- Thưa thượng tướng, tôi
hiệu rằng tôi có lỗi rất lớn. Nhưng tôi mong ngài thượng tướng hãy nghe đại tá
Sơ-tiếc-lít báo cáo ông ta hoàn toàn biết rõ chiến dịch của chúng ta và có thể
xác nhận rằng tất cả đã được chuẩn bị công phu và kỹ lưỡng đến mức cao nhất.
- Sơ-tiếc-lít thì có dính
dáng gì tới chiến dịch? - Can-ten-bơ-ru-ne nhún vai. - Ông ta làm bên cơ quan
tình báo, tại Cờ ra-cốp ông ta lo những vấn đề khác kia mà.
Tôi biết rằng, tại Cờ-ra-cốp
ông ta nghiên cứu vấn đề qủa tên lửa “Fau-2” bị biến mất, nhưng tôi thấy mình
có trách nhiệm báo cho ông ta biết mọi chi tiết về chiến dịch của chúng ta, bởi
vì tôi nghĩ rất đúng rằng, khi trở về Béc Lanh, ông ta sẽ báo cáo với Thống chế
SS Him-le hoặc với ngài về cách tổ chức chiến dịch của chúng tôi. Tôi chờ đợi
thêm các chỉ thị của ngài, nhưng như vậy là tôi không thấy có thêm chỉ thị gì.
- Sơ tiếc lít có nằm
trong số nhân vật được phép biết nội dung chiến dịch ấy không?
- Thưa, tôi không được
rõ.
Can-ten-bơ-ru-ne gọi viên
thư ký vào và bảo:
- Anh hãy tìm hiểu xem
Sơ-tiếc-lít ở Vụ VI có nằm trong số những người được phép tiến hành chiến dịch
“Sơ-vác-phai-e” hay không.
Khi viên thư ký bước ra,
Cơ-ruy-ghe hiểu rằng mình đã đưa Sơ-tiếc-lít ra hứng đòn quá sớm, bèn rút lui:
- Tôi xin chịu toàn bộ lỗi
lầm, - y nói tiếp, đầu cúi gầm, cố nặn ra những câu nói thiểu não - Tôi sẽ rất
đau lòng, nếu ngài trừng phạt Sơ-tiếc-lít. Tôi vô cùng kính trọng ông ta vì đó
là một chiến hữu trung thành. Tôi không có gì bào chữa, và tôi chỉ có thể chuộc
lỗi của mình bằng cách đồ máu ngoài chiến trường.
- Thế ai sẽ chiến đấu với
kẻ thù ở đây? Tôi à? Một mình tôi chắc?! Hy sinh cho Tổ quốc và vì Quốc trưởng ở
ngoài mặt trận thì đơn giản quá! Sống ở đây dưới những trận oanh tạc, tiễu trừ
sạch sành sanh mọi trò xấu xa, tội lỗi mới là chuyện khó! Ở đây vừa cần lòng
dũng cảm vừa cần trí thông minh! Phải hết sức thông minh, ông Cờ-ruy-ghe ạ!
Cờ-ruy-ghe hiểu rằng y sẽ
không bị đầy ra mặt trận, một hình phạt đáng sợ nhất. Đáng sợ không phải chỉ vì
những viên đạn Nga, - vì đương nhiên là ngoài đó y sẽ năm cương vị chỉ huy, -
mà chẳng qua chỉ là vì y hiểu rằng đám sĩ quan quân đội từ lâu vẫn nuôi một mối
căm hờn ghê gớm đối với những kẻ vốn là người của tổ chức tình báo SĐ. Họ chỉ cố
tìm cách đầy những cộng sự SĐ kia ra tòa án của Đảng quốc xã hay tòa án binh -
mà đã đến nước ấy thì đừng có hy vọng vào sự thương xót quy luật của mặt trận
là quy luật chết người...
Viên thư ký mở cửa không
một tiếng động, đặt lên bàn Can-ten-bơ-ru-ne mấy chiếc cặp giấy mỏng
Can-ten-bơ-ru-ne giở nhanh các cặp đó, hừ một tiếng ngạc nhiên và nói:
- Cảm ơn. Anh tìm hiểu
xem Sơ-tiểc-lít có được tiếp chuyện ở Bộ chỉ huy hay không, sau khi từ Cờ-ra-cốp
trở về và nếu có, thì ở nhà ai. Anh cũng điều tra xem ông ta đã đề cập tới vằn
đề gì trong lúc nói chuyện.
- Thưa ngài, để dự phòng,
tôi đã điều tra rồi ạ, - viên thư ký đáp - Sơ-tiềc-lít không được ai tiếp chuyện.
Vừa trở về ông ta lập tức chuyển sang điều tra, phát hiện một đài phát chiến lược
đang hoạt động cho Mát-xcơ-va…
Cơ-ruy-ghe nhớ lại, có lần
ở Cơ-ra-cốp y đã nghe viên đại tá tình báo Áp-ve Béc-gơ nói chuyện với tướng
Nôi-bút, khi đại tá này xin ra mặt trận. Cờ-ruy-ghe quyết định lặp lại cạnh đó;
y đột nhiên thoáng nghĩ rằng, Can-ten-bơ-rư-ne là kẻ hết sức đa cảm, giống như
mọi kẻ tàn ác khác.
- Thưa thượng tướng, dù
sao tôi cũng xin ngài cho phép tôi được ra mặt trận.
- Ông ngồi xuống đây, -
Can-ten-bơ-rư-ne nói, - và đừng có ngốc nghếch như Gơ-rét-khen. Hôm nay ông có
thể nghỉ, còn ngày mai thì ông hãy viết cho tôi một bản báo cáo ti mỉ, chi tiết
về toàn bộ chiến địch. Chúng tôi sẽ nghĩ xem nên phái ông tới đâu. Ngườí thì
ít, mà việc thì nhiều rất nhiều, ông Cờ-ruy-ghe ạ.
Khi Cơ-ruy-ghe đã đi khỏi,
Can-ten-bơ-ru-ne gọi viên thư ký vào và báo:
- Anh hãy thu thập cho
tôi toàn bộ hồ sơ về Sơ-tiếc-lít trong vòng một, hai năm vừa rồi. Nhưng phải tiến
hành thế nào để Sê-len-béc không hay biết việc đó. Đừng gây không khí hoàng sợ;
Sơ-tiếc-lít là một điệp viên quý giá, một con người dũng cảm, không nên nghi ngờ
anh ta. Đây chằng qua chỉ là việc kiểm tra lẫn nhau trên tình bằng hữu thôi… Và
anh hãy chuẩn bị mệnh lệnh cho Cờ-ruy-ghe. Chúng ta sẽ cử ông ấy làm phó giám đốc
sở ghét-xta-pô ở Pra-ha, nơi ấy đang là một điểm nóng…
- Ngài nghĩ như thể nào,
hở ngài giám mục, trong con người thì cái gì nhiều hơn, nhân tính hay thú tính?
- Tôi nghĩ rằng, ở trong
con người, hai cái đó ngang nhau.
- Không thể như vậy được.
- Chỉ có thể như vậy
thôi.
- Không đúng.
- Nếu trái lại thì cái nọ
đã thắng cái kia từ lâu rồi.
- Ngài trách chúng tôi hướng
tới cái hạ tầng và coi tinh thần là cái có sau. Tinh thần quả là cái có sau.
Tinh thần nảy sinh như cây nằm trên lớp men căn bản.
- Và thứ men ấy?
- Là tính hiếu danh. Đó
là cái mà ngài gọi là sự dâm dục, còn tôi, tôi gọi là ý nguyện lành mạnh, là sự
mong mỏi được ngủ với một người phụ nữ và yêu quý cô ta. Đó là cái khát vọng muốn
đứng hàng thứ nhất trong công việc của mình. Thiếu nó, toàn bộ sự phát triển của
loài người đã ngừng từ lâu. Thiên chúa giáo đã tốn không ít công sức để kìm hãm
sự phát triển của loài người. Ngài hiểu tôi đang nói đến thời kỳ nào của đạo
Thiên chúa chứ?
- Vâng, vâng, dĩ nhiên
tôi biết thời kỳ đó. Tôi biết rõ thời kỳ đó, nhưng tôi còn biết một điều khác nữa.
Tôi không còn thấy sự khác nhau giữa thái độ của ông đối với con người và cái
thái độ đối với con người mà Quốc trưởng đang tuyên truyền.
- Đúng thế ư?
- Đúng thế. Quốc trưởng
nhìn thấy trong con người một tên đại bịp hám danh, khoẻ mạnh, cường tráng và
muốn giành cho mình không gian để sinh sống.
- Ngài không thể tưởng tượng
là ngài sai lầm đến mức nào đâu, bởi vì Quốc trưởng nhìn thấy trong mỗi người Đức
không phải một tên đại bịp thông thường, mà là một tên đại bịp tóc vàng.
- Còn ông thì thấy trong
mỗi con người một tên đại bịp nói chung.
- Còn tôi nhìn thấy trong
mỗi con người cái mà từ đó nó đã nảy sinh ra. Con người sinh ra từ con khỉ. Mà
con khỉ là thú vật.
- Đến đây thì tôi và ông
bất đồng với nhau. Ông tin rằng con người phát sinh từ con khỉ. Ông chưa nhìn
thấy cái con khỉ đã sinh ra con người, và con khỉ ấy chẳng thì thầm câu nào vào
tai ông về đề tài ấy. Ông chưa sờ nắn được cái đó, và ông không thể sờ nắn được
cái đó. Ông tin như thế, vì niềm tin ấy phù hợp với tổ chức tinh thần của các
ông.
- Thế thượng đế nói thầm
vào tai ngài rằng ông ta sáng tạo ra con người à?
- Tất nhiên, không ai nói
gì với tôi, và tôi không thể chứng minh sự tồn tại của thượng đế, điều đó không
chứng minh được, chỉ có thể tin vào nó mà thôi. Ông tin vào con khỉ, còn tôi
tin vào thượng đế. Ông tin vào con khỉ, bởi vì điều đó phù hợp với tổ chức tinh
thần của ông, tôi tin vào thượng đế, bỏi vì điều đó phù hợp với tổ chức tinh thần
của tôi.
- Ở đây ngài đã lẫn lộn một
chút rồi. Tôi tin vào con người, chứ không phải tin vào con khỉ.
- Tin vào cái con người
phát sinh từ con khỉ chứ gì? Ông tin vào con khỉ ở trong con người còn tôi tin
vào thượng để ở trong con người.
- Trong mỗi con người đều
có thượng để hay sao?
- Tất nhiên.
- Thượng đế nằm ở chỗ nào
trong con người Quốc trưởng. Trong con người Gơ-rinh? Trong con người Him-le?
- Ông nêu ra một câu hỏi
hóc búa. Chúng ta đang nói đến bản chất của con người kia mà. Dĩ nhiên, trong mỗi
con người của mấy tên khốn kiếp ấy có thể tìm thấy dấu vết của thiên thần đã bị
hủ bại. Nhưng tiếc thay, toàn bộ bản chất của chúng lệ thuộc vào cái quy luật
dã man tất yếu, dối trả, hèn hạ, bạo lực đến mức, trên thực tế, ở đó không còn
chút tính người nào nữa. Nhưng về nguyên tắc, tôi không tin rằng một con người
sinh ra nhất thiết phải mang trong mình tính chất đáng nguyền rủa của nguồn gốc
loài khỉ.
- Tại sao ngài gọi là
tính chất đáng nguyền rủa của nguồn gốc loài khỉ.
- Tôi nói theo ngôn ngữ của
tôi.
- Nghĩa là nên chấp nhận
qui luật của thượng đế về việc thủ tiêu loài khỉ?
- Hoàn toàn không phải
như vậy.
- Ngài luôn luôn tránh né
rất hợp với tinh thần đạo đức trước những câu hỏi đang giày vò tôi. Ngài không
chiu trả lời “có“ hay “không“, trong khi mỗi người đi tìm niềm tin đểu thích cụ
thể, thích nghe một tiếng “có“ hoặc “không“. Thế mà ngài lại cứ trả lời theo
cái kiều nước đôi, không dứt khoát. Chính điều đó khiến tôi chán ghét cá phương
pháp của ngài lẫn hoạt động thực hành của ngài.
- Ông căm ghét hoạt động
thực hành của tôi. Điều đó đã rõ... Tuy nhiên, trên thực tế ông đã từ trại tập
trung chạy trốn thẳng đến chỗ tôi. Giải thích điều đó kể cũng thú vị đấy nhỉ?
- Điều đó một lần nữa chứng
tỏ rằng trong mỗi con người, như ngài nói, đều tồn tại một thượng để và một con
khỉ. Nếu thư thượng để chỉ có mặt trong tôi, chắc hẳn tôi đã chẳng chạy đến với
ngài, sẽ chẳng bỏ trốn, mà có lẽ ở lại đế nhận cái chết từ tay bọn đao phủ SS,
có lẽ tôi đã chìa má bên kia ra cho chúng, để thức tỉnh tính người trong lòng
chúng. Giá thử ngài sa vào tay chúng, không biết ngài sẽ chìa má bên kia ra,
hay sẽ cố tránh đòn, thưa ngài giám mục?
- Thế nào là chìa má bên
kia? Ông lại gán cái câu chuyện ngụ ngôn tượng trưng vào bộ máy thực tế của nhà
nước quốc xã rồi. Chìa má ra trong ngụ ngôn là một chuyện. Như tôi đã nói với
ông, đó là chuyện ngụ ngôn về lương tâm con người. Còn việc sa vào cái bộ máy
không thèm hỏi anh xem anh có định chìa má bên kia ra hay không, lại là chuyện
khác. Rơi vào cái bộ máy mà về nguyên tắc và tư tưởng của nó đã mất hết lương
tri thì... Tất nhiên, không đáng đối xử với cái máy hoặc với một hòn đá chắn đường
hoặc với một bức tường mà ta vấp phải, như đổi xử với một sinh vật khác.
- Thưa ngài giám mục, kể
ra hơi bất tiện, có lẽ tôi động chạm đến bí mật của ngài, nhưng phu nhân
Ai-den-sơ-tát có nói với tôi rằng... Có thể cô ta lỡ lời và tôi không dám đặt
câu hỏi này với ngài. Nhưng hình như ngài đã từng có mặt ở Sở ghét-xta-pô thì
phải?
- Tôi biết trả lời ông
như thế nào nhỉ? Phải, tôi đã có mặt ở đó...
- Thế là rõ. Ngài không
muốn đề cập đền vấn đề ấy, vì nó là câu hỏi đau lòng đối với ngài. Nhưng thưa
giám mục, ngài có nghĩ rằng sau khi chiến tranh kết thúc, các con chiên của
ngài sẽ không tin ở ngài nữa hay không?
- Thiếu gì người có mặt ở
Sở ghét-xta-pô.
- Thế nếu như người ta bảo
nhỏ các con chiên rằng, với tư cách là một kẻ phá hoại, vị giám mục của họ đã
được bố trí vào ngồi chung xà lim với những người tù không bao giờ quay về nữa
thì sao? Mà những người được trở về như ngài chì là một phần triệu thôi... Con
chiên sẽ chẳng tin ngài lắm đâu Lúc ấy, ngài biết truyền bá sự thật của mình
cho ai?
- Tất nhiên, nếu tác động
tới con người bằng những phương pháp đó thì có thể tiêu diệt bất kỳ ai cũng được.
Trong trường hợp ấy, vị tất, tôi có thể cứu vãn nổi tình thế của tôi bằng bất cứ
cách nào.
- Ngài sẽ làm gì lúc đó?
- Lúc đó ư? Phải bác bỏ.
Bác bỏ bằng tất cả khả năng mà tôi có, bác bỏ cho tới lúc người ta tin ở tôi. Nếu
người ta không tin, thì về thực chất bên trong, coi như tôi đã chết rồi.
- Thực chất bên trong.
Nghĩa là xương thịt vẫn còn, vẫn sống.
- Tùy chúa phán xử.
- Tôi còn sống là còn sống.
- Tôn giáo của ngài chống
lại việc tự sát phải không?
- Chính vì lẽ đó mà tôi sẽ
không tự sát.
- Ngài sẽ làm gì khi mất
khả năng truyền đạo?
- Dù không còn truyền đạo
nữa, tôi vẫn cứ tin.
- Thế tại sao ngài không
chọn cho mình một lối thoát khác là cùng lao động với tất cả mọi người?
- Ông gọi thế nào là “lao
động“?
- Là khiêng đá đê xây dựng
lâu đài khoa học chẳng hạn. - Nêu xã hội chỉ cẩn một người tốt nghiệp khoa thần
học đi khiêng đất thì tôi chẳng có gì để nói chuyện với ông. Như thế thì quả thực
là thà bây giờ tôi quay về trại tập trung và chui vào lò thiêu xác còn hơn...
- Tôi chỉ đặt câu hỏi, “nếu
như“ thôi. Tôi rất thú vị, nếu được biết giả thuyết của ngài, nghĩa là ý nghĩ của
ngài sau này.
- Ông cho rằng một người
truyền đạo cho con chiên là một tên đại bịp, một kẻ vô công rồi nghề ư? Ông
không coi đó là một việc làm ư? Theo ông, khiêng đá mới là lao động, còn tôi,
tôi cho rằng lao động tinh thần ngang hàng với bất kỳ thứ lao động nào khác,
lao động tinh thần là loại đặc biệt quan trọng.
- Chính tôi làm nghề viết
báo, và các bài phóng sự của tôi đã bị đầy đọa cả từ phía bọn quốc xát lẫn từ
phía đạo thiên chúa chính thống của ngài. Chúng bị đạo Thiên chúa chính thống
lên án, vì một nguyên nhân sơ đằng là ông đã lý giải không đúng về bản thân con
người.
- Tôi không giải thích
con người. Tôi vạch ra cái thế giới của bọn lưu manh và đĩ điểm đang sổng chui
lủi trong các hầm nhà ở Bơ-rê-men và Hăm-bua. Nhà nước Hít-le gọi việc ấy là sự
vu khống một cách đáng ghê tởm đối với chủng tộc thượng đắng còn nhà thờ thì gọi
việc ấy là sự vu khống con người.
- Chúng tôi không sợ sự
thật của cuộc đời.
- Các ngài rất sợ! Tôi đã
vạch ra rằng những con người khổn nạn kia cố tìm đến nhà thờ ra sao và nhà thờ
đã xua đuổi họ như thể nào; chính đám con chiên đã xua đuổi họ, còn các vị linh
mục thì không dám phan đổi con chiên
- Tất nhiên là không thể
phản đối. Tôi không lên án ông về sự thật. Tôi không lên án ông về việc ông vạch
ra sự thật. Tôi bất đồng ý kiến với ông trong cách dự báo con người tương lai
kia.
- Thưa giám mục, thế ngài
không có cảm giác rằng những câu trả lời của ngài chứng tỏ ngài là một chính
khách chứ không phải là người chăn con chiên hay sao?
- Chẳng qua ông chỉ nhìn
thấy ở tôi cái gì hợp với quan niệm của ông ông nhìn thấy trong tôi cái đường
viền chính trị, mà đường viền này mới chỉ tạo nên một mặt phẳng. Cũng hệt như
có thể thấy chiếc thước tính lô-ga-rít là cái có thể dùng để đóng đinh. Thước
tính lô-ga-rít có thể dùng để đóng đinh, nó có chiều dài và sức nặng. Nhưng đó
mới chỉ là một cách nhìn cho phép thấy được chức năng thứ mười, thứ hai mươi của
vật thể, trong khi đó người ta có thể dùng thước tinh lô-ga-rít để tính toán,
chứ không chỉ dùng để đóng đinh.
- Không phải Xi-bơ-lít,
mà là Sơ-tiếc-lít, - Can-ten-bơ- ru-ne cười hô hố vào ống nói, - theo tôi,
trong số nhân viên biên chế làm gì có ai là Xi-bơ-lít. Còn điệp viên của các
anh thì tôi để ý làm gì. Phải rồi! Đúng, Sơ-tiếc-lít, và nếu tìm thấy thì lại
tôi ngay. Cảm ơn. Tôi chờ“.
Hắn nhìn thượng tướng SS
Muyn-lơ, kẻ cầm đầu ghét-xta-pô và nói:
- Tôi không muốn làm cho
ngài khó chịu và nghi ngờ đối với những đồng chí trong Đảng và các cộng sự cùng
các bạn chiến đấu của ngài, nhưng sự việc thực tế chứng tỏ mấy điểm sau đây. Một
là, tuy gián tiếp, song dù sao Sơ-tiếc-lít vẫn dính dáng tới thất bại của chiến
dịch Cờ-ra-cốp. Ông ta có mặt ở đó, nhưng vì những hoàn cảnh khôn khéo lạ lùng
mà thành phố ấy vẫn nguyên vẹn, trong khi lẽ ra nó phải tan thành mây khói. Hai
là, ông ta điều tra vụ quả tên lưa “Fau-2“ mất tích, nhưng không tìm thấy tên lửa
đó, và tôi cầu Chúa để cho nó chìm nghỉm trong các đầm lầy ở vùng hội lưu giữa
sông Vi-xơ-la với sông Vi-xơ-lô-ca. Ba là, hiện giờ ông ta vẫn đang điều tra
hàng loạt vấn đề liên quan tới vũ khí trừng phạt và tuy rằng chưa thấy những thất
bại rõ rệt song chúng ta cũng chẳng thấy công việc tiến triển hay có thắng lợi
đáng kể nào. Mà điều tra không có nghĩa là chỉ gài vào những người trái quan điểm,
mà còn có nghĩa là phải giúp đỡ những người đang suy nghĩ một cách chính xác và
có triển vọng. Bốn là, ông ta có nhiệm vụ truy tìm chiếc đài phát di động đang
hoạt động - căn cứ vào mật mã - phục vụ cơ quan tình báo chiến lược của bọn
bôn-sê-vích, thế nhưng nó vẫn tiếp tục hoạt động ở vùng ngoại ô Béc Lanh như
cũ. Thưa ngài Muyn-lơ, tôi sẽ rất vui mừng, nếu ngài lập tức phủ nhận mọi nghi
ngờ của tôi mà không chờ người cửa tôi mang hồ sơ về ông ta đến. Tôi có cảm
tình với Sơ-tiếc-lít, và tôi muốn ngài trao cho tôi các tài liệu minh chứng có
thể bác bỏ những mối nghi ngờ bỗng nhiên nảy ra trong đầu tôi.
Muyn-lơ vừa làm việc suốt
đêm qua, mới chợp mắt được một lúc, hai bên thái dương đang đau nhức, nên y trả
lời nghiêm trang, chứ không quen đùa cợt như mọi khi:
- Tôi chưa bao giờ có bất
cứ dấu hiệu nào để nghi ngờ anh ta. Còn sai lầm và thất bại trong công tác của
chúng ta thì vị tất đã có ai dám bảo đảm là sẽ không mắc phải.
- Nghĩa là ngài cho rằng
tôi lầm to chứ gì?
Câu hỏi của
Can-ten-bơ-ru-ne rõ ràng pha chút gay gắt, cho nên, tuy mệt mỏi, Muyn-lơ cũng
đã hiểu điều đó.
- Sao lại thế được... - y
trả lời. - Cần phải phân tích mồi nghi ngờ vừa nảy ra ở tất cả mọi phía, nếu
không thì người ta nuôi bộ máy của tôi để làm gì?... Nếu không, có thể coi
chúng tôi như một lũ vô công rồi nghề, trốn tránh mặt trận. Ngài còn có bằng chứng
nào nữa không - Muyn-lơ hỏi.
Can-ten-bơ-ru-ne im lặng,
di di điếu thuốc lá trên môi, sợi thuốc rơi vào cổ họng làm y ho sặc sụa hồi
lâu, mặt y tái xanh, gân cổ cuộn lên đỏ tía.
- Biết nói với ngài thế
nào nhỉ, - Can-ten-bơ-ru-ne lau nước mắt tự nhiên chảy ra, trả lời. - Thậm chí
tôi chưa biết nói với ngài thế nào. Tôi đã yêu cầu ghi âm những cuộc trò chuyện
giữa ông ta với người của chúng tôi mấy ngày liền. Những người mà tôi tin tưởng
tuyệt đối thường nói với nhau về tình hình bi đát hiện nay, về sự ngu ngốc của
giới quân sự nước ta, về sự đần độn của Ríp-ben-tơ-rốp, về thằng khờ Gơ-rinh, về
sự khủng khiếp đang chờ đợi tất cả chúng ta, khi bọn Nga tiến vào Béc Lanh. Thế
nhưng Sơ-tiec-lít lại nói: “Toàn chuyện vớ vẩn, tất cả đều tốt đẹp tình hình
phát triển bình thường“… Lòng ái quốc và lòng ái mộ với Quốc trưởng không phải
thể hiện ở chỗ mù quáng lừa dối các bạn đồng sự của mình Tôi tự hỏi, liệu ông
ta có phải là thằng ngốc hay không? Bởi vì ở nước ta cũng chằng ít những kê ngu
ngốc luôn miệng nhắc lại một cách thiếu suy nghĩ các câu nói vô nghĩa của
Gơ-ben. Không, ông ta không phải là thằng ngốc. Thể thì tại sao ông ta lại nói
dối hoặc giả ông ta không tin bất cứ ai, hoặc giả ông ta sợ một cái gì đó, hoặc
giả ông ta trù tính một kế hoạch nhất định và muốn mình hoàn toàn trong sạch.
Trong trường hợp này, ông ta trù tính kế hoạch gì vậy? Mọi chiến dịch của ông
ta phải có lối thoát ra ngoại quốc, tới các nước trung lập. Và tôi tự hỏi, liệu
ông ta có từ đó trở về hay không? Và nếu trở về, thì ở bên ấy, ông ta có liên hệ
với các phần tử chống đối hay những tên khốn kiếp hay không? Tôi không tài nào
trả lời chính xác được, dù là khẳng định hay phủ nhận…
Tất cả những điểm
Can-ten-bơ-ru-ne kể ra lúc trước đều được Muyn-lơ đánh giá không đáng một xu, bởi
vì Can-ten-bơ-ru-ne chỉ là một tình báo viên nghiệp dư. Nhưng điều hắn vừa nói
buộc Muyn-lơ phải thầm khen óc phân tích của viên thượng tướng. Cái điều vặt
vãnh mà hắn vừa nói rọi vào Sơ-tiếc-lít từ một phía hoàn toàn bất ngờ.
Muyn-lơ hỏi:
- Đầu tiên, ngài cần xem
hồ sơ về anh ta, hay là để tôi điều tra luôn?
- Ngài hãy cầm luôn đi, -
Can-ten-bơ-ru-ne khôn ngoan đáp vì hẳn đã kịp nghiên cứu kỹ tài liệu rồi. - Bây
giờ tôi phải tới gặp Quốc trưởng đây.
Muyn-lơ nhìn
Can-ten-bơ-ru-ne dò hỏi. Y chờ đợi hắn kể một vài tin tức nóng hồi nào đó từ dưới
hầm ngầm của Hít-le mang về, nhưng Can-ten-bơ-ru-ne không nói gì. Hắn kéo ngăn
bàn bên dưới lấy chai rượu cô-nhắc “Na-pô-lê-ông“ ra, đẩy chiếc ly về phía
Muyn-lơ và hỏi:
- Ngài uống đã nhiều
chưa?
- Tôi chưa nhấp một ngụm
nào cả.
- Thế sao mắt ngài đỏ ngầu?
- Tôi không ngủ, vì công
việc về Pra-ha nhiều quá, người của tôi đã bám được vào đuôi các nhóm cộng sản
bí mật. Tìh hình ở đó trong vài tuần tới chắc sẽ thú vị lắm.
- Cờ ruy-ghe sẽ là trợ
thù đắc lực của ngài. Về mặt công vụ ông ta là một tay rất cừ, tuy rằng óc tưởng
tượng hơi tồi. Ngài hãy uống đi, rượu cô-nhắc sẽ làm cho người sảng khoái.
- Ngược lại rượu cô-nhắc
khiển tôi mệt mỏi và buồn ngủ. Tôi thích rượu vốt-ca hơn.
- Loại rượu cô-nhắc này
không làm cho ngài buồn ngủ đâu Can-ten-bơ-ru-ne mỉm cười và nâng chiếc ly của
mình lên. - Nào, cạn chén!
Hắn uống liền một hơi, và
yết hầu của hắn đưa lên đưa xuống nhanh như yết hầu của những kẻ nghiện rượu nặng.
“Hắn uống ghê thật“, -
Muyn-lơ nhận xét, miệng nhấm nháp từng ngụm nhỏ, - chắc hắn sắp rót thêm ly nữa
cho mà xem Can-ten-bơ-ru-ne châm một điếu thuốc lá "Ca-rô", loại thuốc
nặng và rẻ tiền nhất, rồi hỏi:
- Thế nào, ngài làm thêm
ly nữa chứ?
- Cảm ơn, - Muyn-lơ đáp,
- rất vui lòng. Loại cô-nhắc này quả là tuyệt diệu.
Chương 2
Sơ-tiếc-lít định bụng rằng
hôm nay anh sẽ nghỉ việc sớm hơn một chút, để từ phố Hoàng tử An-bơ-rếch đánh
xe đến Nau-ên: ở đấy, trong cánh rừng, giữa ngã ba đường có một tiệm ăn nhỏ của
Pa-un. Cũng như một năm hay năm năm về trước, con trai của Pa-un là Tô-mát cụt
chân không hiểu bằng cách nào vẫn xoay được khoản thịt lợn để thết các khách
hàng quen của mình món bắp cải bọc thịt hầm, hay ít nhất thì cũng có món sốt-vang
thỏ ăn với củ cải ngâm giấm.
Những lúc máy bay không
ném bom, tưởng như chẳng có chiến tranh gì cả, bởi lẽ, hệt như ngày xưa, chiếc
máy thu thanh quay đĩa vẫn hoạt động và cái giọng trầm của Bơ-ru-nô Va-rơn-ke vẫn
hát: “Ôi, cảnh Mô-hen-dây đẹp biết chừng nào...”
Nhưng Sơ-tiếc-lít thế là
không nghỉ việc sớm hơn được. Khôn-tốp làm bên Vụ IV của ghét-xta-pô ghé lại chỗ
anh và nói:
- Tôi hoàn toàn rối trí mất
rồi. Hoặc là thằng tù của tôi bị bệnh tâm thần, hoặc là phải chuyển nó sang bên
cơ quan tình báo của các anh, bởi vì nó ăn nói hệt như bầy lợn Anh-cát-lợi đang
kêu gào trên đài phát thanh vậy.
Sơ-tiếc-lít đi sang phòng
làm việc của Khôn-tốp và ngồi ở đó đến bẩy giờ tối để nghe những lời lẽ điên
khùng của một nhà thiên văn học bị Sở ghét-xta-pô ở Van-dây bắt ngày hôm kia,
Ông ta đi rải những tờ truyền đơn do chính tay ông ta viết. Mỗi tờ có một nội
dung khác nhau. Khôn-tốp đẩy về phía Sơ-tiếc-lít cả một tập. Sơ-tiếc-lít bắt đầu
chọn các tờ giấy xé từ vở học sinh ra, trong đó có ghi: “Hỡi những người Đức!
Hãy mở mắt ra! Bọn thủ lĩnh mất trí của chúng ta đang dẫn chúng ta đến chỗ chết!
Thế giới nguyền rủa chúng ta! Hãy chấm dứt ngay chiến tranh! Hãy đầu hàng đi!”.
Số tờ truyền đơn có nội dung như thế nhiều hơn cả. Những tờ khác viết ngắn gọn
hơn: “Cầm đầu nước Đức là những thằng điên! Đả đào Hít-le! Hòa bình cho đất nước!”
Và giờ đây, ngồi trên chiếc
ghế đầu gắn chặt xuống sàn, nhà thiên văn học lại kêu lên, không biết đến lần
thứ mấy, một cách điên dại:
- Tôi không thể chịu đựng
thêm được nữa! Không thể! Tôi không thể! Tôi muốn sống! Sống một cách bình thường,
đơn giản, các người có hiểu hay không! Dưới chế độ phát xít, tư bản hay
bôn-sê-vích đều được cả! Tôi không thể chịu đựng thêm nữa. Tôi nghẹn thở trước
sự mù quáng, ngu ngốc, điên cuồng của các người!
- Đứa nào ra lệnh cho mày
viết truyền đơn? - Khôn-tốp nhắc lại câu hỏi, theo đúng phương pháp lấy cung,
giọng không quát tháo. - Tự mày không thể đi đến mức khốn nạn như thế được. Đứa
nào trao nội dung các tờ truyền đơn cho mày? Bàn tay mày đã bị ý muốn của kẻ địch
dắt dẫn, bày vẽ. Mày đã đánh hơi và kết bạn với kẻ thù nào của nước Đức, ở đâu
và bao giờ?
- Tôi chẳng đánh hơi và kết
bạn với ai hết! Tôi sợ phải nói với chính bản thân tôi! Tôi sợ hết thảy! - nhà
thiên văn học hét to. - Chẳng lẽ các người không có mắt hay sao?! Chẳng lẽ các
người không hiểu rằng giờ cáo chung đã điểm rồi?! Chúng ta đã tan nát! Chẳng lẽ
các người không hiểu rằng mỗi sự hy sinh thêm lúc này đều là sự dã man hay sao!
Các người luôn mồm ra rả nói rằng các người sống vì dân tộc! Vậy thì các người
hãy cút đi! Các người hãy giúp đỡ những gì còn lại của dân tộc! Các người dồn
những đứa trẻ bất hạnh vào chỗ chết! Các người là những kẻ cuồng tín, những kẻ
cuồng tín tham tàn leo lên nắm chính quyền! Các người no nê phè phỡn, các người
hút những loại thuốc lá đắt tiền và uống cà phê thả cửa! Hãy để cho chúng tôi
được sống như những con người, chứ không phải như những kẻ nô lệ câm lặng! -
Nhà thiên văn học đột nhiên dừng lại, lau mồ hôi hai bên thái dương rồi thấp giọng
kết luận: - Hoặc giả các người hãy giết chết tôi tại đây mau lên, để tôi khỏi
phát điên vì hiểu ra sự bất lực của bản thân mình và sự ngu muội của cái dân tộc
mà các người đã biến thành một bầy cừu hèn nhát.
- Rồi hẵng, - Sơ-tiếc-lít
lên tiếng. - Kêu thét chưa phải là lý lẽ thuyết phục. Ông có đề nghị gì cụ thể
không nào?
- Ngài bảo sao? - nhà
thiên văn sợ hãi hỏi.
Giọng nói điềm tĩnh, từ tốn,
xen lẫn nụ cười của Sơ-tiếc- lít đã gây nên ấn tượng trái ngược đối với nhà
thiên văn học từ lúc bị bắt, ông ta đã quen nghe những câu thét mắng và những
cái tát vào mặt, ông ta đã quen thấy như thế, chứ chưa được nghe lời nói dịu
dàng.
- Tôi hỏi ông có đề nghị
cụ thể gì không? Chúng ta làm thế nào để cứu trẻ em, phụ nữ và các cụ già? Ông
khuyên nên làm thế nào để đạt mục đích đó? Phê phán và nổi giận bao giờ cũng dễ
thôi. Dựa vào một chương trình hành động sáng suốt mới là cái khó.
- Tôi phủ nhận khoa chiêm
tinh học, - sau hồi lâu suy nghĩ, nhà thiên văn học chậm rãi đáp, - nhưng tôi
bái phục khoa thiên văn. Người ta đã triệt bỏ mất khoa thiên văn của tôi ở
thành phố Kin-lơ...
- Vì thế mà mày nổi khùng
phải không, hở đồ chó? - Khôn-tốp quát to.
- Đợi một chút đã, -
Sơ-tiếc-lít nói và cau mày khó chịu, - không nên quát ầm lên như thế... Mời ông
nói tiếp...
- Chúng ta đang sống
trong năm mặt trời không yên tĩnh. Những vụ nổ của các tai lửa, việc truyền
thêm một khối lớn năng lượng mặt trời ảnh hưởng tới các thiên thể, các hành
tinh và các ngôi sao, ảnh hưởng tới nhân loại nhỏ bé của chúng ta...
- Chắc ông nhìn sao trên
trời có thể tiên đoán được chuyện gì đó, - Sơ-tiếc-lít ngắt lời ông ta, - cho
nên ông mới điên đầu lên phải không?
- Nhìn sao đoán số chỉ là
linh tính, thậm chí có thể là một giả thuyết thiên tài nhưng không chứng minh
được. Không, tôi xuất phát từ một giả thuyết thông thường, chứ hoàn toàn không
có ý đồ nêu ra một giả thuyết thiên tài. Đó là mối tương tác giữa mỗi sinh vật
sống trên trái đất với mặt trời và các vì sao... Và mối tương tác ấy giúp tôi
đánh giá chính xác hơn, tỉnh táo hơn mọi sự kiện đang diễn ra trên mảnh đất của
Tổ quốc tôi...
- Tôi sẽ rất thú vị nếu
nói chuyện tỉ mỉ hơn với ông về đề tài đó, - Sơ-tiếc-lít nói, - Chắc anh bạn
tôi sẽ cho phép ông trở về xà-lim nằm nghỉ vài hôm, rồi chúng ta sẽ quay lại
câu chuyện này.
Khi nhà thiên văn học được
dẫn di, Sơ-tiếc-lít nói:
- Ở mức độ nào đó, người
này đang ở trong tình trạng tâm thần không bình thường, anh không thấy à? Tất cả
các nhà bác học, văn sĩ, diễn viên đều có trạng thái tâm thần không bình thường
theo kiểu riêng của họ. Phải có phương pháp tiếp cận riêng đối với họ, vì họ sống
theo một lối sống do họ tự nghĩ ra. Anh hãy gửi lão già lập dị này đến bệnh viện
của chúng ta cho họ giám định xem sao. Hiện thời chúng ta có quá nhiều công việc
quan trọng, nên chẳng đáng tốn thì giờ vô ích cho những tên bẻm mép vô trách
nhiệm làm gì, dù có thể chúng thuộc loại người tài năng. Giá như bây giờ là thời
bình, thì chúng ta sẽ tống hắn vào trại tập trung, để người ta nhanh chóng rèn
lại đầu óc hắn và sau đó hắn sẽ làm lợi cho đất nước và dân tộc bằng một hoạt động
nào đó tại học viện hay trong một nhóm nghiên cứu... Còn hiện nay thì...
- Nhưng nó ăn nói như một
thằng Anh-cát-lợi chính cống trên đài phát thanh Luân Đôn... Hoặc như một tên đảng
viên xã hội - dân chủ bám đít Mát-xcơ-va vậy.
- Người ta sáng chế ra
máy thu thanh là để nghe đài. Hắn đã nghe quá nhiều. Không sao, điều đó bình
thường thôi. Bọn tình báo chúng tôi chả thèm chú ý đến chuyện đó. Vài ngày nữa,
ta nên gặp lại hắn để thăm dò, xem hắn quả thực là một nhà bác học, hay chỉ là
một kẻ mắc bệnh tâm thần. Nếu hắn là một nhà bác học nghiêm túc, tôi và anh sẽ
đến gặp ngài Muyn-lơ hay ngài Can-ten-bơ-ru-ne để đề nghị cấp cho hắn một khẩu
phần ăn thật khá và đưa vào trong núi, ở đấy vườn hoa khoa học của chúng ta
đang nở rộ. Hắn sẽ thôi ba hoa, khi được làm việc ngoài vòng bom đạn, lại có
bánh mì với bơ và một ngôi nhà đủ tiện nghi giữa rừng thông. Phải thế không
nào?
Khốn-tốp nhếch mép cười:
- Nếu như mỗi người đều
có một ngôi nhà trong rừng, nhiều bánh mì với bơ và ở ngoài vòng bom đạn, thì
chắc chẳng có ai ba hoa cả...
Sơ-tiếc-lít chằm chằm
nhìn Khôn-tốp, cho đến lúc hắn ta không chịu nổi cái nhìn của anh, phải tất tưởi
xếp đi, đặt lại mấy chồng giấy tờ trên bàn, anh mới mỉm cười thân ái với người
đồng sự cấp dưới của mình...
“Bản tốc ký về cuộc họp ở
dinh Quốc trưởmg. Dự họp có thống chế Cây-ten, I-ô-đơn, công sứ Kha-ven - đặc
phái viên Bộ ngoại giao, chủ tịch của Đảng Quốc xã Boóc-man, thượng tướng SS
Phê-ga-lai - đặc phái viên do hành dinh của thống chế SS Him-le phái tới, Bộ
trưởng Công nghiệp Sơ-pe-lơ, đô đốc Phô-xơ, thiếu tá hải quân Luýt-dơ Nây-rát,
đô đốc phôn Pút-ca-me, các sĩ quan tùy tùng, các nhân viên tốc ký.
Boóc-man: Ai đi đi lại lại
ở đằng ấy mãi thế? Ồn quá! Xin giữ trật tự cho, các ngài quân nhân.
Pút-ca-me: Tôi đã đề nghị
đại tá phôn Bê-lốp báo cáo cho tôi biết tình hình lực lượng không quân ở Ý.
Boóc-man: Tôi không nói đến
ông ta. Mọi người đều nói cùng một lúc, điều đó luôn luôn gây nên tiếng ồn ào
khó chịu.
Hít-le: Tôi thấy việc đó
không làm phiền tôi. Ngài đại tướng này, trên bản đồ chiến sự chưa thấy ghi diễn
biến tình hình ngày hôm nay ở Cuốc-lan-đi-a đấy.
I-ô-đơn: Thưa Quốc trưởng,
ngài chưa để ý kỹ đấy ạ. Mấy chỗ này là dấu mới ghi sáng hôm nay.
Hít-le: Chữ để trên bản đồ
quá nhỏ. Cám ơn, bây giờ thì tôi nhìn rõ rồi.
Cây-ten: Tướng
Gu-đê-ri-an lại đòi rút các sư đoàn của chúng ta khỏi vùng Cuốc-lan-đi-a.
Hít-le: Đó là một kế hoạch
thiếu khôn ngoan. Hiện nay quân của tướng Ren-đu-lích nằm sâu trong hậu phương
quân Nga, cách Lê-nin-grát bốn trăm cây số, đang thu hút về phía mình từ bốn
mươi đến bảy mươi sư đoàn Nga. Nếu chúng ta rút quân của ta ra khỏi vùng đó,
tương quan lực lượng ở ngoại vi Béc Lanh sẽ lập tức thay đổi và hoàn toàn bất lợi
cho chúng ta, chứ không như tướng Gu-đê-ri-an lầm tưởng. Trong trường hợp chúng
ta rút quân khỏi vùng Cuốc-lan-đi-a, mỗi sư đoàn Đức ở ngoại vi Béc Lanh sẽ phải
chống chọi với ít nhất ba sư đoàn Nga.
Boóc-man: Nên làm một nhà
chính trị tỉnh táo, ngài thống chế Cây-ten ạ...
Cây-ten: Tôi là quân
nhân, chứ không phải là chính khách.
Boóc-man: Đó là hai khái
niệm không tách rời nhau trong thời đại chiến tranh tổng lực.
Hít-le: Để di chuyển quân
ra khỏi vùng Cuốc-lan-đi-a, chúng ta cần ít nhất nửa năm, căn cứ vào kinh nghiệm
chiến dịch Li-ba-va. Điều đó thật nực cười. Chúng ta chỉ được tính từng giờ,
đúng là từng giờ thôi, để giành thắng lợi; căn cứ vào các sự kiện thực tế, chứ
không phải vào những lão tướng hão huyền. Bất cứ ai có thể nhìn nhận, phân
tích, kết luận, đều có trách nhiệm trả lời chỉ một câu hỏi như sau: có khả năng
sắp tới giành được chiến thắng hay không? Tôi không hỏi để nghe lấy một câu trả
lời cương quyết có tính chất mù quáng. Tôi không ưa niềm tin mù quáng, tôi tìm
kiếm niềm tin dựa trên sự thông hiểu. Thế giới chưa hề chứng kiến một khối liên
minh nghịch lý, ngược đời nào như khối các nước đồng minh hiện nay. Sự khác biệt
về chất giữa các tư tưởng, khát vọng, nhân tố và tính cách có thể tạo nên một
liên minh không phương hại gì đến mình, nhưng điều đó chỉ nói lên một tình thế
bế tắc không lối thoát: tôi muốn nói giống như sự cầm tù ở trại tập trung. Ví dụ,
ở đó, như người ta kể, các sứ thần của tòa thánh, những tên cộng sản vô thần và
bọn cấp tiến Pháp có thể sống tâm đầu ý hợp trong một nhà với bọn bảo thủ Anh.
Tình thế bế tắc đẻ ra liên minh. Đó là cái liên minh tuyệt vọng, liên minh vô vọng
và phi chủ đích. Trong khi các mục đích của bọn Nga, Anh, Mỹ trái ngược hẳn
nhau, thì mục đích của chúng ta hết sức rõ ràng đối với tất cả chúng ta. Trong
khi chúng chuyền động do bị chi phối bởi sự khác biệt về khát vọng ý thức hệ,
thì chúng ta vận động tiến lên nhờ một khát vọng duy nhất, cuộc sống của chúng
ta lệ thuộc vào khát vọng ấy. Trong khi các mâu thuẫn giữa bọn chúng đang phát
triển và sẽ phát triển, thì giờ đây, hơn bao giờ hết, sự thống nhất của chúng
ta kết thành một khối vững chắc - sau nhiều năm gian khổ và vĩ đại, tôi đã đạt
được điểm này. Phá vỡ khối liên minh giữa các kẻ thù của chúng ta bằng con đường
ngoại giao hay các con đường khác đều là không tưởng. May lẳm là một sự không
tưởng không kèm theo thái độ hoảng loạn và thất vọng. Chỉ bằng cách giáng cho
chúng những đòn quân sự, chỉ có biểu lộ tinh thần không khoan nhượng và sức mạnh
dồi dào của mình, chúng ta mới thúc đẩy ngày tận số của khối đồng minh đó mà
thôi. Khối đồng minh sẽ tan vỡ, khi các vũ khí chiến thắng của chúng ta gầm
lên. Không có gì tác động mạnh đến các giới dân chủ phương Tây bằng sự biểu
dương lực lượng. Không gì có thể làm cho Xta-lin tỉnh táo bằng, một mặt, thái độ
lúng túng của phương Tây, mặt khác, các đòn quân sự của chúng ta. Các ngài nên
nhớ rằng, hiện nay, Xta-lin đang tiến hành cuộc chiến tranh không phải ở vùng rừng
Bơ-ri-an-xcơ hay trên những cánh đồng U-cơ-ra-i-na, ông ta đang chỉ huy quân đội
của mình trên lãnh thổ Ba-lan, Ru-ma-ni, Hung-ga-ri. Khi đặt chân lên những mảnh
đất không phải là Tổ quốc mình, quân Nga đã yếu đi, và ở mức độ nhất định, đã mất
tinh thần. Nhưng lúc này tôi không chú ý tối đa đến quân Nga hay quân Mỹ. Tôi rất
chú ý đến những người Đức! Chỉ có dân tộc ta mới có thể và cần phải chiến thắng!
Hiện nay, cả nước ta đã trở thành một pháo đài quân sự. Cả nước ta - tôi muốn
nói đến nước Đức, nước Áo, nước Na-uy, một phần nước Hung-ga-ri và nước Ý, phần
lãnh thổ đáng kể ở Tiệp Khắc và Bô-hêm nằm dưới sự bảo hộ, nước Đan Mạch và một
phần nước Hà Lan. Đó là trái tim của nền văn minh Châu Âu. Đó là nơi tập trung
sức mạnh vật chất và tinh thần. Yếu tố chiến thắng đã rơi vào tay chúng ta.
Chúng ta, những quân nhân, lúc này giữ phần quyết định việc chúng ta sử dụng
nhanh chóng tới mức nào yếu tố ấy để giành chiến thắng. Các ngài hãy tin ở tôi
- chỉ sau mấy đòn quyết liệt đầu tiên của quân ta, khối đồng minh sẽ tan vỡ
ngay. Những quyền lợi ích kỷ của mỗi nước trong khối đó sẽ che lấp không cho
chúng nhìn thấy tầm chiến lược của vấn đề. Để giờ chiến thắng của chúng ta mau
gần lại, tôi đề nghị như sau: tập đoàn quân xe tăng SS thứ sáu bắt đầu phản
công ở ngoại vi Bu-đa-pét, để một mặt, bào đảm an toàn cho pháo đài phía nam của
Đảng Quốc xã ở Áo và Hung, và mặt khác chuẩn bị thọc vào sườn bọn Nga. Các ngài
nhớ cho rằng, chính ở đó, ở phía Nam, ở Nan-ca-ni-giơ, chúng ta có bảy mươi
ngàn tấn dầu lửa. Dầu lửa - đó là dòng máu lưu thông trong các động mạch của
chiến tranh. Tôi thà nộp thành Béc Lanh còn hơn để mất số dầu lửa ấy, vì nó bảo
đảm cho tôi sự bất khả xâm phạm của nước Áo, làm cho nước Áo gắn làm một với
quân đội gồm một triệu người của Két-xen-rinh ở Ý. Tiếp đó ở nhóm tập đoàn quân
“Vi-xơ-la” sau khi tập hợp lực lượng dự bị sẽ dùng căn cứ quân sự Pô-mê-răng để
tiến hành phản công quyết liệt vào sườn bọn Nga. Quân của thống chế SS sau khi
chọc thủng tuyền phòng ngự của bọn Nga sẽ thọc sâu vào hậu phương chúng và giành
thế chủ động. Được các đơn vị của Stét-tinh trợ giúp, họ sẽ chia cắt mặt trận của
bọn Nga thành nhiều mảnh, vấn đề đưa lực lượng dự bị đến ứng cứu đối với
Xta-lin là vấn đề của mọi vấn đề. Khoảng cách chống lại ông ta. Ngược lại, khoảng
cách ủng hộ chúng ta. Bảy tuyến phòng ngự che chở Béc Lanh và thực sự làm cho
nó bất khả xâm phạm sẽ cho phép chúng ta vi phạm các quy luật của nghệ thuật
quân sự và di chuyển một khối lượng quân đáng kể từ phía nam và phía bắc sang
phía tây. Chúng ta sẽ có dự trữ thời gian: Xta-lin phải mất hai, ba tháng để bố
trí lại lực lượng dự bị, còn chúng ta chuyển quân chỉ mất năm ngày, các khoảng
cách của nước Đức cho phép làm như vậy, bất chấp các truyền thống chiến lược.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét