“Tiếng Huế” nôm na của một thời
Phu Văn Lâu
Ngày xưa, sách sử chiếu biểu…
đều sử dụng tiếng Hán. Lớn lên, đi học là học chữ Hán, đọc Tứ thư Ngũ kinh,…
xem Tam Quốc chí, Thủy hử,… và cả sách sử Việt như Đại Việt sử ký
toàn thư, Lam sơn thực lục hay Phủ biên tạp lục … đều bằng chữ Hán.
Đình chùa, miếu vũ, kể cả nhà xưa khá giả đâu đâu cũng hoành phi đối liễn chữ
Hán. Thành thử, lắm người mới sinh ra lòng trọng vọng chữ Hán và chê chữ Nôm ta
là nôm na mách qué. Bắt đầu thế kỷ 20, tình hình đã khác. Mọi người bắt đầu “vứt
bút lông đi, giắt bút chì”, nhưng dấu tích của lòng trọng vọng đó vẫn còn trong
cách đặt tên cho con cháu. Tên nào cũng dùng chữ Hán Việt, hiếm thấy tên Nôm.
Nào Tấn Tài, Thanh Bạch, Trung Hiếu,… mà chẳng thấy mây tre, trắng đen, heo gà,
bàn ghế,… gì hết.
Nhớ chuyện ngày xưa, cái thời
còn trọng vọng chữ Hán đó, có lắm chuyện vui. Lắm người bình dân nghe ba chớp
ba nhoáng, không rõ đầu đuôi, nói thuội theo các câu nói chữ Hán đó, biến thành
các từ, các câu khác. Có khi các câu mới phát sinh này còn giữ nghĩa cũ, có khi
mang một ý nghĩa mới. Có khi chúng có tính nghiêm túc, nhưng phần lớn chúng có
tính khôi hài cho vui, để thư giãn. Ai không rõ cội nguồn của chúng không hiểu
được, hoặc hiểu sai đi. Nếu sử dụng chúng, đôi khi sai người đó không khéo cứ
tưởng là đúng mới khổ. Các cụm từ này đều không chính thống, thường
dùng trong văn nói trong lúc vui đùa thôi.
Xin nêu vài ví dụ dẫn chứng
những câu “tiếng Huế” nôm na của một thời đó:
1. Cậu ấm sứt vòi. Người
Huế thích uống trà. Cái thú uống trà còn kèm theo cái thú có được các bộ ấm
chén qúy. Nói như cụ Nguyễn Tuân là “Thứ nhất Thế Đức gan gà/ Thứ nhì
Lưu Bội, và thứ ba là Mạnh Thần”. Dẫu không có được ấm qúy như thế thì có
một bộ ấm kiểu thời Gia Long, Minh Mạng cũng đủ oai rồi. Không may, do bất cẩn,
cái âm quí gia truyền bị sứt mẻ một tí ở vòi, chủ nhân phải nhờ mấy ông thợ bạc
bịt lại. Cái nghề bịt bạc này chừ đã không còn nữa. Đó là cái ấm sứt vòi, giá
trị giảm đi rất nhiều.
Cái ấm quí khiến người ta liên tưởng tới các cậu ấm (ấm tử,
con quan được tập ấm theo chức tước của cha) cũng danh giá qúy trọng hơn người.
Tiếc thay, các cậu ấm đã sa sút kinh tế, đã hư đốn phẩm chất,… Nào cậu ấm đó
khác chi cái ấm sứt vòi. Thôi thì dẫu các cậu còn nguyên cái vòi sinh lý, gọi
các cậu là cậu ấm sứt vòi để trào phúng vậy..
2. Gáo tra dài cán. Một người cha khó tánh, thường
hay la rầy con cái, nói dông dài, lý lẽ này nọ theo quan niệm của bản thân ông
ta. Người mẹ thấy rằng làm như thế đôi khi có phản ứng ngược lại, bà ta
nói. “Thôi ông ơi, gáo tra dài cán, hắn còn nhỏ, ăn chưa no, lo chưa tới,
ông nói nhiều mần chi. Từ từ rồi nó hiểu. Nói quá, cha con không nhìn mặt nhau
cho sửa.” Ông chồng bèn trả lời, "Cực chẳng đã thôi. Tui cũng biết
gáo tra dài cán, mụ mi ơi!"
Đúng là quá sức khó hiểu. Cha la rầy con cái sao lại đem gáo
với cán vào đây. Nguyên bản câu này là “Giáo đa thành oán”. Nó có
nghĩa là dạy dỗ nhiều, quá nghiêm khắc gây ra oán giận. Thực tế xã hội cho ta
thấy nhiều trường hợp như thế. Cha mẹ hấp tấp, hoặc khác quan niệm, la rầy oan ức
con cái khiến con cái bỏ nhà ra đi hay thậm chí tự tử nữa. Dân ta có câu tục ngữ
nói về cái thói này là “Chồng nói oan, quan nói ép, cha mẹ có nghiệp nói
thừa”. Việc này âu cũng thường trong xã hội gia trưởng ngày trước.
3. Phiêu linh tịnh/ thỉnh
độ. Một kẻ ham chơi, thích đi chỗ này chỗ kia., bạn bè muốn tìm gặp rất
khó khăn. (Thời ấy hiển nhiên là chưa có điện thoại di động như bây giờ). Hỏi
thăm người thân trong nhà thì họ nói,“Hắn phiêu linh tịnh độ phương mô rồi. Biết
mô mà gọi”
Đúng ra chỉ nên nói “hắn phiêu linh”
thôi là đủ nghĩa. Phiêu linh là trôi dạt, lang thang lạc lối đâu đó. Khổ một nỗi,
trong kinh Phật có cụm từ “Siêu sinh tịnh độ” (có nghĩa là sau khi chết, về sống
nơi cõi Cực lạc). Thế là dân ta ghép hai cụm từ với nhau để tạo ra một cụm từ mới,
ý nói là hắn e chết lấp phương mô rồi. Mới nghe qua cũng hay hay. Thế là người
này bắt chước người kia sử dụng. Lâu ngày nó trở thành một cụm từ rất khá thông
dụng nói trên.
4. Cô đơn hoàn tán. Một
anh bạn buồn phiền chuyện gia đình hay cá nhân, mặt mũi âu sầu ảm đạm, xa lánh
bạn bè. Bạn anh ta mới chọ đùa,“Răng mà u sầu, ủ rủ rứa? Ui chao là cô đơn hoàn
tán!”
Đây cũng là một sự chắp
ghép đầu Ngô mình Sở giữa hai cụm từ “cô đơn” và “cao đơn hoàn tán” do óc khôi
hài của dân ta. Dạo còn nhỏ, tôi thường lê la ở các góc phố khi rảnh rỗi để xem
các chú Sơn Đông mãi võ múa quyền và quảng cáo bán cao đơn hoàn tán, bốn
dạng của thuốc Bắc. Cao là thuốc nấu thành một dạng keo đặc, dẻo và mềm như cao
hổ cốt, cao khỉ; đơn là thuốc bán thành thang, về nhà phải sắc nấu; hoàn là loại
thuốc đã chế biến thành viên thuốc tể, nhỏ và đen như phân dê và cuối cùng là
tán, tức là thuốc dạng xay thành bột.
Hóa ra, thuốc Bắc lại được kết
nối với nỗi buồn. Tiếu lâm thật!
5. Xử lý thường kiệt. Thủ
trưởng đi công tác xa một thời gian. Anh thủ phó được cử làm thay. Công việc
này được gọi là xử lý thường vụ. Vì có hai từ “lý thường” làm cho ai đó liên tưởng
tới anh hùng phá Tống Lý Thường Kiệt. Để châm chọc anh chàng thủ phó “lên lon”
làm vì trong một thời gian ngắn bởi vì chỉ được giải quyết mấy cái sự vụ thường
thường, có kẻ ác miệng nói, "Cái đồ xử lý thường kiệt mà cũng
phách tấu! Được ba bữa nửa tháng là rớt cái đùng cho coi.”.
Thật là hóm hỉnh!
6. Đào hoa bạc
mệnh. Đào hoa là một ngôi sao trong tử vi, chỉ những người đàn ông được phụ
nữ thích. Người đào hoa thường có nhiều bồ bịch nhân tình. Tài hoa là tính từ
chỉ những người tài giỏi, xuất sắc hơn nhiều kẻ khác. Ngày trước, như trong
truyện Kiều chẳng hạn, cô Kiều tài hoa nên số phận gặp nhiều cay đắng, được gọi
là bạc mệnh. Nguyễn Du gọi là tài mệnh tương đố (tài với mệnh ghét nhau) như
trong câu thơ, "Tài tình chi lắm cho trời đất ghen". Đó
là tài hoa bạc mệnh. Nhiều thi nhân, họa sĩ, văn sĩ giỏi chết trẻ được gán
cho cái cụm từ này, ý nói ông trời ghét bỏ họ khiến họ yểu tử.
Còn anh chàng đào hoa thì đôi khi cũng đi đêm có
ngày gặp ma, bị vợ túm được, kìm kẹp lại, không cho thoải mái tự do. Châm chích
mấy anh chàng này, câu nói được biến thành, "Hi hi, đào hoa thì mệnh
bạc. Kêu ca chi!"
Hiện giờ cụm từ “đào
hoa bạc mệnh” được dùng khá nhiều với cái nghĩa mới: phụ nữ có nhan sắc mà
chết sớm, tức hồng nhan bạc mệnh.Vào Google, ta gặp khá nhiều kết quả.
7. Gỗ mục chấm
mắm nêm. Khi một ai đó làm một cái gì không ra hồn, không có hiệu quả, bạn
bè thường nói, "Rứa mà cũng gọi là làm. Làm chi cái đồ gỗ mục chấm mắm
nêm,"
Nguyên bản của câu này là "Gỗ mục làm
nêm". Muốn làm nêm các cái chốt ghế, bàn, giường,... người ta thường
sử dụng tre rất già, rất chắc. Có thế chúng mới không bị lỏng và rời ra, bàn ghế
mới bền bĩ lâu dài. Gỗ đã mục, đụng vào đã nát thì làm nêm sao được, Đúng là
làm cái chuyện cho có làm, không ra tật chi hết. Người Huế có lẽ vì thích ăn mắm
nêm nên trong dân gian mới có cái thành ngữ "Gỗ mục chấm mắm
nêm" khôi hài nói trên.
8. Tào lao xịt bộp. “Cuốn
sách mới nhất của nhà văn Lê Văn Nghĩa trình làng với cái nhan đề Tào lao
xịt bộp. Có người khẳng định cuốn sách có chủ đề châm biếm hài hước do cái nhan
đề rất “nhí nhố”, người khác lại cho rằng nhan đề sách kiểu như thế cũng chưa
chắc là sách vui “
Tra thử Google, người viết
tìm được đoạn văn trên. Người Huế xưa nay hay dùng cụm từ này với cái nghĩa là
không đâu vào đâu, không chính xác, không ích lợi gì. Ví dụ, “Mày rảnh
quá, đi phiêu linh tịnh độ, nói chuyện tào lao xịt bộp. Thật mất thì giờ.”
Theo hiểu biết của người viết,
cụm từ tào lao xịt bộp là cách nói trại của cụm từ “tam sao thất
bổn”, tức là sao đi chép lại ba lần thành ra 7 bản (khác với nguyên bản).
Những chuyện đã sai như thế thì không đáng nói, không đáng bàn, chỉ là những
chuyện vớ vẩn.
Cách hiểu này cũng
chỉ là một giải thích chủ quan. Mong rằng có bậc cao nhơn chỉ giáo.
Những cụm từ nói trên
bây giờ ít người dùng. Ngôn ngữ đã biến chuyển theo thời đại. Bạn Huế nào còn
nhớ cụm từ nào, xin đóng góp cho thêm phong phú.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét