Văn tế văn hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam
của Vũ Hoàng Chương
Đời chính trị lông hồng gieo núi Thái,
ngẩng đầu lên sấm sét
vẫn chưa nguôi;
Việc văn chương một tấc để ngàn thu,
ngoảnh mặt lại đá vàng
sao khỏi thẹn.
Muốn gào to hồn phách anh linh;
Để vọng khắp giang sơn tam biến.
Nhớ xưa tiên sinh:
Chào đời khi gió nổi Đông du;
Mài thép dưới trăng mờ Thế chiến.
Nghiệp truyền gia giáo,
thuở nhập môn từng đất Bắc vui quê;
Vai nặng quốc thù,
bước du học lại trời Tây vượt biển.
Rèn chí đấu tranh;
Đua tài hùng biện.
Chí khí ngày kia một kiên cường;
Tài năng ấy càng thêm phát triển.
Bao năm xuất ngoại, đã lưu tâm tại chỗ,
từng mưu lừa chước dối
thực dân;
Một sớm hồi hương, lại ngứa mắt trông ra,
cả tấn kịch trò hề
phong kiến.
Thi văn đoàn Tự lực thế tất phải xung phong;
Mà tuần báo Ngày nay phải kịp thời xuất hiện.
Vì dân vì nước đẩy mạnh phong trào;
Có chí có gan thiếu gì phương tiện.
Nào hia với hốt, phá cho tan trò hoạn lộ thanh vân;
Nay cấp mai bằng, cười đến tỉnh lũ thư sinh bạch diện.
Lấy văn đàn làm nơi bái tướng,
cờ phất dọc ngang;
cờ phất dọc ngang;
Giữa chính trường cao giọng lập ngôn,
bút mài sắc bén.
bút mài sắc bén.
Làm sống lại tinh thần Yên Bái,
nửa bước không lùi;
nửa bước không lùi;
Cuốn ào lên tâm huyết Quốc dân,
một dòng thẳng tiến.
một dòng thẳng tiến.
Bôn ba nơi hải ngoại, Hàng Châu, Quỳ Châu, Liễu Châu;
Đối lập mọi cường quyền, chống Pháp,
chống Cộng, chống Diệm.
Ai hay:
Gió gọi chưa lên;
Giờ nghe đã điểm.
Giữa cao trào Phật giáo,
để hoằng dương chính pháp,
lửa từ bi
vừa thượng tọa thiêu thân;
Nêu đại nghĩa Nho gia,
nhằm cảnh cáo độc tài,
chén tân khổ
cũng tiên sinh tuyên chiến.
Sét ngang tai, bạo lực thấy ghê hồn:
Trời cúi mặt, không gian chờ nảy điện.
Lửa Cách Mạng dâng về thư tuyệt mạng,
thôi rồi tay lãnh tụ!
Khắp các giới:
thức giả, bình dân, sinh viên,
đồng chí, cùng dạt dào tim vỡ máu
sôi;
Người Quay Tơ đành bỏ trống guồng tơ,
đâu nữa mặt kinh luân?
Cả bốn phương:
Cà Mau, Thuận Hóa, Bến Hải, Nam Quan,
nghe giục
giã sông dời núi chuyển.
Nhưng đau đớn thay:
Phút hạ huyệt súng gươm vây kín,
muôn dòng châu đứt nối chưa
tròn;
Buổi cầu siêu hương khói âm thầm,
bao tiếng khóc dở dang còn
nghẹn.
Mừng quốc gia vừa khắc bạo trừ hung;
Đẹp hy vọng sẽ hà thanh hải yến.
Dân chúng thủ đô hướng về tiên sinh:
Lễ Truy điệu mở đầu năm dương lịch,
chạnh tưởng cồn dâu bãi bể,
đốt hương lòng tỏa khắp mười phương;
Vườn Tao Đàn rung hết đợt âm giai,
trông ra ngọn cỏ lá cây,
hòa nước mắt vây quanh một chén.
Mong cảm tới tiên sinh;
Dám nề chi u hiển.
Hỡi ơi:
Tố Đoạn tuyệt thành hồ đoạn tịch,
mộng dẫu chơi vơi nửa cuộc,
sử còn thơm danh liệt sĩ Tường Tam;
Phượng Nhất Linh hề thiên nhất phương,
lầu tuy ngơ ngác bên
sông,
gió vẫn nổi tiếng văn hào họ Nguyễn.
(Sài Đô, 5-1-1964)
Vũ Hoàng Chương
Ghi chú:
1. Nguyễn Tường Tam (1906 - 7 tháng 7 năm 1963) là một
nhà văn, nhà báo với bút danh Nhất Linh, Tam Linh, Bảo Sơn, Lãng du, Tân Việt,
Đông Sơn (khi vẽ); và cũng là một chính trị gia nổi tiếng của Việt Nam trong thế
kỷ 20.
Ông là người thành lập Tự Lực văn đoàn và là cây bút chính của
nhóm, và từng là Chủ bút tờ tuần báo Phong Hóa, Ngày Nay. Về sau, ông còn là
người sáng lập Đại Việt Dân chính Đảng, từng làm Bí thư trưởng của Việt Nam Quốc
dân Đảng (khi Đại Việt Dân chính Đảng hợp nhất với Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại
Việt Quốc dân Đảng) và giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao trong Chính phủ Liên hiệp
Kháng chiến.
Sau 1954, Nhất Linh vào sống ở Đà Lạt. Ngày 7.7,1963 ông uống
thuốc độc tự tử để phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm đưa ông ra tòa xét xử về
âm mưu đảo chánh bất thành.
2. Vũ Hoàng Chương (1916 - 1976) là một thi sĩ nổi tiếng từ
những năm 40 của thế kỷ trước. Ông bỏ Sở hỏa xa đi học Cử nhân toán tại Hà Nội,
rồi lại bỏ dở để đi dạy ở Hải Phòng. Sau đó trở về Hà Nội lập "Ban kịch Hà
Nội" cùng Chu Ngọc và Nguyễn Bính. Năm 1942 đoàn kịch công diễn vở kịch
thơ Vân muội tại Nhà hát Lớn. Cũng năm đó ông gặp Đinh Thục Oanh, chị
ruột nhà thơ Đinh Hùng và hai người thành hôn năm 1944.
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông về Nam Định và
cho diễn vở kịch thơ Lên đường của Hoàng Cầm. Kháng chiến toàn quốc nổ
ra, Vũ Hoàng Chương tản cư cùng gia đình về Thái Bình, làm nghề dạy học. Đến
1950, gặp lúc quân Pháp càn đến ruồng bắt cả nhà, ông bỏ miền quê, hồi cư về Hà
Nội nơi dạy toán rồi chuyển sang dạy văn và làm nghề này cho đến 1975.
Năm 1954, Vũ Hoàng Chương di cư vào Nam, tiếp tục dạy học
và sáng tác ở Sài Gòn. Năm 1959 ông đoạt "Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc"
của Việt Nam Cộng hòa với tập thơ Hoa đăng. Thời gian 1969-1973 Vũ Hoàng
Chương là Chủ tịch Trung tâm Văn bút Việt Nam. Năm 1972 ông đoạt giải thưởng
văn chương toàn quốc lần thứ hai. Ông còn được vinh danh là "Thi bá" Việt Nam.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét