Thứ Năm, 30 tháng 7, 2026

Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân 2

 Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân 2

Chương 8
Trên đường tới chỗ gặp Boóc-man - Sơ-tiếc-lít rất hy vọng rằng anh sẽ gặp y, bởi vì miếng mồi mắc vào lưỡi câu hết sức ngon lành - anh cho xe chạy chậm, vòng vèo qua các phố để kiểm tra cẩn thận, xem có cái đuôi nào bám theo anh hay không. Việc kiểm tra này được anh tiến hành một cách máy móc, bởi vì anh không thấy có điều gì đáng lo ngại trong những ngày vừa qua, và anh cũng không lần nào bị giật mình tỉnh giấc giữa lúc nửa đêm như mỗi lần trước kia, khi toàn bộ cơ thể anh, từ sợi tóc đến đầu ngón chân, đều có cảm giác lo sợ. Những lúc ấy, anh không bật đèn, chỉ mở mắt nằm im một hồi lâu, và phân tích kỹ lưỡng từng giờ phút, từng lời nói của anh trong lúc trao đổi với hết thảy mọi người, bất kỳ người ấy là ai, dù đó là cô bán sữa hay một hành khách tình cờ trên tàu điện ngầm. Lỡ người ấy đang bị theo dõi mà anh không biết, đem giơ đầu ra hứng đòn thì phiền. Nhân tiện nói thêm rằng chính vì lẽ đó mà anh thích đi xe ô tô hơn để tránh những sự tiếp xúc ngẫu nhiên, không cần thiết. Nhưng anh cho rằng, nói chung, tách biệt mình khỏi thế giới cũng là một điều ngu ngốc. Thiếu gì nhiệm vụ có thể được giao cho anh. Khi đó, một sự thay đổi hành vi đột ngột nhất định sẽ làm cho những kẻ theo dõi anh cảnh giác. Ở nước Đức quốc xã này, ai mà chẳng bị theo dõi. Đối với Sơ-tiếc-lít, điều đó đâu phải là bí mật.
Anh cho phép mình thường xuyên có mặt ở các viện bảo tàng. Một là, ở đấy thường vắng người, các gian phòng cao rộng và dễ lan truyền tiếng ồn. Bởi vậy, đứng ở phòng này có thể nghe rõ tiếng bước chân mà biết có kẻ nào bám đuôi mình hay không. Hai là, ở viện bảo tàng có nhiều nhân viên là người báo tin của Sở ghét-xta-pô khu phố, và nếu anh đến thăm viện bảo tàng - mà anh thường đến đó trong bộ sắc phục đại tá SS - thì các nhân viên kia có thể xác nhận anh đã đứng bên cạnh ai, vào thời gian nào và trong bao nhiêu lâu. Anh mặc sắc phục vì hiểu rằng bọn sĩ quan SS ít đi tham quan viện bảo tàng, cho nên bọn nhân viên làm điệp ngầm ở đây không thể không nhớ bộ sắc phục đại tá lộng lẫy của anh.
Anh suy tính, cân nhắc mọi chi tiết nhỏ nhặt: những người làm cái nghề của anh thường sa lưới trong những sự việc hết sức vặt vãnh. Chính việc cân nhắc cẩn thận mọi chi tiết thường giúp người ta tránh khỏi thất bại. Bởi vì trong giới tình báo không có những điều nhỏ nhặt, chỉ có những người biết chú ý cẩn thận và những người vụng về lơ đãng mà thôi.
... Sơ-tiếc-lít bất giác ngó vào chiếc gương nhìn sau và ngạc nhiên huýt sáo: chiếc xe “Van-đê-rê” bám đuôi anh ớ phố Cuốc- phua vẫn tiếp tục theo sát xe anh. Sơ-tiếc-lít đạp mạnh đột ngột vào bàn đạp tăng tốc, chiếc “Khô-rếch” vọt lên. Anh phóng đến quảng trường A-lếch-xăng-đe, sau đó quặt sang phố Béc-gơ, qua nghĩa trang thì rẽ vào phố Vê-tê-ran. Anh ngoảnh lại và hiểu rằng cái đuôi - nếu đó là cái đuôi - đã bị tụt hậu, Sơ-tiếc-lít cho xe chạy vòng kiểm tra một lần nữa, rồi anh dừng xe cạnh quán rượu “Gốt-líp thô lỗ” mà anh ưa thích, vì thấy vẫn còn sớm.
“Nếu chúng nó lại bám đuôi mình, - anh nghĩ, - thì như thế là đã có chuyện gì đó xảy ra. Nhưng điều gì có thể xảy ra nhỉ! Hãy cứ ngồi làm một cốc cô-nhắc để suy nghĩ xem chuyện gì có thể xảy ra nào…”
Anh rất thích cái quán rượu cổ lỗ sĩ này. Nó mang tên “Gốt-líp thô lỗ”, bởi vì mỗi khi đón khách - bất kể đó là ai, cấp bậc gì, có địa vị nào trong xã hội - chủ quán đều nói:
- À, ông lợn đực mò đến đấy hả? Mang theo cả bà xã xệ à... không sao... Một thùng bia, một súc thịt bò già, một cái vú của con hươu cao cổ có bệnh!
Dần dần Sơ-tiếc-lít nhận thấy rằng, đối với những khách hàng đáng kính nhất, Gốt-líp thường dùng những câu thô tục có lựa chọn riêng: rõ ràng điều đó cũng thể hiện thái độ tôn trọng - một sự tôn trọng trái ngược.
Gốt-líp lơ đãng đón Sơ-tiếc-lít.
- Hay lắm, chào lão ngốc! Vào bàn ngồi mà hốc đi!
Sơ-tiếc-lít bắt tay ông ta, giúi vào tay ông ta hai mác và ngồi xuống chiếc bàn nhỏ làm bằng gỗ sồi ở sát cửa, lấp sau chiếc cột, trên đó có viết những lời chửi rủa hết sức tục tĩu, thô bỉ của đám dân chài vùng Mếch-len-bua. Cái đó khiến cho các mụ vợ già của bọn tư bản công nghiệp đặc biệt thích thú.
“Chuyện gì có thể xảy ra? - Sơ-tiếc-lít vừa tiếp tục suy nghĩ, vừa nhấp từng ngụm cô-nhắc. - Mình có chở người liên lạc đến đâu - thất bại không thể đến từ phía này. Những việc cũ ư? Bọn chúng làm gì có thời gian đối phó với những việc mới. Việc phá hoại ngầm đang lan tràn ghê gớm, chưa từng thấy ở nước Đức. Ê-rơ-vin... Đúng vậy. Điều gì sẽ xảy ra, nếu chúng tìm thấy được điện đài nhỉ?”
Sơ-tiếc-lít rút thuốc lá ra, nhưng chính vì anh rất muốn rít một hơi thật say mà anh chưa vội châm lửa ngay.
Lúc này, anh muốn phóng xe đến ngay ngôi nhà đổ của Ê-rơ-vin và Kết.
“Mình đã phạm sai lầm chủ yếu, - anh chợt hiểu. - Lẽ ra, mình phải đích thân thăm dò tất cả các bệnh viện - lỡ hai người bị thương thì sao? Mình đã tin vào các máy điện thoại một cách vô ích... Mình phải lo việc này mới được - ngay sau khi nói chuyện với Boóc-man, mình sẽ làm việc đó... Hắn phải đến gặp mình - khi chúng bị dồn ép, chúng hay tỏ ra ta đây dân chủ lắm. Khi công việc của chúng trôi chảy, không đời nào chúng chịu hạ mình đi gặp bất cứ ai, nhưng nếu chúng cảm thấy sắp đến ngày tận số, chúng sẽ trở nên hèn nhát, hiền lành và ra vẻ dân chủ. Bây giờ mình phải gác tất cả mọi chuyện lại kể cả Ê-rơ-vin và Kết. Trước hết, mình phải thỏa thuận với tên đao phủ Boóc-man này đã. Mà cũng có thể là mình tưởng lầm chiếc xe “Van-đê-rê” bám đuôi mình chăng?” Anh bước ra, ngồi vào xe và cho nó chạy từ từ đến viện bảo tàng Tự nhiên học ở phố In-va-lít. Một giờ đồng hồ nữa, Boóc- man sẽ phải đợi anh ở đó, cạnh ô-ten “Nôi-e Tô”. Hãy còn thời gian để chặt đứt những chiếc đuôi bám theo mình, nếu có.
Anh cho xe chạy rất chậm, thỉnh thoảng lại ngó vào gương: không thấy bóng chiếc xe “Van-đê-rê” màu đen ở phía sau.
“Có lẽ, đó là Sê-len-béc muốn thăm dò mình trước khi tiến hành chiến dịch sử dụng Sơ-lắc chăng? - anh nghĩ. - Cách giải thích ấy cũng có lý đấy chứ. Mà cũng có thể là thần kinh mình quá căng thẳng”.
Anh lại ngó vào gương - không, dưới lòng đường vẫn vắng tanh. Chỉ có bọn trẻ con lợi dụng lúc yên tĩnh đang vui vẻ cười đùa, đuổi bắt nhau trên vỉa hè. Mấy đoàn người đứng nép mình vào các bức tường sần sùi: chắc họ đang xếp hàng chờ đến lượt mua thịt.
Sơ-tiếc-lít quẳng xe cạnh bệnh viện “Sa-ri-tê” và đi qua khu vườn hoa rộng lớn của bệnh viện để tới viện bảo tàng nằm trên phố In-va-lít. Ở đây rất vắng vẻ và yên tĩnh, không một bóng người trên đường phố. Anh lựa chọn đúng chỗ này, vì ở đây có thế thấy rõ tất cả mọi phía như trên lòng bàn tay.
“Kể ra, chúng có thể bố trí tay chân ngồi trong ô-ten “Nôi-ê Tô”. Nếu Boóc-man báo cho Him-le biết, thì sự việc sẽ dẫn đến chỗ như vậy. Nếu không, người của Boóc-man sẽ láng cháng ở đây, cạnh cửa ra vào, ở phía đối diện, đóng vai các nhà khoa học làm việc trong viện bảo tàng, chứ không thể khác được...”
Hôm nay Sơ-tiếc-lít bận thường phục lại đeo một chiếc kính gọng sừng to tướng và kéo chiếc mũ bê-rê sụp xuống tận giữa trán, khiến cho người ta khó lòng nhận ra anh từ xa. Bên lối vào và ở tiền sảnh của viện bảo tàng có một tảng ma-la-chít khổng lồ đem từ U-ran về và một tảng thạch anh tím của Bra-xin. Sơ- tiếc-lít bao giờ cũng dừng chân bên cạnh tảng thạch anh Bra- xin, nhưng lại ngắm màu xanh biêng biếc của tảng ma-la-chít U-ran.
Sau đó, anh chậm rãi đi qua một phòng lớn mà cửa kính đã vỡ nát: ở đó có hình mẫu một con khủng long. Từ đây có thể quan sát rõ khu vực phía trước viện bảo tàng và ô-ten. Không, tất cả đều yên tĩnh và lặng lẽ. Chỉ có một mình Sơ-tiếc-lít ở trong viện bảo tàng - lúc này điều đó không có lợi cho anh.
Anh dừng chân cạnh một vật trưng bày thú vị. Mười ba giai đoạn phát triển của xương sọ. Xương sọ số tám là khỉ pa-vi-an, số chín - vượn Hy-bôn, số mười - đười ươi, số mười một - vượn Gô-ri-la, số mười hai: con tinh tinh, số mười ba - con người.
“Tại sao số thứ mười ba lại là con người? Tất cả đều chống lại con người, kể cả các chữ số, - anh cười thầm. - Sao không là số thứ mười hai hay số thứ mười bốn? Đằng này lại choảng ngay cho cái số mười ba. Xung quanh toàn là khỉ, - anh nhìn mẫu nhồi con vượn Bô-bi và tiếp tục nghĩ. - Tại sao lũ khỉ lại được quan tâm đến thế nhỉ?”
Trên bảng gỗ có đề “Vượn Bô-bi này được mang về Béc Lanh ngày 39 tháng 3 năm 1928 lúc mới ba tuổi. Chết ngày 1 tháng 8 năm 1935. Cao 1 m 73 can-ti-mét, nặng 366 ki-lô-gam”.
Sơ-tiếc-lít nhìn cái mẫu nhồi này không biết đã đến lần thứ bao nhiêu. Anh nghĩ: “Con vượn này cũng chưa to béo lắm. Mình cao hơn nó nhưng chỉ nặng có 72 ki-lô-gam”.
Anh lùi xa hơn như để nhìn nó từ xa, thế là anh đã đến bên chiếc cửa sổ lớn, từ đó có thể nhìn rõ hè phố bên kia. Anh liếc đồng hồ. Từ giờ đến lúc gặp mặt vẫn còn hai mươi phút nữa.
Điệp viên Cờ-lao-xơ phải đến đây gặp anh ngay bây giờ. Sáng nay, anh đã gửi qua văn phòng theo địa chỉ của hắn một bức thư mật mã. Tất cả đều biết anh thường gặp gỡ bọn điệp viên ở các viện bảo tàng. Đó sẽ là lý do biện bạch, nếu có kẻ nào để ý đến sự có mặt của anh ở đây. Bằng cách gọi Cờ-lao-xơ tới đây, anh nhằm hai mục đích: chủ yếu là cái cớ vô tội, nếu Boóc- man báo cho Him-le biết về lá thư, mà tên kia chắc chắn là sẽ ra lệnh giám sát chặt chẽ toàn bộ khu vực và tất cả các ngồi nhà quanh đây, thứ đến là xác định thêm một lần nữa, dù gián tiếp, cái cớ vô tội của mình trong việc Cờ-lao-xơ mất tích.
Sơ-tiếc-lít đi sang gian bên. Trên phố In-va-lít vẫn trống trải như cũ. Đến đây, anh dừng lại bên cạnh một vật trưng bày hiếm có, tìm được từ thế kỷ mười tám ở khu rừng Vê-đen-sơ-lốt. Từ một mẩu gỗ lủng lẳng, thò ra hai chiếc gạc hươu và một phần xương sọ bị bóp méo: chắc là khi mùa xuân đến, trong lúc đánh nhau để giành giật con hươu cái, con vật to lớn này đã lao quá mạnh, nhưng miếng đòn ác hiểm không giáng vào đối thủ, mà lại đâm thẳng vào thân cây...
Sơ-tiếc-lít nghe thấy nhiều giọng nói và tiếng chân bước - rất nhiều tiếng chân bước. Lúc đầu anh nghĩ rất nhanh: “Bị vây rồi”. Nhưng sau đó, thấy vang lên giọng nói trẻ em, anh liền quay lại: một cô giáo đi đôi giầy đàn ông đánh xi bóng lộn dẫn một đám học trò, có lẽ lớp sáu, đến đây học bài thực vật. Các em say sưa ngắm nghía các vật trưng bày và không ồn ào nữa, mà chỉ thầm thì trao đổi với nhau ra vẻ lo lắng.
Sơ-tiếc-lít nhìn các em học sinh. Mặt các em màu tro, mũi nhọn, cặp mắt mất vẻ ngây thơ, tinh nghịch rất đẹp của trẻ con. Các em lắng nghe cô giáo nói như những người lớn.
“Bọn phát xít đáng nguyền rủa dày xéo lên dân tộc Đức, - Sơ-tiếc-lít nghĩ. - Làm sao mà những tư tưởng u mê lại có thể dẫn trẻ em đến chỗ đói khát và già nua đáng sợ đến thế này? Tại sao ý thức hệ ngu ngốc của bọn quốc xã, bọn người náu mình trong các hầm ngầm bọc sắt, nơi có hàng kho sô-cô-la, cá hộp và pho-mát, lại đẩy những tấm thân mảnh khảnh của các em nhỏ này ra làm bia che đỡ? Và - điều đáng sợ nhất - kẻ nào đã giáo đục cho những đứa bé này một niềm tin mù quáng, rằng ý nghĩa cao cả nhất của cuộc sống là hy sinh cho lý tưởng của Quốc trưởng?”
Anh bước ra khỏi Viện bảo tàng, qua cửa phụ, vào lúc một giờ năm phút. Cạnh ô-ten không có một ai. Sơ-tiếc-lít, quay lui về đường bờ sông Sơ-pơ-re, vòng lại chỗ để xe và lái xe về cơ quan SĐ của mình. Trên đường trở về, anh cũng không nhìn thấy có kẻ nào bám đuôi anh.
“Câu chuyện này không như mình nghĩ, - anh tự nhủ. - Lạ thật! Nếu Boóc-man đợi chờ thì mình không thể không nhìn thấy hắn. Và dĩ nhiên cũng chẳng có cái đuôi nào, chẳng qua mình bị thần hồn nát thần tính đó thôi”.
... Trong khi đó, Boóc-man không thể bước ra khỏi hầm bọc sắt của Quốc trưởng: Hít-le đang đọc diễn văn: trong hầm rất đông người, mà y thì lại đứng ở phía sau, hơi nghiêng về phía bên trái Quốc trưởng. Y không thể bỏ đi giữa lúc Hít-le đang nói. Như thế là điên rồ. Y muốn bỏ về, y đã quyết định đi gặp người viết thư cho y. Nhưng mãi đến ba giờ chiều y mới được ra khói hầm bọc sắt.
“Làm thế nào tìm được người ấy bây giờ? - Boóc-man nghĩ bụng, trên đường trở về văn phòng đảng Quốc xã, - Mình không có gì liều lĩnh nếu đi gặp hắn, nhưng mình đã liều lĩnh khi bỏ lỡ cuộc gặp gỡ này”.
“D-8 gửi ngài Muyn-lơ.
“Tuyệt mật. Chỉ có một bản.
Chiêc ô tô nhãn hiệu “Khô-rếch”, số xe BKP 821 bứt khỏi việc theo dõi ở khu vực phố Vê-tê-ran. Mọi dấu hiệu đều chứng tỏ người lái xe đã nhận ra chiếc xe theo dõi… Theo lời dặn của ngài, chúng tôi không bám theo chiếc “Khô-rếch” nữa, mặc dù động cơ được tăng cường của chiếc xe chúng tôi cho phép chúng tôi làm như vậy. Sau khi thông báo cho Cục H-2 về hướng đi của chiếc “Khô-rếch” BKP 821, chúng tôi trở về căn cứ xuất phát. D-8.
“B-192 gửi ngài Muyn-lơ.
Tuyệt mật. Chỉ có một bản.
Tiếp nhận lệnh theo dõi chiếc xe nhãn hiệu “Khô-rếch”, số xe BKP 821, các nhân viên của tôi đã xác định được rằng, vào hồi 13 giờ 21 phút, chủ chiếc xe đó đã bước vào Viện bảo tàng Tự nhiên học. Vì được ngài dặn trước về trình độ nghề nghiệp thành thạo của đối tượng được theo dõi, tôi đã quyết định không đưa một, hai khách tham quan vào Viện bảo tàng để bám đuôi hắn. Điệp viên In-de của tôi được lệnh dẫn một tốp học trò lớp sáu vào học bài sinh vật trong Viện bảo tàng. Kết quả quan sát của In-de cho phép xác định chắc chằn rằng đối tượng kia không tiếp xúc với bất cứ ngườ lạ mặt nào. Tôi xin gửi kèm theo đây bản biều đồ những vật trưng bày mà đối tượng dừng lại xem lâu hơn những vật khác. Đối tượng rời Viện bảo tàng qua cửa phụ dành riêng cho các nhân viên Viện bảo tàng vào hồi 13 giờ 04 phút.
B-192.”
Muyn-lơ giấu báo cáo vào trong cặp rồi nhấc ống nghe lên.
- Muyn-lơ, - y trả lời. - Tôi nghe đây.
- Đồng chí Sê-len-béc xin gửi lời chào đồng chí Muyn-lơ, - Cục trưởng Cục tình báo chính trị nói đùa. - Hay là ông bạn thích tôi gọi ông bạn là “mi-xtơ” hơn?
- Tôi thích người ta gọi tôi là “Muyn-lơ” hơn cả, - kẻ cầm đầu ghét-xta-pô đáp. - Nghe có vẻ kiên quyết, khiêm tốn và ý nhị... Tôi nghe anh bạn nói đây.
Sê-len-béc lấy bàn tay che ống nghe và nhìn Sơ-tiếc-lít. Anh nói:
- Vâng, cứ hỏi thẳng. Nếu không, ông ta sẽ chuồn đi như một con cáo...
- Ông bạn ơi, - Sê-len-béc nói, - Sơ-tiếc-lít có đến chỗ tôi, ông bạn có lẽ còn nhớ anh ấy chứ? Nhất định rồi. Anh ấy đang bối rối, không rõ bọn tội phạm nào theo sát anh ấy, mà anh ấy chỉ sống có một mình ở giữa rừng, hay là anh ấy bị người của ông bạn bám đuôi. Ông bạn có thể giúp chúng tôi xác định việc đó hay không?
- Anh ấy đi xe gì? - Muyn-lơ hỏi và lấy hai bản báo cáo từ trong cặp ra.
- Xe anh nhãn hiệu gì? - Sê-len-béc lại lấy tay che ống nghe, hỏi.
- “Khô-rếch”.
- Anh đừng có che ống nghe lại đi, - Muyn-lơ nói, - Hãy đưa ống nghe cho Sơ-tiếc-lít xem nào.
- Sao vậy, ông bạn nhìn thấy mọi chuyện ư? Mắt ông là mắt thần chắc? - Sê-len-béc hỏi.
- Đương nhiên.
Sơ-tiếc-lít cầm lấy ống nghe và nói:
- Hai-lơ Hít-le!
- Chào anh bạn, - Muyn-lơ đáp, - Có phải xe anh mang biển số BKP 821 không?
- Đúng thế, thưa ngài thượng tướng.
- Họ bám đuôi anh từ chỗ nào? Phố Cuốc-phua phải không?
- Không phải, phố Phơ-ri-đơ-rích ạ.
- Anh bít đuôi ở phố Vê-tê-ran chứ gì?
- Thưa đúng là như vậy.
- Anh nhìn thấy họ à?
- Dĩ nhiên.
Muyn-lơ cười phá lên:
- Tôi sẽ vặn cổ chúng nó đi, thế mà cũng đòi làm ăn. Đừng lo, Sơ-tiếc-lít ạ, không phải bọn tội phạm bám đuôi anh đâu. Anh cứ bình tĩnh mà sống trong khu rừng của anh. Đó là người của chúng tôi đấy. Họ theo dõi một chiếc xe “Khô-rếch” của… một gã người châu Nam Mỹ... giống chiếc xe của anh. Anh hãy tiếp tục sống như anh đã sống, nhưng nếu như, trái với sự mong đợi, người ta lại lẫn anh với gã người Nam Mỹ mà báo cáo với tôi rằng anh đến uống rượu ở quán “Xư-gôi-na-ken-le” trên phố Cu-đam, thì tôi sẽ không che chở cho anh nữa đâu…
“Xư-gôi-na-ken-le” (“Nhà hầm Di-gan”) là một quán rượu nhỏ, nơi có lệnh cấm các quân nhân và đảng viên quốc xã lui tới.
- Nhưng nếu như tôi có việc phải tới đó thì sao ạ? - Sơ- tiếc-lít hỏi.
- Cũng vậy thôi, - Muyn-lơ cười khẩy, - nếu anh muốn hẹn hò với người của anh tại các cống ngầm, thì tốt hơn cả là anh nên đến quán rượu “Mê-hi-cô”.
Đó là quán rượu “khôn ngoan” của Muyn-lơ, nơi hoạt động của tổ chức phản gián. Sơ-tiếc-lít được biết điều đó qua Sê-len-béc. Dĩ nhiên, Sê-len-béc không có quyền tiết lộ điều đó: đã có mật lệnh cấm các quân nhân và đảng viên quốc xã lui tới quán rượu này, bởi vậy, những tay bẻm mép cứ tưởng là ở đó hoàn toàn vô sự, không ngờ mỗi chiếc bàn đều có gắn máy nghe trộm của ghét-xta-pô.
- Vậy thì xin cảm ơn ngài, - Sơ-tiếc-lít đáp. - Nếu ngài cho phép, tôi sẽ ấn định cho người của tôi gặp tôi ở đúng quán rượu “Mê-hi-cô”. Nhưng nếu họ định tóm cổ tôi, tôi sẽ đến nhờ ngài giúp đỡ.
- Mời anh cứ đến. Tôi rất vui mừng đón tiếp anh, anh bạn ạ. Hai-lơ Hít-le!
Sơ-tiếc-lít trở về nhà với cảm giác lẫn lộn: nói chung, anh tin lời Muyn-lơ, bởi vì y chơi trò này không chút úp mở. Nhưng y có chơi quá công khai không nhỉ? Giữ sao cho đúng mức là vấn đề của mọi vấn đề trong bầt kỳ công việc gì. Đặc biệt trong công tác tình báo. Đôi khi, ngay một sự nghi ngờ quá mức lại khiến cho Sơ-tiếc-lít thấy ít nguy hiểm hơn là sự thành thực có thừa. Đề phòng bất trắc, tối nay anh sẽ dùng chiếc xe công đi làm một việc hệ trọng.
“Véc-ne gửi ngài Muyn-lơ.
Tuyệt mật. Chỉ có một bản.
Hôm may, hồi 19 giờ 42 phút, đồi tượng cho gọi chiếc xe công mang biển BKH 441 đến và đề nghị người lái xe đưa ông ta tới bến xe treo1 “Mít-li-pơ-lát”, Đến đó, ông ta xuống xe. Mọi cố gắng phát hiện ra đối tượng ở các bến xe khác đều không có kết quả.
Véc-ne”.
Muyn-lơ cất báo cáo ấy vào chiếc cặp nhàu rách, đựng những hồ sơ bí mật và quan trọng nhất của mình, rồi y lại tiếp tục nghiên cứu các tài liệu về Sơ-tiếc-lít. Y dùng bút chì đỏ đánh dấu doạn nói rằng, những lúc rỗi rãi, đối tượng thích đến xem các viện bảo tàng. Đoạn ấy cũng nói rằng thỉnh thoảng Sơ-tiếc- lít có ấn định cho các điệp viên của mình tới gặp mình ở đó.
“Một nhân vật đáng chú ý, thông minh và hết sức lý thú, - Muyn-lơ nhận xét về Sơ-tiếc-lít, - Mình không ngờ người của Can-ten-bơ-ru-ne lại thông thái đến như vậy. Anh ta làm việc đó dăm năm nữa sẽ thành một Phu-sê2 chính cống chứ không phải loại thường.”
1. Loại bến xe nằm trên đường chạy ở phía trên mặt đất.
2. Giô-dép Phu-sê (1759 - 1820), Bộ trưởng cảnh sát Pháp trong các thời kỳ 1799 - 1802, 1804 - 1810, 1815. Kẻ xây dựng hệ thống mật vụ tình báo, chỉ điểm rộng lớn. Một kẻ hám danh vô nguyên tắc, phục vụ khi thì chế độ cộng hòa, khi thì Na-pô-lê-ông I, khi thì dòng Buốc-bông. Khi phục vụ chế độ này, Phu-sê bán rẻ chế độ kia.
Chương 9
Thượng tướng SS Các-lơ Vôn-phơ trao bức thư cho viên phi công riêng của Him-le.
- Nếu máy bay của anh bị đối phương bắn rơi, - hắn nói bằng giọng nói mềm mỏng của mình, - trong chiến tranh, mọi việc đều có thể xảy ra, - thì anh phải đốt bức thư này, trước khi tháo dù trên mặt đất.
- Tôi không thể đốt thư trước khi tháo dù, - viên phi công có tính cầu toàn trả lời, - bởi vì tôi sẽ bị kéo lê trên mặt đất. Nhưng việc làm trước tiên của tôi sau khi tháo dù sẽ là đốt bức thư này.
- Được, - Vôn-phơ mỉm cười, - ta hãy thỏa thuận với nhau về phương án đó. Tôi cần nói thêm rằng anh có nhiệm vụ đốt nó đi ngay cả khi máy bay của anh bị bắn rơi trên đất Đức.
Các-lơ Vôn-phơ có đủ mọi cơ sở để lo lắng, nếu bức thư này rơi vào tay bất cứ người nào khác, ngoài Him-le, thì số phận hắn coi như đến đó là chấm dứt.
Bây giờ sau, bức thư được trao đến tay Him-le,
“Thưa ngài Thống chế!
Ngay khi vừa quay về Ý, tôi đã lập tức phác thảo một kế hoạch gặp gỡ Đa-lét: không phải về phương diện tổ chức, mà về mặt chiến lược thì đúng hơn. Những tư liệu mà tôi nắm được ở đây cho phép tôi rút ra kết luận chủ yếu như sau: các nước Đồng minh cũng lo ngại không kém gì chúng ta về triển vọng thực tế của việc thành lập một chính phủ cộng sản ở Bắc Ý. Ngay cả khi chính phủ này chỉ được thành lập một cách tượng trưng, Mát-xcơ-va cũng sẽ có được một con đường chạy thẳng tới eo biển La Măng-sơ qua bọn cộng sản Ti-tô, với sự giúp đỡ của các lãnh tụ cộng sản Ý và của Mô-ri-xơ Tô-rê. Như vậy là xuất hiện một nguy cơ rất gần về việc thành lập một “vành đai bôn-sê-vích” chạy từ Ben-gơ-rát; qua Giên tới Can và Pa-ri.
Người giúp việc tôi trong chiến dịch này là Ê-u-ghen Đôn-man. Mẹ anh ta là một người Ý có những mối quen biết hết sức sâu rộng trong tầng lớp quý tộc thượng lưu, tầng lớp này thân Đức, nhưng chống chế độ quốc xã. Tuy nhiên, đối với tôi, hai khái niệm “nước Đức” và “chế độ quốc xã” không tách rời nhau, và bởi vì sùng bái nước Đức là thái độ chủ yếu của bà Đôn-man, cho nên tôi thấy nên dùng Ê-u-ghen vào việc hoạch định các chi tiết của chiến dịch, bởi lẽ chúng ta có thể cần đến các mối quen biết của mẹ anh ta trong kế hoạch tác động tương ứng tới phe Đồng minh.
Tôi quyết định và Đôn-man đã bắt đầu tiến hành, thông báo cho Đa-lét biết, qua đường dây liên lạc ở Ý, rằng ý nghĩa của cuộc đàm phán có thể xảy ra là ở chỗ: để cho phương Tây có thể kiểm tra toàn bộ miền Bắc nước Ý trước khi bọn cộng sản làm chủ tình thế. Thêm vào đó, chúng tôi cho rằng cần làm sao để sáng kiến không phải là của chúng ta: tôi cảm thấy sẽ hợp lý hơn, nếu phe Đồng minh có thể “dò biết” các ý định của tôi qua các nguồn điệp viên của họ. Bởi vậy, tôi đã ra lệnh cho Đôn-man tiến hành chiến dịch sau đây: theo hồ sơ của ghét-xta-pô chuẩn úy bộ đội xe tăng SS Ghi-đô Xim-le bị ghi vào sổ đen vì đã nhiều lần trò chuyện với những người dân Ý rằng chiến tranh đã thất bại và tình thế đã tuyệt vọng. Tại một bữa tiệc thân mật, nơi Đôn-man “tình cờ” tới dự, mãi đến gần sáng, khi mọi người đã nốc rượu say mềm, Đôn-man mới bảo Xim-le rằng anh ta đã kiệt sức vì cuộc chiến tranh vô nghĩa, đáng nguyền rủa này. Tin tức các điệp viên báo về cho phép tôi xác định rằng, ngay ngày hôm sau, trong lúc trao đổi với nam tước Lu-ít-gi Pa-rin-li, Xim-le đã nói rằng, một khi Đôn-man nói tới tính chất đáng nguyền rủa của chiến tranh, thì như thế nghĩa là Các-lơ Vôn-phơ cũng nghĩ như vậy, mà trong tay Vôn-phơ là số phận của toàn bộ miền Bắc nước Ý và toàn bộ quân đội Đức đóng tại đây. Lu-ít-gi Pa-rin-li trước đây là đại điện của công ty Mỹ “Ken-vi-lây-sơn Coóc-pô-rây-sơn”, và những sự tiếp xúc giữa ông ta với Mỹ ở đây ai cũng biết, mặc dù bao giờ ông ta cũng ủng hộ chế độ của Mút-xô-li-ni. Thêm nữa, bố vợ ông ta là một chủ nhà băng lớn ở Li-băng có quan hệ gắn bó cả với tư bản Anh lẫn tư bản Pháp. Buổi trao đổi giữa Xim-le với Pa-rin-li là lý do đủ để cho Đôn-man, sau khi mời Ghi-đô Xim-le tới một căn phòng bí mật, chìa cho anh ta xem tất cả những tài liệu tố giác anh ta. “Những cái này đủ để ngay bây giờ đưa anh lên giá treo cổ, - Đôn-man nói với Xim-le - điều duy nhất có thể cứu anh là anh phải thành thật chiến đấu cho nước Đức. Mà trong cuộc chiến đấu đó, các đòn ngoại giao thầm lặng cũng rất quan trọng.” Tóm lại, Xim-le đã đồng ý làm việc cho chúng ta.
Hôm sau, khi gặp nam tước Pa-rin-li, Xim-le nói với ông ta rằng, chỉ có thủ lĩnh SS ở nước Ý là Các-lơ Vôn-phơ mới có thể cứu miền Bắc nước Ý khỏi sự đe dọa của bọn cộng sản, - sự đe đọa này do bọn du kích hoạt động ở vùng rừng núi và ở khắp các thành thị trong nước gây ra, nhưng dĩ nhiên, Các-lơ Vôn-phơ chỉ có thể làm được điều đó một cách nhanh chóng và chắc chắn, nếu như ông ta cùng hành động với phe Đồng minh. Nam tước Pa-rin-li, người có những quyền lợi tài chính khổng lồ ở Tu-rin, Giên và Mi-lăng, đã chăm chú nghe Xim-le nói và đã đồng ý giúp chúng ta bố trí các cuộc tiếp xúc với các đồng minh phương Tây. Dĩ nhiên, Xim-le đã viết báo cáo về buổi trao đổi đó gửi cho tôi, và như vậy là toàn bộ chiến dịch từ giờ phút ấy đã được bảo hiểm - nó sẽ giống như một trò chơi được tiến hành với phe Đồng minh dưới sự kiểm soát của cơ quan SS, vì quyền lợi của Đức Quốc trưởng và của nước Đức.
Ngày 21 tháng hai, nam tước Pa-rin-li đáp máy bay sang Duy- rích. Ở đó, ông ta bắt đầu liên lạc với một người quen của ông ta tên là Mắc Uýt-man, Uýt-man đã giúp ông ta tiếp xúc với thiếu tá Vai-ben, một sĩ quan tình báo của Thụy Sĩ. Vai-ben đồng ý giúp việc bố trí các cuộc tiếp xúc giữa lực lượng SS với người Mỹ, lấy cớ là anh ta xuất phát từ lợi ích cá nhân của một người dân Thụy Sĩ. Vấn đề là ở chỗ Giên là một hải cảng chủ yếu do các hãng sản xuất Thụy Sĩ sử dụng. Nếu nước Ý rơi vào ách thống trị của bọn cộng sản, thì các hãng sản xuất của Thụy Sĩ cũng sẽ bị thiệt hại. Cần nói thêm rằng tôi đã điều tra và được biết thiếu tá Vai-ben từng tốt nghiệp hai trường đại học Ba-đen và Phờ-răng-phua ở Đức.
Trong câu chuyện với nam tước Pa-rin-li, Vai-ben nói rằng cần phải thận trọng đến mức tối đa, bởi vì anh ta đã liều mạng khi nhận giúp ta bố trí các cuộc tiếp xúc. Điều đó, theo lời anh ta, vi phạm sự trung lập của Thụy Sĩ, mà hiện nay vị trí của bọn Nga mạnh đến mức việc tiết lộ bí mật sẽ buộc chính phủ của anh ta loại bỏ anh ta và dồn toàn bộ tội lỗi lên đầu một mình anh ta. Pa-rin-li thuyết phục thiếu tá Vai-ben rằng, ngoài bọn Nga và bọn cộng sản ra, thì không một ai muốn điều bí mật này bị tiết lộ cả, “Bởi vì, - Pa-rin-li nói tiếp, - trong số chúng ta, tôi hy vọng không có bất cứ tên cộng sản nào, nói gì đến một tên Nga. Bởi vậy, ông khỏi phải lo tin tức bị rơi rụng”.
Theo tin báo của Vai-ben, một ngày sau khi nói chuyện với Pa-rin-li, anh ta đã mời A-len Đa-lét và người giúp việc của Đa-lét là Hê-véc-nít tới dự tiệc. “Tôi có hai người bạn muốn đề xuất một ý kiến hay, - Vai-ben nói, - nếu ngài muốn, tôi có thể giúp các ngài làm quen với nhau”. Song A-len Đa-lét trả lời rằng ông ta muốn gặp hai người bạn của Vai-ben muộn hơn một chút, nghĩa là sau khi người giúp việc của ông ta trao đổi với họ.
Vậy là Pa-rin-li đã gặp và trao đổi với Hê-véc-nít. Như tôi đã báo tin để Ngài rõ, tay Hê-véc-nít này không phải là con trai của Ê-gôn Hê-véc-nít, mà là con của Éc-hác phôn Sun-sơ Hê-véc- nít, giáo sư kinh tế học trường đại học Tổng hợp Béc Lanh. Sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ ở Phờ-răng-phua (nhân tiện nói thêm rằng, tôi nghĩ không biết có phải Vai-ben và Hê-véc-nít lần đầu tiên gặp nhau ở Đức hay không, bởi vì cả hai đều tốt nghiệp cùng một trường đại học), Hê-véc-nít liền sang Mỹ và bắt đầu làm việc trong các công-xéc ngân hàng quốc tế tại Niu Y-oóc, nơi chính A-len Đa-lét từng hoạt động.
Trong lúc nói chuyện, Pa-rin-li nêu câu hỏi: “Ngài có muốn gặp đại tá SS Đôn-man để thảo luận cụ thể hơn về vấn đề này và hàng loạt vấn đề khác hay không?”. Hê-véc-nít đã đồng ý với lời đề nghị đó, tuy rằng, theo ý Pa-rin-li, ông ta tỏ ra có phần nào nghi ngờ và thiếu tin cậy - một thái độ cơ hữu của những tay trí thức đi vào nghề tình báo - trước đề nghị đó.
Tôi đã ra lệnh cho Đôn-man sang Thụy Sĩ. Tại đó, bên hồ Tri-a-xô, Đôn-man đã được Uýt-man và Pa-rin-li đón tiếp. Khi họ tới Lu-ga-nô, và bước vào khách sạn nhỏ “Bi-an-ki”, như đã dặn ở nhà, Đôn-man tuyên bố: “Chúng tôi muốn thương lượng với các nước Đồng minh phương Tây để phá tan kế hoạch của Mát- xcơ-va định thành lập chính phủ cộng sản ở Bắc Ý. Nhiệm vụ ấy buộc chúng tôi vứt bỏ những sự khó chịu trước đây để nghĩ đến ngày mai, sau khi xóa sạch toàn bộ nỗi đau của ngày hôm qua đối với cả hai bên. Hòa bình phải công bằng và xứng đáng”.
Uýt-man trả lời rằng những cuộc thương lượng duy nhất có thể có là những cuộc thương lượng về sự đầu hàng vô điều kiện.
“Tôi không bao giờ chịu phản bội, - Đôn-man nói, - và lại, cũng không một ai ở Đức chịu như thế cả”.
Tuy Uýt-man khăng khăng giữ quan điểm “đầu hàng vô điều kiện”, song ông ta vẫn tiếp tục trao đổi, mặc dù bắt gặp thái độ phản đối cứng rắn của Đôn-man. Thái độ này đã được tôi và Đôn-man chuẩn bị sẵn ở nhà.
Kế đó, người giúp việc của A-leni Đa-lét là Pôn Bờ-lum đã ngắt lời Uýt-man và tham gia cuộc trao đổi. Chính Pôn Bờ-lum đã nói tên họ hai nhà lãnh đạo phong trào kháng chiến Ý là Phéc-ru-tri Pác-ri và U-xơ-mi-a-ni với Đôn-man. Hai người này đang bị chúng ta giam giữ. Họ không phải là cộng sản, và điều đó cho phép chúng ta kết luận rằng, cũng như chúng ta, người Mỹ rất lo ngại về hiểm họa cộng sản ở Ý. Phía Mỹ cần đến những anh hùng của Phong trào kháng chiến không phải là cộng sản, những người khi cần có thế cầm đầu một chính phủ trung thành với các lý tưởng của phương Tây.
“Nếu hai người ấy được trả lại tự do và được đưa sang Thụy Sĩ, - đại diện của Đa-lét nói, - thì chúng ta có thể tiếp tục gặp nhau”.
Khi Đôn-man trở về gặp tôi, tôi hiểu rằng những cuộc đàm phán đã bắt đầu, bởi vì không thể giải thích yêu cầu trả lại tự do cho hai người Ý kia theo bất cứ cách nào khác. Đôn-man đưa ra giả thuyết rằng Đa-lét đang chờ sự có mặt của tôi tại Thụy Sĩ. Tôi đã tới gặp Thống chế Két-xen-rinh. Sau năm tiếng đồng hồ trao đổi, tôi rút ra kết luận rằng thống chế đồng ý một sự đầu hàng trong danh dự, mặc dù Két-xen-rinh không trực tiếp hứa hẹn điều gì, có lẽ vì xưa nay người ta vẫn ngại nói chuyện thành thật với đại diện của cơ quan an ninh.
Hôm sau, Pa-rin-li đến thăm tôi tại một căn phòng bí mật bên hồ Gác-đa và đã thay mặt Đa-lét chuyển lời ông ta mời tôi sang Dny-rích họp bàn. Như vậy là ngày kia tôi sẽ sang Thụy Sĩ. Nếu đó là một cái bẫy, tôi sẽ đưa ra một lời tuyên bố chính thức về sự bắt cóc. Còn nếu như đó là buổi đầu đàm phán, thì tôi sẽ báo tin để Ngài rõ trong bức thư sau mà tôi sẽ gửi đi, ngay khi về đến hành dinh của tôi.
CÁC-LƠ VÔN-PHƠ của Ngài”.
Bác sĩ trưởng của bệnh viện mang tên Cốc 1 bị chết vì bệnh liệt não. Anh ruột ông này là giáo sư Pơ-lây-sơ-ne, nguyên phó giám đốc trường đại học Tổng hợp Kin-lơ, sau khi bị giam giữ ở trại tập trung Đa-khao, đã trở về nhà với thái độ lặng lẽ, với nụ cười gượng gạo, vâng chịu trên môi. Vợ ông đã bỏ ông ngay sau khi ông bị bắt được ít lâu. Họ hàng của chị ta đòi phải như vậy, bởi vì Gu-gô phôn En-xơ, em trai của bà vợ Pơ-lây-sơ-ne, mới được bổ nhiệm làm cố vấn cho Nây-rát về các vấn đề kinh tế ở sứ quán Đức tại Tây Ban Nha. Con người trẻ tuổi này được xem là có nhiều triển vọng, ngay các nhân viên trong bộ máy của đảng Quốc xã ở địa phương cũng muốn làm thân với gã, bởi vậy hội nghị gia đình đặt ra trước bà vợ Pơ-lây-sơ-ne một sự lựa chọn: hoặc từ bỏ kẻ thù của quốc gia, tức chồng chị ta; hoặc nếu như chị ta coi trọng toàn bộ quyền lợi ích kỳ của mình hơn, thì chị ta sẽ bị toàn bộ gia đình ruồng bỏ, và tất cả bà con họ hàng ruột thịt - anh chị em, chú bác, cô dì - sẽ công khai đăng báo tuyên bố từ bỏ hoàn toàn chị ta.
Bà vợ Pơ-lây-sơ-ne trẻ hơn ông mười tuổi - chị ta bốn mươi hai. Chị ta rất yêu chồng. Hai người đã cùng nhau đi du lịch châu Phi và châu Á. Tại đó, giáo sư tiến hành công tác khai quật và tham gia đoàn khảo cổ do Viện bảo tàng Béc Lanh “Péc-ga-mông” tổ chức vào mùa hè. Lúc đầu, chị ta không chịu bỏ chồng, và nhiều người trong họ hàng của chị ta, một dòng họ trong vòng một trăm năm gần đây có nhiều quyền lợi gắn liền với việc buôn bán vải sợi, đã đòi phải đăng báo tuyên bố từ bỏ chị ta. Các ông già bà cả trong dòng họ đòi phải làm như vậy, lấy cớ là chế độ mới và đảng Quốc xã không muốn cho những người xuất thân từ các dòng họ tư sản và thương gia làm ăn tấn tới cho lắm. Mà việc buôn bán không thể tách khỏi chế độ mới được. Trong khi đó một cương vị ở Bộ Ngoại giao của Chính phủ mới, hơn nữa lại là chức cố vấn kinh tế ở Tây Ban Nha, rõ ràng sẽ tạo điều kiện cho công ty triển khai việc buôn bán tới vùng Pi-rê-nê. Tuy nhiên, Gu-gô phôn En-xơ đã can ngăn họ hàng đừng làm cái việc rắc rối đó một cách công khai. Gã giải thích: “Việc đó sẽ bị kẻ thù của chúng ta lợi dụng ngay. Lòng ghen tức của người đời ghê gớm lắm. Câu chuyện tai tiếng ấy chỉ bất lợi cho tôi. Tốt nhất là chúng ta hãy tiến hành mọi việc một cách lặng lẽ và thận trọng.”
Gã dẫn một anh bạn của gã ở câu lạc bộ vận động viên thuyền buồm đến chơi nhà bà vợ Pơ-lây-sơ-ne. Tay thanh niên ba mươi tuổi điển trai ấy tên là Ghết. Người ta vẫn đùa hắn: “Ghết này không phải là Béc-li-khin-ghen” 2. Hắn đẹp trai bao nhiêu thì cũng ngu ngốc bấy nhiêu. Gu-gô biết rằng hắn sống bằng tiền bạc của các bà phụ nữ luống tuổi. Ba người ngồi trong một tiệm ăn nhỏ và quan sát thái độ cư xử của Ghết, Gu-gô phôn En-xơ cảm thấy yên tâm. Hắn ngu ngốc thật đấy, nhưng tài tán gái thì vào loại mẫu mực, đúng bài bản, mà Ghết đã định bập vào ai thì ả đó đừng hòng thoát. Hắn lặng thinh, cau có và rất đường hoàng, chững chạc. Hắn kể một, hai chuyện tiếu lâm. Rồi hắn nhã nhặn mời bà vợ Pơ-lây-sơ-ne ra nhảy. Quan sát họ, Gu-gô thấy yên tâm: chị gã mỉm cười, còn Ghết thì cứ ôm riết chị hắn mỗi lúc một chặt hơn và thỉnh thoàng lại thì thầm nhỏ to bên tai chị ta.
Hai ngày sau, Ghết đến ở nhà giáo sư. Hắn sống ở đó một tuần lễ, cho đến lúc bọn cảnh sát sắp đi kiểm tra hộ khẩu. Bà vợ Pơ-lây-sơ-ne tới gặp Gu-gô khóc lóc: “Cậu hãy trả anh ấy về cho chị. Không sống với anh ấy, chị không chịu nổi đâu”. Hôm sau, chị ta nộp đơn xin ly dị chồng. Đó là một đòn nặng giáng vào giáo sư, vì ông vẫn tưởng rằng vợ ông là người ý hợp tâm đầu với ông. Ông không chia sẻ lòng căm thù của mình đối với chế độ quốc xã của bọn bạo chúa ngu ngốc với bất cứ ai, ngoài vợ ông ra. Tuy bị đau đớn trong tù, ông vẫn cho rằng lòng căm thù đó sẽ bảo vệ sự thành thật của vợ ông và cho phép vợ ông tự do suy nghĩ theo ý muốn.
Một đêm, Ghết hỏi chị ta: “Chắc chồng em làm cho em thích hơn phải không?”. Chị ta khẽ cười và ôm chặt lấy hắn, trả lời: “Ồ, anh yêu quý... Lão ta chỉ biết nói là giỏi thôi...”
Sau khi được trả lại tự do, Pơ-lây-sơ-ne không trở về Kin-lơ, mà đến Béc Lanh. Người em của ông có liên lạc với Sơ-tiếc-lít đã giúp ông vào làm việc ở viện bảo tàng “Péc-ga-mông”. Tại đây, ông làm việc ở Ban Cổ Hy Lạp. Chính đó là nơi Sơ-tiếc-lít thường hẹn các điệp viên của, anh tới gặp, bởi vậy, anh hay ghé vào thăm Pơ-lây-sơ-ne, và cùng ông dạo bước hồi lâu qua các phòng lớn trống trải của Viện bảo tàng “Péc-ga-mông”kỳ diệu. Pơ-lây-sơ-ne biết rằng thế nào Sơ-tiếc-lít cũng sẽ đứng ngắm thật lâu bức tượng “Cậu bé nhổ dằm”, ông biết rằng Sơ-tiếc-lít sẽ đi quanh bức tượng Xê-da mấy lần, bức tượng này làm bằng đá đen, đôi mắt trắng dã và điên dại của Xê-da thì làm bằng một chất khoáng trong suốt lạ lùng. Giáo sư tổ chức buổi đi dạo đó thế nào để Sơ-tiếc-lít có thể dừng chân lại lâu hơn bên các bức tượng cổ đại tạc hình người có nét mặt sầu thảm, vui cười hoặc thông thái. Giáo sư không biết rằng khi về đến nhà, Sơ-tiếc-lít thường đứng soi gương khá lâu trong buồng tắm để tập thể hiện nét mặt như một diễn viên, Sơ-tiếc-lít cho rằng một người tình báo nên học cách thể hiện nét mặt. Người cổ đại nắm rất vững nghệ thuật đó.

Một hôm, Sơ-tiếc-lít đề nghị giáo sư cho mượn chiếc chìa khóa mở hòm kính đựng các bức tượng đồng đen mang từ đảo Xa-mốt về.
- Tôi có cảm giác rằng, - lúc ấy anh nói, - nếu tôi chạm tay vào báu vật linh thiêng đó, một điều kỳ diệu sẽ lập tức xảy ra và tôi trở thành một con người khác hẳn, một phần sự thông thái điềm tĩnh của người xưa sẽ nhập vào hồn tôi.
Giáo sư đem chìa khóa lại cho Sơ-tiếc-lít, và anh in dấu chiếc chìa khóa để làm một chiếc thứ hai. Ở đây anh đặt hộp thư bí mật bên dưới bức tượng một nữ thần.
Anh thích trò chuyện với giáo sư. Anh bảo ông ta:
- Nghệ thuật của người Hy Lạp với tất cả sự tài tình của nó quá ư mềm mại và phần nào ẻo lả. Người La Mã cứng rắn hơn nhiều. Có lẽ vì thế mà họ gần người Đức hơn. Người Hy Lạp quan tâm đến nét đại thể, đến tư tưởng, người La Mã rất chú trọng tính trọn vẹn về mặt lô-gích, do đó họ say sưa khai thác các chi tiết. Chẳng hạn, giáo sư hãy thử nhìn bức chân dung Mác-cơ A-vơ-rê-li mà xem. Ông ta là người anh hùng, là đối tượng cho người ta bắt chước, cho trẻ con noi theo.
- Các chi tiết về quần áo và cách xử lý chính xác phần nửa thân người phía trên quả có tài tình thật. Song ngài hãy nhìn kỹ nét mặt A-vơ-rê-li mà xem, - Pơ-lây-sơ-ne thận trọng phản đối. Từ ngày ở trại tập trung ra, giáo sư không còn thiết tranh luận nữa, lúc nào ông cũng mang trong lòng một sự phản đối thận trọng - tất cả chỉ có thế. Trước kia, ông hăng hái và say sưa đánh gục người nào phản bác ý kiến ông. Còn bây giờ ông chỉ đưa ra những lý do phản đối thận trọng. - A-vơ-rê-li có suy nghĩ gì đâu? Ông ta chỉ là bức tượng kỷ niệm sự vĩ đại của chính mình. Nếu ngài để ý theo dõi nền nghệ thuật Pháp cuối thế kỷ mười tám, ngài sẽ tin rằng chính Hy Lạp đã chuyển sang Pa-ri, En-la-đa vĩ đại đã tới với những người Gia-cô-banh thích tự do...
Một bận, Pơ-lây-sơ-ne níu anh lại bên các bức tranh tường vẽ hình nửa người nửa vật: đầu người, mình lợn lòi hung dữ.
- Ngài thấy thế nào? - Pơ-lây-sơ-ne hỏi.
Sơ-tiếc-lít không trả lời Pơ-lây-sơ-ne mà chỉ ậm à ậm ừ cho qua chuyện, vì anh thấy im lặng thì không nên, mà trả lời thẳng lại càng không ổn.
Một lần, Sơ-tiếc-lít bảo giáo sư, khi hai người dạo bước trong phòng Tơ-roa cổ đại:
- Các ổ cắm điện trên những bức tường này thật là trơ trẽn. Lẽ ra, ở đây phải thắp nến hay đèn chùm mới đúng. Như thế này là để cho cái xấu xa của thế kỷ hai mươi chen vào bi kịch cao cả của thời cổ đại…
Khi đi qua các phòng lớn trống trải của viện bảo tàng “Péc- ga-mông”, Sơ-tiếc-lít thường tự hỏi: “Tại sao những con người sáng tạo ra nền nghệ thuật vĩ đại nảy lại đối xử dã man với các thiên tài của mình đến thế nhỉ? Tại sao họ lại phá hủy, đốt cháy và quẳng xuống đất các tranh tượng? Tại sao họ lại lạnh lùng và tàn ác đối với tài năng của người nghệ sĩ và nhà nặn tượng như vậy? Tại sao chúng ta lại thu nhặt những mảnh vụn ngu ngốc, tội lỗi và dã man của họ còn để lại và đem dạy cho con cái chúng ta hiểu thế nào là cái đẹp qua những mảnh vụn ấy? Tại sao chính những người cổ đại lại dại dột trao các thần tượng sinh động của mình vào tay bọn dã man?”
...Sau khi Viện bảo tàng “Péc-ga-mông” bị không quân Anh ném bom hủy diệt, giáo sư Pơ-lây-sơ-ne không đi tản cư với tất cả các cán bộ khoa học. Ông đề nghị được ở lại Béc Lanh trông nom cái phần tài sản còn lại, dù là ít ỏi, của Viện bảo tàng.
Lúc này Sơ-tiếc-lít tới gặp giáo sư. Vì mất liên lạc, anh rất khổ tâm, phải cố tìm lối thoát. Bắt liên lạc qua một người hoạt động mò mẫm, kiểu như một “hòm thư”, người ấy không rõ mình đang làm gì, làm cho ai và vì mục đích gì, thì Sơ-tiếc-lít cho là việc làm thiếu khôn ngoan trong hoàn cảnh hiện nay.
Sơ-tiếc-lít nghĩ nhiều đến việc liên lạc với người đằng mình ở Thụy Sĩ - tất nhiên là nếu Sê-len-béc cử anh sang đó để tổ chức chiến dịch “che đỡ”“ tại chỗ với giám mục Sơ-lắc. Nhưng rất có thể là sau khi chuẩn bị toàn bộ chiến dịch, Sơ-tiếc-lít vẫn phải nằm ở Đức, còn vị giám mục thì sẽ do những người khác “điều khiển” tại Béc-nơ. Cũng có thể như vậy lắm, Sơ-tiếc-lít vẫn tiếp tục tìm cách gặp Boóc-man, vì hiểu rằng, nếu được Boóc- man ủng hộ, vấn đề anh sang Thụy Sĩ để “đích thân theo dõi cuộc đàm phán” coi như đã được giải quyết. Tuy nhiên, bất kỳ sự tiếp xúc nào với các công dân Liên Xô tại Béc-nơ cũng sẽ đưa toàn bộ chiến dịch đến thất bại hoàn toàn và không sao cứu vãn nổi, bởi vì mọi công dân Liên Xô tại đó đều bị tất cả các cơ quan tình báo của thế giới giám sát chặt chẽ.
Bởi vậy, anh cần đến một người mà anh có thể hoàn toàn tin cậy vào lòng thành thực của người đó. Anh tin vào sự thành thực của Pơ-lây-sơ-ne. Anh chỉ khống tin vào khả năng chịu đựng của vị giáo sư trong trường hợp ông bị bắt và bị bọn ghét-xta-pô hỏi cung thôi.
Thấy anh đến, Pơ-lay-sơ-ne vui mừng kéo anh vào tầng hầm của mình, đặt ấm đun cà-phê lên bếp điện và nói:
- Chưa bao giờ tôi nghĩ rằng, vắng ngài, tôi lại buồn đến thế. Tôi không biết nghề nghiệp của ngài, tôi chỉ biết ngài là bạn của cậu em quá cố của tôi, nhưng tôi rất thích khi ở bên cạnh ngài, ngài Sơ-tiếc-lít ạ.
- Cảm ơn giáo sư. Tôi còn thích ở bên giáo sư hơn kia. Giáo sư ở chỗ này có lạnh lắm không?
- Lạnh cứng cả chân tay lại. Nhưng ngài bảo còn biết làm gì được? Thử hỏi ai là người không bị lạnh lúc này?
- Ở hầm bọc sắt của Quốc trưởng ấm lắm, giáo sư ạ,
- Ồ, cái đó dễ hiểu thôi. Vị lãnh tụ phải sống ở nơi ấm áp chứ chẳng lẽ có thể so sánh nỗi lo lắng của chúng ta với những nỗi lo lắng, quan tâm của Người hay sao? Chúng ta là chúng ta, chúng ta chỉ nghĩ đến bản thân, còn Quốc trưởng nghĩ đến mọi người Đức!
Sơ-tiếc-lít đưa mắt nhìn khắp gian hầm một cách chăm chú. Ở đây không có một lỗ thông hơi, không thể đặt máy nghe trộm tiếng nói trong hầm này được. Bởi vậy, sau khi rít một hơi thuốc thật dài, anh nói:
- Thôi đủ rồi, giáo sư ạ... Một thằng điên đẩy hàng triệu người ra hứng bom đạn, còn chính hắn thì chui vào chỗ an toàn như một con chuột để ngồi xem chiếu bóng với phe lũ của hắn.
Mặt Pơ-lây-sơ-ne trắng bệch ra, đau đớn và Sơ-tiếc-lít lấy làm tiếc rằng anh đã nói câu ấy, rằng anh đã tới gặp ông già bất hạnh này để lo việc của anh.
“Tuy rằng việc này đâu phải là việc của mình? - anh nghĩ. - Đúng ra, đây là việc của họ, của những người Đức, do đó đây là việc của ông ta chứ. Mình làm thay họ cái việc mà lẽ ra chính họ phải làm mới đúng.”
- Thế nào, - Sơ-tiếc-lít giục, - giáo sư trả lời đi chứ… Giáo sư không đồng ý với tôi phải không?
Pơ-lây-sơ-ne vẫn im lặng,
- Thế này nhé, - Sơ-tiếc-lít nói, - người em của giáo sư và bạn của tôi là một chiến sĩ chống phát-xít... Một cán bộ hoạt động bí mật... Anh ấy đã giúp tôi. Giáo sư chưa bao giờ quan tâm đến nghề nghiệp của tôi: tôi là đại tá SS và tôi là người làm công tác tình báo.
Giáo sư vung tay như muốn che mặt đỡ đòn.
- Không, - ông nói. - Không và quyết là không! Em tôi không đời nào lại có thể làm một tên phá hoại! Không đời nào! - ông nhắc lại to hơn: - Không! Tôi không tin ngài.
- Anh ấy không phải là một tên phá hoại, - Sơ-tiếc-lít nói, - còn tôi thì đúng là đang làm công tác tình báo. Nhưng là tình báo Liên Xô...
Và anh chìa cho Pơ-lây-sơ-ne một bức thư. Bức thư ấy do người em giáo sư viết trước khi chết.
“Bạn. Cảm ơn tình cảm của bạn. Tôi đã học tập được ở bạn nhiều điều. Tôi học ở bạn cách yêu và vì tình yêu đó mà biết căm thù những kẻ buộc dân tộc Đức phải làm nô lệ. Pơ-lây-sơ-ne.”
- Anh ấy viết thế vì ngại bọn ghét-xta-pô, - Sơ-tiếc-lit giải thích khi lấy lại bức thư. - Chính giáo sư cũng hiểu đấy, chả lẽ những người bôn-sê-vích và quân Đồng minh lại muốn bắt dân tộc Đức làm nô lệ hay sao? Và như em giáo sư đã nói: chúng ta có nghĩa vụ phải căm thù chúng. Nhưng cũng có thể, chính Hít-le và bọn quốc xã đã đem lại ách nô lệ cho người Đức, có phải như vậy không, thưa giáo sư?
Pơ-lây-sơ-ne ngồi im lặng hồi lâu trong chiếc ghế bành to tướng kiểu cổ.
- Tôi ủng hộ anh, - cuối cùng giáo sư nói, - tôi hiểu... Anh có thế nhờ tôi làm tất cả mọi việc. Nhưng tôi có thể nói ngay với anh rằng; hễ bọn chúng lấy roi quật vào sườn tôi, thì tôi sẽ khai ra hết đấy.
- Tôi biết, - Sơ-tiếc-lít đáp. - Giáo sư muốn chết ngay bằng cách uống thuốc độc hay thích để bọn ghét-xta-pô tra tấn?
- Nếu không có cách thứ ba, - Pơ-lây-sơ-ne nở một nụ cười yếu ớt, - dĩ nhiên, tôi thích dùng thuốc độc hơn.
- Giáo sư cảm thấy thế nào, khi tôi nói cho giáo sư biết về tôi?
- Tôi cảm thấy nhẹ nhàng, dễ thở hơn, - Pơ-lây-sơ-ne trả lời. - Dễ thở hẳn lên. Lòng căm thù và sự bất lực trước đây khiến tôi bị ngạt thở.
- Vậy thì ta hãy cùng nấu cháo, - Sơ-tiếc-lít mỉm cười, - nấu một nồi cháo thật ngon.
- Tôi phải làm gì, hở anh?
- Không làm gì cả, cần phải sống. Và sẵn sàng làm những việc cần thiết vào bất cứ lúc nào.
- Vì ai?
- Vì nước Đức,...
- Vì ai kia?!
- Vì nước Đức, Tôi muốn nói đến nước Đức của dân tộc Đức, chứ không phải nước Đức của bọn quốc xã. Giáo sư đồng ý với tôi rằng hai khái niệm ấy hoàn toàn khác nhau chứ?
1. Rô-béc Cốc (1843 - 1910), nhà bác học Đức, một trong những người sáng lập môn vi sinh học. Ông đã tìm ra vi trùng lao, dịch tả. Được giải thưởng Nô-ben năm 1905.
2. Ghết phôn Béc-li-khin-ghen - nhân vật trong một tác phẩm thơ sử thi của Đức thế kỷ XIX.
Chương 10
Chào giám mục, - Sơ-tiếc-lít nói và nhanh chóng khép cửa lại. - Xin giám mục tha lỗi về việc tôi đến muộn. Ngài đã ngủ chưa ạ?
- Chào ông. Tôi ngủ rồi, nhưng mong rằng ông đừng ngại chuyện đó.
- Một lần nữa xin giám mục tha lỗi cho tôi.
- Ông cứ cho rằng tôi đã tha lỗi cho ông rồi đi. Mời ông vào trong này. Tôi thắp nến ngay đây.
- Vâng, thế thì tốt quá.
- Có chuyện gì chăng?
- Có.
- Mời ông ngồi.
- Cảm ơn. Ngài để tôi ngồi ở đâu đây?
- Đâu cũng được. ở đây, gần bếp, ấm hơn... Hay là ở chỗ kia... tuỳ ông.
- Hễ từ chỗ âm ra ngoài lạnh là tôi bị cảm ngay. Tôt nhất là lúc nào cũng ở một chỗ nhiệt độ không thay đổi. Thưa giám mục, có ai sống,ở nhà ngài bảy ngày vừa qua thế?
- Ông hỏi cung tôi chăng?
- Không phải thế.
- Nghĩa là tôi có thể không trả lời?
- Ngài phải trả lời.
- Nếu tôi tự chối?
- Ngài sẽ không từ chối.
- Tại sao?
- Sau khi ngài trả lời tôi, tôi sẽ giải thích cho ngài rõ tại sao.
- Có một người đã đến sống với tôi.
- Ai vậy?
- Tôi không biết.
- Người ấy không nói với ngài mình là ai hay sao?
- Không nói.
- Ngài cũng không cần biết ngườỉ ấy là ai à?
- Không cần. Anh ấy xin một chỗ trú chân, anh ấy đang mệt, cho nên tôi không thể chối từ.
- Ngài nói dối với tôi một cách hết sức tự tin. Như thế là tốt. Người ấy bảo ngài rằng hắn là một nhà mác-xít. Ngài đã tranh luận với hắn như với một người cộng sản. Hắn không phải là đảng viên cộng sản đâu, ngài giám mục ạ. Hắn không bao giờ là đảng viên cộng sản cả. Hắn là điệp viên của tôi, hắn là tên phá hoại làm việc cho bọn ghét-xta-pô.
- A, ra thế... Tôi đã nói chuyện với anh ta như với một con người. Anh ta là ai, đảng viên cộng sản hay nhân viên ghét-xta-pô, đối với tôi, điều ấy không quan trọng... Anh ta xin được cứu giúp... Tôi không thể từ chối anh ta...
- Ngài không thể từ chối anh ta, - Sơ-tiếc-lít nhắc lại, - và anh ta là ai, đảng viên cộng sản hay nhân viên ghét-xta-pô, đối với ngài điều ấy không quan trọng...
Nét mặt Sơ-tiếc-lít hầm hầm tức giận.
- Thế nếu như, vì cái việc ngài chỉ chú ý đến con người chung chung, con người trừu tượng, mà những con người cụ thể bị đưa lên giá treo cổ, thì điều đó có quan trọng đối với ngài hay không?!
- Vâng, nếu vậy thì điều đó quan trọng đối với tôi...
- Nếu như, nói thế này cho cụ thể hơn, em gái của ngài và các con của chị ấy bị đưa lên giá theo cổ đầu tiên, thì điều đó có quan trọng với ngài hay không?!
Giám mục đang ngồi trên ghế bỗng đứng dậy, xua tay và bước về phía Sơ-tiếc-lít.
- Đó là tội ác dã man.
- Ngài còn mắc tội nặng hơn, khi nói rằng trước mắt ngài là ai, đảng viên cộng sản hay điệp viên ghét-xta-pô, đều không quan trọng, - Sơ-tiếc-lít nói và ngồi xuống. - Hơn nữa, tội ác của ngài có tính chất giáo điều, cho nên lại càng nghiêm trọng. Mời ngài ngồi xuống‘và hãy nghe tôi nói. Câu chuyện giữa ngài với điệp viên của tôi đã được ghi âm. Không phải tôi mà là hắn làm việc đó. Tôi không biết rõ có chuyện gì đã xảy ra với hắn: hắn có gửi cho tôi một bức thư lạ lùng... Hơn nữa, người ta sẽ không tin lời hắn, nếu không có đoạn băng ghi âm mà tôi đã huỷ. Nói chung, người ta sẽ không trao đổi với hắn nữa, vì hắn là tay chân của tôi. Còn về phía em gái của ngài thì chị ấy sẽ bị bắt ngay khi ngài vừa vượt qua biên giới Thụy Sĩ.
- Nhưng tôi có định vượt qua biên giới Thụy Sĩ đâu.
- Ngài sẽ sang bên đó, và tôi sẽ lo cho em gái của ngài được an toàn.
- Ông cứ làm như ông có phép thần thông biến hoá ấy... Làm sao tôi có thể tin ông, khi mỗi lúc ông lại đóng một vai khác nhau?
- Ngài không thể làm gì khác, ngoài việc tin tôi, giám mục ạ. Và ngài sẽ phải sang Thụy Sĩ, dù chỉ là để cứu sống những người ruột thịt của mình. Ngài có đi hay không nào?
- Vâng, tôi sẽ đi. Để cứu sống họ.
- Tại sao ngài không hỏi xem ngài sẽ phải làm gì ở Thuỵ Sĩ? Ngài sẽ từ chối không sang đó, nếu tôi giao cho ngài việc đánh mìn phá nhà thờ, có phải thế không?
- Ông là người thông minh, chắc ồng biết rõ việc gì vừa sức, việc gì quá sức tôi...
- Đúng thế. Ngài thương tiếc nước Đức chăng?
- Tôi thương những người Đức.
- Được rồi. Ngài có cảm thấy rằng hoà bình tức khắc là lối thoát đối với những người Đức không?
- Đó là lối thoát đối với nước Đức...
- Ngụy biện, Ngụy biện ngài giám mục ạ. Đó là lối thoát cho người Đức, cho nước Đức, cho nhân loại. Chúng ta không sợ chết - chúng ta đã sống gần hết đời rồi, hơn nữa, chúng ta là những ông già cô đơn... Nhưng còn trẻ em!
- Tôi đang nghe ông đây.
- Ở Thụy Sĩ, ngài có thể tìm gặp được ai trong số những người cùng hoạt động với ngài trước đây trong phong trào hòa bình?
- Nền độc tài lại cần đến các chiến sĩ hoà bình ư?
- Không, nền độc tài đâu cần đến các chiến sĩ hoà bình. Các chiến sĩ hoà bình cần cho những ai biết đánh giá tình hình một cách tỉnh táo và hiểu rằng mỗi ngày tiếp tục chiến tranh là lại thêm những hy sinh vô ích.
- Hít-le chịu đàm phán hay sao?
- Hít-le sẽ không chịu đàm phán. Những người khác sẽ làm việc ấy. Nhưng nói chuyện đó lúc này hơi sớm. Trước hết, tôi cần được bảo đảm rằng, ở Thụy Sĩ, ngài sẽ liên lạc với những người có đủ uy tín. Cần đến những người có thể giúp ngài tiến hành đàm phán với đại diện các cường quốc phương Tây. Ai có thể giúp ngài làm việc đó?
Giám mục nhún vai:
- Nếu là tổng thống nước Cộng hoà Thụy Sĩ thì ông vừa lòng không?
- Không, không phải thế. Đó là con đường chính thức. Cách đó không ăn thua. Tôi muốn nói đến những nhà hoạt động Thiên chúa giáo có uy tín trên thế giới kia.
- Tất cả các nhà hoạt động Thiên chúa giáo đều có uy tín trên thế giới này, - giám mục nói, nhưng thấy nét mặt Sơ-tiếc-lít lại đột ngột thay đổi một lần nữa, ông vội nói thêm: - ở bên ấy tôi có nhiều bạn. Thật là ngây thơ nếu tôi hứa hẹn với ngài điều gì, nhưng tôi nghị rằng tôi có thể thảo luận vấn đề đó với các nhân vật quan trọng. Chẳng hạn với Bợ-ruy-ninh... Phương Tây rất kính trọng ông ta. Nhưng người ta sẽ hỏi tôi đại diện cho ai.
- Cho những người Đức, - Sơ-tiếc-lít trả lời gọn lỏn. - Nếu người ta hỏi ngài rằng cụ thể ai là người muốn tiến hành đàm phán, thì ngài hãy hỏi họ: "Thế cụ thể ai là người đại diện cho phương Tây trong cuộc đàm phán đó". Nhưng việc đó sẽ thông qua đường dây liên lạc mà tôi sẽ cho ngài biết...
- Thông qua cái gì? - Giám mục không hiểu.
Sơ-tiếc-lít mỉm cười giải thích:
- Mọi chi tiết chúng ta sẽ bàn sau. Điều quan trọng bây giờ là chúng ta thoả thuận với nhau về nguyên tắc.
- Nhưng lấy gì để bảo đảm rằng em gái tôi và các con của cô ấy sẽ không bị đưa lên giá treo cổ?
- Có phải tôi đã trả lại tự do cho ngài hay không?
- Đúng.
- Ngài tưởng việc đó dễ lắm hay sao?
- Tôi không nghĩ thế.
- Ngài có nghĩ rằng, với việc nắm trong tay băng ghi âm câu chuyện giữa ngài vối điệp viên của tôi, trông đó ngài chửi rủa Quốc trưởng, tôi có thể đưa ngài vào lò thiêu xác được chứ?
- Dĩ nhiên.
- Vậy thì tôi đã trả lời ngài rồi đấy. Em gái của ngài sẽ được an toàn. Tất nhiên, cho tối khi ngài vẫn làm tất cả những gì mà. nghĩa vụ của một con người nặng lòng thương yêu nhân dân Đức - thương yêu những, cụ già và trẻ em phải làm.
- Ông doạ tôi đấy à?
- Tôi căn dặn ngài đấy thôi. Nếu ngài làm khác đi, thì tôi không thể làm bất cứ việc gì để cứu ngài và em gái ngài được...
- Khi nào tất cả những chuyện đó phải xảy ra?
- Ngay khi nào cần.
- Vậy khi nào mới cần?
- Sắp rồi. Điều cuối cùng là, dù bất cứ ai hỏi ngài về câu chuyện giữa chúng ta, thì...
- Tôi sẽ im lặng.
- Tôi muốn tin ngài...
- Trong số hai người chúng ta bây giờ, ai là người liều lĩnh hơn?
- Theo ý ngài?
- Theo tôi, ngài liều lĩnh hơn.
- Đúng thế.
- Ông thành thực mong muốn hoà bình cho người Đức, hay sao?
- Đúng.
- Ông nảy ra ý nghĩ đem lại hoà bình cho mọi người đã lâu chưa?
- Biết nói thế nào với ngài bây giờ, - Sơ-tiếc-lít đáp, - tôi khó trả lời thành thật đến cùng, ngài giám mục ạ. Và tôi càng trả lời thành thực với ngài bao nhiêu, ngài lại càng có thể nghĩ rằng tôi muốn nói dối ngài bấy nhiêu.
- Nhiệm vụ cụ thể hơn của tôi sẽ là gì? Tôi có biết đánh cắp tài liệu và bắn lén đâu...
- Một là, - Sơ-tiếc-lít cười khẩy, - học cái đó cũng chóng thôi. Hai là, tôi không yêu cầu ngài biết bắn lén. Chẳng qua có thể tôi sẽ cần đến những sự quen biết của ngài mà thôi. Ngài sẽ nói với các bạn của mình rằng, qua các đại diện này nọ của hắn, - tôi sẽ nói tên họ cho ngài biết sau - Him-le chỉ muốn ngầm hại phương Tây. Ngài sẽ giải thích rằng đại diện này hay đại diện nọ của Him-le đều không thể mong muốn hoà bình, ngài sẽ chứng minh cho các bạn của mình thấy rằng kẻ đó là tên phá hoại đã mất hết uy tín ngay trong hàng ngũ ss. Ngài hãy nói rằng đàm phán với kẻ đó không những là chuyện ngu ngốc, mà còn tức cười... Ngài hãy một lần nữa nói với họ rằng đàm phán với lực lượng ss, với Him-le, là điên rồ. Ngài hãy nói với họ rằng, nên tiến hành đàm phán với những người khác, ngài sẽ nói họ tên những người thông minh hơn và có sức mạnh hơn... Nhưng chuyện đó cứ để lại, rồi chúng ta sẽ lo sau...
Trước khi ra về, Sơ-tiếc-lít hỏi:
- Ngoài người hầu của ngài ra, trong nhà không còn ai chứ?
- Người hầu cũng không có nhà, chị ta đã về quê thăm bà con họ hàng rồi.
- Tôi có thể xem xét ngôi nhà được không?
- Xin mời ông...
- Sơ-tiếc-lít đi lên tầng hai và đứng sau rèm nhìn ra phố: từ đây có thể nhìn suốt từ đầu đến cuối con đường chính của thị trấn này. Trên đường không một bóng người.
Bốn mươi phút sau, anh đã tới quán rượu "Mê-hi-cô": ở đó, anh hẹn gặp tên điệp viên của mình chuyên nghiên cứu vấn đề giữ gìn bí mật của "vũ khí trừng phạt". Sơ-tiếc-lít muốn làm vui lòng tên chỉ huy ghét-xta-pô để cho ngày mai hắn được nghe một câu chuyện thú vị giữa một tình báo viên quôc xã thông minh với một nhà bác học quốc xã thông thái: sau khi bọn ghét-xta-pô bắt giữ chuyên gia vật lý nguyên tử Run-gơ, Sơ- tiếc-lít không quên giữ mình một cách chu đáo từ tất cả mọi phía.
- Chào chị Kin... Công việc của chúng ta ra sao? Cháu bé thế nào?
- Cám ơn ông... Bây giờ cháu nó biết khóc rồi, nên tôi cũng yên tâm. Tôi cứ sợ vết thương của tôi làm cho cháu mất giọng chăng. Các bác sĩ đã khám cho cháu: hình như mọi chuyện vẫn đâu vào đấy thì phải.
- Lạy chúa. Con cái chúng ta thật là bất hạnh... Vừa mới đẻ ra đã gặp những chuyện đau lòng... Thế giới này đáng sợ quá... Mà này, tôi mang tin mới đến cho chị đây.
- Tin tốt lành chứ?
- Thời buổi này, mọi tin tức đều chẳng lành, nhưng đôi với chị thì tin này lành nhiều hơn dữ.
- Cảm ơn ông, - Kết nói. - Tôi sẽ không bao giờ quên lòng tốt của ông.
- Xin chị cho biết chị còn đau đầu nữa hay không?
- Đã đỡ hơn. ít nhất thì tôi cũng đã khỏi chóng mặt và thoát những cơn buồn nôn đáng sợ.
- Đó là những triệu chứng của chấn thương sọ não.
- Vâng. Nếu tóc tôi không dày, thì cũng chẳng còn thằng cháu này nữa. Mái tóc đã đỡ đòn cho tôi.
- Chị có mái tóc đẹp quá... Lần trước đến thăm chị, tôi ngắm mãi cũng không biết chán... Chị có dùng loại thuốc gội đầu đặc biệt nào không?
- Có. Ông cậu nhà tôi bên Thuy Điển có gửi cho loại bột Khơ-nạ của I-rãng và loại thuốc gội đầu rất tốt của Mỹ.
Đêm qua Kết đã hiểu rõ mọi điều. Chị điểm lại trong trí nhớ tất cả những câu hỏi mà người đại diện của Công ty bảo hiểm, đặt ra cho chị. Chị quyết định chìa cái chỗ được bảo vệ tốt nhất ra để đỡ đòn. Giả thuyết về ông cậu ở Xtốc-khôm vững chắc và đáng tin cậy hơn cả. Chị đã nghĩ ra mấy giả thuyết về chuyện chiếc va-li. Chị biết rằng đó là vấn đề gay go nhất. Kết cảm thấy nhức buốt hai bên thái dương, khi chị cô nghĩ xem giả thuyết của chị có sức thuyết phục hay không. Chị quyết định lảng tránh vấn đề đó bằng cách nêu lý do ốm đau, nếu hôm nay gã đàn ông kia đề cập đến nó. Chị định bụng xem xét gã đại diện "Công ty bảo hiểm" xử trí ra sao. Ông cậu ở Thuỵ Điển là vấn đề dễ nhất trong vụ này. Cứ để cho cả hai bên cùng trải qua một kỳ thi. Cái chủ yếu là chị phải nói trước...
- Nhân tiện chị nhắc đến ông cậu ở Thuy Điển... Ông ấy có số điện thoại ở Stốc-khôm không hở chị?
- Quả thực tôi không biết. Chưa thấy nhà tôi gọi điện thoại sang bên đó bao giờ...
Chị vẫn chưa tin rằng Ê-rơ-vin đã chết. Chị không thể tin điều đó được. Sau cơn đau đớn khủng khiếp đầu tiên, khi chị vật vã, quằn quại, nức nở, thì người hộ lý già nói với chị...
- Không nên thế, em ạ... Con trai tôi cũng thế đấy. Người ta cứ tưởng nó chết, thế nhưng nó lại đang nằm viện. Bây giờ thì tuy nó bị khập khiễng đấy, nhưng nó được ở nhà chứ không phải đi lính, nghĩa là nó sẽ sông...
Kết muốn lập tức gửi một mẩu giấy cho Sơ-tiếc-lít, nhờ anh tìm kiếm Ê-rơ-vin, nhưng chị hiểu rằng chị tuyệt đối không được phép làm như vậy. Chị cúng hiểu rằng chị không biết xoay sở ra sao, nếu mất liên lạc với Sơ-tiếc-lít. Bởi vậy, chị bắt mình không được nghĩ đến tình huống xấu nhất, chị ra lệnh cho mình phải nghĩ cách liên lạc với Sơ-tiếc-lít để anh tìm kiếm Ê-rơ-vin trong các bệnh viện. Và tất cả sẽ tốt đẹp, và chú bé con sẽ được dạo chơi với Ê-rơ-vin trên đường phô Mát-xcơ-va, khi cơn ác mộng này qua đi, và mùa xuân sẽ lại tới, mãi mãi sẽ là mùa xuân hay tròi ấm đầu thu với những cái mạng nhện vàng lơ lửng trong không trung, và hàng bạch dương sẽ vàng rượi, thanh cao, trong trắng....
- Công ty chúng tôi, - người đàn ông nói tiếp, - có thể giúp chị nói chuyện điện thoại với ông cậu, khi nào các bác sĩ cho phép chị đi lại. Chị biết đấy, dân Thuy Điển trung lập giàu lắm, nghĩa vụ của ông cậu là phải giúp đỡ chị. Chị cứ để cho ông ấy nghe qua ổhg nói tiếng kêu khóc của cháu bé là ông ấy sẽ xúc động ngay... Bây giờ thế này, chị Kin ạ... Tôi đã thoả thuận với ban giám đốc Công ty bảo hiểm rằng, vài ngày nữa chúng tôi sẽ trao cho chị một số tiền đầu tiên, mà không chờ đến lúc kiểm tra lại số tiền bảo hiểm của chị. Nhưng chúng tôi cần biết tên hai người bảo hiểm cho chị.
- Tên ai?
- Tên hai người có thể bảo đảm... Xin chị tha lỗi, tôi chỉ là nhân viên thi hành công vụ thôi, chị đừng giận - có thể bảo đảm sự thành thực của chị... Một lần nữa xin chị hiểu cho tôi...
- Nhưng ai người ta chịu bảo đảm như vậy?
- Chẳng lẽ chị không có bạn bè hay sao?
- Tôi không có những người bạn như thế...
- Thôi được... Thế chị có người quen chứ? Chị cần những người quen xác nhận rằng trước đây họ có biết chồng chị...
- Hiện nay họ vẫn biết chứ, - Kết chữa lại.
- Anh ấy còn sống à?!
- Còn sống.
- Anh ấy đâu? Anh ấy đã đến đây ư?
Kết lắc đầu.
- Không, anh ấy đang nằm ở một bệnh viện nào đó. Tôi tin rằng anh ấy còn sống.
- Tôi đã tìm kiếm...
- Ở tất cả các bệnh viện?
- Vâng.
- Cả các quân y viện?
- Tại sao chị lại nghĩ rằng anh ấy có thể nằm ở quân y viện?
- Nhà tôi là thương binh... Có hàm sĩ quan... Anh ấy bị ngất, người ta có thể chở anh ấy đến chỗ quân y viện...
- Bây giờ thì tôi yên tâm về chị rồi, - gã đàn ông mỉm cười. - Đầu óc chị minh mẫn lắm, và công việc rõ ràng đang tiến triển tốt. Càng mau bình phục chừng nào càng tốt chừng ấy: cần đưa cháu bé đi chơi. Bây giờ không khí thoáng loãng là liều thuốc hiệu nghiệm nhất. Còn tạm thời xin chị cho tôi biết tên một vài người quen nào đó của chồng chị, ngay ngày mai tôi sẽ thuyết phục họ bảo đảm cho chị.
Kết cảm thấy thái dương mình rần rật, tai ù đi. Cứ mỗi câu hỏi mới, thái dương lại nhức buốt thêm, thậm chí không phải chỉ nhức buốt, mà như bị một chiếc búa thép gõ vào vậy. Nhưng chị hiểu rằng im lặng, không trả lời lúc này - sau khi đã tránh né mọi câu hỏi cụ thể - tức là thất bại. Chị nhớ đến những ngôi nhà trên phố chị ở, nhất là những ngôi nhà bị phá huỷ. Dừng lại. Một lần, ông tướng về hưu tên là Nu-sơ có mang máy thu thanh quay đĩa đến nhờ Ê-rơ-vin chữa. Ông ta sống ở Răng-xơ-đoóc. Đúng rồi. Nhà ông ta ở gần hồ. Cứ để cho tên này đến hỏi ông ta.
- Xin, nhờ ông nói với vị tướng về hưu Phơ-rít Nu-sơ. Ông ấy sống ở khu phố Răng-xơ-đoóc, gần một cái hồ. Ông ấy là người quen cũ của nhà tôi. Lạy trời phù hộ để bây giờ ông ấy vẫn còn đối xử tốt với chúng tôi.
- Phơ-rít Nu-sơ, - gã đàn ông nhắc lại và ghi tên vào cuốn sổ của mình, - ở Răng-xơ-đoóc. Thế chị có nhớ tên phố không?
- Tôi không nhớ...
- Ở sở chỉ dẫn người ta có thể không cho địa chỉ của vị tướng ấy.
- Nhưng ông ấy già lắm rồi... Ông ấy có đánh nhau nữa đâu... Ông ấy đã ngoài tám mươi tuổi rồi.
- Ông ấy vẫn còn minh mẫn chứ?
- Ông bảo sao kia?
- Không, không... Chẳng qua tôi sợ ông già lẩm cẩm rồi... Giá tôi có quyền, thì tôi sẽ buộc tất cả những người trên bảy mươi tuổi thôi làm việc và đến ở một khu dành riêng cho các cụ già. Mọi điều độc ác trên đời này đều là từ các lão già mà ra.
- Ô, sao ông nói thế... Vị tướng này hiền lành lắm...
- Thôi được, còn ai nữa?
"Kể tên mụ Coóc-nơ chăng? - Kết nghĩ. - Nguy mất. Tuy vợ chồng chị có đến nghỉ đông ở nhà mụ, nhưng lại đem theo chiếc va-li. Mụ ta có thể nhìn ảnh và mà nhớ ra. Chứ không mình kể tên mụ ta ra thì tốt quá, chồng mụ là thiếu tá ss kia mà...".
- Ông hãy thử liên hệ với bà Ai-khe-bơ-ren-ne xem. Bà ấy sông ở Pốt-xơ-đam. Phố "Cối xay gió". Nhà riêng.
- Cảm ơn. Như thế cũng tàm tạm. Tôi sẽ cố gắng thuyết phục họ nhận bảo đảm cho chị, chị Kin ạ. Bây giờ còn một chuyện này nữa... Viên quản trị ở chỗ nhà chị có nhận ra, trong số những chiếc va-li tìm được, có hai chiếc của chị. Sáng mai, tôi với anh ấy sẽ đến đây, rồi trước mặt anh ấy và bác sĩ chúng ta sẽ mở hai chiếc va-li đó ra, có lẽ chị sẽ thấy một vài đồ dùng không cần thiết, tôi sẽ mang chúng đi đổi lấy quần áo lót cho cậu công tử nhà ta.
"Thế là rõ, - Kết tự nhủ. - Hắn đến đây chính là vì việc đó. Hắn muốn hôm nay mình cố tìm cách liên lạc với một người nào đó trong số bạn bè đây".
- Xin đa tạ ông, - chị nói. - Thượng đế sẽ đền ơn cho lòng tốt của ông. Thượng đế không bao giờ quên những người làm điều thiện...
- Chị theo đạo Lu-te?
- Không, gia đình tôi chỉ theo đạo Tin lành thôi.
- Còn tôi thì theo đạo Lu-te... Kể ra, điều đó không quan trọng, vì mỗi người phải mang hình ảnh thượng đế trong lòng. Và đây là điều cuối cùng... - Gã đàn ông chìa tờ giấy cho Kết. - Chị hãy ký vào lá đơn đề nghị Công ty trả ngay cho chị một số tiền. Đây, chị ký vào chỗ này. Cảm ơn. Chúc chị mau bình phục và chị hôn cháu hộ tôi...
Gã gọi người hộ lý vào phòng bác sĩ trực và dặn chị ta:
- Nếu cô ta nhờ chị gọi điện đi đâu hoặc nhờ chị chuyển lá thư cho ai, chị hãy gọi điện ngay lập tức cho tôi, đến cơ quan hay về nhà, lúc nào cũng được. Bất cứ lúc nào, - gã nhắc lại. - Còn nếu như có ai đến thăm cô ta, thì chị gọi số này nhé, - gã đưa số điện thoại cho chị, - họ chỉ ở cách chỗ chị vài chục mét thôi. Chị hãy cố giữ người khách đến thăm ấy bằng mọi cách. Bằng mọi cách, chị nhớ chưa?
Từ trong phòng làm việc bước ra, Sơ-tiếc-lít nhìn thấy người ta khiêng chiếc va-li của Ê-rơ-vin đi ngoài hành lang. Dù có hàng ngàn chiếc va-li bên cạnh, anh vẫn nhận ra nó, vì nó có đựng điện đài.
Sơ-tiếc-lít lơ đãng và chậm rãi đi theo hai gã đàn ông đang khiêng chiếc va-li. Họ vừa vui vẻ nói chuyện với nhau, vừa đưa chiếc va-li vào phòng làm việc của thiếu tá dự thẩm Rôn-phơ.
Dĩ nhiên Sơ-tiếc-lít không thể ngờ rằng ở phòng xét nghiệm người ta đã phát hiện vết tay của Kết chẳng những ở mặt ngoài của chiếc va-li, mà ở cả núm điều chỉnh âm thanh và hai ống nghe ê-bô-nít màu đen của điện đài...
Theo hai người kia đến cửa phòng làm việc của viên dự thẩm Rôn-phơ. Sơ-tiếc-lít thoáng nghĩ: có nên vào phòng viên thiếu tá ngay, hay chờ một lát đã. Toàn bộ cơ thể anh căng lên, và chưa kịp nghĩ thật kỹ cách xử sự, chỉ dựa vào cảm tính thì đúng hơn, anh lấy ngón tay trỏ xương xảu gõ vài tiếng ngắn vào cửa và bước ngay vào, không đợi Rôn-phơ trả lời.
- Anh định đi tản cư đấy à? - Sơ-tiếc-lít vừã cười vừa hỏi. Anh không chuẩn bị trước câu hỏi ấy, nó tự nảy ra trong óc anh và rõ ràng trong tình huống này nó là câu nói đúng đắn nhất trong tất cả những câu mà người ta phải ngẫm nghĩ hàng giờ mới ra.
- Không, đây là một chiếc máy phát.
- A... Anh sưu tầm đồ chơi đấy à? Thế ông chủ của nó đâu?
- Bà chủ thôi. Theo tôi nghĩ, ông chủ ngỏm mất rồi. Còn bà chủ thì đang nằm ở phòng cách ly của bệnh viện với một đứa con vừa đẻ.
- Với một đứa con vừa đẻ?
- Vâng. Và mụ ta bị mấy vết thương vào đầu.
- Anh định làm gì với một con mụ ốm đau như vậy? Làm sao có thể hỏi cung mụ ta trong tình trạng ấy...
Theo tôi, chính phải hỏi cung mụ ta trong tình trạng ấy mới tốt. Nếu không, ta còn dằng dai, chờ đợi đến bao giờ. Điều chủ yếu là cái thằng ngốc ở Vụ tôi đã chìa cho mụ ta xem bức ảnh chụp mấy chiếc va-li, trong số đó có chiếc này - và hỏi mụ tạ có nhận ra đồ dùng của mình hay không... May thay, mụ ta không thể chạy trốn đi đâu được: còn đứa con của mụ ở đây nữa, vả chăng cũng chẳng ai được bước vào chỗ khoa nhi... Tôi không nghĩ rằng mụ ta có thể bỏ con ở đây mà chạy trốn... Mà có quỷ sứ biết được chúng nó... Tôi đã quyết định đưa mụ ta đến đây trong ngày hôm nay.
- Khôn ngoan lắm, - Sơ-tiếc-lít tán thành. - Anh đã bố trí canh gác chưa? cần phải theo dõi xem mụ ta có thể tiếp xúc với ai...
- Có, chúng tôi đã gài hộ lý của mình vào đó và thay lão gác cổng bằng người của chúng tôi.
- Nếu vậy thì có nên đưa mụ ta về đây nữa hay không khéo lại làm hỏng toàn bộ trò chơi. Lỡ bỗng nhiên mụ ta tìm cách liên lạc với ai đó thì sao?
- Chính tôi cũng đang phân vân, tôi sợ mụ ta chợt hiểu ra. Anh biết bọn Nga rồi đấy. Phải tóm lấy chúng giữa lúc chúng đang ấm áp và yếu đuối kia...
- Tại sao anh nghĩ rằng mụ ta là người Nga?
- Vấn đề chính là từ chỗ đó mà ra. Mụ ta đã kêu rên bằng tiếng Nga trong lúc đẻ.
- Hiện giờ mụ ấy ở đâu?
- Ở bệnh viện "Sa-ri-tê". Nghĩa là, muốn đưa mụ đến đây thì chỉ mất mươi phút thôi.
Sơ-tiếc-lít vươn vai vừa đi ra cửa vừa nói:
- Nên mang mụ ta về đây ngay... Mặc dù việc ấy có thể làm hỏng toàn bộ chiến dịch... Vì nếu mụ ta tìm cách liên lạc với bọn ở ngoài, thì trò chơi sẽ rất thú vị. Anh tưởng lúc này người của mụ ta đi tìm mụ ở khắp các bệnh viện hay sao?
- Chúng tôi chưa tính hết giả thuyết ấy...
- Vậy thì hôm nay suy xét khả năng ấy cũng chưa muộn. Chúc anh mạnh khoẻ và thành công... - Ra đến cửa, Sơ-tiếc-lít quay lại nói thêm: - Vụ này rất hay! Hay lắm đấy! Cái chính là không nên vội vàng. Và tôi khuyên anh chưa nên báo cáo với cấp trên: các vị ấy mà làm việc khẩn trương thì khốn.
Đến lúc đã mở cửa ra, Sơ-tiếc-lít mới vỗ tay lên trán và cười to:
- Tôi trở thành một thằng ngốc lẩm cẩm mất rồi... Tôi đến anh để xin mấy viên thuốc ngủ, thế mà lại quên bẵng đi mất. Người ta bảo có loại ngủ của Thuy Điển tốt lắm...
Sơ-tiếc-lít biết rằng người ta thường nhớ câu cuối cùng hơn cả, anh tự rút ra điều đó tựa như một cách chứng minh toán học. Điều quan trọng là biết bắt đầu một câu chuyện cần thiết, nhưng quan trọng hơn là phải khôn khéo rút lui khỏi câu chuyện đó. Bây giờ, Sơ-tiếc-lít nghĩ, nếu người ta hỏi Rôn-phơ - có ai đến gặp hắn và gặp để làm gì - chắc chắn sẽ trả lời rằng Sơ-tiếc-lít đã ghé vào chỗ hắn xin thuốc ngủ Thụy Điển. Rôn-phơ cho đến một nửa số nhân viên ở Vụ này thuốc ngủ - ông cậu hắn chả là chủ hiệu thuốc.
... Lúc này, ở chỗ Rôn-phơ ra, Sơ-tiếc-lít giả bộ hầm hầm tức giận. Anh lên tầng trên gặp Sê- len-béc và nói:
- Thưa ngài thiếu tướng, tốt nhất là tôi báo cáo rằng mình bị ốm - mà tôi đang ốm thật đấy - để xin đi an dưỡng mười ngày, nếu không tôi đến gục mất...
Giờ đây, khi anh nói như thế với kẻ cầm đầu Cục tình báo chính trị, mặt anh tái nhợt hẳn đi. Và không phải chỉ vì số phận của Kết, và do đó, của cả anh nữa đang được quyết định. Anh hiểu rằng cái gì sẽ đến với chị ở đây: chỉ sau mấy giờ hỏi cung, bọn chúng sẽ kề súng lục vào gáy cháu bé mới sinh và doạ sẽ bắn chết em trước mặt người mẹ, nếu như người mẹ không chịu khai. Đó là thủ đoạn quen thuộc, cũ rích của Muyn-lơ. Chúng chưa bắn vào gáy em bé nào cả. Đâu phải vì tình thương - Bọn tay chân của Muyn-lơ còn làm những chuyện độc ác hơn thế nhiều. Chẳng qua là vì chúng thừa hiểu rằng, nếu bắn chết đứa bé, người mẹ sẽ phát điên và toàn bộ trò chơi của chúng sẽ đi đời nhà ma. thế nhưng, tác dụng của thủ đoạn đe doạ ấy lại không chê vào đâu được.
Mặt anh lúc này tái nhợt hẳn đi, không phải vì anh hiểu rõ những cực hình nào đang chờ đợi anh, nếu Kết khai ra anh. Thật đơn giản: anh đang đóng vai kẻ giận dữ, và tinh thần anh bắt thể xác anh phải tuân theo một cách chính xác, trọn vẹn, đến mức đạt tới một sự hài hoà mà chỉ các diễn viên bậc thầy mới tạo nên được. Một chiến sĩ tình báo thực thụ cũng gần giống một diễn viên hay một nhà văn. Anh ta sống theo các quy luật của họ: quy luật sáng tạo cái thật của mình. Có khác chăng là, nếu sự giả dối trong diễn xuất đe doạ người diễn viên bằng những quả cà chua thôi, sự giả dối và phi lô-gích sẽ trả thù nhà văn qua những lời châm biếm, khinh miệt của các nhà phê bình, thì người hoạt động tình báo phải trả bằng cái chết.
- Có chuyện gì vậy? Anh làm sao thế? - Sê-len- béc ngạc nhiên.
- Chưa đến nỗi chết ngất đi, nhưng theo tôi nghĩ, tất cả chúng ta đều sa vào nanh vuốt của Muyn-lơ. Hôm qua thì tôi được hưởng cái trò bám đuôi ngu ngốc ấy ở phố Phơ-ri-đơ-rích, hôm nay lại bị một vố cay hơn: họ tìm thấy một mụ đàn bà Nga với toàn bộ điện đài. Nhân vật này rõ ràng đã hoạt động rất tích cực. Tôi săn tìm cái đài phát ấy đã tám tháng ròng, thế mà không hiểu sao việc này lại rơi vào tay Rôn-phơ, một gã mù tịt về cái trò chơi điện đài cũng như tôi mù tịt về trò thông dâm giữa nữ giới với nhau vậy!
Sê-len-béc lập tức nhoài người cầm lấy ống nghe.
- Không nên, - Sơ-tiếc-lít nói. - Chả ăn thua gì đâu. Chỉ tổ gây ra tranh chấp giữa ngành tình báo và phản gián. Xưa nay vẫn thế. Xin ngài hãy ký lệnh cho tôi đến gặp mụ đàn bà Nga ấy ngay bây giờ, tôi sẽ đem mụ ấy về chỗ chúng ta và tiến hành hỏi cung, ít ra là lần đầu tiên. Có thể tôi hơi khoe khoang, nhưng chắc chắn tôi hỏi cung khá hơn Rôn-phơ. Rồi sau họ muốn quăng mụ ấy cho anh ta thì quẳng - đối với tôi, cái quan trọng là công việc, chứ không phải lòng tự ái.
- Anh đi đi, - Sê-len-béc nói, - còn tôi thì dầu sao cũng phải gọi điện cho ngài Thống chế.
- Ngài nên đến gặp Thống chế thì hơn, - Sơ-tiếc-lít nói. - Tôi không thích chuyện ầm ĩ này chút nào.
- Anh đi đi, - Sê-len-béc nhắc lại, - và cứ làm công việc của mình. Sau đó, chúng ta sẽ bàn đến chuyện lão giám mục. Chỉ một, hai ngày nữa là ta cần đến lão thôi...
- Tôi không thể cùng một lúc lo tròn hai việc.
- Anh lo được. Người hoạt động tình báo hoặc bó tay ngay lập tức, hoặc hoàn toàn không chịu đầu hàng. Trong một số rất ít trường hợp ngoại lệ, người của ta bị thất bại sau khi bọn tướng cướp Muyn-lơ áp dụng những phương pháp đặc biệt. Anh sẽ nắm được tất cả mọi chuyện trong mấy giờ đầu tiên. Nếu bà đầm Nga ấy im lặng, anh hãy giao cho Muyn-lờ để bọn họ suy nghĩ nát óc ra. Nếu cô ta nói, chúng ta sẽ xếp cô ta vào tài khoản thu của chúng ta và xoa mũi thằng cha xứ Ba-va-ri-a ấy.
Trong lúc tức giận, Sê-len-béc đã dùng danh từ ấy để gọi một trong những kẻ đáng ghét nhất đối với y là Muyn-lơ, têm cầm đầu cơ quan ghét-xta-pô.
Trong phòng khách, Sơ-tiếc-lít chìa huy hiệu ss của mình ra rồi đi tới phòng bệnh mà Kết đang nằm. Khi trông thấy anh, mắt chị mở to, nước mắt lập tức trào ra và chị ngả người về phía Sơ-tiếc-lít, nhưng anh sợ ở đây có đặt máy nghe trộm - hai ống thông hơi rất tiện lợi, cho việc đặt máy - nên anh nói luôn chứ không để Kết kịp nói một lời nào:
- Cô Kin, chuẩn bị đi. Cô đã thua cuộc rồi, mà người hoạt động tình báo biết phải thua cuộc thế nào cho xứng đáng. Tôi biết là cô sẽ phản đối, nhưng như vậy chỉ là ngu ngốc mà thôi. Chúng tôi đã tóm được bốn mươi bức điện mật của cô. Bây giờ người ta sẽ mang quần áo đến cho cô và cô sẽ đi với tôi. Tôi sẽ bảo đảm cuộc sống cho cô và con trai cô, nếu cô bằng lòng cộng tác với chúng tôi. Tôi không thể bảo đảm gì với cô được, nếu cô khăng khăng bướng bỉnh.
Sơ-tiếc-lít chờ người hộ lý mang quần áo và giày dép đến cho Kết. Tiếp nhận điều kiện trò chơi của anh, Kết nói:
- Có lẽ ông nên đi ra ngoài để tôi thay quần áo chăng?
- Không, tôi sẽ không bước ra, - Sơ-tiếc-lít đáp. - Tôi sẽ quay mặt đi và sẽ tiếp tục nói, còn cô hãy suy nghĩ để trả lời tôi.
- Tôi sẽ không trả lời ông, - Kết nói, - tôi chẳng có gì để trả lời ông cả. Tôi không hiểu có chuyện gì xảy ra, tôi còn yếu lắm. Tôi nghĩ rằng sự hiểu lầm này sẽ mau chóng trở nên sáng tỏ... Nhà tôi là sĩ quan, từng bị thương ngoài mặt trận.
Lúc này, Kết cảm thấy sung sướng lạ lùng. Chị đã gặp được người đằng mình, chị tin rằng từ nay các thử thách dù gay go, phức tạp đến mấy, cái đáng sợ nhất là sự cô đơn đã qua rồi.
- Thôi đi, - Sơ-tiếc-lít ngắt lời Kết, - máy phát của cô đang ở trong tay chúng tôi, các bức điện vô tuyến cũng vậy, chúng đã được giải mã, đó là những chứng cớ không thể chối cãi được. Chúng tôi chỉ yêu cầu cô một điều: cô hãy đồng ý làm việc cho chúng tôi. Và tôi khuyên cô, - anh nói và quay mặt về phía Kết, cố tìm cách ra hiệu cho chị bằng mắt và bằng nét mặt (mặt anh lúc này vẫn tái nhợt như trước) để chị hiểu rằng anh đang nói với chị một điều rất quan trọng, chị cần chú ý lắng nghe và hiểu, - cô hãy nhận lời đề nghị của tôi và, một là, kể hết tất cả những gì mà cô biết, dù những điều cô biết hết sức ít ỏi, hai là, bắt đầu làm việc ngay cho chúng tôi trong vòng hai, ba ngày sắp tới...
Anh hiểu rằng không thể nói chuyện được khi ngồi trong xe: nếu đã có xe theo dõi - dù Muyn-lơ bảo, đó chỉ là sự trùng hợp - thì bọn chúng hoàn toàn có thể lắp máy ghi âm ở đây lắm. Cho nên anh chỉ có thể nói đến điều chủ yếu nhất ở ngoài hành lang. Nhưng Kết chỉ có thể hiểu được điều chủ yếu nhất sau khi đã nghe anh nói ở đây. Anh chỉ còn hai phút trong lúc đi ngoài hành lang, anh đã nhẩm tính thời gian cho mình khi đi đến phòng bệnh này.
Người hộ lý bê đứa bé đến và nói:
- Đứa bé đã chuẩn bị xong...
Sơ-tiếc-lít thấy lòng anh thắt lại: và không phải chỉ vì lúc này đứa trẻ tí hon sẽ phải đến cơ quan ghét-xta-pô, đến nhà tù, đến nơi vô định, mà chính vì người hộ lý này, một con người bằng xương bằng thịt, chắc cũng là một người mẹ, lại lạnh nhạt đến khi nói mấy lời đáng sợ: "Đứa bé đã chuẩn bị xong...".
- Chị bế cháu thì nặng đấy, - người hộ lý nói, - để tôi mang nó ra xe.
- Không cần, - Sơ-tiếc-lít trả lời, - chị cứ đi đi. Bà Kin sẽ tự bế con lấy. Chị chú ý để không cho các bệnh nhân khác lấp ló ngoài hành lang.
Người hộ lý bước ra, Sơ-tiếc-lít mở cửa và để cho Kết đi trước. Anh đỡ tay chị để giúp chị bế con, nhưng sau thấy tay chị run run, anh liền bế lấy đứa bé.
- Nghe đây, Kết, - anh nói nhỏ, miệng vẫn ngậm thuốc lá, - chúng nó biết cả rồi...
- Anh vứt thuốc lá đi, kẻo khói làm cho cháu bé cay mắt, - Kết đề nghị.
- Không được, - anh đáp, - chỉ còn một phút nữa thôi. Đấy không phải là điều đáng sợ nhất trong tình thế này. Kết hãy lắng nghe. Chúng sẽ đưa tin để Kết điện về cho anh em ở nhà. Kết hãy mặc cả, đòi được bảo đảm, đòi chúng để Kết ở chung với con. Hãy khuất phục vì cháu bé, bọn chúng có thể nghe trộm chúng ta, cho nên ở phòng làm việc của tôi, Kết cứ đóng vai cho khéo. Kết không biết mật mã, và các bức điện vô tuyến của chúng ta không bị giải mã đâu. Người dịch mật mã là Ê-rơ-vin, Kết chỉ là nhân viên điện đài. Mọi việc còn lại cứ để đó tôi lo. Kết cứ bảo là Ê-rơ-vin thường đi gặp cấp chỉ huy tình báo ở khu phố Căng-tơ và Răng-xơ-đoóc. Gặp ai thì Kết không biết. Cứ bảo là có một ông ở Bộ Ngoại giao đến gặp Ê-rơ-vin. ở trong xe, tôi sẽ cho Kết xem ảnh ông ta. Hết. Rõ chưa?
Người ở Bộ Ngoại giao ấy là cố vấn vụ Đông âu Hai - nít Coóc-ne. Ông ta đã chết trong một tai nạn ôtô trước đây một tuần lễ. Lần theo các dấu vết giả ấy, bọn ghét-xta-pô sẽ phải mất mươi, mười lăm ngày. Mà bây giờ chỉ một ngày cũng quyết định nhiều chuyện lắm...
Năm tiếng đồng hồ sau, Rôn-phơ báo cáo với Muyn-lơ rằng mụ nhân viên điện đài người Nga đã biến mất khỏi bệnh viện "Sa-ri-tê". Muyn-lơ nổi khùng. Hai giờ sau, Sê-len-béc gọi điện tới chỗ y và nói:
- Chào ông bạn... Sơ-tiếc-lít đã chuẩn bị một món quà: anh ấy đã chở về ả nhân viên điện đài người Nga đồng ý làm việc cho chúng ta. Ngài Thống chế đã chúc mừng thành công mới của anh ấy.
Sơ-tiếc-lít biết rằng địch vẫn chưa khám phá được mật mã. Thực ra chúng không thể khám phá được, bởi vì nó là mật mã riêng của anh và bọn ghét-xta-pô không có chìa khoá để mở. Những bức điện Trung tâm gửi đến cho Sơ-tiếc-lít có chìa khoá khác mà nhân viên điện đài có thể không biết, còn người giải mã phải biết nó thì lại hoàn toàn im lặng, vì đã bị vùi dưới cả một toà nhà sụp đổ.
Ngồi ở phòng Sê-len-béc, nghe mấy câu nói dóc của y với Muyn-lơ vừa rồi, Sơ-tiếc-lít tự hỏi có đến lần một trăm: anh có quyền chở người bạn chiến đấu của mình Ca-chi-a Cô-dơ-lô-va, Kết Kin, En-ri-ke, về cái nhà tù ở đây không? Đúng, dĩ nhiên anh có thể để chị ngồi trong xe và chìa huy hiệu SĐ của mình ra mà chở chị tới Ba-ben-xơ-béc rồi sau đó tìm cho chị một căn phòng và cấp cho chị các thứ giấy tờ mới. Điều đó có nghĩa là, bằng cách cứu sống Kết, anh đã đặt cái chiến dịch mà Trung tâm khởi thảo, một chiến dịch có tầm quan trọng đối với hàng chục vạn người lính Nga, một chiến dịch có ảnh hưởng bằng cách này hay cách khác tới tương lai châu Âu, vào tình thế thất bại. Anh hiểu rằng, sau khi anh bắt cóc Kết khỏi bệnh viện toàn bộ lực lượng ghét-xta-pô sẽ được báo động. Anh cũng hiểu rằng, nếu việc chạy trốn trót lọt, dấu vết nhất định sẽ dẫn đến chỗ anh: nào huy hiệu cảnh sát mật, nào xe ôtô, nào đặc điểm nhận dạng. Nghĩa là anh cũng sẽ phải lui vào hoạt động bí mật. Cái đó không khác gì thất bại. Đối với Kết, ở trong bất cứ một ngôi nhà nào bề ngoài có vẻ đáng tin cậy nhất lại còn nguy hiểm hơn, - dù điều này hết sức ngược đời, - là đồng ý làm việc cho bọn ghét-xta-pô và ngồi trong một căn phòng bí mật của chúng. ở đấy, bọn địch đối xử khá dễ chịu đối với những điệp viên mà chúng mua chuộc được và chịu đồng ý làm việc chống lại ông chủ cũ của mình. Sơ-tiếc-lít hiểu rằng anh đang hết sức liều lĩnh. Anh hiểu rằng công việc đang đi tới chỗ chấm dứt, bởi vậy bọn đao phủ Muyn-lơ sẽ trở nên hung dữ và thủ tiêu tất cả những ai bị chúng giam cầm. Bởi vậy, anh nói với Kết để cho chị trước tiên phải đặt điều kiện: chị không còn gì gắn bó với nước Nga nữa, chồng chị đã chết, và từ nay trong bất cứ hoàn cảnh nào chị cũng không muốn rơi vào tay ông chủ cũ của mình nữa. Đó là phương án dự trữ, đề phòng trường hợp Kết vẫn bị đưa sang chỗ bọn ghét-xta-pô. Giá như Sơ-tiếc-lít biết rằng Kết sẽ luôn luôn do anh nắm thì anh đã chẳng lo sợ và tự hỏi: "Mình có quyền không?" hàng trăm lần như thế. Anh sẽ bố trí cho chị ở một "buồng vô tuyến" bí mật dưới sự bảo vệ của bọn ss và vào lúc cần thiết sẽ bố trí cho hai mẹ con chị trốn thoát mà không kẻ nào có thể tìm ra chị. Hiện nay, khi tình hình ngoài mặt trận cực kỳ bi đát, khi hàng triệu người lánh nạn đổ xô về thủ đô, bộ máy ghét-xta-pô vẫn tiếp tục làm việc một cách ăn ý và nhịp nhàng: cứ hai người lại có một người dò xét người kia, và đến lượt mình, người kia lại dò xét người tố giác mình. Chỉ có ai ngây thơ, không nắm vững cơ cấu tổ chức mật vụ của bọn Đức quốc xã mới có thể nghĩ rằng có thể dễ dàng trốn tránh trong biển nước đục lờ ấy.
Muyn-lơ ngồi nghiên cứu hồ sơ buổi hỏi cung đầu tiên đối với Kết ba tiếng đồng hồ liền. Y đối chiếu bản chép tay mà Sơ-tiếc-lít trao cho y với băng ghi âm lắp ở ổ điện ngay cạnh bàn làm việc của đại tá ss Sơ-tiếc-lít.
Câu trả lời của Kết trùng nhau hoàn toàn. Các câu hỏi của đại tá được ghi bằng lối tốc ký và hơi khác những điều anh nói với cô nhân viên điện đài người Nga.
- Dầu sao cũng phải thừa nhận rằng cái tay Sơ-tiếc-lít ấy làm việc cừ thật, - Muyn-lơ bảo Rôn- phơ. - Đây, ông hãy nghe xem anh ta chuẩn bị cho con bé ấy khéo đến mức nào.
Rồi Muyn-lơ mở máy ghi âm nghe giọng nói của Sơ-tiếc-lít.
- Tôi sẽ không nhắc lại với cô cái sự thật sơ đẳng là việc bắt giữ cô ở Mát-xcơ-va sẽ là bản án tử hình đối với cô. Người nào đã rơi vào tay ghét-xta-pô, kẻ đó phải chết. Người thoát khỏi bàn tay ghét-xta-pô, kẻ phản bội và chỉ là kẻ phản bội mà thôi. Đúng thế không nào? Đó là điểm thứ nhất. Tôi sẽ không đề nghị cô cho biết tên những điệp viên chưa bị bắt - cái ấy không quan trọng, và khi cố gắng tìm kiếm cô, bọn cô nhất định sẽ đến chỗ tôi thôi. Đó là điều thứ hai. Cô hiểu rằng, là một người đàn ông, một sĩ quan của nước Đức, tôi không thể không thông cảm với hoàn cảnh của cô: tôi hiểu người mẹ sẽ đau đớn tới mức nào, nếu chúng tôi buộc lòng phải gửi đứa con cô sang trại tế bần. Đứa bé sẽ vĩnh viễn mất mẹ. Cô hãy hiểu tôi cho đúng, tôi không đe doạ cô đâu, chẳng qua là dù tôi không muốn như thế, thì trên tôi còn có các vị chỉ huy nữa chứ, mà những người không nhìn thấy cháu bé của cô trên tay cô thì họ dễ ra cái lệnh ấy lắm. Còn tôi không thể không thi hành mệnh lệnh: tôi là người lính, và Tổ quốc tôi đang đánh nhau với đất nước cô. Cuối cùng, đây là điểm thứ tư. Hồi trước, chúng tôi có nhận được một bộ phim của nước cô do các nhà quay phim Mác-xcơ-va dựng ở An-man A-ta. Trong phim, người ta miêu tả người Đức là một bọn ngu ngốc, còn tổ chức của chúng tôi là một cái nhà thương điên. Nếu thực tế là như vậy, tại sao chúng tôi lại tiến được đến ngưỡng cửa điện Cơ-rem-li và tới sông Vôn-ga, một khi chúng tôi ngu ngốc như họ nói...
Đến đây, Sơ-tiếc-lít nháy mắt với Kết (dĩ nhiên Muyn-lơ không thể nhìn thấy điều này) và chị lập tức hiểu ý anh. Chị nói:
- Đúng, nhưng hiện giờ các đơn vị Hồng quân Liên Xô đã ở bên ngưỡng cửa Béc Lanh.
- Phải. Khi quân đội chúng tôi đứng bên ngưỡng cửa điện Cơ-rem-li, phía các cô tin rằng Hồng quân sẽ tiến tới Béc Lanh. Bây giờ chúng tôi cũng thế, chúng tôi tin rằng quân đội Đức sẽ quay trở lai Cơ-rem-li. Nhưng ta tranh luận với nhau để làm gì. Tôi muốn nhắc cô điểm đó, bởi vì các chuyên gia giải mã của chúng tôi chả ngu ngốc tí nào đâu, mà họ đã phát hiện được nhiều ký hiệu trong mật mã của cô, và người của chúng tôi có thể làm được công việc của cô.
Sơ-tiếc-lít lại nháy mắt với Kết, và chị nói:
- Người của ông không biết phong cách ấn nút của tôi. Đã thế, ở Trung tâm người ta lại biết rất rõ phong cách của tôi.
- Đúng thế. Nhưng chúng tôi còn ghi lại trên băng ghi âm các báo cáo của cô, chúng tôi có thể dễ dàng dạy cho người của chúng tôi nắm vững phong cách của cô. Và người ấy sẽ làm thay cô. Đó sẽ là bằng chứng tố giác chết người đối với cô. ở tổ quốc, người ta sẽ không tha thứ cho cô! Cô biết rõ điều đó đúng như tôi, mà có thể còn rõ hơn tôi.
Sơ-tiếc-lít lại gật đầu với Kết, nhưng chị ngồi im, chỉ ôm chặt chú bé đang ngủ vào lòng.
- Nếu cô biết tỏ ra khôn ngoan, tôi hứa sẽ chuẩn bị bằng chứng vô tội hoàn toàn cho cô trước cấp chỉ huy của cô.
- Điều đó không thể làm được, - chưa đợi Sơ-tiếc-lít ra hiệu, Kết đã trả lời.
- Cô nhầm rồi. Điều đó có thể làm được. Việc bắt giữ cô sẽ không được ghi vào bất cứ tài liệu nào của chúng tôi. Cô sẽ đến ở cùng một chỗ với những người bạn của tôi. ở đó, cháu gái sẽ có đủ tiện nghi...
- Con tôi là giai.
- Xin lỗi... Khi nào cô gặp lại người của mình, cô sẽ nói rằng, sau khi chồng cô bị chết, một người đã tìm ra cô. Người ấy đã nói đúng mật khẩu liên lạc với cô.
- Tôi không biết mật khẩu.

- Cô có biết mật khẩu, nhưng tôi không yêu cầu cô phải nói cho tôi biết, nó là thứ vặt vãnh và là trò chơi lãng mạn. Vậy là cô sẽ bảo rằng cái người nói đúng mật khẩu với cô đã dẫn cô tới căn phòng bí mật ấy và đưa cho cô các bức điện mật mã để cô truyền về Trung tâm. Đó là bằng chứng vô tội của cô. Trên sân khấu và phim ảnh về giới tình báo, người ta thường dành một thời gian nhất định cho sự suy nghĩ. Tôi không cho cô thời gian để suy nghĩ đâu. Tôi hỏi ngay: cô có đồng ý hay không?
Im lặng.
... Muyn-lơ nhìn Rôn-phơ và nhận xét:
- Chỉ có một thiếu sót là anh ta đã lẫn lộn giới tính của đứa bé. Anh ta gọi nó là cháu gái, còn tất cả những thứ khác là một việc làm cực kỳ điêu luyện.
-... Có, - Kết đáp nhỏ, gần như thì thầm thì đúng hơn...
- Tôi chưa nghe rõ, - Sơ-tiếc-lít nói.
- Có, - Kết nhắc lại. - Có! Có'! Có!
- Bây giờ thì rõ rồi. - Sơ-tiếc-lít nói. - Và không nên nổi khùng làm gì. Cô đã biết cô sẵn sàng đón nhận điều gì không đồng ý làm việc chống lại chúng tôi kia mà.
- Nhưng tôi có một điều kiện, - Kết nói.
- Được tôi nghe đây...
- Tôi đã cắt đứt mọi liên hệ với Tổ quốc sau khi chồng tôi chết và tôi bị bắt. Tôi sẽ làm việc cho các ông, nếu các ông bảo đảm với tôi rằng, sau này tôi sẽ không bao giờ phải rơi vào tay những người chỉ huy cũ củạ tôi...
Đột nhiên, mặt Kết trắng bệch ra và thân thể chị từ từ xụp xuống đất. Sơ-tiếc-lít chỉ kịp chạy lại đỡ cháu bé. Anh gọi viên sĩ quan trực và nói:
- Đưa phạm nhân này vào bệnh viện trong nhà tù của chúng ta. Và anh hãy lo sao cho mọi người đối xử với cô ta thật tốt và thận trọng... Đấy là hiện tượng thần kinh của cô ấy bị chấn thương, sẽ qua khỏi thôi...
Sơ-tiếc-lít nói với Sê-len-béc:
- Chúng ta không nên bỏ cô ấy. Đó sẽ là sự hờ hững và ngu ngốc cực độ. Nhất là bây giờ chúng ta lại nghĩ ra trò chơi sử dụng lão giám mục. Giá ngài nói với ngài Thống chế để ngài ấy ủng hộ ta thì hay quá.
- Để thử xem, Sê-len-béc trả lời. - Nhưng lấy lý do gì?
- Thiếu gì lý do, - Sơ-tiếc-lít nhún vai.
- Bí mật truyền thông tin giả cho bọn Anh qua con đường Bồ Đào Nha và tung sang Mát-xcơ-va những tin có lợi cho ta, để làm cho chúng mụ mẫm đầu óc đi chăng? - Sê-len-béc đăm chiêu hỏi. - Anh thấy thế nào, hả?
- Liều lĩnh quá... Nhưng hay đấy.
- Được rồi, chúng ta sẽ nghĩ thêm. Chúc mừng thành công của anh, Sơ-tiếc-lít ạ. Chúng ta đã bóp mũi Muyn-lơ. Tuyệt, tuyệt lắm.
Mặc dù Sơ-tiếc-lít tự cho rằng nhiệm vụ quan trọng nhất của anh là xác định khối lượng công việc trong lĩnh vực nghiên cứu nguyên tử, mặc dù anh cho rằng đầu mối của những vấn đề quan trọng nhất mà anh muốn tìm hiểu tường tận chính là nằm ở đây, song anh vẫn nhận thức hết sực rõ ràng, một người, dù có bảy vết nhăn trên trán, cũng không thể bao quát được tất cả mọi chuyện.
Chính vì vậy, Sơ-tiếc-lít rất đau khổ về việc đứt liên lạc. Đối phương thường coi tình trạng ấy của người hoạt động tình báo là sự thụ động, sợ trách nhiệm, không biết độc lập suy nghĩ, là nỗi sợ hãi trước các quyết định ý chí. Tuy nhiên, trong thực tế, điều đó chứng tỏ, một mặt, trình độ nghề nghiệp vững vàng và, mặt khác, cốt cách tư tưởng kiên định của người chiến sĩ tình báo. Một người hoạt động bí mật thực thụ hiểu rằng, nếu thiếu sự chỉ đạo từ Trung tâm, anh ta rất có thể tôn thời gian vô ích và liều lĩnh uổng công, bởi vì rất có thể nhiệm vụ mà người chiến sĩ ấy tự xác định cho mình trong khi đứt liên lạc - đã được một người khác giải quyết ở một nơi khác trên quả đất, vào một thòi điểm khác. ở xa tổ quốc, mất liên lạc với Trung tâm, người hoạt động tình báo không thể đánh giá hoàn toàn chính xác tầm quan trọng và mức độ hiệu quả của công việc mình làm.
Những năm sống ở nước ngoài đã dạy Sơ-tiếc-lít hiểu các sắc thái tinh tế nhất qua những bức điện mật mã mà anh nhận được từ Trung tâm.
Giờ đây, sau khi cuộc tấn công chính diện của anh và Boóc-man vì những nguyên nhân khó hiểu nào đó đã bị đứt quãng, Sơ-tiếc-lít rất cần liên lạc với Mát-xcơ-va. Anh mong nhận được sự giúp đỡ: một, hai tên người ; một, hai địa chỉ của những người dù là không liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với Boóc-man, nhưng có mối liên hệ nào đó với cháu gái một ông anh họ lấy em gái của một ông anh chồng, người đầu bếp phục vụ Boóc-man chẳng hạn...
Sơ-tiếc-lít cười khẩy - anh thấy cái kiểu họ hàng lằng nhằng như thế thật là vui nhộn.
"Chậm trễ lúc này chẳng khác gì cái chết, - anh nghĩ. - Mình không thể đưa ông giám mục sang Béc-nơ, khi chưa phái Pờ-lây-sơ-ne đi. Mà việc phái Pờ-lây-sơ-ne đi sẽ không có ý nghĩa gì, nếu mình chưa tìm được cách tiếp cận Boóc-man. Chờ Trung tâm cử một hiệu thính viên tới phải mất ít ra một tháng. Mà bây giờ thì không thể chờ một tháng được - tình hình chung chứng tỏ công việc đang được quyết định từng ngày, hay nhiều nhất là từng tuần".
Sơ-tiếc-lít lập luận: tại sao Boóc-man không đến chỗ anh hẹn gặp? Một là, có thể y không nhận được bức thư. Nó có thể rơi vào tay bọn Him-le, dù rằng vị tất đã như vậy. Anh đã khôn khéo gửi thư đi kèm với bản tin mật dành riêng cho Boóc-man. Đánh cắp bức thư từ đấy ra là chuyện quá ư liều lĩnh, bởi vì anh đút bức thư vào đó sau khi nhân viên bảo mật của Ban thư ký trực thuộc thống chế Him-le đã kiểm tra toàn bộ bưu kiện. Nhưng dẫu sao anh cũng không gạt bỏ khả năng bức thư bị đánh cắp. Hai là, khi phân tích bức thư gửi đi, Sơ-tiếc-lít nhận thấy một vài thiếu sót cơ bản của mình. Nhiều khi cái đặc điểm bẩm sinh sau đây đã cứu anh: anh phân tích lại các hành vi, các buổi trao đổi, các thư từ và không bực bội về những thiếu sót của mình, không "giấu đầu vào dưới cánh", tức là ngồi bó tay, mà ngay lập tức tìm lối thoát ra khỏi cái tình thế xấu có thể do thiếu sót kia tạo nên. Riêng với anh, bức thư đã gửi đi không có gì đe doạ cả: anh đã dùng máy chữ của trạm bưu điện đánh bức thư ấy giữa lúc máy bay đang ném bom - nghĩa là sẽ không có con đường thẳng nào dẫn đến chỗ anh. Anh nghĩ, chẳng qua là đối với một nhân vật cỡ Boóc-man, bức thư chứa đựng quá nhiều tình cảm. trung thành, quá ít sự việc và những đề nghị xây dựng rút ra từ các sự việc đó. Trí tuệ của một nhà hoạt động quốc gia không giống trí tuệ của những người đứng ở bậc thang danh vọng phía dưới của nhà nước chuyên quyền. Trách nhiệm lớn lao trước những quyết định thực ra không được kiểm tra buộc loại nhân vật cỡ Boóc-man chỉ chịu đi trao đổi với người dưới quyền, khi nào những sự việc mà người ấy thông báo chưa một ai biết đến và có nhiều triển vọng về phương diện nhà nước. Nhưng, mặt khác, Sơ-tiếc-lít nghĩ tiếp, ngay những chi tiết nhỏ nhất có thể tố giác Him-le cũng đều trở nên quan trọng đổì với Boóc-man. Sơ-tiếc-lít hiểu rõ sự đấu đá giữa Him-le và Boóc-man bắt đầu từ đâu. Anh không thể tìm được cách trả lời cho câu hỏi: vì sao đến lúc này nó vẫn tiếp diễn với mức độ mỗi lúc một thêm hung hăng? Cuối cùng, ba là Sơ-tiếc-lít hiểu rằng, chẳng qua tại vì Boóc-man bận việc nên không ra nơi hẹn được. Qua tài liệu nghe trộm điện thoại, Sơ-tiếc-lít biết rằng chỉ có hai, ba lần Boóc-man chấp nhận kiểu đề nghị gặp mặt như thế. Mà mỗi ngày rõ ràng phải có tới hai, ba chục nhân vật cao cấp của đảng Quốc xã và của bộ máy quân sự xin được gặp y.
"Vụ bức thư thật là ngây thơ từ đầu đến cuối, - Sơ-tiếc-lít nghĩ thầm. - Chẳng những mình chơi như một thằng mù, mà còn chơi không đúng quy luật của hắn. Ngu ngốc quá! Có sửa chữa được không nhỉ? về nguyên tắc thì được, nhưng cụ thể phải sửa chữa ra sao đây?".
Còi báo động rú lên. Sơ-tiếc-lít nhìn đồng hồ: 10 giờ tối rồi. Hoàng hôn hôm nay đỏ như máu, lại pha những chấm xanh. Nghĩa là đêm nay trời sẽ lạnh giá. Sơ-tiếc-lít đứng dậy và nghĩ bụng: "Mấy bông hoa hồng của mình đến chết mất thôi. Trồng hoa hồng bây giờ hơi sớm, nhưng ai có thể ngờ rằng năm nay rét lại kéo dài đến thế".
Bom nổ gần ngay bên cạnh nhà.
"Khỉ thật, - Sơ-tiếc-lít quyết định, - mình xuống hầm vậy. Có lẽ họ muốn phá tan Cơ quan của mình. Phải mặc áo ván lúc này thì thực là ngu ngốc".
Anh bước ra khỏi phòng làm việc và theo hành lang trông trải đi lại cầu thang dẫn xuống hầm ngầm. Đến cửa phòng đặt điện thoại liên lạc với Tổng hành dinh, anh dừng lại. Ban đầu anh không hiểu tại sao anh dừng lại ở đó, sau anh chợt hiểu vì có chùm chìa khoá lủng lẳng ở cửa.
Sơ-tiếc-lít cau mày, chậm rãi nhìn quanh: hành lang vắng vẻ - tất cả đều đã xuống hầm. Anh lấy vai đẩy cửa. Cửa không mở. Anh xoay chìa khoá. Đèn trong phòng đã bị tắt, mặc dù các cửa sổ đều được nguy trang kín để che ánh sáng. Sơ-tiếc-lít lấy tay lần tường bật đèn lên. Hai chiếc máy điện thoại màu trắng lập tức nổi bật lên giữa tất cả những chiếc khác: đó là máy liên lạc trực tiếp với hầm ngầm của Hít-le và với các phòng làm việc của Boóc-man, Gơ-ben và Cây-ten.
Sơ-tiếc-lít ngó ra hành lang: vẫn không một bóng người. Cửa kính run bần bật vì bom nổ rất gần. Anh thoáng nghĩ trong khoảnh khắc xem có nên khoá trái cửa hay không.
Rồi anh bước lại bên máy và quay số 120054.
- Boóc-man đây, - anh nghe thấy một giọng trầm và khoẻ trong ống nghe.
- Ngài có nhận được bức thư của tôi không? - Sơ-tiếc-lít thay đổi giọng nói, hỏi:
- Ai đấy?
- Ngài phải nhận được thư vì đó là của một đảng viên trung thành gửi riêng cho ngài.
- Đúng, tôi đã nhận được. Chào anh. Anh ở đâu? A, phải... Rõ rồi. Số xe của tôi là...
- Tôi biết, - Sơ-tiếc-lít ngắt lời y. - Ai sẽ cầm lái?
- Điều đó có nghĩa ư?
- Vâng. Một trong những lái xe của ngài...
Họ đã hiểu nhau: Boóc-man hiểu rằng Sơ-tiếc-lít biết rõ là mọi cuộc nói chuyện điện thoại của y đều bị nghe trộm, - điều này chứng tỏ người đang nói với y biết những bí mật hệ trọng nhất của chế độ quốc xã. Đến lượt mình, Sơ-tiếc-lít kết luận rằng Boóc-man hiểu tất cả những gì anh chưa nói hết với y, bởi vậy anh cảm thấy mình đã thành công.
- Người ta sẽ đợi anh ở chỗ lẽ ra chúng ta đã gặp nhau. Ngày mai, giờ giấc như anh đã hẹn.
- Ngay bây giờ, - Sơ-tiếc-lít nói. - Xin ngài hãy trừ thời gian tôi hẹn đi hai tiếng rưỡi và chuyển nó sang ngày hôm nay.
- Hai-lơ Hít-le! - Boóc-man nói và đặt ông nghe xuống.
* Nguyên văn: đập vỡ trán minh.
** Cách nói trong tiếng Nga, tương tự "bóp mũi" trong tiếng Việt.
* Lối nói của người Nga, nghĩa bóng: rất thông thái.
Chương 11
Nửa giờ sau, cạnh Viện bảo tàng Tự nhiên học, Sơ-tiếc-lít nhìn thấy chiếc ôtô bọc thép "Mai-bắc". Anh đi qua chỗ xe đỗ và thấy Boóc-man ngồi ở ghế sau. Tin chắc rằng không có cái đuôi nào bám theo mình, Sơ-tiếc-lít quay lại mở cửa xe và nói:
- Chào ngài Boóc-man, tôi xin đa tạ lòng tin cậy mà ngài dành cho tôi...
Boóc-man lặng lẽ bắt tay Sơ-tiếc-lít và nhìn chằm chằm vào mặt anh.
- Cho xe chạy về phía Van-dây, - y bảo tên lái xe.
Sau đó, y kéo kính che kín chỗ ngồi tiếp khách với chỗ ngồi của lái xe.
- Tôi đã gặp anh ở đâu rồi nhỉ? - y chăm chú nhìn Sơ-tiếc-lít và hỏi. - Anh bỏ kính ra xem nào...
Sơ-tiếc-lít bỏ kính xuống đùi và kéo mũ lên một chút.
- Đúng là tôi đã gặp anh ở đâu rồi, - y nhắc lại.
- Vâng, - Sơ-tiếc-lít đáp. - Hôm ngài gắn huy chương Chữ thập cho tôi, ngài nói rằng tôi có bộ mặt của một giáo sư toán học, chứ không phải của một điệp viên...
- Bây giờ thì đúng là anh có bộ mặt của một điệp viên, chứ không phải của một giáo sư toán học nữa. - Boóc-man nói đùa. - Thế nào, có chuyện gì vậy, anh kể đi...
Chiếc máy điện thoại liên lạc giữa Boóc-man với Cục an ninh im lặng suốt đêm. Bởi thế, sáng hôm sau, khi băng ghi âm nghe trộm được đặt lên bàn Him-le, thì hắn đùng đùng nổi giận. Nhưng rồi cơn giận qua đi, hắn cảm thấy run sợ, bèn gọi Muyn-lơ đến và ra lệnh cho tên kia cố điều tra - một cách hết sức thận trọng - xem đêm qua ai đã từ phòng thông tin liên lạc trực tiếp, đặc biệt, nói chuyện điện thoại với Tổng hành dinh của đảng Quốc xã.
Suốt ngày hôm ấy, Muyn-lơ không nhận được tài liệu rõ rệt nào cả. Đến tối, người ta đệ lên bàn y cái dấu tay mà người lạ mặt đã nói chuyện với Boóc-man đã để lại trên ống nghe điện thoại. Điều khiến Muyn-lơ sửng sốt là, theo kết quả xét nghiệm và phân tích, dấu tay ấy đã xuất hiện mấy ngày trước đây ở sở ghét-xta-pô và còn trùng với cả dấu tay phát hiện được trên máy phát của cô hiệu thính viên người Nga.
Tên lái xe của Boóc-man, kẻ trước đây từ chối - theo lệnh của Boóc-man - cung cấp tin tức cho ss, đã bị bắt ngay trên đường về nhà sau phiên trực. Suốt ba tiếng đồng hồ hắn im lặng và đòi được nói chuyện với Boóc-man. Sau khi người ta áp dụng một kiểu hỏi cung đáng sợ, hắn thú nhận rằng đêm qua có một người lạ mặt đã lên xe gặp Boóc-man. Người ấy. nói gì với Boóc-man thì lái xe không thể biết, bởi vì hắn bị ngăn cách với hai người kia bởi một tấm kính che đạn rất dày. Hắn miêu tả hình dáng người lạ mặt đó. Hắn nói rằng người ấy đội một chiếc mũ sụp xuống đến trán, đeo kính gọng sừng rất dày và có hàng ria bạc. Người ta đưa cho hắn xem hơn hai trăm bức ảnh. Trong số đó, có ảnh Sơ-tiếc-lít. Nhưng, một là, trên ảnh không có đeo kính và không để ria - hai thứ này khi cần có thể đeo lên hoặc tháo ra dễ dàng, hai là, các bức ảnh ấy chụp từ năm năm về trước, mà sau năm năm chiến tranh người ta thường thay đổi rất nhiều, có khi đến mức không nhận ra được nữa.
Nhận được báo cáo của Muyn-lơ về kết quả điều tra sơ bộ, Him-le tán thành đề nghị của Muyn-lơ là bí mật lấy dấu tay của tất cả những nhân viên trong bộ máy an ninh.
Muyn-lơ còn đề nghị tổ chức việc thủ tiêu tên lái xe của Boóc-man thế nào để gây ấn tượng là tên ấy tình cờ bị ôtô cán chết ngoài phố, gần nhà mình. Lúc đầu Him-le định ký lệnh thi hành biện pháp đó, một biện pháp rõ ràng là cần thiết, nhưng sau hắn nghĩ lại. Hắn không còn tin vào tất cả mọi người nữa, kể cả Muyn-lơ.
- Anh hãy tự lo việc ấy, - hắn nói. - Có lẽ nên thả nó ra chăng? - Him-le nói tránh và biết Muyn-lơ sẽ trả lời hắn như thế nào.
- Không thể được! Người của ta đã nắn bóp hắn quá nhiều.
Him-le chờ đợi chính câu trả lời đó.
- Thế thì tôi không biết, - hắn nhăn mặt. - Lái xe là người thật thà, mà chúng ta không bao giờ trừng trị những người thật thà cả... Anh hãy tự nghĩ xem có cách gì không...
Từ chỗ Him-le ra, Muyn-lơ hầm hầm tức giận: y hiểu rằng thống chế sợ Boóc-man, nên đưa y, Muyn-lơ, ra hứng đòn. Đừng hòng, y quyết định, đã thế thì mình cũng phải tìm cách chơi của mình chứ. Cứ để cho thằng lái xe sống. Nó sẽ là con bài tẩy của mình.
Him-le cho gọi Ot-tô Coóc-xê-ti tới.
- Tôi cần đến kho lưu trữ của Boóc-man, - hắn nói. - Ong Coóc-xê-ni, ông hiểu tôi cần gì chứ?
- Thưa, tôi hiểu ạ.
- Cái đó khó hơn bắt cóc đu-tre [*].
- Tôi hiểu.
- Nhưng liệu có thể làm được không?
- Tôi không rõ ạ.
- Ỏng Coóc-xê-ni, câu trả lời ấy không làm tôi vừa lòng đâu. Gần đây, Boóc-man bắt đầu di chuyển hồ sơ lưu trữ, ông cần điều tra xem là nó được chuyển đến đâu và do ai bảo vệ. Sê-len-béc sẽ giúp đỡ ông - không phải dưới danh nghĩa chính thức, mà làm cố vấn thôi.
- Thưa ngài thống chế, tôi hiểu ạ.
Sau khi báo cáo với Sê-len-béc ý kiến của mình về việc đưa giám mục Sơ-lắc vượt biên giới, phôn Sơ-tiếc-1ít đi gấp chuyến tàu đêm tốc hành tới biên giới Thụy Sĩ để "chuẩn bị cửa sổ". Cũng như Sê- len-béc, anh cho rằng việc công khai đưa giám mục vượt qua biên giới có thể gây nên chuyện ồn ào trái ý muốn. Toàn bộ chiến dịch này được tiến hành bí mật, không cho bên ghét-xta-pô biết. Nếu như bọn ghét-xta-pô biết chuyện vượt biên giới của một người bị nhiều hồ sơ tố giác, một người đã được trả lại tự do theo chỉ thị riêng của Sê-len-béc một cách bất hợp pháp, thì có thể đoán chắc rằng, chúng sẽ để người ấy đi qua biên giới sang Thụy Sĩ, nhưng ngay từ đầu sẽ bố trí việc theo dõi, mà ý đồ của "chiến dịch che đỡ" đã phác thảo xong thì không tính đến chuyện đó. Còn việc vạch mặt Sơ-lắc sau khi ông ta làm xong việc của ông ta, thì theo ý của Sê-len-béc, sẽ phải do chính Sơ-tiếc-lít tiến hành kia.
Trong những ngày vừa qua, được lệnh của Sê- len-béc, Sơ-tiếc-lít đã chuẩn bị cho giám mục "những kẻ đồng mưu dự bị". Anh cho rằng, bọn này phải là các quan chức ở-Bộ Ngoại giao và ở Bộ tham mưu không quân của Gơ-rinh. Tại hai cơ quan ấy, anh đã để ý đến những kẻ cúc cung tận tụy phục vụ chế độ quốc xã, những kẻ mà anh biết đúng là người của ghét-xta-pô. Sê-len-béc đặc biệt thích thú về việc tất cả những kẻ ấy đều do bọn ghét-xta-pô tuyển mộ.
- Hay lắm, - y nói, - cái đó có rất nhiều triển vọng.
Sơ-tiếc-lít nhìn y dò hỏi.
- Nghĩa là, - Sê-len-béc giải thích, - bằng cách đó, ở phương Tây chúng ta sẽ tố giác tất cả những kẻ nào tìm cách đàm phán hoà bình mà lờ chúng ta đi. Chẳng là ở bên ấy người ta phân biệt rất rành rọt tổ chức ghét-xta-pô với cơ quan tình báo của chúng ta.
"Điều ấy mình không nghĩ đến, - Sơ-tiếc-lít thú nhận với chính mình. - Hắn cừ thật, hắn hiểu rõ công việc và biết nhìn xa trông rộng. Cảm ơn mi, Sê-len-béc, về nghệ thuật tình báo. Mặc dù cần phải suy nghĩ thêm: nếu quả thực chúng có người nào ở bên phương Tây, thì chúng có thể bắt tay cả với quỷ Sa tăng, chứ không phải chỉ với Muyn-lơ thôi đâu".
Chuyến tàu đêm tốc hành này khác với tất cả các chuyến tàu khác ở chỗ nó vẫn có đủ tiện nghi như trước chiến tranh. Trong các cu-pê nhỏ, vẫn có những chiếc đai bằng da thật chứ không phải giả da, các bình đựng tàn thuốc lá bằng đồng và các chân cắm đèn điện bóng loáng. Các nhân viên phục vụ bưng cà-phê đặc tới cho khách. Thực ra, hiện nay đi trên chuyến tàu này toàn là dân ngoại giao: theo hành lang Xơ-can-đi-na-vơ - Thuỵ Sĩ.
Chỗ ngồi của Sơ-tiếc-lít mang số 74. Số 56 toa sau là của một giáo sư Thuỵ Điển có một cái họ Sơ-can-đi-na-vơ rất dài và lủng cũng. Mặt giáo sư tái xanh. Họ là hai hành khách độc nhất trong hai toa quốc tế, nếu không kể viên tướng trở về mặt trận Ý sau khi bị thương. Viên tướng ngó vào cu-pê của Sơ-tiếc-lít và hỏi anh:
- Ông là người Đức hả?
- Than ôi, - Sơ-tiếc-lít trả lời.
Anh có thể pha trò, cấp chỉ huy cho phép anh làm như vậy. Hoạt động phá hoại ngầm dự tính khả năng pha trò với ý đồ độc địa. Nếu một trong hai kẻ nói chuyện với nhau đi tố giác kẻ kia, thì kẻ kia đã có bảo hiểm là hắn được phép của cấp chỉ huy. Nếu kẻ kia không tố giác, thì như vậy là có thể tính đến triển vọng làm việc với kẻ đó. Có thời kỳ vấn đề ấy đã được đem ra tranh luận ở Sở ghét-xta-pô: nên cắt đứt ngay tại chỗ những câu chuyện không xứng đáng, hay là tìm cho chúng một lối thoát? Một số nhân viên SĐ cho rằng nên cắt đứt ngay - sự sợ hãi là thứ thuốc phòng bệnh tốt nhất. Nhưng một số khác, trong đó có Sơ-tiếc-lít, khẳng định rằng cần phải gợi chuyện về những đề tài nóng bỏng nhất ở tất cả những nơi nào có thể gọi được.
- Tại sao lại "than ôi"? - viên tướng ra vẻ quan tâm.
- Tại vì người ta không mang đến cho tôi suất cà-phê thứ hai. Người ta chỉ đem cà-phê ngon đến cho những ai có hộ chiếu ngoại quốc theo yêu cầu đầu tiên của họ mà thôi.
- Thật à! Thế mà người ta đã mang cho tôi suất thứ hai rồi đấy. Tôi có rượu cô-nhắc đây! Ông có muốn uống không?
- Cảm ơn. Tôi cũng có cô-nhắc.
- Nhưng chắc là ông không có mỡ muối.
- Tôi có mỡ muối.
- Nghĩa là tôi với ông ăn chung một đĩa cả thôi, - viên tướng nói, trong khi nhìn những thứ Sơ-tiếc-lít lấy từ trong cặp ra. - Ông giữ chức vụ gì vậy?
- Tôi làm công tác ngoại giao. Cố vấn của Vụ III Bộ Ngoại giao.
- Nghĩa là tất cả mọi người đều nguyền rủa các ông, - viên tướng nói và ngồi xuống chiếc ghế mềm cạnh chỗ đặt la-va-bô.
- Chính các ông là những người có lỗi trong tất cả mọi chuyện.
- Tại sao thế hở ngài?
- Tại vì các ông quyết định chính sách đối ngoại, bởi vì các ông đã dẫn đến chỗ gây ra chiến tranh trên hai mặt trận. Xin mờ!
- Xin mời! Ngài là người Mê-cơ-len-bua phải không?
- Vâng. Sao ông biết?
- Qua hai tiếng "xin mờ" của ngài đấy. Tất cả những người miền Bắc đều tiết kiệm nguyên âm.
Viên tướng cười.
- Đúng thế - ông ta nói. - Ông nghe đây, hình như hôm qua tôi nhìn thấy ông ở Bộ Hàng không thì phải.
Sơ-tiếc-lít co người lại: hôm qua anh có chở giám mục Sơ-lắc đến Bộ Hàng không để "bắt liên lạc" với những người thân cận của Gơ-rinh. Trong trường hợp toàn bộ chiến dịch thành công, khi ghét- xta-pô được tiếp cận vào vụ này, - nhưng là theo đề nghị của Sê-len-béc nhằm phát hiện thém chi tiết về, "âm mưu phản nghịch", - thì phải làm sao cho giám mục để lại dấu vết cả ở Bộ Hàng không, trong không quân lẫn trong Bộ Ngoại giao. Trong Bộ Hàng không, sau khi đưa căn cước của mình vào chỗ đăng ký, giám mục đề nghị cho biết tin tức về cố vấn Va-te Smi-đê-cơ-rốp ; ở Bộ Ngoại giao, Sơ-lắc gửi lại một bức thư nhờ chuyển cho tiến sĩ Cờ-lai-xtơ, người đầu tiên tìm cách tiếp xúc với phương Tây ở Xtôc-khôm.
"Không, - Sơ-tiếc-lít thầm nghĩ, trong khi rót cô-nhắc, - viên tướng này không thể nhìn thấy mình. Lúc mình ngồi trong xe, có ai đi ngang qua chỗ mình đâu. Và vị tất Muyn-lơ lại để viên tướng này theo dõi mình. Hắn không quen làm như thế, óc tưởng tượng của hắn tốt lắm".
- Hôm qua tôi không đến đấy, - anh trả lời. - Khuôn mặt của tôi có cái lạ ai cũng cứ tưởng vừa mới gặp tôi đâu vậy.
- Khuôn mặt ông cũng giống khuôn mặt nhiều người khác.
- Cái đó tốt hay xấu?
- Đối với nghề gián điệp thì chắc là tốt, còn đối với nhà ngoại giao thì xấu. Các ông cần đến những khuôn mặt dễ nhớ kia.
- Thế còn giới quân nhân các ngài thì cần cái gì nào?
- Giới quân nhân bày giờ cần có cặp giò khoẻ mạnh.
- Còn về đầu tóc mặt mũi thì sao?
- Đầu tóc chúng tôi thì ai cần? Người ta suy nghĩ thay chúng tôi, chúng tôi chỉ việc thi hành thôi. Cặp giò mới quan trọng. Để bỏ chạy cho kịp.
- Ngài không sợ nói điều đó với người lạ hay sao?
- Nhưng ông có biết tên tôi đâu mà lo...
- Cái đó dễ biết thôi, vì ngài có khuôn mặt rất dễ nhớ.
- Thế à? Khỉ thật, vậy mà tôi cứ tưởng mặt mũi tôi mẫu mực lắm. Dầu sao thì trong lúc ông viết đơn tố giác tôi và người ta lo tìm nhân chứng thứ hai, cũng còn khối thời gian, đến lúc ấy thì tất cả đi đời nhà ma rồi. Không phải người Đức, mà là những người khác sẽ đặt chúng ta vào ghế bị cáo. Và người bị đưa ra toà trước hết là các ông, những nhà ngoại giao.
- Các ngài đốt phá, các ngài huỷ diệt, các ngài giết chóc, cớ sao lại đưa chúng tôi ra toà?
- Chúng tôi thi hành mệnh lệnh. Những kẻ đốt phá là lực lượng ss. Chúng tôi chỉ đánh nhau thôi.
- Sao, các ngài mới phát minh ra một kiểu mới: đánh nhau mà không đốt phá và giết chóc ư?
- Chiến tranh là cần thiết vì những lý do nhất định. Dĩ nhiên, chiến tranh không phải là chuyện ngu ngốc. Đây là cuộc chiến tranh của một nhà quân sự nghiệp dư. Người ấy nghĩ rằng có thể đánh nhau một cách mò mẫm, không cần qua đào tạo chính quy ở học viện. Người ấy cho rằng chỉ có một mình người ấy biết tất cả chúng ta cần điều gì. Người ấy cho rằng chỉ có một mình người ấy yêu nước Đức vĩ đại, còn tất cả chúng ta chỉ nghĩ đến chuyện tìm cách bán rẻ nước Đức cho bọn cô-dắc bôn-sê-vích mọi rợ...
Sơ-tiếc-lít cười to:
- Hiện thời vẫn chưa thấy bọn cô-dắc mọi rợ đâu cả.
- Ô, bọn Đỏ có thể làm đủ mọi chuyện. Bọn Mỹ cũng thế. Tôi đã đánh nhau với bọn Mỹ một năm. Chính kỹ thuật của bọn ngu ngốc ấy sẽ giết chúng: chúng cứ tưởng rằng chỉ cần ném bom là sẽ chiến thắng. Xin mờ!
- Xin mời...
- Chúng sẽ triển khai sức mạnh kỹ thuật của chúng và sẽ chết sặc gạch vì kỹ thuật. Kỹ thuật sẽ gậm nhấm chúng như gỉ sắt. Chúng tưởng rằng chúng có thể làm được tất cả mọi chuyện. Bọn Đỏ nghĩ như thế, bởi vì chúng là những kẻ đói khát, man rợ. Bọn Mỹ nghĩ như thế, bởi chúng quá giàu. Bởi vậy, cần có những cuộc chiến tranh...
- Ý kiến của ngài không ăn khớp với nhau, - Sơ-tiếc-lít nhận xét. - Luận điểm của ngài có cái gì không ổn.
- Chả có gì là không ổn cả. Các quốc gia cũng giống như mọi con người. Họ căm ghét trạng thái yên tĩnh. Các đường biên giới thít cổ họ. Họ cần vận động. Đó là tiền đề. Vận động - đó là chiến tranh. Nhưng nếu các ông, những nhà ngoại giao đáng nguyền rủa, lại lầm lẫn một lần nữa, người ta sẽ tiêu diệt các ông sạch sành sanh.
- Chúng tôi thi hành mệnh lệnh. Chúng tôi cũng là những người lính như các ngài... Những người lính của Quốc trưởng.
- Ông hãy bỏ cái trò vờ vịt ấy đi. Những người lính của Quốc trưởng, - viên tướng nhại lại. - Một sĩ quan quèn ăn cắp ủng của cấp tướng...
- Thưa tướng quân, tôi rất sợ nói chuyện với ngài...
- Ông đừng nói dối. Bây giờ cả nước Đức đều nói như tôi... Hay nghĩ như tôi - ít ra là như thế.
- Thế các đội thanh niên Hít-le thì sao? Khi họ xông vào đám xe tăng Nga, họ cũng nghĩ như thế ư? Họ ngã xuống vẫn còn hô vang: "Hai-lơ Hít-le" kia mà...
- Thái độ cuồng tín không bao giờ dẫn đến thắng lợi cuối cùng, vì nó làm cho mọi người chán ngấy. Thái độ cuồng tín ấy sẽ tan biến đi trong suy nghĩ và trong phong thái cư xử của những kẻ chiến bại. Những người cuồng tín có thể chiến thắng trong giai đoạn đầu. Họ không bao giờ giữ vững được thắng lợi, bởi lẽ họ sẽ bị mệt mỏi vì chính bản thân họ. Xin mờ!
- Xin mời... Thế thì tại sao ngài không động viên sư đoàn của mình...
- Quân đoàn...
- Càng tốt. Thế thì tại sao khi đó ngài không đầu hàng cùng với toàn bộ quân đoàn của mình?
- Thế còn gia đình? Còn bọn cuồng tín ở Bộ tham mưu? Còn những kẻ hèn nhát cứ thấy đánh nhau với niềm tin vào thắng lợi tưởng tượng còn dễ chịu hơn là ngồi trong trại giam của phe Đồng minh...
- Ngài có thể ra lệnh...
- Người ta ra lệnh phải chết... Chưa bao giờ có cái lệnh đầu hàng kẻ thù để sống. Người ta không biết cách viết cái lệnh đó... Trong mọi quân đội trên thế giới.
- Thế nếu như ngài nhận được một mệnh lệnh như vậy?
- Lệnh của ai? Của cái lão mắc bệnh suy nhược thần kinh ấy ư? Lão ta đang kéo tất cả chúng ta đi theo lão xuống mồ: chết một mình chả là điều đáng sợ, còn chết cả lũ là chuyện vặt, thậm chí có thể pha trò cho vui nữa kia.
- Nếu người ta ra lệnh là Cây-ten?
- ơ chỗ cái đầu của ông ta chỉ có một cái mông đít.Ông ta làm thư ký, chứ không phải là nhà quân sự.
- Được rồi... Thế còn ông tổng tư lệnh của ngài ở Ý?
- Két-xen-rinh? Ông ấy không đời nào ra lệnh như thế.
- Tại sao?
- Ông ấy được giáo dục trong bộ tham mưu của Gơ-rinh. Mà những người làm việc dưới quyền chỉ huy trực tiếp của một lãnh tụ nào đó thì thế nào cũng mất hết sáng kiến. Có khôn khéo hơn, giỏi phân tích hơn thật đấy, nhưng mất khả năng đi tới những quyết định độc lập. Trước khi ra một cái lệnh như thế, thế nào ông ta cũng phải bay về gặp con lợn đực.
- Gặp ai?
- Gặp con lợn đực, - viên tướng bướng bỉnh nhắc lại. - Gặp Gơ-rinh.
- Ngài tin rằng không thể thuyết phục Két-xen- rinh làm việc đó nếu ông ta chưa được Gơ-rinh cho phép à?
- Nếu tôi không tin, tôi đã chẳng nói.
- Ngài không tin vào triển vọng của tình hình ư?
- Tôi tin vào triển vọng... Triển vọng một cái chết sắp tới với cả lũ chúng ta... Ông hãy tin tôi, khi chết cả lũ với nhau thì không có gì đáng sợ đâu. Và cái chết của chúng ta sẽ thảm hại đến mức nó sẽ đâm nhói vào trái tim nhiều thế hệ người Đức bất hạnh, mỗi khi họ nhớ đến nó...
Rồi đột nhiên viên tướng khóc oà lên... Mặt ông ta lì ra, không một bắp thịt nào rung động, chỉ có những giọt nước mắt lăn trên má. Ông ta khóc, nhưng giọng ông ta vẫn rắn rỏi, khi ông ta kết thúc câu chuyện:
- Tôi đã dặn dò các con tôi: hãy nguyền rủa mọi thứ dân chủ ở nước Đức. Mọi thứ dân chủ ở nước ta chỉ dẫn đến một tai hoạ là nền chuyên chính của bọn tiểu thương. Chúng ta càng có nhiều quyền tự do, chúng ta lại càng muốn xây dựng thêm lực lượng ss, lính kín, trại tập trung và các tổ chức đe doạ mọi người. Chỉ khi đó chúng ta mới cảm thấy yên tâm. Không nên bảo vệ quan điểm của mình về số phận tổ quốc, không cần chịu trách nhiệm gì hết -.chỉ việc giơ tay lên chào các con người đang lo nghĩ chuyện đó thay mình, chỉ cần hô "Hai-lơ Hít-le" là tất cả sẽ lập tức trở nên dễ hiểu và chẳng phải lo lắng gì nữa...
Suốt đêm, vị giáo sư Thuy Điển có cái họ Xơ-cãng-đi-na-vơ dài dòng và lủng cũng chỉ ngồi cắm cúi viết trong cu-pê của mình. Người ấy cố tìm cách kê lót để ngòi bút khỏi làm rách giấy, vì qua mỗi nối đường ray, đoàn tàu lại lắc lư rất mạnh...
Đến ga biên giới, Sơ-tiếc-lít xuống tàu. Viên tướng đi qua chỗ anh thì cúp mắt xuống và giơ tay lên chào theo quy định của đảng Quốc xã.
- Hai-lơ Hít-le! - ông ta nói thật to.
- Hai-lơ Hít-le! - Sơ-tiếc-lít đáp lại. - Chúc ngài đánh tan các kẻ thù của ngài!
Viên tướng sợ hãi nhìn Sơ-tiếc-lít: rõ ràng đêm qua ông ta đã quá say rượu khi bước sang cu-pê của anh.
- Cảm ơn ông, - viên tướng trả lời rất to, chắc là ông ta muốn để cho gã nhân viên phục vụ nghe thấy. - Chúng tôi sẽ cứa cổ chúng nó.
- Tôi tin là như thế, - Sơ-tiếc-lít nói và chậm rãi đi trên sân ga.
Trong hai toa tàu chỉ còn lại một mình vị giáo sư người Thuỵ Điển. Người ấy sẽ vượt biên giới đi vào chốn bình an, yên tĩnh của nứớc Thụy Sĩ tự do trung lập. Chắc là không có ai ra đón Sơ-tiếc-lít, cho nên anh cứ đi đi lại lại trên sân ga cho đến lúc việc kiểm tra của bọn nhân viên quan thuế và cảnh sát biên phòng kết thúc. Sau đó, khi đoàn tàu từ từ chuyển bánh, Sơ-tiếc-lít đưa mắt nhìn theo vị giáo sư Thuỵ Điển hồi lâu. Người ấy ngồi sát bên cửa sổ và cũng ngoái lại nhìn anh...
Vị giáo sư Thuy Điển ấy là Pờ-lây-sơ-ne, anh ruột của một người bạn chiến đấu của anh, anh ruột của Gu-gô Pờ-lây-sơ-ne, một người Đức, một chiến sĩ anh dũng chống phát xít. Pờ-lây-sơ-ne sang Béc-nơ để đem bản báo cáo gửi về Mát-xcơ-va. Đó là bản báo cáo về công việc Sơ-tiếc-lít đã làm, về nhiêm vụ của Sơ-tiếc-lít, về mối liên hệ giữa anh với Boóc-man, về việc Kết bị sa lưới. Trong báo cáo đó, Sơ-tiếc-lít đề nghị Trung tâm cử liên lạc tới và nói rõ thời gian, địa điểm, cách thức mà anh có thể tới để bắt liên lạc.
Sơ-tiếc-lít thở dài nhẹ nhõm, khi đoàn tàu đi khỏi, rồi anh đi đến đồn cảnh sát biên phòng để lấy xe tới một đồn khác ở xa hơn trong vùng núi. Đó là nơi vị giám mục sắp phải "bí mật" vượt qua để chạy sang Thụy Sĩ.
"Kính gửi ngài thống chế ss Hen-rích Him-le.
Tối mật. Chỉ trao tận tay.
Một bản.
Thưa ngài thống chế!
Đêm hôm qua tôi đã thực sự bắt tay thực hiện chiến dịch "Chân lý". Trước đó, tôi đã sơ bộ tìm hiểu cảnh quan, đường sá, địa hình của khu vực. Tôi cho rằng việc lấy tin tức cụ thể về những người lái xe sẽ chở hồ sơ lưu trữ của ngài Boóc-man, hoặc về hành trình dự tính, có thể sẽ làm cho cơ quan bảo vệ lưu ý cảnh giác.
Tôi định tiến hành chiến dịch một cách lặng lẽ, nhưng các sự kiện đêm qua đã không cho phép tôi thực hiện phương án đó. Sau khi người của tôi ăn mặc thường phục quay ngang một chiếc xe vận tải ở giữa đường, đoàn xe chở hồ sơ lưu trữ của ngài Boóc-man đã không dừng lại mà còn bắn như mưa vào chiếc xe vận tải và ba người của tôi. Không hỏi ba người ấy là ai, không kiểm tra giấy tờ, chiếc xe đầu tiên của đội bảo vệ hồ sơ lưu trữ của đảng Quốc xã đã lao thẳng vào chiếc xe vận tải của chúng tôi, làm cho nó đổ chổng kềnh xuống rãnh. Thế là đường đã thông. Năm người từ trên chiếc xe bảo vệ thứ nhất nhảy sang chiếc ôtô sau và đoàn xe tiếp tục lao đi. Tôi hiểu rằng, trong mỗi xe phải có ít nhất năm, sáu người được vũ trang bằng súng tiểu liên tự động. Sau đó tôi được biết rằng đấy không phải là binh lính hay sĩ quan, mà là các cán bộ của tổ chức Quốc xã ở địa phương đêm qua được điều động ngay trước khi di chuyến hồ sơ lưu trữ. Họ nhận lệnh riêng của ngài Boóc-man - bắn thẳng cánh tất cả những ai, bất kể chức vụ gì, đến gần đoàn xe trong khoảng hai mươi mét.
Tôi hiểu rằng cần phải thay đổi chiến thuật. Tôi ra lệnh chỏ một bộ phận của tôi tiến theo con đường song song đến chỗ giao nhau giữa đường cái và đường xe lửa: tên gác đường ở đây bị bắt và thay vào chỗ hắn là người của tôi. Người này có nhiệm vụ hạ ba-ri-e xuống chắn đường. Sau khi cắt đôi đoàn xe chở hồ sơ lưu trữ - để làm việc này, chúng tôi đành phải bắn đạn lửa vào chiếc ôtô thứ mười ba, tính từ chiếc đi đầu, - tôi và những người khác ở lại tại chỗ. Tiếc rằng chúng tôi phải dùng đến súng đạn: mỗi chiếc xe trong đoàn xe chở hồ sơ lưu trữ đều bắn đến viên đạn cuối cùng, mặc dù tôi đã đề nghị thương lượng. Mười ba chiếc xe đầu chạy đến chỗ đường giao nhau cùng lúc với tốp xe của chúng tôi nhưng ở đó đã có mười chiếc xe tăng của quân đoàn bộ binh thứ hai mươi bốn đứng chờ làm nhiệm vụ bảo vệ đoàn xe của ngài Boóc-man. Người của tôi đành phải rút lui, để nhỡ ra có ai bị giết trong lúc đôi bên bắn nhau. Những chiếc xe bị chúng tôi chặn lại đã được đốt cháy, còn tất cả các bao túi và hòm kẽm đều đã được chúng tôi chất lên các xe bọc thép ra đến sân bay đều được nhóm xung kích của tôi thủ tiêu.
Hai-ỉơ Hít-le!
Coóc-xê-nỉ của ngài".
Nữ điệp viên của Sê-len-béc làm ở nhà A-len Đa-lét báo tin: có một linh mục - chưa biết rõ tên họ - đến gặp "ông chủ" được cô ta "đỡ đầu", và hai nhà thông thái ấy đã nói chuyện với nhau. Câu chuyện được ghi lại gần như nguyên văn dưới đây.
- Thế giới nguyền rủa của Hít-le, - Đa-lét vừa nhồi thuốc vào tẩu vừa nói, - không chỉ vì các lò thiêu xác Mai-đa-nếch và Au-sơ-vít. Sự xâm lược của Đức đã làm cho nước Nga phát triển với quy mô chưa từng thấy, dù rằng điều đó có vẻ hết sức trái ngược. Nó đã mở ra những khả năng tiềm tàng to lớn của chế độ Xô-viết. Trong lịch sử của mình, kể cả vào thời kỳ cải cách dân chủ tuyệt diệu đi nữa, nước Nga cũng chưa bao giờ nhảy vọt về phía trước như trong mấy năm chiến tranh này. Họ đã khai thác những sức mạnh ghê gớm ở vùng U-ran và Xi-biri - nhờ viện trợ của chúng tôi và máy móc, nguyên liệu chiến lược và tài liệu kỹ thuật. Sau khi nhận viện trợ kỹ thuật của chúng tôi, họ đã bỏ những cách rập khuôn bảo thủ của họ đi. Hít-le đã đẩy nước Nga và nước Mỹ đến chỗ ôm hôn nhau. Người Nga sẽ khôi phục đất nước bằng việc bồi thường chiến tranh của Đức - Xta-lin dự tính nhận của Đức hai mươi tỷ đô-la bù vào việc nền công nghiệp ở phía tây đất nước ông ta bị tàn phá, và bằng cách đó họ sẽ nhân đôi sức mạnh tiềm lực kinh tê của họ.
- Các bạn tôi ở Va-ti-căng, - vị linh mục nói, - cho rằng, trong mấy năm chiến tranh, người Nga đã học được sự linh hoạt trong hành động và tư duy.
- Ngài biết không, - Đa-lét vừa hút thuốc vừa nói, - hiện giờ tôi đang đọc lại các nhà văn Nga như Pu-sơ-kin, Xan-tư-cốp - Sê-đơ-rin, Đốt-xtôi-ép- xki... Tôi tự nguyền rủa mình là không biết tiếng của họ - nền văn học Nga có lẽ là nền vãn học kỳ lạ nhất: tôi muốn nói đến nền văn học thế kỷ thứ mười chín của họ. ở nửa sau thế kỷ thứ mười chín, các nhà văn ấy đã được phép nói lên mọi ý kiến của họ. cần phải nghiên cứu kỹ thời kỳ đó, bởi vì bấy giờ họ không chỉ nói về quá khứ, mà còn chủ yếu là nói đến tương lai... Tôi tự rút ra kết luận cho mình rằng bản tính của người Nga là thích ngoảnh lại các mẫu mực trong tương lai. Tôi nghĩ rằng thế nào họ cũng sẽ trông chờ vào giai cấp nông dân của nước Nga, vì họ say sưa với ý nghĩ rằng ruộng đất sẽ chữa khỏi mọi căn bệnh và hợp nhất tất cả mọi thứ. Nếu điều đó xảy ra, họ sẽ đi đến chỗ xung đột với thời đại, một sự xung đột không có lối thoát. Trình độ phát triển kỹ thuật sẽ không cho phép trông chờ vào ruộng đất...
- Cái đó thú vị đấy, - vị linh mục nói. - Nhưng tôi chỉ ngại rằng, trong khi lập luận, ngài đã đặt mình cao hơn họ, chứ không phải ở bên cạnh họ...
- Ngài kêu gọi tôi gia nhập hàng ngũ Đảng cộng sản Nga (b) chăng? - Đa-lét mỉm cười. - Họ không kết nạp tôi vào Đảng của họ đâu.
Vì mấy lời đầu tiên của Đa-lét mà Him-le không dám gửi lên Quốc trưởng bản báo cáo đó. Nhưng ngay ngày hôm ấy, hắn ra lệnh tăng cường công tác ở các binh đoàn của người dân tộc: Tuốc-kê-xtăng, U-cra-i-na, vùng ven biển Ban-tích. Hắn cũng yêu cầu chú ý đến những người tài năng và có học vấn hơn cả tại các binh đoàn ấy để có thể tuyển mộ họ vào làm việc ở cơ quan SĐ ngay lúc này, nhưng chủ yếu là để họ làm việc trong tương lai...
Ngày hôm sau, Can-ten-bơ-ru-ne gửi cho trung tướng Cờ-ruy-ghe, phó giám đốc Sở ghét-xta-pô ở Pra-ha: không chỉ lấy các nhân viên trong bộ máy ss và SĐ, mà còn tìm cả những kẻ tay sai đắc lực là người Tiệp cam tâm bán rẻ tổ quốc của họ nữa.
Ở đồn biên phòng, Sơ-tiếc-lít giải quyết nhanh chóng tất cả mọi vấn đề: viên thượng uý chỉ huy đồn, một tay thợ săn chuyên nghiệp, hoá ra là một thanh niên dễ chịu, biết chiều lòng khách. Ban đầu, Sơ-tiếc-lít thậm chí ngạc nhiên về thái độ dễ dãi ấy - bọn lính biên phòng vốn nổi tiếng là những kẻ ngạo mạn, hệt như bọn sinh viên của thế kỷ trước. Nhưng rồi anh hiểu ra lý do của nó: dĩ nhiên, được sống ở vùng núi giáp giới với nước Thụy Sĩ trung lập, trong một thế giới đặc biệt của băng tuyết, xa hẳn các trận ném bom, cảnh tàn phá và đói khát, viên thượng uý chỉ huy khu vực này phải tìm cách lấy lòng những người do Trung ương phái xuống. Bởi thế, không một ai căn vặn Sơ-tiếc-lít về các chi tiết, chưa nói gì đến mục đích, của việc tổ chức cho một người vượt biên giới. Tất nhiên, nếu chúng có hỏi, anh cũng chẳng trả lời, song cách cư xử của bọn lính biên phòng, thái độ lấy lòng khách của chúng, khiến anh rút ra một kết luận quan trọng: hiện nay việc vượt biên không khó như trước nữa. Nếu anh cần đưa qua biên giới không phải một mình giám mục, mà mấy người liền một lúc, dù không được phép của cấp chỉ huy, thì anh cũng có thể làm được việc đó mà chẳng cần tốn công sức gì lắm.
Anh nghĩ, thật là lý tưởng, nếu từ đây gọi điện về Béc Lanh cho Sê-len-béc, đề nghị y chỉ thị cho một nhân viên tình báo đáng tin cậy nào đó đưa vị giám mục đến thẳng đồn này. Nhưng anh hiểu rằng mọi cú điện thoại gọi về Béc Lanh đều bị cơ quan của Muyn-lơ nghe trộm, và điều đó có nghĩa là đưa toàn bộ chiến dịch của Sê-len-béc ra hứng đòn. Một mặt, cái đó có lợi cho Sơ-tiếc-lít; nguyên tắc thông thường của anh là: bọn quốc xã đầu sỏ càng đâu đá nhau mạnh chừng nào thì càng tốt. Nhưng, mặt khác, thất bại của Sê-len-béc trong sứ mệnh mà y đặt lên vai vị giám mục phải trở thành con bài tẩy của chính anh, Sơ-tiếc-lít, khi anh báo cáo chuyện đó với Boóc-man: không phải báo cáo suông, mà là có đầy đủ dẫn chứng, ảnh chụp, băng ghi âm, địa chỉ, nơi gặp mặt và báo cáo của Sơ-lắc. Chỉ khi nào anh, Sơ-tiếc-lít này, đưa ra những bằng chứng có trọng lượng với Boóc-man, anh mới có thể bí mật phá vỡ những cuộc đàm phán thật sự, chứ không phải đàm phán giả, mà tướng Các-lơ Vôn-phơ phải tiến hành ở Thụy Sĩ.
Sau khi thoả thuận về vị trí mà anh sẽ dẫn vị giám mục vượt qua biên giới - đó là một hẻm núi có mọc nhiều cây lá kim còn non, - Sơ-tiếc-lít hỏi lại một lần nữa tên gọi của cái khách sạn nhỏ ở bên Thụy Sĩ mà anh có thể nhìn rõ từ đồn bên này. Anh đã biết tên người chủ khách sạn ấy là gì và phải chờ bao nhiêu lâu mới có chuyến tắc-xi từ thành phố chạy tới. Anh cũng hỏi để biết có khách sạn nào gần nhât ở vùng đồng bằng, - theo câu chuyện phù phép thì giám mục là một nhà trượt tuyết đi nghỉ ở vũng núi nhưng bị lạc đường. Ồng chủ khách sạn theo đề nghị của Sơ-lắc, sẽ phải gọi tắc-xi đến đưa vị giám mục xuống đồng bằng. Từ đấy sẽ có xe buýt chạy đến Béc-nơ và Du-rích là hai nơi có nhiều bạn bè của Sơ-lắc. Giám mục sẽ phải đi tìm họ mà không báo trước cho họ biết. Còn đối với những người quen biết thì Sơ-lắc có thể nói toàn bộ sự thật: Sơ-tiếc-lít đã xin trả lại tự do cho ông như thế nào, đã bố trí một tên phá hoại đến nhà ông ra sao, đã đích thân tổ chức cho ông vượt qua biên giới ở đâu. Giám mục sẽ phải nói rằng, người ấy, tức là Sơ-tiếc-lít, đang đợi ông gửi về một bức ảnh chụp cảnh bờ sông Lô-dan-na. Điều đó có nghĩa: những cuộc nói chuyện sơ bộ đã chấm dứt, liên lạc đã được chắp nôi, có thể đến gặp để nói chuyện nghiêm chỉnh. Ban đầu Sê-len-béc phản đối kế hoạch ấy của Sơ-tiếc-lít.
- Đơn giản quá, - y nói, - mọi chuyện quá dễ dàng.
- Ỏng ta không thể xử sự khác được, - Sơ-tiếc-lít đáp. - Đôi với ông ta, nói dối - đó là sự thật tuyệt đối. Nếu không, ông ta sẽ lẫn lộn lung tung và bọn cảnh sát sẽ theo dõi ông ta ngay.
... Sau khi chuẩn bị xong xuôi mọi chi tiết cho việc vượt biên giới, Sơ-tiếc-lít nói cho bọn lính biên phòng biết sự trừng phạt mà kẻ để lộ bí mật sẽ phải chịu. Anh dặn chúng là nếu có ai hỏi điều gì liên quan tới chiến dịch này, chúng chỉ được phép trả lời riêng cho ngài thống chế ss Him-le mà thôi. Anh cũng dặn là, trước khi từ Béc Lanh ra đi, anh sẽ gửi điện cho viên thượng uý với nội dung "Mẹ đau nặng. Có thuốc gửi về ngay. Han-xơ". Điều đó có nghĩa là phải bố trí một chiếc xe để sẵn chìa khoá và không có tài xế ở ngoài ga xe lửa. Điều đó cũng có nghĩa là, ở chỗ Sơ-tiếc-lít sẽ thực hiện công vụ, phải đặt sẵn một bộ dụng cụ trượt tuyết của Thụy Sĩ (không phải loại mới tinh, mà đã dùng rồi và được bôi trơn bằng loại mỡ N.4 của Thụy Sĩ), một đôi găng tay đan ở vùng đồng bằng Thụy Sĩ và một đôi bốt sản xuất ở Béc-nơ, cũng thuộc loại tàng tàng.
Sơ-tiếc-lít về đến nhà mình ở Ba-ben-xơ-béc vào lúc mười một giờ đêm. Anh mở cửa, định bật công tắc đèn, nhưng nghe thấy một giọng nói rất nhỏ và quen thuộc.
- Không nên bật đèn.
"Khôn-tốp, - Sơ-tiếc-lít đã nhận ra. - Sao hắn lại mò đến đây? Chắc là có chuyện gì xảy ra và hẳn phải là chuyện hệ trọng lắm...".
Giáo sư Pờ-lây-sơ-ne thuê một phòng tại một khách sạn nhỏ ở Béc-nơ. Ông tắm rửa rồi xuống phòng ăn và xem tờ thực đơn hồi lâu, vẻ không hiểu. Ông đưa mắt từ chữ "kem sữa" sang giá tiền, từ món "cua" sang giá tiền, ông nghiên cứu tờ giấy tẩm xáp màu xanh ghi giá tiền các món ăn đó một lúc, rồi bất ngờ đối với chính mình, ông cười phá lên và nói:
- Hít-le - tên khốn nạn!
Trong phòng ăn chỉ có một mình ông, ở trong bếp, người đầu bếp đang làm gì đó khiến xoong chảo loảng xoảng, không khí sực mùi nóng và mùi bánh mì vừa nướng.
Pờ-lây-sơ-ne nói, lần này to hơn:
- Hít-le là đống cứt!
Chắc có người nghe thấy tiếng ông nói: một người hầu bàn má đỏ trẻ tuổi xuất hiện, nhẹ nhàng bước lại chỗ ông và tươi cười nói:
- Xin kính chào ngài...
- Hít-le là đồ chó! - Pờ-lây-sơ-ne kêu to. - Đồ chó! Đồ khốn nạn! Đồ súc vật!
Ông không thể nén mình được nữa - cơn loạn thần kinh khủng khiếp đã bắt đầu. Ông vừa cười vừa khóc, miệng nhắc đi nhắc lại!
- Đồ súc vật! Đồ khốn nạn! Đồ chó má!
Lúc đầu, người hầu bàn cố gượng cười vì cho đó là câu nói đùa của ông khách trong bộ y phúc giáo sư màu xám, nhưng sau thấy nước mắt ròng ròng trên má ông thì anh ta chạy vội vào bếp, chỗ người đầu bếp ló mặt ra:
- Gọi điện tới nhà thương chăng? - Người hầu bàn hỏi.
- Cậu điên à? - người đầu bếp nói, họ sẽ phái xe cấp cứu đến đây! Tất cả sẽ lập tức tung tin rằng có một người bị ngộ độc ở chỗ chúng ta.
....Một giờ sau, Pờ-lây-sơ-ne rời khách sạn và đến một nhà trọ tư nằm trên bờ hồ. Ông hiểu rằng không nên ở lại khách sạn sau cơn loạn thần kinh ngu ngốc kia, nhất là ở lại với hộ chiếu Thuy Điển giả mạo của ông.
Cơn loạn thần kinh lúc đầu làm ông sợ hãi. Ông đi trên đường phố, thỉnh thoảng cứ ngoảnh đầu nhìn lại: ông tưởng đâu có tiếng phanh kít vội sau lưng ông, bọn mật thám sẽ lặng lẽ khoá tay ông, ấn ông lên xe, chở tới hầm nào đó và đánh ông vì ông đã dám lăng nhục vị quốc trưởng vĩ đại. Nhưng ông vẫn đi trên phố, và chẳng ai để ý đến ông cả. Đến quán bán báo, ông mua một loại báo của Anh ; ngay ở trang đầu của những tờ báo đã đầy những tranh biếm hoạ đã kích Hít-le và Gơ-rinh. Ông khẽ cười và lập tức sợ rằng mình lại lên cơn loạn thần kinh.
- Trời ơi, - đột nhiên ông lên tiếng. - Chẳng lẽ tất cả đã lùi vào quá khứ rồi ư?
Ông theo đường phố vắng vẻ đi tới căn phòng bí mật theo địa chỉ mà Sơ-tiếc-lít trao cho ông. Ông ngoảnh lại mấy lần, rồi đột nhiên quay tròn trong một điệu van-xơ: điều này bất ngờ với chính ông (sau đó ông nhận xét rằng, trong ngày đầu tiên ông đã có nhiều kiểu xử sự lạ lùng). Ông lẩm bẩm hát khẽ một điệu van-xơ cổ và say sưa quay tròn, chân đập mũi giày theo mốt cũ và nhảy những bước giống như các diễn viên múa tạp hý hồi đầu thế kỷ mà ông còn nhớ...
Một người đàn ông đẫy đà, cao lớn mở cửa đón ông.
- Ôt-tô nhờ tôi nói rằng, tối hôm qua anh ấy chờ ông trả lời điện thoại, - vị giáo sư nói mật khẩu.
- Mời ông vào, - người đàn ông nói và Pờ-lây-sơ-ne bước vào trong phòng, mặc dù ông không có quyền làm như vậy khi chưa thấy người kia đáp lại: "Lạ quá, tối hôm qua tôi ở nhà, nhưng có thấy gì đâu. Chắc anh ấy nhầm số điện thoại rồi".
Không khí tự do làm say lòng người đã đùa cợt một cách tai hoạ với giáo sư Pờ-lây-sơ-ne: căn phòng bí mật của người chiến sĩ tình báo Liên Xô đã bị sa vào tay bọn phát-xít và bây giờ bọn chúng đang chờ "khách" ở đây. Vị khách đầu tiên hoá ra lại là người liên lạc của Sơ-tiếc-lít: giáo sư Pờ-lây-sơ-ne.
- Thế nào? - người đàn ông cao lớn hỏi giáo sư, khi hai bên đã vào hẳn bên trong. - Tình hình ở đằng ấy thì sao?•
- Đâý, - Pờ-lây-sơ-ne nói và chìa cho hắn một ống tí xíu mà ông ngậm trong miệng. - Trong này có nói hết mọi điều.
Cái đó đã cứu ông: bọn Đức không biết mật khẩu cũng như những người có thể tới đây liên lạc. Bởi vậy, chúng quyết định: nếu người liên lạc không bước vào phòng vì không nhận được câu trả lời đúng - thì phải bắt ngay, đánh thuốc mê rồi bí mật đưa về bên Đức. Còn nếu người liên lạc chỉ nói chuyện, thì sẽ bố trí theo dõi anh ta để lần ra đầu mối chính.
Gã đàn ông cao lớn kia đi sang phòng bên cạnh. Tại đó, hắn mở chiếc ống và trải ra bàn một tờ giấy cuốn thuốc lá. Từng cột năm chữ số hiện lên. Các ký hiệu ấy lúc này cũng đang nằm ở Trung tâm giải mã tại Béc Lanh. Cô hiệu thính viên người Nga nhận lời làm việc cho bọn Đức trước kia cũng đã dùng chính ký hiệu mật mã này để truyền báo cáo về Trung tâm.
Gã đàn ông cao lớn chìa tờ giấy cho tên giúp việc và nói:
- Gửi gấp cái này đến sứ quán ta. Nói với anh em ta tổ chức theo dõi thằng cha ấy cẩn thận. Tôi sẽ giữ chân hắn lại và cố gắng nói chuyện với hắn. Thằng cha này ngây ngô lắm, chắc hắn bị đối phương lợi dụng thôi. Tôi sẽ buộc hắn phải mở miệng...
Chương 12
Kết bế con đi lại trong phòng và ru cho con ngủ. Vì Sơ-tiếc-lít đi vắng - chính anh ấy đã nói thế - người ta đưa chị đến một căn phòng bí mật của Sở ghét-xta-pộ, nơi có trang bị một đài vô tuyến tuy nhỏ, nhưng rất mạnh. Kết nhìn mặt đứa con đang ngủ, nghĩ thầm: "Mọi thứ trên đời đều cần phải học: từ cách làm món trứng gà, đến cách tìm sách trong bản thư mục ; toán học lại càng cần phải hơn. Và chỉ riêng tình mẫu tử là không cần học. Không cần học cách ru con và nựng con sao cho đứa trẻ ngủ ngon và đẫy giấc hơn".
Làm nhiệm vụ canh gác chị là Bác-ba-ra, một ả cố làm ra vẻ hiền lành và biết suy nghĩ. Á còn trẻ và rất thích nói chuyện trước bữa ăn tối. Người lính ss tên là Ghen-mút sống ở phòng bên cạnh, làm nhiệm vụ nấu ăn cho cả ba người. Chú bé con đã ngủ. Bác-ba-ra, Kết và Ghen-mút ngồi quanh chiếc bàn ăn phủ khăn trắng để kỷ niệm ngày sinh thứ mười chín của ả Bác-ba-ra, hội viên Hội thanh niên Hít-le. Trong bữa ăn long trọng gồm có món khoai tây và thịt bò dim, Bác-ba-ra nói rằng, sau khi nước Đức chiến thắng hoàn toàn, phụ nữ sẽ có thể giải ngũ và không tham gia sản xuất nữa, mà chỉ ở nhà để làm công việc của mình, tức là bắt đầu xây dựng gia đình Đức đông đúc.
- Đẻ và nuôi con, đó là nhiệm vụ của phụ nữ, - Bác-ba-ra nói. - Tất cả những việc còn lại đều là chuyện hão huyền. Con người phải trở nên khoẻ mạnh. Không có gì trong sạch hơn bản năng thú tính. Tôi chẳng sợ gì mà không nói đến điều đó một cách công khai.
- Nghĩa là thế nào? - Ghen-mút cau có hỏi. Ghen-mút là người được điều từ quân thường trực về đây, sau khi bị chấn thương nặng. - Hôm nay cô ở với tôi, ngày mai cô đi với người khác, ngày kia lại ăn nằm với người thứ ba ư?
- Đó là hành động hèn hạ, - Bác-ba-ra nhăn mặt nói. - Gia đình là một cái gì thiêng liêng và chắc chắn. Nhưng nếu như trên giường ngủ với chồng tôi, ông bố trong gia đình, chẳng lẽ tôi lại không thể tận hưởng khoái cảm đầy sức mạnh của tình yêu hệt như với người thứ hai, người thứ ba hoặc người thứ tư, hay sao? cần phải giải thoát mình khỏi sự ngượng ngùng. Xấu hổ cũng chỉ là chuyện hão huyền. Nếu vợ chồng tôi có thể yêu nhau như cả hai chúng tôi đều muốn, thì làm gì có chuyện phản bội nhau. Người vợ đến với người đàn ông khác để tìm kiếm sức lực hoặc sự khéo léo... Chắc chị không đồng ý với tôi phải không? - ả quay sang hỏi Kết.
- Không đồng ý.
- Tại sao?
- Thế thôi...
- Đó không phải là câu trả lời...
- Đó là câu trả rời.
- Ý muốn gây ấn tượng tốt đẹp nhất cũng là mưu mẹo của người phụ nữ. Mưu mẹo ấy cổ xưa như thế giới nào vậy. Chị có cảm thấy rằng anh Ghen-mút hiền lành của chúng ta sẽ thích tôi hơn chị hay không? - ả Bác-ba-ra cười phá lên. - Anh ấy sợ bọn Xla-vơ lắm, hom nữa, tôi lại trẻ hơn chị...
- Tôi căm ghét phụ nữ. - Ghen-mút lẩm bẩm.
- Tại sao? - Bác-ba-ra hỏi và nháy mắt tinh nghịch với Kết. - Tại sao anh căm ghét chúng tôi?
- Phụ nữ còn tồi tệ hom kẻ tàn ác. Kẻ tàn ác không lừa dối - bộ mặt thật của hắn lộ ra ngay. Còn đằng này lúc đầu cứ ngọt như mật ong, làm cho mắt người ta cứ tít lại, nhưng sau đó thì túm chặt lấy người ta mà xoay, mà lắt, đã thế lại còn đi ăn nằm với người bạn thân nhất của chồng nữa chứ... Nhất là khi chồng mình yếu đi.
- Bà vợ đã cho ông anh mọc sừng rồi! - Bác-ba-ra thậm chí vỗ tay hoan hô.
Kết thầm nhận xét rằng ả Bác-ba-ra có hai cánh tay rất đẹp, mềm mại, uyển chuyển, các móng tay hổng hồng được đánh bóng cẩn thận, tuy không dùng thuốc đánh móng tay.
Ghen-mút nặng nề nhìn Bác-ba-ra không nói gì: Ghen-mút lệ thuộc vào ả, vì Ghen-mút chỉ là lính trơn, trong khi ả là hạ sĩ.
-Xin lỗi, - Kết nói và đứng dậy, tôi có thể phòng mình được không?
- Có chuyện gì thế? - Bác-ba-ra hỏi. - Hôm nay địch không ném bom, công việc chị cũng chưa phải làm, có thể ngồi chơi lâu hơn mọi hôm một chút.
- Tôi sợ cháu bé thức dậy... Chúng ta nói chuyện to quá...
- Tại sao nó lại phải thức dậy? Ghen-mút, thằng bé nằm bao nhiêu lâu ở ngoài ban-công?
Tôi vẫn để nó nằm ngoài ấy một giờ buổi sáng và một giờ sau bữa ăn trưa. Gần tôi, trời trở lạnh, cho nên tôi quyết định đặt nó trong phòng... Trẻ con bây giờ rất dễ bị cảm lạnh...
- Có lẽ cô cho phép tôi ngủ với cháu chứ? - Kết hỏi - Tôi thương hại ông Ghen-mút, có lẽ cháu bé không để ông ấy ngủ đẫy giấc...
- Chú bé hiền lắm. Ghen-mút nói. - chẳng khóc bao giờ...
- Không được, Bác-ba-ra nói. - Người ta cấm chị và thằng con chị ngủ chung một phòng.
- Tôi trốn đi đâu được? Kết cố gượng cười. - ở đây cửa ngõ rào khoá chắc chắn quá còn gì.
- Trốn khỏi đây thì không được, - Bác-ba-ra nói, - chúng tôi có hai người, khoá cổng lại chắc chắn. Không, tôi rất tiếc rằng đó là lệnh của cập trên. Chị thử nói với ông sếp của chị xem...
- Nhưng ông sếp của tôi là ai?
- Đại tá Sơ-tiếc-lít. Ông ấy dễ tính thôi, ông ấy có thể làm trái chỉ thị của cấp trên, trong trường hợp chị làm việc tốt. Mỗi người phụ nữ có động cơ làm việc riêng: người thì vì tiền, kẻ vì đàn ông, còn động cơ tốt nhất kích thích chị làm việc là đứa con của chị. Có phải thế không?
- Đúng thế, - Kết trả lời. - Cô nói đúng.
- Chị muốn hỏi tôi điều gì phải không? - Bác- ba-ra nói trong khi cắt một miếng khoai tây nhỏ.
Kết nhận thấy cô ả ăn uống như trong một bữa tiệc chiêu đãi ở Bộ Ngoại giao. Động tác của ả hết sức kiểu cách, và mấy củ khoai tây bị giun đục khoét ở nhiều chỗ mà ả khéo léo cắt xén trông cứ như một thứ quả lạ lùng.
- Cô hãy cho biết, nếu cô ở vào hoàn cảnh như tôi, cô có đồng ý cộng tác với đốì phương để cứu sống đứa con hay không?
Bác-ba-ra không trả lời ngay. Ăn hết củ khoai tây, ả đặt chiếc dĩa bằng bạc xuống chiếc khăn ăn hồ bột và lấy một tay che miệng, còn tay kia dùng một chiếc tăm bằng xương để xỉa răng.
- Nói với chị thế nào nhỉ... Này, đến nay chị vẫn chưa đặt tên cho thằng bé...
- Tôi sẽ gọi cháu là Vơ-la-đi-mia...
- Để nhớ đến ai? Ông bố chị tên là Vơ-la-đi-mia à? Hay bố thằng bé... Tên anh ấy là gì nhỉ?
- Tên ai?
- Tên chồng chị?
- E-rơ-vin.
- Tôi biết là Ê-rơ-vin rồi... Nhưng tôi muốn trả hỏi tên thật ở bên Nga của anh ấy kia...
- Tôi chỉ biết nhà tôi là Ê-rơ-vin thôi.
- Thậm chí anh ấy cũng không nói tên thật với chị à? Anh ấy tên là Ê-rơ-vin khi hai người cưới nhau à?
- Chúng tôi không tổ chức lễ cưới...
- Không đúng.
- Chúng tôi lấy nhau ở đây. - Kết mỉm cười. - Tôi được phái đến Béc Lanh cùng với Ê-rơ-vin. Theo tôi, những người hoạt động tình báo của nước Đức, cũng như mọi nhà tình báo trên thế giới, chỉ biết nhau qua bí danh. Tên thật của tôi là Ca-chi-a, chứ không phải là Kết, cái đó thì chỉ có cấp chỉ huy của tôi ở Mát-xcơ-va và có lẽ cả những người chỉ huy của chồng tôi ở đây biết được thôi.
- Về câu hỏi của chị... - Bác-ba-ra nói sau một phút im lặng. - Hình như Vơ-la-đi-mia là tên gọi của Lê-nin... Nếu rơi vào hoàn cảnh như chị, tôi sẽ đặt tên cho con trai là A-đôn-phơ. Tôi không rõ mình sẽ xử sự ra sao... Nhưng tôi nghĩ rằng tôi sẽ xử sự không giống như chị. Thôi được. Có lẽ chị có thể về phòng mình được rồi đấy. Ngày mai người ta muốn đưa chị tới Băng-xơ-đoóc. Việc ấy hình như là theo ý kiến của chị - đến những nơi Ê-rơ-vin đã đến, để cấp chỉ huy của chị khỏi lo ngại cho số phận của chị, khi chúng ta bắt đầu làm việc...
- Vâng, - Kết trả lời, - đó là ý kiến của tôi. Nếu người của tôi thấy tôi được tự do, họ sẽ yên tâm. Tôi nghĩ rằng cấp chỉ huy của tôi ở đây còn có một đài phát nữa, ông ta có thể báo tin về Mát-xcơ-va thất bại của tôi, nếu không nhận được ám hiệu chứng tỏ tôi đang tự do, thì toàn bộ trò chơi của các vị ở đây sẽ dẫn đến con số không tròn trĩnh...
- Ông chủ của chị ở đây không có đài phát thứ hai đâu, - Bác-ba-ra nói. - Và chị hãy cám ơn Chúa là vụ này do Sơ-tiếc-lít phụ trách: trong tổ chức của chúng tôi, ồng ấy nổi tiếng là người có óc tự do và lô-gích... Nhân tiện hỏi chị: sáng mai, chính ông ấy đích thân lái xe đưa chị đi khắp thành phố phải không? Ông ấy có nói với chị chuyện đó không?
- Tôi không biết ai sẽ đưa tôi đi trong thành phố, - Kết đáp. - Dĩ nhiên, ông dự thẩm không nói chuyện đó với tôi. Tôi nói rằng nên làm như vậy, còn ai thực hiện thì người ta không cho tôi biết.
Nhưng đêm khuya hôm ấy, người đến căn phòng bí mật mà Kết đang ở không phải là Sơ-tiếc-lít, mà là Rôn-phơ và hai tên giúp việc của hắn. Hắn có vẻ đang vui vì đã uống rượu, cho nên, sau khi đánh thức Kết, hắn ăn nói rất lịch thiệp và cứ luôn luôn chen mấy câu tiếng Pháp vào lời nói của mình. Muyn-lơ bảo hắn rằng Can-ten-bơ-ru-ne đã đồng ý để chính Rôn-phơ làm việc với cô hiệu thính viên người Nga trong những ngày Sơ-tiếc-lít đi vắng.
- Sê-len-béc bảo tôi rằng ông ta đề nghị Sơ-tiếc-lít đi làm nhiệm vụ ở một nơi xa... Tôi cho rằng đó là một biện pháp thông minh, vì Rôn-phơ sẽ có phương pháp đối xử trái ngược với mụ hiệu thính viên kia: sau khi qua tay một viên dự thẩm dữ tợn, bọn phạm nhân đặc biệt thích gặp người hiền lành. Sơ-tiếc-lít chả là tay hiền lành mà, có phải thế không? - Can-ten-bơ-ru-ne nói rồi cười theo một kiểu riêng và chìa xì-gà mòi Muyn-lơ.
Muyn-lơ châm lửa và thoáng nghĩ: có nên báo cáo về dấu tay trên máy điện thoại tối mật trong phòng thông tin liên lạc đặc biệt, sự trùng hợp giữa nó với dấu tay trên chiếc va-li của mụ hiệu thính viên người Nga chăng? Nhưng sau khi cân nhắc trong lúc hít hơi thuốc "Ca-rô" rất nặng, Muyn-lơ quyết định không nói cho Can-ten-bơ-ru-ne biết cả chuyện ấy, cũng như không nói việc bí mật lấy dấu tay của tất cả nhân viên trong cơ quan an ninh. Vấn đề là ở chỗ: y, tức Muyn-lơ này, phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số nhân viên SĐ và ghét-xta-pô trong cơ quan an ninh quốc xã. Y nghĩ, Can-ten-bơ-ru-ne sẽ lập tức nổi giận và đổ lên đầu y mọi trách nhiệm, nếu y để cho kẻ thủ ngồi chễm chệ ngay trong ngôi nhà của mình. Muyn-lơ hài lòng về việc Him-le biết chuyện có kẻ nào đó trong cơ quan an ninh gọi điện thoại cho Boóc-man, mà Can-ten-bơ-ru-ne không biết ; thực tê ấy cho phép y hành động linh hoạt giữa hai thế lực. Bởi vậy, dĩ nhiên y không báo cáo với Him-le về việc Can-ten-bơ-ru-ne cũng không hay biết gì về cú điện thoại bí hiểm gọi về bộ tham mưu của đảng Quốc xã, một sự kiện bị Him-le coi như một hành động phản bội, một sự tố giác.
- Ngài có muốn tìm hiểu xem Sơ-tiếc-lít làm việc với mụ hiệu thính viên thế nào không ạ? - Muyn-lơ hỏi.
- Để làm gì? - Can-ten-bơ-ru-ne ngạc nhiên. - Ông tìm hiểu làm gì? Theo tôi, chính trò chơi vô tuyến là lĩnh vực anh ta khôn khéo nhất.
"Chẳng lẽ ông ta đã quên lời nói của ông ta rồi hay sao? - Muyn-lơ ngạc nhiên. - Hay là ông ta giữ bí mật với mình. Có nên nhắc ông ta nhớ đến việc ấy không? Hay làm như thế là vô lý? Thật là một cơ quan đáng nguyền rủa, vì ở đây người ta giở thói láu cá ra với nhau! Lẽ ra cần đánh lừa đối phương, thì lại đi xỏ mũi nhau! Thật chẳng còn ra làm' sao!"
- Để cho Rôn-phô độc lập làm việc với cô nghệ sĩ dương cầm Nga chăng, thưa ngài?
Người ta thường gọi nhân viên điện đài là "nghệ sĩ dương cầm", còn người chỉ huy nhóm tình báo là "nhạc trưởng". Gần đây, trong cảnh rối loạn, khi hàng vạn người lánh nạn đổ về Béc Lanh, khi phải bố trí chỗ ăn ở cho các nhân viên mang hồ sơ lưu trữ từ Đông Thổ, A-a-khen, Pa-n và Bu-ca-rét chạy về đây, người ta quên mất các thuật ngữ ấy và bắt đầu gọi những người bị bắt theo nguồn gốc dân tộc, chứ không theo nghề nghiệp của họ nữa.
Bởi vậy, Can-ten-bơ-ru-ne buồn bã nhắc lại:
- Với cô nghệ sĩ dương cầm ếy à?... Không, bảo Rôn-phơ nên trao đổi với Sơ-tiếc-lít. Mục đích là một, nhưng cách vươn tới mục đích có thể khác nhau... vẫn chưa thấy bọn nga điện gì sang đây à?
- Hiện thời thì chưa.
- Kết quả ở phòng giải mã ra sao?
- Họ đã đi được nửa chặng đường. Mật mã này tinh vi lắm.
- Hãy tác động mạnh đến cô nghệ sĩ dương cầm. Tôi không tin là cô ta không biết mật mã của tên chỉ huy ở đây.
- Sơ-tiếc-lít tiến hành công việc với cô ta theo các phương pháp riêng của anh ấy.
- Sơ-tiếc-lít đi vắng, cứ để Rôn-phơ tác động đến cô ta.
- Theo cách của Rôn-phơ ạ?
Can-ten-bơ-ru-ne định trả lời, nhưng chuông điện thoại trên bàn reo vang: từ hầm ngầm của Quốc trưởng, Hít-le mời Can-ten-bơ-ru-ne tới họp...
Can-ten-bơ-ru-ne vẫn nhớ câu chuyện về Sơ- tiếc-lít. Nhưng tối ngày hôm kia, hắn có gặp Boóc- man, và đôi bên trò chuyện khá lâu về vấn đề bảo đảm di chuyển hồ sơ lưu trữ của đảng. Trong lúc trao đổi, Boóc-man có nói:
- Người của ông phải giữ bí mật tuyệt đối về phía mình. Ông hãy dùng những người đáng tin cậy nhất của chúng ta vào việc này như Muyn-lơ, Sôn-xơ, Sơ-tiếc-lít...
Can-ten-bơ-ru-ne biết điều kiện của trò chơi: nếu Boóc-man không hỏi gì về một người nào đó, mà lại đích thân nhắc đến tên người ấy, thì điều đó có nghĩa là Boóc-man đang chú ý đến anh ta, Boóc-man cần đến anh ta.
- Tiện thể muốn hỏi ông một điều: người của ông đã tìm thấy anh lái xe của tôi chưa? - Boóc-man hỏi. - Tôi đã ra lệnh tìm bằng được anh ta. Và phải bảo họ tìm cho ra tìm, tìm cho kỳ được, chứ đừng có làm chiếu lệ.
Can-ten-bơ-ru-ne trả lời rằng hắn không biết gì về anh lái xe, nhưng nhất định hắn sẽ hỏi cho ra và sẽ báo cáo kết quả lên ngay.
... Mãi đến lúc này, ngồi trong xe chạy đến chỗ Hít-le, Can-ten-bơ-ru-ne mới bỗng nhớ đến người lái xe của Boóc-man, vì hắn hiểu rằng kẻ đầu tiên mà hắn gặp ở hầm ngầm chắc chắn sẽ là Boóc-man...
- Xin lỗi, mon petit, là tôi đã đánh thức cô dậy, - Rôn-phơ nói và ngồi xuống cuối giường Kết. Kết kéo tâm chăn nâu lên đến cằm, đó là một chiếc chăn tốt, làm bằng lông lạc đà, tuy có bị cháy xém ở hai chỗ. - Sức khoẻ của cô ra sao?
- Cảm ơn.
- Cháu bé thế nào?
- Cảm ơn.
- Cô uống chút rượu nhé?
- Cảm ơn tôi không được uống...
- Uống một ly thì ai cấm.
- Không. Sẽ ảnh hưởng xấu đến con tôi.
- Chà... Tôi xin nhiệt liệt hoan hô các bà mẹ của trái đất! Cô có lạnh không? - Và không đợi Kết trả lời, hắn thò tay vào trong chăn.
Kết quặp chăn lại và nói:
- Tôi xin ông hãy quay ra bàn...
- Tại sao? Hai người giúp việc của tôi đang uống rượu ở phòng khách: |họ mang rượu vang đến cho tiểu thư Bá-ba-ra... Họ sẽ không làm phiền... công việc của chúng ta... Tiểu thư Bác-ba-ra đáng yêu lắm, phải không cô? La femme aime à être initiée, en tre deux baissers aux mystères de 1his- toire, de morale et de literature. Cô nên dịu dàng và tươi cười với tôi, chứ không nên nhìn tôi hầm hầm như thế...
- Nếu ông đi ra ngoài, tôi dậy mặc quần áo, thì tôi với ông mới có thể nói chuyện được...
- Tôi thích nói chuyện với phụ nữ khi họ không mặc quần áo kia... Như thế dễ tiếp xúc hơn. Cô phản đối ư?
- Ông phải hiểu rằng chồng tôi vừa mới chết... Ông hãy để tôi hoàn hồn đã chứ...
Ô... Khi cô hoàn hồn thì tồi đã chui xuống lỗ vì một quả bom lạc rồi. Cứ để cho những kẻ được sống lâu ngồi mà chờ đợi... Càng nhiều tuổi, tôi càng xác định rõ rằng tình yêu - đó là apercus de morale et do politique của tôi. Tôi căm thù việc sử dụng sức mạnh ; chúng ta hãy làm bạn với nhau một cách giản dị và bí mật... Cô đáng yêu lắm, tôi sẽ cố gắng thay thế chồng cô...
Rôn-phơ kéo chăn về phía hắn.
- Chúng mình sẽ rất thoải mái, - Rôn-phơ vừa nói vừa cởi cúc áo. - Nhưng sướng nhất sẽ là cô. Cô sẽ không chỉ là nhân viên điện đài của đối phương, mà còn là bạn gái của một sĩ quan ss nữa.
- Tôi kêu lên bây giờ, - Kết nói. - Ồng ra đi, tôi yêu cầu ông...
- Kêu thì ngốc nghếch quá. Cô đi cãi nhau với tôi trong khi số phận sau này của cô đang nằm trong tay tôi... Nào?
Kết nhảy'từ trên giường xuống đất, chạy ra cửa và đấm thình thình vào cánh cừa.
- Bác-ba-ra!
Rôn-phơ vội vàng cài cúc áo và nói:
- Cô điên rồi sao? Lẽ ra cô không nên làm công tác tình báo, mà đi làm ở nhà xí công cộng mới phải. Cô nằm lên giường và đắp chăn lên đi! Nhanh lên!
Khi Bác-ba-ra má đỏ hãy hãy, mắt sáng rực chạy đến, theo sau là hai sĩ quan trẻ cầm mấy cốc rượu vang trên tay, Rôn-phơ nói:
- Cô Kết đáng yêu của chúng ta lo không biết chú bé ngủ có ngon không?
- Chú bé ngủ ngon lắm. Cha đỡ đầu của nó là Ghen-mút đã hai lần nhắc rằng chúng tôi làm ồn quá.
- Cảm ơn ngài Rôn-phô, - Kết đóng vai rất đạt trong hoàn cảnh ấy, - ngài đã xử sự như một hiệp sĩ chân chính.
- Cả cô nữa, - Rôn-phơ hiểu ý Kết, hoạ theo, - vous vous conduisez comme un sage... Chúc cô ngủ ngon. Chúng tôi sẽ không làm phiền cô nữa, nếu Mát-xcơ-va của cô không tung làn sóng liên lạc lên không trung, có chuyện gì thì sĩ quan trực máy sẽ đánh thức cô dậy.
- Tôi hiểu.
- Không hiểu sao Mát-xcơ-va im lặng lâu đến thế... Các bạn của cô ở đấy quên cô rồi chăng?
- Quên tôi ư? Không đâu. Chẳng qua có thể là vì họ biết rằng tôi bị bắt...
- Không, chuyện ấy thì họ không thể biết được: tôi hy vọng rằng cô không nghi ngờ cả đại tá Sơ-tiếc-lít lẫn tôi có liên lạc với điện Cờ-rem-li chứ? - Rôn-phơ mỉm cười. - Chúng tôi biết có chuyện gì xảy ra với cô - bệnh viện cho cô xuất viện ngày hôm kia, và cô bế con ra đi không biết theo hướng nào... Chúc cô ngủ ngon và thấy những giấc mơ đẹp đẽ...

Những tay chân thân cận nhất của Him-le làm việc hai ngày đêm liền để lục lọi đống hồ sơ lưu trữ cướp được của Boóc-man mà vẫn không tìm ra những tài liệu mà tên thống chế ss muốn săn tìm trước hết. Không tìm được một tài liệu nào khả dĩ có thể soi sáng những con đường mà đảng Quốc xã đó có chuyển tiền sang các nhà băng nước ngoài. Chắc rằng các thứ giấy tờ ấy đã được di chuyển đi từ trước, hoặc giả Boóc-man dùng trí nhớ kỳ lạ của y để ghi lại ký hiệu mật mã ở các nhà băng và tên họ các điệp viên tài chính mà y có thể cần đến trong ngày hoà bình đầu tiên, hoặc giả - và đây là điều đáng ghét nhất - các tài liệu đó lại nằm trong số mựời ba chiếc xe đã vượt khỏi vòng vây của Ôt-tô Coóc-xe-ni và đội quân với đoàn xe tăng đang đứng chờ hộ tống.
Tuy nhiên, trong số, hồ sơ lưu trữ mà đơn vị của Coóc-xe-ni vớ được, cũng có những tài liệu đáng chú ý đến mức cao nhất. Chẳng hạn, trong đó có báo cáo của Sơ-tiếc-lít - tuy anh không ký tên bên dưới, nhưng nó chứng tỏ trong nội bộ cơ quan SĐ đã chín muồi một sự phản bội.
Him-le chìa cho Sê-len-béc xem tờ giấy ấy và yêu cầu y tiến hành điều tra. Sê-len-béc hứa thi hành mệnh lệnh của Thống chế, mặc dù y thừa hiểu rằng đó là việc không thể làm được. Tuy nhiên, sự hiện diện của tờ giấy ấy khiến y nghĩ rằng, trong hồ sơ lưu trữ của Boóc-man còn những tài liệu quan trọng hơn, cho phép y kiểm tra lại một lần nữa các cộng sự viên của y, để biết họ có làm việc cho Boóc-man hay không, và nếu có thì bắt đầu từ thời gian nào, về những vấn đề gì và cụ thể là chống lại ai. Sê-len-béc không sợ các cộng sự viên của y làm việc cho hai ông chủ cùng một lúc. Người của Boóc-man có thể dùng các khẩu hiệu ái quốc để tuyển mộ họ. Đốì với Sê-len-béc, điều quan trọng là xác định rõ xem Boóc-man đã biết những gì về bí mật cao nhất của y - về việc y tìm kiếm hoà bình.
Một số nhân viên của Sê-len-béc được giao làm việc đó. Ngày nào y cũng hỏi xem có tin gì mới không, nhưng lần nào y cũng chỉ được nghe trả lời: "Hiện giờ vẫn chưa có gì đáng chú ý cả".
- Cấp chỉ huy của ông thế nào? - gã đàn ông cao lớn hỏi. - Khoẻ chứ?
- Vâng, - Pờ-lây-sơ-ne mỉm cười. - Tất cả vẫn đâu vào đấy.
-Ông dùng cà-phê nhé?
- Cảm ơn. Rất vui lòng.
Gã đàn ông bước vào bếp và từ đó hỏi vọng ra:
- Ồng thu xếp chỗ ăn ở tốt chứ?
- Vâng, rất tốt.
- Mái nhà của ông có kín không?
- Tôi sống ở tầng hai kia mà, - Pờ-lây-sơ-ne trả lời như vậy, vì không hiểu tiếng lóng nghề nghiệp.
Tên nhân viên ghét-xta-pô cười khẩy trong lúc đổ bột cà-phê từ trong cối xay ra: hắn đã đoán đúng, người đến gặp hắn không phải là một nhà tình báo chuyên nghiệp mà chỉ là người tình nguyện giúp việc ai đó thôi - theo lối nói lóng của các nhà tình báo trên toàn thế giới, "mái nhà", có nghĩa là "nơi ẩn nấp".
"Tuy nhiên, không nên vội vàng, - hắn tự nhủ, - lão già đã nằm gọn trong túi mình. Lão sẽ tuôn ra hết, chỉ cần thận trọng hơn một chút nữa với hắn thôi...".
- Ở Đức chả có loại cà-phê này đâu, - hắn nói và đẩy tách cà-phê lại gần Pờ-lây-sơ-ne. - Bọn chó má bên ấy bắt nhân dân uống nước gạo chứ đâu có bán cà-phê Bơ-ra-xin chính cống như ở đây.
- Tôi quên cả mùi vị rồi, - Pờ-lây-sơ-ne nhấp một ngụm nhỏ và tán thành. - Tôi không được uống loại cà-phê như thế này đã mười năm nay.
- Người Hy Lạp đã dạy tôi cách uống cà-phê đặc với nước trắng. Ồng có muốn thử xem nó ra sao không?
Lúc này, tất cả mọi thứ đều làm cho Pờ-lây- sơ-ne vui. Ồng đi lại nhẹ nhàng, suy nghĩ thoải mái, hít thở cũng nhẹ nhàng thoải mái như vậy. Ông cười:
- Tôi chưa uống cà-phê với nước trắng bao giờ.
- Thú vị lắm: sự tương phản về nhiệt độ và mùi vị gây cho ta một cảm giác đặc biệt và ít ảnh hưởng tới tim hơn.
- Đúng, Pờ-lây-sơ-ne nhấp một ngụm nước và nói, - thú vị thật!
- Cấp chỉ huy có dặn ông bảo tôi điều gì không?
- Không. Chỉ có chiếc ống thôi.
- Lạ quá nhỉ.
- Sao lại lạ?
- Tôi tưởng đồng chí ấy sẽ dặn tôi khi nào chờ đón đồng chí ấy đến.
- Không thấy người ấy nói gì về chuyện đó cả.
- Tôi quên không hỏi, có lẽ ông đói bụng rồi chăng?
- Không, cảm ơn ông, tôi đã ăn sáng khá no rồi.
- Ông đủ tiền tiêu chứ?
- Tôi đủ tiền chi tiêu trong thời gian đầu.
- Nếu ông cần tiền thì cứ ghé lại chỗ tôi. Dĩ nhiên, tôi không thể đưa cho ông nhiều, nhưng để chi tiêu những món cần thiết thì bao giờ người ta cũng tìm được ít nhiều... Nhân tiện xin hỏi: ông có thấy cái đuôi nào không?
- Cái đuôi ư? Cái đuôi là cái gì? Là kẻ theo dõi ấy à?
- Vâng.
- Ông biết không, tôi chẳng để ý gì cả?
- Thế là không khôn ngoan rồi. Đồng chí ấy không hướng dẫn cho ông hay sao?
- Dĩ nhiên là có hướng dẫn, nhưng lần đầu tiên đến đây, được tự do sau nhiều năm khổ sở, nhất là sau khi đã ở trại tập trung ra, tôi cảm thấy cứ say người thế nào ấy. Cảm ơn ông đã nhắc nhở tôi về chuyện cảnh giác.
- Không bao giờ được quên chuyện đó. Được... Bọn mật thám ở đây thật khôn ngoan... Khôn ngoan lắm... Ồng cần hỏi gì tôi nữa không?
- Tôi ấy à? Không, tôi không cần gì cả...
- Ông đưa hộ chiếu ra đây cho tôi.
- Người ấy dặn tôi phải luôn luôn giữ hộ chiếu ở bên mình...
- Đồng chí ấy có bảo ông rằng từ giờ ông’sẽ hành động theo sự hướng dẫn của tôi không?
- Không.
- Kể cũng phải... Điều đó có nói đến trong bức thư mật mã mà ông vừa chuyển cho tôi. Chúng ta sẽ nghĩ cách tổ chức công việc đúng đắn hơn. Bây giờ thì ông...
- Trở về khách sạn, nằm xuống giường và ngủ một giấc thật đẫy mắt...
- Không... Tôi muốn nói đến... Công việc của ông...
- Đầu tiên phải ngủ một giấc đẫy mắt đã, - Pờ-lây-sơ-ne nói. Tôi mơ ước được ngủ một, hai, ba ngày liền, rồi sau mới bắt đầu nghĩ đến công việc. Toàn bộ bản thảo tôi đều để lại ở Béc Lanh... Nhưng được cái là tôi nhớ gần như thuộc lòng các bài viết của tôi.
Gã đàn ông cầm tấm hộ chiếu Thụy Điển của Pờ-lây-sơ-ne và cẩu thả ném xuống bàn.
- Hai giờ chiều ngày kia ông hãy đến đây mà lấy lại hộ chiếu. Chúng tôi sẽ tự đi đăng ký ở lãnh sự quán Thụy Điển. Nói đúng hơn là chúng tôi sẽ cố gắng đăng ký cho được: bọn Thụy Điển tồi tệ lắm, càng ngày chúng nó càng càn dỡ.
- Ai kia? - Pờ-lây-sơ-ne không hiểu.
Tên nhân viên ghét-xta-pô húng hắng ho - hắn đã bỏ vai kịch đang đóng, và để bù lại thiếu sót vừa phạm phải, hắn châm thuốc lá, hút một hơi dài, thở khói ra rồi mới trả lời:
- Bất cứ ai từ bên Đức sang đây đều bị bọn Thụy Điển coi như là điệp viên quốc xã. Bọn họ không cần phân biệt anh là một người Đức như thế nào - là nhà yêu nước chiến đấu chống Hít-le, hay là nhân viên ghét-xta-pô thì cũng thế cả thôi. Bởi vậy, cần phải hết sức thận trọng.
- Người ấy không bảo tôi đến đăng ký ở lãnh sự quán Thụy Điển...
- Những điều tôì nói với ông đều có viết trong thư.
"Chủ của hắn ở Béc Lanh, - tên nhân viên ghét-xta-pô nghĩ bụng, - điều đó đã rõ, chính hắn chẳng nói rằng hắn để lại các bài viết ở bên ấy đấy thôi. Nghĩa là bọn ta sẽ tóm được một tên ở Béc Lanh... Đó là một thành công lớn. Có điều không nên vội vàng, - hắn nhắc lại với bản thân hắn, - có điều không nên vội vàng".
- Xin cảm ơn ông, - Pờ-lây-sơ-ne nói và đứng dậy. - Món cà-phê này ngon thật, uống với nước trắng lại càng ngon hơn.
- Ông đã báo tin cho đồng chí ấy biết rằng ông đã đến nơi an toàn chưa, hay là ông muốn để tôi làm việc đó?
- Ông có thể báo tin cho người ấy qua các đồng chí của mình à?
"Thằng này là một tên cộng sản, - tên nhân viên ghét-xta-pô thầm nhận xét. - Vớ được món bở rồi!".
- Vâng, tôi sẽ làm việc đó qua các đồng chí của tôi. Còn ông, về phía mình, cũng phải thông báo cho đồng chí ấy biết... Và nên làm gấp...
- Tôi định làm việc đó ngay hôm nay, nhưng không thấy ở chỗ nào có bán loại tem thư mà tôi cần dán lên bưu ảnh để gửi đi.
- Ngày kia tôi sẽ chuẩn bị cho ông loại tem cần thiết nếu không đâu có bán. Loại tem ấy vẽ hình gì?
- Chinh phục Mông-bô-lăng... Màu xanh. Nhất thiết phải là màu xanh.
- Được rồi. Ông có mang bưu ảnh đấy không?
- Không. Tôi để ở khách sạn.
- Dở quá. Không nên để bất cứ cái gì ở khách sạn. Ông là người nước ngoài, người ta có thể khám xét đồ đạc của ông. Sao ông lại có thể thiếu thận trọng đến thế nhỉ?
- Không sao, - Pờ-lây-sơ-ne đáp, - đó là loại bưu ảnh bình thường, tôi đã mua một chục chiếc như thế ở Béc Lanh. Còn nội dung lời văn thì tôi nhớ thuộc lòng, cho nên không có gì thiếu sót cả...
Lúc bắt tay Pờ-lây-sơ-ne ở ngoài cửa, gã đàn ông nói:
- Cẩn thận và cẩn thận, đồng chí ạ. Đồng chí nên nhớ rằng sự yên tĩnh ở đây chỉ là bề ngoài đấy thôi.
- Người ấy.đã dặn tôi. Tôi biết rồi.
- Đề phòng bất trắc, ông hãy để địa chỉ lại cho tôi.
- "Viếc-gi-ni-a". Khách sạn "Viếc-gi-ni-a".
- Ở đấy có bọn Mỹ không?
- Tại sao? - Pờ-lây-sơ-ne hỏi.
- "Viếc-gi-ni-a" là một từ tiếng Anh... Bọn Mỹ thường dừng chân ở các khách sạn mang tên gọi của chúng...
- Không có. Theo tôi, ở đấy không có người nước ngoài.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra điều đó. Nếu ông trông thấy tôi ở khách sạn "Viếc-gi-ni-a", xin ông chớ lại gần chào hỏi tôi, cứ coi như chúng ta không quen biết nhau.
- Được rồi.
- Bây giờ thế này nhé... Nếu ông gặp chuyện gì bất thường, ông hãy gọi điện thoại cho tôi. Ông nhớ được chứ? - Và hắn nhắc đi nhắc lại hai lần một số có sáu chữ số.
- Được, - Pờ-lây-sơ-ne đáp, - trí nhớ tôi rất tốt. Tiếng La-tinh rèn luyện trí nhớ tốt hơn bất cứ phương pháp nào khác...
Sau khi bước ra khỏi cổng chính của toà nhà, Pờ-lây-sơ-ne chậm rãi đi qua đường sang vỉa hè bên kia. ở phía đối diện với ngôi nhà giáo sư vừa bước ra, một ông già mặc áo gi-lê lông thú đang đóng cửa sổ cửa hàng bán thú vật của mình lại. Trong các lồng kính có nhiều loại chim. Pờ-lây-sơ-ne đứng bên tủ kính hồi lâu để xem chim.
- Ngài có muốn mua gì không ạ? - Ông già hỏi.
- Không, tôi chỉ muốn xem các loại chim của ông thôi.
- Loại đẹp nhất tôi để bên trong cửa hàng cơ, - ông già có vẻ hay chuyện. - Tất cả các cửa hiệu khác đều trưng ra ngoài tủ kính loại đẹp nhất. Riêng tôi làm ngược lại, tôi cho rằng chim chóc hoàn toàn không phải là hàng hoá. Chim là chim chứ. Có nhiều nhà văn đến cửa hàng tôi nghe chim hót lắm. Một vị còn bảo tôi: "Trước khi đi xuống địa ngục của một quyển sách mới, giống như "Oóc-phê", thế nào tôi cũng phải nghe thật lâu loại nhạc vĩ đại nhất là tiếng chim hót. Nếu không, tôi không thể hát cho thế giới nghe cái bài hát sẽ tìm ra E-vơ-ri-đi-ca của tôi...
Pờ-lây-sơ-ne lau những giọt nước mắt đột nhiên ứa ra trên mắt ông. Rời khỏi tủ kính, giáo sư nói:
- Cảm ơn ông...
- Ngài bảo sao? - Ông già mặc áo gi-lê lông thú không hiểu giáo sư nói gì, bèn hỏi lại, nhưng Pờ-lây-sơ-ne không trả lời. Ông vội vã đi về nhà trọ của mình, vì cảm thấy một nhu cầu bức thiết là phải ngồi vào bàn và bắt tay vào việc luôn...
- Tại sao lại không nên bật đèn? Anh sợ ai? - Sơ-tiếc-lít hỏi.
- Không phải sợ anh, - Khôn-tốp trả lời.
- Vậy thì cứ việc ngồi mò...
- Tôi đã quen ở nhà anh rồi. ở đây cũng yên tĩnh và tiện lợi lắm.
- Nhất là khi bị oanh tạc. - Sơ-tiếc-lít lầm bầm. - Vùng thắt lưng tôi đau muốn chết đi được. - Không
rõ tôi bị ngộ gió ở đâu. Bây giờ tôi phải vào buồng tắm lấy thuốc át-spi-rin uống đã. Mời anh ngồi chơi. Đưa tay đây tôi chỉ chỗ ghế bành cho.
- Cảm ơn. Tôi đã sờ thấy rồi.
Sơ-tiếc-lít vào buồng tắm và mở tủ thuốc cá nhân của mình.
- Khéo không vì mò mẫm trong bóng tối lại nhầm át-spi-rin với thuốc xổ mất thôi, Sơ-tiếc-lít nói. - Chúng ta hãy hạ rèm che ánh sáng xuống. Loại rèm cửa nhà tôi kín lắm. Rồi ta sẽ đốt lò sưởi. Nếu anh sợ người ta chụp ảnh chúng ta, thì anh ngồi dịch vào trong góc kia. Ngồi đấy thì chả ai nhìn thấy anh đâu.
- Tôi đã thử buông rèm xuống, nhưng rèm nhà anh khoá mở theo kiểu riêng thì phải.
- Không đâu, chẳng qua nó có mấy cái vòng móc vào một cây gỗ đấy thôi. Tôi sẽ bỏ xuống cho mà xem. Nhưng có chuyện gì xẩy ra, anh bạn già? Ai làm cho anh sợ hãi đến thế?
- Muyn-lơ.
-Ông sếp của anh ấy à?
- Đúng thế.
- Có chuyện gì đã xảy ra trong thời gian hai ngày tôi đi vắng? Thế giới bị lật nhào ư? Thượng đế giáng trần chăng? Ông Can-ten-bơ-ru-ne đã cưới một mụ Do Thái chắc?
- Gần như thế, - Khôn-tốp đáp.
Sơ-tiếc-lít buông rèm cửa sổ xuống và toan bật công tắc điện. Nhưng Khôn-tốp nói:
- Tôi rút cầu chì ra rồi. Rất có thể người ta đặt máy ghi âm ở nhà anh.
- Ai đặt?
- Chúng tôi.
- Để làm gì?
- Thì tôi đến đây chính vì việc đó. Anh đã uống át-spi-rin chưa?
- Uống rồi.
- Anh đốt lò sưởi lên đi và ngồi xuống đây - chúng ta ít thời gian lắm, thế mà những vấn đề quan trọng cần phải bàn bạc thì rất nhiều.
Sơ-tiếc-lít lấy củi khô nhóm lò. Lò sưởi kêu ù ù. Kiểu lò sưởi này rất lạ, đầu tiên nó kêu ù ù, rồi khi lửa đã đượm, tiếng ù ù dịu đi.
- Nào, anh bạn. - Sơ-tiếc-lít ngồi xuống chiếc ghế bành gần lò sưởi và hỏi. - Anh gặp chuyện gì không hay vậy?
- Tôi ấy à? Tôi chẳng gặp chuyện gì cả. Vấn đề là anh sẽ làm gì kia?
- về nguyên tắc?
- Cả về nguyên tắc...
- Về nguyên tắc thì tôi định tắm rửa và đi ngủ. Tôi lạnh và mệt chết người đi được.
- Tôi đến với anh như một người bạn.
- Thôi đủ rồi, - Sơ-tiếc-lít nhăn mặt. - Làm sao anh cứ tung hoả mù ra như một đứa trẻ con ấy thế? Hay anh là Mông-tê Cơ-ri-xtô? Anh có muốn uống rượu không?
- Muốn.
Sơ-tiếc-lít mang chai cô-nhắc lại, rót rượu ra cốc cho Khôn-tốp và cho mình. Hai người lặng lẽ uống.
- Cô-nhắc ngon quá!
- Uống nữa không? - Sơ-tiếc-lít hỏi.
- sẵn sàng.
Hai người uống một cốc nữa, Khôn-tốp bẻ ngón tay và nói:
- Anh Sơ-tiếc-lít ạ, suốt tuần qua tôi nghiên cứu hồ sơ về anh.
- Tôi không hiểu...
- Muyn-lơ sai tôi bí mật điều tra công việc mà anh tiến hành với các nhà vật lý.
- Khôn-tôp, sao anh cứ úp úp mở mở với tôi thế? Thú thật là tôi chả hiểu gì cả. Hoặc là anh giải thích cụ thể về quan hệ giữa nhà vật lý bị bắt với tôi, hoặc là anh giảng cho tôi nghe, vì sao anh lại bí mặt kiểm tra công việc của tôi và Muyn-lơ lại tìm lý do để buộc tội tôi...
- Tôi không thể giải thích điều đó với anh. Vì chính tôi cũng chả hiểu gì hết. Tôi chỉ biết rằng anh đáng bị theo rõi riết.
- Tôi âỳ à? - Sợ-tiếc-lít ngạc nhiên. - Đó là một trò ngu ngốc! Hoặc là các vị chỉ huy của chúng ta bị rối trí hoàn toàn trong tình cảnh hồn loạn' này mất rồi!
- Sơ-tiếc-lít, chính anh đã dạy tôi phải bình tĩnh kia mà.
- Anh muốn bảo tôi phải bình tĩnh sau khi nghe những điều anh nói hả? Đúng, tôi đang nổi nóng đây. Tôi bị dồn vào tình thế buộc phải nổi nóng! Ngay bây giờ tôi sẽ đến gặp Muyn-lơ...
- Ông ấy đang ngủ. Và anh đừng vội đến chỗ ông ấy. Trước hết, hãy nghe tôi nói đã. Tôi sẽ kể cho anh biết tôi đã phát hiện được những gì liên quan tới vụ án các nhà vật lý. Những điều ấy tôi vẫn chưa báo cáo với Muyn-lơ, tôi còn chờ anh về...
Sơ-tiếc-lít chỉ cần một khoảnh khắc là đủ để bình tĩnh suy nghĩ và kiểm tra lại bản thân, xem qua các câu hỏi và trả lời, anh có phạm những thiếu sót, thoạt nhìn rất không đáng kể, nhưng lại nguy hiểm cho anh, hay không, anh có quan tâm quá mức đến một số chi tiết hay không.
- Chờ tôi một tí, - anh nói, A! bụng tôi quặn lại vì hoảng sợ.
- Cái gì cơ? Khôn-tốp ngớ ra chưa hiểu.
- Bệnh của loài gấu, - Sơ-tiếc-lít nhắc lại trong lúc đứng dậy, - anh biết nó là cái bệnh gì không?
Anh đi vào nhà xí, đóng cửa lại và nghe thấy Khôn-tốp nhón chân rón rén đi về phía anh.
"Thằng ngốc, - Sơ-tiếc-lít nghĩ, - hắn có thể làm như vậy ư? Phải cho hạn một bài học mới được".
- Khôn-tốp ơi! - Anh gọi và nghe thấy tên kia nhón chân chạy vội về chồ ngồi của hắn để từ đấy trả lời anh.
- Anh gọi gì thế?
- Anh có thể trả lời ngay chứ không cần chạy loanh quanh trong phòng như thế đâu... Anh hãy nói, xem ai ra lệnh theo dõi tôi nào? Muyn-lơ hay các vị chỉ huy của tôi?
- Anh ra ngoài này, chúng ta sẽ bàn tính mọi khả năng.
- Tôi ra ngay đây...
"Hắn xử sự như thế nào? - Sơ-tiếc-lít nghĩ. - Đến gặp và bảo rằng bọn ghét-xta-pô đang bí mật theo dõi mình là một việc nguy hiểm chết người đối với hắn. Hắn là một tên quốc xã cuồng tín, vậy thì hắn làm sao vậy? Hay là hắn đến thăm dò mình theo lệnh của Muyn-lơ? Chưa chắc, ở đây không có người của bọn chúng, cho nên chúng phải hiểu rằng sau chuyện này mình hoàn toàn có thể trốn đi. Bây giờ không phải là năm bốn mươi ba nữa. Mặt trận gần lắm rồi. Hắn đến đây theo sáng kiến riêng? Hừm... Hắn làm thế nhằm mục đích gì? Hắn không đủ thông minh để chơi những trò quan trọng, mặc dù hắn rất láu cá. Mình không hiểu cái trò ranh ma ngây thơ theo kiểu này lắm, nhưng chính cái trò ranh ma ngây thơ này lại có thể chiến thắng lô-gích và tư tưởng lành mạnh đây. Cho nên, nếu bây giờ mình đóng vai không khéo, thì người ta sẽ không tha thứ cho mình. Mình sẽ làm cho chiến dịch chủ yếu nhất bị gián đoạn, và mình sợ rằng sẽ không có ai tiếp tục chiến dịch ấy thay mình...".
- Anh làm gì trong ấy thế, Sơ-tiếc-lít?
- Tôi chuẩn bị dây thòng lọng. Tôi muốn thắt cổ tự tử...
Ở buồng tắm ra, Sơ-tiếc-lít ngồi vào ghế bành. Anh lấy que cời lật những thanh củi đã cháy lớp trên xuống và nói:
- Nào thì anh khua môi múa mép đi.
- Toàn bộ chuyện này hết sức nghiêm chỉnh.
- Thế trên đời này có chuyện gì không nghiêm chỉnh hở ông bạn?
- Tôi đã gọi ba chuyến viên kiểm nghiệm ở cơ quan của Su-man tới.
Su-man là cố vấn ở Bộ Quốc phòng về vũ khí mới. Người của y nghiên cứu các vấn đề phá vỡ hạt nhân nguyên tử.
- Tôi cũng đã gọi các chuyến viên ở cơ quan ấy tới khi bên các anh tống giam Run-gơ.
- Đúng. Chúng tôi đã tống giam Run-gơ, nhưng tại sao cơ quan tình báo của anh lại quan tâm đến ông ta?
- Anh không hiểu vì sao à?
- Không, tôi không hiểu.
- Run-gơ từng du học ở Pháp và Mỹ. Chẳng lẽ anh lại không đoán biết rằng những sự quen biết của ông ta ở bên ấy còn quan trọng hơn bản thân ông ta ở đây ư? Thái độ thiếu táo bạo trong việc nhìn nhận triển vọng của vấn đề đang giết tất cả chúng ta. Chúng ta sợ hãi, không dám cho phép mình mơ tượng cao xa. Cứ loanh quanh luẩn quẩn mãi một chỗ. Đó chính là sai lầm chủ yếu của chúng ta.
- Đúng thế, - Khôn-tốp tán thành. - Anh nói đúng. Về thái độ táo bạo thì tôi sẽ không tranh luận với anh... Nhưng về những chi tiết thì tôi sẵn sàng tranh luận. Run-gơ khẳng định rằng nên tiếp tục nghiên cứu các khả năng thu được pơ-lu-tô-ni từ các chất có tính phóng xạ cao, mà đó chính là lý do để các nhà phản biện khoa học của ông ta đổ lỗi cho ông ta. Vậy là chính họ đã viết đơn tố giác ông ta, tôi đã bắt họ phải thừa nhận điều đó...
- Tôi không nghi ngờ điều đó.
- Tại sao?
- Tại vì cái quan trọng đối với tôi là làm sáng tỏ vấn đề: có phải Run-gơ giả vờ làm việc hay không, và nếu có thì việc ấy có lợi cho ải? Cho chúng ta hay cho kẻ thù của chúng ta.
- Và anh đi đến kết luận rằng, các đề nghị của Run-gô có lợi cho kẻ thù của chúng ta phải không?
- Anh đọc hồ sơ rồi kia mà.
- Thế nhưng vừa qua người ta từ Luân Đôn lại báo về rằng, Run-gơ nói đúng! Bọn Mỹ và Anh đã bắt đầu đi theo con đường của ông ta! ấy thế mà ông ta lại phải ngồi trong nhà tù ở cơ quan ghét-xta-pô của chúng ta!
- Của các anh chứ, - Sơ-tiếc-lít ôhữa lại lời hắn, - Khôn-tốp ạ, không phải chúng ta, mà là bên các anh - Muyn-lơ và Can-ten-bơ-ru-ne đã khẳng định vụ án ; không phải bà nội của tôi, cũng không phải bà nội của anh, và cũng không phải là bà nội của Su-man là người Do. Thái, mà bà nội của ông ta là dân Do Thái và ông ta đã giấu giếm điều đó...
- Dù ông nội Run-gơ có là dân Do thái ba đời đi chăng nữa cũng mặc! - Khôn-tốp nổi cáu. -
Ông nội của Run-gơ là ai thì đã sao, nếu như ông ta phục vụ chúng ta và phục vụ như một kẻ cuồng tín! Thế mà anh lại đi tin lời bọn đốn mạt!
- Bọn đốn mạt?! Các đảng viên kỳ cựu của phong trào? Những người Đức chính cống? Những nhà vật lý đã được đích thân Quốc trưởng khen thưởng mà là bọn đốn mạt ư?
- Thôi, thôi... Được rồi. Tất cả đều chính xác... Anh nói đúng. Cho tôi xin cốc cô-nhắc nữa nào...
- Anh không vứt cầu chì đi đấy chứ?
- Cầu chì ở tay trái anh ấy, Sơ-tiếc-lít a!
- Tôi hỏi anh chiếc cầu chì điện cơ mà.
- Không, tôi để ở trên bàn, cạnh chiếc gương ấy.
Khôn-tốp uống một mạch hết cốc rượu cô-nhắc và ngửa đầu ra đằng sau.
- Dạo này tôi đâm ra uống nhiều rượu quá, - hắn nói.
- Tôi muốn biết hồi này ai là người uống ít rượu?
- Người nào không một xu dính túi, - Khô-tốp nói đùa. - Những kẻ bất hạnh...
- Điều đó thật nực cười.
- Đó là điều đáng buồn chứ, - Khôn-tốp phản đối. - Nhưng vấn đề không phải ở chỗ ấy. Sơ-tiếc-lít này, anh cho rằng Can-ten-bơ-ru-ne sẽ quyết định như thế nào nếu tôi..báo cáo cho ông ấy biết kết quả kiểm tra của tôi?
- Trước hết, anh phải báo cáo kết quả kiểm tra của anh với Muyn-lơ. Ông ấy là người đã ra lệnh bắt giữ Run-gơ.
- Nhưng anh là người chỉ đạo ông ta, chính cái ông Run-gơ ấy.
- Tôi chỉ đạo ông ta, đúng theo chỉ thị của cấp trên. Tôi chỉ là người thi hành mệnh lệnh...
- Giá như anh thả ông ta ra, thì nửa năm trước đây chúng ta đã có thể tiến rất xa trong việc chế tạo "vũ khí trừng phạt" chứ đâu lại giẫm chân tại chỗ như thế này.
- Anh có thể chứng minh điều đó được không?
- Tôi đã có thể chứng minh được.
- Và tất cả các nhà vật lý đều đồng ý với anh chứ?
- Đa số. Phần lớn những người được tôi gọi đến trao đổi đều đồng ý. Do đó, cái chờ đợi anh sẽ là...
- Chẳng có gì chờ đợi tôi hết, - Sơ-tiếc-lít ngắt lời. - Kết quả nghiên cứu khoa học phải được thực tế xác nhận. Vậy thì các bằng chứng xác nhận ấy đâu?
- Đang nằm trong túi tôi đây.
- Đến thế kia ư?
- Đến thế. Tôi có nhận được một số tin mới nhất từ Luân Đôn gửi về. Đó là bản án tử hình đối với anh.
- Anh muốn gì, Khôn-tốp? Tôi chẳng còn hiểu anh định lái việc này sang hướng nào nữa.
- Tôi sẵn sàng nhắc lại một lần nữa rằng, dù vô tình hay cố ý, chính anh đã làm gián đoạn việc chế tạo "vũ khí trừng phạt". Dù vô tình hay cô ý, nhưng anh, lẽ ra phải hỏi ý kiến hàng trăm nhà vật lý, thì lại chỉ trao đổi với mươi người và dựa theo ý kiến của họ - mà những kẻ này chỉ muốn cô lập Run-gơ - để kết luận rằng, phương pháp của Run-gơ không có triển vọng và chỉ gây tác hại.
- Nghĩa là, anh bảo tôi đừng tin những người lính chân chính của Quốc trưởng, những người được Cây-ten và Gơ-rinh tin cậy, mà tôi nên: bảo vệ một kẻ ủng hộ phương pháp nghiên cứu nguyên tử của Mỹ, phải không? Anh khuyên tôi nên làm như thế hả? Anh bảo tôi phải tin Run-gơ, kẻ đã bị cơ quan ghét-xta-pô bắt giữ - mà ghét-xta-pô thì chẳng vô cớ bắt giữ ai bao giờ - và không nên tin những người đã giúp chúng ta vạch trần bộ mặt thật của ông ta chứ gì?!
- Tất cả lý lẽ của anh xem ra có lô-gích lắm, Sơ-tiếc-lít ạ. Tôi luôn luôn ghen tị với khả năng lập luận hết sức chính xác và hợp lô-gích của anh: anh buộc tội cả Muyn-lơ, người đã ra lệnh bắt giữ Run-gơ, lẫn tôi, người bảo vệ dân Do Thái ở đời cháu, và như vậy là anh trở thành nhân vật tiêu biểu cho niềm tin dựa trên xương máu của chúng ta. Thôi được. Tất cả đều đúng, anh Sơ-tiếc-lít ạ! Tôi đến đây không phải về việc đó. Tuy Run-gơ đang ngồi ở trại tập trung nhờ thái độ quan tâm chu đáo và nhìn xa trông rộng của anh - nhưng ông ta vẫn được sống trong một biệt thự riêng ở thị trấn ss và có điều kiện nghiên cứu vật lý lý Thụyết. Anh Sơ-tiếc-lít ạ, bây giờ tôi mới nói với anh điều chủ yếu: tôi bị lâm vào một tình thế ngu ngốc... Nếu tôi. báo cáo kết quả kiểm tra với Muyn-lơ, ông ấy sẽ hiểu rằng dẫu sao anh cũng vẫn có vũ khí chống lại ông ấy, dù rằng anh đang bị theo dõi riết rao và không phải một mình tôi, mà có mấy người đang điều tra công việc của anh. Phải, anh nói đúng, chính ông ấy đã ra lệnh bắt giam Run-gơ. Nếu tôi bảo ông ấy rằng các kết quả điều tra chống lại anh, thì cái đó sẽ gián tiếp giáng đòn vào cả ông ấy nữa. Còn phần tôi thì lại có thể bị ăn đòn từ cả hai phía, dù cho chuyện ấy hết sức kỳ cục. Cả Muyn-lơ và anh đều sẽ cho tôi ăn đòn. về phần ông ấy, thì là các lý lẽ của tôi cần được kiểm tra đi kiểm tra lại nhiều lần nữa, còn về phần anh thì... anh đã nói đại khái anh sẽ đánh tôi như thế nào rồi đây. Một sĩ quan ghét-xta-pô như tôi sẽ phải làm gì bây giờ? Là một sĩ quan tình báo, anh hãy gợi ý cho tôi xem nào...
"Hắn muốn đưa mình đến chỗ ấy đấy. - Sơ-tiếc-lít đã hiểu. - Một hành động phá hoại chăng? Nếu hắn định ngầm hại mình, thì mình lập tức biết rõ cách xử sự. Nhưng nếu hắn mời mình vào vòng nhảy? Bọn chúng đang chạy trốn khỏi chiếc tàu đắm như một lũ chuột. Không phải ngẫu nhiên mà hắn nói đến quan hệ giữa bọn ghét-xta-pô và cơ quan tình báo. Thế là rõ. Trả lời lúc này hãy còn sớm. Còn sớm".
- Có gì khác.nhau, - Sơ-tiếc-lít nhún vai, - giữa ghét-xta-pô và cơ quan tình báo đâu? Tuy đôi bên mâu thuẫn nhau, nhưng nói chung chúng ta cùng làm một việc giống nhau.
- Đúng, cùng làm một việc, - Khôn-tốp tán thành. - Có điều là những người bên cơ quan ghét-xta-pô chúng tôi bị cả thế giới coi như một bọn đao phủ, một lũ giết người, còn các anh - cơ quan tình báo chính trị - thì nổi tiếng như một loại hương phẩm trang sức tinh vi. Chế độ nào, nhà nước nào cũng cần đến các anh, còn chúng tôi thì chỉ là công cụ của Đế chế thứ ba thôi: chúng tôi sẽ cùng tiến lên hoặc cùng biến mất với Đế chế này...
- Anh hỏi tôi nên hành động như thế nào phải không?
- Vâng.
- Anh định ra sao?
- Trước tiên tôi muốn biết ý kiến của anh đã.
- Căn cứ vào việc anh rút bỏ cầu chì và đề nghị tôi buông rèm xuống...
- Người đề nghị buông rèm là anh chứ?
- Thế à? Khỉ thật, tôi cứ tưởng đó là đề nghị của anh cơ đấy... Thôi được, cái chính không phải ở điểm đó... Anh có muốn rút khỏi trò chơi hay không nào?
- Ở địa vị tôi, anh sẽ làm như vậy à?
- Bây giờ tôi chưa thể trả lời ngay, Khôn-tốp ạ, nếu như chưa nghe anh trả lời "có" hay "không".
- Thế nếu như chúng ta tạm cho phép mình giả thiết một điều không thể làm được, - tôi trả lời rằng "có"?
- Nếu chúng ta giả thiết một điều không thể làm được, thì anh nhầm địa chỉ rồi. Khi đó, anh nên hỏi ý kiến các nhà chiêm tinh học, chứ không nên hỏi tôi.
- Anh có "cửa sổ" ở biên giới không?
- Cứ tạm cho là có.
- Nếu ba người chúng ta chuồn sang các nước trung lập thì sao?
- Ba người?
- Vâng. Đúng là ba người: Run-gơ- anh và tôi. Chúng tôi sẽ cứu cho thế giới một nhà vật lý vĩ đại. ở đây, tôi là người cứu ông ấy, còn công lao tổ chức việc chạy trốn là của anh. Ý anh thế nào? Và anh nên nhớ rằng người bị theo dõi ráo riết là anh, chứ không phải tôi. Mà anh thừa hiểu thế nào là bị Muyn-lơ theo dõi rồi đấy. Sao? Tôi chờ anh trả lời đấy.
- Anh có uống cô-nhắc nữa không?
- Có.
Sơ-tiếc-lít đứng dậy, rút chiếc mở nút chai ra và chậm rãi bước lại bên Khôn-tốp. Tên kia chìa cốc ra. Và đúng vào khoảnh khắc ấy, Sơ-tiếc-lít lấy hết đà giáng cả chai rượu nặng có nhiều cạnh xuống đầu Khôn-tốp. Chiếc chai vỡ tan và rượu cô-nhắc màu nâu tràn xuống mặt Khôn-tốp, hoà lẫn với máu của hắn.
"Mình đã hành động đúng, - Sơ-tiếc-lít lập luận, khi anh dấn ga chiếc xe "Khô-rếch". - Mình không thể hành động khác được. Trong trò chơi "fifty - fifty", không nên đặt cọc một nửa số vốn. Cho dù hắn có thành tâm đến với mình, thì mình cũng vẫn hành động đúng. Mức độ quan trọng của các mục đích trong trường họp này đã chỉ cho mình lối thoát đúng đắn - bằng cách vứt bỏ cái nhỏ, mình đã thu được cái lớn hơn: đó là sự tin cậy hoàn toàn của Muyn-lơ".
Khôn-tốp nửa nằm ngửa ngồi bên cạnh anh, đầu sát cửa xe. Hắn vẫn bất tỉnh nhân sự. Sơ-tiếc-lít đã dùng khoá còng tay hắn lại.
Khôn-tốp nói rằng Muyn-lơ lúc này đã đi ngủ là hắn nói láo. Muyn-lơ không ngủ. Y vừa nhận được từ Trung tâm giải mã bản tin về các sự kiện xảy ra ở phòng hẹn bí mật của ghét-xta-pô ở Béc-nơ. Mật mã của cô nhân viên, điện đài người Nga trùng với mật mã của bức thư được gửi sang Béc-nơ. Muyn-lơ giả thiết rằng cấp chỉ huy tình báo của Nga ở Béc Lanh đã bắt đầu tìm đường dây liên lạc mới, vì cho rằng, các nhân viên điện đài của mình đã bị chết bom, hoặc vì cảm thấy có chuyện không hay đã xảy ra với họ. Y luôn luôn cố gắng không nghĩ đến những dấu tay tai ác in trên bộ điện đài Nga và trên chiếc máy điện thoại ở phòng thông tin liên lạc đặc biệt với Boóc-man. Nhưng càng cố quên nó đi, thì nó lại càng ám ảnh và cản trở suy nghĩ của y. Sau hai mươi năm làm mật thám, y đã luyện được một thói quen đặc biệt: trước hết y dựa vào cảm tính, vào trực giác của mình, rồi sau đó mới kiểm tra lại nhận thức cảm tính đầu tiên đó của mình bằng cách phân tích tỉ mỉ sự kiện hoặc nhân vật mà y chú ý. Ít khi y phạm sai lầm: cảm giác thính nhậy chưa bao giờ làm hại y, cả khi y còn phục vụ nước Cộng hoà Vây-ma trong việc đàn áp các cuộc biểu tình của bọn đảng viên Quốc xã, lẫn khi y chuyển sang phục vụ đảng Quốc xã và bắt các lãnh tụ nước Cộng hoà Vây-ma nhốt vào trại tập trung cả khi y bắt đầu ngả sang phía Gan-ten-bơ-ru-ne. Y hiểu rằng, vị tất Can-ten-bơ-ru-ne đã quên nhiệm vụ giám sát Sơ- tiếc-lít mà hắn giao cho y. Nghĩa là đã có một chuyện gì đó xảy ra, và rõ ràng là xảy ra ở cấp cao. Nhưng Muyn-lơ không biết đó là chuyện gì, xảy ra bao giờ và càng không thể hiểu thấu đáo những nguyên nhân thầm kín dẫn đến việc ấy. Chính vì vậy, y đã sai Khôn-tốp đến đóng kịch ở nhà Sơ-tiếc-lít ; nếu ngày mai Sơ-tiếc-lít tới gặp y kể lại thái độ của Khôn-tốp, thì y có thể yên tâm nhét hồ sơ về anh vào tủ sắt, coi như cuộc điều tra đến đây chấm dứt. Nếu như Sơ-tiếc-lít đồng ý với đề nghị của Khôn-tốp, thì y có thể đến gặp Can-ten-bơ-ru-ne để báo cáo sự việc, căn cứ vào kết quả thăm dò của tên cộng sự viên của y. Và đó sẽ không phải là một cái gì hão huyền chứa đầy những công thức vật lý khó có ai hiểu nổi, mà là một thực tế hiển nhiên không có và không thể có lý do nào phản bác được:
"Được rồi, - y nghĩ tiếp. - Cứ chờ Khôn-tốp về sẽ rõ. Bây giờ đến chuyện cô ả nghệ sĩ dương cầm người Nga. Hiển nhiên là sau khi cấp chỉ huy của nó bắt đầu tìm cách liên lạc qua Thuỵ Sĩ, chúng ta đã có thể áp dụng phương pháp của chúng ta, chứ không dùng lối tâm sự thân thiện của Sơ-tiếc-lít nữa. Làm gì có chuyện, nó chỉ là công cụ đơn giản trong tay cấp chỉ huy của nó. Nó phải biết ít nhiều. Thực tế là nó chưa trả lời được một câu hỏi nào cả. Trong khi ta không có thời gian. Có lẽ nó biết cả chìa khoá để giải loại mật mã từ Béc-nơ gửi về. Như thế là, bằng cách đối chiếu cái mà cấp chỉ huy của nó chuyển sang Béc-nơ, chúng ta sẽ thu được nhiều điều. Chúng ta sẽ có thể bắt đầu một trò chơi vừa chống lại phương Tây, vừa chống lại bọn Nga. Bắt đầu trò chơi ấy vào lúc này là điều quan trọng, hết sức quan trọng. Đó là khả năng thành công cuối cùng của chúng ta".
Y chưa kịp nghĩ hết ý đó thì cửa mở ra và Sơ-tiếc-lít bước vào. Tay anh túm cổ tên Khôn-tốp mặt bê bết máu. Hai tay tên này bị xích chéo ra sau lưng bằng một chiếc khoá tay nhỏ mạ cơ-rôm.
Muyn-lơ nhìn thấy bộ mặt lúng túng của Sôn-xơ, tên trợ lý của y. Y nói:
- Anh điên rồi à, Sơ-tiếc-lít...
- Tôi rất minh mẫn, - Sơ-tiếc-lít đáp và khinh bỉ đẩy Khôn-tốp ngã giúi xuống ghế bành. - Đây mới là thằng điên, hoặc tên phản bội.
- Nước! - Khôn-tốp liếm môi. - Cho tôi xin cốc nước...
- Anh hãy đưa cốc nước cho Khôn-tốp, - Muyn-lơ nói. - Có chuyện gì vậy? Anh giải thích cho tôi nghe xem nào.
- Trước hết hãy để hắn giải thích rõ mọi chuyện, - Sơ-tiếc-lít nói. - Còn tôi thì tốt nhất là tôi sẽ viết một bản báo cáo tỉ mỉ...
Anh đưa nước cho Khôn-tốp uống, rồi đặt cốc lên chiếc khay để bên cạnh bình nước.
- Anh hãy trở về nhà và hãy viết những gì mà anh cho rằng cần phải viết, - Muyn-lơ nói. - Bao giờ anh có thể viết xong?
- Nếu viết ngắn thì mười phút là xong. Viết tỉ mỉ thì đến mai.
- Tại sao lại đến ngày mai?
- Bởi vì hôm nay tôi còn mấy việc phải làm gấp cho xong. Vả lại, thằng cha này cũng chưa hoàn hồn sớm hơn được đâu. Ngài cho phép tôi về chứ ạ?
- Vâng, mời anh về, - Muyn-lơ đáp.
Sơ-tiếc-lít bước ra. Muyn-lơ tháo khoá tay cho Khôn-tốp trầm ngâm xoa bên má đẫm máu của hắn, rồi đi lại chỗ chiếc bàn trên có để cốc nước. Muyn-lơ thận trọng dùng hai ngón tay cầm chiếc cốc soi ra chỗ sáng. Dấu tay của Sơ-tiếc-lít hiện lên rõ rệt. Anh nằm trong số nhân viên mà người ta chưa kịp lấy dấu tay. Vì thói quen làm việc đến nơi đến chốn thì đúng hơn là vì nghi ngờ chính Sơ-tiếc-lít, Muyn-lơ gọi Sô-xơ vào và nói:
- Hãy đưa đi kiểm tra dấu tay trên chiếc cốc này. Nếu tôi ngủ rồi thì đừng gọi. Tôi nghĩ, việc này không câp bách lắm đâu.
Sau khi giao cho Sô-xơ bản báo cáo ngắn gọn gửi Muyn-lơ, Sơ-tiếc-lít vội vã phóng xe đến nhà vị giám mục: ngay bây giờ, anh phải lập tức đưa giám mục sang Thụy Sĩ. ở đó, tất cả đều đã chuẩn bị xong. Pờ-lây-sơ-ne không thể không làm tất cả những gì anh đã dặn. Giám mục Sơ-lắc sẽ là một tờ giấy quỳ. Dù ý chí và nguyện vọng của ông già thế nào chăng nữa, ông già cũng sẽ giúp anh phá vỡ cuộc đàm phán giữa Him-le với những kẻ ở phương Tây coi nhân dân Nga, một dân tộc đã giải phóng châu Âu, là bọn người châu Á man rợ đang đe doạ nền văn minh thế giới.
Nhưng trái với lời Muyn-lơ, bọn tay chân vẫn đánh thức y dậy. Đích thân Sôn-xơ làm việc đó. Dấu tay mà Sơ-tiếc-lít để lại trên cốc nước giống hệt dấu tay in trên ống nghe điện thoại và đây là điều đáng sợ nhất - trùng với dấu tay tìm thấy trên chiếc máy phát vô tuyến của bọn Nga...
"Gửi riêng thống chế ss Hen-rích Hít-le.
Chỉ đánh máy một bản.
Ngài Thống chế yêu quí của tôi!
Tôi đã từ Thụy Sĩ về đến hành dinh của mình. Và tôi muốn miêu tả các sự kiện vừa theo trình tự thời gian từng giờ, vừa cố gắng phân tích một cách khách quan tình hình sắp tới, một tình hình có thể nói là đã chuyển biến theo hướng rất tối dưới ánh sáng và các cuộc thương lượng giữa tôi và Đa-lét.
Ngày hôm qua, tôi và Đôn-man đã mang theo hai lãnh tụ phong trào dân tộc Y lả Pa-ra và U- xơ-mi-a-nị đi sang Thụy Sĩ. Một người giúp việc của thiếu tá tình báo Thụy Sĩ Vai-ben đã thực hiện việc đưa chúng tôi bí mật vượt qua biên giới. Việc vượt biên giới được tổ chức hết sức cẩn thận, nhờ đó chúng tôi đã kịp đáp chuyến tàu đi Du-rích. Đến đấy, Pa-ra và U-xơ-mi-a-ni được đưa vào bệnh viện thực hành Ghi-xơ-lan-đen, một trong những bệnh viện sang trọng nhất ở vùng ngoại ô. Sau đó, tôi được biết là Đa-lét đã tới thăm họ ngay lập tức. Thì ra, Đa-lét và Pa-ra vốn quen biết nhau từ lâu: rõ ràng người Mỹ đang chuẩn bị thành phần cho chính phủ Ý trong tương lai theo ý muốn của họ, một chính phủ dựa vào danh tiếng của những người du kích không phải là đàng viên cộng sản mà là các lãnh tụ theo đường lối quân chủ, nhứng nhà dân tộc chủ nghĩa cuồng tín chỉ chống lại Mút-xô-li-ni trong thời gian vừa qua, khi chúng ta buộc phải tiến quân sang đất Ỷ.
Uýt-man đã tới đón chúng tôi và đưa đến gặp Đa-ỉét tại một căn phòng bí mật của ông ta. Chúng tôi đến nơi thì đã thấy Đa-lét ngồi chờ ở đó. Ông ta ít nói, nhưng tỏ ra niềm nở. Đôi bên bắt tay nhau vào cuộc thương lượng bắt đầu. Nói đúng ra thì Đa-Iét ngồi cạnh cửa sổ, đối diện với phía ánh sảng và chỉ im lặng, Hê-vec-nít lên tiếng trước.
Hê-vec-nít hỏi tôi:
- Có phải ngài đã giúp đỡ việc trả lại tự do một người Y tên là Rô-ma-nô Gu-ảc-đi-ni theo đề nghị của Ma-tỉ-đa Ghê-đê-vỉn-xơ phải không?
Tôi không trả lời dứt khoát, bởi vì tôi không nhớ tên họ người ấy là ai. Tôi nghĩ có lẽ đây là một hình thức kiểm tra.
- Một nhà triết học Thiên chúa giáo nổi tiếng, - Hê-vec-nít nói tiếp, - bất kỳ một người châu Áu nào suy nghĩ đều quý trọng ông ấy.
Tôi mỉm cười khó hiểu vì nhớ đến kỉnh nghiệm của người diễn viên vĩ đại của chúng ta là Sê-len-béc.
- Thưa tướng quân, - Uýt-man hỏi tôi, - ngài có hiểu rõ rằng nước Đức đã bại trận trong cuộc chiến tranh này hay không?
Tôi hiểu rằng mấy người này bắt tôi phải bước qua đống lửa thiêu người thời Trung cổ, một việc rõ ràng ngụ ý làm bê mặt tôi. Có thời tôi cũng đã xử sự như thế, khi muốn làm cho một nhà chính trị nào đó thuộc phe đối lập với chế độ trở thành người củạ mình. Thành người của mình đến mức sau đó giao cho người ấy một chức vụ hành chính quan trọng. Kiểm tra bằng cách làm cho ai bẽ mặt tức là một bảo đảm chắc chắn của thái độ trung thực trong tương lai.
- Có, - tôi trả lời.
- Ngài có thể hiểu rằng cơ sở thực tế của các cuộc thương lượng có thể xảy ra nhất thiết phải là sự đầu hàng vô điều kiện và chỉ có một điều ấy thôi, hay không?
- Có. - Tôi trả lời vì hiểu rằng bần thân sự kiện thương lượng quan trọng hơn đề tài thương lượng. Trong trường họp này, dù một vị tướng ss và một đảng viên Quốc xã như tôi có phải chịu thiệt thời như thế nào, cũng phải đặt mục đích cao nhất là mở ra các cuộc thương lượng.
- Nhưng nếu như ngài vẫn còn muốn thay mặt cho thống chế ss Hỉm-le để nói chuyện, - Uýt-man nói tiếp, - thì cuộc thương lượng giữa chúng ta đến đây chấm dứt ; vì mi-xtơ Đa-lét sẽ buộc phải cáo lui.
Tôi nhìn Đa-lét. Tôi không thể nhìn rõ nét mặt õng ta vì ánh sáng rọi thẳng vào mắt tôi, nhưng tôi thấy ông ta gật đầu xác nhận, mặc dù ông ta vẩn hoàn toàn ỉm lặng như trước. Tôi hiểu rằng thực ra đấy chỉ là vấh đề hình thức, bởi vì họ thừa hiểu một sĩ quan ss cao cấp chỉ có thể thay mặt ai mới nói chuyện được thôi. Khi đưa ra một vấn đề như thế, họ đã tự đặt họ vào một tình thế nực cười và thấp kém. Dĩ nhiên, tôi có thể trả lời họ rằng, tôi có thể sẵn sàng chỉ nói chuyện với mi-xtơ Đa-lét, và nếu tôi biết rằng ông ta đại diện cho bọn tư bản độc quyền Do Thái, thì tôi sẽ lập tức ngừng mọi hình thức tiếp xúc với ông ấy. Tôi hiểu rằng họ chờ đợi câu trả lời của tôi. Và tôi đã trả lời:
- Tôi coi việc tiếp tục chiến tranh vào lúc này, đặc biệt vào lúc chúng ta đã có thể ngồi chung một bàn - bàn thương lượng - là một tội ác chống lại dân tộc Đức vĩ đạị và quốc gia Đức vĩ đại, tiền đồn của nền văn minh ở châu Âu. Tôi sẵn sàng đặt toàn bộ tổ chức của tôi - mà lực lượng ss và cảnh sát là tổ chức mạnh nhất ở Ý - vào dưới quyền chỉ huy của phe đồng mình, để làm cho cuộc chiến tranh châm dứt và để không cho phép thành lập một chính phủ cộng sản.
- Điều đó có nghĩa là lực lượng ss của ngài, - cuối cùng Đa-lét hỏi, sẽ chiến đấu chống lại quân đội của thống chế Két-xen-rinh hay không?
Tôi hiểu rằng nhân vật này thích thái độ nghiêm túc trong mọi vấn đề. Mà cái đó là bảo đảm chắc chắn cho cuộc nói chuyện thực tế về triển vọng.
- Tôi cần nhận được sự bảo đảm của ông, - tôi trả lời, - để về trao đổi với thống chếKét-xen-rinh một cách cụ thể và có đầy đủ bằng chứng.
- Dĩ nhiên, - Đa-lét đồng ý với tôi.
- Tôi nói tiếp:
-Các ông cần hiểu rằng, một không Két-xen-rinh ra lệnh đầu hàng ở nước Ý, nơi dưới quyền chỉ huy của ông ta có hơn một triệu rưởi quân, thì lập tức phản ứng dây chuyền sẽ xảy ra ở cả các mặt trận còn lại'- tôi muốn nói đến mặt trận phía Tây và mặt trận Xơ-căng-đi-na-vơ - ở Na Uy và Đan Mạch.
Tôi cũng hiểu rằng trong buổi nói chuyện đầu tiên quan trọng này, tôi cần chìa con bài tẩy của mình ra.
- Nếu tôi được các ông bảo đảm rằng chúng ta sẽ tiếp tục thương lượng, thì tôi xin nhận trách nhiệm không cho huỷ diệt nước Ý như kế hoạch đã chuẩn bị theo lệnh của Hít-le. Chúng tôi đã nhận được lệnh thủ tiêu tất cả các bức tranh trưng bày trong các viện bảo tàng và tất cả các di tích cổ đại, tóm lại là san bằng tất cả những gì thuộc về lịch sử loài người. Mặc dù rất nguy hiểm cho bản thân, song tôi cũng đã cứu được và cất giấu vào chỗ kín các bước tranh ở hai viện bảo tàng U-phi-xi và Pát-ti, cùng với bộ sưu tập các đồng tiền của vua Vích-to Em-ma-na-in.
Rồi tôi đặt lên bàn bản danh sách liệt kê các bức tranh mà tôi đã cất giấu. Trong đó có các tên Ti-xi-an, Bô-ti-se-li, En Gơ-rê-cô. Mấy người Mỹ ngừng trao đổi để nghiên cứu bẩn danh sách đó.
- Các bức tranh này đáng giá bao nhiêu đô-la? - họ hỏi tôi.
- Chúng là loại vô giá, - tôi trả lời, nhưng nói thêm: - Theo tôi, phải hơn một trăm triệu...
Hê-vec-nít nói chừng mười phút về các bức tranh của thời đại Phục hưng và về ảnh hưởng của thời đại ấy đối với sự phát triển của kỹ thuật và triết học châu Âu. Sau đó, Đa-lét tham gia câu chuyện. Ông tham gia câu chuyện một cách bất ngờ, không mầu mè gì cả. Ông ta nói:
- Tôi sẵn sàng làm việc với ngài, tướng quân Vôn-phơ ạ. Nhưng ngài phải bảo đảm với tôi rằng, ngài sẽ không tiếp xúc với bất cứ nước đồng minh nào khác. Đó là điều kiện thứ nhất. Tôi hy vọng ngài hiểu rằng, ngoài những người có mặt ở đây, sẽ không một ai được biết đến việc thương lượng của chúng ta.
- Nếu vậy thì chúng ta sẽ không thể nào ký kết hoà ước được, bởi vì ông không phải là tổng thốhg, còn tôi không phải lậ thủ tướng.
Đôi bên ỉm lặng mỉm cười, và tôi hiểu rằng như thế là tôi được phía bên kia đồng ý để tôi báo tin cho Ngài biết về cuộc thương lượng và xin các chỉ thị của Ngài. Tôi gửi bức thư này theo viên sĩ quan tuỳ tùng của thống chếKét-xen-rinh. Anh ta hộ vệ cấp chỉ huy của mình trên chuyến bay trở về Béc Lanh. Anh ta là người đã được tôi kiểm tra hết sức kỹ lương, không chỉ với tư cách là điệp viên của tôi, mà còn với tư cách là một nhân vật trung thành với chúng ta và có suy nghĩ giống như chúng ta. Ngài sẽ nhớ lại anh ta, bởi vì chính Ngài đã quyết định lựa chọn anh ta và phái anh ta đến chỗ Két-xen-rinh làm nhiệm vụ thông tin cho chúng ta biết tất cả những môi quan hệ giữa Két-xen-rỉnh với thống chế Gơ-rỉnh.
Nếu như Ngài mời Két-xen-rinh tới trao đổi thì thật là một việc làm cực kỳ hữu ích. Lẩn gặp sau giữa tôi với phía Mỹ sẽ xẩy ra trong một ngày gần đây.
Hai-lơ Hít-le!
CÁC-LƠ VÔN-PHƠ của Ngài".
Vôn-phơ đã viết đúng sự thật. Buổi thương lượng đã diễn, ra chính theo tinh thần đó hoặc gần đúng theo tinh thần đó. Hắn chỉ lờ đi một chuyện: trên đường quay về Ý, trong cu-pê tàu hoả, hắn đã trao đổi rất lâu, mặt đối mặt với Uýt-man và Vai-ben. Ba tên thảo luận về thành phần nội các tương lai của nước Đức. Theo chúng, thủ tướng sẽ là Két-xen-rinh, Bộ trưởng ngoại giao - phôn Nây-rát, cựu toàn quyền ở Tiệp và Mô-ra-vi-a, Bộ trưởng tài chính - Aiỉ-ma Sa-khơ, đảng viên danh dự Đảng Quốc xã, còn bộ trưởng Nội vụ sẽ là thượng tướng ss Các-lơ Vôn-phơ. Không có chưc vụ nào dành cho Him-le trong chính phủ ấy.
* Cô xử sự như một người thông minh (tiếng Phápj.
* Oóc-phê: nhà'thơ và danh ca trong thần thoại cổ Hy Lạp có tiếng h/ít làm rung động không chỉ con người và loài vật, mà ngay những hòn đá. Theo' một trong nhiều thần thoại, thì Oóc-phê đã lặn lội xuống âm phú tìm vợ mình là E-vơ-ri-đi-ca, nhựng trong lúc cô gắng cứu vọ ra, anh điì ngoảnh lại nhìn - điều anh không được phép làm. Thế là Oóc-phê vinh viễn mất vợ.
* Nguyên văn: cứu vớt linh hồn.
* Giấy quỳ là loại giây nhuộm có thể thay đổi màu sắc. Khi gặp a-xít, nó biến thành màu đỏ, gặp dung dịch kiềm, nó chuyển thành màu xanh, ở đây, nghĩa bóng là một phương pháp kiểm tra đúng đắn.
Chương 13
Lúc ấy, Sơ-tiếc-lít đang cho chiếc "Khô-rếch" của mình phóng hết tốc lực về phía biên giới Thụy Sĩ. Ngồi cạnh anh là vị giám mục, mặt tái xanh, trầm lặng. Sơ-tiếc-lít mở ra-đi-ô tìm đài phát thanh Pháp - Pari đang truyền đi buổi ca nhạc của nữ danh ca trẻ tuổi E-đít Pi-áp. Cô ta có giọng hát trầm, nhưng khoẻ, còn lời ca thì rất giản dị và dễ hiểu.
- Một sự suy đồi hoàn toàn về đạo đức, - giám mục nói, - không phải là tôi phê phán đâu nhưng tôi nghe cô ta hát và luôn luôn nhớ đến Ghen-đen và Bắc. Rõ ràng, trước kia các nhà hoạt động nghệ thuật biết tỏ ra nghiêm khắc với mình hơn: họ mang theo một niềm tin và đặt mình những nhiệm vụ cực kỳ khó khăn... Họ giống như những ngọn hải đăng... Còn bây giờ? Cứ y như tiếng ồn ào ngoài chợ vậy...
- Cô danh ca này sẽ còn lên giọng nữa, - Sơ-tiếc-lít nhận xét. - Ngài hãy tin tôi - người ta sẽ còn nhớ đến cô sau khi cô ta chết.
- Ông độ lượng quá đấy.
- Tôi rất yêu Pa-ri... Thôi sau chiến tranh chúng ta sẽ nói đến chuyện ấy, ngài giám mục ạ! Bây giờ xin ngài hãy nhắc lại cho tôi nghe một lần nữa tất cả những gì ngài sẽ làm ở Béc-nơ...
- Trí nhớ của tôi tốt lắm. Kinh thánh không chỉ dạy người ta làm điều thiện, mà còn dạy cách tổ chức trí nhớ chính xác nữa...
- Dù sao cũng xin ngài cứ nhắc lại từ đầu đến cuối một lần nữa.
Giám mục bắt đầu kể với Sơ-tiếc-lít tất cả những điều mà anh vừa giải thích, dặn dò ông ba tiếng đồng hồ qua. Trong lúc nghe giám mục nói, Sơ-tiếc-lít tiếp tục lập luận: "Phải, Kết ở lại với chúng nó. Nhưng nếu mình đem Kết đi, bọn chúng sẽ bắt giám mục: rõ rằng bên cơ quan ghét-xta-pô cũng có kẻ theo dõi ông ta. Lúc ấy, toàn bộ chiến dịch nhất định sẽ thất bại và Him-le sẽ có thể bắt tay với bọn đồng mình ở Béc-nơ... Nếu xảy ra điều gì ngoài dự kiến, - điều đó có thể xảy ra lắm, tuy rằng không nhất thiết phải như vậy, - Kết sẽ khai về mình để cứu đứa con. Nhưng lúc ấy giám mục đã bắt đầu công việc của ông ta, còn Pờ-lây-sơ-ne thì phải thực hiện nhiệm vụ do mình giao phó. Trong hai người ấy, không ai biết vai trò của họ trong chiến dịch của mình. Nhận được tín hiệu của Pờ-lây-sơ-ne, người của ta sẽ theo dõi giám mục. Và tất cả sẽ trót lọt. Mình sẽ không để cho Him-le liên lạc với Béc-nơ... Bây giờ hắn không thể làm được việc đó. về "chiếc cửa sổ" của mình ở biên giới thì Muyn-lơ không hề hay biết, và bọn lính biên phòng sẽ không dám hé răng với người của Muyn-lơ, bởi vì mình hành động theo chỉ thị của ngài thống chế ss. Do đó, hôm nay giám mục sẽ đến Thụy Sĩ. Ngày mai ông ấy đã có thể bắt đầu làm công việc của mình. Phải nói là của chúng ta thì đúng hơn".
- Không phải thế, - Sơ-tiếc-lít dứt khỏi dòng suy nghĩ của anh và nói. - Ngài phải hẹn gặp họ ở phòng khách màu hồng, chứ không phải ở phòng khách màu xanh. Ngài thấy chưa, trí nhớ là một chuyện, nhắc lại không bao giờ thừa cả.
- Tôi có cảm giác là ông hoàn toàn không nghe tôi nói.
- Tôi nghe ngài hết sức chăm chú đấy chứ. Xin ngài cứ tiếp tục...
"Nếu vị giám mục đi thoát và tất cả đều trót lọt, mình sẽ cứu Kết ra khỏi chỗ đó. Lúc ấy thì có thể chơi va banque được rồi. Bọn chúng sẽ khép chặt vòng vây lại. Lúc đó ngay đến Boóc-man cũng chẳng giúp gì được mình... Có quỷ sứ biết chúng nó là bọn người như thế nào. Mình sẽ đưa Kết đi qua "cửa sổ" của mình nếu thấy rằng trò chơi sắp kết thúc. Nếu còn có thể chơi tiếp - chúng không có và không thể có chứng cớ gì để bắt mình, - thì mình sẽ phải dùng đến súng đạn để cứu thoát cô ấy bằng cách dựa vào Sê-len-béc chạy tội cho mình. Mình sẽ đến báo cáo với hắn ở nhà riêng của hắn hoặc ở Khô-khen-li-khen. Tại đó, lúc nào hắn cũng ở bên cạnh Him-le. Mình sẽ tính toán thời gian, giải toả đơn vị bảo vệ căn phòng bí mật, phá tan điện đài, rồi đưa Kết đi trốn đi. Cái chính là phải tính toán thời gian và tốc độ. Cứ để cho chúng nó đi lùng. Chúng chẳng còn mấy thời gian để mà lùng sục. Cứ nhìn nét mặt hoảng hốt của Muyn-lơ khi trông thấy tên Khôn-tốp xuất hiện với cái sọ giập vỡ, cũng đủ hiểu tên kia đã chơi cái trò phá hoại hết sức trẻ con. Tất nhiên, Khôn-tôp làm việc theo lệnh của Muyn-lơ. Nhưng hắn không thể chơi một cách khôn khéo, nếu như hắn không tự đóng kịch với chính hắn. Chẳng hiểu hắn sẽ xử trí ra sao, nếu mình đồng ý bỏ trốn cùng với hắn và Run-gơ. Có lẽ hắn sẽ cùng vượt biên giới cũng nên. Có thể như vậy lắm. Mình còn nhớ hắn đã nhìn mình và nói như thế nào hôm hỏi cung nhà thiên văn học... Mình đã đóng vai chính xác với hắn. Mình sẽ viện cớ được phép, một mặt của Sê-len-béc và mặt khác, của Boóc-man, để bất ngờ ra đi. ở đây có cái để chơi được rồi. Bây giờ vấn đề chủ yếu là Kết. Trưa mai, mình sẽ không về nhà, mà đến thẳng chỗ Kết. Nhưng không được rồi. Không bao giờ được chơi một cách mò mẫm. Nhất là trong công tác của mình. Nếu thua cuộc thì phải trả một cái giá không phải bằng tiền, mà bằng sự nghiệp. Tóm lại là bằng sinh mệnh.
- Đúng, - Sơ-tiếc-lít nói, - rất tốt là ngài đã chú ý đến điểm ấy: phải lên chiếc tắc-xi thứ hai, bỏ qua chiếc thứ nhất, và nhất thiết, dù có thế nào, cũng không được leo lên những chiếc xe tình cờ chạy qua. Nói chung, tôi hy vọng rằng, những người bạn của ngài ở tu viện, mà tôi đã nói tên cho ngài biết, sẽ giúp đỡ ngài. Và tôi muốn nhắc lại một lần nữa: tất cả mọi chuyện đều có thể xảy ra với ngài. Tất cả mọi chuyện. Nếu ngài tỏ ra thiếu thận trọng, dù ở mức thấp nhất, thì ngài chưa kịp hiểu đầu đuôi ra sao, ngài đã có mặt trong hầm giam của Muyn-lơ. Nhưng giả sử điều ấy có xảy ra, thì ngài nên nhớ rằng, nếu như ngài nhắc đến tên tôi, dù chỉ một lần trong cơn mê hoảng, hay giữa lúc bị tra tấn, thì điều đó có nghĩa là tôi sẽ phải chết, và tiếp ngay, theo đó là cái chết của em gái ngài và của các cháu ngài. Đối với những người cho phép tôi đưa ngài vượt biên giới, thì em gái và các cháu của ngài đang là gánh nặng của tôi. Nếu ngài khai tên tôi ra, thì không gì có thể cứu những người thân của ngài được nữa. Tôi không doạ ngài đâu, mong ngài hãy hiểu tôi cho đúng: đó là một thực tế mà chúng ta cần biết và luôn luôn nhớ đến nó.
- Tôi hiểu ý ông.

- Thế thì tốt. Tôi không muốn để ngài hiểu lầm tôi trong chính vấn đề này...
Còn một trăm mét nữa thì tới sân ga. Sơ-tiếc-lít bỏ chiếc xe của mình lại. Chiếc xe của đồn biên phòng đã chờ anh ở chỗ quy ước. Chìa khoá được cắm vào công-tắc đánh lửa. Cửa kính xe được bôi bẩn để không nhìn rõ mặt những người ngồi bên trong, ở vị trí đã hẹn trong núi, một bộ dụng cụ trượt tuyết và đôi giày đã được chuẩn bị sẵn.
- Ngài hãy thay quần áo đi, - Sơ-tiếc-lít nói.
- Tôi làm ngay đây, giám mục thì thào, - tay tôi cứ run bắn lên, tôi phải cố gắng cho tĩnh trí lại đã.
- Ngài cứ nói năng bình thường, ở đây không ai nghe thấy chúng ta đâu.
Trăng trung tuần làm cho tuyết trong thung lủng trắng như bạc, còn trong khe núi thì lại có màu đen điểm lẫn vài ánh trắng như màu băng phiến. Các chỏm tuyết trên các cây thông trông như một con thú dữ đang nhún mình lấy đà trước khi nhảy. Xa xa, vãng vẳng tiếng động cơ của nhà máy điện ; chỉ thỉnh thoảng mới nghe thấy tiếng động cơ đó, mỗi khi có làn gió hãy hãy thổi tới.
- Thôi, chúc ngài lên đường may mắn, - Sơ-tiếc- lít nói.
- Cầu chúa phù hộ cho ông, - giám mục trả lời và vụng về trừợt tuyết đi theo hướng Sơ-tiếc- lít đã chỉ.
Ông bị ngã hai lần đúng ở chỗ đường biên giới chạy qua. Sơ-tiếc-lít đứng bên cạnh xe mãi đển khi giám mục gọi to hai lần từ trong cánh rừng ở phía bên kia khe núi. Từ chỗ đó đến khách sạn chẳng còn bao xa. Bây giờ thì trót lọt. Bây giờ chỉ còn phải làm một việc cuối cùng là đưa Kết đi trốn nữa thôi.
Sơ-tiếc-lít chuyển sang xe mình, đi được chừng hai mươi cây số thì cảm thấy mắt dip lại. Anh nhìn đồng hồ. Suốt hai ngày đêm liền anh chưa được ngủ một phút nào.
"Mình sẽ ngủ nửa giờ, - anh tự nhủ. - Nếu không thì khó trở về Béc Lanh được".
Anh ngủ đúng hai mươi phút. Sau đó, anh chui ra ngoài xe, lấy tuyết xoa mặt. Anh lấy chai cô-nhắc uống một ngụm rồi ngả người về phía tay lái và cho xe chạy hết tốc lực. Chiếc "Khô-rếch" được lắp thêm động cơ chạy rất khoẻ và đều. Kim đồng hồ chỉ tôc độ chạy dần dần đến con số "150 km". Trên đường hoàn toàn vắng vẻ. Trời sắp rạng. Để khỏi buồn ngủ, Sơ-tiếc-lít hát rất to mấy bài hát Pháp tinh nghịch.
Rôn-phơ đến căn phòng Kết ở vào lúc tám giờ sáng. Khi đó trời còn tốì.
- Hai-lơ Hít-le! - Bác-ba-ra đang ngồi liền đứng dậy chào.
Rôn-phơ ngắt lời ả:
- Cô để hai người chúng tôi nói chuyện với nhau.
Nét mặt Bác-ba-ra trước lúc đó đang tươi cười bỗng đanh lại, nghiêm trang và ả bước sang phòng khác. Khi ả mở cửa, Kết nghe thấy tiếng con khóc - chắc là thằng bé vừa ngủ dậy và đang đòi ăn.
- Ồng hãy cho phép tôi cho cháu bú, kẻo nó không để chúng ta làm việc đâu, - Kết nói.
- Nó sẽ chờ.
- Không nên như vậy... Cần phải cho cháu ăn đúng giờ giấc...
- Được. Cô sẽ cho nó bú, sau khi trả lời câu hỏi của tôi...
Có tiếng gõ cửa.
- Chúng tôi đang bận! - Rôn-phơ nói to.
Cửa mở: Ghen-mút xuất hiện, tay bế cháu bé.
- Đã đến giờ ăn, - Ghen-mút nói, - thằng bé đòi bú ghê lắm...
- Chờ đấy! - Rôn-phơ quát, - Đóng cửa lại!
-Vâng, nhưng.. - Ghen-mút định nói, song Rôn-phơ đã đứng dậy đi ra đóng sập cửa lại ngay trước mặt người lính thọt.
- Thế đấy... Tôi cần hỏi cô một việc. Chúng tôi biết rằng cô có biết cấp chỉ huy của cô ở đây.
- Tôi đã giải thích...
- Tôi còn lạ gì lối giải thích của cô. Tôi đã đọc và nghe qua băng ghi âm. Tôi bằng lòng với nó cho đến sáng hôm nay. Nhưng từ sáng hôm nay trở đi, nó không làm cho tôi bằng lòng nữa.
- Có chuyện gì xảy ra sáng hôm nay vậy?
- Có chuyện. Chúng tôi chờ đọi chuyện đó mãi, chúng tôi đã biết tất cả mọi chuyện từ đầu đến cuối... có điều là chúng tôi cần đến những chứng cớ cụ thể thôi. Và chúng tôi đã thu được các chứng cớ ấy. Chúng tôi không thể bắt một người, nếu như không có chứng cớ hoặc ít ra là hai nhân chứng. Vậy là chúng tôi đã có chứng cớ cụ thể.
- Thì ngay từ đầu tôi đã không từ chối làm việc cho các ông kia mà...
- Đừng có đóng kịch, đừng có vờ vịt... Không nói đến cô đâu! Và cô cũng thừa biết tôi muốn nói đến ai...
- Tôi không biết ông muốn nói đến ai. Và tôi rất mong ông để tôi cho cháu bé bú...
- Trước hết, cô hãy nói cho tôi biết cô đã gặp cấp chỉ huy của cô ở đâu và bao giờ, sau đó cô sẽ được cho con bú.
- Tôi đã giải thích với cái nhà ông bắt giam tôi rằng tôi không hề biết tên tuổi, địa chỉ cũng như chính mặt mũi cấp chỉ huy ấy là ai.
- Cô nghe đây, - Rôn-phơ nói, - đừng có ngu ngốc như vậy. Nhân vật quan trọng nhất đã lộ mặt rồi.
Hắn rất mỏi mệt, bởi vì tất cả những cộng sự viên thân cận của Muyn-lơ đã bị đánh thức dậy từ ba giờ sáng để /tổ chức việc giám sát chặt chẽ chiếc xe của Sơ-tiếc-lít. Chúng bao vây cả ngôi nhà của anh, cả phòng vô tuyến bí mật, nhưng Sơ-tiếc-lít đột nhiên mất hút. Muyn-lơ cấm không được báo tin về việc truy lùng Sơ-tiếc-lít cho Can-ten-bơ-ru-ne cũng như Sê-len-béc biết. Muyn-lơ quyết định đích thân chơi ván cờ này. Y hiểu rằng đây là một ván cờ hết sức phức tạp và chỉ có hai lối thoát: hoặc dẫn tới thành công lớn, hoặc dẫn tới thất bại thảm hại. Y biết rằng chính Boóc-man là ông chủ toàn quyền của những món tiền khổng lồ gửi ở các nhà băng Thụy Điển, Thụy Sĩ, Bra-xin và cả ở Mỹ - qua các nhân vật trung gian. Boóc-man không quên người nào phục vụ hắn. Boóc-man không quên trò chơi độc ác. Hắn ghi lại ngay trên khăn lau mũi tất cả những gì liên quan tới Hít-le. Nhưng hắn không ghi lại tất cả những gì liên quan đến chính bản thân hắn: hắn nhớ mãi điều đó trong óc hắn. Bởi vậy, Muyn-lơ sẽ một mình đánh ván cờ này với Sơ-tiếc-lít, người đã gọi điện thoại và gặp gỡ với Boóc-man. Đây là ván cờ của riêng y, và y không được phép phạm sai lầm. Câu chuyện Sơ-tiếc-lít sẽ rất đơn giản và chẳng có gì lý thú, nếu anh ta không gọi điện và không đi gặp Boóc-man. Vòng tròn đã khép kín: Sơ-tiếc-lít - mật mã ở Béc-nơ - cô nhân viên điện đài Nga. Và vòng tròn ấy dựa trên cơ sở cực kỳ chắc chắn là Boóc-man. Nghĩa là, hoặc bằng cách quật đổ Boóc-man, Muyn-lơ sẽ được quyền đi sâu vào mọi bí mật thiêng liêng của hắn để điều tra ; y thấy ván cờ đó mở ra triển vọng này, - hoặc nếu điều kiện cho phép, y sẽ trở thành một nhân vật cần thiết đối với Boóc-man, vì đã vạch trần mưu đồ đen tối của Sơ-tiếc-lít, một kẻ liên lạc với bọn tình báo Nga. Cả hai lối thoát ấy đều hoặc là sự may mắn tột bực, hoặc là sự suy sụp thảm hại. Bởi thế, y cùng với bọn tay chân thân tín nhất thức trắng đêm và làm việc cật lực để bố trí hệ thông cạm bẫy, chuẩn bị cho trận quyết đấu cuối cùng.
- Tôi. sẽ không nói thêm nữa đâu, - Kết đáp. - Tôi sẽ im lặng cho đến khi ông để tôi cho con tôi bú.
Lô-gích của tên đao phủ hoàn toàn trái ngược với lô-gích của người mẹ. Giá như Kết không nhắc đến đứa bé, hẳn là chính chị đã phải chịu một trận đòn tra tấn khủng khiếp. Nhưng bản tính tự nhiên của chị đã gợi Rôn-phơ đi tới một quyết định mà hắn chưa nghĩ ra trên đường tới đây. Hắn biết rõ thái độ kiên cường của các chiến sĩ tình báo Nga. Hắn biết rằng họ thường chọn cái chết hơn là sự phản bội, và nếu người ta có tìm cách mua chuộc, mời họ "cộng tác" thì họ khôn khéo tiếp tục công việc cũ của mình, nhưng bằng những phương pháp tinh vi và ranh mãnh hơn.
Lúc này, Rôn-phơ đột nhiên nảy ra một ý:
- Thế này nhé, chúng ta sẽ không phí thời gian vô ích làm gì. Tôi biết cái mà cô biết và cô không nói. Rồi chúng tôi sẽ bố trí để cô giáp mặt với cấp chỉ huy của cô: vì cảm thấy bị vỡ lở, hắn đã quyết định chạy trốn ra nước ngoài, nhưng không trót lọt. Hắn hy vọng vào chiếc xe của hắn, - Rôn-phơ nhìn xoáy vào khuôn mặt tái nhợt của Kết, - xe của hắn rất tốt, có phải thế không? Nhưng hắn đã lầm: xe của chủng tôi còn tốt hơn xe của hắn. Trong tình hình hỗn loạn hiện nay, chúng tôi chả buồn chú ý đến cô đâu. Người chúng tôi chú ý đến là hắn kia. Cho nên cô phải khai tất cả mọi chuyện về hắn cho chúng tôi biết. Tất cả mọi chuyện, - Rôn-phơ nhắc lại, - từ đầu đến cuối.
- Tôi chẳng có gì để khai cả.
Rôn-phơ đứng dậy, đi ra cửa sổ, mở cánh cửa và co ro vì lạnh.
- Lại một đợt rét nữa, - hắn nói. - Bao giờ mới sang xuân không biết? Chúng tôi đã quá mệt mỏi vì mùa xuân đến chậm.
Hắn khép cánh cửa sổ vào, bước lại bên Kết và yêu cầu:
- Cô đưa tay đây.
Kết giơ hai tay ra. Rôn-phơ dùng khoá xích còng tay chị lại.
- Hai chân nữa.
- Ông muốn làm gì vậy? - Kết hỏi. - Ông nghĩ ra cái trò gì thế?
Hắn dùng khoá xiềng chân chị và gọi to:
- Ghen-mút! Bác-ba-ra!
Không ai trả lời hắn. Hắn mở toang cửa và gọi to:
- Bác-ba-ra! Ghen-mút!
Hai người kia vội chạy vào phòng vì đã quen với giọng nói của Rôn-phơ - lúc này giọng hắn the thé đầy giận dữ. Rôn-phơ có đầy đủ lý do để thét gọi giật giọng như vậy: Muyn-lơ giao cho hắn trong ngày hôm nay, đúng là trong ngày hôm nay phải bắt cô nhân viên điện đài Nga khai hết sự thật, để đến lúc Sơ-tiếc-lít sa lưới thì con bài tẩy đã ở trong tay Muyn-lơ rồi.
- Mang thằng bé con lại đây, - Rôn-phơ ra lệnh.
Ghen-mút đi bế cháu bé đến, còn Rôn-phơ thì kéo chiếc bàn con lại sát cửa sổ. Trên bàn có một chiếc lọ cắm những bông hoa giả. Rồi hắn mở cửa sổ ra và nói:
- Không phải bỗng dưng vô cớ tôi nhắc cô nhớ đến đợt rét mới đâu. Chỉ cần đặt của thằng con của cô nằm trên chiếc bàn này dăm, ba phút, trần truồng, không bọc tã lót, thì nó sẽ đỉ đời nhà ma. Hoặc thế này, hoặc thế kia. Cô hãy quyết định đi.
- Ông sẽ không làm như thế! - Kết thét lên và giẫy giụa trên ghế. - Ông không được làm như thế! - Hãy giết tôi đi! Giết đi! Giết tôi đi! Ông không được phép làm như thế!
- Đúng, tôi rất sự phải làm như thế! - Rôn-phơ đáp. - Đúng, tôi cũng là một con người chứ không phải con vật, và tôi cũng do một người mẹ sinh ra! Nhưng nhân danh tất cả những bà mẹ của Đế chế, tôi sẽ làm việc đó! Nhân danh tất cả những đứa trẻ của Đế chế bị chết trong các trận ném bom, tôi sẽ làm như thế!
Kết ngã từ trên ghế xuống đất, chị nhoài người tới bên dôi ủng của Rôn-phơ và van nài:
- Ông còn có một trái tim đấy chứ! Ông làm gì vậy? Tôi không tin rằng ông sẽ làm như thế!
- Thằng bé con đâu?! - Rôn-phơ hét. - Đồ con khỉ! Mang nó lại đây!
- Chị là một người mẹ kia mà! - Bác-ba-ra nói. - Chị hãy tỏ ra khôn ngoan một chút...
Ghen-mút bế cháu bé vào. Rôn-phơ giằng lấy cháu bé trong tay Ghen-mút, đặt cháu lên bàn và bắt đầu cởi tã lót ra. Kết thét lên khủng khiếp - đó không phải là tiếng thét của con người nữa.
- Nào! - Rôn-phơ gầm lên. - cô không phải là một người mẹ! Cô là một mụ sát nhân ngu ngốc! Nói đi!
Cháu bé kêu lên bằng cái giọng i i trẻ con của cháu, cái miệng tí hơn của cháu méo xệch đi vì hờn dỗi do đã quá giờ ăn một lúc rồi mà người ta vẫn chẳng cho cháu được ăn...
"Kính gửi Cha Ca-đi-se-li, Va-ti-căng
Bạn thân mến
Trong những ngày đấu tranh chống bọn quốc xã, Toà thánh đã thể hiện một khí phách hào hùng. Giờ đây, Toà thánh lại đặc biệt quan tâm đến việc tìm kiếm mọi khả năng có thể giúp nhân loại hưởng một nền hoà bình cần thiết cho hết thảy mọi người trên trái đất này... Tôi hiểu rõ và vô cùng trân trọng sự quan tâm đó.
Tôi hiểu rõ tại sao Va-ti-căng lại tình nguyện nhận trách nhiệm tổ chức sự tiếp xúc giữa Muyn-lơ, người đại diện cho đô đốc Ca-na-rỉ-xơ bất hạnh và cho các tướng lĩnh anh dũng khấc đã hy sinh thân mình trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa dã man của bọn Hít-le, với các đại diện chính thức của nội các Anh.
Những người đứng sau lưng tiến sĩ triết học Muyn-lơ có đủ những phẩm chất cho phép Bạn dùng ảnh hưởng của mình tác động đến nội các Anh trong việc tìm kiếm một nền hoà bình hợp lý và cao quý. Tuy nhiên, sau cái chết của các nhà ái quốc vào mùa hè năm ngoải, việc tìm kiếm hoà bình đã bị đứt đoạn một cách đáng lo ngại.
Tôi cũng hiểu rõ những lý do đã khiến Bạn tỏ thái độ ngờ vực trước những đề nghị dè dặt mà viên tướng Các-lơ Vôn-phơ đệ trình để Bạn xem xét. Bạn đã trải qua ách xâm lược của bọn quốc xã, Bạn đã tận mắt chứng kiến những hành động phi pháp trắng trợn do bọn ss gầy ra, thế mà bọn này vốh nằm dưới quyền điều khiển trực tiếp của kẻ đang tìm kiếm hoà bình là tướng Các-lơ Vôn-phơ. Bởi vậy, tôi đánh giá lập trường của Bạn mang tính chất chờ đợi thì ít, mà phủ nhận thì nhiều ; làm sao có thể tin tưởng một người mà tay này của hắn làm điều thiện, còn tay kia toàn làm điều ác. Trong mỗi con người - con của Chúa trời, - đều có tính chất phân nửa, tách đôi như thế. Đó là điều dễ hiểu. Nhưng không thể nào bào chữa cho tính chất âỳ, nếu như nó lại hiện diện trong một chính khách, một thủ lĩnh quốc gia hay một viên tướng đầy quyền lực.
Tuy bị Toà thảnh Va-ti-căng từ chối, song tướng Các-lơ Vôn-phơ vẫn đẩy mạnh hoạt động của mình. Tại thành phố Béc-nơ này, Vôn-phơ đã gặp ngài Đa-lét, đặc phái viên của tổng thông Ru-dơ-ven đáng kính. Các tin tức mà chúng tôi nhận được cho phép rút ra kết luận: các cúộc thương lượng giữa Vôn-phơ và Đa-lét đang tiến triển vô cùng mau lẹ.
Bạn nên hiểu lập trường của tôi: nếu một lần nữa tôi lại căn ngăn ngài Đa-ỉét đừng tiếp tục thương lượng với tướng Vôn-phơ, thì những bạn Mỹ của chúng ta có thể đi đến chỗ hiểu lẩm các động cơ đã thúc đẩy chúng ta hành động: không phải bao giờ các nhà chính trị cũng hiểu quan điểm chính trị của chúng ta, những bầy tôi của Chúa.
Kể cho ngài Đa-lét biết thái độ xảo quyệt của tướng Vôn-phơ và những tội ác dã man mà bọn quốc xã theo lệnh viên tướng đó đã gây ra trên đất nước Ý tươi đẹp của chúng ta, rõ ràng là không có tác dụng gì. Một là, người có mắt không thể không nhìn thấy điều đó, hai là, chúng ta, những bầy tôi của Chúa, không tiện phô bày trước hết mọi nỗi đau khổ của mình ra. Chúng ta đã biết cái gì sê đến với chúng ta, khi chúng ta lựa chọn con đường của mình rồi.
Tôi cảm thấy tình trạng hết sức nặng nề và không lối thoát cho đến khỉ đức giám mục Sơ-lắc đến Béc-nơ. Chắc là Bạn phải nhớ con người cao quý luôn luôn đấu tranh cho hoà bình ấy, người đã nhiều lẩn đi thăm Thụy Sĩ, Va-ti-căng và Anh quốc trước năm 1933, khi việc xuất dương từ Đức ra nước ngoài không bị bọn cảnh sát gây khó dễ như sau khỉ Hít-le lên cầm quyền.
Đức giảm mục Sơ-lắc đến đây - theo lời ông ấy - để nghiên cứu mọi khả năng thực tế cho phép ký kết một hoà ước nhanh chóng và công bằng. Như đức giấm mục nói, những người lo lắng trước sự xích lại gần nhau giữa hai quan điểm về nền hoà bình trong tương lai của hai nhân vật hết sức trái ngược nhau là Các-lơ Vôn-phơ và A-len Đa-lét đã cử ông ấy sang đây.
Đức giảm mục thấy sứ mệnh của ông ấy là ngăn chặn khả năng tiếp tục thương lượng giữa Vôn-phơ và Đa-lét, bởi vì ông ấy tin rằng Vôn-phơ hoàn toàn không lo tìm kiếm hoà bình, mà chỉ tìm cách bảo vệ chế độ quốc xã bằng một sốnhượng bộ từ phía những kẻ hiện nay đang nắm quyền hành thực tế ở Đức, tức là bọn chỉ huy ss.
Đức giảm mục cũng thấy sứ mệnh của ông ấy là tổ chức việc tiếp xúc giữa những người đã liều mình giúp ông ấy vượt biên giới, với các-đại diện của phe Đồng minh. Những người, theo lời ông, mà ông là đại diện, đang coi việc thủ tiêu tất cả những gì từng gắn bó - và có thể sẽ còn gắn bó với bọn ss và đảng Quốc xẵ trong tương lai - là nghĩa vụ cấp bách của mình.
Tôi thiết tha mong Bạn hãy mời đức giám mục Sơ-lắc tới nói chuyện một cách thành thực cởi mở hơn. Rõ ràng là ta nên thông báo cho ông ấy biết nhiều hơn về tình hình đang diễn ra hiện nay ở Béc-nơ.
Cho đến giờ, tôi vẩn chưa thể đưa ra những bằng chứng thực tê để đức giảm mục thấy rõ sự thành thực của chúng ta. Thật khó mong chờ ở đức giám mục một buổi trao đổi thực lòng, trong đó ông ấy cung cấp cho ta các tư liệu đầy đủ và những người đồng tư tưởng với ông ấy ở Đức đang chờ đợi tin tức do ông ấy bảo về.
Tôi nghĩ rằng những người đồng tư tưởng với ông ấy ở Đức hoàn toàn không có thế lực mạnh mẽ như chúng ta mong muốn. Đức giám mục Sơ-ỉắc chưa bao giờ là một nhà chính trị, ông ấy chỉ là một đức cha chân thành của các con chiên của mình. Tuy nhiên, khi nhìn về tương lai, tôi thâỳ một lợi ích lớn lao, qua việc đức giảm mục, và chính đức giám mục, bầy tôi của Chúa, một người trong sạch và cao quý, đã liều mình tìm kiếm nền hoà bình và không chịu thoả hiệp với chủ nghĩa quốc xã.
Rõ ràng, tấm gương cao quý về lòng dũng cảm của người bầy tôi và đầy tớ của Chúa ấy sẽ giúp chúng ta cứu nhân dân Đức khỏi chủ nghĩa bôn- sê-vích, khi mà dân tộc Đức đầy đau khổ cần phải lựa chọn tương lai cho mình. Tuy vị Hít-le bắt phải lìa bỏ Toà thánh Va-ti-căng, nhưng rồi đây, bằng cách này hay cách khác, nhân dân Đức sẽ quay về với Thiên chúa giảo, và đức giảm mục Sơ-lắc - hoặc hình ảnh trong sáng của ông - sê giúp các lỉnh mục của chúng ta sau này đem ánh sáng của mình tới vương quốc của đêm đen quốc xã.
Tôi chờ Bạn trả lời trong thời gian gần nhất.
Đa-lét nhận được chỉ thị của Cục trưởng Cục tình báo chiến lược Đô-nô-va: từ nay, các cuộc thương lượng với Vôn-phơ sẽ dùng ký hiệu mật mã chiến dịch "Trò xếp ô chữ". Để đẩy mạnh công cuộc thương lượng, thêm hai viên tướng được cử đến Béc-nơ là phó tổng tham mưu trưởng quân đội đồng minh ở Ý - tướng Anh Ay-ri, - và tướng Mỹ Lêm-nít-xe.
Từ Na-a-pôn, hai viên tướng mặc giả binh phục lính trơn của quân đội Mỹ được đưa tới biên giới Th uy Sĩ. Hai kẻ đó phải vượt biên giới với giấy tờ giả. Theo huyền thoại mà người của Đa-lét xếp đặt cho họ, thì họ đi du lịch châu Âu để tìm người thân.
Tướng Lêm-nít-xe trả lời trôi chảy hàng loạt câu hỏi về nước Mỹ mà Sở thuế quan Thụy Sĩ đặt ra cho ông ta. Còn viên tướng Anh Ay-n chưa từng đi thăm Mỹ lần nào nên trả lời lúng ta lúng túng. Chiện dịch "Trò xếp ô chữ" có nguy cơ thất bại ngay từ đầu. Thiếu tá Vai-ben có mặt ở biên giới liền chỉ thị cho các nhân viên biên phòng của mình cho phép Ay-n đi qua biên giới, không cần biết ông ta trả lời các câu hỏi thẩm tra của Sở thuế quan ra sao.
Khi Ay-n run rẩy đưa tay lau mồ hôi lạnh vã ra trên trán, thì Vai-ben, lúc ấy bận thường phục, bước lại đưa cho ông ta hai chiếc vé tàu đi Béc-nơ. Đến đó đã có một chiếc xe đợi sẵn đưa Vai-ben và hai viên tướng đến một phố yên tĩnh. ở đó người ta đã thuê cho họ một căn phòng qua mấy nhân vật trung gian. A-len Đa-lét đợi họ ở đó. Chính tại đây, suốt hai ngày liền, cả ba tên đã họp bàn những nét đại thể về việc tiếp tục thương lượng với viên tướng ss Các-lơ Vôn-phơ.
- Chúng ta có ít thời gian, - Đa-lét nói, - mà việc phải làm thì-lại nhiều. Lập trường của các nước đồng minh phải được cân nhắc cẩn thận và chính xác cả về cái chung lẫn từng điểm riêng.
- Lập trường của hai nước đồng minh Anh - Mỹ, - tướng Ay-n nói, không ra hỏi mà cúng không ra khẳng định.
- Đồng minh Anh - Mỹ hay đồng minh Mỹ - Anh trong trường hợp này chỉ là một thuật ngữ có tính chất hình thức, không thay đổi thực chất vấn đề, - Đa-lét trả lời.
Như vậy là, lần đầu tiên trong suốt thời gian chiến tranh, hai chữ "Liên Xô" đã bị gạt ra khỏi khái niệm "đồng minh". Và tại Béc-nơ, thuật ngữ "khối đồng minh Anh - Xô - Mỹ đã bị thay bằng thuật ngữ mối: "khối đồng minh Anh - Mỹ...".
Ai-xơ-man để nguyên quần áo đến gặp Muyn-lơ, mặc dù rất bẩn: đôi ủng bê bết bùn, áo va-rơi ướt sũng - y lặn lội khá lâu dưới trời mưa ở khu vực Nôi-stát để tìm người em gái của giám mục Sơ-lắc. Tại địa chỉ ghi trong hồ sơ, y không tìm thấy chị ta đâu. Y đến đồn cảnh sát khu vực, nhưng ở đó cũng không ai hay biết gì về những người ruột thịt thân cận nhất của Sơ-lắc.
Mấy người láng giềng kể với y rằng, vào một đêm cách đây ít lâu, họ nghe tiếng động cơ ôtô. Nhưng người đến là ai, đến bằng xe ôtô nào và chuyện gì xảy ra sau đó với bà An-na và các con của bà, thì không ai hay biết.
Bà An-na đã biến đi một cách đầy bí ẩn, hệt như vị giám mục. Đã hai ngày nay, theo lệnh của Ai-xơ-man, bọn cảnh sát hình sự ra sức tìm kiếm hoặc vị giám mục, hoặc người em gái của ông ta cùng với mấy đứa con, song hiện thời chúng vẫn chưa phát hiện được dấu vết gì.
Muyn-lơ mỉm cười tiếp Ai-xơ-man. Nghe xong lời viên trung tá, Muyn-lơ không nói gì. Y lấy từ trong tủ sắt ra một chiếc cặp và rút từ trong cặp ra một tờ giấy.
- Món này bây giờ ra sao đây? - Muyn-lơ hỏi và chìa tờ giấy cho Ai-xơ-man.
Đó là bản báo cáo của Ai-xơ-man, trong đó y viết rằng y tin tưởng hoàn toàn vào đại tá Sơ-tiếc-lít.
Ai-xơ-man im lặng hồi lâu, rồi y thở dài nặng nề và nói một câu đáng sợ:
- Tất cả chúng ta đều đáng phải nguyền rủa tới ba lần!
- Như thế mới đúng hơn đấy! - Muyn-lơ đồng ý và cất tờ giấy vào cặp. - Đó là một bài học đích đáng cho anh, anh bạn ạ.
- Tôi làm thế nào bây giờ, phải viết bản báo cáo khác gửi ngài chăng?
- Không cần...
- Nhưng tôi thấy tôi có nghĩa vụ rút lui ý kiến cũ của mình.
- Như vậy có tốt hay không đã chứ? - Muyn-lơ hỏi. - Rút lui ý kiến cũ chẳng phải hay ho đâu.
- Vậy thì trong trường hợp này tôi phải làm gì?
- Phải tin tưởng rằng tôi sẽ không để ý đến báo cáo cũ của anh. Chỉ cần thế thôi. Và hãy tiếp tục làm việc. Và anh cần biết rằng anh sắp phải đi Pra-ha. Từ bên ấy, rất có thể đột nhiên anh sẽ quay về đây gặp lão giám mục và người bạn trung thành của anh, người đã cùng anh xông pha dưới làn bom đạn ở Xơ-mô-len-xcơ. Còn bây giờ thì anh đi đi. Và chớ có thất vọng. Người hoạt động phản gián phải biết rằng, hơn ai hết, lúc này không được tin bất cứ ai, đôi khi thậm chí không được tin chính bản thân mình.
"Kính gửi ngài Cục trưởng Cục an ninh đế chế
Thượng tướng ss Can-ten-bơ-ru-ne. Pra-ha Đánh máy hai bản.
Thưa ngài thượng tướng kính mến của tôi!
Sau khi nhận được lệnh của Quốc trưởng phải biến từng thành phố và mỗi ngôi nhà thành một pháo đài bất khả xâm phạm, tôi đã nghiên cứu lại tình hình Pra-ha, một thành phốphải trở thành trung tâm quyết chiến với bọn bôn-sê-vích như thủ đô Viên và.pháo đài An-pơ, hoặc là thành phố này sẽ bị san bằng nếu cuộc chiến đi tới kết cục thấm hại.
Sau khỉ nhận được chỉ thị của Ngài về việc lựa chọn những người sẵn sàng huỷ diệt Pra-ha, không những trong số những người thuộc các dân tộc khác đã cùng cộng tác mấy năm với chúng ta trong cuộc chiến đấu chống chủ nghĩa bôn-sê-vích, tôi đã chuẩn bị xong một bản danh sách.
Tôi không muốn kể tên tất cả những người ấy ra đây, sợ rằng những điều vụn vặt đó sẽ làm Ngài phải bận tâm, không tập trung vào những việc cực kỳ quan trọng đang chờ các giải pháp khôn khéo của ngài. Tôi xin gửi đến Ban thư ký của Ngài danh sách bốn trăm hai mươi mốt người, bao gồm những người thuộc nhiều dân tộc khác nhau.
Trong việc này, tôi đã sử dụng đại tá quân báo Béc-gơ. Theo chỗ tôi được biết thì từ hồi ở Cờ-ra-cốp, Béc-gơ đã là người quen biết riêng của Ngài trong vụ điều tra tên Ca-na-ri-xơ, kẻ thù của chế độ quốc xã. Ông ta đã thực sự giúp đỡ tôi còn vì lẽ sau đây: ông ta có một trợ thủ đắc lực là Gờ-ri-san-trị-cốp, một người Nga đã được ta tuyển mộ. Cần nói thêm rằng, Gờ-ri-san-tri-cốp đã được đại tá Sơ-tiếc-lít đánh giá là một người thợ cắt tóc và xoa bóp kỳ tài hồi đại tá tới thăm Cờ-ra-cốp. Thực ra, anh ta là một cán bộ phản gián tương đối có khả năng và đã giúp tôi trong việc lựa chọn những người Nga đang phục vụ trong tập đoàn quân của tướng Vla-xốp.
Vì tất cả những người được lựa chọn cho việc chuẩn bị huỷ diệt các di tích lớn nhất của nền văn hoả Xla-vơ đều phải qua giai đoạn thẩm tra đặc biệt của cơ quan ghét-xta-pô, cho nên tôi đề nghị Ngài chỉ thị cho thượng tướng Muyn-lơ tổ chức thẩm tra thêm về đại tá Béc-gơ và, nếu có thể, cả nhân vật Gờ-rỉ-san-trị-cốp người Nga nữa.
Tôi xỉn phép đề nghị Ngài báo cho tôi biết tất cả những gì liên quan đến công việc của tôi, mặc dù tôi hiểu rằng nhiệm vụ của tôi ở đây không thể nào sánh được với công việc vô cùng to lớn mà Ngài đang lo liệu nhằm chuẩn bị cho thắng lợi cuối cùng của chúng ta.
Hai-lơ Hít-le!
Cờ-ruy-ghe của Ngài”.
Xem xong bức thư ấy, Can-ten-bơ-ru-ne phê vào đó: "Gửi ông Muyn-lơ. Tôi không quen biết bất cứ đại tá Béc-gơ nào, chứ đừng nói đến Gờ-ri-san- tri-cốp. Ông hãy tổ chức việc thẩm tra và đừng quấy rầy tôi bằng những chi tiết như thế này nữa. can-ten-b ơ-ru-ne".
Vì lúc này Muyn-lơ cần có ngay người liên lạc đã mang mật mã của cấp chỉ huy tình báo Liên Xô ở Béc Lanh sang Béc-nơ, cho nên y quyết định phá vỡ kế hoạch của các nhân viên của hắn đang tổ chức bao vây địa điểm liên lạc đã vỡ lở của tổ chức tình báo Liên Xô. Không phải theo dõi người liên lạc làm gì nữa, cái cần có ngay lúc này là bằng chứng kia. Còn chiến dịch cất vó toàn bộ hệ thống là việc của Sê-len-béc, kệ cho hắn tổ chức công việc của hắn. Theo tin từ Béc-nơ báo về, người liên lạc kia là một gã lớ ngớ, một phần tử trí thức rất dễ "khai thác", gã không phải loại điệp viên cứng đầu cứng cổ, gã sẽ khai ngay kẻ nào giao mật mã cho hắn. Khi đó, Muyn-lơ sẽ nắm trong tay những bằng chứng không thể chối cãi, khi đó hắn sẽ ung dung trên mình ngựa.
Thế là mệnh lệnh được gửi sang Béc-nơ: "Ngừng ngay việc theo dõi tên liên lạc. Tổ chức bắt cóc hắn và nhét vào hòm xe sứ quán chở về Đức qua biên giới. Giao hắn cho đích danh thượng tướng Muyn-lơ".
Trên đường tới căn phòng bí mật theo thời gian đã hẹn, Pờ-lây-sơ-ne ở trong tâm trạng phấn chấn không khác gì hai hôm trước. Giáo sư làm việc rất say sưa. Ông chỉ bước ra khỏi căn phòng mình thuê ở khách sạn để ăn uống. Ông sung sướng và hy vọng vào ngày tận số sắp tới của Hít-le. Ông mua tất cả các loại báo, và một nhà phân tích, am hiểu lịch sử như ông có thể dễ dàng hình dung rõ tươmg lai. Hồi còn ở bên Đức, ông không dám nghe đài Anh mà chỉ cố gắng hiểu sự thật giữa những dòng báo tuyên truyền rùm beng của Gơ-ben. Nhìn chung, giáo sư đã thông thạo nghệ thuật đó. Ông đọc các bài báo và bản tin trên tờ "Phôn-ki-se-bê-ô-bác-te", ông đưa mắt lướt nhanh các bản tin thắng trận ồn ào, ông vứt bỏ các vỏ hào nhoáng giả dốì bên ngoài và đánh dấu, tất nhiên trong ý nghĩ, trên bản đồ bằng các lá cờ đỏ, cờ sao và cờ nâu. Õng chỉ cần một chiếc bản đồ ghi tên các thành phố và một chiếc thước kẻ là đủ. Ba thành tố ấy cho phép Pờ-lây-sơ-ne nhìn rõ sự thật, ở đây, tại Thụy Sĩ, ông tin chắc răng ông đã suy nghĩ đúng đắn từ hồi ở Béc Lanh quê nhà. Ông luôn luôn cho rằng thắng lợi của chủ nghĩa phát xít sẽ là ngày tận số của nền văn minh và rốt cuộc sẽ làm cho dân tộc suy đồi. Khi con người trên trái đất vừa bắt đầu chia ra hai loại: người nô lệ và bọn thống trị, lập tức trong nội bộ dân tộc của bọn thống trị phát sinh mọi thứ bệnh hoạn và sâu mọt. Đế quổc La Mã đã diệt vong, chỉ vì nó muốn đặt mình lên trên thế giới, - và nó đã sụp đổ dưới đòn tấn công khủng khiếp của các bộ lạc dã man. Pờ-lây-sơ-ne cho rằng, nhìn chung, mọi nhà nước cổ đại đều phải dẫy chết ngay vào lúc tưởng như nó đang ở tột đỉnh vinh quang, chỉ vì nó muốn làm chúa tể toàn cầu. Điều đó xảy ra, bởi vì sức mạnh thường đi liền với sự ngạo mạn - sự ngạo mạn biến thành thái độ hám danh, mà ai cũng biết rằng không có gì mù quáng và bất lực trong thời kỳ đầy thử thách bằng thái độ hám danh hão huyền. Các thủ lĩnh Hy Lạp, La Mã, và trước nữa là các thủ lĩnh Ai Cập và Va-vi-lon, vì say sưa với thắng lợi, đã không còn coi nhà nước như công cụ liên kết những con người có khuynh hướng khác nhau nữa. Chiến thắng ở bên ngoài biên cương của tổ quốc làm cho các thủ lĩnh thời cổ say sưa đến mức quên mất sự bất mãn của những người nô lệ ở nước họ, quên mất những lời xì xào khó chịu của những cận thần không được ban thưởng, quên mất thái độ không bao giờ hài lòng về thế giới này của các nhà tư tưởng và các triết gia, những người luôn luôn sống bằng mơ ước về tương lai diệu huyền. Việc chiến thắng các kẻ thù hiển diện khiến cho các bậc vương giả, vua chúa, pha-ra-ông, bạo chúa, các vị toàn quyền, tưởng rằng một khi các nước ngoại bang đã sụp đổ trước miếng đòn trời giáng của họ, thì muốn trừng trị những người dân thuộc quốc của họ dám biểu lộ thái độ bất bình cũng chẳng khó khăn gì. Khi đó họ quên rằng, trong cái đội quân dĩ nhiên phải trở thành lực lượng đàn áp chủ yếu - khi cần thiết - có anh em, con cháu, hoặc những người thân quen của những người mà - với thời gian - họ sẽ phải cầm súng đàn áp. Trong sự bất đồng giữa các nhà cầm quyền với người dân thuộc quốc ấy, có những yếu tố tiến bộ mà Pờ-lây-sơ-ne thầm xác định bằng thuật ngữ "các chất men văn minh". Õng hiểu rằng Hít-le đã nghĩ ra một trò thí nghiệm độc ác: chiến thắng của Đế chế thứ ba trước thế giới phải thể hiện bằng các phúc lợi vật chất rõ rệt cho tất cả mọi người Đức, không phân biệt địa vị xã hội của mỗi người. Hít-le muốn biến tất cả mọi người Đức thành các vị chúa tể hoàn cầu, còn tất cả những người còn lại trên trái đất thì phải trở thành dân thuộc quốc của người Đức. Nghĩa là hắn muốn loại bỏ khả năng xuất hiện các "chất men văn minh" - ít ra là trong một tương lai không xa. Nếu Hít-le chiến thắng, người Đức sẽ trở thành một dân tộc quân sự hoá hoàn toàn, Hít-le sẽ tước bỏ khí giới của tất cả các dân tộc khác, thủ tiêu mọi tổ chức nhà nước của họ, và lúc ấy mọi mưu toan dấy loạn của các dân tộc bị chinh phục sẽ thất bại hoàn toàn, vì chỉ có một tổ chức dân tộc hùng mạnh hệt như nước Đức mới dám đương đầu với tổ chức quân sự của người Đức mà thôi. Chờ đến khi trong tầng lớp dân tộc thông trị chín muồi các "xung đột phục hưng" thì còn lâu - hàng năm, vài chục năm, vả lại, cũng chẳng có gì là bảo đảm là nói chung sẽ xảy ra các xung đột đó.
... Pờ-lây-sơ-ne xem đồng hồ: ông vẫn còn nhiều thời gian. Cạnh đây có một quán cà-phê nhỏ: bên trong cửa kính lấm lấm các giọt nước mưa, Pờ-lây-sơ-ne thấy có một đám học trò ngồi ăn kem - hẳn là các em được cô giáo dẫn tới đây.
"Mình đang suy nghĩ bằng các phạm trù của Đế chế thứ ba, - Pờ-lây-sơ-ne chợt hiểu, khi ông nhìn thấy người đàn ông ngồi đầu bàn ; người ấy còn trẻ và đang vui cười với đám trẻ. - Chỉ có ở bên Đức các nhà giáo mới toàn là phụ nữ, bởi vì mọi người đàn ông ở tuổi nhập ngủ đều phải ra trận. Nói chung, dạy phổ thông phải là các thầy giáo mới tốt. Như ở xứ Xpác-ta vậy. Phụ nữ chỉ có thể làm người an ủi, chứ không làm nhà giáo được. Đào tạo thế hệ tương lai phải là đàn ông, điều đó sẽ loại trừ những ảo tưởng không cần thiết ở trẻ em, mà không có gì nhẫn tâm hơn sự va chạm giữa các mơ tưởng của trẻ em với thực tại của người lớn. Nói chung, vẫn chưa có ai nhìn thế giới từ góc độ phân chia ở mức toàn thế giới của nó... không phải là phân chia thành phương đông và phương tây, không phải phân chia thành người.nô lệ và bọn thống trị, mà là phân chia thành người lớn và trẻ em. Trong sự tách biệt khó phân chia ấy chín muồi dần những quá trình vĩ đại. Nhiệm vụ chính của loài người sau khi chiến tranh kết thúc là tìm cách tác động đến sự chín muồi ấy, để trẻ em khỏi phải lặp lại những sai lầm của người lớn".
Ông ghé vào quán cà-phê, ngồi ở một góc và mua một suất kem hoa quả. Tốp học sỉnh cười nói vui vẻ trước mấy câu pha trò của thầy giáo các em. Người thầy giáo trẻ trò chuyện với các em như với những người ngang hàng, không chút cầu kỳ, gò ép, mà rất khéo léo và có sức lôi cuốn học sinh đến với mình.
"Giả dụ Hít-le đến đây, hẳn là các em sẽ ngồi câm lặng bên bàn và đưa mắt hầm hầm nhìn thầy giáo, có lẽ cô giáo thì đúng hơn, của mình, và ở ngoài phố các em sẽ xếp thành hàng mà đi chứ đâu dám tung tăng vui vầy. Các em sẽ phải chào nhau bằng tiếng kêu ngu xuẩn "Hai-lơ Hít-le!" Thật là đáng sợ khi phải mong tổ quốc mình bại trận, nhưng mình chỉ muốn nước Đức bại trận càng nhanh càng tốt..."
Pờ-lây-sơ-ne ăn từ từ cho hết món kem. Ông mỉm cười nghe giọng nói lao xao của đám học trò nhỏ. Người thầy giáo nói:
- Chúng ta hãy cảm ơn bác chủ quán tuyệt diệu, người đã dành cho thầy trò ta chỗ ngồi ấm và món kem lạnh bằng cách hát tặng bác ấy một bài. Các em có đồng ý không nào?
- Đồng ý ạ! - tốp học sinh hưởng ứng.
- Chúng ta biểu quyết nhé! Ai không đồng ý?
- Em, - một em gái tóc hung, mặt đầy tàn nhang, có đôi mắt xanh rất to, nói. - Em không đồng ý ạ..
Tại sao?
Lúc ấy, cánh cửa.mở ra và người đàn ông mắt xanh cao lớn, chủ nhân căn phòng bí mật, rủ mưa bụi bám trên áo khoác, bước vào. Cùng đi với hắn là một gã vạm vỡ, da ngăm ngăm đen, dáng nhanh nhẹn, mắt to, gò má cao, rất dễ nhớ. Chút nữa thì Pờ-lây-sơ-ne đứng bật dậy, nhưng ông lại nhớ đến lời dặn của người đàn ông cao lớn - "tự tôi sẽ nhận ra ông". Pờ-lây-sơ-ne lại chúi đầu vào tờ báo, tai vẫn lắng nghe câu chuyện giữa người thầy giáo và tốp học sinh.
- Em hãy cho biết vì sao em không đồng ý? - thầy giáo hỏi cô bé. - Phải biết bảo vệ quan điểm của mình. Rất có thể em nói đúng, còn thầy và các bạn khác nghĩ sai... Em hãy giúp đỡ thầy và các bạn hiểu ra...
- Mẹ em bảo, sau khi ăn kem xong không nên hát, vì có thể làm cho cổ họng bị đau, - cô bé đáp.
- Mẹ em nói đúng. Tất nhiên, nếu chúng ta hát to hoặc kêu gào ngoài phố thì cổ họng sẽ bị đau... Nhưng ở đây... Không, thầy nghĩ rằng ta hát ở đây không việc gì cả. Riêng em có thể không hát cũng được: thầy và các bạn khác sẽ không giận em đâu.
Rồi thầy giáo là người đầu tiên cất tiếng hát một bài hát vui của xứ Ti-rôn. Người chủ quán từ sau quầy bước ra vỗ tay hoan hô các em. Cả tốp ồn ào rời quán cà-phê và Pờ-lây-sơ-ne trầm ngâm nhìn theo các em.
"Mình đã có lần nhìn thấy thằng cha da ngăm ngăm đen này ở đâu rồi, - ông sực nhớ. - Loại người có bộ mặt tầm thường như hắn dễ được người ta nhớ lâu lắm. Hình như mình đã ngồi ở trại tập trung với hắn chăng? Không... Mình không gặp hắn ở đó. Nhưng mình nhớ. Mình nhớ mặt thằng cha này lắm".
Chắc ông nhìn mặt gã da ngăm ngăm đen chăm chú quá, cho nên gã kia nhận thấy vậy liền vộị vàng mỉm cười ; nhưng chính nụ cười đó giúp ông nhớ lại rõ rành rành. Thậm chí ông còn nghe thấy giọng nói của gã: "Bảo lão ta phải viết giấy cam đoan đi theo Quốc trưởng trong tất cả mọi việc làm! Trong tất cả mọi việc làm! Để sau này lão ta không thể hất hàm về phía chúng ta mà bảo - bọn ấy có lỗi, còn tôi chỉ đứng ngoài cuộc. Bây giờ không ai được phép đứng ngoài cuộc! Trung thành hay là chết - một người Đức ở trại tập trung ra chỉ được phép lựa chọn như thế thôi". Đấy là vào năm thứ hai của cuộc chiến tranh: giáo sư bị gọi đến Sở ghét-xta-pô để "trò chuyện"
- mỗi năm giáo sư bị gọi đến Sở một lần, thường là vào mùa xuân. Thằng cha da ngăm ngăm đen này bước vào phòng làm việc, nơi giáo sư đang nói chuyện với một tên ghét-xta-pô mặc sắc phục. Tên ấy thường làm nhiệm vụ "trò chuyện" theo kiểu đó. Gã đứng nghe một lát rồi hằn học nói những lời dễ nhớ như trên. Sau đó, Pờ-lây-sơ-ne đến gặp em trai ông tên là Gu-gô, - bấy giờ đang làm bác sĩ trưởng, và không ai ngờ rằng một năm sau Gu-gô đã chết. "Đó là thủ đoạn quen thuộc của chúng nó, - Gu-gô nói, - chúng muốn trói buộc anh vào một lũ với chúng"...
Pờ-lây-sơ-ne cảm thấy tay ông run lên. Ông không biết xử trí ra sao: có nên bước lại bên người đồng chí caó lớn, chủ nhân của căn phòng bí mật, máy anh ta ra một chỗ để báo cho anh ta biết, hay là bước ra phố và chờ xem hai người ấy có cùng đi với nhau không, hay là nên đến ngay chỗ hẹn gặp để báo tin cho người còn lại ở đây biết, - hôm kia ông chẳng nghe thấy tiếng nói của một người thứ hai ở đấy đó thôi, - để đồng chí ấy đặt tín hiệu báo động lên bậu cửa sổ.
"Dừng lại! - đột nhiên Pờ-lây-sơ-ne thấy bổ chửng cả người. - Thế hôm kia mình đến đấy thì có gì trên bậu cửa sổ? ở đấy có bông hoa. Sơ-tiếc-lít đã dặn mình rồi cơ mà. Có bông hoa hay không nhỉ? Không, không thể như vậy được, thế thì tại sao bây giờ cái đồng chí kia lại... Không, mình lại lên cơn thần kinh mất rồi, dừng lại! Trước hết phải tự kiềm chế cho bình tĩnh đã. Dừng lại".
vẫn không nhìn Pờ-lây-sơ-ne, người cao lớn bước rạ khỏi quán cà-phê cùng với người bạn đồng hành da ngăm ngăm đen của hắn. Pờ-lây-sơ-ne đề nghị chủ quán tính tiền và chìa cho ông ta đồng tiền chẵn cuối cùng của mình. Chủ quán không có tiền lẻ trả lại, nên ông ta chạy sang cửa hàng đối diện. Khi ông ta trả tiền thừa cho Pờ-lây-sơ-ne và tiễn giáo sư ra cửa, thì ngoài phố vắng tanh: không thấy cả chủ nhân căn phòng bí mật lẫn gã da ngăm ngăm đen đâu nữa.
"Có thể anh ta cũng giống Sơ-tiếc-lít thì sao? - Pờ-lây-sơ-ne nghĩ. - Biết đâu anh ta cũng sắm vai kịch như Sơ-tiếc-lít để chiến đấu chốhg bọn quốc xã từ trong nội bộ của bọn chúng? " Ý nghĩ ấy khiến ông yên tâm, và mặc dù ông đã nhớ lại bộ mặt của gã da ngăm ngăm đen cùng giọng nói đáng ghét với kiểu cười thâm độc, đột ngột của gã, Pờ-lây-sơ-ne phải cố tự nhủ mình rằng đấy chẳng qua là do tâm trạng bất thường của ông thôi.
Ông tiến về phía ngôi nhà có căn phòng bí mật, và quan sát cửa sổ căn phòng đó, ông nhìn thấy gã chủ nhân cao lớn và gã da ngăm ngăm đen. Hai gã đang đứng nói chuyện gì đấy với nhau, giữa chúng có một bông hoa to - tín hiệu báo động nguy hiểm. Người chiến sĩ tình báo Nga cảm thấy bi theo dõi đã kịp đặt tín hiệu báo động ấy lên cửa sổ, còn bọn ghét-xta-pô thì không hiểu bông hoa ấy có nghĩa "an toàn" hay "nguy hiểm". Nhưng vì chúng tin rằng người chiến sĩ kia không biết anh ta đang bị theo dõi, cho nên chúng cứ để nguyên mọi thứ như cũ. Việc hôm kia Pờ-lây- sơ-ne vì vô ý, không nhìn bông hoa, cứ bước vào phòng, lại càng khiến cho chúng tin rằng mọi thứ trong căn phòng này vẫn đâu vào đấy.
Hai người đứng bên bậu cửa sổ đã nhìn thấy Pờ-lây-sơ-ne. Gã cao lớn mỉm cười, gật đầu với ông. Lần đầu tiên Pờ-lây-sơ-ne nhìn thấy nụ cười trên bộ mặt gã, và nụ cười ấy giúp ông hiểu rõ tất cả. Õng cũng mỉm cười và bắt đầu đi qua đường ; vì ông nghĩ rằng, sang đến vỉa hè bên kia, bọn chúng đứng ở trên cao sẽ không trông thấy ông và sẽ có thể chạy trốn. Nhưng khi ngoảnh lại, ông nhìn thấy hai người đàn ông đi cách ông chừng một trăm mét và đang vờ ngó nghiêng các tủ kính bầy hàng.
Pờ-lây-sơ-ne cảm thấy chân ông như muốn khuỵu xuống.
"Kêu to lên chăng? Gọi mọi người cứu giúp chăng? Hai tên kia sẽ kịp chạy đến trước tiên. Mình biết bọn chúng sẽ làm gì mình. Sơ-tiếc-lít đã kể bọn chúng có thể đánh thuốc mê hoặc làm cho người khác điên dại như thế nào".
Vào những lúc nguy hiểm nhất, nếu con người chưa mất khả năng đánh nhau, thì sự chú ý trở nên đặc biệt nhậy bén, bộ óc làm việc cực kỳ căng thẳng.
Pờ-lây-sơ-ne nhìn thấy ở cửa chính toà nhà, nơi hôm kia ông đã bước vào, một mảnh trời thấp xanh lơ.
"Ở đó có sân thoát ra phía sau, - ông chợt hiểu. - Mình phải bước vào cửa chính".
Ông bước vào cửa chính với hai đầu gối run run như muốn khuỵu xuống, với nụ cười sững lại trên khuôn mặt tái xanh tái xám. Cửa mở ra:
chúng đang chờ ông ở trên, nên sau khi chúng ấn nút, cánh cửa đã tự động mở ra.
Pờ-lây-sơ-ne khép cửa lại và chạy vội về phía chiếc cửa đối diện dẫn ra sân. ở đó còn có một chiếc cửa sổ nhỏ nữa. Ông lấy tay đẩy, nhưng hiểu rằng nó đã bị khoá. Ông lấy vai ẩy mạnh, cửa vẫn đóng im ỉm.
* Ti-rôn - mật xứ ở nước Ao.
Trước khi đến cơ quan an ninh quốc xã, Sơ-tiếc-lít cho xe xuống vệ đường, rồi ngồi trên một chiếc ghế dài. Đã lâu không được sơn lại, nên chiếc ghế nham nhở, sây sát vì mưa gió và sương tuyết. Trên đường nhựa, một tốp trẻ em khéo léo lượn tránh các ổ gà để chơi xe rô-lích. Các em đẩy xe một cách chăm chú và nín lặng, và Sơ-tiếc-lít để ý thấy mặt các em đẫm mồ hôi: đó là mồ hôi đói.
"Trò chơi rô-lích làm cho các em nhỏ ấy suy tim mất thôi, - anh thầm nghĩ, - nỗi sợ hãi ban đêm giữa các trận ném bom, trò chơi rô-lích ban ngày và cơn đói thường xuyên khiến lúc nào các em cũng thèm khát bánh mì, xúc xích và khoai tây. Cái đáng sợ nhất trong cuộc chiến tranh của người lớn là những tâm hồn và thể xác què quặt của trẻ em".
Sơ-tiếc-lít nhắm mắt lại, và lập tức anh thấy hiện lên rõ rệt khuôn mặt Xa-sen-ca. Đặc biệt dễ nhớ là nét mặt của những người phụ nữ ta yêu vào giờ phút chia tay hay gặp gỡ. Bao năm tháng trôi qua, bao ngưài chết đi, bao quốc gia xuất hiện, chính sách đổi thay, bạn bè xuất hiện rồi biến mất, nhưng khuôn mặt của nàng, khuôn mặt xanh tái và đầy vẻ sợ hãi - bao giờ cũng ở bên cạnh anh, hễ anh nhắm mắt vào là lại nhìn thấy. Khuôn mặt ấy hiện lên từ khoảng trống màu tím nhạt và đập thẳng vào mắt anh, và bao giờ anh cũng thấy khuôn mặt ấy mang những nét vẻ đúng như vào giây phút cuối cùng trước lúc chia tay.
"Phụ nữ họ cảm xúc mạnh hơn nam giới. Cái lên tiếng trong lòng họ không phải là lý trí, như ở cánh nam giới chúng mình, mà là một cái gì xa xôi, khó nhận thức, - Sơ-tiếc-lít nghĩ. - Hôm ấy mình bảo rằng, chỉ một năm sau, hai vợ chồng sẽ gặp nhau, nhưng nàng lắc đầu và nhắm mắt lại sờ vuốt mặt mình như một người mù".
- Xa-sen-ca thân yêu, - Sơ-tiếc-lít thở dài. - trời, Xa-sen-ca của anh!
"Một mình nàng phải gặp biết bao khó khăn trong việc nuôi dạy bé Xa-sa... Bên nước mình làm gì có những chiếc xe rô-lích như thế này, còn xe đạp thì là thứ đồ cực hiếm. Chúng ta đã vượt thế giới về mặt trí tuệ, còn về xe rô-lích và xe đạp thì còn lâu chúng ta mới vượt... Thay thế người cha, xe rô-lích và xe đạp, bé Xa-sa chỉ có Xa-sen-ca và sách vở, và không có thứ gì khác nữa..."
Sơ-tiếc-lít suy nghĩ chầm chậm, anh thấy vừa ngọt ngào, vừa đau sót, bởi vì anh chỉ còn được nghĩ đến Xa-sen-ca và đến bé Xa-sa vài phút nữa thôi, bởi vì sau đó anh phải đến toà nhà của cơ quan an ninh quốc xã, bước xuốhg tầng dưới, vào phòng khách của Muyn-lơ. Đến lúc ấy thì đâu còn thời gian để nghĩ tới cái quý nhất tròng cái cuộc sống không thuộc về anh kia. Đến đấy, anh sẽ phải làm một người chiến sĩ, mà một người chiến sĩ sẽ chiến bại, nếu trước khi bước vào trận đánh không gạt bỏ tất cả những gì không trực tiếp liên quan tới trận đánh.
"Không sao, Ca-chi-a ạ - anh nghĩ bụng và đứng dậy, - tôi với cô sẽ chiến đấu, tôi sẽ cứu thoát cô ra, và tất cả sẽ đều tốt đẹp, và cô sẽ tha hồ nuôi dạy cậu con trai của cô".
Sơ-tiếc-lít chậm rãi đi lại xe, mỉm cười với tốp trẻ đầm đìa mồ hôi đang chơi trò đẩy xe rô-lích và anh hiểu rằng lúc này anh đang nghĩ đến Kết để chuẩn bị bước vào trận đánh.
"Có điều là không nên lừa dối bản thân mình, - anh ngồi vào tay lái và nghĩ thầm. - Mình quá quả quyết trong việc cứu Kết ra. Tin vào thắng lợi là điều cần thiết - nếu không sẽ bị thất bại, nhưng cũng không nên ve vuốt mình, vì như thế chỉ dễ ăn đòn".
Anh mở máy, Động cơ nổ giòn, và theo thói quen, Sơ-tiếc-lít nói:
- Nào, vút lên đi, hõi chiếc xe yêu quý!... Ta với xe hãy dạo chơi phố phường thêm một'lần nữa, ngắm nhìn khuôn mặt mọi người và hít thở bầu không khí phảng phất hương mùa xuân, rồi sau đó ta hãy về chỗ Muyn-lơ...
* Ti-rôn - mật xứ ở nước Áo.
* Nguyên văn: đang đeo trên cổ tôi.
Nguyên văn: như chui xuống nưởc.
Chương 14
Khi Muyn-lơ được bọn tay chân báo cáo rằng Sơ-tiếc-lít đang đi ngoài hành lang toà nhà cơ quan an ninh quốc xã để về phòng làm việc của anh, y lúng túng trong khoảnh khắc. Y tin rằng anh sẽ bị tóm cổ ở một nơi nào đó kia. Y không thể giải thích với bản thân y lý do vì sao, nhưng luôn luôn y linh cảm là y sẽ thành công. Kể ra, Muyn-lơ cúng biết sai làm của mình: y nhớ y đã luống cuống ra sao khi nhìn thấy cái đầu bê bết máu của Khôn-tốp. Dĩ nhiên, Sơ-tiếc-lít thừa hiểu rằng y và Khôn-tốp đồng mưu với nhau trong kế hoạch đó. Bởi vậy, theo y, Sơ-tiếc-lít hẳn phải cao chạy xa bay. Nhưng việc anh ta xuất hiện trong cơ quan an ninh đế chê và đang thong thả dạo bước ngoài hành lang, thân mật chào hỏi mọi người, khiến cho Muyn-lơ lúng túng và thiếu tin tưởng vào thành công của y.
Suy tính của Sơ-tiếc-lít rất đơn giản: làm cho đối phương dao động tức là đã thắng lợi một nửa. Anh tin rằng cuộc đấu trí với Muyn-lơ sẽ rất phức tạp - Khôn-tốp đã lần mò gần tới những đầu mối yếu nhất trong chiến dịch mà anh tiến hành với các nhà vật lý học. Song việc chuẩn bị thiếu chu đáo và thái độ còi thường giới trí thức nói chung của Khôn-tốp đã không cho phép hắn luận tội anh, và những lý lẽ do hắn đưa ra chỉ nặng về trực giác, không kèm theo bằng chứng rõ ràng, có thể bị anh phủ nhận, hoặc ít nhất cũng có hai cách giải thích. Sơ-tiếc-lít đã chuẩn bị đỡ đòn một cách hết sức cẩn thận trpng vụ án nhà vật lý học Run-gơ. Anh hiểu rằng bọn ghét-xta-pô sẽ khai thác nhà vật lý học ấy như chúng vẫn khai thác tất cả những người bị bắt khác: viên dự thẩm không thể chỉ nghe cách giải thích của nhà vật lý lý Thụyết, một người say mê cao độ với tư tưởng của mình và vì vậy mà rất ngây ngô trong cuộc sống thường ngày. Bải thế, khi anh thận trọng đề cập đến nguy cơ nước Mỹ chế tạo được bom nguyên tử, trong lúc nói chuyện với Sê-len-béc, tên kia, đúng như dự đoán của anh, đã phàn nàn về tình trạng tụt hậu của nước Đức và cho rằng bọn ác nhân ranh ma ở ngoại quốc có thể đang mưu mô gì đây trong việc ngăn cản nước Đức quốc xã nhanh chóng giải quyết vấn đề "vũ khí trừng phạt". Mặc dù Sê-len-béc không nói tên người bị bắt là Run-gơ, song Sơ-tiếc-lít vẫn nêu lên giả Thụyết rằng chỉ dựa vào các nhà vật lý học mới có thể vạch trần mưu mô thâm độc của giới trí thức, vì ở đây, trong bộ máy của Muyn-lơ, chỉ toàn một bọn đao phủ trắng trợn mà thôi. Sê-len-béc tỏ ra quan tâm, hỏi Sơ-tiếc-lít xem anh thông thạo đến mức nào các khuynh hướng mới trong vật lý học. Sơ-tiếc-lít cau có trả lời - theo thói quen hàng ngày của anh, do đó không hiểu anh nói đùa hay nói thật:
- Vấn đề khiến tôi quan tâm nhiều nhất là có thể dùng môn hoá lý để làm chậm lại quá trình ngu dân tới mức nào... Thật là khó làm việc, vì có quá nhiều những thằng ngốc biết nói những lời chí lý...
- Anh đến phải chết trong trại tập trung mất thôi, - Sê-len-béc mỉm cười. - Mà có lẽ Muyn-lơ cũng sẽ không bỏ tù anh đâu, anh biết quá nhiều, những người như anh có bị chết vì tai nạn ôtô cũng sẽ được người ta bắn súng tiễn biệt.
- Cảm ơn ngài, - Sơ-tiếc-lít đáp. - Nhưng trước hết tôi muốn mang hoa đến viếng mộ ông ta đã.
- Muyn-lơ bất tử... Hắn không thể chết, cũng như nghề mật thám không thể chết trên thế gian này, bởi vì cái chính mà con người hướng tới - đó là sự tìm kiếm. Những người đạt được điều đó theo nghĩa cao cả thì đi tìm cái mới trong vật lý học, còn bọn quái thai ngu ngốc, kiểu như chúng ta, thì đi lùng người trọng cái nghề phản gián khốn kiếp.
- Muyn-lơ sẽ không tha thứ cho ngài về câu nói vừa rồi đâu...
- Tha với chả thứ, - Sê-len-béc nhún vai. - Đó chính là lời của hắn. Giá như cái thằng cha xứ Ba-va-ri-a ấy có trình độ học vấn cao hơn chút nữa, thì tôi không rõ bây giờ hắn đã leo đến đâu rồi: ở nhà chúng ta hay ở nhà khác nào gần khu vực cổng Bờ-răng-đen-bua.
- Tại sao ông ta lại không thích ngài đến thế?
- Vì hai lý do, - Sê-len-béc đáp. Thậm chí y cũng không cần suy nghĩ gì cả, rõ ràng là y đã nghĩ nhiều đến vấn đề đó. - Một là, tôi trẻ hơn hắn hai lần...
- Gần hai lần thôi. - Sơ-tiếc-lít lẩm bẩm chữa lại cho đúng.
- Trong trường hợp này, chữ "gần" không quan trọng. Thậm chí ngược lại, hắn sẵn sàng nói rằng hắn già hơn tôi gấp ba lần - tôi không phải là phụ nữ, còn hắn không phải là một con gà trống ghẹ mái. Còn về điểm thứ hai, thì bất cứ kẻ nào buộc phải xếp bút nghiên để kiếm miếng bánh bằng sức lao động của mình cũng đều không thích một người gặp may, vừa tốt nghiệp đại học đã làm nên sự nghiệp và danh vọng trong vòng ba năm. Trong khi đó, hắn phải bỏ cả cuộc đời mới làm được như vậy. Có lẽ còn một điểm thứ ba nữa... Điểm này tôi vừa nghĩ đến, anh biết đấy, cuộc sống có cái rất lạ là một số người này chỉ chuyến suy nghĩ, còn số người khác thì thi hành mệnh lệnh. Bởi thế, rõ ràng là Muyn-lơ rất ghen tức với tôi, vì tôi rất ít khi phải thi hành. Tôi suy nghĩ là chính. Còn hắn thì bao giờ cũng phải thi hành mệnh lệnh, phải bắn giết, lùng bắt. Anh biết đấy, điều đó chạm đến lòng tự ái của con người. Tôi đã đến gặp hắn mấy lần để thu xếp quan hệ đôi bên cho ổn thoả... Không, hắn ghen tức với tôi như một mụ nông dân xứ Ba-va-ri-a, vì tôi tranh thủ được cảm tình của ngài Thống chế ss, ngài hãy-đơ-rích quá cố và...
- Tôi hiểu, - Sơ-tiếc-lít cười khẩy, - tôi hiểu điều ngài chưa nói ra...
- Cái gì anh cũng biết cả, Sê-len-béc cũng cười khẩy. - Thôi, để Chúa phán xử hắn. Rốt cuộc, chủng ta đều làm công việc chung và đành phải chịu đựng cả những điều mà tất cả chúng ta đều không muốn chịu đựng... Mặt khác, có ai muốn cầm đầu cái đoàn xe vệ sinh là cơ quan ghét-xta-pô đâu? Có ai trong số những người 'biết tự trọng lại chịu nhận việc đó?
Câu chuyện ấy xảy ra cách đây đã một tháng rưỡi: Sơ-tiếc-lít không bao giờ nôn nóng. Anh cho rằng kiên nhẫn là mặt trái của sự khẩn trương. Tất cả đều do tỷ lệ quyết định, cả nghệ thuật lẫn hoạt động tình báo, cả tình yêu lẫn hoạt động chính trị.
Lần thứ hai Sơ-tiếc-lít đề cập đến vụ án Run-gơ là vào một buổi tối long trọng kỷ niệm ngày sinh của "Đức Quốc trưởng". Sau diễn văn của Him-le, đến giờ ca nhạc, rồi tất cả quan khách đi sang một phòng lớn, nơi các bàn ăn đã dọn sẵn. Theo thường lệ, Him-le uống nước suối khoáng, còn những kẻ dưới quyền hắn thì nốc cô-nhắc. Lúc ấy Sơ-tiếc-lít liền nói với Sê-len-béc rằng, người của Muyn-lơ đã đối xử thiếu khôn ngoan với Run-gơ, nhà vật lý học bị bắt cách đây ba tháng. "Tuy chẳng giỏi giang gì, nhưng tôi cũng đã tốt nghiệp khoa Toán- Lý, - anh nói, - tôi không muốn nhắc đến việc ấy, bởi vì chuyện say sưa học hành đã làm tôi suýt nữa bị liệt dương, nhưng dầu sao đó cũng là sự thật. Hơn nữa, nhà vật lý học ấy có nhiều dây liên lạc: ông ta từng du học và làm việc ở nước ngoài. Chúng ta khai thác ông ấy thì lợi hơn".
Anh tung ra cho Sê-len-béc ý kiến ấy rồi bắt đầu kể luôn mấy chuyện tiếu lâm. Sê-len-béc cười ha hả, sau đó hai người đi ra cửa sổ thảo luận một chiến dịch mà Sê-len-béc đã giao cho một nhóm nhân viên cộng sự thực hiện. Trong nhóm ấy có Sơ-tiếc-lít. Đó là một chiến dịch thông tin giả quy mô lớn, nhằm thọc gậy chia rẽ các nước đồng minh. Từ hôm âỳ, Sơ-tiếc-lít đã chú ý đến âm mưu chia rẽ các nước đồng minh phương tây với điện Cờ-rem-li của Sê-len-béc, một âm mưu được tiến hành khôn khéo, hết sức thận trọng và được đảm bảo an toàn về mọi mặt. Cũng như mọi khi, trong trò chơi đó, Sơ-tiếc-lít chĩa mũi nhọn chủ yếu và điện Cờ-rem-li. Đặc biệt, Sê-len-béc tổ chức việc cung cấp vũ khí tự động của Anh cho các đơn vị quân Đức đóng trên bờ Đại Tây Dương. Các vũ khí đó do bọn Đức nhờ các nước trung lập mua và được chuyển qua đất Pháp một cách lộ liễu, không kèm theo các biện pháp bảo vệ mà chúng vẫn áp dụng trong những cuộc vận chuyển thuộc loại đó. Theo kế hoạch bố trí cực kỳ khôn khéo, sau khi những người du kích cộng sản cướp được một số súng tự động của Anh để ở trong các kho của Đức, Bộ chỉ huy Đức ra lệnh doạ xử bắn những kẻ chểnh mảng trong việc bảo vệ các kho vũ khí. Lệnh ấy được in thành nhiều bản, và các điệp viên của Sê-len-béc, có nhiệm vụ phá hoại tổ chức du kích, đã tìm cách "cung cấp" cho các đảng viên cộng sản của Mô-rít-xơ Tô-rê ở trong chiến khu một mật lệnh như vây. Dựa trên các tài liệu ấy có thể rút ra kết luận rằng các nước đồng minh phương Tây không tính đến chuyện đổ bộ lên đất Pháp, hoặc Hà Lan, nếu không thì tại sao họ lại bán VŨ khí cho kẻ thù? Sê-len-béc tán thành hoạt động của Sơ-tiếc-lít - chính anh lo mặt tổ chức trong chiến dịch, chính anh nêu ra những đề nghị hay nhất trong việc phối hợp chiến dịch với hai cơ quan của Gơ-ben và Ríp- ben-tơ-rốp. Sê-len-béc không bước ra khỏi phòng làm việc - y ngồi chờ tiếng nổ ở điện Cờ-rem-li, y ngồi chờ sự đổ vỡ của khối liên minh Xta-lin, Sớc-sin và Ru-dơ-ven. Sơ-tiếc-lít làm việc cật lực, các đề nghị của anh được Sê-len-béc nhiệt liệt ủng hộ. Tuy nhiên, van không thấy chuyện gì xảy ra. Cơ quan an ninh quốc xã nát óc suy nghĩ - tại sao như vậy? Sơ-tiếc-lít đưa ra một số giả Thụyết. Giả Thụyết nào cũng táo bạo và đáng chú ý. Dĩ nhiên, trong số đó không có giả Thụyết duy nhất đúng là Sơ-tiếc-lít đã báo tin cho Mát-xcơ-va tất cả những gì anh biết về chiến dịch đó, khi nó vừa mới bắt đầu, anh dặn trước rằng Luân Đôn không đòi nào bán vũ khí cho bọn quốc xã, và toàn bộ chiến dịch ấy là một trò chơi ú tim từ đầu đến cuõì, chỉ là một hoạt động thông tin giả khôn ngoan, có mục đích rất sâu xa.
Khi trò chuyện trong ngày lễ sinh nhật Quốc trưởng, Sơ-tiếc-lít có tách khỏi vụ án Run-gơ bằng cách tập trung thảo luận về that bại của chiến dịch chống điện Cờ-rem-lí. Anh biết rằng Sê-len-béc, một nhà chỉ huy thông minh và một nhà tình báo bẩm sinh, đôi khi cho phép mình quên một vài chi tiết nhất định, song không bao giờ y bỏ qua những điểm mấu chốt trong khi trò chuyện vợi bất kỳ ai, kể cả với người coi vườn của y: nghề nghiệp ảnh hưởng rõ rệt tới hệ thống thế giới quan của con người. Sơ-tiếc-lít hiểu sâu sắc rằng Sê- len-béc là một đối thủ ngang tài, và trong những vấn đề chiến lược khó lòng qua mắt được y, hay nói đúng hơn là không thể qua mắt được y. Nhưng tìm hiểu kỹ, anh nhận ra một chi tiết lý thú: đốì với những đề nghị có giá trị của cấp dưới, ban đầu Sê-len-béc làm như không để ý đến chúng và nói lảng sang chuyện khác. Rồi sau đó, một vài ngày, vài tuần, thậm chí vài tháng, sau khi y đã bổ sung ý kiến của y cho đề nghị đó - chắc chắn y đã thăm dò thái độ của cấp trên, - y mới nêu ý kiến đó ra, nhưng bây giờ nó đã là sáng kiến của y, ý đồ của y, chiến dịch của y. Đã thế, y lại còn tô vẽ thêm cho ý kiến đó, khôn khéo gắn nó với cả một phức tạp những vấn đề chung của nhà nước quốc xã đến mức không ai có thể nghi ngờ cái việc ăn cắp thô sơ của y.
Sơ-tiếc-lít tính toán rất đúng: hai tuần sau, Sê- len-béc bảo anh ở lại, khi tất cả các nhân viên đều đã rời phòng làm việc của Cục trưởng Cục tình báo chính trị sau buổi họp thảo luận chiến dịch.
- Anh Sơ-tiếc-lít này, - Sê-len-béc nói, - hiển nhiên vấn đề ưu thế kỹ thuật sẽ là yếu tố quyết định trong lịch sử thế giới, nhất là sau khi các nhà khoa học khám phá được bí mật của hạt nhân nguyên tử. Tôi nghĩ rằng, các nhà khoa học ở các nước phương Tây lẫn phương Đông đều đã hiểu như vậy, nhưng các nhà chính trị thì chưa. Chúng ta sẽ chứng kiến sự suy sụp của nghề làm chính trị trong ý nghĩa mà chúng ta quen thừa nhận suổt mười chín thế kỷ vừa qua. Khoa học sẽ vạch đường đi tới tương lai cho chính trị. Hiểu rõ những động cơ trước tiên của các nhà khoa học biết nhìn xa trông rộng về tương lai, thấy rõ ai là người khích lệ các nhà khoa học đó trong việc tìm tòi - đó là một nhiệm vụ không phải của ngày hôm nay, mà cái chính là của tương lai. Bởi vậy, anh cần phải làm việc với nhà vật lý học bị bắt... Tôi quên mất tên ông ta rồi...
Sơ-tiếc-lít hiểu rằng đó là y muốn kiểm tra. Sê-len-béc muốn xác định xem nhà tình báo lỗi lạc Sơ-tiếc-lít có hiểu vì sao y lại nói những điều trên và ai là người đã gợi ý hay không. Sơ-tiếc-lít im lặng, cau có nhìn các ngón tay của mình. Anh chịu đựng một khoảng ngừng đúng mức rồi giả vờ ngơ ngác nhìn Sê-len-béc. Thế là anh được trao nhiệm vụ làm việc với Run-gơ. Thế là anh đã thủ tiêu khả năng hiện thực của bọn Đức,
- nếu quan điểm của Run-gơ thắng lợi, thì chúng đã có thể chế tạo bom nguyên tử ngay trong năm 1944. Sau nhiều ngày trao đổi với Run-gơ, anh tin rằng chính số phận đã ngăn không cho nước Đức có được thứ vũ khí mới: sau trận Xta-lin-gơ-rát, Hít-le từ chối cấp vốn cho những công trình nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực quốc phòng, nếu các nhà khoa học không hứa hẹn với hắn rằng sau ba tháng, hoặc tối đa là sáu tháng, họ sẽ phải đưa ra những kết quả thực sự thực tế. Sự thật là, sau khi các cuộc cãi lộn và đấu đá giữa các nhóm chuyến gia nghiên cứu hạt nhân khác nhau làm việc ở phòng thí nghiệm Cục binh khí kỹ thuật, ở Học viện Vin-hem, ở trường đại học Y khoa và ở Bộ Bưu điện đến tai Him-le, hắn tỏ ra rất quan tâm đến vấn đề vũ khí nguyên tử và có thành lập "Quỹ hợp nhất các công trình nghiên cứu khoa học quân sự". Nhưng Gơ-rinh, kẻ phụ trách công tác tìm khoa học của nước Đức quốc xã,,đã yêu cầu chuyển giao cơ quan mà Him-le thành lập sang tay Gơ-rinh. Thế là lại xảy ra những trò sĩ diện rẻ tiền. Các nhà vật lý học thiên tài của nước Đức bị loại khỏi tầm mắt của giới lãnh đạo hơn nữa, cũng chẳng có vị thủ lĩnh nào của nước Đức có trình độ vãn hoá đại học, trừ Sơ-pê-e và Sa-khơ... Sơ-tiếc-lít đã thông báo tất cả những điều đó về Mát-xcơ-va,
cộng vào đó, anh đã đóng góp phần mình trong việc - khoét sâu mâu thuẫn giữa hai phe ủng hộ và chống đối Run-gơ: tất cả những gì có hại cho kẻ thù đều tự nhiên có lợi cho ta...
Giờ đây, anh phải thắng nốt giai đoạn đấu trí mới: anh phải chứng minh được lẽ phải của anh trong vụ án đó. Anh đã chuẩn bị sẵn quan điểm cho mình. Lập trưởng của anh vững vàng lắm. Anh phải thắng Muyn-lơ, và nhất định anh sẽ thắng Muyn-lơ.
... Anh không vội lên phòng làm việc của mình. ở phòng chờ tiếp của Muyn-lơ, anh nói với Sôn-xơ, tên giúp việc của y:
- Này anh bạn, nhờ anh báo cáo với ngài sếp củạ anh rằng tôi xin lỗi ngài: tôi hứa về đây lúc chín giờ nhưng lại bị muộn mất mười hai phút... Ngài Muyn-lơ sẽ chỉ thị cho tôi thế nào? Ngài sẽ tiếp tôi ngay hay là tôi có thể về phòng ngả lưng độ nửa tiếng?
- Để tôi hỏi ngài, - Sôn-xơ trả lời và khuất vào sau cửa... Hai phút trôi qua. Hắn bước ra, nói: - Tuỳ ý ông thôi. Ngài sếp sẵn sàng tiếp ông ngay bây giờ, mà cũng có thể lùi câu chuyện lại đến tối.
"Một phương án phức tạp, - Sơ-tiếc-lít chợt hiểu. - Nó muốn biết mình sẽ đi tới đâu. Không nên kéo dài: dầu sao thì ván cờ cũng phải chấm dứt sau một, hai tiếng đồng hồ. Dù có phải gọi các chuyến viên từ Viện xét nghiệm của Su-man đến cũng vậy".
- Anh khuyên tôi thế nào, tôi sẽ làm theo đúng như thế, - Sơ-tiếc-lít nói. - Tôi sợ tối nay ngài sếp đi gặp cấp trên thì tôi lại phải chờ đến tận sáng mai. Đúng thế không, anh bạn?
- Đúng, - Sôn-xơ tán thành.
- Nghĩa là ngay bây giờ?
Sôn-xơ mở rộng cửa và nói:
- Xin mời đại tá...
Trong phòng làm việc của Muyn-lơ hơi tối: viên thượng tướng ngồi trên chiếc ghế bành cạnh một chiếc bàn nhỏ và đang nghe đài BBC. Đài đang truyền đi buổi phát thanh "Huân tước Hau-Hau" chống được Đức. Trên đùi y đặt một cặp giấy, y chăm chú xem xét giấy tờ thỉnh thoảng lại điều chỉnh làn sóng của chiếc máy thu thanh để nghe cho rõ. Dáng điệu Muyn-lơ uể oải, cổ áo va-rơi đen trễ ra, khói thuốc lá xám quẩn quanh dày đặc trong phòng hệt như mây trong hẻm núi.
- Chào anh, - Muyn-lơ nói. - Thú thật là tôi không ngờ anh đến sớm như thế này.
- Thế mà tôi chỉ sợ ngài mắng tôi về tội đến muộn.
- Tất cả các anh đều sợ bị lão già Muyn-lơ mắng mỏ... Tôi đã mắng ai lần nào chưa? Tôi là một lão già hiền lành bị người ta tung tin đồn nhảm... Ông sếp điển trai của anh độc ác hơn tôi hàng nghìn lần. Có điều là ông ta học được cách mỉm cười và cách nói tiếng Pháp ở các trường đại.học của ông ta. Còn tôi thì đến nay cũng vẫn chưa biết, khi ăn táo nên cắt thành nhiều miếng hay cứ để nguyên cả quả mà cắn như ở quê tôi.
Y đứng dậy, cài cổ áo va-rơi và nói:
- Đi.
Nhìn vẻ mặt ngơ ngác của Sơ-tiếc-lít, y cười khẩy:
- Tôi có một món quà bất ngờ.
Hai người bước ra khỏi phòng làm việc. Muyn-lơ bảo Sôn-xơ:
- Có lẽ chúng tôi sẽ quay lại...
- Nhưng tôi chưa gọi xe ạ...
- Chúng tôi có đi đâu xa mà phải gọi xe.
Muyn-lơ nặng nề theo cầu thang dựng đứng tụt xuồng tầng hầm. Dưới ấy có xây một số xà-lim để nhốt những người tù đặc biệt quan trọng. ở cửa tầng hầm có ba tên ss đứng gác. Người chúng cao to, mấy khẩu bơ-rao-ninh chúng đeo bên hông trông hơi thảm hại và thậm chí có vẻ tức cười. Mấy tên khổng lồ này cần gì loại súng bơ-rao-ninh nhỉ? Chỉ một quả đấm của chúng cũng thừa sức đánh gục một con ngựa.

Muyn-lơ rút từ túi sau khẩu van-te của y và chìa cho tên lính gác.
Sơ-tiếc-lít nhìn Muyn-lơ dò hỏi. Y khẽ gật đầu. Sơ-tiếc-lít chìa khẩu pa-ra-ben-lom của anh ra, tên lính gác đút luôn vào túi hắn. Muyn-lơ nhặt quả táo để trên chiếc bàn nhỏ của tốp lính gác và nói:
- Đi thăm mà không mang quà thì bất tiện lắm. Dù cả hai chúng ta có ủng hộ lốỉ tự do yêu đương vô trách nhiệm chăng nữa, thì khi đến thăm bạn tù cũ cũng nên mang quà.
Sơ-tiếc-lít cố bắt mình cười ha hả: anh hiểu vì sao Muyn-lơ lại nói như vậy. Có lần người của y cố tìm cách tuyển một một nhà ngoại giao Nam Mỹ. Chúng chìa cho ông kia mấy bức ảnh chụp nhà ngoại giao đang ăn nằm với một cô gái tóc vàng do bọn Muyn-lơ bố trí. Chúng nói với ông ta-: "Hoặc là chúng tôi sẽ gửi mấy bức ảnh này về cho vợ ông, hoặc là ông hãy giúp đỡ chúng tôi". Nhà ngoại giao xem ảnh một lúc lâu rồi hỏi: "Tôi có thể ngủ với cô ta một lần nữa được không? Vợ chồng tôi mê những tấm ảnh loại này lắm". Chuyện ấy xảy ra sau khi Him-le ra lệnh đặc biệt chú ý đến sinh hoạt gia đình của các nhà hoạt động tình báo của nước Đức. Hôm ấy, Muyn-lơ làu bàu: "Cần phải tuyên truyền cho một thứ tự do yêu đương vô trách nhiệm, khi đó, thì đừng có hòng bắt quả tang những hành động ngu ngốc của con người". Khi người ta kể lại trường họp xảy ra với nhà ngoại giao Pê-ru nói trên, Sơ-tiếc-lít chỉ huýt sáo:
- Theo tôi, cái tay Pê-ru ấy đã chơi trội hơn các ông: ông ta sợ vợ một phép, nhưng không thể hiện ra ngoài mặt và đã đóng một vai kịch rất đạt. Thế mà các ông lại đi tin ông ta. Anh có sợ vợ không? Dĩ nhiên! Còn tôi thì không - tôi chỉ sợ bản thân tôi thôi, bởi vì tôi chẳng có trách nhiệm gì với ai hết. Điều duy nhất không tốt là tôi chẳng có ai để mang quà vào nhà tù thăm tôi cả.
Đến xà-lim số bảy, Muyn-lơ dừng lại. Y nhìn rất lâu qua lỗ quan sát, rồi ra hiệu cho tên lính gác. Tên kia mở chiếc cửa rất nặng ra. Muyn-lơ bước vào xà-lim trước tiên. Sơ-tiếc-lít theo sau y. Tên lính gác đứng ngoài cứa. Xà-lim này không giam ai cả.
- Nào, nói đi! - Rôn-phơ tiếp tục hét. - Chỉ trên màn ảnh mới có những chuyện kỳ diệu và chỉ trên màn ảnh người ta mới đếm đến con số ba! Tôi sẽ không đếm đến ba. Tôi chỉ việc mở cửa sổ và lột tã lót của con cô ra là xong. Rõ chưa! Cô thực hiện nghĩa vụ của cô trước dân tộc cô, tôi cũng phải làm nghĩa vụ của tôi trước dân tộc tôi chứ!
Kết đột nhiên cảm thấy người chị nhẹ bỗng hẳn đi, cảnh vật xung quanh chao đảo và chị ngất đi.
Rôn-phơ ngồi xuống cạnh mép bàn và nói:
- Ghen-mút, bê lấy thằng nhóc!...
Người lính bê chú nhóc định bước ra, nhưng Rôn-phơ ngăn lại:
- Cứ ở đây đã. Nó sắp tỉnh lại bây giờ, tôi sẽ tiếp tục... Bác-ba-ra, xin cô mang nước lại đây. Cho tôi và cho nó. Và nếu có giọt thuốc trợ tim nào thì xin cô cho tôi một ít và cốc.
- Nên giỏ cho nó mấy giọt ạ?
- Không phải cho nó, mà là cho tôi.
- Vâng. Mấy giọt ạ?
- Làm sao tôi biết?! Mười... Ba mươi...
Hắn ngồi xuống bên Kết và vỗ vỗ vào má chị.
- Liệu nó ngất có lâu không? - Rôn-phơ hỏi Ghen-mút.
- Nếu mẹ ngài ngất thì độ bao nhiêu lâu sẽ tỉnh?
- Hừ, mẹ tôi à... Lũ sâu bọ muốn làm người trong sạch, nhưng người ta lại trao cái việc khốn nạn này cho tôi... Đưa diêm đây xem nào...
- Tôi không hút thuốc ạ.
- Bác-ba-ra! Rôn-phơ gọi. - Mang diêm lại đây! Xem này, nó tỉnh dậy rồi phải không? Mí mắt nó động đậy...
- Tôi chẳng hiểu gì về chuyện này cả.
- Bác-ba-ra! - Rôn-phơ gọi. - Cô làm gì ở đằng ấy thế?!
Bác-ba-ra bưng hai cốc nước vào. Rôn-phơ uống hết cốc nước xanh xanh, đùng đục. Hắn nhăn mặt nói:
- Hừ, tởm quá!
Hắn châm thuốc, ngồi xổm xuống bên Kết và lật mí mắt chị lên. Đồng tử mắt mở rộng nhìn hắn.
- Nó chết rồi ư? - hắn hỏi. - Bác-ba-ra thử nhìn xem này...
Bác-ba-rà xoay đầu Kết:
- Không. Nó còn thở.
- Cô làm thế nào cho nó tỉnh lại đi. Còn ít thời gian lắm... ở đằng kia, người ta đang đọi...
Bác-ba-ra bắt đầu vừa tát vừa day hai má Kết một cách thận trọng, vừa phải, để Kết khỏi đau.
Ả hớp một ngụm nước lạnh thật to rồi phun mạnh vào mặt Kết. Kết thở dài rất sâu, mắt chị giật giật mấy lần. Cháu bé vẫn khóc ngằn ngặt như lúc trước.
- Anh dỗ cho nó nín đi xem nào! - Rôn-phơ đề nghị. - Nghe điếc cả tai!
- Nó đòi ăn...
- Sao anh cứ lặp đi lặp lại câu đó như vẹt ấy thế nhỉ! Anh chớ tưởng rằng chỉ một mình anh mới có trái tim! - Bác-ba-ra kêu lên.
- Thì tôi đã xin phép đi sang phòng khác kia mà...
Chuông điện thoại reo. Rôn-phơ nhấc ông nghe lên và nói:
- Rôn-phơ đây. Ai đấy? Vâng, tôi nghe đây.
Cháu bé khóc thét lên, tiếng khóc của em xoáy vào tai. Khuôn mặt tí hơn xanh lại, mi mắt sưng tây, cặp môi trắng bệch.
- Ra ngoài kia! - Rôn-phơ khoát tay và Ghen-mút bước ra. Nhưng tiếng khóc của cháu bé từ phòng bên vẫn vẳng lại. - Vâng, - Rôn-phơ đáp: - vẫn chưa có gì... Ông tưởng việc đó đơn giản lắm sao? Thế ư? Chúng tôi có thể đổi chỗ cho nhau. Khi nào ông ấy bắt đầu hỏi cung hắn? Không khai hả? Ai chà, hai người họ nói chuyện với nhau như những người bạn cơ à... Vậy thì cứ để họ nói chuyện với cô ả này, tôi sẽ xem họ làm ăn ra sao...
Kết bừng tỉnh khi Ghen-mút bế cháu bé đi: ngay trong cơn ngất khủng khiếp chị vẫn cảm thấy thì đúng hơn là nghe thấy đứa con ở bên cạnh chị, trong căn phòng đáng sợ này. Thằng bé đang kêu khóc gần đâu đây, nhưng trong phòng vẫn âm, chứng tỏ hắn vẫn chưa mở cửa sổ. Hắn đang nói điện thoại về chuyện gì vậy? Chúng đang hỏi cung ai và ai không chịu khai? "Anh ấy" không khai, rồi. "Hai người" nói chuyện với nhau như những người bạn. Chẳng lẽ chúng bắt được anh Sơ-tiếc-lít thật rồi sao? Nếu bây giờ chị khai ra điều chúng chờ đợi, chúng sẽ tra tấn anh và như thế là anh sẽ bị chị bán rẻ cho kẻ thù. Không thể được. Nhưng chuyện khác cũng không thể được: không thể để cho đứa con phải nằm trên chiếc bàn cạnh cửa sổ - trần truồng, với hai cánh tay bé bỏng đỏ hỏn và đôi bàn chân cong cong chưa có móng trong khi cơn giá buốt xộc vào phòng, mà con chị thì không thể làm gì được để tự cứu nó, ngoài tiếng khóc thất thanh. Con chị sẽ khóc cho đến lúc hết hơi và bắt đầu ho...
"Chà! Mình chết đi còn hơn, - Kết buồn rầu nghĩ. - Đó lối thoát. Cho tất cả mọi người. Cho đứa con, cho Uy-xơ-tác và cho mình. Đó là lối thoát đẹp nhất, nhân đạo nhất đổì với mình... Trái tim của ta ơi, - chị đau lòng thầm nghĩ, - sao ngươi khoẻ đến thế? Ngươi hãy vỡ tung ra! Hoặc hãy dừng lại đi. Không thể như thế này mãi được...".
Rôn-phơ đặt ống nghe xuống và nói:
- Theo tôi, nó đã tỉnh lại rồi.
Bác-ba-ra lại ngồi xổm cạnh Kết và dùng hai ngón tay vành mắt chị ra. Kết nhìn Bác-ba-ra, mí mắt chị động đậy.
- Vâng, - Bác-ba-ra nói, - nó đã tỉnh lại.
- Cho nó uống nước đi.
Kết thử giả vờ là mình còn ngất, nhưng nét mặt chị đã phản chị, nó lại trở nên sinh động, không chịu tuân theo ý muốn của chị, bởi vì đứa con vẫn đang khóc ở phòng bên cạnh.
- Thôi, đủ lắm rồi, - Rôn-phơ nói. - Sự thật rành rành như thế mà cô còn định giở cái trò đàn bà vờ vịt ra nữa. Không nước non gì đâu. Cô đã dính mũi vào chuyện đàn ông, và các trò ảo thuật của cô sẽ vô tác dụng. Bác-ba-ra, cô hãy giúp cô ta ngồi dậy! Nào! Mở mắt ra!
Kết vẫn không động đậy và không mở mắt.
- Ước gì mình đừng tỉnh lại vội, - chị nghĩ thầm. - Sao đáng sợ thế này? "
- Thôi được, - Rôn-phơ nói. - Cứ để cô ta đó, Bác-ba-ra ạ. Tôi biết là cô ta nghe rõ lời tôi. Bây giờ tôi sẽ gọi Ghen-mút mang thằng bé vào và mở cửa sổ ra, bây giờ cô ta sẽ mở mắt thôi, nhưng lúc ấy thì đã muộn mất rồi.
Kết không chịu được nữa, chị khóc oà lên.
- Thế nào? - Rôn-phơ hỏi. - Cô nghĩ kỹ chưa?
Hắn tự tay đỡ chị dậy, đặt ngồi lên ghế.
- Cô có chịu nói hay không thì bảo?
- Tôi cần phải suy nghĩ kỹ đã...
- Chúng tôi không còn thì giờ cho cô suy nghĩ.
- Tôi không biết trả lời thế nào... Chẳng lẽ ông muốn tôi bịa chuyện hay sao?
- Tôi không muốn cô bịa chuyện. Tôi muốn cô khai sự thật.
- Tôi sẽ giúp đỡ cô, - Rôn-phơ nói. - Để cô khỏi cảm thấy mình là kẻ từ bỏ niềm tin cũ.
Hắn rút từ trong túi ra tấm ảnh của Sơ-tiếc- lít và chìa cho Kết xem mà không để Bác-ba-ra nhìn thấy.
- Thế nào? Rõ chưa? Cô im lặng thì được cái gì? Ta nói chuyện với nhau chứ?
Kết im lặng.
- Mày có nói không nào?! - đột nhiên Rôn-phơ thét lên gay gắt và hùng hổ. Hắn đấm mạnh tay xuông bàn, làm cho chiếc lọ cắm mấy bông hoa giả rung lên bần bật. - Hay là mày im lặng?! Ghen-mút!
Ghen-mút bế cháu bé bước vào, Kết nhoài người về phía con, nhưng Rôn-phơ giằng cháu bé khỏi tay Ghen-mút, mở cửa sổ và giật phăng chiếc khăn ủ cháu bé ra. Kết muốn lao vào người Rôn-phơ, nhưng cái xiềng dưới chân làm chị ngã gục. Chị lăn về phía hắn và gào lên khủng khiếp ; Rôn-phơ cũng thét to điều gì đó. Và đột nhiên hai tiếng súng vang lên.
- Lô-gích lắm, - Muyn-lơ nói sau khi nghe Sơ- tiếc-lít. - Lập trường của anh đối với nhà vật lý học Run-gơ rất vững vàng. Anh hãy coi tôi là đồng minh của anh.
- Cái đuôi mà ngài cho bám theo chiếc "Khô-rếch" màu đen của nhà ngoại giao Thụy Điển có liên quan đến vụ này phải không?
- Thế anh cảm thấy có cái đuôi đằng sau à? Anh cảm thấy rõ mối nguy hiểm à?
- Bất kỳ thằng ngốc nào ở địa vị tôi cũng cảm thấy được cái đuôi. Còn về mối nguy hiểm, thì mình ở nhà mình sao lại có mối nguy hiểm nhỉ? Nếu như tôi ở nước ngoài, thì...
- Anh có đau đầu không đấy?
- Vì công việc? Sơ-tíếc-lít mỉm cười.
- Vì áp huyết, - Muyn-lơ trả lời vầ đưa bàn tay trái lên xoa gáy.
"Hắn muốn xem đồng hồ. Hắn chờ đợi điều gì đây, - Sơ-tiếc-lít nhận xét. - Hắn sẽ không giở màn kịch này ra, nếu hắn không có con bài chủ chốt dự trữ nào đó. Ai vậy nhỉ? Vị giám mục ư? Pờ-lây-sơ-ne chăng? Hay lầ Kết?
- Tôi khuyên ngài thử tập thở theo phương pháp y-ô-ga xem.
- Tôi không tin phương pháp đó... Nhưng anh thử bày vẽ qua cho tôi xem nào. Người ta đã giới thiệu với tôi, nhưng tôi không tin.
- Ngài hãy để tay lên gáy. Không, chưa đúng, chỉ đặt riêng ngón tay thôi. Còn tay phải thì đặt dọc sương sọ. Đó, đúng rồi. Bây giờ thì ngài dùng cả hai tay xoa đầu. Nhưng phải nhắm mắt lại.
- Tôi nhắm mắt lại để anh choảng vào đầu tôi như trường hợp Khôn-tốp chứ gì?
- Nếu ngài bảo tôi phản bội tổ quốc thì tôi sẽ làm như vậy... Thưa thượng tướng, ngài xem đồng hồ thận trọng quá đấy: đồng hồ của ngài chậm mất bảy phút. Chúng ta ngồi ở đây đã hơn một tiếng. Tôi thích chơi bài một cách công khai - ít nhất cũng là với người của mình.
Muyn-lơ cười trừ:
- Tôi luôn luôn tiếc rằng anh không làm việc ở cơ quan của tôi. ở bên tôi thì tôi đã bổ nhiệm anh làm người phó của tôi từ lâu rồi.
- Tôi sẽ không đồng ý.
- Anh không đồng ý cái gì?
- Tôi không đồng ý làm chức phó của ngài.
- Vì sao?
- Ngài hay ghen tị lắm... Cứ y như một người vợ thuỷ chung và yêu chồng vậy. Đó là kiểu ghen tị đáng sợ nhất... Có thể gọi là sự ghen tị của một kẻ bạo chúa...
- Nhìn chung thì anh đã hiểu tôi rất đúng. Kể ra, cũng có thể gọi sự ghen tị ấy là sự quan tâm đối với bè bạn, - nhưng đây là vấn đề kỹ thuật chế tạo, chứ không phải vấn đề nguyên tắc.
Muyn-lơ lại xem đồng hồ: bây giờ y làm việc đó một cách công khai. "Trình độ nghề nghiệp của tay này cự phách thật, - Muyn-lơ nhận xét. - Anh ta hiểu tất cả mọi vấn đề không qua lời nói, mà qua cử chỉ và tâm trạng. Cừ thật! Nếu anh ta hoạt động chống lại chúng ta, mình sẽ không dám xác định mức độ nguy hại mà anh ta gây ra cho chế độ quốc xã. Một diễn viên như anh ta đáng giá hàng ngàn tên lính bất hạnh của chúng ta..."
- Thôi được, - Muyn-lơ nói. - Chúng ta sẽ chơi bài một cách công khai. Bây giờ xin anh bạn đợi tôi một phút...
Y đứng dậy và nhẹ nhàng mở cánh cửa thép. Tuy là cả một khối sắt nặng nề, song chỉ cần một ngón tay cũng mở được cửa một cách dễ dàng. Y đề nghị tên lính gác đang dùng que diêm cậy chất bẩn trong móng tay:
- Anh hãy gọi điện thoại cho Sôn-xơ hỏi xem có tin tức mới chưa?
Muyn-lơ tính rằng trong vòng hai, ba giờ đồng hồ Rôn-phơ sẽ bắt cô nhân viên điện đài Nga phải khai hết sự thật. Chúng sẽ đưa cô ta đến đây đối chất. Đúng sai sẽ rành rành. Y vẫn có chỗ rút lui: thẩm tra lại sự kiện là nghĩa vụ của người làm công tác phản gián. Kếhoạch hỏi cung Sơ-tiếc-lít cũng đã được y tính toán tương đối chính xác: khi Rôn-phơ khai thác được người phụ nữ Nga Muyn-lơ sẽ chìa con bài tẩy của y ra, quan sát thái độ của Sơ-tiếc-lít, sau đó y sẽ đưa anh giáp mặt với cô "nghệ sĩ dương cầm".
- Bây giờ tôi đang chờ một thông báo, - Muyn-lơ quay vào xà-lim và nói.
Sơ-tiếc-lít nhún vai:
- Vậy thì ngài dẫn tôi vào đây làm gì? Chúng ta ngồi nói chuyện ở phòng làm việc của ngài không được sao?
- Ở đây yên tĩnh hơn. Nếu tất cả mọi chuyện kết thúc như tôi muốn, chúng ta sẽ cùng đi lên trên kia, và tất cả mọi người sẽ nghĩ rằng tôi với anh cùng nghiên cứu một vụ án trong bộ máy của tôi.
- Và ông sếp của tôi sẽ biết việc này?
- Anh sợ sự ghen tị của ai - của ông ta hay của tôi?
- Thế ngài cho tôi là sợ sự ghen tị của ai?
- Thái độ tấn công trực diện của anh khiến tôi rất thích.
- Tôi không còn lối thoát nào khác. Hơn nữa, bao giờ tôi cũng thích sự rõ ràng.
- Sự rõ ràng là một trong những hình thức hoàn toàn mờ mịt... Tôi biết.anh là một người tinh ma.
Tên lính gác bước vào báo cáo:.
- Ông Sôn-xơ nói rằng ở đằng ấy không có ai trả lời.
Muyn-lơ ngạc nhiên cắn môi, sau đó y nghĩ: "Chắc là Rôn-phơ đi thẳng đến đây mà không báo trước. Đường dây của mình có thể đang bận, nên anh ta đi luôn để tiết kiệm thời gian. Khá lắm. Nghĩa là chỉ mười lăm phút nữa Rôn-phơ sẽ chở cô ta đến đây".
- Được rồi, - Muyn-lơ nhắc lại. - Kinh thánh có nói: đã đến lúc nhặt đá và đã đến lúc ném nó đi.
- Hồi đi học, ngài đã nắm không vững môn thần học, - Sơ-tiếc-lít nói. - Trong cuốn sách của nhà tiên tri Éch-lê-di-a-xơ có viết: đã đến lúc ném đá đi và đã đến lúc nhặt đá về, đã đến lúc ôm hôn và đã đến lúc buông nhau ra.
Muyn-lơ hỏi:
- Anh đã nghiên cứu kỹ Kinh thánh với giám mục Sơ-lắc của anh đến thế kia à?
- Tôi thường đọc đi đọc lại Kinh thánh. Muốn chiến thắng kẻ thù, phải biết hệ tư tưởng của nó, có phải thế không ạ? Đến lúc giao chiến mới học kinh thánh thì chỉ có thất bại thôi.
"Chẳng lẽ chúng đã bắt được giám mục ở bên kia biên giới hay sao? Có thể lắm. Mặc dù trên đường quay về nhà ga, mình không gặp một chiếc xe nào cả. Nhưng chúng có thể đi trước mình và mai phục sẵn. Căn cứ vào thời gian, thì bây giờ chúng sắp về tới Béc Lanh. Thế đấy. Nghĩa là bây giờ mình phải đòi gặp bằng được ông sếp của mình. Chỉ có tấn công. Nhất thiết không được phòng ngự. Nhưng nếu Muyn-lơ hỏi mình rằng điệp viên Cờ-lao-xơ hiện ở đâu? Bức thư của hắn phải nằm ở trên bàn, tại nhà mình. Bằng chứng vô tội rõ ràng quá còn gì nữa. Nhưng ai có thể ngờ rằng các sự kiện lại đưa chúng đúng đến chỗ vị giám mục? Phải chứng minh vụ Cờ-lao-xơ. Thời gian ủng hộ mình".
Muyn-lơ chậm rãi lôi từ trong túi ngực ra một chiếc phong bì màu xanh và nhìn chằm chằm vào mắt Sơ-tiếc-lít.
"Rốt cuộc, mình đã hoàn thành nhiệm vụ của mình, - Sơ-tiếc-lít tiếp tục lập luận. - Thằng ngốc, hắn cứ tưởng sự chậm chạp của hắn sẽ làm mình tê liệt và giãy giụa. Mặc kệ hắn. Nhờ sự chậm chạp của hắn mà mình có được hai mươi giây để suy nghĩ. Vị giám mục có thể cung khai, nhưng điều đó không đáng sợ lắm. Cái chính là Pờ-lây-sơ-ne đã báo tin cho người của ta biết về sự thất bại của Kết, về việc Các-lơ Vôn-phơ đã bắt đầu thương lượng. Hoặc đang thương lượng. Anh em ta sẽ phải tự đảm nhiệm tất cả mọi việc còn lại, nếu mình bị sa chân ở đây, - bây giờ anh em đằng mình đã nắm được phương hướng rồi. Muyn-lơ không biết mật mã của mình - ngoài mình ra, không ai biết cả. Chúng sẽ không moi được mật mã ở mình - cái này thì mình tin tưởng chắc chắn".
- Đây, - Muyn-lơ rút ba tấm ảnh điểm chỉ dấu tay từ trong túi ra và nói: - Cho anh xem món này hay lắm. Dấu tay này, - y chìa cho Sơ-tiếc-lít tấm ảnh thứ nhất, - chúng tôi phát hiện được trên thành cốc nước mà anh đưa cho chàng Khôn-tốp bất hạnh, cả tin và ngu ngóc uốhg. Dấu tay này, - y giơ tấm ảnh thứ hai, như người ta rút một quân bài khỏi bộ bài, - chúng tôi tìm được... anh thử đoán xem ở đâu... hả?
- Có thể tìm thấy dấu tay của tôi ở Hà Lan, - Sơ-tiếc-lít nói, - ở Ma-đơ-rít, Tô-ki-ô, Ang-ca-ra.
- Ở đâu nữa?
- Tôi có thể nhớ lại, nhưng việc đó sẽ tốn ít nhất mười lăm tiếng đồng hồ nữa, và chúng ta sẽ không được ăn cả bữa trưa lẫn bữa tối...
- Không sao. Tôi sẵn sàng nhịn đói. Các nhà y-ô-ga coi cái đói là một trong những phương thức hiệu nghiệm nhất và họ tiên đoán rằng rồi đây thế giới sẽ chữa bệnh lậu bằng cách bỏ đói một tuần lễ, chứ không dùng thuốc xuyn-phi-đin nữa... Anh nhớ lại rồi chứ?
- Câu chuyện của chúng ta thật là lông bông. Nếu tôi bị bắt, - và ngài chính thức báo tin ấy cho tôi, - tôi sẽ trả lời câu hỏi của ngài như một người bị bắt. Nếu tôi không bị bắt, tôi sẽ không trả lời ngài đâu.
- Sẽ không trả lời, - Muyn-lơ nhắc lại lời Sơ-tiếc-lít đúng theo ngữ điệu của anh. - Sẽ không trả lời.
Y liếc nhìn đồng hồ: nếu Rôn-phơ bước vào đây, y sẽ bắt đầu từ chiếc va-li điện đài, nhưng Rôn-phơ chậm trễ quá, nên y đành nói:
- Xin anh hãy nhắc lại, càng chính xác càng tốt, giá được từng phút thì hay nhất, tất cả những việc anh đã làm sau khi anh nói chuyện từ phòng thông tin liên lạc đặc biệt, nơi đã có lệnh tuyệt đối cấm tất cả mọi người.
"Hắn chưa chìa tấm ảnh thứ ba, - Sơ-tiếc-lít nhận.xét. - Nghĩa là hắn còn dự trữ một cái gì đây. Nghĩa là phải công kích ngay bây giờ, để hắn mất dần thái độ tự tin".
- Sau khi tôi ghé vào phòng thông tin liên lạc đặc biệt - cần phải đưa bọn sĩ quan liên lạc ra toà vì sự chểnh mảng và hèn nhát của chúng, chúng đã để chìa khoá ở cửa và chạy xuống hầm trú ẩn như một lủ thỏ, - tôi đã gặp ngài Boóc-man. Và đã nói chuyện hơn hai giờ với ngài đó. Còn đấy là chuyện gì thì dĩ nhiên tôi sẽ không trả lời ngài đâu.
- Anh có thể không trả lời nếu như không...
- Không có "nếu như không" gì hết...
- Đừng nói hỗn nữa, Sơ-tiếc-lít ạ, đừng nói hỗn nữa... Dầu sao thì tôi cũng trên anh cả về cấp bậc lẫn tuổi tác...
"Hắn mời mình vào vòng nhảy đây, - Sơ-tiếc-lít nhận xét rất nhanh. - Hắn trả lời như thế để cho mình hiểu rằng mình không bị bắt. Nếu vậy thì chúng vẫn chưa có bằng chứng, chúng vẫn chờ đợi. Chờ đợi bằng chứng cả của mình nữa. Nghĩa là mình còn khả năng chiến thắng".
- xìn ngài thượng tướng tha lỗi.
- Như thế có phải tốt hơn không. Vậy anh đã nói chuyện gì với Boóc-man? Với ngài Boóc-man...
- Tôi chỉ có thể trả lời câu hỏi của ngài khi có mặt ngài Boóc-man, xin ngài hiểu cho tôi.
- Giờ anh trả lời tôi khi vắng mặt ngài Boóc- man, có lẽ anh sẽ không phải trả lời câu hỏi thứ ba...
Muyn-lơ lại xem đồng hồ một lần nữa. Rôn-phơ phải xuống đây ngay bây giờ, Muyn-lơ bao giờ cũng cho rằng y có khả năng bắt nhạy thời gian một cách kỳ lạ.
- Tôi sẵn sàng trả lời câu hỏi thứ ba của ngài, nếu nó liên quan đến riêng tôi, chứ không tới quyền lợi của Đế chê và Quốc trưởng.
- Nó liên quan đến riêng anh. Cái dấu tay này người của tôi tìm thấy trên chiếc va-li của cô ả 486
nhân viên điện đài Nga... Đây là câu hỏi khó nhất đối với anh.
- Tại sao? Câu hỏi này lại rất dễ đối với tôi: chiếc va-li ấy tôi đã sờ xem ở phòng làm việc của Rôn-phơ. Ngài gọi ông ta đến đây, ông ta sẽ xác nhận cho tôi.
- Anh ta đã xác nhận rồi.
- Thế ngài còn hỏi gì nữa?
- Vấn đề là ở chỗ các dấu tay của anh còn tìm thấy ở đồn cảnh sát ghét-xta-pô trước khi anh sờ vào chiếc va-li.
- Có khả năng nhầm lẫn chăng?
- Không đời nào.
- Có thể là sự ngẫu nhiên?
- Có thể. Nhưng là một sự ngẫu nhiên đầy sức Thụyết phục. Tại sao trong số hai mươi triệu chiếc va-li nằm ở các gia đình Béc Lanh, người ta lại tìm thấy dấu tay của anh ở ngay trên chiếc va-li chứa điện đài của cô nghệ sĩ dương cầm người Nga? Anh giải thích thế nào đây?
- H... ừm, h... ừm... giải thích điều đó thật là khó và gần như không thể làm được. Và ở địa vị ngài, tôi cũng sẽ không tin vào lời giải thích của tôi... Tôi hiểu ngài thượng tướng... Tôi hiểu ngài...
- Tôi muốn nghe anh trả lời một cách có bằng chứng, Sơ-tiếc-lít ạ, nói thật là tôi rất có cảm tình với anh.
- Tôi tin lời ngài...
- Lát nữa, Rôn-phơ sẽ mang cô nghệ sĩ dương cầm người Nga đến đây, và cô ấy sẽ giúp đỡ chúng ta hiểu rõ - tôi tin như thế - rằng anh đã "sờ" đến chiếc va-li đựng điện đài ở đâu.
- Người Nga ư? - Sơ-tiếc-lít nhún vai. - Cô ả mà tôi đến tóm ở bệnh viện ấy à? Tôi có thể nhớ bằng mắt tuyệt đối chính xác. Nếu tôi đã gặp cô ta ở đâu, tôi sẽ nhớ được thôi. Không, cô ta không giúp gì chúng ta được...
- Cô ấy sẽ giúp đỡ chúng ta, - Muyn-lơ phản đối. - Và cái này nhất định sẽ giúp đỡ chúng ta... - y bắt đầu lục lợi túi ngực, - đây...
Rồi y chìa cho Sơ-tiếc-lít bức thư mật mã mà anh gửi Pờ-lây-sơ-ne mang sang Béc-nơ.
"Thế này thì thất bại rồi, - Sơ-tiếc-lít chợt hiểu. - Đổ vỡ mất rồi. Anh em đằng mình sẽ không biết tin, hoá ra mình ngốc nghếch quá. Pờ-lây-sơ-ne hoặc là một thằng hèn, hoặc là một tên ngốc nghếch, hoặc là một tên phá hoại ngầm".
'Béc Lanh, phố Hoàng tử An-bơ-rếch.
Gửi đi Pra-ha
Cờ-ruy-ghe thân mến!
Theo chỉ thị của ngài thượng tướng ss Can- ten-bơ-ru-ne, người của tôi đã điều tra về đại tá Béc-gơ. Rõ ràng ông đã lầm lẫn về việc ngài thượng tướng chỉ huy Cục an ninh đê chê có quen riêng vời Béc-gơ. Theo đề nghị của tướng Nôi-bút, chúng tôi đã nghiên.cứu hồ sơ Béc-gơ và đã không tìm thấy những chứng cớ trực tiếp cho phép buộc tội ông ta có dính dáng tới Ca-na-ri-xơ. Thế mà không có lý do gì để trao cho ông ta một nhiệm vụ quan trọng tới mức như ông đã giao cho ông ta. Nhưng vì ông ta đã tham gia chiến dịch, cho nên, theo tôi nghĩ, gạt ông ta ra lúc này là không hợp lý. Ngược lại, bằng cách giao cho ông ta những nhiệm vụ phức tạp nhất, nhưng chỉ có tính chất cục bộ và hoàn toàn không dính dáng đến các điểm nút, tôi đề nghị ông tổ chức theo dõi Béc^gơ một cách chặt chẽ nhất. Như ông đã biết, Ca-na-rỉ-xơ đang ngồi tù ở trại tập trung Phờ-lô-xăng- bua, và chúng ta cần biết những chi tiết nhỏ nhất về hoạt động phản bội của hắn ta. Bởi vậy nêu như Béc-gơ có thể lên tiếng với tư cách kẻ buộc tội hoặc thậm chí với tư cách người bào chữa, thì tôi tin rằng cấp trên sẽ hết sức biết ơn ông.
Phải nói thật với ông rằng, sau thất bại của chiến dịch Cờ-ra-cốp, và thành phô ấy rơi vào tay bọn tướng cướp bôn-sê-vích mà vẫn nguyên vẹn, thì tôi tin rằng việc giảm sát Béc-gơ sẽ đem lại cho ông một thành công lớn và sẽ hoàn toàn phục hồi danh dự cho ông... Tôi hiểu rõ rằng cương vị phó giảm đốc Sở ghét-xta-pô Pra-ha hoàn toàn không tương xứng với kỉnh nghiệm cũng như năng lực của ông.
Còn về phẩn ông Gờ-rỉ-san-trỉ-cốp, cộng tác viên của cơquan phản gián, người được đại tá SSSơ-tỉếc-lít đánh giá là chuyến gia hạng nhất trong lĩnh vực xoa bóp, thì cứ để người của tôi thẩm tra nhân vật đó. Xin ông hiểu chơ tôi: điều đó hoàn toàn không có nghĩa là tôi thiếu tin cậy ông.
Tình hình ở đây, ở Béc Lanh này, buộc tôi phải quyết định như vậy. Tôi hy vọng rằng ông sẽ hết sức giúp đỡ người cộng sự của tôi, người mang lá thư này tới chỗ ông. Ông biết anh ta rồi đấy - đó là Ài-xơ-man, một người tuyệt đối trung thành với Quốc trưởng, một chuyến gia phản gián thực thụ, một người trí thức đáng yêu. Tôi tin rằng ông với anh ta sẽ làm việc ăn ý với nhau.
Bắt tay ông
MUYN-LƠ"
Pờ-lây-sơ-ne đẩy cửa một lần nữa, nhưng nó vẫn khoá chặt. Chui ra qua chiếc cửa sổ nhỏ - chính chiếc cửa sổ đã khiến ông nhìn thấy một mảnh trời - thì không được.
"Hơn hữa, đây không phải như ở trên màn ảnh, - bỗng nhiên ông uể oải và hờ hững nghĩ, - một ông già đeo kính lại chui qua cửa sổ và mắc kẹt ở đó... Hai chân thì lủng lẳng ở phía trong, bọn chúng sẽ tóm lấy mình mà lôi trở lại..."
Ông chạy lên tầng trên, nhưng chiếc cửa sổ có thể để ông thoát ra bên ngoài - nó cao hơn mặt đất ba mét, - lại nhìn ra một ngõ phô vắng tanh và trên ngõ phô ấy đã có hai tên mật thám đội mủ đang thong thả dạo bước. Bây giờ chúng không giả bộ ngó nghiêng các tủ kính bầy hàng và không làm ra vẻ chưa quen biết nhau nữa. Ông lại chạy lên tầng trên: chiếc cửa sổ nhìn ra sân sau bị một tấm gỗ bịt kín - chắc là cửa kính bị vỡ hoặc có thể là ở đây người ta đang chuẩn bị sửa chữa, cứ nhìn cái cầu thang cũ kỹ có nhiều chỗ bị bong sơn cũng đủ đoán biết điều đó.
"Đáng sợ nhất là cái lúc nó lột quần áo và bắt mình há miệng ra cho chúng khám - lúc ấy thì mình chỉ còn là con sâu cái kiến mà thôi, ở La Mã ngày xưa, người ta giết người đơn giản lắm - đó là thời cổ đại hoàng kim! Còn bọn quốc xã thì chỉ muốn cắn xé trước khi móc người ta lên giá treo cổ... Tất nhiên, mình sẽ không chịu đựng nổi các trò tấn công của chúng. Dạo trước, ngay trong trận đòn đầu tiên, mình đã tuôn ra hết, đã nói tất cả những gì chúng muốn, đã viết tất cả những gì chúng yêu cầu. Dạo ấy mình trẻ hơn bây giờ. Bây giờ, nếu chúng nó tra tấn mình, mình sẽ không chịu đựng nổi và sẽ phản bội hương hồn em trai mình. Phản bội hương hồn người em trai có khác gì trở thành một cái xác chết thối tha. Thế thì tốt hơn hết là rời bỏ cõi đời để khỏi phải phản bội".
Ông dừng bước trước cửa một căn phòng có tấm bảng đề mấy chữ: "Tiến sĩ luật Phờ-răng Un-mơ".
"Bây giờ mình sẽ bấm chuông căn phòng này, - Pờ-lây-sơ-ne chợt nghĩ. - Và mình sẽ bảo ông ta rằng mình bị một cơn đau tim đột ngột. Hai bàn tay mình lạnh ngắt, mặt mình có lẽ cũng trắng bệch ra rồi. Cứ để ông tiến sĩ ấy gọi bác sĩ tới. Cứ để cho bọn chúng bắn mình trước mặt mọi người, mình sẽ kịp kêu lên vài tiếng gì đó".
Pờ-lây-sơ-ne ấn nút chuông. Ông nghe rõ tiếng chuông reo to bên trong.
"Nếu ông tiến sĩ hỏi mình sống ở đâu thì sẽ ra sao nhỉ? - Pờ-lây-sơ-ne nghĩ. - Thì mình sẽ rơi vào tay bọn cảnh sát Thụy Sĩ. Hít-le sắp tới ngày tận số rồi, lúc ấy mình sẽ có thể nói, mình là ai và ở đâu đến đây".
Ồng lại bấm chuông, một lần nữa, nhưng không có ai trả lời ông.
"Chắc cái tay Un-mơ lúc này đang ngồi chén kem và uống cà-phê. Ăn kem với quả dâu tây và bánh bích-quy thì tuyệt, - Pờ-lây-sơ-ne lại nghĩ thầm, tưởng như ý nghĩ đó từ một nơi rất xa đột nhiên dồn về. - Và ông ta đang đọc báo, và ống ta chẳng buồn chú ý đến mình".
Ông quay sang cửa phòng khác và bấm chuông, ở đây, tiếng chuông reo khác hẳn. Một giọng trẻ con hỏi:
- Ai đấy?
Không hiểu sao Pờ-lây-sơ-ne lại quỳ xuống và nói rất nhỏ:
- Mở cửa ra, cháu ơi...
- Ai đấy? - Giọng trẻ con hỏi lại.
- Mở cửa ra, cháu ơi, - Pờ-lây-sơ-ne nhắc lại to hơn một chút, nhưng ông cảm thấy tiếng ông vang lên như sấm và có lẽ tất cả các phòng ở trên tầng này đều nghe rõ.
- Nhưng ông là ai? Mẹ cháu bảo rằng chú Mích-ki Mau-xơ phải một năm nữa mối đến kia mà.
- Bác không phải là Mích-ki Mau-xơ, bác là anh ruột của chú ấy... Bác mang quà của chú ấy lại cho cháu đây...
- Bác mang quà gì thế?
- Mở cửa ra, cháu, - Pờ-lây-sơ-ne đứng dậy, áp sát trán vào cửa mà thì thầm. - Bác mang cho cháu chiếc mô-tô lên dây cót...
- Anh cháu mới chơi mô-tô lên dây cót, còn cháu thích chơi búp-bê cơ... Cháu là con gái mà...
- Búp-bê bác cũng có. Một con búp-bê to, biết nói, biết nhắm'mắt cơ nhé.
- Tóc nó trắng không hở bác?
- Trắng lắm!
- Cháu có con búp-bê tóc trắng rồi... Cháu thích con tóc đen cơ...
- Con tóc đen bác cũng có, - Pờ-lây-sơ-ne nói và giục: - Mở cửa mau lên, cháu!
Ông nghe rõ tiếng cửa đóng sập lại ở tầng dưới cùng: hai tên nọ đã bước vào nhà. Ồng nghe rõ tiếng bước chân của chúng, sau,đó đến giọng nói của cô bé:
- Mẹ cháu khoá cửa mất rồi. Nhưng mẹ cháu sắp về đấy...
Cô bé còn tiếp tục nói, nhưng Pờ-lây-sơ-ne không nghe rõ nữa, bởi vì ông đã chạy lên tầng trên. Ông định bấm chuông cửa phòng đôi diện với căn phòng bí mật. Nhưng cửa phòng bí mật đã mở ra và gã đàn ông cao lớn tóc vàng bước ra hành lang, nói:
- Đồng chí nhầm phòng rồi đấy. Trên tầng gác này chỉ có chúng tôi và những người ở những phòng mà đồng chí vừa bấm chuông là có nhà, còn chủ nhà các phòng khác đều đi vắng cả rồi. Bởi vậy, đây là nơi tuyệt đối an toàn cho đồng chí.
"Trên bàn viết ở nhà trọ vẫn còn tập bản thảo của mình. Mình dừng bút ở giữa trang, giữa lúc mạch văn đang hết sức dồi dào. Giá như mình không đến đây, có lẽ mình đã ngồi viết ở Béc Lanh, và sau đó, khi tất cả những chuyện xấu xa châm dứt, mình sẽ tập trung các bài đó thành một quyển sách. Bây giờ thì còn ai nhặt các tờ bản thảo của mình? Đến nét chữ của mình cũng chẳng ai hiểu nữa là...".
Ông mở toang cửa sổ và nhảy hai chân ra trước. Ông muốn kêu to lên cho mọi người nghe rõ và nhìn thấy ông, nhưng ông không thể kêu được nữa, vì trái tim ông đã bị vỡ tung, khi cơ thể ông vừa cảm thấy cái khoảng trống đột ngột ở phía dưới.
Chương 15
Muyn-lơ ngồi trên chiếc ghế, sát cửa ra vào để lúc nào cũng có thể quan sát công việc của các nhân viên kiểm nghiệm và của gã thợ chụp ảnh đang chụp lia lịa hai cái xác - Rôn-phơ và Bác-ba-ra - nằm trong thư thế quái dị trên nền nhà.
- Không thấy dấu vết gì hết, - một tên trong nhóm công vụ nói.
Muyn-lơ cùng với mấy tên thám tử tài giỏi nhất của y đến nơi Rôn-phơ bị giết chết. Y chọn mấy lão già đã từng cùng y tóm cổ bọn đầu trộm đuôi cướp, bắt giữ bọn đảng viên quốc xã của Hít-le, bắt giữ những đảng viên cộng sản của Ten-lơ-man trong những năm hai mươi. Y chỉ dùng đến mấy lão già ấy vào những trường hợp thật đặc biệt. Y không đưa chúng vào làm việc ở cơ quan ghét-xta-pô, để chúng khỏi tỏ ra ngạo mạn coi thường các viên dự thẩm ở đó, vì bọn này phải dựa vào sự giúp đỡ của các nhân viên kiểm nghiệm, các điệp viên và các máy nghe trộm. Muyn-lơ vốn khâm phục nhà văn Tra-pếch - các thám tử do nhà văn ấy miêu tả hoạt động trôi chảy chỉ nhờ vào kinh nghiệm và cái đầu sáng suốt của họ.
"Một vị cố đạo không bao giờ có thể tiến hành cải cách trong tôn giáo của mình, - có lần Muyn-lơ nói. - Các nhà cải cách bao giờ cũng đến từ bên ngoài. Bởi vậy, để cho các nhà cải cách tương lai không phế truất được tôi, tôi phải giữ mấy ông già lão luyện là vốn dự trữ. Các ông già ấy và hoạt động thực tế của họ giúp tôi thỉnh thoảng tổ chức lại công việc".
- Nói chung không có gì cả ư? Muyn-lơ hỏi lại. - Không có dấu vết gì hay sao?
- Không có gì hết, - lão già tóc bạc, mặt mầu đất, trả lời. Muyn-lơ quên tên lão ta, nhưng y vẫn chơi thân với lão ta từ năm 1926. - Vụ này tương tự vụ gỉết người mà anh đã phanh phui ra ở Muyn-khen.
- Ở phố E-gông?
- Đúng, số nhà chín, theo như tôi còn nhớ...
- Số nhà tám. Hung thủ đã giết mấy mạng người ở phía số nhà chẵn của đường phố
- Trí nhớ của anh thật có một không hai.
- Thế cậu không phàn nàn gì về trí nhớ của cậu chắc?
- Tôi đang uống i-ốt.
- Còn mình thì uống vốt-ca.
- Anh là cấp tướng, anh mới có thể uống vốt-ca. Chứ bọn tôi đào đâu ra tiền để mua vốt-ca?
- Ăn hối lộ đi có được không, - Muyn-lơ cười khẩy.
- Để rồi rơi vào tay bọn đao phủ của anh chứ gì? Thôi, thà tôi uống i-ốt còn hon.
- Thì cứ việc uống i-ốt, - Muyn-lơ tán thành. - Cứ việc tự nhiên. Thật thà mà nói, mình rất vui lòng đổi rượu vốt-ca của mình lấy món i-ốt của cậu.
- Công việc bận lắm à?
Muyn-lơ đáp:
- Hiện thời thì rất bận. Chẳng bao lâu nữa sẽ chẳng còn việc gì mà làm đâu. Này, thế chúng ta làm gì bây giờ? Chẳng lẽ không có dấu vết gì hay sao?
- Để cho bọn nhân viên xét nghiệm của anh nghiên cứu trong phòng thí nghiệm mấy viên đạn đã bắn chết hai nhân vật này xem sao.
Nhất định là họ sẽ xem xét thôi, - Muyn-lơ đồng ý. - Về chuyện nghiên cứu thì cậu khỏi phải lo...
Lão già thứ hai bước vào và kéo chiếc ghê lại ngồi cạnh Muyn-lơ.
"Một con quỷ già, - Muyn-lơ nhìn lão già mới vào, nghĩ bụng. - Thế mà lại còn nhuộm tóc. Đúng là hắn nhuộm tóc rồi".
- Thế nào, Hun-te? Anh có chuyện gì không? Muyn-lơ hỏi.
- Có chứ.
- Này, anh nhuộm tóc bằng thuốc gì thế?
- Thuốc khơ-na. Tóc tôi chẳng ra đen cũng chẳng ra bạc. Mụ In-de nhà tôi lại về bên kia thế giới rồi. Bọn gái trẻ bây giờ chỉ thích những thằng lính trẻ, chứ đâu có mê loại mật thám già như tôi nữa.
- Lính tráng ra trận hết còn đâu.
- Thì còn bọn thương, phê binh, ở hậu phương bọn này tinh nghịch lắm...
- Nhưng chúng nó què cụt cả...
- Cái món ấy thì cần gì đầy đủ chân tay, - Hun-te cười phá lên. - Anh nghe đây, mụ già ở ngôi nhà đối diện cách đây một tiếng đồng hồ có nhìn thấy một cô ả bế con và một tên lính vội vã đi từ trong nhà này ra.
- Tên lính ăn mặc như thế nào?
- Còn như thế nào nữa? Nó bận đồ lính...
- Tôi hiểu rằng nó không mặc quần áo lót. Nó bận bộ đồ đen phải không?
- Tất nhiên là nó bận bộ đồ đen, anh có trang bị áo quần màu xanh lá cây cho bọn lính bảo vệ đâu...
- Hai đứa đi xe gì?
- Chúng nó lên xe buýt?!
Muyn-lơ đột nhiên nhỏm dậy:
- Sao lại lên xe buýt?!
- Thế đấy. Chúng nó lên chiếc xe buýt số mười bảy.
- Xe chạy về hướng nào?
- Về phía này, - Hun-te chỉ tay về phía tây.
Muyn-lơ vội vã bước lại bàn, cầm ống nghe lên, quay số và nói:
- Sôn-xơ! Nhanh lên! Một, cử ngay mấy tên lính đuổi theo chiếc xe buýt số mười bảy! Á nghệ sĩ dương cầm và tên lính bảo vệ. Sao! Làm sao tôi biết thằng ấy tên là gì! Anh hãy hỏi xem tên nó là gì! Hai, tra cứu ngay hồ sơ của nó, xem nó là ai; ở đâu điều về, họ hàng nó sống ở chỗ nào. Đưa toàn bộ danh sách lại đây cho tôi, ngay lập tức! Nếu thấy nó từng có mặt ở những nơi Sơ-tiếc-lít đã đến, anh hãy báo- ngay cho tôi biết! Sao? ở đâu không quan trọng - ở ngoài mặt trận, ở trong nhà thổ hay ở ngoài bờ biển cũng vậy!
Muyn-lơ lại quay về ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh cửa ra vào. Bọn nhân viên xét nghiệm và gã thợ ảnh đã ra về. Còn lại mình y với hai lão già, và hai tên lính kia tranh nhau ôn lại chuyện cũ. Muyn-lơ ngồi nghe chúng nói, đôi khi nước mắt y ứa ra: hai lão già nhớ lại hồi chúng còn trẻ, khi tất cả mọi chuyện đều đơn giản và rõ ràng, khi người ta không cần phải theo dõi bạn bè, khi đi nằm không cần uống thuốc ngủ và yêu nhau không cần thuốc kích thích.
- A-lô, - Muyn-lơ quay số điện thoại, nói, - phái ngay một tốp lính đến vây nhà Sơ-tiếc-lít!... Bao nhiêu lâu hả? Cần bao nhiêu lâu, thì vây bấy nhiêu... Cứ bảo tên đầy tớ của hắn là nửa tiếng nữa Sơ-tiếc-lít sẽ về nhà. Ai à? Cứ bảo là lái xe của Sơ-tiếc-lít...
"Mình thua cuộc mất rồi, - Muyn-lơ lập luận trong lúc ngồi nghe hai tên bạn cũ của y nói chuyện, - nhưng mình còn có Béc-nơ làm vốn dự trữ. Tất nhiên, ở đấy tình hình phức tạp hơn, bọn cảnh sát và lính biên phòng không phải là người của mình. Nhưng con bài tẩy cốt yếu nhất đã bị tuột khỏi tay rồi. Chúng nó lên ôtô buýt. Đó là dấu hiệu chứng tỏ rằng đấy không phải là một chiến dịch được bố trí từ trước. Nếu là một chiến dịch, chúng phải có xe chờ sẵn. Không, nghĩ đến chuyện coi đó là một chiến dịch thì vô lý quá. Bọn Nga dĩ nhiên muốn cứu người của chúng, nhưng vị tất chúng đã phái mấy người lao vào chỗ chết với hy vọng, đúng là hy vọng, giải thoát một ả nhân viên điện đài. Dù chúng hiểu rằng đứa bé là gót chân A-shil của ả. Có lẽ vì thế mà chúng liều lĩnh đi nước cờ ấy chăng? Mình nói cái gì thế nhỉ? Chẳng có sự liều lĩnh nào hết - con bé leo lên xe buýt... Đó là sự ngu ngốc, chứ không phải là sự liều lĩnh...".
Y lại cầm lấy ông nói:
- Muyn-lơ đây. Hãy báo cho ảnh sát, ở tất cả các tuyến giao thông đường nổi cũng như đường ngầm, để ý đến một người phụ nữ bế con. Phát ảnh mụ ta cho cảnh sát và nói với họ rằng mụ ta là một tên lưu manh và sát nhân, để họ bắt giữ mụ ta lại. Nếu họ có nhầm lẫn mà bắt quá nhiều người, thì tôi sẽ tha lỗi cho họ. Chỉ cốt sao đừng để mụ ta tẩu thoát...
Sơ-tiếc-lít lại nhìn đồng hồ: Muyn-lơ rời khỏi xà-lim đã hơn hai tiếng rồi.
"Cô bé không khai, - Sơ-tiếc-lít hiểu. - Hay là chúng đưa Kết đi đối chất với Pờ-lây-sơ-ne? Điều đó không đáng sợ, vì họ có biết gì về nhau đâu. Nhưng hẳn là hắn gặp chuyện gì bất trắc rồi. Có chuyện gì đó đã xảy ra, mình còn có thời gian trống ở giữa và mình phải lợi dụng thời gian trống đó".
Anh thong thả đi đi lại lại trong xà-lim, cân nhắc mọi cách giải quyết có thể áp dụng. Anh đã điểm lại trong óc tất cả những gì liên quan tới chiếc va-li kia. Phải rồi, đúng là anh đã đỡ lấy chiếc va-li ở trong rừng, khi Ê-rơ-vin bị trượt chân suýt ngã. Chuyện đó xảy ra trong đêm trước khi gia đình Kết bị trúng bom. Chỉ một lần thôi.
"Hượm đã! - Sơ-tiếc-lít tự ngăn mình lại. - Đúng là trước trận ném bom... Sáng hôm sau mình đã đi xe đến phố ấy... ở đấy xe cộ ùn lại rất nhiều... Đường bị nghẽn vì các đội cứu hoả đang làm việc. Tại sao mình lại có mặt ở đó. Mình có mặt ở đó là vì con đường mình đi về phía đại lộ Cu-đam bị tắc. Mình sẽ đòi Muyn-lơ phải gọi tốp cảnh sát gác đường sáng hôm ấy đến đây xác nhận. Nghĩa là sở dĩ mình có mặt tại dãy phố Kết ở là vì cảnh sát bắt mình đi vòng. Trong hồ sơ có bức ảnh chụp mấy chiếc va-li còn nguyên vẹn sau trận bom. Mĩm đã nói chuyện với tên cảnh sát, mình còn nhớ mặt hắn, còn hắn thì hắn phải nhớ tấm thẻ của mình. Mình đã giúp người ta chuyển va-li - tên kia có phủ nhận việc đó cũng không sao. Hắn sẽ không phủ nhận việc đó, mình sẽ đòi Muyn-lơ đưa tên cảnh sát đến đối chất. Mình sẽ nói rằng mình đã đẩy một người phụ nữ đang khóc đẩy chiếc giường trẻ con: chị ta sẽ xác nhận, bởi vì đó là việc làm có thật, khó mà quên được".
Sơ-tiếc-lít đấm hai nắm tay vào cửa thình thình, và cửa mở ra ngay: nó không bị,khoá, nhưng có hai tên hộ pháp đứng gác bên ngoài. Tên thứ ba lúc ấy điệu qua cửa xà-lim của Sơ-tiếc-lít cũng đủ nhận ra trong mới da thịt lùng nhùng ấy khuôn mặt tên lái xe riêng của Boóc-man, kẻ đã không chịu làm việc cho cơ quan ghét-xta-pô, kẻ đã lái xe cho Boóc-man hôm anh nói chuyện với hắn.
Sơ-tiếc-lít cảm thấy toàn bộ cơ thể anh căng lên. Đừng bỏ lỡ thời cơ.
- Này, anh bạn ơi, anh hãy gọi điện ngay cho thượng tướng Muyn-lơ. Bảo ông ấy rằng tôi đã nhớ ra! Tôi đã nhớ ra tất cả! Anh hãy mời ông ấy xuống gặp tôi ngay lập tức!

"Pờ-lây-sơ-ne vẫn chưa bị giải về. Một, việc khai thác Kết không ăn thua gì. Hai, mình chỉ còn khả năng thoát khỏi nơi này - đó là thời gian. Thời gian và Boóc-man. Nếu mình chậm trễ, Muyn-lơ sẽ thắng".
- Được rồi, - tên lính gác nói, - thưa đại tá, tôi sẽ gọi điện lên chỗ ngài thượng tướng ngay.
Bên cổng trại trẻ mồ côi nuôi dưỡng những em bé còn đang bú, có một người lính cao lớn đang đứng. Người ấy đứng trước một chiếc cửa sổ sơn trắng, miệng day day điếu thuốc lá chưa châm lửa. Rõ ràng người ấy đang nóng ruột, bởi vì chốc chốc lại thấy anh ta xem đồng hồ. Khi chiếc cửa sổ mở ra, anh ta rụt rè ngó vào bên trong và nói:
- Xin lỗi, tôi muốn đề nghị chị một điều...
- Bây giờ chúng tôi không thể chấp nhận được đề nghị của ông, - người phụ nữ có tấm băng buộc tóc màu trắng trả lời anh ta. - Bây giờ đang là lúc cho trẻ ãn, tất cả mọi người đều bận...
- Vâng, nhưng tôi từ mặt trận về đây chỉ được nửa ngày. Tôi phải đi ngay lập tức.
- Thưa ông, nhưng rât tiếc là bây giờ tất cả các cháu...
- Chị có thể cho tôi gặp một vị nào đó trong ban phụ trách trại được không ạ?
- Trại chúng tôi chẳng còn vị phụ trách nào rỗi cả, người thì ra trận, người thì đang săn sóc các cháu. Một lần nữa xin tha lỗi cho tôi, - và người phụ nữ sập cánh cửa xuống ngay trước mũi anh lính.
- Thế bao giờ thì các cháu ăn xong, hở chị?
Người phụ nữ không mở cửa, trả lời:
- Nửa tiếng nữa. Mòi ông nửa tiếng nữa quay lại đây, chúng tôi mới có thể giúp ông được...
Người lính bước ra, sang bên kia đường và đi xuống tầng hầm của một ngôi nhà đổ. ở đó, Kết đang ngồi cho con bú trên một chiếc hòm bẹp gí.
- Thế nào, anh? - chị hỏi.
- Dở quá, - Ghen-mút đáp. Phải đợi nửa tiếng đồng hồ nữa.
- Chúng ta sẽ đợi, - Kết an ủi anh ta. - Chúng ta sẽ đợi... Bởi vì bây giờ chẳng sợ gì cả. Làm sao chúng nó biết tôi với anh đang ở đâu?
- Nói chung thì như thế, nhưng phải nhanh nhanh rời khỏi thành phố, kẻo chúng nó tìm ra chúng ta mất. Tôi biết chúng nó lùng người giỏi như thế nào. Hay là chị cứ đi trước? Còn tôi, nếu thuận lợi, tôi sẽ đuổi kịp chị sau, có được không? Chúng ta hãy thoả thuận với nhau: chị sẽ đợi tôi ở đâu nào?
- Không, - Kết lắc đầu, - không nên thế. Tôi sẽ đợi anh... Tôi biết đi đâu giữa thành phố này được, hở anh...
༺༒༻
Sôn-xơ gọi điện tới phòng thông tin vô tuyến
- nơi Muyn-lơ đang có mặt để báo tin:
- Sơ-tiếc-lít yêu cầu nói với ngài rằng anh ta đã nhớ ra tất cả.
- Thế hả? - Muyn-lơ sôi nổi hẳn lên và đưa tay ra hiệu cho hai lão già đừng cười to. - Bao giờ?
- Vừa xong ạ.
- Tốt lắm. Bảo anh ta là tôi sẽ về ngay. Không có tin gì mới à?
- Không có gì tin đáng kể ạ.
- Chưa biết thêm gì về tên lính bảo vệ hay sao?
- Chưa, toàn những điều vụn vặt thôi ạ...
- Cụ thể là gì? - Muyn-lơ hỏi như một cái máy, hỏi để mà hỏi, và vừa hỏi vừa với tay lấy áo bành-tô trên chiếc ghế bên cạnh.
- Thưa ngài, mới biết về vợ con và họ hàng của nó thôi ạ.
- Sao lại bảo là vụn vặt, - Muyn-lơ giận dữ.
- Điều đó chẳng vụn vặt chút nào. Hoàn toàn không vụn vặt trong vụ này đâu, anh bạn Sôn-xơ ạ. Bây giờ tôi sẽ về và cùng anh phân tích điều vụn vặt đó... Đã phái người tới chỗ vợ nó chưa?
- Vợ nó đã bỏ nó cách đây hai tháng.
- Sao, cái gì?
- Nó nằm quân y viện vì bị chấn thương, thế là vợ nó bỏ nó để đi theo một gã lái buôn tới Muyn-khen.
- Còn con nó?
- Xin ngài đợi cho một phút, - Sôn-xơ trả lời, tay giở hồ sơ, - bây giờ tôi sẽ xem con nó ở đâu... A, đây rồi... Tôi tìm thấy rồi...
- Anh nói ít thôi, Sơn-xơ ạ. Nói ít đi và hãy làm nhiều hơn.
- Nó có một đứa con bốn tháng. Vợ nó đã gửi con vào trại trẻ mồ côi.
"Cô ả người Nga cũng đang cho con bú, - Muyn-lơ sực nhớ. - Tên lính cần có một người vú em! Thằng cha Rôn-phơ chắc đã quá tay với đứa con của cô ả!".
- Tên trại trẻ ấy là gì?
- Không có tên. Chỉ biết ở khu Pan-cốt, phô Sin-le, số bẩy. Bây giờ đến mẹ của tên lính ấy...
Muyn-lơ không để ý nghe các tư liệu về người mẹ của Ghen-mút nữa. Y quang ống nói xuống bàn, sự chậm chạp của y biến mất, y mặc áo bành-tô và nói:
- Các cậu ạ, bây giờ có thể sẽ phải bắn nhau ra trò đấy, bởi vậy các cậu hãy chuẩn bị súng đạn cho cẩn thận. Có cậu nào biết trại trẻ mồ côi ở khu Pan-cốt không?
- Phố Sin-le, số nhà tám thì phải. - Tên tóc bạc nói.
- Cậu lại lẫn lộn rồi, - Muyn-lơ vừa nói vừa bước ra khỏi phòng. - Bao giờ cậu cũng lẫn số lẻ với số chẵn. Nhà số bẩy.
- Một phố bình thường thôi, - lão già tóc bạc nói, - ở phố ấy không có gì đặc biệt. Chơi nhau ở đấy tha hồ mà đẹp: phố ấy yên tĩnh lắm, sẽ chẳng ai làm phiền chúng ta. Còn chuyện tôi nhầm lẫn chữ số thì đúng đấy. Từ bé đã thế. Tôi chả bị ốm vào hôm ở lớp học bài số lẻ số chẵn mà.
Và lão ta phá lên cười, Muyn-lơ và tên kia cũng cười theo. Và cả ba tên lúc này trông như một bọn thợ săn đã vây kín được một con hươu.
Không, Ghen-mút Côn-đe không có mối liên hệ gì với Sơ-tiếc-lít. Đường đi của họ không gặp nhau ở nơi nào cả. Ghen-mút ra trận từ năm 1940. Anh ta tin rằng anh ta đi chiến đâu cho Tổ quốc, cho đời sống của mẹ, của ba đứa em trai và một đứa em gái của mình. Anh ta tin rằng anh ta đi chiến đấu cho tương lai của đất nước, chống bọn Xla-vơ hèn mọn dám cướp đoạt những vùng đất mênh mông, trong khi chúng không hề biết cách làm ăn ; chống bọn Anh và bọn Pháp đã bị bán rẻ cho bọn thống trị ở bên kia đại dương ; chống bọn Do Thái áp bức dân lành và đầu cơ trục lợi trên nỗi đau khổ của người khác. Anh ta tưởng rằng thiên tài của Quốc trưởng, người đã nhận mang gánh nặng ghê gớm là đem lại hạnh phúc cho dân tộc Đức, sẽ chói chang muốn thuở.
Cứ thế cho đến mùa thu năm 1941, khi quân Đức ca vang hành khúc diễu binh trên thế giới và không khí chiến thắng làm cho anh ta và các bạn anh ta trong đơn vị xe tăng ss say sưa, mê mẩn, đôi khi giống những kẻ dạo chơi mà đầu óc chẳng mảy may vẩn nghĩ. Nhưng sau một trận đánh ở vùng ngoại vi Mát-xcơ-va, khi bắt đầu phải đối phó với du kích và có lệnh giết tất cả các con tin, Ghen-mút hơi lúng túng. Anh ta vốn là một nông dân, và anh ta tôn thờ người mẹ cao hơn mọi thứ đáng tôn thờ khác. Người mẹ đã nuôi dạy Ghen-mút cùng mấy đứa em của anh ta. Sau ngày bố anh ta chết, bà mẹ làm quần quật từ sáng đến đêm và không cho phép anh ta bỏ học, ngày nào bệnh tật chưa quật ngã được bà.
Lần đầu tiên khi trung đội của Ghen-mút được lệnh bắn chết bốn mươi người bị bắt làm con tin ở gần Xô-mơ-len-xcơ - nơi một đoàn tàu của quân Đức bị lật đổ - thì Ghen-mút bắt đầu uống rượu:
trước mắt anh ta là các cụ già và những người phụ nữ bế con. Những người phụ nữ ấy ôm chặt con vào lòng, bịt mắt con lại và yêu cầu bọn lính hãy giết chết họ thật nhanh...
Sau đó, anh ta nhận thấy rằng các bà mẹ ở nước Nga cũng giống các bà mẹ Đức, thường nhường cho con khẩu phần khoai tây cuối cùng của mình và khi họ nhìn con cái họ ăn uống, mặt họ đẫm nước mắt.
Sau lần xử bắn thứ nhất, Ghen-mút không tài nào tĩnh trí lại được. Không phải một mình anh ta uống rượu: nhiều người bạn của anh ta lặng lẽ tu rượu cả chai, và không một ai kể chuyện tiếu lâm, cũng không một ai chơi ắc-coóc-đê-ông nữa. Rồi cả bọn lại lao vào đánh nhau với những người lính Nga để cơn giận dữ làm cho chúng quên đi cơn ác mộng nọ.
Khi Ghen-mút về phép, hai mẹ con cô gái láng giềng sang chơi hỏi thăm anh ta. Tên cô gái là Lu-i-da. Trông cô xinh xắn, ngoan ngoãn và trắng trẻo. Đêm nào Ghen-mút cũng nằm mơ thấy Lu-i-da. Anh ta mời cô gái đi xem phim, xem xong họ đi chơi với nhau cho đến sáng, Ghen-mút nhiều hơn Lu-i-da tới mười tuổi, bởi vậy, anh ta rất âu yếm cô gái. Anh ta nghĩ đến lúc cô trở thành một người vợ và người mẹ đảm đang. Ghen-mút luôn luôn mơ ước trong nhà anh ta có thật nhiều giày dép của trẻ con ở bên cạnh mắc áo: anh ta rất yêu trẻ, một khi anh ta chiến đấu cho hạnh phúc và tương lai của chúng kia chứ?
Đến lần nghỉ phép năm sau, Lu-i-da trở thành vợ anh ta. Khi anh ta ra trận. Lu-i-da buồn nhớ anh ta tới hai tháng. Và khi hiểu rằng mình đã có mang, Lu-i-da cảm thấy buồn bã và sợ hãi. Cô ta bỏ ra thành phố và ngay trong đêm đầu tiên vì không thuê được phòng ở khách sạn, còn nhà người quen của Ghen-mút thì đã bị ném bom phá sập, - cô ta đi ngủ với một tên sĩ quan không quân.
Sau khi đẻ, Lu-i-da mang con đến trại trẻ mồ côi. Thời gian ấy Ghen-mút đang nằm viện vì bị chấn thương nặng. Khi được ra viện và trở về nhà, anh ta được mọi người cho biết là Lu-i-da đã đi theo kẻ khác. Ghen-mút nhớ đến những người phụ nữ Nga: có lần bạn anh ta đã đổi năm hộp thịt để được ngủ với một cô giáo Nga ba mươi tuổi
- người phụ nữ ấy có một đứa con gái nhỏ, nhưng chẳng còn gì để cho con ăn nữa. Sáng hôm sau, chị ta thắt cổ tự tử, để lại cho mấy người láng giềng đứa con gái, một gói quần áo trong đó có bọc tấm ảnh cha em và năm hộp thịt nọ. Thế mà Lu-i-da, một đội viên Hội thanh niên Hít-le, một người Đức chính cống, chứ không phải một người phụ nữ Xla-vơ mọi rợ, lại ném con vào trại trẻ mồ côi như một ả gái điếm mạt hạng.
Mỗi tuần Ghen-mút tới trại thăm con một lần, và đôi khi người ta cho phép anh ta bế con đi chơi. Anh ta đùa với con, hát cho con nghe, và lòng yêu con của anh ta có một vẻ gì điên dại và đáng thương. Anh ta đã nhìn thấy cô nhân viên điện đại Nga nựng con như thế nào và lúc ấy anh ta tự hỏi: "Tất cả chúng ta đã làm những trò gì? Sao tất cả chúng ta lại tàn ác đến như vậy! Họ cũng là người như chúng ta, cũng yêu thương con cái và sẵn sàng chết vì con như chúng ta kia mà!".
Bởi vậy, khi Ghen-mút nhìn thấy cảnh Rôn-phơ hành hạ cháu bé, quyết định đã đến với anh ta xuất phát từ tình cảm, chứ không phải từ lý trí. Anh ta thấy Rôn-phơ và Bác-ba-ra, kẻ đứng nhìn cảnh cháu bé hai tuần tuổi sắp bị giết chết một cách thản nhiên, giống hệt ả Lu-i-da, kẻ mà anh coi là tượng trưng cho sự phản bội.
Nửa giờ sau, Ghen-mút quay lại chỗ trại trẻ theo lời hứa của người phụ nữ nọ. Anh ta đứng bên chiếc cửa sổ gỗ sơn trắng và mất dần cái cảm giác căng thẳng đáng sợ, xa lạ, cảm giác căng thẳng đó đã trở thành bản tính thứ hai của anh ta, khi anh ta nhìn thấy tấm thân đỏ hỏn của đứa bé Nga trong tay Rôn-phơ. Anh ta cảm thấy có một cái gì đổ vỡ trong lòng, người anh ta cứ mỗi lúc một run thêm vì rét và toàn bộ nửa người bên trái - vốn bị chấn thương - lạnh hẳn đi và lúc đó anh không cảm thấy cái lạnh bên ngoài nữa.
- Chào chị, - Ghen-mút chào người phụ nữ nhìn ra ngoài cửa sổ. - Cháu Uốc-xu-la Côn-đe... con gái tôi... Người ta đã cho phép...
- Tôi biết rồi. Nhưng bây giờ đến lúc cháu phải đi ngủ...
- Tôi phải ra mặt trận ngay. Tôi sẽ bế cháu đi chơi một lát, và cháu sẽ ngủ trên tay tôi... Đến giờ thay tã, tôi sẽ trả cháu lại cho các chị...
- Thưa ông, tôi sợ bác sĩ không cho phép...
- Tôi phải ra trận ngay, - Ghen-mút nhắc lại, - chị không thể cấm tôi được nhìn thấy cháu.
- Vâng... Tôi hiểu... Tôi sẽ cô gắng. Xin ông đợi cho một phút.
Ghen-mút phải đợi không phải một, mà là mười phút, và cả người anh ta run lên bần bật, ràng đánh cầm cập.
Cửa sổ mở, và người ta chìạ ra cho anh một cái bọc trắng. Khuôn mặt đứa con gái được che bằng một miếng vải trắng tinh.
- Ồng muốn đi ra phố phải không?
- Chị bảo sao? - Ghen-mút không hiểu.
Lời nói bây giờ vọng đến tai anh ta như từ một nơi rất xa, qua một chiếc cửa khép chặt. Anh ta thường cảm thấy như thế từ sau khi bị chấn thương, mỗi lần xúc động mạnh. Anh ta từng bị ngất ở ngoài phố mấy bận, khi nhìn thấy những bệnh viện và trại trẻ bị bom phá sập.
- Nếu ông muốn cho cháu ra chơi ngoài phố, chúng tôi sẽ đưa xe nôi cho ông.
- Để làm gì?
- Để khỏi phải bế cháu.
- Không, cám ơn chị, tôị chỉ thích được ẵm cháu thôi.
- Tốt nhất là ồng nên bế cháu vào chơi trong vườn hoa của trại chúng tôi - ở đấy yên tĩnh lắm và nếu có báo động máy bay, ông có thể nhanh chóng xuống hầm trú ẩn.
- Được rồi. Tồi chỉ ngó xem chiếc xe buýt đã đến đón tôi chưa, rồi tôi sẽ vào nhà...
- Vào nhà nào?
- Vào vườn hoa, xin lỗi, vào vườn hoa...
- Ông không quá mệt mỏi đấy chứ?
- Không. Nhưng sao chị hỏi thế?
- Trông mặt ông tái hẳn đi...
- Không, không sao, - Ghen-mút nói và bước ra đường.
Anh ta bước xuống lòng đường và nghe thấy tiếng phanh rít ngay sau lưng mình. Một chiếc xe quân sự đỗ lại cách Ghen-mút hai bước và người lái xe thò đầu rạ cửa, quát:
- Mù hả? không nhìn thấy xe đang phóng hay sao!!
Ghen-mút ôm chặt đứa con gái vào ngực, lẩm bẩm gì đó rồi chạy về phía tầng hầm. Kết đang đứng bên cửa đợi anh ta. Đứa con của. chị đang nằm trên chiếc hòm. Thằng bé đang ngủ, thỉnh thoảng lại cựa quậy trong mơ.
Ghen-mút trao đứa con gái cho Kết và nói:
- Bây giờ chị bế hộ cháu một lát, để tôi chạy ra bến xe, Đứng ở đấy có thể nhìn rõ lúc nào có chuyến xe buýt từ chỗ đường vòng hiện ra. Lúc đó, tôi chạy về đón chị ra vẫn kịp.
Anh ta nhìn Kết trân trọng đỡ lấy con gái của anh ta, thế là nước mắt anh ta lại ứa ra. Anh ta bèn chạy ra đường.
- Tốt nhất là chúng ta cùng đi với nhau, - Kết nói, - tốt nhất là tôi cùng đi với anh.
- Không sao, tôi quay về ngay thôi, - Ghen-mút dừng lại nói. - Dẫu sao thì chúng nó cũng đã có ảnh của chị, còn tôi trước khi bị thương trông khác bây giờ nhiều lắm. Chị chờ một lát, tôi sẽ quay về ngay.
Ghen-mút khập khiễng đi vội ra bến xe. Đường phố vắng tanh vắng ngắt.
"May mà trại trẻ chưa tản cư, không thì mình mất đứa con. Sau này làm sao còn tìm được nó. Nếu có chết bom thì tốt nhất là cùng chết với nhau. Người phụ nữ ấy có thể nuôi con cho mình được - người ta vẫn cho hai đứa trẻ sinh đôi cùng bú đấy thôi... vì việc cứu hai mẹ con chị ta, thượng đế sẽ tha thứ tất cả cho mình. Hay ít ra là tha thứ cho cái ngày bắn người ở gần Xơ-mô-len-xcơ".
Trời bắt đầu mưa phùn nên đã lạnh lại càng lạnh thêm. Nhưng Ghen-mút nghĩ rằng, dầu sao thì mưa xuân cũng chứng tỏ trời sắp ấm lên.
"Chỉ cốt sao mấy bà phụ nữ ở trại trẻ mồ côi không nhìn thấy mình và chị ta lên xe buýt. Ta sẽ đi đến thảo cầm viên, rồi sẽ lên tàu ở đó. Hoặc sẽ đi bộ lẫn với những người chạy loạn. Trà trộn vào đám người ấy không phải là chuyện khó. Và chị ta sẽ cho con mình bú trên đường từ đây đến Muyn-khen. Đến đó, mẹ mình sẽ lo liệu giúp. ở đấy có thể thuê một người vú em. Tuy rằng nhất định chúng sẽ lùng bắt mình... Không thể đến chỗ mẹ mình được... Nguy hiểm lắm. Chỉ nên rời bỏ thành phố này thôi. Chỉ cần ra đến thảo nguyên và lánh vào rừng, tất cả sẽ thay đổi. Mà cũng có thể đi lên phía bắc, tới vùng biển. Đến chỗ Han-xơ, rốt cuộc, ai có thể ngờ rằng, mình lại đến chơi nhà một người chịến hữu?
Ghen-mút kéo sụp chiếc mũ lông xuống che tai. Anh ta đã thấy hết rét. Nửa người bên trái âm dần lên.
"Mưa thế này lại hoá hay, - anh ta nghĩ, - cứ phải có một cái gì đó xảy ra. Khi người ta chờ đợi mà mọi vật xung quanh đều im lặng thì khổ lắm, thần kinh sẽ hết sức căng thẳng. Nếu lúc ấy trời mưa hay tuyết rơi, người ta sẽ bớt cô đơn".
Mưa vẫn rơi như cũ, nhưng mây đen đột nhiên tan dần, rồi cao tít trên đầu hé ra một khoảng trời xanh và một góc mặt trời màu trắng.
"Mùa xuân đây rồi, - Ghen-mút nghĩ. - Chẳng bao lâu nữa cỏ non sẽ mọc..."
Anh ta nhìn thấy ở chỗ đường vòng ló ra cái đầu xe buýt. Anh ta đã định quay người chạy về ngôi nhà đổ, nơi Kết đang đợi, nhưng thấy có hai chiếc xe đen vọt lên trước chiếc xe buýt và phóng thẳng về phía trại trẻ, bất chấp mọi luật lệ giao thông, Ghen-mút lại cảm thấy chân anh ta bủn rủn và nửa người bên trái lạnh hẳn đi, - đấy là hai chiếc xe của bọn ghét-xta-pô. Ý muốn đầu tiên của anh ta là bỏ chạy, nhưng anh ta hiểu rằng, chúng sẽ nghi ngờ người chạy, sẽ lập tức tóm gọn chị phụ nữ Nga với con gái của anh ta và điệu về chỗ chúng ; anh ta còn kịp nghĩ rằng, tốt nhất là anh ta đứng nguyên tại chỗ và khi hai chiếc xe chạy qua, thì anh sẽ lẩn đi theo một ngõ hẻm". Người ta sẽ bảo chúng rằng, mình vừa đón con ra, chúng sẽ đi tìm khu vực xung quanh và sẽ tìm thấy chị phụ nữ Nga ở trong tầng hầm. Nhưng chị ấy sẽ không nói rằng, đó là con gái của mình. Lúc trước, chị ấy có chịu khai gì với chúng nó đâu".
Anh ta chưa hiểu rõ điều gì sẽ xảy ra sau đó với đứa con gái của anh ta. Anh ta sợ rằng, bây giờ anh sẽ lại bị sốc mà ngất đi. Rồi chúng sẽ bắt được con gái anh ta sẽ cởi bộ quần áo của nó ra và đặt bên cạnh cửa sổ để ngỏ, khi mùa xuân chỉ vừa mới bắt đầu và còn ít lâu nữa trời mới ấm... "Nếu mình... thì chị phụ nữ Nga ấy sẽ nghe tiếng và sẽ hiểu tất cả. Chị ấy không thể quên ơn. Chị ấy không bao giờ quên...".
Ghen-mút bước xuống lòng đường, chĩa pa-ra- ben-lom ra, bắn liền mấy phát vào kính chắn gió của chiếc xe thứ nhất. Và ý nghĩ cuối cùng của anh ta là sau khi nghe một loạt súng tiểu liên và trước khi cảm thấy cái đau cuối cùng trong đời mình, là: "Mình quên chưa nói tên con gái cho chị ấy biết..."
Và ý nghĩ đó làm cho anh ta đau khổ trong một khoảnh khắc trước khi anh ta chết.
- Không, thưa ông, mới chỉ cách đây mười phút chứ không hơn, - người nữ y tá đã trao con gái Ghen-mút cho anh ta, nói.
- Thế đứa con gái đâu? - lão già tóc bạc cau có hỏi, cố không nhìn cái xác thằng bạn nhuộm tóc của lão ta. Tên kia nằm trên sàn nhà, ngay cạnh cửa và người ta thấy rõ hắn đã già như thế nào: rõ ràng là lần hắn nhuộm tóc cuối cùng cách đây đã lâu, nên bộ tóc của hắn có hai màu: màu trắng ở chân tóc và màu nâu sáng ở phần còn lại.
- Tôi cho rằng, hai người ấy đã lên xe đi khỏi đây, - người phụ nữ thứ hai nói, - tôi thấy có một chiếc ôtô đỗ lại bên anh ta.
- Sao? đứa bé tự leo lên xe được à?
- Không, - người phụ nữ trả lời nghiêm trang, - nó chưa thể tự mình leo lên xe được. Bởi vì nó còn đang bú...
Muyn-lơ nói:
- Các anh hãy xem xét toàn bộ khu vực này cẩn thận, -bây giờ tôi phải về cơ quan. Chiếc xe thứ hai đã lên đường; nó sắp chạy đến đây... Nhưng làm sao đứa con gái lại lên ôtô được nhỉ - y quay ra cửa và hỏi. - Đó là loại xe gì?
- Xe to.
- Xe vận tải à?
- Không. Xe hơi. Màu xanh lá cây...
- Chắc chị không nhớ số xe?
- Tôi không để ý.
- Chuyện này có điều gì không bình thường,
- Muyn-lơ nói và mở cửa. - Các anh hãy tìm kiếm trong các nhà quanh đây xem... Lạ thật!
- Xung quanh toàn là những ngôi nhà đổ nát.
- Thì tìm trong cái đống đổ nát ấy, - y nói,
- nói chung, toàn bộ vụ này ngớ ngẩn và trái khoáy đến mức chẳng còn biết đằng nào mà lần. Chúng ta không thể hiểu lô-gích của một kẻ không chuyên nghiệp.
- Có thể hắn là một nhà chuyên nghiệp khôn ngoan thì sao? - Lão già tóc bạc vừa châm thuốc vừa nói.
- Một nhà chuyên nghiệp sẽ không mò đến trại trẻ, - Muyn-lơ nói và bước ra. Vừa rồi, khi y gọi điện về chỗ Sôn-xơ, tên kia có báo tin cho y biết rằng, căn phòng bí mật ở Béc-nơ đã lộ tẩy và người của y ở đó đã bị cảnh sát Thuỵ Sĩ bắt giữ, Bởi vì người liên lạc Nga mang bức thư mật mã sang đó đã nhảy qua cửa sổ tự tử.
Sau khi gửi về Béc Lanh cho Sơ-tiếc-lít một tấm bưu ảnh chụp cảnh bờ sông Lô-dan-na theo đúng lời dặn dò, giám mục Sơ-lắc quay về nhà: ông đang sống ở khu vực nhà thờ Thánh La-vơ-ren-ti. Khi kể ra những nơi có thể trú chân, Sơ-tiếc-lít đã nói với ông rằng bọn ghét-xta-pô sẽ không mò đến chỗ này. Căn phòng ông đang ở rộng vừa phải, trần nhà cao, hình vòm cuốn. Chỉ có cái trần nhà hình vòm cuốn màụ trắng, quá trắng, ấy là thứ duy nhất mang tính chất tu viện trong căn phòng này. Các thứ đồ gỗ ở đây đều sang trọng và đều được bọc bằng loại vải màu đỏ tươi.
Người ta giải thích với Sơ-lắc rằng, căn phòng này dành cho những người ngoại quốc vì lý do nào đó không thể hay không muốn trú chân ở các khách sạn. Những người tiếp chuyện vị giám mục nhấn mạnh rằng, những rigười ngoại quốc ấy đến đây với sứ mệnh tìm kiếm hoà bình, nhằm cứu nhân dân châu Âu khỏi cảnh chém giết lẫn nhau.
Sơ-lắc ngồi bên cửa sổ ngắm thành phố một hồi lâu: ở đây không phải nguy trang che ánh sáng, các tủ kính bày hàng và cửa ra vào các rạp chiếu bóng được trang trí bằng các loại đèn đủ màu sắc. Sơ-lắc nhìn mọi người không chán mắt; vì đã bao năm ông không được thấy nhiều khuôn mặt trẻ trung đến thế. Bởi vậy, trong thời gian cuối cùng ở Đức, ông có cảm tưởng thế giới già cỗi hẳn đi.
Có tiếng gõ cửa.
- Mời vào.
- Ngài có dùng cà-phê không ạ? - người đầy tớ già hỏi.
- Cám ơn ông, tôi không dùng.
- Lúc nào ngài muốn dùng cà-phê, trà hay nước trắng, xin ngài cứ gọi tôi.
- Cám ơn.
- Tôi xin phép cáo lui. Chúc đức giám mục ngủ ngon...
- Chúc ông ngủ ngon. Tôi muốn hỏi ông: ở đây có thuốc luy-mi-nan hay brôm không? Tôi không tài nào ngủ được...
- Tôi xin đi hỏi và quay lại ngay.
Sau câu chuyện hôm nay giữa ông với cựu thủ tướng Đức Bơ-ruy-ninh, người mà giám mục biết rõ trong những năm hai mươi, giám mục cảm thấy rằng, không dùng thuốc thì ông không thể ngủ được. Ông không thể ngồi ngay vào bàn để ghi lại các ấn tượng trong ngày. Các ấn tượng bất ngờ và đáng sợ tới mức, trước tiên, giám mục phải cố trân tĩnh để đánh giá lại tất cả những điều ông đã nghe từ miệng Bơ-ruy-ninh, sau đó mới dám viết chúng ra giấy.
"Bắt đầu cuộc nói chuyện, - giám mực bắt đầu viết một cách chậm rãi, sau mỗi từ lại dừng bút, - cựu thủ tướng Bơ-ruy-ninh quan tâm đến số phận của những người mà tôi và ông ta cùng quen biết, ông ta tỏ thái độ khâm phục lòng dũng cảm của người đã giúp tôi chạy ra nước ngoài mà không đặt bất cứ điều kiện trước và sau gì về sự mạo hiểm đó, ông ta hỏi cặn kẽ về những người mà tôi đã gặp ở nhà tù và ở trại tập trung. Khi tôi lái câu chuyện sáng vấn đề mà chúng ta quan tâm, Bơ-ruy-ninh nói: "Những người không có mặt bao giờ cũng hết quyền lực. Nhà trắng hay Oai-tơ-hôn không còn chú ý đến tôi nữa, bởi vì họ là những chính khách thực tế, có thế lực, còn tôi chỉ là một cựu chính khách đã mất ảnh hưởng thực tế. Tôi với họ bất đồng ý kỉến với nhau, và hiển nhiên là họ coi tôi như một người hoạt động không chuyên nghiệp: không ai quen nghề nghiệp nhanh bằng một nhà chính trị đã mất chính quyền". Khi tôi hỏi: "Trong trường hợp ấy, cố thể coi ai là nhân vật chính trị quan trọng ở Đức sau khi Him-le thủ tiêu các đại biểu ưu tú của phe đối lập? " Bơ-ruy-ninh trả lời: "Him-le". Khi tôi bác bỏ lời ông ta và nói rằng, ý kiến khẳng định vừa rồi chỉ có thể hiện thái độ tự ái, sự mệt mỏi, thái độ hoài nghi và sự xa rời tổ quốc, Bơ-ruy-ninh bèn mời tôi xem một tài liệu. Hơn thế nữa, sau đó ông ta còn cho phép tôi ghi lại một số đoạn. Lúc đầu, tôi kinh ngạc về nội dung của tài liệu ấy, tuy nhiên, sau đó tôi nêu lên giả Thụyết rằng, đấy có thể là tài liệu giả của bọn quốc xã. Bơ-ruy-ninh trả lời rằng, ông ta sẽ vui lòng đồng ý với tôi, giá như ông ta không tin rằng, đó là tài liệu thật. Tôi hỏi, theo ý ông ta, có thể coi bọn đại diện cho phía Đức trong cuộc đàm phán có thẩm quyền tới mức nào, Bơ-ruy-ninh đáp rằng, một câu trả lời quả quyết nhiều hay ít sẽ mang tính chất thông tin giả ở mức nhất định, bởi vì trong điều kiện chuyến chính của Hít-le, người nhất định, chỉ có thể là Quốc trưởng hoặc một trong những trợ thủ thân cận nhất của Quốc trưởng dám lật đổ Hít-le để giành toàn bộ quyền lực về tay mình. Bơ-ruy-ninh cho rằng, người đó trước hết có thể là thống chế Gơ-rinh hoặc Boóc-man. Ông ta nói rằng, ông ta không tin vào khả năng đưa Him-le lên địa vị thứ nhất. "Một vài giới thế lực ở phương Tây muốn dùng Him-le, nhưng chắc chắn dư luận xã hội rộng rãi không bao giờ tán thành việc lực lượng dân chủ ngồi bàn đàm phán với Him-le, kẻ tượng trưng cho tội ác của đảng Quốc xã. Và mặc dù chính Him-le là nhân vật có thế lực nhất ở nước Đức hiện nay, song rất khó nghĩ rằng, có khả năng thực tê tiến hành đàm phán với y". Tôi hỏi, các ý định tìm kiếm giải pháp hoà bình với nước Đức của phe đồng minh nghiêm túc tới mức nào, thì Bơ-ruy-ninh trả lời rằng, ông ta không thể thông báo cho tôi biết những cuộc đàm phán ấy đang diễn ra ở đâu và với ai, bởi vì hiện nay hoặc là chúng đã lên tới thời điểm cao nhất, hoặc là sắp đến thời điểm đó. Tôi hỏi, ông ta có những tư liệu chính xác đến mức nào? Bơ-ruy-ninh trả lời rằng, một chính khách lưu vong thường được nghe những tin đồn đã có sự thẩm tra kỹ. Khi tôi bảo-ông ta rằng, những người bạn của tôi ở bên Đức giao cho tôi nhiệm vụ tìm hiểu khả năng đàm phán nghiêm túc với phe đồng mình để chấm dứt cảnh đổ máu và đem lại một nền hoà bĩnh mong muốn cho loài người, Bơ-ruy-ninh hỏi những người ấy là ai. Không nhận được câu trả lời cụ thể của tôi, ông ta liền đề nghị tôi nghe lại một lần nữa băng ghi âm câu chuyện giữa một người Mỹ với một người Đức để, trong những tìm kiếm giải pháp hoà bình sau này của tôi, tôi chuẩn bị tinh thần nghe những quan điểm khác nhau. Dưới đây tôi xin dẫn ra băng ghi âm buổi nói chuyện đó...".
Sớm hôm ấy, từ nhóm nghiên cứu hồ sơ lưu trữ cướp được của Boóc-man, người ta gọi điện tới cho Sê-len-béc.
- Có hiện tượng đáng chú ý. Nếu ngài thiếu tướng tới đây, chúng tôi sẽ giới thiệu với ngài một vài tài liệu quan trọng.
- Tôi sẽ đến ngay bây giờ, - Sê-len-béc đáp lại gọn lỏn.
Y đến nơi, không cởi áo khoác, tiến ngay lại bàn và cầm lấy mấy tờ giấy.
Đưa mắt liếc qua mấy tờ giấy đó; y rướn mày ngạc nhiên, ý cởi áo khoác vắt lên thành ghế, ngồi xuống và co chân trái lên. Mấy tài liệu này quả là rất đáng chú ý. Tài liệu thứ nhất viết như sau:
"Đến ngày X sẽ tiến hành cách ly Can-ten-bơ-ru-ne, Pô-li, Sơ-tiếc-lít, Muyn-lơ". Tên Muyn-lơ được gạch đi bằng chì đỏ và Sê-len-béc đánh dấu hỏi to tướng vào tấm bìa các-tông nhỏ - y thường bỏ túi hoặc để trên bàn mình một số tấm bìa như thế, để khi cần sẽ đánh dấu những điểm đáng chú ý vào đó. Tài liệu không có chữ ký và không để người nhận ấy viết tiếp: "Cần nhớ rằng, việc cách ly các nhân vật lãnh đạo của cơ quan ghét-xta-pô và SĐ kể trên là một hành động đặc biệt để đánh lạc hướng chú ý. Việc tìm kiếm những nhân vật lãnh đạo từng chịu trách nhiệm về các vấn đề
cụ thể sẽ làm hao tổn tâm sức của những ai có lợi trong việc tìm kiếm đó, xét về quan điểm tác chiến cũng như về ý đồ chiến lược".
Tiếp đó, trong tài liệu có liệt kê một danh sách bao gồm 176 người.
"Các sĩ quan ghét-xta-pô và SĐ ấy có thể làm sáng tỏ những vấn đề mấu chốt trong chính sách đối ngoại của Đế chế không phải thông qua các luận điểm cơ bản mà là thông qua các chỉ tiết thứ yếu. Hiển nhiên là mỗi sĩ quan nói trên không biết rằng, mình là một bức tranh chắp hình vô nghĩa về mặt giá trị cá nhân, nhưng lại vô giá trong việc lựa chọn mọi bức tranh chắp hình khác. Do đó, các sĩ quan ấy có thể phục vụ cho những kẻ thù của Đế chế muốn lên án các lý tưởng của đảng Quốc xã bằng cách vạch trần hoạt động thực tế của đảng. Trên quan điểm đó, các chiến dịch của mỗi si quan kể trên khi gộp lại sẽ thành một bức tranh bất lợi cho Đê chế. Tiếc rằng, trong trường hợp này không thể phân định ranh giới rõ rệt giữa kỷ cương của đảng với hoạt động thực tê của lực lượng ss, bởi vì, tất cả các sĩ quan ấy đều là các chiến sĩ kỳ cựu của phong trào, họ đã gia nhập đảng Quốc 'xã trong thời kỳ từ 1927 đến 1935. Bởi vậy, việc cách ly những người ấy cũng là việc làm hợp lý và hợp pháp".
"Rõ rồi, - Sê-len-béc chợt hiểu. - Cái thằng cha thủ lĩnh của đảng rào đón màu mè khéo chưa. Bọn mình thì cứ gọi thẳng là "thủ tiêu". Lão ta dùng hai chữ "cách ly". Nghĩa là mình sẽ bị thủ tiêu, còn Muyn-lơ thì được giữ lại. Kể ra, chính mình cũng chờ đợi ngày đó, thật nực cười nếu hy vọng vào cách đối xử khác. Đáng chú ý là họ vẫn để Can-ten-bơ-ru-ne lại trong danh sách. Tuy rằng cũng dễ hiểu điều sau đây: Muyn-lơ bao giờ cũng nấp trong bóng tối, chỉ có giới hoạt độngXíhuyên nghiệp mới biết hắn, còn Can-ten- bơ-ru-ne thì đàng đung đưa trên bộ đèn chùụi, bây giờ cả thế giới biết tiếng ông ta. Lòng tự ái giết chết ông ta - mình luôn luôn nghĩ như vậy. Còn cái giết chết mình là mình cứ thích làm một người cần thiết cho Đê chế. Và mình đã có thể làm người cần thiết cho Đế chế thật, bởi vì mình biết rõ các bí mật ở trong nước và ngoài nước. Cái sự ngược đời của nhà nước chúng ta là ở chỗ: anh càng muốn làm người cần thiết cho nhà nước bao nhiêu, anh càng mạo hiểm bấy nhiêu ; những người như mình không có quyền mang theo xuống mộ những bí mật quốc gia đã trở thành các bí mật cá nhân. Giữa cuộc sống và cái chết, tự nhiên sẽ có một khe hở thời gian, khi mình có thể nói những bí mật ấy với người khác. Những người như mình cần phải bị loại ra khỏi cuộc sống một cách nhanh chóng và bất ngờ.;. Như với hãy-đơ-rích vậy..."
Sê-len-béc chăm chú xem họ tên những người bị đưa vào danh sách cần "cách ly". Y tìm thấy rất nhiều cộng sự viên của mình. Đứng ở số 142 là đại tá ss Sơ-tiếc-lít.
Việc Muyn-lơ được gạt ra khỏi danh sách, còn Sơ-tiếc-lít phải nằm lại trong đó, chứng tỏ sự vội vàng và hỗn loạn khủng khiếp bao trùm thời gian di chuyển hồ sơ lưu trữ của đảng Quốc xã. Boóc-man đã chỉ thị phải điều chỉnh lại bản danh sách hai ngày trước khi di chuyển, song rõ ràng là vì vội vã mà người ta chỉ kịp xem một cái tên Sơ-tiếc-lít, hoặc có thể là người ta chỉ kịp xem một hai trang đầu của bản danh sách, nơi ghi tên những nhân vật nổi tiếng nhất. Cái đó đã cứu Sơ-tiếc-lít không phải khỏi bị người của Boóc-man tiến hành "cách ly" sau này, mà khỏi bị người của Sê-len-béc "thủ tiêu": người của Sê-len-béc làm việc ấy cừ hơn và nhanh hơn vì đó chính là nghề của chúng...
- Có chuyện gì vậy, thưa ngài? - Sơ-tiếc-lít hỏi, khi Muyn-lơ quay xuống xà-lim. - Không hiểu sao tôi cứ lo lo...
- Thế là đúng, Muyn-lơ tán thành. - Tôi cũng thấy lo lo như anh.
- Tôi nhớ lại rồi, - Sơ-tiếc-lít nói.
- Cụ thể là gì?
- Vì sao trên chiếc va-li của mụ đàn bà Nga lại có dấu tay của tôi... Mụ ta đâu rồi? Tôi cứ tưởng ngài sẽ đưa mụ ta đến... đối chất với tôi kia đấy...
- Mụ ấy đang nằm ở nhà thương. Người ta sắp đưa mụ ấy đến.
- Có chuyện gì xảy ra với mụ ta thế?
- Với mụ ấy thì không có chuyện gì cả... Chẳng qua là vì, muốn mụ ấy khai, mà Vôn-phơ đã quá tay với đứa bé.
"Nói láo, - Sơ-tiếc-lít nghĩ. - Nếu Kết khai, hắn đã chẳng giam mình vào đây. Hắn mới loanh quanh gần sự thật thôi".
- Được rồi, tạm thời không việc gì phải vội vàng...
- Tại sao lại "tạm thời". Nói chung là không làm gì phải vội vàng chứ?
- Tạm thời không làm gì phải vội vàng, - Sơ-tiếc- ĩít nhắc lại. - Nếu quả thực ngài quan tâm đến cái dấu tay rắc rối trên chiếc va-li, thì tôi đã nhớ ra rồi. Việc ấy làm cho tôi bạc thêm mấy sợi tóc, nhưng sự thật bao giờ cúng chiến thắng - đó là niềm tin của tôi.
- Một sự trùng hợp đáng mừng yề niềm tin giữa anh và tôi. Anh hãy kể đi.
- Ngài phải cho gọi tất cả các tốp cảnh sát canh gác khu vực phố Bai-ô-rê-te đến đây. Tôi phải dừng xe ở khu vực ấy và người ta không cho phép tôi đi qua, ngay cả khi tôi đã chìa tấm thẻ SĐ. Lúc ấy, tôi liền đi vòng qua phố Kê-pê-ni-cơ. ở đó người ta cũng ngăn tôi lại, thế là tôi bị nghẽn. Tôi xuống xe xem có chuyện gì xảy ta và cảnh sát không cho phép tôi đi đến trạm điện thoại tự động để gọi về chỗ Sê-len-béc. Trong đám cảnh sát ấy có hai người - một còn trẻ, nhưng ốm yếu, chắc là mắc bệnh lao phổi, còn người thứ hai, tôi không nhớ lắm, vì mặt anh ta bị dính bụi tro đen nhẻm. Tôi chìa tấm thẻ SĐ cho họ và đi đến chỗ gọi điện thoại. ở đấy có một người phụ nữ bê con, tôi đã mang giúp chị ta chiếc xe nôi ra khỏi chỗ ngôi nhà đổ. Sau đó tôi bê mấy chiếc va-li ra xa khu vực đang cháy. Xin ngài hãy nhớ lại bức ảnh để ở trong hồ sơ chụp chiếc va-li ấy với địa chỉ mà mụ đàn bà Nga đã sống, - hai. Cho gọi đến đây tốp cảnh sát đã nhìn thấy tôi bê va-li giúp mấy người bất hạnh, - ba. Nếu chỉ một trong số các bằng chứng mà tôi vừa nêu ra sai sự thật, xin ngài cho tôi khẩu súng và một viên đạn - tôi không còn lối thoát nào khác, không còn bằng chứng vô tội nào khác.
- Hừm, - Muyn-lơ cười. - ừ, thì ta hãy thử xem. Tất cả có vẻ lô-gích lắm. Đầu tiên ta hãy nghe những người Đức của chúng ta nói, sau đó sẽ nói chuyện với cô gái Nga của anh.
- Với cô gái Nga của chúng ta chứ, - Sơ-tiếc-lít cũng mỉm cười, - hay ngài định coi tôi là gián điệp Nga thì bảo?
“ Thôi, thôi mà, - Muyn-lơ đáp, - anh đừng có tóm lấy câu nói lỡ lời của tôi nữa...
Y bước ra để gọi điện cho viên giám đốc trường đào tạo cảnh sát - trung tá ss, tiến sĩ Khen-vi-gơ sống ở hẻm Sác-lô, phố Sơ-lốt, ngay trong khu vực của trường... Còn Sơ-tiếc-lít lại tiếp tục phân tích tình huống: "Nếu chúng nó hành hạ bé gái - anh muốn ám chỉ đứa con trai của Kết - chúng có thể hành hạ đứa bé lắm, và Kết sẽ không chịu đựng nổi nhưng hẳn là có sự gì đã xảy ra ; chúng đã chẳng chở Kết đến bệnh viện, mà sẽ đưa thẳng đến đây, nếu sự việc diễn biễn theo đúng ý đồ của chúng... Nhưng ngay cả khi Kết khai rằng, cô ấy có biết mình, thì cô ấy cũng không biết bất cứ sự việc cụ thể nào cả: cô ấy không nhìn thấy xe mình, không biết tên thật của mình, còn việc mình nằm ở trong lực lượng ss thì khó gì mà cô ấy không biết, một khi cô ấy đã có mặt trong phòng làm việc của mình. Không biết chuyện ấy thì mới là điều tức cười. Mình sống ở đâu? Cô ấy biết. Nhưng mình có thể nói với cô ấy điều đó lắm chứ. Cô ấy biết địa chỉ, nhưng chưa lần nào đến nhà mình. Nghĩa là lúc ấy mình sẽ tung con bài Boóc-man ra. Nếu Pờ-lây-sơ-ne đã ở trong tay chúng - chúng cũng chẳng chịu chờ đợi đâu - trong trường hợp này chậm trễ là ngu ngốc, là mất quyền chủ động...".
- Người ta cho anh ăn com chưa? - Muyn-lơ hỏi, khi quay lại. - Có lẽ ăn chút gì chăng!
- Vâng đến giờ rồi đấy, - Sơ-tiếc-lít đồng ý.
- Tôi đã yêu cầu người ta mang thức ăn xuống cho chúng ta.
- Cám ơn. Ngài đã cho gọi cảnh sát đến chưa?
- Gọi rồi.
- Trông ngài mệt mõi lắm...
- Ôi dào, - Muyn-lơ phủi tay. - Còn sống là tốt rồi. Mà lúc nãy anh bảo "tạm thời" là có ẩn ý gì?... Anh thử nói tôi nghe xem nào...
- Tôi sẽ nói ngay sau khi đốì chứng, - Sơ-tiếc-lít trả lời. - Bây giờ nói thì không có ý nghĩa gì. Nếu người ta không xác nhận rằng, tôi nói đúng, thì hai chữ "tạm thời" còn có giá trị gì nữa.
Cửa mở và tên lính gác bưng vào một cái khay phủ một chiếc khăn ăn màu trắng. Trên khay có đĩa thịt hầm, bánh mì, bơ và hai quả trứng trên hai kệ xanh.
- Ớ trong cái nơi vừa là nhà tú vừa là nơi trú ẩn chắc chắn như thế này, tôi sẵn sàng ngủ một giấc suốt ngày nọ sang ngày kia. Thậm chí, ngồi ở đây, đến tiếng bom cúng không nghe thấy.
- Sẽ có thời gian để ngủ...
- Cám ơn... - Sơ-tiếc-lít cười to.
- Có sao đâu? - Muyn-lơ cười. - Tôi nói thật đấy... Tôi rất thích phong thái ung dung của anh. Tôi đã nói chuyện với mấy người của mình ở đây, họ cứ líu cả lưỡi lại. Anh muốn uống rượu không?
- Cám ơn ngài, không ạ.
- Anh không nghiện rượu à?
- Tôi sợ rằng, ngài đã biết đến cả loại cô-nhắc mà tôi yêu thích.
- Anh đừng có đặt mình ngang với Sớc-sin. về ông ta, tôi chỉ biết được rằng, ông ta thích cô-nhắc của bọn Nga hơn cả. Được... Anh không thích thì thôi, tôi cứ uống. Tôi cảm thấy mệt mỏi thật rồi.
Nghe tiếng súng, Kết hiểu ngay rằng, điều đáng sợ nhất đã xảy ra. Chị chạy ra cửa ngó. Chị nhìn thấy hai chiếc xe đen và thấy Ghen-mút đang lảo đảo ngã xuống vỉa hè. Chị chạy vội trở vào: con trai chị đang nằm giãy mạnh trên mặt hòm. Cháu gái mà chị đang bế trên tay thì ít cựa quậy hơn - cháu chép miệng trong giấc mơ. Kết đặt cháu gái xuống bên đứa con trai. Động tác của chị trở nên vội vã, hai tay run lên, và chị tự nhủ mình: "Thôi, khẽ chứ nào! Tại sao lại "khẽ chứ"? - chị nghĩ khi chạy sâu vào phía trong tầng hầm. - Mình có kêu thét gì đâu...".
... Cô bé ấy bước đi, hai tay giơ ra phía trước, trong bóng tối như bưng lấy mắt, chân vấp vào gạch đá và các dầm sắt. Đấy là cảnh đánh trận giả hồi Kết còn nhỏ ở nhà. Bọn con trai rủ cô cùng chơi, và Ca-chi-à - tức Kết - nổi tiếng là một cô bé táo bạo. Lúc đầu, Ca-chi-a được giao làm nhiệm vụ cứu thương, nhưng sau đó cậu bé Tan-ca Tu-te ở ngõ số 6, người chuyến môn giữ cương vị chỉ huy bên quân Đỏ, rất thích cô nên phong cho cô chức y tá, rồi lại ra lệnh cho mọi người gọi cô là bác sĩ quân y bậc ba. Ban tham mưu của quân Đỏ được bố trí trong tầng hầm của một ngôi nhà ở phố Xơ-pa-xô-na-líp. Một lần, đèn điện trong tầng hầm bị tắt. Mà tầng hầm thì rộng và ngoằn ngoèo uốn khúc. Tham mưu trưởng khóc oà lên vì sợ hãi. Tên cậu ta là I-go. Tan-ca Tu-te tuyển cậu ta vào đội chỉ vì cậu ta rất giỏi. "Để người ta khỏi gọi mình là bọn vô chính phủ, - Tan-ca giải thích quyết định của mình, - đôi chúng ta cần có một học sinh gương mẫu. Hơn nữa, tớ cử cậu ấy làm tham mưu trưởng, tức là một chức vị chẳng có ý nghĩa gì trong trò chơi của chúng ta. Cậu ấy sẽ ngồi trong tầng hầm viết mệnh lệnh do tớ thảo ra. Bên quân Trắng mới cần một sĩ quan tham mưu, chứ quân Đỏ chúng ta chỉ coi trọng một người - đó là chính uỷ". Lúc I-go khóc, tầng hầm trở nên yên ắng lạ thường, và Ca-chi-a cảm thấy Tan-ca lúng túng, cô cảm thấy thế, vì nghe rõ tiếng cậu ta khịt mũi. Trong khi đó, tiếng khóc của I-go mỗi lúc một thảm thiết hơn, rồi tiếp đó, lại thêm một sĩ quan tham mưu nữa sụt sịt. "Thôi, khẽ chứ nào!... - Tan-ca lúc ấy quát lên.
- Rồi tôi sẽ đưa các đồng chí thoát khỏi đây. Bây giờ ai ngồi yên chỗ ấy đã, không được chạy tán loạn!" Mười phút sau, cậu ta quay lại, khi đèn điện đã bật sáng. Người cậu ta đầy bụi bậm, mũi bị dập, chảy cả máu. "Tắt đèn đi, - Tan-ca nói.
- Chúng ta sẽ tập lần ra ngoài phố trong bóng tối, như thế chứng ta sẽ biết cách hành động khi chiến tranh xảy ra". "Khi chiến tranh thật xảy ra, - tham mưu trưởng I-go nói, - chúng ta sẽ đánh nhau ngoài phố, chứ không phải trong các hầm nhà". "Cậu im đi. Cậu bị cách chức. - Tan-ca trả lời. - Khóc lóc ở ngoài mặt trận tức là phản bội dân tộc! Cậu hiểu chưa? Cậu là một thằng hèn, đúng là một thằng hèn!" Nói rồi Tan-ca leo lên chiếc bàn cũ được khiêng từ nhà đến đây và tháo bóng điện ra. Cậu ta dẫn tất cả lũ trẻ từ trong hầm tối om ra bên ngoài, và lúc ấy Ca-chi-a lần đầu tiên đã hôn Tan-ca một cái.
"Cậu ta dẫn bọn mình lần tường mà đi, - Kết nghĩ. - Cậu ta luôn luôn đưa tay lần tường. Nhưng trong tay cậu có diêm. Không. Cậu ta không có diêm. Cậu ta đào đâu ra diêm cơ chứ? Hồi ấy cậu ta mới lên chín, đã biết hút thuốc lá đâu".
Kết ngoái lại, chị không nhìn thấy chiếc hòm bẹp, nơi chị đặt hai đứa trẻ nữa. Đằng trước mặt vẫn là bóng tối dày đặc. Chị sợ bị lạc đường, không tìm được lối quay trở lại chỗ chiếc hòm, và con trai chị sẽ khóc thét lên vì có lẽ nó ướt hết tã lót, nó sẽ đánh thức cả cháu gái kia dậy, lập tức tiếng khóc của cả hai đứa sẽ vọng ra tận ngoài đường. Chị phát khóc vì cảm giác bất lực, vì cảm thấy mình xa lạ, và không làm được việc gì cần thiết trong thế giới này. Chị quay đầu đi ngược lại, người luôn luôn áp sát vào tường. Vì vội vàng, nên khi vấp chân vào một đoạn ống nào đó, chị bị mất thăng bằng. Hai tay chới với về phía trước và nhắm mắt lại, chị ngã vật xuống. Trong khoảnh khắc, chị thấy mắt mình nổ đom đóm, rồi chị ngất đi vì cảm giác đau nhói trên đầu.
... Kết không nhớ chị nằm dưới đất bao nhiêu lâu: một phút hay một giờ? Mở mắt ra, chị kinh ngạc khi nghe thấy một tiếng rì rào lạ lùng. Tai trái của chị áp lên một tấm sắt có gờ, lạnh như băng, và nó phát ra một âm thanh lạ lùng như cái âm thanh mà Kết từng nghe thấy ở trong khe núi, nơi có một dòng suối xanh trong lấp lánh chảy mạnh. Kết nghĩ rằng, có lẽ đầu chị bị thương nên chị mới có cảm giác như thế chăng. Chị ngẩng mặt lên, tiếng rì rào biến mất. Đúng hơn là nó khác đi. Kết định đứng dậy và chị bỗng hiểu rằng, khi ngã, đầu chị đã đập xuống chiếc nắp đậy một khoang cống ngầm. Chị đưa hai tay sờ tấm sắt có gờ và tin rằng, mình nghĩ đúng. Ê-rơ-vin có nói với chị về hệ thống cống ngầm rộng lớn của Béc Lanh, Kết nâng chiếc nắp lên, nó không suy suyển. Chị đưa tay sờ xung quanh chiếc nắp và chạm phải một thanh sắt có lẽ đã gỉ. Chị đút thanh sắt vào cạnh chiếc nắp và nâng nó sang một bên. Tiếng động bị chiếc nắp sắt che kín lúc trước nghe xa xôi là thế, bây giờ từ dưới lòng đất sâu giội lên ùng ục...
... Hôm ấy, họ cùng nhau dạo chơi trong khe núi xanh xanh... bọn họ gồm có Ghê-raXơ-mê-tan-kin, Mi-sa Vê-li-cốp-xki, Ê-rơ-vin và Kết. Dạo đó, họ vẫn còn luôn miệng hát bài: "Bên kia đại dương có một xứ sở diệu huyền".
Lúc đầu, ở trong khe núi rất nóng và sực mùi lá kim: rừng ở đây toàn một loại cây lá kim màu xanh. Mọi người rất khát nước, vì vừa phải leo một cái dốc dựng đứng, đầy đá cuội to và nhọn. Nước không có và mọi người lấy làm ngạc nhiên tại sao lại không có nước. Ra khỏi khe núi này, họ sẽ leo lên một núi tuyết cao, nghĩa là phải có một dòng nước chảy trong khe núi này. Nhưng ở đây không có nước, chỉ có gió rì rào trên các ngọn cây thông, và tiếng rì rào ấy càng tăng thêm cảnh im vắng... Sau đó lốp đá cuội mất màu trắng vì được sưởi ánh mặt, trời, nó sạm đen dần và mười phút sau thì mọi người nhìn thấy một con suốỉ nhỏ róc rách trong khe đá và họ nghe rõ tiếng nước chảy mạnh xa xa. Rồi họ đi đến chỗ dòng sụối chảy ào ào, và họ cảm thấy mát lạnh dưới chân. Tiếp đó họ nhìn thấy tuyết, và khi họ leo lên núi tuyết, thì vạn vật xung quanh lại trở nên yên tĩnh, bởi vì dòng nước do tuyết tan ra đang chảy ngầm ở bên dưới." Họ cứ đi mãi, leo lên mãi mỗi lúc một lắng sâu vào sự im ắng của núi tuyết, và một cảm giác chiến thắng cao cả, lạ lùng xâm chiếm lòng họ giữa cảnh núi tuyết vời vợi, không một bóng người...
Tên mật thám tóc bạc bấm đèn pin, và tia sáng loá mắt của nó rọi vào tầng hầm.
- Các cậu nghe đây, cái tay sĩ quan ss bị bắn chết ở đằng ấy bằng một tay súng hay bằng cả hai tay súng, - lão ta hỏi mấy tên đi cùng.
Một tên trả lời:
- Tôi đã gọi điện tới phòng xét nghiệm, vẫn chưa có kết quả.
- Thế mà người ta bảo mọi việc ở cơ quan ghét-xta-pô chỉ nháy mắt là xong. Rặt một lũ khoác lác. Các cậu nhìn xem. Mắt tớ kém lắm rồi, không rõ ở đây có dấu vết gì không?
- ít bụi quá... Giá như bây giờ là mùa hè, thì...
- Giá bây giờ là mùa hè, và giá như chúng ta có một con chó săn thật giỏi, và giá như con chó săn đó được ngửi chiếc găng tay của mụ đàn bà chạy trốn ấy, thì nó sẽ lần ra dấu vết ngay lập tức. Này, mẩu thuốc hút dở kia của ai thế?
- Cũ rồi. Trông như một mảnh đá.
- Cậu sờ thử xem nào. Bởi vì rõ ràng là, trong nghề của chúng ta, cái gì cũng cứ sờ tận tay... May mà Hun-te sống độc thân, chứ nếu tớ có mệnh hệ nào, thì không hiểu các cậu sẽ báo tin cho Ma-ri-a nhà tớ ra sao đấy?
Thêm một tên mật thám nữa bước vào ngó nghiêng khắp tầng hầm xem có lối nào thoát ra ngoài hay không.
- Thế nào? - lão già tóc bạc hỏi.
- Ở đăng kia có hai lối ra, nhưng chúng bị bịt kín rồi.
- Bịt bằng gì?
- Bằng gạch đá.
- Có nhiều bụi không?
- Không, ở đằng ấy cũng như ở đây, toàn một thứ đá vỡ vụn, lấy đâu ra bụi ở trên mặt?
- Nghĩa là không có dấu vết gì?
- Dấu vết gì trên mặt lớp đá vụn...
- Chúng ta hãy đi xem lại một lần nữa cho chu đáo. Lũ quỷ sứ ấy khôn ngoan lắm.
Cả mấy tên cùng đi với nhau, vừa đi vừa nói chuyện nho nhỏ, thỉnh thoảng lại bấm đèn pin soi và những góc hiểm hóc, tổì tăm, ngổn ngang gạch đá và dầm sắt của tầng hầm. Lão già tóc bạc dừng bước, rút thuốc lá từ trong túi ra.
- Chờ tớ châm điếu thuốc cái đã, - lão ta nói.
Lão ta đang đứng ngay trên chiếc nắp sắt có gờ.
Kết nghe rõ tiếng chân bọn mật thám ở phía trên đầu mình. Chị nghe thấy cả tiếng chúng nói chuyện với nhau. Chị không phân biệt được từng tiếng, bởi vì ở sâu bên dưới chân chị, nước chảy ùng ục. Chị đứng trên hai cái móc treo, hai tay ôm hai đứa bé, lúc nào cũng chỉ cô giữ thăng bằng để khỏi ngã xuống đám nước bẩn thỉu đang chảy ùng ục ở bên dưói. Khi nghe thấy tiếng nói ngay trên đầu mình, chị quyết định: "Nếu chúng mở nắp ra, mình sẽ bước xuống bên dưới. Đó là lối thoát tốt nhất cho tất cả mọi người". Chị cảm thấy chú bé con đang cựa quậy: nó sắp khóc đến nơi mất. Chị không thể đung đưa nó trên tay cho nó khỏi khóc, vì như thế chị sẽ bị mất thăng bằng ngay.
- Khỉ quá, - lão già tóc bạc nói. - Diêm bị ẩm hết rồi!
- Tôi có bật lửa đây.
- Cám ơn, chiếc bật lửa của tớ bị vướng viên đá lửa ở chỗ bánh xe mà tớ không tài nào nậy ra được, mắt tớ kém rồi.
- Nên đưa thợ họ chữa cho.
- Tớ tìm mãi khắp Béc Lanh mà không thấy người thợ nào? - lão già tóc bạc trả bật lửa cho tên kia, nói. - Họ ra trận hết cả rồi.
- Đưa tôi chữa giúp cho vậy.
- Cám ơn anh bạn... quý hoá quá!
- Ta đi tiếp chứ?
- Nhất định rồi. Ta nên xem xét đến cùng, để sau này lương tâm khỏi cắn rứt.
Và cả bọn đi tiếp.
- Chú bé bắt đầu khóc. Lúc đầu chú chỉ ọ oẹ khe khẽ, nhưng Kết tưởng như chú bé hét to đến mức khắp bốn phía xung quanh người ta đều nghe thấy. Chị cúi xuống phía con thật khéo léo để khỏi mất thăng bằng và khẽ mấp máy môi hát một bài ru con. Nhưng chú bé mỗi lúc một khóc to hơn.
- Nín đi con! - Kết thì thầm, - nín đi, con ơi...
"Nó đòi bú đây mà, - Kết hiểu. - Và nó sẽ còn khóc cho đến khi mình cho nó bú mới thôi. Nhưng làm thế nào cho nó bú được bây giờ?".
May mà cháu gái vẫn ngủ yên như củ. ở phía dưới, sâu trong bóng tối, nước vẫn chảy ùng ục.
"Bao giờ chúng mới cút khỏi tầng hầm? - Kết nghĩ. - trời ơi, có ai giúp tôi với không?".

Chương 16
Muyn-lơ, Sôn-xơ và Sơ-tiếc-lít ngồi trong phòng làm việc đã bỏ không của viên dự thẩm Khôn- tốp, trên ba chiếc ghế kê cạnh tường. Trung tướng Ai-xơ-man mở cửa và dẫn một tên cảnh sát mặc sắc phục bước vào.
- Hai-lơ Hít-le! - tên cảnh sát chào to khi nhìn thấy bộ sắc phục cấp tướng của Muyn-lơ.
Muyn-lơ không đáp lại, chỉ khẽ nhếch mép cười. Để tiến hành thực nghiệm nhận mặt, bây giờ chưa thể mời các cộng sự viên khác trong cơ quan ghét-xta-pô tới, để chúng khỏi nghi ngờ Sơ-tiếc-lít quá sớm. Bởi vậy, y giao việc đốì chứng, hay nói đúng hơn việc nhận mặt này, cho ba người đã biết rõ diễn biến sự việc, phụ trách.
- Anh có biết ai trong số ba người ngồi ở đây không? - Ai-xơ-man hỏi tên cảnh sát.
- Không ạ, - tên cảnh sát trả lời, sợ hãi liếc
nhìn chiếc dải đeo đầy cuông huân chương và dấu hiệu thập hiệp sĩ trên ngực áo Muyn-lơ.
- Anh chưa gặp ai trong số ba người này à?
- Theo như tôi nhớ, thì tôi chưa gặp ai cả.
- Có thể anh chỉ gặp thoáng qua, trong lúc địch ném bom, khi anh đang đứng gác ở khu nhà đổ, chẳng hạn.
- Có rất nhiều người bận sắc phục đi xe đến xem khu nhà đổ. Bởi vậy, tôi không thể nhớ cụ thể được ạ, - tên cảnh sát trả lời.
- Cám ơn anh, - Ai-xơ-man nói. - Anh mời hộ người thứ hai vào đây.
Khi tên cảnh sát bước ra, Sơ-tiếc-lít nói:
- Làm theo kiểu này thì họ chỉ có thể nhận ra ngài thống chế của chúng ta được thôi. Bộ sắc phục của ngài làm cho họ mất vía.
- Không sao, - Muyn-lơ đáp. - Chẳng lẽ tôi cởi quần áo ra à?
- Vậy thì ít nhất cũng phải gợi cho họ nhớ lại một địa điểm cụ thể, - Sơ-tiếc-lít đề nghị. - Nếu không, họ khó mà nhớ lại được, bởi lẽ họ phải đứng gác ngoài phố mười tiếng đồng hồ một ngày, họ thấy mặt người nào cũng giống nhau cả thôi.
- Thôi được, - Muyn-lơ đồng ý, - anh hãy giúp họ... Anh không nhớ tay cảnh sát vừa rồi chứ?
- Không, tay cảnh sát vừa rồi thì tôi chưa gặp. Tôi sẽ nhớ những người tôi đã gặp.
Tên cảnh sát thứ hai cúng không nhận được ai. Mãi đến tên thứ bẩy mới là tên cảnh sát tuy trẻ nhưng có vẻ mặt ốm yếu, xanh xao như bị bệnh lao phổi.
"Nếu Muyn-lơ có lợi trong việc đánh gục mình hay nếu như hắn có bằng chứng trực tiếp, cụ thể - qua Kết và Pờ-lây-sơ-ne, - thì hắn đã đối xử khác với mình. Hắn đang lưỡng lự. Hắn đang tìm kiếm. Hắn không có kế hoạch định trước - thế là lại thêm một khả năng thắng lợi nghiêng về phía mình".
- Anh có nhìn thấy ai trong số ba người này không? - Ai-xơ-man hỏi.
- Không, tôi nghĩ là không ạ...
- Anh có đứng gác ở phố Kê-pê-ni-cơ không?
- A, có, có, - tên cảnh sát vui mừng, - ông này đã chìa tấm thẻ của mình cho tôi xem. Tôi đã để cho ông ấy đi lại chỗ đám cháy.
- Ông ấy đề nghị anh để ông ta đi lại chỗ đó à?
- Không ạ... Ồng ấy đi xe qua, mà tôi thì không cho xe nào chạy qua cả, ông ấy chìa tấm thẻ của mình ra... Và ông ấy đã đi bộ lại bên đám cháy... Nhưng sao kia ạ? - tên cảnh sát bỗng hoảng hốt. - Hay là ông áy không có quyền làm như vậy ạ?... Tôi biết rằng, đã có lệnh để cho người của cơ quan SĐ và ghét-xta-pô được phép đến tất cả mọi nơi.
- Ông ta có quyền, - Muyn-lơ đứng dậy, nói. - Ồng ta không phải là kẻ thù, đừng có nghĩ như thế... Tất cả chúng ta đều làm chung một việc. Vậy ông ấy làm gì ở đó, đi tìm một sản phụ trong đám cháy à?
- Không ạ... Người sản phụ đã được chở đi từ hồi đêm, còn ông ấy sáng hôm sau mới tới.
- Ông ta đi tìm đồ đạc của người phụ nữ không may ấy... Và anh đã giúp ông ta?
- Không ạ? - tên cảnh sát nhăn trán, - tôi nhớ là ở đó ông ấy có đẩy chiếc xe nôi giúp một người đàn bà nào đấy... Không phải tôi giúp ông ấy, tôi chỉ đứng bên cạnh thôi...
- Người đàn bà ấy có đứng cạnh mấy chiếc va-li không?
- Ai cơ ạ? Chiếc xe nôi có. phải không ạ?
- Không! Người đàn bà cơ.
- Chuyện ấy thì tôi không nhớ kỹ. Theo tôi, ở đó có mấy chiếc va-li thật, nhưng tôi không để ý đến, tôi nhớ kỹ chiếc xe nôi, Bởi vì nó bị đứt chỏng chơ, và ông này đã gấp lại để mang sang vỉa hè bên kia đường.
- Để làm gì? Muyn-lơ hỏi.
- Ớ bên ấy an toàn hơn, vả lại lính cứu hoả đứng đầy ở phía bên này. Họ đang kéo các ống cao su dẫn nước. Chúng có thể làm gãy chiếc xe nôi, lúc ấy cháu bé sẽ không có gì để nằm, sau đó người đàn bà đem chiếc xe nôi vào trong hầm trú ẩn cho con bà ta ngủ - tôi nhìn thấy rõ ràng.
- Cám ơn, - Muyn-lơ nói. - Anh đã giúp chúng tôi rất nhiều. Anh có thể ra về...
Khi tên cảnh sát đi khỏi, Muyn-lơbảo Ai-xơ-nìan:
- Cho những người còn lại ra về.
- Còn một người đứng tuổi nữa cơ, - Sơ-tiếc-lít nói. - Anh ta cũng sẽ xác nhận cho tôi.
- Thôi, thế đủ rồi, - Muyn-lơ cau mặt. - Đủ rồi.
- Tại sao lại không mời những người đứng ở góc phố, chỗ tôi phải lái xe đi vòng?
- Chúng tôi đã xác minh điều đó, - Muyn-lơ nói. - Sôn-xơ, người ta đã xác nhận với anh đúng như thế phải không?
- Thưa ngài thượng tướng, đúng như thế ạ.Ông Khen-vích, người hôm ấy ra lệnh bố trí các tốp cảnh sát và liên lạc với cơ quan phụ trách giao thông, đã gửi các tài liệu xác nhận tới.
- Cám ơn, - Muyn-lơ nói, - tất cả các anh có thể về nghỉ.
Sôn-xơ và Ai-xờ-man đi ra cửa. Sơ-tiếc-lít theo ngay sau họ.
- Anh Sơ-tiếc-lít ở lại gặp tôi một lát nữa, - Muyn-lơ ngăn anh.
đợi lúc Ai-xơ-man và Sôn-xơ đi khỏi, Muyn-lơ châm thuốc và đi lại bàn. Y ngồi xuống mép bàn - tất cả các nhân viên trong cơ quan ghét-xta-pô đều bắt chước kiểu ngồi đó của y - và hỏi:
- Được, các chi tiết như thế là khớp với nhau và tôi rất tin vào các chi tiết. Bây giờ anh hãy trả lời tôi một câu hỏi này nữa: giám mục Sơ-lắc hiện nay ở đâu, hở anh bạn Sơ-tiếc-lít thân mến?
Sơ-tiếc-lít vờ làm bộ ngạc nhiên. Anh quay ngoắt về phía Muyn-lơ và nói:
- Lẽ ra ngài nên bắt đầu từ câu hỏi đó!
- Tôi biết rõ hơn anh là nên bắt đầu từ câu hỏi nào, Sơ-tiếc-lít ạ. Tôi hiểu rằng, anh rất lo lắng, song anh cũng đừng quên sự lịch thiệp...
- Thưa ngài thượng tướng, tôi sẽ cho phép mình nói chuyện thẳng thắn với ngài.
- Cho phép mình à? Thế còn tôi thì sao?
- Thưa ngài thượng tướng, tôi hiểu rằng, nội dung tất cả các buổi nói chuyện điện thoại của Boóc-man đều nằm trên bàn của ngài thống chế ss Him-le sau khi Sê-len-béc đã xem qua. Tôi hiểu rằng, ngài không thể không thi hành mệnh lệnh của ngài thống chế. Ngay cả khi các mệnh, lệnh ấy xuất phát từ gợi ý của ông bạn ngài và ông sếp của tôi. Tôi muốn tin rằng, người lái xe của Boóc-man bị bên cơ quan ghét-xta-pô bắt giữ theo mệnh lệnh trực tiếp từ trên đưa xuống. Tôi tin rằng, người ta đã ra lệnh cho ngài bắt giữ lái xe đó.
Muyn-lơ uể oải nhìn vào mắt Sơ-tiếc-lít và cảm thấy cả người y căng lên, - y chờ đợi tất cả, trừ một việc này.
- Tại sao anh lại cho rằng... - định nói, nhưng Sơ-tiếc-lít liền ngắt lời y.
- Ngài thượng tướng, người ta đã ra lệnh cho ngài tố giác tôi bằng mọi biện pháp, qua mọi con người, trong mọi quan hệ - để tôi không thể tiếp tục gặp ngài Boóc-man. Tôi đã thấy ngài bố trí công việc ngày hôm nay như thế nào, - ngài vẫn có đầy đủ đức tính như mọi khi, nhưng, hôm nay ngài không có hứng làm việc, bởi vì ngài đã hiểu ai có lợi và ai không có lợi trong việc chấm dứt các cuộc gặp gỡ giữa tôi với Boóc-man. Tại sao thì tôi chỉ có thể nói điều đó với ngài sau khi tôi đi gặp ngài Boóc-man về. Bây giờ tôi không còn thời gian nữa. Ngài Boóc-man hẹn gặp tôi vào lúc năm giờ chiều. Tôi nghĩ rằng, ngài sẽ chẳng được lợi gì nếu thủ tiêu tôi.
- Anh sẽ gặp Boóc-man ở đâu?
- Cạnh viện bảo tàng Tự nhiên học.
- Ai sẽ lái xe? Tên tài xế thứ hai à?
- Không. Chúng tôi biết rằng, hắn đã bị Sê-len-béc mua chuộc qua cơ quan ghét-xta-pô.
- Chúng tôi là những ai?
- Chúng tôi là những người yêu nước Đức và Quốc trưởng.
- Anh sẽ đi gặp Boóc-man bằng xe của tôi, - Muyn-lơ nói, - điều đó sẽ đảm bảo an toàn cho anh.
- Cám ơn ngài.
- Anh hãy nhét máy ghi âm vào trong cặp để ghi lại toàn bộ buổi trao đổi với Boóc-man và anh nhớ đề cập đến số phận của tên lái xe với ông ấy. Anh nói đúng: người ta đã buộc tôi phải bắt giữ hắn và áp dụng kiểu hỏi cung thứ ba để hắn phải sợ. Sau đó anh hãy quay về đây, và chúng ta sẽ cùng nghe băng ghi âm với nhau. Xe của tôi sẽ đợi anh ở cạnh viện bảo tàng.
- Nhưng thế là không khôn ngoan, - Sơ-tiếc-lít trả lời. Anh đã nhanh chóng cân nhắc trong óc mọi diễn biến tình thế có thể xảy ra. - Tôi sống ở trong rừng. Chìa khoá phòng của tôi đây. Ngài hãy đi xe đến đó. Lần trước, Boóc-man đã tiễn chân tôi về tận nhà bằng xe của ông ta. Giá tên lái xe thú nhận điều đó, tôi tin rằng, ngài đã không hành hạ tôi suốt bảy tiếng đồng hồ vừa qua.
- Nhưng cũng có thể tôi buộc phải thi hành một mệnh lệnh mà theo đó mọi đau khổ của anh chấm dứt từ bảy tiếng đồng hồ trước đây rồi, - Muyn-lơ nói.
- Nếu điều đó xảy ra, thưa ngài thượng tướng, thì ngài sẽ phải đon phương độc mã chống chọi với rất nhiều kẻ thù ngay ở đây, trong toà nhà này, và tôi không tin rằng, ngài sẽ là người chiến thắng.
Ra đến gần cửa, Sơ-tiếc-lít mới hỏi:
- Nhân tiện, xin nói rằng, trong kế hoạch này của tôi, tôi rất cần mụ nhân viên điện đài người Nga. Tại sao ngài không chở cô ta đến đây? Và tại sao lại có cái trò ảo thuật, trơ trẽn với cái thứ mật mã gửi từ Béc-nơ về như vậy?
- Tất cả không ngây ngô như anh tưởng đâu. Chúng ta sẽ trao đổi cảm tưởng kỹ hơn ở nhà anh tại Ba-ben-xơ-béc, sau khi anh nói chuyện với Boóc-man trở về.
- Hai-lơ Hít-le! - Sơ-tiếc-lít chào to.
- Thôi, đủ rồi, - Muyn-lơ nóí, - tai tôi ù cả lên đây này...
- Tôi không hiểu... - dường như vấp phải một vật gì, Sơ-tiếc-lít dừng bước, tay không rời quả đấm cửa bằng đồng được gắn chặt vào tấm gỗ đen.
- Thôi xin anh. Tất cả các anh đều thừa hiểu cả rồi. Quốc trưởng không còn khả năng quyết định việc gì nữa, cho nên đừng lẫn lộn quyền lợi của nước Đức với cá nhân A-đôn-phơ Hít-le.
- Ngài hiểu rõ rằng...
Vâng, vâng, vâng! Tôi hiểu rõ! ở đây không có máy nghe trộm, và sẽ không ai tin anh, nếu anh nói lại lời lẽ của tôi, vả lại anh cũng chả.dám nói lại với bất cứ ai. Nhưng nếu anh không chơi một ván bài tinh vi hơn ván bài mà anh trói buộc tôi phải chơi, thì anh nên hiểu rằng, Hít-le đã đưa nước Đức tới thảm hoạ. Và tôi không thấy có cách nào thoát khỏi tình thế hiện nay cả. Anh hiểu chưa? Không có cách nào hết. Anh hãy ngồi xuống đây đã nào? Còn những hai mươi phút nữa, mà anh chỉ cần năm phút là đến chỗ hẹn, nhiều lắm thì cũng chỉ bảy phút thôi. Sao, anh tưởng Boóc-man có kế hoạch cứu vãn tình thế à? Một kế hoạch khác với kế hoạch của ngài thống chế Him-le? Anh hãy suy nghĩ kỹ thêm về điều đó! Người của Him-le ở ngoại quốc bị theo rõi riết, ông ta chỉ đòi hỏi họ làm việc mà không bảo vệ họ. Nhưng chưa có một nhân vật nào trong các học viện Đức - Mỹ, Đức - Anh và Đức - Bra-xin bị bắt cả. Him-le không thể biến mất trong thế giới này. Còn Boóc-man thì có thể. Đó là điều anh nên nghĩ đến. Và anh hãy bảo Boóc-man - anh cô nghĩ cách nói thế nào cho thật khéo léo - rằng ông ấy sẽ không làm nổi việc lớn, nếu không sử dụng các nhà tình báo chuyện nghiệp, một khi tất cả sắp sửa đến chỗ đổ vỡ hoàn toàn. Phần lớn số tiền Him-le gửi ở các nhà băng nựớc ngoài đều bị phe đồng minh nắm được. Còn tiền bạc của Boóc-man nhiều gấp hàng trăm lần của Him-le, nhưng có ai biết đâu. Bằng cách giúp Boóc-man đánh gục các kẻ thù của ông ấy, tương lai anh sẽ được bảo đảm, Sơ-tiếc-lít ạ. Vàng bạc của Him-le chỉ là thứ đồ chơi nhỏ mọn, làm bình phong che đỡ cho vàng bạc của Boóc-man. Hít-le thừa hiểu rằng, vàng bạc của Him-le là thứ không cần kiểm tra, vì nó chỉ phục vụ những mục đích chiến thuật trước mắt, còn vàng bạc của đảng Quốc xã, vàng bạc của Boóc-man, đấy mới là thứ không phải để chi cho những tên điệp viên chấy rận và bọn lái xe của các vị tai to mặt lớn - bọn này đã bị mua chuộc, chỉ chuyến đi chở gái cho họ theo lệnh của Sê-len-béc - mà để nuôi dưỡng hàng trăm ngàn người có trí tuệ. Cùng với thời gian, rồi những người ấy sẽ hiểu rằng, trên thế giới không có con đường nào khác, ngoài con đường của chủ nghĩa quốc xã. Vàng của đảng là chiếc cầu dẫn đến tương lai, là lời kêu gọi con cái chúng ta, cái thế hệ bây giờ mới được một tháng, một tuổi, ba tuổi. Những đứa bây giờ mười tuổi không cần đến chúng ta, không cần đến tư tưởng của chúng ta. Chúng sẽ không tha thứ cho chúng ta về sự đói khát và cảnh bom đạn. Nhưng còn những đứa bây giờ chưa biết gì, sau này sẽ nói về chúng ta như một huyền thoại. Cần phải nuôi dưỡng huyền thoại ấy. cần phải tạo ra những con người biết kể câu chuyện huyền thoại ấy, những người nhắc lại lời lẽ của chúng ta theo một kiểu khác, phù họp với không khí của nhân loại hai chục năm sau. Chỉ cần ở nơi nào đó người ta thay chữ "Dơ-đrát-xơ-vui-che" bằng chữ "Hai-lơ" để chào một nhân vật nào đó, thì anh hiểu rằng, ở đấy người ta đang chờ đợi chúng ta, và chúng ta sẽ bắt đầu sự phục sinh vĩ đại của mình từ nơi ấy! Đến năm 1965 anh sẽ bao nhiêu tuổi? Gần bảy mươi à? Anh là một người thật hạnh phúc, anh sẽ sõng đến ngày đó và sẽ chơi nốt ván cờ. Bảy mươi tuổi là tuổi hoàng kim của các nhà chính trị. Còn tôi lúc ấy đã suýt soát tám mươi rồi... Bởi vậy, tôi quan tâm đến Lời chào của người Nga. mười năm sắp tới, và nếu như anh có muốn gây dựng cơ nghiệp, thì anh đừng ngại tôi, ngược lại, anh hãy nhớ đến tôi với ý nghĩ rằng Muyn-lơ là một lão già mệt mỏi, nhưng tượng trưng cho ghét- xta-pô. Lão ta không bòn mót tiền của trong lúc giữ chiếc ghế này. Lão ta muốn sống nốt quãng đời còn lại một cách bình yên trong một trang trại nhỏ bé nào đó có bể bơi màu xanh, bởi vậy bây giờ tôi sẵn sàng tham gia một hoạt động tích cực... Và dĩ nhiên, không nên nói điều này với Boóc-man, nhưng anh hãy nhớ rằng: để có thể rời Béc Lanh đến một trang trại nhỏ ở xứ nhiệt đới, không nên vội vàng. Nhiều con chó ghẻ của Quốc trưởng sắp bỏ chạy khỏi đây, và chúng sẽ bị sa lưới... Còn đến khi đại bác Nga đã gầm rít trong thành phố Béc Lanh và quân lính đang chiến đấu giành giật từng ngôi nhà, thì lúc ấy ta có thể yên tâm rời bỏ nơi này ra đi, không cần khép cửa lại sau lưng... Ra đi và mang theo bí mặt kho vàng của đảng mà chỉ có Boóc-man với Quôc trưởng được biết. Khi Quốc trưởng mất đi, ta cần phải trở thành người tối cần thiết đối với Boóc-man. Lúc ấy, ông ta sẽ trở thành Mông-tơ Cờ-ri-xtô của thế kỷ hai mươi. Nghĩa là lúc này đang diễn ra cuộc đua tranh về lòng kiên nhẫn, anh Sơ-tiếc-lít ạ, mà nguyên nhân thật sự của nó chỉ có một, có một thôi... Đó là bản chất đơn giản và đẹp đẽ của con người... còn bây giờ thì anh đi đi. Sôn-xơ sẽ trao máy ghi âm cho anh ở cạnh xe... Thế nào? Anh bảo sao? Tôi không tin việc anh sẽ nói rằng, anh tin tưởng ở thắng lợi của Hít-le. Thôi, anh đừng trả lời tôi nữa. Khi ngồi trên xe, mong anh hãy suy nghĩ về những điều tôi vừa nói và hãy nhớ tôi đã mời anh cộng tác với tôi như thế nào: trong vòng năm phút và không màu mè gì cả. về Sê-len-béc thì chúng tôi sẽ nói chuyện tối nay, khi đã rỗi rãi. Nhưng anh phải nói với Boóc-man rằng, thiếu sự giúp đỡ trực tiếp của tôi thì anh và ông ấy không làm nổi việc gì ở Thuỵ Sĩ đâu.
- Trong trường hợp đó, - Sơ-tiếc-lít chậm rãi trả lời, - người ông ấy sẽ cần đến là ngài, chứ không phải tôi. Tôi sẽ trở thành người thừa...
- Boóc-man hiểu rằng, thiếu anh thì một mình tôi sẽ không làm nên sự nghiệp gì. Tôi có ít người của mình nằm trong cơ quan của ông sếp của anh lắm.
Sơ-tiếc-lít đi rồi, Muyn-lơ còn ngồi một mình khá lâu trong phòng làm việc của Khôn-tốp. Y ngồi, đầu cúi gục xuống ngực, lưng còng lại, hai tay buông thõng. Sau đó, y nặng nề đứng dậy và đi về phòng mình. Qua chỗ Sôn-xơ, y hỏi:
- Thế nào?
- Thưa ngài, đã lùng sục khắp khu vực quanh trại trẻ, nhưng không sao tìm ra mụ ta...
- Những người bố trí ở nhà Sơ-tiếc-lít có báo tin gì về không'-?
- Không thấy ai..gọi điện thoại, không thấy ai về cả...
- Cứ để họ ngồi chờ thêm một thời gian nữa. Khi nào xe của Boóc-man chạy gần đến Ba-ben- xơ-béc, thì anh báo cho họ rút lui. Bảo họ khi ngồi trong phòng đừng có hút thuốc lá và gạt tàn xuống thảm. Và lệnh cho tất cả các bên xe bắt giữ tất cả những người phụ nữ trẻ có bế con nhỏ đang bú đưa về đồn cảnh sát. Đã có ảnh mụ ta chưa?
- Thưa ngài, đã phân phát rồi ạ!
Muyn-lơ gật đầu, đi về phòng mình, mở tủ sắt lấy ra một chai rượu trắng cất tại vùng quê Ba-va-ri-a và đưa cả chai lên tu hai ngụm thật to.
Kết cảm thấy hai chân chị tê dại hẳn đi. Cháu gái đã thức dậy, và bây giờ cả hai đứa cùng thi nhau khóc. Chị đã hiểu rằng, đứng ở phía trên không thể nghe thấy tiếng khóc được: chị nhớ rằng, tiếng nước chảy mạnh là thế mà mãi đến khi chị ngã xuống nắp sắt này mới nghe thấy được. Nhưng nỗi hoảng sợ khiến chị không dám đẩy chiếc nắp để bò lên. Chị hình dung tỉ mỉ mình sẽ lấy đầu đội chiếc nắp sắt ra sao, đặt hai đứa bé lên như thế nào, chị sẽ duỗi thẳng tay nghỉ ngoi một phút trước khí leo lên, chị kéo dài thời gian thêm từng phút bằng cách bắt mình phải đếm từ một đến sáu mươi. Khi cảm thấy mình bắt đầu vội vàng đếm cho nhanh, Kết liền dừng lại và đếm từ đầu. Hồi học năm thứ nhất Đại học Tổng hợp, chị có tham gia một buổi thảo luận đặc biệt: "Cách điều tra nơi xảy ra sự việc". Chị còn nhớ các vị dự thẩm ở Pê-tơ-rốp-ca đã hướng dẫn bài học thực hành và dạy mọi người chú ý đến từng chi tiết nhỏ như thế nào. Chắc vì lý do đó mà trước khi chui xuống đây và kéo chiếc nắp đậy lại bằng tay trái, vì tay phải ẵm con, chị đã khôn ngoan rải một vốc đá vụn lên trên chiếc nắp.
"Mình đứng thế này bao nhiêu lâu rồi nhỉ? - Kết nghĩ. - Một giờ? không, lâu hơn. Hay là chóng hơn? Mình không còn biết ra sao nữa, mình phải mở nắp chui lên thôi, nếu chúng nó còn bao vây ở đây, mình sẽ bước xuống phía dưới, thế là xong".
Bỗng nhiên chị nhìn thấy rõ như trong ảnh - căn phòng, vũng máu chảy từ cổ Rôn-phơ ra, những ngón tay của hắn chậm chạp dò dẫm như cố sờ soạng tấm ván lát, và bên cạnh mấy ngón, tay đang chuyển động chậm rãi kỳ quặc ấy là cái bao súng màu đen... Lúc đó chị chẳng còn bụng dạ nào nghĩ đến cái bao súng màu đen ấy, chị chỉ nghĩ đến đứa con đang nằm khóc trên bận gần chiếc cửa sổ mở toang.
"Mình cần gì đến khẩu súng nhỉ? Nếu bước xuống dưới kia thì tất cả sẽ chấm dứt nhanh thôi, - Kết nghĩ. - Bây giờ chẳng cần đến súng".
Chị tì đầu trên chiếc nắp sắt đẩy mạnh, nhưng nó không động đậy, Kết bám chân thật chắc và lại đẩy lần nữa.
"Chúng nó đã đứng ở bên trên, - chị nghĩ, - cho nên mới khó mở đến thế. Không sợ, cái nắp sắt này đã cũ và gỉ rồi, mình sẽ đội lên được, nếu nó không chuyển, mình sẽ giải phóng tay trái, cho nó nghỉ một lát, dùng tay phải bế cả hai đứa và lấy tay trái mở nắp. Tất nhiên mình sẽ mở được. Có lẽ bây giờ mình nên chuyển cháu gái sang bên tay phải. Dĩ nhiên mình sẽ không đánh rơi nó xuống dưới kia, làm sao mình có thể đánh rơi được. Đề phòng bất trắc, mình sẽ dùng răng cắn chỗ buộc tã - đề phòng thế thôi. Tay trái sẽ được nghỉ".
Chị thận trọng chuyển cháu đang khóc sang nửa ngực bên phải và định giơ tay trái lên, nhưng chị hiểu rằng, không thể làm như vậy được: tay chị cứng đờ và không chịu nghe lời chị.
"Không sao, - Kết tự nhủ. - Điều đó chẳng có gì đáng sợ. Bây giờ mình như đang bị trăm nghìn mũi kim châm vào, nhưng sau đó sẽ ấm dần lên và chịu nghe lời mình. Tay phải sẽ giữ chắc hai đứa bé: cũng nhẹ thôi. Chỉ mong cháu gái đừng giãy giụa mạnh. Nó nặng hơn con giai mình. Nhiều tháng hơn và nặng hơn...".
Kết bắt đầu thận trọng nắm tay và lại xoè tay ra. Chị nhớ đến ông lão láng giềng của gia đình chị ở nhà nghỉ ngoại ô. Người cao, gầy, cặp mắt xanh sáng lên lạ Ịùng, ông già bước sang hàng hiên nhà chị và khinh bỉ nhìn gia đình chị ăn bánh mì với bơ. "Thật là điên rồ", - ông già nói. - Ăn giò và phó-mát thì chẳng khác gì uống thuốc độc. Đó chỉ là những chất thải độc hại của cơ thể! Còn banh mì Đó là chất mát-tít! Chỉ nên ăn thịt nấu bằng sương gỗ! Ăn ớt! Bắp cải! Củ cải vàng! Như thế sẽ sống đến muốn đời! Tôi có thể sống một triệu năm! Đúng, đúng thế, tôi biết anh chị cho tôi là tay nói khoác! Không đâu, chẳng qua là tôi cho phép mình suy nghĩ táo bạo hơn các thầy thuốc bảo thủ của chúng ta đấy thôi! Không có bệnh tật! Chữa bệnh viêm loét hay bệnh lao là chuyện nực cười! Phải chữa chạy tê bào kia! Cơ sở tạo nên tuổi thanh xuân vĩnh viễn là chế độ ăn uống, tập thở và liệu pháp tinh thần! Anh chị hãy nuôi dưỡng tế bào, nền tảng của sự sống, một cách thông minh, hãy sáng suốt cung cấp dưỡng khí cho nó, và hãy nâng đỡ nó bằng cách tập luyện, anh chị hãy biến nó thành đồng minh của mình trong lúc trò chuyện với nó và với hàng tỉ tê bào còn lại quyết định thực thể anh chị. Anh chị nên hiểu rằng, mỗi người chúng ta không phải là một con người yếu ớt sống dưới quyền lực của những hoàn cảnh và trường hợp ngẫu nhiên, mà là lãnh tụ của một quốc gia bao gồm hàng triệu tê bào, một quốc gia thông thái nhất trong số tất cả những quốc gia tồn tại dưới ánh mặt trời, trong số tất cả các hệ thống Thiên hà! Trong số tất cả các Thiên hà! Cuối cùng, anh chị nên hiểu rằng, anh chị là ai! Hãy mở mắt ra mà nhìn chính mình! Hãy học cách tôn trọng bản thân và đừng sợ gì hết. Mọi nỗi sợ hãi trên thế giới này đều phóng đại và tức cười, nếu ta hiểu được sứ mệnh của con người là làm một con người!".
Kết thử cố gắng kể chuyện với các ngón tay của mình. Nhưng hai đứa trẻ khóc mỗi lúc một to, và chị hiểu rằng, mình chẳng còn thời giờ đâu mà trò chuyện với đạo quân tế bào của mình nữa. Chị giơ cánh tay trái lúc này vẫn còn tê dại, vô tri, vô giác lên để lay chiếc nắp sắt. Nó đã hơi xê dịch. Kết dùng đầu trợ lực, thế là chiếc nắp nhích hẳn sang một bên. Chẳng buồn nhìn xem có ai đứng trong tầng hầm hay không, Kết đặt hai đứa trẻ lên mặt đất, leo lên và nằm ngay xuống bên cạnh: người chị rã rời và tâm trí không còn quan tâm đến bất cứ điều gì nữa, sự truy nã đã đẩy chị tới giới hạn cuối cùng ngăn cách con người và loài vật...
- Cái chết chỉ khác sự sống ở hai nhân tố: khối lượng và sự vận động. Người sống thì ở trong một nơi trú ngụ khép kín lớn hơn hẳn chiếc quan tài. Cái nơi trú ngụ ấy gọi là ngôi nhà, là tổ ấm gia đình, là bệnh viện dành cho những người bị rối loạn thần kinh, là nhà thổ, là nghị viện. Thỉnh thoảng có thể tạm biệt hoặc ngược lại, đến thăm cái nơi đó. Toàn bộ sự khác nhau là ở đấy, - người tiếp chuyện giám mục Sơ-lắc nói. Đó là một người Y cao và gầy, hiển nhiên đã già nhưng vẫn tỏ ra mình còn trẻ. - Tôi không sợ, nếu mình trở thành một kẻ vô liêm sỉ. Tôi mời ngài đi. tới một sự thành thật mà sự thành thật đó phải mang tính chất vô liêm sỉ. Sự thành thật chính là thực thể tối thượng, khôn ngoan và có chủ đích của thái độ vô liêm sỉ. Hoặc, ngược lại, tôi chưa bao giờ suy nghĩ đến các hình thức diễn đạt và tin vào các rung động cảm giác.
- Tôi rất đau lòng khi nghe ông, - giám mục nói, - Bởi vì giờ đây, từng phút một, ở nước Đức những người phụ nữ đói khát và những trẻ em vô tội đang bị chết vì bom đạn., Có thể đi tới những kết luận phi lô-gích trong thời bình, còn giữa những ngày chiến tranh ác liệt điều đó thật là tàn nhẫn.
- Tôi lại không thể đồng ý với ngài được rồi: mỗi ngày hoà bình đều bao trùm không khí chiến tranh, và ngược lại - những giờ phút đáng sợ của chiến tranh chứng tỏ những ngày hoà bình đang tiến đến gần. Chúng ta sống trong một ba-ra-bôn bí ẩn. Nguyên nhân thực sự của lịch sử là tính không nhận thức được của các dạng hÌỊm học, và thậm chí ngay cả cái nghề giả dối là công tậc ngoại giao cũng lôi cuốn tôi bằng cái đẹp của những mô hình toán học mỹ miều của nó, nếu ta nhìn nó từ một khoảng cách nhất định!
- Tôi thật khó nói chuyện công việc nghiên túc với ông, - giám mục nói, - mà tranh cãi nhau về các vấn đề thì không có thời gian. Những vị hứa hẹn giúp đỡ tôi đều dặn rằng ông có khả năng giới thiệu tôi với những người đang quyết định số phận hàng triệu người ở Đức. Nếu chúng ta có thể đem lại nền hoà bình cao quý sớm hơn, dù chỉ một ngày, chúng ta cúng-sẽ được tha thứ nhiều điều trong tương lai.
- Xin ngài cứ nói. Tôi sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi của ngài.
- Không cần ông phải trả lời mọi câu hỏi. Tôi sẽ không tin ông nữa, nếu ông đồng ý trả lời mọi câu hỏẼ
- Ngài khôn khéo lắm!
- Tôi không phải là nhà ngoại giao. Tôi đến đây vì được giao phó...
- Vâng, vâng, tôi hiểu... Người ta đã thông báo với tôi ít nhiều về ngài. Câu hỏi thứ nhất: ngài đại diện cho ai?
- Xin lỗi, nhưng trước hết tôi phải được nghe ông trả lời đã: ông là ai? Tôi sẽ nói đến những người còn ở trong tay Hít-le. Cái chết đang đe doạ họ và những người thân của họ. Chẳng có gì đe doạ ông, vì ông đang ở một nước trung lập.
- Ngài tưởng rằng ở một nước trung lập không có các nhân viên của ghét-xta-pô hoạt động chăng? Nhưng đó là chuyện riêng, không liên quan gì tới cuộc trao đổi giữa chúng ta. Tôi không phải là người Mỹ và cũng khộng phải là người Anh.
- Tôi biết điều đó qua giọng nói tiếng Anh của ông. Hẳn ông là người Ý?
- Vâng. Tôi sinh ra ở Y. Nhưng tôi là công dân Hoa Kỳ, và bởi thế ngài có thể nói chuyện với tôi một cách hoàn toàn thành thật, nếu như ngài tin lời những vị đã giúp chúng ta gặp nhau.
Giám mục nhớ lại băng ghi âm một buổi trò chuyện mà Bơ-ruy-ninh cho ông nghe. bởi vậy, ông nói:
- Những người bạn của tôi ở tổ quốc cho răng, và tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm của họ, việc đầu hàng của tất cả các đơn vị quân đội Đức và việc tiêu diệt toàn bộ lực lượng ss trong thời gian gần nhất sẽ cứu sống hàng triệu sĨỊm mệnh. Các bạn tôi muốn biết rằng, chúng tôi cần plịải tiếp xúc với ai trong số các đại diện của phe đồng minh.
- Ngài muốn nói đến sự đầu hàng cùng một lúc của tất cả các đạo quân Đế chế ở phía tây, phía đông, phía nam và phía bắc?
- Ông định đề nghị một phương án khác hay sao?
- Câu chuyện giữa chúng ta có sắc thái lạ lùng: phía tha thiết được thương lượng là người Đức, chứ không phải chúng tôi, bởi vậy, người đặt điều kiện là chúng tôi, có đúng thế không, thưa ngài? Để các bạn tôi có thể tiến hành trao đổi với ngài về những vấn đề cụ thể, chúng tôi cần biết - như cổ nhân đã dạy chúng ta: - ai? bao giờ? bao nhiêu? với sự giúp đỡ của ai? Nếu không, chúng tôi có thể coi ngài chẳng qua chỉ là một điệp viên ghét-xta-pô đã bị kẻ khác mua chuộc, hoặc là một người đã mất những bảo đảm cần thiết, hoặc là một nhân vật đã bị một kẻ khác lợi dụng làm thông tin giả.
- Tôi không phải là nhà chính trị. Có thể, ông nói đúng... Nhưng tôi mong ông tin vào lòng thành thực của tôi. Tôi không biết hết tất cả những nhân vật đứng sau nhóm người đã cử tôi sang đây, nhưng tôi biết rằng, người đại diện cho nhóm đó là nhân vật có đủ ảnh hưởng.
- Đó là trò chơi mèo vờn chuột! Trong hoạt động chính trị, tất cả phải sáng tỏ ngay từ đầu. Chỉ có những người đọc tin tức thời sự trên báo mới tưởng rằng, các nhà chính trị ranh ma, khôn ngoan giấu giếm và chủ yếu là lừa dối nhau. Các nhà chính trị mà cả với nhau, bởi vì không có gì bí mật đối với họ. Họ cân nhắc giá cả từng thứ. Khi họ không biết mà cả, họ sẽ bị các chiến hữu lật họ, nếu họ đại diện cho một nhà nước tông lực, hoặc sẽ bị thất bại trong cuộc tuyển cử sau, nếu họ đại diện cho chế độ dân chủ nghị viện. Tôi khuyên ngài hãy nói với các bạn của ngài răng, chúng tôi sẽ không nói chuyện với họ, khi chưa biết họ đại diện cho ai, chưa biết cương lĩnh tư tưởng của hp cùng những kế hoạch mà họ định thực hiện ở Đức nếu họ nhận được viện trợ của chúng tôi.
- Cương lĩnh tư tưởng đã rõ ràng: nó dựa trên quan điểm chống chế độ quốc xã.
- Đó là cấp độ đầu tiên của hệ tư tưởng. Nhưng các bạn của ngài nhìn nhận tương lai của nước Đức ra sao? Nước Đức sẽ đi theo hướng nào? Các ngài định đưa ra khẩu hiệu gì cho người Đức? Nếu ngài không thể trả lời thay cho các bạn của ngài, thì tôi muốn biết quan điểm của ngài ra sao?
- Quan điểm của tôi sẽ mang tính chất chủ quan, - giám mục trả lời. - Kể ra, nếu ông lo sợ khuynh hướng cộng sản, thì ông lầm. Nhưng tôi cho rằng, thật là quái dị nếu định giữ lại, - dù dưới hình thức biến dạng - bộ máy ầàn áp nhân dân Đức đang tồn tại ở Đức hiện giờ.
- Xin hỏi: ai sẽ có thể giữ nhân dân Đức trong khuôn khổ trật tự, nếu Hít-le bị lật đổ? Các nhà tôn giáo ư? Những người bị giam giữ trong các trại tập trung chăng? Hay là những người đang cầm đầu các đơn vị cảnh sát và mật thám đã quyết định tuyệt giao với chế độ Hít-le?
- Lực lượng cảnh sát và mật thám ở Đức nằm trong tay thống chế ss Him-le...
- Tôi có nghe nói như thế...
- Nghĩa là phải làm sao duy trì quyền lực của bọn ss, bọn người mà các ông cho rằng, có khả năng giữ nhân dân Đức trong khuôn khổ trật tự để họ khỏi trở thành một dân tộc vô chính phủ, có phải thế hay không?
- Nhưng ai đề nghị như thế mới được chứ? Theo tôi, vấn đề ấy chưa hề được thoả thuận ở bất cứ đâu, - gã người Y nói, chằm chằm nhìn giám mục và lần đầu tiên trong suổt buổi nói chuyện, lần này gã không cười.
Giám mục đâm hoảng ; vì ông hiểu rằng, ông đã lỡ lời. Cái thằng cha Ý khôn ngoan này sẽ bám chặt lấy câu nói vừa rồi để khai thác ở ông tất cả những điều gì.ông được biết qua băng ghi âm về các cuộc thương lượng giữa bọn Mỹ với lực lượng ss mà Bơ-ruy-ninh đã cho ông nghe. Giám mục hiểu rằng, ông không biết nói dổỉ: nét mặt ông bao giờ cúng biểu lộ mọi ý nghĩ của ông.
Nhân vật người Ý - một trong những cộng sự viên, làm việc tại văn phòng của Đa-lét ấy - sau khi trở về nhà, đã suy nghĩ rất lâu trước khi ngồi vào bàn viết bản báo cáo về buổi gặp gỡ vừa rồi.
"Hoặc ông ta là một con số không tròn trĩnh, - gã nghĩ - chẳng đại diện cho ai ở Đức, hoặc ông ta là một tình báo viên lão luyện. Ông ta không biết mà cả, nhưng ông ta không nói gì với tôi. Thậm chí có lẽ ông ta biết rõ ý định của chúng ta hơn là mình biết rõ khả nãng của bạn bè ông ta. Những câu nói cuổì cùng của ông ta chứng tỏ rằng, họ đã biết ít nhiều về việc chúng ta thương lượng với Các-lơ Vôn-phơ".
Kết không có tiền đi tàu điện ngầm. Thế mà chị lại phải đi đến một nơi nào đó có chỗ sưởi ấm để có thể cho hai đứa bé bú và thay tã lót cho chúng. Nếu không, chúng sẽ chết vì đã ở nhiều giờ ngoài trời lạnh.
"Nếu vậy thì thà chết ngay từ sáng hoặc từ lúc đứng dưới chiếc nắp sắt còn hơn", - Kết nghĩ thầm, ý nghĩ đến với chị dường như từ một nơi rất xa. '
Khái niệm nguy hiểm đã trở nên nhàm đối với chị: chị bước ra khỏi tầng hầm và đi thẳng tới bến xe buýt mà không buồn nhìn trước ngó sau. Chị không hiểu rõ là mình sẽ đi đâu, làm sao lấy được vé, đặt hai đứa trẻ - dù chỉ một phút - ở chỗ nào. Chị nói với người bán vé rằng, chị không có tiền, vì toàn bộ tiền nong đã bị chôn vùi trong ngôi nhà trúng bom. Người bán vé lẩm bẩm điều gì đó rồi khuyên chị nên đến trạm đón tiếp những người chạy loạn. Kết ngồi xuống cạnh cửa sổ và cảm thấy cơn buồn ngủ không sao cưỡng lại được, vì ở đây không đến nỗi bất lạnh cóng như ở ngoài trời. "Mình không nên ngủ, - chị tự nhủ, - mình không có quyền ngủ".
Và ngay lập tức chị thiếp đi.
Kết cảm thấy người ta xô đẩy chị và nắm hai vai chị mâ lắc như thế nào, song chị không thể mở mắt ra được. Chị thấy ấm áp, dễ chịu quá, và tiếng trẻ khổc cũng như vọng lại từ xa.
Chị mơ một giấc mơ với những màu sắc lạ lùng, từ trong tiềm thức chị thấy lúng túng trước tính đa cảm vô vị của những giấc mơ ấy - kìa, chị cùng với cậu con trai đi trên một tấm thảm xanh, dày và êm dịu để bước vào một ngôi nhà nào đó, con trai chị đã biết đi, tay nó cầm một con búp-bê mặc váy trắng, áo đỏ. Ra đón mẹ con chị có Ê-rơ-vin, mẹ chị và ông lão láng giềng, người đã hứa hẹn sẽ sống mật triệu năm...
- Dậy, dậy, chị ơi! - Có ai đó lay chị rất mạnh, khiến thái dương chị chạm vào cửa kính lạnh buốt. - Dậy, dậy đi!
Kết mở mắt ra. Người bán vé và một viên cảnh sát đứng bên chị trong chiếc xe buýt tranh tối tranh sáng.
- Cái gì? - Kết ôm chặt hai đứa trẻ vào lòng, hỏi nhỏ. - Cái gì thế?
- Báo động, - người bán vé trả lời, giọng cũng rất thấp. - Ta đi thôi...
- Đi đâu?
- Xuống hầm trú ẩn, - viên cảnh sát nói. - Chị đưa cháu chúng tôi bế giúp cho.
- Không, - Kết ôm chặt hai đứa. trẻ hơn và nói. - Tôi tự bế được.
Người bán vé nhún vai, nhưng không nói gì thêm. Viên cảnh sát đỡ tay dìu ra hầm trú ẩn. ở đây ấm áp và tối mò mò. Đâu đó có tiếng khóc trẻ em. Kết lánh vào một góc - hai cậu bé đứng dậy khỏi ghế nhường chỗ cho chị.
- Cám ơn các cậu.

Chị đặt hai đứa bé bên cạnh mình và nói với cô gái trong Hội thanh niên Hít-le làm nhiệm vụ trực nhật dưới hầm trú ẩn:
- Nhà tôi bị trúng bom, bây giờ đến một cái tã tôi cũng chẳng còn. Cô hãy giúp tôi! Tôi không biết làm thế nào bây giờ...
Cô gái gật đầu và đi sâu vào trong một góc tối, chỗ ngồi của chị em phụ nữ có con mọn: chắc đấy là nơi an toàn nhất. Lát sau, cô gái.quay lại với mấy chiếc tã.
- Đây, có bốn chiếc, - cô gái nói, - đủ cho chị dùng một ngày đầu. Tôi khuyên chị sáng mai nên đến "Trạm cứu giúp nạn nhân" gần nhất - chỉ cần có giấy chứng nhận của đồn cảnh sát gần nơi chị ở và thẻ căn cước của chị là được.
- Vâng, dĩ nhiên, cám ơn cô - Kết trả lời và bắt đầu thay tã lót cho hai đứa trẻ. - Cô ơi, ở đây có nước không? Có nước và bếp lò không? Tôi muốn giặt mấy chiếc tã ướt này đi, như thế tôi sẽ có tám chiếc, đủ dùng cho cả ngày mai...
- Nước lạnh thì có, còn xà-phòng thì tôi nghĩ rằng, người ta sẽ cấp cho chị. Lát nữa chị lại gặp tôi, tôi sẽ lo liệu giúp chị.
- Cám ơn cô nhiều lắm.
- Đó là nhiệm vụ của tôi.
Khi hai đứa bé được bú no đã thiếp đi, Kết cũng dựa lưng vào tường và quyết định ngủ một giấc, dù chỉ nửa tiếng đồng hồ. "Bây giờ mình chả nghĩ được gì nữa, - người mình nóng hầm hập, có lẽ mình bị cảm lạnh lúc đứng dưới chiếc nắp sắt... Hai đứa nhỏ sẽ không thể cảm lạnh được, bởi vì chúng đã được ủ ấm và lúc này chân tay chúng rất ấm. Mình phải ngủ một chút, sau đó sẽ nghĩ cách đối phó tiếp".
Và những giấc mơ lằng nhằng lại kéo đến với chị. Những mầu sắc khác nhau: xanh, trắng, đỏ, đen thay đổi xoành xoạch làm mắt chị nhức nhối. Chị chăm chú theo dõi sự thay đổi màu sắc cực nhanh ấy. "Có lẽ đồng tử mắt của mình đang chạy qua chạy lại, - bỗng Kết hiểu ra, - điều đó rõ rệt như đại tá Xu-dơ-đan-xép từng nói ở trường đào tạo". Và chị sợ hãi đứng bậy dậy. Tất cả mọi người
đang ngủ gà ngụ gật, tiếng bom nổ xa xa, tiếng bom vọng lại nbư qua một tấm chăn bông.
"Mình phải đến nhà anh Sơ-tiếc-lít", - Kết tự nhủ và ngạc nhiên về việc lúc này chị lại suy nghĩ một cách bình tĩnh, rõ ràng và hợp lô-gích như thế, "Không được, - một người nào đó phản đối trong con người chị, - cô không được đến nhà anh ấy. Chúng nó chẳng tra hỏi cô về anh ấy đấy thôi". "Vâng, nhưng bây giờ tôi biết chui rúc đâu? Có lẽ tôi nên tự mình dẫn xác đến cợ quan ghét-xta-pô vậy. Tôi còn biết làm việc gì ở Béc Lanh, nếu không tìm được anh ấy". "Cô sẽ làm hại anh ấy và hại mình. Cô sẽ giết cả mình lẫn anh ấy".
Kết lại thiếp đi và chị ngủ thêm nửa tiếng đồng hồ nữa. Khi mở mắt ra, chị cảm thấy trong người dễ chịu hơn. Chị sờ trán: trán nóng rực. "Dĩ nhiên, mình bị cảm lạnh rồi. Người nóng thế này kia mà. Vì thế mình mới mơ thấy những cơn ác mộng. Nhưng điều đó không đáng sợ. Chả chết vì cảm lạnh đâu mà lo".
Bỗng nhiên mặc dù Kết đã quên rằng, chị đang nghĩ về Sơ-tiếc-lít, trước mắt chị hiện lên chữ số 42.75.41.
- Chú ơi, - Kết lấy khuỷu tay hích khẽ người thanh niên đang ngồi ngủ gật bên cạnh chị, - ở gần đây có chỗ nào gọi điện thoại được không?
- Cái gì thế?! - người thanh niên hoảng hốt choàng dậy, hỏi.
- Khẽ chứ, khẽ chứ, - Kết nói để anh ta yên tâm. - Tôi hỏi: gần đây có chỗ gọi điện thoại không?
Chắc cô gái hội viên Hội thanh niên Hít-le đã nghe thấy tiếng hai người. Cô ta bước lại bên Kết và hỏi:
- Chị có cần tôi giúp gì không?
- Không, không, - Kết trả lời. - Cám on cô. Không có việc gì cả.
Lúc ấy, còi báo an rúc lên.
- Chị ấy hỏi có thể gọi điện thoại ở chỗ nào? - người thanh niên nói.
- Ở ga tàu điện ngầm, - cô gái đáp. - Gần đây thôi. Chị muốn gọi điện thoại cho người quen hay bà con họ hàng à?
- Vâng.
- Tôi có thể trông hai cháu nhỏ để chị đi gọi điện.
- Nhưng tôi chẳng có xu nào để trả tiền gọi điện.
- Tôi xin giúp chị. Đây, chị cầm lấy.
- Cám on cô... Có phải đi xa không?
- Hai phút thôi.
- Nếu các cháu khóc...
- Tôi sẽ bế chúng nó, - cô gái mỉm cười, - chị đừng lo.
Kết bước ra khỏi hầm trú ẩn. Đường tàu điện ngầm ở ngay bên cạnh. Mây vũng nước cạnh trạm điện thoại tự động lấp lãnh lớp băng trên mặt. Trăng tròn và xanh như màu xanh của sắc cầu vồng.
- Điện thoại tự động không làm việc, - viên cảnh sát nói. - Nó đã bị sóng nổ làm hỏng.
- Thế tôi có thể gọi điện thoại ở đâu được?
- Phải đến ga sau... Sao, bà cần gọi lắm à?
- Vâng, cần lắm.
- Đi theo tôi.
Viên cảnh sát dẫn Kết đi xuống một ngôi nhà bỏ trống dưới ga tàu điện ngầm, mở cửa trạm cảnh sát, bật đèn và hất hàm về phía chiếc máy điện thoại để trên bàn.
- Bà gọi đi, có điều là. nhanh lên.
Kết đi vòng lại bàn, ngồi xuống chiếc ghế cao dành cho phụ nữ và quay số 42.75.41. Đó là số điện thoại của Sơ-tiếc-lít. Mải nghe những tiếng chuông dài ngắn xen nhau, chị không nhìn thấy ngay bức ảnh rất to của mình đặt dưói tấm kính, cạnh bảng danh bạ điện thoại in ốp-xét. Viên cảnh sát đứng sau lưng chị và chậm rãi hút thuốc.
Muyn-lơ ngồi trong chiếc ghế bành yêu thích của Sơ-tiếc-lít cạnh bếp lò, và hỏi:
- Đoạn nói về tên lái xe đâu?
- Không đủ băng để ghi lại. Tôi không thể nói với Boóc-man: "Xin ngài chờ một chút để tôi thay băng, thưa ngài Boóc-man!" Tôi có nói với ông rằng, tôi xác định chắc chắc rằng, dương như ngài, chính ngài, đã hết sức cố gắng cứu sống gã lái xe.
- Boóc-man trả lời ra sao?
- Ông ta nói rằng, chắc hẳn gã lái xe đã khai hết sau khi bị tra tấn trong các hầm ngầm và ông ta không thể tin cậy vào gã được nữa.Ông ta không để ý đến vấn đề này lắm. Nghĩa là ngài có thể rảnh tay, ngài thượng tướng ạ. Đề phòng bất trắc, ngài hãy giữ gã lái xe ở chỗ mình và cho gã ăn uống tử tế. Rồi sau sẽ rõ.
- Anh cho rằng, người ta sẽ không quan tâm đến hắn nữa à?
- Ai không quan tâm?
- Boóc-man.
- Quan tâm gì nữa? Gã lái xe đã bị khai thác. Nhưng để đề phòng bất trắc, tôi thì tôi sẽ giữ gã lại. Còn mụ đàn bà Nga đâu rồi? Chúng ta rất cần đến mụ lúc này. Thưa ngài, việc hỏi cung mụ ta đến đâu rồi? Đã đưa mụ ta ra khỏi bệnh viện chưa ạ?
- Chúng ta cần đến mụ làm gì? Mụ sẽ phải làm cái việc thông tin mật mã của mụ, nhưng...
- Đúng thế, - Sơ-tiếc-lít tán thành. - Đúng là như vậy. Nhưng ngài thử nghĩ xem, chúng ta có thể để mụ ta liên hệ với ông Vôn-phơ ở bên Thụy Sĩ được không?
- Không tưởng.
- Có thể là như vậy. Chẳng qua tôi cho phép mình mơ tưởng một chút.
- Hơn nữa, nói chung mụ ta...
- Ngài bảo sao?
- Không sao, - Muyn-lơ ngăn mình lại, - tôi muốn phân tích đề nghị của anh đó thôi. Tôi đã đưa mụ ta đến một nơi khác để Rôn-phơ khai thác mụ. Tôi nghĩ rằng, bây giờ anh không cần dùng mụ ta nữa.
- Rôn-phơ đã quá tay phải không?
- Phải... Hơi quá tay...
- Và vì thế mà anh ta đã bị bắn chết? - Sơ-tiếc-lít hỏi nhỏ. Anh đã biết điều đó, khi anh đi dọc hành lang của cơ quan ghét-xta-pô để ra xe tới chỗ hẹn với Boóc-man.
- Đó là việc của tôi, Sơ-tiếc-lít ạ. Chúng ta hãy thoả thuận với nhau: những gì anh cần biết ở tôi, thì tôi sẽ cho anh biết. Tôi không ưa người khác nhòm trộm vào phòng tôi qua lỗ khoá.
- Từ phía nào? - Sơ-tiếc-lít gay gắt hỏi. - Tôi không thích người ta tưởng tôi là thằng ngốc trong kiểu chơi bài pơ-rê-phơ-răng cũ của người Ba Lan. Tôi là tay chơi cừ khôi, chứ không phải là thằng ngốc.
- Bao giờ cũng thế à? - Muyn-lơ mỉm cười.
- Gần như thế.
- Thôi được. Chúng ta hãy đề cập chuyện đó sau. Bây giờ tôi với anh hãy nghe lại đoạn vừa rồi...
Muỵn-lơ ấn nút máy ghi âm, cho chạy đoạn Boóc-man đang nói và đề nghị:
- Anh cho chạy ngược lại độ hai chục mét nữa.
- Xong. Tôi đi pha cà-phe nhé?
- Anh pha đi.
- Ngài không dùng cô-nhắc?
- Tôi không thích cô-nhắc. Kể ra có lần tôi được uống ở chỗ Can-ten-bơ-ru-ne một loại cô-nhắc không đến nỗi tồi. Nhưng nói chung tôi thích vốt-ca hơn. Cô-nhắc có chất thuộc da, không lợi cho thành mạch máu. Còn vốt-ca chỉ sưởi ấm cho cơ thể thôi, nhất là loại rượu trắng chính cống của nông dân.
- Ngài có muốn ghi lại lời nói không?
- Không cần. Tôi nhớ được. Đoạn này hấp dẫn lắm...
"Boóc-man. Đa-lét có biết rằng, Vôn-phơ đại diện cho Him-le không?
Sơ-tiếc-lít. Tôi thiết tưởng hắn biết.
Boóc-man. "Thiết tưởng" trong trường hợp này không phải là một câu trả lời. Nếu tôi nhận được bằng chứng chính xác rằng, Đa-lét coi Vôn-phơ là một kẻ đại diện của Him-le, thì có thể thực sự nói đến sự tan vỡ sắp tới của phe đồng minh. Nếu họ đồng ý thương lượng với thống chế ss thì tôi cần có băng ghi âm các buổi trao đổi giữa đôi bên. Nếu sau đó chuyển băng ghi âm sang chỗ Gơ-ben và công bố trên đài phát thanh, thì tôi không biết các sự kiện sẽ phát triển ra sao tại điện Cờ-rem-li, Luân Đôn và Nhà trắng.
Sơ-tiếc-lít. Còn ở đây? Ở Béc Lanh?
Boóc-man. Đó là chuyện tất nhiên. Hiện giờ tôi không quan tâm đến điểm ấy. Nói đúng hơn, tôi không chỉ quan tâm đến điểm ấy. Anh có thể kiếm được băng ghi âm đó không?
Sơ-tiếc-lít: Trước hết, phải nhận được lài khẳng định của Vôn-phơ rằng, hắn thương lượng dưới danh nghĩa đặc phái viên của Him-le.
Boóc-man. Tại sao anh lại nghĩ rằng, hắn không chịu khẳng định như thế với Đa-lét?
Sơ-tiếc-lít. Tôi không biết. Tôi chỉ nêu lên một giả Thuyết. Bộ máy tuyên truyền của kẻ thù xem thường thống chế ss, coi ông ta như một con rắn độc... Chắc rằng, họ sẽ cố tránh không nêu câu hỏi Vôn-phơ đại diện cho ai. Điểm quan tâm chủ yếu của họ là Vôn-phơ mạnh đến mức nào và đại diện cho ai về mặt quân sự.
Boóc-man.Tôi cần để mọi người biết rằng, Vôn-phơ đại diện cho ai từ chính miệng hắn... Từ chính miệng Vôn-phơ... Hay là, ít ra từ miệng anh...
Sơ-tiếc-lít. Điều đó có ý nghĩa gì?
Boóc-man: Có ý nghĩa rất to lớn, Sơ-tiếc-lít ạ... Anh hãy tin tôi, điều đó có nghĩa rất to lớn...
Sơ-tiếc-lít. Để tiến hành chiến dịch, tôi cần hiểu tư tưởng xuất phát của nó. Có thể bỏ qua điều đó, nếu như tôi làm việc với cả một nhóm, khi mỗi người đem đến cho nhóm trưởng các tài liệu của mình và từ đám tài liệu phong phú đó rút ra được một bức tranh đúng đắn. Khi đó, tôi sẽ không cần phải nắm được nhiệm vụ tổng quát, mà chỉ lo thi hành nhiệm vụ của mình. Tiếc rằng, chúng ta không có khả năng đó...
Boóc-man: Anh nghĩ thế nào, Xta-lin có vui mừng hay không, khi người ta cho ông ta biết rằng, các nước đồng minh phương Tây tiến hành đàm phán không phải với ai khác, mà với chính lãnh tụ ss Him-le? Không phải với một nhóm tướng lĩnh muốn đầu hàng, không phải với tên mạt hạng Ríp-ben-tơ-rốp, một kẻ đã hoàn toàn đồi bại và mất tinh thần, mà là với một kẻ có thể biến nước Đức thành bức tường thép ngăn chặn chủ nghĩa bôn-sê-vích...
Sơ-tiếc-lít. Tôi nghĩ rằng, Xta-lin sẽ không mừng rỡ khi biết tin đó...
Boóc-man. Xta-lin sẽ không tin nếu người báo tin đó cho ông ta là tôi. Nhưng nếu người báo tin cho ông ta là một kẻ thù của chế độ quốc xã thì sao? VỊ giám mục của anh chẳng hạn? Hoặc là một người nào đấy...
Sơ-tiếc-lít. Rõ ràng phải hỏi ý kiến ông Muyn-lơ trong việc lựa chọn người đưa tin: ông ấy có thể lựa chọn và tổ chức cho một người đáng giá chạy sang phía bên kia.
Boóc-man. Muyn-lơ cố gắng trợ giúp tôi quá mức.
Sơ-tiếc-lít. Theo chỗ tôi biết, tình thế của ông ấy rất phức tạp: ông ấy không thể chơi va banque như tồi, vì ông ấy là một nhân vật được quá nhiều người biết. Sau nữa, ông ấy trực thuộc dưới quyền Him-le. Nếu hiểu tình thế phức tạp đó, tôi nghĩ rằng, ngài sẽ đồng ý rằng: ngoài Muyn-lơ ra, không ai có thể làm nổi nhiệm vụ này trong trường hợp ông ấy cảm thấy được ngài ủng hộ.
Boóc-man. Đúng, đúng... Chuyện ấy ta sẽ nói sau. Đó là chi tiết. Bây giờ ta nói đến điều chủ yếu: nhiệm vụ của anh không phải là phá hoại, mà là giúp đỡ các cuộc thương lượng. Nhiệm vụ của anh không phải là che mờ, mà phải làm sáng tỏ mối liên quan giữa bọn âm mưu phản nghịch ở Béc-nơ với Him-le. Làm sáng tỏ tới mức có thể vạch mặt Him-le trước mắt Quốc trưởng, Đa-lét trước mắt Xta-lin và Vôn-phơ trước mắt Him-le.
Sơ-tiếc-lít. Thưa ngài, nếu tôi cần một sự giúp đỡ thực tế, tôi có thể tiếp xúc với ai được?
Boóc-man. Anh hãy thi hành mọi mệnh lệnh của Sê-len-béc. Đó là bảo đảm của thắng lợi. Đừng bỏ qua sứ quán, điều đó sẽ khiến họ tức giận: tham tán về công tác đảng sẽ biết anh...
Sơ-tiếc-lít. Tôi hiểu. Nhưng có thể tôi cần được giúp đỡ để chống lại Sê-len-béc? Chỉ một người có thể giúp tôi trong việc đó là ông Muyn-lơ. Tôi có thể dựa vào ông ấy tới mức độ nào?
Boóc-man. Tôi không tin những người quá ư trung thành cho lắm... Tôi thích những tay ít nói..".
Đúng lúc ấy, chuông điện thoại reo vang. Sơ- tiếc-lít thấy Muyn-lơ giật mình.
- Xin lỗi ngài thượng tướng, - anh nói, - có lẽ đó là...
- Vâng, vâng... mời anh cứ tự nhiên.
Sơ-tiếc-lít nhắc ống nói lên:
- Sơ-tiếc-lít đây...
Bỗng trong ống nói anh nghe thấy giọng Kết...
- Em đây, - chị nói. - Em...
- Vâng ạ! - Sơ-tiếc-lít trả lời. - Tôi sẽ đến ngay, thưa ngài chủ tịch đảng. Tôi sẽ đợi ngài ở đâu ạ?
- Em đây mà, - Kết nhắc lại.
- Đến chỗ ấy bằng cách nào tốt nhất? - Sơ-tiếc-lít lại nói để giúp đỡ Kết, vừa nói anh vừa chỉ ngón tay về phía máy ghi âm, nghĩa là anh đang trao đổi với Boóc-man.
- Em ở bến tàu điện ngầm... Em đang đứng trong trạm cảnh sát?
- Sao ạ?
- Em ghé vào đây để gọi điện tới chỗ anh...
- Ở chỗ nào. ạ?
Anh nghe rõ địa chỉ Kết vừa nói, rồi một lần nữa anh nhắc lại: "Vâng, thưa ngài chủ tịch đảng". Và đặt ống nói xuống. Không còn thời gian để suy nghĩ nữa. Nếu chúng vẫn tiếp tục nghe trộm điện thoại của anh, thì phải đến gần sáng mai Muyn-lơ mới biết được nội dung câu chuyện này. Lúc ấy ta sẽ biết cách đối phó tiếp. Cái chính là phải cứu Kết. Anh đã biết nhiều điều. Có thể nghĩ nốt sau này. Bây giờ phải cứu Kết đã.
Chị thận trọng đặt ống nghe xuống và cầm chiếc mũ be-rê của mình lên. Chiếc mũ ấy đã được chị che lên chỗ đặt bức ảnh của chị, viên cảnh sát vẫn không nhìn chị như cũ. Chị bước ra cửa như một người mất hồn, chị sợ tiếng quát sẽ vang lên sau lưng. Nhưng bọn ghét-xta-pô chỉ báo cho bọn cảnh sát biết rằng, cần bắt giữ một người phụ nữ, một là, phải còn trẻ, chừng hai mươi lăm tuổi, và hai là phải bế con nhỏ trên tay. Đằng này là một mụ già tóc bạc, tuổi ngoài bôn mươi và có thấy bê con trên tay đâu, còn chuyện cặp mắt giống như trong ảnh, thì trên đời này thiếu gì người có cặp mắt như thế?
- Có lẽ ngài đợi tôi một lúc chăng, thưa ngài thượng tướng?
- Để Sôn-xơ sẽ chạy đến báo cáo với Him-le rằng, tôi bỏ đi đâu không rõ hơn ba tiếng đồng hồ liền à? Tại sao có cú điện thoại vừa rồi? Anh nói với tôi rằng, ông ấy sẽ gọi điện cho anh đâu...
- Ngài nghe thấy đấy - ông ấy yêu cầu tôi đến gấp...
- Lúc nào gặp ông ấy xong, anh hãy về thẳng chỗ tôi nhé. Tôi sẽ ngủ đêm tại phòng làm việc.
- Ngài cho rằng, Sôn-xơ trực tiếp phục vụ thống chế hay sao?
- Tôi sợ rằng, hắn đã bắt đầu làm việc đó. Hắn ngốc lắm, bao giờ tôi cũng dùng những tên thư ký ngu ngốc và chăm chỉ. Nhựng thì ra chúng chỉ phục vụ tốt trong những ngày chiến thắng thôi, chứ khi sắp đến lúc đổ vỡ, thì chúng bắt đầu cuông quýt sợ hãi, chỉ cô tìm cách cứu lấy mình... Đồ ngốc, hắn tưởng rằng, tôi muốn chết như một người anh hùng... còn ngài thống chế thì đẹp mặt quá: ồng ta giữ bí mật các cuộc thương lượng hoà bình của ông ta cừ đến nỗi, ngay thằng cha Sôn-xơ của tôi cũng biết tỏng cả rồi... Sồn-xơ vắng mặt một thằng nhóc đang trực nhật, anh ta đã cuồng tín lại còn làm thơ nữa kia chứ...
Chương 17
Nửa giờ sau Sơ-tiếc-lít đưa Kết ra xe. Thêm nửa giờ nữa anh cho xe chạy loanh quanh trong thành phố để xem có chiếc đuôi nào bám theo hay không. Kết vừa khóc vừa kể lại tất cả những gì đã xảy ra với chị từ sáng sớm đến giờ. Nghe chị kể, anh cố đoán xem việc giải thoát chị một cách lạ lùng có phải nằm trong kế hoạch quỷ quyệt của Muyn-lơ không, hay đây là trường hợp ngẫu nhiên, thường tình chỉ xảy ra một lần trong đòi, mà người tình báo viên nào cũng biết.
Anh đi loanh quanh trong thành phô, rồi cho xe chạy ra những con đường vòng quanh Béc Lanh. Trong xe ấm áp, Kết ngồi bên cạnh, hai đứa trẻ thì ngủ trên đùi chị. Sơ-tiếc-lít tiếp tục lập luận: "Nếu khi Muyn-lơ biết nội dung câu chuyện điện thoại giữa mình với Kết, chứ không phải với Boóc- man, mà mình bị bắt, thì toàn bộ kế hoạch lớn sẽ đổ vỡ. Lúc ấy mình sẽ không còn khả năng đập tan.trò đàm phán của Him-le tại Béc-nơ".
Sơ-tiếc-lít phanh xe cạnh biển chỉ đường: từ đây đến Ru-bi-ne-ca-nan chỉ ba cây số. Từ đây có thể qua Pốt-xđam và trở về Ba-ben-xơ-béc.
"Không được, - Sơ-tiếc-lít quyết định. - Căn cứ vào việc mấy chiếc bát ở dưới bếp bị đổi chỗ, thì ngày hôm nay bọn tay chân của Muyn-lơ đã ngồi rình mình ở nhà. Có trời biết để làm gì, có thể là để "bảo đảm an toàn cho mình" mà Muyn-lơ sẽ ra lệnh cho chúng quay lại ngồi ở đó, nhất là sau câu chuyện điện thoại bất ngờ ấy".
- Này cô bé, - anh phanh xe gấp và nói, - ngồi xuống sát ra phía sau kia!
- Có chuyện gì thế, anh?
- Không có chuyện gì đâu. Tất cả vẫn yên ổn, cô bé ạ. Bây giờ mọi chuyện đều hoàn toàn yên ổn. Bây giờ tôi với cô là người chiến thắng rồi. Không đúng à? Cô hãy che cửa sổ bằng tấm rèm xanh và ngủ đi. Tôi sẽ để nguyên lò sưởi cho cô. Tôi sẽ khoá cửa xe lại ; ngồi trong xe của tôi thì không kẻ nào dám động đến cô đâu.
- Chúng ta sẽ đi đến đâu?
- Gần thôi, - Sơ-tiếc-lít nói, - không xa lắm. Cô cứ yên tâm mà ngủ. Cô phải ngủ đẫy giấc - ngày mai sẽ có nhiều việc phải lo đấy.
- Nhiều việc phải lo là việc gì ạ? - Kết sửa tư thế ngồi cho thoải mái hơn trên ghế sau, hỏi.
- Việc vui cả thôi, - Sơ-tiếc-lít trả lời.và nghĩ bụng: "Sẽ gay go lắm đây. Cô ấy bị sốc. Đó không phải là lỗi của cô ấy".
Anh dừng xe cách biệt thự của Van-te Sê-len- béc ba nhà.
"Chỉ mong sao hắn có mặt ở nhà, - Sơ-tiếc-lít nhắc đi nhắc lại như một lời cầu nguyện, - chỉ mong sao hắn không đến nhà Him-le ở Nâu-ên, hoặc đến nhà bác sĩ Ghép-hác-tơ ở Khô-khen-li- khen, chỉ mong sao hắn có mặt ở nhà".
Sê-len-béc có nhà.
Nguyên văn: đừng có tóm lấy lưỡi tôi.
- Thưa ngài thiếu tướng, - Sơ-tiếc-lít nói luôn, không cởi áo khoác. Anh ngồi xuống mép chiếc ghê đối diện với Sê-len-béc. Sê-len-béc mặc chiếc áo ấm, chân đi giày vải không có tất. Sơ-tiếc-lít để ý thấy lớp da ở chỗ mắt cá chân của y rất mịn. - Muyn-lơ đã biết ít nhiều về sứ mệnh của Vôn-phơ ở Thụy Sĩ.
- Anh điên ạ, - Sê-len-béc nói, - không thể có chuyện đó...
- Thế thì tại sao tôi lại biết đã nào?
- Sê-len-béc khép vạt áo, trấn tĩnh lại và hỏi:
- Thế tại sao anh lại biết điều đó?
- Tôi biết điều đó bởi vì Muyn-lơ đề nghị tôi cộng tác với ông ta.
- Tại sao Muyn-lơ lại đề nghị chính anh cộng tác với hắn ta.
- Chắc người của ông ta đã bám được lão giám mục ; đó là cái cứu thoát chúng ta, cho nên tôi phải đi sang Béc-nơ. Tôi sẽ chỉ đạo lão giám mục, còn ngài thì sau khi nhận được tín hiệu của tôi từ bên ấy gửi về sẽ phải lột mặt nạ Vôn-phơ.
Sơ-tiếc-lít bao giờ cũng vươn tới thực chất vấn đề. Sê-len-béc thì có thể chỉ nghe thoáng qua cũng hiểu.
- Anh hãy sang Béc-nơ ngay đi...
- Nhưng tôi nên dùng hộ chiếu? Hay vượt qua "cửa sổ"?
- Không được. Cơ quan phản gián Thụy Sĩ sẽ tóm cổ anh, chúng muốn phục vụ bọn Mỹ vào lúc trò đánh nhau sắp kết thúc... Không, anh hãy đến chỗ làm việc của tôi để lấy các thứ giấy tờ cho chắc chắn. Tôi sẽ gọi điện cho họ.
- Không nên thế. Ngài hãy viết mấy chữ cho tôi.
- Anh có bút không đấy?
- Ngài dùng bút của mình thì tốt hơn.
Sê-len-béc lấy tay lau mặt và cố nặn ra tiếng cười. Y nói:
- Tôi vẫn chưa tỉnh ngủ hoàn toàn, thế đấy.
... Khi Sơ-tiếc-lít đi khỏi. Sê-len-béc lập tức gọi xe và bảo tên tài xế:
- Đến nhà an dưỡng của bác sĩ Ghép-hác-tơ!
Trụ sở Ban tham mưu của Him-le đặt tại đó.
Sơ-tiếc-lít phóng xe về phía biên giới. Trong túi anh có hai tấm hộ chiếu đề tên anh và "vợ" anh, phu nhân In-gơ-rít phôn Kiếc-sơ-tanh.
Khi chiếc ba-ri-e chắn đường biên giới đã lùi về phía sau, anh quay lại phía Kết và nói:
- Cô bé ơi! Thế là bây giờ mọi tai hoạ đã chấm dứt rồi.
Ở đây, trên đất Thụy Sĩ, bầu trời sáng rực và cao xa. ở mấy chục mét sau lưng anh, bầu trời cũng sâu thăm thẳm, cũng thấy vầng trăng vàng ệnh được ánh sáng ban mai rửa sạch như thế, cũng có những cánh chim sơn ca trên bầu trời xanh nhạt như thế và nó đẹp như thế, nhưng đó là bầu trời của nước Đức, nơi từng phút có thể xuất hiện những chiếc máy bay trắng toát, hết sức đẹp đẽ của các nước đồng minh, và từng giây chúng có thể nhả ra hàng chùm bom, và những chùm bom gieo chết chóc ấy trong khoảnh khắc đầu tiên trông trắng như nhôm dưới ánh mặt trời và những người ngồi nín thở trên mặt đất nhìn thấy chúng cứ tưởng như chúng rơi thẳng xuống đầu mình, chúng chỉ biến đi khi từng khối đất lầy bùn mùa xuân đen ngòm tung lên, che lấp tầm nhìn của cặp mắt con người - lúc ấy tuy còn sống, nhưng con người đã bất lực và kiệt quệ...
Sơ-tiếc-lít phóng xe đến Béc-nơ. Khi qua một thị trấn nhỏ, anh dừng xe một lát bên cột đèn hiệu: phía trước, một tốp trẻ em đapg vượt sang bên kia đường, các em vừa đi vừa ăn bánh mì cặp giò. Kết khóc nấc lên.
- Gì thế. Kết? - Sơ-tiếc-lít hỏi.
- Không, - chị đáp, - chỉ vì em được thấy cảnh hoà bình, còn anh ấy không bao giờ được thấy nữa...
- Nhưng đối với cháu bé thì từ nay mọi tai hoạ đã chấm dứt, - Sơ-tiếc-lít nhắc lại câu nói lúc nãy, - và đối với cháu gái kia cũng vậy...
Anh muốn nói với Kết một điều gì thật dịu dàng và âu yếm, anh không biết diễn tả bằng lời cái tình cảm đang dào dạt trong lòng anh. Đã bao nhiêu lần anh khe khẽ thì thầm một mình mấy tiếng thật dịu dàng, tha thiết với Xa-sen-ca yêu quý... Lời lẽ yêu thương không được nói ra, chỉ thầm nhắc đi nhắc lại nhiều lần, nhất định phải thốt lên thành một tiếng thơ hoặc đọng lại trong đáy lòng như một sức nặng buộc ta phải luôn luôn nghĩ đến.
- Chỉ nên nghĩ đến tương lai, - Sơ-tiếc-lít nói và lập tức hiểu rằng, anh đã nói một câu hết sức vụng về, không cần thiết.
- Không có quá khứ thì chẳng có tương lai, - Kết trả lời anh và lau nước mắt, - xin lỗi anh... Em biết rằng, an ủi một người đàn bà đang khóc là một việc làm khó chịu...
... Sau khi gặp giám mục Sơ-lắc và được ông giao cho các tài liệu về cuộc thương lượng giữa Đa-lét với tướng Các-lơ Vôn-phơ, Sơ-tiếc-lít nghĩ rằng, anh đã sai lầm nghiêm trọng khi anh bảo Kết rằng, bây giờ mọi tai hoạ đã chấm dứt rồi. Chưa có tai hoạ nào chấm dứt cả. Ngược lại, anh hiểu rằng, tất cả mọi chuyện có lẽ bây giờ mới bắt đầu...
Nguyên văn: đừng có tóm lấy lưỡi tôi.
"Uy-xơ-tác gửi Trung tâm.
Kèm với các tài liệu về cuộc trao đổi giữa Đa-lét và Vôn-phơ, tôi thấy cần phát biểu mâỳ suy nghĩ dưới đây:
- Tôi thiết nghĩ Đa-lét không thông báo đầy đủ cho chính phủ của ông ta về các cuộc thương lượng với lực lượng ss. Chắc chắn ông ta nói với chính phủ của mình rằng, ông ta đang thương lượng với các "phần tử chống đối" Hít-le. Vôn-phơ không thuộc vào loại đó.
- Ru-dơ-ren nhiều lần tuyên bố rằng, mục đích của Mỹ, cũng như của tất cả các nước tham gia khối đồng minh chống Hít-le, là sự đầu hàng vô điều kiện của nước Đức. Tuy nhiên, Đa-lét lại nói đến sự thoả hiệp, thậm chí đến việc duy trì một số chế định của chủ nghĩa Hít-le.
- Mọi khối liên minh đều đòi hỏi các phía tham gia phải thành thật đối với nhau. Chỉ thoáng nghĩ rằng, Đa-lét đang thăm dò bọn Đức qua việc tiến hành thương lượng như trên, tôi đã buộc phải bác bỏ lập luận của mình, bởi vì, bất cứ nhà tình báo nào cũng sẽ thấy rõ mối lợi bọn Đức và thất bại của Đa-lét.
- Tôi cũng từng nghĩ rằng tên tình bảo Đa-lét đã bắt đầu hoạt động phá hoại ngầm đối với bọn Đức. Nhưng báo chí Thụy Sĩ công khai gọi ông ta là đặc phái viên của tổng thống Ru-dơ-ven. Một người đại diện cho tổng thống Ru-dơ-ven có thể tổ chức phá hoại ngầm hay không?
Kết luận: hoặc giả một số giới phương Tây bắt đầu trò chơi hai mặt, hoặc giả Đa-lét đang phản bội quyền lợi Hoa Kỳ, một thành viên của khối đồng minh chống Hít-le.
Đề nghị: cần phải báo ngay cho các nước đồng minh biết rằng, phía chúng ta đã biết các cuộc thương lượng đang diễn ra tại Thụy Sĩ. Tôi hy vọng rằng trong thời gian sắp tới, tôi sẽ có thể gửi về qua đường dây liên lạc vừa được chắp nối - mọi chi tiết về các buổi trò chuyện giữa Vôn-phơ với Đa-lét. Cần nói thêm rằng, tôi không coi đó là những buổi trò chuyện về phương diện ngoại giao. Tôi muốn gọi đó là những cuộc đàm phản riêng rẽ. Tôi đã phá cái lệ của tôi không bao giờ đưa ra các lời đề nghị - chỉ vì tình hình biến chuyển hết sức mau lẹ và cần có những biện pháp cấp bách, cho phép cứu khối liên minh chống Hít-le khỏi bị phá hoại, một sự phá hoại rối cuộc có thể xảy ra cả hai phía.
Uy-xơ-tác".
Sơ-tiếc-lít đến nhà trọ "Viếc-gi-ni-a", nơi dừng chân của giáo sư Pờ-lây-sơ-ne. Giáo sư có viết về điều đó trong tấm bưu thiếp - "thuốc lá Viếc-gi-ni-a ở đây ngon lắm". Anh và giáo sư đã thoả thuận với nhau rằng, giáo sư sẽ, bằng cách này hay cách khác, gắn tất cả những cái gì liên quan tới chỗ ở với tên gọi các loại thuốc lá. Ví dụ, nếu giáo sư dừng chân ở khách sạn "Gờ-răng ô-tên", thì ông sẽ viết cho Sơ-tiếc-lít như sau: "Ngay ở "Gờ-răng ô-ten" tôi cũng không sao tìm được lại thuốc lá mà ông đang cần: tất cả các loại thuốc đều từ nơi khác đưa đến đây, chứ không phải "Am-pho-ra" chính cống".
Nhà trọ "Viếc-gi-ni-a' - Sơ-tiếc-lít ít có thể dễ dàng biết vị trí nơi đó - vắng vẻ, vì hầu hết các khách trọ đều đã đi lên vùng núi. Mùa trượt tuyết đã hết. Ánh mặt trời trong mấy tuần vừa qua làm cho người ta rám nắng theo một kiểu đặc biệt: đỏ như đồng và được giữ lâu, bởi vậy tất cả những ai ít nhiều có khả năng đều lên vùng núi: ở đấy tuyết vẫn chưa tan.
- Tôi có thể chuyển cho vị giáo sư Thụy Điển - tôi quên mất tên ông ta, - mấy quyển sách được không? - Sơ-tiếc-lít hỏi người quản trị.
- Vị giáo sư Thụy Điển không còn nữa. Ông ấy nhảy qua cửa sổ xuống đường nên bị chết rồi.
- Chết bao giờ?
- Sáng ngày thứ ba sau hôm đến đây. Ngài biết không, lúc ông ấy bước ra vui vẻ là thế, mà rồi không thấy quay lại nữa.
- Tiếc quá! Thế nhưng ông bạn của tôi là một nhà bác học có đề nghị tôi chuyển cho giáo sư mấy quyển sách và xin lại những quyển giáo sư mượn từ trước...
- Xin ngài hãy gọi điện tới sở cảnh sát... Họ đã đến đây lấy đi mọi đồ đạc của ông ấy. Họ sẽ trả lại tất cả mọi thứ cho ngài, nếu ngài chứng minh rằng, trong số hành lý có sách của ngài.
- Cám ơn ông, - Sơ-tiếc-lít đáp, tôi sẽ làm như vậy.
Anh bảo lái xe chạy qua phố có phòng bí mật. Trên cửa sổ có một bông hoa lớn - tín hiệu báo động, - Sơ-tiếc-lít đã hiểu ra tất cả. "Thế mà mình tưởng ông ấy là một thằng hèn, - anh nhớ lại. - Giáo sư Pờ-lây-sơ-ne là một người đáng thương, tốt bụng và có sức mạnh... xin giáo sư hãy tha lỗi cho tôi".
Bỗng nhiên, anh tưởng tượng cái cảnh vị giáo sư gầy gò, yếu đuối đang lặng lẽ nhảy vọt qua cửa sổ. Anh nghĩ: hẳn là ông già đã cảm thấy một nỗi khủng khiếp ghê gớm, vào giây phút cuối cùng của đời mình, khi ông dám quyết định tự vẫn ở đây, giữa lúc ông đã thoát khỏi nước Đức và được hưởng tự do... Tất nhiên, bọn ghét-xta-pô bám riết ông già. Hoặc chính là bọn chúng đã bố trí buộc ông phải tự vẫn, vì hiểu rằng, ông sẽ im lặng...
- Cho tôi đến trung tâm thành phố, - Sơ-tiếc-lít đề nghị người chủ xe tắc-xi. Nếu đến chỗ nào có thể thuê một chiếc tắc-xi trong vài ngày thì càng tốt...
Tại khách sạn, khi Kết và hai đứa trẻ vừa đi ngủ, Sơ-tiếc-lít liền uống hai viên cô-phê-in liều lượng cao - mấy ngày nay hầu như anh không được chợp mắt một phút nào, - rồi anh gọi điện thoại cho giám mục Sơ-lắc và ra xe đi gặp ông lần thứ hai.
Giám mục hỏi:
- Sáng nay tôi không dám hỏi chuyện ông về cô em gái và các cháu của tôi. Bây giờ thì tôi xin phép được biết về họ.
- Ngài có nhớ nét chữ của cô em gái chứ?
- Dĩ nhiên.
Sơ-tíếc-lít chìa cho ông một chiếc phong bì màu xanh. Sơ-lắc đọc bức thư ngắn gọn: "Anh yêu quý, cám ơn sự quan tâm đặc biệt chu đáo đã dành cho mấy mẹ con em. Hiện nay mấy mẹ con em đang sống ở một vùng núi, rất xa các cuộc ném bom đáng sợ. Em sống trong một gia đình nông dân, các cháu giúp chủ nhà chăn bò, mẹ con em được ăn uống đầy đủ và cảm thấy hết sức an toàn. Cầu Chúa xua tan mọi tai hoạ đã giáng xuống đầu anh. Em An-na của anh".
- Tôi bị tai hoạ gì vậy? - giám mục hỏi. - Cô ấy muốn nói đến chuyện nào thế?
- Tôi phải nói với chị ấy rằng, ngài đã bị bắt... Tôi gặp chị ấy không phải với tư cách Sơ-tiếc-lít, mà như một con chiên của ngài. Địa chỉ của chị ấy đây - khi nào chiến tranh kết thúc, ngài sẽ tìm thấy họ. Còn đây là mấy bức ảnh có thể khiến ngài tin tôi hoàn toàn.
Sơ-tiếc-lít chìa cho giám mục mấy bức ảnh cận cảnh. Anh chụp ở trong núi, nhưng vì trời u ám nên hình ảnh không được rõ lắm. Giám mục ngắm nghía hồi lâu, sau đó ông nói:
- Dù không có mấy bức ảnh này, tôi cũng vẫn tin ông... Sao ông gầy hẳn đi thế?
- Có trời biết! Tôi hơi mệt. Thế nào, có tin gì mới không, ngài?
- Có nhiều tin mới, nhưng tôi không tài nào phân tích nổi. Hoặc là tôi mất niềm tin. vào toàn bộ thế giới này, hoặc là phải trở thành một kẻ vô liêm sỉ. Người Mỹ đã bắt đầu thương lượng với lực lượng ss. Người Mỹ tin vào Him-le.
- Tài liệu đâu?
- Cái gì kia ạ?
- Ngài có những tài liệu nào xác nhận điều đó? Ngài lấy được các tài liệu ấy từ tay ai? Nếu không có tài liệu nếu ngài chỉ nghe lời đồn đại, thì chúng ta có thể là vật hy sinh của một sự dối trá được bố trí một cách khôn khéo.
- Than ôi, tôi rất muốn tin rằng, người Mỹ không thương lượng với bọn tay chân của Him-le, - giám mục trả lời. - Nhưng ông đã đọc những gì tôi đã đưa ông sáng nay rồi đấy... Và bây giờ thì đây... - Giám mục chìa cho Sơ-tiếc-lít mấy tờ giấy mỏng viết bằng nét chữ tròn trĩnh, hơi nghiêng về bên trái, dài chi chít.
"Vôn-phơ. Chào các vị!
Nhiều giọng đáp lại. Chào ngài. Chúc ngài một buổi sáng tốt lành.
Đa-lét. Các bạn đồng nghiệp của tôi đã đến đây để điều khiển cuộc hội đàm.
Vôn-phơ. Tôi rất mừng thấy cuộc thương lượng của chúng ta tiến triển ở cấp độ đại diện cao như thế này.
He-vec-nít. Rất khó dịch thành ngữ "cấp độ đại diện" sang tiếng Anh...
Vôn-phơ (cười). Chẳng hạn, tôi có thể biết được rằng, ông Hê-vec-nít sắm vai thông dịch trong cuộc gặp gỡ này...
Đa-lét. Tôi có thể nói rằng: việc một quan chức cao cấp của lực lượng ss bắt đầu thương lượng với đối phương mà không đưa ra bất cứ yêu cầu riêng tư nào đã gây cho tôi và các bạn tôi một ấn tượng tốt đẹp nhất.
Vôn-phơ. Yêu cầu riêng tư của tôi là hoà bình cho người Đức.
Giọng người lạ. Hay lắm! Đó là câu trả lời của một người lính chân chính.
Đa-lét. Có chuyện gì mới xảy ra trong thời gian vừa qua hay không?
Vôn-phơ. Két-xen-rinh bị gọi về Tổng hành dinh của Quốc trưởng. Đó là tin đáng buồn nhất.
Đa-lét. Ngài nghĩ rằng...
Vôn-phơ. Tôi không chờ đợi bất cứ điều gì tốt đẹp qua việc một người nào đó bị triệu hồi cấp tốc về Tổng hành dinh của Quốc trưởng.
Đa-lét. Nhưng theo tin của chúng tôi, thì Két- xen-rinh được gọi về Béc Lanh là để nhận chức vụ mới: tư lệnh mặt trận phía Tây.
Vôn-phơ. Tôi cũng nghe nói như thế, nhưng hiện thời chưa có bằng chứng xác nhận.

Đà-lét. Vâng. Sẽ có bằng chứng xác nhận. Chỉ một hai ngày nữa thôi.
Vôn-phơ. Trong trường hợp đó, có lẽ ông sẽ nói cho tôi biết người thay thế Két-xen-rinh là ai?
Đa-lét. Vâng, tôi có thể nói tên người ấy. Đó là thượng tướng Vít-tinh-hốp.
Vôn-phơ. Tôi biết người ấy.
Đa-lét: Y kiến của ngài về ông ta?
Vôn-phơ. Đó là một người biết thừa hành mệnh lệnh.
Đa-lét. Theo tôi, có thể nói như vậy về tuyệt đại đa số tướng lãnh của Đế chế thứ ba.
Vôn-phơ. Kể cả Bếch và Rôm-men?
Đa-lét. Đó là những nhà ái quốc chân chính của nước Đức.
Vôn-phơ. Phải nói rằng, trước đây tôi chưa có sự tiếp xúc trực tiếp và đáng tin cậy với thượng tướng Vít-tinh-hốp.
Đa-lét. Thế Két-xen-rinh có quen biết ông ta hay không?
Vôn-phơ. Là phó tư lệnh không quân của Gơ-rinh, thống chế Két-xen-rinh đã trực tiếp tiếp xúc với hầu hết các tướng lĩnh có cấp bậc ngang với thượng tướng Vít-tinh-hốp.
Đa-lét. Ngài sẽ có ý kiến như thế nào, nếu chúng tôi đề nghị ngài đến gặp Két-xen-rinh và đề nghị ông ấy đầu hàng ở mặt trận phía Tây, sau khi ông ấy được Vít-tinh-hốp đồng ý sẽ cùng đầu hàng ở Ý?
Vôn-phơ. Đó là một biện pháp liều lĩnh.
Đa-lét. Chẳng phải tất cả chúng ta đang liều lĩnh đấy sao?
Giọng người lạ. It ra, việc ngài tiếp xúc với Két-xen-rinh ở mặt trận phía Tây cũng sẽ giúp chúng ta nắm được tình hình một cách rõ ràng và cụ thể, liệu ông ta có chịu đầu hàng ở mặt trận phía Tây hay không...
Vôn-phơ. Căn cứ vào việc Két-xen-rinh đồng ý đầu hàng ở Ý, có thể nghĩ rằng, ông ta sẽ không thay đổi ý định đó ở Xơ-tơ-rát-xơ-bua.
Đa-lét. Bao giờ ngài có thể đến gặp ông ta ở mặt trận phía Tây?
Vôn-phơ. Can-ten-bơ-ru-ne có gọi tôi về Béc Lanh, nhưng tôi hoãn lại, vì chúng ta đã hẹn gặp nhau ở đây...
Đa-lét. Nghĩa là ngài có thể bay đến Béc Lanh ngay sau khi trở về Ý?
Vôn-phơ. Vâng, về nguyên tắc có thể như vậy. Nhưng...
Đa-lét. Tôi hiểu ý ngài. Có lẽ quả là ngài phải liều lĩnh hơn tất cả chúng tôi. Song tôi không thấy có lối thoát nào khác trong tình hình hiện nay.
Giọng người lạ. Có lối thoát chứ.
Hê-vec-nít. Ngài là người có sáng kiến tổ chức cuộc thương lượng, nhưng hiển nhiên là ngài được sự ủng hộ nhất định tại Béc Lanh. Điều đó cho phép ngài tìm ra lý do để đến thăm Két-xen-rinh.
Đa-lét. Nếu ngài quan tâm trước hết tới số phận của nước Đức, thì trong trường hợp này, ở mức độ nhất định, nó đang nằm trong tay ngài.
Vôn-phơ. Tất nhiên, lý lẽ đó không thể khiến tôi hờ hững.
Đa-lét. Có thể cho rằng, ngài nhất định đến thăm Két-xen-rinh ở mặt phía Tây?
Vôn-phơ. Vâng.
Đa-lét. Và ngài cảm thấy có thể Thụyết phục Két-xen-rinh đầu hàng?
Vôn-phơ. Tôi tin như vậy.
Đa-lét. Và thượng tướng Vít-tinh-hốp sẽ theo gương ông ta?
Vôn-phơ. Tôi sẽ quay về Ý.
Hê-vec-nít. Và nếu như Vít-tinh-hốp lưỡng lự, thì ngài có thể tác động đến các sự kiện ở đấy?
Vôn-phơ. Vâng, dĩ nhiên, nếu như các ông cần gặp tướng Vít-tinh-hốp ở đây hoặc ở Y.
Đa-lét. Nếu ngài thấy làm như thế là hợp lý, thì chúng tôi sẵn sàng tiếp xúc với Vít-tinh-hốp. Khi nào ngài có thể từ chỗ Két-xen-rinh trở về?
Vôn-phơ. Nếu tất cả đều trôi chảy, một tuần nữa tôi sẽ quay về và mang đến cho các ông, cũng như cho Vít-tinh-hốp, ngày tháng đầu hàng chính xác của toàn bộ quân đội Đức ở mặt trận phía Tây. Tập đoàn quân của chúng tôi tại Ý cũng sẽ đầu hàng đúng vào giờ ấy.
Hê-vec-nít. Xin ngài cho biết bao nhiêu người bị giam giữ trong các trại tập trung?
Vôn-phơ. Tại các trại tập trung của Đế chế ở Y hiện có vài chục nghìn người.
Đa-lét. Điều gì sẽ xảy ra với họ trong thời gian sắp tới?
Vôn-phơ. Đã có lệnh thủ tiêu họ.
Hê-vec-nit. Mệnh lệnh ấy có thể được thi hành trong lúc ngài đi vắng hay không?
Vôn-phơ. Có thể lắm.
Đa-lét. Có thể thi hành biện pháp gì đó để ngăn cản việc thi hành mệnh lệnh ấy chứ?
Vôn-phơ. Đại tá Đô-nen-ni ở lại chỉ huy thay tôi. Tôi tin ông ta như tin chính mình. Với tư cách một người đứng đắn, xin hứa với các ông rằng, mệnh lệnh ấy sẽ không được thi hành.
Hê-vec-nít. Xin mời các vị đi ra ngoài thêm. Tôi thấy bàn tiệc đã bày xong. Tiếp tục nói chuyện ở ngoài ấy sẽ thú vị hơn, ở đây nóng quá..."
Đêm ấy Kết đưa hai đứa bé đi Pa-ri. Chị mang theo thư mật mã của Sơ-tiếc-lít. Nhà ga vắng vẻ và yên tĩnh, Kết đã chia tay với Sơ-tiếc-lít ở trong khách sạn: anh không dám đưa tiễn chị, vì sợ những cặp mắt theo dõi của bọn ghét-xta-pô. Chị nhìn sân ga vắng tanh. Mưa rơi. Đầu máy xì hơi nước như buồn ngủ. Mắt đường nhựa, ướt át như những cái vòng hạt cườm của người Ấn Độ. Kết khóc như mưa, bởi vì lúc này, khi những ngày căng thẳng khủng khiếp đã trôi qua hoàn toàn, trước mắt chị lúc nào cũng hiện lên hình ảnh Ê-rơ-vin. Chị như nhìn thấy anh đang ngồi trong góc nhà, cạnh chiếc dương cầm, bên một đống máy thu thanh quay đĩa mà anh rất thích sửa chữa vào những lúc anh không bận liên lạc điện đài với Mát-xcơ-va...
Sơ-tiếc-lít không dừng được: anh đã đi ra nhà ga. Anh muốn nhìn dù chỉ từ phía xa đoàn tầu chuyển bánh, đưa Kết đi tới một đất nước hoa lệ - tới nước Pháp, nơi chị sẽ được an toàn tuyệt đối với hai đứa trẻ của mình, rồi đường dây liên lạc đáng tin cậy sẽ từ đó nối tới đây và có lẽ anh cũng sẽ có thể đi sang bên ấy.
Sơ-tiếc-lít bước vào một quán cà-phê nhỏ trong khu vực nhà ga. Anh ngồi cạnh chiếc cửa sổ lớn: từ đây có thể nhìn rõ toàn bộ đoàn tàu.
- Xin chào ngài, - cô hầu bàn béo mập mỉm cười chào anh.
- Cho tôi món kem sữa và một cốc cà-phê nhé.
- Cà-phê sữa ạ?
- Không, tôi thích cà-phê đen thôi.
Cô hầu bàn mang cho anh món kem sữa xốp và một cốc cà-phê.
- Cô ơi, - Sơ-tiếc-lít mỉm cười như người có lỗi, nói. - Tôi không ăn món kem sữa xốp đâu. Từ bé tôi đã không ưa món này. Cô cho tôi loại kem sữa thông thường, độ lưng cốc thôi.
Cô hầu bàn đáp:
- Ô, xin ngài tha lỗi...
Cô ta mở bảng giá và giở nhanh mấy tờ.
- Cửa hàng em có tám loại kem sữa, có loại xốp, có loại ăn với mứt quả, pho-mát, chứ không có loại thông thường. Xin ông bỏ qua cho em. Em sẽ đề nghị bác đầu bếp làm hầu ông món kem sữa như ông thích... Người dân ở đây không ăn món kem sữa thông thường, nhưng em sẽ cố gắng chiều lòng ông...
"Họ không ăn món kem sữa thông thường, - Sơ-tiếc-lít nghĩ bụng. - Trong khi ở nước ta, mọi người chỉ mơ ước được ăn một mẩu bánh mì thông thường. "Ở nước ta" hình như Sơ-tiếc-lít muốn nghĩ đến cả nước Nga lẫn nước Đức. ở cả hai nước ấy, người ta cũng đói như nhau. Còn đây là nước trung lập. Tám loại kem sữa, và người ta thích xài loại kem sữa xốp. làm một nước trung lập dễ chịu quá nhỉ? Dễ chịu đối với con người và đối với quốc gia... Những năm tháng trôi qua và rất có thể trong khi người giữ thái độ trung lập và chén món kem sữa xốp, thì ngươi đã bỏ qua những điều cốt yếu. Không, thật đáng sợ nếu ngươi luôn luôn giữ thái độ trung lập. Hừ, trung với chả lập! Nếu như chúng tôi không đánh gục Hít-le ở Xta-lin-gơ-rát, hắn sẽ xâm chiếm cả Thụy Sĩ - lúc ấy thì còn khối kem sữa với chế độ trung lập của ngươi".
- Thưa ngài, món kem sữa của ngài đây. Nó sẽ đắt hơn một chút, bởi vì không phải là món ghi trong bảng giá.
Sơ-tiếc-lít bỗng cười to.
- Được rồi, - anh nói. - Điều đó không quan trọng. Cám ơn cô.
Đoàn tàu từ từ chuyển bánh. Anh nhìn khắp các cửa sổ, nhưng không thấy mặt Kết đâu: có lẽ chị đã lánh vào bên trong cu-pê với hai đứa bé của chị và ngồi ở đó cho tới lúc gặp được người của mình...
Sơ-tiếc-lít đưa mắt tiễn đoàn tàu chạy đi và đứng dậy khỏi bàn. Anh chỉ uống cà-phê, còn món kem sữa thế là anh vẫn chưa đụng đến.
Đồng chí Mô-lô-tốp cho gọi viên đại sứ Anh, ngài Ác-tri-ban Kê-rơ, tới điện Cờ-rem-li và lúc tám giờ tối, Mô-lô-tốp không mời đại sứ Mỹ Ha-ri- man, vì đồng chí biết rằng, Kê-rơ là một tay tình báo lõi đời và có thể nói chuyện với gã mà không phải nghe cái giọng mang mầu sắc tình cảm thừa thãi khiến đồng chí khó chịu của Ha-ri-man.
Dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ bóp lại ba lần cái đầu lọc của điếu thuốc "Ca-dơ-bếch", Mô-lô-tốp mới châm lửa: đồng chí nổi tiếng là một người nghiện thuốc rất nặng, tuy cũng giống như Xta-lin, đồng, chí không bao giờ hít những hơi thuốc dài.
Đồng chí cố tỏ thái độ lạnh lùng với Kê-rơ và cặp mắt đen sắc sảo của đồng chí ánh lên rầu rĩ và cảnh giác dưới chiếc kính kẹp mũi.
Buổi nói chuyện diễn ra ngắn ngủi: sau khi xem bản thông điệp do đồng chí Páp-lốp, phiên dịch của Bộ trưởng Mô-lô-tốp, trao cho gã, Kê-rơ nói rằng, gã sẽ thông báo ngay cho Chính phuỷ Anh biết nội dung thông điệp đó.
"Cùng với việc xác nhận rằng, tôi đã nhận được thư của Ngài nói về cuộc thương lượng ở Béc-nơ giữa viên tướng Đức Vôn-phơ với các sĩ quan trong bộ tham mưu của thống chế A-lếch- xăng-đe, tôi cần phải nói rằng, chính phủ Liên Xô thấy đây không phải sự hiểu lầm, mà là một cái gì còn tệ hại hơn.
Viên tướng Đức Vôn-phơ cùng đám sĩ quan tuỳ tùng của hắn đã tới Béc-nơ để thương lượng với các đại diện của Bộ chỉ huy Anh - Mỹ về sự đầu hàng của quân đội Đức tại miền Bắc Y. Khi chính phủ Liên Xô tuyên bố về sự cần thiết phải có đại diện của Bộ chỉ huy Liên Xô tham gia cuộc thương lượng đó, chính phủ Liên Xô đã bị khước từ.
Như vậy là, tại Béc-nơ, trong khoảng thời gian hai tuần, sau lưng Chính phủ Liên Xô, người phải mang gánh nặng chủ yếu của cuộc chống nước Đức phát-xít, đã diễn ra cuộc thương lượng một bên là các đại diện của Bộ chỉ huy quân sự Đức với một bên là đại diện của Bộ chỉ huy quân sự Anh và Mỹ. Chính phủ Liên Xô coi đó việc làm tuyệt đôi không thể chấp nhận được.
V. MÔ-LÔ-TỐP".
Phản ứng của Boóc-man khi Sơ-tiếc-lít báo cáo về các chi tiết trong cuộc hội đàm giữa Vôn-phơ và Đa-lét thật là bất ngờ: y lấy làm mừng rỡ. Thậm chí y cũng ngạc nhiên về phản ứng của mình: Béc Lanh đang bị quân Anh ném bom liên tục, đại bác Nga đã nổ ầm ầm ở Phờ-răng-phua, mọi trật tự của Đế chế đều hỗn loạn, thế mà y lại vui mừng như được trả thù. Vốn có đầu óc phân tích, y thừa hiểu rằng, niềm vui của y giống như niềm vui của những phụ nữ luống tuổi hay ghen tị.
"Cứ để mình biết tất cả về mình, biết sự thật tàn nhẫn nhất, - y nghĩ thầm, - như thế sê dễ phòng ngự yà tấn công hơn, vì mình đã biết những chỗ yếu của mình".
Boóc-man tin vào liệu pháp tâm thần. Hầu như chưa bao giờ y chịu uống thuốc. Y cởi gần như tất cả quần áo ra, buộc mình phải lắng vào trạng thái trầm tĩnh và dồn toàn bộ sức mạnh ý chí vào bộ phận đau ốm của cơ thể. Y có thể chữa khỏi bệnh viêm họng trong một ngày, dù bị cảm sốt, y vẫn không phải nằm xuống giường. Y biết cách chữa khỏi bệnh ghen tị, xua tan nỗi buồn phiền trong lòng - không ai biết rằng, từ hồi trẻ y đã bị những cơn bệnh tưởng khủng khiếp. Bây giờ y cũng biết cách chữa chạy khỏi cái niềm vui không xứng đáng vừa bùng lên tha thiết kia.
Y dập tắt ý định cầm ống nghe lên gọi điện tới chỗ Him-le. Y hình dung cảnh viên thống chế ss sẽ lúng túng hoảng sợ ra sao.
"Nhưng trong cơn hoảng sợ của hắn, - Boóc-man ngăn mình lại, - nhất định hắn sẽ chạy đến chỗ Sê-len-béc. Khó mà tưởng tượng thằng cha trí thức khốh kiếp kia có thể nghĩ ra những trò gì..."
- Boóc-man đây, - tên chủ tịch đảng Quốc xã nói vào ốhg nghe, - chào ông Can-ten-bơ-ru-ne. Tôi đề nghị ông đến gặp tôi ngay bây giờ.
- Đúng, - Boóc-man nghĩ tiếp, - cần phải hành động thận trọng, thông qua Can-ten-bơ-ru-ne. Và ngay với Can-ten-bơ-ru-ne, mình cũng sẽ không nói gì cả. Mình sẽ chỉ yêu cầu ông ta một lần nữa gọi Vôn-phơ về Béc Lanh. Mình sẽ bảo Can- ten-bơ-ru-ne rằng theo tài liệu của mình, Vôn-phơ đã phản bội sự nghiệp của thống chế ss. Mình sẽ yêu cầu ông ta đừng nói gì với ông bạn Him-le của mình, để khỏi đầu độc ông bạn một cách vô ích. Nhưng mình sẽ ra lệnh cho ông ta bắt giữ Vôn-phơ và bắt hắn cung khai toàn bộ sự thật. Nếu bọn họ đã biết làm việc đó với người ngoài, thì cứ để bọn họ làm việc đó với chính người của họ xem sao. Khi Vôn-phơ đã cung khai và lời lẽ của y được ghi vào biên bản hỏi cung và được Can-ten-bơ-ru-ne đích thân đệ lên bàn của mình, thì mình sẽ đưa cho Quốc trưởng xem, và Him-le sẽ đi đời nhà ma. Lúc ấy, bên cạnh Hít-le chỉ còn một mình mình. Gơ-ben là thằng cha mắc bệnh tâm thần, không đáng kể, hơn nữa, hắn không biết những điều gì mình biết. Hắn có tư tưởng lớn, nhưng lại không có tiền. Còn mình thì vừa có tư tưởng của họ, vừa có tiền của đảng. Mình sẽ không lặp lại những sai lầm của họ - và mình sẽ là người chiến thắng. Còn bao giờ thắng lợi thì không phải là điều quan trọng: cuộc tranh giành tự nó đã là hành phúc, và thắng lợi là kết cục của cuộc tranh giành".
Cũng như tất cả những kẻ điều khiển bộ máy nhà nước "phục vụ" Hít-le nhiều năm, Boóc-man, trong các lập luận nói chung rất chính xác của mình, chỉ phạm một sai lầm: y cho rằng, có thể làm được tất cả mọi việc, y biết cách làm tất cả mọi việc và y hiểu tất cả mọi việc nhiều hơn là các chiến hữu của y. Vì cho mình là nhà tổ chức tư tưởng của đảng Quốc xã, Boóc-man đã coi thường mọi chi tiết và những nét riêng, tóm lại là coi thường tất cả những gì hợp thành khái niệm "trình độ nghề nghiệp chuyến sâu".
Tất cả đều sợ y và đều phải tính đến y - cả Ríp-ben-tơ-rốp. Gơ-rinh lẫn Him-le. Nhưng các cơ quan chức tép riu ở Bộ Ngoại giao, bộ Hàng không hoặc bọn nhân viên phản gián thì lại chế giễu các chỉ thị của viên chủ tịch đảng. Chỉ có bọn họ mới biết tất cả những động cơ thúc đẩy * các bộ máy của mình hoạt động, bọn họ mới là người chuẩn bị mọi chiến dịch: trong công tác ngoại giao cũng như trong hoạt động tình báo, trong lĩnh vực công nghiệp cũng như trong quân đội. Loại nhân vật không chuyên nghiệp, cái gì cũng biết như Boóc-man, chỉ khiến bọn họ ngầm phản đối lúc đầu và khinh thường một cách châm chước về sau.
Chính trình độ không chuyên nghiệp ấy đã dẫn Boóc-man tới thất bại. Can-ten-bơ-ru-ne dĩ nhiên không nói gì với Him-le: tên chủ tịch đảng đã chỉ thị như vậy. Hắn ra lệnh một lần nữa cho Các-lơ Vôn-phơ phải lập tức từ Ý trở về. Trong bộ máy khổng lồ của cơ quan an ninh Đê chế, có việc gì lại có thể lọt qua tai mắt của hai kẻ cạnh tranh đầy uy lực là Muyn-lơ và Sê-len-béc. Tên nhân viên điện đài trong hành dinh của Can- ten-bơ-ru-ne, kẻ đã bị người của Sê-len-béc tuyển mộ làm việc cho chúng, đã báo cho ông chủ tịch bí mật của mình - cho Sê-len-béc - được biết bức điện tuyệt mật gửi sang Y: "Theo dõi chặt chẽ các chuyến bay của Vôn-phơ về Béc Lanh". Sê-len-béc lập tức hiểu rằng, đó là hiệu lệnh báo động! Tiếp đó, công việc đơn giản hơn: không cần khó nhọc gì lắm, cơ quan tình báo cũng biết được ngày giờ chính xác mà Vôn-phơ sẽ về đến sân bay. Tại sân bay Tem-pen-hốp có hai xe đỗ: một chiếc xe bọc thép với ba tên ác ôn trong đội bảo vệ nhà tù ngầm dưới đất của cơ quan ghét-xta-pô ngồi bên trong, còn trong xe kia là thiếu tướng ss Van-te Sê-len-béc, Cục trưởng Cục tình báo chính trị. Cùng tiến lại cầu thang máy bay có ba tên cai ngục chuyên nghiệp bận quần áo đen, mặt mày xấu xí và một nhà trí thức điển trai, thắng bộ sắc phục cấp tướng lộng lẫy được dành riêng cho trường hợp này - nhà trí thức ấy là Sê-len-béc. Vôn-phơ từ trên cầu thang máy bay "Đoóc-ni-e" bước xuống và những ngón tay khoẻ mạnh của Sê-len-béc - chứ không phải chiếc khoá tay - bóp chặt hai bàn tay lạnh giá của Vôn-phơ.
Ba tên cai ngục không dám bắt Vôn-phơ: chúng chỉ dám theo dõi chiếc xe của Sê-len-béc. Thiếu tướng ss đưa thượng tướng Vôn-phơ về nhà riêng của thượng tướng Phê-ga-lai, đặc phái viên của Him-le tại tổng hành dinh của Quốc trưởng. Việc Him-le đã ngồi chờ ở đấy không làm cho Boóc-man chùn tay. Cái làm cho y chùn tay là chuyện khác kia: Phê-ga-lai là kẻ lấy chị gái của E-va Bơ- ra-un và, do đó, là người ruột thịt gần gũi của Hít-le. Quốc trưởng thậm chí vẫn gọi Phê-ga-lai là "người anh em đồng hao đáng yêu của tôi" trong lúc uống trà.
Sau khi mở ra-đi-ô cho kêu hết cỡ, Him-le thét mắng Vôn-phơ:
- Ông đã làm hỏng toàn bộ chiến dịch và đưa tôi ra hứng đòn, ông hiểu chưa? Tại sao Boóc-man và Can-ten-bơ-ru-ne lại biết được các cuộc thương lượng của chúng ta? Làm thế nào mà lũ chó săn của thằng Muyn-lơ đê tiện lại có thể đánh hơi được việc đó?!
Sê-len-béc chờ đến lúc Him-le thét mắng xong, mới thản nhiên nói nhỏ:
- Thưa thống chế, chắc ngài còn nhớ rằng, mọi chi tiết của chiến dịch này đều do tôi chuẩn bị, có phải thế không ạ? Chiến dịch che đỡ của tôi vẫn đâu vào đấy. Tôi đã chuẩn bị cho Vôn-phơ câu chuyện huyền thoại, làm như chúng ta gài ông ấy vào nhóm âm mưu phản loạn đang thực sự tìm kiếm con đường hoà bình riêng rẽ ở Béc-nơ. Bây giờ, chúng ta sẽ thoả thuận nốt những chi tiết còn lại. Và ngay ở đây, tôi sẽ đọc cho ông Vôn-phơ viết một bản báo cáo về cuộc thương lượng với bọn Mỹ do cơ quan tình báo ss chúng ta phát hiện được. Báo cáo ấy sẽ đề nghị gửi cho Ngài.
Sê-len-béc có thể bố trí một tai nạn máy bay với Vôn-phơ. Nhưng y không rõ Can-ten-bơ-ru-ne đã biết những gì, có lẽ hắn mới chỉ nắm được những nét đại thể nhất, nếu không, hắn đã bắt giữ Vôn-phơ ngay ở Y rồi, - nếu vậy thì tai nạn máy bay sẽ không còn hợp lý nữa: thông qua Can-ten-bơ-ru-ne, Boóc-man sẽ có thể sử dụng những tài liệu tố giác Him-le, tuy là những tài liệu rất chung chung.
Các tin tức về cuộc đàm phán giữa Sơ-lắc với các nước đồng minh phương Tây do Sơ-tiếc-lít thu lượm được ở Béc-nơ gửi về và câu chuyện thương lượng do anh bịa ra kèm theo tên tuổi rất nhiều người đã cho phép Sê-len-béc báo cáo về một âm mưu khiến Hít-le lo ngại.
Và nếu như Các-lơ Vôn-phơ, "người lính trung thành của Quốc trưởng, người đã được sử dụng lực lượng ss và Him-le đào tạo", không có quá nhiều sáng kiến thương lượng trong khi thực hiện nhiệm vụ của cấp chỉ huy, mà chính ông ta đã báo cáo với thống chế ss về thương lượng đó, thì không rõ rồi các sự kiện sau đó sẽ thay đổi như thế nào.
Boóc-man hiểu rằng, y đã thua cuộc, khi Him-le cùng với Sê-len-béc và Vôn-phơ bước ra khỏi hầm ngầm của Quốc trưởng. Trong lúc bắt tay Vôn-phơ và "bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất về sự trung thành và dũng cảm" của hắn, Boóc-man nghĩ bụng: "Có nên gọi Sơ-tiếc-lít đến đây đối chứng với tên đê tiện mặt búng ra sữa này, cái tên đã bán rẻ Quốc trưởng ở Béc-nơ, hay không?" Y vẫn tiếp chuyện đó, sau khi Him-le đã dẫn mấy tên tay chân của hắn bước ra với vẻ mặt bình tĩnh, vì đã chiến thắng y, chiến thắng Boóc-man.
Y chưa thể đi đến một quyết định rô ràng. Và lúc đó y nhớ đến Muyn-lơ.
"Đúng rồi, y nghĩ, - mình phải gọi người ấy đến. Không nên hy vọng vào các biện pháp nửa vời. Hoặc là thế này, hoặc là thế kia. Mình cần
có một người của mình ở cương vị cao hơn Sơ-tiếc-lít. Người của mình phải ở cương vị lãnh đạo cao cấp. Nếu không, mình khó có thể đánh gục Him-le. Với Muyn-lơ, mình sẽ bàn đến tất cả các khả năng, và mình cũng sẽ bàn với ông ta về Sơ-tiếc-lít. Dầu sao mình cũng còn có khả năng chiến thắng: đó là các tài liệu của Sơ-tiếc-lít. Chúng sẽ vang lên tại toà án của đảng xét xử Vôn-phơ".
- Boóc-man đây, - y nói thấp giọng với nhân viên trực điện hoại. - Hãy gọi Muyn-lơ đến gặp tồi.
CÔNG HÀM RIÊNG VÀ TỐI MẬT CỦA THỦ TƯỚNG SỚC-SIN GỬI NGUYÊN SOÁI XTA-TIN
- Tổng thống có chuyển cho tôi những bức thư Ngài gửi cho Tổng thống trao đổi về cuộc đàm phán ở Thụy Sĩ giữa một sĩ quan Anh và một sĩ quan Mỹ trong Bộ chỉ huy của Thống chế A-lếch-xăng-đe với viên tướng Đức Vôn-phơ, về khả năng đầu hàng của quân đội dưới quyền Két- xen-rinh, tại miền Bắc nước Ý. Bởi vậy, tôi thấy nên gửi công hàm cho ngài trình bày rõ ràng những sự việc liên quan tới hành động của Chính phủ Hoa Kỳ. Khi chúng tôi vừa được biết về cuộc đàm phán đó, ngày 12 tháng ba, chúng tôi đã lập tức báo tin cho Chính phủ Liên Xô biết, hơn nữa, chúng tôi và Chính phủ Hoa Kỳ đã thành thật thông báo cho Ngài rõ tất cả những gì đã xảy ra. Toàn bộ sự việc ở Thụy Sĩ, mà người ta đã nhắc đến hoặc đề cập tới theo một khía cạnh nào đó, chỉ tựu trung ở chỗ kiểm tra mức độ quyền lực của tên đặc phái viên đại diện cho phía Đức và cô gắng tổ chức cuộc gặp mặt giữa viên toàn quyền của Két-xen-rinh với thống chế A-lếch-xăng-đe tại hành dinh của ông ta hoặc tại một nơi nào đó thuận lợi ở miền Bắc nước Y. Tại Thụy Sĩ không hề có bất cứ cuộc thương lượng nào, ngay cả việc thương lượng về sự đầu hàng của quân đội dưới quyền Két-xen-rinh. Hơn nữa, các ý đồ chính trị của việc thương lượng hoàn toàn không mang tính chất nhục nhã như người ta nghĩ và không có mưu đồ chính trị quân sự như lời khẳng định của Ngài trong bức điện gửi Tổng thống.
- Các đại diện của Ngài sẽ được mời ngay tới dự cuộc gặp mặt mà chúng tôi muốn tổ chức ở Ý. Nếu cuộc gặp mặt đó được tổ chức và nếu các đại diện của Ngài tới dự, hẳn là họ sẽ nghe rõ từng lời phát biểu.
- Chúng tôi cho rằng Thống chế A-lếch-xăng-đe có toàn quyền tiếp nhận tại mặt trận của mình ở Ý sự đầu hàng của quân đội Đức, bao gồm 25 sư đoàn và thảo luận các vấn đề đầu hàng với những viên đại diện của phía Đức có toàn quyền thoả thuận về các điều kiện đầu hàng. Hơn nữa, chúng tôi đã dự kiến sẽ mời các vị đại diện của Ngài tới tham dự các cuộc thương lượng thuần tuý quân sự đó tại hành dinh của A-lếch-xăng-đe, nếu các cuộc thương lượng đó được tổ chức. Song thực tế là mọi sự tiếp xúc ở Thụy Sĩ đều chưa dẫn tới kết quả gì. Các sĩ quan của chúng tôi đã từ Thụy Sĩ trở về, vì không đạt được kết quả trong việc tổ chức cuộc gặp mặt với các đại diện của Két-xen-rinh tại Ý. về toàn bộ tình hĩnh đó, chính phủ Liên Xô đã được lần lượt thông báo đầy đủ qua thông chê A-lếch-xãng-đe hoặc A. Cơ-lác Kê-rơ, cũng như qua các giới hữu quan của Hoa Kỳ. Tôi nhắc lại rằng, chúng tôi chưa hề tiến hành, thậm chí chưa hề bắt đầu, bất cứ cuộc đàm phán chính thức hoặc không chính thức nào tại Thụy Sĩ.
- Tuy nhiên, có thể toàn bộ đề nghị đàm phán mà tướng Đức Vôn-phơ đưa ra chỉ là một trong nhiều mưu toan mà kẻ thù sử dụng nhằm gieo rắc sự nghi ngờ giữa các nước đồng minh. Thống chế A-lếch-xăng-đe đã đặc biệt nhân mạnh điều đó trong bức điện đề ngày 11 tháng ba như sau:
"Tôi xin lưu ý rằng, việc hai nhân vật chỉ huy lại là người của lực lượng ss và Him-le, khiến cho tôi hết sức nghi ngờ". Bản sao bức điện ấy đã được gửi tới đại sứ Anh tại Mát-xcơ-va, ngày 12 tháng ba, để chuyển cho Chính phủ Liên Xô. Nếu bọn Đức định gieo rắc sự thiếu tin cậy giữa
chúng ta, thì chúng đã đạt được mục đích của chúng trong một thời gian.
- A. Cơ-lác Kê-rơ đã được ngài I-đen giao nhiệm vụ giải thích toàn bộ sự việc cho ngài Mô-lô-tốp rõ. Trong thư trả lời mà ngài Mô-lô-tổp gửi cho ông ta, có câu "Chính phủ Liên Xô thấy đây không phải là sự hiểu lầm, mà là một cái gì còn tệ hại hơn". Bức thư ấy cũng biểu lộ sự không vừa lòng về việc "tại Béc-nơ trong khoảng thời gian hai tuần, sau lưng Chính phủ Liên Xô, người phải mang gánh nặng chủ yếu của cuộc chiến tranh chống nước Đức phát xít, đã diễn ra cuộc thương lượng giữa một bên là các đại diện của Bộ chỉ huy quân sự Anh và Mỹ". Vì lợi ích của quan hệ Anh-Xô, Chính phủ nước tôi đã quyết định không trả lời sự buộc tội vô căn cứ và hàm ý lảng nhục đó, mà quyết định coi thường nó. Đó là lý do khiến trong thông điệp gửi Tổng thông, Ngài gọi là "sự im lặng của người Anh". Chúng tôi cho rằng, im lặng sẽ tốt hơn là trả lời một bức thư như bức thư mà ngài Mô-lô-tốp đã gửi. Nhưng Ngài có thể tin rằng, chúng tôi rất ngạc nhiên về bức thư đó và thấy bị xúc phạm trước lời buộc tội vô căn cứ của ngài Mô-lô-tốp. Tuy nhiên, điều đó hoàn toàn không ảnh hưởng gì tới những chỉ thị của chúng tôi cho thống chế A-lếch-xăng-đe là phải thông tin đầy đủ cho Ngài rõ.
- Cũng sẽ không đúng, nếu cho rằng, sáng kiến trong việc này hoàn toàn xuất phát từ phía Chính phủ Anh, như Ngài tuyên bố với Tổng thống. Thực ra, chính một cơ quan Hoa Kỳ đã báo tin cho thống chế A-lếch-xăng-đe biết rằng, viên tướng Đức Vôn-phơ muốn tiến hành cuộc thương lượng tại Thụy Sĩ.
- Giữa cuộc thương lượng tại Béc-nơ, hay ở bất cứ nơi nào khác, và thất bại hoàn toàn của quân đội Đức ở mặt trận phía Tây không liên quan gì với nhau. Thực tế là quân đội Đức vẫn chiến đấu rất hùng hổ và từ đầu cuộc tấn công tháng hai của chúng tôi đến hết ngày 28 tháng ba đã làm cho quân đội chúng tôi và quân đội Hoa Kỳ tổn thất trên 87 ngàn người. Tuy nhiên, trước lực lượng lục quân trội hơn hẳn chúng tôi về số lượng, thế nhưng lại bị đè bẹp trước líu thế của lực lượng không quân Anh-Mỹ, chỉ trong ba tháng không quân Anh-Mỹ đã ném xuống đất Đức hơn 200 ngàn tấn bom, - quân đội Đức ở mặt trận phía Tây đã bị đánh tan tác. Việc trước mắt chúng có lực lượng lục quân trội hơn về số lượng ở mặt trận phía Tây là do quân đội Liên Xô đã giáng những đòn mạnh mẽ.
- Còn về những lời buộc tội mà Ngài nêu lên trong thông điệp gửi Tổng thông mà những lời buộc tội đó bôi nhọ cả Chính phủ Anh nữa, thì tôi và các đồng sự của tôi hoàn toàn nhất trí với câu cuối cùng trong thư trả lời của Tổng thống”.
THƯ RIÊNG VÀ MẬT CỦA CHỦ TỊCH HỘI ĐÔNG BỘ TRƯỞNG LX. XTA-LIN GỬI NGÀI TỔNG THỐNG PH RU-DƠ-VEN
- Trong thông điệp của tôi... vấn đề không phải là lòng thành thật hay sự tin cậy. Tôi không bao giờ nghi ngờ lồng thành thật và mức độ đáng tin cậy của Ngài,'cũng như lòng thành thật và mức độ đáng tin cậy của ngài Sớc-sin. Vấn đề tôi muốn đề cập đến là: trong quá trình thay đổi thư từ giữa chúng ta, đã lộ ra những quan điểm khác nhau về việc một nước đồng minh kia và không được phép làm những gì. Người Nga chúng tôi nghĩ rằng, trong tình hình hiện nay trên các mặt trận, khi quân thù đứng trước sự tất yếu phải đầu hàng, bất kỳ cuộc gặp gỡ nào giữa đại diện của một nước đồng minh với bọn Đức để bàn về vấn đề đầu hàng cũng phải bảo đảm có sự tham gia của đại diện nước đồng minh kia trong gặp gỡ ấy. Trong mọi trường hợp, đó là điều tối cần thiết nếu nước đồng minh đó muốn được tham gia cuộc gặp gỡ như thế. Thế nhưng. Phía Mỹ và phía Anh lại nghĩ khác: họ cho rằng, quan điểm của người Nga không đúng. Xuất phát từ đó, họ đã không chấp nhận quyền tham gia của người Nga trong cuộc đàm phán với bọn Đức ở Thụy Sĩ. Tôi đã viết cho Ngài thấy sẽ không thừa nếu nhắc lại rằng, gặp trường hợp tương tự, người Nga sẽ không bao giờ bác bỏ quyền tham gia của người Mỹ và người Anh trong một cuộc đàm phán như thế. Tôi vẫn tiếp tục coi quan điểm của người Nga là quan điểm duy nhất đúng, bởi vì, nó loại trừ mọi khả năng dẫn tới sự nghi ngờ lẫn nhau và không cho phép kẻ thù gieo giắc sự nghi ngờ giữa chúng ta.
- Khó mà tán thành ý kiến cho rằng, sở dĩ quân Đức ở mặt trận phía Tây chông cự yếu ớt chỉ là vì chúng đã bị đánh tan. Bọn Đức có 147 sư đoàn ở mặt trận phía Đông. Chúng có thể rút bớt 15 - 20 sư đoàn ở mặt trận phía Đông mà không thiệt hại gì tới chiến cục và ném sang phía Tây giúp các đơn vị của mình. Song bọn Đức không làm như vậy. Chúng vẫn tiếp tục điên cuồng chống trả quân đội Nga để bảo vệ cái nhà ga Dem-li-a-nít-xa ít ai biết đến ở Tiệp Khắc, một vị trí cần thiết đối với chúng không hơn gì thứ thuốc đắp đối với người chết thế nhưng chúng lại rút bỏ không hề kháng cự khỏi những thành phố quan trọng ở trung tâm nước Đức như Ồ-xơ-na-bơ-rúc, Man-gây-mơ, Cát-xen. Chắc Ngài phải đồng ý với tôi rằng, hành động đó của bọn Đức là hiện tượng không chỉ lạ lùng và khó hiểu.
- Còn về những người đưa tin của tôi, thì tôi xin khẳng định với Ngài rằng, họ là những người hết sức trung thực và khiêm tốh, họ thi hành nhiệm vụ của họ một cách nghiêm túc và không có ý định làm nhục bất cứ ai. Những người ấy đã được chúng tôi kiểm tra nhiều lần qua thực tế...
Sơ-tiếc-lít nhận được lệnh của Sê-len-béc phải về Đức ngay: anh cẩn phải báo cáo riêng với Quốc trưởng về công tác mà anh đã tiến hành nhằm phá vỡ "các cuộc thương lượng bội phản của những tên bội phản kiểu Sơ-lắc" ở Béc-nơ.
Sơ-tiếc-lít chưa thể về Béc Lanh ngay, bởi vì anh đang từng ngày chờ đợi người liên lạc do Trung tâm phái đến, anh không thể tiếp tục hoạt động, nếu không có đường dây liên lạc đáng tin cậy. Anh mua các tờ báo của Liên Xô và ngạc nhiên thấy ở nhà mọi người cứ tưởng rằng, với nước Đức thế là tất cả tai hoạ đã chấm dứt và sẽ không bao giờ có điều gì bất ngờ được nữa.
Nhưng anh, hơn ai hết, nhất là sau khi đi sâu vào bí mật của các cuộc thương lượng giữa bọn quốc xã với phương Tây và nắm được tiềm lực quân sự và công nghiệp của nước Đức, càng ngày
anh càng lo ngại những sự bất ngờ. Anh không biết các bức điện mật mã mà anh gửi Kết chuyển đi đã tới Trung tâm, tới hội đồng Quốc phòng Nhà nước hay chưa.
Anh hiểu rằng, nếu Him-le biết rõ vai trò của anh trong việc phá vỡ các cuộc thương lượng nếu Boóc-man biết được trò chơi hai mặt của anh, nếu bọn chúng chỉ cần biết một phần nghìn sự thật về anh - thì cuộc sống của anh sẽ tính bằng giờ phút...
Anh hiểu rằng, với việc trở lại Béc Lanh, anh sẽ chui đầu vào thòng lọng. Quay về đó một mình để nhận lấy cái chết một cách đơn giản thì thật là vô nghĩa. Sơ-tiếc-lít đã biết cách từ bên ngoài phân tích cuộc sống của anh như xét đoán một phạm trù nào đó tồn tại biệt lập đối với anh. Việc quay lại Béc Lanh sẽ có ý nghĩa, nếu anh bắt được liên lạc chắc chắn với Mát-xcơ-va, - anh cần đến đường dây liên lạc nhanh chóng và đáng tin cậy với Mát-xcơ-va biết chừng nào! Nếu không, anh có thể từ bỏ cuộc chơi được rồi: anh đã hoàn thành nhiệm vụ của mình. Lương tâm anh trong sạch. Anh đã hết sức mệt mỏi, nhưng đó không phải là điều quan trọng. Cái chính là anh đã hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Họ gặp nhau trong một tiệm khiêu vũ chỉ mở cửa ban đêm, như đã qui định từ trước. Một cô gái tinh quái vừa thi đỗ khoa Toán trường Đại học Tổng hợp cứ bám riết lấy Sơ-tiếc-lít không chịu rời anh nửa bước. Cô ta đẫy đà, đẹp một cách trơ trẽn và say rượu bí tỉ. Cô ta luôn miệng thì thầm bên tai anh: "Người ta cứ bảo các nhà toán học chúng em là bọn người khô khan! Láo toét! Chúng em là những nhà phát minh cả trong lĩnh vực yêu đương! Trong tình yêu, em là một Anh- xtanh! Em vừa tương đối vừa tuyệt đối! Em thích anh lắm, chàng trai tóc bạc của em ạ!".
Sơ-tiếc-lít không tài nào gỡ khỏi cô ta được. Anh đã nhận ra người liên lạc qua chiếc tẩu, cái cặp và chiếc ví của người đó, anh phải bắt liên lạc, nhưng cô ả sinh viên khoa Toán cứ bám riết lấy anh, mà anh thì không muốn gây chuyện ầm ĩ, nhất là vào lúc này.
- Em hãy ra ngoài xe của anh và chờ anh ở đó, Anh-xtanh yêu quý, - Sơ-tiếc-lít nói. - Anh sẽ ra ngay bây giờ.
- Thật không anh?
- Thật, thật!
- Anh thề đi!
- Xin thề... - Sơ-tiếc-lít cười. - Anh sẽ ra ngay... thật đấy! Em ra trước đi và hãy vẽ một cặp công thức trong ca-bin cho anh xem.
Đồng chí liên lạc nói với anh rằng, Trung tâm không thể nài ép anh trở về bên Đức vì hiểu rằng, trong tình hình hiện nay, việc đó rất phức tạp và nguy hiểm. Tuy nhiên, nếu Uy-xơ-tác cảm thấy còn sức lực thì Trung tâm dĩ nhiên mong anh trở về Béc Lanh. Trung tâm để cho đồng chí Uy-xơ-tác được quyền quyết định hoàn toàn vấn đề đó, đồng thời báo tin rằng, Bộ chỉ huy đã đề nghị Hội đồng Quốc phòng Nhà nước và Chủ tịch đoàn Xô viết tối cao tặng anh danh hiệu Anh hùng Liên Xô vì công lao phát hiện chiến dịch "Trò xếp ô chữ". Nếu đồng chí Uy-xơ-tác thấy có thể quay về bên Đức, thì anh sẽ nhận được liên lạc: hai chiến sĩ điện đài - ở Pốt-xđam và Vét-đinh - sẽ chuyển sang hoạt động dưới sự chỉ huy của anh.
Động cơ chiếc "Khô-rếch" nổ rất giòn và đều. Chiếc cột số đen-xanh bên đường ôtô chỉ rằng từ đây đến Béc Lanh còn 247 ki-lô-mét nữa. Giữa những đám mây bay thấp rách nát rộ ra những mảng trời màu xanh. Tuyết đã tan hết, khắp nơi đâu đâu cũng thấy các lá sồi màu nâu thẫm. Không khí trong rừng yên tĩnh, nặng nề và nồng mùi ẩm mốc.
"Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân, - đài phát thanh đang truyền đi bài hát của Ma-ri-ca Rốc-cơ, - sẽ đọng lại trong trái tim anh. Em tin rằng, xung quanh chúng ta mãi mãi sẽ là tiếng nhạc, lời ca, và cây cỏ sẽ quay tròn trong điệu vũ uyển chuyển, chỉ có con hải âu bị cơn sóng lừng chộp lấy là sẽ chìm xuống và anh sẽ không thể giúp gì được nó...".
Sơ-tiếc-lít phanh xe lại đột ngột. Trên đường không một bóng xe cộ hay người qua lại. Anh để xe ngay trên mặt đường chứ không lái sang vệ đường. Anh vào rừng thông và ngồi xuống đất. Những mầm lá xanh tươi đầu tiên đang nhú ra dè dặt. Sơ-tiếc-lít cẩn thận lấy hai tay xoa mặt đất. Anh ngồi thật lâu trên lớp đất và lấy tay xoa đất. Anh biết mình sẽ gặp những khó khăn gì khi đồng ý quay lại Béc Lanh. Bởi vậy, anh có quyền ngồi thật lâu trên lớp đất xuân lành lạnh và đưa tay ve vuốt nó...
Mát-xcơ-va - Béc Lanh - Niu Yoóc 1968.
* E-va Bơ-ra-un là vợ Hít-le.
* Nguyên văn: các đài dẩn động.
[*] Đu-tre, tức là Mút-xô-li-ni, quốc trưởng y.
[†] Tiếng Pháp, có nghĩa: cô em của tôi.
* Phụ nữ thích rằng, giữa hai cái hôn, được đi sâu vào bí mật của lịch sử, đạo đức và văn học (tiếng Pháp).
** Các quan điềm đạo đức và chính trị (tiếng Pháp).
27/9/2020
Iulian Xêmiônốp
Đặng Lan dịch
Theo https://vnthuquan.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Mồ hôi nước mắt 2 0000000

Mồ hôi nước mắt 2 - 2 - Sáng hôm sau Ánh đến nhà in Minh Tân, đường Thành Thái, Ánh mặc đồ bà ba đen, đi chưn không, tay cầm chiếc nón lá. N...