Nhà văn Đoàn Thạch Biền viết: Tại Đại
hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh khóa IV (2001-2005), nhà văn Nguyễn Quang
Sáng đã rút tên khỏi danh sách đề cử. Ông làm Tổng Thư ký của hội từ năm 1981
đến nay đã 20 năm và ông xin từ chức ở tuổi 69. Sau lễ bế mạc Đại hội, một số
bạn mời ông đi nhậu. Ông cười khà khà: “Làm công chức tới tuổi phải về hưu,
nhưng làm nhà văn thì chính hắn cho hắn nghỉ hưu, chứ không ai có thể cho hắn
nghỉ hưu được. Dù còn trẻ nếu hắn không viết được nữa, hắn đã nghỉ hưu. Tôi
không có ý niệm về hưu vì còn nhiều chuyện để viết. Tất cả nằm ở đây nè”. Ông
gõ vào cái trán rộng và cao của mình.
Trong bữa nhậu, mọi người thường gọi
ông là “anh Năm” cho thân mật. Còn ông chỉ “mày, tao” vui vẻ. Như nhân vật Tấn
trong truyện Người bạn lính: “Nhiều lúc thèm chửi thề hơn thèm hút
thuốc”. Trong các bữa nhậu ông đã giải tỏa được “cơn thèm”. Người chưa biết
tính ông dễ bị dị ứng chuyện này. Ông cười biện hộ: “Nhà văn Nga Ehrenburg có
viết, người nói tục biểu lộ một tinh thần khỏe mạnh”. Ông không những khỏe mạnh
về tinh thần mà còn khỏe mạnh về thể xác. Nhiều người ở tuổi ông phải nhuộm
tóc đen để được ‘trẻ hóa”. Còn ông vuốt ngược mái tóc bạc về sau và nói:
“Quan trọng là sức khỏe và suy nghĩ có “bạc” hay không, chứ mái tóc nhằm nhò
gì”.
Nhiều người nhậu để tìm quên, còn với
ông nhậu là nhớ. Ông nhớ lại chuyện xưa kể cho các bạn trẻ nghe và nhớ những
điều các bạn trẻ tâm sự, để khi viết về giới trẻ hiện nay ông không bị lạc hậu.
Ông có một trí nhớ rất tốt. Chẳng bao giờ thấy ông rút sổ tay ra ghi chép. Vậy
mà khi kể lại, viết lại ông chẳng quên điều gì. Hỏi bí quyết, ông nói: “Hãy
nhớ những chi tiết “đắt” và quên đi những chi tiết thừa. Trong truyện ngắn nếu
không có chi tiết đắt sẽ không thành truyện. Đấy là những hạt bụi vàng làm
nên Bông hồng vàng của Pauxtôpxki”. Đọc và xem những tác phẩm của
ông, ít ai quên được những chi tiết rất “đắt”: Đứa bé bị bỏ vào bịch ni lông
và dìm xuống nước tránh máy bay Mỹ (Cánh đồng hoang). Con gà trống
bị may cổ để không thể ngẩng đầu lên gáy (Con gà trống). Đứa bé đeo
vòng kiềng bằng sắt ở chân (Con ma da)…
Văn là người. Điều đó đúng một phần
nào đối với ông. Văn ông ngắn gọn, chắc nịch và không hoa mỹ như con người
ông. Ông không thích viết dài dòng và nói dài dòng. Các nhân vật một phần nào
cũng mang cá tính và suy nghĩ của ông.
(Báo Người Lao động, 17-6-2001)
Tháng 2 năm 1978, Nguyễn Quang Sáng
ra Huế chơi với Trịnh Công Sơn, qua Sơn ông quen thêm vài người bạn: họa sĩ
Đinh Cường, họa sĩ Tôn Thất Văn, Bửu Chỉ, Bửu Ý, Đinh Giang, Lữ Quỳnh vừa là
bạn thân vừa là bạn rượu, bạn nghệ thuật của nhau. Năm ấy nghèo, toàn rượu… đế.
Vào Sài Gòn vài năm sau, bạn Huế nghe tin bà bán rượu thường bán cho cánh Sơn
nhậu bị bắt vì bỏ thuốc trừ sâu vào rượu để rượu trắng tinh, dễ gây ngộ độc.
Sơn hết hồn. Sơn không có rượu như xe không có xăng dầu, không nổ máy được,
nói năng lập dập, có rượu vào thì lưu loát, duyên dáng, lời lẽ sâu sắc uyên
thâm nữa. Không chỉ viết ca khúc, Sơn viết báo cũng nhanh. Phóng viên đến đặt
báo, phóng viên cứ ngồi đó, Sơn đặt giấy lên bàn, rót một ly rượu vừa nhâm
nhi vừa viết, viết một mạch.
Từ ngày vào Sài Gòn, hầu như buổi
trưa nào, có khi cả chiều và tối, Sơn và bạn bè thường lai rai dưới gốc hai
cây mận nhà Nguyễn Quang Sáng, vừa yên, vừa thoáng và mát. Bạn bè gồm có:
Sơn, nhà thơ Nguyễn Duy, nhạc sĩ Hoàng Hiệp, nhạc sĩ Trần Long Ẩn, họa sĩ
Nguyễn Trọng Khôi. Thỉnh thoảng có họa sĩ Đinh Cường, Trịnh Cung, nhà văn Sâm
Thương và một số bạn văn họa sĩ vãng lai. Nguyễn Trọng Khôi là họa sĩ nhưng
hát rất hay. Khi nào Sơn mệt thì anh hát thay, hát nhạc của Sơn, trước mặt
Sơn mà không ngán. Những sáng tác mới, nhạc hay thơ chưa xuất bản, chưa đưa
ra công chúng thì được trình diễn dưới gốc cây mận. Anh em nói chuyện nghệ
thuật, chuyện đời, chuyện tào lao qua ly rượu, họ mỗi ngày mỗi phát hiện những
điều sâu kín của nhau. Dưới gốc mận là một câu lạc bộ không có tổ chức, nhưng
là một câu lạc bộ đúng nghĩa. Những người đồng điệu tìm đến nhau, trao đổi,
chia sẻ, không có sự ràng buộc nào. Mùa xuân, bông rụng trắng sân, trên bàn,
thỉnh thoảng hoa lại rơi xuống trang điểm cho bàn nhậu, trái mận cũng thỉnh
thoảng rơi xuống bàn cái bộp cho thêm chất tươi.
Nhà văn Trần Nhã Thụy nói cụ thể
hơn chuyện dưới tán cây mận này. Nằm dưới “mặt đất’, cách chung cư 190 Nam Kỳ
Khởi Nghĩa, nơi cư ngụ nhiều anh chị em nghệ sĩ ở Thành phố, là ngôi nhà của
nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Một ngôi nhà không có gì đặc biệt nhưng lại có một
góc sân với cây mận thật đẹp. Dưới gốc mận đó, nhà văn Nguyễn Quang Sáng hay
mắc võng nằm đong đưa. Cũng dưới gốc cây mận đó thường vang lên tiếng máy
đánh chữ gõ lốc cốc. Và cũng ở chỗ này, ông làm nơi “thù tạc” với “chiến hữu”
của mình. Trước đây, văn nghệ sĩ thành phố Hồ Chí Minh hình thành tự phát một
“nhóm nhậu chiều thứ sáu”.

Mỗi người tự nguyện “đăng cai” một bữa, cứ thế
giáp vòng. Tất cả những bữa cụng ly đều diễn ra ở quán xá, riêng tới lượt
Nguyễn Quang Sáng là ông kéo về nhà mình. Cũng dưới gốc cây mận đó. Có người
kêu: “Ông này khôn dễ sợ”. Nhưng cũng có người nghĩ, ông Sáng “kết” cái gốc
đó quá rồi, nên đến phiên ông là ông “định đoạt” luôn. Để rồi sau cơn ngà ngà
hơi men, ông lại mắc võng đong đưa một mình. Hoặc có thể sau đó vang lên tiếng
lốc cốc máy đánh chữ. Lại những trang văn sắp sửa ra đời. Tôi đã từng ngồi ở
cái gốc ấy và tôi nghĩ rất có thể cây và người đã thở vào nhau, hơi thở của sự
bí ẩn và kỳ lạ. Kỳ lạ cũng là điều mà con người tạo ra ở nơi chốn của mình.
Trở lại Trịnh Công Sơn. Nguyễn
Quang Sáng thường nói trong mâm rượu: Sơn có mấy đặc điểm: sáng tác nhiều,
hát nhiều, uống nhiều, hút nhiều, bạn nhiều, bạn khắp nơi, bạn gái cũng nhiều,
xài tiền nhiều, ăn thì… ít.
Về rượu, Sơn thay đổi theo từng
giai đoạn, bỏ rượu đế, Sơn và nhóm bạn chuyển sang Vodka Nga, Vodka Ba Lan, nối
tiếp Vodka và Ararat của Armenia. Thị trường hết Ararat thì chuyển sang
Whisky, những năm cuối cùng thì Chivas… đổi rượu theo mức sống của mỗi người
và xã hội. Có một dạo Sơn bị gan, phải kiêng rượu nhưng Sơn không thể nào
kiêng được, Sơn chuyển sang rượu vang cũng được một lúc. Có một người nói, hễ
nói Sơn chết thì Sơn sống vì tưởng là chết thì Sơn kiêng rượu, sức khỏe được
phục hồi. Nói Sơn sống là Sơn khỏe và lại rượu, rượu thì lại ốm, cứ xà quần
như vậy. Trịnh Công Sơn, một tâm hồn lớn trong một cơ thể gầy gò. Bệnh thì phải
uống thuốc, Sơn cũng uống thuốc nhưng uống chẳng giống ai. Uống thuốc tây thì
phải kiêng rượu. Theo liều lượng của bác sĩ cho, thứ này một viên, thứ này
hai viên, Sơn uống gấp đôi. Sơn lập luận: “Một phần cho bệnh, một phần cho rượu!”.
Cứ như thế cho đến “Một cõi đi về”.
Tác giả kịch bản phim truyện Cánh
đồng hoang (chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên), sống ở thành phố Hồ Chí
Minh. 35 năm nay, bàn nhậu dưới hai gốc mận ở sân nhà ông không bao giờ thiếu
vắng bạn văn nghệ đến lai rai, có khi cả ngày đêm, đã lôi cuốn cả các bạn trẻ
như nhạc sĩ Từ Huy, nhạc sĩ Bảo Phúc và nhiều nhà văn trẻ khác. Không phải họ
muốn dựa dẫm ông vì ông không còn “quyền” hay trước đây có “quyền”, mà họ tìm
thấy sự đồng cảm của một nhà văn đi trước với những người đi sau. Đâu phải
nhà văn lớn tuổi nào cũng có được niềm vui đó. Sau những bữa nhậu như vậy,
ông buông một câu gọn lỏn: “Đã”. Còn các bạn trẻ thì dài dòng hơn: “Nhậu với
anh Năm vui ghê!” - Đoàn Thạch Biền, báo Người Lao động, 17-6-2001.
Trong thành phố nhiều hàng quán
nhưng Nguyễn Quang Sáng chỉ uống vài nơi quen như quán 6A Trần Cao Vân, quận
I, ông thuộc từng mặt khách quen hay đến đây. Ông nói: “Quán đó không sang
cũng chẳng hèn, không xô bồ mà cũng không quá nghiêm túc. Nó vừa vặn với
tôi”. Một người bạn nhận xét: “Nhậu như Nguyễn Quang Sáng là nhậu ra công ra
việc. Trên bàn nhậu, biết bao công việc được nói, biết bao câu chuyện được kể,
và từ đó nó hình thành nên những kế hoạch và công việc tiếp sau”. Nguyễn
Quang Sáng uống rượu không bao giờ say. Ông luôn biết được điểm dừng của
mình. Trong mâm rượu, bạn bè thường nhắc đến truyện ngắn Quán rượu người
câm của Nguyễn Quang Sáng viết trong kháng chiến. Trong truyện, ông viết:
“Rượu đế thì thứ rượu ở kinh Ông Kho, ngon nhất tỉnh Long Châu Sa. Rượu trong
veo, sủi bọt, trong xanh, cay mà ngọt, uống say lúc nào chẳng biết; lúc say
người như lịm đi. Rượu cất bằng mía, màu rượu như trái hồng quân, không ngon,
uống mau say”.
Báo Người Lao động số ra
ngày 30-4-2003, Nguyễn Quang Sáng kể:
Chiều 23-4-2003, nhà thơ Nguyễn Duy
khập khiễng đến chơi với tôi. Nguyễn Duy đi khập khiễng vì bị tai nạn giao
thông, bạn bè trong giới và bạn đọc của anh đều biết.
Hai chúng tôi vẫn ngồi dưới gốc hai
cây mận, cũng như bao nhiêu năm trước, bạn bè cùng ngồi với nhau. Nhưng những
lần sau này thì có khác, vắng Trịnh Công Sơn, nhưng Sơn vẫn còn đó. Pho tượng
Trịnh Công Sơn - pho tượng bằng đồng với vầng trán thông minh, đôi kính cận đặt
trên cái bàn giữa hai gốc cây mận, như Sơn đang ngồi đó với chúng tôi, tác giả
của pho tượng là nhà điêu khắc Ngô Xuân Lai - là “tài sản” của nhạc sĩ Từ
Huy. Nhạc sĩ Từ Huy mang pho tượng này đến nhà tôi nói: “Anh Năm, anh cho em
gởi pho tượng ở nhà anh, vì trước đây, anh Sơn và anh em thường ngồi dưới hai
gốc cây mận này. Em gởi pho tượng anh Sơn ở đây, để anh em đến thăm anh Sơn
và chơi với anh”. Mỗi lần ngồi với nhau, lần nào chúng tôi cũng rót cho Sơn một
ly, đúng liều lượng như lúc Sơn vẫn còn ngồi với bạn bè.
Chiều nay, cùng tôi ngồi bên pho tượng
của Sơn, Nguyễn Duy bồi hồi nhớ lại bao nhiêu kỷ niệm với Sơn. Nguyễn Duy nhắc,
cái phòng nhỏ trong ngôi nhà tập thể của tôi, trước ngày anh Sáu (Võ Văn Kiệt)
ra Hà Nội nhận nhiệm vụ mới, anh Sáu, Trịnh Công Sơn, Nguyễn Duy, Trần Long Ẩn
và tôi có một buổi cơm chia tay (Trần Long Ẩn chạy ngược đường, bị công an thổi
còi). Trong buổi vui đó, Nguyễn Duy đòi hát, Trịnh Công Sơn cản: “Ông đọc thơ
thôi chớ!”. Nguyễn Duy cự lại. Cuối cùng, Nguyễn Duy cũng hát, hát lời hai, lời
ba theo dòng thời sự mà chúng tôi chưa từng nghe, vừa nghịch vừa duyên, không
ai nín cười được… Trịnh Công Sơn quá thích.
Nguyễn Quang Sáng nhớ: Mùa nước lũ
năm ngoái (2002), tôi về Đồng Tháp. Các đồng chí lãnh đạo Bưu điện Đồng Tháp
đưa tôi vào vùng sâu trên chiếc “hô bo”. “Hô bo” chạy với tốc độ trên 50 cây
số/giờ. Chiếc “hô bo” chạy trên cánh đồng nước mênh mông. Nơi nào có xóm nhà,
rặng cây thì đó là con kênh, nơi nào không có hai hàng cây, thì đó là đồng
lúa, đồng cỏ. “Hô bo” như chạy trên biển sóng nước dập dềnh.
Chiều, trở về trụ sở Bưu điện Đồng
Tháp, tôi nghe các anh nói có mời anh Tư Hữu đến dự buổi cơm, trước khi tôi về
thành phố - anh đang ngồi ở phòng khách. Anh Tư Hữu nguyên là Bí thư Tỉnh ủy
Đồng Tháp. Tôi vội vàng chạy đến anh. Hơn hai mươi năm mới gặp lại anh, và
anh đã xấp xỉ tuổi tám mươi. Tuổi già, anh có thể quên tôi. Tôi ghét những
người trẻ mỗi lần gặp người già thì hay đố: “Đố chú cháu tên gì?”. Sao lại đố
trí nhớ của người già mà không gợi cho chú bác nhớ mình là ai!
Vì lẽ đó, khi tôi đứng trước anh, một
con người cao to, tuy có già hơn 20 năm trước nhưng gương mặt vẫn rạng rỡ lúc
nhìn thấy tôi, tôi bèn xưng:
- Em là Sáng, anh Tư!
Anh cười:
- Ba chữ “S”, bây giờ chỉ còn một
chữ phải không?
Sao anh Tư hỏi tôi như vậy? Vì trước
đó, sau khi bộ phim Cánh đồng hoang ra đời, nhiều bạn bè bảo bộ
phim này có ba chữ “S” - Sơn, Sến, Sáng. Sơn, Sến đã ra đi rồi, chỉ còn một
“S” là tôi.
Nhớ năm 1977, tôi đưa Sơn về quê
tôi chơi. Đến Nha Mân thì xe hỏng, hai chúng tôi phải đi xích lô cho kịp chiều.
Đến Sở Văn hóa Thông tin Đồng Tháp,
tôi bảo Sơn đứng ngoài cổng, tôi vào trước. Gặp anh em, tôi bảo rằng tôi đi với
Trịnh Công Sơn, anh em reo lên anh Sơn đâu, anh Sơn đâu?”.
Tôi bảo:
- Ở ngoài cổng có cái bảng “Không
tiếp người có tóc có râu!” làm sao tôi dám đưa vô. Năm đó, tóc Trịnh Công Sơn
phủ đến vai với một bộ ria mép.
Một vài anh em chạy ra, đón anh: Trịnh
Công Sơn là một ngoại lệ!
Tình cờ, buổi chiều hôm đó, Sở Công
an Đồng Tháp có buổi liên hoan, anh Hai Hòa là Giám đốc sở, (nguyên Thứ trưởng
Bộ Công an) mời chúng tôi đến chơi. Các anh xếp chúng tôi ngồi cùng bàn với
anh Tư Hữu. Rượu chưa uống thì có một ông bạn già trông có vẻ đã ngà say, ông
bắc cái ghế ngồi trước mặt Trịnh Công Sơn, nhìn Sơn lom lom rồi cà khịa mái
tóc với bộ râu của Sơn. Mất vui. Anh Tư Hữu, Sơn và tôi thấy khó xử quá, Anh
Tư không nói gì, cầm chai rượu đế rót đầy hai ly xây chừng, đặt một ly trước
mặt người bạn già:
- Cạn!
Hai cái ly nâng lên, cạn. Anh Tư
rót thêm ly thứ hai, hai người cùng cạn. Anh rót thêm ly thứ ba. Đến ly thứ
ba (ba ly cấp tập), ông bạn già ngả lưng ngáy pho pho. Ông được dìu vào chỗ
nghỉ. Anh Tư cười. Anh Tư “giải thoát” cho Sơn bằng cái cách của anh thật tuyệt
vời…
Và còn biết bao nhiêu chuyện nữa
trong chuyến đi. Đi là đi chơi chớ không hề nghĩ sẽ cùng nhau làm chuyện gì.
Tôi kể dài dòng để nói Trịnh Công
Sơn đã làm nhạc cho phim Cánh đồng hoang như thế nào.
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng còn là bạn
rượu lâu năm của doanh nhân Nguyễn Tiến Toàn, sản xuất xe lăn cho người khuyết
tật. Hai ông đã ký hợp đồng uống rượu như sau:
Hợp đồng uống rượu ngày 1-11-2006
Bên A: Nguyễn Quang Sáng (đã ký).
Bên B: Nguyễn Tiến Toàn (đã ký).
Cùng ký Hợp đồng uống rượu với nhau
10 năm. Để chỉnh lý Hợp đồng cũ đã ký năm 2000 đến nay đã được 6 năm. Sau quá
trình thực hiện Hợp đồng, hai bên cảm thấy chưa đã thèm. Nay theo đề nghị của
đôi bên, xin gia hạn Hợp đồng dài dài. Nhân chứng cùng hùa vô uống gồm có:
Thiên Hà (đã ký); Hà Sơn (đã ký); Nguyễn Ngọc Thạo (đã ký).
Đây là bản Hợp đồng có một không
hai, mới lạ, độc đáo của giới văn nghệ sáng tạo bên bàn rượu!
Gần như trở thành thông lệ từ nhiều
năm nay, chiều tất niên nào nhà văn Nguyễn Quang Sáng cũng rủ một số bạn bè
thân đến uống rượu trước sân nhà anh. Câu chuyện cuối năm thường là câu chuyện
của cả năm sắp cũ. Trong không khí lãng đãng của đất trời, có chút men nồng
sau vành môi đang ngậm kín nỗi gì gần như sự nuối tiếc nhẹ nhàng thời gian,
các anh nói chuyện râm ran, nhỏ nhẹ hơn mọi ngày, thỉnh thoảng nhìn lên bầu
trời đêm… Mỗi người bắt đầu cảm nhận sự di chuyển của thời gian bằng âm
thanh, không phải bằng kim đồng hồ trên tay nữa.
Cây mận cuối năm mỗi cao thêm, đến
nay đã cao quá mái, cành lá sum suê, trái đỏ mọng. Còn mái tóc của bạn bè thì
ngày bạc trắng, tiếng cười ít lại, rượu trong ly cũng vơi đi trên bàn tay héo
úa.
Tuổi đời thì có chồng chất, nhưng
việc làm không giảm. Nhưng con dê đứng trước cổng chuồng (mà Nguyễn Quang
Sáng đang cầm tinh) anh làm việc khá khỏe. Ở tuổi 60 còn bận rộn chuyện học
hành, học Anh văn say mê tuần mấy buổi, cần mẫn hơn cả một cậu học sinh trung
học. Năm mới, ngoài một số truyện ngắn phải viết ra, anh viết kịch bản
phim Tượng Phật với người lính Mỹ, câu chuyện do Larry Rottmann một
cựu chiến binh Mỹ kể lại, và phát động cuộc thi Truyện ngắn hay năm
1991…
Dưới gốc mận, mà anh em vẫn thường
gọi đùa là Quán Cây Mận của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, năm nay hẳn
cũng như những tất niên năm trước, có thể thiếu vắng một hai giọng nói bạn
bè, nhưng mùi của đêm tối, tiếng sỏi cát trên lối đi, và những bước chân chập
choạng giã từ nhau về kịp giao thừa, tưởng như không thay đổi.
Chắc là Nguyễn Quang Sáng phải ốm
lăn lóc ra nếu như ngày nào cũng “thâu nạp” đủ thứ lời thỉnh của bạn bè từ
Nam ra Bắc. Khà khà, trời lại phú cho ông Sáng một khả năng “đấu tửu” và “đấu
trí” tuyệt vời.
Nguyễn Quang Sáng ưa rượu hơn bia,
cái chậm rãi, trầm ngâm của người “thưởng” rượu nom cũng hay hay. Với rượu, lại
càng dễ khiến cho Nguyễn Quang Sáng gần hơn với những người bạn tri kỷ. Cũng
góc sân nhỏ hẹp ấy, ông trang trọng để bức tượng bán thân cố nhạc sĩ Trịnh
Công Sơn. Mỗi lần có bạn quý đến chơi, ông lại rủ họ ra vườn, vợ ông nhanh
tay chuẩn bị đồ nhắm, khi là thanh dưa chuột, bát lạc, khi lại rượu trơn. Sau
khi Trịnh Công Sơn mất, ông rót chén rượu đầu bao giờ ông cũng mời Sơn trước,
mỗi lần nâng chén, ông lại trầm ngâm nhớ bạn. Đôi khi một mình, rất một mình,
ông ngâm nga mãi Một cõi đi về của Sơn (cách gọi thân mật của ông với
nhạc sĩ Trịnh Công Sơn). Phục bạn, nhưng ngay chính ông cũng là người khiến bạn
phải phục. Mỗi lần, sau khi nghe xong bài hát Như cánh vạc bay của
Sơn, ở câu kết có đoạn… “Là biết xa ngàn trùng”… Ông Sáng vỗ tay
khen hay, nhưng ngay lập tức “chẹn lại”, nên “Lá biếc xa nghìn
trùng”… Tuyệt, tuyệt, đúng là ông nhà văn có lối tư duy rất hình ảnh
trên “R”. Trịnh Công Sơn cũng hết lòng cảm mến ông Sáng.
Đã coi là bạn, Nguyễn Quang Sáng
không “kẻ cả” tuổi tác. Chẳng biết có phải vì rượu “thêm lời” không, mà có
khá nhiều lần ông tâm sự chuyện tình cảm (người vợ), cái chuyện ngày xưa… lâu
rồi với người bạn rất trẻ của ông, bạn Nguyễn Quang Dũng. Buồn cười thật đấy!
Quang Dũng là con trai của ông cơ mà?
Ừ thì là con trai, nhưng nó là bạn
tôi. Chí thú lắm. - Trần Ngọc Lan, báo Gia đình và Xã hội, 1-6-2002.
Mới đây, cuối năm 2015, nhà báo
Xuân Ba ghi chép lại một buổi rượu của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Xuân Ba cho
hay: Trời thương còn cho cái tuổi bảy ba như Nguyễn Quang Sáng còn khà được
tiếng rõ chi là dài sau hớp rượu mật nhệch mà như ông than là quá đã,
quá đã… Nhà văn Đoàn Minh Tuấn, cũng đồng tuế với ông và như ông, lưng vẫn
thẳng tăm tắp và cũng cấm có chối từ ly nào! Quả là thương riêng yêu riêng
theo cái cách nào đó của trời, của tạo hóa thì hai ông mới có được kiểu nghiêng
nghiêng sang giáo sư tiến sĩ Nguyễn Xuân Đào, con trai thứ nhà văn Nguyễn
Tuân và nhà văn Nguyễn Đình Chính, con trai nhà văn Nguyễn Đình Thi, đồng
thanh mà rằng như mới hôm qua tụi tao ngồi hầu rượu hai ông già
bây… Nhưng cứ như Nguyễn Quang Sáng thở dài thì mỗi bận họp nho
nhỏ như thế, Nguyễn Tuân không cho kêu Nguyễn Đình Thi vì cụ thẳng đuột theo
khẩu khí phương Nam là uống với ông này hổng có vô… Rồi ông nhướng
đôi mày đã bàng bạc trên cặp mắt hãy còn hau háu tinh tường chiếu vào ly rượu
mật nhệch biếc xanh vẻ săm soi như một gã phù thủy lành nghề đang triệu hồi
âm binh của quá khứ. Chắp nối lại những âm thanh khi khẽ khàng khi vổng vót của
nhà văn, tôi láng máng biết rằng hồi mới ra Bắc tập kết, nhà văn Nguyễn Tuân
ngay từ đầu đã thân thiết với anh em Nam Bộ. Bây giờ mới gặp nhau đây/
Mà lòng chắc đã… Y chang như câu Kiều, hình như chất lãng tử pha chút
giang hồ hiệp khách của cụ Nguyễn nó hạp với tính cách phóng khoáng
bộc trực không ưa màu mè của người phương Nam? Cụ Nguyễn là một trong những
người đã khích ông, mà khích thật lực rằng có viết chi
thì viết nhưng phải bật ra được chất Nam Bộ. Đó là cái lạ. Cái lạ đã hàm cái
hay. Gẫm ông già nói chí lý! Nhưng khó… Khó cũng ráng làm tới! Ông già ngắm
ngó Con chim vàng, truyện ngắn đầu tiên của ông trên đất Bắc, gật
gù mới đang bàng bạc cái chất cái lạ, ráng nữa lên,
mậy? Và ông đã ráng… Chẳng thể chơi chơi khơi khơi được thứ
lao động khổ sai mà như ông già từng than, ngồi trước trang giấy như ngồi trước pháp
trường trắng… Mồ hôi. Và biết bao lao tâm khổ tứ. Kể cả những đống đầu mẩu
thuốc lá Tam Đảo, Trường Sơn… vun trên bàn viết và hình như thêm vô
đó chả phải là ít sự khích của ông già độc đáo Nguyễn Tuân để Nguyễn
Quang Sáng làm nên cái lạ sau đó những là Ông Năm Hạng (Giải
thưởng cuộc thi truyện ngắn báo Thống Nhất năm 1959), Người
quê hương, Tư Quắn (Giải thưởng Văn Nghệ Quân đội 1959). Đất
lửa, v.v… Và cuộc hành trình đi tìm cái lạ ấy sau này đã khiến
Nguyễn Quang Sáng bật trội những cái mốc trên lộ trình gian nan đi tìm cái lạ
cái hay của văn chương. Đã găm đã đeo bám vào nhiều thế hệ bạn đọc những Dòng
sông thơ ấu, Con mèo của Fujita, rồi Cánh đồng hoang.

Người con trai thứ nhà văn Nguyễn
Tuân, Nguyễn Xuân Đào với cái bật lửa lạ mắt đang nghiêng sang mồi điếu thuốc
cho Nguyễn Quang Sáng hút đi, chú em hụt… Mới thoáng nghe, tôi nẩy
cả người vì giật mình! Vẫn cái dáng thân thiết lẫn chất giọng hom hóm như thường
lệ của vị giáo sư tiến sĩ này nhưng vừa bật ra cái câu ấy rõ ra là không được!
Đành một nhẽ ông giáo sư tiến sĩ này vốn vui tính (ông làm như chơi chơi mà
hiệu quả việc phụ trách một Viện quan trọng của Bộ Giao thông vận tải trong
nhiều năm. Hình như cái gene tài tử, cái máu văn chương của cụ thân
sinh không biết đang nương náu và lặn ở trực hệ nào nhưng đã
chơi trồi lên ở ông con trai thứ vào cái tuổi đã hưu này? Giáo sư
tiến sĩ Nguyễn Xuân Đào tự lái lấy chiếc xe con cóc thi thoảng lại rong ruổi
Nam Bắc như thế và có hẳn mấy album nhạc mà nhiều ca khúc ông phổ
thơ rất nhã đã được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam trên Đài truyền hình TW)
với lại thường nhật, ông cư xử với rượu mực thước lắm, chưa khi nào thấy ông
méo tiếng hay chuệch choạc để có một câu kém nhã với cái người đã từng
là bạn vong niên với bố mình như thế kia? Thoáng ngay thấy có người chiếu cái
nhìn gừ gừ về phía giáo sư tiến sĩ, Nguyễn Quang Sáng cười ngất chả
nói đúng đó… Cái sự đúng ấy qua cái cười ngất của Nguyễn Quang Sáng thế
này. Những năm ngày Bắc đêm Nam ấy, lui tới thường xuyên căn gác của
Nguyễn Tuân ở cuối đường Trần Hưng Đạo có không ít anh em viết người Nam.
Nguyễn Quang Sáng không biết có phải thường xuyên không và được hầu rượu cụ
Nguyễn bao bận nhưng hình như có dạo ngắm ngó cụ Nguyễn thì ít mà liếc cô con
gái cụ Nguyễn, em gái Nguyễn Xuân Đào thì nhiều!? Nguyễn con không tuột trên
mâm bữa nay những lần hò hẹn, hay những sự chỉ non thề biển nào cả và cũng chả
nói ra đây thái độ của Nguyễn cụ hồi ấy thế nào; nhưng có mấy bận Nguyễn cụ
nheo mắt cười cười với Nguyễn con, rồi nhắc lại cái băn khoăn của bà vợ, cái
hồi Nguyễn Quang Sáng mới tới căn gác Trần Hưng Đạo, cũng lạ cho ông cứ
trịnh trọng với cái thằng con nít ấy (chỉ Nguyễn Quang Sáng)! Rồi nghe
mà đâm thương thương cho chất giọng bồi hồi của Nguyễn con rằng, nếu không có
đợt đi chiến trường đột xuất năm 1966 mãi năm 1972 mới ra ấy, biết đâu…
Đã lâu lắm rồi, nhà văn Nguyễn Thái
Sơn kể: Lần đầu tiên đến Sài Gòn, tôi hỏi một người bạn viết văn: “Ông Nguyễn
Quang Sáng là người thế nào?”. Đáp: “Ổng chịu chơi và chơi được”. Chịu
chơi là chẳng ngán cái gì, kể cả công việc. Theo cách nói của cụ Mác, là
tất cả những gì thuộc về con người đều không xa lạ với người chịu chơi. Chơi
được thì ai cũng hiểu, chẳng cần bàn.
Đến nay, mấy nhà văn ở Hà Nội vẫn
còn nửa đùa nửa thật hỏi tôi về cái “vụ” đi bia ôm với ông Sáng ở Khâm Thiên
lần đó, khiến tôi cũng muốn nhân đây nói rõ thêm về chuyện này. Trong dịp Đại
hội Nhà văn Việt Nam, cũng chẳng nhớ là lần thứ mấy, vào khoảng 1995, 1996 gì
đó, một buổi tối tôi đang tiếp chuyện mấy người cùng ở trong nhà khách Hùng
Vương, chợt nhà văn Nguyễn Quang Sáng đến. Vừa vào cửa ông đã nói: “Buồn quá,
tao với mày đi chơi”. Hỏi đi đâu, ông đáp tỉnh queo: “Bia ôm”. Là Tổng thư ký
Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh, lại là Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn cả nước,
ông nói cái chuyện đi bia ôm một cách tự nhiên, chẳng e dè gì. Cứ như nhiều vị
quan chức mà tôi biết, lúc nào cũng lo “quan trên ngó xuống người ta trông
vào”, có rủ nhau đi bia ôm bia ấp cũng chỉ thầm thầm thì thì, đi lén đi lút;
chẳng ai như ông Sáng, nói oang oang giữa chốn đông người.
Dạo đó, tôi cho rằng mình còn trẻ,
cái chuyện bia bọt ôm ấp chút đỉnh cũng chẳng chết ai. Ngày xưa, các bậc danh
sĩ danh nho như cụ Nguyễn Công Trứ, cụ Tản Đà, cụ Ngô Tất Tố, cụ Nguyễn Tuân,
và có thể cả “cụ” Vũ Trọng Phụng nữa, nào có lạ gì cái thú tiêu khiển vừa uống
rượu (ngày ấy chưa sẵn bia) vừa nghe mấy cô đào non ngồi hát ả đào, hát cô đầu
(nay gọi là ca trù). Cũng nhờ một lần mất ô khi đi cô đầu mà cụ Tú Xương viết
được bài cực hay Mất ô, có những câu: Hỏi ô ô mất bao giờ/ Hỏi
em, em cứ ỡm ờ không thưa/ Chỉn e rày gió, mai mưa/ Lấy gì đi sớm về trưa với
tình. Bởi vậy mà tôi nghĩ giá có mất xe máy, nhờ vậy mà viết được bài
thơ “Mất xe” chỉ hay bằng một góc Mất ô của cụ Tú, tôi cũng hả.
Phải nói ngay rằng, cuộc bia ôm hôm
ấy làm tôi thất vọng. Chọn được một quán ưng ý ở Khâm Thiên, vừa dựng xe đã
thấy hai cô gái từ trong xông ra tận cửa: “Chúng em mời hai anh vào”. Ông
Sáng nói liền: “Chỉ có một anh thôi, tao là… ba”. Hai cô
bảo lên gác ông phảy tay: “Khỏi, ngồi dưới này”. “Em tắt bớt đèn cho đỡ… chói
mắt”. Nhà văn lại thủng thẳng: “Cứ để cho sáng”. Trời ạ, đi bia ôm là đi “thư
giãn”, đã ngồi ngay ở quầy lễ tân, lại để đèn sáng, thì uống bia ở Nhà khách
Hùng Vương, chứ đến đây làm gì.
Biết phận, tôi nháy cô sắc nước hơn
sang ngồi với ông phía bên kia bàn, nhận cho mình cô tiếp viên coi bộ “già”
hơn. Phía bên kia bàn “ba ba con con”, thành ra dù có “anh anh em em” ở bên
này bàn, cũng chẳng tự nhiên chút nào. Mất cả thú. Ông toàn hỏi chuyện thời
tiết, thời sự, giá cá giá rau ở Hà Nội. Thì ra cụ này đi bia ôm là để… lấy thực
tế cho một truyện nào đó đang viết. Ngồi hơn tiếng đồng hồ - khoảng thời gian
dài cho một bài diễn văn ở Đại hội nhưng lại quá ngắn với cuộc bia ôm, ông ra
hiệu tính tiền rồi bảo tôi: “Tao chịu tiền chợ và boa cho con gái tao, mầy
boa cho… bà xã mầy”.
Sẵn tiền lớn trong túi, ông thanh
toán tiền bia, đồ ăn và boa cho “con gái” tờ năm chục ngàn. Ở Hà Nội thời điểm
đó, giá này cao gấp hai lần giá “chuẩn”. Tôi bấm bụng noi theo đàn anh, hai tờ
năm ngàn. Thời gian còn lại ở Đại hội Nhà văn, nhiều người nhìn ông Sáng,
nhìn tôi với ánh mắt rất… đáng ngờ. Cỡ như ông Nguyễn Quang Sáng mà còn “mo
phú”, thì tôi, là cái đinh gì mà phải bận lòng.
Con người ta, nếu có tham vọng về
quyền chức, cũng là chuyện thường tình. Ở lĩnh vực khác, Nguyễn Quang Sáng có
vọng có tham không, tôi chưa nghe ai nói. Đại hội Nhà văn Việt Nam cuối thập
niên tám mươi, trúng Ban chấp hành Hội với số phiếu cao nhất, Nguyễn Quang
Sáng chỉ chịu là “Phó tổng”. Bị nhiều anh em trẻ “chất vấn”, ông cười: “Tao
ham vui, ở Sài Gòn quen hơn, ra hẳn ngoài Hà Nội không hạp”.
Tôi chợt cười một mình, nghĩ: cụ mà
ra Hà Nội làm lớn, chẳng biết rồi sẽ ăn mặc ra sao mỗi khi chủ trì những buổi
họp to, lễ trọng, những khi gặp lãnh đạo cấp cao. Mấy chục năm, kể cả những lần
gặp ông ra Hà Nội vào mùa đông, chưa thấy ông mặc “đồ lớn” (complê) bao giờ.
Thắt cà vạt, ông kêu vướng cổ. Tôi lại hỏi: “Nhiều người bảo anh ngang, là
văn nghệ sĩ duy nhất vào Nam không chịu thay bút danh, chỉ chịu bỏ chữ Quang ở
khúc giữa”. “Ai nghĩ vậy là chưa hiểu - Ông Sáng nói từ tốn - Đúng là mình tiếc
cái tên đã quen với độc giả, không muốn đổi, nhưng nếu không có ông Thanh, sức
mấy được”. Thì ra, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, khi lãnh đạo phong trào ở miền
nam, đã có lần phát biểu, rằng cả thế giới người ta biết có hàng triệu chiến
sĩ từ miền Bắc vượt Trường Sơn vào Nam chiến đấu, đổi bút danh văn nghệ sĩ là
việc không thật cần thiết.
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng được nhiều
anh chị em viết trẻ ở phía Nam xếp vào nhóm sư phụ. Vuông chiếu lá dừa dành
cho mấy vị tiên chỉ của làng văn bút có một chỗ dành cho ông. Ở góc chiếu hay
giữa chiếu, chẳng ai lẩn thẩn xác định làm gì, và ông có chịu ngồi vào chiếu,
hay thích xoa chân ngồi trên đám cỏ xanh, cũng khó mà biết. - Báo Văn
nghệ công an, 20-11-2006.
Nhằm tôn vinh những nhà văn có những
thành tựu to lớn trong sự nghiệp phát triển văn học của đất nước và khuyến
khích những hoạt động sáng tác trong thời kỳ mới, ngày 29-7-2008, Hội Nhà văn
thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Nhóm văn chương Hồn Việt tổ chức Hội thảo
về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Quang Sáng. Sau báo cáo
đề dẫn của nhà văn Triệu Xuân, nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học
như Hoài Anh, Lê Văn Duy, Trần Thanh Giao, GS. Nguyễn Văn Hạnh, Phan Hoàng,
Lê Quang Trang, hai TS. Phạm Ngọc Hiền và Frank Gerke (người Đức, còn có tên
tiếng Việt là Trịnh Công Long)… đã trình bày tham luận và phát biểu ý kiến
nêu lên những thành tựu nổi bật về quá trình sáng tác văn học và nghệ thuật của
Nguyễn Quang Sáng, trong đó thống nhất đánh giá cao tư tưởng chủ đề đặt ra
trong tác phẩm, đặc biệt là cách viết, cách kể chuyện thoải mái, sinh động,
có duyên, với lối văn có hình, cách sử dụng ngôn ngữ địa phương Nam Bộ đắc địa,
tinh tế và hiệu quả. Chính vì vậy, nhiều tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng đã được
dư luận đánh giá cao, có sức sống lâu bền và được bạn đọc yêu mến như Đất
lửa, Nhật ký người ở lại, Chiếc lược ngà, Bông cẩm thạch, Chiếc áo thằng hình
rơm, Mùa gió chướng, Cánh đồng hoang, Dòng sông thơ ấu…
Nhà thơ Lê Thị Kim đã đến dự hội thảo
bằng quà tặng là một chai rượu Tây. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng nói vui, đã có
hoa còn có rượu. Mọi người đều cười vang. Vui hơn nữa là bài Thơ tặng
Nguyễn Quang Sáng do nhà thơ Nguyễn Duy gửi lại và nhờ Ban tổ chức - Nhà
văn Triệu Xuân - đọc giùm, thay cho tham luận của mình, vì anh bận công tác:
“Nam Kỳ có bác Nguyễn Quang
Sáng dân Chợ Mới gốc làng Mỹ Luông.
Phong lưu từ thuở ở truồng
Vừa cầm bút đã ngoáy Con chim
vàng.
Qua thời Đất lửa gian nan
Thênh thang một Cánh đồng
hoang tung hoành
Mấy Mùa gió chướng qua
nhanh
Dòng sông thơ ấu chảy thành
ngày xưa
Còn Bông cẩm thạch đong
đưa
Lược ngà chải tóc cho mưa… vẫn
còn
Vẫn ngày mấy cữ rượu ngon
Và còn… đủ các loại Con trên
đời
Con chim quên tiếng hót rồi
Thì Con gà trống gáy chơi
vang nhà
Thêm Con Mèo Fu-ji-ta
Có mèo, có cả đôla đãi mèo
Kệ ai giả khổ, giả nghèo
Dù ai khen ỏng chê eo mặc lòng
Con ngoài hòa thuận con trong
Phúc Lộc Thọ được như ông… nhất đời!”.
Trong sự nghiệp sáng tác, Nguyễn
Quang Sáng tự nhận: “Tôi làm thơ từ nhỏ, nhưng thơ tôi dở, không dám đưa in,
đành quay về viết văn xuôi. Rượu là một trong những bài thơ dở của tôi. Trên
báo Văn nghệ số ra ngày 22-8-2009, nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm đã bình
luận:
RƯỢU
Trong mâm rượu
Nếu nói xấu người vắng mặt
Rượu sẽ thành thuốc độc.
Trong mâm rượu
Nhắc nhớ người vắng mặt
Rượu sẽ thành nước thánh
Ta rót vào hồn nỗi nhớ thương.
Chỉ biết Nguyễn Quang Sáng qua văn
xuôi, tôi ngạc nhiên thấy ông viết bài thơ trên trong tập thơ giấy dó bán đấu
giá trong ngày Thơ Việt Nam lần thứ 5 của ban thơ đương đại, Hội Nhà văn
thành phố Hồ Chí Minh (thu được 286 triệu đồng làm quà tặng trẻ em nhiễm chất
độc da cam). Tôi hỏi ông về bài thơ này, ông nói:
“Tôi làm thơ từ nhỏ, nhưng thơ tôi
dở, không dám đưa in, đành quay sang viết văn xuôi. Rượu là một
trong những bài thơ dở đó của tôi. Tôi cho là từ chất liệu cuộc đời trở thành
văn chương giống như gạo nấu thành cơm và rượu. Văn xuôi của chúng tôi là
cơm, thơ là rượu. Thơ là tinh chất của cuộc đời”.
Thơ và rượu, cổ kim đông tây đã đề
cập đến nhiều, nhưng so sánh như trên, vẫn là những ý mới mẻ lý thú.
Trong bài Rượu, Nguyễn
Quang Sáng đặt vấn đề về giao tiếp ứng xử bên mâm rượu, qua đó mỗi người tự
thể hiện mình một cách rõ ràng nhất: hay dở, đúng sai, cao thượng hay thấp
hèn… bộc lộ hết mình khó có gì che đậy.
Trong mâm rượu
Nếu nói xấu người vắng mặt
Rượu sẽ thành thuốc độc.
Chữ “thuốc độc” có quá nặng không? Tác giả hơi bị cực đoan chăng? Để dễ chấp nhận, thử thay bằng chữ nào đó nhẹ
hơn một chút, chẳng hạn như: “cay đắng’. Thì chính rượu đã có vị đó rồi còn
gì! Suy ngẫm kỹ thì thấy đây là câu nhắc nhở nghiêm khắc rất cần thiết đối với
tất cả mọi người. “Rượu vào lời ra”, lời hay và lời dở; nói xấu người vắng mặt,
nói sau lưng là tự bộc lộ cái chất tiểu nhân hèn mọn của bản thân. Từ đó rượu
lại dễ dẫn dắt ta tới những động thái bất thường khác, dễ đưa ta vượt qua cái
ngưỡng từ tốt qua xấu, từ sang thành hèn, mất nhân cách thậm chí thành thú
tính chỉ trong một thoáng chốc! Trong thực tế thiếu gì những chuyện đau lòng
do rượu gây nên. Như thế không nguy hiểm chết người sao? Chữ thuốc độc có tác
dụng như ly rượu mạnh trở thành từ rất đắc địa. Văn chương giống như rượu vậy,
không chấp nhận sự nửa vời, trung tính, pha loãng.
Trong mâm rượu
Nhắc nhớ người vắng mặt…
Chưa phải là ngợi khen hay nói tốt,
chỉ cần “nhắc nhớ” thôi, cũng đã quý lắm rồi. Chữ “nhắc nhớ” rất gợi, dễ rung
lên những sợi ân tình từ thẳm sâu tiềm thức.
Rượu sẽ ngọt ngào nước thánh
Cũng một ly rượu mà sự khác biệt
ghê gớm quá: thuốc độc giết người với nước thánh cứu người. Đoạn trên nghiêm
khắc nhắc nhở, đoạn dưới thủ thỉ tâm tình chan hòa nhân ái:
Ta rót vào hồn nỗi nhớ thương
Là nước thánh, trong đó nỗi nhớ
thương hòa vào ly rượu thấm đậm tâm hồn ta. Nguyễn Quang Sáng trải nghiệm nhiều,
ông đúc kết tình người, lẽ đời trong một bài thơ ngắn; từ đây, lại đặt ra vấn
đề không nhỏ trong cuộc sống có thể khái quát thành một phạm trù văn hóa, đó
là văn hóa trong tiệc rượu, gọi một cách dân dã là văn hóa nhậu. Giống
như bản tính thẳng thắn bộc trực của tác giả, bài thơ không hoa lá màu mè, đi
thẳng vào cốt lõi nhân văn, đụng đến điều gan ruột trong giao tiếp ứng xử, giản
dị mà sâu sắc.
Nguyễn Quang Sáng cho đây là “một
trong những bài thơ dở nhất’ khiến ông không làm thơ nữa mà quay sang viết
văn xuôi. Nếu được phép đổi chục bài thơ “hay” khác lấy một bài thơ “dở” này,
tôi cũng đổi!.
Phùng Quán:
"Có những lúc ngã lòng
Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy"
|
Báo Tiền Phong số ra ngày 9-2-2003, nhân kỷ niệm 7 năm ngày Phùng Quán qua đời, có bài viết với tựa đề “Ly rượu ngọt Thượng đế đã rót mời Phùng Quán”, có đoạn:
Trời Hà Nội lạnh buốt. Gió từ Hồ Tây thổi thốc từng cơn mang theo mưa phùn. Bạn bè đến dự đám cưới của Phùng Quán - Bội Trâm vẻn vẹn có bốn người: Xuân Trung, Tạ Vũ, Nguyễn Thị Điều và tôi. Không có đại diện đoàn thể bên họ nhà trai đã đành (Phùng Quán có công tác ở cơ quan nào đâu). Phía cô dâu cũng không có đại diện của trường Chu Văn An, nơi Bội Trâm đang dạy học. Chắc chị không muốn hệ lụy đến trường nên không mời. Mời sẽ có các thầy cô giáo tới, họ vốn thủy chung và rất thương Quán - Trâm. Thấy tôi ngơ ngác, Quán bảo: Chỉ mời có bốn người này, thế là đã đến đông đủ. Phùng Quán cười cười nói đùa: Nếu nói về đại diện ban ngành đoàn thể thì đâu có thiếu, cậu là phóng viên báo Đảng coi như đại diện cho Đảng (tác giả bài báo), Xuân Trung tức Toản con, biên tập viên Nhà xuất bản Thanh Niên, coi như đại diện cho ngành xuất bản, Tạ Vũ - Hội viên Hội Nhà văn coi như đại diện cho Hội. Tạ Vũ lại từng là thợ kích kéo cầu đường, bây giờ là thợ quét vôi, coi như đại diện luôn cho giai cấp công nhân. Vẫn cười cười tếu táo, Quán nói tiếp: Đừng tưởng ngành giáo dục của cô giáo Trâm không có đại diện nha. Quán chỉ vào Nguyễn Thị Điều: Đây là cô giáo vỡ lòng dạy tại gia, đại diện cho ngành giáo dục.

Tôi biết Phùng Quán cố giấu nỗi buồn sâu thẳm trong lòng để đùa cợt cho anh em bạn bè vui.
Mấy thằng con trai chúng tôi, đứa giữ chân, giữ cánh, để chú rể Phùng Quán cắt tiết gà. Không có gì làm thì giữ chân, giữ cánh con gà cho có việc, chứ thực ra, một mình “xử con gà” với Quán là việc vặt. Con gà mái mơ này một mình Phùng Quán thừa sức làm gọn. Cạnh đó một con gà chết, mồng tái xám, nằm lăn lóc ở góc thềm. Bội Trâm cho biết: Hôm qua mua được hai con gà, nhốt chung vào cái lồng quá chật, chết mất một con. Xong việc cắt tiết, vặt lông, Quán bảo tôi cầm chai đi mua rượu, dặn:
- Tớ biết hôm nay cậu có tiền nhưng là ngày cưới của tớ thì để tớ chiêu đãi, câu cứ sang bà Hai Hanh, gạch một gạch.
Bà Hai Hanh bán rượu lậu ở làng Nghi Tàm. Dân Hà Nội thời đó gọi là “Cuốc lủi” để phân biệt với rượu Nhà nước là quốc doanh. Bà Hai Hanh đều quen mặt lũ chúng tôi những đứa bạn từ thuở thiếu thời của Phùng Quán nên mua trả tiền ngay hoặc ghi sổ cũng được. Bà Hai Hanh không biết chữ nên “sổ nợ” của bà là cái cột nhà. Mua một lít gạch một cái, gạch ô vuông bốn cái, thêm một cái chéo ở giữa, vị chi là năm lít.
Về việc này, nhà báo Hoàng Việt Hằng thuật lại trên báo Văn nghệ công an như sau:
Một buổi sớm, tôi đến thăm nhà văn Phùng Quán. Anh đang thả con cá chép vào bể cá mép cổng nhà. Theo anh tự nhận định về mình thì “Anh là người sát cá em ạ, cứ ngửi hơi nước anh biết là hôm nay cá mè hoa nổi, cá mè hoa thì phải xiên, chỉ có cá chép mới cắn câu thôi”.
Anh Quán bảo chỉ cần sớm ra ngửi hơi nước Hồ Tây thì cầm chiếc lao đi, lao được chú cá mè hoa, hoặc buông câu con trắm cỏ đủ luộc cho bạn uống rượu là hôm đó thắng lợi. Bạn anh rất đông nên Phùng Quán hay nợ tiền rượu. Bà chủ quán lại có cách ghi nợ rượu của nhà văn Phùng Quán rất đặc biệt: Nếu mua 1 xị rượu tức là (1/4 chai) là dấu trừ (-); hai xị (tức nửa lít) là dấu cộng (+), nếu 1 lít thì ký hiệu là 2 dấu cộng; cứ thế tính tiền trả nợ.
Một lần, anh Phùng Quán đi mua rượu, bà chủ quán nhắc đã nhiều dấu cộng rồi mà chưa thấy bác thanh toán tiền rượu. Anh Phùng Quán lại khất vì nhuận bút quá chậm, mà hàng ngày bạn đến chơi lại đông hơn, khổ thế. Bà chủ quán vẫn vui vẻ cho Phùng Quán nợ tiếp.
Không hiểu sao, có một lần đến chơi khác biệt là một người bạn lính bộ đội đặc công, ông ta nghe được chuyện ghi nợ rượu của nhà văn Phùng Quán, nghe xong ông ta lặng lẽ xin phép về sớm. Sáng hôm sau, bà chủ quán rượu khóc bù lu bù loa gọi bác Quán ra cửa than thở: Đứa nào đã bóc hết dấu cộng, trừ trên vỏ thân cây xà cừ rồi, giờ bà biết tính tiền rượu ra sao để đòi ông Phùng Quán đây?
Chả lẽ bác Quán xóa nợ kiểu này sao? Nghe xong, anh Phùng Quán điềm tĩnh bảo: “Chị ơi, chị đừng lo, tôi sẽ trả hết số nợ rượu của chị, chị đừng khóc nữa. Tôi hứa. Chị tính bao nhiêu tôi cũng trả hết trả đủ”.
Hai hôm sau, anh nhận được nhuận bút bài viết cho số Tết ở một tờ báo trong Sài Gòn, nhuận bút trả khá cao. Anh Phùng Quán đem nhuận bút trả hết tiền rượu mà bà chủ quán ước chừng. Xem ra số ước chừng đó còn nhiều hơn số rượu nợ thực mà Phùng Quán đã mua.
Rút kinh nghiệm từ đó, bà chủ quán rượu vẫn cho Phùng Quán ghi sổ nợ rượu kiểu đánh dấu nợ cộng trừ, nhưng ghi vào sổ sách đàng hoàng. Bà chả dại gì mà ghi sổ nợ trên vỏ thân cây xà cừ nữa.
Lại một cái Tết nữa qua đi, đúng lúc nhà văn Phùng Quán đông bạn nhà thơ đến chơi, bà chủ quán đem cả lít rượu sang mừng tuổi bác Quán, mừng tuổi luôn cả hai dấu cộng của ký hiệu nợ rượu cũ. Đầu năm mới mà mừng tuổi rượu, nhà văn Phùng Quán vui lắm, coi như là hên.
Về sau người lính đặc công bạn ông còn đến thăm nhà văn Phùng Quán một lần nữa. Ông ta cũng không nghe thấy Phùng Quán trách cứ câu gì, không thấy nhắc lại chuyện cũ mà chỉ thấy ông ngồi rang thính, tính trời tối lại câu con cá thả vào bể chơi, bạn đến nhà lại luộc cá uống rượu. Anh chỉ kể những câu chuyện về cá và thường để phần kết câu chuyện bỏ ngỏ cho bạn đến chơi nhà muốn nghĩ gì thì nghĩ.
Đã có lần anh Quán khoe với tôi: “Số anh nếu anh chỉ cần ở nhà là rất hay có lộc văn chương, lộc ất ơ mà em. Hôm nọ anh đang ngồi ăn nhẹ, thấy có người hỏi thăm bác Quán có nhà không. Anh đáp: có tôi. Thấy anh ăn cơm nguội, ông khách trố mắt nhìn, không tin Phùng Quán lại vét cơm nguội ăn ngon lành thế. Rồi ông khách mang nhuận bút cho anh in ở chỗ nào chả rõ ở bên nước ngoài, bài thơ nhuận bút những 100 đô la. Trời ơi, bao nhiêu lít rượu em biết không?”.
Bà chủ quán rượu nghe tin anh có nhuận bút cả trăm đô la cười như được mùa. Chả là nếu có tiền thì việc đầu tiên Phùng Quán nghĩ đến là mua rượu thết bạn. Cá thì có sẵn ở hồ. Nhiều tay bảo vệ Hồ Tây biết anh nghèo nên hay tảng lờ đi để cho anh kiếm cá đãi bạn.
Bạn văn mừng tuổi anh nhiều món quà, Phùng Quán không để tâm. Nhưng với anh, cái Tết bà chủ quán mừng tuổi rượu thì anh gọi bà chủ quán là ân nhân. Ân nhân rượu.
Tôi cũng nghe nói khi anh mất, bà chủ quán rượu đến phúng nhà văn rượu, và khóc thương anh tài hoa mà sao số lại khổ thế.
Ôi nhớ sao những dấu cộng, dấu trừ và sổ nợ trên vỏ một thân cây xà cừ già ở một góc phố Hồ Tây, Hà Nội.
Nhà văn Ngô Minh có rất nhiều tư liệu, nhiều bài viết về Phùng Quán. Trong bài “Chiếc áo định mệnh và lần hành khất ở ga Huế”, anh cho hay: “Giáp Tết 1994, tức một năm trước khi mất, anh (tức Phùng Quán) đưa vợ đi chơi Sài Gòn ra, khi tàu đến Huế, anh nói dối vợ xuống mua điếu thuốc, rồi “trốn” ở lại Huế cho tới ngày 22 Tết mới lên tàu ra Hà Nội. Ở Sài Gòn ra, anh tặng tôi một be rượu Trung Quốc, mà anh gọi cho oai là “rượu Mao Đài”. Anh luôn mang trong chiếc bị cói truyền thống của mình một chiếc áo khoác may theo kiểu áo dài, thân bằng vải gì không biết, anh nói thứ vải này là thao, đũi gì đó đắt lắm. Chiếc áo được vợ chồng Thu Bồn, Lý Bạch Huệ tặng, nhưng tôi thấy cứ giống y chang loại vải may buồm ở làng biển của tôi xưa.
Chiếc áo ấy chằng chịt chữ ký của bạn bè văn nghệ, bạn đọc mến mộ anh với đầy đủ màu sắc xanh, đỏ, tím, vàng… Ở cơ quan tạp chí Sông Hương, hôm đó mọi người chen nhau để được ký vào chiếc áo. Chữ ký của tôi ở cổ áo bên phải. Anh bảo khi chết, anh sẽ mặc chiếc áo ấy để sống mãi với hơi ấm bạn bè. Chiếc áo định mệnh đó, gia đình đã mặc cho anh trong giờ phút lâm chung.
Đêm 22 Tết năm đó, trong phòng đợi tàu ga Huế, vợ chồng tôi, các anh Lê Gia Ninh, Vĩnh Cường, Nguyễn Trọng Huấn, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Khắc Thạch, đạo diễn điện ảnh Vinh Sơn… thức tiễn anh tới một giờ sáng. Anh uống nhiều rượu, sang sảng đọc thơ cho lữ khách nghe. Mọi người rất xúc động. Thơ anh đọc ở đâu cũng làm cho mọi người xúc động vì chất bi hùng thống thiết.
Đang đọc thơ, anh bỗng ngả mũ đi hành khất ở ga. Hầu như ai cũng bỏ tiền vào mũ anh. Có cả những du khách nước ngoài. Số tiền kiếm được, anh chia luôn cho những người ăn xin ở ga ngay khuya hôm đó. Tôi có ngờ đâu đó là lần anh đọc thơ cuối cùng với Huế, để rồi xa Huế mãi mãi”.
Từ ngày bác sĩ bệnh viện Saint Paul cho biết ông bị xơ gan cổ trướng, phải kiêng rượu, ông bảo: “Không uống rượu thì còn gì là Phùng Quán”. Có lần buồn quá, ông tuyên bố: “Nếu chắc chắn bị thần chết xử tử vì ung thư gan thì có bao nhiêu rượu đều mang ra cùng uống hết với bạn bè”. Nhưng ông lại mong sống thêm với vợ con, với bạn bè, với thơ, nên ông rất nghiêm túc kiêng rượu. Tuy không uống nhưng khi bạn bè đến thăm, ông vẫn bảo vợ mang rượu ra đãi bạn. Ông ngồi chạm cái ly không với mọi người để nghe âm thanh quen thuộc, rồi nhìn bạn uống rượu để khỏi thèm.
Phùng Quán bị bạo bệnh, nhưng là người có bản tính quật cường, bất khuất, nên không muốn biểu lộ những đau đớn thể xác. Trong thư gửi một nhà văn hải ngoại, ông viết: “Khoảng 20 ngày nay xảy ra một sự cố là phát bệnh xơ gan cổ trướng và có dấu hiệu của K (Cancer). Kết quả khám nghiệm chỉ xơ gan thôi. Bụng mình to như bụng M. rồi, nhưng mà to vì nhiều nước. Tuy nhiên trông chết người vẫn cười ngạo nghễ”. Cũng trong lá thư này, cho thấy ông có nhiều dấu hiệu như những lời trối trăng, ông tỏ ý muốn được chết trong mùi thơm của sông Hương núi Ngự, ông ủy thác cho một nhà văn những gì ông đã viết trong thời gian gần đây.
Cũng theo nhà văn Ngô Minh: Một nỗi khổ nữa của Phùng Quán trong lúc trọng bệnh là không còn được ngồi vào bàn để viết văn nữa vì, cái bụng to và xơ cứng. Thế nên ông đã tự thiết kế cho mình một cái bàn đặc biệt, chưa từng có trong lịch sử loài người: Đó là cái bàn chổng ngược. Tức là mặt bàn nằm sấp, úp xuống, chân bàn treo ngược lên, giấy kẹp vào mặt bàn. Ông nằm ngửa giơ tay lên trời mà viết. 30 năm Phùng Quán viết “văn chui”, đến khi được quyền viết, thì không còn mấy thời gian nữa, nên ông rất thèm viết.
Về cái bàn viết này, Phùng Quán viết thư cho một người bạn ở xa, kể chuyện rất tếu: “Anh bị chứng bệnh “xơ gan cổ trướng” (tên bệnh mà như tên minh tinh điện ảnh Đài Loan). Hiện nay anh rất đẹp trai. Một lão trượng râu tóc bạc trắng, mang cái bụng sắp đến ngày khai hoa mãn nguyệt. Nhất là vẫn còn đọc được thơ (tuy lực thơ có sút kém). Và viết được văn. Ngồi viết bị tức bụng thì anh nằm viết. Bởi vậy, văn anh bây giờ toàn câu văn chỉ thiên…; rượu nó bỏ anh, vì từ khi anh lâm bệnh, rượu thấy anh mất phong độ của bậc ẩm giả. “Cuộc đời vui quá không buồn được!”.
Phùng Quán qua đời hồi 4 giờ 50 phút chiều chủ nhật 22-1-1995 (giờ Canh Thìn tức ngày 22 tháng Chạp, ngày Quý Sửu, năm Giáp Tuất) tại nhà riêng bởi căn bệnh xơ gan cổ trướng, thọ 64 tuổi[1]. - Sách: Còn là tinh anh, NXB Văn hóa - Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2013.
Về chiếc áo chằng chịt chữ ký của bạn bè văn nghệ, nhà thơ Thu Bồn cho biết “lịch sử” của nó như thế này: Cái áo này là của tôi (tức Thu Bồn). Lý Bạch Huệ (vợ Thu Bồn) đi biểu diễn lấy được tiền ra cửa hàng Sĩ Tân mua cho tôi cái áo títxo giá 150 ngàn đồng. Tôi mặc chiếc áo đẹp được vài ngày thì Phùng Quán vô. Chúng tôi nhậu ở nhà một người bạn. Phùng tiên sinh nheo mắt nhìn chiếc áo tôi đương mặc, mỉm cười. Bỗng anh ôm tôi rỉ tai nói nhỏ: Cậu đổi cho mình chiếc áo này. Giữa bàn tiệc ai cũng sửng sốt vì hai đứa tôi cởi áo cho nhau. Nhưng nhà thơ không chịu rời khỏi tôi lại ưỡn cái ngực lép ra và bảo tôi ký vào đó. Thật hết trò chơi. Tôi ký vào và mọi người cùng ký vào, có cả em bé 7 tuổi cũng ký vào. Trò chơi chỉ có vậy. Chúng tôi thì vui, khổ thì riêng mình anh chịu. - Báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh, 25-1-1995.
Thu Bồn kể tiếp: Mỗi năm cứ độ gần Tết, Phùng Quán lại vào Nam thăm viếng bạn bè. Lần nào anh cũng ghé nhà tôi để uống một ly rượu ngon do bàn tay mẹ tôi cất. Năm nay đột nhiên không thấy anh vào nữa, lòng tôi thấy lo lo.
Linh tính bạn bè không phải là điều vô cớ. Cái đêm anh uống rượu trong vườn nhà tôi bỗng nhiên anh khóc. Người say khóc cười là chuyện thường, nhưng Phùng Quán không say. Anh đọc thơ rất hay, thỉnh thoảng nhấp một chút rất trịnh trọng - anh uống rượu và uống những giọt nước mắt của mình. Đêm đen sâu thẳm, chúng tôi ngồi xung quanh ánh lửa hồng.
Không phải ngẫu nhiên mà cuộc đời làm thơ của anh và tôi có nhiều điểm giống nhau. Anh là Thiếu sinh quân ở chiến trường Bình Trị Thiên khói lửa… từng nương Thiên Mụ từng ngụ Đập Đá Văn Xá Truồi Nông…Tôi là Thiếu sinh quân của Liên khu Năm.
Quá khứ không bao giờ nhòa được một nhà thơ Thanh Tịnh già, một Phùng Quán trẻ từng đi bộ suốt dãy Trường Sơn đến chiến khu Việt Bắc đọc thơ cho bộ đội nghe. Những người lính năm ấy bây giờ nhiều người là tướng lĩnh.
Anh về Văn nghệ quân đội trước tôi. Tên tuổi anh nổi tiếng với Vượt Côn Đảo, trường ca Tiếng hát trên địa ngục. Một thế hệ thanh niên đã lấy Vượt Côn Đảo làm quyển sách gối đầu giường. Anh tài năng hơn tôi, hẩm hiu hơn tôi, oan ức hơn tôi, trung thành hơn tôi, cam chịu hơn tôi và cũng nghèo nàn hơn tôi.
Có người cho anh lập dị, nhưng không phải. Anh đi guốc mộc vì cái bàn chân tê thấp và tiền đâu mà mua giày mua dép? Tiền đâu mua nón nỉ nón cối mà không đội nón lá kè…
Tôi về số 4 Lý Nam Đế ở đúng cái phòng anh ở trước nên ai đến cũng lầm tôi là Phùng Quán vì tôi cũng có cái ngoại hình giống anh. Sau này do trời xui đất khiến thế nào mà vợ tôi lại đóng phim Tuổi thơ dữ dội của anh.
Ra Hà Nội lần nào tôi cũng đến thăm anh. Cũng chui vào một con đường kiệt bên hông trường Chu Văn An, bẻ ngoặt lại ven bức tường là một Hồ Tây rộng mênh mông. Mái lều nhỏ bé và một cái chòi rách tươm như đời thi sĩ nghểnh cổ lên để cố nhìn thấu tận Tam Đảo Ba Vì.
Vừa rồi tôi và Lý Bạch Huệ (mẹ thằng Mừng) ra Hà Nội thăm anh. Chị Trâm vợ Phùng Quán không ngớt giới thiệu về những bài thơ của bạn bè đề trên vách. Trong số đó có bài thơ của Tào Mạt. Chị Trâm đem ra khoe với chúng tôi: bàn ghế trong nhà đều do bàn tay anh Quán chế biến từ những vỏ tivi hư. Chúng tôi ít khi ngồi trên những chiếc ghế ấy mà thích ngồi thiền trên cái chòi để ngắm nhìn cho được toàn cảnh Hồ Tây. Những mảnh vụn và rách được bàn tay thi sĩ xếp lại làm nên cái chòi có tên là “Chòi ngăn sóng”. Trên nóc chòi có gắn một bình rượu làm biểu tượng.
Chị Trâm lại đem cái áo có hàng trăm chữ ký của bạn bè ra khoe với tôi mà tôi vừa kể ở trên. Chị vừa khoe nhưng vừa muốn khóc, chị nói: Khổ quá cái áo này anh Quán thích lắm vì là kỷ niệm bạn bè. Vậy mà có người vu cho anh có ý định làm một tổ chức gì đó.
Thơ văn Phùng Quán từ hồi anh có mặt trong hàng ngũ những nhà thơ lớn chưa hề có chữ nào phản lại nhân dân, anh yêu thương và ca ngợi từ trái cà nghèo nàn quê hương anh đến những chiếc vại làm bằng đất thó - những vại cà nuôi cả dân tộc này lớn lên và làm nên những kỳ tích anh hùng. Và, từ khi mở mắt đến khi nhắm mắt anh chưa hề được bước chân đến mọt đất nước nào khác ngoài đất nước Việt Nam yêu quý.
Cái bình điếu thuốc lào, tẩu còn dựng bên vách với những tàn đóm một thời còn chưa có thì giờ sắp xếp, những chai không còn rượu cái đứng, cái nằm, chúng đương ngổn ngang cùng với những trang sử thi Tago, những anh hùng ca Hôme, những Bôđờle, những Pútskin, những Nguyễn Du, Cao Bá Quát… Nhưng anh đã đi rồi. Lịch sử quá nhiều công việc, tôi chỉ biết khóc anh và giải cho anh vài điều oan để ở thế giới bên kia anh lại còn nhớ về thế giới này.
Đạo diễn điện ảnh Nguyễn Vinh Sơn, tác giả rất nhiều bộ phim truyền hình hay, trong đó có phim Tuổi thơ dữ dội, Bông sen bạc Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 9 nói về Phùng Quán:
Một nhận xét phản bác của một thành viên trong Hội đồng duyệt phim Tuổi thơ dữ dội làm tôi âu lo: “…xem phim thấy rõ cái dằn vặt Phùng Quán”.
Gì mà dữ vậy? Tên tuổi Phùng Quán tôi đã được nghe tới từ khi còn là cậu học sinh trung học ở Huế. Khen có, chê có, nhưng tựu trung vẫn là những từ đáng nể: một tài năng lớn, một kẻ gàn bướng, một tên nổi loạn… Bây giờ lại có thêm tính từ Phùng Quán bổ nghĩa cho cái dằn vặt. Khiếp quá! Tôi tìm đến nhà Phùng Quán mà chỉ mong không gặp mặt.
Cái ý nghĩ đầu tiên chợt đến khi vừa thấy mặt là… đẹp quá. Ông mặc áo nâu ngồi chăm chút cây ớt trong miếng đất nhỏ xíu trước sân nhà. Râu tóc bạc phơ. Cử chỉ chậm rãi. Toàn khung cảnh toát lên vẻ thong dong, nhàn nhã. Và nụ cười hé nửa miệng, thoát ra từng tiếng hề hề ngắt quãng, làm rung rinh chòm râu và long lanh cặp mắt. Tôi nhớ hoài nụ cười đó.
Lần đầu tiên trình chiếu bộ phim Tuổi thơ dữ dội cho tác giả tiểu thuyết xem, tôi hồi hộp hỏi:
- Thưa, chú thấy… thế nào?
Nhà văn hé miệng cười hề hề, nói to cho mọi người nghe:
- Sướng thiệt, viết sách, đọc thấy tên mình nhỏ xíu. Giờ lên phim, chữ Phùng Quán phóng to bằng cái nia. Sướng thiệt! Đã thiệt! Hề… hề…
Nghe vậy, tôi vội quay mặt đi cố giấu những giọt nước mắt xúc động. Nhân ái quá, vĩ đại quá! Bao nhiêu lo âu căng thẳng từ hơn một năm nay đã được nụ cười kia hóa giải. Làm phim dựa theo tác phẩm của một tên tuổi lớn như vậy, mà không hề gặp mặt để bàn bạc, xin ý kiến chỉ giáo… là một thất lễ lớn. Tôi chờ đợi những lời bắt lỗi, những ý kiến thêm bớt cho hay hơn, những lời phê phán để chứng tỏ trình độ, đẳng cấp… Không, chỉ một câu nói đùa dí dỏm của một cụ già nông dân.
Sau này, ông có lần nói với tôi:
- Nếu tau gặp mi trước khi làm phim, tau sẽ kể thêm nhiều chuyện không có trong tiểu thuyết. Ví như chuyện một thương binh bị cụt cả hai tay tới sát nách, được tuyên dương anh hùng, gắn huy chương đỏ ngực. Anh thấy diễn viên đóng thằng Mừng, nhân vật chính của Tuổi thơ dữ dội, cứ bám theo anh suốt cả ngày, liền bực mình gắt: “Mày làm gì mà cứ theo dõi tao hoài vậy?”. Mừng rụt rè thưa: “Dạ, em muốn chờ coi, khi anh đi… ỉa, anh chùi đít bằng cách nào”. Anh thương binh òa lên khóc, ôm Mừng nói: “Chỉ có mày là thương tao nhất”.
Kể xong, ông cười hề hề. Tôi bỗng thấy bộ phim vừa làm xong chỉ là cái xác không hồn.
Có lần tôi đánh bạo hỏi ông về thời gian ông bị kỷ luật. Ông đưa hai ngón tay cười nói: Hai suất Kiều. Thấy tôi không hiểu, ông giải thích: thì Kiều lưu lạc 15 năm, tau 30 năm. Hai suất Kiều.
Ba mươi năm. Trong thời gian đó, có lần ông mang một cái tên không phải tên ông dự cuộc thi truyện ngắn viết về Lênin tổ chức ở Liên Xô, và trúng giải nhất. Chuyện thật mà như đùa. Trải từng ấy thời gian, ông vẫn cười, vì bên ông đã có thơ:
… Có những phút ngã lòng,
Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy…
Thơ ông càng nghe rõ tiếng hề hề. Ngồi cô độc uống rượu một mình trong Chòi ngắm sóng (tên ông gọi túp lều nhà ông sát hồ Tây), thấy chỉ có núi Ba Vì trước mặt làm bạn đối ẩm, ông thốt lên:
- …Nhớ nhau tưới rượu xuống hồ Tây.
Lại một lần, tôi được nghe cô Trâm, vợ nhà văn kể: Khi đọc điếu văn trước quan tài một người bạn chết vì ung thư, ông lại ứng khẩu một bài thơ: Chơi ung thư. Làm những người thân trong gia đình người chết dở khóc dở cười. Ông lại cười: Chơi vậy mới là chơi.
Bây giờ thì ông cũng lại chơi ung thư. Ông thường nói: Đời tau chỉ đến 60 tuổi, những năm còn lại là sống thêm, sống thừa. Tôi lại tiếc chưa thực hiện được ý định đã có lần bàn với ông: mời ông đóng phim. Tôi thật rất muốn ghi hình dáng dấp ấy, nụ cười ấy.
Không được gần ông trong giây phút lìa đời, nhưng tôi biết chắc, khi chạm mặt thần chết, ông cũng sẽ cười. Và theo tôi, cái gọi là dằn vặt Phùng Quán từng làm e ngại ai đó, không đáng sợ bằng nụ cười Phùng Quán.
Năm 1962, Phùng Quán kết hôn với chị Vũ Thị Bội Trâm, giáo viên. Từ khi cưới nhau đến năm 1981, trải 20 năm, hai vợ chồng Phùng Quán vẫn ở hai nơi. Vợ thì ở nhà cha mẹ số 3 đường Hàng Cân. Chồng ở làng Nghi Tàm, Hà Nội, trong nhà của người mẹ nuôi là bà Trưởng Dơi (được công nhận Bà mẹ Việt Nam anh hùng). Ở đó, hằng ngày “Phùng Quán làm hai “nghề” cơ bản: viết văn rồi mượn tên thân hữu bạn bè để in, và câu trộm cá Hồ Tây bán lấy tiền nuôi con” (Ngô Minh). Ngày ông mất, trong mấy trăm vòng hoa đến viếng, có một vòng hoa rất đặc biệt của “những người bạn câu cá trộm” của ông, một thời. Họ đã cử người đại diện đứng ra đọc lời chia buồn: “Chúng tôi là những đồng đội của anh, đều đã làm lính Cụ Hồ thời chống Pháp, chống Mỹ, tất cả đều là bạn thân của anh thời câu cá trộm Hồ Tây và hồ Trúc Bạch. Cũng như anh, trên mình chúng tôi có những vết sẹo do tuần hồ “ban tặng”. Tất cả những người đang đứng quanh chiếc hòm của anh nay đã chấm dứt nghề câu cá trộm, trở thành công nhân quốc doanh đánh cá Hồ Tây, được vào biên chế, có lương hằng tháng, tốt quá Quán ơi! Vĩnh biệt anh, chúng tôi tự hào về người đồng đội của mình, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng, được toàn dân yêu mến”.
Xin anh uống với chúng em ly rượu tiễn biệt, anh Phùng Quán ơi!
Còn Hoàng Lan Anh viết: Tôi đến nhà nhà thơ Phùng Quán một ngày chủ nhật. Sự ồn ào của quán sá dường như tương phản với sự tĩnh lặng trong ngôi nhà. Đây là lần thứ hai tôi đến nhà ông, lần trước tôi đến khi ông vừa mất. Tiếp tôi cả hai lần, đều là vợ ông, bà Vũ Bội Trâm. Nhưng một lần, là trong khói hương, và lần kia là sự bình yên của một chiều thu rất muộn.
Bà kể cho tôi nghe về ông, từ ngày mới lấy nhau và những bất hạnh đeo đuổi ông gần hết cuộc đời. Người ta không dễ gì chịu được những thử thách như thế, nỗi đau như thế. Cái tuổi 30 đã đem lại cho ông những điều thật bất ngờ, vừa khổ đau vừa hạnh phúc. Người ta biết đến ông, đọc thơ ông, và khắc sâu trong tâm cảm mình. “Dù ai ngon ngọt nuông chiều. Cũng không nói yêu thành ghét”. Thơ Phùng Quán mộc mạc mà sâu xa, như được kết tinh từ những nỗi buồn, xen lẫn sự lạc quan, và rượu của máu giang hồ. Ông uống rượu nhiều, mà không phải nhẹ, loại đốt có lửa mới uống, lại là uống suông. Với ông “rượu là cứu cánh vĩ đại của phường đạo tặc sông hồ”.
Phùng Quán làm nhiều thơ, nét chữ của ông mềm nhưng cương trực. Ngoài ra, ông còn viết văn, xuất bản sách bằng tên của bè bạn, ước tới năm chục cuốn dày mỏng, phần nhiều là truyện tranh. Văn của ông đã bay sang cả Liên Xô (cũ) như truyện ngắn “Như con cò vàng trong cổ tích” nhân kỷ niệm 100 ngày sinh Lênin. Nhưng chỉ viết văn thôi thì đâu đủ sống, theo ước tính trong những ngày đốt lửa ngồi trên bờ hồ đọc thơ, uống rượu, ông đã câu “chui” của Nhà nước khoảng bốn tấn cá ở Hồ Tây. Mà về sau ông đã đền bù, cứ mỗi cân cá, ông đền 10 bản sách nói về cá.
Năm 1988, Phùng Quán viết nhiều hơn và xuất bản sách bằng tên của mình. Chủ yếu là báo và hồi ký. Những mẩu hồi ký ông viết từ thời đi bộ đội, văn công rồi làm ở báo Văn nghệ quân đội… Mỗi ngày ông viết một ít, những mẩu chuyện không được chuẩn bị trước, sắp xếp lộn xộn. Nhưng đó là những mẩu chuyện quý, rất quý về đời ông, được gom thành tập “Chuyện tào lao quanh chiếu rượu”. Thật tiếc cho ông, hơn sáu năm cuối đời là quãng thời gian đẹp nhưng quá ngắn. Căn bệnh ung thư đã mang ông đi, chưa đầy hai tháng sau khi phát bệnh. Thời gian này ông viết nhiều, viết hối hả, như kẻ độc hành sợ lỡ chuyến đi. “Chuyện 17 bộ hài cốt ở Huế”, huyệt lửa chôn chung 17 đồng chí cách mạng vẫn chưa được hoàn thành. Kịch bản phim về bà mẹ anh hùng ở Huế nuôi hàng binh được ông viết trong những ngày bệnh nặng, không thể ngồi mà phải nằm ngửa, viết trên chiếc bàn đặc biệt với cây bút chì trong tay. Mới chỉ hết phần một thôi, phần hai, phần ba sẽ không bao giờ có được, không bao giờ viết được. Chẳng thể ngờ đó là trang bản thảo cuối cùng của ông. Cũng chẳng thể ngờ, sau khi nhà văn Hữu Mai và Vũ Tú Nam ra về cho đến khi nhắm mắt, ông vẫn chưa được nhìn tập thơ của mình mang tên Phùng Quán. Đôi khi trong cuộc đời không phải mọi sự đều như ý muốn cho ông, và với nhiều người…
Rất tiếc, bà Trâm chưa soạn lại di cảo của nhà thơ, và tôi chỉ có đọc được những ghi chép của ông từ những xấp bản thảo với những dòng chữ đẹp và ngay thẳng, mà sinh thời ông rất thích. Trong đó, tôi đọc thấy một câu thơ của Êxênhin mà ông vẫn thường hay đọc: “Những số phận khác thường. Sinh ra đều định trước. Tôi không thành nhà thơ, thì cũng thành trộm cướp”…- Báo Người Lao động, 6-12-1997.
Từ mấy chục năm nay, Phùng Quán viết trong sách “3 phút sự thật”: Tôi luôn bị thôi thúc bởi niềm mong ước tìm hiểu cho ra ai là người kiến trúc Lễ đài Độc lập hôm 2-9-1945.
Thế rồi cách đây ba năm, tôi được một người bạn tặng tôi những tư liệu có liên quan đến sự kiện lịch sử mồng 2 tháng 9 -1945 anh vừa tìm thấy trong Thư viện Quốc gia, Thư viện Bảo tàng Lịch sử, Viện Sử học, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, và Kho Lưu trữ quốc gia. Trong số những bản sao chụp, có mấy tư liệu tôi đặc biệt chú ý:
“Thư của Bộ Tuyên truyền có tiêu đề VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA đề ngày 31-8-1945 gửi Thị trưởng Hà Nội, về việc tổ chức Ngày Độc Lập (Đây là bản chính thức được đánh máy bằng giấy than đen trên giấy trắng, khổ rộng 130mm x 210mm, đóng dấu tròn với dòng chữ Ngày Độc Lập và C.P.C.H.D.C. vòng quanh con dấu, một ngôi sao năm cánh ở giữa, nổi lên dòng chữ BAN TỔ CHỨC). Nội dung thư:
Kính gửi ông Thị trưởng Hà Nội,
Bộ Tuyên truyền của Chính phủ Lâm thời sẽ tổ chức ngày 2-9-1945 một “Ngày Độc Lập”.
Muốn cho ngày ấy có một tính cách thiêng liêng, Ban tổ chức chúng tôi yêu cầu Ngài hạ lệnh cho các chùa chiền, nhà thờ phải mở cửa, quét tước sạch sẽ và đốt trầm hương suốt ngày hôm ấy để mừng Ngày Độc Lập.
Kính thư,
Nguyễn Hữu Đang”
Một thư khác của Ban Tổ chức “Ngày Độc Lập” thuộc Bộ Thông tin và Tuyên truyền, đề ngày 31-8-1945. Hình thức và con dấu giống hệt như trên. Nội dung thư:
“Kính gửi ông Thị trưởng Hà Nội,
Nhân “Ngày Độc Lập”, chúng tôi yêu cầu Ngài cho treo cờ vườn hoa Ba Đình và những phố lân cận.
Còn về lễ chào Quốc kỳ, chúng tôi nhờ Ngài cho sửa soạn cho chúng tôi một chiếc cột cao 12 thước tây đủ cả dây và bánh xe (poulie); sẽ có chỉ thị về chỗ dựng cột cho phu tòa Thị chính.
Kính thư,
Nguyễn Hữu Đang”.
Một bức thư khác, hình thức, tiêu đề và con dấu giống hai bức thư trên, với nội dung:
“Kính gửi ông Thị trưởng Hà Nội,
Muốn cho Ngày Độc Lập tổ chức vào ngày 2-9-1945 tới đây được hoàn hảo, chúng tôi yêu cầu Ngài thông báo ngay cho các Phố trưởng để các ông ấy báo tin cho các nhà trong khu vực mình biết rằng Cụ nào trong nam giới hay nữ giới muốn đi dự lễ ấy sẽ đến họp ở Hội quán hội Khai trí hồi 13 giờ trước khi đi lên vườn hoa sau Sở Tài chính.
Kính thư,
Nguyễn Hữu Đang”.
Sau khi đọc kỹ những tư liệu trên, tôi suy luận: Ông Nguyễn Hữu Đang là Trưởng ban tổ chức Ngày Độc Lập, vậy chắc ông phải biết ai là tác giả của công trình kiến trúc Lễ đài. Cần phải tìm gặp ông để hỏi cho ra.
Anh Nguyễn Hữu Đang thì tôi được biết mặt từ mấy chục năm trước, nhưng rất ít khi được trò chuyện với anh. Mỗi lần được anh hỏi chuyện, tôi bối rối, sướng mê người, đầu không khiến mà chân cứ rụt về đứng thành tư thế nghiêm, như ngày còn làm lính trinh sát mỗi lần được Chính ủy Sư đoàn hỏi chuyện. Tôi nghĩ bụng: “Tôi là cái thá gì mà được một người như Nguyễn Hữu Đang hỏi chuyện?”. Nguyễn Hữu Đang, người tham gia cách mạng từ hồi tôi chưa đẻ; nhà hoạt động báo chí công khai của Đảng cùng thời với Trường Chinh, Trần Huy Liệu; một trong những người tổ chức và lãnh đạo chủ chốt của Hội Truyền bá Quốc ngữ cùng thời với Phan Thanh, cụ Nguyễn Văn Tố. Một trong những người sáng lập và tổ chức Hội Văn hóa Cứu quốc cùng với Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi. Và cuối cùng là Trưởng ban Tổ chức ngày Đại lễ của Đất nước: 2-9-1945.
Thế là tôi quyết đi tìm ông. Tôi nhớ cách đây khoảng 15 năm, anh từ cao nguyên Hà Giang trở về, tá túc tại quê nhà ở Thái Bình. Hàng năm, vào dịp Tết, lại thấy anh đáo lên Hà Nội trên chiếc xe đạp thiếu nhi Liên Xô. Anh mang đến cho mấy người bạn cũ mỗi người vài cân gạo nếp, một chai rượu. Một lần tôi được anh cho một cân và hưu rượu. Tôi cảm động hỏi anh: “Anh kiếm đâu ra gạo nếp mà cho chúng tôi thế?”. Anh cười: “Mình sống ở nông thôn cũng phong lưu ra phết. Không những có gạo nếp, có rượu biếu bạn, lại có cả thóc và rơm cho nông dân vay”. “Hiện nay anh đang làm gì?”, “Mình nghiên cứu Lão Trang và dịch lại cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô qua bản tiếng Pháp. Đối chiếu thấy bản dịch sai nhiều quá!”.
Hai năm trở lại đây không thấy anh lên Hà Nội nữa. Mấy anh em quen cũ chúng tôi lo lắng hỏi nhau: “Không biết anh Đang có gặp phải chuyện gì trắc trở dưới đó?”.
Thế là tôi quyết đi tìm. “Cả tỉnh Thái Bình rộng mênh mông với hơn hai triệu dân, không có địa chỉ cụ thể làm sao anh tìm được?”. “Trời đất! Một người như anh Nguyễn Hữu Đang thì anh tin rằng về dưới đó hỏi đứa con nít nó cũng biết”. Vợ tôi đành trao cho tôi một nửa số tiền lương hưu tháng cuối năm vừa lĩnh, với vẻ mặt nhịn nhẫn của người vợ phải trao cả một nửa sản nghiệp cho chồng tiêu hoang vào việc không đâu! Tôi nhét vội mấy tờ giấy bạc vào túi, nhảy lên xe đạp, cắm đầu đạp thẳng ra ga vì sợ vợ thay đổi ý kiến.
Vừa đi tàu, vừa ô tô, xe đạp… Sáng 26 Tết, tôi có mặt ở thị xã Thái Bình. Để đỡ bớt thì giờ tìm kiếm, tôi hỏi đường đến Sở Văn hóa và Hội Văn nghệ tỉnh, hỏi địa chỉ của anh. Tôi thực sự ngạc nhiên khi thấy nhiều anh chị em cán bộ ở hai cơ quan này không biết Nguyễn Hữu Đang là ai. Có vài người biết nhưng lại rất lơ mơ. “Hình như ông ta ở Quỳnh Phụ, Kiến Xương hay Tiền Hải gì đó…”. Ở Hội Văn nghệ tỉnh, tôi làm quen với một nhà thơ trẻ. Khi biết rõ ý định của tôi, anh hăng hái nói:
- Cháu sẽ đưa chú ra cái quán thịt chó nổi tiếng, ở đó thường có mấy anh cán bộ về hưu, chắc sẽ hỏi ra.
Đến quán thịt chó, tôi đành móc số tiền còm cõi trong túi, gọi một đĩa thịt luộc và hai chén rượu cho phải phép. Đợi chừng nửa tiếng, có một người đã đứng tuổi để chiếc xe cúp trước cửa, đi vào quán. Nhà thơ trẻ đứng bật dậy, nói khẽ với tôi: “Ông này ở cơ quan an ninh tỉnh, hỏi chắc ông biết”. Tôi vội níu tay anh lại, dặn nhỏ: “Cậu nhớ đừng giới thiệu mình là ai, sẽ rách việc”. “Biết rồi, biết rồi chú không phải dặn”. Anh bạn trẻ đi đến gặp ông ta, nói cái gì đó, và chỉ tay về phía tôi. Anh cán bộ an ninh tươi cười bắt tay tôi, ngồi đối diện và niềm nở hỏi: “Xin lỗi cụ, năm nay cụ hưởng thọ bao nhiêu tuổi ạ?”. Tôi đoán chắc anh ta thấy tôi ăn vận nhếch nhác - áo quần bà ba nâu, chân dép lốp - râu tóc bạc trắng, nên hỏi vậy. Tôi liền nói phứa lên: “- Cảm ơn đồng chí - tôi cười - cũng “thất thập cổ lai hi” rồi đồng chí ạ”. “Trước cụ có làm công tác ở đâu không ạ?”. “Tôi làm thường trực cho một cơ quan thương nghiệp ở trên Hà Nội… về hưu đã gần được chục năm rồi”. “Cụ là thế nào với Nguyễn Hữu Đang ạ?”. “Tôi có quen biết gì với ông ta đâu. Thậm chí cũng chưa biết mặt. Chẳng là ở tổ hưu của tôi có một cụ nghe đâu hồi bí mật cùng hoạt động với ông ta. Biết tin tôi về thăm đứa cháu họ công tác giáo viên ở Quỳnh Côi, ông cụ gởi tôi mười ngàn bạc gửi biếu ông ấy, mà giao hẹn phải đưa tận tay. Tôi tưởng ông ấy ở thị xã, hỏi loanh quanh mãi không ai biết…”. Anh cán bộ cười: “Ông ấy đâu có ở thị xã. Hiện ông ấy đang ở thôn Trà Vy, xã Vũ Công, huyện Kiến Xương… cách đây gần hai chục cây số. Ngược gió này mà cụ đạp xe về tới đó cũng vất vả đấy…”.

Thấy tôi chăm chú nghe, anh cán bộ trở nên cởi mở: “Nói để cụ hiểu cụ thể hơn, trước kia cái ông Đang ấy cũng là người hoạt động cách mạng có tên tuổi… Nhưng rồi ông ta giở chứng, làm báo, làm văn chống đối Đảng và Nhà nước, bị xử phạt 15 năm tù ngồi, đưa lên giam trên trại tù Hà Giang. Mãn hạn tù, ông ta xin về cư trú tại quê quán…”.
Cuối cùng, tôi cũng tìm gặp được ông. Gặp nhau, mừng quá, tôi nói: “Để em đạp xe ra chợ mua cái gì về ăn…”. “Thôi khỏi cần. Chú về chơi hôm nay là rất gặp may. Sáng nay tôi vừa chế biến được một mẻ thức ăn ngon vô địch. Chú nếm rồi sẽ biết. Cơm cũng có sẵn rồi. Tôi mới nấu lúc sáng, ủ vào lồng ủ rơm, còn nóng nguyên. À, tôi lại có cả rượu cho chú, rượu cam xuất khẩu hẳn hoi, quà của Hội Nhà văn gửi biếu vào dịp Tết năm ngoái… Tôi chỉ mới mời mấy thầy giáo mấy chén, còn đủ cho chú say sưa suốt mấy ngày ở chơi”. Anh xăng xái lấy chùm chìa khóa buộc chung với chùm lục lạc, mở khóa tủ tìm chai rượu. Tôi liếc mắt nhìn vào mấy ngăn tủ. Những xấp quần áo cũ nát để lẫn với những chồng báo, giấy má, sách… ố vàng. Ngăn dưới cùng để rất nhiều chai lọ, vỏ đồ hộp, vỏ bia lon, và nhiều chồng các loại bao thuốc lá. Anh lúi húi lục tìm một lúc khá lâu mới lôi ra được chai rượu cam còn già nửa. “Đây rồi! Bây giờ già hóa lẩm cẩm. Để chỗ này lại tìm sang chỗ kia”. Tôi cười, nói: “Nhìn anh, em cứ tưởng là một nhà quý tộc Nga thời Sa hoàng, tự tay tìm chọn loại rượu quý cất giữ một trăm năm trong hầm rượu, để đãi khách quý”.
Một câu chuyện khác về rượu với Phùng Quán. Chuyện răng: Phùng Quán ngồi uống rượu với bạn. Trên mâm một chai rượu cuốc lủi, hai cái chén, một bát riêu cá nghi ngút khói, một đĩa cá rán vàng rộm. Chú mèo vàng ngoan ngoãn, lim dim ngồi bên cạnh chủ. Mải nói chuyện với khách, Phùng Quán chỉ nhâm nhi, quên cả ăn. Đến lúc dứt câu chuyện, nhìn xuống bát chỉ thấy bát không, nửa khúc cá rán đã không cánh mà bay đâu mất! Nhìn ra góc nhà, chú mèo đang say sưa xơi cá rán ngon lành. Vợ Phùng Quán rút cái chổi phất trần xăm xăm chạy đến định vụt con miêu một cái, trừng trị cái tội hỗn hào, hư thân mất nết. Phùng Quán gọi vợ: Đừng em ơi, đánh nó tội nghiệp. Rình lúc mình sơ ý, nó “bốp” được miếng ngon, em cho nó thưởng thức. Thường ngày, mình chỉ cho nó ăn đầu cá, ăn xương xẩu chứ em đâu có rán cá chép cho nó ăn! Nó cũng ranh, cũng khá thật đấy!
Một chuyện vui khác:
Nhà Phùng Quán mời khách ăn cơm. Phùng Quán ra chợ mua cá lăng, cá chiên để làm món chả cá nhấm rượu, đãi bạn. Hai thứ cá chuyên dùng để nướng chả không có, Phùng Quán đành phải mua cá quả. Thấy có 2 con cá quả to đang quẫy trong thùng nước, Phùng Quán hỏi mua. Bà bán hàng nhìn ông từ đầu đến chân, nhìn chiếc mũ lá, bộ bà ba nâu, dép cao su dưới chân, tóc dài, râu bạc, bà nói: Cá này đắt, cụ không mua được đâu! - Thì bà cứ nói giá xem tôi có đủ tiền mua không? 50 ngàn 1 cân, cụ có mua không? - Bà cân cho tôi cả 2 con, tôi mua tất. Bà hàng tròn xoe mắt, nhận tiền của Phùng Quán xong, bà hỏi: Cháu hỏi không phải, thế cụ có phải là văn nghệ sĩ không?
Trong tiểu thuyết tình mười ba chương Trăng Hoàng Cung của Phùng Quán (Nhà xuất bản Thanh Văn - Hoa Kỳ, 1993) có một chương - tương đương với một bài thơ, không phải được làm ra ở Huế trong thời gian Phùng Quán viết tập Trăng Hoàng Cung để tặng Hà Khánh Linh (1984), mà là được làm trước đó, Hà Khánh Linh không rõ là làm lúc nào, chỉ biết đấy là một trong những bài thơ lần đầu gặp nhau Phùng Quán đã đọc cho Hà Khánh Linh nghe và Linh thấy hay mới đưa giấy bút nhờ anh chép lại, từ đó mới sinh chuyện.
Bài thơ Anh thích viết trên giấy có kẻ dòng là một trong những bài thơ hay của Phùng Quán:
Từ ngày vỡ lòng tập viết
Nay gần trọn đời văn
Số chữ anh đã viết
Nếu sắp thành hàng
Có thể kín một vòng sông Hương.
(Trong tiểu thuyết Trăng Hoàng Cung câu này được tác giả sửa thành Có thể phủ kín một cồn Giả Viên).
Một thói quen anh không đổi thay
Một niềm yêu anh không thay đổi:
Viết trên giấy có kẻ dòng
Là người viết
Anh đã viết suốt năm mươi năm
Là chiến sĩ
Anh xạ thủ cấp kiện tướng Trung đoàn
Anh đủ sức viết rất thẳng
Trên giấy không kẻ dòng
Nhưng anh vẫn viết
Trên giấy có kẻ dòng
Như cái buổi vỡ lòng tập viết.
Nhiều người cho rằng
Giấy không kẻ dòng
Dễ viết đẹp
Nhưng với anh:
Không có gì đẹp hơn
Viết ngay và viết thẳng.
Là người viết
Anh yêu tha thiết
Sự ngay thẳng tột cùng
Sự ngay thẳng thủy chung
Của mỗi dòng chữ viết.
Là nhà văn
Và xạ thủ
Anh biết:
Khó vô cùng
Bắn trăm phát trúng cả trăm
Và càng khó vô cùng
Viết trọn đời văn
Dòng đầu thẳng ngay như dòng cuối.
Khi bàn tay đã đuối
Khi tấm lòng đã mỏi
Khi con mắt bớt trong
Khi tình yêu đã nguội…
Trang giấy có kẻ dòng
Giúp các em nhỏ vỡ lòng
Và nâng đỡ các nhà văn
Viết ngay và viết thẳng
Ngay thẳng thủy chung
Dòng đầu đến dòng cuối.
Huế, 8-6-1984
Trong tiểu thuyết Trăng Hoàng Cung anh đã nói về tâm trạng khi viết bài thơ này như sau: (…) Sáng hôm sau tỉnh rượu, lòng tôi bỗng cồn lên nỗi nhớ. Tôi ao ước được nhìn lại gương mặt huyền hoặc của nàng. Trí nhớ tôi như phiến gỗ thông Đà Lạt, khoảnh khắc tạc lên gương mặt nàng bằng bút lửa (…) Lời hứa bốc đồng hôm qua bỗng cộm lên trong trí nhớ như viên sỏi có nhiều cạnh sắc… Chỉ hình dung ánh mắt thất vọng pha chế giễu của nàng khi nhìn thấy tôi đến với hai bàn tay không tôi đã muốn chui xuống đất vì xấu hổ (…). Tôi chỉ viết trên giấy có kẻ dòng… Câu nói vô tình bỗng xuyên qua trí nhớ tôi như một ánh chớp.
Như đã nói, túp lều của Phùng Quán ở Hồ Tây quay mặt về phía núi Ba Vì, nếu mở cửa ra thì gặp ngay ngọn Ba Vì. Anh có một bài thơ Mời rượu rất cảm động. Để khép lại quyển sách này, xin mời quý bạn đọc ngâm ngợi 16 câu thơ dưới đây của Phùng Quán:
Mời bác Ba Vì xích lại đây
Ta cùng túy lúy ngắm sóng say
Tôi đùa bác đấy đừng tưởng thật
Bác xích lại gần tôi cũng gay
Bác là Ba Vì tôi Phùng Quán
Bác đông khách tôi càng lắm bạn
Toàn bợm rượu coi trời bằng chai
Họ nhầm lung tung bác với tôi…
Bác đẹp ngang tàng tóc còn xanh
Gái Đông Đô sướt mướt thư tình
Gửi nhầm địa chỉ tôi chết dở
Bà vợ tôi sẽ nổi cơn ghen
Thôi, bác cứ ngồi yên ở đó
Còn tôi cứ tĩnh tọa ở đây
Tôi thì làm thơ bác làm núi
Nhớ nhau tưới rượu xuống Hồ Tây.
PQ.
TP. Hồ Chí Minh, tháng 9-2016
Chú thích:
[1] Khi tôi đang biên tập bài này thì trên Facebook, anh Ngô Minh đưa tin: “Theo tin của cháu Phùng Đỗ Quyên - con gái nhà thơ Phùng Quán - thì Phùng Quân, con trai duy nhất của Phùng Quán đã qua đời chiều ngày 16-12-2016 tại Hà Nội vì bệnh phổi. Cháu Quân sinh năm 1968, nay mới 49 tuổi, do sa ngã vào hút xách, không chống đỡ được với bệnh tật”! Thật buồn đau cho gia đình cố nhà thơ Phùng Quán! Xin chia buồn cùng tang quyến! (Chú thích của Triệu Xuân).
Trần Thanh Phương
Nguồn: Rượu
với văn chương. Trần Thanh Phương
sưu tầm, biên soạn.
NXB Hội Nhà văn, 02-2017.
|
|
|
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét