Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2026

Hạnh ngộ tuyệt vời giữa thơ B,H và nhạc Anh Bằng

Hạnh ngộ tuyệt vời giữa
thơ B,H và nhạc Anh Bằng

Tôi may mắn có được sự quen biết khá nhiều nhạc sĩ thuộc nhiều thế hệ. Hầu hết, họ là những nhạc sĩ gắn bó một đời với âm nhạc. Tựa đó là người tình thủy chung, đầu tiên và cuối cùng của định mệnh, một kiếp người.
Tôi cũng được biết một vài nhạc sĩ đã bước vào tuổi sáu mươi, nhưng sức sáng tác của họ giống như những năm ba mươi.
Tuy nhiên, trong số này, (như rất nhiều người làm thơ), họ lập lại chính mình mà không biết.
Nhưng khi bước qua tuổi bảy mươi, ngọn lửa sáng tạo, dù tài năng ở tầm cỡ nào, cách gì cũng hiu hắt.
Nếu tính tuổi trung bình của một nhạc sĩ khi chính thức bước ra tiền trường sân khấu âm nhạc, với ánh đèn chói lọi và, tiếng vỗ tay mang nghĩa hàm ơn thì, ở tuổi bảy mươi, những nhạc sĩ đó, đã có nửa thế kỷ cống hiến tim óc mình cho đám đông. Tôi không nghĩ giới thưởng ngoạn còn đòi hỏi hay chờ đợi gì hơn nữa, nơi những tài hoa âm nhạc này.
Chính vì thế, những năm tháng gần đây, tôi không dấu được sự kinh ngạc tới bàng hoàng và, khâm phục tới run, nghẹn, lặng lời nói, khi biết nhạc sĩ Anh Bằng, ở tuổi ngoài tám mươi, vẫn sung mãn đem vào cõi-giới âm nhạc của ông, những cơn bão quyến rũ của giai điệu và, những ca từ mượt mà của thương yêu, đắm đuối.
Hơn thế nữa, vẫn theo ghi nhận của tôi, người nhạc sĩ đã để lại cho đời hàng trăm ca khúc đủ loại, (nổi bật nhất, vĩnh cửu nhất, vẫn là những tình khúc), chẳng những không lập lại chính mình mà, còn cho thấy những vượt thoát; như những đường bay nghệ thuật, tới những chân trời rung cảm chưa từng.
Tôi muốn nói, dù rất ít thì giờ, dù tuổi tác đã không còn hào phóng dành cho tôi những rung động nhậy, bén như thời trẻ, vậy mà tôi đã không thể cưỡng lại những ma lực thoát thai, bay bổng, vút lên từ những sáng tác mới nhất của ông. Như “Mưa Saigon – Mưa Cali.” Như “Chia tay hư ảo.” Như “Lời khẩn cầu vụng dại.”
Khi ngỏ ý với một số bằng hữu về tài năng, sức sáng tác ngoại khổ của nhạc sĩ Anh Bằng - - Người từ những đỉnh núi tình ca này, bay qua những đỉnh núi tình ca khác, một bằng hữu của chúng tôi nói:
“Cả ba tình khúc ấy, đều là thơ phổ nhạc.”
Tôi hỏi tới. Người bạn đáp:
“Thơ B.H.”
Tôi nói, “Ồ!” Tôi biết. Tôi nói, dường tôi đã được nghe khá nhiều tình khúc của một vài nhạc sĩ khác, cũng đi ra từ thơ B.H.
Tôi nói, điển hình, tôi nhớ “Như đất trời tình nhân,” “Thiên thần mong manh”… của nhạc sĩ Phạm Anh Dũng. Đó là hai, trong số những tình khúc ra đời từ một gặp gỡ tốt đẹp giữa thi ca và âm nhạc. Giữa B.H và, Phạm Anh Dũng. 
Từ đó, tôi nói với bạn tôi rằng, giờ thì tôi hiểu và tôi mừng, rất mừng cho nhạc sĩ Anh Bằng.
Ông là người mà tôi muốn gọi là “Đại sứ Của Tình Yêu Trên Mặt Đất.”
Ông cũng là người mà tôi muốn gọi là “Ông Hoàng Phổ Nhạc Thơ Tình.”
Tôi mừng bởi vì, theo tôi, cuối đời, ở tuổi 87, tựa như ông mới có một hạnh ngộ tuyệt vời: Hạnh ngộ giữa thơ B.H. và giai điệu Anh Bằng.
Thơ B.H., với tôi, không chỉ “như đất trời tình nhân.”
Thơ B.H. còn cho chúng ta cảm nhận mơ hồ, tuồng có hình bóng mình trong những dòng thơ đó.
Thí dụ, “Hoàng hôn xuống chậm nỗi đau thương người.
Và, tôi nghĩ, tôi không hề quá lời, khi nói rằng, giữa thi sĩ và nhạc sĩ, đã có một hạnh ngộ tuyệt vời. Hạnh ngộ của những vần thơ B.H. cô đơn, lẻ loi mà vẫn trân trọng tình yêu tuyệt vọng - - Với những giai điệu nở hoa giữa tâm bão rung động của Anh Bằng.
Tôi không nghĩ, có thể có những (tôi nhấn mạnh những) hôn phối nào, tuyệt vời hơn những hôn phối giữa thi ca B.H. và âm nhạc Anh Bằng!
Trong quá khứ, từ trên sáu chục năm qua, đọc theo lộ trình âm nhạc của mình, nhạc sĩ Anh Bằng cũng đã từng có những cuộc kết hôn rực rỡ với thơ tình của nhiều nhà thơ khác nhau. Nhưng, theo ghi nhận riêng của tôi, rực rỡ kia, chỉ một lần ở dăm ba phối ngẫu ấy.
Riêng với thơ tình B.H., tôi hạnh phúc thấy được, hạnh ngộ kia đã mang lại cho “Đại sứ Của Tình Yêu Trên Mặt Đất,” hay “Ông Hoàng Phổ Nhạc Thơ Tình” của tôi, những hôn phối tuyệt vời, hơn bất cứ một phối ngẫu nào khác.
Dù không hề biết B.H. là ai, ở đây, tôi vẫn xin gửi tới nhà thơ B.H. lời cảm ơn chân thành của cá nhân tôi.
Nhờ thơ ông (?) tôi có được một Anh Bằng “lão trượng” cải lão hoàn đồng trong âm nhạc.
Nhờ thơ ông, ngôi vị “Ông Hoàng Phổ Nhạc Thơ Tình” của nhạc sĩ Anh Bằng, ở tuổi 87, sẽ trở thành duy nhất, trước sau chỉ có một.       
30/8/2012
Du Tử Lê
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Phạm Duy như tôi biết

Phạm Duy như tôi biết

Nếu bảo tôi chọn ba nhạc sĩ Việt Nam nổi danh nhất, tôi xin chọn Văn Cao, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn. Nếu bảo tôi chỉ chọn hai nhạc sĩ có sự nghiệp âm nhạc đồ sộ và được đông đảo công chúng hâm mộ nhất thì tôi xin chọn Phạm Duy và Trịnh Công Sơn. Nói đến Trịnh Công Sơn, ở Việt Nam ai cũng biết nhưng sẽ có vài người hỏi: Phạm Duy là ai vậy?
Phạm Duy (1921 – 2013) quê ở Hà Nội, từng gia nhập một gánh hát rong đi cả nước và bắt đầu nổi tiếng từ những năm tháng lưu diễn này. Ông tham gia kháng chiến chống Pháp nửa chừng thì bỏ về Hà Nội rồi vào Sài Gòn lập nghiệp. Trong thời gian 1955 – 1975, ông là chủ soái của làng âm nhạc Nam Việt Nam, thường đại diện giới văn nghệ sĩ đi giao lưu các nước và dự nhiều hội nghị âm nhạc quốc tế. Sau 1975, khi ông sang định cư ở nước ngoài thì vị trí ấy mới nhường cho Trịnh Công Sơn. Sau khi Trịnh Công Sơn qua đời, chủ soái cũ mới quay lại Việt Nam nhưng sáng tác không còn sung sức nữa mà chủ yếu sống bằng dư âm của một thời vang bóng. Ở miền Nam, những người lớn tuổi hiểu về ông cặn kẽ hơn hơn giới trẻ. Vì nhạc của ông đã từng có một thời vang vọng khắp hang cùng ngõ hẻm và nhiều tác phẩm vẫn còn sống mãi đến ngày nay. Phạm Duy đã sáng tác cả hàng ngàn ca khúc thuộc nhiều thể loại khác nhau. Ngoài ra ông cũng viết nhiều công trình biên khảo có giá trị.
Phạm Duy là nhạc sĩ nổi tiếng nên cũng không tránh khỏi tai tiếng. Ông đi đến đâu thì gây bàn cãi đến đó. Người ta cãi nhau về việc ông bỏ chiến khu về Hà Nội rồi từ Hà Nội vào Sài Gòn. Sau đó công chúng lại xôn xao về việc ông bỏ Việt Nam sang Mỹ rồi sự kiện ông bỏ nước Mỹ để quay lại Việt Nam lại càng gây tranh cãi nhiều hơn. Sau 1975, nhiều ca sĩ bị khốn khổ vì hát nhạc Phạm Duy mặc dù những tác phẩm này chỉ nói chuyện tình yêu thuần túy. Nhiều người cứ vô tư hát những bản tình ca không rõ tác giả, đến khi bị nhắc nhở là nhạc Phạm Duy thì mới giật mình. Sau Đổi mới, người ta lại tranh luận về việc cấp giấy phép cho nhạc Phạm Duy phổ biến ở Việt Nam. Rồi trong chuyện tình cảm riêng tư, ông cũng bị dư luận để ý khá nhiều. Nói chung, ông đi đến đâu thì gây xôn xao đến đó. Mặc dù trong công chúng, có người thích hoặc không thích tính cách Phạm Duy nhưng hết thảy đều thừa nhận ông là người có tài và có nhiều công lớn cho nền tân nhạc Việt Nam.
Gia đình Phạm Duy cũng có nhiều đóng góp lớn cho nền nghệ thuật dân tộc. Cha của ông là nhà văn Phạm Duy Tốn, một trong những người đặt nền móng cho văn xuôi Việt Nam hiện đại. Vợ của ông là ca sĩ Thái Hằng. Các con ông cũng là những nghệ sĩ nổi tiếng như Duy Quang, Duy Cường, Thái Hiền, Thái Thảo… Ngoài ra còn phải kể nhiều nghệ sĩ khác trong đại gia đình Phạm Duy như nhà văn Phạm Duy Khiêm, nhạc sĩ Phạm Duy Nhượng, ca sĩ Thái Khanh, nhạc sĩ Phạm Đình Chương… Nhờ có lực lượng hùng hậu như vậy nên ông đã mở gánh hát Gia đình Phạm Duy (The Pham Duy family singers) để kiếm cơm trong những ngày lưu lạc trên đất Mỹ.
So sánh ba cây đại thụ Văn Cao, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, ta thấy có nhiều điểm thú vị như sau: Văn Cao thuần miền Bắc, Trịnh Công Sơn thuần miền Nam còn Phạm Duy nửa Bắc nửa Nam. Văn Cao tham gia kháng chiến đến cùng, Phạm Duy có tham gia kháng chiến nhưng cũng như không, còn Trịnh Công Sơn không làm chính trị. Trịnh Công Sơn ít lận đận, còn Phạm Duy lận đận nhất. Văn Cao xuất hiện trên văn đàn sớm nhất nhưng ít tác phẩm, Trịnh Công Sơn xuất hiện muộn nhưng lại có nhiều tác phẩm để đời. Văn Cao ra đi sớm nhất, Phạm Duy ra đi sau cùng, bây giờ, cả ba người đã đoàn tụ ở thế giới bên kia. Họ ra đi, để lại ba khoảng trống trong khu rừng âm nhạc Việt Nam. Dẫu biết rằng, sau này sẽ có những cây đại thụ khác che lấp khoảng trống ấy nhưng liệu có cứng cáp bằng những cây đại thụ trưởng thành qua thời bão táp?.
9/3/2013
Phạm Ngọc Hiền
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Một vài ấn tượng của tôi về Hàn Mặc Tử

Một vài ấn tượng của tôi về Hàn Mặc Tử

Hàn Mặc Tử là một gương mặt lớn trong thi ca Việt Nam. Tuy nhiên, có một thời, tên tuổi của ông cùng với phong trào Thơ Mới bị quên lãng. Thời bao cấp, ở miền Bắc, rất ít ai biết đến Hàn. Trước 1975, ở miền Nam, không ai lạ gì Hàn, nhưng sau đó, tên tuổi của Hàn cũng biến mất trên sách báo một thời gian.
Thế hệ của chúng tôi là cái bản lề trong vấn đề tiếp nhận văn học lãng mạn. Tôi học lớp 12 năm học 1989 – 1990. Học kì I, học sách giáo khoa cũ, nghe người ta chửi Thơ Mới không còn manh giáp gì. Nào là bạc nhược, suy đồi, lai căng, là tiếng nói của giai cấp tiểu tư sản bấp bênh dao động… Nhìn chung, Thơ Mới bị đạp xuống chín tầng địa ngục. Ăn tết xong, chúng tôi vào học kì II và được học sách Phụ lục Văn 12, trong đó, có bài Đây thôn Vĩ Dạ. Ấn tượng đầu tiên của tôi là bài này chẳng có gì xấu xa cả. Nó không nói chuyện chửi bới, chém giết nhau mà chỉ nói một tình yêu trong sáng, thầm kín. Và từ đấy trở đi, tôi thấy người ta nâng Thơ Mới lên tận chín tầng mây. Có điều nghịch lí là, có những người đang say sưa chửi bới Thơ Mới không tiếc lời thì bỗng nhiên đột ngột quay ra tâng bốc Thơ Mới hết lời. Thật không thể hiểu nổi cơ chế tư duy của tầng lớp Người - Vẹt ở Việt Nam !
Tôi học đại học trong cái thời người ta tán tụng Thơ Mới lên tuyệt đỉnh thi sơn. Mỗi sinh viên khoa Văn chúng tôi đều có một cuốn sổ ghi đầy những bài Thơ Mới. Hồi đó, tôi thuộc lòng Thơ Mới rất nhiều và rất hâm mộ Hàn Mặc Tử. Trường ĐHSP Qui Nhơn lại nằm gần mộ Hàn nên buổi chiều, chúng tôi thường đi dạo lên đó. Phải nói, chúng tôi rất gần gũi Hàn và nhiều người muốn tập tành sáng tác thơ theo trường phái của Hàn, muốn được nổi tiếng như Hàn. Có năm, khoa Ngữ văn trường ĐHSP Qui Nhơn tổ chức cuộc Hội thảo về các tác phẩm mới được đưa vào sách giáo khoa. Dự kiến cuộc Hội thảo sẽ kéo dài một ngày và bàn tới nhiều tác phẩm. Nhưng trong buổi sáng, người ta dành quá nhiều thời gian cãi nhau về câu “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Có một đại biểu quan trọng bực mình bỏ về giữa Hội thảo. Chủ trì là thầy Nguyễn Văn Giai phải dùng tài thuyết khách để dàn xếp nhưng Hội thảo vẫn tan rã. Buổi chiều hôm ấy, không ai đến dự nữa.
Sau này, đi làm giáo viên, tôi vẫn dạy đi dạy lại rất nhiều lần bài Đây thôn Vĩ Dạ. Bài thơ tạo cho tôi một niềm hứng khởi kì lạ, hơn hẳn các tác phẩm khác. Tôi biết mình có cái may mắn được giảng bài thơ này trước đông người. Trong khi đó, có rất nhiều người yêu bài thơ, muốn giãi bày cảm nhận của mình về bài thơ nhưng không biết nói với ai. Nhiều anh bạn tôi làm bên ngành thuế vụ thường ra quán nhậu để bình thơ Hàn. Có một ông chủ quán tạp hóa rất mê bài Đây thôn Vĩ Dạ, mỗi lần tôi vào quán mua đồ, ông ta giữ lại rất lâu để “buộc” tôi nghe những lời bình thơ của ông. Rồi, với trình độ Tú tài toàn phần, ông tự dịch bài thơ sang tiếng Anh. Lại có một bác sĩ cung cấp cho tôi thông tin: “mặt chữ điền” là chỉ các bức bình phong ở Huế (anh ta học ĐH Y khoa Huế nên biết rõ điều này). Có vô số người chưa từng học Đây thôn Vĩ Dạ lần nào nhưng vẫn thường say sưa cất tiếng hát “Đường lên dốc đá, nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa…”. Ngoài ra, khán giả cả nước còn biết đến Hàn qua phim ảnh, cải lương, tranh lửa, sách báo và những công trình nghiên cứu phê bình viết về Hàn… Có rất nhiều thứ liên quan tới Hàn Mặc Tử. Rõ ràng, Hàn có một sức sống tự thân trong lòng dân tộc.
Một nhà thơ cùng trường Thơ loạn Bình Định là Chế Lan Viên đã từng hùng hồn phát biểu: "Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể đó là Hàn Mạc Tử". Nghe câu này, có người gật đầu, có người bĩu môi. Nhưng ta thử làm một cuộc điều tra nhỏ xem sao: khi nào có dịp đến chót mũi Cà Mau gặp một bác đạp xích lô trên vỉa hè, ta nêu tên một vài nhà thơ nổi tiếng Việt Nam, có thể bác sẽ lắc đầu không biết. Nhưng khi nhắc đến Hàn Mặc Tử, bác gật đầu ngay: “Tui biết ông nhà thơ ấy bị bệnh hủi nhưng vẫn có nhiều cô yêu”. Thì đó cũng là một cách tồn tại của Hàn Mặc Tử.
22/9/2012
Phạm Ngọc Hiền
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Những thành tựu văn chương Phú Yên thế kỷ XX

Những thành tựu văn
chương Phú Yên thế kỷ XX

Phú Yên là một tỉnh duyên hải miền Nam Trung Bộ, địa hình phần lớn là núi đồi, điều kiện thông thương bị hạn chế do đèo Cù Mông và đèo Cả chắn ở hai đầu. Dân số không đông, phần lớn sống ở đồng bằng Tuy Hoà, nơi được xem là vựa lúa lớn nhất miền Trung. Trong khi nhiều tỉnh phía Bắc đã có bề dày văn hoá hàng ngàn năm thì đại đa số các tỉnh phía Nam có lịch sử phát triển muộn hơn. Tỉnh Phú Yên được thành lập từ năm 1611, nhưng mãi cho đến đầu thế kỷ XX thì nền văn học viết mới thực sự hình thành.
Trong nửa đầu thế kỷ, đội ngũ sáng tác rất mỏng. Chỉ có Đặng Ngọc Cư là được nhiều người biết đến qua những truyện ngắn đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy và một số báo khác trong Nam ngoài Bắc. Đỗ Huy Nhiệm cũng là người Phú Yên nhưng phần lớn cuộc đời sống ở Hà Nội. Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh viết về Đỗ Huy Nhiệm như sau: “Sinh ngày 16 – 03 – 1915 tại Nam Định. Chính gốc người Phú Yên (…) Hiện làm ở Sở Trước bạ Hà Nội – Viết báo thường ký Đỗ Phủ, Thiếu Lăng. Đã xuất bản Khúc ly tao (1934), Thiên diễm tuyệt (1936)”. Trong “Việt Nam thi nhân tiền chiến”, Nguyễn Tấn Long cũng dành trên 20 trang để nói về thi sĩ gốc Phú Yên này. Thầy giáo Trần Sĩ là người đầu tiên có sách viết về Phú Yên, cuốn “Địa dư tỉnh Phú Yên” từng được xem là sách giáo khoa. Sau này vào Sài Gòn, ông thường làm thơ với bút danh Đà Giang. Tỉnh Phú Yên nằm trên đường quốc lộ nối liền Bắc Nam nên cũng có vinh dự đón tiếp nhiều thi nhân tài tử khắp ba miền. Tản Đà từng có thời gian dừng chân ở Sông Cầu khá lâu và để lại câu thơ nổi tiếng:”Đa tình con mắt Phú Yên”… Nhà thơ Trần Hữu Thung (tác giả bài Thăm lúa) đã từng có thời gian làm thư ký ở nhà máy đường Đồng Bò thuộc huyện lúa Tuy Hoà. Sau tháng 8 - 1945, ông có tham gia cách mạng tại địa phương một thời gian.
Các địa danh Phú Yên, Tuy Hòa, La Hai… chỉ được ghi trên bản đồ văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám. Theo chân đoàn quân Nam tiến, nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng đã đến sống và sáng tác tại nơi này như: Nam Cao, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Tế Hanh, Trần Huyền Trân, Trần Dần, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Bá Khoản, Sĩ Tiến, Hoàng Như Mai, Phan Canh (Mộng Bình Sơn), Nhật Tĩnh, Tịnh Hà (em ruột Xuân Diệu)… Trong kháng chiến chống Pháp, Phú Yên đã hình thành các tờ báo như: Chiến Thắng, Cứu Quốc, Phấn Đấu, Sức Mới, và các tập san: Hồn Trẻ, Mùa Đông Binh Sĩ… Lực lượng sáng tác gồm người địa phương và các văn nghệ sĩ Nam Tiến. Trong bộ tứ bình thơ kháng chiến chống Pháp, đã có hai bài viết về Phú Yên và viết tại Phú Yên. Đó là Đèo Cả (1946) của Hữu Loan và Nhớ máu (1946) của Trần Mai Ninh. Bài Nhớ máu được nhắc đến khá nhiều  trong các công trình nghiên cứu, phê bình văn học. Đông đảo bạn yêu thơ trong cả nước đã thuộc lòng những câu:“Ơ cái gió Tuy Hoà / Cái gió chuyên cần và phóng túng”… Trần Mai Ninh còn có bài Tình sông núi nổi tiếng, sáng tác năm 1946, góp phần mở đường cho nền thơ ca cách mạng. Nhà thơ Vĩnh Mai từng là phó chủ tịch uỷ ban cách mạng huyện Tuy Hoà kiêm trưởng ty Thông tin tuyên truyền tỉnh Phú Yên buổi đầu kháng chiến chống Pháp. Nhà thơ Nguyên Hồ sinh quán tại Hòa Thắng – Phú Yên đã vinh dự mang về cho tỉnh nhà giải thưởng văn học đầu tiên, đó là giải thưởng Phạm Văn Đồng với tập Ca dao kháng chiến (1953). Sau này, ông ra Bắc giữ các chức vụ: Phó giám đốc Nhà xuất bản Phổ Thông, Phó tổng biên tập Tạp chí Văn hoá nghệ thuật… Đội ngũ sáng tác của Phú Yên thời chống Pháp còn có:  Đặng Ngọc Cư, Bùi Xuân Các, Đặng Hướng, Nguyễn Tiết, Phi Lân, Hà Nghi, Đoàn Anh…
Phải sau năm 1954, đội ngũ sáng tác văn học Phú Yên mới đông đảo, đa dạng. Trước hết là bộ phận văn học cách mạng. Trong kháng chiến chống Mỹ, ở Phú Yên có các báo Đoàn kết, Giải phóng…Với sự góp mặt của nhiều nhà báo – nhà văn như Trần Thiện Lục, Bằng Tín, Vũ Trung Uyên, Lương Nguyên,  Hoàng Tất Thắng… Nhà báo Đặng Minh Phương gốc người Bình Kiến – Tuy Hoà từng làm tổng biên tập Báo Cờ Giải Phóng Trung Trung Bộ, phóng viên Báo Nhân Dân… Bà Võ Thị Kim Đính, một cây bút không chuyên nhưng được nhiều bạn đọc biết đến qua bức thư gởi chồng là cán bộ tập kết ngoài Bắc được in trong tập “Từ tuyến đầu tổ quốc”, một cuốn sách rất nổi tiếng thời chống Mỹ. Nhà thơ Văn Công là người gắn bó nhiều nhất với mảnh đất Phú Yên thời chiến tranh, từng là quyền chủ tịch tỉnh Phú Khánh. Ông đoạt giải Nhất thơ báo Thống Nhất năm 1959, giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu năm 1965 và đến năm 1969 thì có thơ (in chung) được xuất bản ở Paris. Nhà văn Y Điêng quê ở huyện miền núi Sông Hinh, từng làm ở Đài Tiếng nói Việt Nam. Ông viết khá nhiều thể loại: trường ca, truyện ngắn, tiểu thuyết, khảo cứu, ký sự… Đáng chú ý nhất là Trường ca Tây Nguyên (1961), tiểu thuyết Hơ Giang (1978), Chuyện bên bờ sông Hinh (1985 – 2001)... Ông được trao giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2006. Một nhà thơ dân tộc thiểu số khác ở Sông Hinh cũng ra Bắc tập kết là Mô Lô Y Choi. Bài thơ Cô gái vót chông của ông được Hoàng Hiệp phổ nhạc thành một bài hát phổ biến khá rộng rãi. Nhà thơ liệt sĩ Nguyễn Mỹ sinh ra tại Tuy An - Phú Yên rồi tập kết ra Bắc. Ông là tác giả của bài thơ nổi tiếng Cuộc chia ly màu đỏ từng được đưa vào sách giáo khoa Văn 12. Ông được trao giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2006. Trong những năm tháng hoạt động tại Tuy Hoà, Trần Vũ Mai đã sáng tác  trường ca Ở làng Phước Hậu (viết vào cuối năm 1974 nhưng được in vào năm 1978). Đây là một trong những trường ca đặc sắc của văn học Việt Nam. Nhà thơ Liên Nam, gốc Hoà Trị – Tuy Hoa, có mặt ở chiến trường Phú Yên suốt hai cuộc kháng chiến, từng công tác ở tạp chí Văn nghệ quân đội và làm chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Phú Yên. Ông đoạt các giải thưởng: Nguyễn Đình Chiểu, Văn nghệ Giải phóng, Tạp chí Văn nghệ Quân đội… Nhà văn quân đội Tô Phương sinh ra ở Đồng Xuân - Phú Yên nhưng bước chân của ông đã từng xông xáo khắp các chiến trường Đông Dương. Ông từng là phóng viên báo Quân đội nhân dân và tổng biên tập báo Phú Khánh – Phú Yên. Ông đã xuất bản nhiều truyện ký nhưng nổi tiếng hơn cả là Mùa hoa ô môi (1979) kể về các nữ du kích anh hùng dưới địa đạo Củ Chi. Nhà văn Thanh Quế gốc Tuy An – Phú Yên cũng có mặt ở chiến trường Trung Trung Bộ thời chống Mỹ. Tính đến nay, ông đã ra mắt khoảng 30 tác phẩm gồm cả thơ, trường ca, truyện, hồi ký…Từng đoạt nhiều giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam, Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam… Hiện là Tổng biên tập tạp chí Non Nước… 
Bộ phận văn học Phú Yên vùng tạm chiếm cũng phát triển sôi động với sự ra đời của nhiều tờ báo như: Xây Dựng (chủ bút Lam Giang), Núi Nhạn (của Phan Long Yên), Hiện Diện (của Trần Huiền Ân, Phan Việt Thuỷ cùng các thi hữu Tuy Hoà), Tâm Đàm (của Nguyễn Bá Quát – trường Nguyễn Huệ), Sóng (của Hoàng Đình Huy Quan), Đất Việt (của Phan Phúc Gia, Lý Thơ Phúc), và các tập san: Vì Trẻ, Sông Ba, Thể Hiện… Phú Yên đã vinh dự sinh ra nhà văn Võ Hồng, một cây bút xuất sắc của văn học miền Nam trước năm 1975. Ông quê ở An Thạch - Tuy An, từng học ở Quy Nhơn, Hà Nội, làm Bí thư ở toà Tổng Đốc Đà Lạt rồi về quê làm trưởng ty Bình dân học vụ thời chống Pháp. Phần lớn cuộc đời ông gắn với nghề dạy học ở Nha Trang. Truyện của ông mang đậm bản sắc Phú Yên. Tính đến nay, ông đã có 30 tập sách in riêng, tiêu biểu như: Hoài cố nhân (1959), Hoa bươm bướm (1966),Vết hằn năm tháng (1965), Như cánh chim bay (1971), Nhánh rong phiêu bạt (1970), Thiên đường ở trên cao (được chuyển thể thành phim phát trên Đài Truyền hình Việt Nam năm 1998)… Một cây bút quen thuộc khác là Trần Huiền An, từng có thơ được đưa vào sách giáo khoa trước 1975. Ông viết khá đều tay ở nhiều thể loại khác nhau và nhận nhiều giải thưởng của các báo: Văn nghệ Giải phóng (1976), Văn nghệ TP.HCM (1993)… Từ cuối thập niên 1960, nhiều văn nghệ sĩ Phú Yên như Nguyễn Tường Văn, Nguyễn Kim Ngân, Phan Long Côn… đã hoạt động tích cực trong phong trào sinh viên yêu nước. Bài thơ Người mẹ Bàn Cờ của Nguyễn Kim Ngân được Trần Long An phổ nhạc đã thành vũ khí tinh thần quan trọng của sinh viên các đô thị miền Nam. Ngoài ra, Phú Yên còn có nhiều cây bút khác thường xuyên xuất hiện trên các báo miền Nam và đã có tác phẩm xuất bản trước 1975 như Hoàng Đình Huy Quan, Nguyễn Lệ Uyên, Khánh Linh (Lê Khánh Nam), Y Uyên, Phạm Cao Hoàng, Đỗ Chu Thăng, Từ Xuân Lãnh, Phạm Ngọc Lư, Mang Viên Long… Nhưng phần lớn sáng tác của họ thuộc về giai đoạn sau 1975.
Sau giải phóng, Phú Yên có một thời gian nhập chung với Khánh Hoà thành tỉnh Phú Khánh. Nhiều cây bút chuyển vào công tác ở tỉnh lỵ Nha Trang, thị xã Tuy Hoà không còn là trung tâm văn hoá cấp tỉnh. Tuy nhiên, nhiều văn nghệ sĩ ở đây đã tự giác tổ chức nhiều hoạt động để duy trì truyền thống văn học của địa phương. Năm 1989, tỉnh Phú Yên được tách ra, sự kiện này đã tạo điều kiện tốt cho sự phát triển phong trào thơ văn của tỉnh. Đôi ngũ sáng tác rất đông đảo gồm nhiêù thế hệ cầm bút khác nhau. Huỳnh Quang Nam vẫn tiếp tục sáng tác sung sức với hàng chục tác phẩm in riêng và có mặt trong các tuyển tập:”Thơ miền Trung thế kỷ XX”, “Thơ Việt Nam 1975 – 2000”, “Từ điển tác gia văn học Việt Nam thế kỷ XX”… Đoàn Việt Hùng cũng xuất hiện thường xuyên trên các báo và đoạt giải Ba cuộc thi truyện ký của Tuần báo Văn nghệ năm 1991, giải Nhất cuộc thi viết về nhà giáo do Bộ Giáo dục và Hội nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2006, giải C của Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật toàn quốc năm 2007. Huỳnh Thạch Thảo là cây bút truyện ngắn khá quen thuộc trên báo chí cả nước, anh đã có hàng chục tập truyện in riêng và rất nhiều tuyển tập in chung, hai lần đoạt giải thưởng của báo Tiền Phong (1997, 2001). Huỳnh Văn Quốc sáng tác đều tay ở cả hai thể loại thơ và văn xuôi, đoạt giải thưởng Tác phẩm tuổi xanh báo Tiền Phong năm 1995, giải thưởng của NXB Kim Đồng năm 2000…
Gần đây, ở Phú Yên còn xuất hiện thêm nhiều cây bút mới với văn phong đa dạng, sáng tác sung sức, tiêu biểu Ngô Phan Lưu. Năm 2007, ông đã mang về cho tỉnh nhà giải Nhất cuộc thi truyện ngắn do Hội nhà văn Việt Nam tổ chức. Sau sự kiện đó, báo chí trong nước nhắc đến khá  nhiều về hiện tượng lão nông cầm bútt ở Phú Yên… Ngoài ra, còn có nhiều văn nghệ sĩ khác cũng thường xuất hiện trên các báo TW và địa phương và có sách in riêng như  Trần Quốc Cưỡng, Y Nguyên, Nguyễn Văn Tâm, Đinh Lăng, Trần Văn Lan, Nguyễn Duy Tẩm, Hải Sơn, Huỳnh Duy Hiếu, Đào Khải, Vũ Phương, Phan Kim Việt, Nguyên Đạt, Lê Anh, Đào Tấn Trực...
Ở lĩnh vực văn học dịch, nhà văn Đào Minh Hiệp được bạn đọc cả nước biết đến với việc dịch bộ phim nổi tiếng Nước mắt người giàu phát trên đài truyền hình Việt Nam năm 1992. Ông là người đa tài, đã dịch tới 20 cuốn tiểu thuyết và phim truyện nước ngoài, viết truyện ngắn, kịch bản phim, hoạ sĩ, kỹ sư, giáo viên, chủ tịch Hội VHNT Phú Yên… Ông đoạt giải B của Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật toàn quốc năm 2007. Nhà thơ Triệu Lam Châu cũng có hàng chục cuốn sách dịch và đoạt giải Nhất trong các cuộc thi được tổ chức bởi: Hội nhà văn Việt Nam – Báo Văn nghệ – NXB Văn học (1994), TW Hội hữu nghị Việt Nam – Liên bang Nga phối hợp với Trung tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây (2000), giải C của Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật toàn quốc năm 2007… Mảng phê bình văn học của Phú Yên còn trẻ trung với sự xuất hiện gần đây của các cây bút Nguyễn Thị Thu Trang, Phạm Ngọc Hiền… Cả hai đều được nhận giải thưởng của Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật toàn quốc. Ở lĩnh vực văn học kịch, có các nhà soạn kịch kiêm đạo diễn như Phạm Ngọc Sơn, Nguyễn Phụng Kỳ… Họ đã có công lãnh đạo đoàn tuồng Phú Khánh đoạt nhiều giải thưởng trong các liên hoan nghệ thuật quần chúng. Trong lĩnh vực khảo cứu văn học, giới nghiên cứu văn hoá dân gian cả nước không ai là không biết đến tên tuổi của Y Điêng và Ka Sô Liễng. Gần nửa thế kỷ nay, Ka Sô Liễng được xem là một trong những người có công đầu trong công tác sưu tầm, dịch thuật văn học các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, đặc biệt là sử thi. Ngoài ra, Phú Yên còn có nhiều nhà nghiên cứu khác cũng đoạt nhiều giải thưởng của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam… như Trần Huiền Ân, Nguyễn Đình Chúc, Xuân Tính, Dương Thái Nhơn, Ngô Sao Kim, Đoàn Việt Hùng… Phú Yên cũng có khá nhiều nhà báo tham gia sáng tác văn học như: Đào Đức Tuấn, Phương Trà, Huỳnh Hiếu, Nguyễn Quốc Khương, Đắc Hoa, Phan Xuân Luật, Đặng Văn Thơm, Phan Thanh Bình… Ngoài ra còn phải kể đến các văn nghệ sĩ gốc Phú Yên hiện đang thành danh ở nơi khác như hai cha con Trúc Chi – Khánh Chi, Kpă Y Lăng, Nguyễn Đức Linh, Sang Thu Thuỷ, Thiên Thanh, Đạm Lan, Trần Hoàng Nhân, Nguyễn Vũ Bằng… Đặc biệt là Phan Hoàng, tác giả của Phỏng vấn Tướng lĩnh Việt Nam, và Lê Thiếu Nhơn, một trong những gương mặt thơ trẻ tiêu biểu ở Sài Gòn hiện nay… Nói đến văn học Phú Yên, thiết tưởng cũng nên nhắc đến những nhà văn từ các nơi khác từng đến nơi đây và để lại nhiều tác phẩm hay về Phú Yên như: Chế Lan Viên, Trần Bạch Đằng, Giang Nam, Nguyễn Gia Nùng, Đỗ Kim Cuông, Xuân Hoàng, Bế Kiến Quốc, Thanh Thảo, Tạ Hữu Yên, Khuất Quang Thuỵ, Trần Nhật Thu, Song Hảo, Trần Mạnh Hảo, Trần Vạn Giã, Cao Duy Thảo, Từ Thế Mộng, Văn Công Hùng, Nguyễn Khôi, Hoàng Hương Trang, Lê Văn Ngăn, Ý Nhi, Nguyễn Văn Chương… 
Phong trào văn nghệ quần chúng ở Phú Yên cũng phát triển rất mạnh. Đêm thơ Nguyên Tiêu truyền thống trên núi Nhạn được xem là đặc sản của tỉnh nhà và là một ngày hội thơ lớn của khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Hội thơ này được tổ chức đều đặn từ năm 1981 và có thể được xem là nơi khởi nguồn cho Ngày thơ Việt Nam. Từ sau tết Nguyên Đán đến rằm tháng giêng, Phú Yên tưng bừng trong hội thơ của các huyện, cơ quan, trường học… Câu lạc bộ thơ Diên Hồng và các hội thơ ở đồng bằng Tuy Hoà, huyện Sông Cầu, Sơn Hoà… duy trì sinh hoạt thường xuyên. Hoạt động thơ văn trong các trường học cũng đi vào chiều sâu như ở trường Cao đẳng Sư phạm, Lương Văn Chánh, Nguyễn Huệ, Trần Quốc Tuấn… Nhiều tài năng văn học liên tục xuất hiện ở đây và đang sống sáng tác ở nhiều vùng khác nhau trong cả nước.
So với nhiều tỉnh khác ở miền Trung như Huế, Bình Định thì Phú Yên chưa có bề dày văn học bằng. Nhưng vài chục năm trở lại đây, đội ngũ sáng tác rất đông đảo, không thua kém các tỉnh bạn. Rất nhiều nhà văn đoạt các giải thưởng Trung ương và xuất hiện đều đặn trên báo chí, có những bài viết gây tranh luận trên các báo. Nhiều người đã có thể sống bằng ngòi bút.  Chúng ta có quyền hy vọng trong tương lai không xa, văn nghệ sĩ Phú Yên sẽ còn đóng góp cho văn học Việt Nam nhiều tác phẩm có giá trị cao hơn nữa.
Tài liệu tham khảo:
- Tuyển tập tác phẩm văn học Phú Yên thế kỷ 20 – Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Phú Yên xuất bản năm 2004
- Văn học Phú Yên thế kỷ XX – Nguyễn Thị Thu Trang – NXB Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh - 2004
24/7/2008
Phạm Ngọc Hiền
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Những cách hiểu khác nhau về hai truyện ngắn “Chí Phèo” và “Đôi mắt” của Nam Cao

Những cách hiểu khác nhau về hai truyện
ngắn “Chí Phèo” và “Đôi mắt” của Nam Cao

Những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc thường tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau. Một phần do tâm lý bạn đọc hoặc do hoàn cảnh lịch sử xã hội chi phối. Nhưng nguyên nhân chủ yếu là tác giả đã vô tình hay hữu ý tạo ra những “điểm trắng” trong tác phẩm để bạn đọc tham gia sáng tạo. Wolfgang Iser gọi văn bản nghệ thuật là một “kết cấu vẫy gọi“. Nó luôn nằm trong trạng thái ”mở“ để mời chào các nhà thám hiểm ngôn ngữ đến khám phá nhằm phát hiện những điều kỳ diệu, bất ngờ ẩn dấu trong “ rừng chữ”. Hai truyện ngắn “Chí Phèo” và “Đôi mắt” của Nam Cao thật sự là những toà kiến trúc ngôn ngữ phức tạp, đa tầng,  có nhiều cách hiểu khác nhau.
Trước hết, ta hãy nói đến kiệt tác “ Chí Phèo”. Lâu nay, mọi người đều thừa nhận rằng, Chí Phèo và Bá Kiến là hai kẻ thù thuộc hai giai cấp đối kháng nhau: thống trị và bị trị . Ngoài mối quan hệ chủ – tớ ra thì không có mối quan hệ nào khác . Tuy nhiên, gần đây, có người cho rằng :  Chí Phèo là con ruột của Bá Kiến. Phát hiện này đã gây ra sự ngỡ ngàng cho rất nhiều người. Họ tưởng nhà phê bình đó đã lần về tận làng Vũ Đại để điều tra lai lịch Chí Phèo. Nhưng thực ra, chỉ cần tìm hiểu bản thân câu chữ trong tác phẩm là ta có thể chứng minh được điều đó. Có ít nhất ba lý do để kết luận rằng: Chí Phèo là con rơi của Bá Kiến.
Một là: Bá Kiến là người háo sắc. Chỉ riêng về vợ đã có “ bà cả, bà hai, bà ba, bà tư “. Ngoài ra còn phải kể đến những mối quan hệ lăng nhăng với các phụ nữ khác,  như vợ của Binh Chức chẳng hạn. Và biết đâu trong số những người đàn bà đã từng ăn nằm với Bá Kiến có người đã mang bầu với hắn. Để tránh dư luận xóm làng, người đó đã mang đứa trẻ sơ sinh ra bỏ lò gạch. Và như thế, một Chí Phèo ra đời.
Hai là: Trong lúc Chí Phèo rạch mặt đòi ăn vạ vì bị Lý Cường đánh thì Bá Kiến về tới nhà và hiểu ra cơ sự. Bá Kiến dìu Chí Phèo vào nhà và nói với giọng thân mật:” Ai chứ anh với nó còn có họ kia đấy”. Lâu nay, mọi người hiểu rằng, đó là thủ đoạn “ mềm nắn rắn buông” của Bá Kiến. Tức là bịa ra chỗ “ bà con ruột rà “ để xoa dịu sự  phản kháng của Chí Phèo. Nhưng biết đâu mối quan hệ máu mủ đó là sự thật: Chí Phèo và Lý Cường là hai anh em cùng cha khác mẹ (!) .
Thứ ba: Chí Phèo ngày xưa được coi như là người nhà của Bá Kiến và Chí được “ quyền thu quyền bổ trong nhà tin cẩn “. Sở dĩ Chí được ưu ái như vậy là vì Bá Kiến cũng có chút tình cảm thầm kín với đứa con rơi vô thừa nhận. Sau khi ở tù về, Chí Phèo được Bá Kiến cho vườn và nhà. Mọi người nghĩ rằng : Bá Kiến cho tiền Chí là để biến anh ta thành tay chân đâm thuê chém mướn cho hắn. Nhưng thật ra, trong cái làng Vũ Đại nhỏ bé này, một năm chỉ được vài vụ là phải dùng đến con dao của Chí Phèo. Món lời không được bao nhiêu mà phải cấp tiền nơi Chí Phèo ăn nhậu hơn mười năm trời quả không phải là diệu kế của Bá Kiến. Trong ngần ấy năm chí Phèo không lao động mà vẫn nhận được sự tiện trợ về tài chính từ Bá Kiến. Bất đắc dĩ Bá Kiến phải nuôi một thằng con rơi hư hỏng.  Nhiều lúc cũng tận dụng tính liều lĩnh của con nhưng cũng không muốn con quá hư hỏng lười biếng để tạo gánh nặng cho mình. Trong đoạn cuối tác phẩm, Bá Kiến nói: “ Rồi mà làm ăn chứ cứ báo người ta mãi à?”, “ tôi chỉ cần anh lương thiện cho thiên hạ nhờ”. Đó là những mong muốn sự thật của Bá Kiến. Nhưng Chí Phèo đã xông tới quá nhanh đến mức Bá Kiến không kịp nói lên sự thật máu mủ. Và cũng là nhờ chưa biết điều đó nên hành động của Chí Phèo không được coi là trái với đạo lý.
Ngoài ra, truyện “chí Phèo” còn có nhiều chi tiết “lấp lửng” nữa. Chẳng hạn, Chí Phèo đi tù vì lý do gì? Nếu do tội ăn cắp thì có thể xảy ra hai trường hợp: Đó là chuyện xếp đặt của pháp luật, Bá Kiến không có lỗi. Nhưng cũng có thể Bá Kiến nhân việc này đẩy Chí Phèo đi biệt tích để xoá dấu vết của mối quan hệ bất chính giữa hắn và mẹ Chí Phèo. Tác phẩm còn gợi ý lý do khác: Do Bá Kiến ghen tuông mù quáng . Có thật sự là Chí Phèo đã có quan hệ xác thịt với bà Ba không? Còn bà cô Thị Nở không cho Thị lấy Chí Phèo vì lý do gì ? Biết đâu bà biết rằng giữa Chí Phèo và Thị Nở lại có “ bà con” với nhau (như giữa Chí và Lý Cường) ? Ta biết rằng bà cô Thị Nở không có chồng. Mà Bá Kiến là người ưa mèo mỡ, ngay cả đàn bà đã có chồng mà hắn còn quan hệ được thì huống hồ chi là phụ nữ không chồng. Chí Phèo không hiểu gì về mối quan hệ đó nên tránh được cái tội tày trời” đâm mẹ giết cha “ mà người đời gián cho. Nhưng giả sử cứ cho rằng cái giả thuyết bà cô Thị Nở  là mẹ ruột Chí Phèo là không đúng thì vẫn còn có nhiều cách khác lý giải hành động cuả bà cô. Bà cấm cháu bà lấy Chí là vì Chí là tên lưu manh? Vì sợ dư luận xã hội? Vì Thị Nở đã lớn tuổi thì nên” nhịn hẳn”? Hay “Có lẽ bà tủi cho thân bà (…) không có chồng (….) rồi đổ cái uất ức ngay lên cháu bà“. Có thể bà đã từng rất nhiều lần mơ tưởng đến việc sống chung với một người đàn ông lớn tuổi chưa vợ nào đó trong làng nhưng không được thỏa nguyện nên bà tức và hành hạ cháu gái của bà ( bởi vây, các nàng dâu thường hay sợ mấy bà cô lớn tuổi chưa chồng) . Và rồi trái với ý muốn của bà, một Chí Phèo con cũng sẽ chào đời. Liệu con người này có ích cho xã hội hay không? Nếu Chí Phèo cha cầm dao đâm vào phong kiến thì  biết đâu Chí Phèo con sẽ đâm vào thực dân đế quốc và trở thành anh hùng dũng sĩ? Mỗi ban đọc có thể suy luận theo một cách khác nhau, không nhất thiết phải tuân theo ý đồ của tác giả. Bởi vì: “ Một tác phẩm khi đã xuất bản, tác giả không còn quyền gì đối với độc giả để có thể giải thích những điều mình viết “ ( P. Valéry).
Tiếp theo, ta hãy chuyển sang truyện ngắn “ Đôi mắt”. Quan điểm phổ biến hiện nay là: nhân vật Độ hiện thân cho tác giả. Còn Hoàng có quan điểm trái ngược với Độ nên Nam cao phê phán Hoàng. Có nhà nghiên cứu nói rằng khi nghe vợ chồng Hoàng nói xấu nông dân,“Nam Cao đến lộn ruột lên được. Nhưng giọng kể cứ thản nhiên như không“.  Điều đó đúng nhưng cũng không thể bắt bạn đọc chỉ dừng lại ở cách hiểu ấy. Biết đâu Nam Cao có sự đồng tình với Hoàng
Trước hết, cần thấy rằng : Nam Cao - Độ – Hoàng cùng đứng chung một trận tuyến. Hoàng bất hợp tác với Pháp nên sẵn sàng rời bỏ Hà Nội phồn hoa để tản cư ra vùng kháng chiến. Hoàng ca ngợi lãnh tụ hết lòng và nâng Hồ Chí Minh lên hàng vĩ nhân của thế giới. Tuy nhiên, trong nội bộ cách mạng, khó tránh khỏi kẻ theo quan điểm này, người theo quan điểm kia. Cái nhược điểm lớn nhất của Hoàng là có cái nhìn phiến diện, coi khinh người nông dân nhưng chính Nam Cao cùng đã từng mắc nhược điểm đó.
Trong một số tác phẩm viết trước năm 1945 ông thường gọi nông dân một cách khinh miệt là: hắn, y, thị, gã…. Ngoài bút hơi thiếu thiện cảm và có phần quá trớn khi miêu tả chân dung xấu xí của Thị Nở. Có lúc sa vào khuynh hướng  tự nhiên chủ nghĩa như việc miêu tả cảnh làm tình “ bình dân “ của Chí Phèo và Thị Nơ. Trong giáo trình “ Văn học Việt Nam  1930 – 1945”  tập I, bài “ Nam Cao” (NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, H.1988), có những câu nhận định như sau: “ Cũng có lúc nhà văn sa đà, lệch hướng ( Nửa đêm) “, “ cái nhìn của Nam Cao là bi quan, tuyệt vọng. Sau cách mạng tháng Tám, do có dịp gần gũi hơn với nông dân, và hơn nữa, được tiếp nhận một thế giới quan mới, Nam Cao đã thấy được nhược điểm cuả mình trong những tác phẩm viết về nông dân trước cách mạng “. Điều này được minh chứng bởi lời của nhân vật Độ” Người nhà quê dẫu sao cũng còn là một cái bí mật đối với chúng ta (…) tôi đã gần như thất vọng vì thấy họ phần đông dốt nát, nheo nhếch, nhát sợ, nhịn nhục  một cách đáng thương. Nghe các ông nói đến “ sức mạnh quần chúng”, tôi rất nghi ngờ (…) nông dân nước mình thì vạn kiếp nữa cũng chưa làm cách mạng”. Như vậy Nam Cao- Độ – Hoàng từng có chung một thái độ coi thường người nông dân. Cho nên, Nam Cao không thể phê phán Hoàng một cách thẳng thường được. Có người còn cho rằng, Nam Cao đã làm một phép phân thân, chia mình ra làm hai. Một nửa là Độ, nửa kia là Hoàng. Tính cách của Hoàng không chỉ hiện thân cho quá khứ của Nam Cao mà nó vẫn đủ lý do để tồn tại trong buổi đầu kháng chiến chống Pháp. Thậm chí đến cả ngày nay, những người như Hoàng không phải là ít.
Ta thấy giọng điệu của Nam Cao không có ý phê phán cách nhìn đời của Hoàng. Nhân vật  xưng ” tôi” gọi Hoàng  là “anh” với ý kính nể. Nam Cao nhập thân vào Hoàng và miêu tả khá kỹ nên nhân vật này sống động hơn Độ. Người đọc ít nhớ lời của Độ mà nhớ như in lời của Hoàng. Bởi lẽ Hoàng có cách ăn nói tài giỏi của một tay buôn bán chợ đen đại tài, cộng với cái năng khiếu sử dụng ngôn từ nghệ thuật điêu luyện của một nhà văn đàn anh. Trong cuộc tranh luận, hai vợ chồng Hoàng đã thắng Độ. Lời lẽ của Độ có vẻ từ tốn, nhún nhường không chỉ để giữ cung cách của một nhà văn đàn em mà điều quan trọng hơn là Độ không đủ lý lẽ để phủ nhận lời Hoàng. Những luận cứ mà Hoàng đưa ra đều hoàn toàn có thật, đúng như anh đã thề “ Tôi có bịa một tí nào, tôi chết”. Hoàng đã nói đúng những nhược điểm của nông dân và cách mạng buổi đầu kháng chiến. Như tập tục lạc hậu, thói quen tò mò tọc mạch, dốt chữ mà cứ mở miệng ra là “nói chuyện chính trị rối rít cả lên“, khoe khoang không đúng lúc, đùa nghịch với súng đạn….Nam Cao đã mượn lời của Hoàng để góp ý xây dựng. Chẳng hạn, đề bạt cán bộ thì phải chú ý đến năng lực (chứ đừng bắt anh bán cháo lòng làm chủ tịch khu phố). Cần xoá bỏ tệ quan liêu, cửa quyền (đừng như các anh tự vệ ham hỏi giấy ra vào cổng làng). Còn để biểu dương những mặt tốt của nông dân và cách mạng, tác giả dùng lời của Độ. Như vậy, giá trị nhận thức của tác phẩm thể hiện ở chỗ: Nam Cao không bôi đen hoặc hoàn toàn tô hồng quần chúng cách mạng mà tái hiện lại một bức tranh chân thực với những mặt ưu và khuyết điểm vốn có của nó. Có thể nói, Nam Cao là nhà văn đầu tiên đã dùng văn học mở đầu cho việc phê bình và tự phê bình để góp phần đưa phong trào cách mạng ngày càng hoàn thiện và lớn mạnh hơn.
Nói tóm lại, việc tạo ra độ “nhòe“ về nghĩa là rất cần thiết trong sáng tác văn học. Để cho độc giả mỗi lần đọc lại tác phẩm là thêm một lần phát hiện ra ý nghĩa mới. Như lời của nhân vật Hoàng “Tam Quốc với Đông Chu thì đọc đi đọc lại mãi vần thấy thú vị như mới đọc”. Cũng có thể nói như vậy với truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương, hay truyện ngắn của Lỗ Tấn, Hêmingway…. Nói không quá đáng rằng: tính mơ hồ, đa nghĩa hay bút pháp “ Ý tại ngôn ngoại “ là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định sức cuốn hút mạnh mẽ của một tác phẩm văn chương 23/7/2008
Phạm Ngọc Hiền
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Sự ám ảnh về cái chết trong cuộc đời và tác phẩm của Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ

Sự ám ảnh về cái chết trong cuộc đời và
tác phẩm của Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ

Có một câu danh ngôn rất hay: “Sự chết là con lạc đà đen quỳ đợi ngay trước cổng nhà của tất cả mọi người” (Abe- el -Kader). Không ai tránh khỏi cái chết, bởi vậy không ai là không nghĩ đến nó. Nhưng vấn đề là quan tâm nhiều hay ít và bộc lộ sự ám ảnh đó dưới hình thức nào. Đối với nhiều văn nghệ sĩ, tác phẩm nghệ thuật là nơi thăng hoa và giải thoát thích hợp nhất cho những dự cảm và triết lý của họ về cái chết. Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ cũng vậy, cái chết của hai người dường như đã được báo trước trong những tác phẩm của họ.
Trước tiên, ta hãy nói đến Xuân Quỳnh (1942 – 1988). Phải nói, đại đa số thơ của chị (viết cho người lớn) mang nặng nỗi ám ảnh về cái chết, sự chia lìa, tàn tạ. Thống kê 6 tập thơ mà chị công bố lúc còn sống, ta thấy số lượng và tỷ lệ bài đề cập đến nội dung này như sau: Chồi biếc (in năm 1963): 9 (50%); Hoa dọc chiến hào (1968): 21 (75%); Gió Lào cát trắng (1974) : 31 (86%); Lời ru trên mặt đất (1978): 24 (75%); Sân ga chiều em đi (1983): 44 (71%); Tự hát (1984): 31 (89%). Tổng cộng các tập, ta có tỷ lệ 76%. Đó là hiện tượng hy hữu trong thơ ca cách mạng Việt Nam. Và đó cũng là bản lĩnh của Xuân Quỳnh vì trong bối cảnh thời đó, người ta không khuyến khích viết về nỗi buồn và cái chết, sợ nó ảnh hưởng không tốt đến lòng tin và sức chiến đấu của mọi người. Nhưng biết làm sao được, vốn là người đa cảm, Xuân Quỳnh không thể thờ ơ được trước cái chết của đồng bào mình sau “Mười hai ngày” gánh chịu những trận mưa bom B.52 của giặc: “Mười hai ngày cùng tận của lòng đau/Cô Ngọc Tường chết ở Bạch Mai/Chiếc áo cưới thay cho vải liệm/ Gió đông bắc thổi qua nền gạch vụn/ Trên máu người bị giết ở Khâm Thiên”. Những câu thơ đó gợi lên lòng căm thù giặc hơn là bi lụy. Dành hết trí lực để quan tâm nhiều đến cái chết của đồng bào, cho nên có lúc, chị sẵn sàng xoá tên người yêu ra khỏi bộ nhớ của mình: “Dẫu trong em một tình yêu đã mất/ Em không còn đủ sức nghĩ về anh”. Riêng “Vết đạn trên tường thì cứ ám ảnh chị, bởi nó  hiện thân cho sự chết chóc: “Nhiều việc quá, khó ai mà nhớ hết. Riêng vết đạn trên tường không dễ nào quên”. Không riêng gì Xuân Quỳnh mà bất cứ ai thời đó cũng bị ám ảnh bởi cái chết, bởi “Các bãi sông đầy bom nổ chậm”, “Mọi con đường mang nỗi đau đạn lửa…” .Sự hiểm nguvà chết chóc đã trở nên quá quen thuộc với mọi người: “Đã quen nhiều gian khổ/ đã quen nhiều hy sinh”.  Trong “ngàn cái chết” mà Xuân Quỳnh gặp, có nhiều đồng đội vừa mới kề vai sát cánh với chị “Các anh nằm bên những ngã ba./ Nơi bom dội không còn ngọn cỏ”, “Dòng nước lợ mang máu anh về bể”, “Máu của cô nhuộm đỏ bờ lau” … Xuân Quỳnh không hề dùng biện pháp nhã ngữ để làm giảm bớt tính khốc liệt của cuộc chiến. Chị cứ nói thật những nỗi đau mà chính chị cũng đã từng trải “Máu đồng đội và máu tôi đã đổ/ Trên cát này mà gió quạt vừa se” (Gió Lào cát trắng); “Máu của em, máu của anh/ Thấm bên góc phố, chân thành ngày xưa” (Lai lịch một tình yêu). Thơ Xuân Quỳnh đề cập quá nhiều đến cái chết, mặc dù chị vẫn biết rằng “Người chết sẽ chẳng bằng lòng nếu chúng tôi quá đau thương”.Bởi vậy, chị cũng biết “Hát với con tàu nhưng tiếng hát ấy vẫn không át được tiếng gầm thét của con tàu lao ra trận tuyến. Và vẫn không xua tan được nổi ám ảnh về cái chết vì chính chị cũng đang xông xáo lao vào những nơi ác liệt nhất: “Tôi sẵn sàng đem hiến cả đời tôi/ Cho cát trắng và gió Lào quạt lửa”, “Sống đất này, chết cũng đất này thôi”… Mặc dù sống trong bom đạn suốt 30 năm, nhưng may thay chị đã không chết vì bom đạn.
Chiến tranh không phải là nguyên nhân duy nhất làm cho Xuân Quỳnh luôn bị ám ảnh về cái chết. Từ ngàn xưa, con người đã lo nghĩ về nó, như một nhà nghiên cứu văn học đã nhận định: “Nỗi day dứt vào bậc nhất trong suy cảm trữ tình của con người bao đời nay là day dứt về chuyện CÒN – MẤT của những gì với mình là quý  giá thiêng liêng. Người càng giàu tiên cảm, giàu dự cảm lo âu về mất mác rủi ro, thì day dứt càng ám ảnh hơn (I, tr 26). Thơ Xuân Quỳnh tràn ngập những suy tư, trăn trở về việc sống – chết. Vì sao mà hình thành một cái tôi Xuân Quỳnh mang nhiều ám ảnh về cái chết như vậy?. Hãy đi ngược dòng thời gian để  tìm về thời thơ ấu của chị. Mẹ Xuân Quỳnh mất khi chị còn quá nhỏ, cha liền lấy vợ khác rồi vào Nam sinh sống. Suốt đời Xuân Quỳnh thiếu thốn tình cảm của cha mẹ. Theo lời Đông Mai (Chị ruột Xuân Quỳnh) “Nỗi đau mất mẹ đã ám ảnh suốt một đời Quỳnh (II, tr 278). Chị đã sớm hình thành nỗi đau của một đứa trẻ bơ vơ côi cút giữa dòng đời “Tuổi thơ tôi lạc lõng giữa đời/ Như một cánh chim bơ vơ mất tổ” (Tiếng mẹ). Mới “Mười bảy tuổi”, đã sớm lo âu trăn trở về lẽ sinh – diệt của vạn vật. Trong bài “Chồi biếc”, cô thiếu nữ Xuân Quỳnh đã dự cảm về cái chết:  “Này anh, em biết/ Rồi sẽ có ngày/ Dưới hàng cây đây/ Ta không còn bước/ Như người lính gác/ Đã hết phiên mình/ Như lá vàng rụng/ Cho trời thêm xanh”. Thơ Xuân Quỳnh thường mang nặng nỗi ám ảnh tàn phai, tiêu biểu là bài “Thơ tình cuối mùa thu”, bài thơ đã được phổ nhạc và được giới trẻ rất yêu thích: “Cuối trời mây trắng bay/ Lá vàng thưa thớt quá/ Phải chăng lá về rừng/ Mùa thu đi cùng lá”… Xuân Quỳnh thường ví mình với những sự vật nhỏ nhoi, yếu ớt : Lá vàng, hoa rơi, hoa dại, cây tứ quý đất nghèo, cây kinh giới bùn lầy, hoa cỏ may dân dã, hoa cúc nhỏ nhoi, hoa tường vi nhỏ nhắn … Chị còn ví mình như “Hoa Ti gôn” : “Cánh hoa như lệ vỡ/ Như máu vừa mới sa/ Như hàng vạn giọt mưa/ Của nỗi buồn không dứt”. Nói chung đó là những bông hoa buồn nhỏ bé tội nghiệp nép mình “Trong mảnh vườn đã tối”. Chị cũng dùng rất nhiều hình tượng con tàu – sân ga (và thuyền – biển) để thể hiện sự chia ly, cách trở. Chị có rất nhiều câu thơ thể hiện nỗi buồn đau day dứt như : “Tránh sao khỏi sầy da rớm máu” ,  “Áo em rộng, lòng em tan nát”,  “Xém lòng một vết đau”, “Qua cay đắng với buồn vui đã nhiều”, “Nỗi đau buồn dồn xuống đáy tâm tư”… Và có thể còn rất nhiều câu thơ buồn hơn thế nữa nhưng không được công bố. Trong số bảy tập thơ của chị đã công bố, nỗi buồn thể hiện rõ nhất ở hai tập cuối: Tự hát (1984) và Hoa cỏ may (1989). Trong tập Hoa cỏ may (Giải thưởng văn học 1990 của Hội nhà văn), trái sầu đã đạt đến độ chín mùi, khi nỗi “nhức nhối đắng cay” đã “đến tận cùng đau đớn”. Lúc mà ở ngoài đời chị càng lặng lẽ thì trong thơ chị chứa “Bão táp ở từng trang” Chị như con “Chuồn chuồn báo bão” đã biết trước được cơn bão tố sắp ập đến, và nạn nhân sẽ là nó nhưng cánh chuồn yếu ớt, bơ vơ làm sao chạy trốn khỏi định mệnh.   
Thần Chết thường là bạn đồng hành với Thời Gian. Những người đa tình, ham sống thường rất ghét Thời Gian. Nữ sĩ Xuân Hương than thở “Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại”, Xuân Diệu cũng chua chát thốt lên: “Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất”. Vốn cũng mang trong mình chữ “Xuân” nên Xuân Quỳnh cũng không khỏi lo âu và tự hỏi “Mùa xuân sẽ về đâu/ Khi nơi này xuân hết?” (Mười bảy tuổi). Khi thấy “Thoáng sợi bạc trên mái đầu bỡ ngỡ”, chị càng lo cho sự phai tàn của xuân sắc, vì rằng số lượng nếp nhăn và sợi tóc trắng bao giờ cũng tỷ lệ nghịch với số lần hôn nhau và nhìn nhau say đắm. Là một người nhạy cảm, Xuân Quỳnh rất lo sợ cho thân phận tình yêu : “Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn/ Hôm nay yêu, mai có thể xa rồi/ Niềm đau đớn tưởng như vô tận” (Nói cùng anh). Rồi chị lại lo cho một ngày “Cuộc sống trở về bình yên”, con người sẽ tha hoá, không còn giàu cảm xúc để yêu nhau và để làm thơ: “Và trong em không thể còn anh/ Nếu ngày mai em không làm thơ nữa”. Yêu nhiều và lo lắng quá nhiều thứ  trong cuộc sống đời thường như vậy đã làm cho con tim Xuân Quỳnh mệt mỏi. Chị đã cảm nhận điều đó trong bài “Tự hát”: “Em lo âu trước xa tắp đường mình/ Trái tim đập những điều không thể nói/ Trái tim đập cồn cào cơn đói/ Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn”. Chị đã biết trước đời mình như một ngọn đèn le lói sắp tắt. Tháng 6/1988, Xuân Quỳnh bị đau tim nặng phải vào bệnh viện. Trên giường bệnh, chị làm bài thơ “Thời gian trắng” thể hiện rõ sự ám ảnh về cái chết : “Em ở đây không sớm không chiều/ Thời gian trắng, không gian toàn màu trắng/ Trái tim đập sau làn áo mỏng/ Từng đập vì anh, vì những trang thơ/ Trái tim nay mỗi phút mỗi giờ/ Chỉ có đập cho mình em đau đớn/ Trái tim này chẳng còn có ích/ Cho anh yêu, cho công việc, bạn bè”. Chị đã nhìn thấy rõ ràng Thần Chết đang đợi chị. Theo lời thuật của bà Vũ Thị Khánh (mẹ chồng Xuân Quỳnh): “Bác sĩ bảo bệnh của Quỳnh rất nặng, chỉ sống được vài năm nữa thôi” [I, tr 272]. Nhưng Xuân Quỳnh đã không chết vì bệnh tim.    
Chồng chị, Lưu Quang Vũ (1948-1988) cũng giống chị ở chỗ, có một giọng thơ buồn ám ảnh và nhìn chung là lạc điệu giữa môi trường văn học thời ấy. Trong cảnh chiến tranh, mối quan tâm hàng đầu của anh vẫn là cái chết của đồng loại. Anh đã “Nói với con cuối năm”: “Thành phố vừa trải qua/ Những trận bom huỷ diệt/ Lòng cha giờ dập nát/ Những xác người máu loang/ (…) Cha làm sao nói được/ Những nỗi đau lầm lạc đợi trên đường/ Cái ác đen sì trong mỗi quả bom”. [V] Bên cạnh nỗi đau chung của cả thời đại, anh cũng có nỗi buồn mang tính cá nhân: “Anh là con ong bay giữa trời lận đận”, “Đã chết rồi ơi chú ong nâu” (Bầy ong trong đêm sâu). Nhà phê bình Vương Trí Nhàn nhận xét: “Thơ anh có phần ngả sang giọng xót xa, tê tái (…) đôi khi, người ta còn bắt gặp nơi anh một nỗi buồn mạnh mẽ, gần giống như sự phẫn uất” [VI, Tr.11]. Như vậy, ta có thể nói rằng: “Sự buồn rầu và chán đời luôn thường trực trong tâm trạng anh”, đến khi nổi tiếng trong làng kịch “Anh vẫn buồn. Phải chăng là định mệnh” (Nguyễn Thị Hồng Ngát) [I, tr 230]. Vào những năm 1980, Lưu Quang Vũ trở thành ngôi sao sáng trên sân khấu kịch trường Việt Nam. Anh đã thổi một luồng gió mới vào đời sống nghệ thuật nước nhà và nhiều vở kịch của anh đã có tác dụng rất lớn đến xã hội Việt Nam lúc đó. Tên tuổi lừng danh như vậy đáng lẽ anh phải vui nhưng rất nhiều vở kịch của anh vẫn thể hiện sự ám ảnh về cái chết. Trong bài “Phép ứng xử với cái chết trong kịch Lưu Quang Vũ”,  nhà phê bình Phan Trọng Thưởng viết : “Hầu như ít vở kịch nào của Lưu Quang Vũ cái chết không được nhắc đến” (I, tr 134), “Sự ra đi của anh có gì như huyền bí, như là có sự chuẩn bị trước ở đâu đó rồi, ngay cả trong linh cảm của anh” (I, tr 138). Tác phẩm cuối cùng mà anh đang viết dở dang là “Chim sâm cầm đã chết”, anh ví mình như một loài chim quý hiếm, tuy đã được hoá thân nhưng những gì đã làm được cho đời vẫn còn sống mãi. Đấy là “Điều không thể mất” (tên vở kịch hoàn chỉnh cuối cùng của đời anh). Vâng, “Cái chết sẽ không tồn tại khi một người đã hoàn thành tốt đẹp sự nghiệp của cuộc sống” (Hô-xê mác-ti)
Sự ra đi đột ngột của một nhà thơ và một nhà soạn kịch nổi tiếng đã gây chấn động cả nước. Hàng triệu con tim yêu thích nghệ thuật đã thổn thức đau buồn và luyến tiếc cho hai tài năng lớn đã ra đi trong khi sức sáng tạo vẫn còn dồi dào và hứa hẹn sẽ cống hiến nhiều hơn cho đất nước. “Sự phi thường và tài năng nở rộ như huyền thoại đã  đem đến sự giải thích về cái chết của anh màu sắc huyền bí” (Phạm Thị Thành) [I, tr. 223]. Ta hãy theo dòng dư luận để thử xem cái chết của họ có được báo  trước hay không. Theo Lưu Quang Định, thì thời còn đi học phổ thông, Lưu Quang Vũ đã ghi nhật ký (ngày 8/11/1964) như sau:  “Thần chết ơi, ta chẳng cần nhiều đâu. Độ 20 năm nữa, khi ta đã trả nợ xong, khi có thể coi là đã làm được chút gì đó cho đời, ta sẽ chẳng ân hận gì khi nhắm mắt. Đấy, chỉ tiêu của ta có ngắn ngủi không?”[I, tr. 242]. Trước khi chết mấy ngày, Lưu Quang Vũ có tâm sự với nhà phê bình Phan Trọng Thưởng : “Người ta bảo mình không thọ lâu, chẳng biết đúng hay sai” [I, tr.138]. Còn Nguyễn Thuỵ Kha thì kể lại: “Hôm được tin Vũ mất, trước nửa giờ, ở giữa sân khấu lớn Hà Nội, cả một tràng pháo dài trang trí cho kịch “Bệnh sĩ” của Vũ đã rơi xuống tôi và nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc. Cái áo trắng tôi mặc bị hoen đầy màu đỏ, đỏ như máu (…) tôi vẫn nghĩ đó là thông báo cuối cùng của Vũ với bạn bè trước lúc đi xa mãi mãi” [IV, tr.175]. Họa sĩ Doãn Châu, người thân cuối cùng chứng kiến cái chết của họ, đã kể lại như sau : Hôm ấy là ngày 29/8/1988, tức là tháng 7 âm lịch (tháng cao điểm của tai nạn giao thông hàng năm), và chỉ sau ngày rằm xá tội vong ân có mấy hôm (rất tiếc là hiện nay, có quá nhiều người thờ ơ với lễ tục đầy tính nhân văn này). Chiếc Com-măng-ca chở 6 người : Vũ – Quỳnh và cháu Lưu Quỳnh Thơ (13 tuổi), Doãn Châu cùng vợ và con nhỏ. Xe đang đi từ Hải Phòng về Hà Nội, ngang qua địa phận Hải Dương thì bị chiếc xe ô tô chở than phóng với tốc độ lớn đâm vào phía sau. Điều lạ thường là gia đình hoạ sĩ Doãn Châu đều bình yên vô sự. “Hình như số phận đã sẵn lòng ghen ghét, đố kỵ với tài hoa nên cả 6 người cùng ngồi trên một xe, cùng một khoảnh khắc nghiệt ngã mà Vũ, Quỳnh, cháu Mí thì đã vĩnh viễn bị cướp đi…” (Doãn Châu – “Niềm bí ẩn của sáng tạo và sự chết”) [I, tr. 202].
Sau tai nạn thảm khốc đó, người ta đã đưa ra nhiều giả thiết khác nhau để chứng minh rằng, số phận nghiệt ngã của Xuân Quỳnh đã được báo trước trong cuộc đời và tác phẩm của chị. Có người đã “xem tướng số” qua đôi mắt và giọng nói của chị như sau: Đôi mắt “Vừa chăm chắm, vừa phiền muộn và đâu đó hình như có những giọt nước mắt ngấp nghé chỉ muốn trào qua bờ mi. Đặc biệt nhất là giọng nói, bao giờ giọng nói của Quỳnh cũng run rẩy nghẹn ngào như có tiếng khóc ở bên trong. Bằng vào hai thông số đặc biệt ấy của chân dung, người ta không thể đoán định một số phận tốt hơn cho Xuân Quỳnh” (Nguyễn Thị Minh Thái – “Một giọng thơ tình ám ảnh”) [I, tr. 46]. Vì sao Xuân Quỳnh phải chịu một số phận nghiệt ngã như vậy, bởi chị có tài sắc hơn người. “Thật hiếm có người đàn bà vừa có tài, có sắc đẹp, lại có trí tuệ sắc sảo như Xuân Quỳnh” (Nguyễn Thị Như Trang) [II, tr. 349]. Bởi vậy, nói như Nguyễn Du : “Chữ tài liền với chữ tai một vần” , “Tài tình chi lắm cho trời đất ghen”, “Rằng hồng nhan tự nghìn xưa/ Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu” … Có lẽ dự cảm được số phận của mình như vậy nên Xuân Quỳnh đến với thơ để giải thoát bớt niềm đau: “Cuộc đời và thơ Xuân Quỳnh là một nỗ lực thoát khỏi  chơ vơ định mệnh (…) và phải đến khi tai nạn phủ phàng ập xuống quá bất ngờ, người đời mới thấy rằng những dự cảm lo âu suốt một đời người, một đời thơ ấy sao mà linh nghiệm” (Chu Văn Sơn) [I, tr. 30]. Còn Lưu Khánh Thơ cũng thừa nhận : “Có cái gì như là định mệnh khi chị kết thúc cuộc đời cùng chồng con vào một ngày tháng 8 đau xót. Chị vĩnh biệt chúng ta vào mùa thu. Những bông hoa cúc vàng mà chị đã từng yêu, từng nói đến trong các bài thơ đã phủ kín ngôi mộ. Những bông hoa phúng điếu, tưởng niệm rồi sẽ tàn” [I, tr. 41] 
Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ có nhiều điểm tương đồng nhau: từng có một lần hôn nhân dang dở và mỗi người có một con riêng. Từng đứng trên trận tuyến chống chiến tranh phá hoại miền Bắc và đối diện thường xuyên với cái chết. Thơ của hai người đều thể hiện sự ám ảnh về cái chết và mang âm hưởng buồn. Từ khi hai người đến với nhau, hai nỗi buồn được cộng lại tạo ra nỗi buồn lớn hơn, và cũng từ đây, sự nghiệp của họ đạt tới đỉnh cao. Nói như thi sĩ Pháp Muytxê : “Không có gì làm cho ta lớn bằng một nỗi đau lớn. Tiếng hát tuyệt vọng là tiếng hát tuyệt vời nhất”.      
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1- Xuân Quỳnh –Lưu Quang Vũ, tình yêu và sự nghiệp – Lưu Khánh Thơ biên soạn – NXB hội nhà văn – H.1994
2- Nữ sĩ Xuân Quỳnh, cuộc đời để lại – Ngân Hà biên soạn – NXB Văn hoá thông tin, H. 2001.
3- Xuân Quỳnh, thơ và đời, Vân Long biên soạn – NXB Văn hoá, 1995.
4- Phê bình, bình luận văn học : Quang Dũng, Nguyễn Mỹ, Xuân Quỳnh – Vũ Tiến Quỳnh biên soạn – NXB Văn nghệ, 1995.
5- Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh gửi lại – Hội văn học nghệ thuật Đà Nẵng – 1989.
6- Thơ Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ – Vương Trí Nhàn giới thiệu, tuyển chọn – NXB Giáo dục – 2002.
* Có thể đặt lại tên tác phẩm là:
- Dự cảm về cái chết trong sáng tác của Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ.
- Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ và cái chết đã được báo trước.
- Có phải chăng: Cái chết của Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ đã được báo trước trong những sáng tác của họ?.
6/7/2008
Phạm Ngọc Hiền
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Đi tìm hoa hậu trong tiểu thuyết Việt Nam thời chiến tranh

Đi tìm hoa hậu trong tiểu
thuyết Việt Nam thời chiến tranh

Văn chương đồng nghĩa với cái đẹp, đó là cái đẹp trong nghệ thuật ngôn từ, cái đẹp trong tư tưởng tình cảm, nhan sắc con người và cái đẹp trong thiên nhiên, đồ vật… Cái đẹp trong văn chương cũng mang tính quan niệm, các nhà văn cách mạng thời chiến tranh thường coi trọng cái đẹp nội dung hơn hình thức. Một phụ nữ lý tưởng phải là một chiến sĩ dũng cảm trong chiến đấu, cần cù trong lao động, chân lấm tay bùn, áo quần giản dị. Nhiều nhà văn ngại miêu tả các nhân vật nữ có ngoại hình đẹp kiêu sa, sắc nước hương trời, vì sợ nhân vật bị đánh giá là “tiểu tư sản, quý tộc” xa rời lao động, còn tác giả bị quy là theo quan điểm “vị nghệ thuật”. Nói như vậy để thấy rằng việc đi tìm Hoa hậu trong tiểu thuyết cách mạng Việt Nam thời chiến tranh là khó lắm thay!
Điểm qua các tiểu thuyết được nhắc tới nhiều, ta thấy nổi lên nhân vật chị Sứ (Hòn Đất). Nhưng thực ra, chị Sứ chỉ xứng đáng vương miện Á hậu. Điều đáng bất ngờ là, vương miện Hoa hậu không phải thuộc một nhân vật người Kinh mà là người Mẹo (Mèo, Hmông). Nhưng không phải người Mẹo ở Việt Nam mà là ở tận xứ Lào xa xôi. Ta đã nghe nói nhiều về vẻ đẹp của các cô gái Lào từng làm rung động trái tim của hàng vạn chiến sĩ tình nguyện Việt Nam. Và có biết bao nhiêu thơ văn nhạc họa đã ngợi ca vẻ đẹp đó. Nhưng có lẽ, tác phẩm miêu tả sinh động nhất vẻ đẹp cô gái Lào là tiểu thuyết Pả Sua (1975) của Văn Linh. Đây là kết quả của những năm tháng dài tác giả chiến đấu và công tác ở nước bạn. Nói cách khác, mối tình hữu nghị thắm thiết Việt - Lào đã sinh ra Hoa hậu Pả Sua.
Tiêu chuẩn đầu tiên của một Hoa hậu là nhan sắc. Tác giả đã dành khá nhiều công sức để khắc họa vẻ đẹp ngoại hình của cô thiếu nữ này. Để tăng tính khách quan, nhan sắc của Pả Sua chủ yếu được miêu tả từ điểm nhìn của các nhân vật khác. “Nhắc đến Pả Sua, người ta nói bằng một thán phục, trân trọng như khi nói đến vua Mẹo”, “là vua Mẹo hiện sinh, sắc đẹp của cô tưởng như đất nước này chỉ có một, như thần trăng, thần sao xuống trần”. Tác giả vận dụng tối đa các tác dụng của Mỹ từ pháp để tôn vinh vẻ đẹp quá mức tưởng tượng của nhân vật. Sắc đẹp của Pả Sua chỉ có thể sánh với những gì cao lớn nhất như vua, như thần, như vũ trụ… Sắc đẹp ấy chinh phục tất cả mọi trái tim, bất chấp tuổi tác, địa vị, phe phái, dân tộc… Cậu bé Tu Bi mới 14 tuổi đã ngây người ngắm nhìn cô “như ngắm nhìn vào một bức vẽ lộng lẫy”. Cái đẹp của cô là cái đẹp của một thiếu nữ mới lớn, dồi dào nhựa sống, gợi lên biết bao nhiêu khao khát mơ tưởng ở các trai làng: “Bọn con trai, từ ngày Pả Sua mới lớn lên, đứa  nào mà chẳng ước ao được làm chồng cô (…) vắng Pả Sua, chúng cảm thấy buồn buồn…”. Bởi vậy mà nhiều trai làng đang trốn trong rừng (do hiểu lầm bộ đội Pa Thét Lào), nhưng do “nhớ Pả Sua, muốn được nhìn mặt” nên ban đêm mò về và bị bộ đội bắt. Vả Xênh thành khẩn thú nhận “Không phải mình con, còn nhiều đứa nữa cũng mong được nhìn thấy Pả Sua, được nghe cô ấy khắp”. Một lý do có vẻ buồn cười nhưng qua đó cho thấy Pả Sua có sức hấp dẫn mạnh mẽ đến thế nào.
Trong cuộc thi Hoa hậu, các người đẹp cũng được đề nghị biểu diễn năng khiếu và trang phục tự chọn của mình. Năng khiếu của Pả Sua là “khắp” (hát dân ca). Đây cũng là một thứ khiến bọn trai làng càng mê mẩn cô hơn “vì sắc đẹp Pả Sua chỉ một phần mà vì giọng khắp và lời trò chuyện của cô là cả phần hồn đối với họ”. Nhưng nhan sắc và giọng hát của Pả Sua sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu nó không đem lại lợi ích cho cộng đồng, cho cách mạng. Tức là việc miêu tả cái đẹp không phải nhằm mục đích “vị nghệ thuật” mà phải hướng tới “vị nhân sinh”. Văn Linh đã làm được điều đó khi đưa “cô con gái tinh thần” của mình gia nhập vào đội văn nghệ tuyên truyền. Nhờ nhan sắc và giọng hát của Pả Sua mà thanh niên nô nức đến với cách mạng: “Đám con trai Mẹo nghe lọt lời lẽ tâm huyết, say giọng hát của Pả Sua nên cô đi đến nhà nào, họ theo đến nhà đó. Dân các bản xa cũng kéo tới để nhìn Pả Sua”. Sau mỗi đêm hội diễn “Đám con trai thì được đem về thêm nụ cười và tiếng hát đẹp của Pả Sua vào trong giấc ngủ”. Pả Sua không chỉ có nhan sắc đẹp, lời ca điệu múa đẹp mà còn có trang phục đẹp, góp phần cộng hưởng lẫn nhau để tôn tạo vẻ đẹp ngoại hình. Trong những đêm văn nghệ, cô hiện lên trong bộ trang phục truyền thống lộng lẫy như tiên nữ: “Cô bước ra sân nhẹ nhàng như một cô gái Mẹo từ quả bầu bước ra trong truyện thần thoại. Ánh lửa hồng làm thêm bừng sáng gương mặt cô với những thứ trang sức như vàng bạc, khánh bạc lấp lánh trên ngực (…) đôi mắt đen nhung (…). Mỗi bước đi của Pả Sua, tấm váy thêu hoa cứ dập dình trên đôi bắp chân trắng ngà, dịu dàng”. Vẻ đẹp ngoại hình rực rỡ đó không chỉ làm mê hoặc quần chúng nhân dân mà còn cảm hóa cả kẻ thù. Tu Dơ (được Mỹ đào tạo) bực mình do không lấy được cô làm vợ hai, cộng với việc thấy Pả Sua theo cách mạng nên mang súng đi định bắn chết cô trong đêm văn nghệ. Bạn đọc hồi hộp lo cho tính mạng Pả Sua, mong có nhân vật nào cứu giúp cô. Nhưng không, chính sắc đẹp đã cứu giúp cô. Vì đứng trước Pả Sua, Tu Dơ như đứng trước một vị thần sắc đẹp, hắn run rẩy trước nhan sắc của cô, “tim đập mạnh đến nỗi cả người hắn nôn nao như kẻ bị say sóng”. Nhìn Pả Sua múa, “Tu Dơ có cảm giác như chính tim mình đang bị xéo nát bởi đôi chân trần đó (…). Sắc đẹp của Pả Sua càng lộng lẫy, làm cho Tu Dơ phải bàng hoàng, như thể trong giấc mơ hắn được gặp nữ thần trăng sao sau một đêm đi săn lạc đường (…) những âm thanh ngọt ngào, dìu dặt của quê hương, trong đó có tiếng mẹ ru (…) Không phải sắc đẹp bề ngoài của Pả Sua đã làm cho Tu Dơ chờn tay, mà chính vì cái đẹp của tiếng hát. Tiếng hát của Pả Sua có sức truyền cảm thần kỳ, phút chốc đã làm cho Tu Dơ tiêu tan quyết tâm tàn bạo của hắn”. Kế hoạch ám sát của Tu Dơ không thành nhưng điều kỳ lạ là hắn dám viết thư cho Pả Sua để giải thích rằng: “mấy lần hắn toan nẻ cò súng , xong vì Pả Sua đẹp quá, hát hay quá nên phải hạ súng xuống”. Sau đó, tên ngụy binh đem nộp súng cho Pả Sua, tức là quy hàng trước cái đẹp, “cái đẹp đã cứu vãn thế giới” (Sepnưsepxki). Sắc đẹp và tài năng của Pả Sua không chỉ chinh phục con tim các nhân vật trong truyện mà cũng tạo ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc. Bởi nhan sắc của cô được nhắc đi nhắc lại nhiều lần dưới nhiều phương diện và nhiều điểm nhìn khác nhau nên gây ấn tượng khó quên. Biện pháp so sánh tu từ có tác dụng làm cho hình tượng Pả Sua giàu màu sắc, nhiều ý nghĩa, góp phần tạo nên màu sắc huyền thoại xung quanh nhân vật. Và bạn đọc cũng dễ nhận ra biện pháp phóng đại trong việc khắc họa vẻ đẹp nhân vật lên ngang hàng thần thánh. Chính nhờ điều này mà nhân vật Pả Sua không lẫn lộn với bất cứ nhân vật nào khác trong văn học. Nói như Goóc-ky: “Tất cả những tác phẩm lớn, tất cả những tác phẩm đã trở thành mẫu mực của một nền văn học có giá trị nghệ thuật cao chính là xây dựng trên sự phóng đại”.
Một nội dung nữa không thể thiếu trong các cuộc thi Hoa hậu là phần thi ứng xử. Ở phần này, Pả Sua cũng đạt điểm 10 tuyệt đối vì không có nhân vật nào ăn nói hấp dẫn hơn cô. Ưu thế của Pả Sua là phát huy tài “nói lý nói lối” của dân tộc mình. Người Mèo nổi tiếng ăn nói giỏi, ưa lý sự nên mới có câu thành ngữ  “Lý ông Mèo”. Ở đầu tác phẩm, Pả Sua đã trổ tài lý luận khiến cho anh bộ đội Vi Lay phải suy nghĩ “đúng là một cô gái Mẹo lý sự”.Dân làng khen cô “nói năng rõ ràng, có lý”, “người ta nói lời nói của Pả Sua là lời nói đẹp và đúng”. Nghệ thuật thuyết phục của Pả Sua như sau: đầu tiên phải đưa ra những chân lý không ai chối cãi được, những lẽ phải này được lấy từ tự nhiên, giàu hình ảnh sinh động gợi cảm. Sau đó mới đi thẳng vào vấn đề chính. Cô đã dùng tài ăn nói của mình để thuyết phục Tu Dơ không cầm súng chống cách mạng: “Nên thận trọng, con vịt thường lớn hơn quả trứng. Chuyện xảy ra sau bao giờ cũng lớn hơn chuyện trước, Tu Dơ ạ”. “Nói trước là phải giống sau. Trời đất ban cho loài người hai con mắt cốt để nhìn thấy cái đúng và cái sai, hai lỗ tai là để nghe được đâu điều hay, đâu lẽ dở, còn miệng thì chỉ có một cái nên chỉ được phép nói một lời”. Tài ăn nói cũng phản ánh sự thông minh của con người, Pả Sua phán đoán tình hình chính sự rất tài. Mỗi lần có việc gì quan trọng, Phìa tổng thường hỏi ý kiến cô: “Con đúng là người trời, ta không nghe con sao được”. Chẳng hạn, nghe kẻ xấu tung tin máy bay Mỹ sẽ chở gạo ngô đến cấp cho dân bản ăn quanh năm, Pả Sua nói: ““Lúa ngô trồng trên đất còn chưa chắc ăn nữa là trồng trên máy bay kẻ khác”. Người già trong bản phục Pả Sua và nói rằng nếu là con trai, cô có thể làm vua Mẹo được”. Lời nói của Pả Sua có tác dụng lớn không chỉ vì kỹ năng lập luận, sự hiểu biết mà còn vì nó xuất phát từ một con tim chân thành yêu thương con người tha thiết. Đó là những lời nói có linh hồn, “những lời có cánh” có sức cuốn hút mọi người mạnh mẽ, và nhờ đó cũng giúp ích cho cách mạng. Khi máy bay Mỹ tới xúc dân đi, Pả Sua đã dũng cảm chạy đến dưới cánh quạt để thuyết phục dân làng bằng những lời gan ruột: “Bà con ơi! Con chim bay theo đàn, vượn đi ăn có bầy, chẳng nhẽ mấy chục con người này lại nỡ bỏ bản làng mà đi! Chồng con đang ở đâu, sống chết ra sao cũng không biết? Đi đâu chẳng ai hay? Ở lại đi, các anh chị, các em ơi! Không bỏ làng”. Đó là cả một nghệ thuật thuyết phục. Nó có sức mạnh ở bố cục trình bày, ở việc dùng nhiều câu cảm thán, ở sự lặp đi lặp lại lời kêu gọi gây ấn tượng sâu sắc. Sức mạnh tâm lý của lập luận thể hiện qua việc dùng những hình ảnh gây xúc động lòng người như: bầy, đàn, bản làng gợi lên tinh thần đoàn kết cộng đồng thị tộc. Hoặc dùng cách xưng hô thân mật như người trong gia đình như: bà con, anh chị, em. Ngoài ra, Pả Sua cũng nhắc đến những nội dung được mọi người quan tâm như: chồng con, sống chết, đi về đâu… và vẽ ra một tương lai vô định, bất hạnh nếu bỏ làng ra đi… Nghe những lời đúng, hay và thiết tha như thế thì bất cứ con tim sắt đá nào cũng rung động. Quả thật, khó có người đẹp nào ăn nói thông minh như thế.
Người ta quan niệm một người đẹp lý tưởng phải có sự kết hợp hài hòa giữa cái đẹp thể xác và cái đẹp tâm hồn. Nhân vật Pả Sua cũng được xây dựng theo quan niệm đó. Cô cũng có một đời sống nội tâm phong phú, có tâm hồn mơ mộng của tuổi thanh xuân và biết rung động trước vẻ đẹp thiên nhiên: “Hai mắt đen của Pả Sua nhìn ngước lên vòm trời bát ngát mây, mơ màng, như muốn thầm hỏi mây kia trôi dạt về đâu”. Cô cũng giàu tình cảm yêu thương con người tha thiết nên lúc mới 14 tuổi, cô đã dám bí mật cởi trói cho một anh bộ đội lạ mặt “Vi Lay chưa kịp nói một lời cảm ơn thì ân nhân của anh đã biến mất trong đêm, cũng nhẹ nhàng như khi đến vậy, tựa hồ đó không phải là người mà là tiên nữ ở trên trời xuống làm xong việc nghĩa rồi biến thành những hạt sương luôn”. Sau này, Vi Lay dìu dắt Pả Sua vào cách mạng, đưa cô lên tỉnh học. Như vậy, Pả Sua cũng là người có trình độ học vấn, một yêu cầu cần có của một Hoa hậu. Cô chịu ơn Vi Lay nhiều, dưới mắt cô “Anh là đấng anh hùng đang trò chuyện với trời đất (…) ngắm nghía anh như chiêm ngưỡng một pho tượng cao quý”. Thông qua cái nhìn kính ngưỡng của Pả Sua với Vi Lay, ta đã thấy được phần nào lý tưởng sống của cô. Nhưng cô chỉ thực sự “dồn dập phát đi tín hiệu của trái tim” từ khi chăm sóc cho Vi Lay bị thương nặng gần như tàn phế. Điều đó cho thấy cô có một tình yêu thánh thiện, cao cả, không vụ lợi nhưng cũng rất kín đáo, sự thầm kín cần có của một người phụ nữ đứng đắn. Nhưng tin đồn Pả Sua yêu Vi Lay cũng về tới bản làng và Tu Dơ lấy lại súng, công khai theo địch, dọa sẽ bắn nếu cô trở về làng. Mối tình của Pả Sua và Vi Lay cũng gặp trắc trở do có sự hiềm khích giữa hai bộ tộc Mẹo và Lào Thơng (trong cùng địa phương). Pả Sua lâm vào thế bi kịch, một bên tình với Vi Lay, một bên nghĩa với buôn làng. Cô đau khổ, định tự tử, “cô vò xong bát lá ngón đặc quánh” nhưng qua một đêm trằn trọc, cô quyết định sống để bọn xấu khỏi phải hả dạ vui mừng. Xét từ góc độ nghệ thuật, Pả Sua là nhân vật được miêu tả sống động bởi có đời sống nội tâm phong phú, có bi kịch trắc trở gay cấn hấp dẫn người đọc. Tâm lý nhân vật được miêu tả sâu sắc chứ không đơn giản như hàng loạt nhân vật cùng thời. Nhưng cái đẹp trong tâm hồn Pả Sua không chỉ được đem ra thử thách trong tình yêu với Vi Lay mà còn được đặt trong bối cảnh chiến tranh như lửa thử vàng. Cô dũng cảm về lại buôn làng trong “hoàn cảnh phức tạp và khó khăn này”. Mặc dù bị thương do bom Mỹ nhưng cô vẫn băng bó cho con của Tu Dơ (đại đội trưởng chỉ huy AC) và càng bao dung thánh thiện hơn, cô nhận nuôi dùm con hắn. Đứng trước một khối pha lê quá trong sáng, Tu Dơ soi thấy khuôn mặt xấu xí của mình và rút súng tự sát. Tu Dơ chết không phải vì nhan sắc Pả Sua mà chính là xấu hổ trước vẻ đẹp đạo đức chói lòa quá mức tưởng tượng của cô.
Pả Sua không chỉ hiện thân cho vẻ đẹp dân tộc, không chỉ hiện thân cho mẫu người đẹp phổ quát của nhân loại mà nhân vật này còn được xây dựng theo khuôn mẫu con người lý tưởng của thời đại cách mạng vô sản. Bởi vậy, cô có thể làm hài lòng tất cả những “vị giám khảo” là những nhà phê bình Mácxít khó tính nhất. Pả Sua xuất thân từ dân lao động, “lý lịch” ấy chứng tỏ cô là “thành phần cơ bản”, là con người ưu tú của thời đại cách mạng. Cô siêng năng lao động, đó là mẫu người lý tưởng mà các chàng trai mơ ước. Cô không chỉ đảm việc nhà mà còn giỏi việc nước, đó là một công dân lý tưởng. Người ta yêu cầu các Hoa hậu phải tham gia công tác xã hội giúp ích cộng đồng, Pả Sua làm việc này rất xuất sắc “Tuổi trẻ đẹp đẽ của cô gái Mẹo ấy đã hé sáng lên như một tia chớp giữa đêm tối mù sương, soi sáng cả vùng rẻo cao quê hương, soi sáng đến từng trái tim, từng tâm hồn những con người nghèo khổ ở chốn núi rừng này”. Nhờ đó cô trở thành một thần tượng cao quý dưới mắt mọi người “giờ đi theo cách mạng nên người lỗi lạc… khéo không mai sau cô ấy làm vua Mẹo ấy”. Ta nghe nhắc nhiều đến từ “vua Mẹo”. Vua, Hoàng hậu hay Hoa hậu đều là những danh hiệu cao quý nhất được cộng đồng tôn vinh, kính ngưỡng. Hoa hậu Pả Sua đại diện cho vẻ đẹp cộng đồng, cũng đồng thời điển hình cho quá trình phát triển của dân tộc mình “Cuộc đời của cô gái Mẹo nghèo khổ ấy sẽ mãi mãi gắn liền với bước đường đi lên của dân Mẹo cũng như cả nước Lào đẹp tựa bình minh”. Cô là con người thuộc về công chúng, gần gũi với mọi người, nên được họ ca ngợi hết lòng “chuyện về Pả Sua được truyền lan ra khắp vùng rẻo cao như câu chuyện về một con người trong huyền thoại” (không ai ca ngợi những “hoa hậu búp-bê nhốt trong lồng kính”). Mặc dù Pả Sua được nhân dân thần thánh hóa nhưng từ phương diện cá nhân, Pả Sua “trước sau cô vẫn là cô gái Mẹo gần gũi với bản làng, quê hương”. Pả Sua vĩ đại mà hòa đồng, được mọi người yêu mến. Mỗi lần tiễn cô lên tỉnh học, dân làng “tiễn Pả Sua ra khỏi ba mái đồi mới trở lại và ai nấy đều cố giữ không cho một giọt nước mắt trào ra”. Khi Pả Sua đi rồi thì “những giọt nước mắt nhớ thương của già Mùa, của bạn bè và bà con Mẹo Nhọt Hia rơi lã chã”. Còn Pả Sua đi nửa đường thì “ruột em như đang đứt từng đoạn” vì nhớ dân làng. Tác giả khắc họa phẩm chất Pả Sua chủ yếu thông qua tấm lòng của dân làng đối với cô, như thế là sâu sắc, khách quan. Đồng thời thể hiện được tinh thần gắn bó với quần chúng, vốn là phẩm chất cơ bản của con người trong thời đại cách mạng. Cô chiếm được cảm tình của đông đảo quần chúng thì đông đảo quần chúng sẽ bầu cô làm người đẹp nhất cộng đồng.
Tóm lại, Pả Sua là nhân vật mang trong mình tất cả vẻ đẹp lý tưởng của loài người. Đó là vẻ đẹp hài hòa toàn diện trên tất cả mọi mặt: nhan sắc, trang phục, lời nói, việc làm, ứng xử, tư tưởng, tình cảm, … Nhưng vẻ đẹp đó không phải được thể hiện qua những lời giới thiệu chung chung, mơ hồ, khô khan của tác giả mà được thể hiện qua những hình ảnh giàu màu sắc sinh động, đa nghĩa. Mỗi từ ngữ miêu tả về người đẹp như những viên ngọc được mài dũa tinh luyện, có hồn. Ngoài ra, tác giả cũng đặt Pả Sua vào những tình huống bi kịch gay cấn để làm ngời sáng phẩm chất nhân vật cũng đồng thời tăng thêm sự hấp dẫn của tác phẩm. Hiếm thấy một nhân vật nào trong văn học được tác giả ưu ái bỏ nhiều công sức tô điểm nhan sắc đẹp tuyệt trần như vậy. Có thể nói, nhân vật Pả Sua xứng đáng đoạt vương miện Hoa hậu tiểu thuyết Việt Nam 1945 - 1975.
Lời với tòa soạn:
Tiểu thuyết Pả Sua của Văn Linh được NXB Phụ nữ in lần đầu năm 1975. Trong bài viết này, chúng tôi theo bản in của NXB Phụ nữ 1978.
22/6/2008
Phạm Ngọc Hiền
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Mai Văn Phấn tìm về ngọn nguồn thi ca

Mai Văn Phấn tìm về ngọn nguồn thi ca “Bầu trời không mái che” *  là tập thơ mới nhất của Mai Văn Phấn được xuất bản cuối năm 2010. Cũng như...