Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2026

Khi văn chương tấn công văn hóa bản địa

Khi văn chương tấn công văn hóa bản địa…

Người viết sử - Truyện ngắn của Nguyễn Trường, lần đầu tiên đề cập đến hậu quả của tác phẩm văn học.

Truyện đăng trang 38, Báo Văn Nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam số 3314+3315 ra ngày 02/9/2023. Để đi vào khảo sát truyện ngắn này, mời độc giả đọc toàn bộ nội dung truyện .

Bỏ qua đoạn đầu truyện, tác giả hư cấu cô gái tuổi dậy thì, bị lý tưởng và tài hoa của người tù chính trị chinh phục con tim trong trắng thơ ngây. Cô là con gái một công chức làm việc cho Thực dân Pháp ở Côn Đảo. Người cha đã làm mọi cách để đưa người tù chính trị hoạt động trong tổ chức chống Thực dân Pháp có văn hay chữ tốt võ công thâm hậu về dạy con gái một của mình. Người tù đa tài này là nhà văn yêu nước Thành Ngọc. Mãi theo sự nghiệp cứu nước của mình, anh hy sinh tình cảm riêng, không nhận mối tình đầu trong trắng thơ ngây của cô học trò xinh đẹp nhất đảo.

Dùng con thuyền tình yêu chở văn chương là thủ pháp mà hầu hết các tác phẩm của Nhà văn Nguyễn Trường sử dụng, tạo nên sự hấp dẫn của những câu chuyện không có chủ đề chính về yêu đương.

Chúng ta đi vào phần chính của truyện ngắn. Đó là lúc tác giả hư cấu cho giấc mơ nhà văn hiện thời (Nguyễn Trường) trò chuyện với nhà văn quá khứ (Thành Ngọc).

Thành Ngọc đánh giá cách sử dụng tư liệu của nhà Nguyễn Trường trong các tác phẩm: “dù có sắp xếp, có hư cấu nhưng không thay đổi bản chất sự việc đã xảy ra”.

Thành Ngọc muốn nhờ nhà văn Nguyễn Trường đính chính lại các tác phẩm mình viết “Núi chúa là gì; Sự tích bà cậu Côn Lôn”... “ở dạng nghiên cứu lịch sử, nhưng vì có máu văn chương nên hư cấu ít nhiều và để câu chuyện đi vào lòng độc giả, anh chọn góc nhìn duy tình để viết về lịch sử, là điều cấm kỵ…”. “Xuất phát từ lòng yêu nước, căm thù bọn Pháp xâm lược”, Thành Ngọc hư cấu “Nguyễn Ánh chạy ra Côn Đảo, vua đóng trên đỉnh núi cao, cho khắc bàn cờ trên hòn đá để đánh cờ giải khuây với bộ hạ”. Hư cấu bà Phi Yến (thứ phi) của Nguyễn Ánh can chồng không đưa con (Hoàng tử Hội An) theo Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện. Gia Long “nổi giận cho rằng Phi Yến thông đồng với Tây Sơn, bắt xử tử bà, may có đô đốc Ngọc Lân cầu xin, nhà vua mới bớt giận cho giam Phi Yến vào hang đá bên kia Sở Đầm. Nghe tin quân Tây Sơn đang kéo ra đảo, nhà vua hạ lệnh lên đường...”. “Dọc đường hoàng tử Hội An không thấy mẹ, kêu khóc. Nhà vua nóng giận, ném hoàng tử xuống biển. Chuyện còn có chi tiết con báo đen và con vượn trắng là hai con vật được mẹ con Phi Yến nuôi nên rất trung thành đã cứu bà Phi Yến ra khỏi hang đá và tìm xác hoàng tử chôn ở chân núi Cỏ Ống. Còn bà Phi Yến ở lại với dân làng Cỏ Ống, làm  nhiều việc thiện giúp dân, khắp vùng ai cũng quý mến bà. Tên Biện Thi thấy bà có nhan sắc, nửa đêm lẻn đến định giở trò sàm sở. Bà tri hô, dân làng bắt tên Biện Thi xử trảm. Nhưng bà Phi Yến cũng cho rằng thân mình bị ô uế nên gheo mình xuống biển tự trầm. Bà Phi Yến trở thành tấm gương yêu nước. Còn Nguyễn Ánh bị người đời nguyền rủa vì “Cõng rắn cắn gà nhà”, là người cha ác độc, mất nhân tính. Để bài viết có tính thuyết phục, anh đã dùng hai câu ca dao cổ để gán ghép vào hoàn cảnh của mẹ con bà Phi Yến. Muốn thế bà Phi Yến còn có tên là Răm, Hoàng tử Hội An có tên là Cải mới hợp với câu ca dao: “Gió đưa cây cải về trời/ Rau răm ở lại chịu đời đắng cay”.

Người dân đọc những chi tiết duy tình, họ tin các bài báo của Nhà văn Thành Ngọc và bỏ qua sự thật lịch sử vì nó khô khan và đi ngược lại với các bài báo đó.

Hậu quả xã hội là do nhà văn Thành Ngọc bẻ công sự thật lịch sử: “người đời sau lại dùng nó để toan tính thay đổi lịch sử”.

Về nghệ thuật “người ta dựa vào truyện của (Nhà văn Thành Ngọc) “dựng vở cải lương “Mẹ hiền con thảo”, lâm ly, lấy không biết bao nhiêu nước mắt của khán giả”.

Về địa lý, đã thay đổi tên các địa danh sai bản chất: “bài báo đã có tác dụng ghi địa danh ở Côn Đảo, nơi Nguyễn Ánh đánh cờ thành Núi Chúa (Nguyễn), dãy núi bên kia Sở Đầm gọi là Núi Bà (Phi Yến)”.

“Đến năm 1958, Trưởng ty Ngân khố Côn Sơn, đã cho dựng lên ngôi miếu trên nền miếu thờ “Thánh Mẫu Thiên Hậu” là vị thần biển trong tín ngưỡng dân gian”.

Bài báo đã thay đổi tín ngưỡng dân gian, làm sai lạc công năng đền đài. Miếu thờ “Thánh Mẫu Thiên Hậu thành “miếu thờ bà Phi Yến, và miếu thờ hoàng tử Hội An, ngày nay được hiểu như là sự thật”.

Quản lý Nhà nước vốn phải tuân theo khoa học và tôn trọng sự thật cũng bị nhầm lẫn: “An Sơn Miếu được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu ký công nhận Di tích lịch sử văn hóa. Rồi Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch đưa Lễ giỗ bà Phi Yến vào danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia, hàng năm cứ đến ngày 18 tháng 10 âm lịch địa phương tổ chức cúng tế rất linh đình...” Các nhà khoa học phản đối, phải rút lại quyết định; nhưng không thể nào thay đổi lòng tin của người dân. Tai họa là chính quyền địa phương mất uy tín vì người dân không tin rút lại quyết định là đúng và các nhà khoa học lại cho rằng cán bộ quản lý văn hóa thiếu kiến thức văn hóa; nghĩa là thua đơn, thiệt kép.

Một quả bom nhỏ bằng chất TNT nổ sẽ kích hoạt các nguyên tử uranium-235 bao quanh nó phản ứng dây chuyền tạo nên vụ nổ bom nguyên tử. Nhưng có một xác suất rất nhỏ gần bằng 0%, phản ứng dây chuyền tiếp tục để phá hủy toàn bộ trái đất.

Nếu xem tinh thần những người yêu nước là những nguyên tử uranium-235 tích tụ về Côn Đảo được nhà văn Thành Ngọc kích hoạt quả bom văn chương nổ, biến tinh thần yêu nước thành phản ứng dây chuyền, sức công phá của quả bom nguyên tử mang tên phản văn hóa, tuy rất chậm, lan tỏa trong 3 chiều không gian và theo thời gian tạo ra hậu quả về văn hóa: tiêu diệt gần hết sự thật, làm thay đổi một phần văn hóa bản địa. Nhà văn Nguyễn Trường đã sáng tạo ra mô hình này để kêu gọi lương tri và trách nhiệm công dân, trách nhiệm với văn hóa bản địa của các nhà văn, quyết không bóp méo lịch sử vì bất cứ lý do nào. Đó là chủ đề bao quát truyện ngắn.

Dân là người, ai cũng muốn nghe và dễ tin vào chuyện bạc vàng châu báu. Để có thêm sức mạnh thuyết phục, nhà văn Thành Ngọc đã hư cấu: “Chúa Nguyễn Ánh bèn tạm chôn một số vàng và ngọc ngà châu báu để lại trên đỉnh núi Chúa rồi tức tốc cùng đám tùy tùng đem cung quyến xuống mấy chiếc thuyền chạy ra đảo Phú Quốc”.

Chính đoạn văn trên mà hết chúa đảo này đến chúa đảo khác ra sức tra tấn tù nhân chính trị nhà văn Thành Ngọc với tất cả các hình thức dã man nhất của nhà tù Côn Đảo để tìm ra bí mật nơi chôn dấu vàng. Chứng cứ rõ ràng: Thành Ngọc đã viết về việc này, đương nhiên phải biết rõ nơi chôn cất vàng.

Xưa nay, các nhà văn nổi tiếng thường được bỏ đi những tác phẩm xoàng và những việc làm dại dột trong đời, chỉ để lại trong sự nghiệp một vài tác phẩm để vinh danh.

Nhà văn Nguyễn Trường chỉ ra không có luật miễn trừ đối với nhà văn về trách nhiệm tác phẩm của mình nếu gây ra hậu quả xã hội. Đây là chủ đề thứ hai cũng là phát hiện thứ hai có giá trị cống hiến cho lý luận văn học qua tác phẩm văn học.

Do quy luật văn hóa cuối cùng sẽ thắng phản văn hóa. Nhưng chiến thắng sau cùng đòi hỏi phải có độ lùi thời gian để thẩm định, gạn đục khơi trong. Trong ngắn hạn trước mắt, các tác phẩm văn chương phản văn hóa lan tỏa nhanh, có sức mạnh tức thời, được chào đón, tung hô thậm chí được trao thưởng. Sau vài năm hoặc vài chục năm, nó đột ngột biến mất như đại dịch do vius gây ra.

Nhà văn Thành Ngọc với các tác phẩm “Núi chúa là gì; Sự tích bà cậu Côn Lôn”... là văn chương phản văn hóa và nó đang ở thế thắng trong gần thế kỷ nay.

“Người viết sử” cùng với ý kiến của các nhà khoa học không chỉ có giá trị thẩm định mà nó bắt đầu cho quá trình đưa sự thật trở lại bằng quyết định sửa sai của chính quyền. Sẽ mất nhiều thời gian với sự đấu tranh bền bỉ của những nhà văn văn hóa và các nhà văn hóa, chiến thắng của văn hóa về vấn đề này mới xác lập như “hai câu đối ở hai bên tran thờ, chữ màu đen trên các ô hình tròn nền màu vàng đã cũ:

“THÁNH đức sánh THIÊN yên lành Hải quốc

MẪU nghi xứng HẬU ơn giúp Côn bang” vẫn còn.

Nguyễn Trường đã chỉ ra con đường phát triển khó khăn của văn hóa và chiến thắng cuối cùng với phản văn hóa là đương nhiên. Chính nhà văn đã góp phần đấu tranh với các tác phẩm văn chương phản văn hóa.

Nó cho thấy trách nhiệm văn hóa của nhà văn và trách nhiệm của giới khoa học văn hóa với việc thẩm định, chỉ ra được các tác phẩm văn học phản văn hóa để độc giả cảnh giác với loại vius có sức mạnh gây đại dịch văn hóa nhằm chữa trị khi nó chưa kịp lây lan.

Đó là chủ đề thứ 3 của truyện ngắn.

“Người viết sử” là truyện ngắn đa chủ đề, trong chủ đề lớn: sức mạnh của văn học phản văn hóa khi nó được cư dân bản địa đón nhận và trở thành một phần tín ngưỡng dân gian bản địa.

Truyện ngắn có 4 góc nhìn:

Hương, người con gái trong sáng đại diện cho góc nhìn duy tình của cư dân bản địa.

- Nhà văn Thành Ngọc, do bất chấp tất cả để đạt được mục đích cuối cùng mà nhà văn nhận thức là cao cả đã sản sinh ra góc nhìn phản văn hóa. Được cư dân bản địa tin chỉ vì mục đích cuối cùng của nhà văn là cao cả, hợp lòng dân.

 - Nhà văn Nguyễn Trường, cùng các chuyên gia lịch sử và văn hóa, có góc nhìn văn hóa nên góp phần chống lại phản văn hóa.

Truyện vừa sử dụng bút pháp hiện thực huyền ảo, vừa sử dụng bút pháp sử dụng tối đa tư liệu lịch sử, nguyên mẫu có thật và các sự việc có thật theo phương cách hư cấu tối thiểu... Lần đầu tiên tôi đọc tác phẩm dùng các thủ pháp đối nghịch, đan xen nhau nhuần nhuyễn và không triệt tiêu nhau, lại bổ sung cho nhau.

Do đó tôi tạm định nghĩa theo thuật ngữ tư duy: thủ pháp đa góc nhìn hay còn gọi là thủ pháp phản biện.

Với những gì đã phân tích ở trên, có thể kết lại: truyện ngắn đã cống hiến cho cả văn học và văn hóa bản địa Côn Đảo.

Sài Gòn, 3/11/2023
Lê Thanh Huệ

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Nỗi niềm suy tư, trăn trở về con người và thế sự trong Sóng đời

Nỗi niềm suy tư, trăn trở về con người
và thế sự trong Sóng đời

(Nhân đọc tập thơ Sóng đời của Trần Ngọc Phượng, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2023)

Sóng đời là tập thơ thứ 5 của nhà thơ Trần Ngọc Phượng. Tập thơ tập hợp hầu hết những bài thơ của anh viết từ những năm tháng tuổi trẻ, tham gia chiến đấu ở chiến trường cho đến những bài thơ sáng tác rải rác sau đó và cả những bài thơ anh viết trong thời gian gần đây. Có thể xem Sóng đời như bản nhật ký về hành trình sống, hành trình cuộc đời vô cùng phong phú, đa sắc màu của Trần Ngọc Phượng. Ở đó mọi ký ức, niềm vui, nỗi buồn được nhà thơ giãi bày một cách chân thành, hồn hậu. Bản lĩnh, cốt cách của một người lính đã hun đúc nên một con người sống có tình cảm, có tinh thần ý thức trách nhiệm công dân. Điều này được thể hiện rõ nét và xuyên suốt trong cả tập thơ.

Sóng đời gồm 156 bài thơ và chia làm 3 phần:

Phần 1: Dòng sông quê hương (48 bài).

Phần 2: Ký ức (48 bài).            

Phần 3: Dốc chiều (60 bài).

Việc chia bố cục tập thơ làm 3 phần như thế là có dụng ý của nhà thơ Trần Ngọc Phượng. Đó là sự sắp xếp theo lôgic và theo dòng hoài niệm, sự liên tưởng trong cái nhìn đa chiều của nhà thơ.

Dòng sông quê hương, nơi Trần Ngọc Phượng đã một thời tuổi thơ tắm mát, nơi cất giữ nhiều kỷ niệm đẹp của thuở thiếu thời. Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, Trần Ngọc Phượng phải chào tạm biệt “dòng sông” để vào Nam làm nhiệm vụ. Con sông chảy qua một thời gian khó/ Ấm áp tình thương ngôi nhà đầu phố/ Sóng nào dìu tôi qua sông vượt lũ/ Đò nào đưa tôi ra đi từ đó.

Từ biệt dòng sông quê hương vào Nam chiến đấu với bao nhiêu ký ức về quê hương và cả những tháng ngày gian khó, cam go ở chiến trường miền Đông. Đất nước hòa bình, ở vào tuổi xế chiều (theo cách nói đầy ám gợi của Trần Ngọc Phượng là ở “dốc chiều”) của đời mình, nhà thơ lại “trở về dòng sông xưa” để “tìm lại quãng đường trai trẻ”. Lòng lại rưng rưng nhớ một thời đã qua, ngẫm ngợi về cái được mất của quá khứ và cả hiện tại trong nỗi niềm day dứt, trăn trở, suy tư.Bến bờ neo cuối đời/ Cũng bên bồi bên lở/ Cay đắng và ngọt bùi/ Là tình đời muôn thủa.

Nam Định là nơi mà Trần Ngọc Phượng có những năm tháng tuổi thơ, lớn lên và học hành ở đó. Vì thế, hình ảnh của đất và người quê hương Thành Nam luôn hiện diện trong tâm thức của nhà thơ. Chính mảnh đất này đã trở thành cội nguồn sinh dưỡng, chỗ dựa tinh thần vững chắc để cho Trần Ngọc Phượng vững tâm sống, chiến đấu, làm việc cho đến ngày hôm nay. Vì thế dù có đi đâu, làm gì, dù có rời xa “chốn cũ” nhưng tận trong sâu thẳm tâm can anh vẫn luôn hướng về nơi đóbằng một tình cảm thân thương đến lạ. Nhà thơ nhớ tất cả hình ảnh quê nhà với từng con người, cảnh vật, góc phố, con sông, cánh đồng...

Nam Định những phố xưa/ Trải dài theo nỗi nhớ/ Len lỏi vào giấc mơ/ Nỗi lòng người xa xứ// Hàng Nâu liền Hàng Bát/ Hàng Mâm nối Hàng Song/ Đi học qua Hàng Cót/ Vào chợ qua Hàng Đồng/... Tuổi trẻ sống vô tư/ Thả diều nơi Gốc Mít/ Tập bơi hồ La Két/ Đá bóng sân Khoái Đồng// Thành phố như bàn tay/ Ta ấp vào lồng ngực/ Đường phố như chỉ tay/ Dọc ngang trong ký ức (Nam Định những phố xưa).

Chính vì lẽ đó mà Trần Ngọc Phượng có nhiều bài thơ nhắc đến tên đất, tên làng và những gì có liên quan đến Thành Nam:Sông Đào, Chiều đông phố quê, Viếng mộ cụ Tú, Ký ức sông Đào, Bến xưa, Bên hồ Vị Xuyên, Trở lại trường xưa, Tiếng vọng Thành Nam, Dệt xưa, Đâu chỉ có thế thôi, Đêm tháng Bảy...

Đặc biệt là những người thân yêu của anh, nhất là hình ảnh người bà, người cha, người mẹ, người chị, người em... Trong hành trình làm người, khi đã ý thức được sự yêu thương, mối quan hệ ruột rà, máu mủ thì nhà thơ chưa bao giờ nguôi quên đến họ. Để rồi, khi đã đi qua bao dâu bể, sương gió của cõi người Trần Ngọc Phượng lại càng trân quý, càng yêu thương hơn gấp bội phần. Tiếc rằng, tuổi thanh xuân phải đi chiến đấu, nên anh không có thời gian, không có điều kiện để chăm sóc cho Cha và những người ruột thịt của mình. Để giờ đây anh cảm thấy như mình có lỗi, cảm thấy hụt hẫng, ăn năn. Hình ảnh “Nơi bậu cửa Cha ngồi” đã ăn sâu vào tiềm thức của đứa con xa quê như anh. Vì thế, khi trở về quê cũ, việc đầu tiên là Trần Ngọc Phượng “tìm lại” ngôi nhà xưa với bao nhiêu ký ức của cả gia đình gắn liền ở đó.Con về quê/ Tìm lại ngôi nhà xưa/ Nơi bậu cửa/ Cha ngồi/ Chờ đàn con trốn nhà, đi bơi, đá bóng/ Ba ngồi lặng yên/ Trong buổi chiều ảm đạm/ Chúng con về/ Len lét sợ đòn roi/ Bữa cơm nghèo/ Cha chống đũa nhìn/ Những đứa con vô tư/ Khua nồi vét đĩa/ Mẹ ra đi khi ba còn trẻ/ Một mình ba gà trống nuôi con/ Ăn học nên người/ Ba nhìn đâu, về phía chân trời/ Nơi ấy một thời khá giả/ Nơi ấy con ra đi/ mười năm trời,/ Ba ngồi chờ đợi/ Đón con về/ Mấy tấm huân chương/ Ba lô rỗng tuếch/ Ba thắp nén nhang lên bàn thờ Mẹ/ Mừng đứa con từ cõi chết trở về/ Ba nói cứ vui đi/ Mặc đời đói nghèo tem phiếu thiếu ăn/ Chúng con ăn năn/ Chưa lo cho Ba được phút giây thanh thản/ Cả đời người chìm nổi trầm luân/ Trong xã hội một thời binh đao khói lửa/ Người ra đi/ Nước nhà vẫn còn nghèo khổ/ Nhưng an lòng/ Với bốn đứa con/ Nên người tử tế/ Trong đất nước cựa mình đổi thịt thay da/ Nén nhang này/ Con xin tạ lỗi/ Với đất trời/ Với cả Mẹ con/ Mâm cúng đủ đầy/ Cháu con đủ mặt/ Mà lòng sao quặn thắt vô cùng/ Cha Mẹ hãy về phù hộ cháu con.

Biểu tượng quê hương, dòng sông, con đường, thời gian, đêm, ngày, tháng... trong Sóng đời của Trần Ngọc Phượng được dùng với tần số dày đặc. Đó cũng là cách để nhà thơ chuyển tải được hết những cung bậc cảm xúc, ký gửi tất cả những nỗi niềm của bản thân về con người, cuộc đời và thời cuộc.

10 năm trực tiếp tham gia chiến đấu ở chiến trường, tham gia nhiều trận chiến, đi đến nhiều nơi, gặp rất nhiều người, qua nhiều vùng đất, chứng kiến không biết bao cảnh tượng bi hùng... Nhưng có lẽ ám ảnh nhất đối với Trần Ngọc Phượng là sự hy sinh của những người đồng chí, đồng đội.

Trần Ngọc Phượng nhớ tất cả từ khi mình bước chân vào Nam cho đến lúc đất nước hoàn toàn độc lập: anh đi những đâu, làm những gì, gặp những ai... và cả những băn khoăn, trăn trở, day dứt, xót thương về những điều đã xảy ra, những thứ đang hiện hữu ở hiện tại. Tất cả được anh ghi lại rất cụ thể, chi tiết bằng những lời tâm tình rất đỗi tự nhiên, lối nói nhẹ nhàng, chững chạc nhưng cũng rất dứt khoát, chân tình.

Ký ức Mậu Thân, Ngã ba Cây Cầy, Bên nấm mộ vô danh, Mười cô gái ngã ba Đồng Lộc, Cái ba lô con cóc, Chiều núi Ông, Sốt rét, Đêm mưa, Tiền phương, Anh báo vụ, Đứng gác đêm trăng, Tháng Tư Long Khánh, Họp mặt sư đoàn, Bến không chồng, Chiều nghĩa trang Trường Sơn, Gió tháng Tư, Trận địa bến sông, Bà Rịa thân thương, Cảm xúc tháng Tư, Dọc đường miền Trung, Lời thề ấy đi cả đời chưa trọn...

Là người sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh, từng là một người lính trực tiếp tham gia chiến đấu ở chiến trường nên nhà thơ càng thấu rõ những gian khó, vất vả, thiệt thòi. Trong những lúc khó khăn nhất, nguy hiểm nhất, cái chết cận kề nhưng không thể làm cho anh chùn bước. Niềm tin và ý thức của một người lính bộ đội cụ Hồ đã tiếp cho anh sức mạnh. Giữa mưa bom, bão đạn những đồng chí, đồng đội của anh có người đã hy sinh không kịp nói lời từ biệt. Chứng kiến những cảnh bi thương ấy làm cho Trần Ngọc Phượng không khỏi day dứt, nghẹn ngào.Có những bài thơ anh chép vào nhật ký mà cho đến tận bây giờ anh vẫn còn cất giữ. Nhà thơ xem đó là những kỉ vật của đời mình.

Khóc bạn là bài thơ Trần Ngọc Phượng viết cho Dũng, người bạn, người đồng chí thân yêu đã hy sinh cạnh mình trong trận chống càn vào tháng 6/1968 tại Bảo Bình, Long Khánh bằng tiếng khóc nấc nghẹn.

Dũng chết rồi, Dũng không còn nữa/ Tim không đập và ngực không còn thở/ Dũng chết rồi có phải thật không?/ Nét mặt đây máu vẫn tươi hồng/ Mắt nhắm lại hiền lành như giấc ngủ/ Ta bàng hoàng không sao tin được/ Dũng bỏ mình đi không nói đến một lời/ Hỡi bạn quê hương thương mến ơi/ Ta sống với nhau mấy mùa mưa nắng/ Bom đạn quanh mình sống chết vào ra/ Mà nay đành phải cách xa/ Quân thù đã giết bạn ta mất rồi/ Máu xương đồng chí ta ơi!/ Xót xa căm giận sục sôi trong lòng... // Chỉ còn đây nấm mộ đắp cao/ Chỉ còn đây mảnh đất này Long Khánh/ Mà năm tháng là tình sâu nghĩa nặng/ In dấu chân ta sương gió mấy mùa/ Thấm máu anh em mình vì độc lập tự do/ Ta lao tới quân thù/ Đuổi không còn tên xâm lược/ Đất nâng chân ta đất nóng bỏng căm hờn/ Đau thương không làm ta rơi nước mắt/ Món nợ này không thể nào quên...

Khóc bạn là một trong số những bài thơ cảm động viết về người đồng chí, đồng đội của của Trần Ngọc Phượng đã đi qua bao gian khó, vất vả và cả những hy sinh mất mát. Đây là những tình cảm thật, được viết ra bởi một con người đã từng đi qua hoàn cảnh khốc liệt của chiến tranh. Nỗi đau ấy vẫn dai dẳng, đau đáu khôn nguôi cho đến thời hậu chiến. Bởi chiến tranh là đi kèm với đau thương và chết chóc. Cái chết không từ một ai, mới vừa gặp nhau nói cười đó thì cũng có thể ra đi vĩnh viễn.

Đọc bài Lời mẹ, bất giác tim tôi lại nhói đau, cay cay nơi khóe mắt vì xúc động.

Cha con/ Hy sinh ở Điện Biên/ Lịch sử đã kết thành hoa đỏ// Anh con/ Bỏ mình nơi Thành Cổ/ Thạch Hãn/ Hè về/ Hoa phượng rãi đầy sông// Con ngã xuống/ Nơi biên cương/ Đánh bọn giặc ác như thú dữ/ Chúng lẻn vào nửa đêm/ Lúc cụ già trẻ con đang ngủ/ Giết người cướp của dã man/ Khi đất nước/ Ngàn cân treo sợi tóc/ Máu xương con/ Gìn giữ nươc non này!// Đừng buồn con ơi/ Nếu kỷ niệm hôm nay/ Đất trời còn im ắng/ Hương khói bay/ Trong lòng người im lặng/ Lịch sử công bằng không thể nào quên/ Dòng chảy bốn ngàn năm/ Không bao giờ tắc nghẽn!

Nhưng chính nhờ những hy sinh lớn lao của nhiều đồng chí, đồng đội ở khắp các chiến trường đã tạo nên bước ngoặt cho cuộc Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 và đi đến đại thắng mùa xuân 1975, mở ra một trang sử mới đầy vẻ vang cho lịch sử nước nhà.

Đất nước hòa bình, người cựu binh năm nào may mắn trở về vỡ òa trong niềm hạnh phúc tột cùng. Được gặp lại bạn bè, người thân, đồng chí, đồng đội của mình sau bao nhiêu năm xa cách. Gặp lại người đồng đội cũ sau 50 năm xa cách, Trần Ngọc Phượng không giấu được sự vui mừng, xúc động: Năm mươi năm, mới gặp nhau/ Chúng mình giờ đã bạc đầu gió sương/ Bên nhau ôn chuyện chiến trường/ Một thời gian khó, bão giông hiện về/.../ Dấu chân trên đất Thủ Biên/ Vượt qua Sông Bé đường lên Cây Cầy/ Dốc Năm Cua tựa khuỷu tay/ Bao nhiêu đồng đội đến nay không về// Em cười đôi mắt đỏ hoe/ Cảm ơn trời đất chở che đến giờ/ Cứ an nhiên sống như xưa/ Mặc nhìn chiếc lá vật vờ cuối thu (Gặp em vào buổi thu tàn).

Với một người lính như Trần Ngọc Phượng, anh cho rằng những năm tháng ở chiến trường đó là những năm tháng không thể nào quên. Bởi ở đó gắn liền với bao kỷ niệm, mà mỗi lần nhắc đến lòng lại rưng rưng:

Có thể nào anh lại quên em/ Như quên đi một thời trai trẻ/ Kỷ niệm xưa như bông hoa mới hé/ Cả đời ta chưa khép lại bao giờ/ Em nhớ không buổi tối mùa mưa/ Anh lội qua những hố bom chi chít/ Để được nghe giọng em tha thiết/ Tiếng quê hương giữa đất miền Đông/ Anh thương em giữa chiến trường ác liệt/ Mong manh sao phận gái thân gầy/ Giữa muỗi vắt bom mìn sốt rét/ Em làm sao trụ nổi nơi này/ Mới gặp nhau đã vội chia tay/ Anh xa em đi về phía trước/ Em ở lại nơi đầy quân Mỹ Úc/ Bám trụ ngày đêm chăm sóc thương binh/ Thư gửi nhau thấm máu giao liên/ Vượt lộ băng rừng qua sông qua suối/ Lá thư nào gửi anh em cũng hỏi/ Anh còn sống không ráng đợi ngày về/ Giải phóng rồi không tìm thấy em tôi/ Thư anh gửi như lời hẹn ước/ Khi gặp nhau mái đầu tóc bạc/ Mắt lệ rơi trên trang giấy nhạt nhòa... (Có thể nào quên).

Trở về sau chiến tranh, sống trong những năm tháng đất nước hòa bình, độc lập nhà thơ có điều kiện đi đến nhiều nơi trên dải đất cong cong như hình chữ S này. Dấu chân Trần Ngọc Phượng đã in dấu trên mọi miền đất nước, từ địa đầu phía Bắc - Lũng Cú đến cực Nam -  Mũi Cà Mau. Là người tinh tế, nhạy cảm nên nơi nào anh đi qua cũng đều để lại những dấu ấn riêng. Điều này được Trần Ngọc Phượng ghi lại bằng những bài thơ cụ thể ở từng vùng đất mà anh đã đến như: Lũng Cú, Từ tận cùng chữ S, Nụ cười Thành Cổ, Hòn Chồng, Du lịch Đắc Lắk, Tết Đà Lạt, Hải Đăng Kê Gà, Cà Ná, Về quê em, Cà Mau...

Sau Đại thắng mùa xuân 1975 cho đến hôm nay, trong các dịp lễ, tết, các ngày kỷ niệm lớn Trần Ngọc Phượng có dịp “về nguồn” và gặp lại những người đồng đội, đồng chí của mình. Về thăm nghĩa trang Trường Sơn, về Thành Cổ Quảng Trị, về Ngã ba Đồng Lộc, Long Khánh, Bà Rịa...Rồi những buổi họp mặt Sư đoàn, họp mặt cuối năm, những buổi cà phê, trà lá... Niềm vui xen lẫn nỗi buồn, vui vì thấy mình may mắn còn sống, được sống hạnh phúc bên gia đình, vợ con, cháu chắt; vui vì được gặp mặt những người bạn một thời vào sinh ra tử để hàn huyên trò chuyện; nhưng bên cạnh đó còn rất nhiều nỗi buồn len lỏi tạo nên những nỗi day dứt khôn nguôi. Những người đồng chí đồng đội, sau mấy mươi năm vẫn chưa tìm được hài cốt; những người may mắn còn sống trở về có người lại sống trong bệnh tật do di chứng của chiến tranh và khó khăn vào tuổi xế chiều; họp mặt mỗi năm điểm danh lại thiếu vắng... Bên cạnh đó, nhà thơ còn mang một nỗi buồn lớn đó là phải đối mặt với nhiều bất trắc của thời hiện tại mà anh đang sống.

Quá khứ đồng hiện cùng với hiện tại và cả những dự cảm về tương lai trở thành thủ pháp nghệ thuật chủ đạo trong thơ Trần Ngọc Phượng. Đó không chỉ là sự nhắc nhớ, lòng biết ơn sâu sắc với quá khứ, biết quý trọng hiện tại và sống có lý tưởng, trách nhiệm với tương lai.

Sài Gòn chính là mảnh đất chôn nhau cắt rốn của nhà thơ Trần Ngọc Phượng và sau chiến tranh nhà thơ đã sống và gắn bó sâu nặng với thành phố này. Vì thế, trong Cõi đời, Trần Ngọc Phượng dành những vần thơ da diết nhất để “tâm tình” với Sài Gòn: Em là Sài Gòn đấy anh ơi, Đêm Sài Gòn, Cà phê Sài Gòn, Hẻm nhỏ phố tôi, Bên dòng kênh Nhiêu Lộc, Thơ phố, Cà phê Dinh, Đường hoa, Tháng Tư chống Covid...

Với Trần Ngọc Phượng, Sài Gòn là mảnh đất giàu nghĩa tình và bao dung, người Sài Gòn hào sảng, luôn mở rộng vòng tay chào đón tất cả bằng tình thương mến, sẻ chia. Vì thế, tận trong sâu thẳm con tim mình anh tự hào mình là người Sài Gòn, được làm người Sài Gòn. Sài Gòn đây/ Đất lành chim đậu/ Anh sinh ra/ Biền biệt bốn phương trời/ Cái vầng sáng bồn chồn thương nhớ/ Gọi anh về nơi cắt rốn chôn nhau/ Đến bây giờ tóc trắng bạc đầu/ Vẫn muốn hỏi/ Mình Sài Gòn chưa nhỉ? (Em là Sài Gòn đấy anh ơi!).

Yêu Sài Gòn, tự hào về Sài Gòn nên nhà thơ luôn dõi theo và quan tâm đến những đổi thay của thành phố thân yêu. Ấn tượng và thiết thực nhất là việc giải tỏa những ngôi nhà ổ chuột, cải tạo dòng kênh ô nhiễm, đem lại môi trường trong lành cho thành phố: Hơn bốn mươi năm rồi/ Em ơi còn nhớ/ Con kênh đen giữa lòng thành phố/ Bạt ngàn những túp lều khốn khổ/ Chông chênh mấy cột cây/ Ngập tràn rác rưởi/ Anh ngỏ lời đến thăm/ thương mắt em bối rối/ Cái “ổ chuột” này đây sao dám gọi là nhà/.../ Tháng năm nào quên/ Một thời ngụp lặn/ Tuổi trẻ ta ngâm mình nạo vét/ Con cái ta/ Thiết kế dựng xây./ Con kênh giờ in bóng hàng cây/ Đàn cá về tung tăng bơi lội (Bên dòng kênh Nhiêu Lộc); Chiều nay bên dòng kênh Nhiêu Lộc/ Dòng nước xanh in bóng hàng cây (Gió tháng Tư).

Gia đình là chỗ dựa vững chắc nhất đối với nhà thơ Trần Ngọc Phượng. Vì thế lúc còn nhỏ, đến khi trưởng thành, lập gia đình và cả khi về già nhà thơ vẫn luôn dành tình cảm đặc biệt với tất cả những người ruột thịt. Ngoài tình cảm thiêng liêng dành cho ông bà, cha mẹ, anh, chị, em thì Trần Ngọc Phượng vẫn dành tình cảm ấm áp, sự quan tâm chở che dành cho vợ và con cháu của mình (Tặng vợ, Gửi con, Nắng và Gió, Thiên thần bé nhỏ...).

Nhà thơ tự ý thức được chính mình, khi đã ở vào cái tuổi gần về “cuối dốc”.Rồi đây về cuối con đường/ Nắng chiều sắp tắt, khói hương sắp nhòa/ Rồi đây còn chót tuổi già/ Cứ mơ trăng gió như là còn xuân/ Rồi đây rệu rã bước chân/ Cứ vui những lúc quây quần bên nhau/ Rồi đây sóng cả, sông sâu/ Cứ thơ lục bát bắc cầu mà đi/ Rồi đây đời lắm thị phi/ Cứ quên như chẳng cần gì mang theo/ Tháng năm còn được bao nhiêu? Xin đừng hiu hắt liêu xiêu cuối đời (Rồi đây).

Gặp lại người đồng đội cũ với những mảnh đời khác nhau. Có người may mắn có cuộc sống hạnh phúc bên gia đình, con cháu. Nhưng cũng có những đồng đội có hoàn cảnh khó khăn, cảnh ngộ đáng buồn như câu chuyện mà nhà thơ chuyển tải trong bài thơ Chuyện của DèMười năm là chiến sĩ thông tin/ Quen trèo dừa nên giỏi mắc ăng ten/ Lo đánh giặc đâm ra ít học/ Chữ nghĩa không qua lớp đánh vần.// Sau giải phóng trở về làm dân/ Huân chương dũng sĩ cất trong hòm/ Không nghề, không chữ, không ruộng đất/ Lại đi làm mướn để nuôi thân.// Chê nghèo vợ bỏ con nheo nhóc/ Không đứa nào học đến cấp hai/ Biết vậy nên đành xin ra Đảng/ Đã dốt lại nghèo lãnh đạo ai?

Lời thề ấy đi cả đời chưa trọn là bài thơ bộc lộ thành thật nhất những suy nghĩ của Trần Ngọc Phượng từ khi tuyên thệ vào Đảng cho đến tận hôm nay. Buổi lễ kết nạp được mô tả chân thực và xúc động. Hồi đó vào Đảng là phải tiên phong đi trước, sẵn sàng hy sinh trên những con đường rập rình cái chết. Tôi tuyên thệ vào Đảng/ trong buổi lễ đơn sơ/ Không có hoa, có cờ/ Không có băng khẩu hiệu/ Ngay cả bạn tôi người giới thiệu/ Cũng hy sinh trong trận đánh chiều qua/ tôi đọc lời thề trong tiếng pháo tầm xa/ Trong thét rú bầy máy bay phản lực/ Vẫn ráng chiều hoàng hôn đỏ rực/ Trười quê hương không một phút bình yên/ Vẫn đồng đội sốt rét ngồi bên/ Vẫn con đường chiến tranh rập rình cái chết/ Mà sao nghe thiêng liêng giây phút/ Nghe gọi tên mình hai tiếng Đảng viên. Lời thề ấy, đã ăn sâu trong huyết mạch trở thành niềm tin, niềm tự hào của bản thân anh để sống, làm việc có ích cho đời.

Hiện thực cuộc sống sau chiến tranh, đặc biệt là ở thời kỳ hội nhập vô cùng bộn bề, phức tạp; các giá trị bị đảo lộn. Ý thức trách nhiệm công dân, bản lĩnh của người cựu chiến binh đôi lúc làm cho Trần Ngọc Phượng cảm thấy chạnh lòng với bao nỗi trăn trở, suy tư. Bởi bao bất cập của đời sống vẫn đang tồn tại và diễn ra trước mắt.

Đường Trường Sơn cheo leo ghềnh thác/ Bước chân rung đòn gánh trĩu hai đầu/ Những đoàn quân xưa đi đánh giặc/ Máu xương còn để lại rừng sâu// Anh đi vào tận cùng khúc ruột/ Trẻ đến trường còn lội suối, đu dây/ Nắng thì hạn, đồng khô đất nứt/ Mưa lũ về trắng ruộng dân cày// Người miền Trung kiên cường chịu đựng/ Những buồn vui cũng đến tột cùng/ Tiếng nói át gió mưa giông bão/ Sức người như nén bật dây cung (Đường miền Trung).

Không chỉ có bất công, đói nghèo mà còn bao mối nguy khác luôn thường trực và trở thành nỗi lo canh cánh:

Đất nước hòa bình/ Nhưng nào đã bình yên/ Giặc ngoại xâm, nội xâm đe dọa/ Biển trước mặt phơi đầy xác cá/ Rừng sau lưng trơ trọi gốc cây/ Trẻ đến trường/ Phải lội suối, leo dây/ Tàu ngư dân/ Bị đâm từ tàu lạ... (Chiều Nghĩa trang Trường Sơn).

Đồng tiền với sức mạnh ghê gớm của nó đã làm chao đảo nhiều thang bậc giá trị. Đồng tiền có thể mua quan, bán tước; đồng tiền có thể thay trắng đổi đen; lương tâm con người trở thành món hàng trao đổi...

Bây giờ lắm của nhiều tiền/ Lương tâm đổi chác, chức quyền bán mua/ Nhớ không? Còn nợ ngày xưa/ Cốt xương liệt sĩ vẫn chưa tìm về (Ngày xưa).

Câu hỏi đầy nhức nhối, đánh thức lương tri và trách nhiệm của những người đang sống hôm nay, nhất là những người đang giữ những vị trí, chức vụ chủ chốt của các cấp, các ngành...   

Cái hay ở thơ Trần Ngọc Phượng là dù anh nói nhiều, nhắc nhiều đến nỗi buồn, sự nhớ thương, nuối tiếc... nhưng vẫn không có sự bi lụy, não nề, bế tắc, tiêu cực. Ở đó là những trăn trở, suy tư đầy tinh thần trách nhiệm công dân. Sống có trách nhiệm với gia đình, nghĩa tình với đồng chí, đồng đội, chan hòa với bạn bè và mọi người xung quanh.

Thơ Trần Ngọc Phượng với ngôn ngữ trong sáng, giản dị, đi thẳng vào lòng người đọc nhưng cũng không kém phần tinh tế và sâu lắng, gợi lên nhiều suy ngẫm cho bạn đọc:  Đời đâu phải lập trình/ Nên chợt này chợt nọ/ Đủ cho ta giật mình/ Còn bao điều mắc nợ (Chợt); Ta đi suốt cuộc đời/ Đuổi theo miền sáng tối/ Rồi cũng về nghỉ ngơi/ Trong bóng đêm vời vợi (Bóng đêm); Ngã lưng trên thảm cỏ mềm / Chia nhau chú ánh lưỡi liềm trăng non (Chơi vơi) Anh về trở lại bến sông/ Em đi lấy chồng vọng tiếng ầu ơ/ Hắt hiu chiều vắng con đò/ Lục bình hoa tím như vừa qua đây (Hoa tím lục bìnhVà ở vào tuổi tám mươi, Trần Ngọc Phượng vẫn viết những câu thơ ấm áp tình đời: Trăm năm trong cõi Ta Bà/ Mượn vay ai trả phúc quà ai cho...

3/11/2023

Nguyễn Văn Hòa

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Đò đầy vơi, bến cũ chẳng quên người

Đò đầy vơi, bến cũ chẳng quên người!

Tôi muốn mượn một câu thơ trong bài Thăm lại chuyến đò xưa để mở đầu cho  bài viết về chị, nhà giáo – nhà Thơ Triệu Kim Loan, người đã trọn đời gắn bó với nghề giáo, suốt đờì chở nặng con thuyền chữ nghĩa cho bao thế hệ học trò đến bến bờ tri thức và hoàn thiện nhân cách làm người.

Nhà giáo – nhà thơ Triệu Kim Loan sinh ra ở Hưng Yên, vùng đất xứ Đông có bề dày văn hiến, lớn lên ở vùng trung du đất Tổ với “rừng cọ, đồi chè” bát ngát mang đậm dấu ấn trầm tích lịch sử, văn hóa thời Vua Hùng dựng nước. Có lẽ những gì mà hai vùng đất ấy mang lại đã nuôi dưỡng tâm hồn chị, để rồi chị thi vào khoa Văn của Trường ĐHSP 2 Hà Nội, dùi mài “kinh sử” và trở thành cô giáo dạy văn, gắn bó với trường, lớp, học trò đã hơn 40 năm nay.

Đến với thi ca khá muộn nhưng chị đã liên tiếp cho ra đời bốn tập thơ: Khoảng lặng (2020), Suy tư chiều (2021), Khát vọng xanh (2022), Đối thoại đêm (2023) và tập Cảm nhận văn chương (2023). Đan xen những đề tài về quê hương đất nước, tình yêu, thân phận người phụ nữ là đề tài trường lớp với ăm ắp ký ức ngọt ngào về thời sinh viên áo trắng, về sân trường, lớp học với những giọt nắng, hạt mưa: Nắng thắp lửa trên cây phượng vĩ/ Giọt la đà, nhảy nhót đùa vui/ Nắng tung tăng sân trường lớp học/ Chơi trốn tìm, ghế đá, hàng cây (Giọt nắng sân trường), Tà áo trắng - sân trường - nắng vỡ/Nắng tinh nghịch luồn qua cửa sổ (Sắc Phượng); hay Phượng nhoẻn cười khoe nắng/ Gọi tiếng ve thức tìm (Ngược mùa) và Khẽ bay tà áo trắng/ Gió đùa tóc em mây (Tháng tư)… Nhà thơ cảm thương những áp lực và gian khó của học trò khi bước vào mùa thi: Không có Những chiếc giỏ xe / Chở đầy hoa phượng/ Chỉ có ngày đêm / Miệt mài sách vởThắt lòng/ Thương tiếng ve ngân/ Xao xác chiều hè cuối hạ/Thương cây bàng/ Xoè ô đứng đợi/ Thương phượng gầy/ Thắp lửa/ Những mùa thi. (Thương) hay Mùa thi về hối hả / Vỡ òa tiếng ve ran (Tháng Tư). Những hình ảnh này không mới nhưng có lẽ tình yêu nghề, gắn bó và thấu cảm với học trò sâu nặng đã làm nên những xúc cảm trong veo, giàu thi ảnh đến vậy.

Hình ảnh cây phượng, hoa phượng trong thơ Triệu Kim Loan đa dạng gắn với biết bao kỷ niệm để lại trong tôi nhiều cảm thức. Cánh phượng đã cùng nhà thơ song hành trong suốt cuộc đời nhà giáo, gắn bó với chị như người bạn thân thiết để chị gởi gắm những nỗi niềm tâm sự. Đó là cánh phượng một thời cắp sách: Hạt mưa nào tinh nghịch/ Sà vào trang vở thơm/ Cánh phượng rơi sân trường/ Bồng bềnh sắc đỏ (Một chiều mưa). Khi tuổi đời đã xế chiều, cánh phượng vẫn rực hồng và nồng nàn trong nỗi nhớ: Phượng náo nức tháng năm về bung lửa/ Ơi thương lạ loài hoa như mắt nhớ/ Có phải hoa cũng nặng nghĩa như người / Như loài ong tìm hương ướp mật/ Để mùa về sắc phượng nghẹn ngào rơi (Sắc Phượng). Nhà thơ đã trải qua những ngày vô tư cống hiến, để rồi khi xa trường, nhớ lớp bỗng giật mình: Phượng phập phồng nhóm lửa/Tháng tư ơi! Giật mình… Hình ảnh hoa phượng trong dịp gặp lại bạn bè, thầy cô thật cảm động: Bàn tay nắm xiết bao mừng tủi/ Tóc màu tro thành lửa thắp phượng hồng (Vọng mãi những niềm thương).

Yêu nghề, yêu người, yêu thơ là mối lương duyên hội tụ trong tâm hồn chị. Vì thế, sau khi nghỉ hưu, chị vẫn miệt mài với trang giáo án, với con chữ, với học trò thân yêu: Trang giáo án mở thật thà/ Bao nhiêu gương mặt như xa như gần/ Bảng đen - phấn trắng - thanh xuân / Chuyến đò ngang đã bao lần vượt sông (Tiếng Ve), Ngày qua ngày vẫn say mê đến lớp/ Lái con tàu rẽ sóng, để ra khơi/ Đem nhân tâm trải khắp mọi miền/ Đem trí tuệ thắp lên ngàn khát vọng/ Cánh đồng rộng nhọc nhằn con chữ/ Mùa gặt về hoa nở thắm trên môi. (Đời gieo hạt). Không chỉ có niềm vui cống hiến, nghề chở đò không ít những suy tư, nhọc nhằn về con chữ, về những học trò chưa ngoan, trước những yêu cầu đổi mới và sự đòi hỏi khắt khe của thời đại. Hạnh phúc của người thầy phải đổi bằng trí tuệ, mồ hôi và cả những giọt nước mắt: Khoảng sân rộng vệt nắng rơi từng sợi/ Phấn trắng, bảng đen cây thước rã rời (Đau). Chị trân trọng tình cảm yêu thương, chia sẻ của người chồng dành cho mình:  Anh thương gánh chữ chập chùng em mang/Em người đưa khách đò ngang/ Bao nhiêu khát vọng gửi đàn con thơ/ Lớp đò đầy, lớp sóng xô/ Chặt chèo lựa sóng cặp bờ tương lai. (Viết cho anh).

Xuyên suốt những bài thơ của chị, nhà thơ – nhà giáo Triệu Kim Loan là lối sống giàu nghĩa nhân, có trước, có sau. Đó là tình thương yêu, thấu cảm dành cho học trò những mùa thi vất vả, là tình thương, xa xót trước sự ra đi của một đồng nghiệp khi tuổi đời còn trẻ: Ghế đá kia trống một chỗ ngồi/ Sương nhòe ướt ngôi trường, bè bạn/ Học trò ngơ ngác/ Định mệnh nào nghiệt ngã/ Cuốn thầy đi? (Đau). Chị dành những vần thơ mộc mạc, sâu lắng để tri ân thầy cô từng dạy mình: Người chở đò tóc màu mây năm ấy/ Khách đi đò tóc cũng nhuốm màu tro/ Vui gặp gỡ lệ rưng trào khoé mắt/ Thắp lửa hồng, xanh nhớ những ngày mơ, hay Như đàn chim náo nức trở về cây/ Như sông suối trôi về biển rộng/ Đò đầy vơi, bến cũ chẳng quên người (Thăm lại chuyến đò xưa), Ngàn con sóng quây quần biển nhớ/ Những loài hoa, năm ấy vẫn hương chờ/ Thầy tôi đó dệt nên miền cổ tích/ Ngọn Hải Đăng sáng mãi một bến mơ!” (Thầy tôi).

Suốt một đời tận tụy với nghề, say mê học hỏi và cống hiến, chị đã nhận được nhiều bằng khen của Thành phố, bằng khen của Bộ Giáo dục Đào tạo và giải thưởng Võ Trường Toản, một giải thưởng cao quý của ngành giáo dục Thành phố trao tặng. Nhà thơ – Nhà giáo Triệu Kim Loan quan niệm ngôi trường là chiếc nôi nhân nghĩa. Nơi ấy chị và biết bao đồng nghiệp vẫn lặng thầm gieo hạt “đem trí tuệ thắp lên ngàn khát vọng”, đem “nắng vàng ươm mật trời xanh”, “nôi nhân nghĩa sáng ngời nhân nghĩa”. Phải chăng đó là tuyên ngôn, là sự hòa quyện của tình yêu, tinh thần trách nhiệm, khát vọng trong tâm hồn một nhà giáo, một nhà thơ như chị. Xin chúc mừng những đứa con tinh thần tròn trịa của chị chào đời đến với bạn đọc xa gần trong buổi sáng ấm áp ngày hôm nay.

4/11/2023

Ngô Minh Oanh

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Đào Phong Lan "không thể nói lời từ biệt" với thơ!

Đào Phong Lan "không
thể nói lời từ biệt" với thơ!

Sáng 01/11/2023, Hội Nhà văn TPHCM phối hợp cùng nhà thơ Đào Phong Lan tổ chức ra mắt tập thơ tình “Em không thể nói lời từ biệt” (Nxb Hội Nhà văn, 2023). Đây là tập thơ đánh dấu sự trở lại sau 17 năm Đào Phong Lan không in ấn, không công bố thơ. Văn chương TP. Hồ Chí Minh trân trọng giới thiệu sau đây bài viết của Bảo Gia vừa đăng trên tạp chí Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh số 98, ngày 02/11/2023.

Sau khi “Giêng Hai” (tập thơ, năm 1995) và “Ma Trận” (tập truyện, năm 2001) gây ấn tượng mạnh với sự sôi nổi, cuồng nhiệt của tuổi trẻ, “nàng thơ” của Trường Viết văn Nguyễn Du (khóa 5) Đào Phong Lan đã im lặng suốt 20 năm, bước vào một cuộc sống khác. Người ta chỉ biết chị vẫn là hội viên Hội nhà văn TP. HCM, người ta vẫn chia sẻ những vần thơ tình cháy bỏng cảm xúc yêu thương của chị trên các trang thơ, nhưng cuộc sống của chị thì là một ẩn số. Nhưng rồi bất ngờ như một cơn dông, “người đàn bà thơ” ấy đã trở lại với một thông điệp không thể dịu dàng hơn, không thể mãnh liệt hơn: “Em không thể nói lời từ biệt!”. Có thể hiểu rằng Đào Phong Lan không thể dễ dàng nói lời từ biệt với thơ, cũng như dễ dàng từ biệt những độc giả vẫn còn nhớ như in những câu thơ tài hoa của chị, cũng như gương mặt khả ái của chị trên văn đàn.

Tập thơ “Em không thể nói lời từ biệt” của Đào Phong Lan vừa ra mắt vào mùa thu năm 2023, với các bài thơ tình vừa quen thuộc, vừa mới lạ được chị sắp xếp thành bốn mùa tình yêu: Thu - Đông - Xuân - Hạ với tổng cộng 56 bài thơ. Đặc biệt hơn nữa, có cả đường link dẫn tới 15 bài thơ được chị thể hiện bằng giọng đọc của chính mình, một chất giọng miền Nam ngọt ngào mà ít người biết đã từng đọc tác phẩm “Đất rừng phương Nam” cho độc giả thiếu nhi toàn quốc trên sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) khi chị mới 15 tuổi, đang học Nhạc viện Hà Nội (Học viện Âm nhạc quốc gia ngày nay).

Thơ của Đào Phong Lan tràn đầy âm nhạc, thật khó có thể tách bạch phần nào là nhạc, phần nào là thơ. Có lẽ vì thế mà trong tập thơ, độc giả sẽ gặp lại tới ba bài thơ của chị từng được phổ nhạc và trở thành những bài hát nổi tiếng, như “Đêm xoang Tây Nguyên” (Nhạc sĩ Văn Chừng), “T’rưng” (tác giả Bùi Khánh Nguyên), và “Bóng lá” (Nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện).

Đào Phong Lan trở lại giữa lúc thơ ca đang dùng dằng giữa truyền thống và hiện đại: là thơ có tiếp tục có vần, hay thơ là chỉ là những dòng chữ xếp hàng như thơ dịch, thơ tiếng Anh? Nhưng “người đàn bà thơ” ấy có cách khẳng định của riêng mình rằng thơ vẫn cần vần điệu, vẫn cần sự bác học trong nghệ thuật ngôn từ, vẫn cần có triết lý dù thơ cũng phản ánh những thế giới cảm xúc rất đời thường. Có lẽ vì thế mà thơ của Đào Phong Lan bật ra một cách cổ điển, mẫu mực nhưng vẫn hiện đại, đầy chất Việt trong câu, từ, ý, tứ:

Em không thể nói lời từ biệt

Như vung tay ném đá qua trời (Em không thể nói lời từ biệt)

Câu thơ rơi như lá vàng trên đất

Khẽ cuốn theo gót gió la đà

Cửa đóng mở ngôi nhà hạnh phúc

Như đón em vào lại đuổi em ra (Em không thể nói lời từ biệt)

Em sẽ khổ đau nếu một ngày không còn yêu anh nữa

Nếu một ngày như thế đến trong đời

Những hạt mưa chỉ còn một nửa

Rưng rưng rơi vỡ bên trời

Nắng không vàng màu nắng

Mây không xanh màu mây

Nước trong bình không bao giờ lắng

Trời không bao giờ đêm

Đất mãi mãi không ngày (Cho một ngày không bao giờ đến)

Anh quá chậm mà em thì đang vội

Em đã chờ anh đến phút cuối cùng

Anh cứ giấu những điều định nói

Lại xây quanh mình thành quách thủy cung (Lời Mỵ Nương)

Tình yêu em như khu vườn xanh

Lá níu lá, cành ôm cành tha thiết (Vì anh)

Em không thể nói lời từ biệt” không chỉ cho thấy sự lợi hại của ngòi bút Đào Phong Lan với thơ lục bát, thể thơ đã làm xiêu lòng biết bao độc giả yêu thơ của cô gái tuổi 20 từ những năm 1995, mà còn chứng tỏ bút lực của chị với thể thơ tự do và thơ 5 chữ.

Hãy cảm nhận cơn mưa trong thơ của chị:

Tháng Năm về vội vã

Mưa giọt giọt đầu cành

Phượng trùng trùng sóng lá

Rối bời bời ngón xanh (Mưa tháng Năm)

Mưa đã rơi ắp đầy nỗi nhớ

Tràn sang cả nửa đêm dài

Lũ kiến đen miệt mài về phía sáng

Như sợ mình không đến kịp ban mai (Nửa đêm)

Cơn mưa mọc hoang trên đất

Nảy lên bong bóng bảy màu

Những đám mây chân trời rơi nước mắt

Anh ở đâu?

Gió vẫn cồn cào góc núi tìm nhau (Viết giữa cơn mưa)

Nhưng nói đến thơ Đào Phong Lan thì không thể thiếu những bài thơ tình. Trong thơ tình của chị, có thể tìm thấy cái sắc ngọt lục bát của Nguyễn Bính, và cả sự đắm đuối rất nữ tính của Xuân Quỳnh, nhưng trong một sắc thái riêng của Đào Phong Lan.

Thôi hãy yêu như cây lá trên đồng

Vẫy vào ngày mùa thơm náo nức

Còn em xin được làm chiếc cúc

Nép khiêm nhường trên ngực áo anh (Hoan ca)

Em không biết thật mà em không biết

Đã yêu anh tự buổi mai nào (Lời đá cuội)

Em chỉ có một bờ tóc ngắn

Không đủ dài để buộc lời anh

Những ngọn tóc buồn hơn rêu cũ

Và hắt hiu gấp mấy lá cành (Cho ngày hôm qua)

Không có anh sao quá chừng phẳng lặng

Quá chừng mưa trên những tán lá bàng

Quá chừng rơi những thảm hoa vàng

Quá chừng hát những bài lâu không hát (Viết cho anh những ngày xa)

Hãy yêu nhau như là hai giọt nước

Lăn vào nhau những khát vọng nồng nàn

Hãy yêu như hai chiếc lá vàng

Lìa cành vẫn còn ôm ấp mãi (Viết cho anh những ngày xa)

Nhưng cũng giống như con người của chị, thoắt ẩn, thoắt hiện, gần đấy mà xa đấy, thơ của Đào Phong Lan trong lần trở lại lần này cũng tiết lộ không ít điều thú vị, mới mẻ. “Thơ say cho thằng bạn tỉnh” là một ví dụ:

Nhậu đi mày nhậu cho say trời đất

Cho quên đi cảm giác làm người

Mai tỉnh lại trên trần gian yếu đuối

Hai chúng ta hổ thẹn làm người.

Đào Phong Lan đã trở lại với Thơ, như thể Thơ là định mệnh, là duyên nợ của chị, với tình yêu, với độc giả, như chị nói “Em không thể nói lời từ biệt”. Với Thơ.

4/11/2023

Bảo Gia

Nguồn: Tạp chí Văn nghệ TPHCM số 98 - ngày 02/11/2023

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Nhà văn Trịnh Minh Hiếu và "Giấc cỏ dụ"

Nhà văn Trịnh Minh Hiếu
và "Giấc cỏ dụ"

Cách đây tròn 10 năm, năm 2013, Trịnh Minh Hiếu ra mắt tập truyện ngắn đầu tay “Tiếng chuông trên đỉnh Cô Thình” (NXB Hội Nhà văn 2013). Tròn một năm sau, chị lại cho ra mắt tập truyện ngắn thứ hai mang tên “Thúy Mầu” (NXB Hội Nhà văn 2014). Hai tập truyện ngắn có cá tính riêng của chị ngày ấy khuấy động làng văn chương không ít.

Tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, cũng vào một ngày mùa thu tháng 10 như thế này, đã có một buổi giới thiệu sách của Trịnh Minh Hiếu rất trang trọng. Tôi nhớ buổi ấy, ý kiến chung các nhà văn nhà thơ là đáng giá cao văn chương Trịnh Minh Hiếu.

Nhà thơ Dương Thuấn khẳng khái cho hay: các tác phẩm của Trịnh Minh Hiếu là một sự đóng góp cho nền văn học Việt Nam hiện đại. Ngôn ngữ rất điêu luyện, tác phẩm nào cũng bật lên ý tưởng nghệ thuật lôi cuốn người đọc. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cũng đánh giá rất cao những nỗ lực, đam mê  trong sáng tạo văn học của Trịnh Minh Hiếu. Ông cho rằng, để có được hai tập truyện ngắn chỉ trong thời gian cách nhau năm một, chứng tỏ Trịnh Minh Hiếu đã làm việc một cách say sưa, nhiệt huyết: “Mỗi ngày qua đi, các tác phẩm của chị tốt và hay hơn nhiều”.

Nhà văn trẻ Phạm Thanh Thúy (vốn trước đây là học trò của Trịnh Minh Hiếu tại khoa Viết văn – Báo chí) lại nhận định truyện ngắn Trịnh Minh Hiếu, văn chương dẫu có đa đoan, vẫn luôn nhân hậu và chân thành…

Thế rồi cũng đã 10 năm. Trên tay tôi lúc này là tập truyện ngắn “Giấc cỏ dụ”, tập truyện mới nhất của Trịnh Minh Hiếu mới xuất bản trong năm nay, 2023 tại NXB Hội Nhà văn. Tập truyện bao gồm 15 truyện ngắn, mở đầu là “Độc thân”, và cuối tập là truyện “Ngày Covid”… Cũng có cái gì khang khác hai tập trước, khi bìa sách rực rỡ hơn, uốn éo hơn, gợi cảm hơn và văn chương bên trong cũng sắc sảo, dục lạc và mê đắm  hơn: “Thôi, về đi, phàm kẻ Người khó giáo hoá! Các người khôn ngoan, ma quái, quỷ quyệt, nhưng cũng đớn hèn, dục lạc… Các người phàm trần hữu danh, hữu thực, một cõi trung dung. Vậy còn muốn gì hơn? GIỎI! KẺ NGƯỜI GIỎI! (Truyện Giấc cỏ dụ). “Phải chăng, đó là mê khúc cám dỗ ngọt ngào trong khúc cong cong, trong trò chơi zich zac của nghệ thuật. Mê khúc của những ảo tưởng, định mệnh, đã thăng hoa tâm hồn nghệ sỹ lên tầng cao của mây trắng, nắng vàng. Tầng ngự trị của những vì sao lớn toả sáng giữa bầu trời nhỏ bé” (Truyện Bóng nghiệp).

Nhà văn lão luyện Tạ Duy Anh suy tư về những dòng văn này: “Khác với những tập truyện trước dựa chủ yếu vào cảm hứng, lần này tác giả Trịnh Minh Hiếu có ý thức rõ ràng trong “dựng truyện”, tức là muốn nâng tầm mình lên thành người phát ngôn, ít ra cũng là phát ngôn cho một lớp người cùng thời… Đọc những truyện trong tập đều dễ nhận thấy là tác giả tiếp tục định hình cho mình một giọng điệu, thứ mới chỉ manh nha ở những tác phẩm trước đây. Điều này luôn là quan trọng với bất cứ người cầm bút  nào. Có giọng văn riêng, thứ giọng hơi phớt đời, có xu hướng trào lộng, là chuyện không phải cứ muốn là được…”

Nhà văn Tạ Duy Anh viết về Trịnh Minh Hiếu: “Trong làng văn, Trịnh Minh Hiếu là người khiêm tốn hiếm thấy. Chị ít khi xuất hiện trước đám đông trong tư cách một tác giả, mà luôn với tư cách độc giả. Hiền lành, hóm hỉnh, tốt bụng, chị cứ thản nhiên sống, và lặng lẽ quan sát, cóp nhặt những chi tiết đời sống góp lại làm vốn. Mặc ở đâu đó các đồng nghiệp cao đàm khoát luận về những điều to lớn, mặc ai đó dè bỉu thị trường văn chương mất giá và ngày càng ít sự hữu dụng, mà nạn dịch covid quái ác hoành hành và, cũng một cách lặng lẽ, chị bỏ lại phía sau mọi lời khen chê, chỉ cặm cụi sống với những kiếp người lầm lụi, bị lãng quên, bị gạt ra lề để tìm cho họ một khuôn mặt, một tính cách, một nhân cách, một tiếng nói, một thân phận…”

Phong cách văn chương Trịnh Minh Hiếu khá đa dạng, nhiều cảm xúc và suy ngẫm về cuộc đời, sắc sảo và tinh tế, khi tai quái nhưng cũng có khi như ngọn lửa sưởi ấm lòng người. Ngay từ thời sinh viên, dù học sư phạm, nhưng chúng tôi luôn hiểu em là gái Bắc Ninh miền quan họ, lai sinh trưởng trong một gia đình nho nhã văn chương, thế nào rồi cũng có lúc cầm bút, và hẳn cái sự “đa tình đa cảm đa đoan” này chắc chắn sẽ ám vào văn chương.

4/11/2023

Triệu Phong

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Đào Phong Lan - Hồn thơ vẫn mềm như cỏ

Đào Phong Lan
Hồn thơ vẫn mềm như cỏ

Đào Phong Lan là một tài thơ thiên bẩm. Chị làm thơ khi còn tung tăng chân sáo một cô bé ở phố núi Pleiku. Vào học khóa 5 của Trường viết văn Nguyễn Du, chị có tập thơ “Giêng hai” in năm 1995, lúc tròn 20 tuổi. Đào Phong Lan có kiểu viết lục bát mềm mại, câu sáu rưng rưng, câu tám nghẹn ngào: “Giêng Hai trời lất phất mưa/ Trăng không đủ sáng để đưa nhau về/ Dại khờ hái cỏ ven đê/ Buộc ngang lưng một câu thề làm tin”. Đó là giọng điệu thật nữ tính, rất dễ khiến người khác si mê nhung nhớ và rất dễ khiến bản thân hao mòn cảm xúc.

Cầm tấm bằng cử nhân, chuyển từ Hà Nội vào Sài Gòn sinh sống, Đào Phong Lan đột ngột rời khỏi thi đàn. Suốt nhiều năm, chị không lui tới các hoạt động văn chương ở đô thị phương Nam. Hình như chị ưu tiên dành thời gian vun vén kinh tế gia đình. Chọn lựa ấy cũng hợp tình hợp lý. Nhà thơ không thể viển vông mơ mộng trong cơ chế thị trường. Thỉnh thoảng tôi có gặp chị giữa những con phố chen lấn ồn ào, vẫn nụ cười duyên dáng, vẫn ánh mắt xôn xao. Cái cốt cách ấy, dễ gì bỏ viết lách được. Tôi tin vậy, và quả nhiên, tôi không phải suy đoán hồ đồ.

Sau hơn hai thập niên vắng bóng, Đào Phong Lan tái xuất bằng tập thơ “Em không thể nói lời từ biệt”, do Nhà xuất bản Hội Nhà Văn vừa ấn hành. Tập thơ 56 bài, chia làm bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông nhưng thực chất chỉ có một mùa: Mùa Yêu, của một phụ nữ tự thú “Hồn ta mềm như cỏ/ Chưa gió về đã lay” không thể từ biệt nhân duyên và không thể từ biệt thi ca.

Những ai từng ưa thích thơ Đào Phong Lan trước đây, sẽ nguyên vẹn xao xuyến khi đọc “Em không thể nói lời từ biệt”. Thời điểm sáng tác được ghi chú cụ thể dưới mỗi bài thơ, chứng tỏ Đào Phong Lan rất ý thức về dấu vết ân tình của từng kỷ niệm. Theo tôi, tập thơ này có thể xem như một cuộc tuyển lựa của riêng chị, có giới thiệu Đào Phong Lan mới mà cũng có hoài vọng Đào Phong Lan cũ. Và dù bài thơ viết năm 2015 hay bài thơ viết năm 1991, thì độc giả vẫn nhận ra Đào Phong Lan luôn luôn mong manh giữa run rẩy đang có và bịn rịn sắp phai. Nghĩa là, trong sự giăng mắc tình tính tang và tình tính... tan, chân dung Đào Phong Lan hiện ra thảng thốt: “Nếu như anh quay đầu nhìn lại/ Xác lá vàng rơi lấp dấu em xưa”.

Thơ Đào Phong Lan giàu nhạc tính. Chữ nối chữ có âm thanh, câu nối câu có giai điệu. Đoạn ngắn ngân nga có thể ngâm, đoạn dài trầm bổng có thể hát. Ngoài những vần lục bát dan díu “Người ta khoác áo trầm hương/ Bỏ nhau/ Đi ngược con đường heo may”, tập thơ “Em không thể nói lời từ biệt” cho thấy Đào Phong Lan cũng thừa khả năng dùng những thể loại thơ khác để phơi bày sự bất an của một người đàn bà yếu đuối. Dẫu đã minh định “Tình yêu như là bọt nước/ Vỡ trên năm ngón tay mềm/ Chỉ trái tim là dại dột/ Chẳng bao giờ chịu lãng quên”, vẫn cứ phấp phổng tơ vương “Lòng như hạt mầm trong đất/ Nằm chờ mong một cơn mưa/ Người đi qua như nắng gắt/ Hanh khô, hạn hán bốn mùa”.

Tình yêu trong thơ Đào Phong Lan thường xuyên chấp chới đổ vỡ. Níu kéo đấy, mà không trách than. Buồn đau đấy, mà không oán hận. Thơ chị buông bắt khoảnh khắc “Sông quá rộng mà sao lòng quá hẹp/ Trời bao la mà gió chật khu vườn” để được nuối tiếc “Bóng em khuất sau cánh cửa/ Khép một nỗi buồn nhân đôi” và để được trìu mến “Từng trái thơm rung như chuông trong lá/ Đánh thức em ngơ ngác một ban mai”.

Bài thơ có dung lượng lớn nhất và cũng để lại dư vị nhất trong tập thơ “Em không thể nói lời từ biệt” là “Viết cho anh những ngày xa”. Bài thơ sáng tác năm 2005, chia làm 4 khúc. Đào Phong Lan lúc ấy 30 tuổi, vẫn còn trẻ trung để khao khát và đã đủ trải nghiệm để bao dung: “Em lầm lụi đi trên con đường tối/ Ngõ vắng xa/ Hoa mướp đã thôi vàng”. Bước thơ dùng dằng nhưng mạch thơ không rời rạc giúp bung được ý thơ xa vắng: “Không có anh/ Sao quá chừng phẳng lặng/ Quá chừng mưa trên những tán lá bàng/ Quá chừng rơi những thảm hoa vàng/ Quá chừng hát những bài lâu không hát”. Hai chữ “quá chừng” nghe có vẻ xuôi tai mà lại thành đắc địa cho một lời cảnh tỉnh: “Ngày mai khi chúng mình gặp lại/ Có thể là em đã khác hôm nay”.

Đọc tập thơ “Em không thể nói lời từ biệt”, tôi bỗng ích kỷ nhói lên một sự vui mừng. Vui vì Đào Phong Lan trở lại với thi ca, để chị tiếp tục theo đuổi đam mê. Mừng vì thi ca không buông tha Đào Phong Lan, để tôi tiếp tục có bạn đồng hành.

26/10/2023

Lê Thiếu Nhơn

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Người nữ và con đường tình yêu trong Đối thoại đêm

Người nữ và con đường
tình yêu trong Đối thoại đêm

(Đọc Đối thoại đêm của Triệu Kim Loan, NXB Hội Nhà văn, 2023)

Tôi không biết sẽ bắt đầu từ đâu, viết gì trước, khi ngôn từ líu ríu và những tứ thơ, những vần thơ đẹp của nữ sĩ Triệu Kim Loan đang chảy trong suy ngẫm?

Chỉ là một độc giả bình thường, yêu thơ ca và trân quí, nâng niu những tài hoa sáng tạo, còn để phẩm bình về thi ca lại là câu chuyện khác.

Tuy vậy, tôi cứ mạo muội nhờ chút câu chữ nói hộ cảm xúc chân thành, những tri nhận cá nhân tôi khi đọc Đối thoại đêm.

Phía trước tôi đã có “công trình” đầy đặn, giới thiệu tập thơ này. Đó là bài “tựa” công phu ở đầu tập của nhà thơ Bùi Phan Thảo. Cuối tập có “lời bạt” của nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã về chùm thơ Đà Lạt. Họ đều sành thơ, tri âm, tri kỷ của chị Loan, họ viết về chị ắt là chí tình, chí thơ!

Đối thoại đêm, như tôi luôn hình dung đâu đó, gần xa, một người nữ thanh xuân, tươi trẻ, lá đang biếc mùa xanh; lại như hiện hữu một cây đời trải qua dông gió dập vùi, những buồn vui, khắc khoải, những nghiệm sinh còn mất; dang dở và khao khát vươn về phía thiện mỹ trần gian. Chân dung người nữ trong thơ đậm sắc màu văn hóa cội nguồn. 

Người nữ ấy đi trên con đường tình yêu. Chị yêu thiên nhiên, yêu quê hương xứ sở, chị yêu người,…

Quê hương nơi chị sinh ra và lớn lên, trong xa cách, tha phương, nỗi đau đáu không cùng. Niềm yêu quê chưa bao giờ vơi cạn, ngủ yên. Nó thao thức, luôn đâm chồi nụ tái sinh, như rong “rêu nảy mầm lối cũ”. Nó xót xa trong thiên họa dập vùi, hình hài quê dấu yêu biến dạng, phận người trồi sụt, nổi nênh, sinh tử, nghèo đói: Nắng òa khóc núi chơ vơ/ Rừng loang lổ cháy suối trơ cạn dòng; Đầu nguồn con sóng mồ côi/ Đục ngầu cuối bãi, phận người lênh đênh (Thương quê). Và dĩ nhiên cả những trong trẻo, yên bình như quê hương nguyên sơ bao đời nay vẫn vậy. Đó là một “trung du lấp lánh” trong thương xa của một người con sống xa quê luôn vọng niệm. Đây là một phố núi thời đèn dầu mà tối “chẳng thắp đèn”; là hình ảnh cái “ngõ hun hút”; là ngọt ngào giọng mẹ ầu ơ theo nhịp võng “nhặt thưa dịu nồng”; là hương hoa cau ngan ngát “đợi nắng thắp sao hôm”: là âm thanh đồng quê quen thuộc bao đời trong “sáo diều cao vút”. Đặc biệt, một miền quê đất cằn sỏi đá vẫn thầm gieo những hạt mầm khỏe khoắn, khao khát hiến dâng, khao khát vươn lên, để một ngày cây trổ hoa, kết trái ngọt ngào cho đời: Khát vọng xanh em giấu dưới cọ mềm / Đồi đá sỏi nghiêng em – ngày trổ biếc (Khát vọng xanh).

Trái tim nghệ sĩ luôn nhạy cảm, vọng động trước những éo le, bất trắc của phận người. Người thơ trong Đối thoại đêm luôn là như thế. Tôi ấn tượng với các thi phẩm chị viết về thân phận người nữ trong tập này: Gánh đàn bà, Khỏa sóng đời, Đừng gió, Mẹ chồng tôi, Bóng mẹ, Nhang khói dẫn đường con… Phải chăng nẻo nữ nhân, đàn bà xưa nay, luôn là những thăm thẳm đa đoan? Họ ngoài đời và trong nghệ thuật nói chung, trong văn chương luôn ám ảnh nghệ sĩ.

Tôi trân quí, sẻ chia cảm thông cái mong manh của người nữ trong Đừng gió. Những chênh chao, xao lòng từ những kỷ niệm đẹp xưa cũ dội về, hay một bóng hình nào đó gặp gỡ giữa đường đời là chuyện không hiếm. Ranh giới giữa đôi bờ hạnh phúc và bất hạnh cũng mong manh yếu ớt như tâm hồn người nữ. Con thuyền chòng chành rồi chìm trong sóng gió hay bình yên quay về bến bờ? Tự cật vấn, tự tình khúc gọi đò, sang đò, người nữ đã bỏ lại những mê dụ khoảnh khắc để con thuyền quay về bến quen, vun trồng cây trái xum xuê vườn nhà. Nghe thì ngỡ như nhẹ tênh mà người trong cuộc vật vã, khắc khoải vượt thoát góc u uẩn, đa đoan chính mình: Em lựa chiều sóng đổ/ Vỗ tròn bờ đa đoan/ Phù sa em ngút ngàn/ Bồi đắp miền chồng vợ/ Hạnh phúc ngàn hoa nở/ Trái chín đầy tay thơm (Đừng gió).

Thơ Triệu Kim Loan luôn là những người nữ lấy vị tha, lấy hy sinh những niềm vui vị kỷ để đổi lấy hạnh phúc cho mọi người. Dù họ là tình nhân, là người vợ hay người mẹ. Nết hạnh truyền thống đó khiến người nữ trong thơ chị nghiêng về chân dung nữ nhân thời xưa, vừa u buồn vừa tội tình, xa xót, vừa cảm phục: Những mùa dài buốt lạnh/ Chị và đêm lưu đày/…, Đêm trăng tàn giã gạo/ Cố quên mình đang xanh…, Vùi đau vào nốt nhớ/ Gió thốc miền trống không (Khỏa sóng đời).

Chị viết về Gánh đàn bà Những người nữ cứ thương khó, tần tảo lặng lẽ trên đời như chẳng sống. Họ như cây mọc lên từ sỏi đá cỗi cằn, không tưới tắm mà tự tươi tốt lạ thường, phi thường. Sức sống ấy được nuôi dưỡng từ đức hy sinh vị tha, tự suối nguồn đạo hạnh trong trẻo nơi dân tộc ngàn đời. Không kỳ vĩ, không trời cao biển rộng, không từ bình yên nhung lụa, người đàn bà trần gian lặn ngập trong những nhọc nhằn gánh nặng mưu sinh cơm áo; họ gánh chồng con trong gắng gỏi tạo dựng đời sống tinh thần, quên thân để đổi nụ cười êm ấm gia đình; họ tự nhuộm đắng đót mình cho ngọt bùi thơm thảo phía người thân; họ quên sống hôm nay vì một đời sống tốt đẹp phía tương lai … Họ tồn tại trong nghĩa lý quên sống. Họ chỉ như cát bụi vô hình. Họ chỉ luôn hao khuyết. Như đôi bờ sông bên lở, bên bồi, phía nữ nhân luôn nhận về bên lở. Bờ bãi bồi tròn đầy, mỡ màu, họ dành tặng chồng con. Viết về giới mình như vậy, thơ chị có nhức nhối những bất nhẫn và những phận bạc dưới trời? Trong nỗi lặng thầm nhẫn nhịn bao dung, ắt chứa những sầu đau cô lẻ! Hóa ra, nước mắt lặn vào trong thì muôn đời vẫn thế. Hồ Xuân Hương xưa, “khóc hổ ngươi, cười ra nước mắt”, “cô Kiều khóc trên bốn dây ly biệt” khi bán mình chuộc cha. Dù cho nàng dứt tình và “hạ tình” như thế, song đêm trao duyên, chữ tình nức nở, thật bi ai… Gánh đàn bà thời nào cũng vậy! Họ gánh đa đoan trên mảnh thân gầy, đi con đường dằng dặc buồn, xuyên suốt ngàn năm lễ giáo ngặt nghèo. Vẫn một sắc màu thủy chung, lam làm, thương khó, nhẫn nhịn, vị tha mà bước qua vị kỷ: Cơn lốc cuộc đời cuộn xoáy những trái ngang. Người đàn bà tất tả trong khó nhọc mưu sinh…Họ giấu nỗi đau sau những nụ cười… đối diện đêm hàn đón ánh bình minh (Gánh đàn bà).

Viết đến Gánh đàn bà thì dường như, những dáng hình nữ khác trong thơ Triệu Kim Loan giống chồi nhánh chung một gốc. Bởi suy cho cùng, vì một sắc màu yêu thương vị tha vô hạn mà người đàn bà đã quên đi bản thân ở trên đời. Những run rẩy, nồng nàn yêu đương, nỗi nhớ thương đầy vơi hay niềm đau vẫn chỉ nghiêng về phía trống vắng bản thân mình: Em nồng nàn - một ngăn nhớ - riêng anh (Mưa thơm ngày cũ); Cố quên mình đang xanh…/ Vì các con - thôi đành (Khỏa sóng đời).

Người nữ tự tình, tự vui buồn, tự vụn vỡ, tự thấy bẽ bàng, tự đắng đót: Em thương mình buốt gió/ Ngọn nến tàn buốt lệ suốt quanh năm (Dấu chấm hỏi), Dẫu ngày mai trắng tay câu duyên nợ/ Em vẫn mình xa xót. Một hoang xưa (Ngược gióXa xót quángày tình yêu góa bụa/ Tự ru mình sao chua chát / cứ lên ngôi… Một ngày - anh thành khách trọMột ngày đau/ Em vụn vỡ/dưới chân đền (Ngày tình yêu góa bụa).

Và rồi, họ tự chữa lành vết đau, tự đứng lên và tiếp tục kiếm tìm trong đợi chờ hy vọng, khát khao vẫn xanh ngời: Hoa đợi ngày biếc tím/ Bến đợi cánh buồm nâu (Chợ tình), Giữa dòng đời xô lệch / Lòng vẫn nguyên ánh rằm (Ngược mùa), Em qua mùa tuổi chín/ Bão đời trôi phũ phàng/ Hình như còn ủ kín / Nỗi khát tìm mênh mang (Ríu ran mùa).

Tôi đã gặp những người nữ vừa u sầu, vừa khao khát sống như thế trong Đối thoại đêm. Tôi cứ liên tưởng, trong cuộc người giữa trần ai này, những sự tình như thế có gọi tên là mảnh cô đơn trong nhu mềm và cứng cỏi ? Người nữ mềm như cỏ, người nữ vi diệu như nước nhưng trong họ vẫn cất giữ phẩm chất tùng bách để chống chọi, không quị ngã giữa đời, để giữ lửa tình yêu cuộc sống. Âm và dương, mặt trời và mặt trăng, sao hôm và sao mai… tưởng như cơ hồ đối lập mà không thể thiếu khuyết làm nên chân dung thế giới và cuộc sống.

Đối thoại đêm có 50 thi phẩm. Dòng chảy tràn là tình yêu thương con người. Tình yêu lứa đôi nhiều “sóng ở đáy sông”. Thân phận tình yêu gắn với nụ cười và nước mắt, những day trở kiếm tìm cái đẹp và hạnh phúc.

Tôi yêu một hồn thơ nữ nhạy cảm, dịu dàng, tinh tế trước thiên nhiên, gọi ngôn từ họa những hình ảnh đẹp; bông “hoa nắng”, “sắc phượng bung lửa”, “hạt chiều bay”, “vệt nắng tím”, “Sông như võng”, “cải dịu dàng gối ngực triền đê”…“lá trở mình”, “mùi đất trời nồng nã”…

Tôi cũng sẻ chia lối suy tư sâu sắc trong một số liên tưởng so sánh ám ảnh, ấn tượng. Chị ví phận mồ côi như “lá héo bên đường” (Mồ côi); ví vạt hoa cải vàng triền đê như người nữ dịu dàng mềm mại, chút nũng nịu “Cải dịu dàng gối ngực triền đê” (Bùa mê hoa cải); chiếc lá rụng về đất mà vui niềm vui tái sinh trong lặng thầm tận hiến; “Mắt lá hướng lên trời hát khẽ/ Tận hiến mình cho chồi biếc mai sau”… (Mắt lá )…

Những cảnh sắc thiên nhiên luôn được thi sĩ thổi vào đó những đa điệu “tâm hồn” nhờ nhân hóa: “nắng khóc”, “vạt nắng đùa”, “sóng phân vân”, “lá trở mình”, “nắng thương mưa”, “nén nhang trầm thương nhớ đầy vơi, “Hoa đợi ngày biếc tím”…

Tôi nâng niu những thi phẩm đẹp giản dị mà sâu sắc, tứ thơ sáng, dù có khi không hẳn mới, hay sáng tạo. Bởi nó thật rưng rưng, chạm đến nỗi người nhân bản, nhân văn; Gánh đàn bà, Khỏa sóng đời, Mồ côi, Thương quê, Ngày tình yêu góa bụa, Rêu nảy mầm lối cũ, Đừng gió, Chợ tình… Có lẽ, tôi thiên vị cái đẹp cổ điển, giản dị mà sâu sắc thi điệu khúc ca dao quê kiểng!

Độc thoại đêm sẽ thật thú vị, hoàn hảo, giá như một số thi phẩm đã tinh tế, ngôn từ đẹp, song, độc giả muốn nhận diện tứ thơ sáng hơn, cách viết bớt đi chút cầu kỳ, tập trung hơn. Mặc dù, ở những sáng tác đó, nhan đề mách bảo khá rõ: (Ngày em đến, Chiều xanh gió, Giấc mơ em,..). Nhưng, mơ ước luôn là cái đẹp để ta vươn tới hoàn thiện. Từ Khoảng lặng, Suy tư chiều, Khát vọng xanh đến Đối thoại đêm, nhà thơ Triệu Kim Loan đã đi qua chính mình, suy tư sâu lắng hơn, ngày càng tinh tế. Chúng ta mong qua Đối thoại đêm, người thơ Triệu Kim Loan luôn đến được, có được những bình minh, đam mê sáng tạo trên con đường chị đang đi tới nhiều ánh sáng.

5/11/2023

Nguyễn Thị Nhàn

Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/

Đọc bài thơ Con chào mào của Mai Văn Phấn từ góc nhìn sinh thái

Đọc bài thơ Con chào mào của Mai Văn Phấn từ góc nhìn sinh thái Tôi đang sống ở tầng 18 một căn chung cư giữa lòng thành phố, nơi mà mỗi n...