Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2026
Hạnh ngộ tuyệt vời giữa thơ B,H và nhạc Anh Bằng
Hạnh ngộ tuyệt vời giữa
Tôi may mắn có được sự quen biết khá nhiều nhạc sĩ thuộc nhiều thế hệ. Hầu hết, họ là những nhạc sĩ gắn bó một đời với âm nhạc. Tựa đó là người tình thủy chung, đầu tiên và cuối cùng của định mệnh, một kiếp người.
Phạm Duy như tôi biết
Phạm Duy như tôi biết
Nếu bảo tôi chọn ba nhạc
sĩ Việt Nam nổi danh nhất, tôi xin chọn Văn Cao, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn. Nếu
bảo tôi chỉ chọn hai nhạc sĩ có sự nghiệp âm nhạc đồ sộ và được đông đảo công
chúng hâm mộ nhất thì tôi xin chọn Phạm Duy và Trịnh Công Sơn. Nói đến Trịnh
Công Sơn, ở Việt Nam ai cũng biết nhưng sẽ có vài người hỏi: Phạm Duy là ai vậy?
Phạm Duy (1921 – 2013)
quê ở Hà Nội, từng gia nhập một gánh hát rong đi cả nước và bắt đầu nổi tiếng từ
những năm tháng lưu diễn này. Ông tham gia kháng chiến chống Pháp nửa chừng thì
bỏ về Hà Nội rồi vào Sài Gòn lập nghiệp. Trong thời gian 1955 – 1975, ông là chủ
soái của làng âm nhạc Nam Việt Nam, thường đại diện giới văn nghệ sĩ đi giao
lưu các nước và dự nhiều hội nghị âm nhạc quốc tế. Sau 1975, khi ông sang định
cư ở nước ngoài thì vị trí ấy mới nhường cho Trịnh Công Sơn. Sau khi Trịnh Công
Sơn qua đời, chủ soái cũ mới quay lại Việt Nam nhưng sáng tác không còn sung sức
nữa mà chủ yếu sống bằng dư âm của một thời vang bóng. Ở miền Nam, những người
lớn tuổi hiểu về ông cặn kẽ hơn hơn giới trẻ. Vì nhạc của ông đã từng có một thời
vang vọng khắp hang cùng ngõ hẻm và nhiều tác phẩm vẫn còn sống mãi đến ngày
nay. Phạm Duy đã sáng tác cả hàng ngàn ca khúc thuộc nhiều thể loại khác nhau.
Ngoài ra ông cũng viết nhiều công trình biên khảo có giá trị.
Phạm Duy là nhạc sĩ nổi
tiếng nên cũng không tránh khỏi tai tiếng. Ông đi đến đâu thì gây bàn cãi đến
đó. Người ta cãi nhau về việc ông bỏ chiến khu về Hà Nội rồi từ Hà Nội vào Sài
Gòn. Sau đó công chúng lại xôn xao về việc ông bỏ Việt Nam sang Mỹ rồi sự kiện
ông bỏ nước Mỹ để quay lại Việt Nam lại càng gây tranh cãi nhiều hơn. Sau 1975,
nhiều ca sĩ bị khốn khổ vì hát nhạc Phạm Duy mặc dù những tác phẩm này chỉ nói
chuyện tình yêu thuần túy. Nhiều người cứ vô tư hát những bản tình ca không rõ
tác giả, đến khi bị nhắc nhở là nhạc Phạm Duy thì mới giật mình. Sau Đổi mới,
người ta lại tranh luận về việc cấp giấy phép cho nhạc Phạm Duy phổ biến ở Việt
Nam. Rồi trong chuyện tình cảm riêng tư, ông cũng bị dư luận để ý khá nhiều.
Nói chung, ông đi đến đâu thì gây xôn xao đến đó. Mặc dù trong công chúng, có
người thích hoặc không thích tính cách Phạm Duy nhưng hết thảy đều thừa nhận
ông là người có tài và có nhiều công lớn cho nền tân nhạc Việt Nam.
Gia đình Phạm Duy cũng có
nhiều đóng góp lớn cho nền nghệ thuật dân tộc. Cha của ông là nhà văn Phạm Duy
Tốn, một trong những người đặt nền móng cho văn xuôi Việt Nam hiện đại. Vợ của
ông là ca sĩ Thái Hằng. Các con ông cũng là những nghệ sĩ nổi tiếng như Duy
Quang, Duy Cường, Thái Hiền, Thái Thảo… Ngoài ra còn phải kể nhiều nghệ sĩ khác
trong đại gia đình Phạm Duy như nhà văn Phạm Duy Khiêm, nhạc sĩ Phạm Duy Nhượng,
ca sĩ Thái Khanh, nhạc sĩ Phạm Đình Chương… Nhờ có lực lượng hùng hậu như vậy
nên ông đã mở gánh hát Gia đình Phạm Duy (The Pham Duy family singers) để kiếm
cơm trong những ngày lưu lạc trên đất Mỹ.
So sánh ba cây đại thụ
Văn Cao, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, ta thấy có nhiều điểm thú vị như sau: Văn
Cao thuần miền Bắc, Trịnh Công Sơn thuần miền Nam còn Phạm Duy nửa Bắc nửa Nam.
Văn Cao tham gia kháng chiến đến cùng, Phạm Duy có tham gia kháng chiến nhưng
cũng như không, còn Trịnh Công Sơn không làm chính trị. Trịnh Công Sơn ít lận đận,
còn Phạm Duy lận đận nhất. Văn Cao xuất hiện trên văn đàn sớm nhất nhưng ít tác
phẩm, Trịnh Công Sơn xuất hiện muộn nhưng lại có nhiều tác phẩm để đời. Văn Cao
ra đi sớm nhất, Phạm Duy ra đi sau cùng, bây giờ, cả ba người đã đoàn tụ ở thế
giới bên kia. Họ ra đi, để lại ba khoảng trống trong khu rừng âm nhạc Việt Nam.
Dẫu biết rằng, sau này sẽ có những cây đại thụ khác che lấp khoảng trống ấy
nhưng liệu có cứng cáp bằng những cây đại thụ trưởng thành qua thời bão táp?.
9/3/2013
Phạm Ngọc Hiền
Theo
https://www.vanchuongviet.org/
Một vài ấn tượng của tôi về Hàn Mặc Tử
Một vài ấn tượng của tôi về Hàn Mặc Tử
Hàn Mặc Tử là một gương mặt
lớn trong thi ca Việt Nam. Tuy nhiên, có một thời, tên tuổi của ông cùng với
phong trào Thơ Mới bị quên lãng. Thời bao cấp, ở miền Bắc, rất ít ai biết đến
Hàn. Trước 1975, ở miền Nam, không ai lạ gì Hàn, nhưng sau đó, tên tuổi của Hàn
cũng biến mất trên sách báo một thời gian.
Thế hệ của chúng tôi là
cái bản lề trong vấn đề tiếp nhận văn học lãng mạn. Tôi học lớp 12 năm học 1989
– 1990. Học kì I, học sách giáo khoa cũ, nghe người ta chửi Thơ Mới không còn
manh giáp gì. Nào là bạc nhược, suy đồi, lai căng, là tiếng nói của giai cấp tiểu
tư sản bấp bênh dao động… Nhìn chung, Thơ Mới bị đạp xuống chín tầng địa ngục.
Ăn tết xong, chúng tôi vào học kì II và được học sách Phụ lục Văn 12, trong đó,
có bài Đây thôn Vĩ Dạ. Ấn tượng đầu tiên của tôi là bài này chẳng có gì xấu xa
cả. Nó không nói chuyện chửi bới, chém giết nhau mà chỉ nói một tình yêu trong
sáng, thầm kín. Và từ đấy trở đi, tôi thấy người ta nâng Thơ Mới lên tận chín tầng
mây. Có điều nghịch lí là, có những người đang say sưa chửi bới Thơ Mới không
tiếc lời thì bỗng nhiên đột ngột quay ra tâng bốc Thơ Mới hết lời. Thật không
thể hiểu nổi cơ chế tư duy của tầng lớp Người - Vẹt ở Việt Nam !
Tôi học đại học trong cái
thời người ta tán tụng Thơ Mới lên tuyệt đỉnh thi sơn. Mỗi sinh viên khoa Văn
chúng tôi đều có một cuốn sổ ghi đầy những bài Thơ Mới. Hồi đó, tôi thuộc lòng
Thơ Mới rất nhiều và rất hâm mộ Hàn Mặc Tử. Trường ĐHSP Qui Nhơn lại nằm gần mộ
Hàn nên buổi chiều, chúng tôi thường đi dạo lên đó. Phải nói, chúng tôi rất gần
gũi Hàn và nhiều người muốn tập tành sáng tác thơ theo trường phái của Hàn, muốn
được nổi tiếng như Hàn. Có năm, khoa Ngữ văn trường ĐHSP Qui Nhơn tổ chức cuộc
Hội thảo về các tác phẩm mới được đưa vào sách giáo khoa. Dự kiến cuộc Hội thảo
sẽ kéo dài một ngày và bàn tới nhiều tác phẩm. Nhưng trong buổi sáng, người ta
dành quá nhiều thời gian cãi nhau về câu “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Có một
đại biểu quan trọng bực mình bỏ về giữa Hội thảo. Chủ trì là thầy Nguyễn Văn
Giai phải dùng tài thuyết khách để dàn xếp nhưng Hội thảo vẫn tan rã. Buổi chiều
hôm ấy, không ai đến dự nữa.
Sau này, đi làm giáo
viên, tôi vẫn dạy đi dạy lại rất nhiều lần bài Đây thôn Vĩ Dạ. Bài
thơ tạo cho tôi một niềm hứng khởi kì lạ, hơn hẳn các tác phẩm khác. Tôi biết
mình có cái may mắn được giảng bài thơ này trước đông người. Trong khi đó, có rất
nhiều người yêu bài thơ, muốn giãi bày cảm nhận của mình về bài thơ nhưng không
biết nói với ai. Nhiều anh bạn tôi làm bên ngành thuế vụ thường ra quán nhậu để
bình thơ Hàn. Có một ông chủ quán tạp hóa rất mê bài Đây thôn Vĩ Dạ,
mỗi lần tôi vào quán mua đồ, ông ta giữ lại rất lâu để “buộc” tôi nghe những lời
bình thơ của ông. Rồi, với trình độ Tú tài toàn phần, ông tự dịch bài thơ sang
tiếng Anh. Lại có một bác sĩ cung cấp cho tôi thông tin: “mặt chữ điền” là chỉ
các bức bình phong ở Huế (anh ta học ĐH Y khoa Huế nên biết rõ điều này). Có vô
số người chưa từng học Đây thôn Vĩ Dạ lần nào nhưng vẫn thường say sưa cất tiếng
hát “Đường lên dốc đá, nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa…”. Ngoài ra, khán giả
cả nước còn biết đến Hàn qua phim ảnh, cải lương, tranh lửa, sách báo và những
công trình nghiên cứu phê bình viết về Hàn… Có rất nhiều thứ liên quan tới Hàn
Mặc Tử. Rõ ràng, Hàn có một sức sống tự thân trong lòng dân tộc.
Một nhà thơ cùng trường
Thơ loạn Bình Định là Chế Lan Viên đã từng hùng hồn phát biểu: "Tôi xin hứa
hẹn với các người rằng, mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến
tan đi, và còn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể đó là Hàn Mạc Tử".
Nghe câu này, có người gật đầu, có người bĩu môi. Nhưng ta thử làm một cuộc điều
tra nhỏ xem sao: khi nào có dịp đến chót mũi Cà Mau gặp một bác đạp xích lô
trên vỉa hè, ta nêu tên một vài nhà thơ nổi tiếng Việt Nam, có thể bác sẽ lắc đầu
không biết. Nhưng khi nhắc đến Hàn Mặc Tử, bác gật đầu ngay: “Tui biết ông nhà
thơ ấy bị bệnh hủi nhưng vẫn có nhiều cô yêu”. Thì đó cũng là một cách tồn tại
của Hàn Mặc Tử.
22/9/2012
Phạm Ngọc Hiền
Theo
https://www.vanchuongviet.org/
Những thành tựu văn chương Phú Yên thế kỷ XX
Những thành tựu văn
chương Phú Yên thế kỷ XX
Phú Yên là một tỉnh duyên
hải miền Nam Trung Bộ, địa hình phần lớn là núi đồi, điều kiện thông thương bị
hạn chế do đèo Cù Mông và đèo Cả chắn ở hai đầu. Dân số không đông, phần lớn sống
ở đồng bằng Tuy Hoà, nơi được xem là vựa lúa lớn nhất miền Trung. Trong khi nhiều
tỉnh phía Bắc đã có bề dày văn hoá hàng ngàn năm thì đại đa số các tỉnh
phía Nam có lịch sử phát triển muộn hơn. Tỉnh Phú Yên được thành lập
từ năm 1611, nhưng mãi cho đến đầu thế kỷ XX thì nền văn học viết mới thực sự
hình thành.
Trong nửa đầu thế kỷ, đội
ngũ sáng tác rất mỏng. Chỉ có Đặng Ngọc Cư là được nhiều người biết đến qua những
truyện ngắn đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy và một số báo khác trong Nam ngoài Bắc.
Đỗ Huy Nhiệm cũng là người Phú Yên nhưng phần lớn cuộc đời sống ở Hà Nội. Trong
“Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh viết về Đỗ Huy Nhiệm như sau: “Sinh
ngày 16 – 03 – 1915 tại Nam Định. Chính gốc người Phú Yên (…) Hiện làm ở Sở Trước
bạ Hà Nội – Viết báo thường ký Đỗ Phủ, Thiếu Lăng. Đã xuất bản Khúc ly tao
(1934), Thiên diễm tuyệt (1936)”. Trong “Việt Nam thi nhân
tiền chiến”, Nguyễn Tấn Long cũng dành trên 20 trang để nói về thi sĩ gốc Phú
Yên này. Thầy giáo Trần Sĩ là người đầu tiên có sách viết về Phú Yên, cuốn “Địa
dư tỉnh Phú Yên” từng được xem là sách giáo khoa. Sau này vào Sài Gòn, ông thường
làm thơ với bút danh Đà Giang. Tỉnh Phú Yên nằm trên đường quốc lộ nối liền Bắc Nam nên
cũng có vinh dự đón tiếp nhiều thi nhân tài tử khắp ba miền. Tản Đà từng có thời
gian dừng chân ở Sông Cầu khá lâu và để lại câu thơ nổi tiếng:”Đa tình con mắt
Phú Yên”… Nhà thơ Trần Hữu Thung (tác giả bài Thăm lúa) đã từng
có thời gian làm thư ký ở nhà máy đường Đồng Bò thuộc huyện lúa Tuy Hoà. Sau
tháng 8 - 1945, ông có tham gia cách mạng tại địa phương một thời gian.
Các địa danh Phú Yên, Tuy
Hòa, La Hai… chỉ được ghi trên bản đồ văn học Việt Nam từ sau Cách mạng
tháng Tám. Theo chân đoàn quân Nam tiến, nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng đã đến sống
và sáng tác tại nơi này như: Nam Cao, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Xuân Diệu, Nguyễn
Bính, Thâm Tâm, Tế Hanh, Trần Huyền Trân, Trần Dần, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Bá
Khoản, Sĩ Tiến, Hoàng Như Mai, Phan Canh (Mộng Bình Sơn), Nhật Tĩnh, Tịnh Hà
(em ruột Xuân Diệu)… Trong kháng chiến chống Pháp, Phú Yên đã hình thành các tờ
báo như: Chiến Thắng, Cứu Quốc, Phấn Đấu, Sức Mới, và các tập
san: Hồn Trẻ, Mùa Đông Binh Sĩ… Lực lượng sáng tác gồm người địa phương
và các văn nghệ sĩ Nam Tiến. Trong bộ tứ bình thơ kháng chiến chống Pháp, đã có
hai bài viết về Phú Yên và viết tại Phú Yên. Đó là Đèo Cả (1946)
của Hữu Loan và Nhớ máu (1946) của Trần Mai Ninh. Bài Nhớ
máu được nhắc đến khá nhiều trong các công trình nghiên cứu,
phê bình văn học. Đông đảo bạn yêu thơ trong cả nước đã thuộc lòng những câu:“Ơ
cái gió Tuy Hoà / Cái gió chuyên cần và phóng túng”… Trần Mai Ninh còn có
bài Tình sông núi nổi tiếng, sáng tác năm 1946, góp phần mở đường
cho nền thơ ca cách mạng. Nhà thơ Vĩnh Mai từng là phó chủ tịch uỷ ban cách mạng
huyện Tuy Hoà kiêm trưởng ty Thông tin tuyên truyền tỉnh Phú Yên buổi đầu kháng
chiến chống Pháp. Nhà thơ Nguyên Hồ sinh quán tại Hòa Thắng – Phú Yên đã vinh dự
mang về cho tỉnh nhà giải thưởng văn học đầu tiên, đó là giải thưởng Phạm Văn Đồng
với tập Ca dao kháng chiến (1953). Sau này, ông ra Bắc giữ các
chức vụ: Phó giám đốc Nhà xuất bản Phổ Thông, Phó tổng biên tập Tạp chí Văn hoá
nghệ thuật… Đội ngũ sáng tác của Phú Yên thời chống Pháp còn có: Đặng
Ngọc Cư, Bùi Xuân Các, Đặng Hướng, Nguyễn Tiết, Phi Lân, Hà Nghi, Đoàn Anh…
Phải sau năm 1954, đội
ngũ sáng tác văn học Phú Yên mới đông đảo, đa dạng. Trước hết là bộ phận văn học
cách mạng. Trong kháng chiến chống Mỹ, ở Phú Yên có các báo Đoàn kết,
Giải phóng…Với sự góp mặt của nhiều nhà báo – nhà văn như Trần Thiện Lục, Bằng
Tín, Vũ Trung Uyên, Lương Nguyên, Hoàng Tất Thắng… Nhà báo Đặng Minh
Phương gốc người Bình Kiến – Tuy Hoà từng làm tổng biên tập Báo Cờ Giải
Phóng Trung Trung Bộ, phóng viên Báo Nhân Dân… Bà Võ Thị Kim Đính, một
cây bút không chuyên nhưng được nhiều bạn đọc biết đến qua bức thư gởi chồng là
cán bộ tập kết ngoài Bắc được in trong tập “Từ tuyến đầu tổ quốc”, một
cuốn sách rất nổi tiếng thời chống Mỹ. Nhà thơ Văn Công là người gắn bó nhiều
nhất với mảnh đất Phú Yên thời chiến tranh, từng là quyền chủ tịch tỉnh Phú
Khánh. Ông đoạt giải Nhất thơ báo Thống Nhất năm 1959, giải thưởng Nguyễn Đình
Chiểu năm 1965 và đến năm 1969 thì có thơ (in chung) được xuất bản ở Paris. Nhà
văn Y Điêng quê ở huyện miền núi Sông Hinh, từng làm ở Đài Tiếng nói Việt Nam.
Ông viết khá nhiều thể loại: trường ca, truyện ngắn, tiểu thuyết, khảo cứu, ký
sự… Đáng chú ý nhất là Trường ca Tây Nguyên (1961), tiểu thuyết Hơ
Giang (1978), Chuyện bên bờ sông Hinh (1985 –
2001)... Ông được trao giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2006. Một
nhà thơ dân tộc thiểu số khác ở Sông Hinh cũng ra Bắc tập kết là Mô Lô Y Choi.
Bài thơ Cô gái vót chông của ông được Hoàng Hiệp phổ nhạc
thành một bài hát phổ biến khá rộng rãi. Nhà thơ liệt sĩ Nguyễn Mỹ sinh ra tại
Tuy An - Phú Yên rồi tập kết ra Bắc. Ông là tác giả của bài thơ nổi tiếng Cuộc
chia ly màu đỏ từng được đưa vào sách giáo khoa Văn 12. Ông được trao
giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2006. Trong những năm tháng hoạt
động tại Tuy Hoà, Trần Vũ Mai đã sáng tác trường ca Ở làng
Phước Hậu (viết vào cuối năm 1974 nhưng được in vào năm 1978). Đây là
một trong những trường ca đặc sắc của văn học Việt Nam. Nhà thơ Liên Nam,
gốc Hoà Trị – Tuy Hoa, có mặt ở chiến trường Phú Yên suốt hai cuộc kháng chiến,
từng công tác ở tạp chí Văn nghệ quân đội và làm chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật
Phú Yên. Ông đoạt các giải thưởng: Nguyễn Đình Chiểu, Văn nghệ Giải phóng, Tạp
chí Văn nghệ Quân đội… Nhà văn quân đội Tô Phương sinh ra ở Đồng Xuân - Phú Yên
nhưng bước chân của ông đã từng xông xáo khắp các chiến trường Đông Dương. Ông
từng là phóng viên báo Quân đội nhân dân và tổng biên tập báo Phú Khánh – Phú
Yên. Ông đã xuất bản nhiều truyện ký nhưng nổi tiếng hơn cả là Mùa hoa
ô môi (1979) kể về các nữ du kích anh hùng dưới địa đạo Củ Chi. Nhà
văn Thanh Quế gốc Tuy An – Phú Yên cũng có mặt ở chiến trường Trung Trung Bộ thời
chống Mỹ. Tính đến nay, ông đã ra mắt khoảng 30 tác phẩm gồm cả thơ, trường ca,
truyện, hồi ký…Từng đoạt nhiều giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam, Liên hiệp
các Hội VHNT Việt Nam… Hiện là Tổng biên tập tạp chí Non Nước…
Bộ phận văn học Phú Yên
vùng tạm chiếm cũng phát triển sôi động với sự ra đời của nhiều tờ báo như: Xây
Dựng (chủ bút Lam Giang), Núi Nhạn (của Phan Long Yên), Hiện Diện (của Trần Huiền
Ân, Phan Việt Thuỷ cùng các thi hữu Tuy Hoà), Tâm Đàm (của Nguyễn Bá Quát – trường
Nguyễn Huệ), Sóng (của Hoàng Đình Huy Quan), Đất Việt (của Phan Phúc Gia, Lý
Thơ Phúc), và các tập san: Vì Trẻ, Sông Ba, Thể Hiện… Phú Yên đã vinh dự sinh
ra nhà văn Võ Hồng, một cây bút xuất sắc của văn học miền Nam trước
năm 1975. Ông quê ở An Thạch - Tuy An, từng học ở Quy Nhơn, Hà Nội, làm Bí thư ở
toà Tổng Đốc Đà Lạt rồi về quê làm trưởng ty Bình dân học vụ thời chống Pháp.
Phần lớn cuộc đời ông gắn với nghề dạy học ở Nha Trang. Truyện của ông mang đậm
bản sắc Phú Yên. Tính đến nay, ông đã có 30 tập sách in riêng, tiêu biểu
như: Hoài cố nhân (1959), Hoa bươm bướm (1966),Vết
hằn năm tháng (1965), Như cánh chim bay (1971), Nhánh
rong phiêu bạt (1970), Thiên đường ở trên cao (được
chuyển thể thành phim phát trên Đài Truyền hình Việt Nam năm 1998)… Một cây bút
quen thuộc khác là Trần Huiền An, từng có thơ được đưa vào sách giáo khoa trước
1975. Ông viết khá đều tay ở nhiều thể loại khác nhau và nhận nhiều giải thưởng
của các báo: Văn nghệ Giải phóng (1976), Văn nghệ TP.HCM (1993)… Từ cuối thập
niên 1960, nhiều văn nghệ sĩ Phú Yên như Nguyễn Tường Văn, Nguyễn Kim Ngân,
Phan Long Côn… đã hoạt động tích cực trong phong trào sinh viên yêu nước. Bài
thơ Người mẹ Bàn Cờ của Nguyễn Kim Ngân được Trần Long An phổ
nhạc đã thành vũ khí tinh thần quan trọng của sinh viên các đô thị miền Nam.
Ngoài ra, Phú Yên còn có nhiều cây bút khác thường xuyên xuất hiện trên các báo
miền Nam và đã có tác phẩm xuất bản trước 1975 như Hoàng Đình Huy Quan, Nguyễn
Lệ Uyên, Khánh Linh (Lê Khánh Nam), Y Uyên, Phạm Cao Hoàng, Đỗ Chu Thăng, Từ
Xuân Lãnh, Phạm Ngọc Lư, Mang Viên Long… Nhưng phần lớn sáng tác của họ thuộc về
giai đoạn sau 1975.
Sau giải phóng, Phú Yên
có một thời gian nhập chung với Khánh Hoà thành tỉnh Phú Khánh. Nhiều cây bút
chuyển vào công tác ở tỉnh lỵ Nha Trang, thị xã Tuy Hoà không còn là trung tâm
văn hoá cấp tỉnh. Tuy nhiên, nhiều văn nghệ sĩ ở đây đã tự giác tổ chức nhiều
hoạt động để duy trì truyền thống văn học của địa phương. Năm 1989, tỉnh Phú
Yên được tách ra, sự kiện này đã tạo điều kiện tốt cho sự phát triển phong trào
thơ văn của tỉnh. Đôi ngũ sáng tác rất đông đảo gồm nhiêù thế hệ cầm bút khác
nhau. Huỳnh Quang Nam vẫn tiếp tục sáng tác sung sức với hàng chục tác phẩm in
riêng và có mặt trong các tuyển tập:”Thơ miền Trung thế kỷ XX”, “Thơ Việt Nam
1975 – 2000”, “Từ điển tác gia văn học Việt Nam thế kỷ XX”… Đoàn Việt Hùng cũng
xuất hiện thường xuyên trên các báo và đoạt giải Ba cuộc thi truyện ký của Tuần
báo Văn nghệ năm 1991, giải Nhất cuộc thi viết về nhà giáo do Bộ Giáo dục và Hội
nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2006, giải C của Liên hiệp các Hội văn học nghệ
thuật toàn quốc năm 2007. Huỳnh Thạch Thảo là cây bút truyện ngắn khá quen thuộc
trên báo chí cả nước, anh đã có hàng chục tập truyện in riêng và rất nhiều tuyển
tập in chung, hai lần đoạt giải thưởng của báo Tiền Phong (1997, 2001). Huỳnh
Văn Quốc sáng tác đều tay ở cả hai thể loại thơ và văn xuôi, đoạt giải thưởng
Tác phẩm tuổi xanh báo Tiền Phong năm 1995, giải thưởng của NXB Kim Đồng năm
2000…
Gần đây, ở Phú Yên còn xuất
hiện thêm nhiều cây bút mới với văn phong đa dạng, sáng tác sung sức, tiêu biểu
Ngô Phan Lưu. Năm 2007, ông đã mang về cho tỉnh nhà giải Nhất cuộc thi truyện
ngắn do Hội nhà văn Việt Nam tổ chức. Sau sự kiện đó, báo chí trong
nước nhắc đến khá nhiều về hiện tượng lão nông cầm bútt ở Phú Yên…
Ngoài ra, còn có nhiều văn nghệ sĩ khác cũng thường xuất hiện trên các báo TW
và địa phương và có sách in riêng như Trần Quốc Cưỡng, Y Nguyên,
Nguyễn Văn Tâm, Đinh Lăng, Trần Văn Lan, Nguyễn Duy Tẩm, Hải Sơn, Huỳnh Duy Hiếu,
Đào Khải, Vũ Phương, Phan Kim Việt, Nguyên Đạt, Lê Anh, Đào Tấn Trực...
Ở lĩnh vực văn học dịch,
nhà văn Đào Minh Hiệp được bạn đọc cả nước biết đến với việc dịch bộ phim nổi
tiếng Nước mắt người giàu phát trên đài truyền hình Việt Nam năm
1992. Ông là người đa tài, đã dịch tới 20 cuốn tiểu thuyết và phim truyện nước
ngoài, viết truyện ngắn, kịch bản phim, hoạ sĩ, kỹ sư, giáo viên, chủ tịch Hội
VHNT Phú Yên… Ông đoạt giải B của Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật toàn quốc
năm 2007. Nhà thơ Triệu Lam Châu cũng có hàng chục cuốn sách dịch và đoạt giải
Nhất trong các cuộc thi được tổ chức bởi: Hội nhà văn Việt Nam – Báo Văn nghệ –
NXB Văn học (1994), TW Hội hữu nghị Việt Nam – Liên bang Nga phối hợp với Trung
tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây (2000), giải C của Liên hiệp các Hội văn học nghệ
thuật toàn quốc năm 2007… Mảng phê bình văn học của Phú Yên còn trẻ trung với sự
xuất hiện gần đây của các cây bút Nguyễn Thị Thu Trang, Phạm Ngọc Hiền… Cả hai
đều được nhận giải thưởng của Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật toàn quốc. Ở
lĩnh vực văn học kịch, có các nhà soạn kịch kiêm đạo diễn như Phạm Ngọc Sơn,
Nguyễn Phụng Kỳ… Họ đã có công lãnh đạo đoàn tuồng Phú Khánh đoạt nhiều giải
thưởng trong các liên hoan nghệ thuật quần chúng. Trong lĩnh vực khảo cứu văn học,
giới nghiên cứu văn hoá dân gian cả nước không ai là không biết đến tên tuổi của
Y Điêng và Ka Sô Liễng. Gần nửa thế kỷ nay, Ka Sô Liễng được xem là một trong
những người có công đầu trong công tác sưu tầm, dịch thuật văn học các dân tộc
thiểu số Tây Nguyên, đặc biệt là sử thi. Ngoài ra, Phú Yên còn có nhiều nhà
nghiên cứu khác cũng đoạt nhiều giải thưởng của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam…
như Trần Huiền Ân, Nguyễn Đình Chúc, Xuân Tính, Dương Thái Nhơn, Ngô Sao Kim,
Đoàn Việt Hùng… Phú Yên cũng có khá nhiều nhà báo tham gia sáng tác văn học
như: Đào Đức Tuấn, Phương Trà, Huỳnh Hiếu, Nguyễn Quốc Khương, Đắc Hoa, Phan
Xuân Luật, Đặng Văn Thơm, Phan Thanh Bình… Ngoài ra còn phải kể đến các văn nghệ
sĩ gốc Phú Yên hiện đang thành danh ở nơi khác như hai cha con Trúc Chi – Khánh
Chi, Kpă Y Lăng, Nguyễn Đức Linh, Sang Thu Thuỷ, Thiên Thanh, Đạm Lan, Trần
Hoàng Nhân, Nguyễn Vũ Bằng… Đặc biệt là Phan Hoàng, tác giả của Phỏng vấn
Tướng lĩnh Việt Nam, và Lê Thiếu Nhơn, một trong những gương mặt thơ trẻ
tiêu biểu ở Sài Gòn hiện nay… Nói đến văn học Phú Yên, thiết tưởng cũng nên nhắc
đến những nhà văn từ các nơi khác từng đến nơi đây và để lại nhiều tác phẩm hay
về Phú Yên như: Chế Lan Viên, Trần Bạch Đằng, Giang Nam, Nguyễn Gia Nùng, Đỗ
Kim Cuông, Xuân Hoàng, Bế Kiến Quốc, Thanh Thảo, Tạ Hữu Yên, Khuất Quang Thuỵ,
Trần Nhật Thu, Song Hảo, Trần Mạnh Hảo, Trần Vạn Giã, Cao Duy Thảo, Từ Thế Mộng,
Văn Công Hùng, Nguyễn Khôi, Hoàng Hương Trang, Lê Văn Ngăn, Ý Nhi, Nguyễn Văn
Chương…
Phong trào văn nghệ quần
chúng ở Phú Yên cũng phát triển rất mạnh. Đêm thơ Nguyên Tiêu truyền thống trên
núi Nhạn được xem là đặc sản của tỉnh nhà và là một ngày hội thơ lớn của khu vực
miền Trung - Tây Nguyên. Hội thơ này được tổ chức đều đặn từ năm 1981 và có thể
được xem là nơi khởi nguồn cho Ngày thơ Việt Nam. Từ sau tết Nguyên Đán đến
rằm tháng giêng, Phú Yên tưng bừng trong hội thơ của các huyện, cơ quan, trường
học… Câu lạc bộ thơ Diên Hồng và các hội thơ ở đồng bằng Tuy Hoà, huyện Sông Cầu,
Sơn Hoà… duy trì sinh hoạt thường xuyên. Hoạt động thơ văn trong các trường học
cũng đi vào chiều sâu như ở trường Cao đẳng Sư phạm, Lương Văn Chánh, Nguyễn Huệ,
Trần Quốc Tuấn… Nhiều tài năng văn học liên tục xuất hiện ở đây và đang sống
sáng tác ở nhiều vùng khác nhau trong cả nước.
So với nhiều tỉnh khác ở
miền Trung như Huế, Bình Định thì Phú Yên chưa có bề dày văn học bằng. Nhưng
vài chục năm trở lại đây, đội ngũ sáng tác rất đông đảo, không thua kém các tỉnh
bạn. Rất nhiều nhà văn đoạt các giải thưởng Trung ương và xuất hiện đều đặn
trên báo chí, có những bài viết gây tranh luận trên các báo. Nhiều người đã có
thể sống bằng ngòi bút. Chúng ta có quyền hy vọng trong tương lai
không xa, văn nghệ sĩ Phú Yên sẽ còn đóng góp cho văn học Việt Nam nhiều tác phẩm
có giá trị cao hơn nữa.
Tài liệu tham khảo:
- Tuyển tập tác phẩm văn
học Phú Yên thế kỷ 20 – Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Phú Yên xuất bản năm
2004
- Văn học Phú Yên thế kỷ
XX – Nguyễn Thị Thu Trang – NXB Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh - 2004
24/7/2008
Phạm Ngọc Hiền
Theo
https://www.vanchuongviet.org/
Những cách hiểu khác nhau về hai truyện ngắn “Chí Phèo” và “Đôi mắt” của Nam Cao
Những cách hiểu khác nhau về hai truyện
ngắn “Chí Phèo” và “Đôi mắt” của Nam Cao
Những tác phẩm nghệ thuật
đặc sắc thường tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau. Một phần do tâm lý bạn đọc hoặc
do hoàn cảnh lịch sử xã hội chi phối. Nhưng nguyên nhân chủ yếu là tác giả đã
vô tình hay hữu ý tạo ra những “điểm trắng” trong tác phẩm để bạn đọc tham gia
sáng tạo. Wolfgang Iser gọi văn bản nghệ thuật là một “kết cấu vẫy gọi“. Nó
luôn nằm trong trạng thái ”mở“ để mời chào các nhà thám hiểm ngôn ngữ đến khám
phá nhằm phát hiện những điều kỳ diệu, bất ngờ ẩn dấu trong “ rừng chữ”. Hai
truyện ngắn “Chí Phèo” và “Đôi mắt” của Nam Cao thật sự là những toà kiến
trúc ngôn ngữ phức tạp, đa tầng, có nhiều cách hiểu khác nhau.
Trước hết, ta hãy nói đến
kiệt tác “ Chí Phèo”. Lâu nay, mọi người đều thừa nhận rằng, Chí Phèo và Bá Kiến
là hai kẻ thù thuộc hai giai cấp đối kháng nhau: thống trị và bị trị . Ngoài mối
quan hệ chủ – tớ ra thì không có mối quan hệ nào khác . Tuy nhiên, gần đây, có
người cho rằng : Chí Phèo là con ruột của Bá Kiến. Phát hiện này đã
gây ra sự ngỡ ngàng cho rất nhiều người. Họ tưởng nhà phê bình đó đã lần về tận
làng Vũ Đại để điều tra lai lịch Chí Phèo. Nhưng thực ra, chỉ cần tìm hiểu bản
thân câu chữ trong tác phẩm là ta có thể chứng minh được điều đó. Có ít nhất ba
lý do để kết luận rằng: Chí Phèo là con rơi của Bá Kiến.
Một là: Bá Kiến là người
háo sắc. Chỉ riêng về vợ đã có “ bà cả, bà hai, bà ba, bà tư “. Ngoài ra còn phải
kể đến những mối quan hệ lăng nhăng với các phụ nữ khác, như vợ của
Binh Chức chẳng hạn. Và biết đâu trong số những người đàn bà đã từng ăn nằm với
Bá Kiến có người đã mang bầu với hắn. Để tránh dư luận xóm làng, người đó đã
mang đứa trẻ sơ sinh ra bỏ lò gạch. Và như thế, một Chí Phèo ra đời.
Hai là: Trong lúc Chí
Phèo rạch mặt đòi ăn vạ vì bị Lý Cường đánh thì Bá Kiến về tới nhà và hiểu ra
cơ sự. Bá Kiến dìu Chí Phèo vào nhà và nói với giọng thân mật:” Ai chứ anh với
nó còn có họ kia đấy”. Lâu nay, mọi người hiểu rằng, đó là thủ đoạn “ mềm nắn rắn
buông” của Bá Kiến. Tức là bịa ra chỗ “ bà con ruột rà “ để xoa dịu sự phản
kháng của Chí Phèo. Nhưng biết đâu mối quan hệ máu mủ đó là sự thật: Chí Phèo
và Lý Cường là hai anh em cùng cha khác mẹ (!) .
Thứ ba: Chí Phèo ngày xưa
được coi như là người nhà của Bá Kiến và Chí được “ quyền thu quyền bổ trong
nhà tin cẩn “. Sở dĩ Chí được ưu ái như vậy là vì Bá Kiến cũng có chút tình cảm
thầm kín với đứa con rơi vô thừa nhận. Sau khi ở tù về, Chí Phèo được Bá Kiến
cho vườn và nhà. Mọi người nghĩ rằng : Bá Kiến cho tiền Chí là để biến anh ta
thành tay chân đâm thuê chém mướn cho hắn. Nhưng thật ra, trong cái làng Vũ Đại
nhỏ bé này, một năm chỉ được vài vụ là phải dùng đến con dao của Chí Phèo. Món
lời không được bao nhiêu mà phải cấp tiền nơi Chí Phèo ăn nhậu hơn mười năm trời
quả không phải là diệu kế của Bá Kiến. Trong ngần ấy năm chí Phèo không lao động
mà vẫn nhận được sự tiện trợ về tài chính từ Bá Kiến. Bất đắc dĩ Bá Kiến phải
nuôi một thằng con rơi hư hỏng. Nhiều lúc cũng tận dụng tính liều
lĩnh của con nhưng cũng không muốn con quá hư hỏng lười biếng để tạo gánh nặng
cho mình. Trong đoạn cuối tác phẩm, Bá Kiến nói: “ Rồi mà làm ăn chứ cứ báo người
ta mãi à?”, “ tôi chỉ cần anh lương thiện cho thiên hạ nhờ”. Đó là những mong
muốn sự thật của Bá Kiến. Nhưng Chí Phèo đã xông tới quá nhanh đến mức Bá Kiến
không kịp nói lên sự thật máu mủ. Và cũng là nhờ chưa biết điều đó nên hành động
của Chí Phèo không được coi là trái với đạo lý.
Ngoài ra, truyện “chí
Phèo” còn có nhiều chi tiết “lấp lửng” nữa. Chẳng hạn, Chí Phèo đi tù vì lý do
gì? Nếu do tội ăn cắp thì có thể xảy ra hai trường hợp: Đó là chuyện xếp đặt của
pháp luật, Bá Kiến không có lỗi. Nhưng cũng có thể Bá Kiến nhân việc này đẩy
Chí Phèo đi biệt tích để xoá dấu vết của mối quan hệ bất chính giữa hắn và mẹ
Chí Phèo. Tác phẩm còn gợi ý lý do khác: Do Bá Kiến ghen tuông mù quáng . Có thật
sự là Chí Phèo đã có quan hệ xác thịt với bà Ba không? Còn bà cô Thị Nở không
cho Thị lấy Chí Phèo vì lý do gì ? Biết đâu bà biết rằng giữa Chí Phèo và Thị Nở
lại có “ bà con” với nhau (như giữa Chí và Lý Cường) ? Ta biết rằng bà cô Thị Nở
không có chồng. Mà Bá Kiến là người ưa mèo mỡ, ngay cả đàn bà đã có chồng mà hắn
còn quan hệ được thì huống hồ chi là phụ nữ không chồng. Chí Phèo không hiểu gì
về mối quan hệ đó nên tránh được cái tội tày trời” đâm mẹ giết cha “ mà người đời
gián cho. Nhưng giả sử cứ cho rằng cái giả thuyết bà cô Thị Nở là mẹ
ruột Chí Phèo là không đúng thì vẫn còn có nhiều cách khác lý giải hành động cuả
bà cô. Bà cấm cháu bà lấy Chí là vì Chí là tên lưu manh? Vì sợ dư luận xã hội?
Vì Thị Nở đã lớn tuổi thì nên” nhịn hẳn”? Hay “Có lẽ bà tủi cho thân bà (…)
không có chồng (….) rồi đổ cái uất ức ngay lên cháu bà“. Có thể bà đã từng rất
nhiều lần mơ tưởng đến việc sống chung với một người đàn ông lớn tuổi chưa vợ
nào đó trong làng nhưng không được thỏa nguyện nên bà tức và hành hạ cháu gái của
bà ( bởi vây, các nàng dâu thường hay sợ mấy bà cô lớn tuổi chưa chồng) . Và rồi
trái với ý muốn của bà, một Chí Phèo con cũng sẽ chào đời. Liệu con người này
có ích cho xã hội hay không? Nếu Chí Phèo cha cầm dao đâm vào phong kiến
thì biết đâu Chí Phèo con sẽ đâm vào thực dân đế quốc và trở thành
anh hùng dũng sĩ? Mỗi ban đọc có thể suy luận theo một cách khác nhau, không nhất
thiết phải tuân theo ý đồ của tác giả. Bởi vì: “ Một tác phẩm khi đã xuất bản,
tác giả không còn quyền gì đối với độc giả để có thể giải thích những điều mình
viết “ ( P. Valéry).
Tiếp theo, ta hãy chuyển
sang truyện ngắn “ Đôi mắt”. Quan điểm phổ biến hiện nay là: nhân vật Độ hiện
thân cho tác giả. Còn Hoàng có quan điểm trái ngược với Độ
nên Nam cao phê phán Hoàng. Có nhà nghiên cứu nói rằng khi nghe vợ chồng
Hoàng nói xấu nông dân,“Nam Cao đến lộn ruột lên được. Nhưng giọng kể cứ thản
nhiên như không“. Điều đó đúng nhưng cũng không thể bắt bạn đọc chỉ
dừng lại ở cách hiểu ấy. Biết đâu Nam Cao có sự đồng tình với Hoàng
Trước hết, cần thấy rằng
: Nam Cao - Độ – Hoàng cùng đứng chung một trận tuyến. Hoàng bất hợp tác với
Pháp nên sẵn sàng rời bỏ Hà Nội phồn hoa để tản cư ra vùng kháng chiến. Hoàng
ca ngợi lãnh tụ hết lòng và nâng Hồ Chí Minh lên hàng vĩ nhân của thế giới. Tuy
nhiên, trong nội bộ cách mạng, khó tránh khỏi kẻ theo quan điểm này, người theo
quan điểm kia. Cái nhược điểm lớn nhất của Hoàng là có cái nhìn phiến diện, coi
khinh người nông dân nhưng chính Nam Cao cùng đã từng mắc nhược điểm đó.
Trong một số tác phẩm viết
trước năm 1945 ông thường gọi nông dân một cách khinh miệt là: hắn, y, thị,
gã…. Ngoài bút hơi thiếu thiện cảm và có phần quá trớn khi miêu tả chân dung xấu
xí của Thị Nở. Có lúc sa vào khuynh hướng tự nhiên chủ nghĩa như việc
miêu tả cảnh làm tình “ bình dân “ của Chí Phèo và Thị Nơ. Trong giáo trình “
Văn học Việt Nam 1930 – 1945” tập I, bài “ Nam Cao” (NXB
Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, H.1988), có những câu nhận định như sau: “
Cũng có lúc nhà văn sa đà, lệch hướng ( Nửa đêm) “, “ cái nhìn của Nam Cao là
bi quan, tuyệt vọng. Sau cách mạng tháng Tám, do có dịp gần gũi hơn với nông
dân, và hơn nữa, được tiếp nhận một thế giới quan mới, Nam Cao đã thấy được nhược
điểm cuả mình trong những tác phẩm viết về nông dân trước cách mạng “. Điều này
được minh chứng bởi lời của nhân vật Độ” Người nhà quê dẫu sao cũng còn là một
cái bí mật đối với chúng ta (…) tôi đã gần như thất vọng vì thấy họ phần đông
dốt nát, nheo nhếch, nhát sợ, nhịn nhục một cách đáng thương. Nghe
các ông nói đến “ sức mạnh quần chúng”, tôi rất nghi ngờ (…) nông dân nước mình
thì vạn kiếp nữa cũng chưa làm cách mạng”. Như vậy Nam Cao- Độ – Hoàng từng có
chung một thái độ coi thường người nông dân. Cho nên, Nam Cao không thể phê
phán Hoàng một cách thẳng thường được. Có người còn cho rằng, Nam Cao đã làm một
phép phân thân, chia mình ra làm hai. Một nửa là Độ, nửa kia là Hoàng. Tính
cách của Hoàng không chỉ hiện thân cho quá khứ của Nam Cao mà nó vẫn đủ lý do để
tồn tại trong buổi đầu kháng chiến chống Pháp. Thậm chí đến cả ngày nay, những
người như Hoàng không phải là ít.
Ta thấy giọng điệu của
Nam Cao không có ý phê phán cách nhìn đời của Hoàng. Nhân vật xưng ”
tôi” gọi Hoàng là “anh” với ý kính nể. Nam Cao nhập thân vào Hoàng
và miêu tả khá kỹ nên nhân vật này sống động hơn Độ. Người đọc ít nhớ lời của Độ
mà nhớ như in lời của Hoàng. Bởi lẽ Hoàng có cách ăn nói tài giỏi của một tay
buôn bán chợ đen đại tài, cộng với cái năng khiếu sử dụng ngôn từ nghệ thuật
điêu luyện của một nhà văn đàn anh. Trong cuộc tranh luận, hai vợ chồng Hoàng
đã thắng Độ. Lời lẽ của Độ có vẻ từ tốn, nhún nhường không chỉ để giữ cung cách
của một nhà văn đàn em mà điều quan trọng hơn là Độ không đủ lý lẽ để phủ nhận
lời Hoàng. Những luận cứ mà Hoàng đưa ra đều hoàn toàn có thật, đúng như anh đã
thề “ Tôi có bịa một tí nào, tôi chết”. Hoàng đã nói đúng những nhược điểm của
nông dân và cách mạng buổi đầu kháng chiến. Như tập tục lạc hậu, thói quen tò
mò tọc mạch, dốt chữ mà cứ mở miệng ra là “nói chuyện chính trị rối rít cả
lên“, khoe khoang không đúng lúc, đùa nghịch với súng đạn….Nam Cao đã mượn lời
của Hoàng để góp ý xây dựng. Chẳng hạn, đề bạt cán bộ thì phải chú ý đến năng lực
(chứ đừng bắt anh bán cháo lòng làm chủ tịch khu phố). Cần xoá bỏ tệ quan
liêu, cửa quyền (đừng như các anh tự vệ ham hỏi giấy ra vào cổng làng). Còn để
biểu dương những mặt tốt của nông dân và cách mạng, tác giả dùng lời của Độ.
Như vậy, giá trị nhận thức của tác phẩm thể hiện ở chỗ: Nam Cao không bôi đen
hoặc hoàn toàn tô hồng quần chúng cách mạng mà tái hiện lại một bức tranh chân
thực với những mặt ưu và khuyết điểm vốn có của nó. Có thể nói, Nam Cao là nhà
văn đầu tiên đã dùng văn học mở đầu cho việc phê bình và tự phê bình để góp phần
đưa phong trào cách mạng ngày càng hoàn thiện và lớn mạnh hơn.
Nói tóm lại, việc tạo ra
độ “nhòe“ về nghĩa là rất cần thiết trong sáng tác văn học. Để cho độc giả mỗi
lần đọc lại tác phẩm là thêm một lần phát hiện ra ý nghĩa mới. Như lời của nhân
vật Hoàng “Tam Quốc với Đông Chu thì đọc đi đọc lại mãi vần thấy thú
vị như mới đọc”. Cũng có thể nói như vậy với truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương,
hay truyện ngắn của Lỗ Tấn, Hêmingway…. Nói không quá đáng rằng: tính mơ hồ, đa
nghĩa hay bút pháp “ Ý tại ngôn ngoại “ là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định
sức cuốn hút mạnh mẽ của một tác phẩm văn chương 23/7/2008
Phạm Ngọc Hiền
Theo
https://www.vanchuongviet.org/
Sự ám ảnh về cái chết trong cuộc đời và tác phẩm của Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ
Sự ám ảnh về cái chết trong cuộc đời và
tác phẩm của Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ
Có một câu danh ngôn rất
hay: “Sự chết là con lạc đà đen quỳ đợi ngay trước cổng nhà của tất cả mọi
người” (Abe- el -Kader). Không ai tránh khỏi cái chết, bởi vậy không ai là
không nghĩ đến nó. Nhưng vấn đề là quan tâm nhiều hay ít và bộc lộ sự ám ảnh đó
dưới hình thức nào. Đối với nhiều văn nghệ sĩ, tác phẩm nghệ thuật là nơi thăng
hoa và giải thoát thích hợp nhất cho những dự cảm và triết lý của họ về cái chết.
Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ cũng vậy, cái chết của hai người dường như đã được
báo trước trong những tác phẩm của họ.
Trước tiên, ta hãy nói đến
Xuân Quỳnh (1942 – 1988). Phải nói, đại đa số thơ của chị (viết cho người lớn)
mang nặng nỗi ám ảnh về cái chết, sự chia lìa, tàn tạ. Thống kê 6 tập thơ mà chị
công bố lúc còn sống, ta thấy số lượng và tỷ lệ bài đề cập đến nội dung này như
sau: Chồi biếc (in năm 1963): 9 (50%); Hoa dọc chiến hào (1968): 21 (75%);
Gió Lào cát trắng (1974) : 31 (86%); Lời ru trên mặt đất (1978): 24 (75%); Sân
ga chiều em đi (1983): 44 (71%); Tự hát (1984): 31 (89%). Tổng cộng các tập,
ta có tỷ lệ 76%. Đó là hiện tượng hy hữu trong thơ ca cách mạng Việt Nam.
Và đó cũng là bản lĩnh của Xuân Quỳnh vì trong bối cảnh thời đó, người ta không
khuyến khích viết về nỗi buồn và cái chết, sợ nó ảnh hưởng không tốt đến lòng
tin và sức chiến đấu của mọi người. Nhưng biết làm sao được, vốn là người đa cảm,
Xuân Quỳnh không thể thờ ơ được trước cái chết của đồng bào mình sau “Mười hai
ngày” gánh chịu những trận mưa bom B.52 của giặc: “Mười hai ngày cùng tận của
lòng đau/Cô Ngọc Tường chết ở Bạch Mai/Chiếc áo cưới thay cho vải liệm/ Gió
đông bắc thổi qua nền gạch vụn/ Trên máu người bị giết ở Khâm Thiên”. Những
câu thơ đó gợi lên lòng căm thù giặc hơn là bi lụy. Dành hết trí lực để quan
tâm nhiều đến cái chết của đồng bào, cho nên có lúc, chị sẵn sàng xoá tên người
yêu ra khỏi bộ nhớ của mình: “Dẫu trong em một tình yêu đã mất/ Em không còn
đủ sức nghĩ về anh”. Riêng “Vết đạn trên tường” thì cứ ám ảnh
chị, bởi nó hiện thân cho sự chết chóc: “Nhiều việc quá,
khó ai mà nhớ hết. Riêng vết đạn trên tường không dễ nào quên”. Không riêng
gì Xuân Quỳnh mà bất cứ ai thời đó cũng bị ám ảnh bởi cái chết, bởi “Các bãi
sông đầy bom nổ chậm”, “Mọi con đường mang nỗi đau đạn lửa…” .Sự hiểm nguy và
chết chóc đã trở nên quá quen thuộc với mọi người: “Đã quen nhiều gian khổ/
đã quen nhiều hy sinh”. Trong “ngàn cái chết” mà
Xuân Quỳnh gặp, có nhiều đồng đội vừa mới kề vai sát cánh với chị “Các anh nằm
bên những ngã ba./ Nơi bom dội không còn ngọn cỏ”, “Dòng nước lợ mang máu anh
về bể”, “Máu của cô nhuộm đỏ bờ lau” … Xuân Quỳnh không hề dùng biện
pháp nhã ngữ để làm giảm bớt tính khốc liệt của cuộc chiến. Chị cứ nói thật những
nỗi đau mà chính chị cũng đã từng trải “Máu đồng đội và máu tôi đã đổ/ Trên
cát này mà gió quạt vừa se” (Gió Lào cát trắng); “Máu của em, máu của
anh/ Thấm bên góc phố, chân thành ngày xưa” (Lai lịch một tình yêu).
Thơ Xuân Quỳnh đề cập quá nhiều đến cái chết, mặc dù chị vẫn biết rằng “Người
chết sẽ chẳng bằng lòng nếu chúng tôi quá đau thương”.Bởi vậy, chị cũng biết
“Hát với con tàu” nhưng tiếng hát ấy vẫn không át được tiếng gầm
thét của con tàu lao ra trận tuyến. Và vẫn không xua tan được nổi ám ảnh về cái
chết vì chính chị cũng đang xông xáo lao vào những nơi ác liệt nhất: “Tôi sẵn
sàng đem hiến cả đời tôi/ Cho cát trắng và gió Lào quạt lửa”, “Sống đất này, chết
cũng đất này thôi”… Mặc dù sống trong bom đạn suốt 30 năm, nhưng may
thay chị đã không chết vì bom đạn.
Chiến tranh không phải là
nguyên nhân duy nhất làm cho Xuân Quỳnh luôn bị ám ảnh về cái chết. Từ ngàn
xưa, con người đã lo nghĩ về nó, như một nhà nghiên cứu văn học đã nhận định:
“Nỗi day dứt vào bậc nhất trong suy cảm trữ tình của con người bao đời nay là
day dứt về chuyện CÒN – MẤT của những gì với mình là quý giá thiêng
liêng. Người càng giàu tiên cảm, giàu dự cảm lo âu về mất mác rủi ro, thì day dứt
càng ám ảnh hơn” (I, tr 26). Thơ Xuân Quỳnh tràn ngập những suy tư,
trăn trở về việc sống – chết. Vì sao mà hình thành một cái tôi Xuân Quỳnh mang
nhiều ám ảnh về cái chết như vậy?. Hãy đi ngược dòng thời gian để tìm
về thời thơ ấu của chị. Mẹ Xuân Quỳnh mất khi chị còn quá nhỏ, cha liền lấy vợ
khác rồi vào Nam sinh sống. Suốt đời Xuân Quỳnh thiếu thốn tình cảm của
cha mẹ. Theo lời Đông Mai (Chị ruột Xuân Quỳnh) “Nỗi đau mất mẹ đã
ám ảnh suốt một đời Quỳnh” (II, tr 278). Chị đã sớm hình thành nỗi
đau của một đứa trẻ bơ vơ côi cút giữa dòng đời “Tuổi thơ tôi lạc lõng giữa
đời/ Như một cánh chim bơ vơ mất tổ” (Tiếng mẹ). Mới “Mười bảy tuổi”, đã
sớm lo âu trăn trở về lẽ sinh – diệt của vạn vật. Trong bài “Chồi biếc”, cô
thiếu nữ Xuân Quỳnh đã dự cảm về cái chết: “Này anh, em biết/ Rồi
sẽ có ngày/ Dưới hàng cây đây/ Ta không còn bước/ Như người lính gác/ Đã hết
phiên mình/ Như lá vàng rụng/ Cho trời thêm xanh”. Thơ Xuân Quỳnh thường
mang nặng nỗi ám ảnh tàn phai, tiêu biểu là bài “Thơ tình cuối mùa
thu”, bài thơ đã được phổ nhạc và được giới trẻ rất yêu thích: “Cuối
trời mây trắng bay/ Lá vàng thưa thớt quá/ Phải chăng lá về rừng/ Mùa thu đi
cùng lá”… Xuân Quỳnh thường ví mình với những sự vật nhỏ nhoi, yếu ớt
: Lá vàng, hoa rơi, hoa dại, cây tứ quý đất nghèo, cây kinh giới bùn lầy, hoa cỏ
may dân dã, hoa cúc nhỏ nhoi, hoa tường vi nhỏ nhắn … Chị còn ví mình như “Hoa
Ti gôn” : “Cánh hoa như lệ vỡ/ Như máu vừa mới sa/ Như hàng vạn giọt
mưa/ Của nỗi buồn không dứt”. Nói chung đó là những bông hoa buồn nhỏ
bé tội nghiệp nép mình “Trong mảnh vườn đã tối”. Chị cũng dùng rất
nhiều hình tượng con tàu – sân ga (và thuyền – biển) để thể hiện sự chia ly,
cách trở. Chị có rất nhiều câu thơ thể hiện nỗi buồn đau day dứt như : “Tránh
sao khỏi sầy da rớm máu” , “Áo em rộng, lòng em tan
nát”, “Xém lòng một vết đau”, “Qua cay đắng với buồn vui
đã nhiều”, “Nỗi đau buồn dồn xuống đáy tâm tư”… Và có thể
còn rất nhiều câu thơ buồn hơn thế nữa nhưng không được công bố. Trong số bảy tập
thơ của chị đã công bố, nỗi buồn thể hiện rõ nhất ở hai tập cuối: Tự hát
(1984) và Hoa cỏ may (1989). Trong tập Hoa cỏ may (Giải thưởng văn học 1990 của
Hội nhà văn), trái sầu đã đạt đến độ chín mùi, khi nỗi “nhức nhối đắng
cay” đã “đến tận cùng đau đớn”. Lúc mà ở ngoài đời chị
càng lặng lẽ thì trong thơ chị chứa “Bão táp ở từng trang” Chị như
con “Chuồn chuồn báo bão” đã biết trước được cơn bão tố sắp ập đến,
và nạn nhân sẽ là nó nhưng cánh chuồn yếu ớt, bơ vơ làm sao chạy trốn khỏi định
mệnh.
Thần Chết thường là bạn đồng
hành với Thời Gian. Những người đa tình, ham sống thường rất ghét Thời Gian. Nữ
sĩ Xuân Hương than thở “Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại”, Xuân Diệu
cũng chua chát thốt lên: “Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất”. Vốn
cũng mang trong mình chữ “Xuân” nên Xuân Quỳnh cũng không khỏi lo
âu và tự hỏi “Mùa xuân sẽ về đâu/ Khi nơi này xuân hết?” (Mười bảy
tuổi). Khi thấy “Thoáng sợi bạc trên mái đầu bỡ ngỡ”, chị càng lo
cho sự phai tàn của xuân sắc, vì rằng số lượng nếp nhăn và sợi tóc trắng bao giờ
cũng tỷ lệ nghịch với số lần hôn nhau và nhìn nhau say đắm. Là một người nhạy cảm,
Xuân Quỳnh rất lo sợ cho thân phận tình yêu : “Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn/
Hôm nay yêu, mai có thể xa rồi/ Niềm đau đớn tưởng như vô tận” (Nói
cùng anh). Rồi chị lại lo cho một ngày “Cuộc sống trở về bình yên”, con
người sẽ tha hoá, không còn giàu cảm xúc để yêu nhau và để làm thơ: “Và
trong em không thể còn anh/ Nếu ngày mai em không làm thơ nữa”. Yêu
nhiều và lo lắng quá nhiều thứ trong cuộc sống đời thường như vậy đã
làm cho con tim Xuân Quỳnh mệt mỏi. Chị đã cảm nhận điều đó trong bài “Tự
hát”: “Em lo âu trước xa tắp đường mình/ Trái tim đập những điều
không thể nói/ Trái tim đập cồn cào cơn đói/ Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn”. Chị
đã biết trước đời mình như một ngọn đèn le lói sắp tắt. Tháng 6/1988, Xuân Quỳnh
bị đau tim nặng phải vào bệnh viện. Trên giường bệnh, chị làm bài thơ “Thời
gian trắng” thể hiện rõ sự ám ảnh về cái chết : “Em ở đây
không sớm không chiều/ Thời gian trắng, không gian toàn màu trắng/ Trái tim đập
sau làn áo mỏng/ Từng đập vì anh, vì những trang thơ/ Trái tim nay mỗi phút mỗi
giờ/ Chỉ có đập cho mình em đau đớn/ Trái tim này chẳng còn có ích/ Cho anh
yêu, cho công việc, bạn bè”. Chị đã nhìn thấy rõ ràng Thần Chết đang đợi
chị. Theo lời thuật của bà Vũ Thị Khánh (mẹ chồng Xuân Quỳnh): “Bác sĩ bảo
bệnh của Quỳnh rất nặng, chỉ sống được vài năm nữa thôi” [I, tr 272].
Nhưng Xuân Quỳnh đã không chết vì bệnh tim.
Chồng chị, Lưu Quang Vũ
(1948-1988) cũng giống chị ở chỗ, có một giọng thơ buồn ám ảnh và nhìn chung là
lạc điệu giữa môi trường văn học thời ấy. Trong cảnh chiến tranh, mối quan tâm
hàng đầu của anh vẫn là cái chết của đồng loại. Anh đã “Nói với con cuối
năm”: “Thành phố vừa trải qua/ Những trận bom huỷ diệt/ Lòng cha giờ
dập nát/ Những xác người máu loang/ (…) Cha làm sao nói được/ Những nỗi đau lầm
lạc đợi trên đường/ Cái ác đen sì trong mỗi quả bom”. [V] Bên cạnh nỗi
đau chung của cả thời đại, anh cũng có nỗi buồn mang tính cá nhân: “Anh
là con ong bay giữa trời lận đận”, “Đã chết rồi ơi chú ong nâu” (Bầy
ong trong đêm sâu). Nhà phê bình Vương Trí Nhàn nhận xét: “Thơ anh có phần ngả
sang giọng xót xa, tê tái (…) đôi khi, người ta còn bắt gặp nơi anh một nỗi buồn
mạnh mẽ, gần giống như sự phẫn uất” [VI, Tr.11]. Như vậy, ta có thể nói rằng:
“Sự buồn rầu và chán đời luôn thường trực trong tâm trạng anh”, đến
khi nổi tiếng trong làng kịch “Anh vẫn buồn. Phải chăng là định mệnh” (Nguyễn
Thị Hồng Ngát) [I, tr 230]. Vào những năm 1980, Lưu Quang Vũ trở thành ngôi sao
sáng trên sân khấu kịch trường Việt Nam. Anh đã thổi một luồng gió mới vào
đời sống nghệ thuật nước nhà và nhiều vở kịch của anh đã có tác dụng rất lớn đến
xã hội Việt Nam lúc đó. Tên tuổi lừng danh như vậy đáng lẽ anh phải
vui nhưng rất nhiều vở kịch của anh vẫn thể hiện sự ám ảnh về cái chết. Trong
bài “Phép ứng xử với cái chết trong kịch Lưu Quang Vũ”, nhà
phê bình Phan Trọng Thưởng viết : “Hầu như ít vở kịch nào của Lưu Quang Vũ cái
chết không được nhắc đến” (I, tr 134), “Sự ra đi của anh có gì như
huyền bí, như là có sự chuẩn bị trước ở đâu đó rồi, ngay cả trong linh cảm của
anh” (I, tr 138). Tác phẩm cuối cùng mà anh đang viết dở dang là “Chim
sâm cầm đã chết”, anh ví mình như một loài chim quý hiếm, tuy
đã được hoá thân nhưng những gì đã làm được cho đời vẫn còn sống mãi. Đấy là
“Điều không thể mất” (tên vở kịch hoàn chỉnh cuối cùng của đời
anh). Vâng, “Cái chết sẽ không tồn tại khi một người đã hoàn thành tốt đẹp sự
nghiệp của cuộc sống” (Hô-xê mác-ti)
Sự ra đi đột ngột của một
nhà thơ và một nhà soạn kịch nổi tiếng đã gây chấn động cả nước. Hàng triệu con
tim yêu thích nghệ thuật đã thổn thức đau buồn và luyến tiếc cho hai tài năng lớn
đã ra đi trong khi sức sáng tạo vẫn còn dồi dào và hứa hẹn sẽ cống hiến nhiều
hơn cho đất nước. “Sự phi thường và tài năng nở rộ như huyền thoại
đã đem đến sự giải thích về cái chết của anh màu sắc huyền bí” (Phạm
Thị Thành) [I, tr. 223]. Ta hãy theo dòng dư luận để thử xem cái chết của họ có
được báo trước hay không. Theo Lưu Quang Định, thì thời còn đi học
phổ thông, Lưu Quang Vũ đã ghi nhật ký (ngày 8/11/1964) như sau: “Thần
chết ơi, ta chẳng cần nhiều đâu. Độ 20 năm nữa, khi ta đã trả nợ xong, khi có
thể coi là đã làm được chút gì đó cho đời, ta sẽ chẳng ân hận gì khi nhắm mắt.
Đấy, chỉ tiêu của ta có ngắn ngủi không?”. [I, tr. 242]. Trước
khi chết mấy ngày, Lưu Quang Vũ có tâm sự với nhà phê bình Phan Trọng Thưởng :
“Người ta bảo mình không thọ lâu, chẳng biết đúng hay sai” [I, tr.138]. Còn
Nguyễn Thuỵ Kha thì kể lại: “Hôm được tin Vũ mất, trước nửa giờ, ở giữa sân khấu
lớn Hà Nội, cả một tràng pháo dài trang trí cho kịch “Bệnh sĩ” của Vũ đã rơi xuống
tôi và nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc. Cái áo trắng tôi mặc bị hoen đầy màu đỏ, đỏ như
máu (…) tôi vẫn nghĩ đó là thông báo cuối cùng của Vũ với bạn bè trước lúc đi
xa mãi mãi” [IV, tr.175]. Họa sĩ Doãn Châu, người thân cuối cùng chứng kiến cái
chết của họ, đã kể lại như sau : Hôm ấy là ngày 29/8/1988, tức là tháng 7 âm lịch
(tháng cao điểm của tai nạn giao thông hàng năm), và chỉ sau ngày rằm xá tội
vong ân có mấy hôm (rất tiếc là hiện nay, có quá nhiều người thờ ơ với lễ tục đầy
tính nhân văn này). Chiếc Com-măng-ca chở 6 người : Vũ – Quỳnh và cháu Lưu Quỳnh
Thơ (13 tuổi), Doãn Châu cùng vợ và con nhỏ. Xe đang đi từ Hải Phòng về Hà Nội,
ngang qua địa phận Hải Dương thì bị chiếc xe ô tô chở than phóng với tốc độ lớn
đâm vào phía sau. Điều lạ thường là gia đình hoạ sĩ Doãn Châu đều bình yên
vô sự. “Hình như số phận đã sẵn lòng ghen ghét, đố kỵ với tài hoa nên cả 6 người
cùng ngồi trên một xe, cùng một khoảnh khắc nghiệt ngã mà Vũ, Quỳnh, cháu Mí
thì đã vĩnh viễn bị cướp đi…” (Doãn Châu – “Niềm bí ẩn của sáng tạo và sự chết”)
[I, tr. 202].
Sau tai nạn thảm khốc đó,
người ta đã đưa ra nhiều giả thiết khác nhau để chứng minh rằng, số phận nghiệt
ngã của Xuân Quỳnh đã được báo trước trong cuộc đời và tác phẩm của chị. Có người
đã “xem tướng số” qua đôi mắt và giọng nói của chị như sau: Đôi mắt
“Vừa chăm chắm, vừa phiền muộn và đâu đó hình như có những giọt nước mắt ngấp
nghé chỉ muốn trào qua bờ mi. Đặc biệt nhất là giọng nói, bao giờ giọng nói của
Quỳnh cũng run rẩy nghẹn ngào như có tiếng khóc ở bên trong. Bằng vào hai thông
số đặc biệt ấy của chân dung, người ta không thể đoán định một số phận tốt hơn
cho Xuân Quỳnh” (Nguyễn Thị Minh Thái – “Một giọng thơ tình ám ảnh”)
[I, tr. 46]. Vì sao Xuân Quỳnh phải chịu một số phận nghiệt ngã như vậy, bởi chị
có tài sắc hơn người. “Thật hiếm có người đàn bà vừa có tài, có sắc đẹp, lại
có trí tuệ sắc sảo như Xuân Quỳnh” (Nguyễn Thị Như Trang) [II, tr.
349]. Bởi vậy, nói như Nguyễn Du : “Chữ tài liền với chữ tai một vần” ,
“Tài tình chi lắm cho trời đất ghen”, “Rằng hồng nhan tự nghìn xưa/ Cái điều
bạc mệnh có chừa ai đâu” … Có lẽ dự cảm được số phận của mình như vậy
nên Xuân Quỳnh đến với thơ để giải thoát bớt niềm đau: “Cuộc đời và thơ Xuân Quỳnh
là một nỗ lực thoát khỏi chơ vơ định mệnh (…) và phải đến khi tai nạn
phủ phàng ập xuống quá bất ngờ, người đời mới thấy rằng những dự cảm lo âu suốt
một đời người, một đời thơ ấy sao mà linh nghiệm” (Chu Văn Sơn) [I,
tr. 30]. Còn Lưu Khánh Thơ cũng thừa nhận : “Có cái gì như là định mệnh khi chị
kết thúc cuộc đời cùng chồng con vào một ngày tháng 8 đau xót. Chị vĩnh biệt
chúng ta vào mùa thu. Những bông hoa cúc vàng mà chị đã từng yêu, từng nói đến
trong các bài thơ đã phủ kín ngôi mộ. Những bông hoa phúng điếu, tưởng niệm rồi
sẽ tàn” [I, tr. 41]
Xuân Quỳnh và Lưu Quang
Vũ có nhiều điểm tương đồng nhau: từng có một lần hôn nhân dang dở và mỗi người
có một con riêng. Từng đứng trên trận tuyến chống chiến tranh phá hoại miền Bắc
và đối diện thường xuyên với cái chết. Thơ của hai người đều thể hiện sự ám ảnh
về cái chết và mang âm hưởng buồn. Từ khi hai người đến với nhau, hai nỗi buồn
được cộng lại tạo ra nỗi buồn lớn hơn, và cũng từ đây, sự nghiệp của họ đạt tới
đỉnh cao. Nói như thi sĩ Pháp Muytxê : “Không có gì làm cho ta lớn bằng một
nỗi đau lớn. Tiếng hát tuyệt vọng là tiếng hát tuyệt vời nhất”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1- Xuân
Quỳnh –Lưu Quang Vũ, tình yêu và sự nghiệp – Lưu Khánh Thơ biên soạn – NXB hội
nhà văn – H.1994
2- Nữ
sĩ Xuân Quỳnh, cuộc đời để lại – Ngân Hà biên soạn – NXB Văn hoá thông tin, H.
2001.
3- Xuân
Quỳnh, thơ và đời, Vân Long biên soạn – NXB Văn hoá, 1995.
4- Phê
bình, bình luận văn học : Quang Dũng, Nguyễn Mỹ, Xuân Quỳnh – Vũ Tiến Quỳnh
biên soạn – NXB Văn nghệ, 1995.
5- Lưu
Quang Vũ và Xuân Quỳnh gửi lại – Hội văn học nghệ thuật Đà Nẵng – 1989.
6- Thơ
Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ – Vương Trí Nhàn giới thiệu, tuyển chọn – NXB Giáo dục
– 2002.
* Có thể đặt lại tên tác
phẩm là:
- Dự
cảm về cái chết trong sáng tác của Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ.
- Xuân
Quỳnh - Lưu Quang Vũ và cái chết đã được báo trước.
- Có phải
chăng: Cái chết của Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ đã được báo trước trong những
sáng tác của họ?.
6/7/2008
Phạm Ngọc Hiền
Theo
https://www.vanchuongviet.org/
Đi tìm hoa hậu trong tiểu thuyết Việt Nam thời chiến tranh
Đi tìm hoa hậu trong tiểu
thuyết Việt Nam thời chiến tranh
Văn chương đồng nghĩa với
cái đẹp, đó là cái đẹp trong nghệ thuật ngôn từ, cái đẹp trong tư tưởng tình cảm,
nhan sắc con người và cái đẹp trong thiên nhiên, đồ vật… Cái đẹp trong văn
chương cũng mang tính quan niệm, các nhà văn cách mạng thời chiến tranh thường
coi trọng cái đẹp nội dung hơn hình thức. Một phụ nữ lý tưởng phải là một chiến
sĩ dũng cảm trong chiến đấu, cần cù trong lao động, chân lấm tay bùn, áo quần
giản dị. Nhiều nhà văn ngại miêu tả các nhân vật nữ có ngoại hình đẹp kiêu sa,
sắc nước hương trời, vì sợ nhân vật bị đánh giá là “tiểu tư sản, quý tộc” xa rời
lao động, còn tác giả bị quy là theo quan điểm “vị nghệ thuật”. Nói như vậy để
thấy rằng việc đi tìm Hoa hậu trong tiểu thuyết cách mạng Việt Nam thời
chiến tranh là khó lắm thay!
Điểm qua các tiểu thuyết
được nhắc tới nhiều, ta thấy nổi lên nhân vật chị Sứ (Hòn Đất). Nhưng thực ra,
chị Sứ chỉ xứng đáng vương miện Á hậu. Điều đáng bất ngờ là, vương miện Hoa hậu
không phải thuộc một nhân vật người Kinh mà là người Mẹo (Mèo, Hmông). Nhưng
không phải người Mẹo ở Việt Nam mà là ở tận xứ Lào xa xôi. Ta đã nghe
nói nhiều về vẻ đẹp của các cô gái Lào từng làm rung động trái tim của hàng vạn
chiến sĩ tình nguyện Việt Nam. Và có biết bao nhiêu thơ văn nhạc họa đã ngợi
ca vẻ đẹp đó. Nhưng có lẽ, tác phẩm miêu tả sinh động nhất vẻ đẹp cô gái Lào là
tiểu thuyết Pả Sua (1975) của Văn Linh. Đây là kết quả của những năm tháng dài
tác giả chiến đấu và công tác ở nước bạn. Nói cách khác, mối tình hữu nghị thắm
thiết Việt - Lào đã sinh ra Hoa hậu Pả Sua.
Tiêu chuẩn đầu tiên của một
Hoa hậu là nhan sắc. Tác giả đã dành khá nhiều công sức để khắc họa vẻ đẹp ngoại
hình của cô thiếu nữ này. Để tăng tính khách quan, nhan sắc của Pả Sua chủ yếu
được miêu tả từ điểm nhìn của các nhân vật khác. “Nhắc đến Pả Sua, người ta nói
bằng một thán phục, trân trọng như khi nói đến vua Mẹo”, “là vua Mẹo hiện sinh,
sắc đẹp của cô tưởng như đất nước này chỉ có một, như thần trăng, thần sao xuống
trần”. Tác giả vận dụng tối đa các tác dụng của Mỹ từ pháp để tôn vinh vẻ đẹp
quá mức tưởng tượng của nhân vật. Sắc đẹp của Pả Sua chỉ có thể sánh với những
gì cao lớn nhất như vua, như thần, như vũ trụ… Sắc đẹp ấy chinh phục tất cả mọi
trái tim, bất chấp tuổi tác, địa vị, phe phái, dân tộc… Cậu bé Tu Bi mới 14 tuổi
đã ngây người ngắm nhìn cô “như ngắm nhìn vào một bức vẽ lộng lẫy”. Cái đẹp của
cô là cái đẹp của một thiếu nữ mới lớn, dồi dào nhựa sống, gợi lên biết bao
nhiêu khao khát mơ tưởng ở các trai làng: “Bọn con trai, từ ngày Pả Sua mới lớn
lên, đứa nào mà chẳng ước ao được làm chồng cô (…) vắng Pả Sua,
chúng cảm thấy buồn buồn…”. Bởi vậy mà nhiều trai làng đang trốn trong rừng (do
hiểu lầm bộ đội Pa Thét Lào), nhưng do “nhớ Pả Sua, muốn được nhìn mặt” nên ban
đêm mò về và bị bộ đội bắt. Vả Xênh thành khẩn thú nhận “Không phải mình con,
còn nhiều đứa nữa cũng mong được nhìn thấy Pả Sua, được nghe cô ấy khắp”. Một
lý do có vẻ buồn cười nhưng qua đó cho thấy Pả Sua có sức hấp dẫn mạnh mẽ đến
thế nào.
Trong cuộc thi Hoa hậu,
các người đẹp cũng được đề nghị biểu diễn năng khiếu và trang phục tự chọn của
mình. Năng khiếu của Pả Sua là “khắp” (hát dân ca). Đây cũng là một thứ khiến bọn
trai làng càng mê mẩn cô hơn “vì sắc đẹp Pả Sua chỉ một phần mà vì giọng khắp
và lời trò chuyện của cô là cả phần hồn đối với họ”. Nhưng nhan sắc và giọng
hát của Pả Sua sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu nó không đem lại lợi ích cho cộng đồng,
cho cách mạng. Tức là việc miêu tả cái đẹp không phải nhằm mục đích “vị nghệ
thuật” mà phải hướng tới “vị nhân sinh”. Văn Linh đã làm được điều đó khi đưa
“cô con gái tinh thần” của mình gia nhập vào đội văn nghệ tuyên truyền. Nhờ
nhan sắc và giọng hát của Pả Sua mà thanh niên nô nức đến với cách mạng: “Đám
con trai Mẹo nghe lọt lời lẽ tâm huyết, say giọng hát của Pả Sua nên cô đi đến
nhà nào, họ theo đến nhà đó. Dân các bản xa cũng kéo tới để nhìn Pả Sua”. Sau mỗi
đêm hội diễn “Đám con trai thì được đem về thêm nụ cười và tiếng hát đẹp của Pả
Sua vào trong giấc ngủ”. Pả Sua không chỉ có nhan sắc đẹp, lời ca điệu múa đẹp
mà còn có trang phục đẹp, góp phần cộng hưởng lẫn nhau để tôn tạo vẻ đẹp ngoại
hình. Trong những đêm văn nghệ, cô hiện lên trong bộ trang phục truyền thống lộng
lẫy như tiên nữ: “Cô bước ra sân nhẹ nhàng như một cô gái Mẹo từ quả bầu bước
ra trong truyện thần thoại. Ánh lửa hồng làm thêm bừng sáng gương mặt cô với những
thứ trang sức như vàng bạc, khánh bạc lấp lánh trên ngực (…) đôi mắt đen nhung
(…). Mỗi bước đi của Pả Sua, tấm váy thêu hoa cứ dập dình trên đôi bắp chân trắng
ngà, dịu dàng”. Vẻ đẹp ngoại hình rực rỡ đó không chỉ làm mê hoặc quần chúng
nhân dân mà còn cảm hóa cả kẻ thù. Tu Dơ (được Mỹ đào tạo) bực mình do không lấy
được cô làm vợ hai, cộng với việc thấy Pả Sua theo cách mạng nên mang súng đi định
bắn chết cô trong đêm văn nghệ. Bạn đọc hồi hộp lo cho tính mạng Pả Sua, mong
có nhân vật nào cứu giúp cô. Nhưng không, chính sắc đẹp đã cứu giúp cô. Vì đứng
trước Pả Sua, Tu Dơ như đứng trước một vị thần sắc đẹp, hắn run rẩy trước nhan
sắc của cô, “tim đập mạnh đến nỗi cả người hắn nôn nao như kẻ bị say sóng”.
Nhìn Pả Sua múa, “Tu Dơ có cảm giác như chính tim mình đang bị xéo nát bởi đôi
chân trần đó (…). Sắc đẹp của Pả Sua càng lộng lẫy, làm cho Tu Dơ phải bàng
hoàng, như thể trong giấc mơ hắn được gặp nữ thần trăng sao sau một đêm đi săn
lạc đường (…) những âm thanh ngọt ngào, dìu dặt của quê hương, trong đó có tiếng
mẹ ru (…) Không phải sắc đẹp bề ngoài của Pả Sua đã làm cho Tu Dơ chờn tay, mà
chính vì cái đẹp của tiếng hát. Tiếng hát của Pả Sua có sức truyền cảm thần kỳ,
phút chốc đã làm cho Tu Dơ tiêu tan quyết tâm tàn bạo của hắn”. Kế hoạch ám sát
của Tu Dơ không thành nhưng điều kỳ lạ là hắn dám viết thư cho Pả Sua để giải
thích rằng: “mấy lần hắn toan nẻ cò súng , xong vì Pả Sua đẹp quá, hát hay quá
nên phải hạ súng xuống”. Sau đó, tên ngụy binh đem nộp súng cho Pả Sua, tức là
quy hàng trước cái đẹp, “cái đẹp đã cứu vãn thế giới” (Sepnưsepxki). Sắc đẹp và
tài năng của Pả Sua không chỉ chinh phục con tim các nhân vật trong truyện mà
cũng tạo ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc. Bởi nhan sắc của cô được nhắc đi
nhắc lại nhiều lần dưới nhiều phương diện và nhiều điểm nhìn khác nhau nên gây ấn
tượng khó quên. Biện pháp so sánh tu từ có tác dụng làm cho hình tượng Pả Sua
giàu màu sắc, nhiều ý nghĩa, góp phần tạo nên màu sắc huyền thoại xung quanh
nhân vật. Và bạn đọc cũng dễ nhận ra biện pháp phóng đại trong việc khắc họa vẻ
đẹp nhân vật lên ngang hàng thần thánh. Chính nhờ điều này mà nhân vật Pả Sua
không lẫn lộn với bất cứ nhân vật nào khác trong văn học. Nói như Goóc-ky: “Tất
cả những tác phẩm lớn, tất cả những tác phẩm đã trở thành mẫu mực của một nền
văn học có giá trị nghệ thuật cao chính là xây dựng trên sự phóng đại”.
Một nội dung nữa không thể
thiếu trong các cuộc thi Hoa hậu là phần thi ứng xử. Ở phần này, Pả Sua cũng đạt
điểm 10 tuyệt đối vì không có nhân vật nào ăn nói hấp dẫn hơn cô. Ưu thế của Pả
Sua là phát huy tài “nói lý nói lối” của dân tộc mình. Người Mèo nổi tiếng ăn
nói giỏi, ưa lý sự nên mới có câu thành ngữ “Lý ông Mèo”. Ở đầu tác
phẩm, Pả Sua đã trổ tài lý luận khiến cho anh bộ đội Vi Lay phải suy nghĩ “đúng
là một cô gái Mẹo lý sự”.Dân làng khen cô “nói năng rõ ràng, có lý”, “người ta
nói lời nói của Pả Sua là lời nói đẹp và đúng”. Nghệ thuật thuyết phục của Pả
Sua như sau: đầu tiên phải đưa ra những chân lý không ai chối cãi được, những lẽ
phải này được lấy từ tự nhiên, giàu hình ảnh sinh động gợi cảm. Sau đó mới đi
thẳng vào vấn đề chính. Cô đã dùng tài ăn nói của mình để thuyết phục Tu Dơ
không cầm súng chống cách mạng: “Nên thận trọng, con vịt thường lớn hơn quả trứng.
Chuyện xảy ra sau bao giờ cũng lớn hơn chuyện trước, Tu Dơ ạ”. “Nói trước là phải
giống sau. Trời đất ban cho loài người hai con mắt cốt để nhìn thấy cái đúng và
cái sai, hai lỗ tai là để nghe được đâu điều hay, đâu lẽ dở, còn miệng thì chỉ
có một cái nên chỉ được phép nói một lời”. Tài ăn nói cũng phản ánh sự thông
minh của con người, Pả Sua phán đoán tình hình chính sự rất tài. Mỗi lần có việc
gì quan trọng, Phìa tổng thường hỏi ý kiến cô: “Con đúng là người trời, ta
không nghe con sao được”. Chẳng hạn, nghe kẻ xấu tung tin máy bay Mỹ sẽ chở gạo
ngô đến cấp cho dân bản ăn quanh năm, Pả Sua nói: ““Lúa ngô trồng trên đất còn
chưa chắc ăn nữa là trồng trên máy bay kẻ khác”. Người già trong bản phục Pả
Sua và nói rằng nếu là con trai, cô có thể làm vua Mẹo được”. Lời nói của Pả
Sua có tác dụng lớn không chỉ vì kỹ năng lập luận, sự hiểu biết mà còn vì nó xuất
phát từ một con tim chân thành yêu thương con người tha thiết. Đó là những lời
nói có linh hồn, “những lời có cánh” có sức cuốn hút mọi người mạnh mẽ, và nhờ
đó cũng giúp ích cho cách mạng. Khi máy bay Mỹ tới xúc dân đi, Pả Sua đã dũng cảm
chạy đến dưới cánh quạt để thuyết phục dân làng bằng những lời gan ruột: “Bà
con ơi! Con chim bay theo đàn, vượn đi ăn có bầy, chẳng nhẽ mấy chục con người
này lại nỡ bỏ bản làng mà đi! Chồng con đang ở đâu, sống chết ra sao cũng không
biết? Đi đâu chẳng ai hay? Ở lại đi, các anh chị, các em ơi! Không bỏ làng”. Đó
là cả một nghệ thuật thuyết phục. Nó có sức mạnh ở bố cục trình bày, ở việc
dùng nhiều câu cảm thán, ở sự lặp đi lặp lại lời kêu gọi gây ấn tượng sâu sắc.
Sức mạnh tâm lý của lập luận thể hiện qua việc dùng những hình ảnh gây xúc động
lòng người như: bầy, đàn, bản làng gợi lên tinh thần đoàn kết cộng đồng thị tộc.
Hoặc dùng cách xưng hô thân mật như người trong gia đình như: bà con, anh chị,
em. Ngoài ra, Pả Sua cũng nhắc đến những nội dung được mọi người quan tâm như:
chồng con, sống chết, đi về đâu… và vẽ ra một tương lai vô định, bất hạnh nếu bỏ
làng ra đi… Nghe những lời đúng, hay và thiết tha như thế thì bất cứ con tim sắt
đá nào cũng rung động. Quả thật, khó có người đẹp nào ăn nói thông minh như thế.
Người ta quan niệm một
người đẹp lý tưởng phải có sự kết hợp hài hòa giữa cái đẹp thể xác và cái đẹp
tâm hồn. Nhân vật Pả Sua cũng được xây dựng theo quan niệm đó. Cô cũng có một đời
sống nội tâm phong phú, có tâm hồn mơ mộng của tuổi thanh xuân và biết rung động
trước vẻ đẹp thiên nhiên: “Hai mắt đen của Pả Sua nhìn ngước lên vòm trời bát
ngát mây, mơ màng, như muốn thầm hỏi mây kia trôi dạt về đâu”. Cô cũng giàu
tình cảm yêu thương con người tha thiết nên lúc mới 14 tuổi, cô đã dám bí mật cởi
trói cho một anh bộ đội lạ mặt “Vi Lay chưa kịp nói một lời cảm ơn thì ân nhân
của anh đã biến mất trong đêm, cũng nhẹ nhàng như khi đến vậy, tựa hồ đó không
phải là người mà là tiên nữ ở trên trời xuống làm xong việc nghĩa rồi biến
thành những hạt sương luôn”. Sau này, Vi Lay dìu dắt Pả Sua vào cách mạng, đưa
cô lên tỉnh học. Như vậy, Pả Sua cũng là người có trình độ học vấn, một yêu cầu
cần có của một Hoa hậu. Cô chịu ơn Vi Lay nhiều, dưới mắt cô “Anh là đấng anh
hùng đang trò chuyện với trời đất (…) ngắm nghía anh như chiêm ngưỡng một pho
tượng cao quý”. Thông qua cái nhìn kính ngưỡng của Pả Sua với Vi Lay, ta đã thấy
được phần nào lý tưởng sống của cô. Nhưng cô chỉ thực sự “dồn dập phát đi tín
hiệu của trái tim” từ khi chăm sóc cho Vi Lay bị thương nặng gần như tàn phế.
Điều đó cho thấy cô có một tình yêu thánh thiện, cao cả, không vụ lợi nhưng
cũng rất kín đáo, sự thầm kín cần có của một người phụ nữ đứng đắn. Nhưng tin đồn
Pả Sua yêu Vi Lay cũng về tới bản làng và Tu Dơ lấy lại súng, công khai theo địch,
dọa sẽ bắn nếu cô trở về làng. Mối tình của Pả Sua và Vi Lay cũng gặp trắc trở
do có sự hiềm khích giữa hai bộ tộc Mẹo và Lào Thơng (trong cùng địa phương). Pả
Sua lâm vào thế bi kịch, một bên tình với Vi Lay, một bên nghĩa với buôn làng.
Cô đau khổ, định tự tử, “cô vò xong bát lá ngón đặc quánh” nhưng qua một đêm trằn
trọc, cô quyết định sống để bọn xấu khỏi phải hả dạ vui mừng. Xét từ góc độ nghệ
thuật, Pả Sua là nhân vật được miêu tả sống động bởi có đời sống nội tâm phong
phú, có bi kịch trắc trở gay cấn hấp dẫn người đọc. Tâm lý nhân vật được miêu tả
sâu sắc chứ không đơn giản như hàng loạt nhân vật cùng thời. Nhưng cái đẹp
trong tâm hồn Pả Sua không chỉ được đem ra thử thách trong tình yêu với Vi Lay
mà còn được đặt trong bối cảnh chiến tranh như lửa thử vàng. Cô dũng cảm về lại
buôn làng trong “hoàn cảnh phức tạp và khó khăn này”. Mặc dù bị thương do bom Mỹ
nhưng cô vẫn băng bó cho con của Tu Dơ (đại đội trưởng chỉ huy AC) và càng bao
dung thánh thiện hơn, cô nhận nuôi dùm con hắn. Đứng trước một khối pha lê quá
trong sáng, Tu Dơ soi thấy khuôn mặt xấu xí của mình và rút súng tự sát. Tu Dơ
chết không phải vì nhan sắc Pả Sua mà chính là xấu hổ trước vẻ đẹp đạo đức chói
lòa quá mức tưởng tượng của cô.
Pả Sua không chỉ hiện
thân cho vẻ đẹp dân tộc, không chỉ hiện thân cho mẫu người đẹp phổ quát của
nhân loại mà nhân vật này còn được xây dựng theo khuôn mẫu con người lý tưởng của
thời đại cách mạng vô sản. Bởi vậy, cô có thể làm hài lòng tất cả những “vị
giám khảo” là những nhà phê bình Mácxít khó tính nhất. Pả Sua xuất thân từ dân
lao động, “lý lịch” ấy chứng tỏ cô là “thành phần cơ bản”, là con người ưu tú của
thời đại cách mạng. Cô siêng năng lao động, đó là mẫu người lý tưởng mà các
chàng trai mơ ước. Cô không chỉ đảm việc nhà mà còn giỏi việc nước, đó là một
công dân lý tưởng. Người ta yêu cầu các Hoa hậu phải tham gia công tác xã hội
giúp ích cộng đồng, Pả Sua làm việc này rất xuất sắc “Tuổi trẻ đẹp đẽ của cô
gái Mẹo ấy đã hé sáng lên như một tia chớp giữa đêm tối mù sương, soi sáng cả
vùng rẻo cao quê hương, soi sáng đến từng trái tim, từng tâm hồn những con người
nghèo khổ ở chốn núi rừng này”. Nhờ đó cô trở thành một thần tượng cao quý dưới
mắt mọi người “giờ đi theo cách mạng nên người lỗi lạc… khéo không mai sau cô ấy
làm vua Mẹo ấy”. Ta nghe nhắc nhiều đến từ “vua Mẹo”. Vua, Hoàng hậu hay Hoa hậu
đều là những danh hiệu cao quý nhất được cộng đồng tôn vinh, kính ngưỡng. Hoa hậu
Pả Sua đại diện cho vẻ đẹp cộng đồng, cũng đồng thời điển hình cho quá trình
phát triển của dân tộc mình “Cuộc đời của cô gái Mẹo nghèo khổ ấy sẽ mãi mãi gắn
liền với bước đường đi lên của dân Mẹo cũng như cả nước Lào đẹp tựa bình minh”.
Cô là con người thuộc về công chúng, gần gũi với mọi người, nên được họ ca ngợi
hết lòng “chuyện về Pả Sua được truyền lan ra khắp vùng rẻo cao như câu chuyện
về một con người trong huyền thoại” (không ai ca ngợi những “hoa hậu búp-bê nhốt
trong lồng kính”). Mặc dù Pả Sua được nhân dân thần thánh hóa nhưng từ phương
diện cá nhân, Pả Sua “trước sau cô vẫn là cô gái Mẹo gần gũi với bản làng, quê
hương”. Pả Sua vĩ đại mà hòa đồng, được mọi người yêu mến. Mỗi lần tiễn cô lên
tỉnh học, dân làng “tiễn Pả Sua ra khỏi ba mái đồi mới trở lại và ai nấy đều cố
giữ không cho một giọt nước mắt trào ra”. Khi Pả Sua đi rồi thì “những giọt nước
mắt nhớ thương của già Mùa, của bạn bè và bà con Mẹo Nhọt Hia rơi lã chã”. Còn
Pả Sua đi nửa đường thì “ruột em như đang đứt từng đoạn” vì nhớ dân làng. Tác
giả khắc họa phẩm chất Pả Sua chủ yếu thông qua tấm lòng của dân làng đối với
cô, như thế là sâu sắc, khách quan. Đồng thời thể hiện được tinh thần gắn bó với
quần chúng, vốn là phẩm chất cơ bản của con người trong thời đại cách mạng. Cô
chiếm được cảm tình của đông đảo quần chúng thì đông đảo quần chúng sẽ bầu cô
làm người đẹp nhất cộng đồng.
Tóm lại, Pả Sua là nhân vật
mang trong mình tất cả vẻ đẹp lý tưởng của loài người. Đó là vẻ đẹp hài hòa
toàn diện trên tất cả mọi mặt: nhan sắc, trang phục, lời nói, việc làm, ứng xử,
tư tưởng, tình cảm, … Nhưng vẻ đẹp đó không phải được thể hiện qua những lời giới
thiệu chung chung, mơ hồ, khô khan của tác giả mà được thể hiện qua những hình ảnh
giàu màu sắc sinh động, đa nghĩa. Mỗi từ ngữ miêu tả về người đẹp như những
viên ngọc được mài dũa tinh luyện, có hồn. Ngoài ra, tác giả cũng đặt Pả Sua
vào những tình huống bi kịch gay cấn để làm ngời sáng phẩm chất nhân vật cũng đồng
thời tăng thêm sự hấp dẫn của tác phẩm. Hiếm thấy một nhân vật nào trong văn học
được tác giả ưu ái bỏ nhiều công sức tô điểm nhan sắc đẹp tuyệt trần như vậy.
Có thể nói, nhân vật Pả Sua xứng đáng đoạt vương miện Hoa hậu tiểu thuyết Việt Nam 1945
- 1975.
Lời với tòa soạn:
Tiểu thuyết Pả Sua của
Văn Linh được NXB Phụ nữ in lần đầu năm 1975. Trong bài viết này, chúng tôi
theo bản in của NXB Phụ nữ 1978.
22/6/2008
Phạm Ngọc Hiền
Theo
https://www.vanchuongviet.org/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Mai Văn Phấn tìm về ngọn nguồn thi ca
Mai Văn Phấn tìm về ngọn nguồn thi ca “Bầu trời không mái che” * là tập thơ mới nhất của Mai Văn Phấn được xuất bản cuối năm 2010. Cũng như...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Chopin - Linh hồn của Piano Bệnh dịch tả lại hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần lượt rời Paris. Chopin đ...


.gif)
.gif)
.gif)
.gif)
