạt 1-2-3, và mới lạ trong cách dùng từ rất riêng của chị, vừa giản đơn rất miền tây nhưng cũng vừa ý tứ, sâu sắc. Nó khiến người đọc phải dừng lại, trầm tư và soi rọi.
Hố đen vũ trụ ở đâu
Ai muốn biết và muốn một lần du thám
Có thể nào…
Trừ các hành tinh không thoát ngoài lực hút
Khoa học ngày càng vũ bão có định vị được chăng
Rất xa cũng thật gần ngay ranh giới thiện tâm và tội ác…
Tôi thích bài thơ này của chị, loài người chúng ta sống lo xa lo gần lo đủ thứ lo, rồi trong vô số những lo toan lại sinh ra những mưu hèn kế bẩn… nó đẩy con người vượt những lằn ranh, rồi khi nhận ra thì đã sa sảy tự lúc nào.“Rất xa cũng thật gần ngay ranh giới thiện tâm và tội ác”… chỉ vậy thôi, một ranh giới mỏng manh của xấu và tốt, ranh giới định danh con người. Tôi và bạn, ai cũng có thể bước qua ranh giới đó và trở thành một con người khác, nếu không đủ tỉnh thức. Đây hẳn là một thái độ sống minh triết, và đây cũng là lời cảnh tỉnh dành cho tất cả chúng ta. Hãy cứ là người thiện lương và hãy cứ đối đãi tử tế với tất cả những người, những gì quanh ta, vậy là đủ góp phần cho những gì cao đẹp nơi cõi nhân sinh này.
Bởi để làm người cho tươm tất đã là một việc làm khó:
Xin giọt cam lồ
Cuộc sống đầy áp lực con người dễ lãng quên
Nhiều vai trò trên sân khấu cuộc đời không trọn vẹn
Quán tính chăm bẵm những giọt lệ như giọt mưa chảy từ trên
Bỗng một ngày chợt khóc
Ngửa tay xin rưới giọt cam lồ mong rửa sạch dày vò…
Kiếp người với khổ đau, phiền não như lẽ tự nhiên, như điều tất yếu. Và trong cuộc sống với vô cùng những sức ép, những biến động, trước mọi sự chọn lựa và quyết định đều không hề dễ dàng. Sân khấu cuộc đời mấy ai trọn vẹn? Và mấy ai không sai sót trước vai diễn của mình? “Bỗng một ngày chợt khóc/ Ngửa tay xin rưới giọt cam lồ mong rửa sạch dày vò…”, đó hẳn là giọt nước mắt của giác ngộ, khi mong muốn được rửa sạch những dằn vặt, khổ đau và cả những đắng đót, chua cay bằng giọt cam lồ. Thơ mà như nói, như lời tình tự, như nỗi giãi bày, vừa xa lại vừa gần, vừa như nói mình nhưng lại cũng nói người. Sâu sắc là vậy.
Mùi của má
Không bút mực nào tả nổi
Vị tảo tần thơm thảo suốt đời con
Đường con học thênh thang, chân má bước gập ghềnh
Con chữ, cái tâm, mảnh nghề má trao truyền cho con hết
Con nên người tử tế ai tặng má huân chương?
Viết về má – người đàn bà tảo tần đời mình nơi miền sông nước – người chỉ biết vì con cái mà sống, chị viết khá nhiều, và cách gọi “má” cũng đặc quánh kiểu miền tây. Cũng dễ hiểu thôi, chúng ta đi trong cuộc đời này, có thể quên tất thảy, nhưng chẳng thể quên được “Mùi của má”; có thể quên tất thảy, nhưng không thể quên được cội nguồnVà có lẽ, lặng thầm và cao đẹp nhất vẫn là những tấm “huân chương” mà con cái dành tặng mẹ cha mình. Hiếu đạo vừa là nét đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc, vừa là nhân cách cá nhân, không tròn chữ hiếu ta không thể làm người, có phải thông điệp của chị là vậy chăng?
Với tình nghĩa vợ chồng, một kiểu tàn y đã xếp mà hương vẫn nồng:
Đọt nhãn lồng ai ngắt
Chim quyên nhọc nhằn tha mồi lao khổ
Bỗng một ngày khắc khoải kêu chiều
Đập kính tìm bóng chim tăm cá
Sợi rong tơ mảnh hé môi cười
Nước mắt ngược dòng lời ru vàng võ…
Bài thơ được chị lấy làm tựa đề cho cả tập thơ, đủ thấy cái chất đồng bằng đã hòa cùng máu thịt, hòa cùng hơi thở chị. Nhãn lồng là loại dây leo sống ở đồng bằng, chỉ cần vài đám mưa, nó bung nhánh thành bụi sum suê, trẻ con thích hái trái chín để ăn, thơm ngọt; đọt non ngắt về luộc chấm nước cá kho là hết nồi cơm, hoặc nấu canh với tim heo là trở thành món an thần. Nhãn lồng đi vào đời sống, đi vào ca dao như một niềm dấu yêu khắc khoải “Chim quyên ăn trái nhãn lồng/ lia thia quen chậu vợ chồng quen hơi”. Và nhà thơ của chúng ta thì “Đập kính tìm bóng chim tăm cá” bởi “Nước mắt ngược dòng lời ru vàng võ”, nơi đây ta bắt gặp một nỗi nhớ da diết, khôn nguôi trong lòng người góa phụ. Cách chị sử dụng thành ngữ kết hợp cùng những yếu tố dân gian đã cho thấy một sự chọn lựa hợp lý theo cấu trúc của 1-2-3, có vậy mới đảm bảo được tính hàm súc cũng như tròn đầy về mặt tứ.
Đọc thơ chị, tôi nhận diện được một tâm hồn nhạy cảm. Chị yêu – ghét khá rõ ràng và tư duy cũng vô cùng sắc sảo:
Khóc hổ ngươi cười ra nước mắt
Khi người cầm viết nghĩ mình có quyền lực lớn lao
Như Phật Quán Thế Âm thu phục yêu tinh làm loạn
Hạn gắt gay, người viết đâu có đũa thần hô mưa gọi gió
Đời bộn bề hỗn độn… thơ văn vãn hồi trật tự thế nào
Đâu phải cứ thi sĩ là nắn nhào nên thơ áng ngàn sao!
Tôi thích kiểu mô tả lẫn liên tưởng nơi thơ chị, vừa thực vừa cổ tích, vừa mộng ảo mà lại rất đời. Nó khiến ta bật cười, lại cũng khiến ta nhíu mày. Và đôi lúc, đọc thơ chị tôi thấy “nhức đầu”, nó buộc tôi phải nghĩ nhiều về những “hỗn độn”“bộn bề” và cả những “yêu tinh làm loạn” trần trụi quanh mình… nhưng sâu xa hơn, tôi lại thấy nơi đây một nỗi buồn, một nỗi buồn ẩn chứa trong những nụ cười có pha mùi nước mắt. Chị đúng, “Đâu phải cứ thi sĩ là nắn nhào nên thơ áng ngàn sao!”. Thi sĩ là người, nhưng cũng khác người, trái tim và mũi của thi sĩ đặc biệt hơn, họ ngửi và cảm thứ mà người bình thường không thể ngửi và cảm. Và dù vậy, họ chẳng thể vá trời lấp bể, họ chỉ có thể kêu gào. Nhưng cái hay của thơ là ở chỗ, những kêu gào của họ lại có thể chạm thẳng vào cảm xúc hay tri giác con người, và khiến họ hoặc phải thổn thức, hoặc phải bừng tỉnh.
Hay ở:
Đêm quặn mình trở dạ
Cảm xúc thăng hoa luôn tới muộn
Trong lúc yêu và cả lúc hẹn hò
Từng khắc thời gian như trẻ tập bò… Đêm trắng!
Bỗng ngan ngát sáng loà hoan hỉ nhặt
Hạt ngọc nằm khuất bọc hoài thai đòi khóc tiếng chào đời…
Tác giả so sánh người thơ như đứa trẻ tập bò, như người đang yêu và cả như đàn bà trở dạ… thế đó, để thấy lao động nghệ thuật là con đường gian truân đến thế nào? Mọi cung bậc của đời sống đều được người thơ thẩm thấu, quyện cùng. Và để có được “Hạt ngọc” “chào đời”thì người thơ phải “Đêm trắng!” mắt ra, phải “quặn mình trở dạ”. Một loại thiên chức được mô tả đầy hình tượng, vừa vất vả, thống khổ lại vừa vinh dự, hiển hách.
Đọc thơ Nguyễn Thị Thanh Ngọc, không khó để nhận ra, bao trùm là cái nhìn và sự suy ngẫm về nhân tình thế sự, về đạo – đời và cả những trăn trở, suy tư. Nơi đó, còn có hồn quê, có tình cảm gia đình, tình mẫu tử, tình nghĩa vợ chồng… tất cả, cứ như bám riết nơi tâm tư người thơ. Cùng với chất giọng nơi miền châu thổ, cách biểu đạt dịu dàng, đằm sâu đã làm nên một “Đọt nhãn lồng ai ngắt” đáng đọc. Phải nhìn nhận rằng, trừ đi một vài bài còn khá dàn trãi thì với vốn sống phong phú và góc nhìn đời của người từng trải, chị như một phu chữ lặng thầm rồi bất ngờ mang đến cho ta một thi tập 1-2-3 đậm chất miền tây, khúc chiết và giàu cảm xúc.
Tác giả quê Sóc Trăng, sinh năm 1955, tên thật Nguyễn Thị Ngọc Bích, là hội viên Hội nhà văn thành phố Cần Thơ. Theo phong trào sinh viên học sinh, chị sớm tham gia công tác từ những ngày đầu tháng Năm năm Bảy lăm thế kỷ trước, tại tổ Thông tấn – báo chí thuộc Phòng Văn hóa – Thông tin thị xã nhà. Sau đó chuyển về cơ quan Báo Hậu Giang (xưa)… rồi Chi hội Văn nghệ Sóc Trăng, Chi hội Văn nghệ thành phố Cần Thơ (cũ); và lại trở về Báo Hậu Giang, nối tiếp là Báo Cần Thơ (sau chia tách tỉnh)… Duyên nợ với văn chương đã làm nên một Nguyễn Thị Thanh Ngọc với hơn mười đầu sách, gồm: tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, ký báo chí. Và giờ, thơ 1-2-3 đã trở thành tâm giao trên bước đường nghệ thuật lặng thầm không ngừng nghỉ của chị.
Như:
Ánh hào quang của đất
Quả cầu lửa nhô lên phía bờ ranh xanh ngắt bạch đàn
Mẹ đất nằm than ủ ấm hạt mầm lớn lên hoá ngọc
Cát và thủy tinh
Phản chiếu hào quang tạo hoá rực rỡ chóng tàn phai…
Con người phải tự mình thắp đuốc!
Súc tích và triết lý là đặc điểm cơ bản mà ta nhìn thấy ở thể loại này, và Nguyễn Thị Thanh Ngọc đã làm được, chị đã chinh phục được một loại hình nghệ thuật ngôn ngữ độc đáo nơi thi đàn, vui cùng chị. Và tin rằng, sau “Đọt nhãn lồng ai ngắt”, bạn đọc sẽ lại tiếp tục được đón nhận thêm những thi phẩm mới – ấn tượng hơn, sâu sắc hơn – bởi tôi tin, bằng sự lao động miệt mài, người phu chữ đúng chất đồng bằng này sẽ còn tiến xa hơn trên cánh đồng chữ nghĩa, đặc biệt là với thơ 1-2-3.
Cần Thơ, 27/11/2025
Bảo Bình
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Đạo văn, nguyên nhân và hệ lụy

Đạo văn, nguyên nhân và hệ lụy Văn chương, suy cho cùng, không phải là nơi để con người tìm kiếm sự nổi tiếng bằng những con đường tắt. Sá...