Chỉ quen đắp đê, lát đường, xây đập từ mười lăm năm nay, mà bỗng phải đi học luật quốc tế và chính trị quốc tế, thì kể cũng đáng ngại...Ông kỹ sư đành cầu cứu Bộ Trưởng trong Phủ, xin can thiệp giải nguy để cho trở về với gạch đá và bê tông.
Như thế, nếu chỉ một mình ông tự ý tuyển dụng, thì chắc chế độ do ông sáng lập chẳng để lại được gì...Cũng may là ông chú trọng nhiều hơn đến các lãnh vực chánh trị và hành chánh địa phương, ở đây, không mấy người chịu ông, nếu căn cứ vào các thành quả. Song ở các địa hạt văn hóa, kinh tế và kỹ thuật, ông can thiệp ít, để quyền lựa chọn cho các cấp hữu trách và thường chấp thuận sự đề cử. Nên một số khá đông người tạo việc được dùng, và hầu hết các cơ sở do họ kiến thiết vẫn còn lại đến ngày nay, các trường học, khu kỹ nghệ, các xí nghiệp hợp doanh hay quốc doanh v.v...
Ông bị oán nhiều vì có tiếng là nghiêm khắc đối với giới công chức. Ông đòi hỏi nhiều và gia ơn rất ít. Các danh sách và đề nghị thăng thưởng của các ngạch trên, thường bị ông bỏ mặc, có khi vài năm chưa xét. Thấy tên mấy nhân viên văn phòng ông được tư lên bậc, ông bảo. Đã được làm việc cạnh tôi, lại còn tăng thưởng gì nữa? Sự cử nhiệm sĩ quan thay thế dần dần các cấp hành chánh để điều khiển các tỉnh rồi các quận, nói lên rất mạnh sự thất vọng của ông đối với hạng nhân viên chuyên việc cai trị. Ông thường phàn nàn: Họ chỉ cầu an. Ông đã tâm sự với một giáo sư Mỹ; chế độ thực dân chỉ để lại được cho ông ba người biết việc, là các ông N.N.T., Đ.V.C và V.T.H. ngoài ra không đáng kể, chẳng lẽ bỏ không dùng.
Số người bị loại trừ hay trừng phạt trong chín năm chưa tới 1.000 trên 130.000 công chức và cán bộ. Đối với một số cao cấp bị thất sủng sau một hồi được trọng dụng, hình như ông không muốn đoạn tuyệt, và lẳng lặng mở đường ngoi trở lại cho những ai hiểu được ý ông. Vài người bị hạ tầng công tác, không được ông hỏi han nữa, và còn bị theo dõi. có người cố tỏ ra ăn năn tội lỗi, hay than thở với chúng bạn: Mình được ông Cụ dùng, thật là thiên tải nhất thì, mà làm hỏng việc, quả đáng buồn, mình không xứng đáng thì ông phải cho xa ông, chứ ông vẫn thương mình...chẳng rõ đương sự có khả năng kịch nghệ hay không, nhưng câu chuyện đến tai bề trên. Bề trên không nói gì, song vài tuần sau nghĩa là hơn một năm sau khi nổi đóa, cho vời kẻ bị giận và cho một chức vụ cao.
Đã có vài trường hợp như trên, nên người tinh khôn rút liền bài học. Một vị đã từng lãnh trọng trách, chẳng may mắc lỗi và bị cất chức về đợi lịnh ở một cơ quan: Ông ta đã tưởng là được yên thân. Nhưng ba bốn tháng sau, ông Tổng chợt nhớ tới, và giao phó cho một trách vụ vô cùng...nặng nhọc mà trước đó chưa một người nào nghĩ đến, xếp lại hàng vạn tập hồ sơ cũ rích chất lâu năm trong một kho đen tối mốc ẩm, và theo chỉ thị, thì cứ mỗi tuần phải phúc trình kết quả. Những người biết chuyện đều lo lắng rằng ông ta phẫn uất...Song với một lòng nhẫn nại có thể thi gan với Câu Tiễn nước Việt dưới tướng Phú Sai, ông ta lặng lẽ bới, rũ, lựa, quét, buộc, hút bụi, ghi sổ và bảy ngày một lần đệ đơn trình đúng hạn. Nửa năm sau, ông ấy thưa lên đã hoàn thành nhiệm vụ và cung kính chờ lịch cấp trên với tâm thành tri ân bất tận.
Ông Tổng Thống bật cười:
- Có ghét bỏ gì hắn đâu? Thử xem sao đó thôi. tình cho hắn một chức gì...
Không phải chỉ có mấy ông Tàu thuở trước mới dùng khổ nhục kế.
Ở con người ông Ngô Đình Diệm, quả là có những sự khó hiểu. Nên tôi thường nhớ lại danh từ dị nhân mà bạn S. đã muốn gán cho ông, duy tôi còn chờ đợi nhiều chứng minh hơn nữa. Điều chắc chắn, là ở nhiều trường hợp, tôi không thể quyết đoán về ông.
- Tại sao để râu?
Ông Tổng Thống chau mày hỏi một nhân viên có ria mép và thường phải gặp ông về việc hàng ngày.
Đương sự không biết trả lời thế nào, phần vì lời chất vấn quá đột ngột, phần vì nguyên nhân của tình trạng lún phún cũng chưa từng được nhận thức rõ ràng.
Dù sao, anh ta cho là mình làm chướng mắt bề trên, nên vội về cạo tuột. Vài hôm sau, anh lại tới trình việc.
Ông Diệm nghiêm nét mặt hỏi:
- Vì sao cạo râu?
Nhà cầm quyền ở nhiều xứ và nhiều thời thường phàn nàn là ít khi mình được hiểu. Song ở trường hợp ông Diệm, sự thiếu thông cảm chắc không do lỗi người chung quanh.
Càng chú ý đến ông, tôi càng thấy lạ, vì ông có những cử chỉ và những phản ứng không ngờ.
Một dự thảo nghị định được đệ trình lên ông. Ông liếc qua, cau mặt và hạ ngay bút xuống: Hỏng rồi, chắc ông bác bỏ, có lẽ người được đề cử đã phạm lỗi gì mà riêng ông biết rõ?
Nhưng ông coi lại dự thảo, rồi ký và bảo:
- Tên chi mà lại là Bắp! Bắp thì nghe sao được? Cao cấp mà là Bắp! Kêu hắn đổi quách tên đi.
Lịnh này không cần theo vì sau đó ông sớm quên, vả chăng được sự cũng có thể nài van nếu cần, để xin giữ lại chú kỷ niệm quý báu nhất mà các cha mẹ chỉ ban cho con một lần trong đời...Dù sao, tôi cũng ghi nhận một khía cạnh khác người của ông Tổng Thống, và việc xảy ra cắt nghĩa cho tôi vì sao ông thích thay đổi những tên gọi địa phương như Budop hay Sadec.
Có lần, một Bộ Trưởng vừa ăn cơm trưa xong, định ngả lưng nằm nghỉ, vì nắng Hè gay gắt; vừa chợp mắt thì người nhà hớt hãi bảo Tổng Thống kêu điện thoại gặp. Ông Bộ lật đật chạy ra nghe, chắc có việc gì khẩn lắm...
- Ông có mấy con?
- Dạ, bốn cháu.
- Mấy tuổi?
- Thưa, từ năm đến mười hai.
- Biểu bận đồ sạch sẽ, cho vô đây liền.
Cả nhà ông Bộ luống cuống sửa soạn cho lũ trẻ, rồi mười lăm phút sau, ông dẫn đàn hậu sinh vào Dinh bái kiến. Mấy đứa nhỏ rụt rè sợ hãi, không biết sẽ xẩy ra chuyện gì.
Thì ra Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, quần chùng, áo the, dép da, đợi sẵn chúng từ nãy; ông giơ máy ảnh chụp và cười khà khà:
- Coi được đấy, pose này khá lắm!
‘’Người’’ có vẻ đắc ý, lách tách bấm một hồi, rồi ơn trên ban bánh ngọt: Đố biết lũ trẻ hay chính ông, ai khoái hơn? Chỉ có ông Bộ là phải một phen hồi hộp, vừa bực mình vì mất giấc trưa, vừa sửng sốt về một sự chỉ có trời họa may mới biết trước.
Câu chuyện kể trên đây không làm cho tôi buồn cười, trái lại, tôi thấy có gì như não nề.
Tôi nhớ lại những lúc ông cho gọi mấy con nhỏ của Cố Nhu qua phòng riêng để vuốt ve và hỏi han.
Ông không biết chơi với ai, nhiều hôm phải ra tận bờ sông Sở Thú chơi với con chồn.
Nhiều bận, tôi thấy ông một mình trơ trọi, trong Dinh vắng vẻ, khi mọi người đã ra về hết. Tiếng quạ kêu trên rặng cây già cỗi, càng tăng hiu quạnh trong vườn im lặng.
Phải chăng vì cô độc quá, nên ông không thể rời được ông Nhu và vợ con Cố Vấn? Và biết đâu tình trạng này không gây những hậu quả khó lường cho thân thế và sự nghiệp của ông? Giả thử lúc nào ông cũng sẵn một bầy năm sáu tuổi để thương yêu và chụp ảnh, không chừng cục diện đổi khác phần nào?
Những việc tầm thường trước mắt đã kích thích sự tìm hiểu của tôi hơn cả đường lối của một Tổng Thống, vì đường lối này dễ nhận hơn con người phức tạp của một Ngô Đình Diệm. Đối với tôi, không những ông là một nhà cầm quyền phải là đích cho mọi sự khen chê, nhưng còn là một hiện tượng tâm lý mà tôi mong nắm được ít nhiều trạng thái, để soi sáng cho sự phán đoán của tôi về sau này, giữa bao luống dư luận trái ngược.
Khốn thay, tôi càng để ý càng thấy khó hiểu.
Làm việc lâu năm với ông, không có sự gì đáng trách, nhưng ông vẫn coi như chẳng hết lòng, chỉ vì không biết nói năng cho vừa ý ông. Song ông lại tỏ ra rất dễ tin, tin rằng ca ngợi ông là hiểu biết ông, có khi là ‘’cũng hiểu chánh trị’’. Hẳn là ông ưa lời đường mật. Ấy thế mà có lần ông bảo thuyên chuyển một nhân viên đã được ông tín nhiệm, chỉ vì lý do ‘’nó hay nịnh hót.’’
Một cao cấp bị tố là có ý chống đối, nên bị chấm dứt nhiệm vụ. Rồi vài năm sau, hễ nghe hay đọc thấy tên, là ông càu nhàu: ‘’Sao còn cho hắn ngồi làm việc công sở?’’ Có thể kết luận rằng nếu đã bị coi như đối lập, thì đừng trông mong gì ở tình cảm của ông? Nếu vậy thì còn giản dị quá. Một quân nhân từng được ông ân sủng, đã cùng nhiều người khác nổi dậy chống ông. Ông bảo người chung quanh: ‘’Hắn bị xúi giục đấy thôi, hay bị đánh lừa nên mới lầm lỡ chốc lát.’’
Một nhân viên trong Phủ, hàng ngày trình việc lên ông, mắc bệnh vì làm nhiều mệt quá, phải nghỉ liền mấy tháng mà chẳng được ông gửi một lời thăm hỏi: Vô tình đến thế là cùng? Một vị khác, tuy không được ông quý mến hơn, chẳng may góa vợ. Ông bùi ngùi bảo: ‘’Ông đã có tuổi mà bà ấy mất đi, thì nay ông trông nom được cho ông?’’
Công chức hai mươi lăm năm thâm niên, phạm lầu đầu một lỗi không quá nặng, bị cách tuột, xin giảm phạt để lập công chuộc tội và nuôi mẹ già tám mươi tuổi cùng mười con thơ dại đơn nộp ba lần, ba lần bị bác; nhiều người thấy sự nhẫn tâm. Một Bộ Trưởng sắp bị ông cho về, nhưng chợt có tang gần được ông lưu lại: ‘’thôi, khoan thay đổi, người ta đang buồn.’’ Nên khi một Tỉnh Trưởng sắp bị cắt chức, có người trình ông rằng đương sự vừa có đứa con tử nạn; ông bảo ‘’Hãy cho hắn ngồi đó ít lâu’’ Ít lâu, là chừng một năm thì phải.
ANH VÀ CÁC EM
Sáng hôm 12 tháng 7 năm 1954, tôi cầm giấy gọi vô Dinh Gia Long để xem được giao việc gì. Dĩ nhiên tôi phải gặp cấp hữu quyền.
Một bạn trong Phủ Thủ Tướng bảo tôi cần yết kiến trước hết ông Ngô Đình Nhu.
Điều này hơi lạ, đối với một công chức quen theo hệ thống chánh thức. Nhưng vì đã nghe nói khá nhiều đến học lực của ông, tôi cũng muốn có dịp nhận xét.
Một tùy viên dẫn tôi ra hành lang, về phía một người đương đứng dựa cột nhìn ra vườn sau:
- Ông ấy đó.
Ông quay lại, nét mặt nghiêm nghị nhưng chợt mở rộng miệng cười khi nghe giới thiệu, và nói chuyện rất trầm:
- Ờ...vô đây cùng làm việc, chỗ anh em cả.
Ông không bắt tay: Về sau tôi mới rõ là ít khi ông theo lệ thường này đối với người trong Phủ. Tôi chú ý đến nước da sạn, mắt sắc nhưng hơi trợn, hai tai bạt thiếu ráy, má lúm đồng tiền và đôi hàm rất khỏe: Lúc cười, răng trắng soi sáng vẻ mặt chiêu đăm. Tôi còn ghi nhận những ống quần nhàu không ủi, chiếc sơ mi hở cổ cộc tay và hơi cũ, đôi dép da quai sờn. Y phục quá sơ sài của em một ông Thủ Tướng khiến tôi phát ngượng và lúng túng trong bộ đồ lớn của tôi.
Tôi hỏi về nhiệm vụ phải giữ?
- Ờ...cái đó để ông Bộ Trưởng trình Thủ Tướng. Liệu cùng làm với nhau.
Tôi thưa rằng anh em dặn tới hỏi chính ông.
- Không, tôi có là chi đâu! Ở đây giúp lăng quăng ông cụ vài việc lặt vặt lúc ban đầu, vì chưa có người, chớ không biết gì về tổ chức cả...
Chắc thấy tôi nghi ngại, ông lại cười trắng và nói chậm:
- Tôi có bàn giấy nào đâu, tiếp khách cũng đứng đây, ngoài hè.
Tôi bèn cáo thoát và đi tìm một cao cấp. Ông này quả quyết với tôi: Không thể định đoạt, để trình lại...ông Nhu!
Chợt ông Thủ Tướng từ phòng đi ra, ông cao cấp cùng tôi đứng dậy, và tới gần ông Diệm nói khẽ một câu.
Ông Diệm nhìn thoáng tôi, rồi gật:
- Ờ...hãy đưa tới ông Nhu coi!
Ông Thủ Tướng đi khỏi, tôi cũng đi ra, trong tai còn vẳng những tiếng ‘’ờ’’.
Bởi vậy, tôi ngán quá, và nhân dịp chính quyền sơ lập còn đương bối rối về nhiều việc ngổn ngang, tôi lẳng lặng lên Đà Lạt dạy học ít lâu, cho tới khi có lịnh kêu trở lại.
Từ khi ấy, cho tới 1958, tôi hay có dịp gặp tôi, không hẳn vì có nhiều việc liên quan đến tôi, nhưng vì ông thường phải qua phòng giấy của tôi để vào bàn luận với ông Bộ Trưởng.
Nhiều lần, ông dừng lại ngồi trước mặt tôi và nói chuyện rất tự nhiên, có khi trụt dép ghếch chân lên góc bàn. Quần áo của ông vẫn như trước kia, người lạ gặp ông có thể lầm với một nhân viên cấp dưới, thật trái hẳn với ông Diệm hay ông Luyện là những người quen phục sức chỉnh tề.
Vẻ bình dị bất thường của ông khiến tôi tự hỏi: Tuy ông không có lương bổng chi hết, chẳng lẽ nào ông Thủ Tướng để ông túng thiếu như hồi còn ở trọ một bệnh viện tư cách đây không lâu? Hay là ông lại muốn noi gương già Hồ, để được coi như hiện thân của giới cần lao hoặc của Cần Lao?
Tôi càng thấy khó hiểu, khi mục kích ông co ro cùng vợ con trong một căn phòng nhỏ hẹp trên lầu Dinh Độc Lập, tuy còn những phòng rộng lớn và đẹp đẽ hơn. Theo một người thân cận, thì ông không muốn ở trong Dinh, chỉ chờ dịp dọn đi, nhưng ông Diệm không nghe, quyết giữ lại để còn luôn luôn hỏi việc.
Căn cứ vào những lời ông nói và nếp sống bề ngoài của ông, tôi đã kết luận rằng ông tránh tiếng lợi dụng quyền lực và địa vị của ông anh. Ông muốn được coi như một tư nhân đứng sau lưng ông Diệm, đem công tâm ra giúp ít nhiều vào việc tranh đấu mà thôi, chớ không nhằm chức vụ hay lợi lộc chi hết.
Cũng có lẽ, vì thái độ dễ dãi của ông Nhu hồi đó phù hợp với không khí chưa khó thở trong Dinh 1955. Chính ông Thủ Tướng cũng xuề xòa, trước mặt chúng tôi, ông cũng cởi cà vạt, sắt tay áo cho mát; một bận, gặp một nhân viên và tôi giữa cầu thang nhỏ, ông cười nhũn nhặn và đứng dẹp vào tường, ra hiệu cho đi trước. Tại bàn ăn trên lầu, hôm nào cũng thấy bày sẵn đến mười bát đĩa, khách thân trúng bữa có thể ngồi ăn liền. Một phòng rộng cạnh phòng ông Diệm được dành cho vài người tín cẩn sử dụng ngày đêm.
Song một sự vừa kể, dầu cố ý hay tự nhiên, cũng vô hiệu đối với đa số ở trong hay ở ngoài chính giới. Ngay khi ông Nhu chưa được ai gọi là ông Cố Vấn, ông vẫn bị nhân sĩ hay nhân viên thăm hỏi về mọi việc cần cấp, hoặc nhờ cậy can thiệp, chối là vô quyền cũng chẳng xong. Vả lại, hễ việc nào phải xét kỹ, là ông Diệm bảo: Đưa ông Nhu coi, hỏi ông Nhu chưa? Nếu thưa rồi, ông Diệm mới ký hoặc phê.
Ông Nhu thường tỏ vẻ bực mình, phần vì giữ ý với công chúng, phần vì ghét những việc không tối quan trọng. Có lần ông càu nhàu với nhân viên mang hồ sơ tới hỏi thì ai biết sao?’’ rồi ông bỏ lên Cao Nguyên đi săn. Ông Diệm nghe tin phàn nàn: ‘’Chẳng chịu làm chi hết, cứ đi chơi! Cố Vấn gì mà cứ đi bắn!’’
- Cố Vấn gì? Cố Vấn nào?
Ông Nhu đã nói qua điện thoại, giữa 1955, không phải để trả lời câu trên của ông Diệm, nhưng để bẻ lại khi tôi có việc cần hỏi ông, và theo lối mọi người cũng gọi ông là Cố Vấn.
Tôi chợt nhớ rằng khi tôi mới vào Phủ, thì ông Bộ Trưởng C. và cả tôi đã quen miệng gọi ông là anh.
Đến khi cần cử ông qua Pháp thương thuyết với Thủ Tướng Edgar Faure, một số người trong chánh phủ thấy ông phải đi với một danh nghĩa chánh thức hơn là với tư cách bào đệ ông Diệm. Nên hai chữ Cố Vấn đã được đem dùng để đồng thời thừa nhận một sự vẫn được coi là hiển nhiên.
Ông Nhu đã thành Cố Vấn Chánh Trị mà chẳng cần văn kiện nào bổ nhiệm. Thực tế ở Việt Nam thường mạnh hơn pháp lý, và pháp lý có khi thừa.
Ông cũng biết là không tránh được chức vị, song vì chưa quen, nên lúc đầu không muốn người thân cận kêu theo hai tiếng lạ tai, thì cũng như mấy bạn sinh viên ngày xưa thấy ngượng khi mới thi đậu Tri Huyện mà bị suy tôn làm Quan lớn, nhưng rồi cũng chịu đựng được hết.
Ông Nhu không thoát khỏi lệ thường, nên chỉ tới đầu 1956 là ông hết phản đối, và dẫu viết cho ‘’Ông Cố Vấn,’’ thì cũng được Cố trả lời và gọi là Ông: Ông Bộ Trưởng, Ông Đổng Lý v.v...
Cử chỉ này báo hiệu cho tôi những sự thay đổi đáng chú ý hơn.
Ngày 26 tháng 10 năm 1955, khi ban hành Hiến Ước tạm thời, sự lạ nhất đối với tôi là bộ đồ tergal mới tinh của Cố. Cố diện sang lần đầu tiên, và lần đầu tiên chịu ra mặt dự lễ cùng các nhân viên chánh phủ, trước thềm Dinh Độc Lập.
Cách đó ít lâu, những người thân tín trước kia ăn ở ngay trên lầu, đều ra ngoài cả, các phòng được trang trí lại, và gần hết căn phía trái, - về sau bị ném bom - được nhường cho gia đình cố vấn. Rồi Cố có phòng giấy riêng, nhỏ nhưng rất kín đáo, với dụng cụ mới như quần áo, đặc điểm nữa, là vẻ diêm dúa của các ghế ngồi có đệm bọc sa tanh hồng bóng loáng, một màu sắc chỉ có thể dung thứ ở căn phòng phấn sáp của phụ nữ nhà giàu.
Khi nếp sống đổi, con người cũng đổi hay là ngược lại? Ở trường hợp ông Nhu và bà Nhu, chỉ là sự trở về dĩ vãng, của hai gia đình quan liêu trưởng giả, sau một thời kỳ tương đối khó khăn. Nhưng sự vãn hồi đó lại bị một số người coi như một biến cải của những phần tử lảng xa cương vị tranh đấu khắc khổ. Tôi nghĩ ông Nhu chỉ muốn chấm dứt giai đoạn ẩn bóng để ra mặt vào cuộc, khi đã nắm vững thế cờ.
Cả ông và bà ứng cử và đắc cử Dân Biểu. Mỗi người lập một văn phòng riêng. Sự giao thiệp với cấp chánh quyền và các giới ngoài mỗi ngày một nhiều, trực tiếp và công khai. Sau 1958, và nhất là từ 1960, số người lui tới Cố hay bà Nhu không kém hay lắm khi còn nhiều hơn số vào trình việc ông Tổng Thống. Ở nhiều trường hợp, được ông Nhu hay bà thỏa hiệp, thì khỏi xin chấp thuận từ Cụ; hoặc dù thỉnh thị ông Diệm rồi, vẫn nên báo cho ông Nhu, có khi Cố thấy cần xét lại, thì Cụ dẫu ưng rồi cũng dễ đổi ý. Lịnh của ông hay của bà, dù chỉ khẩu truyền, được tuân hành tăm tắp. Nhiều tờ trình chánh thức, và cả lắm đơn khiếu nại, vừa được gửi lên Tổng Thống vừa được sao lên Cố Vấn. Có khối công văn đệ bà, y như đối với cấp trên hoặc cơ quan hữu quyền liên hệ.
Hai người hoạt động song song, chi phối các đoàn thể công hay tư làm hậu thuẫn cho chế độ. Ông lập Thanh Niên Cộng Hòa, bà lập Phụ Nữ Liên Đới. Ông tổ chức Lực Lượng Đặc Biệt, bà tổ chức Phụ Nữ Bán Quân Sự. Bà tuyên bố, chủ tọa, khánh thành kinh lý. Ông phát động các Phong Trào Tố Cộng, học tập Nhân Vị, đề xướng và áp dụng Quốc Sách Ấp Chiến Lược. Rồi Quốc Sách bao trùm các lãnh vực. Hầu hết các Bộ Trưởng và cao cấp quân chính phải tham dự các buổi họp hàng tuần của Ủy Ban Đặc Trách Trung Ương do ông triệu tập và điều khiển, cơ quan này từ 1961 thành ra Hội Đồng Chánh Phủ đích thật, với những quyết định quy mô và cụ thể. Còn Hội Đồng Nội Các thì chỉ nhóm họp đôi khi để nghe ông Tổng Thống cho chỉ thị riêng về một vài vấn đề không mấy quan trọng.
Nên tôi không ngạc nhiên khi có bạn sửng sốt, hôm có buổi họp tại phòng ăn Dinh Độc Lập để nghe Cố thuyết trình lần đầu về Ấp Chiến Lược, cùng với dăm trăm cao cấp các Bộ Trưởng đều đứng dậy chào từ lúc Cố từ trên lầu bước xuống nơi họp, không khác nào khi đón ông Diệm. Chẳng ai bảo ai, chẳng ai đặt lệ, mà nghi thức cứ như vậy.
Tôi hồi tưởng đến người đã tiếp tôi tháng 7 năm 1954 tại hành lang Dinh Gia Long, hình ảnh xa xưa quả đã khác nhiều, cả quần áo lẫn người. Bộ Orlon lịch sự đã thay bộ đồ cũ nát, nhưng tóc sớm chấm bạc, nước da càng sạm, đôi mắt có quầng và khía, còn miệng cười trắng nhởn không xua đuổi được vẻ chán chường và mệt nhọc của hai má chảy dài, dấu vết, hay hậu quả của những quyền hành quá nặng?
Ông và bà Nhu có địa vị của một Quốc Sư và một Quí Phi. Đã có người ví bà với Evita, vợ nhà độc tài Peron, Tổng Thống Á Căn Đình. Nhiều báo Hoa Kỳ hay dùng tĩnh từ Powerful, thế lực mạnh, khi nói đến hai người.
Sự tham gia của ông Nhu được chính giới chấp nhận như một sự tất nhiên. Đối với hạng người lớn tuổi, mối liên hệ gia đình vẫn còn chặt chẽ, anh em thường được tin cậy và nâng đỡ hơn người ngoài; giả thử không dùng khi có quyền, thì chỉ muốn tránh tiếng thiên vị, hoặc vì người thân thích quá thấp kém. Nhưng nếu có kẻ giỏi, thì sao lại gạt bỏ, và ngại chi lời dị nghị khi tin rằng đương sự được việc? Nếu về nguyên tắc, mọi chức vụ phải được chánh thức giao phó, thì ở trường hợp ông Nhu sự bổ nhiệm chỉ là việc giấy tờ, một tiểu tiết không đáng kể. Thảng hoặc có điều gì đáng trách, thì phải tìm trong các thái độ và hành động của người được tin dùng.
Song người ngoài chính giới không chia xẻ quan điểm như trên. Đa số cho là những người phục vụ chế độ không có can đảm phản đối chánh sách gia đình trị mà thực ra họ chẳng tán thành. Những người thuộc các nhóm đối lập trách ông Diệm đặt tình thân lên trên nhu cầu đoàn kết quốc gia, chỗi từ sự tham chính của những nhân vật hay đoàn thể không được lòng ông Nhu, và nhắm mắt theo các mưu kế do ông em bày đặt, truất phế Quốc Trưởng, loại trừ giáo phái, thực hiện độc tài. một ít người biết năng lực của ông Nhu và sự phức tạp của tình thế, không tin hẳn vào những lời đã kích, cho rằng trên lý thuyết, ông Diệm có thể tạm dùng em ruột nếu tránh được sự lạm quyền.
Về phần bà Nhu, thì ở bất cứ giới nào trong nước dư luận trước sau vẫn vô cùng nghiêm khắc. Lời khen bà, ở miệng hay dưới bút vài nhà báo ngoại quốc, chỉ liên quan đến sắc đẹp. Còn tiếng chê bai, thì dẫu đúng hay sai cũng không thể nào kể hết.
Duy ông Tổng Thống không hiểu vì sao người ta oán ghét bà như vậy.
Ngay từ 1955, nghĩa là từ khi chưa có Quốc Hội, Liên Đới hay Bán Quân Sự, đã có lần ông chép miệng thở dài:
- Tội nghiệp, bà Nhu có làm chi đâu?
Song một người như ông, đã hiền và muốn giữ nếp sống cổ truyền, sao có thể quên điều tối kỵ trong xã hội này; dù không làm hay chưa làm việc gì có hại, người đàn bà không thể thừa thế nhà ông mà xen lấn vào việc chánh quyền. Sự ra mặt và bề ngoài của bà, dưới mắt số đông, trái ngược hẳn với hình ảnh cố hữu của người phụ nữ Á Đông khiêm nhượng, ý nhị và hiền hậu; của người mẹ và người vợ Việt Nam chăm lo trước hết việc nhà. Nên đối với ông Nhu, người ta còn chịu chờ đợi việc dở hay để xét định; nhưng đối với bà, thì ngay cả sự xuất đầu lộ diện của không được tán thành hay dung thứ.
Nguyên do sâu xa nhất và đích thật nhất của nỗi ác cảm chung, là sự mâu thuẫn giữa lối sinh hoạt của bà, và ý niệm thân thiết về phái đẹp của rất nhiều đàn ông nước Việt; người đẹp mà lại muốn khỏe và hách nữa, thì quá lắm, không chịu nổi. Nên dù phải hay trái, người đàn bà Việt Nam muốn vội sống theo gương đàn bà tiền phong (Avantgarde) Âu Mỹ, tất chưa thể được yên thân trên một đất nước mà nhiều người còn ghê sợ những Võ Hậu nà những Từ Hi.
Tâm lý của số đông như vậy, nên nhiều con mắt dễ nhìn thấy những sơ hở và lầm lẫn để buộc lỗi gay go. Mỗi lời và việc làm của bà, liên quan đến đời công hay đời tư, đều là những cớ những dịp cho dư luận chỉ trích nghiêm ngặt.
Đầu năm 1961, một bạn Việt kiều đứng tuổi ở Ba-lê có hỏi về những sự bất lợi mà người ta gán cho bà Nhu.
Tôi đã trả lời: Có nghe nói, nhưng không biết dựa vào đâu mà xét đoán.
Anh ta kết luận rằng:
- Theo nhiều bạn ở bên này, chắc cũng có phần đúng phần không. Nhưng dù sao, nếu đã làm mang tiếng cho ông Diệm, thì bà nên tự ý lánh mình có hơn không? Vì ở chính trị phải tránh sự hiểu lầm, và bề ngoài cũng đáng kể như sự thật.
Song một người quen bà lại cho biết:
- Khốn nhưng bà ấy cứ tin rằng bà phải làm, nếu không thì chẳng ai làm một việc mà bà coi là tối cần, như huy động phụ nữ vào những công cuộc chung. Mà thực ra, phải có bề thế của bà mới lay chuyển và lôi cuốn nổi phần lớn các bà chưa chịu ra khỏi gia đình.
Một số khác, thuộc Phong Trào Cách Mạng, cũng đồng ý rằng bà có thể và nên làm việc công. Những tổ chức của bà ở thời kỳ thí nghiệm, chưa thể cho là dở cả. Nhưng họ phàn nàn: Thái độ của bà làm hại chính sách, giá thử bà dễ dãi nhún nhường, mềm dẻo thì may ra bà cũng được tin theo phần nào, ít ra không bị ghen ghét lắm. Nhưng bà nói quá mạnh, có vẻ coi thường hết mọi người, nên dù hoạt động có ưu điểm gì chăng nữa, cũng không thể đổi ngược chiều công luận.
Trong mấy năm đầu, ông Diệm không thấy các em ông có lỗi gì hết. Ông tin rằng mọi sự công kích đến do lòng đố kỵ, hoặc do mưu mô ly gián của các đối phương.
Đã vài lần, ông nói với người chung quanh:
- Bà Nhu chịu khó lắm. Đau hoài, mà cứ gắng làm việc công ích. Thiên hạ ác miệng lắm.
Nhưng rồi ông thấy cả những người chí thân cũng phản đối nhiều hành động của bà và ông Cẩn chẳng hạn, không thể giữ kín. Phải là Chỉ Đạo mới có gan lên án bà trước ông Tổng Thống. Ông Diệm hay bị trách là nhu nhược, để mặc cho vợ chồng ông Nhu làm mưa làm gió.
Ông Diệm biết xử trí ra sao? Có thật ông yếu ớt quá không? Tôi rất muốn biết rõ về hai điểm đó.
Vài người thân tín và quyền thuộc đã hiểu được nỗi khổ tâm của ông. Không những ông phân vân giữa tin tưởng riêng và dư luận chung, ông còn hay bị kẹt giữa tin tưởng riêng và dư luận chung, ông còn hay bị kẹt giữa những người ruột thịt.
Có bận ông ở Huế về, ngồi phờ rất lâu, mớ tóc đen và dài rớt cả xuống trán và mang tai; ông không nói không rằng, chỉ theo thói quen không ông suy nghĩ, nghĩa là dụi tàn thuốc lá, chưa hết nửa điếu này đã dụi và châm điếu khác để dụi nhiều hơn...
Ông muốn trong ấm ngoài êm, thì họ cứ lục đục và dằn dỗi, người nọ khích bác người kia. Ông thương tất cả, chẳng nỡ bệnh ai gạt ai. Ông cần ông Nhu hơn hết, sao mọi người cứ nhằm chặt chân tay ông?
Nhưng chẳng lẽ ông không dám có phản ứng hay sao? Ông Cẩn biết tính lưỡng lự của anh, đã bảo một người cháu: ‘’Khủng bố Tổng Thống, là nói mạnh, dọa làm bừa nếu ông chưa chịu nghe. Đồng ý hay không, bà Nhu lắm lúc đã biện thuyết quá hùng hồn trước mặt ông...
Ở những trường hợp đó, người phải chứng kiến đã ái ngại cho ông Diệm. Ông không quen mạnh dạn trước phụ nữ nói chung, lại cả nể vợ yêu của người em quí nhất, sau hết ông kém về ngôn ngữ và thiếu tài ứng đối. Nên ông chỉ cau mặt, không nghe không bác, lặng thinh trong một bầu không khí nặng nề. Rút cuộc, ông thường thở dài, hình như để tự giải thoát, giải thoát bằng tha thứ.
Ông cho là ông rộng lượng chớ không là ông chịu đựng. Bởi thế, có lần ông khuyên một Bộ Trưởng:
- Thôi, thói thường đàn bà người ta hay nhiều lời. Xong thì thôi, mình đàn ông bận tâm chi, cho nó yên mà lo việc lớn...
Nhưng tất cả vấn đề, là nếu ‘’nó’’ không yên thì sao?
Sau vụ đảo chánh hụt 1960, một đêm chuông điện thoại gay gắt khua tỉnh một nhân viên trong Phủ; anh ta choàng dậy nghe:
- A lô, đây là Sĩ Quan Tùy Viên. Thưa ông, chỉ thị của Cụ từ Đà Lạt truyền về như sau, Cụ dạy ông lấy cây viết ghi cho rõ chữ...‘’Bảo bà Nhu im mồm đi, không tuyên bố gì nữa. Bảo ngay.’’
Thật là khổ. Ai có quyền vô Dinh đánh thức bà hay ông Cố Vấn, nhất là để đưa điện văn quá đặc biệt này?
Đương sự đành đem tới Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống để tùy ông tìm cách chuyển đạt.
Sở dĩ phải cấp tốc, không những vì lịnh ra bằng điện tín, nhưng là vì việc có tính cách đại bất thường: Ông Tổng Thống phải bực tức đến cực độ, không còn nể nang gì nữa, mới thốt ra lời với giọng kia.
Chẳng biết khi tung trái bom đó, ai đã nhẹ mình, ông hay là những người biết chuyện?
Có người rất lấy làm lý thú:
- Con giun xéo lắm cũng quằn. Huống hồ ông. Thỉnh thoảng ông cũng phải quát tháo đôi ba tiếng cho bầu trời đỡ nặng, cho ra vẻ Tổng Thống...
Phần vì muốn chống đỡ hộ ông Nhu, phần vì lòng tự ái không khỏi bị kích thích, ông đã cố tỏ ra cho mọi người biết rằng ông lãnh trách nhiệm quyết định trong nhiều trường hợp.
Một dự án trợ cấp được đệ lên ông. Vì ông Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống vắng mặt, người chuyên trách đem việc lãnh ý kiến ông Nhu, và trình ngay sự kiện đó, yên trí rằng như thế chắc vừa lòng ông Diệm.
Nhưng trái với thường lệ, ông Diệm dồn luôn cho một thôi một hồi:
- Ai phải xét? Phải trình ai trước? Ai là Tổng Thống? Tôi là máy ký hay sao?
Nhân viên bị quở, lủi thủi đem hồ sơ về than phiền với một đồng sự tinh khôn hơn; ông này bảo:
- Trước 1956 hay 1957, thì được. Ít lâu nay, Tổng Thống đổi nhiều rồi. Đành rằng về việc quan trọng, cần có ý kiến ông Cố, song cứ phải trình thẳng Cụ đã. Nếu Cụ thấy nên hỏi, thì tùy Cụ. Còn nếu Cụ định đoạt lấy, thì thôi. Đằng này, anh vội đi hỏi lấy, cho Cụ cảm tưởng rằng anh coi Cụ như không biết việc, không dám quyết định, chẳng trách! Có khi Cụ còn bực rằng: Người trong Phủ còn hiểu lầm, thì trách sao được người ngoài khi họ phao là Cụ chỉ bị giật dây!
Kẻ dại dột cũng thấy bạn nói có lý, nhưng chưa tin hẳn. Rồi một lần ông được ông Diệm kêu lên về một vấn đề Dinh Điền. Anh ta trình đầu đuôi việc đó, nhưng theo thói quen, ông Tổng Thống lại chẳng thiết xét, chỉ nhân dịp này nói rất nhiều về công cuộc khẩn hoang...Rồi ông kết luận:
- Dinh điền. Không có gì quan trọng hơn, mà ông Canh Nông, ông Cố Vấn cũng không nghĩ ra. Cái ông Canh Nông không ngó chi cả, nước mặn mà không biết, tôi thọc ba toong xuống cắm ngập nửa gậy. Kỹ Sư với chả Kỹ Sư. Ông Nguyễn Công Trứ không kỹ sư gì hết, làm dinh điền vùng biển ngoài Bắc. Tôi chưa coi, nhưng biết khá lắm. Chúa Nguyễn có cái công lớn là mở bờ cõi tận nơi đây. Nhưng đến Cà Mau là cụt, không biết đi đâu nữa. Mình mới nghĩ rằng mình phải tiếp tục, chính sách Hiền Vương, Võ Vương...Sáng kiến của mình (tới đây, ông cười hề, đắc chí) mà không ai chịu tỏ rõ. Cái Thông Tin còn dở lắm, ghi liền, biểu học chịu làm hơn lên. Phải có nhiều tranh ảnh. Dinh Điền. Vì Dinh Điền là của Tổng Thống, sáng kiến Tổng Thống, chớ đâu có của ông Bùi Văn Lương hay ông Cố Vấn. Ông Cố Vấn ông ấy giỏi mà không biết nhiều Dinh Điền. Các Chúa Nguyễn không biết Cao Nguyên. Mình mới biết Cao Nguyên. Mình còn tỏa rộng được hơn các Chúa Nguyễn. Mình phải mise en valeur, khai khẩn gấp. Nên tôi tính cho dân Trung lên đó lập nghiệp. Ông Cẩn cũng phải chịu mình là phải. Dân Bắc di cư không đủ. Ngày xưa, các ông Nhà Nguyễn thiếu dân, phải cho lính đi mới gọi là đồn điện. Nay mình có dân. Ơn trên cho mình dân để mình đem lên trồng tỉa. Ông Nhu không hiểu, nói đưa dân Trung lên, họ oán. Mình đem đi, mình nuôi, có cá, có kénaf, có cam, quít, bưởi. Oán chi? Sáng kiến mình phải thực hiện. Lên Ban Mê Thuột mà coi, xanh tốt lắm. Ông Nhu đi săn mà không biết sao?...
Ông muốn chứng tỏ rằng ông có nghĩ, và biết tìm ra, chớ không phải ỷ hết vào ông Nhu.
Tuy vậy, ông vẫn rất cần Cố Vấn, và hễ ông này đi vắng vài hôm, là ông sốt ruột hỏi hoài.
Nếu gom góp ý kiến của những người thân cận trong gia đình và trong Phủ Tổng Thống, hoặc lâu đời quen thuộc họ Ngô, thì có thể giải thích như sau sự quyến luyến và lòng tín nhiệm đặc biệt của ông đối với ông Nhu.
Ông vốn ít giao thiệp, lại từng bị lừa dối khá nhiều trong thời Pháp thuộc, nên thành đa nghi. Nói cho đúng hơn, ông không hay ngờ vực vì sẵn ác ý, nhưng vì không dám tin ở sự xét đoán riêng của mình mà yên lòng trông cậy vào kẻ khác.
Đến lúc phải lo đại sự, ông đành dựa vào người này cùng chịu như ông một nền giáo huấn và tín ngưỡng mà ông coi như đủ bảo đảm những đức tính căn bản tối cần.
Nhưng tại sao ông Nhu được đắc dụng hơn cả? Vì trong mấy anh em, không ai đủ điều kiện như ông này. Đức Cha Thục, vốn người tu hành, không thể gánh vác việc chánh trị. Ông Luyện có học vấn cao, nhưng chuyên về kỹ thuật, và không khắc khổ như ông Nhu, khi đặc tính này đối với ông Diệm, lại đồng nghĩa với lòng cương nghị và đức hy sinh mà ông đòi hỏi ở người lãnh trọng trách. Còn ông Cẩn, tuy có công như ông Nhu trong sự tranh đấu để giúp ông Diệm lên cầm quyền, lại học ít, tính tình liều lĩnh và ngang ngạch, chỉ biết rõ miền Trung, nằm vững được tình thế địa phương nhưng không tiếp xúc được với người ngoại quốc, thì đảm đương sao nổi những việc có tầm quan trọng quốc gia? Vả lại, trong họ Ngô Đình, tôn ti cũng cần theo đúng; ngay ở gia đình, anh phải hơn em, nên ông Luyện, ông Cẩn phải nhường bước ông Nhu.
Riêng tôi không đủ các yếu tố cơ mật để xét về toàn diện thân thế và hành động của ông Nhu. Tôi không rõ ông có làm hay không những việc có hại cho người này hay nhóm khác.
Song nếu căn cứ vào những sự từng thấy, thì đối với ông, ý niệm của tôi có thể dứt khoát hơn là đối với ông Diệm.
Về phương diện trí thức, trình độ của ông Nhu rất cao. Học vấn cổ điển và nhân bản của ông rộng và vững. Qua lời nói ề à, kẻ chú ý có thể bắt gặp những nhận xét sâu sắc về người và việc, một sự khó thấy ở ông Diệm, và ít thấy ở người chung quanh.
Triết Lý Nhân Vị mà ông thấu triệt và tin tưởng, theo tôi không mấy quan trọng, vì tôi quen nhìn với nhỡn quan tâm đến lý thuyết cao vời. Nhưng tôi nhận rằng ông muốn tìm cho chánh sách một căn bản, cho chánh quyền một chánh sách, cho tương lai một định hướng. Khi đa số người hữu trách và ngay cả ông Diệm chỉ hay nhắm sự trước mắt và mắc việc hàng ngày, ông suy nghĩ và chỉ một mình ông suy nghĩ như trên. Nếu chế độ cầu một đầu óc, thì đầu óc, thì đầu óc đó dù sáng nhiều hay sáng ít, lại không phải là ‘’Lãnh đạo anh minh’’ của các chức từ và các bản thông tin.
Nhưng lắm phen tôi đã tự hỏi: Ông chịu nghĩ thì có tìm ra nổi gì không? Lâu dần, tôi thấy ông đã nằm trúng yếu điểm của cuộc diện: Tình trạng chậm tiến và nhu cầu phát sinh từ tình trạng này. Bi kịch của chúng ta bắt nguồn từ đó. Từ đó chúng ta suy luận, chớ không thể còn mơ tưởng từ sự tự hào về bốn ngàn năm văn hiến. Ý thức phát triển gấp rút ám ảnh ông hoài, và luôn luôn ông dựa vào đấy mà làm hay nói.
Biết tôi ưa làm thơ, một lần ông biên mấy chữ chì than và gửi riêng cho tôi: ‘’Lãng mạn không hợp với tình trạng chậm tiến. Người thức giả nên cảnh giác.’’ Tôi vẫn đồng ý với ông về nhiệm vụ của người có học đối với việc mở mang xứ sở, nhưng tôi không nghĩ rằng tìm đẹp làm thơ có thể hại đến công cuộc chung.
Bận khác, tôi đưa ông tập ‘’Lược Khảo Về Hiến Pháp Các Nước Á Đông,’’ ông phê: ‘’Đã bắt đầu được. Đi xa hơn về phương diện chậm tiến.’’ Hai chữ này được nhắc nhiều lần trên những bài diễn văn mà ông thảo cho ông Tổng Thống. ‘’Chậm tiến’’ thành động lực cho Kế Hoạch Ngũ Niên, Kỹ Nghệ Hóa, Viện Trợ Kỹ Thuật và Kinh Tế, Khu Trù Mật, Hiệp Hội Nông Dân, Ấp Chiến Lược, báo Quê Hương v.v....
Tiếc thay, ông suy tưởng hợp lý mà áp dụng không công hiệu. Nguyên do, là thiếu ở nơi ông, hai điều kiện mà tôi tạm gọi là khả năng phát huy và khả năng thực hiện.
Những ý kiến của ông không được bày tỏ rõ ràng, nên dù ông muốn phổ biến, cũng không lôi cuốn nổi nhiều người. Cũng như ông Diệm, ông nói rất kém, khi hùng biện lại là lợi khí tối cần cho chính khách muốn có ảnh hưởng bên ngoài sa lông hay các phòng giấy. Nghe ông, thì phải kiên tâm chịu đựng sự chậm rãi, dài lời, nhát gừng, loanh quanh hay mịt mùng. Thật lạ quá, ở một người có cây bút rất nhậy, đưa nổi dòng tư tưởng theo dòng mực, một mạch từ nguồn ra biển...Ông viết lẹ, ít khi phải ngừng phải xóa, cô đọng nhiều ý trong ít chữ, với những tiếng chắc nịch: Ít ra là như thế khi ông viết bằng Pháp văn. Pháp văn của ông vượt xa về mặt văn thể, của những cây viết có tiếng ở miền Nam: Nguyễn Phan Long và Vương Quang Nhường.
Trên địa hạt thực hành, ông cho cảm tưởng là lạc từ lý tưởng vào thực tế. Tổ Chức Thanh Niên Cộng Hòa là một tỉ dụ cụ thể. Ông bỏ quên giới trẻ có học ở các thành thị, tuy ông không thiếu tư cách và phương tiện hấp dẫn. Ông nhằm trước hết vào giới công chức, để phát động một phong trào cách mạng. Nhưng trong lịch sử, lịch sử mà ông thuộc hơn ai, không bao giờ có cuộc cách mạng nào do công chức cầm đầu, vì lý do rất giản dị là họ chỉ quen phục vụ theo quy củ và sống yên theo nề nếp: Không thể trách họ về các điển này, và tin thật vào bộ đồng phục màu xanh? Bộ đó không có phép lạ biến người thư ký hay ông chủ sự thành một phần thử đấu tranh. Bắt mặc thì mặc, xếp hàng thì xếp hàng, giơ tay thì giơ tay, người tùy phái của tôi vừa cười rũ vừa thay đồ và tủm tỉm xin phép ‘’đi Thanh Niên’’ rồi một lát sau về trút vỏ Thanh Niên, lại đưa giấy, mở cửa cho khách, hút thuốc và đọc báo; anh ta cũng chẳng hiểu mình cách mạng ở chỗ nào? Nhưng Cố Vấn Ngô Đình Nhu, học giả kiên chính trị gia, đã tỏ vẻ hài lòng về sự thành công của mình, khi đứng nhìn diễn hành hàng ngàn bộ đồ xanh. Tổ chức của ông có giúp được chút nào cho chế độ đứng vững hay không?
Đâu phải ông không thấu thực trạng của bộ máy chánh quyền? Nhưng ông tưởng rằng có thể vượt gấp các chặng đường, xông tới đích cách mạng mà không cần những sự cải cách chuyển tiếp. Từ 1954, chưa từng có phong trào cải tổ hành chánh một cách sâu rộng và bền bỉ, trên nguyên tắc, thì ông vẫn chấp nhận, vì ông ưa lý thuyết hay. Nhưng ông không chịu theo dõi sự tiến hành, và cũng như ông Diệm, ông không lo thu xếp cho khỏi bị công việc tràn ngập, nên ông dặn trước quên sau, mắc chứng đánh trống bỏ dùi, rồi đâu lại vào đấy. Rồi đùng một cái, ông muốn lôi cuốn rất mạnh cả khối người rất nặng của chế độ, mà chính ông đã ví với con voi tiền sử Le mastodonte administratif.
Ông đã khiến tôi tưởng tượng đến một quan cai trị xứ Pérou hay Ý Đại Lợi đột nhiên sang điều khiển xứ tôi, nghĩa là với những phương pháp không ăn nhập gì với những sự kiện đặc biệt của một chính quyền chưa chỉnh đốn.
THAM NHŨNG VÀ ÔNG DIỆM
Ngày 28 tháng 7 năm 1954, nghĩa là hai mươi mốt hôm sau khi lên cầm quyền, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm thừa ủy nhiệm Quốc Trưởng, ký Đạo Dụ số 18 trừng phạt nặng những sự phạm pháp trước kia chỉ bị coi như khinh tội: Phụ lạm, hối lộ và lợi dụng quyền thế.
Tới 30 tháng 8 năm 1954, ông lại ký Dụ số 25 bắt buộc các công chức mọi cấp, lúc nhận việc và hàng năm, kê khai tài sản: Nhà cửa, cơ sở thương mại hay kỹ nghệ, thuyền tàu xe cộ và các số tiền trên 20.000$ gửi các ngân hàng, đứng tên mình hay vợ con, ở Việt Nam hay ngoại quốc. Một Ủy Ban sẽ được chỉ định để theo dõi việc này, với quyền xét hỏi rộng rãi.
Đồng thời, ông ra lịnh điều tra về hành động phi pháp và tham nhũng của nhiều cao cấp dưới các chánh phủ trước.
Rồi chẳng bao lâu, một số nhân viên điều khiển, Thủ Hiến, Thị Trưởng, Tỉnh Trưởng, Sĩ Quan v.v...bị chấm dứt nhiệm vụ hoặc đưa ra Tòa Án.
Có vị mấy năm tù ở, chỉ vì bị buộc lỗi chiếm công vi tư, đúng hơn, vì trót quên chưa mang trả lại Sở một bộ từ điển và ít đồ vặt đã mượn về nhà sử dụng.
Ông Diệm cũng biết là sự trừng phạt quá nặng, song không can thiệp, vì muốn treo gương có giới công chức mà thanh danh đã mất từ lâu, ông đã được nhiều người kể cho nghe không biết bao nhiêu thành tích bất bảo: Hối lộ, biển thủ, sang đoạt, lạm quyền trục lợi, của một chánh thể mà ông tin là đã mục nát quá nhiều.
Ông muốn diệt trừ tham nhũng, không những vì nhu cầu chấn chỉnh quốc gia, nhưng còn vì tính tình khắc khổ, vì giáo lý và giáo dục gia đình đã tạo nên ông. Ông ghét cay ghét đắng những hành vi mà ông coi như trái đạo đức. Ông là một tín đồ Công Giáo thấm nhuần cả triết lý Khổng Mạnh. Ông muốn dĩ đức vi chính.
‘’Dĩ đức vi chính, như Bắc thần cư kỳ sở, nhi chừng tinh củng chi...’’ Ông thánh thời xưa dĩ đức vi chính, lấy đức làm chính sách, thì có thu hút những người hiền về chầu không, hay lại chỉ mua toàn những hạng người hiền về chầu không, hay lại chỉ mua toàn những hạng hãy nghiệm xem sao.
Nếu xét khách quan và chánh thức, thì tôi thấy từ 1954 đến 1963, hàng năm những vụ tham nhũng bị điều tra hay trừng phạt cũng không tăng hơn nhiều, so với thời Bảo Đại 1949-1954; trung bình, chỉ dăm bảy vụ đáng kể.
Nhưng chính vì thế mà dư luận càng chỉ trích chánh quyền, theo nhiều giới, kể các công chức, thì không biết bao nhiêu tội lỗi được che đậy, vì tình cảm, vì áp lực, vì tị hiềm, vì nỗi lo ngại dứt dây động rừng...
Bà con chúng bạn thường kể cho nhau nghe với nhiều chi tiết cụ thể, những chuyện rất dễ được tin: Dâng 300.000$ để chạy chân Tỉnh Trưởng; làm sổ Dân Vệ ma để lãnh phần lương trội; thâu thuế rồi bỏ túi; lãnh lương cho sở rồi biến mất; xin bán đồ phế thải của cơ quan, nhưng thực ra đem bán dụng cụ tốt để kiếm lời; ăn chặn ăn bớt phẩm vật cứu tế hay viện trợ; lãnh tiền hàng tháng của thương gia để lo việc hộ cho mau lẹ hoặc mách lối trốn thuế; bắt các xe đò nộp tiền rồi mới cho đi khỏi trạm kiểm soát; vận động cho hãng thầu ngoại quốc trúng thầu rồi nhận tạ ơn bằng một trương mục Mỹ kim hay Phật-lăng (FRF) mở tại một ngân hàng nước ngoài; bắt giam để điều tra về hành vi chính trị, nếu ‘’biết nghĩ’’ sẽ liệu tha; hạch sách để các nhà buôn trong quận lỵ mua đồ vàng tặng vô mình; lợi dụng chức vụ, để buôn thuốc phiện, ngọc thạch và hạt soàn v.v...Biết kể lại làm sao cho hết, những việc bất chính mà bao người yên trí đã xẩy ra chung quanh ông.
Ông đã chê trách các chánh quyền cũ, và trường phạn một số người lớp trước vì tội thối nát. Nay lại đến lượt chánh quyền thuộc ông và những người của ông bị dư luận lên án hay ngờ vực.
Có người đã hỏi tôi: Ông Tổng Thống có rõ thực trạng không? Nếu có, thì đã làm gì để đối phó? Hay là dung túng cho làm bậy? Hoặc không ngăn cản nổi?.
Trong tinh thần đó, anh và tôi đều mong muốn những gì có ảnh hưởng trực tiếp vào nếp sống chung; nhưng bài hát cho mọi tuổi và mọi nghề; những y phục mới thích hợp cho mỗi tầng lớp và mỗi loại công việc; những kiểu bàn ghế đồ đạc Việt Nam, kiểu nhà Việt Nam, kiểu xóm làng tân tiến, những sách báo phổ thông, phòng triển lãm vĩnh viễn, viện bảo tàng nghệ thuật và cả công nghệ, câu lạc bộ cho văn nghệ sĩ v.v...
Tuy nhiên, D. vốn người thiết thực, không cần một kế hoạch hợp lý; trong giai đoạn thử thách, còn phải kiếm phương tiện vất vả, thì làm được chi cứ làm, tới đâu hay tới đó, miễn sao hoạt động được, hay nói đúng hơn, cựa cạy để khua động cho mọi người chú trọng đến công cuộc phát triển văn hóa.
D. kết luận là phải có nhiều tiền, để tổ chức, trợ cấp, thù lao v.v...Nhưng ‘’làm văn hóa’’ thuần túy, như chúng tôi mong ước, thì chẳng chánh quyền nào chịu giúp đỡ. D. nhận rằng chẳng ai cho không, cần có đôi chút đền bù lại.
- Mình làm báo, có rao hàng hộ mới có tiền. Chánh quyền cũng như nhà buôn, họ chỉ chịu tốn kém nếu mình quảng cáo hộ ít nhiều, chứ ai hơi đâu trợ cấp để than mây khói gió? Trong lịch sử, thỉnh thoảng lắm mới có một Đường Minh Hoàng hay một Louis XIV. Anh em văn nghệ mình cứ đòi giúp không điều kiện, nếu không thì bảo vệ tự do đến cùng và chịu bó tay ngồi xuông. Tự do trăm phần trăm của mình không quan trọng bằng công cuộc văn hóa chung, muôn thuở. Cho đi hai chục phần trăm cũng còn tám chục phần trăm phương tiện cần thiết, cũng khá rồi. Nhất định không ‘’quân tử Tàu’’, nếu xây được một sân khấu hay in được vài vở kịch...
D. lo gây cảm tình cùng tín nhiệm, tham gia hoạt động của Liên Đoàn Công Chức Cách Mạng Quốc Gia, giao kết với những nhân vật thân cận ông Nhu bà Nhu, vận động trước hết để ra một tạp chí và lập một cơ sở văn nghệ.
Đầu tháng 9 năm 1959, anh đem cho tôi số đầu tiên của Sáng Dội Miền Nam, ngoài bìa, cô TTT cầm quạt, nở nụ cười tươi giữa mấy cô xanh đỏ khác.
Tôi thấy khuôn khổ màu sắc cũng coi được, nhưng tờ báo có vẻ chánh thức quá, vì trang đầu đầy hình ảnh ông Tổng Thống.
D. tặc lưỡi:
- Thì cũng phải giữ lễ tối thiểu, có như thế mới được các cơ quan mua làm tài liệu, và để ‘’chuyên chở cho trôi’’ cái phần văn nghệ, miễn là văn nghệ vẫn là văn nghệ của mình.
Tôi ngại rằng với thể tài như vậy, Sáng Dội Miền Nam sẽ chung số phận với một tờ báo của cơ quan thông tin ngoại quốc, in đẹp và phát không mà cũng chẳng mấy ai chịu đọc, có lẽ chỉ vì bị coi như tài liệu tuyên truyền.
Còn các bề trên nghĩ sao khi D. trình tặng?
- Cụ dạy: Ờ, cũng được, nhưng phải có Khu Trù Mật, Dinh Điền, vì là công cuộc cải tạo giang sơn, mà đất nước có đẹp thì hình ảnh trên báo mới đẹp. Ông Cố bảo: Làm chi thì làm, nhưng chưa chi đã đưa mấy cô gái trưởng giả ra phô áo đẹp, thì chỉ dành cho mấy lớp giàu có ở thành thị, khi nông thôn cần nhất, phải hướng về nông thôn nhiều hơn; phải phơi bầy những nỗ lực chống chậm tiến, còn nếu chỉ tranh ảnh đẹp xuông, thì cho ảo tưởng là mình tốt đẹp lắm rồi, thái bình quá rồi. Nhưng bà, thì bảo cũng coi được, cố gắng lên...
- Thế anh chiều ý ai?
- Chiều ý Cụ, vì Cụ nói cũng phải. Chiều ý Cố, vì Cố cũng có lý. Còn bà thì chắc bà phải vừa ý về thời trang và những mốt của bọn này đưa ra.
Tôi ghi nhận những kiểu áo dài cụt cổ, giống như của bà.
Vì không bao giờ tôi quên nét cười ranh mãnh của D., khi anh chỉ cho tôi kiểu đó. Rồi anh hỏi tôi còn thấy thiếu chi không?
- D. đã nghĩ đủ điều về mọi người: Cụ, ông và bà. Chỉ còn một kẻ chưa được chú trọng, là độc giả.
Dù sao, D. cũng cho là đã vượt nổi bước đầu. Được làm, là được tin và được tin rồi, thì sẽ còn làm được nhiều hơn. Anh càng hăng say, và có khi bỏ cả việc sở để lo việc quan trọng hơn: Kiếm một nơi hội họp văn nghệ sĩ, nhất là một sân khấu ca vũ nhạc kịch.
Tìm được căn nhà tại đường Bùi Viện, anh bàn với tôi về cách sửa sang. Tôi ước ao một phần làm nơi triển lãm quanh năm cho họa sĩ, vì phòng của Bộ Thông Tin chật hẹp, và không thỏa mãn đủ mọi nhu cầu. Anh quan tâm đến kịch ngần nào, thì tôi bận lòng đến tranh ngần ấy.
Anh hứa, nhưng xin để liệu sau, vì nhà chưa được rộng lắm, còn phải dành chỗ làm nơi ăn uống, cho anh em lui tới hàng ngày.
Tôi thiết nghĩ làm quán ăn rẻ tiền chưa đủ. Không nên coi sự giúp đỡ ẩm thực là trọng tâm, vì có thể làm tổn thương lòng tự ái của người muốn vãng lai; chỉ nên coi là một phương tiện phụ thuộc, để đưa tới mục đích chính yếu và thành thực, là tạo bầu không khí văn nghệ, vui vẻ càng tốt, sôi nổi không sao, miễn là kích thích và hào hứng. Đó là điều kiện cần nhất để phát động phong trào chấn hưng.
Quán sẽ là nơi trình diễn, giới thiệu, bình luận và thông cảm. Ai có tranh nhờ treo, có sách mới xuất bản, sẽ đứng lên giải thích về đường lối hay đặc điểm. Các bản nhạc mới, sẽ được ban nhạc của Quán hòa tấu lần đầu để thăm dò dư luận thính giả. Nhiều bài thơ tập thơ sẽ được ngâm vịnh hoặc phê bình. Các tác phẩm mới, bất cứ ở bộ phận nào, cũng sẽ được niêm yến, quảng cáo, kiểm điểm. Diễn đàn chung hôm nào cũng chờ đợi một vị trình bày về một vấn đề văn nghệ, trong bữa ăn. Thời trang sẽ do các nữ ca sĩ trưng giúp, các kiểu áo mới sẽ là y phục của các vai trò trong các tấn tuồng tại Quán...
Tham vọng của tôi, chắc hẳn quá nhiều...Nên tôi không khỏi bỡ ngỡ, khi D. cho tôi biết tên Quán là...Anh Vũ.
- Tại sao lại con vẹt? Anh Vũ là con vẹt. Vẹt chỉ nói theo người. Vẹt thiết sáng tạo. Mà đây là nơi của người sáng tác văn nghệ.
D. giải thích: Anh là chữ anh như anh tuấn, anh hùng. Vũ ở đây là múa, là ca vũ. Anh Vũ là nói tắt ‘’chiêu anh’’ và ‘’ca vũ’’.
Xổ nho như thế, có lẽ các Nhà Nho không chịu. Song D. đã cố binh vực ý riêng, thì tôi cũng xin tùy.
D. hoan hỉ hơn bao giờ, tối ngày 19 tháng 1 năm 1960, khi tổ chức dạ hội khánh thành quán văn nghệ. Quả D. đã đem hết mình trong nhiều tháng vào việc sửa sang bày biện để tạo một khung cảnh trang nhã và thanh tâm, với những gian phòng thân mật và phong quang.
Tôi đã ngỏ lời khen như vậy mà mừng D. phen này thỏa chí bình sinh.
D. ghé tai tôi:
- Được thế này cho anh em, thì D. này phải xá ai bao nhiêu cũng xá. Chúng ta đã có bàn đạp, chỉ từ nay đến sang năm, mình sẽ tiến nhiều bước nữa tới gần Thiên Thai...
Thiên Thai ở đây, là cõi đẹp mà mỗi nghệ sĩ tưởng tượng cho mình, nơi đạt sở nguyện: D. đã cho tôi biết từ năm 1951, khi D. cùng tôi trọ tại một công xá đường Champagne, Sài Gòn.
Thiên Thai...
Ở cõi đó hẹn ngày vui tái ngộ
Đem nỗi niềm gột rửa bến sông Ngân
Chỉ giữ lại cho tiêu kiều ca múa
Sợi mây tơ đã dệt với phong trần...
(Vườn Mây)
Ngày 7 tháng 2 năm 1961, sau ít ngày lâm bịnh, anh sớm vĩnh biệt bạn bè.
Và chỉ hai năm sau, không còn ai nhắc tới quán Anh Vũ và Sáng Dội Miền Nam.
ĐỌC THÀNH TÍCH CHÍN NĂM
Sau vụ oanh kích Dinh Độc Lập ngày 27 tháng 2 năm 1962, một số người chung quanh ông Diệm không khỏi hoang mang và tỏ ý lo ngại về tương lai chế độ.
Song một bà con của ông cho biết: Theo số Tử Vi, thì chưa đến nỗi nào đâu, ít ra ông ngồi được chín năm.
Cuối 1963, tôi chợt nhớ lại câu đó, và cũng thấy...hơn rờn rợn, nên muốn tìm hỏi ông thầy số nào đã tiên đoán như trên, nhưng ông đã qui tiên khá lâu rồi thì phải.
Dù sao, sự lạ lùng kia đã khiến tôi chú ý để nhặt lại cuốn sách trong đống tài liệu vô dụng được loại khỏi Dinh Gia Long sau ngày 4 tháng 11 năm 1963. Cuốn ấy có bìa màu vàng, dày 984 trang, nhan đề là Thành Tích Chín Năm.
Chín năm...trong thời gian đó, số mệnh đã đưa tôi lần nữa vào trung tâm của nhiều sự biến thiên, để buộc tôi nhìn và nghĩ. Nên khi giữ lấy sách kia, tôi có cảm tưởng là muốn vớt lại để ôn cố về những gì liên quan mật thiết đến một quãng đời tôi.
Trước 1962, nghĩa là trước khi ông Nhu chủ tọa hàng tuần Ủy Ban Trung Ương về Ấp Chiến Lược, một phương pháp rất tầm thường nhưng rất cần thiết đã rất ít khi được áp dụng, kiểm điểm công việc trong mỗi lãnh vực để theo dõi, thúc đẩy, rút kinh nghiệm mà sửa đổi.
Sự kiểm điểm đó chỉ thấy xảy ra một cách vô hiệu giữa một thiểu số dăm bảy người hiểu biết mà không có trách nhiệm trực tiếp, hay có trách nhiệm mà không đủ thẩm quyền, hoặc chẳng được nói hay được nghe. Dù sao, kết quả vẫn là những nhận xét với thiện ý vô tư, về những thực trạng có thể giúp ai muốn tìm hiểu khách quan, bên ngoài dụng tâm suy tôn hay đả phá. Và nếu tổng kết lại, sẽ thành một tập biên bản thảo luận hay phàn nàn thì đúng hơn, về chín năm hoạt động trên các địa hạt.
Một số thân hữu của tôi đã nghĩ rằng sự phê bình chế độ cũ hay còn quá sớm; phải để cho các thứ nhiệt tình lắng dịu. Tôi vẫn đồng ý, vì sự phán đoán chỉ có thể công bằng khi những quyền lợi chính đáng hay không chính đáng chẳng còn ngại bị liên can. Song cũng có một lý do để miễn đợi chờ, nếu đứng về phương diện cung cấp tài liệu. Vì hiện nay, sổ sách và bài báo viết về ông Diệm ông Nhu đã khá nhiều, nhất là những tác phẩm ngoại quốc, bằng tiếng Anh và tiếng Pháp, khen chê không thiếu, nhưng thiếu nhiều căn cứ vững chắc, mà khi tìm căn cứ, thì không ai chịu ngó tới những tài liệu chánh thức.
Điều này rất dễ hiểu, tuy các chánh quyền trước 1963 thường quên bẵng, đối với đa số bất cứ nước nào, tài liệu chánh thức đều có mục đích tuyên truyền phóng đại, lại chẳng ai có phương tiện phối kiểm, nên rất khó tin, những ngôn ngữ đẹp và thành quả tốt. Ấy là chưa kể những sự phủ nhận hoặc xuyên tạc của những người và nhóm đối lập. Nên một chánh quyền đóng vai tác giả, không tránh khỏi một hậu quả bạc bẽo, sách in ra không được chiếu cố, phát không cũng có độc giả. Đó chính là số phận của loại sách ‘’Thành Tích Bốn Năm’’ mà sự phổ biến không gây nổi một ảnh hưởng nào đền đáp công phu soạn thảo và phí tổn ấn loát.
Sự hoài nghi của công chúng không có gì đáng trách, khi người ta chỉ thấy toàn những sự tốt đẹp như ở trên quảng cáo thuốc bổ. Không chánh quyền nào chịu vạch áo cho xem lưng. Chỉ có những sự kiện gì thuận lợi mới đưa ra, một công lệ bất dịch. Ông Diệm trình bày cho Quốc Hội và Quốc Dân, cũng theo đường lối của các Bộ các Tỉnh các Nha tường trình lên ông: Khả quan lắm (người ta đã viết hay đọc là khá quan để tránh phạm tên cụ cố), xúc tiến mạnh mẽ, rất nhiều triển vọng, tin tưởng mãnh liệt v.v...Chính ông Diệm một hôm cũng cười khi nghe về tình hình một địa phương; ông bảo: Cứ như thế thì hẳn là sắp tới ‘’bến vinh quang.’’ Ông hay nhạo cái bến vinh quang của nhiều bản diễn từ.
Nhưng chẳng lẽ ‘’Thành Tích Chín Năm’’ không dùng được chi hết? Tôi nghĩ công dụng sẽ tùy người đọc.
Dĩ nhiên là nên bỏ qua, với nụ cười thì hơn, những lời lẽ tự phê bình, nghĩa là sự tán dương của mỗi cơ quan. Như khi thấy nói ‘’cố gắng không ngừng để làm tròn nhiệm vụ,’’ thì nên đọc là ‘’cũng đã cố thi hành phần nào nhiệm vụ,’’ còn ‘’không ngừng’’ và ‘’tròn’’ hay vuông thì lại là chuyện khác không bắt buộc ghi nhớ.
Nếu có tinh thần rộng rãi, độc giả cũng nên lượng thứ những lời sướng tai như sau: ‘’cung cấp những tiện nghi cho các nhà bác học và kỹ thuật gia thẳng tiến trên con đường khảo cứu,’’ ‘’những thành tích rực rỡ đã thâu lượm trong thời gian gần đây, chứng tỏ một cách hùng hồn vai trò tiền phong của họ trong công cuộc cách mạng đang tiến bước từ nông thôn đến thành thị và từ hạ tầng cơ sở lên thượng tầng kiến trúc trung ương,’’ ‘’đào tạo những lớp...có một căn bản đạo đức và tác phong tiến bộ theo kịp đà tiến của lớp...tiền tuyến trong cuộc vận động lịch sử hiện đại...’’
Cứ như thế, mà chưa đến bến vinh quang, thì cũng đáng ngạc nhiên.
Còn những tài liệu chứng minh, thì có phần nào khả thủ?
Các con số thống kê hay bị ngờ vực nhiều nhất. Người ta cho rằng chánh quyền theo thói có ít tăng nhiều, và hễ xấu thì giấu bớt.
Thực ra, ở một lãnh vực như nông thôn, thường xảy ra sự lầm lẩn vì thiếu điều kiện tra cứu kỹ lưỡng tận các xóm làng, nhất là ở trong thời bất ổn; nên có trường hợp phải ước đoán, như sản xuất hoa màu, gà vịt...Còn nhiều số khác của một cơ quan này, bị cơ quan khác kiểm lại, và nếu khai man thì mắc lỗi gian lận, có khi bị hình phạt: Như số thuế thâu được, số tiền cho tiểu thương vay, số giáo viên đã đào tạo, số quán cơm xã hội v.v...
Khi bắt thâu thập tờ trình của các cơ quan để tập hợp thành những bản thông điệp gửi Quốc Hội hay thành những cuốn sách, cấp trên cũng thường đòi hỏi bổ túc hơn là kiểm chính. Các con số mà chính tôi đã nhận được, bất cứ thuộc địa hạt nào, không bao giờ bị cố ý thay đổi; thảng hoặc có sự nghi ngờ, thì những tiếng gọi điện thoại từ Phủ Tổng Thống đã khiến nhiều bạn đồng sự tại các Bộ phải bực bội, vì cứ yêu cầu kiểm soát lại cho đúng hoặc đưa ra những số còn quên: Ông Diệm thích chi tiết tỉ mỉ.
Về phần việc, nếu chỉ tùy tôi, chắc chắn tôi đã đòi rút ngắn ít nhất một phần ba trong 942 trang. Vì không đáng kể, những công tác thông thường mà bất cứ chánh quyền nào ở thời nào cũng phải làm, như:
- ‘’Chuẩn bị cuộc bầu cử bán phần hội viên hội đồng quản trị Phòng Thương Mại. - tiếp tục xuất bản nội san, tổ chức huấn luyện bóng tròn và bơi lội, - phổ biến tin tức cho các Chi Thông Tin,- ấn định mẫu mực sườn xe đạp...’’
Cái gì, chứ sườn xe đạp thì chắc thiếu chất hào hứng, và không đủ sức khích thích cho quốc dân và hậu thế ghi ơn.
Có lần tôi bực quá, đã trót thốt ra: Cứ theo đà này, thì sẽ có nơi trình rằng nhân viên vẫn lãnh lương. Nhưng một bạn ở cơ quan yêu cầu thông cảm: Ông Tổng Thống muốn thật nhiều, mà nếu không cho kể hết, thì chẳng biết kể chi khác việc ‘’thường xuyên.’’
Tôi đâu dám trách? Biết bao lần, hễ có ông Thủ Tướng nào hay Bộ Trưởng nào phải chương trình, thì người ta lại mách các vị không biết bao nhiêu việc hàng ngày, thay vì phải và chỉ cần đưa ra vài điểm chính yếu với những sáng kiến đặc biệt nhằm cải tổ, canh tân hay phát triển.
Tuy nhiên, bên cạnh những công tác thông thường và không thể coi như thành tích, vẫn thấy thuật rõ những sự thực hiện có quy mô. Một ngày kia, khi muốn bình tĩnh truy cứu, chẳng lẽ lại phải kiếm sách báo ngoại quốc? Ít ra cũng cần có những bộ những pho nào ghi những hoạt động hoặc chứng tỏ chủ trương của một chánh quyền trong một giai đoạn. Xét việc đã làm, có thể thấy những việc đáng làm mà chưa làm, hay những cách làm không thích hợp. Về phương diện này. ‘’Thành Tích Chín Năm’’ cũng cho một ý niệm, gợi nhiều suy tưởng, hoặc đánh dấu cho khỏi quên, như một tập kỷ yếu, loại niên kỷ Year Book của các nước, hay loại Sách Xanh Livres Verts của các xứ trong Đông Dương cũ.
Chính khách Việt Nam không có tập tục của nhiều chính khách ngoại quốc, không viết hồi ký để làm sử liệu. Vậy thiết tưởng cũng không nên vứt bỏ ‘’Thành Tích Chín Năm’’. Giả thử bây giờ thấy một cuốn tương tự của Hồ Quý Ly hay Trịnh Tùng, chắc nhiều người muốn xem để biết gọi là về một thời qua, còn hơn là chỉ thấy những giai đoạn mịt mờ như những quãng đường sương khói.
Chánh quyền Cộng Hòa Nhân Vị, trước ngày Cách Mạng 1963, đã từng bị chỉ trích ngấm ngầm, ngay giữa những người không đối lập.
Rồi sau ngày Cách Mạng, những sự lầm lỗi sơ hở, quá đáng, thiếu sót, đã bị phơi bày khắp nơi trong một thời gian khá lâu.
Tuy vậy, lắm người chưa hả, còn tò mò thăm hỏi để biết nhiều hơn, với càng nhiều chi tiết càng hay, những sự những việc đã đưa chế độ lăn xuống vực thẳm.
Chỉ có một lần, ông X, một chính khách yếu nhân 1964-1965, đã hỏi riêng tôi:
- Dẫu thế, sao anh em ông Diệm đã đứng được chín năm? Mà sao mới hơn một năm nay đã ba chánh phủ?
Lúc đó, tôi chỉ cười, vì hai lẽ: Hoặc ông muốn dò ý tôi đối với người trước, hoặc ông phỏng đoán rằng các ông kia đã có những bí quyết nào để trường tồn, nên ông muốn rút kinh nghiệm?
Tôi nhớ đã trả lời:
- Vấn đề không phải là ngồi lâu, nhưng là được việc hay không.
Ông ta vội chữa:
- Đúng rồi. Đâu phải ngồi lâu? Nhưng ngồi lâu được, tất phải làm được chút gì cho người ta chịu đựng mình nếu chẳng yêu mình. Ai cầm quyền cũng có việc dở việc hay. Bây giờ, cái gì dở thì mình bỏ, cái gì hay thì mình giữ mình theo.
- Minh Thái Tổ, khi dấy nghiệp, cũng có ý như vậy đối với triều cũ. Song chưa chắc nhiều người chịu chọn lọc. Chọn lọc, thì có thể bị trách như ông Thủ Tướng đầu tiên, là ‘’làm cách mạng ôn hòa’’. Chỉ có thể ôn hòa khi nào không khí chánh trị qua mùa nóng hổi và cho phép nhận định với đầu óc nguội lạnh.
Ông bảo đừng ngại khi mình tin rằng đường lối của mình có lợi cho công cuộc chung, và muốn tôi kê khai hai loại việc nên và không nên làm nữa.
Lửa thiêng của tôi hồi đó không ngùn ngụt, nên tôi tìm lẽ thoái thác. Song ông đã muốn biết qua việc cũ, thì tôi trao lại ông ‘’Thành Tích Chín Năm,’’ dù tập đó chưa phản chiếu trung thực và hoàn bị các hoạt động chánh quyền từ 1954, nó cũng khiến ông có một ý niệm, rồi nếu cần biết rõ, tôi sẽ thưa chuyện nhiều hơn, nhất là về những sự gì chưa thấy viết ra.
Sau đó, trong nhiều dịp, ông đã hỏi về một số vấn đề. Và sau đây, tôi chỉ lược thuật những gì đã nói với ông, qua những giờ phút hội đàm cởi mở.
Hiến Pháp 1956, dù chân giá ra sao, cũng đánh dấu một bước tiến trên đường định chế từ khi có chánh quyền quốc gia, vì chấm dứt hẳn một giai đoạn lâm thời kéo dài từ 1948 với một chế độ Quốc Trưởng rất khó định nghĩa.
Trái với Sắc Lịnh số 5 của Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân, hay Dụ số 1 của Cựu Hoàng Bảo Đại, văn kiện căn bản của Việt Nam Cộng Hòa 1956 không phải là tác phẩm của vài người được cấp lãnh đạo tín nhiệm. Phần triết lý chánh trị là của ông Nhu và được ông Diệm chấp nhận dễ dàng. Song sự soạn thảo và cụ thể hóa thành cơ cấu quốc gia, là công việc của khá đông người, từ những người thâu thập tài liệu đến một Quốc Hội Lập Hiến. Như đã ghi trong các biên bản đăng Công Báo, lắm khi cũng có những cuộc bàn cãi sôi nổi hoặc va chạm ý kiến. một tỉ dụ: Đã có sự đấu khẩu giữa một Dân Biểu Bộ Trưởng và nữ Dân Biểu Trần Lệ Xuân tức bà Nhu, về tuổi tối thiểu để ứng cử Tổng Thống; ông Bộ cho rằng người tuổi 35 có thừa kinh nghiệm, bà Nhu lại không muốn những người còn non trẻ như ông. Ông Nhu lại không muốn những người còn trẻ như ông. Ông Nhu nghe nói có cuộc tranh luận gay go, cười mà rằng. Họ đều trẻ cả, thì cũng phải hăng mới vui.
Về phần triết lý, thì ngoài những nguyên tắc thông thường, tương tự như của nhiều Hiến Pháp khác, về nhân quyền và tự do dân chủ, đáng chú ý nhất là ý tưởng cộng đồng đồng tiến mà tôi coi như một chủ ý then chốt của ông Nhu, một người bị ám ảnh hoài bảo các hiện tượng chậm mở mang. Đồng tiến giữa các giai cấp nghèo và có của; giữa các sắc tộc đồng bằng và rừng núi; đồng tiến giữa các miền trong nước, phì nhiêu và hoang vu, thành thị và nông thôn; đồng tiến về mọi mặt kinh tế, chánh trị, văn hóa v.v...tóm lại, là nhằm đi tới quân bình để đạt công bằng xã hội.
Sở dĩ tôi chú ý về điểm này, là vì có thấy sự cố gắng để thực hiện phần nào. Trong khi các quyền tự do trong Hiến Pháp chưa được thi hành theo ý nguyện của đa số, thì ý tưởng đồng tiến được thể hiện bằng nhiều hoạt động. Chia đất của đại nghiệp chủ cho tá điền, khai khẩn Cao Nguyên và thí nghiệm hợp tác Kinh-Thượng; xây dựng Khu Trù Mật để đem phương tiện của đô hội về gần xã ấp; mở đường đào kinh để khai thông các vùng hẻo lánh; giúp cho miền Trung phát triển kịp các miền khác v.v...Còn thành công hay không, sẽ liệu xét sau.
Về mặt tổ chức, điểm trọng yếu nhất trong Hiến Pháp, là Hành Pháp rất mạnh. Hành Pháp không chịu quyền kiểm soát của Lập Pháp, và thuộc một Tổng Thống đứng trên cả Quốc Hội, vì có nhiệm vụ tối cao, không những là thi hành luật pháp do đại diện nhân viên biểu quyết, nhưng còn điều khiển chánh phủ và lãnh đạo quốc dân, và như vậy, có nhiều uy thế hơn cả Tổng Thống Hoa Kỳ.
Tới đây, ông X ngắt lời tôi vì muốn biết rõ hơn: Tôi có coi Tổng Thống Chế như vậy là thích ứng với nhu cầu của xứ sở không?
Tôi xin ông hãy nhớ lại hoàn cảnh 1954-1955, một hoàn cảnh bất ổn sau bao năm đạn lửa và rối loạn.
Khi đó, nhiều người cũng như tôi chỉ mong trước hết một chánh quyền đủ sức tái lập trật tự và ổn định tình thế, muốn vậy, phải được rộng quyền đối nội đối ngoại, và phải đứng vững khá lâu mới vãn hồi được sinh hoạt bình thường và trùng tu kiến thiết.
Hai điều kiện mạnh và bền đó, Tổng Thống Chế có đem lại không? Thời cuộc đã trả lời hộ tôi.
Chánh quyền đứng được chín năm. Những sự rối ren của thời trước bị chấm dứt hoặc không trở lại dưới những hình thái cũ, ít nhất là cho tới cuối 1960.
Tổng Thống Chế dành đủ quyền hành cho người lãnh đạo để thúc đẩy mạnh các hoạt động quốc gia, và giúp cho Hành Pháp tránh nhiều trở lực để theo đuổi những chương trình dài hạn.
Tuy nhiên, Tổng Thống Chế 1956 cũng mở lối cho cá nhân ông Tổng Thống dễ bành trướng, nên chẳng bao lâu biến thành một chế độ đặc biệt, trong đó có phần nhân trị nặng hơn phần pháp trị.
Tình trạng này vừa có lợi, vừa có hại.
Lợi về phương diện chỉ huy và điều hành, đối với một guồng máy chánh quyền lâu ngày trí tuệ và bị động với khá nhiều người chỉ chịu làm khi bị xô do một uy lực mạnh và nghiêm. Năng xuất công quyền tăng gấp nhiều lần, so với các thời trước 1954, và sự kiện đó thấy rõ rệt nhất ở các cấp điều khiển. Người ngoài cuộc có thể khó chịu khi nghe nói các cấp thừa hành thường sợ sệt, vì có cảm tưởng là cấp trên khắc nghiệt. Song những ai từng vào cuộc, tất dễ nhận rằng lắm khi phải dựa vào quyền rất lớn mới bảo làm được việc rất nhỏ. Có những đống rác và những ổ gà trên mặt đường, chỉ được hốt hay lấp đi, khi người hữu trách được biết để coi chừng, vì ‘’Cụ’’ thường qua lại. Hễ Cụ đòi, thì việc phải trình trong một tuần, được đệ gấy trong một hai hôm. Thực tế như vậy, và đối với thực tế đó, khó lòng cầu viện những lý tưởng cao siêu.
Nói một cách khác, khi uy quyền rất mạnh của cấp lãnh đạo được dùng đúng chỗ, thì việc nước có thể cải tiến mau lẹ, và như thế còn tiền lợi hơn là những cơ chế phức tạp vì cần đảm bảo pháp lý. Đó là sự mong mỏi của nhiều người thuộc các đoàn thể ủng hộ ông Diệm, cùng những chuyên viên và những nhà kinh doanh thiết thực không quan tâm mấy đến các hình thức dân chủ. Bởi đặt hy vọng vào ông, dù chẳng tôn sùng ông, những hạng người kể trên đã giúp đỡ ông.
Khốn thay, khi người lãnh đạo lầm lẫn, lại sẵn tính cố chấp vì quá tự tin, thì nhân trị chỉ còn trạng thái bất lợi, biến ra quyền tự do ngộ hoặc để gây những hậu quả tai hại cho thấn thế ông và công cuộc chung.
Toàn quyền hành động mà cựu Quốc Trưởng đã ủy cho ông, bị Hiến Pháp 1956 giảm bớt phần lập pháp cho hợp với thể chế dân chủ. Nhưng quyền Hành Pháp mà Hiến Pháp dành cho ông, còn đủ rộng đủ mạnh để ông sắp đặt và bao trùm trong thực tế, rồi đòi lại cả quyền ra luật. Không còn sức nào ngăn cản được ông.
Tổng Thống Chế đã cho phép những người cộng sự của ông thi hành nhiệm vụ dễ dàng, nên đã giúp ông thể hiện ý hướng và hoàn tất một số chương trình xây dựng.
Nhưng Tổng Thống Chế cũng ngỏ cửa cho con người ông vượt quá khuôn khổ pháp định, để theo một chủ quan khi tỏ khi mờ, rồi rớt vào một tình trạng không thể cứu vãn.
Tổng Thống Chế gần như một chiếc xe khỏe nhưng thiếu bộ thắng, nên chỉ biết chạy mau, vượt mọi chướng ngại hoặc lăn xuống dốc, tùy người cầm lái giữ đúng mức hay lao quá đà.
Bộ thắng đó, đáng lẽ phải là Quốc Hội hoặc là Chánh Phủ.
Song Chánh Phủ do Tổng Thống điều khiển, chỉ gồm những người được chọn trước hết vì lòng trung thành, vì thái độ hiền hòa, không có lập trường kiên định kiến riêng để phải bênh vực cương quyết.
Quốc Hội, thì hầu hết là người thuộc các đoàn thể do ông Diệm và anh em sáng lập, được bầu lên theo những lề lối hợp pháp bề ngoài, nhưng không được mấy ai tin là ngay thẳng. Đa số trong các giới yên trí rằng có những sự mưu tính để dành ghế cho những người được ông Tổng Thống, ông Nhu và ông Cẩn lựa trước. Thậm chí đã có người nói: ‘’bổ’’ Dân Biểu thì đúng hơn là bầu Dân Biểu.
Ông X muốn biết tôi nghĩ sao?
Nếu phải có bằng chứng để quyết đoán trong lãnh vực này, thì ông nên hỏi những ai đã tham gia trực tiếp vào công việc tổ chức bầu cử. Còn tôi cũng chỉ nghe nói như ông mà thôi, hoặc theo dõi qua những giấy tờ chánh thức.
Nhưng tôi đã thắc mắc về vài kết quả đầu phiếu, như về trường hợp ông Nhu bà Nhu: Đắc cử với trên chín chục phần trăm số phiếu, không khác gì Nasser, hay Lý Thừa Vãn...làm thế nào tránh khỏi sự ngờ vực của mọi người, kể những ai vẫn mong cho ông Diệm không bị tai tiếng?
Ông X bảo:
- Dùng áp lực bắt dồn phiếu đến mức đó, thì quả là cấp thừa hành vụng dại và làm hại chế độ khi tưởng là lập công.
Tôi nhớ trước kia một người vấn có nhiều thiện cảm với ông Diệm, cũng đã nói thẳng ra: Giả thử ông bà Nhu bị rớt vì kém phiếu, thì chánh quyền lại được tiếng tốt, vì sự thất cử chứng tỏ cuộc bầu cử rất công chính. Miễn sao đa số trong Quốc Hội vẫn là người của đoàn thể bạn...
Dẫu nhìn theo nhỡn quan của chính quyền, tôi tưởng cũng chẳng cần dàn cảnh, đối với ông Nhu, ở nhiều Tỉnh Trung Phần hoặc miền Đông Nam Phần. Tại đó, chắc nhiều người sẵn lòng bầu ông.
Mà ông cần gì tranh cử? Chẳng vào Quốc Hội, ông Cẩn vẫn ‘’chỉ đạo’’ như thường và Cố Vấn vạch đường cho Khối đa số tại Quốc Hội. Thực ra, mấy khi ông Nhu làm việc với tư cách Dân Biểu?
- Các Dân Biểu cũ đối với ông Diệm, có giúp được việc gì đáng kể không?
- Ở thời nào cũng không thiếu những người xông ra vì lợi và danh. Song cũng khá nhiều người cho biết: Phải ra, dù mang tiếng là người rơm bị giật dây, vì cần làm hậu thuẫn cho ông Diệm; ai cũng có quyền tham gia nhập một đoàn thể, chọn người lãnh đạo và tin theo người đó; tuy vậy, hễ quý trọng ông thì bị chê là nịnh bợ, ủng hộ cho ông dễ làm việc, thì bị coi là bù nhìn, chấp nhận một kỷ luật chung, một chính sách chung và tranh đấu cho chính sách ấy thể hiện, sao lại trách là nhằm tổ chức độc quyền đảng trị? Quốc Hội gì mà lúc nào cũng ‘’đi’’ với Hành Pháp? Nhưng thử hỏi lại: Có Hành Pháp nào chẳng mong được sự ủng hộ của Lập Pháp? Còn tìm mọi cách để nắm nữa là khác...Không chống đối, thì kêu là chỉ biết vâng dạ, nhưng nếu tin là phải đúng, thì sao lại chống đối? Nếu đôi khi có sự bất đồng ý ý, mà không lên tiếng gay go, là vì phải dành quyền quyết định tối hậu cho cấp lãnh đạo đoàn thể kiêm lãnh đạo chánh quyền...
Song muốn lý luận thế nào đi chăng nữa, công chúng vẫn hoài nghi hoặc chẳng hoan nghênh, vì cho là Quốc Hội thiếu tác phong dân chủ, không hề thấy bác bỏ đề nghị nào của Hành Pháp. Dẫu đôi khi có điểm thắc mắc do một vài Dân Biểu nêu ra, các dự án vẫn được chấp thuận sau một phiên giải thích của Bộ sở cơ quan hoặc cùng lắm là sau vài phút khuyến cáo của ông Nhu hay huấn từ của ông Diệm.
Thực ra, cũng đã xảy ra những vụ chống đối với những lời chỉ trích gắt gao, nhất là của những Dân Biểu thuộc nhóm thiểu số. Như đã có lần, một vị lên án dự luật gia đình mà ai cũng biết là do bà Nhu chủ xướng, đến nỗi bà tức giận phải rời bỏ phòng họp (ngày 21 tháng 12 năm 1957). Lần khác, cả nhiều vị thuộc Phong Trào hay Cần Lao, cũng tỏ lòng công phẫm vì bà đã công xúc Quốc Hội bằng hai tiếng ‘’thật hèn’’ khi chê bai những vị đã công kích dự luật ‘’chỉ vì muốn lấy vợ lẽ’’ Nên ngày 22 tháng 1 năm 1958, bà phải cho ra một thông báo, minh xác là đã nói ‘’thất hẹn’’ chớ không phải là ‘’thật hèn’’ Lỗi của giọng nói không rõ, hoặc của những màng tai không thính? Dù sao, Quốc Hội đã rộng lòng thông cảm và chấp nhận sự phân trần về dấu sắc, dấu nặng và dấu huyền. Nhưng cũng chưa xong chuyện. Ngày 21 tháng 5 năm 1958, một Dân Biểu lại đả kích dự luật, vì tổ chức gia đình theo văn bản này, là trái luận tạo hóa, gây xung đột và xáo trộn xã hội, và chống Cộng như thế là ‘’chỉ chống Cộng có một chân’’ v.v...
Sự liên lạc Lập Pháp-Hành Pháp như vậy cũng khá vui nhộn, dù sao không nêu lên vấn đề gì nan giải.
Song Hành Pháp vẫn thấy chưa đủ sự dễ dàng để hoạt động. Ngày 15 tháng 10 năm 1961, ông Tổng Thống ra sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp trên toàn quốc, và yêu cầu Quốc Hội để cho ông ban hành sắc luật thay các đạo luật, về các biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia, và điều động nhân lực cần thiết.
Quốc Hội biểu quyết chấp thuận ngay bốn hôm sau, bằng Đạo Luật 13/61 ngày 19 tháng 10 năm 1961. Sự ủy quyền này được coi như cần thiết, vì tình thế có suy sụp trên các lãnh vực quân sự, tài chánh và quốc tế.
Ông Tổng Thống đã dựa vào văn kiện trên mà ra những sắc luật về các ngân sách quốc phòng và kinh tế, các vụ cải hối xuất cùng thuế xuất, trưng tập y sĩ, lập các tòa án mặt trận, kiểm soát hội họp v.v...
Nhưng tại sao áp dụng thủ tục đặc biệt cho cả những việc chẳng có chi là cấp bách bất thường, không để lại cho Quốc Hội xét định, như thể lệ hành nghề y sĩ (Sắc Luật 6/62) thuế đánh trên giá thuê nhà quá đáng (Sắc Luật 13/62) sự tân tạo tu bổ nhà cửa bất hợp pháp (Sắc Luật 16/62) thuế tem thơ và con niêm (Sắc Luận 20/62) chế độ đầu tư (Sắc Luật 2/63) sát sinh gia súc (Sắc Luật 7/63) vệ sinh trong các thành phố (Sắc Luật 11/63) v.v...Như vậy, Quốc Hội có cũng như không?
Các cơ quan hành pháp đã thừa dịp đệ lên Tổng Thống những việc đáng lẽ cứ phải chuyển cho Quốc Hội thảo luận. Ông Diệm vẫn ký, không phân biệt chi hết, và nếu có bắt ông phân biệt, thì cũng tội cho ông, vì ông không phải là nhà luật học.
Lề lối đó cho cảm tưởng là trong thực tế, và đối với Hành Pháp, càng tránh được Lập Pháp chừng nào càng hay. Người ta thường lo rằng Quốc Hội bàn cãi tốn thời giờ và làm chậm trễ công việc.
Phải chăng ai nấy đều mặc nhiên coi Quốc Hội Cộng Hòa I là không cần thiết, là một chướng ngại, cùng lắm là một hình thức trang trí để chế độ có vẻ dân chủ mà thôi? Tôi không mong gì hơn là được cải chính với những bằng chứng cụ thể.
Nhiều vị Dân Biểu đã tin rằng nhiệm vụ của mình là hãy có mặt để thể hiện chế độ và ủng hộ cho Tổng Thống làm tròn sứ mạng: Về phương diện này, không thể nói là Quốc Hội không được việc.
Song nếu chỉ có thế, vai trò của Quốc Hội gần như tiêu cực và khiêm tốn quá?
Sau khi Hiến Pháp được ban hành (ngày 26 tháng 10 năm 1956) Quốc Hội Lập Hiến bầu ngày 4 tháng 3 năm 1956 đương nhiên biến thành Quốc Hội pháp nhiệm đầu tiên. Quốc Hội II được bầu ngày 30 tháng 8 năm 1959, gồm 123 Dân Biểu với nhiệm kỳ ba năm; nhiệm kỳ này tăng lên bốn năm theo Hiến Luật 1/62. Quốc Hội III, được cử ngày 27 tháng 9 năm 1963, tức là hơn một tháng trước ngày chế độ bị cáo chung.
Công việc lập pháp bắt đầu từ 1957, và trong gần bảy năm, Quốc Hội đã biểu quyết về 80 đạo luật. Số này đáng lẽ có thể nhiều hơn, song từ năm 1959 và nhất là từ năm 1961, có 52 vấn đề khẩn bách hay không khẩn bách, phải dành cho các sắc luật do Hành Pháp soạn thảo và ban hành, chiểu sự ủy quyền đặc biệt cho Tổng Thống.
Số tác phẩm không nhiều, song cũng tỏ rằng các Dân Biểu có làm việc. Sự cố gắng được thấy rõ nhất ở những năm chưa phải nhường quyền lập pháp cho ông Diệm: Quốc Hội đã cho ra 18 đạo luật năm 1957, và 19 đạo năm 1958.
Thiện chí của pháp nhiệm đầu, tiếc thay, lại không được hướng dẫn và một chương trình lập pháp hợp lý hơn, để nhiều vấn đề quan trọng được giải quyết trước những việc thông thường hay tỉ mỉ.
Như các cơ cấu quốc gia, Viện Bảo Hiến, Hội Đồng Kinh Tế v.v...thì mãi tới năm 1960 và 1961 mới được thiết lập. Song ngay từ đầu nhiệm kỳ và ngoài bảy đạo luật về thuế, Quốc Hội đã tốn nhiều ngày về việc lấy nhãn cầu người chết để chữa mắt (Luật 11/57) tái đang ký tàu thuyền (Luật 12/57) pha huyết chế huyết (Luật 18/57) cấm đánh cá bằng chất nổ chất độc (Luật 14/58) v.v...
Về những năm sau, xem chừng các công tác đã bớt dần tính cách linh tinh rời rạc, để chuyển theo từng khu vực, như về hình sự 1959 (chống tham nhũng, chống phá hoại, chống mạo hóa v.v...) về kinh tế tài chánh 1960 (quan thuế biểu, thuế gián thâu và trực thâu, mua bán tàu biển, mua bán bất động sản của ngoại kiều...)
Cách hoạt động như trên, có thể giải thích bằng sự thiếu sáng kiến? Phần nhiều dự luật không do Dân Biểu đề nghị, mà tùy Hành Pháp khởi thảo theo nhu cầu, rồi chuyển qua Quốc Hội thẩm định. Điểm đó lộ rõ nhất, khi ông Tổng Thống cần xúc tiến sự thiết lập những cơ quan đã dự trù từ 1956 để tỏ rằng ông muốn thực thi dân chủ, sau vụ biến cố tháng 11 năm 1960. Quốc Hội biểu quyết một loạt ba Đạo Luật 7/60, 5/61 và 6/61.
Trong thành tích của Quốc Hội, một phần đã tiêu tan cùng chế độ; đó là những đạo luật ban hành để sửa đổi Hiến Pháp và tổ chức công quyền: Như các luật bầu cử Tổng Thống, Phó Tổng Thống và chính Quốc Hội, luật về Thượng Hội Đồng Thẩm Phán v.v...
Một số luật khác, khét tiếng là thất sách, phải biểu quyết dưới áp lực cá nhân, gồm những điều khoản cưỡng chế bất chấp công luận, đã bị xóa bỏ ngay từ cuối năm 1963 hay giữa năm 1964; Luật Gia Đình 1/59, Luật Bảo Vệ Luân Lý 12/62.
Chỉ còn sống sót, những đạo luật không nhuộm màu chánh trị, thuộc các lãnh vực chuyên môn, hành chánh, xã hội: Như bằng sách chế (Luật 12/57) nhãn hiệu thương hiệu (Luật 6/59) hệ thống cân lường (Luật 15/58) xổ số và lạc quyên (Luật 6/59) nhập cảnh và xuất ngoại (Luật 13/58) tòa án thiếu nhi (Luật 11/58) Quốc gia tương trợ cựu chiến binh và cô nhi quả phụ (Luật 3/62)...
Di sản đó không được là bao, song Dân Biểu cũ chưa giống hẳn dã tràng xe cát. Và khi nhiều luật lệ của chánh quyền thuộc địa Pháp vẫn còn được tôn trọng, thì sự duy trì những đạo luật của Quốc Hội Cộng Hòa I, ngay đối với những ai không quan tâm đến sự liên tục quốc gia, chắc cũng không gây mặc cảm nào.
Song đáng chú ý hơn cả, không phải là số phận của Quốc Hội này, vì mất còn là sự thường trong lịch sử; nếu xét theo ý niệm tương đối và nhất thời của các giá trị chính trường, có lẽ chỉ nên ghi nhận rằng: Quốc Hội 1956-1963 đã chịu trách nhiệm hay được vinh dự thí nghiệm lần đầu một công quyền tạm coi như dân cử, với những thể thức thành lập và thủ tục điều hành chưa từng thấy áp dụng bao giờ, kể từ 1948. Những bước tập đi, sao khỏi chập chững? Nên sự cải tiến hoặc thành công, phải đợi chờ ở những Quốc Hội sau?
LANG THANG TRÊN CÁC ĐỊA HẠT
Bởi thấy chế độ Cộng Hòa I có tính cách nhân trị hơn là pháp trị, tôi đã cố theo dõi ảnh hưởng của ông Diệm trên các lãnh vực, hơn là thành quả của chánh quyền 1954-1963.
Vả lại, đối với riêng tôi, ông là một con người mà tôi muốn tìm hiểu, hơn là một Quốc Trưởng với một công cuộc chưa thể phê bình dứt khoát. Nên tôi đã chú ý nhiều đến tác động cá nhân của ông trong khi xem công việc của từng cơ quan.
Khi nói rằng Hành Pháp mạnh, nhiều người chỉ mặc nhiên so sánh với Lập Pháp, và thường nghĩ tới một Tổng Thống không thuộc quyền kiểm soát chế ngự của Quốc Hội, hoặc có uy lực chi phối được đa số Dân Biểu...
Song một Hành Pháp mạnh còn phải đủ sức điều động dễ dàng guồng máy quốc gia, khiến lịnh cấp trên được cấp dưới tuân hành mau lẹ.
Về phương diện này, ông Diệm đã sớm đạt ý muốn, bằng cách dồn quyền lên cấp tối cao.
Các Đại Biểu Chánh Phủ, tuy đã mất bề thế và phương tiện của các Thủ Hiến thời trước, lại bị giảm quyền lần nữa, và từ năm 1956, chỉ giữ nhiệm vụ phối hợp và thanh tra. Đô Trưởng, Thị Trưởng, Tỉnh Trưởng, rồi Quận Trưởng đều do Tổng Thống bổ nhiệm hoặc cho bổ nhiệm, và nhận chỉ thị trực tiếp của ông bằng công văn, điện thoại hay khẩu lịnh nhân dịp diện kiến. Cứ như vậy, khi Bộ Nội Vụ được giao cả cho Bộ Trưởng tại Phủ Tổng Thống, hoặc do một Bộ Trưởng chuyên trách.
Tại Trung Ương, quyền của các Bộ cũng bị rút theo một lối rất giản dị, là đặt trực thuộc Phủ, nhiều cơ quan đáng lẽ phải nằm trong các Bộ: Bảo An, Dân Vệ, Dinh Điền, Nông Tín, Công Dân Vụ, Xổ Số, Truyền Thanh, Du Lịch, Địa Dư, Thanh Niên, Thông Tin v.v...Tuy một số được trả về các Bộ năm 1961, số còn lại vẫn nhiều: Xã Hội, Công Tác Xã Hội Miền Thượng, Nguyên Tử Lực Cuộc, Viện Pasteur, Học Viện Hành Chánh, Kiến Thiết, Công Vụ, Ngân Sách Ngoại Viện, Kế Hoạch.
Thực ra, chỉ cần nắm vững ba Tổng Nha sau chót, ba bộ phận then chốt chuyên nhiệm về người làm, tiền tiêu và các dự án...là có thể điều hợp và hướng dẫn cả guồng máy. Song ông Tổng Thống không chịu một giới hạn nào hết; nên mỗi khi ông tỏ ra hiểu biết một vấn đề quan trọng, hoặc có vẻ chú ý đặc biệt đến một loại công tác, là tôi chờ đón một lịnh đem cơ quan liên hệ về Phủ.
Chính sách này đã bị một bạn tôi kêu là ‘’chính sách bạch tuộc’’ nắm cả mười tay, nhưng lạ thay, lại được nhiều cao cấp hoan nghênh. Có mấy ông lên phàn nàn về những nỗi khó khăn đã gặp ở phía cơ quan khác. Tôi nghĩ bụng: Không khéo lại viện cớ xin trực thuộc đây...Rồi quả nhiên, ông máy riêng tôi với một nụ cười hữu ý: Có thể kéo quách vể không?
- Về đây, thì sẽ bị hành luôn luôn, nghe quát tháo chớ sung sướng gì? Gần mặt trời mà không lo sạm mặt sao?
- Cụ rầy la còn hơn là ông khác hạch xuông. Cụ la hộ thì việc chạy. Dựa vào Cụ mà bảo, thì hẳn được nghe theo. Nhờ ông Bộ tranh đấu, lắm khi chẳng ăn thua gì, việc vẫn bị Bộ khác ốp.
Kể thì cũng đúng: Hễ trình việc, mà được Cụ ừ rồi, thì dẫu phải liên lạc với cơ quan khác, vẫn được thông cảm dễ dàng. Còn ai nỡ từ chối chiếu hội hay thỏa hiệp khi thấy chữ Y đỏ trên hồ sơ, thế là khỏi điều đình thảo luận lôi thôi. Kết quả đó cũng đạt mau lẹ, nếu quả quyết rằng ‘’thượng cấp’’ tuy quên phê, đã gật hoặc quở rằng sao việc kéo dài?
Có ông còn cho biết: Ở Bộ, thì dễ bị thay đổi cùng Bộ Trưởng; về Phủ, nếu được Cụ ưng thì có thể lâu bền và khá hơn. Điều này cũng không sai. Ông Diệm có lối xem xét để thử thách trước khi trọng dụng, như lấy về làm sĩ quan tùy viên rồi cho đi Tỉnh Trưởng; đã có người được lên Bộ Trưởng hay Đô Trưởng sau một thời gian phục vụ bên ông. Nên tháng 5 năm 1961, khi nghe nói một số Nha Sở sắp bị trả về các Bộ, một vị lên Phủ vận động, và xin cả Cố Nhu can thiệp để duy trì tình trạng trực thuộc.
Những lý do tụ quyền đó, hẳn là vượt cả sức suy luận cũa những nhà luật học uyên thâm, và chỉ có thể tìm thấy bởi những cáo già công sở, nhưng rất dễ hiểu trong hoàn cảnh chính giới thiết thực trước năm 1963. Dù sao, tinh thần ‘’hướng thượng’’ của nhiều công chức, cũng khéo hòa hợp với chánh sách của cấp lãnh đạo. Ông Diện muốn đưa nhiều cơ quan về Phủ để các hoạt động theo sát đường lối ông; người chuyên trách cũng muốn nhờ thế ông cho gọn việc mình.
Sự can thiệp của ông nhiều ít tùy ý niêm chủ quan về khả năng ông. Ông làm lấy, hay xen vào, khi cho là hiểu biết hơn người, như về nông thôn và hành chánh; ông để cho làm, nếu lượng sức mình không đủ, như đối với việc kỹ thuật. Xét chung, thì dĩ nhiên dấu vết của ông rõ rệt nhất ở các địa hạt bị coi là trực thuộc.
Vấn đề công vụ đối với ông phải là quyền lợi của công chức hoặc là tổ chức công sở với những quy chế, ngạch trật, đảm bảo nghề nghiệp...nhưng trước hết hoặc chỉ là vấn đề chánh trị, tác phong và bổn phận.
Ông không quan tâm đến sự cải thiện đời sống của người giúp việc, dù xa hay gần ông: Ông cho là giới nhân viên chánh quyền được ưu đãi rồi. Chỉ số lương căn bản trong chín năm, không được xét lại lần nào. Hàng chục hồ sơ xếp ngạch hay thăng trật, bị ông bỏ mặc vài năm chưa xét. Có lẽ ông không ý thức nổi nhu cầu sinh hoạt của các gia đình, nhưng chắc chắn là ông chỉ nghĩ đến sự thi hành trách vụ của mọi cấp, nhất là đến sự trung thành đối với riêng ông.
Điều này được những người tinh khôn nhận rõ. Một vị cho biết: Trình ông phiếu điểm nhân dịp tư thăng, thì ông không nói gì khi thấy phê là ‘’trung thành với chánh nghĩa quốc gia’’ nhưng ông ôn tồn hỏi về năng lực, về tánh hạnh, ngay cả về gia thế nếu đương sự ‘’tuyệt đối tin tưởng vào Ngô Tổng Thống và sự lãnh đạo anh minh của Người.’’ Chuyện này được loan truyền rỉ tai mau lẹ, và sau đó, trên các hồ sơ cá nhân, công thức thứ nhất sớm nhường chỗ cho công thức thứ hai được coi là hữu hiệu hơn nhiều.
Ông đã tin dùng một số người không trung thành cho lắm, hoặc được ngộ tưởng là có biệt tài. Ông cũng không tránh khỏi thói thường của nhiều nhà cầm quyền thuở trước. Ưa ca tụng nên dễ bị hiểu lầm. Tuy nhiên, cũng có một thời gian ngắn đã tỏ ra đắc lực: Ông trọng dụng, cho giữ chức vụ cao tuy còn ít tuổi và chưa đủ thâm niên.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét