Người say trong tỉnh, tỉnh trong say
Thực tình, tôi ít có dịp được tiếp xúc với ông. Những lần gặp
gỡ, đều do công việc gấp gáp. Nhưng ấn tượng về ông là một nhà thơ dễ gần, chân
tình, với nếp sống giản dị.
Tôi còn nhớ đầu năm 1980, đến thăm ông, được ông tặng tập tiểu
luận-phê bình “Cuộc sống Thơ và Thơ cuộc sống”, của ông do Nhà xuất bản Văn Học
vừa ấn hành. Ngay trang đầu, ông đề tặng “Thân tặng Vũ Từ Trang” và chữ ký
“Thông” làm tôi vô cùng xúc động. Ấy là ông quý hóa mà đề tặng vậy, chứ tôi chỉ
là lứa tuổi con cháu của ông. Cuốn sách gần bốn mươi năm, giấy đã ố vàng, nhưng
trong tủ sách nhà tôi, vẫn được xếp vào ô trang trọng.
Nhớ những ngày làm báo Tết, ban biên tập thường cử tôi đến gặp
nhà thơ Hoàng Trung Thông xin câu đối Tết. Báo Tết, mục câu đối Tết, như một
món ăn không thể thiếu.
Một bữa, tôi chợt tới cửa phòng ông, khi ông đang ngửa mặt vuốt
chòm râu, người rung rung ngâm một câu thơ cổ. Có thể là câu thơ Đường hoặc Tống,
mà tôi không nghe rõ. Ấy là lúc ông như nhập đồng, thật thi sỹ. Tôi đứng lặng,
lắng nghe. Ông ngâm hết câu thơ, quay ra nhìn tôi, vồn vã bảo vào đi, vào đi.
Ông như đọc được ý nghĩ của tôi, rồi ông cười khà. Cậu đến lấy câu đối Tết phải
không? Báo Tết năm nay in ấn có xôm không? Khất ba hôm nữa, đến lấy nhé. Ông lại
ngửa mặt, vuốt chòm râu, cười khà. Giọng cười nhỏ nhẹ, mà sảng khoái và như chả
có gì quan trọng.
Đúng ba ngày sau, sáng sớm, tôi hồi hộp bước từng bước cầu
thang gỗ, lên phòng ông. Ông nói xuề xòa mà thân mật “Cậu cầm về đọc, nhờ Ban
biên tập duyệt giúp. In được thì vui”. Tôi đón nhận chiếc phong bì, trong có mấy
trang giấy viết câu đối của ông, lòng vui khấp khởi. Tôi lập cập lấy bi-đông rượu
quê xin biếu ông. Ánh mắt ông khi ấy cười rất vui và đôn hậu. Ông mở nút
bi-đông, mùi thơm rượu bừng lên. Ông bảo rượu nếp Kinh Bắc à, cái vị thơm của nếp
làng Vân không lẫn được. Tôi vội chào ông, đem câu đối của ông về tòa soạn, để
ban biên tập kịp đưa in trang bìa của báo Tết. Có lẽ niềm vui của người đi xin
câu đối Tết, còn lớn hơn niềm vui người viết câu đối Tết. Đã mấy năm liền, báo
Tết cơ quan tôi có vinh hạnh được in câu đối của nhà thơ Hoàng Trung Thông. Ông
bận rộn như thế, mà ông vẫn dành thời gian cộng tác với báo chúng tôi. Cái tình
ấy lớn làm sao!
Vẫn chiếc cầu thang gỗ cũ kỹ, tay vịn đã lung lay, dẫn lên
căn phòng cũ càng. Một không gian cũ càng như mấy chục năm trước. Chiếc tủ quần
áo cũ kỹ. Giá sách gỗ đơn giản, đa phần những cuốn sách cũ càng, gáy sách đã sờn
rách. Những khung ảnh treo trên tường cũng cũ càng như khuôn mặt người trong ảnh.
Có khung kính treo bức thư pháp, giấy đã chớm ố. Mọi vật dụng trong phòng, như
giữ nguyên từ mấy chục năm trước. Tất cả, như toát lên đời sống thanh bần của
chủ nhà. Có thể điều kiện kinh tế không dư dật gì. Hoặc giả, người chủ nhà
không quan tâm vật chất.
Điều đáng suy nghĩ, chủ nhân căn phòng lại là một “quan” văn
hóa. Ông từng giữ chức Viện trưởng Viện Văn học. Ông từng làm Tổng biên tập báo
Văn Nghệ, Giám đốc Nhà xuất bản Văn học, Vụ trưởng vụ Văn nghệ thuộc Ban Tuyên
huấn Trung ương.
Căn buồng chừng ba chục mét vuông. Tôi băn khoăn, một thuở, gần
chục người cùng sinh sống trong căn phòng này.
- Ăn hết nhiều, ở mấy đâu anh. Hoàng Thị Bích Hà, người con
gái thứ, giải thích cho tôi.
- Vậy căn buồng này, được cơ quan phân cho từ bao giờ?
- Không. Không có cơ quan nào phân cả. Gia đình thuê của bên
nhà đất thành phố, từ năm 1956.
Hồi ấy, nhà thơ Hoàng Trung Thông còn làm việc ở tạp chí Văn
Nghệ, bên 51 Trần Hưng Đạo. Người con gái đầu, theo ông ra Hà Nội ăn học. Cảnh
hai bố con sống tập thể, đời sống tạm bợ, ông quyết định về Quỳnh Đôi (Nghệ An)
đón mẹ và người vợ cùng con gái thứ ra Hà Nội, để gia đình sum họp đoàn tụ. Rồi
tiếp đấy, ba người con chào đời trong căn phòng đơn sơ ấy. Cuộc sống vất vả,
nhưng hạnh phúc tràn trề.
Căn buồng đơn sơ, nhưng là nơi gặp gỡ bạn bè văn chương. Các
nhà văn nhà thơ Xuân Diệu, Tế Hanh, Chế Lan Viên thường ghé chơi. Có khi có cả
mấy họa sỹ Nguyễn Sáng, Mai Văn Hiến... Những ông ấy, việc cao đàm khoát luận ở
đâu, chứ đến đây chơi, thường nói năng rất khoan hòa. Có ông, nhớ nhau, đến
thăm nhau, ngồi yên một lúc lâu, lại đứng dậy ra về. Chuyện của các ông, thường
bàn về văn chương, nghệ thuật. Cũng có lúc bốc lên, ngồi uống với nhau một vài
chén rượu nhỏ. Bà Hồ Thị Hoa là người vợ hiểu tâm tính chồng và rất chiều
khách, hễ các ông rót rượu ra mấy cái chén bé như hạt mít, bà lại vội xuống bếp
rang mấy củ lạc, có khi là mấy bìa đậu phụ luộc, để các ông nhấm nháp. Đồ ăn thức
uống đơn giản, nhưng tấm lòng các nhà văn nhà thơ, các họa sĩ rất quý, rất
thương nhau.
Độ ấy, đời sống xã hội còn khó khăn. Nhà thơ Xuân Diệu đã mấy
lần cho người chở củi đến, giúp bạn thêm đồ đun nấu. Chả là, nhà thơ Xuân Diệu
khi ấy hay đi nói chuyện thơ trong ngành lâm nghiệp. Có khi, được nhận nhuận
nói bằng củi đun, ông bèn đem về san sẻ cho bạn bè. Biết nhà thơ Hoàng Trung
Thông nhà đông con, kinh tế thiếu thốn, mấy bó củi cũng đỡ bạn qua cơn khốn
khó. Ngày ấy, các ông sống với nhau rất chân tình. Thương bạn sống độc thân, đã
mấy tết, vợ chồng nhà thơ Hoàng Trung Thông gói bánh chưng luộc sớm, đem đến
tặng quà nhà thơ Xuân Diệu.
Là “quan” văn hóa, nhà thơ Hoàng Trung Thông hay có điều kiện
đi nước ngoài hơn các bạn. Mà ngày ấy, chỉ toàn đi mấy nước xã hội chủ nghĩa. Mỗi
lần đi về, bao giờ ông cũng có quà cho bạn. Có khi, chỉ là cây bút viết, cuốn sổ,
hộp diêm, mấy lưỡi dao cạo... Quà nghèo, của thời nghèo khó, nhưng cái tình thật
lớn. Có lẽ, nhà thơ Hoàng Trung Thông nảy ra ý tưởng sưu tập các hộp diêm từ bấy
giờ. Những chiếc hộp diêm to nhỏ, nhãn mác khác nhau, dễ gợi cho ông cảm xúc những
miền đất, những chặng hành trình xa gần đầy buồn vui.
Bích Hà cho tôi xem chiếc hộp sắt chứa đựng những chiếc hộp
diêm mà người cha tích cóp bao năm trời. Nhà thơ Hoàng Trung Thông đi xa đã gần
ba mươi năm. Những chiếc hộp diêm của nhiều nước, nay đã cũ càng. Có người bảo
bỏ đi, nhưng Bích Hà vẫn quyết giữ. Tôi xem bộ sưu tập hộp diêm của nhà thơ và
tôi hình dung ra những chặng hành trình với bao nghĩ suy nhân tình thế thái.
Bao vần thơ rưng rưng nhà thơ thai nghén trong chuyến đi ấy.
Cuối đời, khi đổ bệnh, nhiều buổi chiều trong căn phòng cũ
càng và vắng lặng, nhà thơ Hoàng Trung Thông lại lần giở bộ sưu tập hộp diêm ra
coi. Đêm đêm, ông lẩm nhẩm trò chuyện một mình với mấy pho tượng Đỗ Phủ, Lục
Du, Lỗ Tấn. Mấy pho tượng bằng sứ mỹ nghệ be bé, như thầm thĩ cũng ông bao điều
lớn lao. Người nhà kể lại, có khi ông ngồi bó gối, lặng yên như tảng đá. Có lúc
ông ngâm thơ Đỗ Phủ, Lục Du. Rồi ông ôm mặt khóc.
“Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”
Câu thơ ông viết từ mấy chục năm trước, nay đã thành một
thành ngữ để cổ vũ ý chí cho nhiều thế hệ. Ông có nhiều bài thơ in sâu vào tâm
trí bạn đọc. Nhiều bài thơ của ông được các nhạc sĩ phổ nhạc, thành ca khúc đi
cùng năm tháng. Nhiều bài thơ của ông đã đưa vào sách giáo khoa. Ông thành thạo
ba ngoại ngữ Hoa, Pháp, Anh. Ông từng tham gia dịch thơ của các nhà thơ thế giới,
như Đỗ Phủ, Lục Du, Puskin, Maiacôpxki, Pêtôphi, Hainơ. Với trình độ học vấn
uyên bác của ông, năm 1980, cả Viện Văn học suy tôn ông là giáo sư, nhưng ông lịch
lãm từ chối “Làm nhà thơ cũng đủ lắm rồi !”.
Cuộc đời ông luôn phải trải qua nhiều cam go khắc nghiệt.
Nhưng có lẽ khắc nghiệt nhất, khi ông phải làm “quan” văn nghệ. Bởi con người
ông luôn đầy mâu thuẫn giữa con người công chức và con người nghệ sĩ. Năm 1968,
khi đương chức Tổng biên tập báo Văn Nghệ, ông phải cầm bút ký duyệt in bài phê
bình tác phẩm “Tình rừng” của nhà văn Nguyễn Tuân, mà mắt ông rưng rưng lệ. Thời
ông làm viện trưởng Viện Văn học, ông tổ chức các công trình nghiên cứu về văn
học Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh, Văn học chống phong kiến phương Bắc, Văn học chống
Pháp, Mỹ. Đấy là thời kỳ anh em ở Viện Văn học làm việc rất bận rộn, mà sinh hoạt
rất vui. Tuy là viện trưởng, nhưng ông sống chan hòa với anh em. Ông là người
đi xin cấp trên cho Viện chiếc ô tô. Nhưng sáng sáng, ông vẫn cuốc bộ từ nhà
lên Viện làm việc.
Có người bảo, vì công việc quá bận rộn, quá nhiều vui buồn,
nên nhà thơ Hoàng Trung Thông đã tìm đến rượu. Tôi không rõ, ông uống rượu từ
khi nào. Ông từng nói vui với bạn bè, có 4 điều ông không bỏ. Đó là: tổ quốc,
thơ, vợ và rượu. Nhiều giai thoại về nhà thơ Hoàng Trung Thông với rượu. Có người
kể, năm 1976, khi còn làm vụ trưởng Vụ Văn nghệ, cấp trên có ý cất nhắc ông vào
ủy viên trung ương Đảng. Nhưng ông khiêm nhường xin từ chối, vì lý do ham uống
rượu. Việc mê rượu của ông hồi đó, chả thấm gì so với việc uống rượu của một số
quan chức ngày nay. Thời nhà thơ Hoàng Trung Thông uống rượu, toàn rượu quê, gọi
là rượu cỏ, giá có mấy xu, mấy hào. Chả sánh chai rượu ngoại các quan chức nay
uống, cả mấy ngàn đô.
Bạn rượu ở quán “Trúc viên” ngày ấy, đủ các thành phần. Văn
nghệ sỹ có, tri thức có, dân lao động cũng có. Hình như khi vào bàn rượu, con
người bình đẳng với nhau hơn. Trong quán rượu khi ồn ào, khi tĩnh lặng. Nhà thơ
họ Hoàng thường chọn chiếc bàn góc quán quen thuộc. Ông thường ngồi với họa sĩ
Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên và gọi chai rượu nhỏ. Tay vê vê hạt lạc, thi thoảng
nâng chén, nhấp rượu rất khoan thai. Khi uống rượu, nhà thơ Hoàng Trung Thông
thường lặng lẽ, nhìn mọi người. Cũng có khi ông ngửa cổ cười thầm điều gì đó.
Cũng có khi, ông thả ánh mắt như nhìn vào cõi mông lung. Quán rượu này, thi thoảng
có cả lớp nhà thơ nhà văn đàn em, như Tạ Vũ, Trúc Cương, Định Nguyễn đến góp
chuyện.
Tôi có lần cùng nhà thơ Tạ Vũ theo bước chân nhà thơ Hoàng
Trung Thông từ quán “Trúc Viên” về nhà. Quãng đường không xa, ông đi thong thả.
Dáng ông xiêu xiêu, không phải xiêu liêu của người say rượu, mà như ông đang lướt,
đang trôi, có lúc như dừng lại giữa dòng người vừa vội vã vừa chậm chạp. Lui lại
sau ông, nhìn dáng xiêu xiêu của nhà thơ đi trên đường, tôi cảm nhận nỗi cô đơn
của con người thi nhân giữa dòng đời bộn bề xuôi ngược.
Tháng 5-2019





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét