Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2019

Dấu ấn ngữ âm lịch sử trong thơ Nguyễn Bính trước 1945

Dấu ấn ngữ âm lịch sử trong thơ 
Nguyễn Bính trước 1945
Nguyễn Bính được mệnh danh là nhà thơ mang bản chất nhà quê [1]; 343] trong làng Thơ mới Việt Nam. Phong cách chân quê được thể hiện ở cả nội dung đề tài và nghệ thuật thể hiện, từ linh hồn cảnh sắc quê hương Bắc Việt đến lời thơ, giọng thơ Nguyễn Bính. Nhắc đến thơ ông, nhiều người ấn tượng với cách diễn đạt giản dị như lời ăn tiếng nói của người nhà quê, đặc biệt là những từ ngữ mang đặc trưng ngữ vực địa phương. Nhìn từ góc độ ngôn ngữ học, đó chính là dấu ấn ngữ âm lịch sử hết sức độc đáo trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng tháng Tám. Ở phạm vi bài hội thảo, chúng tôi khảo sát và lí giải vấn đề ngữ âm lịch sử trong thơ Nguyễn Bính qua tuyển tập thơ Chân quê (gồm 43 bài thơ) do Mã Giang Lân tuyển chọn và giới thiệu [2]. Chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp so sánh - lịch sử, phương pháp khảo sát - phân tích ngôn ngữ, phương pháp tích hợp ngữ - văn.
1. Khảo sát dấu ấn ngữ âm lịch sử trong thơ Nguyễn Bính
Chúng tôi nhận thấy trong tuyển tập thơ Chân quê, có ba hiện tượng ngữ âm lịch sử cần lưu ý, đó là cách dùng các từ có phụ âm đầu gi tương đương với các từ có phụ âm đầu tr, các từ có phụ âm đầu nh tương đương với các từ có phụ âm đầu d và các từ có phụ âm đầu nh tương đương với các từ có phụ âm đầu l.
1.1. Các từ có phụ âm đầu gi được dùng tương đương với các từ có phụ âm đầu tr
Đây là hiện tượng ngữ âm ở các từ giầu - trầu, gianh - tranh, giời - trời, giăng - trăng, giồng - trồng, giả - trả. Trong đó, từ giầu xuất hiện 5 lần trong 4 bài, từ gianh xuất hiện 3 lần trong 2 bài, từ giời xuất hiện 23 lần trong 13 bài, từ giăng xuất hiện 9 lần trong 8 bài, từ giồng xuất hiện 5 lần trong 3 bài, từ giả xuất hiện 1 lần trong 1 bài. Chúng tôi hệ thống lại qua bảng sau:
TT
Từ khảo sát
Câu thơ
Bài thơ




1






Giầu
Lợn không nuôi, đặc ao bèo
Giầu không dây chẳng buồn leo vào giàn

Qua nhà
Chị mở khăn giầu anh thắt lại:
“Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!”
Những bóng người trên sân ga
Láng giềng đã đỏ đèn đâu
Chờ em chừng giập miếng giầu em sang


Chờ nhau
Ai làm cả gió đắt cau
Mấy hôm sương muối cho giầu đổ non?
Nhà em có một giàn giầu
Nhà tôi có một hàng cau liên phòng
Tương tư


2

Gianh
Nhà gianh thì sẵn đấy
Vợ xấu có làm sao
Thanh đạm
Bỏ lại vườn cam, bỏ mái gianh
Tôi đi dan díu với kinh thành

Hoa với rượu
Chắc ở nơi nào dưới mái gianh
Chị em Nhi vẫn sống yên lành















3
















Giời
Hội làng mở giữa mùa thu
Giời cao gió cả giăng như ban ngày
Đêm cuối cùng
Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm
Ngước mắt nhìn giời đôi mắt trong
Xuân về
Xanh cây xanh cỏ xanh đồi
Xanh rừng xanh núi, da giời cũng xanh


Vài nét rừng
Da giời ai nhuộm mà lam
Tình ta ai nhuộm ai làm cho phai?
Gió mưa là bệnh của giời
Tương tư
Đêm qua mưa gió đầy giời
Lỡ bước sang ngang
Mùa xuân là cả một mùa xanh
Giời ở trên cao, lá ở cành
Mùa xuân xanh
Mình tôi giời bắt làm thi sĩ

Hoa với rượu
Hai đứa sống bằng hoa với rượu
Sống vào giời đất, sống cho nhau
Giời làm xa cách mấy con sông

Xuân tha hương
Chén rượu tha hương, giời, đắng lắm!
Đức vua một sớm đầu xuân ấy
Lòng đẹp theo giời, dạo Ngự Viên


Xóm Ngự Viên
Khoa cử bỏ rồi, thôi hết Trạng!
Giời đem hoa cỏ trả vườn tiên
Mẹ con đeo đẳng nghề ca xướng
Nuôi được con sao, giời hỡi giời!

Oan nghiệt
Một lứa bên giời chung lận đận
Suốt giời không một điểm sao
Suốt giời mực ở nơi nào loang ra
Lửa đò
Một buổi giời đi đưa đám tang
Diệu vợi
Mây trắng đang xây mộng viễn hành
Chiều nay tôi lại ngắm giời xanh
Giời xanh là một tờ thư rộng
Tôi thảo lên giời mấy nét thanh


Bảy chữ
Xe ngựa chiều nay ngập thị thành
Chiều nay nàng bắt được giời xanh







4








Giăng
Hội làng mở giữa mùa thu
Giời cao gió cả giăng như ban ngày
Đêm cuối cùng
Sáng giăng chia nửa vườn chè

Thời trước
Đêm qua mới thật là đêm
Ai đem giăng sáng giãi lên vườn chè
Giăng vàng đầy ngõ gió mênh mông
Hoa với rượu
Giăng non như một cánh diều
Đường rừng chiều
Có người đêm ấy khóc giăng lên
Xóm Ngự Viên
Sắt son một chuyến giăng còn sáng
Oan nghiệt
Lửa đò chong cái giăng hoa
Lửa đò
Đêm nay giăng rụng về bên ấy
Gác trọ còn nguyên gió thất tình
Một mình


5



Giồng
Mấy sào vườn đất mới
Giồng dâu và giồng cam
Thanh đạm
Người đi xây dựng cơ đồ
Chị về giồng cỏ nấm mồ thanh xuân
Lỡ bước sang ngang
Vườn có giồng cam có nở hoa?
Hoa với rượu
Chồng chị giồng cam ở mé sông
6
Giả
Mười năm vay mượn vào kinh sử
Đã giả xong rồi nợ bút nghiên
Xóm Ngự Viên
Qua bảng thống kê trên, chúng tôi nhận thấy tần số xuất hiện của các từ có phụ âm đầu gi được dùng tương đương với các từ có phụ âm đầu tr là khá cao; trong đó, từ giời và từ giăng được sử dụng với mức độ nhiều nhất.
Theo Từ điển tiếng Việt, các từ giầu, gianh, giời, giăng, giồng, giả được chú thích về phong cách, phạm vi sử dụng, sắc thái tu từ... là các từ cũ, phương ngữ (ph). Nghĩa của các từ này được giải thích bằng cách giả tá qua các từ trầu, tranh, trời, trăng, trồng, trả. Chẳng hạn, từ giăng được giải thích như sau:
giăng [cũ, hoặc ph] xem trăng [4; 513]
Như vậy, các cặp từ giầu - trầu, gianh - tranh, giời - trời, giăng - trăng, giồng - trồng, giả - trả được dùng như nhau về nghĩa, chỉ khác nhau ở phạm vi sử dụng hoặc phong cách. Các từ giầu, gianh, giời, giăng, giồng, giả so với các từ trầu, tranh, trời, trăng, trồng, trả được dùng từ thời trước, xưa hơn, cổ hơn và thường xuất hiện trong phương ngữ Bắc Bộ.
1.2. Các từ có phụ âm đầu nh được dùng tương đương với các từ có phụ âm đầu d
Hiện tượng này xuất hiện một lần trong tuyển tập thơ Chân quê, thể hiện qua từ nhao nhác:
Nhọc nhằn tiếng cú trong canh vắng
Nhao nhác đàn dơi lúc đỏ đèn...
(Xóm Ngự Viên)
Nhao nhác có phụ âm đầu nh, từ này đồng nghĩa với từ nháo nhác và được dùng tương đương với từ dáo dác có phụ âm đầu d. Từ điển tiếng Việt giải thích:
nhao nhác [id] như nháo nhác
nháo nhác: hỗn loạn lên, đầy vẻ sợ hãi, hốt hoảng ĐN dáo dác, nhao nhác [4; 907].
Như vậy, nhao nhác là từ có phạm vi sử dụng hẹp (ít dùng) so với các từ đồng nghĩa kể trên.
1.3. Các từ có phụ âm đầu nh được dùng tương đương với các từ có phụ âm đầu l
Hiện tượng này xuất hiện 2 lần trong tuyển tập thơ Chân quê, thể hiện qua từ nhỡ nhàng:
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn
Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng!
(Mưa xuân)
Vâng, từ ân ái nhỡ nhàng
Lòng tôi riêng nhớ bạn vàng ngày xưa
(Người hàng xóm)
Từ điển tiếng Việt giải thích:
nhỡ nhàng [kng] như lỡ làng (nhưng thường nói về những sự việc không quan trọng lắm) [4; 931].
lỡ làng: dở dang không thành, không đạt do bị trắc trở (thường nói về chuyện tình duyên) [4; 752].
Trong hai cặp câu thơ trích dẫn ở trên, ta cảm nhận sắc thái phong cách của từ nhỡ nhàng giúp câu thơ không quá nặng nề nhưng vẫn thể hiện được ý nghĩa lỡ dở của những mối tình. Tuy nhiên, trong một bài thơ khác, Nguyễn Bính vẫn dùng từ lỡ làng mà không dùng từ nhỡ nhàng:
Đoái thương thân chị lỡ làng
Đoái thương phận chị dở dang những ngày
(Lỡ bước sang ngang)
Cách chọn từ ngữ của nhà thơ tưởng như tự nhiên mà hết sức tỉ mỉ, thể hiện đầy đủ và đa dạng sắc thái tu từ văn chương.
2. Lý giải vấn đề
Ba hiện tượng ngữ âm lịch sử trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 chúng tôi khảo sát ở trên có thể được lý giải từ sự biến đổi ngữ âm tiếng Việt khi tách khỏi khối Việt - Mường chung. Về nguồn gốc của tiếng Việt, quan điểm thuyết phục hiện nay là quan điểm cho rằng tiếng Việt thuộc họ Nam Á, dòng Môn - Khơme, nhánh Việt Mường. Cách đây trên một ngàn năm, người Việt còn đang nói tiếng Việt Mường chung. Trong giai đoạn cuối của Việt Mường chung, cấu trúc âm tiết về cơ bản đã có dạng PNP (phụ âm - nguyên âm - phụ âm), âm tiết có trường độ cố định và đã hình thành sáu thanh điệu (thanh điệu bổng gồm ngang, sắc, hỏi và thanh điệu trầm gồm huyền, nặng, ngã). Lúc này, sự đối lập hai hệ nguyên âm dài - ngắn đã mất tính đều đặn nên có thể khẳng định, quá trình tách đôi Việt và Mường được đặc trưng ở các mặt phụ âm đầu và phụ âm cuối. Ba hiện tượng ngữ âm lịch sử mà chúng tôi khảo sát trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng tháng Tám đều liên quan đến phụ âm đầu. Cụ thể như sau:
2.1. Các từ có phụ âm đầu gi được dùng tương đương với các từ có phụ âm đầu tr
Ở thế kỷ XVII, trong tiếng Việt vẫn còn các nhóm phụ âm có/l/ như/bl/,/tl/,/ml/. Tiền thân của/bl/,/tl/,/ml/ còn lại trong tiếng Mường và trong chữ Nôm, chẳng hạn trăng (𢁋)  chữ Nôm còn ghi là ba lăng (巴 + 陵), blăng. Trong một thời gian,/bl/ và/tl/ còn có giá trị khu biệt ý nghĩa, ví dụ trong từ điển của Alexandre De Rhodes:
tlai: mẹ viên ngọc, tức con trai biển [5; 230]
blái: blái núi, blái tim, blái mlót (trái nhót) [5; 39]
tlái: tay tlái, nói tlái mlẽ (nói trái nhẽ) [5; 230]
Các nhóm phụ âm/bl/,/tl/ ở cuối thế kỷ XVII đã biến đổi thành các âm quặt lưỡi, thành/tr/ ở phương ngôn miền Trung, miền Nam và/gi/ ở phương ngôn miền Bắc. Ví dụ:
tlai > trai, giai [5; 230]
blo > tro, gio [5; 40]
blênh > trành, giành (bình có hai tai) [5; 40]
Có thể lý giải các từ có phụ âm đầu gi được dùng tương đương với các từ có phụ âm đầu tr tương tự theo mô hình biến đổi ngữ âm như sau:
TT

Các từ chứa phụ âm đầu có/l/

Các từ đọc theo phương ngữ miền Trung và miền Nam

Các từ đọc theo phương ngữ miền Bắc

Ghi chú

1

Blàu

Trầu

Giầu

[5; 40]

2

Blang

Tranh

Gianh

[5; 167]

3

Blời

Trời

Giời

[5; 40]

4

Blăng

Trăng

Giăng

[5; 39]

5

Blòu

Trồng

Giồng

[5; 41]

6

Blả

Trả

Giả

[5; 38]

2.2. Các từ có phụ âm đầu nh được dùng tương đương với các từ có phụ âm đầu d
Trong tiếng Việt Mường chung, các âm đầu đều là vô thanh. Khi tiếp xúc với âm Hán cuối đời Đường, ta lẫn lộn các phụ âm/k/ với/g/,/p/ với/b/ vì lúc đó các phụ âm hữu thanh của ta đã hoàn toàn biến mất. Khoảng thế kỉ XII, trong tiếng Việt lại xuất hiện một số phụ âm hữu thanh, trong đó có phụ âm/j/ nhưng là âm tiền thanh hầu hoá/?j/. Chúng nảy sinh từ các âm đầu nổ vô thanh/ch/ trong tiếng Việt Mường. Dựng lại quá trình này, Nguyễn Ngọc San đưa ra giả định:
ch (Mường) > ?j > ?nh > nh (Việt) [6; 35]
Về quá trình biến đổi ngữ âm?j > nh, ta còn thấy dấu vết trong sự song song tồn tại/d/ và/nh/ trong tiếng Việt, ví dụ: dăn deo - nhăn nheo, dồi - nhồi, dúm - nhúm, dức - nhức, diếc - nhiếc, dừ - nhừ, dòm - nhòm, dường - nhường... Chữ Nôm vẫn dùng dã (也) ghi nhả, dùng dặc (弋) ghi nhắc, dùng dư (輿) ghi như.
Như vậy, hiện tượng các từ có phụ âm đầu nh được dùng tương đương với các từ có phụ âm đầu d đã thể hiện dấu ấn ngữ âm lịch sử trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng tháng Tám.
2.3. Các từ có phụ âm đầu nh được dùng tương đương với các từ có phụ âm đầu l
Như trên đã nói, ở thế kỷ XVII, trong tiếng Việt vẫn còn các nhóm phụ âm có/l/ như/bl/,/tl/,/ml/. Nhóm phụ âm/ml/ còn có hình thức biến thể là/mnh/. Trong từ điển của Alexandre De Rhodes còn có các từ như mnhầm và mlầm, mnhẽ và mlẽ. Với các từ có nhóm phụ âm/mnh/, Alexandre De Rhodes giải thích nghĩa bằng cách giả tá, ví dụ:
mnhầm: xem mlầm
mnhẽ: xem mlẽ [5; 151]
Cuối thế kỷ XVII,/ml/ và/mnh/ sẽ chuyển biến thành/nh/ ở phương ngôn miền Bắc và/l/ ở phương ngôn miền Nam, miền Trung, ví dụ:
mlạc: nhạc, lạc (m lạc ngựa: nhạc ngựa, lục lạc ngựa)
mlầm: nhầm, lầm
mlang: nhãng, lãng (mlang quên)
mlanh: nhanh, lanh (mlanh mlẹn)
mlát: nhát, lát [5; 149]
mlặt: nhặt, lặt
mlạt: nhạt, lạt
mlẽ: nhẽ, lẽ
mlỡ: nhỡ, lỡ
mlời: nhời, lời
mlớn: nhớn, lớn [5; 150]
Như vậy, cách dùng từ nhỡ nhàng và lỡ làng của Nguyễn Bính trong trường hợp thứ ba chúng tôi khảo sát cũng thuộc về lĩnh vực ngữ âm lịch sử.
3. Kết luận
Qua nội dung khảo sát và lý giải như trên, chúng tôi bước đầu có những nhận xét như sau:
Một là, dấu ấn ngữ âm lịch sử là một đặc trưng ngôn ngữ trong lời thơ, giọng thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng - mang đậm tính chất quê mùa của làng thôn Bắc Bộ từ thế kỷ XVII. Đây chỉ là một phương diện trong thơ Nguyễn Bính nhưng góp phần lớn trong việc khẳng định phong cách của ông. Nói như Hoài Thanh - Hoài Chân, thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta... Giá Nguyễn Bính sinh ra ở thời trước, tôi chắc người đã làm những câu ca dao mà dân quê vẫn hát quanh năm... Đó chính là hồn xưa của đất nước [3] trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng năm 1945.
Hai là, phân tích vấn đề ngữ âm lịch sử trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng tháng Tám là hướng tìm hiểu tích hợp phương diện ngôn ngữ học và văn hóa, văn tự học. Đây được coi là một hướng nghiên cứu có triển vọng, có thể vận dụng đối với nhiều hiện tượng thơ ca Việt Nam, nhằm đưa đến một cách nhìn tổng quan về lịch sử ngôn ngữ - phong cách thơ Việt.
Ba là, nội dung tham luận có thể được xem là tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành Sư phạm Ngữ Văn trong việc tìm hiểu thơ Nguyễn Bính - một nội dung của học phần Văn học Việt Nam hiện đại. Đồng thời, bài viết cũng cung cấp một cách sơ bộ hiểu biết về vấn đề ngữ âm lịch sử, giúp sinh viên bớt lúng túng trong việc tiếp cận với nội dung Văn bản Nôm trong học phần Hán Nôm.
Chú thích:
[1] Hoài Thanh, Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam. Nxb. Văn học, H., 2000.
[2] Nguyễn Bính: Chân quê - Thơ (Mã Giang Lân tuyển chọn và giới thiệu). Nxb. Giáo dục, H., 1993.
[3] Hoài Thanh, Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam. Nxb. Văn học, H., 2000, tr.344.
13.9.2018
Đặng Thị Thu Hà
Nguồn: Trăm năm Nguyễn Bính, Truyền thống & Hiện đại. Nhiều tác giả. 
Hội thảo khoa học về Nguyễn Bính do Viện Văn học & 
Trường Đại học Văn Lang tổ chức. NXB Hội Nhà văn, 7-2018
Theo http://demo.trieuxuan.info/


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Truyện ngắn Nguyễn Văn Thọ cô đọng, nhiều tầng nghĩa và đầy cảm xúc

Truyện ngắn Nguyễn Văn Thọ cô đọng, nhiều tầng nghĩa và đầy cảm xúc “Vườn mộng” thêm lần nữa, tôi có niềm xác tín hoàn hảo về Nguyễn Văn T...