Nguyễn Bính được mệnh danh là nhà thơ mang bản chất nhà
quê [1]; 343] trong làng Thơ mới Việt Nam. Phong
cách chân quê được thể hiện ở cả nội dung đề tài và nghệ thuật thể hiện,
từ linh hồn cảnh sắc quê hương Bắc Việt đến lời thơ, giọng thơ Nguyễn Bính. Nhắc
đến thơ ông, nhiều người ấn tượng với cách diễn đạt giản dị như lời ăn tiếng
nói của người nhà quê, đặc biệt là những từ ngữ mang đặc trưng ngữ vực địa
phương. Nhìn từ góc độ ngôn ngữ học, đó chính là dấu ấn ngữ âm lịch sử hết sức
độc đáo trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng tháng Tám. Ở phạm vi bài hội thảo,
chúng tôi khảo sát và lí giải vấn đề ngữ âm lịch sử trong thơ Nguyễn Bính qua
tuyển tập thơ Chân quê (gồm 43 bài thơ) do Mã Giang Lân tuyển chọn và
giới thiệu [2]. Chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên
cứu chủ yếu là phương pháp so sánh - lịch sử, phương pháp khảo sát - phân tích
ngôn ngữ, phương pháp tích hợp ngữ - văn.
1. Khảo sát dấu ấn ngữ âm lịch sử trong thơ Nguyễn Bính
Chúng tôi nhận thấy trong tuyển tập thơ Chân quê, có ba
hiện tượng ngữ âm lịch sử cần lưu ý, đó là cách dùng các từ có phụ âm đầu gi tương
đương với các từ có phụ âm đầu tr, các từ có phụ âm đầu nh tương
đương với các từ có phụ âm đầu d và các từ có phụ âm đầu nh tương
đương với các từ có phụ âm đầu l.
TT
|
Từ khảo sát
|
Câu thơ
|
Bài thơ
|
1
|
Giầu
|
Lợn không nuôi, đặc ao bèo
Giầu không dây
chẳng buồn leo vào giàn
|
Qua nhà
|
Chị mở khăn giầu anh thắt lại:
“Mình về nuôi lấy mẹ,
mình ơi!”
|
Những bóng người trên
sân ga
|
||
Láng giềng đã đỏ đèn đâu
Chờ em chừng giập
miếng giầu em sang
|
Chờ nhau
|
||
Ai làm cả gió đắt cau
Mấy hôm sương muối
cho giầu đổ non?
|
|||
Nhà em có một
giàn giầu
Nhà tôi có một hàng cau
liên phòng
|
Tương tư
|
||
2
|
Gianh
|
Nhà gianh thì sẵn đấy
Vợ xấu có làm sao
|
Thanh đạm
|
Bỏ lại vườn cam, bỏ mái gianh
Tôi đi dan díu với kinh
thành
|
Hoa với rượu
|
||
Chắc ở nơi nào dưới
mái gianh
Chị em Nhi vẫn sống yên
lành
|
|||
3
|
Giời
|
Hội làng mở giữa mùa
thu
Giời cao gió cả
giăng như ban ngày
|
Đêm cuối cùng
|
Bên hiên hàng xóm cô
hàng xóm
Ngước mắt
nhìn giời đôi mắt trong
|
Xuân về
|
||
Xanh cây xanh cỏ xanh
đồi
Xanh rừng xanh núi,
da giời cũng xanh
|
Vài nét rừng
|
||
Da giời ai
nhuộm mà lam
Tình ta ai nhuộm ai làm
cho phai?
|
|||
Gió mưa là bệnh của giời
|
Tương tư
|
||
Đêm qua mưa gió
đầy giời
|
Lỡ bước sang ngang
|
||
Mùa xuân là cả một mùa xanh
Giời ở trên cao,
lá ở cành
|
Mùa xuân xanh
|
||
Mình tôi giời bắt làm thi sĩ
|
Hoa với rượu
|
||
Hai đứa sống bằng hoa
với rượu
Sống
vào giời đất, sống cho nhau
|
|||
Giời làm xa cách
mấy con sông
|
Xuân tha hương
|
||
Chén rượu tha
hương, giời, đắng lắm!
|
|||
Đức vua một sớm đầu xuân ấy
Lòng đẹp
theo giời, dạo Ngự Viên
|
Xóm Ngự Viên
|
||
Khoa cử bỏ rồi, thôi
hết Trạng!
Giời đem hoa cỏ
trả vườn tiên
|
|||
Mẹ con đeo đẳng nghề ca
xướng
Nuôi được con
sao, giời hỡi giời!
|
Oan nghiệt
|
||
Một lứa
bên giời chung lận đận
|
|||
Suốt giời không
một điểm sao
Suốt giời mực
ở nơi nào loang ra
|
Lửa đò
|
||
Một
buổi giời đi đưa đám tang
|
Diệu vợi
|
||
Mây trắng đang xây mộng
viễn hành
Chiều nay tôi lại
ngắm giời xanh
Giời xanh là một
tờ thư rộng
Tôi thảo
lên giời mấy nét thanh
|
Bảy chữ
|
||
Xe ngựa chiều nay ngập
thị thành
Chiều nay nàng bắt
được giời xanh
|
|||
4
|
Giăng
|
Hội làng mở giữa mùa
thu
Giời cao gió cả giăng như ban ngày
|
Đêm cuối cùng
|
Sáng giăng chia nửa vườn chè
|
Thời trước
|
||
Đêm qua mới thật là đêm
Ai đem giăng sáng giãi lên vườn chè
|
|||
Giăng vàng đầy ngõ gió mênh mông
|
Hoa với rượu
|
||
Giăng non như một cánh diều
|
Đường rừng chiều
|
||
Có người đêm ấy khóc giăng lên
|
Xóm Ngự Viên
|
||
Sắt son một chuyến giăng còn sáng
|
Oan nghiệt
|
||
Lửa đò chong cái giăng hoa
|
Lửa đò
|
||
Đêm nay giăng rụng về bên ấy
Gác trọ còn nguyên gió thất tình
|
Một mình
|
||
5
|
Giồng
|
Mấy sào vườn đất mới
Giồng dâu và giồng cam
|
Thanh đạm
|
Người đi xây dựng cơ đồ
Chị về giồng cỏ nấm mồ thanh xuân
|
Lỡ bước sang ngang
|
||
Vườn có giồng cam có nở hoa?
|
Hoa với rượu
|
||
Chồng chị giồng cam ở mé sông
|
|||
6
|
Giả
|
Mười năm vay mượn vào kinh sử
Đã giả xong rồi nợ bút nghiên
|
Xóm Ngự Viên
|
Qua bảng thống kê trên, chúng tôi nhận thấy tần số xuất hiện
của các từ có phụ âm đầu gi được dùng tương đương với các từ có phụ
âm đầu tr là khá cao; trong đó, từ giời và từ giăng được
sử dụng với mức độ nhiều nhất.
Theo Từ điển tiếng Việt, các từ giầu, gianh, giời,
giăng, giồng, giả được chú thích về phong cách, phạm vi sử dụng, sắc thái
tu từ... là các từ cũ, phương ngữ (ph). Nghĩa của các từ này được giải thích bằng
cách giả tá qua các từ trầu, tranh, trời, trăng, trồng, trả. Chẳng hạn,
từ giăng được giải thích như sau:
giăng [cũ, hoặc ph] xem trăng [4; 513]
Như vậy, các cặp từ giầu - trầu, gianh - tranh, giời -
trời, giăng - trăng, giồng - trồng, giả - trả được dùng như nhau về nghĩa,
chỉ khác nhau ở phạm vi sử dụng hoặc phong cách. Các từ giầu, gianh, giời,
giăng, giồng, giả so với các từ trầu, tranh, trời, trăng, trồng, trả được
dùng từ thời trước, xưa hơn, cổ hơn và thường xuất hiện trong phương ngữ Bắc Bộ.
1.2. Các từ có phụ âm đầu nh được dùng tương đương
với các từ có phụ âm đầu d
Hiện tượng này xuất hiện một lần trong tuyển tập
thơ Chân quê, thể hiện qua từ nhao nhác:
Nhọc nhằn tiếng cú trong canh vắng
Nhao nhác đàn dơi lúc đỏ đèn...
(Xóm Ngự Viên)
Nhao nhác có phụ âm đầu nh, từ này đồng nghĩa
với từ nháo nhác và được dùng tương đương với từ dáo dác có
phụ âm đầu d. Từ điển tiếng Việt giải thích:
nhao nhác [id] như nháo nhác
nháo nhác: hỗn loạn lên, đầy vẻ sợ hãi, hốt hoảng ĐN dáo
dác, nhao nhác [4; 907].
Như vậy, nhao nhác là từ có phạm vi sử dụng hẹp (ít
dùng) so với các từ đồng nghĩa kể trên.
1.3. Các từ có phụ âm đầu nh được dùng tương đương
với các từ có phụ âm đầu l
Hiện tượng này xuất hiện 2 lần trong tuyển tập thơ Chân
quê, thể hiện qua từ nhỡ nhàng:
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn
(Mưa
xuân)
Vâng, từ ân ái nhỡ nhàng
Lòng tôi riêng nhớ bạn vàng ngày xưa
(Người
hàng xóm)
Từ điển tiếng Việt giải thích:
nhỡ nhàng [kng] như lỡ làng (nhưng thường nói
về những sự việc không quan trọng lắm) [4; 931].
lỡ làng: dở dang không thành, không đạt do bị trắc trở (thường
nói về chuyện tình duyên) [4; 752].
Trong hai cặp câu thơ trích dẫn ở trên, ta cảm nhận sắc thái
phong cách của từ nhỡ nhàng giúp câu thơ không quá nặng nề nhưng vẫn
thể hiện được ý nghĩa lỡ dở của những mối tình. Tuy nhiên, trong một bài
thơ khác, Nguyễn Bính vẫn dùng từ lỡ làng mà không dùng từ nhỡ
nhàng:
Đoái thương thân chị lỡ làng
Đoái thương phận chị dở dang những ngày
(Lỡ
bước sang ngang)
Cách chọn từ ngữ của nhà thơ tưởng như tự nhiên mà hết sức tỉ
mỉ, thể hiện đầy đủ và đa dạng sắc thái tu từ văn chương.
2. Lý giải vấn đề
Ba hiện tượng ngữ âm lịch sử trong thơ Nguyễn Bính trước Cách
mạng tháng Tám năm 1945 chúng tôi khảo sát ở trên có thể được lý giải từ sự biến
đổi ngữ âm tiếng Việt khi tách khỏi khối Việt - Mường chung. Về nguồn gốc của
tiếng Việt, quan điểm thuyết phục hiện nay là quan điểm cho rằng tiếng Việt thuộc
họ Nam Á, dòng Môn - Khơme, nhánh Việt Mường. Cách đây trên một ngàn năm, người
Việt còn đang nói tiếng Việt Mường chung. Trong giai đoạn cuối của Việt Mường
chung, cấu trúc âm tiết về cơ bản đã có dạng PNP (phụ âm - nguyên âm - phụ âm),
âm tiết có trường độ cố định và đã hình thành sáu thanh điệu (thanh điệu bổng gồm
ngang, sắc, hỏi và thanh điệu trầm gồm huyền, nặng, ngã). Lúc này, sự đối lập
hai hệ nguyên âm dài - ngắn đã mất tính đều đặn nên có thể khẳng định, quá
trình tách đôi Việt và Mường được đặc trưng ở các mặt phụ âm đầu và phụ âm cuối.
Ba hiện tượng ngữ âm lịch sử mà chúng tôi khảo sát trong thơ Nguyễn Bính trước
Cách mạng tháng Tám đều liên quan đến phụ âm đầu. Cụ thể như sau:
2.1. Các từ có phụ âm đầu gi được dùng tương đương
với các từ có phụ âm đầu tr
Ở thế kỷ XVII, trong tiếng Việt vẫn còn các nhóm phụ âm có/l/
như/bl/,/tl/,/ml/. Tiền thân của/bl/,/tl/,/ml/ còn lại trong tiếng Mường và
trong chữ Nôm, chẳng hạn trăng (𢁋) chữ Nôm còn ghi
là ba lăng (巴 + 陵), blăng. Trong một thời gian,/bl/
và/tl/ còn có giá trị khu biệt ý nghĩa, ví dụ trong từ điển của Alexandre De
Rhodes:
tlai: mẹ viên ngọc, tức con trai biển [5; 230]
blái: blái núi, blái tim, blái mlót (trái nhót) [5; 39]
tlái: tay tlái, nói tlái mlẽ (nói trái nhẽ) [5; 230]
Các nhóm phụ âm/bl/,/tl/ ở cuối thế kỷ XVII đã biến đổi thành
các âm quặt lưỡi, thành/tr/ ở phương ngôn miền Trung, miền Nam và/gi/ ở phương
ngôn miền Bắc. Ví dụ:
tlai > trai, giai [5; 230]
blo > tro, gio [5; 40]
blênh > trành, giành (bình có hai tai) [5; 40]
Có thể lý giải các từ có phụ âm đầu gi được dùng
tương đương với các từ có phụ âm đầu tr tương tự theo mô hình biến đổi
ngữ âm như sau:
TT
|
Các từ chứa phụ âm
đầu có/l/
|
Các từ đọc theo
phương ngữ miền Trung và miền Nam
|
Các từ đọc theo
phương ngữ miền Bắc
|
Ghi chú
|
1
|
Blàu
|
Trầu
|
Giầu
|
[5; 40]
|
2
|
Blang
|
Tranh
|
Gianh
|
[5; 167]
|
3
|
Blời
|
Trời
|
Giời
|
[5; 40]
|
4
|
Blăng
|
Trăng
|
Giăng
|
[5; 39]
|
5
|
Blòu
|
Trồng
|
Giồng
|
[5; 41]
|
6
|
Blả
|
Trả
|
Giả
|
[5; 38]
|
2.2. Các từ có phụ âm đầu nh được dùng tương đương
với các từ có phụ âm đầu d
Trong tiếng Việt Mường chung, các âm đầu đều là vô thanh. Khi
tiếp xúc với âm Hán cuối đời Đường, ta lẫn lộn các phụ âm/k/ với/g/,/p/ với/b/
vì lúc đó các phụ âm hữu thanh của ta đã hoàn toàn biến mất. Khoảng thế kỉ XII,
trong tiếng Việt lại xuất hiện một số phụ âm hữu thanh, trong đó có phụ âm/j/
nhưng là âm tiền thanh hầu hoá/?j/. Chúng nảy sinh từ các âm đầu nổ vô
thanh/ch/ trong tiếng Việt Mường. Dựng lại quá trình này, Nguyễn Ngọc San đưa
ra giả định:
ch (Mường) > ?j > ?nh > nh (Việt) [6; 35]
Về quá trình biến đổi ngữ âm?j > nh, ta còn thấy dấu vết
trong sự song song tồn tại/d/ và/nh/ trong tiếng Việt, ví dụ: dăn deo -
nhăn nheo, dồi - nhồi, dúm - nhúm, dức - nhức, diếc - nhiếc, dừ - nhừ, dòm -
nhòm, dường - nhường... Chữ Nôm vẫn dùng dã (也) ghi nhả,
dùng dặc (弋) ghi nhắc, dùng dư (輿) ghi như.
Như vậy, hiện tượng các từ có phụ âm đầu nh được dùng
tương đương với các từ có phụ âm đầu d đã thể hiện dấu ấn ngữ âm lịch
sử trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng tháng Tám.
2.3. Các từ có phụ âm đầu nh được dùng tương đương
với các từ có phụ âm đầu l
Như trên đã nói, ở thế kỷ XVII, trong tiếng Việt vẫn còn các
nhóm phụ âm có/l/ như/bl/,/tl/,/ml/. Nhóm phụ âm/ml/ còn có hình thức biến thể
là/mnh/. Trong từ điển của Alexandre De Rhodes còn có các từ như mnhầm và mlầm, mnhẽ và mlẽ. Với
các từ có nhóm phụ âm/mnh/, Alexandre De Rhodes giải thích nghĩa bằng cách giả
tá, ví dụ:
mnhầm: xem mlầm
mnhẽ: xem mlẽ [5; 151]
Cuối thế kỷ XVII,/ml/ và/mnh/ sẽ chuyển biến thành/nh/ ở
phương ngôn miền Bắc và/l/ ở phương ngôn miền Nam, miền Trung, ví dụ:
mlạc: nhạc, lạc (m lạc ngựa: nhạc ngựa, lục lạc ngựa)
mlầm: nhầm, lầm
mlang: nhãng, lãng (mlang quên)
mlanh: nhanh, lanh (mlanh mlẹn)
mlát: nhát, lát [5; 149]
mlặt: nhặt, lặt
mlạt: nhạt, lạt
mlỡ: nhỡ, lỡ
mlời: nhời, lời
mlớn: nhớn, lớn [5; 150]
Như vậy, cách dùng từ nhỡ nhàng và lỡ
làng của Nguyễn Bính trong trường hợp thứ ba chúng tôi khảo sát cũng thuộc
về lĩnh vực ngữ âm lịch sử.
3. Kết luận
Qua nội dung khảo sát và lý giải như trên, chúng tôi bước đầu
có những nhận xét như sau:
Một là, dấu ấn ngữ âm lịch sử là một đặc trưng ngôn ngữ trong
lời thơ, giọng thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng - mang đậm tính chất quê mùa của
làng thôn Bắc Bộ từ thế kỷ XVII. Đây chỉ là một phương diện trong thơ Nguyễn
Bính nhưng góp phần lớn trong việc khẳng định phong cách của ông. Nói như Hoài
Thanh - Hoài Chân, thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu
trong lòng ta... Giá Nguyễn Bính sinh ra ở thời trước, tôi chắc người đã làm những
câu ca dao mà dân quê vẫn hát quanh năm... Đó chính là hồn xưa của đất
nước [3] trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng
năm 1945.
Hai là, phân tích vấn đề ngữ âm lịch sử trong thơ Nguyễn Bính
trước Cách mạng tháng Tám là hướng tìm hiểu tích hợp phương diện ngôn ngữ học và
văn hóa, văn tự học. Đây được coi là một hướng nghiên cứu có triển vọng, có thể
vận dụng đối với nhiều hiện tượng thơ ca Việt Nam, nhằm đưa đến một cách nhìn tổng
quan về lịch sử ngôn ngữ - phong cách thơ Việt.
Ba là, nội dung tham luận có thể được xem là tài liệu tham khảo
cho sinh viên ngành Sư phạm Ngữ Văn trong việc tìm hiểu thơ Nguyễn Bính - một nội
dung của học phần Văn học Việt Nam hiện đại. Đồng thời, bài viết cũng cung cấp
một cách sơ bộ hiểu biết về vấn đề ngữ âm lịch sử, giúp sinh viên bớt lúng túng
trong việc tiếp cận với nội dung Văn bản Nôm trong học phần Hán Nôm.
Chú thích:
13.9.2018
Đặng Thị Thu Hà
Đặng Thị Thu Hà
Nguồn: Trăm năm Nguyễn Bính, Truyền thống & Hiện đại. Nhiều tác giả.
Hội thảo khoa học về Nguyễn Bính do Viện Văn học &








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét