Muyn-lơ rút từ túi sau khẩu van-te của y và chìa cho tên lính gác.
Sơ-tiếc-lít nhìn Muyn-lơ dò hỏi. Y khẽ gật đầu. Sơ-tiếc-lít chìa khẩu pa-ra-ben-lom của anh ra, tên lính gác đút luôn vào túi hắn. Muyn-lơ nhặt quả táo để trên chiếc bàn nhỏ của tốp lính gác và nói:
- Đi thăm mà không mang quà thì bất tiện lắm. Dù cả hai chúng ta có ủng hộ lốỉ tự do yêu đương vô trách nhiệm chăng nữa, thì khi đến thăm bạn tù cũ cũng nên mang quà.
Sơ-tiếc-lít cố bắt mình cười ha hả: anh hiểu vì sao Muyn-lơ lại nói như vậy. Có lần người của y cố tìm cách tuyển một một nhà ngoại giao Nam Mỹ. Chúng chìa cho ông kia mấy bức ảnh chụp nhà ngoại giao đang ăn nằm với một cô gái tóc vàng do bọn Muyn-lơ bố trí. Chúng nói với ông ta-: "Hoặc là chúng tôi sẽ gửi mấy bức ảnh này về cho vợ ông, hoặc là ông hãy giúp đỡ chúng tôi". Nhà ngoại giao xem ảnh một lúc lâu rồi hỏi: "Tôi có thể ngủ với cô ta một lần nữa được không? Vợ chồng tôi mê những tấm ảnh loại này lắm". Chuyện ấy xảy ra sau khi Him-le ra lệnh đặc biệt chú ý đến sinh hoạt gia đình của các nhà hoạt động tình báo của nước Đức. Hôm ấy, Muyn-lơ làu bàu: "Cần phải tuyên truyền cho một thứ tự do yêu đương vô trách nhiệm, khi đó, thì đừng có hòng bắt quả tang những hành động ngu ngốc của con người". Khi người ta kể lại trường họp xảy ra với nhà ngoại giao Pê-ru nói trên, Sơ-tiếc-lít chỉ huýt sáo:
- Theo tôi, cái tay Pê-ru ấy đã chơi trội hơn các ông: ông ta sợ vợ một phép, nhưng không thể hiện ra ngoài mặt và đã đóng một vai kịch rất đạt. Thế mà các ông lại đi tin ông ta. Anh có sợ vợ không? Dĩ nhiên! Còn tôi thì không - tôi chỉ sợ bản thân tôi thôi, bởi vì tôi chẳng có trách nhiệm gì với ai hết. Điều duy nhất không tốt là tôi chẳng có ai để mang quà vào nhà tù thăm tôi cả.
Đến xà-lim số bảy, Muyn-lơ dừng lại. Y nhìn rất lâu qua lỗ quan sát, rồi ra hiệu cho tên lính gác. Tên kia mở chiếc cửa rất nặng ra. Muyn-lơ bước vào xà-lim trước tiên. Sơ-tiếc-lít theo sau y. Tên lính gác đứng ngoài cứa. Xà-lim này không giam ai cả.
- Nào, nói đi! - Rôn-phơ tiếp tục hét. - Chỉ trên màn ảnh mới có những chuyện kỳ diệu và chỉ trên màn ảnh người ta mới đếm đến con số ba! Tôi sẽ không đếm đến ba. Tôi chỉ việc mở cửa sổ và lột tã lót của con cô ra là xong. Rõ chưa! Cô thực hiện nghĩa vụ của cô trước dân tộc cô, tôi cũng phải làm nghĩa vụ của tôi trước dân tộc tôi chứ!
Kết đột nhiên cảm thấy người chị nhẹ bỗng hẳn đi, cảnh vật xung quanh chao đảo và chị ngất đi.
Rôn-phơ ngồi xuống cạnh mép bàn và nói:
- Ghen-mút, bê lấy thằng nhóc!...
Người lính bê chú nhóc định bước ra, nhưng Rôn-phơ ngăn lại:
- Cứ ở đây đã. Nó sắp tỉnh lại bây giờ, tôi sẽ tiếp tục... Bác-ba-ra, xin cô mang nước lại đây. Cho tôi và cho nó. Và nếu có giọt thuốc trợ tim nào thì xin cô cho tôi một ít và cốc.
- Nên giỏ cho nó mấy giọt ạ?
- Không phải cho nó, mà là cho tôi.
- Vâng. Mấy giọt ạ?
- Làm sao tôi biết?! Mười... Ba mươi...
Hắn ngồi xuống bên Kết và vỗ vỗ vào má chị.
- Liệu nó ngất có lâu không? - Rôn-phơ hỏi Ghen-mút.
- Nếu mẹ ngài ngất thì độ bao nhiêu lâu sẽ tỉnh?
- Hừ, mẹ tôi à... Lũ sâu bọ muốn làm người trong sạch, nhưng người ta lại trao cái việc khốn nạn này cho tôi... Đưa diêm đây xem nào...
- Tôi không hút thuốc ạ.
- Bác-ba-ra! Rôn-phơ gọi. - Mang diêm lại đây! Xem này, nó tỉnh dậy rồi phải không? Mí mắt nó động đậy...
- Tôi chẳng hiểu gì về chuyện này cả.
- Bác-ba-ra! - Rôn-phơ gọi. - Cô làm gì ở đằng ấy thế?!
Bác-ba-ra bưng hai cốc nước vào. Rôn-phơ uống hết cốc nước xanh xanh, đùng đục. Hắn nhăn mặt nói:
- Hừ, tởm quá!
Hắn châm thuốc, ngồi xổm xuống bên Kết và lật mí mắt chị lên. Đồng tử mắt mở rộng nhìn hắn.
- Nó chết rồi ư? - hắn hỏi. - Bác-ba-ra thử nhìn xem này...
Bác-ba-rà xoay đầu Kết:
- Không. Nó còn thở.
- Cô làm thế nào cho nó tỉnh lại đi. Còn ít thời gian lắm... ở đằng kia, người ta đang đọi...
Bác-ba-ra bắt đầu vừa tát vừa day hai má Kết một cách thận trọng, vừa phải, để Kết khỏi đau.
Ả hớp một ngụm nước lạnh thật to rồi phun mạnh vào mặt Kết. Kết thở dài rất sâu, mắt chị giật giật mấy lần. Cháu bé vẫn khóc ngằn ngặt như lúc trước.
- Anh dỗ cho nó nín đi xem nào! - Rôn-phơ đề nghị. - Nghe điếc cả tai!
- Nó đòi ăn...
- Sao anh cứ lặp đi lặp lại câu đó như vẹt ấy thế nhỉ! Anh chớ tưởng rằng chỉ một mình anh mới có trái tim! - Bác-ba-ra kêu lên.
- Thì tôi đã xin phép đi sang phòng khác kia mà...
Chuông điện thoại reo. Rôn-phơ nhấc ông nghe lên và nói:
- Rôn-phơ đây. Ai đấy? Vâng, tôi nghe đây.
Cháu bé khóc thét lên, tiếng khóc của em xoáy vào tai. Khuôn mặt tí hơn xanh lại, mi mắt sưng tây, cặp môi trắng bệch.
- Ra ngoài kia! - Rôn-phơ khoát tay và Ghen-mút bước ra. Nhưng tiếng khóc của cháu bé từ phòng bên vẫn vẳng lại. - Vâng, - Rôn-phơ đáp: - vẫn chưa có gì... Ông tưởng việc đó đơn giản lắm sao? Thế ư? Chúng tôi có thể đổi chỗ cho nhau. Khi nào ông ấy bắt đầu hỏi cung hắn? Không khai hả? Ai chà, hai người họ nói chuyện với nhau như những người bạn cơ à... Vậy thì cứ để họ nói chuyện với cô ả này, tôi sẽ xem họ làm ăn ra sao...
Kết bừng tỉnh khi Ghen-mút bế cháu bé đi: ngay trong cơn ngất khủng khiếp chị vẫn cảm thấy thì đúng hơn là nghe thấy đứa con ở bên cạnh chị, trong căn phòng đáng sợ này. Thằng bé đang kêu khóc gần đâu đây, nhưng trong phòng vẫn âm, chứng tỏ hắn vẫn chưa mở cửa sổ. Hắn đang nói điện thoại về chuyện gì vậy? Chúng đang hỏi cung ai và ai không chịu khai? "Anh ấy" không khai, rồi. "Hai người" nói chuyện với nhau như những người bạn. Chẳng lẽ chúng bắt được anh Sơ-tiếc-lít thật rồi sao? Nếu bây giờ chị khai ra điều chúng chờ đợi, chúng sẽ tra tấn anh và như thế là anh sẽ bị chị bán rẻ cho kẻ thù. Không thể được. Nhưng chuyện khác cũng không thể được: không thể để cho đứa con phải nằm trên chiếc bàn cạnh cửa sổ - trần truồng, với hai cánh tay bé bỏng đỏ hỏn và đôi bàn chân cong cong chưa có móng trong khi cơn giá buốt xộc vào phòng, mà con chị thì không thể làm gì được để tự cứu nó, ngoài tiếng khóc thất thanh. Con chị sẽ khóc cho đến lúc hết hơi và bắt đầu ho...
"Chà! Mình chết đi còn hơn, - Kết buồn rầu nghĩ. - Đó lối thoát. Cho tất cả mọi người. Cho đứa con, cho Uy-xơ-tác và cho mình. Đó là lối thoát đẹp nhất, nhân đạo nhất đổì với mình... Trái tim của ta ơi, - chị đau lòng thầm nghĩ, - sao ngươi khoẻ đến thế? Ngươi hãy vỡ tung ra! Hoặc hãy dừng lại đi. Không thể như thế này mãi được...".
Rôn-phơ đặt ống nghe xuống và nói:
- Theo tôi, nó đã tỉnh lại rồi.
Bác-ba-ra lại ngồi xổm cạnh Kết và dùng hai ngón tay vành mắt chị ra. Kết nhìn Bác-ba-ra, mí mắt chị động đậy.
- Vâng, - Bác-ba-ra nói, - nó đã tỉnh lại.
- Cho nó uống nước đi.
Kết thử giả vờ là mình còn ngất, nhưng nét mặt chị đã phản chị, nó lại trở nên sinh động, không chịu tuân theo ý muốn của chị, bởi vì đứa con vẫn đang khóc ở phòng bên cạnh.
- Thôi, đủ lắm rồi, - Rôn-phơ nói. - Sự thật rành rành như thế mà cô còn định giở cái trò đàn bà vờ vịt ra nữa. Không nước non gì đâu. Cô đã dính mũi vào chuyện đàn ông, và các trò ảo thuật của cô sẽ vô tác dụng. Bác-ba-ra, cô hãy giúp cô ta ngồi dậy! Nào! Mở mắt ra!
Kết vẫn không động đậy và không mở mắt.
- Ước gì mình đừng tỉnh lại vội, - chị nghĩ thầm. - Sao đáng sợ thế này? "
- Thôi được, - Rôn-phơ nói. - Cứ để cô ta đó, Bác-ba-ra ạ. Tôi biết là cô ta nghe rõ lời tôi. Bây giờ tôi sẽ gọi Ghen-mút mang thằng bé vào và mở cửa sổ ra, bây giờ cô ta sẽ mở mắt thôi, nhưng lúc ấy thì đã muộn mất rồi.
Kết không chịu được nữa, chị khóc oà lên.
- Thế nào? - Rôn-phơ hỏi. - Cô nghĩ kỹ chưa?
Hắn tự tay đỡ chị dậy, đặt ngồi lên ghế.
- Cô có chịu nói hay không thì bảo?
- Tôi cần phải suy nghĩ kỹ đã...
- Chúng tôi không còn thì giờ cho cô suy nghĩ.
- Tôi không biết trả lời thế nào... Chẳng lẽ ông muốn tôi bịa chuyện hay sao?
- Tôi không muốn cô bịa chuyện. Tôi muốn cô khai sự thật.
- Tôi sẽ giúp đỡ cô, - Rôn-phơ nói. - Để cô khỏi cảm thấy mình là kẻ từ bỏ niềm tin cũ.
Hắn rút từ trong túi ra tấm ảnh của Sơ-tiếc- lít và chìa cho Kết xem mà không để Bác-ba-ra nhìn thấy.
- Thế nào? Rõ chưa? Cô im lặng thì được cái gì? Ta nói chuyện với nhau chứ?
Kết im lặng.
- Mày có nói không nào?! - đột nhiên Rôn-phơ thét lên gay gắt và hùng hổ. Hắn đấm mạnh tay xuông bàn, làm cho chiếc lọ cắm mấy bông hoa giả rung lên bần bật. - Hay là mày im lặng?! Ghen-mút!
Ghen-mút bế cháu bé bước vào, Kết nhoài người về phía con, nhưng Rôn-phơ giằng cháu bé khỏi tay Ghen-mút, mở cửa sổ và giật phăng chiếc khăn ủ cháu bé ra. Kết muốn lao vào người Rôn-phơ, nhưng cái xiềng dưới chân làm chị ngã gục. Chị lăn về phía hắn và gào lên khủng khiếp ; Rôn-phơ cũng thét to điều gì đó. Và đột nhiên hai tiếng súng vang lên.
- Lô-gích lắm, - Muyn-lơ nói sau khi nghe Sơ- tiếc-lít. - Lập trường của anh đối với nhà vật lý học Run-gơ rất vững vàng. Anh hãy coi tôi là đồng minh của anh.
- Cái đuôi mà ngài cho bám theo chiếc "Khô-rếch" màu đen của nhà ngoại giao Thụy Điển có liên quan đến vụ này phải không?
- Thế anh cảm thấy có cái đuôi đằng sau à? Anh cảm thấy rõ mối nguy hiểm à?
- Bất kỳ thằng ngốc nào ở địa vị tôi cũng cảm thấy được cái đuôi. Còn về mối nguy hiểm, thì mình ở nhà mình sao lại có mối nguy hiểm nhỉ? Nếu như tôi ở nước ngoài, thì...
- Anh có đau đầu không đấy?
- Vì công việc? Sơ-tíếc-lít mỉm cười.
- Vì áp huyết, - Muyn-lơ trả lời vầ đưa bàn tay trái lên xoa gáy.
"Hắn muốn xem đồng hồ. Hắn chờ đợi điều gì đây, - Sơ-tiếc-lít nhận xét. - Hắn sẽ không giở màn kịch này ra, nếu hắn không có con bài chủ chốt dự trữ nào đó. Ai vậy nhỉ? Vị giám mục ư? Pờ-lây-sơ-ne chăng? Hay lầ Kết?
- Tôi khuyên ngài thử tập thở theo phương pháp y-ô-ga xem.
- Tôi không tin phương pháp đó... Nhưng anh thử bày vẽ qua cho tôi xem nào. Người ta đã giới thiệu với tôi, nhưng tôi không tin.
- Ngài hãy để tay lên gáy. Không, chưa đúng, chỉ đặt riêng ngón tay thôi. Còn tay phải thì đặt dọc sương sọ. Đó, đúng rồi. Bây giờ thì ngài dùng cả hai tay xoa đầu. Nhưng phải nhắm mắt lại.
- Tôi nhắm mắt lại để anh choảng vào đầu tôi như trường hợp Khôn-tốp chứ gì?
- Nếu ngài bảo tôi phản bội tổ quốc thì tôi sẽ làm như vậy... Thưa thượng tướng, ngài xem đồng hồ thận trọng quá đấy: đồng hồ của ngài chậm mất bảy phút. Chúng ta ngồi ở đây đã hơn một tiếng. Tôi thích chơi bài một cách công khai - ít nhất cũng là với người của mình.
Muyn-lơ cười trừ:
- Tôi luôn luôn tiếc rằng anh không làm việc ở cơ quan của tôi. ở bên tôi thì tôi đã bổ nhiệm anh làm người phó của tôi từ lâu rồi.
- Tôi sẽ không đồng ý.
- Anh không đồng ý cái gì?
- Tôi không đồng ý làm chức phó của ngài.
- Vì sao?
- Ngài hay ghen tị lắm... Cứ y như một người vợ thuỷ chung và yêu chồng vậy. Đó là kiểu ghen tị đáng sợ nhất... Có thể gọi là sự ghen tị của một kẻ bạo chúa...
- Nhìn chung thì anh đã hiểu tôi rất đúng. Kể ra, cũng có thể gọi sự ghen tị ấy là sự quan tâm đối với bè bạn, - nhưng đây là vấn đề kỹ thuật chế tạo, chứ không phải vấn đề nguyên tắc.
Muyn-lơ lại xem đồng hồ: bây giờ y làm việc đó một cách công khai. "Trình độ nghề nghiệp của tay này cự phách thật, - Muyn-lơ nhận xét. - Anh ta hiểu tất cả mọi vấn đề không qua lời nói, mà qua cử chỉ và tâm trạng. Cừ thật! Nếu anh ta hoạt động chống lại chúng ta, mình sẽ không dám xác định mức độ nguy hại mà anh ta gây ra cho chế độ quốc xã. Một diễn viên như anh ta đáng giá hàng ngàn tên lính bất hạnh của chúng ta..."
- Thôi được, - Muyn-lơ nói. - Chúng ta sẽ chơi bài một cách công khai. Bây giờ xin anh bạn đợi tôi một phút...
Y đứng dậy và nhẹ nhàng mở cánh cửa thép. Tuy là cả một khối sắt nặng nề, song chỉ cần một ngón tay cũng mở được cửa một cách dễ dàng. Y đề nghị tên lính gác đang dùng que diêm cậy chất bẩn trong móng tay:
- Anh hãy gọi điện thoại cho Sôn-xơ hỏi xem có tin tức mới chưa?
Muyn-lơ tính rằng trong vòng hai, ba giờ đồng hồ Rôn-phơ sẽ bắt cô nhân viên điện đài Nga phải khai hết sự thật. Chúng sẽ đưa cô ta đến đây đối chất. Đúng sai sẽ rành rành. Y vẫn có chỗ rút lui: thẩm tra lại sự kiện là nghĩa vụ của người làm công tác phản gián. Kếhoạch hỏi cung Sơ-tiếc-lít cũng đã được y tính toán tương đối chính xác: khi Rôn-phơ khai thác được người phụ nữ Nga Muyn-lơ sẽ chìa con bài tẩy của y ra, quan sát thái độ của Sơ-tiếc-lít, sau đó y sẽ đưa anh giáp mặt với cô "nghệ sĩ dương cầm".
- Bây giờ tôi đang chờ một thông báo, - Muyn-lơ quay vào xà-lim và nói.
Sơ-tiếc-lít nhún vai:
- Vậy thì ngài dẫn tôi vào đây làm gì? Chúng ta ngồi nói chuyện ở phòng làm việc của ngài không được sao?
- Ở đây yên tĩnh hơn. Nếu tất cả mọi chuyện kết thúc như tôi muốn, chúng ta sẽ cùng đi lên trên kia, và tất cả mọi người sẽ nghĩ rằng tôi với anh cùng nghiên cứu một vụ án trong bộ máy của tôi.
- Và ông sếp của tôi sẽ biết việc này?
- Anh sợ sự ghen tị của ai - của ông ta hay của tôi?
- Thế ngài cho tôi là sợ sự ghen tị của ai?
- Thái độ tấn công trực diện của anh khiến tôi rất thích.
- Tôi không còn lối thoát nào khác. Hơn nữa, bao giờ tôi cũng thích sự rõ ràng.
- Sự rõ ràng là một trong những hình thức hoàn toàn mờ mịt... Tôi biết.anh là một người tinh ma.
Tên lính gác bước vào báo cáo:.
- Ông Sôn-xơ nói rằng ở đằng ấy không có ai trả lời.
Muyn-lơ ngạc nhiên cắn môi, sau đó y nghĩ: "Chắc là Rôn-phơ đi thẳng đến đây mà không báo trước. Đường dây của mình có thể đang bận, nên anh ta đi luôn để tiết kiệm thời gian. Khá lắm. Nghĩa là chỉ mười lăm phút nữa Rôn-phơ sẽ chở cô ta đến đây".
- Được rồi, - Muyn-lơ nhắc lại. - Kinh thánh có nói: đã đến lúc nhặt đá và đã đến lúc ném nó đi.
- Hồi đi học, ngài đã nắm không vững môn thần học, - Sơ-tiếc-lít nói. - Trong cuốn sách của nhà tiên tri Éch-lê-di-a-xơ có viết: đã đến lúc ném đá đi và đã đến lúc nhặt đá về, đã đến lúc ôm hôn và đã đến lúc buông nhau ra.
Muyn-lơ hỏi:
- Anh đã nghiên cứu kỹ Kinh thánh với giám mục Sơ-lắc của anh đến thế kia à?
- Tôi thường đọc đi đọc lại Kinh thánh. Muốn chiến thắng kẻ thù, phải biết hệ tư tưởng của nó, có phải thế không ạ? Đến lúc giao chiến mới học kinh thánh thì chỉ có thất bại thôi.
"Chẳng lẽ chúng đã bắt được giám mục ở bên kia biên giới hay sao? Có thể lắm. Mặc dù trên đường quay về nhà ga, mình không gặp một chiếc xe nào cả. Nhưng chúng có thể đi trước mình và mai phục sẵn. Căn cứ vào thời gian, thì bây giờ chúng sắp về tới Béc Lanh. Thế đấy. Nghĩa là bây giờ mình phải đòi gặp bằng được ông sếp của mình. Chỉ có tấn công. Nhất thiết không được phòng ngự. Nhưng nếu Muyn-lơ hỏi mình rằng điệp viên Cờ-lao-xơ hiện ở đâu? Bức thư của hắn phải nằm ở trên bàn, tại nhà mình. Bằng chứng vô tội rõ ràng quá còn gì nữa. Nhưng ai có thể ngờ rằng các sự kiện lại đưa chúng đúng đến chỗ vị giám mục? Phải chứng minh vụ Cờ-lao-xơ. Thời gian ủng hộ mình".
Muyn-lơ chậm rãi lôi từ trong túi ngực ra một chiếc phong bì màu xanh và nhìn chằm chằm vào mắt Sơ-tiếc-lít.
"Rốt cuộc, mình đã hoàn thành nhiệm vụ của mình, - Sơ-tiếc-lít tiếp tục lập luận. - Thằng ngốc, hắn cứ tưởng sự chậm chạp của hắn sẽ làm mình tê liệt và giãy giụa. Mặc kệ hắn. Nhờ sự chậm chạp của hắn mà mình có được hai mươi giây để suy nghĩ. Vị giám mục có thể cung khai, nhưng điều đó không đáng sợ lắm. Cái chính là Pờ-lây-sơ-ne đã báo tin cho người của ta biết về sự thất bại của Kết, về việc Các-lơ Vôn-phơ đã bắt đầu thương lượng. Hoặc đang thương lượng. Anh em ta sẽ phải tự đảm nhiệm tất cả mọi việc còn lại, nếu mình bị sa chân ở đây, - bây giờ anh em đằng mình đã nắm được phương hướng rồi. Muyn-lơ không biết mật mã của mình - ngoài mình ra, không ai biết cả. Chúng sẽ không moi được mật mã ở mình - cái này thì mình tin tưởng chắc chắn".
- Đây, - Muyn-lơ rút ba tấm ảnh điểm chỉ dấu tay từ trong túi ra và nói: - Cho anh xem món này hay lắm. Dấu tay này, - y chìa cho Sơ-tiếc-lít tấm ảnh thứ nhất, - chúng tôi phát hiện được trên thành cốc nước mà anh đưa cho chàng Khôn-tốp bất hạnh, cả tin và ngu ngóc uốhg. Dấu tay này, - y giơ tấm ảnh thứ hai, như người ta rút một quân bài khỏi bộ bài, - chúng tôi tìm được... anh thử đoán xem ở đâu... hả?
- Có thể tìm thấy dấu tay của tôi ở Hà Lan, - Sơ-tiếc-lít nói, - ở Ma-đơ-rít, Tô-ki-ô, Ang-ca-ra.
- Ở đâu nữa?
- Tôi có thể nhớ lại, nhưng việc đó sẽ tốn ít nhất mười lăm tiếng đồng hồ nữa, và chúng ta sẽ không được ăn cả bữa trưa lẫn bữa tối...
- Không sao. Tôi sẵn sàng nhịn đói. Các nhà y-ô-ga coi cái đói là một trong những phương thức hiệu nghiệm nhất và họ tiên đoán rằng rồi đây thế giới sẽ chữa bệnh lậu bằng cách bỏ đói một tuần lễ, chứ không dùng thuốc xuyn-phi-đin nữa... Anh nhớ lại rồi chứ?
- Câu chuyện của chúng ta thật là lông bông. Nếu tôi bị bắt, - và ngài chính thức báo tin ấy cho tôi, - tôi sẽ trả lời câu hỏi của ngài như một người bị bắt. Nếu tôi không bị bắt, tôi sẽ không trả lời ngài đâu.
- Sẽ không trả lời, - Muyn-lơ nhắc lại lời Sơ-tiếc-lít đúng theo ngữ điệu của anh. - Sẽ không trả lời.
Y liếc nhìn đồng hồ: nếu Rôn-phơ bước vào đây, y sẽ bắt đầu từ chiếc va-li điện đài, nhưng Rôn-phơ chậm trễ quá, nên y đành nói:
- Xin anh hãy nhắc lại, càng chính xác càng tốt, giá được từng phút thì hay nhất, tất cả những việc anh đã làm sau khi anh nói chuyện từ phòng thông tin liên lạc đặc biệt, nơi đã có lệnh tuyệt đối cấm tất cả mọi người.
"Hắn chưa chìa tấm ảnh thứ ba, - Sơ-tiếc-lít nhận.xét. - Nghĩa là hắn còn dự trữ một cái gì đây. Nghĩa là phải công kích ngay bây giờ, để hắn mất dần thái độ tự tin".
- Sau khi tôi ghé vào phòng thông tin liên lạc đặc biệt - cần phải đưa bọn sĩ quan liên lạc ra toà vì sự chểnh mảng và hèn nhát của chúng, chúng đã để chìa khoá ở cửa và chạy xuống hầm trú ẩn như một lủ thỏ, - tôi đã gặp ngài Boóc-man. Và đã nói chuyện hơn hai giờ với ngài đó. Còn đấy là chuyện gì thì dĩ nhiên tôi sẽ không trả lời ngài đâu.
- Anh có thể không trả lời nếu như không...
- Không có "nếu như không" gì hết...
- Đừng nói hỗn nữa, Sơ-tiếc-lít ạ, đừng nói hỗn nữa... Dầu sao thì tôi cũng trên anh cả về cấp bậc lẫn tuổi tác...
"Hắn mời mình vào vòng nhảy đây, - Sơ-tiếc-lít nhận xét rất nhanh. - Hắn trả lời như thế để cho mình hiểu rằng mình không bị bắt. Nếu vậy thì chúng vẫn chưa có bằng chứng, chúng vẫn chờ đợi. Chờ đợi bằng chứng cả của mình nữa. Nghĩa là mình còn khả năng chiến thắng".
- xìn ngài thượng tướng tha lỗi.
- Như thế có phải tốt hơn không. Vậy anh đã nói chuyện gì với Boóc-man? Với ngài Boóc-man...
- Tôi chỉ có thể trả lời câu hỏi của ngài khi có mặt ngài Boóc-man, xin ngài hiểu cho tôi.
- Giờ anh trả lời tôi khi vắng mặt ngài Boóc- man, có lẽ anh sẽ không phải trả lời câu hỏi thứ ba...
Muyn-lơ lại xem đồng hồ một lần nữa. Rôn-phơ phải xuống đây ngay bây giờ, Muyn-lơ bao giờ cũng cho rằng y có khả năng bắt nhạy thời gian một cách kỳ lạ.
- Tôi sẵn sàng trả lời câu hỏi thứ ba của ngài, nếu nó liên quan đến riêng tôi, chứ không tới quyền lợi của Đế chê và Quốc trưởng.
- Nó liên quan đến riêng anh. Cái dấu tay này người của tôi tìm thấy trên chiếc va-li của cô ả 486
nhân viên điện đài Nga... Đây là câu hỏi khó nhất đối với anh.
- Tại sao? Câu hỏi này lại rất dễ đối với tôi: chiếc va-li ấy tôi đã sờ xem ở phòng làm việc của Rôn-phơ. Ngài gọi ông ta đến đây, ông ta sẽ xác nhận cho tôi.
- Anh ta đã xác nhận rồi.
- Thế ngài còn hỏi gì nữa?
- Vấn đề là ở chỗ các dấu tay của anh còn tìm thấy ở đồn cảnh sát ghét-xta-pô trước khi anh sờ vào chiếc va-li.
- Có khả năng nhầm lẫn chăng?
- Không đời nào.
- Có thể là sự ngẫu nhiên?
- Có thể. Nhưng là một sự ngẫu nhiên đầy sức Thụyết phục. Tại sao trong số hai mươi triệu chiếc va-li nằm ở các gia đình Béc Lanh, người ta lại tìm thấy dấu tay của anh ở ngay trên chiếc va-li chứa điện đài của cô nghệ sĩ dương cầm người Nga? Anh giải thích thế nào đây?
- H... ừm, h... ừm... giải thích điều đó thật là khó và gần như không thể làm được. Và ở địa vị ngài, tôi cũng sẽ không tin vào lời giải thích của tôi... Tôi hiểu ngài thượng tướng... Tôi hiểu ngài...
- Tôi muốn nghe anh trả lời một cách có bằng chứng, Sơ-tiếc-lít ạ, nói thật là tôi rất có cảm tình với anh.
- Tôi tin lời ngài...
- Lát nữa, Rôn-phơ sẽ mang cô nghệ sĩ dương cầm người Nga đến đây, và cô ấy sẽ giúp đỡ chúng ta hiểu rõ - tôi tin như thế - rằng anh đã "sờ" đến chiếc va-li đựng điện đài ở đâu.
- Người Nga ư? - Sơ-tiếc-lít nhún vai. - Cô ả mà tôi đến tóm ở bệnh viện ấy à? Tôi có thể nhớ bằng mắt tuyệt đối chính xác. Nếu tôi đã gặp cô ta ở đâu, tôi sẽ nhớ được thôi. Không, cô ta không giúp gì chúng ta được...
- Cô ấy sẽ giúp đỡ chúng ta, - Muyn-lơ phản đối. - Và cái này nhất định sẽ giúp đỡ chúng ta... - y bắt đầu lục lợi túi ngực, - đây...
Rồi y chìa cho Sơ-tiếc-lít bức thư mật mã mà anh gửi Pờ-lây-sơ-ne mang sang Béc-nơ.
"Thế này thì thất bại rồi, - Sơ-tiếc-lít chợt hiểu. - Đổ vỡ mất rồi. Anh em đằng mình sẽ không biết tin, hoá ra mình ngốc nghếch quá. Pờ-lây-sơ-ne hoặc là một thằng hèn, hoặc là một tên ngốc nghếch, hoặc là một tên phá hoại ngầm".
'Béc Lanh, phố Hoàng tử An-bơ-rếch.
Gửi đi Pra-ha
Cờ-ruy-ghe thân mến!
Theo chỉ thị của ngài thượng tướng ss Can- ten-bơ-ru-ne, người của tôi đã điều tra về đại tá Béc-gơ. Rõ ràng ông đã lầm lẫn về việc ngài thượng tướng chỉ huy Cục an ninh đê chê có quen riêng vời Béc-gơ. Theo đề nghị của tướng Nôi-bút, chúng tôi đã nghiên.cứu hồ sơ Béc-gơ và đã không tìm thấy những chứng cớ trực tiếp cho phép buộc tội ông ta có dính dáng tới Ca-na-ri-xơ. Thế mà không có lý do gì để trao cho ông ta một nhiệm vụ quan trọng tới mức như ông đã giao cho ông ta. Nhưng vì ông ta đã tham gia chiến dịch, cho nên, theo tôi nghĩ, gạt ông ta ra lúc này là không hợp lý. Ngược lại, bằng cách giao cho ông ta những nhiệm vụ phức tạp nhất, nhưng chỉ có tính chất cục bộ và hoàn toàn không dính dáng đến các điểm nút, tôi đề nghị ông tổ chức theo dõi Béc^gơ một cách chặt chẽ nhất. Như ông đã biết, Ca-na-rỉ-xơ đang ngồi tù ở trại tập trung Phờ-lô-xăng- bua, và chúng ta cần biết những chi tiết nhỏ nhất về hoạt động phản bội của hắn ta. Bởi vậy nêu như Béc-gơ có thể lên tiếng với tư cách kẻ buộc tội hoặc thậm chí với tư cách người bào chữa, thì tôi tin rằng cấp trên sẽ hết sức biết ơn ông.
Phải nói thật với ông rằng, sau thất bại của chiến dịch Cờ-ra-cốp, và thành phô ấy rơi vào tay bọn tướng cướp bôn-sê-vích mà vẫn nguyên vẹn, thì tôi tin rằng việc giảm sát Béc-gơ sẽ đem lại cho ông một thành công lớn và sẽ hoàn toàn phục hồi danh dự cho ông... Tôi hiểu rõ rằng cương vị phó giảm đốc Sở ghét-xta-pô Pra-ha hoàn toàn không tương xứng với kỉnh nghiệm cũng như năng lực của ông.
Còn về phẩn ông Gờ-rỉ-san-trỉ-cốp, cộng tác viên của cơquan phản gián, người được đại tá SSSơ-tỉếc-lít đánh giá là chuyến gia hạng nhất trong lĩnh vực xoa bóp, thì cứ để người của tôi thẩm tra nhân vật đó. Xin ông hiểu chơ tôi: điều đó hoàn toàn không có nghĩa là tôi thiếu tin cậy ông.
Tình hình ở đây, ở Béc Lanh này, buộc tôi phải quyết định như vậy. Tôi hy vọng rằng ông sẽ hết sức giúp đỡ người cộng sự của tôi, người mang lá thư này tới chỗ ông. Ông biết anh ta rồi đấy - đó là Ài-xơ-man, một người tuyệt đối trung thành với Quốc trưởng, một chuyến gia phản gián thực thụ, một người trí thức đáng yêu. Tôi tin rằng ông với anh ta sẽ làm việc ăn ý với nhau.
Bắt tay ông
MUYN-LƠ"
Pờ-lây-sơ-ne đẩy cửa một lần nữa, nhưng nó vẫn khoá chặt. Chui ra qua chiếc cửa sổ nhỏ - chính chiếc cửa sổ đã khiến ông nhìn thấy một mảnh trời - thì không được.
"Hơn hữa, đây không phải như ở trên màn ảnh, - bỗng nhiên ông uể oải và hờ hững nghĩ, - một ông già đeo kính lại chui qua cửa sổ và mắc kẹt ở đó... Hai chân thì lủng lẳng ở phía trong, bọn chúng sẽ tóm lấy mình mà lôi trở lại..."
Ông chạy lên tầng trên, nhưng chiếc cửa sổ có thể để ông thoát ra bên ngoài - nó cao hơn mặt đất ba mét, - lại nhìn ra một ngõ phô vắng tanh và trên ngõ phô ấy đã có hai tên mật thám đội mủ đang thong thả dạo bước. Bây giờ chúng không giả bộ ngó nghiêng các tủ kính bầy hàng và không làm ra vẻ chưa quen biết nhau nữa. Ông lại chạy lên tầng trên: chiếc cửa sổ nhìn ra sân sau bị một tấm gỗ bịt kín - chắc là cửa kính bị vỡ hoặc có thể là ở đây người ta đang chuẩn bị sửa chữa, cứ nhìn cái cầu thang cũ kỹ có nhiều chỗ bị bong sơn cũng đủ đoán biết điều đó.
"Đáng sợ nhất là cái lúc nó lột quần áo và bắt mình há miệng ra cho chúng khám - lúc ấy thì mình chỉ còn là con sâu cái kiến mà thôi, ở La Mã ngày xưa, người ta giết người đơn giản lắm - đó là thời cổ đại hoàng kim! Còn bọn quốc xã thì chỉ muốn cắn xé trước khi móc người ta lên giá treo cổ... Tất nhiên, mình sẽ không chịu đựng nổi các trò tấn công của chúng. Dạo trước, ngay trong trận đòn đầu tiên, mình đã tuôn ra hết, đã nói tất cả những gì chúng muốn, đã viết tất cả những gì chúng yêu cầu. Dạo ấy mình trẻ hơn bây giờ. Bây giờ, nếu chúng nó tra tấn mình, mình sẽ không chịu đựng nổi và sẽ phản bội hương hồn em trai mình. Phản bội hương hồn người em trai có khác gì trở thành một cái xác chết thối tha. Thế thì tốt hơn hết là rời bỏ cõi đời để khỏi phải phản bội".
Ông dừng bước trước cửa một căn phòng có tấm bảng đề mấy chữ: "Tiến sĩ luật Phờ-răng Un-mơ".
"Bây giờ mình sẽ bấm chuông căn phòng này, - Pờ-lây-sơ-ne chợt nghĩ. - Và mình sẽ bảo ông ta rằng mình bị một cơn đau tim đột ngột. Hai bàn tay mình lạnh ngắt, mặt mình có lẽ cũng trắng bệch ra rồi. Cứ để ông tiến sĩ ấy gọi bác sĩ tới. Cứ để cho bọn chúng bắn mình trước mặt mọi người, mình sẽ kịp kêu lên vài tiếng gì đó".
Pờ-lây-sơ-ne ấn nút chuông. Ông nghe rõ tiếng chuông reo to bên trong.
"Nếu ông tiến sĩ hỏi mình sống ở đâu thì sẽ ra sao nhỉ? - Pờ-lây-sơ-ne nghĩ. - Thì mình sẽ rơi vào tay bọn cảnh sát Thụy Sĩ. Hít-le sắp tới ngày tận số rồi, lúc ấy mình sẽ có thể nói, mình là ai và ở đâu đến đây".
Ồng lại bấm chuông, một lần nữa, nhưng không có ai trả lời ông.
"Chắc cái tay Un-mơ lúc này đang ngồi chén kem và uống cà-phê. Ăn kem với quả dâu tây và bánh bích-quy thì tuyệt, - Pờ-lây-sơ-ne lại nghĩ thầm, tưởng như ý nghĩ đó từ một nơi rất xa đột nhiên dồn về. - Và ông ta đang đọc báo, và ống ta chẳng buồn chú ý đến mình".
Ông quay sang cửa phòng khác và bấm chuông, ở đây, tiếng chuông reo khác hẳn. Một giọng trẻ con hỏi:
- Ai đấy?
Không hiểu sao Pờ-lây-sơ-ne lại quỳ xuống và nói rất nhỏ:
- Mở cửa ra, cháu ơi...
- Ai đấy? - Giọng trẻ con hỏi lại.
- Mở cửa ra, cháu ơi, - Pờ-lây-sơ-ne nhắc lại to hơn một chút, nhưng ông cảm thấy tiếng ông vang lên như sấm và có lẽ tất cả các phòng ở trên tầng này đều nghe rõ.
- Nhưng ông là ai? Mẹ cháu bảo rằng chú Mích-ki Mau-xơ phải một năm nữa mối đến kia mà.
- Bác không phải là Mích-ki Mau-xơ, bác là anh ruột của chú ấy... Bác mang quà của chú ấy lại cho cháu đây...
- Bác mang quà gì thế?
- Mở cửa ra, cháu, - Pờ-lây-sơ-ne đứng dậy, áp sát trán vào cửa mà thì thầm. - Bác mang cho cháu chiếc mô-tô lên dây cót...
- Anh cháu mới chơi mô-tô lên dây cót, còn cháu thích chơi búp-bê cơ... Cháu là con gái mà...
- Búp-bê bác cũng có. Một con búp-bê to, biết nói, biết nhắm'mắt cơ nhé.
- Tóc nó trắng không hở bác?
- Trắng lắm!
- Cháu có con búp-bê tóc trắng rồi... Cháu thích con tóc đen cơ...
- Con tóc đen bác cũng có, - Pờ-lây-sơ-ne nói và giục: - Mở cửa mau lên, cháu!
Ông nghe rõ tiếng cửa đóng sập lại ở tầng dưới cùng: hai tên nọ đã bước vào nhà. Ồng nghe rõ tiếng bước chân của chúng, sau,đó đến giọng nói của cô bé:
- Mẹ cháu khoá cửa mất rồi. Nhưng mẹ cháu sắp về đấy...
Cô bé còn tiếp tục nói, nhưng Pờ-lây-sơ-ne không nghe rõ nữa, bởi vì ông đã chạy lên tầng trên. Ông định bấm chuông cửa phòng đôi diện với căn phòng bí mật. Nhưng cửa phòng bí mật đã mở ra và gã đàn ông cao lớn tóc vàng bước ra hành lang, nói:
- Đồng chí nhầm phòng rồi đấy. Trên tầng gác này chỉ có chúng tôi và những người ở những phòng mà đồng chí vừa bấm chuông là có nhà, còn chủ nhà các phòng khác đều đi vắng cả rồi. Bởi vậy, đây là nơi tuyệt đối an toàn cho đồng chí.
"Trên bàn viết ở nhà trọ vẫn còn tập bản thảo của mình. Mình dừng bút ở giữa trang, giữa lúc mạch văn đang hết sức dồi dào. Giá như mình không đến đây, có lẽ mình đã ngồi viết ở Béc Lanh, và sau đó, khi tất cả những chuyện xấu xa châm dứt, mình sẽ tập trung các bài đó thành một quyển sách. Bây giờ thì còn ai nhặt các tờ bản thảo của mình? Đến nét chữ của mình cũng chẳng ai hiểu nữa là...".
Ông mở toang cửa sổ và nhảy hai chân ra trước. Ông muốn kêu to lên cho mọi người nghe rõ và nhìn thấy ông, nhưng ông không thể kêu được nữa, vì trái tim ông đã bị vỡ tung, khi cơ thể ông vừa cảm thấy cái khoảng trống đột ngột ở phía dưới.
Chương 15
Muyn-lơ ngồi trên chiếc ghế, sát cửa ra vào để lúc nào cũng có thể quan sát công việc của các nhân viên kiểm nghiệm và của gã thợ chụp ảnh đang chụp lia lịa hai cái xác - Rôn-phơ và Bác-ba-ra - nằm trong thư thế quái dị trên nền nhà.
- Không thấy dấu vết gì hết, - một tên trong nhóm công vụ nói.
Muyn-lơ cùng với mấy tên thám tử tài giỏi nhất của y đến nơi Rôn-phơ bị giết chết. Y chọn mấy lão già đã từng cùng y tóm cổ bọn đầu trộm đuôi cướp, bắt giữ bọn đảng viên quốc xã của Hít-le, bắt giữ những đảng viên cộng sản của Ten-lơ-man trong những năm hai mươi. Y chỉ dùng đến mấy lão già ấy vào những trường hợp thật đặc biệt. Y không đưa chúng vào làm việc ở cơ quan ghét-xta-pô, để chúng khỏi tỏ ra ngạo mạn coi thường các viên dự thẩm ở đó, vì bọn này phải dựa vào sự giúp đỡ của các nhân viên kiểm nghiệm, các điệp viên và các máy nghe trộm. Muyn-lơ vốn khâm phục nhà văn Tra-pếch - các thám tử do nhà văn ấy miêu tả hoạt động trôi chảy chỉ nhờ vào kinh nghiệm và cái đầu sáng suốt của họ.
"Một vị cố đạo không bao giờ có thể tiến hành cải cách trong tôn giáo của mình, - có lần Muyn-lơ nói. - Các nhà cải cách bao giờ cũng đến từ bên ngoài. Bởi vậy, để cho các nhà cải cách tương lai không phế truất được tôi, tôi phải giữ mấy ông già lão luyện là vốn dự trữ. Các ông già ấy và hoạt động thực tế của họ giúp tôi thỉnh thoảng tổ chức lại công việc".
- Nói chung không có gì cả ư? Muyn-lơ hỏi lại. - Không có dấu vết gì hay sao?
- Không có gì hết, - lão già tóc bạc, mặt mầu đất, trả lời. Muyn-lơ quên tên lão ta, nhưng y vẫn chơi thân với lão ta từ năm 1926. - Vụ này tương tự vụ gỉết người mà anh đã phanh phui ra ở Muyn-khen.
- Ở phố E-gông?
- Đúng, số nhà chín, theo như tôi còn nhớ...
- Số nhà tám. Hung thủ đã giết mấy mạng người ở phía số nhà chẵn của đường phố
- Trí nhớ của anh thật có một không hai.
- Thế cậu không phàn nàn gì về trí nhớ của cậu chắc?
- Tôi đang uống i-ốt.
- Còn mình thì uống vốt-ca.
- Anh là cấp tướng, anh mới có thể uống vốt-ca. Chứ bọn tôi đào đâu ra tiền để mua vốt-ca?
- Ăn hối lộ đi có được không, - Muyn-lơ cười khẩy.
- Để rồi rơi vào tay bọn đao phủ của anh chứ gì? Thôi, thà tôi uống i-ốt còn hon.
- Thì cứ việc uống i-ốt, - Muyn-lơ tán thành. - Cứ việc tự nhiên. Thật thà mà nói, mình rất vui lòng đổi rượu vốt-ca của mình lấy món i-ốt của cậu.
- Công việc bận lắm à?
Muyn-lơ đáp:
- Hiện thời thì rất bận. Chẳng bao lâu nữa sẽ chẳng còn việc gì mà làm đâu. Này, thế chúng ta làm gì bây giờ? Chẳng lẽ không có dấu vết gì hay sao?
- Để cho bọn nhân viên xét nghiệm của anh nghiên cứu trong phòng thí nghiệm mấy viên đạn đã bắn chết hai nhân vật này xem sao.
Nhất định là họ sẽ xem xét thôi, - Muyn-lơ đồng ý. - Về chuyện nghiên cứu thì cậu khỏi phải lo...
Lão già thứ hai bước vào và kéo chiếc ghê lại ngồi cạnh Muyn-lơ.
"Một con quỷ già, - Muyn-lơ nhìn lão già mới vào, nghĩ bụng. - Thế mà lại còn nhuộm tóc. Đúng là hắn nhuộm tóc rồi".
- Thế nào, Hun-te? Anh có chuyện gì không? Muyn-lơ hỏi.
- Có chứ.
- Này, anh nhuộm tóc bằng thuốc gì thế?
- Thuốc khơ-na. Tóc tôi chẳng ra đen cũng chẳng ra bạc. Mụ In-de nhà tôi lại về bên kia thế giới rồi. Bọn gái trẻ bây giờ chỉ thích những thằng lính trẻ, chứ đâu có mê loại mật thám già như tôi nữa.
- Lính tráng ra trận hết còn đâu.
- Thì còn bọn thương, phê binh, ở hậu phương bọn này tinh nghịch lắm...
- Nhưng chúng nó què cụt cả...
- Cái món ấy thì cần gì đầy đủ chân tay, - Hun-te cười phá lên. - Anh nghe đây, mụ già ở ngôi nhà đối diện cách đây một tiếng đồng hồ có nhìn thấy một cô ả bế con và một tên lính vội vã đi từ trong nhà này ra.
- Tên lính ăn mặc như thế nào?
- Còn như thế nào nữa? Nó bận đồ lính...
- Tôi hiểu rằng nó không mặc quần áo lót. Nó bận bộ đồ đen phải không?
- Tất nhiên là nó bận bộ đồ đen, anh có trang bị áo quần màu xanh lá cây cho bọn lính bảo vệ đâu...
- Hai đứa đi xe gì?
- Chúng nó lên xe buýt?!
Muyn-lơ đột nhiên nhỏm dậy:
- Sao lại lên xe buýt?!
- Thế đấy. Chúng nó lên chiếc xe buýt số mười bảy.
- Xe chạy về hướng nào?
- Về phía này, - Hun-te chỉ tay về phía tây.
Muyn-lơ vội vã bước lại bàn, cầm ống nghe lên, quay số và nói:
- Sôn-xơ! Nhanh lên! Một, cử ngay mấy tên lính đuổi theo chiếc xe buýt số mười bảy! Á nghệ sĩ dương cầm và tên lính bảo vệ. Sao! Làm sao tôi biết thằng ấy tên là gì! Anh hãy hỏi xem tên nó là gì! Hai, tra cứu ngay hồ sơ của nó, xem nó là ai; ở đâu điều về, họ hàng nó sống ở chỗ nào. Đưa toàn bộ danh sách lại đây cho tôi, ngay lập tức! Nếu thấy nó từng có mặt ở những nơi Sơ-tiếc-lít đã đến, anh hãy báo- ngay cho tôi biết! Sao? ở đâu không quan trọng - ở ngoài mặt trận, ở trong nhà thổ hay ở ngoài bờ biển cũng vậy!
Muyn-lơ lại quay về ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh cửa ra vào. Bọn nhân viên xét nghiệm và gã thợ ảnh đã ra về. Còn lại mình y với hai lão già, và hai tên lính kia tranh nhau ôn lại chuyện cũ. Muyn-lơ ngồi nghe chúng nói, đôi khi nước mắt y ứa ra: hai lão già nhớ lại hồi chúng còn trẻ, khi tất cả mọi chuyện đều đơn giản và rõ ràng, khi người ta không cần phải theo dõi bạn bè, khi đi nằm không cần uống thuốc ngủ và yêu nhau không cần thuốc kích thích.
- A-lô, - Muyn-lơ quay số điện thoại, nói, - phái ngay một tốp lính đến vây nhà Sơ-tiếc-lít!... Bao nhiêu lâu hả? Cần bao nhiêu lâu, thì vây bấy nhiêu... Cứ bảo tên đầy tớ của hắn là nửa tiếng nữa Sơ-tiếc-lít sẽ về nhà. Ai à? Cứ bảo là lái xe của Sơ-tiếc-lít...
"Mình thua cuộc mất rồi, - Muyn-lơ lập luận trong lúc ngồi nghe hai tên bạn cũ của y nói chuyện, - nhưng mình còn có Béc-nơ làm vốn dự trữ. Tất nhiên, ở đấy tình hình phức tạp hơn, bọn cảnh sát và lính biên phòng không phải là người của mình. Nhưng con bài tẩy cốt yếu nhất đã bị tuột khỏi tay rồi. Chúng nó lên ôtô buýt. Đó là dấu hiệu chứng tỏ rằng đấy không phải là một chiến dịch được bố trí từ trước. Nếu là một chiến dịch, chúng phải có xe chờ sẵn. Không, nghĩ đến chuyện coi đó là một chiến dịch thì vô lý quá. Bọn Nga dĩ nhiên muốn cứu người của chúng, nhưng vị tất chúng đã phái mấy người lao vào chỗ chết với hy vọng, đúng là hy vọng, giải thoát một ả nhân viên điện đài. Dù chúng hiểu rằng đứa bé là gót chân A-shil của ả. Có lẽ vì thế mà chúng liều lĩnh đi nước cờ ấy chăng? Mình nói cái gì thế nhỉ? Chẳng có sự liều lĩnh nào hết - con bé leo lên xe buýt... Đó là sự ngu ngốc, chứ không phải là sự liều lĩnh...".
Y lại cầm lấy ông nói:
- Muyn-lơ đây. Hãy báo cho ảnh sát, ở tất cả các tuyến giao thông đường nổi cũng như đường ngầm, để ý đến một người phụ nữ bế con. Phát ảnh mụ ta cho cảnh sát và nói với họ rằng mụ ta là một tên lưu manh và sát nhân, để họ bắt giữ mụ ta lại. Nếu họ có nhầm lẫn mà bắt quá nhiều người, thì tôi sẽ tha lỗi cho họ. Chỉ cốt sao đừng để mụ ta tẩu thoát...
Sơ-tiếc-lít lại nhìn đồng hồ: Muyn-lơ rời khỏi xà-lim đã hơn hai tiếng rồi.
"Cô bé không khai, - Sơ-tiếc-lít hiểu. - Hay là chúng đưa Kết đi đối chất với Pờ-lây-sơ-ne? Điều đó không đáng sợ, vì họ có biết gì về nhau đâu. Nhưng hẳn là hắn gặp chuyện gì bất trắc rồi. Có chuyện gì đó đã xảy ra, mình còn có thời gian trống ở giữa và mình phải lợi dụng thời gian trống đó".
Anh thong thả đi đi lại lại trong xà-lim, cân nhắc mọi cách giải quyết có thể áp dụng. Anh đã điểm lại trong óc tất cả những gì liên quan tới chiếc va-li kia. Phải rồi, đúng là anh đã đỡ lấy chiếc va-li ở trong rừng, khi Ê-rơ-vin bị trượt chân suýt ngã. Chuyện đó xảy ra trong đêm trước khi gia đình Kết bị trúng bom. Chỉ một lần thôi.
"Hượm đã! - Sơ-tiếc-lít tự ngăn mình lại. - Đúng là trước trận ném bom... Sáng hôm sau mình đã đi xe đến phố ấy... ở đấy xe cộ ùn lại rất nhiều... Đường bị nghẽn vì các đội cứu hoả đang làm việc. Tại sao mình lại có mặt ở đó. Mình có mặt ở đó là vì con đường mình đi về phía đại lộ Cu-đam bị tắc. Mình sẽ đòi Muyn-lơ phải gọi tốp cảnh sát gác đường sáng hôm ấy đến đây xác nhận. Nghĩa là sở dĩ mình có mặt tại dãy phố Kết ở là vì cảnh sát bắt mình đi vòng. Trong hồ sơ có bức ảnh chụp mấy chiếc va-li còn nguyên vẹn sau trận bom. Mĩm đã nói chuyện với tên cảnh sát, mình còn nhớ mặt hắn, còn hắn thì hắn phải nhớ tấm thẻ của mình. Mình đã giúp người ta chuyển va-li - tên kia có phủ nhận việc đó cũng không sao. Hắn sẽ không phủ nhận việc đó, mình sẽ đòi Muyn-lơ đưa tên cảnh sát đến đối chất. Mình sẽ nói rằng mình đã đẩy một người phụ nữ đang khóc đẩy chiếc giường trẻ con: chị ta sẽ xác nhận, bởi vì đó là việc làm có thật, khó mà quên được".
Sơ-tiếc-lít đấm hai nắm tay vào cửa thình thình, và cửa mở ra ngay: nó không bị,khoá, nhưng có hai tên hộ pháp đứng gác bên ngoài. Tên thứ ba lúc ấy điệu qua cửa xà-lim của Sơ-tiếc-lít cũng đủ nhận ra trong mới da thịt lùng nhùng ấy khuôn mặt tên lái xe riêng của Boóc-man, kẻ đã không chịu làm việc cho cơ quan ghét-xta-pô, kẻ đã lái xe cho Boóc-man hôm anh nói chuyện với hắn.
Sơ-tiếc-lít cảm thấy toàn bộ cơ thể anh căng lên. Đừng bỏ lỡ thời cơ.
- Này, anh bạn ơi, anh hãy gọi điện ngay cho thượng tướng Muyn-lơ. Bảo ông ấy rằng tôi đã nhớ ra! Tôi đã nhớ ra tất cả! Anh hãy mời ông ấy xuống gặp tôi ngay lập tức!
"Pờ-lây-sơ-ne vẫn chưa bị giải về. Một, việc khai thác Kết không ăn thua gì. Hai, mình chỉ còn khả năng thoát khỏi nơi này - đó là thời gian. Thời gian và Boóc-man. Nếu mình chậm trễ, Muyn-lơ sẽ thắng".
- Được rồi, - tên lính gác nói, - thưa đại tá, tôi sẽ gọi điện lên chỗ ngài thượng tướng ngay.
Bên cổng trại trẻ mồ côi nuôi dưỡng những em bé còn đang bú, có một người lính cao lớn đang đứng. Người ấy đứng trước một chiếc cửa sổ sơn trắng, miệng day day điếu thuốc lá chưa châm lửa. Rõ ràng người ấy đang nóng ruột, bởi vì chốc chốc lại thấy anh ta xem đồng hồ. Khi chiếc cửa sổ mở ra, anh ta rụt rè ngó vào bên trong và nói:
- Xin lỗi, tôi muốn đề nghị chị một điều...
- Bây giờ chúng tôi không thể chấp nhận được đề nghị của ông, - người phụ nữ có tấm băng buộc tóc màu trắng trả lời anh ta. - Bây giờ đang là lúc cho trẻ ãn, tất cả mọi người đều bận...
- Vâng, nhưng tôi từ mặt trận về đây chỉ được nửa ngày. Tôi phải đi ngay lập tức.
- Thưa ông, nhưng rât tiếc là bây giờ tất cả các cháu...
- Chị có thể cho tôi gặp một vị nào đó trong ban phụ trách trại được không ạ?
- Trại chúng tôi chẳng còn vị phụ trách nào rỗi cả, người thì ra trận, người thì đang săn sóc các cháu. Một lần nữa xin tha lỗi cho tôi, - và người phụ nữ sập cánh cửa xuống ngay trước mũi anh lính.
- Thế bao giờ thì các cháu ăn xong, hở chị?
Người phụ nữ không mở cửa, trả lời:
- Nửa tiếng nữa. Mòi ông nửa tiếng nữa quay lại đây, chúng tôi mới có thể giúp ông được...
Người lính bước ra, sang bên kia đường và đi xuống tầng hầm của một ngôi nhà đổ. ở đó, Kết đang ngồi cho con bú trên một chiếc hòm bẹp gí.
- Thế nào, anh? - chị hỏi.
- Dở quá, - Ghen-mút đáp. Phải đợi nửa tiếng đồng hồ nữa.
- Chúng ta sẽ đợi, - Kết an ủi anh ta. - Chúng ta sẽ đợi... Bởi vì bây giờ chẳng sợ gì cả. Làm sao chúng nó biết tôi với anh đang ở đâu?
- Nói chung thì như thế, nhưng phải nhanh nhanh rời khỏi thành phố, kẻo chúng nó tìm ra chúng ta mất. Tôi biết chúng nó lùng người giỏi như thế nào. Hay là chị cứ đi trước? Còn tôi, nếu thuận lợi, tôi sẽ đuổi kịp chị sau, có được không? Chúng ta hãy thoả thuận với nhau: chị sẽ đợi tôi ở đâu nào?
- Không, - Kết lắc đầu, - không nên thế. Tôi sẽ đợi anh... Tôi biết đi đâu giữa thành phố này được, hở anh...
༺༒༻
Sôn-xơ gọi điện tới phòng thông tin vô tuyến
- nơi Muyn-lơ đang có mặt để báo tin:
- Sơ-tiếc-lít yêu cầu nói với ngài rằng anh ta đã nhớ ra tất cả.
- Thế hả? - Muyn-lơ sôi nổi hẳn lên và đưa tay ra hiệu cho hai lão già đừng cười to. - Bao giờ?
- Vừa xong ạ.
- Tốt lắm. Bảo anh ta là tôi sẽ về ngay. Không có tin gì mới à?
- Không có gì tin đáng kể ạ.
- Chưa biết thêm gì về tên lính bảo vệ hay sao?
- Chưa, toàn những điều vụn vặt thôi ạ...
- Cụ thể là gì? - Muyn-lơ hỏi như một cái máy, hỏi để mà hỏi, và vừa hỏi vừa với tay lấy áo bành-tô trên chiếc ghế bên cạnh.
- Thưa ngài, mới biết về vợ con và họ hàng của nó thôi ạ.
- Sao lại bảo là vụn vặt, - Muyn-lơ giận dữ.
- Điều đó chẳng vụn vặt chút nào. Hoàn toàn không vụn vặt trong vụ này đâu, anh bạn Sôn-xơ ạ. Bây giờ tôi sẽ về và cùng anh phân tích điều vụn vặt đó... Đã phái người tới chỗ vợ nó chưa?
- Vợ nó đã bỏ nó cách đây hai tháng.
- Sao, cái gì?
- Nó nằm quân y viện vì bị chấn thương, thế là vợ nó bỏ nó để đi theo một gã lái buôn tới Muyn-khen.
- Còn con nó?
- Xin ngài đợi cho một phút, - Sôn-xơ trả lời, tay giở hồ sơ, - bây giờ tôi sẽ xem con nó ở đâu... A, đây rồi... Tôi tìm thấy rồi...
- Anh nói ít thôi, Sơn-xơ ạ. Nói ít đi và hãy làm nhiều hơn.
- Nó có một đứa con bốn tháng. Vợ nó đã gửi con vào trại trẻ mồ côi.
"Cô ả người Nga cũng đang cho con bú, - Muyn-lơ sực nhớ. - Tên lính cần có một người vú em! Thằng cha Rôn-phơ chắc đã quá tay với đứa con của cô ả!".
- Tên trại trẻ ấy là gì?
- Không có tên. Chỉ biết ở khu Pan-cốt, phô Sin-le, số bẩy. Bây giờ đến mẹ của tên lính ấy...
Muyn-lơ không để ý nghe các tư liệu về người mẹ của Ghen-mút nữa. Y quang ống nói xuống bàn, sự chậm chạp của y biến mất, y mặc áo bành-tô và nói:
- Các cậu ạ, bây giờ có thể sẽ phải bắn nhau ra trò đấy, bởi vậy các cậu hãy chuẩn bị súng đạn cho cẩn thận. Có cậu nào biết trại trẻ mồ côi ở khu Pan-cốt không?
- Phố Sin-le, số nhà tám thì phải. - Tên tóc bạc nói.
- Cậu lại lẫn lộn rồi, - Muyn-lơ vừa nói vừa bước ra khỏi phòng. - Bao giờ cậu cũng lẫn số lẻ với số chẵn. Nhà số bẩy.
- Một phố bình thường thôi, - lão già tóc bạc nói, - ở phố ấy không có gì đặc biệt. Chơi nhau ở đấy tha hồ mà đẹp: phố ấy yên tĩnh lắm, sẽ chẳng ai làm phiền chúng ta. Còn chuyện tôi nhầm lẫn chữ số thì đúng đấy. Từ bé đã thế. Tôi chả bị ốm vào hôm ở lớp học bài số lẻ số chẵn mà.
Và lão ta phá lên cười, Muyn-lơ và tên kia cũng cười theo. Và cả ba tên lúc này trông như một bọn thợ săn đã vây kín được một con hươu.
Không, Ghen-mút Côn-đe không có mối liên hệ gì với Sơ-tiếc-lít. Đường đi của họ không gặp nhau ở nơi nào cả. Ghen-mút ra trận từ năm 1940. Anh ta tin rằng anh ta đi chiến đâu cho Tổ quốc, cho đời sống của mẹ, của ba đứa em trai và một đứa em gái của mình. Anh ta tin rằng anh ta đi chiến đấu cho tương lai của đất nước, chống bọn Xla-vơ hèn mọn dám cướp đoạt những vùng đất mênh mông, trong khi chúng không hề biết cách làm ăn ; chống bọn Anh và bọn Pháp đã bị bán rẻ cho bọn thống trị ở bên kia đại dương ; chống bọn Do Thái áp bức dân lành và đầu cơ trục lợi trên nỗi đau khổ của người khác. Anh ta tưởng rằng thiên tài của Quốc trưởng, người đã nhận mang gánh nặng ghê gớm là đem lại hạnh phúc cho dân tộc Đức, sẽ chói chang muốn thuở.
Cứ thế cho đến mùa thu năm 1941, khi quân Đức ca vang hành khúc diễu binh trên thế giới và không khí chiến thắng làm cho anh ta và các bạn anh ta trong đơn vị xe tăng ss say sưa, mê mẩn, đôi khi giống những kẻ dạo chơi mà đầu óc chẳng mảy may vẩn nghĩ. Nhưng sau một trận đánh ở vùng ngoại vi Mát-xcơ-va, khi bắt đầu phải đối phó với du kích và có lệnh giết tất cả các con tin, Ghen-mút hơi lúng túng. Anh ta vốn là một nông dân, và anh ta tôn thờ người mẹ cao hơn mọi thứ đáng tôn thờ khác. Người mẹ đã nuôi dạy Ghen-mút cùng mấy đứa em của anh ta. Sau ngày bố anh ta chết, bà mẹ làm quần quật từ sáng đến đêm và không cho phép anh ta bỏ học, ngày nào bệnh tật chưa quật ngã được bà.
Lần đầu tiên khi trung đội của Ghen-mút được lệnh bắn chết bốn mươi người bị bắt làm con tin ở gần Xô-mơ-len-xcơ - nơi một đoàn tàu của quân Đức bị lật đổ - thì Ghen-mút bắt đầu uống rượu:
trước mắt anh ta là các cụ già và những người phụ nữ bế con. Những người phụ nữ ấy ôm chặt con vào lòng, bịt mắt con lại và yêu cầu bọn lính hãy giết chết họ thật nhanh...
Sau đó, anh ta nhận thấy rằng các bà mẹ ở nước Nga cũng giống các bà mẹ Đức, thường nhường cho con khẩu phần khoai tây cuối cùng của mình và khi họ nhìn con cái họ ăn uống, mặt họ đẫm nước mắt.
Sau lần xử bắn thứ nhất, Ghen-mút không tài nào tĩnh trí lại được. Không phải một mình anh ta uống rượu: nhiều người bạn của anh ta lặng lẽ tu rượu cả chai, và không một ai kể chuyện tiếu lâm, cũng không một ai chơi ắc-coóc-đê-ông nữa. Rồi cả bọn lại lao vào đánh nhau với những người lính Nga để cơn giận dữ làm cho chúng quên đi cơn ác mộng nọ.
Khi Ghen-mút về phép, hai mẹ con cô gái láng giềng sang chơi hỏi thăm anh ta. Tên cô gái là Lu-i-da. Trông cô xinh xắn, ngoan ngoãn và trắng trẻo. Đêm nào Ghen-mút cũng nằm mơ thấy Lu-i-da. Anh ta mời cô gái đi xem phim, xem xong họ đi chơi với nhau cho đến sáng, Ghen-mút nhiều hơn Lu-i-da tới mười tuổi, bởi vậy, anh ta rất âu yếm cô gái. Anh ta nghĩ đến lúc cô trở thành một người vợ và người mẹ đảm đang. Ghen-mút luôn luôn mơ ước trong nhà anh ta có thật nhiều giày dép của trẻ con ở bên cạnh mắc áo: anh ta rất yêu trẻ, một khi anh ta chiến đấu cho hạnh phúc và tương lai của chúng kia chứ?
Đến lần nghỉ phép năm sau, Lu-i-da trở thành vợ anh ta. Khi anh ta ra trận. Lu-i-da buồn nhớ anh ta tới hai tháng. Và khi hiểu rằng mình đã có mang, Lu-i-da cảm thấy buồn bã và sợ hãi. Cô ta bỏ ra thành phố và ngay trong đêm đầu tiên vì không thuê được phòng ở khách sạn, còn nhà người quen của Ghen-mút thì đã bị ném bom phá sập, - cô ta đi ngủ với một tên sĩ quan không quân.
Sau khi đẻ, Lu-i-da mang con đến trại trẻ mồ côi. Thời gian ấy Ghen-mút đang nằm viện vì bị chấn thương nặng. Khi được ra viện và trở về nhà, anh ta được mọi người cho biết là Lu-i-da đã đi theo kẻ khác. Ghen-mút nhớ đến những người phụ nữ Nga: có lần bạn anh ta đã đổi năm hộp thịt để được ngủ với một cô giáo Nga ba mươi tuổi
- người phụ nữ ấy có một đứa con gái nhỏ, nhưng chẳng còn gì để cho con ăn nữa. Sáng hôm sau, chị ta thắt cổ tự tử, để lại cho mấy người láng giềng đứa con gái, một gói quần áo trong đó có bọc tấm ảnh cha em và năm hộp thịt nọ. Thế mà Lu-i-da, một đội viên Hội thanh niên Hít-le, một người Đức chính cống, chứ không phải một người phụ nữ Xla-vơ mọi rợ, lại ném con vào trại trẻ mồ côi như một ả gái điếm mạt hạng.
Mỗi tuần Ghen-mút tới trại thăm con một lần, và đôi khi người ta cho phép anh ta bế con đi chơi. Anh ta đùa với con, hát cho con nghe, và lòng yêu con của anh ta có một vẻ gì điên dại và đáng thương. Anh ta đã nhìn thấy cô nhân viên điện đại Nga nựng con như thế nào và lúc ấy anh ta tự hỏi: "Tất cả chúng ta đã làm những trò gì? Sao tất cả chúng ta lại tàn ác đến như vậy! Họ cũng là người như chúng ta, cũng yêu thương con cái và sẵn sàng chết vì con như chúng ta kia mà!".
Bởi vậy, khi Ghen-mút nhìn thấy cảnh Rôn-phơ hành hạ cháu bé, quyết định đã đến với anh ta xuất phát từ tình cảm, chứ không phải từ lý trí. Anh ta thấy Rôn-phơ và Bác-ba-ra, kẻ đứng nhìn cảnh cháu bé hai tuần tuổi sắp bị giết chết một cách thản nhiên, giống hệt ả Lu-i-da, kẻ mà anh coi là tượng trưng cho sự phản bội.
Nửa giờ sau, Ghen-mút quay lại chỗ trại trẻ theo lời hứa của người phụ nữ nọ. Anh ta đứng bên chiếc cửa sổ gỗ sơn trắng và mất dần cái cảm giác căng thẳng đáng sợ, xa lạ, cảm giác căng thẳng đó đã trở thành bản tính thứ hai của anh ta, khi anh ta nhìn thấy tấm thân đỏ hỏn của đứa bé Nga trong tay Rôn-phơ. Anh ta cảm thấy có một cái gì đổ vỡ trong lòng, người anh ta cứ mỗi lúc một run thêm vì rét và toàn bộ nửa người bên trái - vốn bị chấn thương - lạnh hẳn đi và lúc đó anh không cảm thấy cái lạnh bên ngoài nữa.
- Chào chị, - Ghen-mút chào người phụ nữ nhìn ra ngoài cửa sổ. - Cháu Uốc-xu-la Côn-đe... con gái tôi... Người ta đã cho phép...
- Tôi biết rồi. Nhưng bây giờ đến lúc cháu phải đi ngủ...
- Tôi phải ra mặt trận ngay. Tôi sẽ bế cháu đi chơi một lát, và cháu sẽ ngủ trên tay tôi... Đến giờ thay tã, tôi sẽ trả cháu lại cho các chị...
- Thưa ông, tôi sợ bác sĩ không cho phép...
- Tôi phải ra trận ngay, - Ghen-mút nhắc lại, - chị không thể cấm tôi được nhìn thấy cháu.
- Vâng... Tôi hiểu... Tôi sẽ cô gắng. Xin ông đợi cho một phút.
Ghen-mút phải đợi không phải một, mà là mười phút, và cả người anh ta run lên bần bật, ràng đánh cầm cập.
Cửa sổ mở, và người ta chìạ ra cho anh một cái bọc trắng. Khuôn mặt đứa con gái được che bằng một miếng vải trắng tinh.
- Ồng muốn đi ra phố phải không?
- Chị bảo sao? - Ghen-mút không hiểu.
Lời nói bây giờ vọng đến tai anh ta như từ một nơi rất xa, qua một chiếc cửa khép chặt. Anh ta thường cảm thấy như thế từ sau khi bị chấn thương, mỗi lần xúc động mạnh. Anh ta từng bị ngất ở ngoài phố mấy bận, khi nhìn thấy những bệnh viện và trại trẻ bị bom phá sập.
- Nếu ông muốn cho cháu ra chơi ngoài phố, chúng tôi sẽ đưa xe nôi cho ông.
- Để làm gì?
- Để khỏi phải bế cháu.
- Không, cám ơn chị, tôị chỉ thích được ẵm cháu thôi.
- Tốt nhất là ồng nên bế cháu vào chơi trong vườn hoa của trại chúng tôi - ở đấy yên tĩnh lắm và nếu có báo động máy bay, ông có thể nhanh chóng xuống hầm trú ẩn.
- Được rồi. Tồi chỉ ngó xem chiếc xe buýt đã đến đón tôi chưa, rồi tôi sẽ vào nhà...
- Vào nhà nào?
- Vào vườn hoa, xin lỗi, vào vườn hoa...
- Ông không quá mệt mỏi đấy chứ?
- Không. Nhưng sao chị hỏi thế?
- Trông mặt ông tái hẳn đi...
- Không, không sao, - Ghen-mút nói và bước ra đường.
Anh ta bước xuống lòng đường và nghe thấy tiếng phanh rít ngay sau lưng mình. Một chiếc xe quân sự đỗ lại cách Ghen-mút hai bước và người lái xe thò đầu rạ cửa, quát:
- Mù hả? không nhìn thấy xe đang phóng hay sao!!
Ghen-mút ôm chặt đứa con gái vào ngực, lẩm bẩm gì đó rồi chạy về phía tầng hầm. Kết đang đứng bên cửa đợi anh ta. Đứa con của. chị đang nằm trên chiếc hòm. Thằng bé đang ngủ, thỉnh thoảng lại cựa quậy trong mơ.
Ghen-mút trao đứa con gái cho Kết và nói:
- Bây giờ chị bế hộ cháu một lát, để tôi chạy ra bến xe, Đứng ở đấy có thể nhìn rõ lúc nào có chuyến xe buýt từ chỗ đường vòng hiện ra. Lúc đó, tôi chạy về đón chị ra vẫn kịp.
Anh ta nhìn Kết trân trọng đỡ lấy con gái của anh ta, thế là nước mắt anh ta lại ứa ra. Anh ta bèn chạy ra đường.
- Tốt nhất là chúng ta cùng đi với nhau, - Kết nói, - tốt nhất là tôi cùng đi với anh.
- Không sao, tôi quay về ngay thôi, - Ghen-mút dừng lại nói. - Dẫu sao thì chúng nó cũng đã có ảnh của chị, còn tôi trước khi bị thương trông khác bây giờ nhiều lắm. Chị chờ một lát, tôi sẽ quay về ngay.
Ghen-mút khập khiễng đi vội ra bến xe. Đường phố vắng tanh vắng ngắt.
"May mà trại trẻ chưa tản cư, không thì mình mất đứa con. Sau này làm sao còn tìm được nó. Nếu có chết bom thì tốt nhất là cùng chết với nhau. Người phụ nữ ấy có thể nuôi con cho mình được - người ta vẫn cho hai đứa trẻ sinh đôi cùng bú đấy thôi... vì việc cứu hai mẹ con chị ta, thượng đế sẽ tha thứ tất cả cho mình. Hay ít ra là tha thứ cho cái ngày bắn người ở gần Xơ-mô-len-xcơ".
Trời bắt đầu mưa phùn nên đã lạnh lại càng lạnh thêm. Nhưng Ghen-mút nghĩ rằng, dầu sao thì mưa xuân cũng chứng tỏ trời sắp ấm lên.
"Chỉ cốt sao mấy bà phụ nữ ở trại trẻ mồ côi không nhìn thấy mình và chị ta lên xe buýt. Ta sẽ đi đến thảo cầm viên, rồi sẽ lên tàu ở đó. Hoặc sẽ đi bộ lẫn với những người chạy loạn. Trà trộn vào đám người ấy không phải là chuyện khó. Và chị ta sẽ cho con mình bú trên đường từ đây đến Muyn-khen. Đến đó, mẹ mình sẽ lo liệu giúp. ở đấy có thể thuê một người vú em. Tuy rằng nhất định chúng sẽ lùng bắt mình... Không thể đến chỗ mẹ mình được... Nguy hiểm lắm. Chỉ nên rời bỏ thành phố này thôi. Chỉ cần ra đến thảo nguyên và lánh vào rừng, tất cả sẽ thay đổi. Mà cũng có thể đi lên phía bắc, tới vùng biển. Đến chỗ Han-xơ, rốt cuộc, ai có thể ngờ rằng, mình lại đến chơi nhà một người chịến hữu?
Ghen-mút kéo sụp chiếc mũ lông xuống che tai. Anh ta đã thấy hết rét. Nửa người bên trái âm dần lên.
"Mưa thế này lại hoá hay, - anh ta nghĩ, - cứ phải có một cái gì đó xảy ra. Khi người ta chờ đợi mà mọi vật xung quanh đều im lặng thì khổ lắm, thần kinh sẽ hết sức căng thẳng. Nếu lúc ấy trời mưa hay tuyết rơi, người ta sẽ bớt cô đơn".
Mưa vẫn rơi như cũ, nhưng mây đen đột nhiên tan dần, rồi cao tít trên đầu hé ra một khoảng trời xanh và một góc mặt trời màu trắng.
"Mùa xuân đây rồi, - Ghen-mút nghĩ. - Chẳng bao lâu nữa cỏ non sẽ mọc..."
Anh ta nhìn thấy ở chỗ đường vòng ló ra cái đầu xe buýt. Anh ta đã định quay người chạy về ngôi nhà đổ, nơi Kết đang đợi, nhưng thấy có hai chiếc xe đen vọt lên trước chiếc xe buýt và phóng thẳng về phía trại trẻ, bất chấp mọi luật lệ giao thông, Ghen-mút lại cảm thấy chân anh ta bủn rủn và nửa người bên trái lạnh hẳn đi, - đấy là hai chiếc xe của bọn ghét-xta-pô. Ý muốn đầu tiên của anh ta là bỏ chạy, nhưng anh ta hiểu rằng, chúng sẽ nghi ngờ người chạy, sẽ lập tức tóm gọn chị phụ nữ Nga với con gái của anh ta và điệu về chỗ chúng ; anh ta còn kịp nghĩ rằng, tốt nhất là anh ta đứng nguyên tại chỗ và khi hai chiếc xe chạy qua, thì anh sẽ lẩn đi theo một ngõ hẻm". Người ta sẽ bảo chúng rằng, mình vừa đón con ra, chúng sẽ đi tìm khu vực xung quanh và sẽ tìm thấy chị phụ nữ Nga ở trong tầng hầm. Nhưng chị ấy sẽ không nói rằng, đó là con gái của mình. Lúc trước, chị ấy có chịu khai gì với chúng nó đâu".
Anh ta chưa hiểu rõ điều gì sẽ xảy ra sau đó với đứa con gái của anh ta. Anh ta sợ rằng, bây giờ anh sẽ lại bị sốc mà ngất đi. Rồi chúng sẽ bắt được con gái anh ta sẽ cởi bộ quần áo của nó ra và đặt bên cạnh cửa sổ để ngỏ, khi mùa xuân chỉ vừa mới bắt đầu và còn ít lâu nữa trời mới ấm... "Nếu mình... thì chị phụ nữ Nga ấy sẽ nghe tiếng và sẽ hiểu tất cả. Chị ấy không thể quên ơn. Chị ấy không bao giờ quên...".
Ghen-mút bước xuống lòng đường, chĩa pa-ra- ben-lom ra, bắn liền mấy phát vào kính chắn gió của chiếc xe thứ nhất. Và ý nghĩ cuối cùng của anh ta là sau khi nghe một loạt súng tiểu liên và trước khi cảm thấy cái đau cuối cùng trong đời mình, là: "Mình quên chưa nói tên con gái cho chị ấy biết..."
Và ý nghĩ đó làm cho anh ta đau khổ trong một khoảnh khắc trước khi anh ta chết.
- Không, thưa ông, mới chỉ cách đây mười phút chứ không hơn, - người nữ y tá đã trao con gái Ghen-mút cho anh ta, nói.
- Thế đứa con gái đâu? - lão già tóc bạc cau có hỏi, cố không nhìn cái xác thằng bạn nhuộm tóc của lão ta. Tên kia nằm trên sàn nhà, ngay cạnh cửa và người ta thấy rõ hắn đã già như thế nào: rõ ràng là lần hắn nhuộm tóc cuối cùng cách đây đã lâu, nên bộ tóc của hắn có hai màu: màu trắng ở chân tóc và màu nâu sáng ở phần còn lại.
- Tôi cho rằng, hai người ấy đã lên xe đi khỏi đây, - người phụ nữ thứ hai nói, - tôi thấy có một chiếc ôtô đỗ lại bên anh ta.
- Sao? đứa bé tự leo lên xe được à?
- Không, - người phụ nữ trả lời nghiêm trang, - nó chưa thể tự mình leo lên xe được. Bởi vì nó còn đang bú...
Muyn-lơ nói:
- Các anh hãy xem xét toàn bộ khu vực này cẩn thận, -bây giờ tôi phải về cơ quan. Chiếc xe thứ hai đã lên đường; nó sắp chạy đến đây... Nhưng làm sao đứa con gái lại lên ôtô được nhỉ - y quay ra cửa và hỏi. - Đó là loại xe gì?
- Xe to.
- Xe vận tải à?
- Không. Xe hơi. Màu xanh lá cây...
- Chắc chị không nhớ số xe?
- Tôi không để ý.
- Chuyện này có điều gì không bình thường,
- Muyn-lơ nói và mở cửa. - Các anh hãy tìm kiếm trong các nhà quanh đây xem... Lạ thật!
- Xung quanh toàn là những ngôi nhà đổ nát.
- Thì tìm trong cái đống đổ nát ấy, - y nói,
- nói chung, toàn bộ vụ này ngớ ngẩn và trái khoáy đến mức chẳng còn biết đằng nào mà lần. Chúng ta không thể hiểu lô-gích của một kẻ không chuyên nghiệp.
- Có thể hắn là một nhà chuyên nghiệp khôn ngoan thì sao? - Lão già tóc bạc vừa châm thuốc vừa nói.
- Một nhà chuyên nghiệp sẽ không mò đến trại trẻ, - Muyn-lơ nói và bước ra. Vừa rồi, khi y gọi điện về chỗ Sôn-xơ, tên kia có báo tin cho y biết rằng, căn phòng bí mật ở Béc-nơ đã lộ tẩy và người của y ở đó đã bị cảnh sát Thuỵ Sĩ bắt giữ, Bởi vì người liên lạc Nga mang bức thư mật mã sang đó đã nhảy qua cửa sổ tự tử.
Sau khi gửi về Béc Lanh cho Sơ-tiếc-lít một tấm bưu ảnh chụp cảnh bờ sông Lô-dan-na theo đúng lời dặn dò, giám mục Sơ-lắc quay về nhà: ông đang sống ở khu vực nhà thờ Thánh La-vơ-ren-ti. Khi kể ra những nơi có thể trú chân, Sơ-tiếc-lít đã nói với ông rằng bọn ghét-xta-pô sẽ không mò đến chỗ này. Căn phòng ông đang ở rộng vừa phải, trần nhà cao, hình vòm cuốn. Chỉ có cái trần nhà hình vòm cuốn màụ trắng, quá trắng, ấy là thứ duy nhất mang tính chất tu viện trong căn phòng này. Các thứ đồ gỗ ở đây đều sang trọng và đều được bọc bằng loại vải màu đỏ tươi.
Người ta giải thích với Sơ-lắc rằng, căn phòng này dành cho những người ngoại quốc vì lý do nào đó không thể hay không muốn trú chân ở các khách sạn. Những người tiếp chuyện vị giám mục nhấn mạnh rằng, những rigười ngoại quốc ấy đến đây với sứ mệnh tìm kiếm hoà bình, nhằm cứu nhân dân châu Âu khỏi cảnh chém giết lẫn nhau.
Sơ-lắc ngồi bên cửa sổ ngắm thành phố một hồi lâu: ở đây không phải nguy trang che ánh sáng, các tủ kính bày hàng và cửa ra vào các rạp chiếu bóng được trang trí bằng các loại đèn đủ màu sắc. Sơ-lắc nhìn mọi người không chán mắt; vì đã bao năm ông không được thấy nhiều khuôn mặt trẻ trung đến thế. Bởi vậy, trong thời gian cuối cùng ở Đức, ông có cảm tưởng thế giới già cỗi hẳn đi.
Có tiếng gõ cửa.
- Mời vào.
- Ngài có dùng cà-phê không ạ? - người đầy tớ già hỏi.
- Cám ơn ông, tôi không dùng.
- Lúc nào ngài muốn dùng cà-phê, trà hay nước trắng, xin ngài cứ gọi tôi.
- Cám ơn.
- Tôi xin phép cáo lui. Chúc đức giám mục ngủ ngon...
- Chúc ông ngủ ngon. Tôi muốn hỏi ông: ở đây có thuốc luy-mi-nan hay brôm không? Tôi không tài nào ngủ được...
- Tôi xin đi hỏi và quay lại ngay.
Sau câu chuyện hôm nay giữa ông với cựu thủ tướng Đức Bơ-ruy-ninh, người mà giám mục biết rõ trong những năm hai mươi, giám mục cảm thấy rằng, không dùng thuốc thì ông không thể ngủ được. Ông không thể ngồi ngay vào bàn để ghi lại các ấn tượng trong ngày. Các ấn tượng bất ngờ và đáng sợ tới mức, trước tiên, giám mục phải cố trân tĩnh để đánh giá lại tất cả những điều ông đã nghe từ miệng Bơ-ruy-ninh, sau đó mới dám viết chúng ra giấy.
"Bắt đầu cuộc nói chuyện, - giám mực bắt đầu viết một cách chậm rãi, sau mỗi từ lại dừng bút, - cựu thủ tướng Bơ-ruy-ninh quan tâm đến số phận của những người mà tôi và ông ta cùng quen biết, ông ta tỏ thái độ khâm phục lòng dũng cảm của người đã giúp tôi chạy ra nước ngoài mà không đặt bất cứ điều kiện trước và sau gì về sự mạo hiểm đó, ông ta hỏi cặn kẽ về những người mà tôi đã gặp ở nhà tù và ở trại tập trung. Khi tôi lái câu chuyện sáng vấn đề mà chúng ta quan tâm, Bơ-ruy-ninh nói: "Những người không có mặt bao giờ cũng hết quyền lực. Nhà trắng hay Oai-tơ-hôn không còn chú ý đến tôi nữa, bởi vì họ là những chính khách thực tế, có thế lực, còn tôi chỉ là một cựu chính khách đã mất ảnh hưởng thực tế. Tôi với họ bất đồng ý kỉến với nhau, và hiển nhiên là họ coi tôi như một người hoạt động không chuyên nghiệp: không ai quen nghề nghiệp nhanh bằng một nhà chính trị đã mất chính quyền". Khi tôi hỏi: "Trong trường hợp ấy, cố thể coi ai là nhân vật chính trị quan trọng ở Đức sau khi Him-le thủ tiêu các đại biểu ưu tú của phe đối lập? " Bơ-ruy-ninh trả lời: "Him-le". Khi tôi bác bỏ lời ông ta và nói rằng, ý kiến khẳng định vừa rồi chỉ có thể hiện thái độ tự ái, sự mệt mỏi, thái độ hoài nghi và sự xa rời tổ quốc, Bơ-ruy-ninh bèn mời tôi xem một tài liệu. Hơn thế nữa, sau đó ông ta còn cho phép tôi ghi lại một số đoạn. Lúc đầu, tôi kinh ngạc về nội dung của tài liệu ấy, tuy nhiên, sau đó tôi nêu lên giả Thụyết rằng, đấy có thể là tài liệu giả của bọn quốc xã. Bơ-ruy-ninh trả lời rằng, ông ta sẽ vui lòng đồng ý với tôi, giá như ông ta không tin rằng, đó là tài liệu thật. Tôi hỏi, theo ý ông ta, có thể coi bọn đại diện cho phía Đức trong cuộc đàm phán có thẩm quyền tới mức nào, Bơ-ruy-ninh đáp rằng, một câu trả lời quả quyết nhiều hay ít sẽ mang tính chất thông tin giả ở mức nhất định, bởi vì trong điều kiện chuyến chính của Hít-le, người nhất định, chỉ có thể là Quốc trưởng hoặc một trong những trợ thủ thân cận nhất của Quốc trưởng dám lật đổ Hít-le để giành toàn bộ quyền lực về tay mình. Bơ-ruy-ninh cho rằng, người đó trước hết có thể là thống chế Gơ-rinh hoặc Boóc-man. Ông ta nói rằng, ông ta không tin vào khả năng đưa Him-le lên địa vị thứ nhất. "Một vài giới thế lực ở phương Tây muốn dùng Him-le, nhưng chắc chắn dư luận xã hội rộng rãi không bao giờ tán thành việc lực lượng dân chủ ngồi bàn đàm phán với Him-le, kẻ tượng trưng cho tội ác của đảng Quốc xã. Và mặc dù chính Him-le là nhân vật có thế lực nhất ở nước Đức hiện nay, song rất khó nghĩ rằng, có khả năng thực tê tiến hành đàm phán với y". Tôi hỏi, các ý định tìm kiếm giải pháp hoà bình với nước Đức của phe đồng minh nghiêm túc tới mức nào, thì Bơ-ruy-ninh trả lời rằng, ông ta không thể thông báo cho tôi biết những cuộc đàm phán ấy đang diễn ra ở đâu và với ai, bởi vì hiện nay hoặc là chúng đã lên tới thời điểm cao nhất, hoặc là sắp đến thời điểm đó. Tôi hỏi, ông ta có những tư liệu chính xác đến mức nào? Bơ-ruy-ninh trả lời rằng, một chính khách lưu vong thường được nghe những tin đồn đã có sự thẩm tra kỹ. Khi tôi bảo-ông ta rằng, những người bạn của tôi ở bên Đức giao cho tôi nhiệm vụ tìm hiểu khả năng đàm phán nghiêm túc với phe đồng mình để chấm dứt cảnh đổ máu và đem lại một nền hoà bĩnh mong muốn cho loài người, Bơ-ruy-ninh hỏi những người ấy là ai. Không nhận được câu trả lời cụ thể của tôi, ông ta liền đề nghị tôi nghe lại một lần nữa băng ghi âm câu chuyện giữa một người Mỹ với một người Đức để, trong những tìm kiếm giải pháp hoà bình sau này của tôi, tôi chuẩn bị tinh thần nghe những quan điểm khác nhau. Dưới đây tôi xin dẫn ra băng ghi âm buổi nói chuyện đó...".
Sớm hôm ấy, từ nhóm nghiên cứu hồ sơ lưu trữ cướp được của Boóc-man, người ta gọi điện tới cho Sê-len-béc.
- Có hiện tượng đáng chú ý. Nếu ngài thiếu tướng tới đây, chúng tôi sẽ giới thiệu với ngài một vài tài liệu quan trọng.
- Tôi sẽ đến ngay bây giờ, - Sê-len-béc đáp lại gọn lỏn.
Y đến nơi, không cởi áo khoác, tiến ngay lại bàn và cầm lấy mấy tờ giấy.
Đưa mắt liếc qua mấy tờ giấy đó; y rướn mày ngạc nhiên, ý cởi áo khoác vắt lên thành ghế, ngồi xuống và co chân trái lên. Mấy tài liệu này quả là rất đáng chú ý. Tài liệu thứ nhất viết như sau:
"Đến ngày X sẽ tiến hành cách ly Can-ten-bơ-ru-ne, Pô-li, Sơ-tiếc-lít, Muyn-lơ". Tên Muyn-lơ được gạch đi bằng chì đỏ và Sê-len-béc đánh dấu hỏi to tướng vào tấm bìa các-tông nhỏ - y thường bỏ túi hoặc để trên bàn mình một số tấm bìa như thế, để khi cần sẽ đánh dấu những điểm đáng chú ý vào đó. Tài liệu không có chữ ký và không để người nhận ấy viết tiếp: "Cần nhớ rằng, việc cách ly các nhân vật lãnh đạo của cơ quan ghét-xta-pô và SĐ kể trên là một hành động đặc biệt để đánh lạc hướng chú ý. Việc tìm kiếm những nhân vật lãnh đạo từng chịu trách nhiệm về các vấn đề
cụ thể sẽ làm hao tổn tâm sức của những ai có lợi trong việc tìm kiếm đó, xét về quan điểm tác chiến cũng như về ý đồ chiến lược".
Tiếp đó, trong tài liệu có liệt kê một danh sách bao gồm 176 người.
"Các sĩ quan ghét-xta-pô và SĐ ấy có thể làm sáng tỏ những vấn đề mấu chốt trong chính sách đối ngoại của Đế chế không phải thông qua các luận điểm cơ bản mà là thông qua các chỉ tiết thứ yếu. Hiển nhiên là mỗi sĩ quan nói trên không biết rằng, mình là một bức tranh chắp hình vô nghĩa về mặt giá trị cá nhân, nhưng lại vô giá trong việc lựa chọn mọi bức tranh chắp hình khác. Do đó, các sĩ quan ấy có thể phục vụ cho những kẻ thù của Đế chế muốn lên án các lý tưởng của đảng Quốc xã bằng cách vạch trần hoạt động thực tế của đảng. Trên quan điểm đó, các chiến dịch của mỗi si quan kể trên khi gộp lại sẽ thành một bức tranh bất lợi cho Đê chế. Tiếc rằng, trong trường hợp này không thể phân định ranh giới rõ rệt giữa kỷ cương của đảng với hoạt động thực tê của lực lượng ss, bởi vì, tất cả các sĩ quan ấy đều là các chiến sĩ kỳ cựu của phong trào, họ đã gia nhập đảng Quốc 'xã trong thời kỳ từ 1927 đến 1935. Bởi vậy, việc cách ly những người ấy cũng là việc làm hợp lý và hợp pháp".
"Rõ rồi, - Sê-len-béc chợt hiểu. - Cái thằng cha thủ lĩnh của đảng rào đón màu mè khéo chưa. Bọn mình thì cứ gọi thẳng là "thủ tiêu". Lão ta dùng hai chữ "cách ly". Nghĩa là mình sẽ bị thủ tiêu, còn Muyn-lơ thì được giữ lại. Kể ra, chính mình cũng chờ đợi ngày đó, thật nực cười nếu hy vọng vào cách đối xử khác. Đáng chú ý là họ vẫn để Can-ten-bơ-ru-ne lại trong danh sách. Tuy rằng cũng dễ hiểu điều sau đây: Muyn-lơ bao giờ cũng nấp trong bóng tối, chỉ có giới hoạt độngXíhuyên nghiệp mới biết hắn, còn Can-ten- bơ-ru-ne thì đàng đung đưa trên bộ đèn chùụi, bây giờ cả thế giới biết tiếng ông ta. Lòng tự ái giết chết ông ta - mình luôn luôn nghĩ như vậy. Còn cái giết chết mình là mình cứ thích làm một người cần thiết cho Đê chế. Và mình đã có thể làm người cần thiết cho Đế chế thật, bởi vì mình biết rõ các bí mật ở trong nước và ngoài nước. Cái sự ngược đời của nhà nước chúng ta là ở chỗ: anh càng muốn làm người cần thiết cho nhà nước bao nhiêu, anh càng mạo hiểm bấy nhiêu ; những người như mình không có quyền mang theo xuống mộ những bí mật quốc gia đã trở thành các bí mật cá nhân. Giữa cuộc sống và cái chết, tự nhiên sẽ có một khe hở thời gian, khi mình có thể nói những bí mật ấy với người khác. Những người như mình cần phải bị loại ra khỏi cuộc sống một cách nhanh chóng và bất ngờ.;. Như với hãy-đơ-rích vậy..."
Sê-len-béc chăm chú xem họ tên những người bị đưa vào danh sách cần "cách ly". Y tìm thấy rất nhiều cộng sự viên của mình. Đứng ở số 142 là đại tá ss Sơ-tiếc-lít.
Việc Muyn-lơ được gạt ra khỏi danh sách, còn Sơ-tiếc-lít phải nằm lại trong đó, chứng tỏ sự vội vàng và hỗn loạn khủng khiếp bao trùm thời gian di chuyển hồ sơ lưu trữ của đảng Quốc xã. Boóc-man đã chỉ thị phải điều chỉnh lại bản danh sách hai ngày trước khi di chuyển, song rõ ràng là vì vội vã mà người ta chỉ kịp xem một cái tên Sơ-tiếc-lít, hoặc có thể là người ta chỉ kịp xem một hai trang đầu của bản danh sách, nơi ghi tên những nhân vật nổi tiếng nhất. Cái đó đã cứu Sơ-tiếc-lít không phải khỏi bị người của Boóc-man tiến hành "cách ly" sau này, mà khỏi bị người của Sê-len-béc "thủ tiêu": người của Sê-len-béc làm việc ấy cừ hơn và nhanh hơn vì đó chính là nghề của chúng...
- Có chuyện gì vậy, thưa ngài? - Sơ-tiếc-lít hỏi, khi Muyn-lơ quay xuống xà-lim. - Không hiểu sao tôi cứ lo lo...
- Thế là đúng, Muyn-lơ tán thành. - Tôi cũng thấy lo lo như anh.
- Tôi nhớ lại rồi, - Sơ-tiếc-lít nói.
- Cụ thể là gì?
- Vì sao trên chiếc va-li của mụ đàn bà Nga lại có dấu tay của tôi... Mụ ta đâu rồi? Tôi cứ tưởng ngài sẽ đưa mụ ta đến... đối chất với tôi kia đấy...
- Mụ ấy đang nằm ở nhà thương. Người ta sắp đưa mụ ấy đến.
- Có chuyện gì xảy ra với mụ ta thế?
- Với mụ ấy thì không có chuyện gì cả... Chẳng qua là vì, muốn mụ ấy khai, mà Vôn-phơ đã quá tay với đứa bé.
"Nói láo, - Sơ-tiếc-lít nghĩ. - Nếu Kết khai, hắn đã chẳng giam mình vào đây. Hắn mới loanh quanh gần sự thật thôi".
- Được rồi, tạm thời không việc gì phải vội vàng...
- Tại sao lại "tạm thời". Nói chung là không làm gì phải vội vàng chứ?
- Tạm thời không làm gì phải vội vàng, - Sơ-tiếc- ĩít nhắc lại. - Nếu quả thực ngài quan tâm đến cái dấu tay rắc rối trên chiếc va-li, thì tôi đã nhớ ra rồi. Việc ấy làm cho tôi bạc thêm mấy sợi tóc, nhưng sự thật bao giờ cúng chiến thắng - đó là niềm tin của tôi.
- Một sự trùng hợp đáng mừng yề niềm tin giữa anh và tôi. Anh hãy kể đi.
- Ngài phải cho gọi tất cả các tốp cảnh sát canh gác khu vực phố Bai-ô-rê-te đến đây. Tôi phải dừng xe ở khu vực ấy và người ta không cho phép tôi đi qua, ngay cả khi tôi đã chìa tấm thẻ SĐ. Lúc ấy, tôi liền đi vòng qua phố Kê-pê-ni-cơ. ở đó người ta cũng ngăn tôi lại, thế là tôi bị nghẽn. Tôi xuống xe xem có chuyện gì xảy ta và cảnh sát không cho phép tôi đi đến trạm điện thoại tự động để gọi về chỗ Sê-len-béc. Trong đám cảnh sát ấy có hai người - một còn trẻ, nhưng ốm yếu, chắc là mắc bệnh lao phổi, còn người thứ hai, tôi không nhớ lắm, vì mặt anh ta bị dính bụi tro đen nhẻm. Tôi chìa tấm thẻ SĐ cho họ và đi đến chỗ gọi điện thoại. ở đấy có một người phụ nữ bê con, tôi đã mang giúp chị ta chiếc xe nôi ra khỏi chỗ ngôi nhà đổ. Sau đó tôi bê mấy chiếc va-li ra xa khu vực đang cháy. Xin ngài hãy nhớ lại bức ảnh để ở trong hồ sơ chụp chiếc va-li ấy với địa chỉ mà mụ đàn bà Nga đã sống, - hai. Cho gọi đến đây tốp cảnh sát đã nhìn thấy tôi bê va-li giúp mấy người bất hạnh, - ba. Nếu chỉ một trong số các bằng chứng mà tôi vừa nêu ra sai sự thật, xin ngài cho tôi khẩu súng và một viên đạn - tôi không còn lối thoát nào khác, không còn bằng chứng vô tội nào khác.
- Hừm, - Muyn-lơ cười. - ừ, thì ta hãy thử xem. Tất cả có vẻ lô-gích lắm. Đầu tiên ta hãy nghe những người Đức của chúng ta nói, sau đó sẽ nói chuyện với cô gái Nga của anh.
- Với cô gái Nga của chúng ta chứ, - Sơ-tiếc-lít cũng mỉm cười, - hay ngài định coi tôi là gián điệp Nga thì bảo?
“ Thôi, thôi mà, - Muyn-lơ đáp, - anh đừng có tóm lấy câu nói lỡ lời của tôi nữa...
Y bước ra để gọi điện cho viên giám đốc trường đào tạo cảnh sát - trung tá ss, tiến sĩ Khen-vi-gơ sống ở hẻm Sác-lô, phố Sơ-lốt, ngay trong khu vực của trường... Còn Sơ-tiếc-lít lại tiếp tục phân tích tình huống: "Nếu chúng nó hành hạ bé gái - anh muốn ám chỉ đứa con trai của Kết - chúng có thể hành hạ đứa bé lắm, và Kết sẽ không chịu đựng nổi nhưng hẳn là có sự gì đã xảy ra ; chúng đã chẳng chở Kết đến bệnh viện, mà sẽ đưa thẳng đến đây, nếu sự việc diễn biễn theo đúng ý đồ của chúng... Nhưng ngay cả khi Kết khai rằng, cô ấy có biết mình, thì cô ấy cũng không biết bất cứ sự việc cụ thể nào cả: cô ấy không nhìn thấy xe mình, không biết tên thật của mình, còn việc mình nằm ở trong lực lượng ss thì khó gì mà cô ấy không biết, một khi cô ấy đã có mặt trong phòng làm việc của mình. Không biết chuyện ấy thì mới là điều tức cười. Mình sống ở đâu? Cô ấy biết. Nhưng mình có thể nói với cô ấy điều đó lắm chứ. Cô ấy biết địa chỉ, nhưng chưa lần nào đến nhà mình. Nghĩa là lúc ấy mình sẽ tung con bài Boóc-man ra. Nếu Pờ-lây-sơ-ne đã ở trong tay chúng - chúng cũng chẳng chịu chờ đợi đâu - trong trường hợp này chậm trễ là ngu ngốc, là mất quyền chủ động...".
- Người ta cho anh ăn com chưa? - Muyn-lơ hỏi, khi quay lại. - Có lẽ ăn chút gì chăng!
- Vâng đến giờ rồi đấy, - Sơ-tiếc-lít đồng ý.
- Tôi đã yêu cầu người ta mang thức ăn xuống cho chúng ta.
- Cám ơn. Ngài đã cho gọi cảnh sát đến chưa?
- Gọi rồi.
- Trông ngài mệt mõi lắm...
- Ôi dào, - Muyn-lơ phủi tay. - Còn sống là tốt rồi. Mà lúc nãy anh bảo "tạm thời" là có ẩn ý gì?... Anh thử nói tôi nghe xem nào...
- Tôi sẽ nói ngay sau khi đốì chứng, - Sơ-tiếc-lít trả lời. - Bây giờ nói thì không có ý nghĩa gì. Nếu người ta không xác nhận rằng, tôi nói đúng, thì hai chữ "tạm thời" còn có giá trị gì nữa.
Cửa mở và tên lính gác bưng vào một cái khay phủ một chiếc khăn ăn màu trắng. Trên khay có đĩa thịt hầm, bánh mì, bơ và hai quả trứng trên hai kệ xanh.
- Ớ trong cái nơi vừa là nhà tú vừa là nơi trú ẩn chắc chắn như thế này, tôi sẵn sàng ngủ một giấc suốt ngày nọ sang ngày kia. Thậm chí, ngồi ở đây, đến tiếng bom cúng không nghe thấy.
- Sẽ có thời gian để ngủ...
- Cám ơn... - Sơ-tiếc-lít cười to.
- Có sao đâu? - Muyn-lơ cười. - Tôi nói thật đấy... Tôi rất thích phong thái ung dung của anh. Tôi đã nói chuyện với mấy người của mình ở đây, họ cứ líu cả lưỡi lại. Anh muốn uống rượu không?
- Cám ơn ngài, không ạ.
- Anh không nghiện rượu à?
- Tôi sợ rằng, ngài đã biết đến cả loại cô-nhắc mà tôi yêu thích.
- Anh đừng có đặt mình ngang với Sớc-sin. về ông ta, tôi chỉ biết được rằng, ông ta thích cô-nhắc của bọn Nga hơn cả. Được... Anh không thích thì thôi, tôi cứ uống. Tôi cảm thấy mệt mỏi thật rồi.
Nghe tiếng súng, Kết hiểu ngay rằng, điều đáng sợ nhất đã xảy ra. Chị chạy ra cửa ngó. Chị nhìn thấy hai chiếc xe đen và thấy Ghen-mút đang lảo đảo ngã xuống vỉa hè. Chị chạy vội trở vào: con trai chị đang nằm giãy mạnh trên mặt hòm. Cháu gái mà chị đang bế trên tay thì ít cựa quậy hơn - cháu chép miệng trong giấc mơ. Kết đặt cháu gái xuống bên đứa con trai. Động tác của chị trở nên vội vã, hai tay run lên, và chị tự nhủ mình: "Thôi, khẽ chứ nào! Tại sao lại "khẽ chứ"? - chị nghĩ khi chạy sâu vào phía trong tầng hầm. - Mình có kêu thét gì đâu...".
... Cô bé ấy bước đi, hai tay giơ ra phía trước, trong bóng tối như bưng lấy mắt, chân vấp vào gạch đá và các dầm sắt. Đấy là cảnh đánh trận giả hồi Kết còn nhỏ ở nhà. Bọn con trai rủ cô cùng chơi, và Ca-chi-à - tức Kết - nổi tiếng là một cô bé táo bạo. Lúc đầu, Ca-chi-a được giao làm nhiệm vụ cứu thương, nhưng sau đó cậu bé Tan-ca Tu-te ở ngõ số 6, người chuyến môn giữ cương vị chỉ huy bên quân Đỏ, rất thích cô nên phong cho cô chức y tá, rồi lại ra lệnh cho mọi người gọi cô là bác sĩ quân y bậc ba. Ban tham mưu của quân Đỏ được bố trí trong tầng hầm của một ngôi nhà ở phố Xơ-pa-xô-na-líp. Một lần, đèn điện trong tầng hầm bị tắt. Mà tầng hầm thì rộng và ngoằn ngoèo uốn khúc. Tham mưu trưởng khóc oà lên vì sợ hãi. Tên cậu ta là I-go. Tan-ca Tu-te tuyển cậu ta vào đội chỉ vì cậu ta rất giỏi. "Để người ta khỏi gọi mình là bọn vô chính phủ, - Tan-ca giải thích quyết định của mình, - đôi chúng ta cần có một học sinh gương mẫu. Hơn nữa, tớ cử cậu ấy làm tham mưu trưởng, tức là một chức vị chẳng có ý nghĩa gì trong trò chơi của chúng ta. Cậu ấy sẽ ngồi trong tầng hầm viết mệnh lệnh do tớ thảo ra. Bên quân Trắng mới cần một sĩ quan tham mưu, chứ quân Đỏ chúng ta chỉ coi trọng một người - đó là chính uỷ". Lúc I-go khóc, tầng hầm trở nên yên ắng lạ thường, và Ca-chi-a cảm thấy Tan-ca lúng túng, cô cảm thấy thế, vì nghe rõ tiếng cậu ta khịt mũi. Trong khi đó, tiếng khóc của I-go mỗi lúc một thảm thiết hơn, rồi tiếp đó, lại thêm một sĩ quan tham mưu nữa sụt sịt. "Thôi, khẽ chứ nào!... - Tan-ca lúc ấy quát lên.
- Rồi tôi sẽ đưa các đồng chí thoát khỏi đây. Bây giờ ai ngồi yên chỗ ấy đã, không được chạy tán loạn!" Mười phút sau, cậu ta quay lại, khi đèn điện đã bật sáng. Người cậu ta đầy bụi bậm, mũi bị dập, chảy cả máu. "Tắt đèn đi, - Tan-ca nói.
- Chúng ta sẽ tập lần ra ngoài phố trong bóng tối, như thế chứng ta sẽ biết cách hành động khi chiến tranh xảy ra". "Khi chiến tranh thật xảy ra, - tham mưu trưởng I-go nói, - chúng ta sẽ đánh nhau ngoài phố, chứ không phải trong các hầm nhà". "Cậu im đi. Cậu bị cách chức. - Tan-ca trả lời. - Khóc lóc ở ngoài mặt trận tức là phản bội dân tộc! Cậu hiểu chưa? Cậu là một thằng hèn, đúng là một thằng hèn!" Nói rồi Tan-ca leo lên chiếc bàn cũ được khiêng từ nhà đến đây và tháo bóng điện ra. Cậu ta dẫn tất cả lũ trẻ từ trong hầm tối om ra bên ngoài, và lúc ấy Ca-chi-a lần đầu tiên đã hôn Tan-ca một cái.
"Cậu ta dẫn bọn mình lần tường mà đi, - Kết nghĩ. - Cậu ta luôn luôn đưa tay lần tường. Nhưng trong tay cậu có diêm. Không. Cậu ta không có diêm. Cậu ta đào đâu ra diêm cơ chứ? Hồi ấy cậu ta mới lên chín, đã biết hút thuốc lá đâu".
Kết ngoái lại, chị không nhìn thấy chiếc hòm bẹp, nơi chị đặt hai đứa trẻ nữa. Đằng trước mặt vẫn là bóng tối dày đặc. Chị sợ bị lạc đường, không tìm được lối quay trở lại chỗ chiếc hòm, và con trai chị sẽ khóc thét lên vì có lẽ nó ướt hết tã lót, nó sẽ đánh thức cả cháu gái kia dậy, lập tức tiếng khóc của cả hai đứa sẽ vọng ra tận ngoài đường. Chị phát khóc vì cảm giác bất lực, vì cảm thấy mình xa lạ, và không làm được việc gì cần thiết trong thế giới này. Chị quay đầu đi ngược lại, người luôn luôn áp sát vào tường. Vì vội vàng, nên khi vấp chân vào một đoạn ống nào đó, chị bị mất thăng bằng. Hai tay chới với về phía trước và nhắm mắt lại, chị ngã vật xuống. Trong khoảnh khắc, chị thấy mắt mình nổ đom đóm, rồi chị ngất đi vì cảm giác đau nhói trên đầu.
... Kết không nhớ chị nằm dưới đất bao nhiêu lâu: một phút hay một giờ? Mở mắt ra, chị kinh ngạc khi nghe thấy một tiếng rì rào lạ lùng. Tai trái của chị áp lên một tấm sắt có gờ, lạnh như băng, và nó phát ra một âm thanh lạ lùng như cái âm thanh mà Kết từng nghe thấy ở trong khe núi, nơi có một dòng suối xanh trong lấp lánh chảy mạnh. Kết nghĩ rằng, có lẽ đầu chị bị thương nên chị mới có cảm giác như thế chăng. Chị ngẩng mặt lên, tiếng rì rào biến mất. Đúng hơn là nó khác đi. Kết định đứng dậy và chị bỗng hiểu rằng, khi ngã, đầu chị đã đập xuống chiếc nắp đậy một khoang cống ngầm. Chị đưa hai tay sờ tấm sắt có gờ và tin rằng, mình nghĩ đúng. Ê-rơ-vin có nói với chị về hệ thống cống ngầm rộng lớn của Béc Lanh, Kết nâng chiếc nắp lên, nó không suy suyển. Chị đưa tay sờ xung quanh chiếc nắp và chạm phải một thanh sắt có lẽ đã gỉ. Chị đút thanh sắt vào cạnh chiếc nắp và nâng nó sang một bên. Tiếng động bị chiếc nắp sắt che kín lúc trước nghe xa xôi là thế, bây giờ từ dưới lòng đất sâu giội lên ùng ục...
... Hôm ấy, họ cùng nhau dạo chơi trong khe núi xanh xanh... bọn họ gồm có Ghê-raXơ-mê-tan-kin, Mi-sa Vê-li-cốp-xki, Ê-rơ-vin và Kết. Dạo đó, họ vẫn còn luôn miệng hát bài: "Bên kia đại dương có một xứ sở diệu huyền".
Lúc đầu, ở trong khe núi rất nóng và sực mùi lá kim: rừng ở đây toàn một loại cây lá kim màu xanh. Mọi người rất khát nước, vì vừa phải leo một cái dốc dựng đứng, đầy đá cuội to và nhọn. Nước không có và mọi người lấy làm ngạc nhiên tại sao lại không có nước. Ra khỏi khe núi này, họ sẽ leo lên một núi tuyết cao, nghĩa là phải có một dòng nước chảy trong khe núi này. Nhưng ở đây không có nước, chỉ có gió rì rào trên các ngọn cây thông, và tiếng rì rào ấy càng tăng thêm cảnh im vắng... Sau đó lốp đá cuội mất màu trắng vì được sưởi ánh mặt, trời, nó sạm đen dần và mười phút sau thì mọi người nhìn thấy một con suốỉ nhỏ róc rách trong khe đá và họ nghe rõ tiếng nước chảy mạnh xa xa. Rồi họ đi đến chỗ dòng sụối chảy ào ào, và họ cảm thấy mát lạnh dưới chân. Tiếp đó họ nhìn thấy tuyết, và khi họ leo lên núi tuyết, thì vạn vật xung quanh lại trở nên yên tĩnh, bởi vì dòng nước do tuyết tan ra đang chảy ngầm ở bên dưới." Họ cứ đi mãi, leo lên mãi mỗi lúc một lắng sâu vào sự im ắng của núi tuyết, và một cảm giác chiến thắng cao cả, lạ lùng xâm chiếm lòng họ giữa cảnh núi tuyết vời vợi, không một bóng người...
Tên mật thám tóc bạc bấm đèn pin, và tia sáng loá mắt của nó rọi vào tầng hầm.
- Các cậu nghe đây, cái tay sĩ quan ss bị bắn chết ở đằng ấy bằng một tay súng hay bằng cả hai tay súng, - lão ta hỏi mấy tên đi cùng.
Một tên trả lời:
- Tôi đã gọi điện tới phòng xét nghiệm, vẫn chưa có kết quả.
- Thế mà người ta bảo mọi việc ở cơ quan ghét-xta-pô chỉ nháy mắt là xong. Rặt một lũ khoác lác. Các cậu nhìn xem. Mắt tớ kém lắm rồi, không rõ ở đây có dấu vết gì không?
- ít bụi quá... Giá như bây giờ là mùa hè, thì...
- Giá bây giờ là mùa hè, và giá như chúng ta có một con chó săn thật giỏi, và giá như con chó săn đó được ngửi chiếc găng tay của mụ đàn bà chạy trốn ấy, thì nó sẽ lần ra dấu vết ngay lập tức. Này, mẩu thuốc hút dở kia của ai thế?
- Cũ rồi. Trông như một mảnh đá.
- Cậu sờ thử xem nào. Bởi vì rõ ràng là, trong nghề của chúng ta, cái gì cũng cứ sờ tận tay... May mà Hun-te sống độc thân, chứ nếu tớ có mệnh hệ nào, thì không hiểu các cậu sẽ báo tin cho Ma-ri-a nhà tớ ra sao đấy?
Thêm một tên mật thám nữa bước vào ngó nghiêng khắp tầng hầm xem có lối nào thoát ra ngoài hay không.
- Thế nào? - lão già tóc bạc hỏi.
- Ở đăng kia có hai lối ra, nhưng chúng bị bịt kín rồi.
- Bịt bằng gì?
- Bằng gạch đá.
- Có nhiều bụi không?
- Không, ở đằng ấy cũng như ở đây, toàn một thứ đá vỡ vụn, lấy đâu ra bụi ở trên mặt?
- Nghĩa là không có dấu vết gì?
- Dấu vết gì trên mặt lớp đá vụn...
- Chúng ta hãy đi xem lại một lần nữa cho chu đáo. Lũ quỷ sứ ấy khôn ngoan lắm.
Cả mấy tên cùng đi với nhau, vừa đi vừa nói chuyện nho nhỏ, thỉnh thoảng lại bấm đèn pin soi và những góc hiểm hóc, tổì tăm, ngổn ngang gạch đá và dầm sắt của tầng hầm. Lão già tóc bạc dừng bước, rút thuốc lá từ trong túi ra.
- Chờ tớ châm điếu thuốc cái đã, - lão ta nói.
Lão ta đang đứng ngay trên chiếc nắp sắt có gờ.
Kết nghe rõ tiếng chân bọn mật thám ở phía trên đầu mình. Chị nghe thấy cả tiếng chúng nói chuyện với nhau. Chị không phân biệt được từng tiếng, bởi vì ở sâu bên dưới chân chị, nước chảy ùng ục. Chị đứng trên hai cái móc treo, hai tay ôm hai đứa bé, lúc nào cũng chỉ cô giữ thăng bằng để khỏi ngã xuống đám nước bẩn thỉu đang chảy ùng ục ở bên dưói. Khi nghe thấy tiếng nói ngay trên đầu mình, chị quyết định: "Nếu chúng mở nắp ra, mình sẽ bước xuống bên dưới. Đó là lối thoát tốt nhất cho tất cả mọi người". Chị cảm thấy chú bé con đang cựa quậy: nó sắp khóc đến nơi mất. Chị không thể đung đưa nó trên tay cho nó khỏi khóc, vì như thế chị sẽ bị mất thăng bằng ngay.
- Khỉ quá, - lão già tóc bạc nói. - Diêm bị ẩm hết rồi!
- Tôi có bật lửa đây.
- Cám ơn, chiếc bật lửa của tớ bị vướng viên đá lửa ở chỗ bánh xe mà tớ không tài nào nậy ra được, mắt tớ kém rồi.
- Nên đưa thợ họ chữa cho.
- Tớ tìm mãi khắp Béc Lanh mà không thấy người thợ nào? - lão già tóc bạc trả bật lửa cho tên kia, nói. - Họ ra trận hết cả rồi.
- Đưa tôi chữa giúp cho vậy.
- Cám ơn anh bạn... quý hoá quá!
- Ta đi tiếp chứ?
- Nhất định rồi. Ta nên xem xét đến cùng, để sau này lương tâm khỏi cắn rứt.
Và cả bọn đi tiếp.
- Chú bé bắt đầu khóc. Lúc đầu chú chỉ ọ oẹ khe khẽ, nhưng Kết tưởng như chú bé hét to đến mức khắp bốn phía xung quanh người ta đều nghe thấy. Chị cúi xuống phía con thật khéo léo để khỏi mất thăng bằng và khẽ mấp máy môi hát một bài ru con. Nhưng chú bé mỗi lúc một khóc to hơn.
- Nín đi con! - Kết thì thầm, - nín đi, con ơi...
"Nó đòi bú đây mà, - Kết hiểu. - Và nó sẽ còn khóc cho đến khi mình cho nó bú mới thôi. Nhưng làm thế nào cho nó bú được bây giờ?".
May mà cháu gái vẫn ngủ yên như củ. ở phía dưới, sâu trong bóng tối, nước vẫn chảy ùng ục.
"Bao giờ chúng mới cút khỏi tầng hầm? - Kết nghĩ. - trời ơi, có ai giúp tôi với không?".
Chương 16
Muyn-lơ, Sôn-xơ và Sơ-tiếc-lít ngồi trong phòng làm việc đã bỏ không của viên dự thẩm Khôn- tốp, trên ba chiếc ghế kê cạnh tường. Trung tướng Ai-xơ-man mở cửa và dẫn một tên cảnh sát mặc sắc phục bước vào.
- Hai-lơ Hít-le! - tên cảnh sát chào to khi nhìn thấy bộ sắc phục cấp tướng của Muyn-lơ.
Muyn-lơ không đáp lại, chỉ khẽ nhếch mép cười. Để tiến hành thực nghiệm nhận mặt, bây giờ chưa thể mời các cộng sự viên khác trong cơ quan ghét-xta-pô tới, để chúng khỏi nghi ngờ Sơ-tiếc-lít quá sớm. Bởi vậy, y giao việc đốì chứng, hay nói đúng hơn việc nhận mặt này, cho ba người đã biết rõ diễn biến sự việc, phụ trách.
- Anh có biết ai trong số ba người ngồi ở đây không? - Ai-xơ-man hỏi tên cảnh sát.
- Không ạ, - tên cảnh sát trả lời, sợ hãi liếc
nhìn chiếc dải đeo đầy cuông huân chương và dấu hiệu thập hiệp sĩ trên ngực áo Muyn-lơ.
- Anh chưa gặp ai trong số ba người này à?
- Theo như tôi nhớ, thì tôi chưa gặp ai cả.
- Có thể anh chỉ gặp thoáng qua, trong lúc địch ném bom, khi anh đang đứng gác ở khu nhà đổ, chẳng hạn.
- Có rất nhiều người bận sắc phục đi xe đến xem khu nhà đổ. Bởi vậy, tôi không thể nhớ cụ thể được ạ, - tên cảnh sát trả lời.
- Cám ơn anh, - Ai-xơ-man nói. - Anh mời hộ người thứ hai vào đây.
Khi tên cảnh sát bước ra, Sơ-tiếc-lít nói:
- Làm theo kiểu này thì họ chỉ có thể nhận ra ngài thống chế của chúng ta được thôi. Bộ sắc phục của ngài làm cho họ mất vía.
- Không sao, - Muyn-lơ đáp. - Chẳng lẽ tôi cởi quần áo ra à?
- Vậy thì ít nhất cũng phải gợi cho họ nhớ lại một địa điểm cụ thể, - Sơ-tiếc-lít đề nghị. - Nếu không, họ khó mà nhớ lại được, bởi lẽ họ phải đứng gác ngoài phố mười tiếng đồng hồ một ngày, họ thấy mặt người nào cũng giống nhau cả thôi.
- Thôi được, - Muyn-lơ đồng ý, - anh hãy giúp họ... Anh không nhớ tay cảnh sát vừa rồi chứ?
- Không, tay cảnh sát vừa rồi thì tôi chưa gặp. Tôi sẽ nhớ những người tôi đã gặp.
Tên cảnh sát thứ hai cúng không nhận được ai. Mãi đến tên thứ bẩy mới là tên cảnh sát tuy trẻ nhưng có vẻ mặt ốm yếu, xanh xao như bị bệnh lao phổi.
"Nếu Muyn-lơ có lợi trong việc đánh gục mình hay nếu như hắn có bằng chứng trực tiếp, cụ thể - qua Kết và Pờ-lây-sơ-ne, - thì hắn đã đối xử khác với mình. Hắn đang lưỡng lự. Hắn đang tìm kiếm. Hắn không có kế hoạch định trước - thế là lại thêm một khả năng thắng lợi nghiêng về phía mình".
- Anh có nhìn thấy ai trong số ba người này không? - Ai-xơ-man hỏi.
- Không, tôi nghĩ là không ạ...
- Anh có đứng gác ở phố Kê-pê-ni-cơ không?
- A, có, có, - tên cảnh sát vui mừng, - ông này đã chìa tấm thẻ của mình cho tôi xem. Tôi đã để cho ông ấy đi lại chỗ đám cháy.
- Ông ấy đề nghị anh để ông ta đi lại chỗ đó à?
- Không ạ... Ồng ấy đi xe qua, mà tôi thì không cho xe nào chạy qua cả, ông ấy chìa tấm thẻ của mình ra... Và ông ấy đã đi bộ lại bên đám cháy... Nhưng sao kia ạ? - tên cảnh sát bỗng hoảng hốt. - Hay là ông áy không có quyền làm như vậy ạ?... Tôi biết rằng, đã có lệnh để cho người của cơ quan SĐ và ghét-xta-pô được phép đến tất cả mọi nơi.
- Ông ta có quyền, - Muyn-lơ đứng dậy, nói. - Ồng ta không phải là kẻ thù, đừng có nghĩ như thế... Tất cả chúng ta đều làm chung một việc. Vậy ông ấy làm gì ở đó, đi tìm một sản phụ trong đám cháy à?
- Không ạ... Người sản phụ đã được chở đi từ hồi đêm, còn ông ấy sáng hôm sau mới tới.
- Ông ta đi tìm đồ đạc của người phụ nữ không may ấy... Và anh đã giúp ông ta?
- Không ạ? - tên cảnh sát nhăn trán, - tôi nhớ là ở đó ông ấy có đẩy chiếc xe nôi giúp một người đàn bà nào đấy... Không phải tôi giúp ông ấy, tôi chỉ đứng bên cạnh thôi...
- Người đàn bà ấy có đứng cạnh mấy chiếc va-li không?
- Ai cơ ạ? Chiếc xe nôi có. phải không ạ?
- Không! Người đàn bà cơ.
- Chuyện ấy thì tôi không nhớ kỹ. Theo tôi, ở đó có mấy chiếc va-li thật, nhưng tôi không để ý đến, tôi nhớ kỹ chiếc xe nôi, Bởi vì nó bị đứt chỏng chơ, và ông này đã gấp lại để mang sang vỉa hè bên kia đường.
- Để làm gì? Muyn-lơ hỏi.
- Ớ bên ấy an toàn hơn, vả lại lính cứu hoả đứng đầy ở phía bên này. Họ đang kéo các ống cao su dẫn nước. Chúng có thể làm gãy chiếc xe nôi, lúc ấy cháu bé sẽ không có gì để nằm, sau đó người đàn bà đem chiếc xe nôi vào trong hầm trú ẩn cho con bà ta ngủ - tôi nhìn thấy rõ ràng.
- Cám ơn, - Muyn-lơ nói. - Anh đã giúp chúng tôi rất nhiều. Anh có thể ra về...
Khi tên cảnh sát đi khỏi, Muyn-lơbảo Ai-xơ-nìan:
- Cho những người còn lại ra về.
- Còn một người đứng tuổi nữa cơ, - Sơ-tiếc-lít nói. - Anh ta cũng sẽ xác nhận cho tôi.
- Thôi, thế đủ rồi, - Muyn-lơ cau mặt. - Đủ rồi.
- Tại sao lại không mời những người đứng ở góc phố, chỗ tôi phải lái xe đi vòng?
- Chúng tôi đã xác minh điều đó, - Muyn-lơ nói. - Sôn-xơ, người ta đã xác nhận với anh đúng như thế phải không?
- Thưa ngài thượng tướng, đúng như thế ạ.Ông Khen-vích, người hôm ấy ra lệnh bố trí các tốp cảnh sát và liên lạc với cơ quan phụ trách giao thông, đã gửi các tài liệu xác nhận tới.
- Cám ơn, - Muyn-lơ nói, - tất cả các anh có thể về nghỉ.
Sôn-xơ và Ai-xờ-man đi ra cửa. Sơ-tiếc-lít theo ngay sau họ.
- Anh Sơ-tiếc-lít ở lại gặp tôi một lát nữa, - Muyn-lơ ngăn anh.
đợi lúc Ai-xơ-man và Sôn-xơ đi khỏi, Muyn-lơ châm thuốc và đi lại bàn. Y ngồi xuống mép bàn - tất cả các nhân viên trong cơ quan ghét-xta-pô đều bắt chước kiểu ngồi đó của y - và hỏi:
- Được, các chi tiết như thế là khớp với nhau và tôi rất tin vào các chi tiết. Bây giờ anh hãy trả lời tôi một câu hỏi này nữa: giám mục Sơ-lắc hiện nay ở đâu, hở anh bạn Sơ-tiếc-lít thân mến?
Sơ-tiếc-lít vờ làm bộ ngạc nhiên. Anh quay ngoắt về phía Muyn-lơ và nói:
- Lẽ ra ngài nên bắt đầu từ câu hỏi đó!
- Tôi biết rõ hơn anh là nên bắt đầu từ câu hỏi nào, Sơ-tiếc-lít ạ. Tôi hiểu rằng, anh rất lo lắng, song anh cũng đừng quên sự lịch thiệp...
- Thưa ngài thượng tướng, tôi sẽ cho phép mình nói chuyện thẳng thắn với ngài.
- Cho phép mình à? Thế còn tôi thì sao?
- Thưa ngài thượng tướng, tôi hiểu rằng, nội dung tất cả các buổi nói chuyện điện thoại của Boóc-man đều nằm trên bàn của ngài thống chế ss Him-le sau khi Sê-len-béc đã xem qua. Tôi hiểu rằng, ngài không thể không thi hành mệnh lệnh của ngài thống chế. Ngay cả khi các mệnh, lệnh ấy xuất phát từ gợi ý của ông bạn ngài và ông sếp của tôi. Tôi muốn tin rằng, người lái xe của Boóc-man bị bên cơ quan ghét-xta-pô bắt giữ theo mệnh lệnh trực tiếp từ trên đưa xuống. Tôi tin rằng, người ta đã ra lệnh cho ngài bắt giữ lái xe đó.
Muyn-lơ uể oải nhìn vào mắt Sơ-tiếc-lít và cảm thấy cả người y căng lên, - y chờ đợi tất cả, trừ một việc này.
- Tại sao anh lại cho rằng... - định nói, nhưng Sơ-tiếc-lít liền ngắt lời y.
- Ngài thượng tướng, người ta đã ra lệnh cho ngài tố giác tôi bằng mọi biện pháp, qua mọi con người, trong mọi quan hệ - để tôi không thể tiếp tục gặp ngài Boóc-man. Tôi đã thấy ngài bố trí công việc ngày hôm nay như thế nào, - ngài vẫn có đầy đủ đức tính như mọi khi, nhưng, hôm nay ngài không có hứng làm việc, bởi vì ngài đã hiểu ai có lợi và ai không có lợi trong việc chấm dứt các cuộc gặp gỡ giữa tôi với Boóc-man. Tại sao thì tôi chỉ có thể nói điều đó với ngài sau khi tôi đi gặp ngài Boóc-man về. Bây giờ tôi không còn thời gian nữa. Ngài Boóc-man hẹn gặp tôi vào lúc năm giờ chiều. Tôi nghĩ rằng, ngài sẽ chẳng được lợi gì nếu thủ tiêu tôi.
- Anh sẽ gặp Boóc-man ở đâu?
- Cạnh viện bảo tàng Tự nhiên học.
- Ai sẽ lái xe? Tên tài xế thứ hai à?
- Không. Chúng tôi biết rằng, hắn đã bị Sê-len-béc mua chuộc qua cơ quan ghét-xta-pô.
- Chúng tôi là những ai?
- Chúng tôi là những người yêu nước Đức và Quốc trưởng.
- Anh sẽ đi gặp Boóc-man bằng xe của tôi, - Muyn-lơ nói, - điều đó sẽ đảm bảo an toàn cho anh.
- Cám ơn ngài.
- Anh hãy nhét máy ghi âm vào trong cặp để ghi lại toàn bộ buổi trao đổi với Boóc-man và anh nhớ đề cập đến số phận của tên lái xe với ông ấy. Anh nói đúng: người ta đã buộc tôi phải bắt giữ hắn và áp dụng kiểu hỏi cung thứ ba để hắn phải sợ. Sau đó anh hãy quay về đây, và chúng ta sẽ cùng nghe băng ghi âm với nhau. Xe của tôi sẽ đợi anh ở cạnh viện bảo tàng.
- Nhưng thế là không khôn ngoan, - Sơ-tiếc-lít trả lời. Anh đã nhanh chóng cân nhắc trong óc mọi diễn biến tình thế có thể xảy ra. - Tôi sống ở trong rừng. Chìa khoá phòng của tôi đây. Ngài hãy đi xe đến đó. Lần trước, Boóc-man đã tiễn chân tôi về tận nhà bằng xe của ông ta. Giá tên lái xe thú nhận điều đó, tôi tin rằng, ngài đã không hành hạ tôi suốt bảy tiếng đồng hồ vừa qua.
- Nhưng cũng có thể tôi buộc phải thi hành một mệnh lệnh mà theo đó mọi đau khổ của anh chấm dứt từ bảy tiếng đồng hồ trước đây rồi, - Muyn-lơ nói.
- Nếu điều đó xảy ra, thưa ngài thượng tướng, thì ngài sẽ phải đon phương độc mã chống chọi với rất nhiều kẻ thù ngay ở đây, trong toà nhà này, và tôi không tin rằng, ngài sẽ là người chiến thắng.
Ra đến gần cửa, Sơ-tiếc-lít mới hỏi:
- Nhân tiện, xin nói rằng, trong kế hoạch này của tôi, tôi rất cần mụ nhân viên điện đài người Nga. Tại sao ngài không chở cô ta đến đây? Và tại sao lại có cái trò ảo thuật, trơ trẽn với cái thứ mật mã gửi từ Béc-nơ về như vậy?
- Tất cả không ngây ngô như anh tưởng đâu. Chúng ta sẽ trao đổi cảm tưởng kỹ hơn ở nhà anh tại Ba-ben-xơ-béc, sau khi anh nói chuyện với Boóc-man trở về.
- Hai-lơ Hít-le! - Sơ-tiếc-lít chào to.
- Thôi, đủ rồi, - Muyn-lơ nóí, - tai tôi ù cả lên đây này...
- Tôi không hiểu... - dường như vấp phải một vật gì, Sơ-tiếc-lít dừng bước, tay không rời quả đấm cửa bằng đồng được gắn chặt vào tấm gỗ đen.
- Thôi xin anh. Tất cả các anh đều thừa hiểu cả rồi. Quốc trưởng không còn khả năng quyết định việc gì nữa, cho nên đừng lẫn lộn quyền lợi của nước Đức với cá nhân A-đôn-phơ Hít-le.
- Ngài hiểu rõ rằng...
Vâng, vâng, vâng! Tôi hiểu rõ! ở đây không có máy nghe trộm, và sẽ không ai tin anh, nếu anh nói lại lời lẽ của tôi, vả lại anh cũng chả.dám nói lại với bất cứ ai. Nhưng nếu anh không chơi một ván bài tinh vi hơn ván bài mà anh trói buộc tôi phải chơi, thì anh nên hiểu rằng, Hít-le đã đưa nước Đức tới thảm hoạ. Và tôi không thấy có cách nào thoát khỏi tình thế hiện nay cả. Anh hiểu chưa? Không có cách nào hết. Anh hãy ngồi xuống đây đã nào? Còn những hai mươi phút nữa, mà anh chỉ cần năm phút là đến chỗ hẹn, nhiều lắm thì cũng chỉ bảy phút thôi. Sao, anh tưởng Boóc-man có kế hoạch cứu vãn tình thế à? Một kế hoạch khác với kế hoạch của ngài thống chế Him-le? Anh hãy suy nghĩ kỹ thêm về điều đó! Người của Him-le ở ngoại quốc bị theo rõi riết, ông ta chỉ đòi hỏi họ làm việc mà không bảo vệ họ. Nhưng chưa có một nhân vật nào trong các học viện Đức - Mỹ, Đức - Anh và Đức - Bra-xin bị bắt cả. Him-le không thể biến mất trong thế giới này. Còn Boóc-man thì có thể. Đó là điều anh nên nghĩ đến. Và anh hãy bảo Boóc-man - anh cô nghĩ cách nói thế nào cho thật khéo léo - rằng ông ấy sẽ không làm nổi việc lớn, nếu không sử dụng các nhà tình báo chuyện nghiệp, một khi tất cả sắp sửa đến chỗ đổ vỡ hoàn toàn. Phần lớn số tiền Him-le gửi ở các nhà băng nựớc ngoài đều bị phe đồng minh nắm được. Còn tiền bạc của Boóc-man nhiều gấp hàng trăm lần của Him-le, nhưng có ai biết đâu. Bằng cách giúp Boóc-man đánh gục các kẻ thù của ông ấy, tương lai anh sẽ được bảo đảm, Sơ-tiếc-lít ạ. Vàng bạc của Him-le chỉ là thứ đồ chơi nhỏ mọn, làm bình phong che đỡ cho vàng bạc của Boóc-man. Hít-le thừa hiểu rằng, vàng bạc của Him-le là thứ không cần kiểm tra, vì nó chỉ phục vụ những mục đích chiến thuật trước mắt, còn vàng bạc của đảng Quốc xã, vàng bạc của Boóc-man, đấy mới là thứ không phải để chi cho những tên điệp viên chấy rận và bọn lái xe của các vị tai to mặt lớn - bọn này đã bị mua chuộc, chỉ chuyến đi chở gái cho họ theo lệnh của Sê-len-béc - mà để nuôi dưỡng hàng trăm ngàn người có trí tuệ. Cùng với thời gian, rồi những người ấy sẽ hiểu rằng, trên thế giới không có con đường nào khác, ngoài con đường của chủ nghĩa quốc xã. Vàng của đảng là chiếc cầu dẫn đến tương lai, là lời kêu gọi con cái chúng ta, cái thế hệ bây giờ mới được một tháng, một tuổi, ba tuổi. Những đứa bây giờ mười tuổi không cần đến chúng ta, không cần đến tư tưởng của chúng ta. Chúng sẽ không tha thứ cho chúng ta về sự đói khát và cảnh bom đạn. Nhưng còn những đứa bây giờ chưa biết gì, sau này sẽ nói về chúng ta như một huyền thoại. Cần phải nuôi dưỡng huyền thoại ấy. cần phải tạo ra những con người biết kể câu chuyện huyền thoại ấy, những người nhắc lại lời lẽ của chúng ta theo một kiểu khác, phù họp với không khí của nhân loại hai chục năm sau. Chỉ cần ở nơi nào đó người ta thay chữ "Dơ-đrát-xơ-vui-che" bằng chữ "Hai-lơ" để chào một nhân vật nào đó, thì anh hiểu rằng, ở đấy người ta đang chờ đợi chúng ta, và chúng ta sẽ bắt đầu sự phục sinh vĩ đại của mình từ nơi ấy! Đến năm 1965 anh sẽ bao nhiêu tuổi? Gần bảy mươi à? Anh là một người thật hạnh phúc, anh sẽ sõng đến ngày đó và sẽ chơi nốt ván cờ. Bảy mươi tuổi là tuổi hoàng kim của các nhà chính trị. Còn tôi lúc ấy đã suýt soát tám mươi rồi... Bởi vậy, tôi quan tâm đến Lời chào của người Nga. mười năm sắp tới, và nếu như anh có muốn gây dựng cơ nghiệp, thì anh đừng ngại tôi, ngược lại, anh hãy nhớ đến tôi với ý nghĩ rằng Muyn-lơ là một lão già mệt mỏi, nhưng tượng trưng cho ghét- xta-pô. Lão ta không bòn mót tiền của trong lúc giữ chiếc ghế này. Lão ta muốn sống nốt quãng đời còn lại một cách bình yên trong một trang trại nhỏ bé nào đó có bể bơi màu xanh, bởi vậy bây giờ tôi sẵn sàng tham gia một hoạt động tích cực... Và dĩ nhiên, không nên nói điều này với Boóc-man, nhưng anh hãy nhớ rằng: để có thể rời Béc Lanh đến một trang trại nhỏ ở xứ nhiệt đới, không nên vội vàng. Nhiều con chó ghẻ của Quốc trưởng sắp bỏ chạy khỏi đây, và chúng sẽ bị sa lưới... Còn đến khi đại bác Nga đã gầm rít trong thành phố Béc Lanh và quân lính đang chiến đấu giành giật từng ngôi nhà, thì lúc ấy ta có thể yên tâm rời bỏ nơi này ra đi, không cần khép cửa lại sau lưng... Ra đi và mang theo bí mặt kho vàng của đảng mà chỉ có Boóc-man với Quôc trưởng được biết. Khi Quốc trưởng mất đi, ta cần phải trở thành người tối cần thiết đối với Boóc-man. Lúc ấy, ông ta sẽ trở thành Mông-tơ Cờ-ri-xtô của thế kỷ hai mươi. Nghĩa là lúc này đang diễn ra cuộc đua tranh về lòng kiên nhẫn, anh Sơ-tiếc-lít ạ, mà nguyên nhân thật sự của nó chỉ có một, có một thôi... Đó là bản chất đơn giản và đẹp đẽ của con người... còn bây giờ thì anh đi đi. Sôn-xơ sẽ trao máy ghi âm cho anh ở cạnh xe... Thế nào? Anh bảo sao? Tôi không tin việc anh sẽ nói rằng, anh tin tưởng ở thắng lợi của Hít-le. Thôi, anh đừng trả lời tôi nữa. Khi ngồi trên xe, mong anh hãy suy nghĩ về những điều tôi vừa nói và hãy nhớ tôi đã mời anh cộng tác với tôi như thế nào: trong vòng năm phút và không màu mè gì cả. về Sê-len-béc thì chúng tôi sẽ nói chuyện tối nay, khi đã rỗi rãi. Nhưng anh phải nói với Boóc-man rằng, thiếu sự giúp đỡ trực tiếp của tôi thì anh và ông ấy không làm nổi việc gì ở Thuỵ Sĩ đâu.
- Trong trường hợp đó, - Sơ-tiếc-lít chậm rãi trả lời, - người ông ấy sẽ cần đến là ngài, chứ không phải tôi. Tôi sẽ trở thành người thừa...
- Boóc-man hiểu rằng, thiếu anh thì một mình tôi sẽ không làm nên sự nghiệp gì. Tôi có ít người của mình nằm trong cơ quan của ông sếp của anh lắm.
Sơ-tiếc-lít đi rồi, Muyn-lơ còn ngồi một mình khá lâu trong phòng làm việc của Khôn-tốp. Y ngồi, đầu cúi gục xuống ngực, lưng còng lại, hai tay buông thõng. Sau đó, y nặng nề đứng dậy và đi về phòng mình. Qua chỗ Sôn-xơ, y hỏi:
- Thế nào?
- Thưa ngài, đã lùng sục khắp khu vực quanh trại trẻ, nhưng không sao tìm ra mụ ta...
- Những người bố trí ở nhà Sơ-tiếc-lít có báo tin gì về không'-?
- Không thấy ai..gọi điện thoại, không thấy ai về cả...
- Cứ để họ ngồi chờ thêm một thời gian nữa. Khi nào xe của Boóc-man chạy gần đến Ba-ben- xơ-béc, thì anh báo cho họ rút lui. Bảo họ khi ngồi trong phòng đừng có hút thuốc lá và gạt tàn xuống thảm. Và lệnh cho tất cả các bên xe bắt giữ tất cả những người phụ nữ trẻ có bế con nhỏ đang bú đưa về đồn cảnh sát. Đã có ảnh mụ ta chưa?
- Thưa ngài, đã phân phát rồi ạ!
Muyn-lơ gật đầu, đi về phòng mình, mở tủ sắt lấy ra một chai rượu trắng cất tại vùng quê Ba-va-ri-a và đưa cả chai lên tu hai ngụm thật to.
Kết cảm thấy hai chân chị tê dại hẳn đi. Cháu gái đã thức dậy, và bây giờ cả hai đứa cùng thi nhau khóc. Chị đã hiểu rằng, đứng ở phía trên không thể nghe thấy tiếng khóc được: chị nhớ rằng, tiếng nước chảy mạnh là thế mà mãi đến khi chị ngã xuống nắp sắt này mới nghe thấy được. Nhưng nỗi hoảng sợ khiến chị không dám đẩy chiếc nắp để bò lên. Chị hình dung tỉ mỉ mình sẽ lấy đầu đội chiếc nắp sắt ra sao, đặt hai đứa bé lên như thế nào, chị sẽ duỗi thẳng tay nghỉ ngoi một phút trước khí leo lên, chị kéo dài thời gian thêm từng phút bằng cách bắt mình phải đếm từ một đến sáu mươi. Khi cảm thấy mình bắt đầu vội vàng đếm cho nhanh, Kết liền dừng lại và đếm từ đầu. Hồi học năm thứ nhất Đại học Tổng hợp, chị có tham gia một buổi thảo luận đặc biệt: "Cách điều tra nơi xảy ra sự việc". Chị còn nhớ các vị dự thẩm ở Pê-tơ-rốp-ca đã hướng dẫn bài học thực hành và dạy mọi người chú ý đến từng chi tiết nhỏ như thế nào. Chắc vì lý do đó mà trước khi chui xuống đây và kéo chiếc nắp đậy lại bằng tay trái, vì tay phải ẵm con, chị đã khôn ngoan rải một vốc đá vụn lên trên chiếc nắp.
"Mình đứng thế này bao nhiêu lâu rồi nhỉ? - Kết nghĩ. - Một giờ? không, lâu hơn. Hay là chóng hơn? Mình không còn biết ra sao nữa, mình phải mở nắp chui lên thôi, nếu chúng nó còn bao vây ở đây, mình sẽ bước xuống phía dưới, thế là xong".
Bỗng nhiên chị nhìn thấy rõ như trong ảnh - căn phòng, vũng máu chảy từ cổ Rôn-phơ ra, những ngón tay của hắn chậm chạp dò dẫm như cố sờ soạng tấm ván lát, và bên cạnh mấy ngón, tay đang chuyển động chậm rãi kỳ quặc ấy là cái bao súng màu đen... Lúc đó chị chẳng còn bụng dạ nào nghĩ đến cái bao súng màu đen ấy, chị chỉ nghĩ đến đứa con đang nằm khóc trên bận gần chiếc cửa sổ mở toang.
"Mình cần gì đến khẩu súng nhỉ? Nếu bước xuống dưới kia thì tất cả sẽ chấm dứt nhanh thôi, - Kết nghĩ. - Bây giờ chẳng cần đến súng".
Chị tì đầu trên chiếc nắp sắt đẩy mạnh, nhưng nó không động đậy, Kết bám chân thật chắc và lại đẩy lần nữa.
"Chúng nó đã đứng ở bên trên, - chị nghĩ, - cho nên mới khó mở đến thế. Không sợ, cái nắp sắt này đã cũ và gỉ rồi, mình sẽ đội lên được, nếu nó không chuyển, mình sẽ giải phóng tay trái, cho nó nghỉ một lát, dùng tay phải bế cả hai đứa và lấy tay trái mở nắp. Tất nhiên mình sẽ mở được. Có lẽ bây giờ mình nên chuyển cháu gái sang bên tay phải. Dĩ nhiên mình sẽ không đánh rơi nó xuống dưới kia, làm sao mình có thể đánh rơi được. Đề phòng bất trắc, mình sẽ dùng răng cắn chỗ buộc tã - đề phòng thế thôi. Tay trái sẽ được nghỉ".
Chị thận trọng chuyển cháu đang khóc sang nửa ngực bên phải và định giơ tay trái lên, nhưng chị hiểu rằng, không thể làm như vậy được: tay chị cứng đờ và không chịu nghe lời chị.
"Không sao, - Kết tự nhủ. - Điều đó chẳng có gì đáng sợ. Bây giờ mình như đang bị trăm nghìn mũi kim châm vào, nhưng sau đó sẽ ấm dần lên và chịu nghe lời mình. Tay phải sẽ giữ chắc hai đứa bé: cũng nhẹ thôi. Chỉ mong cháu gái đừng giãy giụa mạnh. Nó nặng hơn con giai mình. Nhiều tháng hơn và nặng hơn...".
Kết bắt đầu thận trọng nắm tay và lại xoè tay ra. Chị nhớ đến ông lão láng giềng của gia đình chị ở nhà nghỉ ngoại ô. Người cao, gầy, cặp mắt xanh sáng lên lạ Ịùng, ông già bước sang hàng hiên nhà chị và khinh bỉ nhìn gia đình chị ăn bánh mì với bơ. "Thật là điên rồ", - ông già nói. - Ăn giò và phó-mát thì chẳng khác gì uống thuốc độc. Đó chỉ là những chất thải độc hại của cơ thể! Còn banh mì Đó là chất mát-tít! Chỉ nên ăn thịt nấu bằng sương gỗ! Ăn ớt! Bắp cải! Củ cải vàng! Như thế sẽ sống đến muốn đời! Tôi có thể sống một triệu năm! Đúng, đúng thế, tôi biết anh chị cho tôi là tay nói khoác! Không đâu, chẳng qua là tôi cho phép mình suy nghĩ táo bạo hơn các thầy thuốc bảo thủ của chúng ta đấy thôi! Không có bệnh tật! Chữa bệnh viêm loét hay bệnh lao là chuyện nực cười! Phải chữa chạy tê bào kia! Cơ sở tạo nên tuổi thanh xuân vĩnh viễn là chế độ ăn uống, tập thở và liệu pháp tinh thần! Anh chị hãy nuôi dưỡng tế bào, nền tảng của sự sống, một cách thông minh, hãy sáng suốt cung cấp dưỡng khí cho nó, và hãy nâng đỡ nó bằng cách tập luyện, anh chị hãy biến nó thành đồng minh của mình trong lúc trò chuyện với nó và với hàng tỉ tê bào còn lại quyết định thực thể anh chị. Anh chị nên hiểu rằng, mỗi người chúng ta không phải là một con người yếu ớt sống dưới quyền lực của những hoàn cảnh và trường hợp ngẫu nhiên, mà là lãnh tụ của một quốc gia bao gồm hàng triệu tê bào, một quốc gia thông thái nhất trong số tất cả những quốc gia tồn tại dưới ánh mặt trời, trong số tất cả các hệ thống Thiên hà! Trong số tất cả các Thiên hà! Cuối cùng, anh chị nên hiểu rằng, anh chị là ai! Hãy mở mắt ra mà nhìn chính mình! Hãy học cách tôn trọng bản thân và đừng sợ gì hết. Mọi nỗi sợ hãi trên thế giới này đều phóng đại và tức cười, nếu ta hiểu được sứ mệnh của con người là làm một con người!".
Kết thử cố gắng kể chuyện với các ngón tay của mình. Nhưng hai đứa trẻ khóc mỗi lúc một to, và chị hiểu rằng, mình chẳng còn thời giờ đâu mà trò chuyện với đạo quân tế bào của mình nữa. Chị giơ cánh tay trái lúc này vẫn còn tê dại, vô tri, vô giác lên để lay chiếc nắp sắt. Nó đã hơi xê dịch. Kết dùng đầu trợ lực, thế là chiếc nắp nhích hẳn sang một bên. Chẳng buồn nhìn xem có ai đứng trong tầng hầm hay không, Kết đặt hai đứa trẻ lên mặt đất, leo lên và nằm ngay xuống bên cạnh: người chị rã rời và tâm trí không còn quan tâm đến bất cứ điều gì nữa, sự truy nã đã đẩy chị tới giới hạn cuối cùng ngăn cách con người và loài vật...
- Cái chết chỉ khác sự sống ở hai nhân tố: khối lượng và sự vận động. Người sống thì ở trong một nơi trú ngụ khép kín lớn hơn hẳn chiếc quan tài. Cái nơi trú ngụ ấy gọi là ngôi nhà, là tổ ấm gia đình, là bệnh viện dành cho những người bị rối loạn thần kinh, là nhà thổ, là nghị viện. Thỉnh thoảng có thể tạm biệt hoặc ngược lại, đến thăm cái nơi đó. Toàn bộ sự khác nhau là ở đấy, - người tiếp chuyện giám mục Sơ-lắc nói. Đó là một người Y cao và gầy, hiển nhiên đã già nhưng vẫn tỏ ra mình còn trẻ. - Tôi không sợ, nếu mình trở thành một kẻ vô liêm sỉ. Tôi mời ngài đi. tới một sự thành thật mà sự thành thật đó phải mang tính chất vô liêm sỉ. Sự thành thật chính là thực thể tối thượng, khôn ngoan và có chủ đích của thái độ vô liêm sỉ. Hoặc, ngược lại, tôi chưa bao giờ suy nghĩ đến các hình thức diễn đạt và tin vào các rung động cảm giác.
- Tôi rất đau lòng khi nghe ông, - giám mục nói, - Bởi vì giờ đây, từng phút một, ở nước Đức những người phụ nữ đói khát và những trẻ em vô tội đang bị chết vì bom đạn., Có thể đi tới những kết luận phi lô-gích trong thời bình, còn giữa những ngày chiến tranh ác liệt điều đó thật là tàn nhẫn.
- Tôi lại không thể đồng ý với ngài được rồi: mỗi ngày hoà bình đều bao trùm không khí chiến tranh, và ngược lại - những giờ phút đáng sợ của chiến tranh chứng tỏ những ngày hoà bình đang tiến đến gần. Chúng ta sống trong một ba-ra-bôn bí ẩn. Nguyên nhân thực sự của lịch sử là tính không nhận thức được của các dạng hÌỊm học, và thậm chí ngay cả cái nghề giả dối là công tậc ngoại giao cũng lôi cuốn tôi bằng cái đẹp của những mô hình toán học mỹ miều của nó, nếu ta nhìn nó từ một khoảng cách nhất định!
- Tôi thật khó nói chuyện công việc nghiên túc với ông, - giám mục nói, - mà tranh cãi nhau về các vấn đề thì không có thời gian. Những vị hứa hẹn giúp đỡ tôi đều dặn rằng ông có khả năng giới thiệu tôi với những người đang quyết định số phận hàng triệu người ở Đức. Nếu chúng ta có thể đem lại nền hoà bình cao quý sớm hơn, dù chỉ một ngày, chúng ta cúng-sẽ được tha thứ nhiều điều trong tương lai.
- Xin ngài cứ nói. Tôi sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi của ngài.
- Không cần ông phải trả lời mọi câu hỏi. Tôi sẽ không tin ông nữa, nếu ông đồng ý trả lời mọi câu hỏẼ
- Ngài khôn khéo lắm!
- Tôi không phải là nhà ngoại giao. Tôi đến đây vì được giao phó...
- Vâng, vâng, tôi hiểu... Người ta đã thông báo với tôi ít nhiều về ngài. Câu hỏi thứ nhất: ngài đại diện cho ai?
- Xin lỗi, nhưng trước hết tôi phải được nghe ông trả lời đã: ông là ai? Tôi sẽ nói đến những người còn ở trong tay Hít-le. Cái chết đang đe doạ họ và những người thân của họ. Chẳng có gì đe doạ ông, vì ông đang ở một nước trung lập.
- Ngài tưởng rằng ở một nước trung lập không có các nhân viên của ghét-xta-pô hoạt động chăng? Nhưng đó là chuyện riêng, không liên quan gì tới cuộc trao đổi giữa chúng ta. Tôi không phải là người Mỹ và cũng khộng phải là người Anh.
- Tôi biết điều đó qua giọng nói tiếng Anh của ông. Hẳn ông là người Ý?
- Vâng. Tôi sinh ra ở Y. Nhưng tôi là công dân Hoa Kỳ, và bởi thế ngài có thể nói chuyện với tôi một cách hoàn toàn thành thật, nếu như ngài tin lời những vị đã giúp chúng ta gặp nhau.
Giám mục nhớ lại băng ghi âm một buổi trò chuyện mà Bơ-ruy-ninh cho ông nghe. bởi vậy, ông nói:
- Những người bạn của tôi ở tổ quốc cho răng, và tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm của họ, việc đầu hàng của tất cả các đơn vị quân đội Đức và việc tiêu diệt toàn bộ lực lượng ss trong thời gian gần nhất sẽ cứu sống hàng triệu sĨỊm mệnh. Các bạn tôi muốn biết rằng, chúng tôi cần plịải tiếp xúc với ai trong số các đại diện của phe đồng minh.
- Ngài muốn nói đến sự đầu hàng cùng một lúc của tất cả các đạo quân Đế chế ở phía tây, phía đông, phía nam và phía bắc?
- Ông định đề nghị một phương án khác hay sao?
- Câu chuyện giữa chúng ta có sắc thái lạ lùng: phía tha thiết được thương lượng là người Đức, chứ không phải chúng tôi, bởi vậy, người đặt điều kiện là chúng tôi, có đúng thế không, thưa ngài? Để các bạn tôi có thể tiến hành trao đổi với ngài về những vấn đề cụ thể, chúng tôi cần biết - như cổ nhân đã dạy chúng ta: - ai? bao giờ? bao nhiêu? với sự giúp đỡ của ai? Nếu không, chúng tôi có thể coi ngài chẳng qua chỉ là một điệp viên ghét-xta-pô đã bị kẻ khác mua chuộc, hoặc là một người đã mất những bảo đảm cần thiết, hoặc là một nhân vật đã bị một kẻ khác lợi dụng làm thông tin giả.
- Tôi không phải là nhà chính trị. Có thể, ông nói đúng... Nhưng tôi mong ông tin vào lòng thành thực của tôi. Tôi không biết hết tất cả những nhân vật đứng sau nhóm người đã cử tôi sang đây, nhưng tôi biết rằng, người đại diện cho nhóm đó là nhân vật có đủ ảnh hưởng.
- Đó là trò chơi mèo vờn chuột! Trong hoạt động chính trị, tất cả phải sáng tỏ ngay từ đầu. Chỉ có những người đọc tin tức thời sự trên báo mới tưởng rằng, các nhà chính trị ranh ma, khôn ngoan giấu giếm và chủ yếu là lừa dối nhau. Các nhà chính trị mà cả với nhau, bởi vì không có gì bí mật đối với họ. Họ cân nhắc giá cả từng thứ. Khi họ không biết mà cả, họ sẽ bị các chiến hữu lật họ, nếu họ đại diện cho một nhà nước tông lực, hoặc sẽ bị thất bại trong cuộc tuyển cử sau, nếu họ đại diện cho chế độ dân chủ nghị viện. Tôi khuyên ngài hãy nói với các bạn của ngài răng, chúng tôi sẽ không nói chuyện với họ, khi chưa biết họ đại diện cho ai, chưa biết cương lĩnh tư tưởng của hp cùng những kế hoạch mà họ định thực hiện ở Đức nếu họ nhận được viện trợ của chúng tôi.
- Cương lĩnh tư tưởng đã rõ ràng: nó dựa trên quan điểm chống chế độ quốc xã.
- Đó là cấp độ đầu tiên của hệ tư tưởng. Nhưng các bạn của ngài nhìn nhận tương lai của nước Đức ra sao? Nước Đức sẽ đi theo hướng nào? Các ngài định đưa ra khẩu hiệu gì cho người Đức? Nếu ngài không thể trả lời thay cho các bạn của ngài, thì tôi muốn biết quan điểm của ngài ra sao?
- Quan điểm của tôi sẽ mang tính chất chủ quan, - giám mục trả lời. - Kể ra, nếu ông lo sợ khuynh hướng cộng sản, thì ông lầm. Nhưng tôi cho rằng, thật là quái dị nếu định giữ lại, - dù dưới hình thức biến dạng - bộ máy ầàn áp nhân dân Đức đang tồn tại ở Đức hiện giờ.
- Xin hỏi: ai sẽ có thể giữ nhân dân Đức trong khuôn khổ trật tự, nếu Hít-le bị lật đổ? Các nhà tôn giáo ư? Những người bị giam giữ trong các trại tập trung chăng? Hay là những người đang cầm đầu các đơn vị cảnh sát và mật thám đã quyết định tuyệt giao với chế độ Hít-le?
- Lực lượng cảnh sát và mật thám ở Đức nằm trong tay thống chế ss Him-le...
- Tôi có nghe nói như thế...
- Nghĩa là phải làm sao duy trì quyền lực của bọn ss, bọn người mà các ông cho rằng, có khả năng giữ nhân dân Đức trong khuôn khổ trật tự để họ khỏi trở thành một dân tộc vô chính phủ, có phải thế hay không?
- Nhưng ai đề nghị như thế mới được chứ? Theo tôi, vấn đề ấy chưa hề được thoả thuận ở bất cứ đâu, - gã người Y nói, chằm chằm nhìn giám mục và lần đầu tiên trong suổt buổi nói chuyện, lần này gã không cười.
Giám mục đâm hoảng ; vì ông hiểu rằng, ông đã lỡ lời. Cái thằng cha Ý khôn ngoan này sẽ bám chặt lấy câu nói vừa rồi để khai thác ở ông tất cả những điều gì.ông được biết qua băng ghi âm về các cuộc thương lượng giữa bọn Mỹ với lực lượng ss mà Bơ-ruy-ninh đã cho ông nghe. Giám mục hiểu rằng, ông không biết nói dổỉ: nét mặt ông bao giờ cúng biểu lộ mọi ý nghĩ của ông.
Nhân vật người Ý - một trong những cộng sự viên, làm việc tại văn phòng của Đa-lét ấy - sau khi trở về nhà, đã suy nghĩ rất lâu trước khi ngồi vào bàn viết bản báo cáo về buổi gặp gỡ vừa rồi.
"Hoặc ông ta là một con số không tròn trĩnh, - gã nghĩ - chẳng đại diện cho ai ở Đức, hoặc ông ta là một tình báo viên lão luyện. Ông ta không biết mà cả, nhưng ông ta không nói gì với tôi. Thậm chí có lẽ ông ta biết rõ ý định của chúng ta hơn là mình biết rõ khả nãng của bạn bè ông ta. Những câu nói cuổì cùng của ông ta chứng tỏ rằng, họ đã biết ít nhiều về việc chúng ta thương lượng với Các-lơ Vôn-phơ".
Kết không có tiền đi tàu điện ngầm. Thế mà chị lại phải đi đến một nơi nào đó có chỗ sưởi ấm để có thể cho hai đứa bé bú và thay tã lót cho chúng. Nếu không, chúng sẽ chết vì đã ở nhiều giờ ngoài trời lạnh.
"Nếu vậy thì thà chết ngay từ sáng hoặc từ lúc đứng dưới chiếc nắp sắt còn hơn", - Kết nghĩ thầm, ý nghĩ đến với chị dường như từ một nơi rất xa. '
Khái niệm nguy hiểm đã trở nên nhàm đối với chị: chị bước ra khỏi tầng hầm và đi thẳng tới bến xe buýt mà không buồn nhìn trước ngó sau. Chị không hiểu rõ là mình sẽ đi đâu, làm sao lấy được vé, đặt hai đứa trẻ - dù chỉ một phút - ở chỗ nào. Chị nói với người bán vé rằng, chị không có tiền, vì toàn bộ tiền nong đã bị chôn vùi trong ngôi nhà trúng bom. Người bán vé lẩm bẩm điều gì đó rồi khuyên chị nên đến trạm đón tiếp những người chạy loạn. Kết ngồi xuống cạnh cửa sổ và cảm thấy cơn buồn ngủ không sao cưỡng lại được, vì ở đây không đến nỗi bất lạnh cóng như ở ngoài trời. "Mình không nên ngủ, - chị tự nhủ, - mình không có quyền ngủ".
Và ngay lập tức chị thiếp đi.
Kết cảm thấy người ta xô đẩy chị và nắm hai vai chị mâ lắc như thế nào, song chị không thể mở mắt ra được. Chị thấy ấm áp, dễ chịu quá, và tiếng trẻ khổc cũng như vọng lại từ xa.
Chị mơ một giấc mơ với những màu sắc lạ lùng, từ trong tiềm thức chị thấy lúng túng trước tính đa cảm vô vị của những giấc mơ ấy - kìa, chị cùng với cậu con trai đi trên một tấm thảm xanh, dày và êm dịu để bước vào một ngôi nhà nào đó, con trai chị đã biết đi, tay nó cầm một con búp-bê mặc váy trắng, áo đỏ. Ra đón mẹ con chị có Ê-rơ-vin, mẹ chị và ông lão láng giềng, người đã hứa hẹn sẽ sống mật triệu năm...
- Dậy, dậy, chị ơi! - Có ai đó lay chị rất mạnh, khiến thái dương chị chạm vào cửa kính lạnh buốt. - Dậy, dậy đi!
Kết mở mắt ra. Người bán vé và một viên cảnh sát đứng bên chị trong chiếc xe buýt tranh tối tranh sáng.
- Cái gì? - Kết ôm chặt hai đứa trẻ vào lòng, hỏi nhỏ. - Cái gì thế?
- Báo động, - người bán vé trả lời, giọng cũng rất thấp. - Ta đi thôi...
- Đi đâu?
- Xuống hầm trú ẩn, - viên cảnh sát nói. - Chị đưa cháu chúng tôi bế giúp cho.
- Không, - Kết ôm chặt hai đứa. trẻ hơn và nói. - Tôi tự bế được.
Người bán vé nhún vai, nhưng không nói gì thêm. Viên cảnh sát đỡ tay dìu ra hầm trú ẩn. ở đây ấm áp và tối mò mò. Đâu đó có tiếng khóc trẻ em. Kết lánh vào một góc - hai cậu bé đứng dậy khỏi ghế nhường chỗ cho chị.
- Cám ơn các cậu.
Chị đặt hai đứa bé bên cạnh mình và nói với cô gái trong Hội thanh niên Hít-le làm nhiệm vụ trực nhật dưới hầm trú ẩn:
- Nhà tôi bị trúng bom, bây giờ đến một cái tã tôi cũng chẳng còn. Cô hãy giúp tôi! Tôi không biết làm thế nào bây giờ...
Cô gái gật đầu và đi sâu vào trong một góc tối, chỗ ngồi của chị em phụ nữ có con mọn: chắc đấy là nơi an toàn nhất. Lát sau, cô gái.quay lại với mấy chiếc tã.
- Đây, có bốn chiếc, - cô gái nói, - đủ cho chị dùng một ngày đầu. Tôi khuyên chị sáng mai nên đến "Trạm cứu giúp nạn nhân" gần nhất - chỉ cần có giấy chứng nhận của đồn cảnh sát gần nơi chị ở và thẻ căn cước của chị là được.
- Vâng, dĩ nhiên, cám ơn cô - Kết trả lời và bắt đầu thay tã lót cho hai đứa trẻ. - Cô ơi, ở đây có nước không? Có nước và bếp lò không? Tôi muốn giặt mấy chiếc tã ướt này đi, như thế tôi sẽ có tám chiếc, đủ dùng cho cả ngày mai...
- Nước lạnh thì có, còn xà-phòng thì tôi nghĩ rằng, người ta sẽ cấp cho chị. Lát nữa chị lại gặp tôi, tôi sẽ lo liệu giúp chị.
- Cám ơn cô nhiều lắm.
- Đó là nhiệm vụ của tôi.
Khi hai đứa bé được bú no đã thiếp đi, Kết cũng dựa lưng vào tường và quyết định ngủ một giấc, dù chỉ nửa tiếng đồng hồ. "Bây giờ mình chả nghĩ được gì nữa, - người mình nóng hầm hập, có lẽ mình bị cảm lạnh lúc đứng dưới chiếc nắp sắt... Hai đứa nhỏ sẽ không thể cảm lạnh được, bởi vì chúng đã được ủ ấm và lúc này chân tay chúng rất ấm. Mình phải ngủ một chút, sau đó sẽ nghĩ cách đối phó tiếp".
Và những giấc mơ lằng nhằng lại kéo đến với chị. Những mầu sắc khác nhau: xanh, trắng, đỏ, đen thay đổi xoành xoạch làm mắt chị nhức nhối. Chị chăm chú theo dõi sự thay đổi màu sắc cực nhanh ấy. "Có lẽ đồng tử mắt của mình đang chạy qua chạy lại, - bỗng Kết hiểu ra, - điều đó rõ rệt như đại tá Xu-dơ-đan-xép từng nói ở trường đào tạo". Và chị sợ hãi đứng bậy dậy. Tất cả mọi người
đang ngủ gà ngụ gật, tiếng bom nổ xa xa, tiếng bom vọng lại nbư qua một tấm chăn bông.
"Mình phải đến nhà anh Sơ-tiếc-lít", - Kết tự nhủ và ngạc nhiên về việc lúc này chị lại suy nghĩ một cách bình tĩnh, rõ ràng và hợp lô-gích như thế, "Không được, - một người nào đó phản đối trong con người chị, - cô không được đến nhà anh ấy. Chúng nó chẳng tra hỏi cô về anh ấy đấy thôi". "Vâng, nhưng bây giờ tôi biết chui rúc đâu? Có lẽ tôi nên tự mình dẫn xác đến cợ quan ghét-xta-pô vậy. Tôi còn biết làm việc gì ở Béc Lanh, nếu không tìm được anh ấy". "Cô sẽ làm hại anh ấy và hại mình. Cô sẽ giết cả mình lẫn anh ấy".
Kết lại thiếp đi và chị ngủ thêm nửa tiếng đồng hồ nữa. Khi mở mắt ra, chị cảm thấy trong người dễ chịu hơn. Chị sờ trán: trán nóng rực. "Dĩ nhiên, mình bị cảm lạnh rồi. Người nóng thế này kia mà. Vì thế mình mới mơ thấy những cơn ác mộng. Nhưng điều đó không đáng sợ. Chả chết vì cảm lạnh đâu mà lo".
Bỗng nhiên mặc dù Kết đã quên rằng, chị đang nghĩ về Sơ-tiếc-lít, trước mắt chị hiện lên chữ số 42.75.41.
- Chú ơi, - Kết lấy khuỷu tay hích khẽ người thanh niên đang ngồi ngủ gật bên cạnh chị, - ở gần đây có chỗ nào gọi điện thoại được không?
- Cái gì thế?! - người thanh niên hoảng hốt choàng dậy, hỏi.
- Khẽ chứ, khẽ chứ, - Kết nói để anh ta yên tâm. - Tôi hỏi: gần đây có chỗ gọi điện thoại không?
Chắc cô gái hội viên Hội thanh niên Hít-le đã nghe thấy tiếng hai người. Cô ta bước lại bên Kết và hỏi:
- Chị có cần tôi giúp gì không?
- Không, không, - Kết trả lời. - Cám on cô. Không có việc gì cả.
Lúc ấy, còi báo an rúc lên.
- Chị ấy hỏi có thể gọi điện thoại ở chỗ nào? - người thanh niên nói.
- Ở ga tàu điện ngầm, - cô gái đáp. - Gần đây thôi. Chị muốn gọi điện thoại cho người quen hay bà con họ hàng à?
- Vâng.
- Tôi có thể trông hai cháu nhỏ để chị đi gọi điện.
- Nhưng tôi chẳng có xu nào để trả tiền gọi điện.
- Tôi xin giúp chị. Đây, chị cầm lấy.
- Cám on cô... Có phải đi xa không?
- Hai phút thôi.
- Nếu các cháu khóc...
- Tôi sẽ bế chúng nó, - cô gái mỉm cười, - chị đừng lo.
Kết bước ra khỏi hầm trú ẩn. Đường tàu điện ngầm ở ngay bên cạnh. Mây vũng nước cạnh trạm điện thoại tự động lấp lãnh lớp băng trên mặt. Trăng tròn và xanh như màu xanh của sắc cầu vồng.
- Điện thoại tự động không làm việc, - viên cảnh sát nói. - Nó đã bị sóng nổ làm hỏng.
- Thế tôi có thể gọi điện thoại ở đâu được?
- Phải đến ga sau... Sao, bà cần gọi lắm à?
- Vâng, cần lắm.
- Đi theo tôi.
Viên cảnh sát dẫn Kết đi xuống một ngôi nhà bỏ trống dưới ga tàu điện ngầm, mở cửa trạm cảnh sát, bật đèn và hất hàm về phía chiếc máy điện thoại để trên bàn.
- Bà gọi đi, có điều là. nhanh lên.
Kết đi vòng lại bàn, ngồi xuống chiếc ghế cao dành cho phụ nữ và quay số 42.75.41. Đó là số điện thoại của Sơ-tiếc-lít. Mải nghe những tiếng chuông dài ngắn xen nhau, chị không nhìn thấy ngay bức ảnh rất to của mình đặt dưói tấm kính, cạnh bảng danh bạ điện thoại in ốp-xét. Viên cảnh sát đứng sau lưng chị và chậm rãi hút thuốc.
Muyn-lơ ngồi trong chiếc ghế bành yêu thích của Sơ-tiếc-lít cạnh bếp lò, và hỏi:
- Đoạn nói về tên lái xe đâu?
- Không đủ băng để ghi lại. Tôi không thể nói với Boóc-man: "Xin ngài chờ một chút để tôi thay băng, thưa ngài Boóc-man!" Tôi có nói với ông rằng, tôi xác định chắc chắc rằng, dương như ngài, chính ngài, đã hết sức cố gắng cứu sống gã lái xe.
- Boóc-man trả lời ra sao?
- Ông ta nói rằng, chắc hẳn gã lái xe đã khai hết sau khi bị tra tấn trong các hầm ngầm và ông ta không thể tin cậy vào gã được nữa.Ông ta không để ý đến vấn đề này lắm. Nghĩa là ngài có thể rảnh tay, ngài thượng tướng ạ. Đề phòng bất trắc, ngài hãy giữ gã lái xe ở chỗ mình và cho gã ăn uống tử tế. Rồi sau sẽ rõ.
- Anh cho rằng, người ta sẽ không quan tâm đến hắn nữa à?
- Ai không quan tâm?
- Boóc-man.
- Quan tâm gì nữa? Gã lái xe đã bị khai thác. Nhưng để đề phòng bất trắc, tôi thì tôi sẽ giữ gã lại. Còn mụ đàn bà Nga đâu rồi? Chúng ta rất cần đến mụ lúc này. Thưa ngài, việc hỏi cung mụ ta đến đâu rồi? Đã đưa mụ ta ra khỏi bệnh viện chưa ạ?
- Chúng ta cần đến mụ làm gì? Mụ sẽ phải làm cái việc thông tin mật mã của mụ, nhưng...
- Đúng thế, - Sơ-tiếc-lít tán thành. - Đúng là như vậy. Nhưng ngài thử nghĩ xem, chúng ta có thể để mụ ta liên hệ với ông Vôn-phơ ở bên Thụy Sĩ được không?
- Không tưởng.
- Có thể là như vậy. Chẳng qua tôi cho phép mình mơ tưởng một chút.
- Hơn nữa, nói chung mụ ta...
- Ngài bảo sao?
- Không sao, - Muyn-lơ ngăn mình lại, - tôi muốn phân tích đề nghị của anh đó thôi. Tôi đã đưa mụ ta đến một nơi khác để Rôn-phơ khai thác mụ. Tôi nghĩ rằng, bây giờ anh không cần dùng mụ ta nữa.
- Rôn-phơ đã quá tay phải không?
- Phải... Hơi quá tay...
- Và vì thế mà anh ta đã bị bắn chết? - Sơ-tiếc-lít hỏi nhỏ. Anh đã biết điều đó, khi anh đi dọc hành lang của cơ quan ghét-xta-pô để ra xe tới chỗ hẹn với Boóc-man.
- Đó là việc của tôi, Sơ-tiếc-lít ạ. Chúng ta hãy thoả thuận với nhau: những gì anh cần biết ở tôi, thì tôi sẽ cho anh biết. Tôi không ưa người khác nhòm trộm vào phòng tôi qua lỗ khoá.
- Từ phía nào? - Sơ-tiếc-lít gay gắt hỏi. - Tôi không thích người ta tưởng tôi là thằng ngốc trong kiểu chơi bài pơ-rê-phơ-răng cũ của người Ba Lan. Tôi là tay chơi cừ khôi, chứ không phải là thằng ngốc.
- Bao giờ cũng thế à? - Muyn-lơ mỉm cười.
- Gần như thế.
- Thôi được. Chúng ta hãy đề cập chuyện đó sau. Bây giờ tôi với anh hãy nghe lại đoạn vừa rồi...
Muỵn-lơ ấn nút máy ghi âm, cho chạy đoạn Boóc-man đang nói và đề nghị:
- Anh cho chạy ngược lại độ hai chục mét nữa.
- Xong. Tôi đi pha cà-phe nhé?
- Anh pha đi.
- Ngài không dùng cô-nhắc?
- Tôi không thích cô-nhắc. Kể ra có lần tôi được uống ở chỗ Can-ten-bơ-ru-ne một loại cô-nhắc không đến nỗi tồi. Nhưng nói chung tôi thích vốt-ca hơn. Cô-nhắc có chất thuộc da, không lợi cho thành mạch máu. Còn vốt-ca chỉ sưởi ấm cho cơ thể thôi, nhất là loại rượu trắng chính cống của nông dân.
- Ngài có muốn ghi lại lời nói không?
- Không cần. Tôi nhớ được. Đoạn này hấp dẫn lắm...
"Boóc-man. Đa-lét có biết rằng, Vôn-phơ đại diện cho Him-le không?
Sơ-tiếc-lít. Tôi thiết tưởng hắn biết.
Boóc-man. "Thiết tưởng" trong trường hợp này không phải là một câu trả lời. Nếu tôi nhận được bằng chứng chính xác rằng, Đa-lét coi Vôn-phơ là một kẻ đại diện của Him-le, thì có thể thực sự nói đến sự tan vỡ sắp tới của phe đồng minh. Nếu họ đồng ý thương lượng với thống chế ss thì tôi cần có băng ghi âm các buổi trao đổi giữa đôi bên. Nếu sau đó chuyển băng ghi âm sang chỗ Gơ-ben và công bố trên đài phát thanh, thì tôi không biết các sự kiện sẽ phát triển ra sao tại điện Cờ-rem-li, Luân Đôn và Nhà trắng.
Sơ-tiếc-lít. Còn ở đây? Ở Béc Lanh?
Boóc-man. Đó là chuyện tất nhiên. Hiện giờ tôi không quan tâm đến điểm ấy. Nói đúng hơn, tôi không chỉ quan tâm đến điểm ấy. Anh có thể kiếm được băng ghi âm đó không?
Sơ-tiếc-lít: Trước hết, phải nhận được lài khẳng định của Vôn-phơ rằng, hắn thương lượng dưới danh nghĩa đặc phái viên của Him-le.
Boóc-man. Tại sao anh lại nghĩ rằng, hắn không chịu khẳng định như thế với Đa-lét?
Sơ-tiếc-lít. Tôi không biết. Tôi chỉ nêu lên một giả Thuyết. Bộ máy tuyên truyền của kẻ thù xem thường thống chế ss, coi ông ta như một con rắn độc... Chắc rằng, họ sẽ cố tránh không nêu câu hỏi Vôn-phơ đại diện cho ai. Điểm quan tâm chủ yếu của họ là Vôn-phơ mạnh đến mức nào và đại diện cho ai về mặt quân sự.
Boóc-man.Tôi cần để mọi người biết rằng, Vôn-phơ đại diện cho ai từ chính miệng hắn... Từ chính miệng Vôn-phơ... Hay là, ít ra từ miệng anh...
Sơ-tiếc-lít. Điều đó có ý nghĩa gì?
Boóc-man: Có ý nghĩa rất to lớn, Sơ-tiếc-lít ạ... Anh hãy tin tôi, điều đó có nghĩa rất to lớn...
Sơ-tiếc-lít. Để tiến hành chiến dịch, tôi cần hiểu tư tưởng xuất phát của nó. Có thể bỏ qua điều đó, nếu như tôi làm việc với cả một nhóm, khi mỗi người đem đến cho nhóm trưởng các tài liệu của mình và từ đám tài liệu phong phú đó rút ra được một bức tranh đúng đắn. Khi đó, tôi sẽ không cần phải nắm được nhiệm vụ tổng quát, mà chỉ lo thi hành nhiệm vụ của mình. Tiếc rằng, chúng ta không có khả năng đó...
Boóc-man: Anh nghĩ thế nào, Xta-lin có vui mừng hay không, khi người ta cho ông ta biết rằng, các nước đồng minh phương Tây tiến hành đàm phán không phải với ai khác, mà với chính lãnh tụ ss Him-le? Không phải với một nhóm tướng lĩnh muốn đầu hàng, không phải với tên mạt hạng Ríp-ben-tơ-rốp, một kẻ đã hoàn toàn đồi bại và mất tinh thần, mà là với một kẻ có thể biến nước Đức thành bức tường thép ngăn chặn chủ nghĩa bôn-sê-vích...
Sơ-tiếc-lít. Tôi nghĩ rằng, Xta-lin sẽ không mừng rỡ khi biết tin đó...
Boóc-man. Xta-lin sẽ không tin nếu người báo tin đó cho ông ta là tôi. Nhưng nếu người báo tin cho ông ta là một kẻ thù của chế độ quốc xã thì sao? VỊ giám mục của anh chẳng hạn? Hoặc là một người nào đấy...
Sơ-tiếc-lít. Rõ ràng phải hỏi ý kiến ông Muyn-lơ trong việc lựa chọn người đưa tin: ông ấy có thể lựa chọn và tổ chức cho một người đáng giá chạy sang phía bên kia.
Boóc-man. Muyn-lơ cố gắng trợ giúp tôi quá mức.
Sơ-tiếc-lít. Theo chỗ tôi biết, tình thế của ông ấy rất phức tạp: ông ấy không thể chơi va banque như tồi, vì ông ấy là một nhân vật được quá nhiều người biết. Sau nữa, ông ấy trực thuộc dưới quyền Him-le. Nếu hiểu tình thế phức tạp đó, tôi nghĩ rằng, ngài sẽ đồng ý rằng: ngoài Muyn-lơ ra, không ai có thể làm nổi nhiệm vụ này trong trường hợp ông ấy cảm thấy được ngài ủng hộ.
Boóc-man. Đúng, đúng... Chuyện ấy ta sẽ nói sau. Đó là chi tiết. Bây giờ ta nói đến điều chủ yếu: nhiệm vụ của anh không phải là phá hoại, mà là giúp đỡ các cuộc thương lượng. Nhiệm vụ của anh không phải là che mờ, mà phải làm sáng tỏ mối liên quan giữa bọn âm mưu phản nghịch ở Béc-nơ với Him-le. Làm sáng tỏ tới mức có thể vạch mặt Him-le trước mắt Quốc trưởng, Đa-lét trước mắt Xta-lin và Vôn-phơ trước mắt Him-le.
Sơ-tiếc-lít. Thưa ngài, nếu tôi cần một sự giúp đỡ thực tế, tôi có thể tiếp xúc với ai được?
Boóc-man. Anh hãy thi hành mọi mệnh lệnh của Sê-len-béc. Đó là bảo đảm của thắng lợi. Đừng bỏ qua sứ quán, điều đó sẽ khiến họ tức giận: tham tán về công tác đảng sẽ biết anh...
Sơ-tiếc-lít. Tôi hiểu. Nhưng có thể tôi cần được giúp đỡ để chống lại Sê-len-béc? Chỉ một người có thể giúp tôi trong việc đó là ông Muyn-lơ. Tôi có thể dựa vào ông ấy tới mức độ nào?
Boóc-man. Tôi không tin những người quá ư trung thành cho lắm... Tôi thích những tay ít nói..".
Đúng lúc ấy, chuông điện thoại reo vang. Sơ- tiếc-lít thấy Muyn-lơ giật mình.
- Xin lỗi ngài thượng tướng, - anh nói, - có lẽ đó là...
- Vâng, vâng... mời anh cứ tự nhiên.
Sơ-tiếc-lít nhắc ống nói lên:
- Sơ-tiếc-lít đây...
Bỗng trong ống nói anh nghe thấy giọng Kết...
- Em đây, - chị nói. - Em...
- Vâng ạ! - Sơ-tiếc-lít trả lời. - Tôi sẽ đến ngay, thưa ngài chủ tịch đảng. Tôi sẽ đợi ngài ở đâu ạ?
- Em đây mà, - Kết nhắc lại.
- Đến chỗ ấy bằng cách nào tốt nhất? - Sơ-tiếc-lít lại nói để giúp đỡ Kết, vừa nói anh vừa chỉ ngón tay về phía máy ghi âm, nghĩa là anh đang trao đổi với Boóc-man.
- Em ở bến tàu điện ngầm... Em đang đứng trong trạm cảnh sát?
- Sao ạ?
- Em ghé vào đây để gọi điện tới chỗ anh...
- Ở chỗ nào. ạ?
Anh nghe rõ địa chỉ Kết vừa nói, rồi một lần nữa anh nhắc lại: "Vâng, thưa ngài chủ tịch đảng". Và đặt ống nói xuống. Không còn thời gian để suy nghĩ nữa. Nếu chúng vẫn tiếp tục nghe trộm điện thoại của anh, thì phải đến gần sáng mai Muyn-lơ mới biết được nội dung câu chuyện này. Lúc ấy ta sẽ biết cách đối phó tiếp. Cái chính là phải cứu Kết. Anh đã biết nhiều điều. Có thể nghĩ nốt sau này. Bây giờ phải cứu Kết đã.
Chị thận trọng đặt ống nghe xuống và cầm chiếc mũ be-rê của mình lên. Chiếc mũ ấy đã được chị che lên chỗ đặt bức ảnh của chị, viên cảnh sát vẫn không nhìn chị như cũ. Chị bước ra cửa như một người mất hồn, chị sợ tiếng quát sẽ vang lên sau lưng. Nhưng bọn ghét-xta-pô chỉ báo cho bọn cảnh sát biết rằng, cần bắt giữ một người phụ nữ, một là, phải còn trẻ, chừng hai mươi lăm tuổi, và hai là phải bế con nhỏ trên tay. Đằng này là một mụ già tóc bạc, tuổi ngoài bôn mươi và có thấy bê con trên tay đâu, còn chuyện cặp mắt giống như trong ảnh, thì trên đời này thiếu gì người có cặp mắt như thế?
- Có lẽ ngài đợi tôi một lúc chăng, thưa ngài thượng tướng?
- Để Sôn-xơ sẽ chạy đến báo cáo với Him-le rằng, tôi bỏ đi đâu không rõ hơn ba tiếng đồng hồ liền à? Tại sao có cú điện thoại vừa rồi? Anh nói với tôi rằng, ông ấy sẽ gọi điện cho anh đâu...
- Ngài nghe thấy đấy - ông ấy yêu cầu tôi đến gấp...
- Lúc nào gặp ông ấy xong, anh hãy về thẳng chỗ tôi nhé. Tôi sẽ ngủ đêm tại phòng làm việc.
- Ngài cho rằng, Sôn-xơ trực tiếp phục vụ thống chế hay sao?
- Tôi sợ rằng, hắn đã bắt đầu làm việc đó. Hắn ngốc lắm, bao giờ tôi cũng dùng những tên thư ký ngu ngốc và chăm chỉ. Nhựng thì ra chúng chỉ phục vụ tốt trong những ngày chiến thắng thôi, chứ khi sắp đến lúc đổ vỡ, thì chúng bắt đầu cuông quýt sợ hãi, chỉ cô tìm cách cứu lấy mình... Đồ ngốc, hắn tưởng rằng, tôi muốn chết như một người anh hùng... còn ngài thống chế thì đẹp mặt quá: ồng ta giữ bí mật các cuộc thương lượng hoà bình của ông ta cừ đến nỗi, ngay thằng cha Sôn-xơ của tôi cũng biết tỏng cả rồi... Sồn-xơ vắng mặt một thằng nhóc đang trực nhật, anh ta đã cuồng tín lại còn làm thơ nữa kia chứ...
Chương 17
Nửa giờ sau Sơ-tiếc-lít đưa Kết ra xe. Thêm nửa giờ nữa anh cho xe chạy loanh quanh trong thành phố để xem có chiếc đuôi nào bám theo hay không. Kết vừa khóc vừa kể lại tất cả những gì đã xảy ra với chị từ sáng sớm đến giờ. Nghe chị kể, anh cố đoán xem việc giải thoát chị một cách lạ lùng có phải nằm trong kế hoạch quỷ quyệt của Muyn-lơ không, hay đây là trường hợp ngẫu nhiên, thường tình chỉ xảy ra một lần trong đòi, mà người tình báo viên nào cũng biết.
Anh đi loanh quanh trong thành phô, rồi cho xe chạy ra những con đường vòng quanh Béc Lanh. Trong xe ấm áp, Kết ngồi bên cạnh, hai đứa trẻ thì ngủ trên đùi chị. Sơ-tiếc-lít tiếp tục lập luận: "Nếu khi Muyn-lơ biết nội dung câu chuyện điện thoại giữa mình với Kết, chứ không phải với Boóc- man, mà mình bị bắt, thì toàn bộ kế hoạch lớn sẽ đổ vỡ. Lúc ấy mình sẽ không còn khả năng đập tan.trò đàm phán của Him-le tại Béc-nơ".
Sơ-tiếc-lít phanh xe cạnh biển chỉ đường: từ đây đến Ru-bi-ne-ca-nan chỉ ba cây số. Từ đây có thể qua Pốt-xđam và trở về Ba-ben-xơ-béc.
"Không được, - Sơ-tiếc-lít quyết định. - Căn cứ vào việc mấy chiếc bát ở dưới bếp bị đổi chỗ, thì ngày hôm nay bọn tay chân của Muyn-lơ đã ngồi rình mình ở nhà. Có trời biết để làm gì, có thể là để "bảo đảm an toàn cho mình" mà Muyn-lơ sẽ ra lệnh cho chúng quay lại ngồi ở đó, nhất là sau câu chuyện điện thoại bất ngờ ấy".
- Này cô bé, - anh phanh xe gấp và nói, - ngồi xuống sát ra phía sau kia!
- Có chuyện gì thế, anh?
- Không có chuyện gì đâu. Tất cả vẫn yên ổn, cô bé ạ. Bây giờ mọi chuyện đều hoàn toàn yên ổn. Bây giờ tôi với cô là người chiến thắng rồi. Không đúng à? Cô hãy che cửa sổ bằng tấm rèm xanh và ngủ đi. Tôi sẽ để nguyên lò sưởi cho cô. Tôi sẽ khoá cửa xe lại ; ngồi trong xe của tôi thì không kẻ nào dám động đến cô đâu.
- Chúng ta sẽ đi đến đâu?
- Gần thôi, - Sơ-tiếc-lít nói, - không xa lắm. Cô cứ yên tâm mà ngủ. Cô phải ngủ đẫy giấc - ngày mai sẽ có nhiều việc phải lo đấy.
- Nhiều việc phải lo là việc gì ạ? - Kết sửa tư thế ngồi cho thoải mái hơn trên ghế sau, hỏi.
- Việc vui cả thôi, - Sơ-tiếc-lít trả lời.và nghĩ bụng: "Sẽ gay go lắm đây. Cô ấy bị sốc. Đó không phải là lỗi của cô ấy".
Anh dừng xe cách biệt thự của Van-te Sê-len- béc ba nhà.
"Chỉ mong sao hắn có mặt ở nhà, - Sơ-tiếc-lít nhắc đi nhắc lại như một lời cầu nguyện, - chỉ mong sao hắn không đến nhà Him-le ở Nâu-ên, hoặc đến nhà bác sĩ Ghép-hác-tơ ở Khô-khen-li- khen, chỉ mong sao hắn có mặt ở nhà".
Sê-len-béc có nhà.
Nguyên văn: đừng có tóm lấy lưỡi tôi.
- Thưa ngài thiếu tướng, - Sơ-tiếc-lít nói luôn, không cởi áo khoác. Anh ngồi xuống mép chiếc ghê đối diện với Sê-len-béc. Sê-len-béc mặc chiếc áo ấm, chân đi giày vải không có tất. Sơ-tiếc-lít để ý thấy lớp da ở chỗ mắt cá chân của y rất mịn. - Muyn-lơ đã biết ít nhiều về sứ mệnh của Vôn-phơ ở Thụy Sĩ.
- Anh điên ạ, - Sê-len-béc nói, - không thể có chuyện đó...
- Thế thì tại sao tôi lại biết đã nào?
- Sê-len-béc khép vạt áo, trấn tĩnh lại và hỏi:
- Thế tại sao anh lại biết điều đó?
- Tôi biết điều đó bởi vì Muyn-lơ đề nghị tôi cộng tác với ông ta.
- Tại sao Muyn-lơ lại đề nghị chính anh cộng tác với hắn ta.
- Chắc người của ông ta đã bám được lão giám mục ; đó là cái cứu thoát chúng ta, cho nên tôi phải đi sang Béc-nơ. Tôi sẽ chỉ đạo lão giám mục, còn ngài thì sau khi nhận được tín hiệu của tôi từ bên ấy gửi về sẽ phải lột mặt nạ Vôn-phơ.
Sơ-tiếc-lít bao giờ cũng vươn tới thực chất vấn đề. Sê-len-béc thì có thể chỉ nghe thoáng qua cũng hiểu.
- Anh hãy sang Béc-nơ ngay đi...
- Nhưng tôi nên dùng hộ chiếu? Hay vượt qua "cửa sổ"?
- Không được. Cơ quan phản gián Thụy Sĩ sẽ tóm cổ anh, chúng muốn phục vụ bọn Mỹ vào lúc trò đánh nhau sắp kết thúc... Không, anh hãy đến chỗ làm việc của tôi để lấy các thứ giấy tờ cho chắc chắn. Tôi sẽ gọi điện cho họ.
- Không nên thế. Ngài hãy viết mấy chữ cho tôi.
- Anh có bút không đấy?
- Ngài dùng bút của mình thì tốt hơn.
Sê-len-béc lấy tay lau mặt và cố nặn ra tiếng cười. Y nói:
- Tôi vẫn chưa tỉnh ngủ hoàn toàn, thế đấy.
... Khi Sơ-tiếc-lít đi khỏi. Sê-len-béc lập tức gọi xe và bảo tên tài xế:
- Đến nhà an dưỡng của bác sĩ Ghép-hác-tơ!
Trụ sở Ban tham mưu của Him-le đặt tại đó.
Sơ-tiếc-lít phóng xe về phía biên giới. Trong túi anh có hai tấm hộ chiếu đề tên anh và "vợ" anh, phu nhân In-gơ-rít phôn Kiếc-sơ-tanh.
Khi chiếc ba-ri-e chắn đường biên giới đã lùi về phía sau, anh quay lại phía Kết và nói:
- Cô bé ơi! Thế là bây giờ mọi tai hoạ đã chấm dứt rồi.
Ở đây, trên đất Thụy Sĩ, bầu trời sáng rực và cao xa. ở mấy chục mét sau lưng anh, bầu trời cũng sâu thăm thẳm, cũng thấy vầng trăng vàng ệnh được ánh sáng ban mai rửa sạch như thế, cũng có những cánh chim sơn ca trên bầu trời xanh nhạt như thế và nó đẹp như thế, nhưng đó là bầu trời của nước Đức, nơi từng phút có thể xuất hiện những chiếc máy bay trắng toát, hết sức đẹp đẽ của các nước đồng minh, và từng giây chúng có thể nhả ra hàng chùm bom, và những chùm bom gieo chết chóc ấy trong khoảnh khắc đầu tiên trông trắng như nhôm dưới ánh mặt trời và những người ngồi nín thở trên mặt đất nhìn thấy chúng cứ tưởng như chúng rơi thẳng xuống đầu mình, chúng chỉ biến đi khi từng khối đất lầy bùn mùa xuân đen ngòm tung lên, che lấp tầm nhìn của cặp mắt con người - lúc ấy tuy còn sống, nhưng con người đã bất lực và kiệt quệ...
Sơ-tiếc-lít phóng xe đến Béc-nơ. Khi qua một thị trấn nhỏ, anh dừng xe một lát bên cột đèn hiệu: phía trước, một tốp trẻ em đapg vượt sang bên kia đường, các em vừa đi vừa ăn bánh mì cặp giò. Kết khóc nấc lên.
- Gì thế. Kết? - Sơ-tiếc-lít hỏi.
- Không, - chị đáp, - chỉ vì em được thấy cảnh hoà bình, còn anh ấy không bao giờ được thấy nữa...
- Nhưng đối với cháu bé thì từ nay mọi tai hoạ đã chấm dứt, - Sơ-tiếc-lít nhắc lại câu nói lúc nãy, - và đối với cháu gái kia cũng vậy...
Anh muốn nói với Kết một điều gì thật dịu dàng và âu yếm, anh không biết diễn tả bằng lời cái tình cảm đang dào dạt trong lòng anh. Đã bao nhiêu lần anh khe khẽ thì thầm một mình mấy tiếng thật dịu dàng, tha thiết với Xa-sen-ca yêu quý... Lời lẽ yêu thương không được nói ra, chỉ thầm nhắc đi nhắc lại nhiều lần, nhất định phải thốt lên thành một tiếng thơ hoặc đọng lại trong đáy lòng như một sức nặng buộc ta phải luôn luôn nghĩ đến.
- Chỉ nên nghĩ đến tương lai, - Sơ-tiếc-lít nói và lập tức hiểu rằng, anh đã nói một câu hết sức vụng về, không cần thiết.
- Không có quá khứ thì chẳng có tương lai, - Kết trả lời anh và lau nước mắt, - xin lỗi anh... Em biết rằng, an ủi một người đàn bà đang khóc là một việc làm khó chịu...
... Sau khi gặp giám mục Sơ-lắc và được ông giao cho các tài liệu về cuộc thương lượng giữa Đa-lét với tướng Các-lơ Vôn-phơ, Sơ-tiếc-lít nghĩ rằng, anh đã sai lầm nghiêm trọng khi anh bảo Kết rằng, bây giờ mọi tai hoạ đã chấm dứt rồi. Chưa có tai hoạ nào chấm dứt cả. Ngược lại, anh hiểu rằng, tất cả mọi chuyện có lẽ bây giờ mới bắt đầu...
Nguyên văn: đừng có tóm lấy lưỡi tôi.
"Uy-xơ-tác gửi Trung tâm.
Kèm với các tài liệu về cuộc trao đổi giữa Đa-lét và Vôn-phơ, tôi thấy cần phát biểu mâỳ suy nghĩ dưới đây:
- Tôi thiết nghĩ Đa-lét không thông báo đầy đủ cho chính phủ của ông ta về các cuộc thương lượng với lực lượng ss. Chắc chắn ông ta nói với chính phủ của mình rằng, ông ta đang thương lượng với các "phần tử chống đối" Hít-le. Vôn-phơ không thuộc vào loại đó.
- Ru-dơ-ren nhiều lần tuyên bố rằng, mục đích của Mỹ, cũng như của tất cả các nước tham gia khối đồng minh chống Hít-le, là sự đầu hàng vô điều kiện của nước Đức. Tuy nhiên, Đa-lét lại nói đến sự thoả hiệp, thậm chí đến việc duy trì một số chế định của chủ nghĩa Hít-le.
- Mọi khối liên minh đều đòi hỏi các phía tham gia phải thành thật đối với nhau. Chỉ thoáng nghĩ rằng, Đa-lét đang thăm dò bọn Đức qua việc tiến hành thương lượng như trên, tôi đã buộc phải bác bỏ lập luận của mình, bởi vì, bất cứ nhà tình báo nào cũng sẽ thấy rõ mối lợi bọn Đức và thất bại của Đa-lét.
- Tôi cũng từng nghĩ rằng tên tình bảo Đa-lét đã bắt đầu hoạt động phá hoại ngầm đối với bọn Đức. Nhưng báo chí Thụy Sĩ công khai gọi ông ta là đặc phái viên của tổng thống Ru-dơ-ven. Một người đại diện cho tổng thống Ru-dơ-ven có thể tổ chức phá hoại ngầm hay không?
Kết luận: hoặc giả một số giới phương Tây bắt đầu trò chơi hai mặt, hoặc giả Đa-lét đang phản bội quyền lợi Hoa Kỳ, một thành viên của khối đồng minh chống Hít-le.
Đề nghị: cần phải báo ngay cho các nước đồng minh biết rằng, phía chúng ta đã biết các cuộc thương lượng đang diễn ra tại Thụy Sĩ. Tôi hy vọng rằng trong thời gian sắp tới, tôi sẽ có thể gửi về qua đường dây liên lạc vừa được chắp nối - mọi chi tiết về các buổi trò chuyện giữa Vôn-phơ với Đa-lét. Cần nói thêm rằng, tôi không coi đó là những buổi trò chuyện về phương diện ngoại giao. Tôi muốn gọi đó là những cuộc đàm phản riêng rẽ. Tôi đã phá cái lệ của tôi không bao giờ đưa ra các lời đề nghị - chỉ vì tình hình biến chuyển hết sức mau lẹ và cần có những biện pháp cấp bách, cho phép cứu khối liên minh chống Hít-le khỏi bị phá hoại, một sự phá hoại rối cuộc có thể xảy ra cả hai phía.
Uy-xơ-tác".
Sơ-tiếc-lít đến nhà trọ "Viếc-gi-ni-a", nơi dừng chân của giáo sư Pờ-lây-sơ-ne. Giáo sư có viết về điều đó trong tấm bưu thiếp - "thuốc lá Viếc-gi-ni-a ở đây ngon lắm". Anh và giáo sư đã thoả thuận với nhau rằng, giáo sư sẽ, bằng cách này hay cách khác, gắn tất cả những cái gì liên quan tới chỗ ở với tên gọi các loại thuốc lá. Ví dụ, nếu giáo sư dừng chân ở khách sạn "Gờ-răng ô-tên", thì ông sẽ viết cho Sơ-tiếc-lít như sau: "Ngay ở "Gờ-răng ô-ten" tôi cũng không sao tìm được lại thuốc lá mà ông đang cần: tất cả các loại thuốc đều từ nơi khác đưa đến đây, chứ không phải "Am-pho-ra" chính cống".
Nhà trọ "Viếc-gi-ni-a' - Sơ-tiếc-lít ít có thể dễ dàng biết vị trí nơi đó - vắng vẻ, vì hầu hết các khách trọ đều đã đi lên vùng núi. Mùa trượt tuyết đã hết. Ánh mặt trời trong mấy tuần vừa qua làm cho người ta rám nắng theo một kiểu đặc biệt: đỏ như đồng và được giữ lâu, bởi vậy tất cả những ai ít nhiều có khả năng đều lên vùng núi: ở đấy tuyết vẫn chưa tan.
- Tôi có thể chuyển cho vị giáo sư Thụy Điển - tôi quên mất tên ông ta, - mấy quyển sách được không? - Sơ-tiếc-lít hỏi người quản trị.
- Vị giáo sư Thụy Điển không còn nữa. Ông ấy nhảy qua cửa sổ xuống đường nên bị chết rồi.
- Chết bao giờ?
- Sáng ngày thứ ba sau hôm đến đây. Ngài biết không, lúc ông ấy bước ra vui vẻ là thế, mà rồi không thấy quay lại nữa.
- Tiếc quá! Thế nhưng ông bạn của tôi là một nhà bác học có đề nghị tôi chuyển cho giáo sư mấy quyển sách và xin lại những quyển giáo sư mượn từ trước...
- Xin ngài hãy gọi điện tới sở cảnh sát... Họ đã đến đây lấy đi mọi đồ đạc của ông ấy. Họ sẽ trả lại tất cả mọi thứ cho ngài, nếu ngài chứng minh rằng, trong số hành lý có sách của ngài.
- Cám ơn ông, - Sơ-tiếc-lít đáp, tôi sẽ làm như vậy.
Anh bảo lái xe chạy qua phố có phòng bí mật. Trên cửa sổ có một bông hoa lớn - tín hiệu báo động, - Sơ-tiếc-lít đã hiểu ra tất cả. "Thế mà mình tưởng ông ấy là một thằng hèn, - anh nhớ lại. - Giáo sư Pờ-lây-sơ-ne là một người đáng thương, tốt bụng và có sức mạnh... xin giáo sư hãy tha lỗi cho tôi".
Bỗng nhiên, anh tưởng tượng cái cảnh vị giáo sư gầy gò, yếu đuối đang lặng lẽ nhảy vọt qua cửa sổ. Anh nghĩ: hẳn là ông già đã cảm thấy một nỗi khủng khiếp ghê gớm, vào giây phút cuối cùng của đời mình, khi ông dám quyết định tự vẫn ở đây, giữa lúc ông đã thoát khỏi nước Đức và được hưởng tự do... Tất nhiên, bọn ghét-xta-pô bám riết ông già. Hoặc chính là bọn chúng đã bố trí buộc ông phải tự vẫn, vì hiểu rằng, ông sẽ im lặng...
- Cho tôi đến trung tâm thành phố, - Sơ-tiếc-lít đề nghị người chủ xe tắc-xi. Nếu đến chỗ nào có thể thuê một chiếc tắc-xi trong vài ngày thì càng tốt...
Tại khách sạn, khi Kết và hai đứa trẻ vừa đi ngủ, Sơ-tiếc-lít liền uống hai viên cô-phê-in liều lượng cao - mấy ngày nay hầu như anh không được chợp mắt một phút nào, - rồi anh gọi điện thoại cho giám mục Sơ-lắc và ra xe đi gặp ông lần thứ hai.
Giám mục hỏi:
- Sáng nay tôi không dám hỏi chuyện ông về cô em gái và các cháu của tôi. Bây giờ thì tôi xin phép được biết về họ.
- Ngài có nhớ nét chữ của cô em gái chứ?
- Dĩ nhiên.
Sơ-tíếc-lít chìa cho ông một chiếc phong bì màu xanh. Sơ-lắc đọc bức thư ngắn gọn: "Anh yêu quý, cám ơn sự quan tâm đặc biệt chu đáo đã dành cho mấy mẹ con em. Hiện nay mấy mẹ con em đang sống ở một vùng núi, rất xa các cuộc ném bom đáng sợ. Em sống trong một gia đình nông dân, các cháu giúp chủ nhà chăn bò, mẹ con em được ăn uống đầy đủ và cảm thấy hết sức an toàn. Cầu Chúa xua tan mọi tai hoạ đã giáng xuống đầu anh. Em An-na của anh".
- Tôi bị tai hoạ gì vậy? - giám mục hỏi. - Cô ấy muốn nói đến chuyện nào thế?
- Tôi phải nói với chị ấy rằng, ngài đã bị bắt... Tôi gặp chị ấy không phải với tư cách Sơ-tiếc-lít, mà như một con chiên của ngài. Địa chỉ của chị ấy đây - khi nào chiến tranh kết thúc, ngài sẽ tìm thấy họ. Còn đây là mấy bức ảnh có thể khiến ngài tin tôi hoàn toàn.
Sơ-tiếc-lít chìa cho giám mục mấy bức ảnh cận cảnh. Anh chụp ở trong núi, nhưng vì trời u ám nên hình ảnh không được rõ lắm. Giám mục ngắm nghía hồi lâu, sau đó ông nói:
- Dù không có mấy bức ảnh này, tôi cũng vẫn tin ông... Sao ông gầy hẳn đi thế?
- Có trời biết! Tôi hơi mệt. Thế nào, có tin gì mới không, ngài?
- Có nhiều tin mới, nhưng tôi không tài nào phân tích nổi. Hoặc là tôi mất niềm tin. vào toàn bộ thế giới này, hoặc là phải trở thành một kẻ vô liêm sỉ. Người Mỹ đã bắt đầu thương lượng với lực lượng ss. Người Mỹ tin vào Him-le.
- Tài liệu đâu?
- Cái gì kia ạ?
- Ngài có những tài liệu nào xác nhận điều đó? Ngài lấy được các tài liệu ấy từ tay ai? Nếu không có tài liệu nếu ngài chỉ nghe lời đồn đại, thì chúng ta có thể là vật hy sinh của một sự dối trá được bố trí một cách khôn khéo.
- Than ôi, tôi rất muốn tin rằng, người Mỹ không thương lượng với bọn tay chân của Him-le, - giám mục trả lời. - Nhưng ông đã đọc những gì tôi đã đưa ông sáng nay rồi đấy... Và bây giờ thì đây... - Giám mục chìa cho Sơ-tiếc-lít mấy tờ giấy mỏng viết bằng nét chữ tròn trĩnh, hơi nghiêng về bên trái, dài chi chít.
"Vôn-phơ. Chào các vị!
Nhiều giọng đáp lại. Chào ngài. Chúc ngài một buổi sáng tốt lành.
Đa-lét. Các bạn đồng nghiệp của tôi đã đến đây để điều khiển cuộc hội đàm.
Vôn-phơ. Tôi rất mừng thấy cuộc thương lượng của chúng ta tiến triển ở cấp độ đại diện cao như thế này.
He-vec-nít. Rất khó dịch thành ngữ "cấp độ đại diện" sang tiếng Anh...
Vôn-phơ (cười). Chẳng hạn, tôi có thể biết được rằng, ông Hê-vec-nít sắm vai thông dịch trong cuộc gặp gỡ này...
Đa-lét. Tôi có thể nói rằng: việc một quan chức cao cấp của lực lượng ss bắt đầu thương lượng với đối phương mà không đưa ra bất cứ yêu cầu riêng tư nào đã gây cho tôi và các bạn tôi một ấn tượng tốt đẹp nhất.
Vôn-phơ. Yêu cầu riêng tư của tôi là hoà bình cho người Đức.
Giọng người lạ. Hay lắm! Đó là câu trả lời của một người lính chân chính.
Đa-lét. Có chuyện gì mới xảy ra trong thời gian vừa qua hay không?
Vôn-phơ. Két-xen-rinh bị gọi về Tổng hành dinh của Quốc trưởng. Đó là tin đáng buồn nhất.
Đa-lét. Ngài nghĩ rằng...
Vôn-phơ. Tôi không chờ đợi bất cứ điều gì tốt đẹp qua việc một người nào đó bị triệu hồi cấp tốc về Tổng hành dinh của Quốc trưởng.
Đa-lét. Nhưng theo tin của chúng tôi, thì Két- xen-rinh được gọi về Béc Lanh là để nhận chức vụ mới: tư lệnh mặt trận phía Tây.
Vôn-phơ. Tôi cũng nghe nói như thế, nhưng hiện thời chưa có bằng chứng xác nhận.
Đà-lét. Vâng. Sẽ có bằng chứng xác nhận. Chỉ một hai ngày nữa thôi.
Vôn-phơ. Trong trường hợp đó, có lẽ ông sẽ nói cho tôi biết người thay thế Két-xen-rinh là ai?
Đa-lét. Vâng, tôi có thể nói tên người ấy. Đó là thượng tướng Vít-tinh-hốp.
Vôn-phơ. Tôi biết người ấy.
Đa-lét: Y kiến của ngài về ông ta?
Vôn-phơ. Đó là một người biết thừa hành mệnh lệnh.
Đa-lét. Theo tôi, có thể nói như vậy về tuyệt đại đa số tướng lãnh của Đế chế thứ ba.
Vôn-phơ. Kể cả Bếch và Rôm-men?
Đa-lét. Đó là những nhà ái quốc chân chính của nước Đức.
Vôn-phơ. Phải nói rằng, trước đây tôi chưa có sự tiếp xúc trực tiếp và đáng tin cậy với thượng tướng Vít-tinh-hốp.
Đa-lét. Thế Két-xen-rinh có quen biết ông ta hay không?
Vôn-phơ. Là phó tư lệnh không quân của Gơ-rinh, thống chế Két-xen-rinh đã trực tiếp tiếp xúc với hầu hết các tướng lĩnh có cấp bậc ngang với thượng tướng Vít-tinh-hốp.
Đa-lét. Ngài sẽ có ý kiến như thế nào, nếu chúng tôi đề nghị ngài đến gặp Két-xen-rinh và đề nghị ông ấy đầu hàng ở mặt trận phía Tây, sau khi ông ấy được Vít-tinh-hốp đồng ý sẽ cùng đầu hàng ở Ý?
Vôn-phơ. Đó là một biện pháp liều lĩnh.
Đa-lét. Chẳng phải tất cả chúng ta đang liều lĩnh đấy sao?
Giọng người lạ. It ra, việc ngài tiếp xúc với Két-xen-rinh ở mặt trận phía Tây cũng sẽ giúp chúng ta nắm được tình hình một cách rõ ràng và cụ thể, liệu ông ta có chịu đầu hàng ở mặt trận phía Tây hay không...
Vôn-phơ. Căn cứ vào việc Két-xen-rinh đồng ý đầu hàng ở Ý, có thể nghĩ rằng, ông ta sẽ không thay đổi ý định đó ở Xơ-tơ-rát-xơ-bua.
Đa-lét. Bao giờ ngài có thể đến gặp ông ta ở mặt trận phía Tây?
Vôn-phơ. Can-ten-bơ-ru-ne có gọi tôi về Béc Lanh, nhưng tôi hoãn lại, vì chúng ta đã hẹn gặp nhau ở đây...
Đa-lét. Nghĩa là ngài có thể bay đến Béc Lanh ngay sau khi trở về Ý?
Vôn-phơ. Vâng, về nguyên tắc có thể như vậy. Nhưng...
Đa-lét. Tôi hiểu ý ngài. Có lẽ quả là ngài phải liều lĩnh hơn tất cả chúng tôi. Song tôi không thấy có lối thoát nào khác trong tình hình hiện nay.
Giọng người lạ. Có lối thoát chứ.
Hê-vec-nít. Ngài là người có sáng kiến tổ chức cuộc thương lượng, nhưng hiển nhiên là ngài được sự ủng hộ nhất định tại Béc Lanh. Điều đó cho phép ngài tìm ra lý do để đến thăm Két-xen-rinh.
Đa-lét. Nếu ngài quan tâm trước hết tới số phận của nước Đức, thì trong trường hợp này, ở mức độ nhất định, nó đang nằm trong tay ngài.
Vôn-phơ. Tất nhiên, lý lẽ đó không thể khiến tôi hờ hững.
Đa-lét. Có thể cho rằng, ngài nhất định đến thăm Két-xen-rinh ở mặt phía Tây?
Vôn-phơ. Vâng.
Đa-lét. Và ngài cảm thấy có thể Thụyết phục Két-xen-rinh đầu hàng?
Vôn-phơ. Tôi tin như vậy.
Đa-lét. Và thượng tướng Vít-tinh-hốp sẽ theo gương ông ta?
Vôn-phơ. Tôi sẽ quay về Ý.
Hê-vec-nít. Và nếu như Vít-tinh-hốp lưỡng lự, thì ngài có thể tác động đến các sự kiện ở đấy?
Vôn-phơ. Vâng, dĩ nhiên, nếu như các ông cần gặp tướng Vít-tinh-hốp ở đây hoặc ở Y.
Đa-lét. Nếu ngài thấy làm như thế là hợp lý, thì chúng tôi sẵn sàng tiếp xúc với Vít-tinh-hốp. Khi nào ngài có thể từ chỗ Két-xen-rinh trở về?
Vôn-phơ. Nếu tất cả đều trôi chảy, một tuần nữa tôi sẽ quay về và mang đến cho các ông, cũng như cho Vít-tinh-hốp, ngày tháng đầu hàng chính xác của toàn bộ quân đội Đức ở mặt trận phía Tây. Tập đoàn quân của chúng tôi tại Ý cũng sẽ đầu hàng đúng vào giờ ấy.
Hê-vec-nít. Xin ngài cho biết bao nhiêu người bị giam giữ trong các trại tập trung?
Vôn-phơ. Tại các trại tập trung của Đế chế ở Y hiện có vài chục nghìn người.
Đa-lét. Điều gì sẽ xảy ra với họ trong thời gian sắp tới?
Vôn-phơ. Đã có lệnh thủ tiêu họ.
Hê-vec-nit. Mệnh lệnh ấy có thể được thi hành trong lúc ngài đi vắng hay không?
Vôn-phơ. Có thể lắm.
Đa-lét. Có thể thi hành biện pháp gì đó để ngăn cản việc thi hành mệnh lệnh ấy chứ?
Vôn-phơ. Đại tá Đô-nen-ni ở lại chỉ huy thay tôi. Tôi tin ông ta như tin chính mình. Với tư cách một người đứng đắn, xin hứa với các ông rằng, mệnh lệnh ấy sẽ không được thi hành.
Hê-vec-nít. Xin mời các vị đi ra ngoài thêm. Tôi thấy bàn tiệc đã bày xong. Tiếp tục nói chuyện ở ngoài ấy sẽ thú vị hơn, ở đây nóng quá..."
Đêm ấy Kết đưa hai đứa bé đi Pa-ri. Chị mang theo thư mật mã của Sơ-tiếc-lít. Nhà ga vắng vẻ và yên tĩnh, Kết đã chia tay với Sơ-tiếc-lít ở trong khách sạn: anh không dám đưa tiễn chị, vì sợ những cặp mắt theo dõi của bọn ghét-xta-pô. Chị nhìn sân ga vắng tanh. Mưa rơi. Đầu máy xì hơi nước như buồn ngủ. Mắt đường nhựa, ướt át như những cái vòng hạt cườm của người Ấn Độ. Kết khóc như mưa, bởi vì lúc này, khi những ngày căng thẳng khủng khiếp đã trôi qua hoàn toàn, trước mắt chị lúc nào cũng hiện lên hình ảnh Ê-rơ-vin. Chị như nhìn thấy anh đang ngồi trong góc nhà, cạnh chiếc dương cầm, bên một đống máy thu thanh quay đĩa mà anh rất thích sửa chữa vào những lúc anh không bận liên lạc điện đài với Mát-xcơ-va...
Sơ-tiếc-lít không dừng được: anh đã đi ra nhà ga. Anh muốn nhìn dù chỉ từ phía xa đoàn tầu chuyển bánh, đưa Kết đi tới một đất nước hoa lệ - tới nước Pháp, nơi chị sẽ được an toàn tuyệt đối với hai đứa trẻ của mình, rồi đường dây liên lạc đáng tin cậy sẽ từ đó nối tới đây và có lẽ anh cũng sẽ có thể đi sang bên ấy.
Sơ-tiếc-lít bước vào một quán cà-phê nhỏ trong khu vực nhà ga. Anh ngồi cạnh chiếc cửa sổ lớn: từ đây có thể nhìn rõ toàn bộ đoàn tàu.
- Xin chào ngài, - cô hầu bàn béo mập mỉm cười chào anh.
- Cho tôi món kem sữa và một cốc cà-phê nhé.
- Cà-phê sữa ạ?
- Không, tôi thích cà-phê đen thôi.
Cô hầu bàn mang cho anh món kem sữa xốp và một cốc cà-phê.
- Cô ơi, - Sơ-tiếc-lít mỉm cười như người có lỗi, nói. - Tôi không ăn món kem sữa xốp đâu. Từ bé tôi đã không ưa món này. Cô cho tôi loại kem sữa thông thường, độ lưng cốc thôi.
Cô hầu bàn đáp:
- Ô, xin ngài tha lỗi...
Cô ta mở bảng giá và giở nhanh mấy tờ.
- Cửa hàng em có tám loại kem sữa, có loại xốp, có loại ăn với mứt quả, pho-mát, chứ không có loại thông thường. Xin ông bỏ qua cho em. Em sẽ đề nghị bác đầu bếp làm hầu ông món kem sữa như ông thích... Người dân ở đây không ăn món kem sữa thông thường, nhưng em sẽ cố gắng chiều lòng ông...
"Họ không ăn món kem sữa thông thường, - Sơ-tiếc-lít nghĩ bụng. - Trong khi ở nước ta, mọi người chỉ mơ ước được ăn một mẩu bánh mì thông thường. "Ở nước ta" hình như Sơ-tiếc-lít muốn nghĩ đến cả nước Nga lẫn nước Đức. ở cả hai nước ấy, người ta cũng đói như nhau. Còn đây là nước trung lập. Tám loại kem sữa, và người ta thích xài loại kem sữa xốp. làm một nước trung lập dễ chịu quá nhỉ? Dễ chịu đối với con người và đối với quốc gia... Những năm tháng trôi qua và rất có thể trong khi người giữ thái độ trung lập và chén món kem sữa xốp, thì ngươi đã bỏ qua những điều cốt yếu. Không, thật đáng sợ nếu ngươi luôn luôn giữ thái độ trung lập. Hừ, trung với chả lập! Nếu như chúng tôi không đánh gục Hít-le ở Xta-lin-gơ-rát, hắn sẽ xâm chiếm cả Thụy Sĩ - lúc ấy thì còn khối kem sữa với chế độ trung lập của ngươi".
- Thưa ngài, món kem sữa của ngài đây. Nó sẽ đắt hơn một chút, bởi vì không phải là món ghi trong bảng giá.
Sơ-tiếc-lít bỗng cười to.
- Được rồi, - anh nói. - Điều đó không quan trọng. Cám ơn cô.
Đoàn tàu từ từ chuyển bánh. Anh nhìn khắp các cửa sổ, nhưng không thấy mặt Kết đâu: có lẽ chị đã lánh vào bên trong cu-pê với hai đứa bé của chị và ngồi ở đó cho tới lúc gặp được người của mình...
Sơ-tiếc-lít đưa mắt tiễn đoàn tàu chạy đi và đứng dậy khỏi bàn. Anh chỉ uống cà-phê, còn món kem sữa thế là anh vẫn chưa đụng đến.
Đồng chí Mô-lô-tốp cho gọi viên đại sứ Anh, ngài Ác-tri-ban Kê-rơ, tới điện Cờ-rem-li và lúc tám giờ tối, Mô-lô-tốp không mời đại sứ Mỹ Ha-ri- man, vì đồng chí biết rằng, Kê-rơ là một tay tình báo lõi đời và có thể nói chuyện với gã mà không phải nghe cái giọng mang mầu sắc tình cảm thừa thãi khiến đồng chí khó chịu của Ha-ri-man.
Dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ bóp lại ba lần cái đầu lọc của điếu thuốc "Ca-dơ-bếch", Mô-lô-tốp mới châm lửa: đồng chí nổi tiếng là một người nghiện thuốc rất nặng, tuy cũng giống như Xta-lin, đồng, chí không bao giờ hít những hơi thuốc dài.
Đồng chí cố tỏ thái độ lạnh lùng với Kê-rơ và cặp mắt đen sắc sảo của đồng chí ánh lên rầu rĩ và cảnh giác dưới chiếc kính kẹp mũi.
Buổi nói chuyện diễn ra ngắn ngủi: sau khi xem bản thông điệp do đồng chí Páp-lốp, phiên dịch của Bộ trưởng Mô-lô-tốp, trao cho gã, Kê-rơ nói rằng, gã sẽ thông báo ngay cho Chính phuỷ Anh biết nội dung thông điệp đó.
"Cùng với việc xác nhận rằng, tôi đã nhận được thư của Ngài nói về cuộc thương lượng ở Béc-nơ giữa viên tướng Đức Vôn-phơ với các sĩ quan trong bộ tham mưu của thống chế A-lếch- xăng-đe, tôi cần phải nói rằng, chính phủ Liên Xô thấy đây không phải sự hiểu lầm, mà là một cái gì còn tệ hại hơn.
Viên tướng Đức Vôn-phơ cùng đám sĩ quan tuỳ tùng của hắn đã tới Béc-nơ để thương lượng với các đại diện của Bộ chỉ huy Anh - Mỹ về sự đầu hàng của quân đội Đức tại miền Bắc Y. Khi chính phủ Liên Xô tuyên bố về sự cần thiết phải có đại diện của Bộ chỉ huy Liên Xô tham gia cuộc thương lượng đó, chính phủ Liên Xô đã bị khước từ.
Như vậy là, tại Béc-nơ, trong khoảng thời gian hai tuần, sau lưng Chính phủ Liên Xô, người phải mang gánh nặng chủ yếu của cuộc chống nước Đức phát-xít, đã diễn ra cuộc thương lượng một bên là các đại diện của Bộ chỉ huy quân sự Đức với một bên là đại diện của Bộ chỉ huy quân sự Anh và Mỹ. Chính phủ Liên Xô coi đó việc làm tuyệt đôi không thể chấp nhận được.
V. MÔ-LÔ-TỐP".
Phản ứng của Boóc-man khi Sơ-tiếc-lít báo cáo về các chi tiết trong cuộc hội đàm giữa Vôn-phơ và Đa-lét thật là bất ngờ: y lấy làm mừng rỡ. Thậm chí y cũng ngạc nhiên về phản ứng của mình: Béc Lanh đang bị quân Anh ném bom liên tục, đại bác Nga đã nổ ầm ầm ở Phờ-răng-phua, mọi trật tự của Đế chế đều hỗn loạn, thế mà y lại vui mừng như được trả thù. Vốn có đầu óc phân tích, y thừa hiểu rằng, niềm vui của y giống như niềm vui của những phụ nữ luống tuổi hay ghen tị.
"Cứ để mình biết tất cả về mình, biết sự thật tàn nhẫn nhất, - y nghĩ thầm, - như thế sê dễ phòng ngự yà tấn công hơn, vì mình đã biết những chỗ yếu của mình".
Boóc-man tin vào liệu pháp tâm thần. Hầu như chưa bao giờ y chịu uống thuốc. Y cởi gần như tất cả quần áo ra, buộc mình phải lắng vào trạng thái trầm tĩnh và dồn toàn bộ sức mạnh ý chí vào bộ phận đau ốm của cơ thể. Y có thể chữa khỏi bệnh viêm họng trong một ngày, dù bị cảm sốt, y vẫn không phải nằm xuống giường. Y biết cách chữa khỏi bệnh ghen tị, xua tan nỗi buồn phiền trong lòng - không ai biết rằng, từ hồi trẻ y đã bị những cơn bệnh tưởng khủng khiếp. Bây giờ y cũng biết cách chữa chạy khỏi cái niềm vui không xứng đáng vừa bùng lên tha thiết kia.
Y dập tắt ý định cầm ống nghe lên gọi điện tới chỗ Him-le. Y hình dung cảnh viên thống chế ss sẽ lúng túng hoảng sợ ra sao.
"Nhưng trong cơn hoảng sợ của hắn, - Boóc-man ngăn mình lại, - nhất định hắn sẽ chạy đến chỗ Sê-len-béc. Khó mà tưởng tượng thằng cha trí thức khốh kiếp kia có thể nghĩ ra những trò gì..."
- Boóc-man đây, - tên chủ tịch đảng Quốc xã nói vào ốhg nghe, - chào ông Can-ten-bơ-ru-ne. Tôi đề nghị ông đến gặp tôi ngay bây giờ.
- Đúng, - Boóc-man nghĩ tiếp, - cần phải hành động thận trọng, thông qua Can-ten-bơ-ru-ne. Và ngay với Can-ten-bơ-ru-ne, mình cũng sẽ không nói gì cả. Mình sẽ chỉ yêu cầu ông ta một lần nữa gọi Vôn-phơ về Béc Lanh. Mình sẽ bảo Can- ten-bơ-ru-ne rằng theo tài liệu của mình, Vôn-phơ đã phản bội sự nghiệp của thống chế ss. Mình sẽ yêu cầu ông ta đừng nói gì với ông bạn Him-le của mình, để khỏi đầu độc ông bạn một cách vô ích. Nhưng mình sẽ ra lệnh cho ông ta bắt giữ Vôn-phơ và bắt hắn cung khai toàn bộ sự thật. Nếu bọn họ đã biết làm việc đó với người ngoài, thì cứ để bọn họ làm việc đó với chính người của họ xem sao. Khi Vôn-phơ đã cung khai và lời lẽ của y được ghi vào biên bản hỏi cung và được Can-ten-bơ-ru-ne đích thân đệ lên bàn của mình, thì mình sẽ đưa cho Quốc trưởng xem, và Him-le sẽ đi đời nhà ma. Lúc ấy, bên cạnh Hít-le chỉ còn một mình mình. Gơ-ben là thằng cha mắc bệnh tâm thần, không đáng kể, hơn nữa, hắn không biết những điều gì mình biết. Hắn có tư tưởng lớn, nhưng lại không có tiền. Còn mình thì vừa có tư tưởng của họ, vừa có tiền của đảng. Mình sẽ không lặp lại những sai lầm của họ - và mình sẽ là người chiến thắng. Còn bao giờ thắng lợi thì không phải là điều quan trọng: cuộc tranh giành tự nó đã là hành phúc, và thắng lợi là kết cục của cuộc tranh giành".
Cũng như tất cả những kẻ điều khiển bộ máy nhà nước "phục vụ" Hít-le nhiều năm, Boóc-man, trong các lập luận nói chung rất chính xác của mình, chỉ phạm một sai lầm: y cho rằng, có thể làm được tất cả mọi việc, y biết cách làm tất cả mọi việc và y hiểu tất cả mọi việc nhiều hơn là các chiến hữu của y. Vì cho mình là nhà tổ chức tư tưởng của đảng Quốc xã, Boóc-man đã coi thường mọi chi tiết và những nét riêng, tóm lại là coi thường tất cả những gì hợp thành khái niệm "trình độ nghề nghiệp chuyến sâu".
Tất cả đều sợ y và đều phải tính đến y - cả Ríp-ben-tơ-rốp. Gơ-rinh lẫn Him-le. Nhưng các cơ quan chức tép riu ở Bộ Ngoại giao, bộ Hàng không hoặc bọn nhân viên phản gián thì lại chế giễu các chỉ thị của viên chủ tịch đảng. Chỉ có bọn họ mới biết tất cả những động cơ thúc đẩy * các bộ máy của mình hoạt động, bọn họ mới là người chuẩn bị mọi chiến dịch: trong công tác ngoại giao cũng như trong hoạt động tình báo, trong lĩnh vực công nghiệp cũng như trong quân đội. Loại nhân vật không chuyên nghiệp, cái gì cũng biết như Boóc-man, chỉ khiến bọn họ ngầm phản đối lúc đầu và khinh thường một cách châm chước về sau.
Chính trình độ không chuyên nghiệp ấy đã dẫn Boóc-man tới thất bại. Can-ten-bơ-ru-ne dĩ nhiên không nói gì với Him-le: tên chủ tịch đảng đã chỉ thị như vậy. Hắn ra lệnh một lần nữa cho Các-lơ Vôn-phơ phải lập tức từ Ý trở về. Trong bộ máy khổng lồ của cơ quan an ninh Đê chế, có việc gì lại có thể lọt qua tai mắt của hai kẻ cạnh tranh đầy uy lực là Muyn-lơ và Sê-len-béc. Tên nhân viên điện đài trong hành dinh của Can- ten-bơ-ru-ne, kẻ đã bị người của Sê-len-béc tuyển mộ làm việc cho chúng, đã báo cho ông chủ tịch bí mật của mình - cho Sê-len-béc - được biết bức điện tuyệt mật gửi sang Y: "Theo dõi chặt chẽ các chuyến bay của Vôn-phơ về Béc Lanh". Sê-len-béc lập tức hiểu rằng, đó là hiệu lệnh báo động! Tiếp đó, công việc đơn giản hơn: không cần khó nhọc gì lắm, cơ quan tình báo cũng biết được ngày giờ chính xác mà Vôn-phơ sẽ về đến sân bay. Tại sân bay Tem-pen-hốp có hai xe đỗ: một chiếc xe bọc thép với ba tên ác ôn trong đội bảo vệ nhà tù ngầm dưới đất của cơ quan ghét-xta-pô ngồi bên trong, còn trong xe kia là thiếu tướng ss Van-te Sê-len-béc, Cục trưởng Cục tình báo chính trị. Cùng tiến lại cầu thang máy bay có ba tên cai ngục chuyên nghiệp bận quần áo đen, mặt mày xấu xí và một nhà trí thức điển trai, thắng bộ sắc phục cấp tướng lộng lẫy được dành riêng cho trường hợp này - nhà trí thức ấy là Sê-len-béc. Vôn-phơ từ trên cầu thang máy bay "Đoóc-ni-e" bước xuống và những ngón tay khoẻ mạnh của Sê-len-béc - chứ không phải chiếc khoá tay - bóp chặt hai bàn tay lạnh giá của Vôn-phơ.
Ba tên cai ngục không dám bắt Vôn-phơ: chúng chỉ dám theo dõi chiếc xe của Sê-len-béc. Thiếu tướng ss đưa thượng tướng Vôn-phơ về nhà riêng của thượng tướng Phê-ga-lai, đặc phái viên của Him-le tại tổng hành dinh của Quốc trưởng. Việc Him-le đã ngồi chờ ở đấy không làm cho Boóc-man chùn tay. Cái làm cho y chùn tay là chuyện khác kia: Phê-ga-lai là kẻ lấy chị gái của E-va Bơ- ra-un và, do đó, là người ruột thịt gần gũi của Hít-le. Quốc trưởng thậm chí vẫn gọi Phê-ga-lai là "người anh em đồng hao đáng yêu của tôi" trong lúc uống trà.
Sau khi mở ra-đi-ô cho kêu hết cỡ, Him-le thét mắng Vôn-phơ:
- Ông đã làm hỏng toàn bộ chiến dịch và đưa tôi ra hứng đòn, ông hiểu chưa? Tại sao Boóc-man và Can-ten-bơ-ru-ne lại biết được các cuộc thương lượng của chúng ta? Làm thế nào mà lũ chó săn của thằng Muyn-lơ đê tiện lại có thể đánh hơi được việc đó?!
Sê-len-béc chờ đến lúc Him-le thét mắng xong, mới thản nhiên nói nhỏ:
- Thưa thống chế, chắc ngài còn nhớ rằng, mọi chi tiết của chiến dịch này đều do tôi chuẩn bị, có phải thế không ạ? Chiến dịch che đỡ của tôi vẫn đâu vào đấy. Tôi đã chuẩn bị cho Vôn-phơ câu chuyện huyền thoại, làm như chúng ta gài ông ấy vào nhóm âm mưu phản loạn đang thực sự tìm kiếm con đường hoà bình riêng rẽ ở Béc-nơ. Bây giờ, chúng ta sẽ thoả thuận nốt những chi tiết còn lại. Và ngay ở đây, tôi sẽ đọc cho ông Vôn-phơ viết một bản báo cáo về cuộc thương lượng với bọn Mỹ do cơ quan tình báo ss chúng ta phát hiện được. Báo cáo ấy sẽ đề nghị gửi cho Ngài.
Sê-len-béc có thể bố trí một tai nạn máy bay với Vôn-phơ. Nhưng y không rõ Can-ten-bơ-ru-ne đã biết những gì, có lẽ hắn mới chỉ nắm được những nét đại thể nhất, nếu không, hắn đã bắt giữ Vôn-phơ ngay ở Y rồi, - nếu vậy thì tai nạn máy bay sẽ không còn hợp lý nữa: thông qua Can-ten-bơ-ru-ne, Boóc-man sẽ có thể sử dụng những tài liệu tố giác Him-le, tuy là những tài liệu rất chung chung.
Các tin tức về cuộc đàm phán giữa Sơ-lắc với các nước đồng minh phương Tây do Sơ-tiếc-lít thu lượm được ở Béc-nơ gửi về và câu chuyện thương lượng do anh bịa ra kèm theo tên tuổi rất nhiều người đã cho phép Sê-len-béc báo cáo về một âm mưu khiến Hít-le lo ngại.
Và nếu như Các-lơ Vôn-phơ, "người lính trung thành của Quốc trưởng, người đã được sử dụng lực lượng ss và Him-le đào tạo", không có quá nhiều sáng kiến thương lượng trong khi thực hiện nhiệm vụ của cấp chỉ huy, mà chính ông ta đã báo cáo với thống chế ss về thương lượng đó, thì không rõ rồi các sự kiện sau đó sẽ thay đổi như thế nào.
Boóc-man hiểu rằng, y đã thua cuộc, khi Him-le cùng với Sê-len-béc và Vôn-phơ bước ra khỏi hầm ngầm của Quốc trưởng. Trong lúc bắt tay Vôn-phơ và "bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất về sự trung thành và dũng cảm" của hắn, Boóc-man nghĩ bụng: "Có nên gọi Sơ-tiếc-lít đến đây đối chứng với tên đê tiện mặt búng ra sữa này, cái tên đã bán rẻ Quốc trưởng ở Béc-nơ, hay không?" Y vẫn tiếp chuyện đó, sau khi Him-le đã dẫn mấy tên tay chân của hắn bước ra với vẻ mặt bình tĩnh, vì đã chiến thắng y, chiến thắng Boóc-man.
Y chưa thể đi đến một quyết định rô ràng. Và lúc đó y nhớ đến Muyn-lơ.
"Đúng rồi, y nghĩ, - mình phải gọi người ấy đến. Không nên hy vọng vào các biện pháp nửa vời. Hoặc là thế này, hoặc là thế kia. Mình cần
có một người của mình ở cương vị cao hơn Sơ-tiếc-lít. Người của mình phải ở cương vị lãnh đạo cao cấp. Nếu không, mình khó có thể đánh gục Him-le. Với Muyn-lơ, mình sẽ bàn đến tất cả các khả năng, và mình cũng sẽ bàn với ông ta về Sơ-tiếc-lít. Dầu sao mình cũng còn có khả năng chiến thắng: đó là các tài liệu của Sơ-tiếc-lít. Chúng sẽ vang lên tại toà án của đảng xét xử Vôn-phơ".
- Boóc-man đây, - y nói thấp giọng với nhân viên trực điện hoại. - Hãy gọi Muyn-lơ đến gặp tồi.
CÔNG HÀM RIÊNG VÀ TỐI MẬT CỦA THỦ TƯỚNG SỚC-SIN GỬI NGUYÊN SOÁI XTA-TIN
- Tổng thống có chuyển cho tôi những bức thư Ngài gửi cho Tổng thống trao đổi về cuộc đàm phán ở Thụy Sĩ giữa một sĩ quan Anh và một sĩ quan Mỹ trong Bộ chỉ huy của Thống chế A-lếch-xăng-đe với viên tướng Đức Vôn-phơ, về khả năng đầu hàng của quân đội dưới quyền Két- xen-rinh, tại miền Bắc nước Ý. Bởi vậy, tôi thấy nên gửi công hàm cho ngài trình bày rõ ràng những sự việc liên quan tới hành động của Chính phủ Hoa Kỳ. Khi chúng tôi vừa được biết về cuộc đàm phán đó, ngày 12 tháng ba, chúng tôi đã lập tức báo tin cho Chính phủ Liên Xô biết, hơn nữa, chúng tôi và Chính phủ Hoa Kỳ đã thành thật thông báo cho Ngài rõ tất cả những gì đã xảy ra. Toàn bộ sự việc ở Thụy Sĩ, mà người ta đã nhắc đến hoặc đề cập tới theo một khía cạnh nào đó, chỉ tựu trung ở chỗ kiểm tra mức độ quyền lực của tên đặc phái viên đại diện cho phía Đức và cô gắng tổ chức cuộc gặp mặt giữa viên toàn quyền của Két-xen-rinh với thống chế A-lếch-xăng-đe tại hành dinh của ông ta hoặc tại một nơi nào đó thuận lợi ở miền Bắc nước Y. Tại Thụy Sĩ không hề có bất cứ cuộc thương lượng nào, ngay cả việc thương lượng về sự đầu hàng của quân đội dưới quyền Két-xen-rinh. Hơn nữa, các ý đồ chính trị của việc thương lượng hoàn toàn không mang tính chất nhục nhã như người ta nghĩ và không có mưu đồ chính trị quân sự như lời khẳng định của Ngài trong bức điện gửi Tổng thống.
- Các đại diện của Ngài sẽ được mời ngay tới dự cuộc gặp mặt mà chúng tôi muốn tổ chức ở Ý. Nếu cuộc gặp mặt đó được tổ chức và nếu các đại diện của Ngài tới dự, hẳn là họ sẽ nghe rõ từng lời phát biểu.
- Chúng tôi cho rằng Thống chế A-lếch-xăng-đe có toàn quyền tiếp nhận tại mặt trận của mình ở Ý sự đầu hàng của quân đội Đức, bao gồm 25 sư đoàn và thảo luận các vấn đề đầu hàng với những viên đại diện của phía Đức có toàn quyền thoả thuận về các điều kiện đầu hàng. Hơn nữa, chúng tôi đã dự kiến sẽ mời các vị đại diện của Ngài tới tham dự các cuộc thương lượng thuần tuý quân sự đó tại hành dinh của A-lếch-xăng-đe, nếu các cuộc thương lượng đó được tổ chức. Song thực tế là mọi sự tiếp xúc ở Thụy Sĩ đều chưa dẫn tới kết quả gì. Các sĩ quan của chúng tôi đã từ Thụy Sĩ trở về, vì không đạt được kết quả trong việc tổ chức cuộc gặp mặt với các đại diện của Két-xen-rinh tại Ý. về toàn bộ tình hĩnh đó, chính phủ Liên Xô đã được lần lượt thông báo đầy đủ qua thông chê A-lếch-xãng-đe hoặc A. Cơ-lác Kê-rơ, cũng như qua các giới hữu quan của Hoa Kỳ. Tôi nhắc lại rằng, chúng tôi chưa hề tiến hành, thậm chí chưa hề bắt đầu, bất cứ cuộc đàm phán chính thức hoặc không chính thức nào tại Thụy Sĩ.
- Tuy nhiên, có thể toàn bộ đề nghị đàm phán mà tướng Đức Vôn-phơ đưa ra chỉ là một trong nhiều mưu toan mà kẻ thù sử dụng nhằm gieo rắc sự nghi ngờ giữa các nước đồng minh. Thống chế A-lếch-xăng-đe đã đặc biệt nhân mạnh điều đó trong bức điện đề ngày 11 tháng ba như sau:
"Tôi xin lưu ý rằng, việc hai nhân vật chỉ huy lại là người của lực lượng ss và Him-le, khiến cho tôi hết sức nghi ngờ". Bản sao bức điện ấy đã được gửi tới đại sứ Anh tại Mát-xcơ-va, ngày 12 tháng ba, để chuyển cho Chính phủ Liên Xô. Nếu bọn Đức định gieo rắc sự thiếu tin cậy giữa
chúng ta, thì chúng đã đạt được mục đích của chúng trong một thời gian.
- A. Cơ-lác Kê-rơ đã được ngài I-đen giao nhiệm vụ giải thích toàn bộ sự việc cho ngài Mô-lô-tốp rõ. Trong thư trả lời mà ngài Mô-lô-tổp gửi cho ông ta, có câu "Chính phủ Liên Xô thấy đây không phải là sự hiểu lầm, mà là một cái gì còn tệ hại hơn". Bức thư ấy cũng biểu lộ sự không vừa lòng về việc "tại Béc-nơ trong khoảng thời gian hai tuần, sau lưng Chính phủ Liên Xô, người phải mang gánh nặng chủ yếu của cuộc chiến tranh chống nước Đức phát xít, đã diễn ra cuộc thương lượng giữa một bên là các đại diện của Bộ chỉ huy quân sự Anh và Mỹ". Vì lợi ích của quan hệ Anh-Xô, Chính phủ nước tôi đã quyết định không trả lời sự buộc tội vô căn cứ và hàm ý lảng nhục đó, mà quyết định coi thường nó. Đó là lý do khiến trong thông điệp gửi Tổng thông, Ngài gọi là "sự im lặng của người Anh". Chúng tôi cho rằng, im lặng sẽ tốt hơn là trả lời một bức thư như bức thư mà ngài Mô-lô-tốp đã gửi. Nhưng Ngài có thể tin rằng, chúng tôi rất ngạc nhiên về bức thư đó và thấy bị xúc phạm trước lời buộc tội vô căn cứ của ngài Mô-lô-tốp. Tuy nhiên, điều đó hoàn toàn không ảnh hưởng gì tới những chỉ thị của chúng tôi cho thống chế A-lếch-xăng-đe là phải thông tin đầy đủ cho Ngài rõ.
- Cũng sẽ không đúng, nếu cho rằng, sáng kiến trong việc này hoàn toàn xuất phát từ phía Chính phủ Anh, như Ngài tuyên bố với Tổng thống. Thực ra, chính một cơ quan Hoa Kỳ đã báo tin cho thống chế A-lếch-xăng-đe biết rằng, viên tướng Đức Vôn-phơ muốn tiến hành cuộc thương lượng tại Thụy Sĩ.
- Giữa cuộc thương lượng tại Béc-nơ, hay ở bất cứ nơi nào khác, và thất bại hoàn toàn của quân đội Đức ở mặt trận phía Tây không liên quan gì với nhau. Thực tế là quân đội Đức vẫn chiến đấu rất hùng hổ và từ đầu cuộc tấn công tháng hai của chúng tôi đến hết ngày 28 tháng ba đã làm cho quân đội chúng tôi và quân đội Hoa Kỳ tổn thất trên 87 ngàn người. Tuy nhiên, trước lực lượng lục quân trội hơn hẳn chúng tôi về số lượng, thế nhưng lại bị đè bẹp trước líu thế của lực lượng không quân Anh-Mỹ, chỉ trong ba tháng không quân Anh-Mỹ đã ném xuống đất Đức hơn 200 ngàn tấn bom, - quân đội Đức ở mặt trận phía Tây đã bị đánh tan tác. Việc trước mắt chúng có lực lượng lục quân trội hơn về số lượng ở mặt trận phía Tây là do quân đội Liên Xô đã giáng những đòn mạnh mẽ.
- Còn về những lời buộc tội mà Ngài nêu lên trong thông điệp gửi Tổng thông mà những lời buộc tội đó bôi nhọ cả Chính phủ Anh nữa, thì tôi và các đồng sự của tôi hoàn toàn nhất trí với câu cuối cùng trong thư trả lời của Tổng thống”.
THƯ RIÊNG VÀ MẬT CỦA CHỦ TỊCH HỘI ĐÔNG BỘ TRƯỞNG LX. XTA-LIN GỬI NGÀI TỔNG THỐNG PH RU-DƠ-VEN
- Trong thông điệp của tôi... vấn đề không phải là lòng thành thật hay sự tin cậy. Tôi không bao giờ nghi ngờ lồng thành thật và mức độ đáng tin cậy của Ngài,'cũng như lòng thành thật và mức độ đáng tin cậy của ngài Sớc-sin. Vấn đề tôi muốn đề cập đến là: trong quá trình thay đổi thư từ giữa chúng ta, đã lộ ra những quan điểm khác nhau về việc một nước đồng minh kia và không được phép làm những gì. Người Nga chúng tôi nghĩ rằng, trong tình hình hiện nay trên các mặt trận, khi quân thù đứng trước sự tất yếu phải đầu hàng, bất kỳ cuộc gặp gỡ nào giữa đại diện của một nước đồng minh với bọn Đức để bàn về vấn đề đầu hàng cũng phải bảo đảm có sự tham gia của đại diện nước đồng minh kia trong gặp gỡ ấy. Trong mọi trường hợp, đó là điều tối cần thiết nếu nước đồng minh đó muốn được tham gia cuộc gặp gỡ như thế. Thế nhưng. Phía Mỹ và phía Anh lại nghĩ khác: họ cho rằng, quan điểm của người Nga không đúng. Xuất phát từ đó, họ đã không chấp nhận quyền tham gia của người Nga trong cuộc đàm phán với bọn Đức ở Thụy Sĩ. Tôi đã viết cho Ngài thấy sẽ không thừa nếu nhắc lại rằng, gặp trường hợp tương tự, người Nga sẽ không bao giờ bác bỏ quyền tham gia của người Mỹ và người Anh trong một cuộc đàm phán như thế. Tôi vẫn tiếp tục coi quan điểm của người Nga là quan điểm duy nhất đúng, bởi vì, nó loại trừ mọi khả năng dẫn tới sự nghi ngờ lẫn nhau và không cho phép kẻ thù gieo giắc sự nghi ngờ giữa chúng ta.
- Khó mà tán thành ý kiến cho rằng, sở dĩ quân Đức ở mặt trận phía Tây chông cự yếu ớt chỉ là vì chúng đã bị đánh tan. Bọn Đức có 147 sư đoàn ở mặt trận phía Đông. Chúng có thể rút bớt 15 - 20 sư đoàn ở mặt trận phía Đông mà không thiệt hại gì tới chiến cục và ném sang phía Tây giúp các đơn vị của mình. Song bọn Đức không làm như vậy. Chúng vẫn tiếp tục điên cuồng chống trả quân đội Nga để bảo vệ cái nhà ga Dem-li-a-nít-xa ít ai biết đến ở Tiệp Khắc, một vị trí cần thiết đối với chúng không hơn gì thứ thuốc đắp đối với người chết thế nhưng chúng lại rút bỏ không hề kháng cự khỏi những thành phố quan trọng ở trung tâm nước Đức như Ồ-xơ-na-bơ-rúc, Man-gây-mơ, Cát-xen. Chắc Ngài phải đồng ý với tôi rằng, hành động đó của bọn Đức là hiện tượng không chỉ lạ lùng và khó hiểu.
- Còn về những người đưa tin của tôi, thì tôi xin khẳng định với Ngài rằng, họ là những người hết sức trung thực và khiêm tốh, họ thi hành nhiệm vụ của họ một cách nghiêm túc và không có ý định làm nhục bất cứ ai. Những người ấy đã được chúng tôi kiểm tra nhiều lần qua thực tế...
Sơ-tiếc-lít nhận được lệnh của Sê-len-béc phải về Đức ngay: anh cẩn phải báo cáo riêng với Quốc trưởng về công tác mà anh đã tiến hành nhằm phá vỡ "các cuộc thương lượng bội phản của những tên bội phản kiểu Sơ-lắc" ở Béc-nơ.
Sơ-tiếc-lít chưa thể về Béc Lanh ngay, bởi vì anh đang từng ngày chờ đợi người liên lạc do Trung tâm phái đến, anh không thể tiếp tục hoạt động, nếu không có đường dây liên lạc đáng tin cậy. Anh mua các tờ báo của Liên Xô và ngạc nhiên thấy ở nhà mọi người cứ tưởng rằng, với nước Đức thế là tất cả tai hoạ đã chấm dứt và sẽ không bao giờ có điều gì bất ngờ được nữa.
Nhưng anh, hơn ai hết, nhất là sau khi đi sâu vào bí mật của các cuộc thương lượng giữa bọn quốc xã với phương Tây và nắm được tiềm lực quân sự và công nghiệp của nước Đức, càng ngày
anh càng lo ngại những sự bất ngờ. Anh không biết các bức điện mật mã mà anh gửi Kết chuyển đi đã tới Trung tâm, tới hội đồng Quốc phòng Nhà nước hay chưa.
Anh hiểu rằng, nếu Him-le biết rõ vai trò của anh trong việc phá vỡ các cuộc thương lượng nếu Boóc-man biết được trò chơi hai mặt của anh, nếu bọn chúng chỉ cần biết một phần nghìn sự thật về anh - thì cuộc sống của anh sẽ tính bằng giờ phút...
Anh hiểu rằng, với việc trở lại Béc Lanh, anh sẽ chui đầu vào thòng lọng. Quay về đó một mình để nhận lấy cái chết một cách đơn giản thì thật là vô nghĩa. Sơ-tiếc-lít đã biết cách từ bên ngoài phân tích cuộc sống của anh như xét đoán một phạm trù nào đó tồn tại biệt lập đối với anh. Việc quay lại Béc Lanh sẽ có ý nghĩa, nếu anh bắt được liên lạc chắc chắn với Mát-xcơ-va, - anh cần đến đường dây liên lạc nhanh chóng và đáng tin cậy với Mát-xcơ-va biết chừng nào! Nếu không, anh có thể từ bỏ cuộc chơi được rồi: anh đã hoàn thành nhiệm vụ của mình. Lương tâm anh trong sạch. Anh đã hết sức mệt mỏi, nhưng đó không phải là điều quan trọng. Cái chính là anh đã hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Họ gặp nhau trong một tiệm khiêu vũ chỉ mở cửa ban đêm, như đã qui định từ trước. Một cô gái tinh quái vừa thi đỗ khoa Toán trường Đại học Tổng hợp cứ bám riết lấy Sơ-tiếc-lít không chịu rời anh nửa bước. Cô ta đẫy đà, đẹp một cách trơ trẽn và say rượu bí tỉ. Cô ta luôn miệng thì thầm bên tai anh: "Người ta cứ bảo các nhà toán học chúng em là bọn người khô khan! Láo toét! Chúng em là những nhà phát minh cả trong lĩnh vực yêu đương! Trong tình yêu, em là một Anh- xtanh! Em vừa tương đối vừa tuyệt đối! Em thích anh lắm, chàng trai tóc bạc của em ạ!".
Sơ-tiếc-lít không tài nào gỡ khỏi cô ta được. Anh đã nhận ra người liên lạc qua chiếc tẩu, cái cặp và chiếc ví của người đó, anh phải bắt liên lạc, nhưng cô ả sinh viên khoa Toán cứ bám riết lấy anh, mà anh thì không muốn gây chuyện ầm ĩ, nhất là vào lúc này.
- Em hãy ra ngoài xe của anh và chờ anh ở đó, Anh-xtanh yêu quý, - Sơ-tiếc-lít nói. - Anh sẽ ra ngay bây giờ.
- Thật không anh?
- Thật, thật!
- Anh thề đi!
- Xin thề... - Sơ-tiếc-lít cười. - Anh sẽ ra ngay... thật đấy! Em ra trước đi và hãy vẽ một cặp công thức trong ca-bin cho anh xem.
Đồng chí liên lạc nói với anh rằng, Trung tâm không thể nài ép anh trở về bên Đức vì hiểu rằng, trong tình hình hiện nay, việc đó rất phức tạp và nguy hiểm. Tuy nhiên, nếu Uy-xơ-tác cảm thấy còn sức lực thì Trung tâm dĩ nhiên mong anh trở về Béc Lanh. Trung tâm để cho đồng chí Uy-xơ-tác được quyền quyết định hoàn toàn vấn đề đó, đồng thời báo tin rằng, Bộ chỉ huy đã đề nghị Hội đồng Quốc phòng Nhà nước và Chủ tịch đoàn Xô viết tối cao tặng anh danh hiệu Anh hùng Liên Xô vì công lao phát hiện chiến dịch "Trò xếp ô chữ". Nếu đồng chí Uy-xơ-tác thấy có thể quay về bên Đức, thì anh sẽ nhận được liên lạc: hai chiến sĩ điện đài - ở Pốt-xđam và Vét-đinh - sẽ chuyển sang hoạt động dưới sự chỉ huy của anh.
Động cơ chiếc "Khô-rếch" nổ rất giòn và đều. Chiếc cột số đen-xanh bên đường ôtô chỉ rằng từ đây đến Béc Lanh còn 247 ki-lô-mét nữa. Giữa những đám mây bay thấp rách nát rộ ra những mảng trời màu xanh. Tuyết đã tan hết, khắp nơi đâu đâu cũng thấy các lá sồi màu nâu thẫm. Không khí trong rừng yên tĩnh, nặng nề và nồng mùi ẩm mốc.
"Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân, - đài phát thanh đang truyền đi bài hát của Ma-ri-ca Rốc-cơ, - sẽ đọng lại trong trái tim anh. Em tin rằng, xung quanh chúng ta mãi mãi sẽ là tiếng nhạc, lời ca, và cây cỏ sẽ quay tròn trong điệu vũ uyển chuyển, chỉ có con hải âu bị cơn sóng lừng chộp lấy là sẽ chìm xuống và anh sẽ không thể giúp gì được nó...".
Sơ-tiếc-lít phanh xe lại đột ngột. Trên đường không một bóng xe cộ hay người qua lại. Anh để xe ngay trên mặt đường chứ không lái sang vệ đường. Anh vào rừng thông và ngồi xuống đất. Những mầm lá xanh tươi đầu tiên đang nhú ra dè dặt. Sơ-tiếc-lít cẩn thận lấy hai tay xoa mặt đất. Anh ngồi thật lâu trên lớp đất và lấy tay xoa đất. Anh biết mình sẽ gặp những khó khăn gì khi đồng ý quay lại Béc Lanh. Bởi vậy, anh có quyền ngồi thật lâu trên lớp đất xuân lành lạnh và đưa tay ve vuốt nó...
Mát-xcơ-va - Béc Lanh - Niu Yoóc 1968.
* E-va Bơ-ra-un là vợ Hít-le.
* Nguyên văn: các đài dẩn động.
[*] Đu-tre, tức là Mút-xô-li-ni, quốc trưởng y.
[†] Tiếng Pháp, có nghĩa: cô em của tôi.
* Phụ nữ thích rằng, giữa hai cái hôn, được đi sâu vào bí mật của lịch sử, đạo đức và văn học (tiếng Pháp).
** Các quan điềm đạo đức và chính trị (tiếng Pháp).
27/9/2020
Iulian Xêmiônốp
Đặng Lan dịch
Theo https://vnthuquan.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét