- Nếu quả thế, thì ta nuôi mi đó, mà ta phải làm sao cho mi khỏi chết?
- Thưa hoàng hậu, tuy nói thế, chớ tôi cũng dễ nuôi. Mỗi ngày hoàng hậu cứ chịu khó hái lá dâu này xắt nhỏ ra cho tôi ăn là được. chỉ phải cái tôi ăn nhiều quá. Nhỏ người mà bụng to. tôi ăn cái khối đồ ăn to bằng mười tôi lận.
Thịt nghệ sĩ chúng tôi mềm lắm, nên con gì cũng thích xơi chúng tôi cả. Hoàng hậu có nuôi thì nên bảo vệ tôi. Kẻ thù ghê gớm nhứt của tôi là thằn lằn, rắn mối và các loại ruồi.
Tôi lại èo uột như hoàng hậu đã thấy. Những khi trở trời, thời tiết đổi là tôi mang bịnh ngay. Tôi sợ lạnh, lại sợ nóng. Lạnh, hoàng hậu nhúm lửa sưởi tôi. Nóng, hoàng hậu nên mở cửa cho gió quạt tôi.
Tôi lại không chịu nổi mùi gay gắt. Hoàng hậu có hút thuốc thì nên xa lánh tôi, không thôi tôi lại say mà chết mất.
- Úy cha chả là con cưng; nuôi mi còn khó nhọc hơn là nuôi Thái tử. Nhưng ta cũng chịu khó một chút thử xem mi sẽ làm nên trò trống gì cho biết.
- Hoàng hậu sẽ khỏi tiếc công.
- Vậy ta đặt tên mi là Tằm cho dễ kêu nhé!
- Vâng, đa tạ hoàng hậu.
Hoàng hậu đem Tằm vô cung vào hôm thứ ba sau khi Tằm nở. Cả hoàng cung đều bu lại xem con vật kỳ lạ biết nói tiếng người.
Các bà thứ phi và cung nữ thấy nó dị hợm quá, sợ hãi không dám lại gần. Tằm cười mà rằng:
- Nghệ sĩ chúng tôi xấu xí như thế mà hiền lắm, tốt bụng lắm đó, thưa quí bà.
- Mày như con sâu rọm ấy, gớm chết - Bà tây phi nói.
- Vâng, bề ngoài thì như vậy. Nhưng lông tôi chạm phải không ngứa đâu mà sợ.
Hoàng đế vào xem và cười ngất:
- Nghệ sĩ là cái quái gì mà tên lạ thế? Mà thân thể thì xấu không thể nói.
Hoàng hậu chỉ mỉm cười không đáp, rồi cắt đặt công việc cho đoàn phi tần: nàng Trúc Liên hái dâu, nàng Trúc Đào xắt dâu, nàng Ngọc Khánh canh gác thằn lằn và ong, ruồi, còn nàng Cẩm Nhung thì giữ vai liên lạc báo tin cho hoàng hậu biết ý muốn và bịnh tật của Tằm. Thật là cả một tổ chức phục vụ như đối với một vì vương.
Các cung nữ phàn nàn nho nhỏ:
- Cưng gì mà cưng quá trứng mỏng như vầy. Bà Đông Phi còn không được săn sóc châu đáo bằng con sâu quỉ này.
Tằm thỏ thẻ:
- Các chị ơi, các chị đừng phiền. Hãy chịu khó với tôi một lúc rồi các chị sẽ được thưởng công xứng đáng.
- Mi thì còn có quà gì để thưởng chị em chúng ta?
- Rồi các chị sẽ rõ. cái thân thể kiều mị của chị đó, tôi mà tô điểm thêm vào thì nó đẹp như hoa, hoàng đế sẽ yêu các chị rồi cất nhắc các chị lên hàng thứ phi cho mà coi.
- Mi tô điểm làm sao? chị em ta không muốn mọc lông sâu rọm như mi đâu.
- Không mà, các chị sẽ đẹp như tiên nữ ấy! Rồi các chị sẽ thấy mà.
Thúy Liễu trề môi dài ba tấc rồi uể oải nói:
- Thôi ta đi hái dâu cho con nợ này.
- Hãy khoan - Tằm kêu Thúy Liễu lại - Còn sớm lắm. Lá dâu còn ướt sương mà tôi thì sợ nước. Để trưa một chút cho nắng sưởi ráo lá rồi chị hãy hái, nếu hái chiều được càng hay.
- Ý a! Khó tánh dữ vậy à? con cưng dữ vậy à?
Trúc Đào ác tâm lắm. Cho bõ ghét, nàng xắt dâu rồi đổ bừa lên nong, phủ bít Tằm lại cho Tằm ngộp thở mà chết cho rồi. Nhưng lạ quá! Tằm không chết ngộp mà trái lại ăn rất hăng. Nó nhai lá cứ nghe rào rào như mưa rơi trên mái ngói hay nghe gió trộn lá trên cây. Nó nằm dưới đáy nong rồi bắt từ đó mà ăn lên. Nó ăn tợn quá và ăn cả ngày lẫn đêm không nghỉ.
Tằm ăn không, ngồi rồi như vậy được ba hôm, kể cả những ngày nó ở ngoài trời thì Tằm đã lớn được sáu ngày. Hôm thứ sáu ấy, mấy nàng cung nữ có phận sự phục dịch nó bỗng không nghe tiếng lá cựa lào rào nữa. Họ cúi xuống sát nong, lắng nghe lâu lắm thì quả nơi đó vắng lặng, không có lấy một tiếng động nhỏ nào.
Ngọc Khánh lật đật bươi lá dâu lên thì thấy Tằm nằm ngay đơ không cựa quậy. Thôi Tằm đã chết rồi! Đỡ khổ nhé! Chết phứt đi để người ta rảnh tay lo việc khác thú vị hơn.
Nhưng cả bọn bỗng sực nhớ lại một điều rồi kinh sợ hết sức. Ừ, hoàng hậu đã giao cho họ săn sóc Tằm. Bây giờ Tằm chết thình lình như thế này thì biết ăn nói làm sao cho trôi.
Chưa chi mà họ đã đổ lỗi cho nhau, lộ tất cả hèn nhát của họ trong cơn nguy biến:
- Tại mày lơ đãng để ong nó bay vô, nó đốt Tằm - Trúc Đào đổ thừa không căn cứ.
- Nếu ong vô thì nó đã thịt Tằm rồi - Ngọc Khánh cãi - Tao chắc tại con Thúy Liễu nó hái dâu ướt. Còn con Cẩm Nhung nữa, Tằm không lẽ vô cớ mà chết. Chắc nó bịnh. Sao mày không báo tin hoàng hậu hay.
Trúc Đào bứt tóc, bứt tai kêu:
- Khổ ơi là khổ! cái đồ mắc dịch ở đâu é! Sống đã làm tội người ta, bây giờ chết lại gieo họa chị em mình. Thôi, ta hãy vào phòng hoàng hậu mà tâu rõ mọi việc.
Hoàng hậu mắng, khi họ báo tin dữ này:
- Chúng bay ăn no rồi lo có mỗi một việc nhỏ mọn ấy mà cũng chẳng xong. Nào, nó đâu rồi.
Hỏi xong, bà bước qua phòng Tằm, bươi lá lên xem cho tận mắt.
Tằm nằm dưới đáy nong, đen thui giữa mớ lá xanh, không cục cựa, nhưng vẫn còn tươi, hoàng hậu nói:
- Nó biết nói tiếng người, chắc cũng là một vị tiên mắc đọa chi đây. Thôi để nó đó rồi ta chôn cất, kẻo tội nghiệp.
Thế rồi ai cũng quên Tằm cả.
Qua hôm thứ tám, hoàng hậu đang ngồi uống trà sớm bỗng con Cẩm Nhung hớt hơ hớt hải chạy vào phi báo:
- Tâu hoàng hậu, Tằm đã sống dậy, mà lạ quá...
- Nó sống dậy à! Tao đã bảo nó là tiên mà, có chết được đâu. Đâu mày kể lại đầu đuôi ta nghe thử coi.
- Bẩm, hồi nãy con sực nhớ lại xác Tằm chưa chôn. Con đinh ninh nó đã thúi rồi, hoặc đã bị thằn lằn xơi mất. Con vào buồng nó xem lại cho rõ thì con kinh khủng hết sức mà nghe nó kêu: “chị Cẩm Nhung ơi! cho miếng dâu!” con chạy lại nong dòm kỹ thì thấy nó cựa quậy và lạ quá...
- Lạ làm sao!
- Nó đã rụng hết lông đen, và bây giờ nó vàng mướt, đẹp lắm.
- Tao đã bảo mà. Nó là tiên, nó lộn kiếp. Biết đâu nó lại sẽ không hóa ra một hoàng tử.
Hoàng hậu đi theo Cẩm Nhung để qua buồng Tằm. Bấy giờ cả bốn cung nữ kia cũng vừa đến nơi.
- Đâu, các chị ơi, cho tôi miếng dâu, tôi đói lắm - Tằm kêu lên khi nghe tiếng cửa mở.
Hoàng hậu bước tới thì thấy Tằm vàng óng, đẹp quá. Tằm kính cẩn chào:
- Lạy hoàng hậu!
- Mi không chết thật à?
- Bẩm con có chết đâu. Con ngủ mà. Con ngủ một ngày một đêm đúng, gọi là ngủ ăn mốt để mà cổi(1) lốt, rụng bỏ lông đen đi, hoàng hậu à.
- Vậy à? Bây ơi, cho Tằm ăn coi nào!
Bây giờ Ngọc Khánh mới dám rờ đến Tằm. Nong cũ đầy dẫy lá dâu xắt héo queo và lông Tằm cũ, trông dơ dáy quá. Nàng nhẹ tay nâng Tằm lên, sang Tằm qua nong khác.
Dâu đã hái về, Trúc Đào xắt nhỏ rải lên nong mới. Tằm ăn còn dữ hơn hôm chưa ngủ và lớn như thổi. Nó thức mà ăn như vậy đến bốn ngày và qua chiều ngày thứ tư, nó kêu mấy nàng cung nữ mà rằng:
- Các chị yêu mến. Bữa trước tôi quên báo tin các chị biết làm các chị phải một phen hoảng hốt. Xin lỗi nhé. Lần này tôi sắp ngủ nữa đây. Tôi ngủ giấc này gọi là giấc ăn hai cũng một ngày một đêm đúng y như bận trước vậy.
- Mày ăn ngủ gì mà lạ đời thế! Thức suốt bốn năm ngày liền, rồi lại ngủ cả ngày cả đêm.
- Ấy nghệ sĩ mà, nghệ sĩ thì làm cái gì cũng khác phàm hết. Ăn rồi nằm, có khi no rồi vẫn thấy cần ăn nữa. Nhiều hành động khác còn bất chấp thiên hạ nữa.
Qua sáng ngày thứ sáu, tức là ngày thứ mười hai, Tằm thức dậy và đòi ăn như séo.
Mấy cung nữ mắng:
- Chỉ được ăn rồi ngủ, chẳng ra cái tích sự gì hết. Mi thật là đồ báo cơm.
- Ấy nghệ sĩ mà!
- Hễ động là xưng nghệ sĩ. Nghệ sĩ hay gừng sĩ gì cũng phải làm việc chớ có đâu mà ăn no lại nằm.
- Các chị không hiểu. tôi nằm tức là làm việc đó.
- Ừ, phải chớ, làm việc nằm... nằm.
- Tôi nằm để tiêu hóa bao nhiêu là tinh anh của trời đất, cũng như nhà luyện thuốc họ nấu thuốc cao vậy mà. Những tinh anh ấy sẽ kết đọng lại nhờ sự làm việc âm thầm đó. rồi một ngày kia, tôi sẽ sản xuất ra một viên ngọc nó là kết tinh của bao nhiêu cái đẹp bên ngoài.
- Mi già mồm, nói nghe như nhà phù thủy, ai mà tin mi được.
Tằm vẫn kêu nóng bức:
- Các chị à, làm ơn mở cửa sổ ra, không tôi chết mất bây giờ.
- Trời chuyển mưa đầu mùa nên nó vậy.
Cửa sổ mở ra, ruồi đánh hơi bay vào.
- Bớ thiên hạ, bớ người ta cứu tôi với - Tằm kinh sợ hét lên và mấy cung nữ phải lấy quạt mà quạt ruồi. Thật là bực mình.
Bốn ngày sau đó, Tằm lại báo tin rằng nó sắp ngủ cái giấc ngủ gọi là “ngủ ăn ba”. Cũng lại một ngày một đêm nữa.
- Ứ hự! - Mấy cung nữ thở dài rồi ngâm mỉa mai:
Ai ơi chớ lấy thằng Tằm,
Ăn rồi nằm lại ngủ hai ba...
Ngủ “ăn ba” rồi lại thức bốn ngày. Bốn ngày cũng chỉ ăn rồi nằm.
Hoàng hậu tới thăm, sốt ruột hỏi:
- Chàng nghệ sĩ ơi, chàng ăn rồi nằm vạ đến bao giờ mới thôi?
- Bẩm hoàng hậu. Nghệ thuật không hối thúc mà làm được. Nó phải hưởng một thời gian cần thiết để mà chín mùi. Tôi dám đâu quên ơn hoàng hậu, và mấy chị cung nữ đã khó nhọc với tôi. Nếu bây giờ tôi sản xuất ngay cho vừa lòng hoàng hậu thì e tác phẩm sẽ non nớt, không đẹp như hoàng hậu trông mong.
- Thôi được, cứ thong thả, ta bền lòng đợi mi.
Lần thức này, trời mưa như cầm chĩnh mà đổ. Tằm kêu lạnh và đòi sưởi lửa.
- Ứ hự! - Mấy chị cung nữ lại thở dài, y như lão già bảy mươi.
Nghệ sĩ mà giống như mèo ướt quá.
Chị trúc Đào nói mỉa:
- Đòi nằm lửa, sao mà giống đàn bà đẻ quá vậy!
- Chị nói đúng đấy - Tằm đáp - tôi sắp đẻ đấy.
- Đàn ông lại đẻ à?
- Vâng, giống nghệ sĩ chúng tôi, nam nữ gì cũng đẻ cả. Hôm nay tôi hoài thai một tác phẩm, cố gắng đến yếu người đi nên mới lạnh. Và sắp đẻ đây. Các chị ôi, sao mà tôi nghe bần thần trong mình, khó chịu quá.
- Hay là mi sợ trời gầm?
- Ấy, sai bét. Người đời ai cũng ngỡ giống Tằm chúng tôi sợ trời gầm. Nhưng mà như thế này. Đầu mùa mưa, thời tiết thay đổi bất thường, nên tôi sanh bịnh. Nhơn có trời gầm, người ta lầm nguyên nhơn, ngỡ tôi sợ ông thiên lôi đó thôi.
Cuối ngày thứ tư, Tằm báo tin sắp ngủ, ngủ giấc ngủ cuối cùng trong đời nó. Nó bảo đó là “giấc ngủ lớn”.
Mấy chị cung nữ xôn xao lên. À, lần ngủ đầu, nó bỗng dưng đẹp ra phết, hoàng hậu đoán nó là tiên. Biết đâu lần ngủ chót này nó sẽ biến ra một hoàng tử xinh trai! Ấy, rồi nó sẽ yêu chị cung nữ nào có công nhiều với nó.
Tức thì họ bu lại rờ rẫm nó, săn sóc nó, hỏi nó cần ăn thêm món gì cho chắc dạ hay không?
Chị trúc Đào cười duyên, hỏi xem nó có vừa ý những mảnh dâu xắt nhuyễn thơm phức, và quạt ruồi cho hoàng tử tương lai.
Nhưng Tằm không để ý đến ai cả, cứ thiếp đi lần lần. Lại một đêm một ngày nữa! Trong suốt thời gian ấy cả hoàng cung bứt rứt nóng lòng muốn biết cái gì sẽ xảy ra.
Hoàng hậu thì tin rằng vị tiên phải đọa ấy sắp hoàn hạn và lần này chắc hiện nguyên hình để về Bồng Lai Thượng giới. Các cung phi lại đinh ninh nó là một hoàng tử có tiên phong đạo cốt giả ra con sâu để thử lòng họ.
Kìa, chàng tiên đã thức và mọi người thất vọng hết sức. Chàng tiên vẫn cứ là con Tằm, và cho dẫu là đẹp rồi, cũng chỉ là một loại sâu thôi.
Mà thiển cận làm sao, chú ta vừa thức là đòi ăn như cưỡng đói. Lần này chú ăn tợn quá. Bao nhiêu cây dâu trong hoàng thành đều trụi lá, mà chú ta vẫn kêu đói.chú nói với các cung nữ:
- Tôi sắp đi xa, nên thức chơi với các chị cho lâu. Ngủ giấc lớn mà. Tôi thức đến bảy ngày rồi mới đi.
- Đi đâu?
Tằm giọng buồn thảm không tả được nói:
- Đi xa lắm, và không bao giờ trở lại nữa.
- Mi còn thiếu chị em ta món quà mi hứa hôm nọ, đi sao được?
- Vâng, tôi nhớ món nợ ấy. Và sắp đẻ ra nó đây.
Tằm ăn no lại nằm, khiến các cung nữ đâm nghi hắn ta là một thằng xỏ lá, gạt người để kiếm bữa.
Ăn không lo, của kho cũng phải hết. Dâu chỉ còn ăn độ vài ngày nữa, nếu hắn không bày trò gì hay thì kệ xác hắn, hắn sẽ đói rã ruột.
Lần thức này Tằm lớn mau lắm. Nhưng lại ít nói năng cựa quậy gì.
- Hắn tìm mưu để trốn chăng? - Các chị cung nữ hỏi thầm - Quỵt hai mươi ngày cơm rồi chuồn! Được, nó mà bò ra khỏi nong, ta bắt vào đánh một trận nên thân!
Qua ngày thứ sáu, lạ quá đầu Tằm đỏ ửng lên
- Hỉ tín, hỉ tín - chị Thúy Liễu reo - Tằm sắp hóa ra hoàng tử đẹp trai đây.
Hoàng hậu nghe tin, đến thăm, và ái ngại hết sức mà thấy Tằm có vẻ đau đớn lắm. Cái màu đỏ ở đầu Tằm, xem như màu máu, và phía dưới đầu, mình Tằm cũng hơi ửng đỏ. Dường như là tằm cố gắng dồn máu lên.
- Tằm ơi, sao thế này?
- Bẩm hoàng hậu, con sắp “chộ” đấy.
- Chộ là làm sao?
- Nghĩa là con dồn tất cả tinh hoa đã thâu lượm được hôm nay, dồn lại để sản xuất ra tác phẩm nghệ thuật đấy.
Tằm quằn quại như một bà mẹ chuyển bụng, đau đớn cái nỗi đau của con vật sắp lột da hóa kiếp, khiến hoàng hậu thương khôn xiết kể.
Qua ngày thứ bảy. Tằm chộ, phân nửa thân mình đỏ ối và càng quằn quại càng đau đớn hơn bao giờ cả.
Qua ngày thứ tám, toàn thân Tằm đỏ như trái ớt chín cây. Bây giờ Tằm như yên thân và an lòng, vì phần khó nhọc của công việc đã xong.
Hoàng hậu, Hoàng đế, các bà phi, và các đạo binh cung nữ đều tựu đến xem Tằm chín đỏ. Thật là lạ lùng, từ thuở giờ không ai thấy con sâu nào mà biến dạng mau như thế bao giờ cả.
Tằm mệt nhọc cố nói:
- Các chị bẻ cho tôi một chà cây.
Không ai nỡ hỏi vặn Tằm nữa vì Tằm coi bộ đuối sức lắm rồi.
Khi chà cây được đặt vào nong, Tằm thỏ thẻ:
- Tâu Hoàng thượng và Hoàng hậu và quí bà phi, thần xin mời tất cả ra ngoài để thần làm một việc không đẹp mắt bao nhiêu.
- Mi cứ làm đi chớ - Hoàng đế nói - Ai mà chấp nhứt mà mi lo.
Tằm rán sức leo lên chà rồi nói:
- Tôi tẩy trần đây. Tôi phóng tất cả những thứ ô uế trong người tôi ra cho người tôi thanh khiết. Khi chỉ còn tinh hoa trong ấy, tôi mới trình bày tác phẩm nghệ thuật được.
Suốt một tiếng đồng hồ, Tằm phóng uế đầy nong. Xong đâu đó, nó nói:
- Bẩm hoàng hậu, nhớ ơn loài người nuôi nấng tôi, nhớ ơn tri ngộ với hoàng hậu, tôi sản xuất tác phẩm đầu tiên và cuối cùng của tôi đây. tôi cố gắng cho nó hết sức mỹ lệ để đáp ơn mọi người, rồi tôi... rồi tôi...
Tằm nghẹn ngào khóc nức nở không nói ra lời nữa.
Cả phòng đều ái ngại hỏi dồn:
- Rồi làm sao, hỡi Tằm ơi!
Khóc cạn nước mắt Tằm nói:
- Rồi tôi từ giã cõi đời...-
Ồ...!
- Trời...!
- Ai lại giết mi?
Nhà vua có cả một đạo hùng binh để bảo vệ mi. Không, không ai làm gì mi được đâu.
Tằm tấm tức tấm tưởi nói:
- Không ai giết thần, nhưng thần phải chết. Tất cả tâm lực của thần đã đổ vào tác phẩm này rồi, Thần hóa kiếp chớ không giữ thân thể xưa nữa được.
Thần hóa kiếp và tiếp tục sống. Nhưng Hoàng hậu phải giết thần mới...
- Không, ta khi nào giết mi.
- Hoàng hậu phải giết thần không thời không hưởng được tác phẩm đó. Bây giờ, thần xin trối trăng đôi lời.
- Mi có gì cứ nói ngay ra.
- Bẩm, nơi chà cây này, thần sẽ nhả ra một thứ sợi mường tượng như sợi chỉ bô mà Hoàng hậu dệt mặc bây giờ đây. Sợi của thần bền chắc hơn thập bội, và đẹp hơn muôn phần. Đó là tác phẩm nghệ thuật của thần đó. Thần đã góp khí thiêng của trời đất, un đúc lại trong ruột thần để có chất sợi này.
Hôm nay thần nhả ra lần lần, phủ lấy mình thần. Thần tự nhốt trong đó để che cái thân tàn này hầu hóa kiếp khác.
Bó tơ ấy trong hai ngày hoàng hậu phải bỏ nó vào nồi nước sôi cho thần nóng mà chết đi...Hoàng hậu, các bà phi và cung nữ đều kêu rú lên, khủng khiếp nói:
- Ai lại nỡ...
- Nếu không làm thế, cái kiếp khác của thần, cái thân thể tàn dại biến ra hình thức khác, sẽ cắn rách nó mà chui ra. Thế là tác phẩm của thần sẽ hỏng. Uổng công thần khó nhọc mà không ai hưởng được cả.
Bỏ vào nước sôi luộc xong, Hoàng hậu kéo sợi ấy ra, rồi dệt như dệt bố. Nó sẽ đẹp cho Hoàng hậu xem.
Nói rồi Tằm bắt đầu nhả tơ ra. Đó là một sợi nước dãi vàng, nước nhả ra thì ướt và mềm, một lát là khô cứng lại. Đầu mối tơ móc trên một cành chà, khiến cả bó tơ như được treo lên đó.
Tằm cứ nhả lần, nhả lần và cả phòng bùi ngùi rưng rưng lệ nhìn Tằm trả nợ dâu.
Bó tơ nhỏ hơn cái trứng gà, vàng óng ánh như con ngỗng con mới nở, ngửi nghe thì thơm phức một mùi mới lạ chưa từng nghe.
Hoàng hậu hỉ mũi, lau lệ rồi nói:
- Kệ, hỏng thì hỏng, đừng ai rờ tới bó tơ này hết. Tằm nó kêu ăn kén ở lắm, nên ta đặt bó tơ này là cái kén và quyết để dành làm kỷ niệm.
Nhưng hôm sau đó chị Cẩm Nhung tánh tò mò bất trị, lại hay tin nhảm, bèn lượm kén bỏ vào nồi nước sôi. Chị ta đinh ninh rằng Hoàng tử đẹp trai muốn nhờ Hoàng hậu giúp tay để hiện nguyên hình.
Hoàng hậu không y lời trối, mà nếu không thi hành e tội nghiệp Hoàng tử chăng? Vả lại cũng nên phỏng tay trên thiên hạ để mua lòng hoàng tử. Vậy chị ta làm theo lời Tằm căn dặn.
Xong đâu đấy, chị ta nắm mối tơ mà kéo và quấn tơ quanh một cây que... Khi đường tơ đã dứt Hoàng tử đâu không thấy chỉ thấy một con bọ dị hợm lắm, chết queo vì phỏng nước sôi.
Hoảng hốt chị ta tri hô lên, Hoàng hậu chạy đến cầm con bọ lên mà khóc ròng.
Nhưng chuyện đã lỡ rồi, Hoàng hậu nghĩ nên y theo lời tằm dặn. Tơ ấy ít quá, nên Hoàng hậu nuôi thêm vài lứa Tằm nữa để đủ chỉ mà dệt.
Tấm lụa đầu chỉ có Hoàng hậu, Hoàng đế và chị thợ dệt được xem mà thôi.
Hoàng hậu vuốt mãi sớ tơ mịn, nghe mát tay như là sờ vào một lọ sứ cổ. Hoàng hậu kê sát mũi vào lụa để ngửi mùi tơ thơm ngọt như mùi tàng ong, nghe bắt thèm ăn. Màu vàng óng ánh của xấp lụa đẹp hơn ngũ sắc của tường vân, đẹp hơn mống trời, đẹp hơn ráng trời, đẹp hơn cả màu sắc của trăm hoa nơi vườn Thượng uyển.
Hoàng hậu sai thợ khéo nhứt nước may cho mình một chiếc áo. Và lần mặc áo ấy vào nội cung, Hoàng hậu làm Hoàng đế chưng hửng:
- Trời ơi, trông khanh trẻ như một cung phi mới tuyển.
Và từ đó, bà Hoàng hậu bốn mươi lăm tuổi được Hoàng đế sủng ái và xao lãng các bà phi.
Hoàng đế ra lịnh cho thần dân ai cũng phải trồng dâu nuôi Tằm. Và tơ của lứa Tằm đầu của toàn quốc được tập trung về trào, dệt lụa may áo cho toàn thể cung phi, mỹ nữ.
Đêm ấy có dạ hội, các vũ nữ đều mặc xiêm y bằng lụa màu.
Hoàng đế xem họ múa mà mê, không mê vì vũ khúc hay sắc gái, mà mê những tà lụa óng ánh, dịu như cánh bướm.
Hoàng hậu cũng có mặt nơi đó. Nhưng bà cứ đăm đăm ngậm ngùi thương ai không biết.
Hoàng đế trông thấy hỏi:
- Sao hậu không vui với trẫm?
- Tâu bệ hạ, thiếp nhớ chàng nghệ sĩ mà tội nghiệp hắn hoài.
Hoàng đế cười ha hả:
- Ối, khéo dư nước mắt. Nghệ sĩ đó chết là còn nghệ sĩ khác. Cái kiếp của chúng nó là đau khổ rồi chết đi, để lại đồ đẹp cho ta hưởng mà.
Hoàng hậu không cãi lại, chỉ rưng rưng nước mắt thầm.
Chú thích:
[1] cổi: cởi (bt).
10. Lầu 3 phòng 7
Tặng cháu Hinh đang tập tành viết văn
Ục... ục... ục... uột...
Quỳnh vội bịt lỗ tai lại. Chàng rất sợ tiếng nước ở bồn rửa mặt của phòng bên cạnh. Nó kêu như ai ăn phải của khó tiêu, bị ruột sôi kêu ồn ột. Đáng ghê nhứt là cái tiếng uột sau cùng, kéo dài bất tận.
Ở đây có những tiếng động khiếm nhã khác nữa. Đó là tiếng đế giày nện lên gạch, tiếng nước cầu xí, tiếng đàn vĩ cầm ai mới học, kéo ọ ẹ suốt ngày.
Trên đầu chàng, ở cái buồng từng trên, người chiếm ngụ làm gì mà cứ kéo ghế, kéo bàn mãi cả ngày lẫn đêm, như ma dậy nhà hoang?
Người ta hay tỏ ý chê bai đồng bào thượng trên cao nguyên ở trong những ngôi nhà công cộng dài nhằng, hai ba mươi gia đình chồng chất lên nhau rất là mất vệ sinh. Nhưng cái bọn văn minh này, bày ra buyn-đin để chen chúc nhau trong đó thì cũng thế thôi.
Quỳnh thuê căn phòng số 7 để làm chỗ ẩn thân. Ở nhà, khách khứa đông đảo, người nhà rộn rịp, chàng không thể nào làm việc được.
Với lại con người có đời sống bên trong, luôn luôn mỗi ngày thích dành ra một lúc để quay về sống với chính mình. Những lúc ấy hắn cần được yên thân. Ở đây yên thân nhứt: gia đình, bạn hữu, nào có biết để mà theo quấy rầy chàng.
Ngoài ra, chàng được hưởng thêm nhiều thú khác. Chàng nghe như mình đang du lịch ở những nơi xa, sống cô đơn nơi một buồng khách sạn, cái buồng nặc danh với những bức tường trắng không tranh ảnh, không mang một bản sắc nào. Cái mộng viễn du chưa bao giờ thỏa thế là được ảo tưởng này bù cho.
Chàng lại nghe hay hay, nhớ lại thuở thanh xuân, trốn nhà đi chơi lêu lổng, nay ngủ chỗ này, mai ngủ nơi khác...
Ục... ục... ục... uột...
Lần này Quỳnh không bịt tai nữa, vì chàng thấy chàng rất bất công. Chính chàng cũng đã gây tiếng động khiếm nhã. Mỗi lần đến là chàng đánh máy ầm trời.
Những người ở chung buyn-đin với chàng tò mò tìm biết anh chàng này làm nghề gì, mà mỗi ngày chỉ đến có mấy tiếng đồng hồ thôi, mà hễ đến, là đánh máy liên tu bất tận. Lắm đêm hắn bốc đồng, lên đó vào lúc mười giờ, mở đèn sáng choang rồi đập xành xạch không cho ai ngủ cả.
Ở đây có những công chức cao cấp, những sĩ quan, những thương gia chưa sắm nổi biệt thự. Bề ngoài thì như là không ai thèm chú ý đến ai, nhưng chàng tinh mắt, biết họ cố tìm căn cước chàng, một gã khả nghi. Hắn đánh truyền đơn chăng? chỉ có người quản lý buyn-đin là hơi biết hắn làm gì thôi, vì hắn phải khai sự thật ở đó.
Họ ngạc nhiên là không bao giờ có bạn đến thăm hắn. Lại càng khả nghi hơn nữa.
Nhưng mà rốt cuộc hắn cũng có bạn. Đó là một người bạn gái xinh như các thiếu nữ trong cổ tích. Lần đầu tiên cô bạn ấy lên đây, một viên... gặp cô ta ở chân thang, đã kinh ngạc vì sắc đẹp của cô. Cô bạn leo thang chớ không dùng thang máy. Người ấy không ngại trễ giờ làm việc, leo cả sáu chiếc thang lầu để theo cô ta cho biết cô ta đi đâu.
Thế rồi người ta đồn ầm lên rằng hắn thuê buồng để tiếp nhân tình.
Quỳnh chỉ mong được thế. Nhưng cô ta chỉ là bạn thôi. Đó là một văn hữu mới quen.
Nói văn hữu thì ra suy tôn cô bạn quá. Thật ra thì chỉ là một bạn đọc yêu văn chàng và vốn cũng thích viết văn.
Họ gặp nhau trong một trường hợp kỳ dị hết sức, và chính cô gái đã làm quen trước với chàng. Cô gái thông thạo các vấn đề văn nghệ, biết tất cả văn nghệ phẩm Việt và ít nhiều tác phẩm ngoại quốc nên chỉ trong buổi đầu gặp gỡ, chàng nói chuyện giỏi một cách dễ dàng vì khỏi phải ra ngoài địa hạt của chàng. Cô gái ngỏ ý muốn nhờ chàng chỉ dẫn cho công việc sáng tác. À, còn gì sung sướng bằng. Chàng chỉ mong có bấy nhiêu đó mà không dám đề nghị trước. Chán vạn thằng khác nó dâng công cho gái như vậy và được gái yêu. Chàng khỏi lập công với ai, mà kết quả cũng có thể đi đến đó.
Công việc đầu tiên của chàng là đặt cho bạn một biệt hiệu văn nghệ. Không biết ai đó đã đặt giùm nàng một bút danh rất là sáo: Cô Song Thu. Sao lại có đến hai mùa Thu trong con người nô nức thanh xuân ấy, nơi con người nồng cháy cả một mùa hè sinh lực ấy!
Quỳnh đã dâng bạn một bút hiệu hơi bí hiểm: Cô Long Hoa.
Nhưng mặc dầu là văn hữu, họ vẫn gọi nhau bằng tên cúng cơm, tên mà người ngoài không ai biết cả.
Nàng nói:
- Biệt hiệu của anh là của muôn người, em chỉ thích kêu anh là anh Quỳnh thôi, vì Quỳnh mới là của riêng em.
Công việc đầu tiên của Lệ, tên nàng, là sắm một tấm vải màu phủ mặt bàn, chiếc bàn độc nhứt dùng ăn bánh, đánh máy và ngồi lên đó chơi, mà chàng để trơ trẽn ra đó, không phấn son gì cả.
Cô bạn lại mua tranh, bắt Quỳnh phải treo lên vách.
Cái buồng bây giờ đã có cá tính của nó, chớ không còn là buồng nặc danh của khách sạn hay phòng thuê nữa.
Người ta thấy là đờn bà đã vào phòng đó, hơn thế, một người đờn bà có học, có óc thẩm mỹ và khéo léo tay chân.
Nhưng Quỳnh lấy làm thất vọng. Họ gặp nhau đã sáu lần rồi mà cô bạn xem chừng không vội học sáng tác cho lắm.
Cô bạn nói rất nhiều chuyện mưa, chuyện nắng, mà nói rất có duyên. Quỳnh tuy không phải chỉ biết về văn nghệ không mà thôi, nghĩa là tuy chàng cũng vui được với chuyện chó chẹt ô tô và chuyện đờn bà giựt hụi, nhưng chàng không khỏi bất mãn vì người văn hữu chưa đến. Thân thể y có mặt, nhưng người bạn văn của lúc gặp gỡ thì vẫn chưa thấy bóng hình.
Quỳnh cũng biết thích bạn gái như ai, phương chi đây là một người bạn gái đẹp và thông minh, lại có rất nhiều cảm tình đối với chàng, thì chàng còn mong gì hơn? Nhưng chàng cứ mong hơn. Vì chàng đã dọn lòng để đón một văn hữu chớ không phải để rước giai nhân.
Sao người văn hữu lại không đến? Mỏi mòn nhìn con đường xa gió cuốn bụi hồng, mỏi mòn trông đợi một bóng ngựa viễn phương mang đến người bạn văn trễ hẹn, Quỳnh nhẫn nại tiếp đón mỹ nhơn dầu sao cũng đang có mặt.
Nếu không đợi người kia thì chàng đã yêu người này ngay từ lúc ban đầu. Người đàn bà đẹp chỉ để cho người ta yêu thôi, chớ không dùng được vào việc gì cả. Cô bạn này trời sanh ra làm gì, và đến đây để làm gì, thật là không có lý do, y như là trời đã sanh ra hoa hồng và hoa hồng lại bị cắm vào miệng lọ, chỉ có một lý do nhỏ nhỏ thôi, là làm cho vui mắt chủ nhà.chủ nhà không thuê buồng để tiếp gái đẹp, thuê buồng xong không thèm sắm lọ, thì hoa hồng vào đây có phải là không biết điều lắm chăng?
Nhưng nó đã vào và nó đẹp, chủ nhân đang buồn bạn không đến thì không lẽ lại không nhìn nó.
Nó xinh đẹp ghê hồn khiến chủ nhân cũng đến thấy mình ngốc quá vì đã xem thường nó.
Trời sanh người đàn bà đẹp làm gì nếu không để cho người ta yêu. Quỳnh yêu nàng vậy. Nhưng không dễ dàng lắm đâu. Phụ nữ Việt Nam đã bắt đầu bị Âu hóa thật sự. Họ đến buồng đàn ông nhưng vẫn tự vệ, nếu bên nam giới không khéo xử thế thì cũng chẳng đi đến đâu được.
Quỳnh đã khéo xử thế. Cuộc đùa giỡn với ái tình gay cấn và cam go quá khiến chàng say mê, say cái say chiến đấu của văn nghệ sĩ, cái gì dễ dàng quá thì không ham, mà chỉ mê mệt đối với sự sáng tạo đau đớn thôi.
Chàng đã thắng. Nhưng trong giây phút ôm thiếu nữ trong tay, chàng bỗng nghe rỗng không trong lòng và quanh mình.
Trời ôi, thật là không có gì cả, cái phút giây mà người ta gọi là thần tiên!
Chàng đã vật lộn với tình cảm, với tư tưởng, đã lao khổ sáng tác, và rốt cuộc đẻ ra được những cái gì bền vững mà chàng thích nâng niu lâu ngày.
Ở đây, chàng cũng đã lao khổ chiếm trái tim một giai nữ, nhưng khi thành công xong, chàng không thấy được cái gì cả.
Chắc thiếu nữ đang nằm trong tay chàng, thầm nói:
- Sướng đấy nhé! Anh đã được em rồi đó, có thích hay không?
Không, chàng không thích, hay có thích chàng cũng chỉ như đứa bé được quà, thích vậy vậy thôi, chớ làm sao mà có được những xúc cảm mê ly của cái phút chấm dứt một văn nghệ phẩm?
Nhưng mà cũng an ủi phần nào. Người văn hữu không đến nhưng người tình này có thể là người văn hữu kia. Văn hữu chậm bước vì nàng cần phải sống cái đã, sống dưới cái vỏ ngoài của người phụ nữ bình thường, sống đầy đủ về tình cảm và xác thịt.
Sống thoả mãn xong, người bạn văn sẽ cởi áo người nhân tình mà thoát ra, và chừng đó chàng sẽ được cả hai.
Quả có thế. Trận giặc ái tình chấm dứt bằng một hiệp ước yêu đương. Lệ bắt đầu học tập. Ông thầy dạy văn làm phận sự rất dễ dàng, vì nàng đã khá thạo kỹ thuật viết.
Quỳnh thấy mình phải dắt bạn bước qua giai đoạn thứ nhì ngay. Chàng nói:
- Viết văn chỉ là một thứ kỹ thuật tương đối dễ học. Nhưng muốn sáng tác, em cần phải có cái gì trong lòng để mà nói ra, bằng không thì giã từ văn chương vậy. Lắm khi đã có cái ấy trong lòng rồi mà nó không cắn rứt mình, không kêu gào đòi chun ra lắm, thì cũng không thể sáng tác được. Em có cái gì trong bụng không?
Lệ vả vào má chàng một cái đau điếng, cười rồi đáp:
- Sẽ có, thằng con của anh chớ gì. Nhưng mà chưa có, đừng có nghi bậy.
Cả hai cười xòa, rồi Quỳnh lập nghiêm, tiếp tục bài giảng:
- Đứng đắn mà. Em có nỗi niềm gì muốn nói ra chăng? Băn khoăn về gì? Thắc mắc vì sao, bứt rứt chuyện chi?
- Không, em không băn khoăn về gì cả. Em chỉ mơ yêu...
- Thế à? Mơ yêu cũng là chuyện có thể nói ra được, miễn là nó hay.
- Nhưng giờ đã yêu rồi, em hết mơ.
- Cũng vẫn cứ được, sự thoả mãn trong tình yêu cũng là một đề tài hay.
- Nhưng em không cần nói ra.
Quỳnh kinh ngạc, nhìn trừng trừng người bạn, giây lâu mới hỏi được:
- Thế sao em lại thích viết văn?
Lệ làm thinh rất lâu rồi cười đáp:
- Khó nói lắm!
- Nhưng mà một văn sĩ tập sự phải nói được chút ít về điều đó.
- Như thế này: Viết văn danh vọng lắm. Như anh, ai cũng biết đến cả. Em cũng muốn được như vậy. Nhưng mà nay học thêm với anh, em thấy là phải khổ thân lắm mới bước tới đài danh vọng được.
Quỳnh bỗng nghe một trận địa chấn quanh chàng. Chàng buông người bạn tình ra, lòng đau xót không tả được.
Người văn hữu đã chánh thức nhắn lời là không đến, không bao giờ đến nữa cả. Hắn chỉ là một ảo tưởng và hắn đã tan trong sương mờ.
Quỳnh nắm lấy cằm bạn, nhìn thẳng vào mắt nàng, nhưng chỉ nói thầm một mình:
- Em bé ơi! Em bé không thích mang nặng đẻ đau, không chịu hoài thai cực khổ và không chịu chuyển bụng rên la, mà em bé lại đòi có những đứa con để đưa em bé lên đài danh vọng...
“Thôi, em bé cứ đi lấy chồng đi, lấy những người đang ở trên cao, hoặc đang có tương lai nhiều. Một sớm một chiều, các báo sẽ nói đến phu nhân X... Nào đó.
Viết văn nào phải để leo lên đâu đâu? Viết để làm gì, lắm khi chính anh cũng không biết. Nhưng đó là những cái thai đã đến ngày, những thằng bé cứ vặn mình đòi lọt ra. Đau như xé cả ruột gan, không muốn cho nó ra cũng không thể được.”
Quỳnh muốn trả ngay căn buồng này. Hồn người văn hữu sai hẹn cứ như còn quanh quất đâu đây. Phải trốn không khí này mà từ bao lâu nay phảng phất tiền hương, tiền vị của người khách mong đợi.
Bỗng có người bước lên thang gác. Đó là tiếng giày đờn bà nó làm cho chàng giật nảy mình, dáo dác nghe ngóng
Không, không trả căn buồng này đâu. Mỗi tiếng động khiếm nhã ở đây đều gợi nhớ những phút giây hồi hộp đợi chờ. Mỗi ần nghe tiếng động, chàng sẽ có dịp đi hành hương trong thời gian, đi về phía bàn thờ thần “Tình Bạn Văn”.
Cây Vĩ cầm của cô hay cậu nào ở buồng số 5 cứ kéo ọ ẹ mãi bản nhạc “Bên sông vắng” của Tạ Tấn.
Nhưng lần này chàng không nghe bực mình nữa. Chàng lẩn thẩn đặt lời cho những nốt nhạc ấy, lời thật của tác giả chàng đã quên từ lâu vì đó là một bản nhạc tiền chiến:
Đêm nay tới bến, năm nào đây,
Tiếng gió vi vu bên sông vắng tanh,
Ngậm ngùi nhớ đến con đò xưa, năm ấy.
Quen nhau bởi một chuyến đò chiều.
Nhớ người năm đó...
11. Kẻ chiến bại
Gởi T.V.C để nhớ những ngày của năm 1943
Gõ cửa đến ba bốn hiệp mà không thấy bóng ai, cũng chẳng nghe ai lên tiếng, tôi gọi to:
- Có ông chủ ở nhà không?
- Ai đó, Mạnh hả, đi tuốt xuống đây.
Tiếng anh Thành nghe xa lắm, ở mãi dưới bếp.
Tôi bước vào buồng khách và ngần ngại đứng dòm ra sau.
Thành chắc hiểu ý tôi nên bảo nữa:
- Đi xuống đây mà, nhà không ai hết.
Tôi quen nhiều với anh Thành, mà không là bạn thân với anh ấy, nên tôi chưa xông pha nhà này lần nào cả, vì còn phải giữ lễ với chị Thành.
Hôm nay chắc chị Thành đưa con về quê nghỉ mát nên nhà vắng và anh Thành chắc đang đun nước ngoài sau.
Nhưng đi đến nơi, tôi ngạc nhiên hết sức: anh Thành mặc pi-ja-ma coi có vẻ trai thế kỷ hai mươi lăm, nhưng anh ta lại đang đứng say sưa ngắm một cảnh non bộ đặt giữa sân trong.
- Cha có gắn hòn non bộ trong nhà à? Sao không bao giờ nghe cha nói đến - Tôi hỏi - Sau mấy phút chưng hửng nhìn bạn.
- Các anh hiểu gì mà nói cho mệt, không phải tôi gắn đâu nhé. Mới gắn gì mà rêu đã phủ xanh các gộp đá, mới gắn nó đâu được vẻ cổ kính như vậy. Số là cái ông nào đó trước ở đây- Chừng như lâu lắm, đã tạo nên cảnh thiên nhiên này. Rồi ông đi hay chết mất, bộ giả sơn truyền qua không biết bao nhiêu người, bị bỏ bồ lăn, bồ lóc, bây giờ mới đến tay tôi.
Tôi nhớ thuở tôi còn nhỏ, ông tôi cũng chơi non bộ, nên tôi hơi biết thưởng thức món đó.
Quả thật, hòn núi giả này rất đẹp. Nó đẹp vì đắp khéo. Những phiến đá, những khối xi măng như là vứt bừa bãi lên đó, không tố giác được công trình của tay người. Y như là một khối đá tự nhiên bị nước đào mòn, khuyết đi một cách không lề lối. Nó lại đẹp vì vẻ cổ kính của nó. Năm tháng, gió sương, mưa nắng đã thổi sanh khí vào hòn non bộ ấy, tạo cho nó một sức sống mãnh liệt. Một lớp rêu xanh mịn, mướt lông nhung phủ kín mặt đá và từ mỗi hốc đá, mọc ra từ bao lâu rồi không biết, đủ thứ cỏ rong. Nhìn hòn giả sơn không khỏi nghĩ đến rừng núi thâm u, ngàn năm chưa thấy dấu chơn người.
Tôi theo Thành vào nhà, cái nhà lá nho nhỏ mà anh gọi là thảo lư. Cái tiếng thảo lư này, cùng với mớ tranh tàu treo trên vách khiến tôi thấy Thành có vẻ Tàu lắm, hay có ý muốn thành Tàu lắm, một thứ Tàu đâu hồi cổ sơ, Tàu của thời Xuân Thu, Tàu đầy thơ mộng và đông đúc những tiên.
Tự nhiên anh Thành cho tôi uống trà Tàu. Thường thường anh Thành uống trà hơi ấm thôi, uống cả ly lớn. Nay anh và tôi uống chén nhỏ, nước trà thật nóng.
- Đó, anh phải hớp từng hớp, rồi đừng nói gì, cứ nhìn cảnh rồi suy tưởng.
Lẽ cố nhiên là tôi không nói gì nữa trước người con trai biết ham thích sống ồn, sống hoạt, bây giờ biến thành một ông Tàu ngậm ống điếu dài, hay một nhà nho móng tay dài cũng thế.
Tay nâng ngang môi chung trà xưa mà nét vẽ rất thanh đạm trên men ngà, Thành như chìm trong bồn cá tàu giữa bàn. Cá nhiều màu lượn quanh những thủy thảo mọc lên trên một nền sạn trắng và đá biển, cũng hiểm hóc như hòn non bộ.
Chịu không nổi sự im lặng mãi, tôi nói:
- Anh còn thiếu một món nữa mới thành một ông Tàu hoàn toàn.
- Món gì?
- Chim.
- Phải thiếu chim. Nhưng tôi thấy chim lồng không đẹp nên thôi, không nuôi.
- Nhưng còn những cái này, không ở trong lồng sao? Anh đem nước non, trời biển thu nhỏ lại trong một góc vườn, một bồn kiểng, còn đẹp gì nữa.
- Ậy mà đẹp. Chính vì thu lại được, nó mới đẹp. Mà thu lại là cả một nghệ thuật đấy nhé. Con chim thì thấy nó ở trong lồng thật sự, có cái gì nhơn tạo trong đó, chán quá. Anh coi, như cây tùng và cây chùm nụm ngoài sân kia, nếu tôi trồng dưới đất, nó sẽ lớn. Nhưng nó không đủ sức lớn để thành cây cổ thụ trong rừng sâu.
Bây giờ tôi có ép nó mọc trong chậu, thiếu chất ăn, nó thành cằn cỗi như cây già trên núi. Coi hay lắm
- Bệnh lao phổi có dính dáng gì đến sở thích kỳ dị của anh chăng?
Anh Thành đau phổi đã ba năm rồi, và nhờ khéo chữa nên đã khỏi.
Anh Thành ngả lưng lên ghế cười ha hả:
- Anh lầm to, như bao nhiêu người khác. Tôi vẫn có sở thích này từ lâu rồi, tôi vẫn chơi cá tàu, non bộ, cây cảnh. Tôi chơi từ cái lúc tôi còn đi đánh ten-nít, đi bơi lội kia. Không, cái thú này không phải thú riêng của ông Tàu ủ rũ, hay ông già lụ khụ. Nó vẫn đi đôi được với sự sống ồn, trẻ và hoạt.
Rồi đột ngột anh hỏi:
- Dynamique dịch ra Việt ngữ là gì?
- Tôi dịch không nổi tiếng đó. Anh cứ tạm nói là cường sinh đi.
- Không ổn. Nhưng tạm dùng vậy. Anh có biết dân tộc nào cường sinh hơn dân tộc Nhựt Bổn không? Thế mà họ là những tay chơi cây cảnh non bộ sành nhứt đó.
Phải, bịnh tật làm cho con người ủy mị, nhưng trò chơi này không ủy mị chút nào như nhiều người cứ tưởng và cứ cho đó là món giải trí phong kiến và lạc hậu.
Ở đời có nhiều việc mới xem ngỡ là trái ngược với nhau. Nhưng thật ra nó đi đôi với nhau rất xứng. Ai bảo thủ cho bằng dân Anh? Nhưng có phải là dân Anh làm cách mạng trước nhứt chăng? Ai tin ma cho bằng dân Anh? Nhưng có phải là dân Anh làm việc có phương pháp và suy luận khoa học nhứt chăng?
Trời nóng bức quá. Tôi đòi nước đá.
- Không, anh chỉ được cho uống nước trà nóng, trong thảo lư của một bác Tàu cổ. Ta phải mính đàm cho nó đúng điệu. Cả một nghệ thuật đấy. Như tôi, tôi xem tranh ảnh về Huế thì thế nào cũng không khỏi ngâm bài Nam bường:
Nước non nghìn dặm ra đi...
Mượn màu son phấn đền nợ Ô, Lý.
Và bắt thèm bánh lá chả tôm. Ấy, phải có một sự hòa hợp như vậy. Cây sì-cú này (vừa nói anh Thành vừa chỉ chậu sì-cú trên bàn, gần bồn cá), riêng nó, không đẹp đẽ gì, mà thiếu thì không được đâu. Cá tàu phải đi với sì-cú.
Tối hôm đó trời lặng gió. Trong khi cá táp móng nghe bong bóc trong bồn, Thành thắp hai cây đèn cầy, gắn trên hai viên gạch, rồi đem đèn để phía ngoài kia, một cây sau hòn non bộ, một cây khác sau chậu tùng.
Thành như là ở đời xưa hiện về.
Anh ngồi trên ghế bố, nhìn bóng dáng cái núi giả và cây tùng nổi bật lên trước ánh đèn.
Tôi cà rỡn:
- Quả thật là: yêu ngày chưa phỉ, lại yêu đêm.
- Đó mới lòi chỗ dốt của anh nữa. Người ta chỉ nhìn cây kiểng và hòn non bộ như vậy thôi. Ban ngày, con mắt bị xao lãng vì những cái thấy khác. Vả ban ngày cảnh thiệt xung quanh ta lớn quá, khiến ta cứ nhớ ta nhìn núi giả. Giờ đây, ta sẵn lòng quên và được quên sự thật, chỉ thấy hình dáng của núi cao đứng sững trước mặt trời sắp lặn.
- Thi sĩ quá!
- Anh cứ mà chế nhạo, tôi không cần dư luận của ai hết. giống lắm.
- Giống cái gì?
- Giống núi thật.
- Anh có đi chơi núi rồi à?
- Cũng có chớ. Mà việc trèo núi, ở đây, không dính dáng tới chỗ giống hay không. giống là giống hòn núi thật trông đằng xa. Còn chi tiết trên núi, tôi chưa nói đến. Cả trăm hòn non bộ trong nước Việt Nam chưa dễ tìm ra được một hòn như vầy! Anh coi, các mỏm đá không đều, không cân xứng như ở mấy hòn khác, không có vẻ nhân tạo chút nào. Hoàn toàn giống thiên nhiên, nếu chụp ảnh một mình nó, thì tôi đố ai khỏi lầm. Còn cái cây tùng và cây chùm nụm này, nó giống hệt cây cổ thọ.
“Tôi nhớ ông chú tôi hồi đó hay chê dốt những người đem cây chùm nụm uốn thành hình con phụng con công. Theo ông, cây chùm nụm phải có dáng tự nhiên như cây mọc trong rừng. Theo ông, các vườn Tàu, vườn Nhựt với những đường đi cong quẹo, với những xó ngạc nhiên, với những cầu tre bắt ngang suối giả, đẹp hơn vườn Âu châu nhiều.”
“Bây giờ ta lại nói đến chi tiết bộ giả sơn. Nếu không phải là một tay chơi sành lắm thì không thế nào đắp nổi một hòn non như vầy, các hang đá hiểm hóc, ăn sâu vào núi, trông bí mật lạ! Nó trổ ra mặt hồ. Nếu có một chiếc xuồng nhỏ do một người bơi tẻ vào hang thì ta không khỏi nghĩ đến người Đào Nguyên lạc lối. Cái khe nước chảy dưới cầu để đổ ra hồ, có vẻ sống lắm.
Tuy nó cạn, mà tôi dường như nghe nó thầm reo và tưởng nó đang len lỏi, dò lần để tìm về mẹ nó là cái hồ lớn kia, chú tiều phu vai trĩu củi và túp lều tranh đứng co ro đằng xa kia, thật là khéo lựa. Nó nhỏ vừa với sức lớn của núi rừng. Có người dốt, mua ông tiên lớn quá, hoặc cái nhà quá to, trông nó luốt đi, thành ra của họ, hòn non kêu lớn lên luôn luôn: “Ta đây giả, ta đây giả.” Hai ông tiên ngồi đánh cờ trên thạch bàn, gợi những ngày không bợn âu lo. Tôi tưởng như Bạch Hạc đồng tử bay gần đâu đó. Ngôi chùa rêu phủ đứng cheo leo trên sườn núi đẹp vô cùng, không khác gì ở tranh thủy mạc tàu. Tôi rất yêu hình ảnh của nước tàu cổ, nước Tàu với những tửu quán, trà đình, với những nhà ngói sứ mái cong cong, với những văn nhơn bắt gặp thơ đề trên vách một ngôi chùa xưa rêu phủ trong rừng tùng, nét chưa ráo mực mà nàng tiểu thơ đề vịnh đã đâu rồi...”
Nói tới đó, Thành chỉ lên vách đá, tôi nhìn theo thì nhận ra một bức tranh, không, một tấm lụa trên đó viết bằng chữ thảo, một bài thơ tàu:
Khứ niên kim nhật thử môn trung
........
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.
Nét chữ bay bướm, tung hoành, đẹp như một bức thủy mạc với những nét vẽ phác.
Tôi nhìn Thành trừng trừng, kinh ngạc trước con người chưa đi tới huế lần nào này mà cứ nói đến những chơn trời xa.
- Hình như anh ưa đi lắm thì phải?
- Tôi hỏi để chắc bụng về ý nghĩ của tôi đối với mâu thuẫn kỳ dị trong con người này.
Thành không đáp ngay, chỉ đặt bàn tay lên vai tôi rồi gởi gắm:
- Các cụ ta xưa, nhứt là những nhà nho lỡ vận, thích non bộ vì họ cố ý gạt gẫm lòng họ trong cảnh nước non trời biển bị thu hình, để nghe như đã tóm thâu trần giới được trong tay họ.
Tôi bỗng chợt hiểu rằng giấc mơ non xa nước lạ của Thành không phải do mộng đi bất toại mà có, mà chính là kết tinh của mặc cảm nhỏ nhoi của đời anh.
12. Rung cây dừa
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét