Chủ Nhật, 1 tháng 7, 2018

Xào xạc mùa thu

Xào xạc mùa thu
Trong cõi “người ta”, cảm nhận mùa thu ở tuổi đầu đời không phải khi thấy nắng hanh vàng nghiêng rơi ngoài ngõ vắng hay chiều về se lạnh gió heo may. Ở tuổi lên năm lên ba ta đâu biết mùa thu qua khí trời tiết đất, mà chỉ nhận biết mùa thu bằng những mùi vị đặc trưng. Mùi giấy màu, mùi hồ dán tinh thơm tỏa ra từ ông Tiến sĩ giấy “Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai…”, mùi nến cháy nồng nồng trong đèn ông sao, đèn thiềm thừ, thỏ ngọc. Mùi bưởi the the, mùi hồng thơm ngọt, mùi cốm thơm nồng của mâm “cỗ trông trăng” ngày rằm tháng Tám…
Cho đến tuổi biết mùa thu khi “… Lá vàng ngoài đường rụng nhiều và trên trời có những đám mây bàng bạc…” thì ngoài sắc màu, mùi vị của mâm cỗ trông trăng thuở ấu thơ, ta còn nghe được mùa thu về trong tiếng trống. Tiếng trống thu tế uy nghiêm ngoài đình làng. Tiếng trống khai trường dõng dạc điểm từng hồi. Tiếng trống ếch rầm rập nhịp quân hành. Ấn tượng hơn cả là tiếng trống múa lân rộn ràng thúc gọi khắp các nẻo đường.
Từng mùa thu đến, thu đi. Buồn vui ta để lại trong ký ức. Ta để lại những mùa thu áo trắng sân trường để bước vào giảng đường đại học. Cũng ngỡ ngàng, ngơ ngác không khác ngày đầu đi học khi nghe tiếng trống khai trường thuở ấu thơ.
Bây giờ mùa thu đến với ta không chỉ đơn thuần là nắng thu vàng màu hổ phách. Là gió heo may se lạnh nhẹ luồn. Là đêm xuống sương buông trùm vũ trụ… Ta còn cảm nhận được mùa thu qua bóng sâm cầm bay trong nhạc Trịnh Công Sơn. Hay giữa trùng điệp sương giăng, sóng sông thu vỗ nhẹ mạn “Con thuyền không bến” (Đặng Thế Phong). Hoặc lắng nghe bước chân ngoài sương gió để “Buồn tàn thu” (Văn Cao) len lén nhẹ vào hồn.
Thu đất trời còn đến với ta bằng sắc vàng chung thủy. Vàng nắng hanh hao cho trời cao xanh ngắt. Vàng lá rừng thu để con nai vàng ngơ ngác, ngỡ ngàng. Vàng bông hoa cúc để bướm vàng say đắm lượn vòng bay.
Mùa thu của “cõi nhân sinh” cũng ứng với mùa thu của khí trời tiết đất. Khi rong chơi ước vọng của tuổi nắng xuân hồng đã dịch chuyển. Khi những khát khao cháy bỏng của tuổi đời nắng hạ đã chớm tàn, thì trong ta là tuổi thu dần đến. Tĩnh lặng, trong veo.
Ở tuổi thu vàng, không ngước mặt nhìn lên, không cần gương soi phản chiếu ta vẫn cảm nhận được mùa thu “Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt/ Mắt lão không viền cũng đỏ hoe”. Tĩnh lặng, trong veo. Không hối hả trôi theo dòng đời ngược xuôi tất bật.
Đào Quang Bắc

Nguồn: Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 421

Theo http://tuanbaovannghetphcm.vn/

Nhặt vàng phai

Nhặt vàng phai
Nghe gọi tên như thế dễ tưởng chừng như đi... nhặt thơ, như vọng tưởng những thi sĩ mùa thu đang trở về bằng bước chân của gió, gọi hồn cây lá xào xạc những âm vang, hoặc nghe tiếng “Thời gian lặng rót một dòng buồn tênh” (Lưu Trọng Lư). Hoặc xa hơn nữa, xưa hơn nữa là cụ Tam Nguyên Yên Đỗ “Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái”. 
Không hề như thế. Mùa thu đến cùng tôi sớm hơn những thi sĩ - người gieo rắc những hạt giống phong vàng đầy cám dỗ để sinh nở ra những mộng mị hoang đường, ra bao tình yêu huyền thoại. Chiếc lá vàng đầu tiên tôi nhặt được không từ những câu thơ lấp lánh kia, mà chính là từ đôi bàn tay xương xẩu của mẹ tôi - người nông dân, suốt một cuộc đời thủy chung cùng đất đai cây trái vườn tược. 
Cho mãi đến tận bây giờ, tôi vẫn tin một cách cuồng tín rằng: Chiếc lá nhạy cảm nhất với mùa thu là chiếc lá trầu vàng. Trong vườn mẹ, tín hiệu mùa thu mà tôi nghe thấy được đầu tiên chính là từ hàng trầu rụng rơi chao liệng đầy trước hiên nhà. Không biết vì cớ gì mà người quê tôi thường hay trồng trầu dưới những gốc cây chim chim. Rồi theo tháng ngày trầu tốt tươi bò lên xoay quanh từ gốc đến ngọn cây như là nợ duyên tiền định của một lứa đôi. Ở những nơi khác, có khi người ta trồng trầu dưới gốc cây cau hoặc là gốc sầu đông. 
Làng quê tôi ít như thế, chẳng rõ từ bao giờ, hầu như cây chim chim là giống loài cây mà số phận dành cho trầu gởi gắm suốt cuộc đời. Và hễ chớm thu, là trước mọi loài cây lá khác, lá trầu vàng sớm nhất và đẹp hơn bất cứ mọi giống loài cây lá khác. Đến độ, trầu rụng rơi cũng trong cách thế chao liệng đẹp nhất. Chẳng phải bằng cái nhìn cảm tính, qua khúc xạ thời gian hồi ức soi về, kỷ niệm hiện lên lung linh để tôi hoang đường tưởng tượng ra, hoặc lãng mạn ca cẩm bài ca lá trầu vàng giàu chất sử thi. 
Mà quả thật, ngay từ thủa con mắt tuổi thơ, tôi đã biết ngồi trước thềm hiên nhà, ngắm nhìn dọc theo suốt hàng trầu trút lá vàng bay chấp chới, rồi nhẹ nhàng đậu xuống sáng ửng trước thềm hiên. Có khi gió còn lãng mạn đưa đẩy lá rơi nghiêng nghiêng chao liệng bay vàng khắp đầy sân, đầy ngõ!
Mỗi lần như thế, sau khi thỏa thích ngồi nhìn trầu bay lượn giống như những cánh diều nhỏ nhắn lơi lả trong gió thu, tôi lại lon ton chạy theo mẹ nhặt trầu rụng. Cứ độ chừng vài mươi lá là ghép thành một xấp kẹp lại. Hai mẹ con mải mê làm cái công việc như đùa với gió thu, cho đến khi nào chiếc thúng của mẹ chất đầy những kẹp trầu là mẹ tôi gánh lên chợ bán. Lạ lùng là tiền bán được trầu nhặt từ những cơn gió thu ấy, mẹ tôi không hề tiết kiệm như những loại cây trái khác trong vườn, mà tất cả tiền trầu bán được mẹ đều mua quà cho chị em chúng tôi. Có khi số tiền bán trầu rụng được khấm khá, mẹ sắm sửa luôn cho tôi cả quần áo mới. 
Cũng chính vì những món quà hào phóng ấy, nên thường mỗi độ thu về là chúng tôi cứ ngong ngóng nhìn lên hàng trầu trước sân nhà chờ đợi, một sự chờ đợi cũng đẹp đẽ như cổ tích “hú trái thị rớt bị bà già...”, không hằn một dấu bụi nào.
Một điều lạ lùng hơn thế nữa, chính vì điều này mà tôi dám so sánh mẹ với bao thi sĩ mùa thu vang bóng. Ấy là dường như  mẹ tôi cũng biết làm... thi sĩ. Cách cảm nhận này, thì mãi cho đến khi lớn khôn xa quê rồi tôi mới nhận ra. Mẹ làm thi sĩ không tài hoa và cũng chẳng giỏi giang chữ nghĩa như người ta, mà… giống như những chiếc lá trầu vàng rụng rơi vây! Rơi một cách “thơ” không có cây lá nào sánh kịp. Rơi nghiêng nghiêng, rơi chầm chậm, la đà, nhẹ nhàng và bình yên đến độ tưởng chừng như đậu hoài vào con mắt tuổi thơ và không chịu rơi xuống mặt đất lấm lem cát bụi. 
Mẹ lom khom lượm trầu vàng rụng, hay mẹ đang làm thơ mà nhiều lần tôi thấy mẹ chạy theo lá vàng bay chừng muốn quên đi tuổi tác. Hình như những lúc như thế tôi thấy mẹ trẻ ra hơn bất cứ bao giờ!
Bây giờ thì mẹ đã là người xưa. Những vườn trầu đẹp đẽ như thế ở quê tôi cũng không còn mấy nữa. Cũng có thể mười mươi năm nữa thôi, trầu cũng... người xưa nốt. Có còn bao nhiêu người ăn trầu nữa đâu mà trồng với trọt! Nhưng đó là dự cảm, là nỗi buồn của mai sau, còn bây giờ trời vẫn đang thu. Một ngày bất chợt tôi về làng cùng với những ngọn gió phong phanh se se chớm lạnh. Làng tôi bây giờ gần như phố thị, điện đóm đầy trời, quán xá âm nhạc đủ kiểu ầm vang ồn ã làng trên xóm dưới. Nhà đúc nhà xây chen chúc nhau. Những vườn tược của từng nhà hầu như thu hẹp lại chật chội không còn mấy  chỗ cho chim chóc bay về. Và vì thế, mùa thu cũng cô đơn như số phận những nhánh trầu uột èo dần hồi lùi vào cổ tích!
Nhưng ơ kìa, một góc vườn nhỏ nhoi nhà ai loáng thoáng như bóng dáng mẹ tôi đang nhặt trầu rụng. Là cảm giác mơ hồ tưởng ra đấy thôi, biết thế nhưng sao lòng chợt se sắt khi nhìn bà cụ già đang lom khom nhặt trầu vàng dưới gốc sầu đông. Giống cây chim chim làng tôi cũng đã tuyệt chủng từ lâu rồi, chỉ còn lại lẻ loi vài nhánh trầu thưa thớt lá vàng phai buồn tẻ bay trong gió. Có vẻ như bà cụ không nghe thấy những gì xung quanh. Mải mê một cách lặng lẽ âm thầm, dường như thế giới này chỉ còn mỗi cụ và cái cây sầu đông chơ vơ mấy nhánh trầu lưa thưa vàng rụng.
Và rồi cũng như mẹ tôi ngày xưa, đôi lúc bà cụ không đợi trầu vàng rơi xuống mặt đất đã vội hứng bắt lá rơi theo chiều ngọn gió đung đưa, trông cứ như đùa, cứ như muốn bay lên. Có điều, nhìn bà cụ, tôi không có cái cảm giác giống như ngày xưa thấy mẹ mình đẹp ra trẻ ra, mà là hiu hắt, mà là lắt lay giữa gió thu nghiêng ngửa, lưa thưa dăm lá trầu vàng  rơi  như bay vào đậu giữa lãng quên!.
Nguyễn Nhã Tiên
Theo https://giacngo.vn/

Mùa thu lá vàng rơi

Mùa thu lá vàng rơi
Nhận thức sâu sắc về vô thường như là kết quả hiển nhiên của nguyên lý duyên sinh, duyên khởi, chúng ta sẽ không còn bám víu, chấp chặt vào sắc thân, tâm lý và ngoại cảnh
Nói đến mùa thu, người ta nghĩ ngay đến lá vàng. Trên cây là những tán lá vàng rợp. Dưới đất là những thảm lá vàng, trải lấp cả lối đi. Trời dìu dịu, không có nắng chói chang. Gió se lạnh, lùa qua hàng cây bên đường. Tâm và cảnh dường như có sự giao cảm tương ứng nào đó, gợi lên một nỗi buồn man man, vời vợi. Đẹp, mùa thu thật đẹp.
Phân tích chi ly thì cũng khó mà nói được vẻ đẹp của mùa thu nằm ở đâu. Không lẽ chỉ vì lá vàng, lá cam, lá đỏ? Thế thì ở đô thị nhà cửa san sát, xe cộ nườm nượp, lề đường thiếu bóng cây, thì có lá vàng đâu mà mơ mộng, hân thưởng?
Những kẻ nghèo cùng khốn khổ, vật lộn với đời từng phút giây để kiếm sống, không có xuân, hạ, thu đông; chỉ có đói-no, ấm-lạnh.
Những kẻ đêm ngày tranh danh đoạt lợi, mưu cầu hạnh phúc cá nhân, cũng không có lá xanh, lá vàng, lá cam, lá đỏ; chỉ có màu xanh trên những tờ giấy vuông vắn.
Có lẽ mùa thu chỉ có mặt với những người nhàn hạ, thảnh thơi, ở những nơi có lá vàng, hoặc không có lá vàng mà chỉ có thời gian tàn úa, rơi rụng theo bóng hoàng hôn mỗi ngày nơi ấy, những người ấy, có thể cảm nhận được sự đến và đi của mùa thu, thấy được vẻ tàn tạ của cuộc đời trôi trên chính thân xác của mình. Rồi người ta gọi đó là vô thường.
Nhưng vô thường không phải chỉ có nghĩa là tàn tạ, héo úa, tả tơi… của một thân xác, một sự vật. Vô thường là sự thay đổi, bất định của vạn vật, bao gồm cả mặt tâm lý của con người. Sự thay đổi ấy không đi theo một chiều duy nhất từ sinh đến diệt, mà còn từ diệt đến sinh; điều này hợp lý và hiển nhiên để có những cuộc canh tân, cải cách, thay đổi cái xấu thành tốt, ác thành thiện, phàm thành thánh. Vô thường hủy hoại tất cả, nhưng cũng xây dựng nên tất cả.
Vì vậy, nói đến vô thường, không phải là nói điều tiêu cực, yếm thế, mà nói về một nguyên lý, một sự thực về sự tương quan, tương thuộc. Sự thực ấy không ai đặt ra, tạo ra. Nó hiện hữu khắp nơi, trong mọi sự mọi vật, trong tất cả mọi hình tướng, và tâm thức của chúng sinh, của nhân loại. Vô thường qua sự chuyển biến không ngừng mà chúng ta có thể nhìn thấy nơi sự vật hữu hình, và quán chiếu nơi tự tâm xét ra, chỉ là hiện tượng. Bản chất của nó là duyên sinh, duyên khởi. Tất cả mọi sinh khởi hay hủy diệt đều tùy thuộc và tương thuộc những điều kiện nhân duyên khác, không thể có sự sinh khởi hay hủy diệt độc lập. Chính vì vạn vật được sinh khởi bằng sự kết hợp của các nhân duyên, chúng sẽ bị hoại diệt bởi các nhân duyên. Đó là vận hành tất nhiên của vô thường.
Không phải chờ đến khi thấy lá vàng rơi rụng, xác thân già yếu, tài sản trắng tay, thân bại danh liệt… rồi mới thức ngộ vẻ mong manh, biến hoại của cuộc đời. Ngay từ ban đầu khi mới sinh ra, vô thường đã đến trong từng khoảnh khắc, với chúng ta, với cả thế gian này, không chừa một ai, không ngoại lệ một chúng sinh hữu tình hay vô tình nào.
Nhận thức sâu sắc về vô thường như là kết quả hiển nhiên của nguyên lý duyên sinh, duyên khởi, chúng ta sẽ không còn bám víu, chấp chặt vào sắc thân, tâm lý và ngoại cảnh; và dĩ nhiên là sẽ không bất ngờ trước những chuyển biến đổi thay của lòng người, của cuộc đời. Với một tri kiến như thế, có thể được gọi là chánh kiến, là sự thấy biết như thực của người học đạo, hành đạo.
Dù thế nào, những làn gió lạnh chớm thu đã bắt đầu lướt qua các hàng cây, làm rung động và lả tả rơi xuống những lá vàng, lá cam, lá đỏ, như những cánh bướm lao xao đón chào mùa mới. Trong vẻ hiu quạnh tàn úa, chạnh nhớ mùa thu nào nơi vùng tuyết lạnh xa xưa… Dường như vẻ đẹp của đất trời cũng có mặt ngay ở nơi những gì mong manh nhất, nơi đó, đã ươm sẵn những mầm xanh, chuẩn bị cho một mùa hoa rực rỡ của một ngày mai tươi sáng.
Vĩnh Hảo
Theo http://chuaadida.com/

Hà Nội đẹp dịu dàng mùa lá vàng rơi

Hà Nội đẹp dịu dàng mùa lá vàng rơi
Những ngày này, trên khắp các tuyến đường, từng thảm lá vàng rơi phủ rợp dưới chân như tô vẽ thêm vẻ đẹp dịu dàng, lãng đãng cho một Hà Nội cổ kính đậm chất thơ.
Ở đâu đó người ta nói rằng, Hà Nội thật quá được tự nhiên ưu ái khi một năm có tới 2 mùa thu. Một mùa thu chớm lạnh tháng 9, hương ổi phả vào trong gió se, sương chùng chình qua ngõ. Và một mùa thu tháng 4 khi lá vàng rơi ngập tràn trên từng tuyến phố.
Từng thảm lá vàng rụng đầy dưới chân, từng bước đi xào xạc hòa cùng với những cơn gió nàng Bân còn sót lại khiến cho Hà Nội mang một vẻ đẹp lãng đãng và thơ mộng tựa một bức tranh cổ kính, dịu dàng đậm chất thơ.
Thủ đô đang vào mùa cây thay lá mới, như đang gọi mùa thu về thật lâu tràn ngập phố phường.
Nhưng trở lại với thực tại, thu đã qua đi rồi, tháng tư đang dần trôi đi, một mùa hè nữa đang đến. Lượn lờ khắp nào Nguyễn Hữu Huân, Trần Nguyên Hãn, rồi quanh khu Ngô Quyền, Phan Đình Phùng, Trần Phú, Nguyễn Tri Phương,... lá vàng rơi đầy giữa trời nắng dịu nhẹ, pha với làn gió nhẹ nhàng như một thiếu nữ tràn đầy sức xuân tươi mới đang âu yếm cả đất trời.

Một Hà Nội thật đẹp trong mùa cây thay lá
'Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua, xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già', nhưng với đất kinh kỳ cổ kính thời gian này, cái chất xuân, chất thu vẫn cứ tràn ngập khắp ngõ phố làm lòng người lắng dịu mà hòa mình vào không khí và cảm nhận sức sống của cả trời đất.
Này hỡi những tâm hồn thơ đang đi tìm kiếm cái chất tình, người đâu cần phải cố công đi kiếm tìm những điều lãng mạn dung dị ở đâu xa. Ở ngay Hà Nội này thôi, những khung cảnh đầy chất tình thơ cũng đủ để làm xao xuyến lòng ai…
Hà Nội chiều thu cơn gió heo may
Tựa đầu khung cửa khắc khoải đợi chờ
Xào xạc bên hiên ngỡ bước chân em, mùa lá rụng
Hà Nội ơi, thu lại đến rồi sao!.
Vào những ngày này, đi dọc các con đường Phan Đình Phùng, 
Trần Phú, Trần Hưng Đạo..., mọi người dễ dàng bắt gặp 
hình ảnh những thảm lá vàng rụng khắp dưới chân.
Tháng 4, lá cây sấu, xà cừ bắt đầu vào mùa thay lá. 
Lá vàng phủ đầy những vỉa hè, góc phố 
đã trở thành đặc trưng của Hà Nội chớm hè.
Đi giữa thảm lá vàng, cảm nhận tiếng lá bay xào xạc dưới chân, 
âm thanh đường phố vun vút qua tai, tiếng gánh hàng rong mời gọi hòa quyện hòa vào nhau thành những thanh âm của riêng Hà Nội.
Sau cơn mưa, những hàng sấu trên đường Đinh Tiên Hoàng 
càng trút nhiều lá hơn. Những vòm lá còn trên cây xanh mướt
tạo nên sự tương phản thú vị với màu vàng của lá dưới vỉa hè.
Một mùa lá vàng lại về làm 
đậm thêm cái chất thơ của Hà Nội.
Đường Trần Phú với lá phủ rợp thành từng thảm.
Hình ảnh con đường lá vàng rơi 
lãng mạn nào khác gì những bộ phim Hàn.
Một Hà Nội rất thơ trong tiết trời 
dịu dàng sắp vắt nửa mình sang hạ.
Gánh hàng hoa tạo nên vẻ thơ mộng 
cho những con đường phủ lá vàng.
Nơi đây luôn là địa điểm quen thuộc của các bạn trẻ tìm đến 
để chụp ảnh với những khuôn hình vô cùng thơ mộng và lãng mạn.
Lá vàng rụng chỉ kéo dài trong một 
thời gian ngắn rồi lại vội vã đi mau.
Cây sấu gắn bó với tuổi thơ của nhiều người, mùa lá sấu 
rụng cũng đem lại nhiều ký ức đẹp, lãng đãng đối với người Hà Nội.






Ánh Ngọc 
Nguồn: Baodatviet.vn
Theo http://hanoi.tintuc.vn/


Tư tưởng và nghệ thuật trong Gió thu của Tản Đà

Tư tưởng và nghệ thuật 
trong Gió thu của Tản Đà
Trong phạm vi bài viết ngắn này, tôi xin phép hạn chế không đề cập tới Nhà Văn, Nhà Báo, Nhà Lý Số, Nhà Soạn Tuồng... Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.
Tôi chỉ nói sơ lược về Tản Đà trong tư cách một người: Người Làm Thơ đã có chỗ đứng riêng biệt và vững vàng ở đầu thế kỷ XX. Giai đoạn này là sự chuyển mình lớn của văn học Việt Nam, tiếp nhận ào ạt các luồng ánh sáng văn hóa, luận lý phương Tây sau khi đã tinh lọc các hương sắc của văn hóa, triết học Trung Hoa và một phần nhỏ từ Ấn Độ qua tư duy Phật Giáo.
Tuy bộ máy cầm quyền của bọn thực dân Pháp hết sức cấm đoán lưu hành một số sách báo có tư tưởng tiến bộ và cố gắng duy trì hệ thống kiểm duyệt gắt gao, song chúng không thành công bao nhiêu vì các cơn gió tư tưởng khoáng đạt, nhân bản,... này du nhập và thẩm thấu vào nước ta từ nhiều hướng khác nhau, bằng mọi phương tiện khác nhau; gây thành một trào lưu mạnh mẽ và có tác động trực tiếp vào thế hệ của Tàn Đà.
Tản Đà là một trong lớp người "nửa cũ, nửa mới" làm việc chữ nghĩa - theo Nguyễn Tuân - như Tú Xương, Phan Khôi, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Huỳnh Thúc Kháng... Hay đứng hơn là Cũ nhiều hơn Mới. Cũ đây so với cái mới của thế hệ kế cận như Tự Lực Văn Đoàn; thực ra ông có những suy nghĩ, cảm xúc khá mới sánh với các tiền bối khác như Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh... chẳng hạn.
Nguyễn tiên sinh sinh năm 1888 tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, con của Án Sát Nguyễn Danh Kế. Nguyễn Khắc Hiếu lấy tên núi Tản Viên (hay Ba Vì) và sông Đà (còn gọi là Hắc Giang) ghép lại thành bút hiệu. Vì ông thuộc gia đình khoa bảng, quan lại nên được tập ấm trường Hậu Bổ. Ông từng là "sĩ tử lôi thôi lều chỏng" và khi giấc mộng tiến thân bằng thi cử theo khuôn sáo "Không Mạnh viết" vừa tàn thì ông quay sang học quốc ngữ tại trường Tân Quy phố Gia Ngư Hà Nội.
Ngay trong những năm học "chữ nước ta" Tản Đà đã làm thơ, viết báo và tự học Pháp ngữ bằng tự điển của Trương Vĩnh Ký. Đây là một bài thơ mang dấu vết của thời chuyển hóa ấy:
Mười mấy năm xưa ngọn bút lông
Xác xơ chẳng bợn chút hơi đồng
Bây giờ anh đổi lông ra sắt
Cách kiếm ăn đời có nhọn không?
Chúng ta có thể bảo Nguyễn Văn Vĩnh (qua các bài dịch thơ ngụ ngôn của La Fontaine), Phan Khôi, Tản Đà... là những kẻ tiên phong dựng các tiêu hướng cho phong trào Thơ Mới. Rồi từ đấy xuất hiên một loạt các ngôi sao rực rỡ, những chiến tướng lừng lẫy là Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương, Xuân Diệu... Sở dĩ tôi chỉ bảo Tản Đà là người cắm cọc nhận đường, phác lối chứ không phải là người xây nền móng thi ca vì nền móng của thơ Việt Nam đã hiển hiện hàng nghìn năm qua, đã nhật tân, hựu nhật tân; mỗi năm lại tái bồi và mở rộng.
Xét về hình thức, thể loại, bất cứ giai đoạn văn học sử nào cũng có những nhà thơ có thiên khiếu đầy tài năng đã cải cách hoặc đã phá vỡ các sợi trói buộc từ ngữ, hạn định sự thăng hoa, bay bổng của ngôn từ. Họ không muốn chấp nhận cái khung bảo thủ của tiền nhân một cách thiếu sáng suốt, cứng nhắc nữa mà vươn lên, trổi dậy từ đầu bút, từ trang giấy tức là từ nghĩ ngợi, từ rung cảm của mình.
Tản Đà đã than thở trong Thơ Mới theo thể loại Trường Đoản Cú như sau:
Đờn là đờn
Thơ là thơ
Thơ thời có chữ, đờn có tơ
Nếu không phá cách vứt điệu luật
Khó cho thên hạ đến bao giờ?
Bá Nha xa
Lý Bạch Khuất
Thơ có họ Phan, đờn có họ Quách
Thơ có chữ
Đờn có tơ
Đờn thời ngơ ngẩn, thơ vẩn vơ
Tài từ văn nhân nhường rứa rứa
Bút huê ngao ngán hận đề thơ
Chúng ta thấy Tản Đà làm rất nhiều thể loại, có những táo bạo bất ngờ làm ta kinh ngạc và thán phục và đều có những thành tựu ngang nhau, không có thể loại nào vượt trội hẳn.
Xin tạm đưa ra một thí dụ được trích trong bài Thăm Mả Cũ Bên Đường để chứng minh thi tài Tản Đà có lúc ngẫu hứng xuất thần phá tan bức tường rêu phong của niêm luật cấm kỵ cổ điển:
Tài cao phận thấp chí khí uất
Giang hồ mê chơi quên quê hương
Chúng ta nhận thấy câu thơ trên chỉ có hai từ bình thanh và có tới năm từ trắc. Câu sau là toàn thượng bình và hạ bình thanh. Hai câu này chủ ý dùng âm thanh để diễn cảm hoàn cảnh, tâm tư. Các cụ vẫn dặn người làm thơ nên tránh khổ độc, tức là có ba chữ cùng dấu liền nhau và không đặt nhiều từ trắc cạnh nhau cho khỏi mất nhạc, làm người đọc khó đọc, khó ngâm.
Song phận thấp chí khí uất đã được cứu khỏi sự ngắc ngứ, khấp khểnh vì hai từ tài cao, nhất là hạ bình tài trên đầu câu thơ; đồng thời câu sau cũng hỗ trợ cho việc làm cân bằng về kỹ thuật và nội dung do các từ bình thanh.
Nhìn chung, thơ TảnĐà rất chú trọng tới nhạc tính và dùng vần chính thống nên lượn sóng từ ngữ nhịp nhàng, mềm mại. Ông viết khá nhiều bài theo thể hát nói, ca sẩm, ca lý, từ khúc... Vài bài đã được phổ tân nhạc.
Sau này Xuân Diệu cũng viết:....
Sương nương theo trăng ngừng lưng trời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi... 

(Nhị Hồ)
Tôi mạo muội ghi ra những nhân tố nào hình thành, tạo nên một phong cách Tản  Đà:
a- Do truyền thống gia hệ, do nòi tình thừa kế của cha mẹ (bà Phủ Ba thân mẫu Nguyễn Khắc Hiếu xuất thân từ Bình Khang).
b- Do cá tính, tức là có lý tưởng dân tộc, có ý chí kiên quyết, ham học hỏi, thích quảng giao, có óc thông minh...
c- Do môi trường thuận lợi là cái nôi văn học thời ấy: Hà Nội.
d- Do sống trong "giai đoạn quá độ", được tiếp thu hai nền văn hóa Đông Tây.
e- Do bất đắc chí trong khoa cử triều Nguyễn.
g- Do thất tình với cô Đỗ Thị bán sách phố hàng Bồ.
Suốt đời Tản Đà sống thanh bạch nhưng không quá nghèo khổ vì luôn luôn có các vị Mạnh Thường Quân mến tài giúp đỡ. Ông khoan hòa, ưa thanh tĩnh, thẳng thắn, hay kết bạn dù là bạn vong niên, tận tình giúp đỡ mọi người... có hai mẫu chuyện được lưu truyền về Tản Đà như sau:
1- Tản Đà mua một bộ bàn ghế về; để lại có hai ghế, còn hai chiếc kia đem vất đi vì cho rằng đời mấy ai tri âm, tri kỷ; nên chỉ dành một cho khách và một cho mình mà thôi.
2- Một vị chủ báo ở Nam Kỳ biếu Tản Đà một nghìn đồng làm lộ phí. Trên tầu hỏa ông đem phân phát gần hết cho các người nghèo. Chúng ta nên biết giá trị một đồng bạc thời đó rất lớn.
Tóm lại chúng ta nên kết luận Tản Đà là một nghệ sĩ và vì là một nghệ sĩ đích thực nên đôi lúc ông tỏ ra ngông nghênh, bất cần đời và chán nản cuộc đời.
Trong sự nghiệp thơ của Tản Đà tôi thích đến thuộc lòng những bài sau đây: Vịnh Bức Dư Đồ Rách, Thúy Kiều Hầu Rượu Hồ Tôn Hiến, Thề Non Nước, Cảm Thu, Tiễn Thu, Tống Biệt, Thăm Mả Cũ Bên Đường và Gió Thu.
Bài Gió Thu là bài thơ gồm hai đoạn tứ tuyệt, mỗi đoạn ba vần rất đúng niêm luật, có hơi thơ dịu dàng, đĩnh đạc và đơn giản:
Trận gió thu phong rụng lá vàng
Lá rơi hàng xóm lá bay sang
Vàng bay mấy lá năm già nửa
Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng
Trận gió thu phong rụng lá hồng
Lá bay tường bắc lá sang đông
Hồng bay mấy lá năm già nửa
Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng trông
Trước hết chúng ta phải hiểu phong là loại cây giống như cây bàng, có người bảo đó là cây bàng. Phong như:
Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm
(Hạt sương như ngọc, rừng cây phong héo hắt buồn bã)
Thu Hứng bài I của Đỗ Phủ
như:
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
(Cây phong bên sông và ánh lửa chài đối giấc ngủ sầu)
Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế
và:
Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san

Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du

(Vũ Hoàng Chương đã lấy từ đầu của câu tám đặt tên cho tập thơ Rừng Phong)
Cây ngô đồng, cây phong, cây hoa cúc, cây liễu... là loại thực vật chủ yếu làm bối cảnh trong cảm hứng sáng tác cho các thi sĩ đời Đường, Tống; rồi trở thành ước lệ cho nhiều nhà thơ cổ điển và cận đại của nước ta khi viết về mùa thu.
Đáng lẽ hai câu của hai đoạn thơ tứ tuyệt phải có dấu phẩy sau gió thu, song làm như vậy nhịp câu thơ sẽ bị ngắt làm ảnh hưởng đến sự diễn tả nhẹ nhàng liên tục của gió thu.
Bài thơ mang mang buồn rầu, chứa chan hoài vọng và xen lẫn sự trách móc kín đáo. Gió thu gỡ lá phong từ sân bên nhà hàng xóm dìu sang sân nhà. Màu vàng của lá phong như lá ngô đồng báo trời đã sang thu mà người thiếu phụ ấy sớm quên lời thề ước xưa với tình nhân chắc đã đi lấy chồng. Lại một trận gió thu nữa mà khoảng cách thời gian so với trận gió trước có thể từ một, hai tháng vì bây giờ lá phong của trời vào thu vàng úa nay đã thẫm hồng sắp rụng. Lá phong lần này từ hướng khác, căn cứ theo đoạn thơ trên thì nhà người hàng xóm ở phía tây hoặc phía nam của người viết hoặc của nhân vật trong thơ, từ phương bắc bay qua phía đông mà không bay lạc vào sân nhà mình nữa trong lúc trời chuyển sang mùa đông. Hai đoạn thơ khác nhau cả về thời gian lẫn không gian, đoạn thơ trên xác định hơn. Bây giờ "trời cuối thu rồi" tức là đã hết "mùa cưới" mà ai vẫn đứng trông tức là đứng không, đứng trơ vơ giữa đất trời, sống cô đơn giữa cuộc đời. Đại từ ai trỏ nghiêng về giới phụ nữ thì đúng hơn. Như thơ Xuân Diệu trong Mùa Thu Tới:
Dăm cô thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì?
Tản Đà hạ từ vẫn khiến chúng ta phải hiểu là người đàn bà, cô gái ấy đứng chờ đã lâu lắm rồi mà người tình đã ra đi, chưa hay không trở lại nối lại duyên xưa, thực hiện câu hứa hẹn năm nào. Chàng đã đi "theo lời gió nước" hay chính chàng đã phụ phàng?
Chúng ta nhận thấy tác giả dùng từ trận (trận gió) làm chúng ta liên tưởng tới những hồi, những đợt liên tiếp đang thổi trên thiên nhiên cảnh vật, thổi vào lòng đôi lứa đang hờn giận, yêu thương, xa cách... và thổi vào tâm hồn nhân ái, mong chưa xẻ từng hồi, từng trận không dứt, từ từ, thanh thoáng của tác giả.
Gió thu trong bài này khác với gió thu trong bài Cảm Thu, Tiễn Thu:
Vèo trông lá rụng đầy sân
Công danh phù thế có ngần ấy thôi
Trong Gió Thu Tản Đà dùng 26 từ trắc trong tổng cộng 56 từ của bài thơ, tức là thanh bình tương đối nhiều hơn thanh trắc. Tôi cố hết sức thử tìm để có thể đổi được thêm từ trắc nào sang từ bình thanh không mà đành chịu! Tác giả đã chọn lựa kỹ càng, tiết kiệm tối đa từ trắc để diễn tả sự im nhẹ của khung cảnh dù không có một từ nào gợi đến âm thanh, song bởi sự tĩnh lặng đó mới có thể gây cho độc giả các ý tưởng về âm thanh. Bài thơ không gợi đến cảm giác trực tiếp mà tất cả chỉ bao gồm hình ảnh và tình cảm rất chủ quan và cũng rất khách thể. Tác giả, nhân vật, cảnh vật và tình cảm quấn quyện vào nhau như một nỗi niềm thống nhất.
Song từ bắc làm cho chúng ta nghĩ ngay đến cơn gió bấc sắp thổi đến cùng với mưa phùn xứ bắc se se ấm lạnh.
Nhưng có thực bài Gió Thu hoàn toàn chỉ là một bài thơ lãng mạn, chỉ là một sản phẩm của tình yêu nam nữ chăng? Tôi xin thử tìm hiều thêm ý nghĩa ẩn dụ của bài thơ với thái độ nghiêm chỉnh chứ không phải "vẽ rắn thêm chân".
Trước hết chúng ta thử giải thích các danh từ và các đại từ thiếp, chàng, lá, ai, hàng xóm, bắc và đông thì chúng ta mới hy vọng hiểu được tâm sự của tác giả đối với đất nước.
Hàng xóm là đồng chí, là "'đồng hội đồng thuyền" mà cũng có thể là hai nước Miên, Lào cùng bị thực dân Pháp cai trị dưới chiêu bài khai hóa. Thiếp là dân tộc Việt Nam đang sống trong cảnh nô lệ. Chàng là tổ quốc Việt Nam. Ai là định mệnh, là vận hội. Bắc là Trung Hoa. Đông là nước Nhật Bản. Lá là những Kẻ Sĩ, những người làm cách mệnh hay là các nhân tài. Như:
Hào kiệt như sao buổi sớm, nhân tài như lá mùa thu
(Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi)
Vậy bài Gió Thu chúng ta có thể hiểu thêm một ý nghĩa khác đại khái như sau:
Trong thời kỳ bị Pháp đô hộ, có những phong trào hay có những cá nhân đứng dậy khởi nghĩa, hoạt động quang phục đất nước đã bị hy sinh (rụng) hay rốn lánh lén lút (sang) để tránh sự truy tầm của Pháp. Nhưng lại có nhiều kẻ bán nước cầu vinh như Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thân, Tôn Thọ Tường... cam tâm làm tay sai cho giặc và cũng như bao nhiêu kẻ khác quên cái nhục mất nước (phụ). Chủ nghĩa cơ hội này của Tôn Thọ Tường đã bị Phan Văn Trị bác bỏ, đập nát qua lời biện bạch, trần tình bằng thơ của Tường, ví dụ bài Tôn Phu Nhân Quy Thục.
Trước khi Pháp chiếm nước ta sĩ phu Việt Nam coi nước Trung Hoa là chúa tể, là cái rốn của nhân loại, tất nhiên trừ một vài người sáng suốt như Nguyễn Trường Tộ. Vì thế nhiều thanh thiếu niên bỏ nước sang Tàu mưu cầu phục quốc như một số vua quan ngày trước. Nhưng rồi chính nước Tàu cũng bất lực, cũng bị xâu xé, khinh miệt nên các vị tiền bối cách mạng ấy lại quay sang đất nước của Minh Trị Thiên Hoàng để tìm sự trợ giúp của "dân tộc da vàng tiên tiến và anh dũng". Đó là phong trào Đông Du với Đông Kinh Nghĩa Thục đáp ứng sự nồng nhiệt ấy.
(Theo Nguyễn Mạnh Bổng và nhiều tác giả khác, Tản Đà có liên hệ công khai và bí mật và đã "dấn thân" vào cao trào yêu nước bằng hình thức này hay hình thức khác).
Vậy ai cũng là dân tộc Việt Nam trong giai đoạn bị trị, chưa đủ sức đánh đuổi Phú Lang Sa nên có mặc cảm phụ phàng và cũng đang ngóng trông các người ở hải ngoại sớm về giải phóng quê hương, tổ quốc; vẫn thơ thẩn mong mỏi các cánh hồng tuyệt vời bay về chốn cũ, làm nên lịch sử hào hùng như cha ông thuở trước. (Đại loại như tuyệt đại đa số đồng bào ở nước ngoài hiện nay đang thơ thẩn ngẩn ngơ, tiêu cực, bàng quan, đứng trông chế độ Cộng Sản hành hạ đồng bào quốc nội và đứng trông các chiến sĩ tự do tiên phong cứu nước).
Trở lại phần kỹ thuật bài thơ ngắn này, chúng ta nhận thấy tác giả chọn vần rất khéo. Vần cuối của đoạn trên có dấu huyền (chàng) – Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng – như một tiếng thở dài sầu thảm. Vần cuối của đoạn dưới không có dấu huyền (trông) –  Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng trông –, âm sắc được nâng cao, khiến câu thơ dàn trải, ngân nga, vang xa hơn... Và từ già (Vàng bay mấy lá năm già nửa/ Hồng bay mấy lá năm già nửa) cũng đắc địa lắm, nó xui ta hiểu nghĩa tuổi tác già nua của con người và nghĩa dằng dặc già cỗi của thời gian chờ đợi.
Bài thơ Gió Thu còn có một đặc điểm nữa. Đó là hình ảnh chuyển động của chiếc lá rơi xuống đất. Mỗi đoạn có bốn danh từ lá. Trong câu thứ nhất lá đứng thứ sáu. Trong câu thứ hai lá xếp thứ nhất và thứ năm. Và câu thứ ba lá đứng thứ tư. Bây giờ chúng ta nồi liền và vòng các từ lá từ câu thơ thứ nhất đến câu thơ thứ ba của mỗi đoạn. Chúng ta sẽ thấy gì? Phải chăng chúng ta được một chữ tương tự như chữ S, chữ Chi của Hán tự, đó là hình ảnh chuyển động của chiếc lá từ trên cao rơi xuống.
Theo chỗ tôi biết, trong kho tàng văn chương của chúng ta không có một dụng tâm tương tự.
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã không thực hiện được giấc mộng con là đỗ đạt, lấy được người mình yêu, là đời sống phong lưu..., nhưng ông lại thành công khi đạt được giấc mộng lớn là sự nghiệp văn chương và trong tư cách trong sáng, khá mẫu mực vì suốt đời Tản Đà phụng sự lẽ phải, phụng sự Chân Thiện Mỹ và phụng sự dân tộc Việt Nam.
Tiên sinh mất đến nay đã hơn ba phần tư thế kỷ (ngày 17 tháng 6 năm 1929 tại Ngã Tư Sở Hà Nội) nhưng Tiếng Thơ Văn của Tản Đà vẫn lồng lộng, hùng vĩ như núi Tản Viên; vẫn bát ngát, cuồn cuộn như mặt sông Đà. Bút hiệu của ông xứng đáng và vinh danh núi Tản sông Đà quê hương.
Phần lớn thơ văn của Tản Đà trụ lại với thời gian, vẫn còn phù hợp với cảm quan của chúng ta ngày nay và tôi tin rằng nhiều thế hệ sau vẫn yêu thích thơ văn Tản Đà.
Tìm hiểu toàn diện cuộc đời Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu không phải một hai người có thể làm được một cách nghiêm chỉnh, đầy đủ; phân tích về thơ Tản Đà cũng không thể đơn thân vì sẽ rơi vào sơ lược, lệch lạc, thiếu sót... bởi vì tính chất thơ Tản Đà rất phong phú, sâu sắc và cao cả.
Tội viết bài đọc ngắn này quanh bài Gió Thu, coi như một nén hương tưởng niệm một nhà thơ lớn của dân tộc, thân yêu và đáng kính nhớ mãi là Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.
Hà Trung Yên
Theo http://www.caidinh.com/

  Cao Bá Quát - Xuất khẩu thành thơ để phê bình thơ Cao Bá Quát được mệnh danh là Thần đồng Thơ. Ông tài chữ, tài thơ, nên người đời tôn v...