Bột mì vĩnh cửu
Chương 1
Tin sốt dẻo trong làng
Chiếc thuyền đánh cá cỡ
nhỏ chậm chạp bơi đến gần đảo Fer nằm trong quần đảo Friesland ở phía bắc biển
Đức. Một buổi tối mùa thu. Gió bấc thổi mạnh quất vào mặt những người dân chài
từng tia nước lạnh buốt. Buổi đánh cá hôm nay chẳng nước non gì nên bộ mặt mấy
người dân chài đã tái xám vì rét lại càng thêm cau có.
- Mùa đông năm nay sẽ rét
sớm đây. - Một ông lão miệng ngậm tẩu thuốc lên tiếng.
- Có lẽ như thế thật - Một
thanh niên hưởng ứng, rồi sau giây lát im lặng, nói thêm - Nhà Carlo có chiếc
lưới mới tinh lại bị trộm cuỗm mất rồi!
Câu chuyện sôi nổi hẳn
lên. Mấy người đánh cá bàn tán xem kẻ nào trong đám dân chài lại có thể làm cái
trò tắt mắt ấy được.
- Tôi cho rằng lão Hans
làm chứ chẳng còn ai. - Anh thanh niên lúc nãy quả quyết nói.
- Lão Hans à? Chú chỉ phịa
là giỏi! - Mấy người kinh ngạc thốt lên.
Hans là một lão già ốm yếu,
gầy như que củi, người cao ngỏng. Lão sống cô độc ngoài cây đèn biển cũ kỹ đã bị
bỏ không từ lâu.
- Lão Hans ư? Thằng cha ấy
thì còn khó nhọc lê bước được đến đây! Chú có chứng cứ gì không?
- Thì lão ta đang béo
trương béo nứt ra đấy thôi. - Anh thanh niên đáp.
Quả có thế thật. Mấy tuần
gần đây mặt lão Hans sệ hẳn ra và vẻ béo tốt kỳ lạ của lão đã trở thành đầu đề
cho những câu chuyện ngồi lê đôi mách trong làng.
- Người ta đồn rằng lão
Hans vớ được một hòm báu vật do sóng biển đánh giạt vào bờ. Được món bở như thế
làm gì mà chẳng béo tốt ra. - Một ông già nói, giọng trầm ngâm.
- Lão Hans buôn lậu đấy.
- Tôi thì tôi báo các bác
rằng, - Anh thanh niên lúc nãy vẫn không chịu im - lão Hans đánh cắp lưới và cá
của cánh ta rồi đem bán, nên mới phát phì ra đấy. Các bác có thấy cứ đến khuya
là lão lại lẩn đi như trạch hay không? Lão đi đâu và làm gì? Đáng nghi lắm.
Mọi người tranh cãi với
anh thanh niên, nhưng rõ ràng câu chuyện anh ta kể đã gây ấn tượng mạnh tới nhiều
người. Vì thế, khi chiếc thuyền cập bến có cây đèn biển cũ kỹ, một người đánh
cá đề xướng:
- Thì ta cứ thử ghé vào
đây xem lão Hans sinh sống ra sao đã nào? Ta vừa sưởi ấm vừa nhìn kỹ lão luôn
thể.
- Hay đấy. - Anh thanh
niên linh lợi hẳn lên, nhanh nhẹn bê cá ra khỏi thuyền và thu dọn đồ nghề lại.
Từ trong lòng cây đèn biển,
một ánh sáng yếu ớt lọt ra qua chiếc cửa sổ nhỏ. Lão Hans vẫn chưa ngủ. Lão niềm
nở tiếp đón khách và mời cả bọn vào sưởi ấm bên chiếc lò sưởi cũ nát.
- Thế nào, được nhiều cá
không các bác? - Lão vừa hỏi vừa xoa xoa hai bàn tay nổi đầy gân. Ngón tay lão
trông như những chiếc móc.
- Chà nước non gì. - Anh
thanh niên đáp. Anh ta tức giận vì đánh được ít cá, vì trời xấu, nên chỉ muốn
trút cơn giận sang người khác - Còn lão thì cứ béo nứt ra, tại sao thế lão
Hans?
Lão già mỉm cười một cách
đáng thương và khoát tay.
- Thì cậu cũng béo ú ra đấy
thôi, cậu Ludwig. - Lão đáp.
- Không phải nói về tôi.
Khi người ta bắt cá bằng lưới của mình rồi đem bán, thì béo tốt cũng chẳng có
gì lạ. Còn lão, lão hãy nói cho bọn này biết cái bí quyết vì sao không làm mà cứ
béo ra xem nào. Khi đó có lẽ bọn này cũng chả tội gì phải bỏ lò sưởi ấm áp để
ra khơi đánh cá, rước lấy bệnh thấp khớp vào thân làm gì.
Lão Hans lúng túng ra mặt.
Lão rúm người, xoa tay rồi nhún vai. Mọi người đều nhận thấy vẻ lúng túng của
lão nên cả những ai trước còn nghi ngờ bây giờ cũng tin là lão có lỗi.
- Ta phải khám xét nhà hắn
xem - Anh chàng Fris tóc hung ghé vào tai một người đánh cá khác nói nhỏ - tớ sẽ
thu xếp thật khéo. - Rồi quay sang phía lão Hans, anh ta nói - Lão sống trong
cái nhà đổ nát như thế này mà không sợ à? Gió Đông bắc thổi mạnh một cái thì nó
sẽ đổ sụp xuống, đè lão vụn như cám mất thôi.
- Tường nhà dày lắm, chả
lo đâu. - Lão Hans thủng thẳng đáp.
- Nhưng lỡ nó cứ đổ xuống
thì sao - Fris không chịu thôi - Già cả như lão có lẽ điều đó thế nào cũng được,
nhưng còn bọn tôi thì người ta sẽ hỏi tội vì sao không giữ gìn an toàn cho lão.
Có khi lại bị đưa ra tòa nữa là khác. Phải để cánh này xem xét chỗ ở của lão mới
được.
- Làm gì phải xem với
xét? - Lão Hans lúng búng nói. Lão không còn nghi ngờ gì nữa: đích thị bọn này
nghi kỵ lão điều gì nên mới đến đây, đâu phải vô cớ.
- Ngày mai trời sáng sủa
xin mời các bác hãy đến xem xét, nếu các bác muốn.
- Sao lại đến mai. Chúng
tôi xem ngay hôm nay cũng được.
- Nhưng trời tối quá, cầu
thang lại hỏng, sợ các bác ngã thì khổ. Mà làm gì phải vội vàng thế? Lão sống
đã năm chục tuổi đầu rồi mà bỗng dưng có một đêm thôi các bác cũng không đợi được
hay sao?
Ludwig đã hiểu thủ đoạn
ranh mãnh của Fris nên hành động luôn:
- Lão hãy châm đèn lên
xem nào.
- A, đèn! Tôi không có dầu
đốt cho đèn.
Nhưng Fris đã lần mò khắp
phòng.
- Dầu à? Đèn đây rồi. Dầu
cũng có đây. Tại sao lão giấu diếm hả?
Fris nhanh nhẹn rót dầu rồi
châm đèn.
- Nào ta đi.
Tất cả đứng dậy đi theo
Fris. Lão Hans thở dài nặng nề, lệt bệt đôi giày theo sau cả đám. Trong ánh
sáng mập mờ, cả bọn leo dần lên những bậc gỗ ẩm ướt, ọp ẹp của chiếc cầu thang
xoáy trôn ốc.
Trên gác toàn thấy những
đồ vật cũ nát, vô dụng, phủ đầy bụi bặm và vôi vữa lở xuống. Gió lùa hun hút
vào phòng qua những cửa kính vỡ. Ánh sáng cây đèn làm lũ dơi hoảng sợ bay loạn
xạ, rung bụi và mạng nhện xuống đám người. Fris xem kỹ mọi ngóc ngách, lấy mũi ủng
gảy tung từng đám rác, sau đó soi đèn lại gần tường và nói:
- Chà, tường nứt nẻ đến
khiếp!
Nhưng anh ta không thấy
có gì khả nghi.
- Ta lên tầng ba xem.
- Trên ấy chẳng có gì
đâu. - Lão Hans vội ngăn. Nhưng Fris không chịu nghe, cứ leo lên.
Ở đây gió thổi ù ù, không
chỉ qua mấy chiếc cửa sổ trống huếch trống hoác, mà còn ùa vào qua mấy lỗ hổng
to tướng.
- Có lẽ cậu nhầm rồi,
Ludwig ạ. - Fris khẽ nói.
- Rồi xem. - Ludwig lớn
tiếng đáp rồi giận dữ đẩy mạnh vào người Fris - Đưa đèn lại đây. Cái gì thế
này?
- Chẳng phải lưới đánh cá
- Anh chàng Fris thấy chẳng cần giấu diếm mục đích tìm kiếm, cũng nói tướng
lên. Ngọn đèn soi vào chiếc giá gỗ và một chiếc xoong đặt trên giá có đậy miếng
gỗ mỏng.
Fris nhấc miếng gỗ và
nhòm vào xoong thấy một thứ chất lỏng đông đặc, trông như trứng ếch.
- Chuồn thôi, Ludwig ạ.
Món này chỉ là đồ bỏ đi. Tớ đã bảo cậu nhầm rồi mà lại.
Ludwig đã bực mình lắm vì
tự nhiên đi gây chuyện để đến nỗi bây giờ bị lừa phỉnh.
Để chữa lại giây phút nhục
nhã của mình, Ludwig kéo lão Hans từ góc tối ra và thét vào mặt lão:
- Lão chứa cái gì trong nồi
thế hử?
Ai nấy ngạc nhiên không
ngờ câu hỏi của Ludwig lại làm cho lão Hans lúng tung đến vậy. Lão già lo quá,
hàm răng cứ run cầm cập. Lão ấp a ấp úng được vài tiếng rồi cứng lưỡi lại. Điều
đó khiến mấy người đánh cá kia để ý đến món lạ đựng trong xoong.
- Sao lão câm như hến thế
- Ludwig tấn công - Lão có biết kiểu làm ăn ám muội thế này dẫn tới đâu không?
- thấy lão Hans bối rối, anh ta được thể dọa già.
- Xin các bác đừng tra hỏi
nữa, tôi van các bác, - Lão Hans lí nhí đáp - chuyện này chẳng có gì tội lỗi cả,
nhưng lão đã hứa...
Lời lẽ đó làm cả bọn hết
sức sửng sốt, không ngờ trước mặt họ lại là một cái gì rất bí hiểm. Anh chàng
Ludwig đắc thắng đưa hai tay cẩn thận đỡ lấy chiếc nồi và ra lệnh cho Fris soi
đường để mình đi xuống.
- Có lẽ món này sẽ lý thú
hơn cả chuyện lưới cá mất cắp chứ chẳng chơi. - Ludwig xúc động nói với Fris
khi đặt xoong lên chiếc bàn cạnh lò sưởi.
Rồi anh ta quay sang lão
Hans:
- Bây giờ lão phải kể hết
đầu đuôi câu chuyện cho cánh này nghe.
- Nhưng lão đã hứa giữ
kín...
- Thế thì lão sẽ vào tù.
- Vì sao?
- Vì món này đây. Cánh
chúng tôi đã ngờ lão từ lâu. Không phải là vô cớ mà lão béo tốt ra đâu.
- Thế các bác đã biết rồi
sao?
Ludwig có biết gì đâu.
Nhưng buổi tối mùa thu hôm nay anh ta bỗng khám phá ra mình có khả năng làm mật
thám.
- Đúng, cánh này biết cả
rồi - Ludwig nói một cách tự tin - Nếu lão chịu thú thật thì có thể cánh này sẽ
không bỏ tù lão đâu.
Lão già tuyệt vọng hẳn.
Lão gục đầu im lặng một lát rồi nói:
- Lão chẳng muốn nuốt lời
hứa và gây chuyện không hay cho người đã thương xót lão và là ân nhân của lão.
Nhưng nếu các bác đã biết thì... Đây là “bột mì vĩnh cửu” do giáo sư Broie cho
lão.
Nếu Ludwig quả thực có khả
năng làm mật thám thì anh ta vẫn còn quá non nớt trong lúc hành nghề. Quên mất
vai trò của mình, anh ta hết sức kinh ngạc hỏi:
- Bột mì vĩnh cửu à? Nó
là cái gì?
Nghe câu hỏi với vẻ ngạc
nhiên thành thực ấy, lại thấy cả đám dân chài đều thốt lên ngơ ngác, lão Hans
hiểu ngay rằng họ chẳng biết gì về chuyện “bột mì vĩnh cửu” cả, rằng họ đến đây
vì ngờ lão chuyện khác, nhưng vô tình đã phát hiện ra điều bí mật mà lão vẫn giữ
rất kín. Giá lão chưa nói tên giáo sư ra thì hay biết mấy? Nhưng lùi bước thì
đã muộn rồi.
Lão Hans còng lưng ngồi
phịch ngay xuống ghế:
- Các bác hãy nghe đây.
Lão sẽ kể hết.
Chương 2
Lão Hans may mắn
Lão nghèo túng quá, chẳng
những thế, lão còn bị đói - Lão Hans bắt đầu thú thực - Một buổi tối lão đói lả,
không còn đủ sức lê ra khỏi nhà nữa, thì có tiếng gõ cửa. Lão mở cửa ra thì thấy
trước mặt mình là giáo sư già tên là Broie, người mà các bác cũng biết là đang
sống ở cái trang trại gần làng ta ấy...
- Biết rồi, nói tiếp đi.
- Fris nôn nóng ngắt lời lão Hans.
- Giáo sư Broie bảo lão:
“Tôi có thể nuôi sống bác suốt đời, bác Hans ạ, nhưng với điều kiện bác phải hứa
là không được nói ra với bất cứ ai chuyện đó”. Lão đã thề với giáo sư, - Lão nặng
nề thở dài - và bây giờ đang nuốt lời thề ấy đây... Lúc ấy giáo sư liền rút từ
trong túi áo khoác ra một hộp sắt, chìa cho lão và nói: “Trong hộp này có thứ
“bột mì vĩnh cửu”. Bác chỉ cần ăn nửa hộp cũng đủ no cả ngày. Sau một ngày một
đêm, bột đó sẽ tự nở đầy hộp. Đừng sợ, bác Hans ạ, - Giáo sư nói - bột này chẳng
độc hại gì đâu. Bác đừng thấy nó xấu xí mà chê. Thứ này vừa bổ vừa ngon. Bác nếm
thử mà xem”. Lão còn ngần ngại. Thấy thế giáo sư liền ăn trước và nói: “Bác thấy
không, tôi vẫn sống và khỏe mạnh đó thôi”. Giáo sư để hộp bột lại cho lão và
yêu cầu lão thỉnh thoảng đến kể cho ông biết lão thấy trong người thế nào. Rồi
giáo sư ra về...
Mấy người đánh cá căng
tai nghe chuyện và tỏ vẻ kinh ngạc đến mức há hốc mồm ra.
- Rồi sau đó thế nào? -
Fris sốt ruột cựa quậy trên ghế và hỏi.
- Mãi lão vẫn không dám
ăn thứ bột ấy - Lão Hans kể tiếp - Trông nó giống như trứng ếch, kinh kinh là.
Mấy lần lão đã bước lại gần chiếc hộp, nhưng vẫn không sao tránh được cảm giác
kinh tởm. Lão đói quá nên không tài nào ngủ được. Gần sáng, cơn đói giày vò làm
thắt bụng lại. Lão nghĩ: thôi thì đằng nào cũng chết... Lão bèn lấy thìa xúc một
miếng bột cho vào miệng ăn thử. Lão thấy nó ngon như món táo nướng nghiền ấy.
Chỉ chén một lát, lão đã thấy no căng, người khỏe mạnh lên. Thầm cám ơn vị giáo
sư đã tặng món quà kỳ diệu, lão đánh một giấc dài và khi tỉnh dậy thì thấy người
sảng khoái, hoàn toàn khỏe mạnh.
- Thế còn món bột? Lão có
ngó xem sao không?
- Lão ăn hết gần một nửa,
thế mà sáng hôm sau nó đã nở ra đầy tới miệng hộp. Từ đó lão chén tì tì và béo
tốt ra.
Đám dân chài hết sức ngạc
nhiên cứng đờ ra. Lúc lão già kể xong, cả bọn xôn xao lên tiếng và hoa chân múa
tay chồm người dậy.
- Thế là thế nào nhỉ? Y
như có phép tiên ấy?..
- Đúng thật. Giá người ta
cho cánh mình của báu ấy thì chẳng cần thứ gì trên đời này nữa. Chẳng phải cày
sâu cuốc bẫm, chẳng phải dấn thân chài lưới ngoài biển làm gì. Chỉ việc nằm
khàn chén món bột ấy là xong...
Mà cái vùng đất khốn khổ
này làm ăn có ra gì đâu cơ chứ. Khoai mọc chẳng ra khoai, lúa chẳng ra lúa...
Khi cơn xúc động đầu tiên
đã dịu xuống, mọi người đều thấy nghi ngờ. Chẳng lẽ đúng thế được ư? Liệu lão
Hans có đánh lừa bọn họ không? Câu chuyện “bột mì vĩnh cửu” có vẻ quá ư huyền
hoặc.
- Lão không bịa đặt tí
nào chứ, lão Hans? - Ludwig nghiêm mặt hỏi.
- Lão bịa đặt làm gì kia
chứ? Lão có thể ăn ngay cho các bác xem. - Và lão Hans lấy thìa xúc một miếng
tướng thứ “bột” sền sệt ấy đưa lên miệng ngon lành.
Cả bọn nhìn lão với vẻ mặt
y như lão đang nuốt một con rắn sống.
- Có bác nào thử nếm một
tí không?
Tuy chẳng ai dám ăn,
nhưng đã hết nghi ngờ. Mọi người lại sôi nổi bàn tán về sự việc kỳ lạ ấy và tỏ
vẻ ghen tị với vận may của lão Hans.
Vợ con mấy người đánh cá
thấy chồng và bố lâu về phát hoảng nên bổ đi tìm. Chẳng mấy chốc nhà lão Hans
đã chật ních. Đến nửa đêm thì cả làng chài đã biết câu chuyện kỳ lạ. Họ trò
chuyện râm ran cho tới sáng. Trời còn sớm mà bên cây đèn biển cũ kỹ, đám người
hiếu kỳ đã lũ lượt kéo nhau đến. Ai cũng muốn xem hình thù cái món “bột mì vĩnh
cửu” ấy ra sao và sau một đêm nó đã nở lên thế nào. Fris và Ludwig đứng cạnh hộp
bột cả đêm và bây giờ đã có thể làm chứng rằng quả thực thứ “bột” ấy đã nở ra đầy
một hộp.
Fris là người đầu tiên
quyết định nếm thử và xác nhận rằng thứ “bột” này rất ngon miệng và chóng no bụng.
Căn phòng nhỏ tròn trong
lòng cây đèn biển chưa bao giờ đông như vậy. Người ta họp bàn liên miên. Đám
dân chài không muốn để mình lão Hans giữ một báu vật như vậy làm của riêng chút
nào. Sau khi tranh cãi hồi lâu, mọi người quyết định cử một đoàn đại biểu tới gặp
giáo sư Broie để hỏi tỉ mỉ về chuyện “bột mì vĩnh cửu” và xin giáo sư phân phát
món “bột” ấy cho cả làng. Đoàn gồm có Fris, Ludwig và ông giáo Otto Vesman, người
có học vấn và uyên bác nhất làng. Lão Hans cũng xin được đi theo đoàn để có dịp
thanh minh với vị giáo sư.
Giáo sư Broie là nhà bác
học nổi tiếng thế giới. Các tác phẩm của ông trong lĩnh vực sinh hóa học khiến
người ta kinh ngạc về sự táo bạo. Chúng đã gây ra những cuộc tranh cãi kịch liệt,
nhưng đồng thời cũng làm cho giới khoa học Âu và Mỹ hết sức quan tâm. Cách đây
mấy năm, giáo sư tuy đã già nhưng còn rất hăng hái, bỗng tuyên bố bỏ giảng dạy ở
Trường đại học tổng hợp Berlin để lui về “nơi yên tĩnh”, theo lời giáo sư. Giáo
sư đã chọn một vùng đất cách xa trung tâm và xây dựng một ngôi nhà nhỏ trên đảo
Fer làm chỗ ở. Với bè bạn thân thiết, giáo sư nói rằng ông muốn xa lánh cảnh
“ngược xuôi trần tục”, lui về làm thí nghiệm để nghiên cứu giải quyết một vấn đề
có tầm quan trọng toàn thế giới. Song đó là vấn đề gì thì giáo sư chẳng nói với
ai.
- Ở các trường đại học nước
ta, - Giáo sư đau khổ nói với các bạn ông - chỉ có thể làm đúng theo khuôn sáo
cũ mà thôi. Bất kỳ tư tưởng khoa học có tính chất cách mạng nào cũng làm cho
người ta lo lắng và sợ hãi. Cả một lô một lốc theo dõi chúng ta, nào là phụ giảng,
nào là sinh viên, nào là các phó giáo sư, nào là các nhân viên thí nghiệm, các
phóng viên, ông hiệu trưởng và thậm chí cả những đại biểu nhà thờ nữa. Các bạn
cứ thử làm cách mạng khoa học trong điều kiện ấy mà xem? Các bạn sẽ bị chúng chế
giễu, vùi dập bằng những mưu đồ tăm tối trước khi các bạn đạt tới một kết quả
nào đó. Về nơi hẻo lánh, tôi được tự do. Không ai moi móc những thiếu sót của
tôi, kết quả cuối cùng tự nó sẽ được khẳng định.
Và giáo sư bỏ cảnh “ngược
xuôi trần tục” ấy ra đi, cắt đứt mọi sự tiếp xúc, thậm chí ngừng cả việc thư từ
với thế giới bên ngoài.
Những người dân đánh cá ở
làng chài gần trang trại của giáo sư không hề biết đến tên tuổi của giáo sư, mà
nói chung họ cũng biết rất ít về ông, vì hầu như chẳng mấy khi ông chịu ló mặt
tới đâu. Thỉnh thoảng, vào lúc sáng sớm hay chiều tối, người ta có thể nhìn thấy
ông dạo bước giữa những cồn cát vắng vẻ. Người ta chỉ coi giáo sư như một ông
già khó hiểu và hơi lập dị. Thế mà nay ông già ấy lại nắm giữ cả một kho báu có
thể làm cho hết thảy mọi người sung sướng. Đoàn đại biểu dân chài bất giác cảm
thấy rụt rè e ngại khi họ leo lên một ngọn đồi nhỏ và nhìn rõ ngôi nhà nhỏ màu
trắng thấp thoáng giữa một vườn cây cằn cỗi, bên ngoài có hàng rào thấp bằng đá
núi bao quanh. Không hiểu giáo sư sẽ tiếp đón họ ra sao? Liệu ông ta có tặng họ
món “bột mì vĩnh cửu” như đã cho lão Hans không?...
Ông giáo Otto Vesman khẽ ẩy
cánh cổng khép hờ và bước vào vườn. Theo chân ông giáo là Fris và Ludwig. Lão
Hans lệt bệt sau cùng với vẻ mặt của kẻ bị dẫn ra tòa. Từ trong nhà, hai con
chó rất béo tốt nhảy xổ ra phía đám người vừa bước vào.
- Chà, lũ chó này có lẽ
cũng chén đẫy món “bột” kia đây - Fris nhận xét - Chúng to béo quá chừng! Chẳng
lẽ ông ta cho chó xơi món “bột” ấy mà đối với người lại tiếc hay sao?..
Nghe tiếng chó sủa, một
ông già chừng sáu mươi tuổi, người đẫy đà, vẻ quắc thước, bước ra. Râu ông đã bạc
trắng, nhưng bộ tóc màu hạt dẻ sáng vẫn còn rất tốt. Đó là giáo sư Broie. Giáo
sư đuổi hai con chó và niềm nở hỏi mấy người đánh cá xem họ cần gì.
- Chúng tôi đến đề nghị
xem giáo sư có thể cho chúng tôi “bột mì vĩnh cửu” được hay không? - Otto
Vesman đánh bạo hỏi thẳng - Nếu thứ “bột” ấy quả thực có những đặc tính như ông
Hans đây nói.
Nét mặt giáo sư Broie bỗng
thay đổi hẳn. Ông cau mày và quắc mắt nhìn lão Hans khiến lão còng người xuống
run sợ.
- Thưa ngài giáo sư, tôi
không có lỗi đâu ạ - Lão Hans ấp tay vào ngực, thốt lên - Họ đã ranh mãnh buộc
tôi phải nói lộ bí mật của ngài.
- Đúng, lão ta không có lỗi
gì giáo sư ạ. - Fris xác nhận, rồi kể lại cho giáo sư nghe đầu đuôi việc họ
tình cờ phát hiện ra bí mật của “bột mì vĩnh cửu”. Nét mặt giáo sư đã dịu xuống
đôi chút, nhưng vẫn cau có. Giáo sư im lặng một lát, chắc để cân nhắc tình thế
đã xảy ra. Đoàn đại biểu thấy sự im lặng ấy dài đằng đẵng. Cuối cùng giáo sư
lên tiếng:
- Lão Hans nói đúng. Một
cân “bột” có thể nuôi sống một người suốt đời và còn có thể để lại được cho con
cháu nhà. Nhưng nếu tôi giải thích cách làm ra nó thì vị tất các bác đã hiểu được.
Vả lại đối với các bác, điều đó cũng không quan trọng.
- Tất nhiên, điều quan trọng
đối với chúng tôi là được ăn thứ bột đó thôi - Ludwig đáp lời - Như thế là giáo
sư sẽ cho chúng tôi một ít phải không ạ?
- Không được. Tôi không
cho đâu. Ít nhất là chưa thể cho được ngay bây giờ.
Fris và Ludwig lo lắng:
- Thế sao ngài cho lão
Hans được? Mấy con chó của ngài con nào cũng to tướng, chắc là cũng nhờ được ăn
món “bột” của ngài chứ gì?
- Đúng vậy. - Giáo sư
Broie đáp. Và sau khi giơ tay ngăn Fris định nói, giáo sư nói tiếp bằng một giọng
hách dịch mà người ta không thể ngờ ở giáo sư:
- Khoan, hãy chú ý nghe
tôi nói đây. Tôi đã hiến cả đời tôi cho việc phát minh ra thứ “bột” có thể cứu
đói toàn thể nhân loại ấy. Đối với các bác, tôi đang lo chế ra thứ “bột” đó và
các bác sẽ được lĩnh nhận. Tôi cho rằng tôi đã đạt được mục đích, nhưng thí
nghiệm vẫn chưa xong. Mà khi thí nghiệm chưa hoàn thành thì không thể phân phát
“bột” lung tung được.
- Nhưng Hans...
- Lão Hans cũng là một
thí nghiệm thôi - Giáo sư nghiêm khắc ngắt lời Fris - Tôi đã làm thí nghiệm
trên súc vật, trên chuột lang và mấy con chó này. Sau đó tôi tự thí nghiệm trên
bản thân mình, rồi chỉ khi đã tin rằng thứ “bột” đó hoàn toàn không có hại gì,
tôi mới đem thí nghiệm với lão Hans. Nhưng như thế chưa phải đã xong xuôi.
Chính tôi cũng chưa nghiên cứu hết mọi đặc tính của thứ “bột” đó. Lỡ ăn trong một
thời gian dài sẽ có hại cho sức khỏe thì sao? Các bác chớ vội ghen tị với lão
Hans. Tôi chưa rõ một tháng nữa món “bột” ấy sẽ thế nào. Có thể nó sẽ hóa chua
và không ăn được nữa. Bởi vậy các bác hãy chịu khó chờ ít lâu. Các bác trước
đây sống không có thứ “bột” đó, thì nay có thể gắng đợi vài tháng nữa. Tôi hứa
sẽ cung cấp cho làng các bác trước tiên, nhưng với điều kiện là nhất thiết phải
giữ bí mật, không được nói hở cho các làng chài bên cạnh biết. Nếu tôi thấy rằng
dù chỉ thêm một người nữa biết chuyện “bột mì vĩnh cửu”, thì tôi sẽ thủ tiêu
món “bột” ở nhà lão Hans và bỏ đi nơi khác ngay. Đó là lời nói cuối cùng của
tôi.
- Thưa giáo sư, - Ông
giáo nói - nhưng mà...
- Không “nhưng mà” gì hết?
- Broie cắt lời.
- Thưa, tôi muốn nói chuyện
khác kia. Tôi muốn biết vì sao món “bột” ấy lại tự nở ra được ạ. Tôi là giáo
viên nên có lẽ cũng hiểu được.
- Như ông thấy đấy, tôi
là giáo sư Trường đại học tổng hợp Berlin mà cũng phải mất bốn mươi năm lao động
mới “hiểu” được nó. Biết giải thích với ông thế nào bây giờ? Nếu ông chặt con
giun đất ra làm đôi thì hai nửa sẽ mọc ra thành hai con giun mới. Rõ chưa nào?
Với món “bột” kia đại khái cũng vậy. Thôi, tôi phải làm việc. Xin chào. Hãy nhớ
điều kiện của tôi đấy. Hoặc là chịu khó im lặng và chịu đựng vài tháng rồi ai
cũng sẽ có “bột”, hoặc là sẽ chẳng được gì.
Rồi giáo sư gật đầu bỏ
vào nhà.
Mấy đại biểu thất vọng giậm
chân tại chỗ.
- Thật ngắn và rõ -
Ludwig thất vọng thốt lên - Thay cho món “bột”, các vị phải chặt giun đất ra
làm đôi. Đem rán một nửa mà chén, còn nửa kia để cho nó tự lớn lên...
- Đấy là nói ví dụ thế
thôi. - Ông giáo phản đối.
- Ví dụ mà làm cho người
ta no được à? Thí nghiệm với chó và lão Hans thì được. Thế còn chúng ta, chúng
ta không đáng để thí nghiệm hay sao? Không được, tôi chẳng để yên chuyện này
đâu.
Mấy đại biểu chán nản ra
về báo tin buồn bị giáo sư từ chối cho dân làng biết.
Chương 3
Lão Hans trở thành “lái
buôn bột”
Cả làng vẫn cứ xôn xao.
Ai cũng nghĩ thật chẳng công bằng tí nào khi chỉ một mình lão Hans có món “bột
mì vĩnh cửu”. Những người đánh cá họp nhau lại và quyết định tuyên bố “bột” là
tài sản chung, cần trung dụng để chia đều cho cả làng. Song Sunster (thượng
quan thấy quyết định đó là bất hợp pháp nên cự tuyệt việc thi hành nó. Ludwig
và Fris phản đối ra mặt. Hai người thậm chí dám cả gan nói rằng chawgnr cần đếm
xỉa đến páp luật, bởi vì khi làm luật, người ta đã biết “bột mì vĩnh cửu” là gì
đâu. Tuy nhiên phần lớn mọi người sợ trở thành những kẻ phạm pháp, sợ chuốc vạ
vào thân một khi chính quyền trung ương biết được kiểu làm ăn hết sức phi pháp
này. Trong một buổi tụ tập như thế, có người đến báo tin rằng kẻ trộm đã hai lần
đến đánh cắp một phần “bột” ở nhà lão Hans. Bọn trộm này xem ra cũng có đôi
chút lương tâm, vì chúng chỉ lấy mỗi lần ba chục gam thôi.
- Bọn chúng thế mà khôn,
- Fris nói - tớ thậm chí chẳng coi việc đó là trộm cắp. “Bột” ấy không thể chỉ
thuộc về một người. Tớ đã khẳng định như thế từ lâu rồi mà.
Sau khi Ludwig biết chuyện
“bột” mất cắp, hắn cương quyết định thó cho kỳ được một cục “bột” diệu kì ở chỗ
lão Hans.
Một đêm tối trời, hắn thủ
chiếc thừng vào người rồi đi đến chỗ cây đèn biển. Hắn ném được một đầu thừng
có buộc móc câu vào một khe tường rồi bằng hai tay kẻo thừng leo lên đến tận buồng
có để “bột”. Lúc hắn thò tay mò mẫm sờ chiếc giá để xuống “bột”, bỗng có con vật
gì không biết gào lên một tiếng kinh rợn rồi lao thẳng vào người hắn mà cào vào
mặt vào tay. Ludwig hoảng quá rú lên, lùi lại nên trượt chân ngã lăn xuống cầu
thang. Thấy động lão Hans mới cầm đèn ra soi xem sao.
Chú làm gì ở đây thế,
Ludwig? - Lão hỏi.
- Tôi... Tôi định tóm lấy
cái thằng kẻ trộm vừa đánh cắp “bột” của lão. Nhưng hình như nó là quỷ sứ thì
phải. Nó lấy móng vuốt cào toạc cả mặt tôi ra đây này.
Ludwig được cái không tin
là có ma quỷ nên hắn đề nghị lão Hans đem đèn lên gác trên xem sự thể ra sao.
Khi hai người lên đến nơi thì thấy một con mèo đen to tướng đang gầm gừ với họ.
- Kẻ trộm đây ư? - Ludwig
kinh ngạc. - Chẳng lẽ lũ mèo cũng khoái món “bột” này à? - Và gã đau đớn nghĩ bụng:
“Lũ mèo thì chắc chả phải tính đến thứ luật pháp ngu ngốc làm gì”. Nhưng vì
suýt nữa thì bị bắt quả tang phạm tội nên từ đó gã không dám đánh cắp “bột” nữa.
Vả lại, câu chuyện chẳng mấy chốc đã xoay sang hướng khác.
Lão Hans có món “bột”
không bị đói khát. Nhưng đôi ủng của lão đã tã, bộ quần áo rách như tổ đỉa che
sao kín cái thân hình đang ngày một đẫy ra; lão chẳng có củi đóm gì nên đành co
ro chịu rét trong lòng cây đèn biển đổ nát. Tóm lại, lão vẫn là một kẻ nghèo
hèn, tuy rằng có no bụng.
Bọn nhà giàu trong làng lợi
dụng ngay cảnh đó. Họ bắt đầu tranh nhau quyến rũ lão đổi “bột” cho họ để lấy ủng
mới, củi và áo lông ấm. Lão Hans khá lâu vẫn khăng khăng không chịu nghe lời phỉnh.
Song đến giữa tháng chạp thì những cơn bão tuyết giá lạnh tràn về, lão không chịu
đựng được nữa liền đem “bột” đi bán. Bản thân lão cũng đã ăn đẫy bụng rồi, vả lại
cơ thể già nua cũng chẳng đòi hỏi gì nhiều lắm. Mỗi ngày lão Hans không ăn hết
một nửa hộp “bột” nên vẫn còn thừa chút ít. Lão bèn đem số “bột” ấy ra thị trường,
mỗi ngày bán cho nhà nào đó một ít. Dần dần muốn mua “bột” của lão, người ta phải
chờ chán mới tới lượt mình. Càng ngày việc buôn bán ấy càng làm cho lão Hans
ham làm giàu. Lão cứ nâng giá lên cao dần, cò kè mặc cả như một tên cho vay nặng
lãi thực thụ. Người ta nguyền rủa lão, nhưng vẫn mua của lão. Thế mới khỏi thua
chị kém em.
Lão Hans đã say sưa làm
giàu thật sự. Lão thậm chí giảm bớt cả khẩu phần ăn hàng ngày của mình để mở rộng
việc buôn bán nên có phần gầy sút đi. Nhưng bù vào đó trong nhà lão đã có những
chiếc hòm mới đầy quần áo rét quý giá, lò sưởi lúc nào cũng đượm than hồng và
chiếc rương nhỏ đựng tiền ngay dưới gầm giường lão cứ ngày một nặng. Chưa đầy
hai tháng sau, lão Hans đã trở thành kẻ giàu có nhất làng.
Người lão trẻ ra vì vận
may bất ngờ. Bây giờ lão mới thấy sợ chết: lỡ cái tháp đèn biển cũ nát sụp xuống
người lão thật sự thì hết đời. Lão bèn tậu một ngôi nhà mới tinh, dọn đến ở đó
và thuê một người hầu gái để giặt giũ quần áo lo toan nội trợ và pha cà-phê cho
lão uống như “một trưởng giả thực thụ”, bắt chước vị mục sư ở làng bên sáng nào
cũng dùng cà-phê kem sữa. Lão Hans còn đặt mua từ ngoài thành phố một chiếc
ra-đi-ô kèm theo loa mắc trong phòng, rồi suốt ngày lão chỉ ngồi chễm chệ trong
chiếc ghế bành phè phỡn phả khói thuốc mà nghe mọi tin tức xảy ra trên đời. Lão
chẳng hề thấy lương tâm cắn rứt tí nào. Thỉnh thoảng có nhớ đến giáo sư Broie
thì lão lại nghĩ: “Ta có làm điều gì xấu đâu? Giáo sư nuôi ta ăn, nhưng không
cho ta mặc. Vả lại cũng nên nghĩ đến dân làng nữa chứ. Đúng là để một người nắm
giữ thứ ‘bột’ đó thì chả công bằng”.
Dân làng cũng lấy làm mãn
nguyện. Quả “bột” có hơi ít, người ta phải ăn thêm bánh mì và cá mới đủ. Nhưng
món “bột” ấy đúng là chỗ dựa quan trọng về kinh tế.
Chỉ mấy nhà quá nghèo là
không đủ tiền mua “bột” mà thôi. Được nghe nói mãi là “bột mì vĩnh cửu” phải trở
thành tài sản chung của cả làng, một bác cố nông định biến điều đó thành thực tế
mới thò tay vào chiếc hộp đựng “bột” mà người ta vô tình đặt ở một chỗ sơ hở.
Không may bác bị bắt quả tang, bị chủ là một gã đánh cá giàu có nện cho một trận
nhừ tử và đưa ra tòa về tội ăn cắp. Bác rất ngạc nhiên khi thấy tất cả những
người đã mua thứ “bột” đó đều tỏ vẻ căm giận hành động của bác. Bác cố thanh
minh bằng cách nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng chính họ đã bảo bác “bột” là tài
sản chung của cả làng. Nhưng bác chẳng thuyết phục được một ai.
- Bao giờ “bột” được phát
không, - Người ta đốp vào mặt bác - thì nó sẽ là tài sản chung. Tại sao anh muốn
xơi không cái thứ “bột” mà chúng tôi đã bỏ tiền ra mới mua được? Người ta phải
chài lưới vất vả đầy nguy hiểm mới kiếm ra tiền mua “bột”. Anh đã đánh cắp công
sức lao động của chúng tôi, chứ chẳng phải chỉ lấy trộm “bột” thôi đâu.
Và tên trộm đã bị pháp luật
nghiêm trị thẳng tay. Cần nói thêm rằng, trong bản án, các vị quan tòa ở làng
chài không nói rõ bác cố nông đã lấy trộm thứ “bột” gì. Đám dân chài vẫn cố giữ
bí mật về món “bột mì vĩnh cửu” trong phạm vi làng mình. Họ muốn sống sung túc
hơn dân chài các làng lân cận. Thêm nữa, họ hy vọng rằng chẳng bao lâu nữa giáo
sư Broie sẽ phát “bột” thỏa thích cho họ. Họ giấu không để giáo sư biết chuyện
mua “bột” ở nhà lão Hans. Song chẳng mấy chốc giáo sư đã rõ mọi chuyện. Và cũng
không phải riêng mình giáo sư.
Một hôm, Broie đang ngồi
trong phòng thí nghiệm của mình thì được người đầy tớ báo cho biết là có một
người trẻ tuổi “ăn mặc lịch sự theo kiểu thành thị” đến xin gặp ông. Giáo sư
cau mặt. Ông vốn không thích bị quấy rầy khi làm việc. Thế mà bây giờ lại có
người khách lạ mặc bộ com-lê hợp mốt nữa.
- Ra bảo tôi đi vắng. -
Giáo sư bảo anh đầy tớ Carlo.
- Con đã nói thế. Nhưng
anh ta đáp rằng sẽ đợi cho đến khi giáo sư về.
- Thế thì bảo anh ta rằng
hôm nay tôi không về. - Giáo sư nổi cáu nói, rồi mải miết làm việc.
Sáng hôm sau, Carlo vào
báo rằng người khách lạ hôm qua lại đến và xin được tiếp. Rồi Carlo chìa ra một
tấm danh thiếp.
Thấy không thể tránh mặt
được người khách hay ám, giáo sư đành thở dài đi ra phòng khách. Một người trẻ
tuổi, mày râu nhẵn nhụi, ăn mặc cực kỳ sang trọng, với chiếc kính tròn to tướng
trên sống mũi, đứng dậy chào Broie.
- Thưa giáo sư kính mến,
- Người khách vội nói - thứ lỗi vì đã quấy rầy sự yên tĩnh của ngài...
- Tôi rất bận nên chỉ có
thể dành cho ông năm phút là cùng. - giáo sư đáp một cách lạnh nhạt.
- Tôi sẽ không phiền ngài
lâu. Tôi là phóng viên một tờ báo ở Berlin... - Người trẻ tuổi nói tên một tờ
báo lớn. Giáo sư hừ một tiếng khó chịu khi biết đang tiếp xúc với một ký giả. -
Tòa soạn giao cho tôi phải trao đổi về phát minh hết sức vĩ đại của ngài...
- Phát minh nào? - Broie
cảnh giác hỏi.
- Tất nhiên là phát minh
“bột mì vĩnh cửu”. Vì nó sẽ mở ra những triển vọng vô cùng to lớn...
- Thế nào, cả anh cũng biết
chuyện “bột mì vĩnh cửu” rồi ư? - Giáo sư đỏ mặt tía tai nói lớn - Làm sao anh
biết? Tất cả chỉ là chuyện ngồi lê đôi mách nhảm nhí hết. Tôi chẳng phát minh
ra thứ “bột mì vĩnh cửu” nào cả.
Người trẻ tuổi nghe lời
nói nóng nảy ấy với một nụ cười bình thản khiến giáo sư càng thêm bực bội.
- Thưa giáo sư kính mến,
- Phóng viên nói - có lẽ chúng tôi cũng chẳng hay biết gì về bí mật công trình
sáng tạo của giáo sư, nếu không có một trường hợp tình cờ đã giúp chúng tôi.
Chuyện ấy xảy ra bấu chấp chúng tôi thôi.
- Trường hợp gì vậy? -
Giáo sư hỏi và cảm thấy bí mật của ông quả đã bị tiết lộ.
- Ngài cho lão Hans, một
lão già làm nghề đánh cá một phần “bột mì vĩnh cửu” để thí nghiệm. Lão Hans bắt
đầu bán thứ “bột” ấy cho dân làng ăn...
- Không thể có chuyện đó!
- Giáo sư quát lên.
- Than ôi, đó là sự thật.
Lão ta đã phụ lòng tin cậy của ngài. Vợ một người đánh cá đã không chịu nổi, gửi
một cục “bột” ấy biếu bà mẹ nghèo đau ốm ở làng bên. Cô con gái thứ hai đang ở
với bà cụ ấy viết thư kể cho cậu em mình làm việc ở Berlin biết thứ “bột” thần
diệu đó. Người em trai ấy - tình cờ may mắn làm sao! - lại làm nghề chạy giấy ở
tòa soạn chúng tôi.
- Thật là sự tình cờ bất
hạnh cho tôi? - Giáo sư khẽ thốt lên.
- Bởi vậy tờ báo chúng
tôi là tờ báo đầu tiên biết đến phát minh sẽ làm đảo lộn thế giới ấy. Tin đó
làm cho mọi người sửng sốt đến mức thú thực rằng chẳng ai tin lời anh chạy giấy
cả. Tòa soạn mới cử tôi đến kiểm tra tại chỗ xem sao.
Mọi lý lẽ phủ nhận lúc
này đều vô ích. Giáo sư gục đầu xuống.
- Anh nói tiếp đi.
- Đến nơi tôi được biết -
tuy thực tình có phải ranh ma đôi chút - rằng sự việc đúng như lời người chạy
giấy kể. “Bột mì vĩnh cửu” quả đang tồn tại.
Broie lật đật chạy tới nắm
chặt tay phóng viên:
- Anh nghe đây, - Giáo sư
hổn hển nói - tôi tha thiết mong ông đừng viết gì cho các báo cả. Thí nghiệm
chưa hoàn tất nên không thể công bố ngay được... Điều đó có thể gây ra những
tai họa khó lường. Tôi hứa, tôi xin hứa rằng anh sẽ là người đầu tiên được biết
phát minh của tôi, một khi tôi thấy có thể công bố nó ra. Tôi sẽ tự tay viết
thư cho anh biết.
Người trẻ tuổi mỉm cười
thông cảm nhưng lắc đầu từ chối:
- Tiếc rằng không thể như
vậy được, thưa giáo sư kính mến. Chúng tôi đã cho đăng một bài. Làm sao chúng
tôi có thể chờ đợi được. Các báo khác sẽ nẫng tay trên cái tin tức chấn động
hoàn cầu ấy mất!
- Các anh thì chỉ nghĩ đến
chuyện gây chấn động - Broie đau đớn nói - Anh chỉ việc viết một bài báo khác
nói rằng, qua kiểm tra tại chỗ, đó chỉ là những tin đồn vô lý mà thôi.
- Bây giờ thì muộn rồi.
Nhiều phóng viên khác sẽ đổ về đây. Thôi được, để tôi bàn với ông chủ bút và sẽ
làm tất cả những gì có thể làm được. Nhưng phải có đi có lại. Xin ngài cho tôi
biết vắn tắt vài điều về thực chất phát minh của ngài cũng được. Không phải để
đăng ngay lên mặt báo, mà đề phòng trường hợp không ỉm được chuyện này. Để ít
nhất thì tòa soạn chúng tôi cũng đăng được đôi điều cụ thể đầu tiên về phát
minh của ngài chứ.
Broie xúc động đi đi lại
lại trong phòng. Để lấy lòng viên ký giả, ông quyết định thỏa mãn yêu cầu của
anh ta. Và ông bắt đầu nói, y như trước đám đông cử tọa, giọng ông bất giác phấn
chấn hẳn lên. Còn người phóng viên thì vội giở sổ tay và lấy bút ghi tốc ký những
lời giáo sư đang nói.
- Chắc anh cũng biết rằng
nhiều nhà bác học từ lâu đã nghĩ đến việc sáng chế ra thứ “bánh mì nhân tạo”
trong phòng thí nghiệm. Nhưng tất cả các nhà khoa học đó đều đi theo một con đường
sai lầm khi nghĩ rằng chỉ có thể giải quyết được vấn đề ấy bằng sức mạnh của
riêng môn hóa học thôi.
Hóa học là một khoa học
vĩ đại và có sức mạnh phi thường, nhưng mỗi khoa học đều có giới hạn của nó. Chẳng
hạn, ví thử các nhà hóa học có chế được protein theo lối hóa học, - mà sớm hay
muộn tất nhiên người ta cũng sẽ thành công - thì vấn đề thức ăn vẫn chưa giải
quyết được đâu. Vấn đề số một là ý nghĩa thực tiễn. Các nhà bác học đã chế được
vàng bằng phương pháp hóa học, thực hiện ước mơ của các nhà luyện đan ngày xưa
muốn biến kim loại thường thành kim loại quý Nhưng giá thành một gam vàng chế
trong phòng thí nghiệm đắt bằng mấy giá thị trường so với một gam vàng tự
nhiên. Về mặt khoa học thì đó là một phát minh vĩ đại, nhưng về mặt thực tiễn,
chỉ là con số không. Vấn đề thứ hai là thức ăn của chúng ta, ngoài protein ra,
còn phải có gluxit và lipid nữa. Về phương diện hóa học, chế ra mọi thứ cần thiết
để nuôi sống cơ thể là vấn đề có thể giải quyết được nhưng cực kỳ khó khăn với
trình độ hiểu biết hiện nay của chúng ta. Và thế là tôi đã nhờ đến sự giúp đỡ của
khoa sinh học. Cơ thể sống cũng giống như một phòng thí nghiệm, nơi diễn ra những
quá trình hóa học kỳ lạ nhất, nhưng đó là phòng thí nghiệm không cần sự tham
gia của bàn tay con người. Mấy chục năm trước, tôi đã nghiên cứu việc cấy các
sinh vật nguyên sinh, mong nuôi lớn một loại “giống” có đủ các chất cần thiết để
sống. Tôi đã thành công việc đó đúng hai mươi năm về trước.
- Hai mươi năm? Và ngài
im lặng hoàn toàn ư? - Phóng viên kinh ngạc thốt lên.
- Vâng, tôi im lặng vì
cái đó mới giải quyết được một mặt của vấn đề. Các sinh vật nguyên sinh ấy của
tôi là một món ăn tuyệt diệu. Thuộc loại đơn bào, chúng sinh sản theo kiểu phân
chia tế bào, và về mặt này cũng là “bột mì vĩnh cửu”. Nhưng muốn bảo đảm sự sống
“vĩnh cửu” cho chúng, phải hết sức săn sóc và nuôi dưỡng đặc biệt. Điều đó tốn
kém bằng mấy chuyện nuôi lợn chẳng hạn. Tóm lại vàng điều chế trong phòng thí
nghiệm của tôi đắt hơn vàng thường. Và hai chục năm qua tôi dành hoàn toàn cho
việc tìm kiếm cách nuôi cấy sinh vật nguyên sinh không cần phải tốn kém gì hết.
- Thế ngài đã tìm ra
chưa?
- Tìm ra rồi. Nhưng tôi
nhắc lại rằng thí nghiệm chưa hoàn tất. Vì vậy, tôi khẩn khoản yêu cầu hoãn việc
công bố lại ít lâu nữa. Tôi đã tìm ra và nuôi dưỡng bằng cách nhân tạo một “loại”
đơn bào nguyên sinh có thể hấp thụ mọi chất cần thiết ngay trong không khí để tự
sống.
- Ngay trong không khí! -
Người trẻ tuổi không kìm được sự thán phục, lại thốt lên - Nhưng không khí thì
cho ta được thức ăn gì? Nó chỉ có khí ni-tơ và ô-xy thôi mà...
- Cả argong lẫn hidro, -
Giáo sư nói tiếp - cả neon lẫn kryton, cả helium lẫn xenon nữa chứ. Nhưng ngoài
các nguyên tố cố định ấy ra, trong khí quyển còn có một lượng nhất định hơi nước,
khí carbonic, axit nitric, ozon, clo, amoniac, brom, hidro peroxit, iot, hidro
sunfua, clorua natri, các nguyên tố xạ khí như radi, thori và actini, rồi lại
thêm bụi vô cơ và phải nhớ vững vàng trong khí quyển có bụi hữu cơ tức là vi
khuẩn. Đó chính là “thịt” rồi. Có đúng không khí là món ăn ngon lành không nào.
Người phóng viên bỏ cả viết,
ngạc nhiên nhìn giáo sư. Anh ta chưa bao giờ nghĩ rằng cái thứ không khí “trống
rỗng” lại có thành phần phức tạp đến thế.
- Đúng là trong cái kho
không khí quanh ta, không phải thứ gì cũng ăn sống được. Nhưng các sinh vật
nguyên sinh của tôi sẽ hấp thụ những gì cần lấy, chế biến chúng trong cơ thể
mình rồi cung cấp cho ta một món ăn tuyệt diệu.
Có lẽ giáo sư sẽ còn say
sưa nói mãi nếu như chính người phóng viên không ngắt lời ông. Anh ta không nén
được nữa, đứng vụt dậy, cất sổ tay vào túi và vừa vò đầu vừa chạy lung tung
trong phòng.
- Kỳ lạ quá, thật không
sao hiểu nổi? Đây là một kỷ nguyên mới trong lịch sử loài người. Không còn đói
khát, nghèo khổ, hết cả chiến tranh, hằn thù giai cấp...
- Mong sao được như vậy -
Giáo sư nói - Nhưng tôi chẳng hy vọng thế đâu. Người ta bao giờ cũng tìm ra được
lý do để cãi lộn nhau. Ngoài bánh mì ra, người ta còn cần có quần áo để mặc,
nhà cửa để ở, ô-tô để đi, rồi nghệ thuật, rồi danh vọng nữa chứ.
- Nhưng phát minh của
ngài vẫn vĩ đại lắm! Thế ngài định sử dụng nó ra sao?
- Tất nhiên tôi sẽ không
đem ra buôn bán đầu cơ như lão Hans. “Bột mì vĩnh cửu” phải trở thành tài sản
chung của mọi người.
- Ồ tất nhiên! Ngài không
chỉ là một nhà bác học. Ngài là một con người tuyệt diệu. Ngài... Ngài là ân
nhân của loài người! Xin phép được bắt tay ngài.
Và người trẻ tuổi xiết chặt
tay giáo sư Broie.
- Xin anh nhớ cho lời hứa
của mình. - Giáo sư nói lúc chia tay.
- Ồ, tất nhiên rồi! Tôi sẽ
làm tất cả những gì có thể và không thể được.
Rồi anh ta chạy vút ra khỏi
phòng.
“Ôi biết bao triển vọng!
- Anh ta nghĩ bụng khi vội vã ra bến tàu. - Và... có thể viết thành bao nhiêu
dòng, bao nhiêu bài báo, kiếm được bao nhiêu tiền nhuận bút...”.
Còn giáo sư Broie lúc ấy
ngồi trong phòng làm việc giữa vô số bình lọ thí nghiệm và nghĩ đến bao chuyện
khó chịu đang đợi ông ở phía trước.
Chương 4
Những ông “vua” xoay xở
Phòng đọc của Câu lạc bộ
thương gia thật là yên tĩnh. Không một tiếng động nào ngoài đường phố có thể lọt
vào căn phòng rộng lớn trải đầy thảm lông dày này. Ánh sáng đùng đục tỏa xuống
những chiếc bàn tròn ngổn ngang sách báo và tạp chí, làm ánh lên những gáy sách
mạ vàng xếp ngay ngắn trong các tủ sách đồ sộ, lấp lánh trên mắt kính các vị
khách bệ vệ đang ngả mình thoải mái trong những chiếc ghế bành đệm. Chỉ có tiếng
giở báo sột soạt, tiếng chuông đồng hồ ngân nga và những câu nói ngắn gọn mà thỉnh
thoảng khách khứa trao đổi với nhau là khuấy động bầu không khí êm ả nơi đây mà
thôi. Phòng đọc sách của thư viện - “địa điểm yên tĩnh nhất ở Berlin” - là nơi
giới thượng lưu lắm tiền nhiều của thích lui tới. Họ kéo nhau đến đây nghỉ ngơi
giải trí với “cánh hẩu” của mình sau cảnh ngược xuôi tất tả của một ngày cạnh
tranh ráo riết. Phải có số vốn ít nhất một triệu mới có thể vào câu lạc bộ này.
Rodenstock, một lão đứng
tuổi béo phị với hai con mắt húp híp ngái ngủ và những cử chỉ uể oải chủ một
nhà máy lớn sản xuất máy móc nông nghiệp - quẳng tờ báo sang một bên, phì một
hơi xì gà và hỏi người ngồi cạnh. Đólà Krisman, chủ nhà băng, một gã bé nhỏ, mặt
gầy choắt.
- Ngài đọc bài này
chưa?... “Một kỷ nguyên mới trong lịch sử loài người. Một phát minh vĩ đại nhất.
Hết cảnh đói khát”.
Krisman lặng lẽ chộp lấy
tờ báo nhanh như một con mèo bắt chuột và lướt nhanh cả bài. Đặt chiếc kính cặp
mũi bằng vàng sang một bên, tay chủ nhà băng nhìn Rodenstock vẻ nghi ngờ:
- Tôi không hiểu lắm. Đó
là chuyện đùa tếu hay lại một tin vịt, thưa ngài?
- Tôi sợ rằng đây là một
trái bom. Một trái bom có sức tàn phá kinh khủng đủ khả năng xé xác tất cả
chúng ta.
- Nhưng chẳng lẽ có thể
thế được ư? “Bột mì vĩnh cửu” chỉ là mơ ước hão mà thôi.
- Hừ, sau máy bay, tia
roentgen, radio và nhiều chuyện khác, đã đến lúc chúng ta phải quen với những
mơ tưởng hão rồi đấy. Bọn bác học chúng nó có thể làm đủ mọi chuyện. Tôi đã hỏi
rồi. Tiếc thay, lại thêm một mơ tưởng hão nữa trở thành sự thật: “bột mì vĩnh cửu”
quả là đang tồn tại...
Cũng bằng động tác của một
con mèo bắt chuột, Krisman chộp lấy kính đưa lên mũi và hậm hực nói to, phá tan
cảnh im lặng ở một nơi thiêng liêng.
- Thế thì đó sẽ là một cuộc
đảo lộn thật sự! Nền kinh tế của chúng ta rồi sẽ ra sao? Bọn thợ có món “bột mì
vĩnh cửu” sẽ bỏ việc...
- Chúng sẽ chẳng bỏ việc
đâu. - Rodenstock ngắt lời ông bạn một cách thô lỗ. Là chủ một hãng buôn lâu đời,
“từ trước thế chiến”, Rodenstock trong thâm tâm vẫn khinh bỉ kẻ đang tiếp chuyện
mình vì tên này chỉ vừa mới nổi lên nhờ việc đầu cơ ngoại tệ.
- Bọn thợ sẽ chẳng bỏ việc
đâu - Rodenstock nói tiếp - Ngoài bánh mì ra, chúng còn phải cần quần áo để mặc,
giày dép để đi nữa chứ. Giá bột mì sẽ tụt xuống, giá hàng công nghiệp sẽ vọt
lên. Sự thiếu thốn sẽ buộc chúng phải làm việc. Nhưng những biến động khủng khiếp
sẽ có thể xảy ra. Mọi thứ giá cả sẽ thay đổi hết. Nông nghiệp sẽ bị thủ tiêu.
Nông dân sẽ chẳng còn gì để bán cho thành phố, sức mua của họ sẽ cạn sạch.
Chúng ta sẽ mất thị trường nông thôn rộng lớn. Điều đó sẽ dẫn tới những cơn khủng
hoảng sản xuất hết sức nghiêm trọng, tới cảnh thất nghiệp và làm cho thợ thuyền
nổi dậy. Hàng loạt ngành sản xuất phục vụ nông nghiệp sẽ buộc phải ngừng hoạt động
hoàn toàn. Còn ai cần đến máy cày, máy gieo hạt, máy tuốt lúa nữa? Những chấn động
kinh tế sẽ gây ra những xáo động xã hội và cách mạng. Và có lẽ toàn bộ nền văn
minh của chúng ta sẽ đi đời trong cái thảm họa ấy... Đấy, “bột mì vĩnh cửu” là
như thế đấy!
Rodenstock vẽ ra tất cả
những cảnh khủng khiếp đó bằng giọng nói uể oải, thản nhiên thường có của lão,
khiến Krisman chẳng còn hiểu đầu đuôi ra sao nữa: có lẽ Rodenstock chỉ đùa cợt
thôi chăng?..
Ngồi nghe lời tiên đoán của
lão thương gia lõi đời, Krisman lúc thì rụt vai ngả đầu ra đằng sau, lúc lại
vươn chiếc cổ ngẳng cúi đầu về phía trước.
- Ngài bảo phải làm thế
nào bây giờ? - Gã hỏi.
- Thủ tiêu toàn bộ “bột”,
không sót một lạng. - Rodenstock đáp. Rồi lão hạ giọng nói thêm - Và nếu cần
thì thủ tiêu luôn cả kẻ đã chế ra món “bột” đó.
Bây giờ thì Krisman hiểu
rằng Rodenstock không đùa bỡn. Lão thương gia dày dạn chắc đã suy tính mọi chuyện
và đi đến một quyết định nào đó rồi. Vì thế lão mới nói đến những chuyện đáng sợ
một cách thản nhiên như thế chứ. Krisman thấy yên tâm cả người.
- Thế có thể... thủ tiêu
được à?..
- Đó là điều cần phải
làm. Và việc ấy sẽ giải quyết xong xuôi vấn đề. Phá hoại bao giờ cũng dễ hơn
xây dựng.
- Nhưng làm thế nào kia
chứ? Trong báo chả nói rằng cả một làng chài đang sống bằng thứ “bột mì vĩnh cửu”
đấy sao. Chúng ta không thể tiêu diệt cả một làng được đâu.
- Làm quái gì mà phải hoảng
lên thế. Chúng ta chỉ mua vét hết số “bột” đó của bọn đánh cá. Chúng nó chẳng
thấy hết giá trị của thứ “bột” ấy đâu. Đã bao giờ trong đời chúng được thấy tờ
ngân phiếu một trăm mác [1] đâu. Nếu ta trả chúng một ngàn mác, chúng sẽ nghĩ
ngay rằng số tiền ấy đủ bảo đảm cuộc sống suốt đời cho chúng.
- Thế còn nhà sáng chế,
cái lão giáo sư Broie ấy?
Rodenstock im lặng một
lát rồi nói qua kẽ răng:
- Thằng cha ấy, ta sẽ có
cách giải quyết khác.
Lão nhìn đồng hồ và nói
tiếp:
- Các thám tử của ta đang
hành động. Tôi đã cử người đến làng chài ấy mua vét “bột”. Và chín giờ tối nay,
Maiev phải đến báo tin về công việc tiến hành ra sao. Nhưng không hiểu vì lý do
gì hắn đến muộn thế này.
Cả hai im lặng.
Rodenstock gục đầu xuống ngực và hình như đã thiu thiu ngủ. Krisman loay hoay
trên ghế, miệng lẩm bẩm. Mắt gã chăm chú nhìn vào một vật gì đó, lông mày nhíu
lại: gã đang suy nghĩ rất lung.
Chiếc đồng hồ lớn trên tường
phát ra tiếng nhạc và điểm mười tiếng chuông.
Rodenstock choàng dậy.
Lão châm điếu xì gà bị tắt từ lúc nãy. Đúng phút ấy, một người trẻ tuổi mặc thường
phục nhưng có dáng điệu quân nhân bước vào phòng. Đó là Maiev, thư ký của
Rodenstock.
Rodenstock lặng lẽ chỉ
cho hắn chiếc ghế trống bên cạnh rồi lim dim mắt bảo:
- Nói đi.
Maiev rõ ràng mệt mỏi vì
đi đường. Hắn gieo mình thoải mái xuống chiếc ghế mềm, ngả lưng ra sau, nhưng lại
vội vàng ngồi thẳng người lên để báo cáo:
- Chúng tôi không dám
khoe khoang thắng lợi đâu, thưa ngài Rodenstock. Mặc dù chúng tôi đã ra sức
thuyết phục, bọn đánh cá vẫn cương quyết chối từ không chịu bán cái thứ “bột”
mà chúng gọi là “bột mì vĩnh cửu” cho chúng tôi. Thậm chí chúng chẳng buồn bắt
chuyện với chúng tôi nữa. Mãi đến lúc chúng tôi đề nghị trả cho mỗi đứa ba ngàn
mác, chúng mới bắt đầu dao động.
- Lũ súc vật! -
Rodenstock cằn nhằn.
- Nhưng chúng vẫn chưa bằng
lòng. Đành phải nâng giá lên năm ngàn mác...
- Bọn kẻ cướp?...
- Lúc ấy có hai đứa gây
khó dễ là thằng Fris và thằng Ludwig, theo cách gọi của dân làng. Tôi chưa biết
hai đứa này họ gì.
- Hừ, thế rồi chúng cũng
đồng ý phải không?
- Vâng, với bọn còn lại,
việc mua bán trôi chảy hơn. Chúng tôi đã mua được “bột” của hơn một nửa số nhà
trong làng và hy vọng rằng đến tối sẽ hoàn thành công việc, thì chúng tôi phát
hiện ra một việc buộc tôi phải ngừng việc mua “bột” lại cho đến khi có lệnh mới
của ngài.
Rodenstock rướn mí mắt
lên và hỏi bằng giọng ngái ngủ:
- Toàn bộ chiến dịch này
chỉ có ý nghĩa khi chúng ta mua vét hết số “bột mì vĩnh cửu” ấy đến gam bột cuối
cùng. Nhưng té ra là Fris và Ludwig đã giấu lại một ít “bột” để nó “tự nở ra”
theo lối nói của chúng.
- Quân lừa đảo!
- Thưa ngài, hai thằng mới
đem chuyện đó to nhỏ với mọi người trong làng, khuếch khoác rằng chúng đã xỏ
mũi được người mua. Tất nhiên những người đánh cá nào đã bán sạch “bột” sẽ lấy
làm bực bội vì đã không xử sự như hai thằng cha Fris và Ludwig. Thế là họ tức
giận tố cáo hai thằng kia. Điều bất hạnh là ở chỗ: chúng ta không biết đích xác
số lượng “bột” họ có là bao nhiêu, do đó không có gì bảo đảm là chúng ta sẽ có
thể vét hết toàn bộ “bột”, nhất là sau khi hai thằng cha Fris và Ludwig cho ta
một bài học. Vì vậy, tôi cho ngừng việc mua “bột mì vĩnh cửu”. Cũng chính bởi
thế nên tôi chưa tiến hành nhiệm vụ thứ hai liên quan tới giáo sư Broie.
Nét mặt Rodenstock vẫn
còn ngái ngủ, nhưng đôi lông mày của lão đã nhíu lại làm hằn lên những nếp nhăn
trên trán. Maiev đã biết sự thay đổi ấy có ý nghĩa gì nên càng ngồi ngay người
lại hơn.
- Thật đốn mạt. -
Rodenstock nói nhỏ, nhưng qua giọng lão, người ta đã nghe thấy tiếng sấm sét của
một cơn dông ở phía xa.
- Thật đốn mạt! - Bỗng
nhiên lão gầm lên như sấm, khiến mặt mũi đỏ gay.
“Hừ, thì ra mày cũng biết
lo sợ à” - Krisman không khỏi vui mừng độc địa trong bụng. Và bất ngờ gã nhỏm dậy,
giơ một ngón tay trỏ ra và cúi đầu về phía Rodenstock:
- Ngài hãy nghe đây, tôi
có một điều muốn nói.
Hai con mắt Rodenstock hết
vẻ lơ đơ từ lâu, giờ đang bừng bừng lửa giận, nhưng lão vẫn chăm chú nghe
Krisman nói.
- Khủng hoảng, cách mạng,
chiến tranh - tất cả những chuyện y có vẻ khủng khiếp thật đấy - Krisman bắt đầu
trình bày ý đồ của gã - Nhưng cái khủng khiếp với số đông có thể chẳng đáng sợ
chút nào đối với những con người riêng lẻ. Người khôn ngoan phải biết rút ra
cái lợi cho mình trong tất cả mọi chuyện, kể cả chiến tranh.
“Ừ, mi thì còn phải phàn
nàn gì về chiến tranh nữa” - Rodenstock nhìn Krisman nghĩ bụng.
Krisman dường như đoán được
ý nghĩ ấy:
- Như ngài chẳng hạn,
thưa ngài Rodenstock, trong thời kỳ chiến tranh các nhà máy của ngài chẳng đã
đúc cày thành lưỡi kiếm phục vụ việc phòng thủ đấy thôi.
Rodenstock nhăn nhó. Quả
có như vậy thật. Lão cũng không thề phàn nàn gì về chiến tranh.
- Ngài bảo rằng “bột mì
vĩnh cửu” là một trái bom. - Và Krisman lắc đầu nói - Nhưng bom đạn cũng giúp
người ta hốt được khối tiền ra đấy. Khi khủng hoảng và cách mạng đang diễn ra,
với cái món “bột mì vĩnh cửu” này ta vẫn có thể làm ăn ra trò như thường. Để khỏi
dông dài, tôi xin nói thẳng luôn. Làm quái gì phải thủ tiêu “bột mì vĩnh cữu”
kia chứ? Đem nó ra mà kinh doanh có hơn không? Ta chỉ việc bỏ tiền ra mua bằng
phát minh của giáo sư Broie, ta sẽ trả cho hắn những món tiền cực lớn - vì một
sự nghiệp như thế, tôi sẵn sàng không tiếc toàn bộ tiền bạc ở ngân hàng của
tôi. Ta sẽ tổ chức một công ty cổ phần buôn bán và xuất cảng “bột mì vĩnh cửu”.
Ta sẽ thu về bạc tỉ trước khi xảy ra chấn động nọ kia. Lúc ấy thì trái đất này
có bị nạn đại hồng thủy cũng cóc cần. Trước mắt ta là cả thị trường thế giới.
Thực không phải chuyện đùa! Chúng ta hoàn toàn nắm giữ độc quyền. Mơ ước mong mỏi
đấy chứ đâu nữa! Không “bột mì vĩnh cửu” không phải là một trái bom. Bột mì là
bột mì chứ. Nó sẽ nuôi sống ta ra trò đấy.
- Nhưng các nhà máy của
tôi lại sản xuất máy móc nông nghiệp...
- Đằng nào chúng cũng phải
đóng cửa thôi. Đã có “bột mì vĩnh cửu” rồi, thì ngài sẽ không thủ tiêu được nó
đâu. Tôi cho rằng không chỉ riêng thằng Fris hay một hai đứa khác giấu trộm cho
mình một ít “bột mì”, dù chỉ bằng hạt đậu thôi đâu. Hạt đậu một năm sau sẽ lớn
thành một quả núi. Nếu chúng ta chiếm độc quyền, chúng ta sẽ có hàng trăm núi
vàng kia.
- Có lẽ ông tính đúng -
Rodenstock trầm ngâm nói - Này Maiev, anh hãy tới gặp ngay giáo sư Broie. Hãy
trả lão một triệu, hai triệu, bao nhiêu triệu cũng được. Lão đòi mấy cũng đồng
ý, hiểu chưa?
Maiev đứng dậy, cúi đầu
chào rồi quay người, rập gót giày bước ra.
Mấy ngày sau Maiev báo
cáo lại với Rodenstock và Krisman như sau:
- Giáo sư cương quyết cự
tuyệt không bán quyền phát minh của mình cho mục đích buôn bán. Ông ta nói rằng
mơ ước suốt đời của mình là cứu giúp nhân loại khỏi cảnh đói khát, và đã quyết
định phát không “bột mì vĩnh cửu” cho hết thảy mọi người nghèo.
- Đồ mơ ước hão! -
Krisman mỉa mai nói.
- Đồ ngốc thì có. -
Rodenstock ngắt lời.
- Anh có nói rõ số tiền
mà chúng ta đề nghị mua bằng sáng chế của hắn không?
- Tôi có nói ạ.
- Thế hắn bảo sao?
- Lúc tôi nói: “Xin trả một
triệu mác”, ông ta nổi khùng lên. Khi tôi bảo: “Năm triệu vậy”, ông ta... ông
ta tống cổ tôi ra khỏi cửa. Tôi cảm thấy hình như ông ta không tỉnh táo lắm. Thậm
chí ông ta không nhận bằng phát minh nữa.
- Không nhận bằng phát
minh ư? - Krisman hét lên - Thế thì ta chẳng cần lo gì đến hắn nữa. Ta sẽ tự
tuyên bố là đã có bằng, rồi tha hồ buôn bán. Ta sẽ mời một nhà hóa học nào đó lỗi
lạc nhưng lại nghèo kiết xác, giúi cho hắn vài ba ngàn, hắn sẽ cảm ơn ta và làm
phân tích “bột mì” cho ta. Chúng ta có thể thay đổi thành phần “bột” đi đôi
chút, có thể cho thêm tí chất thơm vào là ăn tiền rồi.
Chuyện thật đơn giản!
- Nhưng bọn khác cũng biết
chuyện “bột mì vĩnh cửu” chứ. Không phải mình ngài nghĩ ra những kế hoạch kinh
doanh thiên tài ấy đâu! Rodenstock mỉa mai nói.
Krisman im lặng suy tính.
- Đúng, phải bảo vệ chắc
chắn “kho vàng” của ta trên hòn đảo Fer - Gã nói - Tôi cho rằng khả năng tài
chính và những quen biết của chúng ta có thể bảo đảm làm được việc đó.
- Bọn khác cũng có tiền của
và cũng quen biết chứ. - Rodenstock vẫn chưa chịu thôi.
- Nhưng biết làm sao được?
Đó là điều tất yếu và có tính chất quyết định. Có đúng là ngài cũng thấy như vậy
không nào?
Chẳng còn lối thoát nào
khác. Rodenstock đành phải chấp nhận. Rồi hai người chấm dứt cuộc tranh cãi, bắt
đầu suy tính một kế hoạch hành động.
Chú thích:
[1] Đơn vị tiền tệ của Đức.
- ND.
Chương 5
Kho vàng
Fris, trong bộ com-lê chật
căng mua ở thành phố chẳng hợp tí nào với khổ người to béo vạm vỡ của gã, vừa
ra tỉnh về đang khoe khoang với Ludwig những thứ hàng mới sắm. Căn phòng nhỏ bé
của gã trông giống như một cửa hàng bán đủ thứ linh tinh.
- Đây, cậu ngồi xuống chiếc
ghế này mà xem.
Ludwig ngắm nghía chiếc
ghế bành đệm nhung vừa cao vừa hẹp làm bằng một thứ kim loại bóng nhoáng, rồi
ngồi xuống.
Fris loay hoay làm gì đó ở
phía sau, bỗng chiếc ghế tụt hẫng xuống. Ludwig hốt hoảng túm lấy hai tay dựa,
hai chân chỏng lên trời. Fris và vợ con gã phá lên cười.
- Ngộ nghĩnh chưa! Cái ghế
này tuy đắt nhưng thú lắm.
Thì ra đó là chiếc ghế của
hiệu chữa răng.
Ludwig bò ra khỏi ghế và
tiếp tục ngắm nghía:
- Thế còn cái gì đây?
Bóng bi-a à? Cậu mua làm gì.
- Để cho cháu nó chơi
thay bóng cao su. Cậu xem, chúng nhẵn bóng, đến tớ cũng mê nữa là. Còn cái kèn
đồng này, cậu xem xem.
Fris chìa chiếc kèn đồng
to tướng ra:
- Thấy chưa, cứ là bóng
nhoáng lên? Mạ vàng mà lại. Tất nhiên tớ còn mua quà cho bà xã nhà tớ nữa: ô
này, nhung may váy này, áo lông cáo này.
Ludwig xem chiếc kèn:
- Cậu biết thổi à?
- Tớ sẽ học thổi.
- Cậu mua kèn, còn mình
thì mua dương cầm. Con gái mình sẽ học đàn. Món ấy hơn đứt kèn đồng của cậu rồi.
- Dương cầm thì ăn thua
gì? Tớ còn để một cái này ở ngoài bến tàu cơ. Tớ sẽ làm cho tất cả các cậu phải
lác mắt. Cậu có muốn thì ta đi xem.
Ludwig đồng ý, thế là cả
hai kéo nhau đi và luôn mồm khoác lác với nhau về các thứ đồ mới sắm.
Ngoài bến, dân đánh cá tụ
tập khá đông. Họ đã bỏ nghề chài lưới để ra đây làm nghề phe phẩy từ lâu, từ
ngày cái làng chài bé nhỏ của họ bỗng dưng thành “chiếc túi vàng”. Fris ranh ma
hơn cả. Hắn là kẻ đầu tiên nghĩ ra rằng, một khi “bột mì” được giá đến thế thì
có thế sống bằng cá thịt, còn “bột” nuôi được cứ đem bán hết để kiếm lời. Gần
đây gã bán “bột” cho bọn tay chân của Rodenstock với giá cắt cổ nên trở thành
giầu sụ, vượt xa những kẻ cùng làng.
- Thế nào, cậu có món gì
thì cho cánh này xem đi! - Mọi người vừa nói vừa tò mò ghen tị ngắm chiếc hòm
to tướng. Được mấy người đánh cá tự nguyện giúp một tay, Fris mở hòm lôi ra một
chiếc mô-tô có thuyền mới tinh. Món này thì cả làng chưa từng thấy bao giờ thật.
Ai nấy à lên một tiếng thán phục. Cái tay Fris này mới ghê chứ! Đúng là hắn làm
cho cả làng phải lác mắt. Fris loay hoay bên cạnh chiếc mô-tô, đổ dầu vào, bôi
trơn mỡ rồi xoay xoay đạp đạp.
- Cậu làm thế nào mà học
lái nhanh thế? Biết đi rồi cơ à?
Máy đã nổ. Fris nhảy lên
xe và phóng đi mươi mét. Nhưng đến chỗ cát dày, bánh xe chỉ quay tít tại chỗ.
Chiếc mô-tô rú máy rồi sững lại. Đám đông khoái trá tiếp đón thất bại ấy bằng
những lời nhận xét đấy mỉa mai. Fris ra sức đạp mãi nhưng máy vẫn không nổ lại.
- Không sao, tớ sẽ thuê
tài xế là đâu vào đấy ngay. - Nói rồi gã ì ạch đẩy xe lên khỏi bến.
Ludwig đi đằng sau, mắt
dán vào chiếc mô-tô bóng lộn. Lòng hắn sôi lên vì ghen tị. Hắn căm ghét Fris,
cái thằng Fris đã cùng hắn trải qua bao hiểm nguy ghê gớm ngoài biển khơi.
Không, chừng nào Ludwig
chưa sắm được chiếc xe như thế này thì hắn không thể ăn ngon ngủ yên được. Muốn
thế chỉ cần xoáy một cục “bột” lớn là xong. Thằng cha Fris này có “bột” đây.
Chính nó đã chẳng hênh hoang là gì. Ludwig biết Fris cất của báu ấy ở đâu. Tối
nay, chắc thằng cha lại rượu chè say mèm và sẽ ngủ như chết... Đêm nay...
Ludwig không chờ được đến
đêm. Khi trong cửa sổ các nhà người ta vừa tắt hết ánh đèn, Ludwig đã lần đến
sát nhà Fris. Con chó sủa ầm lên nhưng lại im ngay vì nhận ra người quen.
Ludwig chờ một lát rồi thận trọng ấn vỡ mặt kính cửa sổ. Kính vỡ rơi loảng xoảng
nhưng không thấy ai tỉnh dậy. Ludwig bèn chui qua cửa sổ vào nhà và lần mò
trong bóng tối tiến về phía chiếc tủ gỗ sồi mới tinh, nơi Fris cất món “bột”
quý giá.
Cửa tủ kẹt một tiếng to.
Ludwig lặng người đi. Buồng bên có tiếng người trở mình làm giường kêu cót két,
người ấy lẩm bẩm nói mê rồi lại ngáy luôn. Ludwig lôi ra một chiếc bình nhỏ rồi
thủ báu vật ấy vào người và bắt đầu bò tới cửa sổ. Trong lúc mò mẫm, hắn chạm mạnh
tay vào chiếc kèn đồng. Chiếc kèn rơi xuống gây ra một tiếng động khủng khiếp.
Fris tỉnh dậy và vội nhảy ra khỏi buồng ngủ:
- Ai đấy?
Thân hình Ludwig hiện lên
trên ô cửa sổ lúc ấy có ánh trăng rọi vào.
“Kẻ trộm!” - Nhanh như chớp
Fris đoán ra và liền nổi cơn thịnh nộ. Gã nhìn quanh. Trên bàn có mấy quả bóng
bi-a. Fris chộp ngay lấy một quả và giận dữ choảng thẳng vào đầu tên trộm.
Ludwig ngã vật xuống và rơi ngay vào chiếc ghế chữa răng. Vợ Fris cũng đã hốt
hoảng choàng dậy thắp đèn và chạy lại. Fris xem xét tên trộm.
- Ludwig? - Gã kinh ngạc
thốt lên khi soi đến vết thương to tướng trên đầu tên trộm. Quả bóng bi-a đập
vào sọ mạnh đến nỗi bập sâu tới một nửa, và giữa đám máu thịt nhầy nhụa trông
nó hệt như một chiếc mắt khổng lồ.
Người vợ khóc òa lên.
Fris đâm lúng túng. Hắn đã giết người rồi! Chuyện gì sẽ xảy ra đây. Nhưng hắn
trấn tĩnh lại ngay.
- Em gào lên thế đủ rồi đấy
- Hắn bảo vợ - Tôi chẳng làm gì nên tội cả. Kẻ cướp mò vào nhà tấn công tôi thì
tôi phải tự vệ thôi. Em hãy nói với mọi người như thế, hiểu chưa? Tôi sẽ chẳng
việc gì cả.
Cái chết của Ludwig làm cả
làng chài xôn xao. Nhưng mọi người đứng về phía Fris. Mỗi người phải bảo vệ quyền
sở hữu của mình chứ. Thậm chí hắn cũng chẳng bị bắt nữa và vụ án được chấm dứt.
Cuộc sống lại trôi qua một cách bình thường. Maiev cùng với bọn tay chân mua
vét “bột mì” khá trôi chảy. Nhưng phải gấp rút hơn nữa trong khi những cánh lái
buôn khác chưa kéo đến đây. Mấy nhân vật khả nghi đã xuất hiện trong làng.
Maiev đã lôi kéo được chúng về phía mình sau khi hứa trả một món tiền lớn. Chỉ
có mỗi một tay mới đến Maiev phải bám sát thôi. Tay này không chịu điều đình gì
hết. Không tài nào mua chuộc được gã. Maiev không lúc nào dám rời mắt khỏi tay
đó. Gã đã mua được hơn một trăm gam “bột” và rõ rãng đang cố chuồn khỏi làng với
món bột đó mà không ai thấy. Nhưng Maiev đã bám theo gã như một cái bóng.
Tối hôm ấy hai người gặp
nhau trên bờ biển, gần cây đèn biển cũ nát hiện giờ vắng lặng không một bóng
người.
- Ông theo dõi tôi phải
không? - người lạ hỏi.
- Phải, - Maiev đáp - và
sẽ còn theo gót ông cho tới khi nào ông đồng ý nhận đề nghị của tôi. Tôi sẽ
không để ông đi khỏi đảo này, và ông không thể mang thoát một gam “bột” nào về
tới đất liền đâu.
Người bao mua chắc cũng
chẳng phải tay nhát gan. Gã nheo mắt khinh bỉ và vừa thò tay vào túi vừa nói:
- Ông dọa tôi hả? Vô ích
thôi. Tôi biết tự vệ chứ.
Maiev đã hiểu cử chỉ của
người bao mua nên nhảy xổ vào gã. Ngay lúc ấy người kia rút súng lục ra. Nhưng
Maiev đã khôn khéo đánh bật khẩu súng văng ra khỏi tay đối phương. Cuộc vật lộn
ác liệt bắt đầu. Hai đứa lăn lộn trên cát, quật nhau tới tấp. Maiev khôn ngoan
hơn, nhưng người bao mua khỏe hơn. Chẳng biết cuối cùng ai sẽ thắng ai. Maiev
đã thấm mệt. Tình cờ hắn nhìn thấy khẩu súng lục văng ra lúc nãy nằm gần bên cạnh.
Sau hai vòng lăn lật với đối phương, Maiev đã tới sát chỗ khẩu súng. Nhưng rõ
ràng người kia hiểu rõ ý đồ của Maiev nên cũng với tay về phía đó. Hai người lại
vật lộn, tay chân dũi cát thành một hố sâu. Cuối cùng Maiev bằng tay trái vặn cổ
đối phương, còn tay phải chộp được khẩu súng. Song đối phương đã kịp bóp chặt
tay hắn. Lúc ấy Maiev cố sức gập cổ tay, hướng nòng súng vào đầu kẻ thù và bóp
cò. Một tiếng nổ vang lên, chìm đi giữa bao cồn cát, trong tiếng sóng vỗ gió
gào. Cuộc vật lộn đã chấm dứt. Một lần nữa máu người lại đổ. Maiev nhìn quanh.
Vẫn vắng tanh vằng ngắt không một bóng người. Chỉ có đàn hải âu hốt hoảng kêu
lên và bay là là phía trên một người sống với một xác chết. Maiev hất xác chết
lên lưng, cõng vào trong lòng cây đèn biển. lôi lên gác trên rồi quẳng xuống
đúng cái chỗ ngày xưa đã có thời lão Hans giấu vật báu - “bột mì vĩnh cửu” của
lão.
Địch thủ ngoan cố nhất thế
là đã thanh toán xong. Nhưng những tên khác có thể sẽ đến thay thằng này. Maiev
liền điện cho Rodenstock đề nghị áp dụng những biện pháp đặc biệt để thúc đẩy
việc mua vét “bột”.
Khi Rodenstock đọc bức điện
cho Krisman nghe, tên này nói:
- Tôi đã nghĩ cả rồi.
Ngài cứ việc gọi tôi là thằng đụt nếu những biện pháp mà tôi sắp tung ra không
hút hết số “bột mì” dự trữ khỏi nanh vuốt lũ dân đánh cá ấy. Tất cả bọn nó sẽ
phải tự tay đem nộp cho ta, và chúng ta sẽ càng giàu thêm cho mà coi.
Và tại làng chài nọ bỗng
dưng sôi lên một sức sống mới kỳ lạ, hệt như có phép thần. Từng đoàn tàu biển
chở đầy gỗ và những hòm lớn cập bến. Chẳng mấy chốc những tòa nhà lắp ghép đã mọc
lên như nấm quanh làng. Những tấm biển quảng cáo sặc sỡ treo la liệt khắp nơi:
“Quán rượu”, “Rạp chiếu bóng”, “Tiệm khiêu vũ”, và trước ngôi nhà đồ sộ nhất là
tấm biển: “Sòng bạc”. Cuộc sống của đám dân chài biến thành ngày hội linh đình
không bao giờ dứt. Các bà vợ đua nhau đi xem chiếu bóng, say sưa với những bộ
phim về cảnh ăn chơi xa xỉ và đàng điếm, - chính Krisman tự tay chọn phim, -
còn các ông chồng thì lúc nào cũng la cà say sưa trong các quán rượu, sòng bạc.
Sự đam mê đã đầu độc nặng nề bản tính chất phác của những người đánh cá; họ đắm
mình vào ăn chơi đến quên hết mọi việc.
Nhiều người đã tiêu phí hết
số tiền ky cóp được hồi buôn lậu nhưng vẫn tiếp tục chè chén cờ bạc, nên đã phải
ném lên sòng bạc đến đồng “ngoại tệ” cuối cùng, tức là những cục “bột” quý như
vàng. Chắc sẽ chẳng còn xa nữa cái ngày mà vì đam mê cờ bạc, những người đánh
cá sẽ phải đặt nốt vào bàn cục “bột” thiêng liêng cuối cùng mà họ vẫn giữ gìn
như một vật báu.
Tuy nhiên các kế hoạch của
Maiev đã bị tan thành mây khói vì một sự xoay chuyển hết sức bất ngờ.
Một buổi tối mùa xuân tối
trời ba người đánh cá trẻ tuổi tiến lại gần chân cây đèn biển bỏ hoang. Họ đã
làm công nhân mấy năm ở các nhà máy tại thành phố Essence, nhưng nạn thất nghiệp
vừa qua đã buộc họ phải về làng tiếp tục làm nghề chài lưới.
- Chúng mình ghé vào đây
đi. - Người nhiều tuổi nhất trong bọn họ tên là Johan vừa nói vừa chỉ tay về
phía chiếc cửa cây đèn biển bị gió làm vỡ nát, nói với các bạn.
Cả ba bước vào rồi theo
Johan leo lên tầng trên.
- Hình như có mùi súc vật
chết các cậu ạ. - Oscar khịt khịt mũi nói.
- Chắc là một chú mèo chạy
rông nào nghẻo đấy thôi. - Robert đáp.
- Mình sẽ chỉ cho các cậu
thấy xác con mèo ấy ngay bây giờ đây. - Johan nói và bật diêm.
Trong ánh lửa chập chờn yếu
ớt của que diêm, các bạn của Johan nhìn thấy trên đống rác một xác người mặc
com-lê đang thối rữa.
Họ bất giác thốt lên kinh
ngạc.
- Đây là xác một gã lái
buôn bị Maiev giết - Johan giải thích - Mình đã chứng kiến cảnh đó. Nhưng vấn đề
không phải chuyện cái xác này. Bớt đi một tên buôn lậu cũng chẳng thiệt hại gì
cho lắm. Mình muốn bàn với các cậu chuyện khác kia. Ta ra bờ biển đi, ở đây khó
thở lắm. - Và khi cả ba ra tới dải cát ven bờ biển, Johan nói tiếp - Các cậu đã
thấy xác chết rồi đấy. Nhưng chắc chắn đó không phải là chuyện đổ máu đầu tiên
và cuối cùng.ở làng ta đâu. Các cậu thử nghĩ xem chuyện gì đang xảy ra. Hình
như mọi người phát rồ lên rồi. Nào giết người, nào trộm cướp, nào rượu chè, cờ
bạc, dâm đãng... Bọn Maiev đã làm hư hỏng hết các cụ nhà ta rồi. Chúng biến họ
thành dân đầu cơ buôn lậu và cờ bạc ráo cả.
- Đúng thế. Đã đến lúc chấm
dứt các trò xấu xa bỉ ôi ấy rồi. - Oscar nói.
- Tất nhiên đã đến lúc rồi
- Johan tán thành - Nhưng có điều còn quan trọng hơn những trò xấu xa kia. Đó
là “bột mì vĩnh cửu”, cái món đã gây ra tất cả những cảnh bê bối nói trên. Bè
lũ Maiev và tay chân của hắn đổ xô về đây nhằm mục đích gì? Chúng gây nên cảnh
rượu chè cờ bạc, ăn chơi trụy lạc để làm gì?
- Để chiếm lấy “bột” làm
giàu cho chúng. - Robert đáp.
- Đúng thế. Để chúng làm
giàu trên xương máu công nhân, phải nói thêm như vậy. Trong khi đó, nếu “bột mì
vĩnh cửu” trở thành tài sản của thợ thuyền thì nó có thể làm công cụ đắc lực
trong cuộc đấu tranh của họ chồng bọn tư bản.
- Thôi, chúng tớ hiểu ý cậu
rồi! - Oscar vừa nói vừa đứng dậy.
- Chúng mình phải nắm lấy
“bột mì vĩnh cửu”, càng thu về được nhiều bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Nhưng
làm cách nào bây giờ?
- Tất cả vấn đề là ở chỗ
đó - Johan đáp - Chúng ta quá nghèo nên không thể cạnh tranh nổi với bọn Maiev
trong việc mua vét “bột mì”.
- Thuyết phục, giải thích
cho bà con ta hiểu chăng?
- Không ăn thua đâu. Muộn
mất rồi. Tiền bạc và sự đam mê đã làm hỏng con người. Bà con dân chài ta không
tỉnh ngộ ngay được đâu.
- Hay ta bí mật đoạt lấy
“bột”? - Robert đề nghị.
Johan nhún vai:
- Kể ra vì một sự nghiệp
lớn mà phải bí mật đoạt lấy cũng chẳng sao, nhưng làm thế phỏng được là bao?
Các cụ nhà mình giữ “bột” hơn giữ vàng. Vì “bột” mà anh em chém giết lẫn nhau.
Mình đã nghĩ ra kế này có thể giúp ta đạt được mục đích. - Johan quay người lại
nhìn con đường dẫn vào làng. Trên đường không một bóng người - Bây giờ tên
Maiev sẽ phải tới đây - Johan nói - Mình đã hẹn nó ra đây gặp mặt sau khi hứa sẽ
giúp đỡ nó... tổ chức một toán cướp để lột tiền và chiếm tất cả số “bột mì” còn
lại ở nhà dân chài. Nghĩa là làm một cú đủ thanh toán chuyện mua vét “bột mì”,
khỏi phải bày trò cờ bạc rượu chè lâu la ra! Maiev hình như chưa hoàn toàn tin
mình, nhưng nó có vẻ thích kế hoạch ấy.
Oscar nói:
- Nghĩa là cậu định nhận
vũ khí của thằng cha Maiev, nhờ chúng tớ giúp súc đi ăn cướp “bột mì” của bà
con trong làng, rồi đem phân phát cho những người thất nghiệp, làm cho gã gian
thương ấy chưng hửng chứ gì?
- Không hoàn toàn như thế
- Johan đáp. Rồi một lần nữa quay đầu nhìn đường vào làng, anh ta nói - Kìa, có
lẽ nó đang ra đấy. Các cậu hãy tạm lánh vào trong cây đèn biển và nghe những điều
mình sẽ nói với nó nhé. Có thể mình sẽ cần đến sự giúp đỡ của các cậu đấy.
Oscar và Robert ẩn vào
trong lòng cây đèn biển. Johan châm tẩu thuốc rồi vừa thở từng đám khói dài vừa
bình thản chờ Maiev đến.
Tiếng bước chân Maiev đã
tới gần sau lưng Johan, nhưng anh ta vẫn nhìn ra biển, làm ra vẻ đang tập trung
suy tính điều gì.
- Chào anh Johan? Anh
nghĩ gì mà trầm ngâm thế? - Maiev gọi.
Johan uể oải đứng lên:
- Ồ, ngài đầu cơ đấy à?
Xin chào ngài?
Maiev nghiêng đầu và cau
mày lại. Hắn không thích Johan chào hỏi như vậy.
“Bọn này thật tục tằn thô
lỗ!” - Maiev nghĩ bụng, nhưng vẫn lịch sự hỏi lại:
- Thế nào, công việc của
chúng ta ra sao?
- Trôi chảy lắm - Johan
trả lời - Xác tên lái buôn mà ngài giết chết đã thối hoăng lên rồi.
Mặt Maiev lập tức biến sắc.
- Xác chết à? Tôi giết ư?
Lái buôn nào?... Anh nói gì vậy, anh bạn thân mến?
- Thì tôi nói chuyện ấy đầy
- Johan chỉ tay về phía cây đèn biển - Về cái xác đang thối rữa trong kia kìa.
Đừng có ngoan cố nữa, ngài Maiev ạ. Tôi đã chứng kiến việc giết người của ngài.
Ngài không nhìn thấy tôi đâu, nhưng tôi thì nhìn rõ lắm. Tình cờ lúc ấy tôi
đang lang thang giữa các cồn cát mà.
- Anh định đưa tôi vào bẫy
phải không? - Maiev hỏi và cảm thầy đầu gối mình run bắn lên - Định tố giác
chăng? Anh định đòi tôi trả bao nhiêu tiền để im lặng nào?
- Chà, cuối cùng thì ngài
cũng đã đoán ra! Tôi muốn nhiều lắm, ngài giết người ạ. Đừng có nhăn nhó như thế
và hãy dỏng tai lên mà nghe. Một là ngài phải giao hết cho tôi số “bột” mà ngài
đã thu về, không được sót một gam. Tôi sẽ tự tay lục soát phòng ở của ngài để
ngài khỏi giấu diếm.
- Thế thì quá lắm...
- Hai là, - Johan nói,
không thèm đếm xỉa gì đến lời Maiev - ngài phải đóng cửa ngay lập tức tất cả
các nhà để giải trí của ngài lại. Ba là phải trả lại cho dân làng toàn bộ số tiền
mà họ thua bạc. Hãy chờ đó, chưa hết đâu. Và bốn là ngài phải cùng tất cả đồng
bọn cuốn xéo khỏi làng này sớm chừng nào hay chừng ấy. Cho ngài ba giây để suy
nghĩ.
Vốn là một quân nhân,
Maiev đã quen với những hành động kiên quyết. Hắn thậm chí cũng chả cần đến ba
giây đã kịp nhảy bổ vào Johan và quật nhào anh. Maiev đánh ngã được địch thủ, định
bỏ chạy. Nhưng ngay lúc đã nằm sóng xoài trên mặt đất, Johan vẫn còn kịp ngáng
chân hắn. Maiev ngã nhào xuống. Hai phút sau Johan đã ngồi đè lên hắn. Maiev chống
cự kịch liệt. Nhưng Oscar và Robert đã chạy vội ra giúp Johan.
Nhìn thấy họ, Maiev nghiến
răng tức giận:
- Xin hàng, - Hắn nói giọng
khàn khàn - buông tay tôi ra, các ông bẻ gãy tay tôi bây giờ, quỷ thật.
- Oscar, khám người nó
xem!
Oscar lôi từ trong túi
Maiev ra hai khẩu súng lục.
- Ái chà! Có một đơn vị
pháo binh hẳn hoi? Không còn gì trong túi nó nữa chứ, Oscar? Thôi, bây giờ có
thể buông tay nó ra được rồi. Cái gì cũng phải làm cho đúng lúc chứ. Ngài định
nhận điều kiện của chúng tôi, hay muốn nằm bên cạnh kẻ cạnh tranh đáng kính của
ngài trong cây đèn biển kia thì bảo? - Johan hỏi.
- Tôi xin... nhận. -
Maiev hổn hển trả lời.
- Thế thì đưa chúng tôi về
nhà ngài.
Bị Johan, Oscar và Robert
kèm sát hai bên, Maiev uể oải lê bước trên đường. Hắn ở một ngôi nhà nhỏ đứng
riêng ngoài rìa làng. Ba người đánh cá trẻ tuổi khám xét kỹ lưỡng và lấy đi tất
cả những thứ đã quy ước là “bột” và tiền.
Cuối cùng, khi họ hứa sẽ
tiễn chân hắn ra tàu thủy rồi kéo nhau đi thì đã quá nửa đêm từ lâu.
Maiev gục đầu xuống bàn mệt
lử. Hắn cứ ngồi như thể mấy phút liền. Sau đó bỗng nhiên hắn ngẩng đầu lên, đấm
xuống bàn và thét lớn:
- Mình ngu quá, trời
ơi!...
Trấn tĩnh lại đôi chút, hắn
bắt đầu viết một bức điện gửi cho Rodenstock, nhưng nghĩ mãi vẫn chưa biết nên
viết thế nào. Bỗng có tiếng gõ cửa.
“Chẳng lẽ bọn kẻ cướp ấy
lại mò đến hay sao?” - Maiev bụng bảo dạ.
- Ai đấy?
- Có điện khẩn.
Tin rằng đúng là giọng
người đưa thư, Maiev ra mở cửa, nhận điện và bóc ra xem. Đó là điện của
Rodenstock gửi cho hắn.
“Đóng cửa sòng bạc và tiệm
ăn chơi giải trí. Đình chỉ mọi việc. Về ngay”.
Maiev không tài nào hiểu
được vì sao lại có bức điện như thế, nhưng nó đến mới đúng lúc làm sao. Bây giờ
thì hắn có thể thực hiện đúng yêu cầu của Johan mà không làm mất quyền lợi cửa
các ông chủ hắn.
Sớm hôm sau, Maiev bắt
tay ngay vào việc.
Những ánh đèn vui vẻ
trong các quán rượu phụt tắt, rạp chiếu bóng và các tiệm khiêu vũ đóng cửa im ỉm,
“sòng bạc” hoàn toàn vắng lặng. Dân đánh cá bị mất hết chỗ giải trí liền sôi
máu lên, suýt đánh đập Maiev đòi hỏi hắn phải mở cửa sòng bạc. Thậm chí họ còn
định dùng vũ lực chiếm “sòng bạc”, nhưng té ra linh hồn của ngôi nhà đó là sòng
bạc đã được chở ra bến và xếp xuống tàu từ hồi đêm. Mấy tay cờ bạc có được an ủi
đôi chút khi được món tiền mà họ thua bạc nay được Johan trả lại. Những người
dân chài đi đi lại lại, cau có và im lặng y như sau một cơn say túy lúy. Những
trò đánh lộn, trộm cắp và say rượu bét nhè đã giảm đi ít nhiều. Người ta lang
thang khắp làng mà chẳng có chủ đích, lờ đờ nhìn nhau không biết làm gì và nói
chuyện gì. Thỉnh thoáng họ có tươi tỉnh lên đôi chút khi nhắc đến những đêm vui
điên loạn. Nhưng lúc câu chuyện bị ngắt quãng thì những ánh mát lại trở nên ám
đạm và chỉ còn thấy những cái miệng ngáp dài. Chẳng ai nghĩ đến công ăn việc
làm. Ai cũng mong chờ ngày cơn sốt vàng trở lại để lại được đấu cơ buôn lậu,
đánh bạc và ăn chơi đàng điếm. Nhưng ngày tháng trôi qua, tình hình vẫn chưa biến
chuyển gì. Chỉ có gió xuân mát mẻ là cứ lồng lộng thổi qua làng làm tỉnh dần những
cái đầu đang u mê.
Maiev đến Berlin được biết
một tin sốt dẻo. Nhà hóa học mà Krisman mời giúp đã xác định được thành phần “bột
mì vĩnh cửu” và chế được thứ “bột” đó bằng phương pháp nhân tạo.
- Bây giờ thì chúng ta chẳng
cần gì đến cả lão Broie lẫn bọn dân chài nữa - Rodenstock nói - Chúng ta sẽ tự
chế ra “bột mì vĩnh cửu”.
- Ta cũng chẳng còn lo sợ
bọn cạnh tranh nữa, - Krisman nói thêm - cứ để cho chúng nó mua sẻn từng gam “bột”
và ngồi chờ bột nở. Ta sẽ sản xuất hàng tấn một và sẽ giết chết bọn cạnh tranh.
Thế là công ty cổ phần
chuyên bán và xuất khẩu “bột mì vĩnh cửu” bắt đầu hoạt động.
Chương 6
Cuộc đấu tranh tiếp diễn
Giới tư bản kếch xù ở Đức
hùn vốn lại kinh doanh. Khắp thế giới đâu đâu cũng thấy chúng quảng cáo rùm
beng:
Xin mời quý khách mua
“BỘT NHÀO VÔ TẬN”
Ngon! Bổ!
Một cân đủ nuôi sống con
người ta suốt đời!
Trong lời quảng cáo trên
chỉ thiếu một điểm: chưa nói gì đến giá rẻ của “bột”. Rodenstock và Krisman
tranh cãi với nhau rất lâu về giá cả. Krisman kiên quyết chủ trương ban đầu bán
“bột” với giá đắt, chỉ những gia đình giàu có mới mua nổi:
- Chúng ta sẽ moi từ hầu
bao bọn có máu mặt một món bở đã, rồi mới tung “bột” ra bán với giá rẻ cho quảng
đại quần chúng.
Rodenstock phản dối chử
trương đó:
- Ngài chớ nên quên rằng
một cân “bột” rất nhanh chóng biến thành hai cân. Người ta sẽ đầu cơ “bột”.
Chúng ta không thể nào cấm người mua bán lại thứ “bột” đó. Chúng ta phải rất
nhanh chóng tiến hành chiến dịch của chúng ta để thu hồi vốn và kiếm một món
lãi trước khi số “bột” đưa ra thị trường bị bọn đầu cơ phá giá.
Chẳng bao lâu “bột” xuống
giá, nhưng do một nguyên nhân khác: những gia đình giàu có tỏ thái độ hoài nghi
đối với thứ “bột” đó. Họ không muốn từ bờ bao nhiêu món sơn hào hải vị đầy hấp
dẫn để ngồi ăn cái thứ bột đã gây cho họ cảm giác kinh tởm ấy.
Còn những người nghèo chỉ
háo hức đổ xô vào mua khi giá “bột” đã rẻ hơn.
Các nhân viên của công ty
len lỏi khắp mọi ngõ ngách trên thế giới. Hàng nghìn mẫu hàng, cuộn phim và các
nhà quảng cáo đã giới thiệu với khách hàng những phẩm chất tuyệt diệu và tiện lợi
của “bột mì vĩnh cửu”. Việc kinh doanh của công ty thu được kết quả rực rỡ hơn.
Song cuộc đấu tranh xoay quanh “bột mì” chẳng bao lâu lại bùng ra.
Lần này thì giáo sư Broie
là người đi khai chiến. Khi giáo sư biết tin một công ty cổ phần đã tung “bột
mì vĩnh cửu” ra thị trường, ông liền gửi cho các tòa soạn của nhiều tờ báo một
bức thư ngỏ kịch liệt phản đối việc sử dụng phát minh của ông. Ông kiên quyết
đòi chính phủ phải đình chỉ ngay hoạt động của công ty.
“Tôi đã bỏ ra bốn mươi
năm trời của đời mình, - Giáo sư viết - không phải để đem phát minh của mình
làm giàu cho một nhúm người đầu cơ. Tôi phản đối điều đó. Nhưng điều khiến tôi
phản đối kịch liệt hơn, chính là việc người ta đem phát minh của tôi phổ biến rộng
rãi vào lúc tôi chưa hoàn thành công cuộc thí nghiệm của mình. Đó không những
là một sự vi phạm ngang ngược đối với bản quyền tác giả, mà còn là mối đe dọa đối
với xã hội, bởi vì “bột” chưa được nghiên cứu xong là một chất dinh dưỡng mới”.
- Lão ta muốn dọa nạt
khách hàng của chúng ta, - Krisman nói khi đọc xong bức thư của giáo sư - một
việc làm vô ích. Chúng ta có những nhận xét của các bác sĩ về tính chất vô hại
của “bột” và giấy phép của hội đồng giám định y khoa. Tất cả những người ăn “bột”
của chúng ta đều rất khỏe mạnh, chịu ơn chúng ta và là phương tiện quảng cáo tốt
nhất cho chúng ta. Không, thưa ngài giáo sư, ngài đã chậm rồi, và ngài sẽ không
phá nổi công việc của chúng tôi đâu!
Tuy nhiên, bức thư của
giáo sư đã gây ra một ấn tượng mạnh mẽ trong xã hội. Những cuộc tranh luận sôi
nổi đã nổ ra. Chính phủ thấy mình đã sai lầm khi cho phép một công ty cổ phần
kinh doanh “bột mì vĩnh cửu”.
“Bột mì vĩnh cửu” xuất hiện
trên thị trường làm đảo lộn giá cả hàng hóa. Toàn bộ giới tư bản thương mại và
công nghiệp sống trong tình trạng cực kỳ lo âu, hồi hộp. “Bột mì vĩnh cửu” là
phương tiện tác động vô cùng mạnh mẽ đến nền kinh tế không chỉ ở một nước mà
trên phạm vi toàn thế giới, một phương tiện như vậy không thể để lọt vào tư
nhân được.
Các báo chí của chính phủ
đã chứng minh rằng nhà nước phải tuyên bố độc quyền kinh doanh đối với thứ “bột”
đó.
Các báo chí của công nhân
không tán thành ý kiến ấy. Dựa vào nguyện vọng của người phát minh, họ đòi phải
tuyên bố “bột” là tài sản chung và phải được đem ra phát không cho tất cả mọi
người.
Trong khi các cuộc tranh
luận sôi nổi nói trên đang tiếp diễn thì ở làng chài, những sự kiện mới lại tiếp
tục xảy ra.
Vào một buổi sáng mùa
xuân, dân chài sửng sốt trước một cảnh tượng khác thường. Giáo sư Broie tay
vung vẩy, đầu trần, tóc rối bù tất bật chạy trên đường làng về phía ngôi nhà mới
của lão Hans. Lão Hans vừa ngủ dậy và đang thưởng thức món cà-phê kem sữa thơm
phức cùng với người hầu gái của mình. Nhìn thầy giáo sư, theo thói quen cũ, lão
kính cẩn đứng dậy, chỉ chiếc ghế bành tiện nghi bên cạnh mình và nói:
- Xin kính mời giáo sư ngồi.
Ngài có uống cà-phê không ạ?
Giáo sư mệt lử gieo mình
xuống chiếc ghế bành.
Ông mệt vì chạy nhanh đến
nỗi không nói được nên lời và chỉ lắc đầu từ chối. Nghĩ một chút, giáo sư nói:
- Ông Hans, ông còn thứ
“bột” mà tôi đã cho ông không?
Lão Hans rất cảnh giác:
- Không ạ, thưa ngài giáo
sư. Tôi xin nhận lỗi. Tính yếu đuối của con người đã khiến tôi phạm lỗi. Thấy mọi
người bán, nên tôi cũng bán. Còn ít “bột” cuối cùng tôi cũng đã nướng nốt vào
sòng bạc mất rồi.
Giáo sư trừng mắt nghiêm
khắc nhìn thẳng vào lão Hans khiến lão không chịu nổi phải quay mặt đi.
- Ông nói thật đấy chứ,
ông Hans?
- Thưa, quả là tôi nói thật
đấy ạ.
- Tôi không tin ông, ông
Hans ạ, ông đã nhiều lần lừa dối tôi. Ông đã nuốt lời hứa.
- Tôi xin nhận lỗi, thưa
ngài giáo sư.
Broie bực tức xua tay:
- Bây giờ không phải lúc
xin lỗi. Ông có biết ông làm gì không, ông Hans? Vì không nghe lời tôi, ông đã
gây ra biết bao nhiêu tai họa và sẽ còn gây ra nhiều chuyện rắc rối nữa. Ông
hãy chú ý nghe tôi, ông Hans. Hiện nay, tôi đã làm thí nghiệm xong xuôi thứ “bột”
đó. Tôi khẳng định là không nên ăn “bột”. Con chó mà tôi cho ăn “bột” trước ông
một tuần đã lăn ra chết một cách thảm thương. Và nếu ông không chịu trả lại tôi
ngay bây giờ toàn bộ số “bột” còn lại của ông thì ông cũng sẽ chết một cách đau
đớn. ông sẽ xạm người lại, cơn kinh giật sẽ quật ông ngã xuống, ông sẽ sùi bọt
mép như một người mắc bệnh dại. Và ông sẽ chết.
Lão Hans tái mặt đi, ngồi
xê ra mép ghế. Chết cơ à! Đã lâu lão không nghĩ đến cái chết lão tận hưởng một
cuộc sống an nhàn, phè phỡn. Chết bây giờ chăng? Không được uống cà-phê kem sữa
phải rời bỏ những chiếc ghế bành mềm mại và những cái đệm giường độn lông chim
êm ru ư? Không, thế thì kinh khủng quá!
Lão nhìn giáo sư, và bỗng
mắt lão ánh lên một vẻ ranh ma:
- Còn ngài, thưa giáo sư?
Ngài chẳng bảo rằng ngài cũng đã ăn “bột” đó đấy ư? Ngài cũng sẽ về chầu giời
à?
Broie bối rối, nhưng ông
trấn tĩnh ngay:
- Phải, có lẽ cả tôi cũng
sẽ chết. Nhưng tôi đã uống thuốc giải độc.
- Thế thì lẽ tất nhiên
ngài cũng sẽ không từ chối cho tôi thuốc giải độc chứ?
- Không, tôi không cho -
Broie giận dữ trả lời cộc lốc - Dù rằng như thế tôi có phải tội đi chăng nữa,
tôi vẫn không cho ông thuốc giải độc đâu. Ông có tội, ông phải hứng lấy hậu quả.
Nếu ông muốn sống thì, yêu cầu ông mang “bột” ra đây ngay bây giờ.
Lão Hans tươi tỉnh hẳn
lên:
- Được thế thì việc gì phải
bàn cãi nữa. Không ai muốn chết cả. Tôi xin mang lại đây ngay bây giờ, thưa
ngài giáo sư.
Lão Hans đi sang một
phòng khác, khép ngay cửa lại, tìm tòi mãi ở trong ấy và sau cùng lão bước ra.
Lão thở dài mệt nhọc, đưa “bột” cho giáo sư.
Broie nhìn kỹ vào chiếc hộp
kim loại cỡ nhỏ.
- Tất cả đấy chứ?
- Chả lẽ tôi lại lừa dối
ngài một lần nữa hay sao, thưa giáo sư...
- Tốt lắm. Nếu ông lừa dối
thì chỉ có hại cho ông thôi.
- Thế còn thuốc giải độc
cho tôi, thưa ngài giáo sư?
- Tôi sẽ đem đến cho ông.
Ông không lo.
Khi Broie bước ra khỏi
phòng, lão Hans đắc chí phá lên cười ha hả, lão quay lại phía người hầu gái của
mình và nói:
- Tao vẫn để lại cho mình
một ít “bột”. Rất ít thôi. Tao thấy giáo sư cũng đã giấu diếm. Đó không phải là
đầu độc nữa, ông ta lấy “bột” để đối lấy một thứ gì khác chứ.
Trước cửa nhà lão Hans,
dân chài đã tập trung rất đông chờ nghe tin tức sốt dẻo của lão. Nhưng họ lại
được nghe chính giáo sư báo cho họ tin đó. Ông cũng nói với họ những lời lẽ như
ông vừa nói với lão Hans. Ông cam đoan với họ rằng sau một tuần lễ nữa họ sẽ chết,
nếu không uống thuốc giải độc. Còn thuốc giải độc, ông hứa sẽ đưa cho họ, nếu họ
chịu mang “bột” lại đổi lấy thuốc. Đám dân chài nghe, người thì ngạc nhiên, kẻ
thì hoảng sợ. Nhưng cả bọn đều cam đoan rằng họ không còn đến một hột “bột”
nào. Họ nói đã bán hoặc nướng vào sòng bạc cả rồi.
Giáo sư giậm chân, thét
lên dọa họ, nhưng chẳng có hiệu quả gì. Ông vẫn không thu lại được tí “bột”
nào, nhưng vẫn phải cho họ thuốc giải độc. Chỉ có ba người hứa sẽ mang “bột” lại.
Còn những người khác tỏ thái độ thù địch ra mặt.
- Hứa phát không cho mọi
người bây giờ lại đòi thu lại sạch!
- Nếu mày đã đầu độc, thì
mày cũng phải giải độc cho chúng tao chứ! - Những tiếng la hét đe dọa vang lên.
- Hỡi những kẻ bất hạnh,
mong rằng bà con hãy hiểu cho tôi, tôi rất thương và lo lắng cho bà con...
- Chúng tao biết mày
thương như thế nào rồi...
- Chính bà con không biết
những tai họa gì, những nỗi khủng khiếp nào đang chờ đợi bà con đâu.
Hết lời thuyết phục họ mà
không có kết quả, giáo sư mệt nhoài ngồi bệt xuống bậc thềm nhà, lấy tay che mặt.
- Kinh khủng thật, kinh
khủng thật! - Ông lắc đầu khe khẽ nói.
Một số dân chài tỏ về
thương ông:
- Chúng ta nên nộp cho
ông ít “bột” để khỏi phiền toái.
Broie nghe thấy câu nói
đó. Ông ngẩng đầu nói:
- Nộp toàn bộ hoặc đừng nộp
gì cả! Nộp ít một không có tác dụng gì đâu, bà con ạ.
- Ta thật không tài nào
hiểu nổi - Một ông lão đánh cá bước lên phía trước nói - Tại sao chúng tôi cứ
phải nộp tất cả cho ông thì mới không bị đầu độc?
- Nếu bà con không nộp tất
cả thì tôi sẽ không cho thuốc giải độc.
- Tại sao mày không cho
chúng tao hả?
Tâm trạng của đám dân
chài lại đột ngột thay đổi.
- Nếu mày không cho chúng
tao thì mày sẽ phải về chầu trời sớm hơn chúng tao. Mày phải cho chúng tao ngay
bây giờ.
Đám đông vây chặt quanh
Broie, túm lấy tay ông và lôi giáo sư sềnh sệch về nhà ông như một người bị bắt.
Những cánh tay của đám dân chài nhấc bổng ông lên và ông chỉ còn kịp nói như mê
sảng:
- Kinh khủng quá!... Tai
hại quá!...
Về đến nhà, ông lảo đảo
bước vào phòng thí nghiệm của mình và bưng ra một cái bình lớn chứa một chất lỏng
trong suốt.
- Đây, đề nghị bà con uống
từng ngụm một, mang cho ông Hans một ít và cho tất cả những ai đã ăn “bột”.
Đám dân chài ra về, bàn
luận với nhau về hành vi kỳ lạ của giáo sư.
Lão là người mất trí đấy
mà.
- Có gì là lạ cơ chứ? Lão
ta xưa nay vẫn lập dị như thế.
Còn giáo sư về phòng làm
việc của mình, tay run rẩy viết một bức điện gửi một nghị sĩ quen biết:
“Xin ngài báo cho chính
phủ phải thu hồi và hủy bỏ ngay lập tức toàn bộ trữ lượng ‘bột mì vĩnh cửu’.
Báo ngay điều đó cho các nước khác. Nếu không thì sẽ có sự ngộ độc trên quy mô
lớn. Broie”.
Nhà nước đã giành lấy độc
quyền kinh doanh “bột mì vĩnh cửu”, do đó muốn thảo luận bức điện của Broie,
người ta phải triệu tập một phiên họp nội các. Để tránh tuyệt đối giữ bí mật.
Ông bộ trưởng Bộ tài chính vốn đặt hi vọng lớn vào “bột” để cái thiện tình hình
tài chính nhà nước và củng cố giá trị đồng mác nên hăng hái thuyết phục các
thành viên của nội các đừng quá quan tâm đến bức điện.
- Đó chăng qua chỉ là thủ
đoạn xảo tra của nhà phát minh, bất mãn vì không làm nổi vai trò “một vị cứu
tinh của nhân loại”, hay đúng hơn đó chỉ cơn mê sảng của một kẻ điên dại. Các
giáo sư tài giỏi nhất của chúng ta đã tiến hành phân chất cẩn thận “bột” và
không tìm thấy trong “bột” một chất độc hại nào.
Phiên họp rất sôi nổi.
Nhưng rút cục mọi người chỉ thỏa thuận với nhau một điểm: không nên vội vã công
bố lệnh hủy diệt “bột”, khi việc này chưa được hoàn toàn sáng tỏ. Nội các lập tức
ủy nhiệm cho bộ trưởng Bộ y tế dựa vào các chuyên gia nghiên cứu một lần nữa “bột”
và cả nhũng người đã ăn thứ “bột” đó. Người ta cũng quyết định cử hai giáo su đến
gặp Broie: một bác sĩ tâm thần và một nhà hóa học, là những người quen biết cua
Broie, làm ra vẻ bạn hữu hỏi thăm sức khỏe của giáo sư và cố gắng tìm hiểu tai
họa gì đang đe dọa những người ăn “bột”.
Vài ngày sau, các bác sĩ
được trao nhiệm vụ nghiên cứu “bột” và những người ăn thứ “bột” đó đã đệ trình
báo cáo. Họ nói rằng cuộc nghiên cứu “bột” lần này cũng dẫn đến những kết quả
giống lần trước. “Bột” rất bổ, giàu sinh tố, dễ tiêu hóa đến mức rất phù hợp với
dạ dày của những người ốm và thậm chí cả của trẻ sơ sinh như một chất dinh dưỡng
bổ sung cho sữa mẹ và hoàn toàn vô hại. Tất cả những người ăn thứ “bột” này đều
cảm thấy mình khỏe khoắn. Những người thiếu máu và kiệt sức đã bình phục sau một
thời gian ngắn. Tình trạng sức khỏe của những người ho lao ăn thứ “bột” này đã
chuyển biến khá hơn trước rõ rệt.
Bộ trưởng Bộ Thương mại
nghe xong bản báo cáo, thở dài nhẹ nhõm:
- Còn tôi, xin thú thực,
vì tò mò và vì nhiệm vụ tôi đã nếm thử một miếng “bột” rủi ro đó. Từ khi đọc bức
điện của Broie, lúc nào tôi cũng cảm thấy hình như trong dạ dày mình cái thứ trứng
ếch sẽ nở ra muôn vàn chú ếch con.
Chẳng bao lâu, hai giáo
sư được cử đến đảo Fer cũng đã trở về.
Hai ông báo tin rằng tâm
trạng Broie hết sức trầm uất.
- Không thể nói là Broie
đã mắc bệnh loạn thần kinh, - Bác sĩ tâm thần báo cáo - nhưng tình trạng hệ thống
thán kinh của Broie không được tốt lắm. Tính tình ông thay đổi đột ngột chứng tỏ
ông bị suy nhược thần kinh nặng. Từ trạng thái ức chế hoàn toàn, đột nhiên ông
chuyến sang trạng thái hưng phấn mạnh mẽ. Ông đón tiếp chúng tôi không được niềm
nở cho lắm. Ông từ chối không chịu cho biết điều gì cụ thể về mối lo lắng của
mình. Ông cứ một mực nói: “Kẻ nào gieo gió thì phải gặt bão. Tôi đã làm tròn
nghĩa vụ của mình và đã báo trước cho các ông tai họa. Bây giờ xin các ông cứ
hành động tùy theo ý muốn của các ông và chịu lấy hoàn toàn trách nhiệm”.
Bản báo cáo này đã làm
các vị bộ trưởng bối rối đôi chút. Giá nhà nước chưa độc quyền kinh doanh “bột”
thì đỡ lôi thôi biết bao? Nhưng lúc này gánh lấy trách nhiệm cho chính phủ trước
một tai họa nào đó... Song, lợi ích thực tế đã thắng. Người ta quyết định không
đếm xỉa gì đến bức điện của Broie.
Krisman, người moi được
tin về bức điện đó, nói với Rodenstock:
- Chính phủ đã cướp đoạt
“bột” của chúng ta. Được thôi? Chúng ta đã kịp thu hồi vốn liếng dù chỉ kiếm được
một món lãi không lớn lắm. Bây giờ nếu có xảy ra chuyện gì rắc rối xung quanh
thứ “bột” này thì chúng ta cũng sẽ không bị kết tội là đã đầu độc thiên hạ nữa.
Chương 7
Sự giàu có không cần thiết
Mùa xuân đã đem đến cho
lão Hans một nỗi buồn: người hầu gái bỏ lão đi lấy một anh dân chài ở làng bên.
Lão già rất khó thích ứng với cuộc sống độc thân: lão phải tự tay mình quét dọn
nhà cửa, nấu cơm và giặt giũ quần áo. Lão đi khắp làng mời các bà góa và những
đứa trẻ mồ côi đến giúp việc lão. Nhưng chẳng ai thèm đến với lão. Mọi người ở
đây nam cũng như nữ, từ lâu đã mất thói quen lao động. Dù các quán rượu và sòng
bạc nhiều lúc đã làm cho họ trắng tay, nhưng vẫn chưa ai phải đi làm thuê cho
người khác. Lão già đành an phận. Để khỏi mất công nấu cơm, lão lại bắt đầu ăn
thứ “bột” mà lâu nay lão chỉ giữ để tự nở và bán.
Vào một buổi sáng mùa
xuân ấm áp, lão mở tủ thức ăn để múc một thìa “bột” đựng trong hộp. Lão ngạc
nhiên nhìn thấy “bột” nở nhanh hơn mọi ngày, thậm chí tràn cả ra ngoài thành hộp.
Lão chạy vào trong hầm nhà, nơi lão chứa số “bột” dự trữ để bán. Tại đây, “bột”
vẫn ở trạng thái bình thường, hầu như không nở.
Lão già ngạc nhiên và
sung sướng.
“Có lẽ vì nóng nên nó nở
nhanh đến thế” - Lão chắc mẩm như vậy. Lão xúc ra một nửa hộp và chén “bột” một
cách ngon lành. Lão ngồi sưởi nắng, miệng ngậm tẩu, phì phèo hút thuốc cho đến
mười hai giờ mới nằm nghỉ. Hai giờ chiều tỉnh dậy, lão lại tò mò nhìn vào tủ đựng
thức ăn. Hộp “bột” lại đầy tới mép.
“Gớm nhỉ! Giá bây giờ bọn
lái buôn mò đến thì mình có thể bán ngay cho họ một ít” - Lão suy nghĩ, buồn
phiền vì công việc buôn bán “bột” gần đây ế ẩm.
Đến tối lão tới nhà một
người dân chài có gia đình đông miệng ăn. Sau khi cà kê vài câu chuyện mào đầu,
lão làm bộ như vô tình hỏi:
- Thế bác có cần mua “bột”
không?
Bác dân chài nhún vai tra
lời lấp lửng:
- Nhà tôi cũng tạm đủ ăn.
Có lẽ tôi chỉ cần mua thêm một cân thôi.
- Bác định trả tôi bao
nhiêu tiền?
- Chúng tôi sẽ trả bác
hai mác.
Lão Hans rất bực bội. Sau
khi tán vài câu về tiết lập xuân, lão cáo từ ra về.
- Hai mác thôi à? - Lão
càu nhàu trên đường về nhà - Bọn con buôn đã từng trả mình hàng nghìn đồng, thế
mà hắn lại chỉ trả mình có hai mác. Họ biến đi đâu mất rồi? Mình thật không thể
hiểu nổi cái bọn ở thành thị. Khi thì cứ xoắn lấy mình, lúc thì mất mặt chẳng
thấy tăm hơi đâu cả...
Buồn rầu vì thất bại, lão
Hans đi ngủ sớm.
Buổi sáng hôm sau, khi thức
dậy và mở tủ đựng thức ăn, lão bỗng sửng sốt nhảy lùi về phía sau: “bột” không
những tràn ra ngoài hộp mà còn chảy đầy cả ngăn tủ.
- Ồ, nó lại chảy ra rồi!
- Lão già thốt kêu lên - Như thế này mình có thể bán hai mác một cân thật.
Lão đi vòng quanh khắp
làng để rao bán “bột”. Nhưng chỗ nào người ta cũng bảo lão:
- Chúng tôi không cần.
Chỉ sau có vài ngày mà mọi
người đã no đến tận cổ. Thật ra, những cơn rét bất ngờ đã kìm hãm không cho “bột”
nở nhiều, nhưng gia đình nào cũng thừa “bột” ăn hằng ngày rồi.
Lão Hans lại béo ra. Nếu
như không phải lo nghĩ thì lão còn phát phì hơn nữa. Lão đau khổ suy nghĩ rằng
sự giàu có của lão thật là uổng. Lão chưa dám nghĩ tới việc vứt “bột” ra ngoài
đường. Lão già rồi mà bỗng sinh ra háu ăn, ra sức ngốn “bột”. Sau cùng, lão cảm
thấy ràng đã đến lúc lão không thể nào ăn nhiều nhu thế được. Lão vất vả lắm mới
lê được đôi chân béo trương ra như chân voi. Bệnh khó thở hành hạ lão. Lão ì ạch
lê bước sang nhà hàng xóm. Người chồng và hai đứa con ngồi ngoài cổng. Còn bà vợ
ngồi bên cửa sổ nhìn ra.
- Chào hai bác - Lão niềm
nở nói - Tôi ngồi một mình buồn qua. Xin mời hai bác đến nhà tôi xơi ít “bột”
cho vui.
Người dân chài nhẩm tính
khoảng cách giữa hai nhà - chỉ độ ba mươi bước là cùng.
- Sang nhà cụ xa quá. -
Anh ta lạnh nhạt.
- Thế mà xa à! Tôi già cả
hơn bác mà vẫn còn lại đây được cơ mà.
- Thôi, xin cảm ơn cụ,
tôi no lắm. Hôm nay tôi đã ních vào bụng đến năm lần rồi còn gì.
- Thật đáng tiếc.
Lão Hans gieo mình xuống
chiếc ghế dài bên cạnh người dân chài và hành thực nói:
- Tôi thật tình chăng phải
đến thăm bác đâu, mà đến để mong bác giúp đỡ. Quả thật “bột” ở nhà tôi nở nhanh
quá, đầy cả ba ngăn tủ rồi. Tôi ăn, ăn mãi, nhưng nó vẫn cứ nở. Giá bác ăn bớt
giúp tôi thì tốt biết mấy?
Vợ anh dân chài hình như
động lòng thương lão Hans.
- Nên giúp đỡ người hoạn
nạn, - Bà ta nói với chồng - ai cũng có thể gặp lúc không may. Nhà mình đông
người còn khắc phục được, đằng này cụ Hans chỉ có một mình, lại già rồi.
- Thế thì bà cứ đi, - Người
chồng thờ ơ trả lời - còn tôi chẳng thiết, ngại lắm.
Vợ anh dân chài đi cùng
lão Hans. Lão luôn mồm cảm ơn bà ta.
- Có gì đâu, ăn miếng trả
miếng. Ngày xưa, khi chúng cháu chưa có “bột”, cụ đã thương gia đình chúng cháu
nghèo nên bán lẻ “bột” cho.
- Tất nhiên rồi, tất
nhiên rồi, - Lão Hans xun xoe - chúng ta phải giúp đỡ lẫn nhau chứ. Đây, xin mời
bác xơi, bác cứ tự nhiên dùng cho thỏa thích.
Người đàn bà múc một thìa
“bột”, cố gắng ăn một miếng to.
- Xin cảm ơn bác đã giúp
đỡ cái thân già này. Mời bác xơi miếng nữa.
Bà khách đưa lên miệng
thìa “bột” thứ hai, nhưng bỗng rút vội ra và khe khẽ nói, vẻ kinh hãi:
- Xin chịu thôi, cháu buồn
nôn quá.
- Nào, ăn thêm một ít nữa
thôi mà, bà làm ơn giúp đỡ tôi, ai lại nỡ lòng từ chối người già.
Lão Hans van nài như lão
sắp chết đói đến nơi, phải xin của bố thí không bằng.
- Tôi đã bảo cụ rằng tôi
không thể ăn được nữa, tại sao cụ cứ lôi thôi mãi thế? - Người đàn bà trả lời một
cách thô lỗ - Cụ đừng có nổi nóng lên với tôi đấy!
Và bà ta bước ra khỏi
phòng.
Lão Hans chào với theo và
nói:
- Được thôi, tôi đâu dám
nài ép bác. Xin cảm ơn bác.
Suốt đêm lão trằn trọc
mãi không ngủ được. Lão tính nhẩm xem lão sẽ thu được bao nhiêu tiền nếu lão
bán tất cả số “bột” này với giá một ngàn mác một cân. Mãi đến gần sáng lão mới
chợp mắt, nhưng chẳng bao lâu một tiếng động vang lên trong phòng làm lão thức
giấc. Lão Hans nhảy chồm từ trên giường xuống đất và nhìn quanh. Trong ánh sáng
còn lờ mờ, lão thấy “bột” nở nhanh quá đã phá tung cánh cửa tủ và chảy lênh
láng ra sàn nhà.
Lão Hans hoảng quá. Lần đầu
tiên lão nghĩ đến tai họa mà “bột” đang đe dọa lão.
“Rồi sẽ ra sao nhỉ? - Lão
nghĩ - Cứ thế này thì ‘bột’ sẽ đuổi mình ra khỏi nhà mất”.
Lão không sao tiếp tục ngủ
được nữa. Lão hình dung “bột” như một con rắn xám đang bò đến giường và chẹn cổ
lão... Sáng sớm tinh mơ lão ra ngoài đường cái, nơi thỉnh thoảng có những người
thất nghiệp, lưu manh và ăn mày qua lại.
Lão rủ được ba gã đàn ông
vóc người lực lưỡng nhưng đói mèm vào nhà bằng cách hứa cho họ ăn uống no nê.
Rõ ràng những gã đàn ông
này chưa ăn “bột” bao giờ. Thoạt đầu họ còn tỏ vẻ e ngại, chưa dám ăn. Nhưng
khi lão Hans ăn thử cho họ thấy, họ cũng nếm và khen ngon, rồi lao vào ăn lấy
ăn để. “Bột” như tan ra trong mồm; ăn thứ bột này không thấy nặng bụng, nên họ
ních vào thật nhiều. Dạ dày của họ đã to, lại được bữa lạ miệng, nên chỉ khoang
hai mươi phút sau các vị khách quý ấy đã chén hết sạch hai ngăn tủ “bột”.
Lão Hans mừng quá:
- Thế nào? Ngon không các
anh?
- Không đến nỗi dở, cụ ạ?
- Họ trả lời, lim dim những đôi mát sáng lên vì no nê.
- Thế đấy. Tôi vốn hiền
lành, bản thân tôi đã có lúc đói khát, tôi hiểu thế nào là đói. Nên giúp đỡ người
cùng cảnh ngộ. Tôi sống độc thân, nêu thừa “bột” thì sao tôi lại không cho người
nghèo đói ăn được?
- Xin cảm ơn cụ.
- Không dám. Mời các anh
ngày mai cứ đến đây. Nếu các anh muốn, ngày nào đến cũng được. Các anh cứ dẫn cả
bạn bè của mình tới. Tôi rất rộng bụng, tôi sẽ cho tất cả ăn thật no.
- Cảm ơn cụ, chúng cháu sẽ
đến.
Mấy gã đàn ông cáo lui.
Lão Hans phấn khởi:
- Đấy! Mọi việc rồi sẽ tốt
thôi?
“Bột” đối với lão không
còn giống như một con rắn ghê rợn bò từ tủ đựng thức ăn ra và sẵn sàng nuốt chửng
lão nữa.
- Những kẻ trai tráng này
sẽ nuốt chửng bất cứ con rắn nào?
Sáng hôm sau, lão sốt ruột
chờ đợi họ, nhưng họ không đến. Được ngày ấm trời, “bột” lại nở đầy ắp cả tủ và
chảy ca ra sàn nhà. Ban đêm, những cơn ác mộng hành hạ lão. Lão lại cảm thấy dường
như “bột” bò đến gần lão, trườn lên ngày càng cao, giơ những bàn tay xám xịt...
Lão choàng dậy, mình đẫm mồ hôi như tắm. Sau cùng, lão thiếp đi và đánh một giấc
có lẽ rất dài. Một người nào đó gọi to đánh thức lão dậy:
- Cụ chủ ơi! Cụ chủ ơi!
Lão Hans mở mát và nhìn
thấy mặt trời đã lên khá cao. Lão lại gần cửa sổ và mở toang hai cánh ra. Ngoài
cửa sổ có ba người đứng. Lão biết mặt hai người trong số họ: đó là những người
thất nghiệp đã ăn “bột” của lão. Người thứ ba là một gã ăn mày mặc bộ quần áo
vá chằng vá đụp.
Trông thấy họ, lão Hans mừng
quá vội vã mở cửa:
- Xin trân trọng mời các
anh vào nhà. Chắc các anh đói bụng? Tôi đợi các anh cả ngày hôm qua, tôi đã chuẩn
bị cho các anh món “bột” ngon tuyệt.
Nhưng mấy anh khách của
lão còn đủng đỉnh chưa chịu bước vào nhà vội. Một người thất nghiệp nói, vẻ
sành sỏi:
- Lại cần chúng tôi ăn hộ
chứ gì?
Câu chào hỏi đó làm lão
Hans hơi ngạc nhiên, nhưng lão vẫn niềm nở nói:
- Xin mời các anh.
- Nhưng cụ cho biết giá cả
bao nhiêu? - Gã thất nghiệp hỏi một cách thành thạo. Lúc này thì lão Hans tròn
xoe mắt sửng sốt.
- Giá cả gì? Tôi mời các
anh xơi, không phải tiền nong gì cả!
- Ồ, việc gì chúng tôi phải
trả tiền cụ cơ chứ? Tôi hỏi cụ trả công chúng tôi ăn hộ là bao nhiêu?
- Tôi phải trả các ông ư?
Tiền công ăn hộ à? Làm gì có chuyện ngược đời như thế nhỉ?
- Ngược đời hay không
cũng mặc, cụ không trả tiền thì chúng tôi không ăn. Cụ không muốn trả tiền thì
thôi vậy. Chúng tôi sẽ kiếm việc ở chỗ khác.
- Việc gì cơ chứ? Nán lại
một chút nào, các anh định đi đâu đấy? - Lão Hans hoảng sợ.
- Thôi, tôi có thể cho
các anh một ít tiền.
- Bao nhiêu nào?
- Tôi sẽ cho các anh hai
mươi xu.
- Giá ấy không được phải
chăng. Trong làng cụ, người ta trả chúng tôi hai mác một cân co đấy. Họ tranh
nhau thuê. Chỉ việc chén thôi.
Lão Hans choáng váng. Trả
tiền công cho những người ăn “bột”. Chính thứ “bột” người ta đã phải mua của
lão tới giá nghìn mác một cân hoặc hơn nữa. Hay những người này trêu chọc lão,
hoặc giá lão đã mất trí...
- Không, tôi không trả tiền
các anh đâu. Tôi sẽ tìm được những người khác.
- Không tìm được đâu, khắp
vùng này mọi người đều biết cả rồi, cụ ạ.
- Tôi ăn lấy vậy. - Lão
Hans ương ngạnh nói.
- Đó là việc của lão. Nếu
lão không nghèo thì ngày mai lão sẽ phải trả tới bốn mác cho mà xem. Ta đi
thôi, các bạn!
Và bọn họ rút lui, bỏ lão
với đống “bột”. “Bột” phủ một lớp xám ngoét trên sàn nhà, ngập hết ngăn dưới
chiếc tủ đựng thức ăn. Chỉ sau một đêm nữa, chắc chắn bột sẽ nở đầy phòng...
Lão Hans khiếp sợ quá.
Lão lao ra cửa sổ và gọi với những người ăn thuê lại:
- Đợi tôi một chút, các
anh ơi, quay lại đây!
Họ quay lại, dùng mắt ước
lượng số “bột”, rồi bắt tay vào việc. Họ ăn cả “bột” ở sàn nhà mà không ghê tởm.
Họ chén sạch số “bột” chảy ra ngoài tủ và trong hai ngăn dưới chiếc tủ. Họ
không thể ăn thêm được nữa.
Lão Hans đưa tay run rẩy
trả tiền “cánh thợ” và gieo mình xuống chiếc ghế bành, mệt lử.
Những người “ăn thuê”
ngày nào cũng đến. Càng ngày họ càng to béo hơn, ăn ít hơn, đòi tiền công cao
hơn. Tiền bạc lão Hans tiêu ma nhanh chóng. Cuối cùng, lão không chịu nổi. Một
lần sau khi họ đi khỏi lão cố nhắm mắt nhắm mũi ních thật nhiều “bột” vào bụng.
Lão ăn nhiều đến nỗi sáng hôm sau thức rồi mà lão vẫn không sao ngồi dậy được.
Lão ngạt thở, tức ngực.
Lúc những người “ăn thuê”
đến, lão thều thào bảo họ:
- Xin các anh vứt tất cả
cái của nợ này ra ngoài đường hộ tôi, quăng xa xa nhà một chút.
- Đáng lẽ phải làm như vậy
từ lâu rồi, cụ ạ - Mấy gã lang thang phấn khởi trả lời - Chính bọn này cũng đã
chán “bột” đến mang tai. Những người cùng làng với cụ đã vứt “bột” đi từ lâu rồi.
Họ nhanh chóng bắt tay
vào việc và cuối cùng quét dọn hết “bột” trong căn nhà. Lão Hans muốn nhổm dậy
để trả tiền, nhưng bỗng bật ngửa người ra phía sau, tái mét mặt và thở phì phò.
- Ồ, lão này đến ngày tận
số rồi? - Người ăn mày lại gần lão Hans nói.
- Lão nghẻo vì béo quá?
Hôm qua, làng này đã có hai người về chầu ông vải rồi. Được, chúng mình phải lấy
một vật gì để kỷ niệm về lão già này, rồi chuồn ra bến tàu thôi. Chúng ta kiếm
chác ở đây quá đủ rồi.
Tiền của lão để ở đâu nhỉ?
- Thôi đi, Carlo ạ, - Gã
thất nghiệp nói - kẻo người ta bắt được quá tang thì phiền.
- Ai bắt quả tang bọn
mình ở đây cơ chứ? Ở cái làng này suốt ngày có ai buồn nhúc nhích thân xác đâu
mà lo.
Người ăn mày tìm thấy chiếc
hòm nhỏ. Gã nhét tiền đầy các túi và chuồn thẳng cùng với đồng bọn, để lại một
cái xác lạnh ngắt.
Chương 8
Dòng thác bột
Cả làng sống trong tình
trạng khiếp sợ. Mỗi nhà dân chài chỉ có một ít “bột mì vĩnh cửu”: Khi mùa hè
nóng nực đến và “bột” bắt đầu nở nhanh, mọi người đều thấy phấn khởi trước “vụ
mùa” bội thu chưa từng thấy. Nhưng những sự việc xảy ra tiếp theo đã làm họ hoảng
hốt: “bột” nở với tốc độ kinh khủng, đã biến từ một chất dinh dưỡng quý báu
thành một kẻ thù đáng sợ, nó sinh sổi nảy nở thành một dòng thác bột mạnh mẽ,
đe dọa dìm chết hết thảy mọi người.
Tai họa chung đó làm cho
mọi người kinh hoàng. Cần phải thực hiện những biện pháp nào đó để thoát khỏi
cái chết khủng khiếp này.
Cũng như lão Hans, những
người dân chài ban đầu cố gắng tiêu diệt “bột” bằng cách ăn thật nhiều. Họ ăn một
cách tuyệt vọng và điên cuồng, ních nhiều đến nỗi đau tức cả bụng, đến bất tỉnh
nhân sự. Số đông sinh ra ích kỷ, độc ác và man rợ. Để tự cứu mình, những người
khỏe hơn ép buộc những người yếu hơn phải ăn, nhưng phỏng có ích gì. Chẳng bao
lâu mọi người thấy rõ rằng ăn không thể nào làm giảm được số “bột”. “Bột” nở đấy
ắp những căn nhà, phá vỡ cửa sổ, tràn ra ngoài đường và chảy như một dòng thác
xám xịt. Sức nở của “bột” lớn đến nỗi “bột” lấp đầy lò sưởi, chui lên cả ống
khói và trào ra ngoài phủ đẩy mái nhà như những tảng tuyết lớn. Những gia đình
đông người còn chống chọi với “bột” được phần nào. Họ kịp thời đem “bột” từ
trong nhà vứt ra ngoài đường. Đêm đêm đám dân chài ném trộm “bột” sang nhà hàng
xóm. Những người bị bắt quả tang đều bị đánh đập tàn nhẫn.
Một trong những kẻ phạm tội
đó bị Fris túm được ở ngay gần nhà hắn. Fris tức điên người lên, đánh gục kẻ
ném trộm đó bằng một quả đầm thôi sơn và ném xác kẻ bất hạnh vào đống “bột”.
Sáng hôm sau “bột” đã nuốt chửng cái xác đó. Thế là Fris lại giết người lần thứ
hai. Hắn thậm chí không cần giấu diếm nữa. Hắn giải thích cho nhũng người cùng
làng của mình rằng việc làm của hắn chỉ là tự vệ cần thiết. Các vị thẩm phán ở
tòa án thành phố có thể lên án là hành động của Fris đã “vượt quá giới hạn của
sự tự vệ cần thiết”. Nhưng tất cả dân chài đều một mực cho rằng Fris hành động
như vậy là đúng và việc đó có thể lấy làm gương cho những kẻ khác.
Những người bị “bột” đuổi
ra khỏi nhà bối rối gần như phát điên lên vì quá sợ hãi. Họ thường tụ tập ngoài
bờ biển và thảo luận về tình thế gay go của mình. Mỗi khi tụ tập, họ lại kể cho
nhau nghe những chuyện kinh khủng. Nào là cả nhà lão thợ mộc chết ngạt trong “bột”:
ban đêm khi mọi người ngủ say, “bột” bịt kín cửa ra vào và cửa sổ những người bất
hạnh đã bị “bột” làm cho chết ngạt. Nào là những đứa trẻ sơ sinh và những người
ốm yếu bị bỏ lại trong các ngôi nhà đã chết ra sao.
Một bà mẹ mất đứa con nhỏ
kể:
- Tôi chạy sang mấy nhà
hàng xóm để nhờ khuân giúp đồ đặc ra khỏi nhà. “Bột” lúc đó mới nở đầy một nửa
căn phòng, còn đứa con nhỏ của tôi nằm ở phòng bên cạnh. Tôi hi vọng sẽ mau
chóng quay về. Nhưng tôi phải đi khắp làng nhờ giúp đỡ mà chẳng ai chịu đi cả.
Người nào cũng bận rộn công việc của mình. Tôi không thể nói rõ ràng tôi vắng
nhà có lâu hay không. Khi quay về, tôi thấy căn phòng đã đầy “bột” đến gần trần
nhà khiến tôi không thể đi qua để vào phòng bên bế cháu ra được nữa. Tôi vội chạy
ra cửa sổ, nhưng cửa sổ lại đóng bên trong. Lúc đó, tôi quyết định xéo qua “bột”
mà vào. Nó dính quá bùn đặc. Tôi mới đi một vài bước mà đã mệt lử. Đầu tôi còn
cao hơn mức “bột”: “bột” chỉ mới ngập đến vai. Nhưng chẳng bao lâu “bột” đã dềnh
tới cổ, rồi đến cằm... Mấy phút nữa “bột” có thể làm tôi chết... Tôi sa lầy
trong “bột” như trong vũng bùn nhớp nháp của một cái đầm. Tôi bắt đầu kêu ầm
lên. May thay, bác Fris chạy qua. Bác nghe thấy tiếng tôi kêu bèn dùng cây sào
kéo tôi ra. Còn cháu bé chúng tôi không sao cứu được.
- Vâng, mọi việc xảy ra
đúng như vậy - Fris xác nhận - Chính tôi cũng phải nuốt khá nhiều “bột” mới lôi
được bà Martha ra đấy.
Nhưng việc cứu người sắp
chết đầy tinh thần hi sinh đó đối với người ngồi nghe cũng giản đơn và cần thiết
như giết một kẻ “ném trộm bột” - tên gọi này nảy sinh từ khi xuất hiện một trọng
tội mới. Ba tiếng ấy cũng làm nhục con người ta như hai tiếng “kẻ cắp” trước
kia.
Đám dân chài buồn rầu im
lặng nghe những câu chuyện khủng khiếp đó.
- Chẳng lẽ chúng ta sẽ chết
ráo cả ư? - Một phụ nữ trẻ hỏi.
- Hay là ta bỏ cửa bỏ nhà
đi thật xa khỏi nơi này. - Một ngư dân già trả lời.
Fris đăm chiêu nhìn ra biển.
- Nhưng tại sao chúng ta,
- Hắn nói - lại không thử quăng “bột” ra ngoài biển khi biển ở ngay sát nách
chúng ta nhỉ? Ngoài biển thiếu gì chỗ. Có thể “bột” sẽ chìm xuống nước. À không
- gió và sóng sẽ cuốn nó đi khỏi vùng bờ biển làng ta, và thế là xong chuyện.
Ý kiến này làm mọi người
thích thú. Dù việc làm đó rốt cuộc ra sao chưa rõ, nhưng cũng giúp họ một lối
thoát nào đó khỏi tình trạng bế tắc đau khổ hiện nay. Và họ hăng hái bắt tay
vào việc. Ngày đêm họ khuân “bột” ra bờ, quẳng xuống biển.
“Bột” hơi chìm trong nước,
nhưng nó không chìm hẳn mà nổi lềnh bềnh trên mặt biển như những tảng băng bẩn
thỉu xám xịt dưới ánh mặt trời mùa xuân. Không sao đẩy nó ra xa bờ được. Sóng
biển xô một phần “bột” trở lại bờ. Cá rất thích ăn “bột”. Chúng nổi lên lúc
nhúc ở gần bờ, đớp lấy đớp để thứ “bột” ngon lành đó.
Những người dân chài lấy
làm thú vị trước cảnh tượng này.
- Có lẽ cá sẽ chén hết “bột”.
Hay xem chúng sẽ chết sạch thôi.
- Mồi nhử tốt quá nhỉ?
Giá đánh cá bây giờ thì tuyệt?
- Chẳng có chiếc lưới nào
chịu được. Lưới bọn mình mục nát hết rồi còn đâu.
Tuy nhiên, chẳng ai còn bụng
dạ nào nghĩ đến việc đánh cá nữa. Mọi người tiếp tục khuân “bột” ra vứt xuống
biển.
Đến ngày thứ ba, một người
dân chài nhận xét:
- Thế này là thế nào nhỉ?
Bọn mình vứt “bột” đã nhiều, cá ăn cũng lắm, mà “bột” cứ ngày càng nhiều hơn
trước?
- Như thế là trong nước,
“bột” cũng nở.
Vài ngày sau, ai cũng thấy
rõ rằng “bột” không những tiếp tục nở dưới nước, mà còn nở nhanh hơn trên mặt đất,
có lẽ vì nó thu nhận thêm chất dinh dưỡng trong nước biển. “Bột” nổi trên mặt
nước chiếm một diện tích rộng lớn trên mặt biển, lan mãi ra khơi, sắp vượt ra
ngoài tầm mắt. Như để tăng thêm tai họa, nó phủ cả một vạt nước ven bờ biển, chặn
sóng lại, rồi trườn lên đất liền. Dường như biển cũng bội thực không tiêu hóa
được thêm nữa, nên phải trả lại mặt đất phần thừa. Không sao đi ra sát bờ biển
được nữa.
Hy vọng cuối cùng của những
người dân chài tan ra mây khói. Họ tuyệt vọng đứng gần bờ biển, không biết nên
làm gì để tự cứu mình nữa. Trước mặt họ là mặt biển xa lạ - một khối thịt đông
xám xịt, một vũng bột sền sệt trên đó thuyền bè đừng hòng qua lại... Đằng sau họ
là những ngôi nhà phải lìa bỏ, hoang vắng...
Một người dân chài thử cố
cho một chiếc thuyền xuống nước. Nhưng thuyền dính ngay vào “bột” như keo, còn
mái chèo thì không sao rút ra được nữa.
- Thế là biển cũng hỏng nốt
- Một ngư dân già nhăn nhó nói - Bây giờ đường thủy cũng như đường bộ đều bế tắc...
Khó lòng thoát khỏi đảo này... Ai là kẻ gây ra những tai họa này nhỉ?
Ừ, ai là kẻ gây ra nhỉ? Mọi
người bám lấy ý kiến đó. Không còn hi vọng gì thoát chết, mọi người bèn tìm thử
phạm để trút cơn giận dữ lên đầu người đó.
- Còn ai là thủ phạm
ngoài giáo sư Broie nữa!
Đám dân chài quên bẵng hoặc
không muốn nhớ lại rằng họ đã kiếm “bột” ở đâu, rằng giáo sư đã khuyên nhủ họ
trả lại cho ông toàn bộ số “bột mì vĩnh cửu” dự trữ.
- Chính lão đã giết bọn
mình! Lão làm cho chúng ta tan cửa nát nhà, xô đẩy con cái chúng ta vào chỗ chết.
Lão đổ lên đầu chúng ta mọi thứ tai họa. Phải giết lão giáo sư Broie! Phải giết
kẻ bóp cổ chúng ta!
Thế là đám người giận dữ ấy
lao về phía ngọn đồi, tới trang trại của giáo sư.
Johan, Robert và Oscar cố
gắng thuyết phục đám người đừng có những hành động điên rồ, nhưng vô hiệu. Cơn
giận dữ làm cho họ chẳng suy nghĩ gì nữa.
Chương 9
Bao vây
Giáo sư Broie đang sống
những ngày buồn bực. Ông đã biết sự việc đang xảy ra trong làng. Ông tìm hết
cách để báo trước tai họa, nhưng ông vẫn cảm thấy mình là thủ phạm gián tiếp.
- Kinh khủng quá! Kinh khủng
quá? - Ông đi đi lại lại trong phòng làm việc - Thật là bất hạnh! Bỏ ra bốn
mươi năm trời liền mong làm cho mọi người sống hạnh phúc, ai ngờ lại gây cho họ
biết bao tai ương...
Từ chỗ tuyệt vọng, giáo
sư chuyển sang làm việc khẩn trương: ông cố sáng chế một thứ thuốc có thể hủy
diệt “bột” nhanh chóng hoặc ít nhất cũng hạn chế được sự phát triển của nó. Ông
ngồi làm việc suốt đêm này qua đêm khác trong phòng thí nghiệm. Nhưng ông còn
phải tiến hành rất nhiều thí nghiệm nữa mới có thể đạt tới những kết quả thực tế.
Muốn thế cần phải có thời gian. Ông lại làm việc trong tình trạng thần kinh
căng thẳng thường xuyên giữa tai họa khủng khiếp đang đe dọa ông. Và ông gần
như bị rối loạn thần kinh. Broie dự đoán rằng sớm hay muộn cái đám đông phẫn nộ
kia cũng có thể tấn công ông, và ông chuẩn bị sẵn sàng đối phó với nguy cơ đó.
Ông không ham sống lắm nhưng ông cảm thấy rằng chỉ mình ông mới có thể cứu nhân
loại thoát khỏi thảm họa diệt vong vì “bột”. Do đó, ông quyết định bảo vệ cuộc
sống của mình bằng bất cứ giá nào.
Khi người đầy tớ hoảng hốt
chạy vào phòng làm việc của ông và hổn hển nói: “Đám đông dân chài đang kéo về
phía nhà ta”, thì giáo sư Broie chỉ buồn rầu hỏi:
- Họ đã đến rồi à?
Ông ngồi trầm ngâm một
phút như một phạm nhân khi nghe thấy người ta nói: “Lính áp giải đã tới. Mời
ông lên đoạn đầu đài”. Nhưng ông trấn tĩnh ngay được, đứng thẳng người lên và
bình tĩnh ra lệnh:
- Đóng cửa lại, Carlo.
Hãy lắp cánh cửa gỗ sồi vào những cửa sổ ở tầng dưới.
Broie và Carlo nhanh
chóng bắt tay vào việc. Cửa ra vào làm bằng thứ gỗ sồi nặng và dày, lại có nẹp
bằng sắt. Cánh cửa như vậy có thể chịu đựng được lâu dài những trận tấn công ác
liệt. Những chiếc cửa sổ tương đối nhỏ ở tầng dưới được che bằng những cánh cửa
chớp chắc chắn với những chiếc bù loong sắt. Tất cả đều đã được tính toán kỹ từ
trước. Carlo còn kịp đóng cả cổng, mặc dù cổng làm không được chắc chắn bằng cửa
ra vào.
- Tuy vậy, cổng này cũng
kìm chân được bọn họ một thời gian. - Người đầy tớ nói.
Ngôi nhà nhỏ bé của giáo
sư chuẩn bị sẵn sàng đối phó với cuộc bao vây. Người ta đã nghe thấy rõ ràng tiếng
kêu thét ngoài bức tường đá bao quanh nhà ông.
- Giết chết tên sát nhân
đi! - Đám người phẫn nộ gào lên và dùng những chiếc sào đánh cá nặng nề giáng tới
tấp vào cánh cổng.
Những con chó vừa được
tháo xích rống lên hết sức dữ dội. Đám người nhộn nháo, cánh cổng kêu răng rắc
và sau cùng ụp xuống. Những người dân chài có sào và lao đâm cá xông vào trong
vườn, hạ thủ đàn chó và vây chặt ngôi nhà.
- Mở cửa ra? - Đám dân
chài thét lên - Mày không thể nào trốn thoát khỏi nơi này đâu.
Giáo sư đứng cạnh một chiếc
cửa sổ nhỏ ở tầng thứ hai nhìn ra. Mặc dù tình hình rất nguy ngập, ông vẫn bất
giác mỉm cười khi nhìn đám người bao vây: không có một đạo quân nào trên thế giới
này lại gồm những con người to béo, ì ạch đến thế? Lo nghĩ và lao động trong những
ngày vừa qua ít nhiều có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của họ, nhưng tất cả bọn họ
vẫn phục phịch đến nỗi người ta có thể tưởng lầm rằng họ tụ tập lại để dự một
cuộc thi tuyển những người béo tốt. Họ thở như kéo bễ và chóng mệt mỏi. Nhược
điểm đó làm cho họ trở thành những đối thủ bớt nguy hiểm.
- Tôi ra bây giờ đây,
nhưng trước hết xin bà con chú ý nghe tôi. - Giáo sư cố gắng dùng lời lẽ thuyết
phục họ - Tôi đã báo trước cho bà con... - Ông bắt đầu nói.
Nhưng họ không cho ông
nói:
- Quân giết người! Kẻ sát
nhân! Giết! Giết!
- Tôi sẽ nói cho bà con
biết cách hủy diệt “bột”! - Giáo sư cố gào lên át tiếng ồn ào của đám đông. Những
người đứng gần thấy câu nói đó liền im lặng, những kẻ đứng xa vẫn tiếp tục hò
hét.
- Trong khi chờ đợi tôi
tìm ra thứ thuốc có thể cứu bà con mau chóng thoát khỏi tai họa do “bột” gây
ra, bà con hãy lấy đá nghiền nát “bột” ra, cho vào cối giã nho, hoặc đốt lên là
“bột” teo hết. Nhưng điều chủ yếu là đừng ngăn trở tôi làm việc. Bà con đã một
lần không nghe tôi...
Những tiếng hò hét của
đám người đã át lời Broie. Đám dân chài bắt đầu dùng sào đập phá. Song không một
cánh cửa ra vào hay cửa sổ nào đổ cả.
Đám dân chài tiếp tục bao
vậy. Những người mệt mỏi được kẻ khác thay thế. Họ kiên trì đập phá cửa ra vào.
Đến tối, những cánh cửa đã hư hỏng nặng. Ở một vài chỗ, những cái sào nhọn đã
chọc được vào bên trong. Nhưng đạo quân béo phị ấy cũng mệt nhoài. Những người
bao vây ngồi xung quanh nhà bắt đầu thảo luận kế hoạch hành động. Nhiều người cảm
thấy việc dùng sào phá cửa quá mệt nhọc và tốn thời gian. Cần nghĩ cách chiếm
lĩnh cái pháo đài bị vây hãm này nhanh hơn.
Tiếng la hét hỗn độn im dần.
Đám người vô tổ chức đó rõ ràng đã biến thành một “đạo quân” có tổ chức, cử ra
bộ tham mưu và những người chỉ huy hẳn hoi.
“Nguy rồi đây”. - Broie
nghĩ bụng.
- Kìa, có đứa đang vung vẩy
tay, - Carlo vừa nói vừa chỉ về phía một gã dân chài - đấy là Fris, con biết hắn.
Fris đang giải thích cho
bọn dân chài điều gì đó. Họ nghe hẳn một cách chăm chú, rồi tất cả lại ồn ào
kéo ra cổng, chỉ để lại một vài người đứng canh nhà giáo sư.
“Phải chăng hắn đã thuyết
phục được họ không làm những việc ngu xuẩn này? - Broie nghĩ - Nhưng nếu như vậy
thì họ để lại mấy người gác này làm gì nhỉ?”
Gần một giờ trôi qua. Bỗng
Broie trông thấy đám dân chài quay lại và đoán ngay được kế hoạch của họ. Họ
vác mỗi người một bó củi.
- Họ định làm gì thế nhỉ?
Họ muốn thiêu sống thầy trò ta chăng? - Carlo sợ hãi nói.
- Chúng ta phải cố sống mới
được. - Broie trả lời. Giáo sư quan sát đám dân chài đang dựng những bó củi ở cửa
ra vào và chân tường ngôi nhà.
- Nào, chúng ta cho “pháo
binh” ra quân thôi. - Giáo sư nói.
Người đầy tớ khuân ra một
bó tên lửa to tướng. Đám dân chài chưa kịp nhóm lửa, Broie và người đầy tớ của
mình đã phóng vào đám người bao vây hàng chục tên lửa. Những tên lửa này có
tính năng rất đặc biệt. Chúng rít lên khủng khiếp, nổ ầm ầm, phụt ra từng luồng
lửa, nhảy lung tung và để lại ở phía sau một mùi khó ngửi đến ngạt thở. Mặc dù
có hiệu quẻ ghê gớm, tên lửa hoàn toàn không độc hại gì.
Song tên lửa đã làm cho kẻ
thù vô cùng hoảng sợ. Đám dân chài bỏ chạy tán loạn, tay bịt mồm và hắt hơi. Họ
cho rằng họ đã bị đầu độc bằng hơi ngạt.
Lúc ấy đã vào nửa đêm.
Trăng hạ tuần ló ra qua những đám mây đen vừa bị gió xua tan. Giáo sư vừa nghĩ
đến việc lợi dụng thời gian kẻ thù rút lui để tẩu thoát, thì đám dân chài thấy
mình vẫn hoàn toàn khỏe mạnh, bèn quay lại ngôi nhà.
Dưới ánh trăng mờ nhạt,
Broie nhìn thấy những người dân chài quấn khăn quanh mũi và mồm tiến lại gần
nhà. Họ cầm trong tay những bó đuốc cháy bùng bùng. Mặc dù béo phệ và ì ạch, lần
này họ hành động một cách nhanh chóng và kiên quyết. “Đội quân có tổ chức” đã
hoàn thành nhiệm vụ của mình. Broie chưa kịp phóng ra một loạt tên lửa mới, những
người dân chài đã đốt những bó củi, rồi tránh sang một bên và ngồi xuống.
- Tệ hại thật. - Broie
nói và nhìn những ngọn lửa bốc cháy bùng bùng trên những cành cây khô có nhựa.
Ông bóp trán suy nghĩ rồi báo Carlo:
- Không còn cách nào khác
nữa, ta buộc lòng phải tấn công họ bằng hơi ngạt... Đó là một thứ hơi ngạt
không làm ai chết cả, nhưng sẽ làm kẻ thù thiếp đi ít nhất ba tiếng đồng hồ.
Broie nhanh chóng sang
phòng thí nghiệm mang ra hai cái bình lớn. Khi ông mở cái nút kim loại, từ
trong bình một luồng hơi gần như không màu sắc phun xuống phía dưới. Sau khi
phóng bình thứ nhất, Broie và người đầy tớ đeo mặt nạ phòng hơi ngạt rồi phóng
tiếp ba bình nữa. Hiệu lực của thứ hơi này rất nhạy và hoàn hảo. Những luồng
hơi vừa mới bay đến chỗ đám dân chài, họ đã ngã xuống hàng loạt.
- Có thể đi được rồi đấy.
- Broie nói.
Hai người đi ra, đóng cửa
lại, nhanh chóng thu dọn đống củi đang cháy, dụi tắt lửa. Một luồng gió thổi tới
đã xua tan hơi ngạt.
- Càng tốt, khoang hai tiếng
đồng hồ nữa, tất cả bọn họ sẽ tỉnh dậy. Lúc đó chúng ta đã đi xa rồi.
Broie mở cửa ga-ra, đánh
ra một chiếc xe hơi nhỏ hai chỗ ngồi và gọi Carlo lên xe. Chiếc xe ra khỏi cổng
và phóng nhanh trên đường cái về phía thành phố gần nhất.
Chương 10
Thủ phạm
Đến sáng, những người dân
chài tỉnh dậy và ngơ ngác nhìn nhau. Họ không hiểu việc gì xảy ra. Xung quanh
ngôi nhà ngổn ngang những cành cây vất bừa bãi. Ngôi nhà im lìm.
Họ phá cửa và bước vào
trong. Khắp nơi đều trống rỗng.
- Lão chuồn rồi! Chạy mất
rồi! Lão xỏ mũi cánh ta rồi!
Họ thất vọng quay về
làng, và đến lúc đó họ mới sực nhớ lời khuyên của Broie nên hủy diệt “bột” như
thế nào. Họ mang đến một cái chảo tướng, nhóm lửa ở dưới và bắt đầu quăng “bột”
vào chảo. Một mùi khó ngửi từ trong chảo bốc lên, “bột” mau chóng teo đi trong
chảo, chỉ để lại ở đáy cháo một ít cặn. Người nào không có chảo thì dùng đá
nghiền nhỏ “bột” hoặc bỏ vào cối giã. Kết quả công việc tương đối tốt, nhưng “bột”
nhiều quá nên đám dân chài phải làm việc suốt ngày để hủy diệt toàn bộ số “bột”
đang mỗi lúc một nở nhanh.
Khi đám dân chài đang tiến
hành thứ lao động vô cùng vất vả đó, giáo sư và người đầy tớ Carlo vẫn phóng xe
về phía thành phố. Đi qua một làng nho, họ gặp một ngư dân già biết mặt giáo sư
Broie.
- Tên giết người đây rồi.
- Lão dân chài chỉ tay về phía Broie nói cho những ngươi xung quanh biết. Đám
nông dân hò hét hăm dọa. Carlo mở máy cho xe hơi chạy hết tốc lực.
Nhưng một gã nông dân ném
vào xe hơi chiếc nạng gảy phân. Nạng rơi trúng bánh xe và chọc thủng lốp. Vất vả
lắm hai người mới vượt khỏi làng. Hai thầy trò vội xuống xe và bắt đầu thay lốp
mới vào bánh. Song đám nông dân đã trông thấy họ và kéo nhau chạy về phía chiếc
xe hơi, miệng hò hét đe dọa. Broie và Carlo phải bỏ xe hơi chạy trốn vào một
khu rừng gần đấy. Hai người không dám ra ngoài đường cái, phải núp trong rừng
suốt ngày và mãi đến tối họ mới tiếp tục lên đường.
“Thật rủi ro - Broie đau
khổ nghĩ - Bất cứ người qua đường nào cũng có thể giết mình như giết một phạm
nhân đã bị đặt ra ngoài vòng pháp luật...”
Sau cùng hai người đến
thành phố. Broie tới gặp một ủy viên công tố, xưng tên, rồi nói:
- Tôi đề nghị ông bắt tôi
và bỏ tù, nếu không đám người nọ sẽ xé xác tôi ra mất.
- Ông đến rất đúng lúc, -
Ủy viên công tố trả lời - tôi mới nhận được lệnh bắt ông.
- Để bảo vệ tôi khỏi bị
người ta sát hại chăng?
- Vâng. - Ủy viên công tố
trả lời mập mờ - Và không phải chỉ vì mục đích ấy. Chắc chắn ông sẽ bị kết tội.
Broie ngạc nhiên, nhưng
không nói gì. Ông nhún vai và mặc cho người ta giải mình vào nhà tù. Chẳng bao
lâu, người ta chuyển ông lên Berlin.
- Ông có biết những tai họa
do phát minh cua ông gây ra không? - Viên dự thẩm lấy khẩu cung hỏi ông.
- Vâng, tôi biết. Nhưng
tôi không thể thừa nhận là mình có tội. Tôi đã báo trước...
- Về vấn đề tội lỗi chúng
ta sẽ nói chuyện sau. Ông biết rõ sự việc xảy ra ở xóm chài, nhưng chắc không
biết những gì đã xảy ra trên khắp thế gian.
- Chắc cũng thế, nhưng với
quy mô lớn hơn thôi.
- Quy mô lớn! - Viên dự
thẩm nói với giọng phẫn nộ - Làm sao ông lại có thể nói điều đó một cách thản
nhiên như vậy được? Bao làng mạc, thành phố chìm ngập trong thứ “bột” kinh khủng
của ông. Hàng chục vạn người không còn nhà cửa. Đường biển cũng như đường sông
đều bế tắc, vì nước sông và biển đã biến thành một thứ bùn lầy kỳ lạ. Ông đã
gây ra một thảm cảnh mà không tai họa nào có thể so sánh được, kể cả sự phún xuất
của núi lửa. Vậy mà ông thản nhiên nói về “quy mô lớn”.
- Thế tôi phải làm gì cúi
đầu lạy lục xin tha tội à? - Giáo sư nói, giọng đã có vẻ bực tức - Tôi không
gieo rắc “bột” trên khắp trái đất, tôi không khởi xướng việc buôn bán “bột mì
vĩnh cửu”. Ít nhất xin ông cho biết ông kết tội tôi ở điểm nào?
- Trong khi chưa hoàn
thành cuộc thí nghiệm, chưa tìm hiểu hết tất cả tính chất của “bột”, ông đã phạm
tội bất cẩn đem một ít “bột” cho lão ngư dân già tên là Hans. Mọi sự bắt đầu từ
đấy mà ra.
- Tôi đã áp dụng tất cả
các biện pháp phòng ngừa thận trọng. Ông già Hans đã đánh lừa tôi.
- Ông đã trao vào tay con
người dốt nát ấy một sức mạnh hủy diệt kinh khủng. Ông thận trọng quá đấy! Xin
ông cho biết toàn bộ sự việc một cách cụ thể. - Và viên dự thẩm ngồi vào bàn, bắt
đầu chính thức lấy khẩu cung. Buổi hỏi cung kéo dài khá lâu.
Viên dự thẩm đặc biệt chú
ý đến vấn đề: tại sao trong bức điện, Broie không thông báo cho mọi người biết
là thế giới sẽ lâm vào chính tai họa nào, mà chỉ nói về tính độc hại của “bột”
đối với sức khỏe, do đó đã hướng cuộc điều tra vào con đường sai lầm.
- Nếu như ông nói đúng sự
thật, người ta đã có thể ngăn chặn được tai họa, đã có thể chế tạo những tủ lạnh
và bình kín đựng “bột” rồi.
- Tôi tưởng đe dọa ngộ độc
là cách có hiệu lực nhất khiến mọi người không dám dùng “bột” và phải hủy diệt
nó. Mặt khác, nếu tôi có nói sự thật chăng nữa thì chắc cũng chẳng ai chịu tin
cho. Hơn nữa, chẳng có thứ tủ lạnh va bình kín nào có tác dụng cả. Chế tạo những
thứ đó mất nhiều thời gian, “bột” lại nở với tốc độ sinh sản của vi khuẩn: sau
mười hai tiếng đồng hồ, mỗi con “trực khuẩn” đẻ ra mười sáu triệu con khác.
Khi trạng sư bào chữa được
phép đến gặp giáo sư, nhờ ông ta, Broie biết thêm một số việc cụ thể.
- Vâng giáo sư thân mến,
giáo sư đã gây ra nhiều tai họa. Hiện nay, mọi người ai cũng bận ngồi giã “bột”.
Bọn nhà giàu có thể thuê người nghèo khổ làm cho mình, còn những người khác
đành phải lao vào cái công việc dã tràng xe cát đó. Một số nước thậm chí đã vứt
“bột” sang lãnh thỗ các nước láng giềng. Việc này gây ra hàng loạt những cuộc
chiến tranh. May thay, chính “bột” cũng lại làm nguội lạnh tính hiếu chiến của
họ. Đánh nhau làm sao được khi mọi phương tiện giao thông đều bế tắc! Người và
ngưạ sa lầy trong “bột”. Chỉ có máy bay đánh nhau ở trên trời, thế thôi. Nhưng
sự việc sẽ đi đến đâu, xin ông cho tôi biết? Nhiều tờ báo viết rằng “bột” của
ông sẽ trườn đi khắp trái đất, phủ kín quả địa cầu thành một lớp vỏ ngoài dày đặc
và đó chính là ngày tận thế. Mặt trời sẽ nướng khô cái bánh mì khổng lồ của
trái đất ấy. Có lẽ sẽ ngon và bổ, chỉ phải một nỗi là không có ai ăn. Mọi sinh
vật đều chết sạch. Hiện nay, những người lo xa, tất nhiên phải là loại giàu có,
cố chiếm lấy những ngọn núi băng ở Thụy Sĩ. Họ chuyển nhà đến đó, hy vọng rằng ở
một nơi cao như vậy thì “bột” không ngập tới nơi, hơn nữa ở đây lạnh, “bột” sẽ
nổ chậm hơn.
- Xin ông cho biết, -
Broie ngắt lời trạng sư bào chữa - tại sao họ lại buộc tội tôi? Chính
Rodenstock và Krisman bán “bột mì” kia mà!
Trạng sư mỉm cười:
- Vì chính phủ đã công bố
nhà nước độc quyền kinh doanh “bột” và đã tung “bột” của mình ra thị trường,
chính phủ không thể nào kết tội chính mình được? Để biện bạch trước công chúng,
cần đổ lỗi cho một người nào đó nhằm đánh lạc hướng chú ý của dư luận.
- Lúc này tôi mới hiểu rõ
toàn bộ sự việc - Broie nói - Trong điều kiện như thế này, tôi rất khó tự bào
chữa cho mình.
- Vâng, không dễ dàng
đâu. Giáo sư chỉ có một cách bào chữa tốt nhất là mau chóng sáng chế thuốc giải
độc, một thứ thuốc có thể hủy diệt được chính sản phẩm phát minh của giáo sư.
- Nhưng muốn vậy, tôi cần
được tự do làm việc! - Broie nhiệt tình nói.
- Người ta sẽ tạo điều kiện
cho giáo sư làm việc - Trạng sư trả lời - Hôm nay, người ta sẽ chuyển giáo sư đến
một phòng thí nghiệm trang bị ngay ở đây, trong nhà tù. Người ta sẽ cung cấp
cho giáo sư mọi phương tiện cần thiết. Giáo sư hãy tin tôi, đối với giáo sư, đó
chính là cách tốt nhất để tự bảo vệ mình.
Chương 11
Thế giới được cứu thoát
Cho phép tôi tự giới thiệu,
tôi là phó giáo sư Smith. Người ta cử tôi đến đây để giúp đỡ giáo sư. Tôi đã
nghiên cứu về sinh hóa phục vụ Rodenstock và Krisman. Tôi đã khám phá ra thành
phần cấu tạo “bột” của giáo sư và sản xuất ra nó để xuất khẩu.
- À ra thế đấy, - Broie
nói - như vậy ông là một “kẻ tòng phạm”! Có phải vì lý do đó mà ông trở thành
người giúp việc tôi trong phòng thí nghiệm tại nhà tù này chăng?
- Không phải như vậy đâu,
giáo sư ạ. Người ta không đụng đến tôi. Chắc họ thấy rằng đưa một người ra làm
vật hy sinh cũng đủ.
- Nhưng Rodenstock và
Krisman vẫn được tự do à?
- Ồ, vâng, thậm chí vẫn
phát tài như trước. Các ông ấy chế tạo máy hủy diệt “bột” bằng phương tiện cơ
giới và do đó vớ được những món lãi lớn. Tất cả những người giàu có đều mua các
máy móc đó. Hàng nghìn công nhân đang làm việc để tiêu diệt “bột”. Than ôi,
ngày làm việc trên khắp thế giới kéo dài đến mười hai tiếng đồng hồ. Làm thế
nào được! Khắp nơi tuyên bố tình trạng chiến tranh. Công nhân phải lao động như
làm nghĩa vụ quân sự. Bất cứ cuộc đình công nào cũng đều bị trấn áp một cách cực
kỳ tàn nhẫn.
Broie ngồi cúi đầu buồn
bã.
“Broie đáng thương quá!
Ông ta có ngờ đến nông nỗi này không nhỉ?” - Smith nghĩ bụng và cảm thấy thương
hại nhà bác học giả.
- Xin mời giáo sư xem
phòng thí nghiệm tổ chức ra sao đã! Không đến nỗi tồi đấy chứ?
Broie ngừng suy nghĩ, và
bằng con mắt nhà nghề, ông nhìn khắp phòng thí nghiệm. Ông to vẻ hài lòng. Nhìn
thấy chiếc kính hiển vi, những chiếc bình cổ cong, cổ thắt, hình như ông hồi tỉnh
lại sau khi chịu đựng mọi nỗi xúc động, lo âu. Công việc lại thu hút ông.
- Vâng, vâng, - Ông nói -
đây là một phòng thí nghiệm tốt. Ở đây còn thiếu một vài dụng cụ, nhưng tất
nhiên chúng ta sẽ được cung cấp thêm mọi phương tiện cần thiết. Phải làm việc,
làm việc ngay!
- Ồ, thế thì thật tuyệt!
Chẳng bao lâu chúng ta sẽ chế ngự được “bột”. Nhân tiện, xin giáo sư cho biết
vì sao “bột” lại nở nhanh như vậy? Có phải chỉ vì nhiệt độ tăng khi mùa hè đến
không?
- Tất nhiên không phải chỉ
vì nguyên nhân đó.
Không khí mùa hè có nhiều
vi khuẩn hơn vào mùa rét. Loài “vi khuẩn nguyên sinh” của tôi thu nhận được nhiều
chất dinh dưỡng hơn, do đó “bột” nở nhanh hơn.
- Tôi cũng cho là như vậy
- Smith nói - Do đó, việc hủy diệt triệt để “bột mì vĩnh cửu” có thể tiến hành
theo hai cách. Hoặc chúng ta sẽ phải tìm cách cấy một giống vi khuẩn nào đó ăn
“bột” nhanh hơn mức độ phát triển của “bột”, hoặc chúng ta phải khử chất dinh
dưỡng nuôi sống “vi khuẩn nguyên sinh” trong không khí để tạo nên “bột”.
-... Tôi đã suy nghĩ về
phương pháp thứ nhất - Broie nói - Tôi cảm thấy cách khử trùng trong không khí
của ông cũng không kém phần thú vị.
- Thế thì chúng ta sẽ làm
việc theo cả hai hướng.
Broie nhận thấy Smith là
một nhà khoa học có kinh nghiệm, sẵn tài năng và là một người bạn tốt. Broie và
Smith làm việc không biết mệt mỏi, và công việc của họ có lẽ còn tốt hơn nếu những
cuộc thẩm vấn của dự thẩm viên không làm cho Broie phân tán tư tưởng. Sau các
cuộc thẩm vấn đó, Broie lại đau khổ trầm ngâm suy nghĩ hoặc mất thăng bằng.
Smith đã cố gắng tìm cách an ủi Broie:
- Giáo sư để ý đến cái
lão thẩm phán vô tích sự ấy làm gì. Phát minh của giáo sư, dù người ta nói đông
nói tây thế nào chăng nữa, cũng vẫn cực kỳ vĩ đại. Công trình nghiên cứu khoa học
nào chẳng kèm theo thất bại. Bây giờ chúng ta đang nghiên cứu cách hủy diệt sản
phẩm phát minh của giáo sư. Nhưng chúng ta sẽ không ngừng ở công việc “phá hoại”
này Chúng ta sẽ tìm ra cách kiềm chế “bột” của giáo sư, biến nó thành một công
cụ ngoan ngoãn trong tay con người, và chúng ta sẽ giải thoát nhân loại khỏi nạn
đói.
Toàn thế giới hồi hộp,
chăm chú theo dõi công việc đang tiến hanh trong phòng thí nghiệm tại nhà tù.
Song, sự kiên nhẫn của mọi người rõ ràng giảm sút. Báo chí đã viết nhiều hơn về
việc cần phải đưa giáo sư Broie ra tòa, vì rõ ràng ông không hoàn thành được
nhiệm vụ. Smith có đọc những tờ báo, nhưng giấu không cho Broie biết những tin
tức ấy, để khỏi làm ông thêm bối rối.
Song một lần Broie đọc được
những bài báo đó. Ông ngồi rất lâu trầm ngâm suy nghĩ, đến tối ông cố thuyết phục
Smith đi ngủ sớm vì Smith đã nhiều đêm thức trắng.
Smith nằm xuống giường -
hai người vẫn ngủ ngay tại phòng thí nghiệm - nhưng ông không sao chợp mắt được.
Smith thấy tối nay Broie tỏ ra đặc biệt xúc động, nên nằm lim dim mắt giả vờ ngủ
để theo dõi Broie.
Giáo sư đi đi lại lại rất
lâu trong phòng thí nghiệm, rồi ngồi xuống làm việc. Yên tâm về bạn, Smith bắt
đầu chập chờn sắp ngủ thì bỗng tiếng kêu của Broie làm ông bừng tỉnh.
- Tìm ra rồi?
Smith định đứng dậy chúc
mừng Broie về phát minh của giáo sư, nhưng thái độ kỳ lạ của Broie đã ngăn ông
lại. Broie nhanh nhẹn bước đến bàn viết đốt mất tờ giấy gì không rõ trên ngọn lửa
đèn cồn, viết vài dòng chữ rồi rút ống tiêm ra.
“Ông ấy định tự tử!” -
Smith vừa thoáng nghĩ đã vội nhảy khỏi giường và lao về phía giáo sư.
- Ôi, giáo sư thân mến,
sao lại thế? Tôi không cho phép giáo sư làm như vậy đâu.
- Đừng cản trở tôi -
Broie nói - Nếu như tôi có phạm lỗi thì tôi cũng đã chuộc lỗi: tôi đã khám phá
ra thứ thuốc trừ “bột mì vĩnh cửu”. Nhưng tôi đã kiệt sức... Sống như vậy đủ rồi.
- Mệt thì xin giáo sư cứ
nghỉ. Một bộ óc như thế này không thể để uổng phí được. - Giằng ống tiêm khỏi
tay giáo sư, Smith tiếp tục nói - Xin cho phép tôi chúc mừng giáo sư kính mến?
Giáo sư có thể chúc mừng cả tôi nữa. Tối hôm nay, tôi cũng đã may mắn hoàn
thành nhiệm vụ.
- Tại sao ông không nói với
tôi?
- Tôi con muốn kiểm tra lại
đôi chút. - Smith khiêm tốn trả lời. Thực ra ông biết công việc của Broie gần
xong, nên muốn dành cho giáo sư vinh dự là người phát minh đầu tiên.
- Còn hiện nay, thưa giáo
sư kính mến, chúng ta vẫn cần phải sống, chúng ta sẽ sống và sẽ làm việc. Chúng
ta sẽ hoàn thiện “bột mì vĩnh cửu” của chúng ta - “bột mì” của giáo sư. Mọi người
sẽ dùng “bột” và nhớ ơn “người thợ bánh mì” thiên tài đã làm ra nó.
Giáo sư Broie mỉm cười, bắt
tay Smith. Chẳng bao lâu, báo chí và đài phát thanh thông báo cho thế giới biết
tin đã tìm ra thứ thuốc có thể hủy diệt triệt để “bột mì vĩnh cửu”. Thứ “nấm” của
giáo sư Broie thật tuyệt diệu. Chỉ cần bỏ vào “bột” một vài lạng thứ nấm này là
“bột” bắt đầu chua, lún xuống và trong phút chốc cả một núi “bột” khổng lồ biến
mất, chỉ còn lại một ít mốc xam xám. Mốc khô đi và biến thành bụi. Phương pháp
khử trùng trong không khí của Smith cũng rất hiệu nghiệm, nhưng cách làm của
Broie giản tiện và rẻ tiền hơn, nên được mọi người sử dụng rộng rãi.
Thế giới được giải thoát
khỏi nạn “bột”. Nhân loại đã được cứu sống.
Chương 12
Gió mát
Cột làn gió đầu thu mát
rượi thổi qua xóm chài. Không khí càng đượm mùi nước biển. Những đám mây trắng
toát vùn vụt bay trên mặt biển. Giữa biển và trời, từng đàn chim bay lượn kêu
la inh ỏi làm náo động cả không trung. Những làn sóng bạc đầu ào ạt hắt nước
lên bờ cát.
Cả xóm chài tụ tập trên bờ
biển. Lưới đã được sửa chữa, thuyền đã được trét các khe hở và sơn hắc ín. Bây
giờ những chiếc thuyền đó sắp ra khơi đánh cá. Những người dân chài cặm cụi làm
việc. Những cánh tay vạm vỡ, bắp thịt nổi lên cuồn cuộn, đang nhanh nhẹn và
thành thạo cột lại cánh buồm.
- Gió mát quá. - Fris nói
và bước tới bên bánh lái.
- Đánh cá bữa nay chắc phải
thu được kết quả tốt. - Một ngư dân già hưởng ứng. Ông ta đi đôi ủng rất cao,
đang lội nước đến tận đầu gối tiền về phía chiếc thuyền buồm.
Chiếc thuyền đinh to tướng
sốt ruột nhảy chồm chồm trên sóng biển như một con ngựa đứng tù chân. Công việc
chuẩn bị cuối cùng đã xong.
Một không khí sảng khoái
vui tươi đang bao quanh mọi người. Gió thổi căng ngay cánh buồm, chiếc thuyền định
quay ngoặt mũi ra khơi, lướt nhanh vùn vụt trên sóng biển.
Fris tì vào bánh lái. Gió
mát rượi mơn man chiếc đầu trần của Fris. Và anh ta cảm thấy làn gió thổi mạnh
mặn nồng mùi nước biển ấy làm cho mình sảng khoái và khỏe khoắn ra. Như một giấc
mộng mờ ảo, cảnh tượng những ngày tháng vừa qua thấp thoáng hiện ra trước mắt
Fris: cảnh giàu sang đã trôi qua cũng bất ngờ như khi xuất hiện, trộm cướp,
chém giết, rượu chè, những đêm thức trắng trong sòng bạc, cảnh ăn chơi đàng điếm
say mê, những cảnh tượng khủng khiếp của dòng thác bột...
Phải chăng tất cả những sự
việc trên đã xảy ra với Fris, người dân chài? Không có lẽ lại như vậy? Để kiểm
tra xem cái dĩ vãng khủng khiếp đó là sự thật hiển nhiên hay chỉ là một cơn ác
mộng, Fris đưa mắt nhìn đăm đăm vào khuôn mặt khắc khổ của một bác đánh cá già
đang tự tin điều khiển cánh buồm. Không một thớ thịt nào rung động trên khuôn mặt
như đẽo bằng gỗ sồi với chiếc miệng mím chặt và đôi mắt tinh tường của người thủy
thủ lão luyện này.
Phải chăng chính khuôn mặt
của ông già này, anh ta đã từng nhìn thấy trên chiếu bạc trong cuộc đỏ đen?...
Cái mồm há hốc, đôi bàn tay run rẩy và hai con mắt - hai con mắt điên dại, đáng
sợ, ngùn ngụt bốc cháy ngọn lửa gian tham...
- Không, đấy chỉ là một
cơn ác mộng.
Fris mải suy nghĩ đến nỗi
quên không kịp thời bẻ bánh lái. Một làn sóng biển vọt qua thuyền, giội nước
vào những người dân chài.
- Anh bạn trẻ, đừng có lơ
đãng đấy nhé!
Lời nhắc nhở thực tế này đã xua tan những cơn ác mộng của Fris. Anh ta trở nên vui vẻ, tì tay vào bánh lái và hướng con thuyền lao thẳng ra khơi, đón làn gió mát rượi.
Alexander
Romanovich Belyaev
Lê Khánh Trương
- Phạm Đăng Quế dịch
Theo https://vietnamthuquan.eu/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét