Hà Nội xưa - Nghề in ấn
Đề cập đến vấn đề văn hóa, văn học của một dân tộc trước hết phải nói đến nghề in ấn. Tôi bắt đầu nhắc tới những chuyển biến của ngành này với cái mốc năm 1936.
Thời đó, nền văn học Việt Nam đã có cơ phát triển. Nhiều tác phẩm Pháp, Trung Hoa được dịch ra Việt ngữ. Đại biểu cho dịch giả Pháp văn là Nguyễn Văn Vĩnh, Dương Phương Dực (học trò cụ Vĩnh), Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Giang (con cả cụ Vĩnh)... Đại diện dịch giả tác phẩm Trung Hoa là các cụ Bùi Kỷ, Sở Bảo Doãn Kế Thiện, Nguyễn Đỗ Mục, Phan Kế Bính, Mai Đăng Đệ, Cử Can... Giai đoạn ấy, một số công tử nhà giàu ganh nhau đẩy mạnh phong trào Tây du, cốt lấy cái tiếng cậu cử, cậu tú để cưới gái đẹp, đào mỏ vàng. Họ trở thành những ông Tây An Nam, không cậu nào dịch nổi một cuốn sách Pháp văn. Tựu trung du nhập sách văn học Pháp vào Việt Nam chỉ có một Nguyễn Văn Vĩnh. Cụ Vĩnh đã dịch những tác phẩm nào, tài năng dịch ra sao tôi tin bạn đọc đã biết, khỏi kể.
Cùng thời kỳ ấy, văn học lãng mạn Trung Quốc tràn ngập vào Việt Nam qua những tác phẩm tình yêu của Từ Trẩm Á. Hoàng Ngọc Phách chịu ảnh hưởng nhà văn nước Tàu này qua truyện Tố Tâm, Bóng trăng soi... Nhưng nước mắt của nhà văn bi lụy này làm ngập lụt nền văn học Việt Nam chưa được bao lâu đã vội khô tàn. Sức sống của dân tộc Việt Nam đã chuyển mình. Nhà văn Việt Nam tự vạch một hướng đi riêng trong đó cái hơi thở căm hờn thực dân Pháp đã nổi lên cơn gió lốc qua Chiêu hồn nước của Phạm Tất Đắc và những lời kêu gọi đồng bào thức tỉnh của Ký Con, Thái Học, cô Bắc, cô Giang, Sứ Nhu... Cùng với cơn gió lốc Chiêu hồn nước, những lá truyền đơn bay khắp đất nước Việt Nam. Đẩy mạnh cơn giông tố ấy nghề in ấn âm thầm phát triển, mạnh nhất là ở Hà Nội.
Nhà in lớn, nhà in nhỏ ra đời. Công cụ sản xuất vô cùng khiêm tốn.
Một hai cái máy nho nhỏ, gọi là máy Minerrve (máy công tử, đạp chân, như thợ may máy khâu) mặt máy chỉ mang nổi từ 6 đến 8 bát chữ.
Việc chính của máy công tử là in hóa đơn cho nhà buôn, in thiếp cưới, danh thiếp. In xong một cuốn sách 200 trang phải hàng tháng mới hoàn thành. Còn in báo, hồi ấy, chủ nhà in có vốn mới dám mua máy lớn, mỗi khuôn chữ có thể chứa được hơn 30 bát chữ. Thợ sắp chữ làm ban ngày, cố sao cho kịp giờ buổi sáng để lên khuôn thử cả 4 trang, rồi dập hai bản thử (morasse) đem đến Nha Thông tin, Phòng Báo chí trình kiểm duyệt. Lấy được con dấu và chữ kí nhận của kiểm duyệt rồi, đến 2 giờ đêm hai công nhân đứng máy (machiniste) mới bắt đầu cho máy chạy, đến 5 giờ sáng thì in xong từ 3000 đến 5000 tờ, phát hành vào lúc tinh mơ, trẻ con lĩnh báo, chạy rao khắp tỉnh.
Giấy sách, giấy báo phải mua của Pháp, tại nhà máy giấy Đáp Cầu. Ngoài cơ sở này, không đâu có giấy. Chiến tranh Việt - Pháp nổ ra, nhà máy giấy Đáp Cầu đổ vỡ. Ngành in không còn có giấy. Phải tìm đến cứu tinh là giấy Bưởi, rất đắt và rất hiếm. Hồi đó, có một ông già công nghệ trong xóm “Bưởi giấy” là ông Lại Viện sáng chế ra giấy dó. Loại giấy này dày lắm, in sách và cũng cung cấp cả cho triều đình Huế dùng làm giấy sắc viết biểu nhà vua, có triện thiên tử, đó là sắc phong của hoàng đế trị vì.
Thực dân cũng mở một nhà in lớn, gọi là nhà in Taupin, viết tắt IDEO (nhà in Viễn Đông). Taupin không hề cạnh tranh với các nhà in người Việt. Nó in báo Pháp và các thứ sổ sách giấy tờ cho nhà binh và công sở Pháp.
Hà Nội có mấy nhà xuất bản, nhà in lớn. Đáng kể nhất: Minh Sang, TB Cay, Ngô Tử Hạ, Lê Văn Tân, Tân Dân... Nhà in nhỏ là Tân Việt, Cộng Lực. Được cái, dễ bảo nhau, không có cạnh tranh, kiện cáo. Vấn đề nhà in mua chữ quá khó khăn. Phải gửi Commande sang Pháp mua mỗi bận ít ra vài ba tấn các loại, các cỡ chữ. Chữ cỡ lớn làm titre (đầu bài) gọi là Europe gras (Ơ rốp béo), chữ nhỏ - Europe maige (Ơ rốp gầy), chủ nhà in tính đắt tiền là chữ Chetteman (Sentoman) cỡ 8, nét sắc. Loại chữ này dùng in sách đắt tiền, in lên loại giấy hảo hạng, gọi là giấy Boufflant (bútfăng). Loại hạng nhất, soi tờ giấy lên mắt ta nom rõ trong giấy có sợi chỉ nước (lignefeau) giá trị như tờ giấy bạc ngân hàng. Còn chữ dùng in báo, in sách thì dùng loại chữ đứng thông thường cỡ 9, 10 (romain) và chữ ngả.
Từ sách đến báo in ấn còn ấu trĩ.
Sau này, văn hóa theo đà sống của quần chúng ngày một trưởng thành, luồng thông tin sáng sủa hơn nhờ vào nguồn cung cấp của hãng thông tin Pháp (Agence France Presse - AFP) và Tân Hoa Xã của Trung Quốc.
Quần chúng Việt Nam đã nhận thức được sự ích lợi văn minh của sách vở, báo chí. Thêm vào đấy, một động lực lớn của văn hóa, văn học Pháp, Trung đã gây cho dân mình tinh thần yêu sách, yêu báo. Mà muốn có sách báo đẹp, phải phát triển nghề in ấn. Do đấy, một thanh niên thức giả không giàu nhưng cố xoay tiền, xin được Pháp cấp giấy sang “mẫu quốc” học nghề in. Đó là ông Đỗ Văn. Qua ba năm học nghề in, chủ yếu nghề đúc chữ, nhà kỹ sư thứ nhất của Việt Nam hồi quốc. Ông Đỗ Văn quả là một nhân tài. Tuy nhiên, một thời gian, không ông chủ nhà in nào dám sử dụng chàng kỹ sư nhanh nhẹn, tháo vát, thông minh ấy.
Người ta chê ông là một kỹ sư cao giá, không trả nổi lương ông. Ngày ấy ông nghị Nguyễn Văn Luận, chủ nhà in và nhật báo Trung Bắc Tân Văn, khước từ Đỗ Văn, cứ khư khư ôm cái nhà in khốn khổ phố Phùng Hưng. Đỗ Văn thất nghiệp với cái nghề quý hơn vàng là cái nghề đúc chữ mà cả nước Việt Nam chưa có. Cái kỹ thuật bậc thầy bị xếp xó không một ai nhìn đến.
Thế rồi, sau đó con ngựa xích thố ấy đã có Quan Văn Trường nhảy được lên lưng, phi ngàn dặm. Nhà học giả Nguyễn Văn Vĩnh đã rời căn nhà nhỏ bé trên con đường hẻo lánh dẫn lên chợ Bưởi mà xuống phố tìm kiếm nhà kỹ sư thất nghiệp. Tri kỉ gặp nhau, như Tào Tháo gặp Lưu Bị ngồi luận chuyện anh hùng bên đĩa mơ xanh...
Đỗ Văn dốc hết kiến thức, luận về nghề in, sẽ nhờ nghề in làm nên nghiệp lớn.
Nguyễn Văn Vĩnh cũng dốc túi càn khôn, cho Đỗ Văn biết về kế hoạch.
Nhờ một nhà in hiện đại, mở nhà xuất bản sách Âu Tây tư tưởng (dãy nhà hiện nay còn đứng sừng sững ở bờ Hồ Gươm trông thẳng sang nhà Thủy Tạ), ông Vĩnh đã ký khế ước với Tây, có quyền sở hữu nó hết 20 năm sẽ trả lại. Trước nó là đất hoang. Ông Vĩnh bỏ tiền túi ra xây dựng. Nay, nó là nhà hàng kem Hồng Vân gì đó.
Nhà kỹ sư ấn loát Đỗ Văn trổ hết tài, hết trí, kể từ nay là một nhân tài làm công ăn lương tháng cho ông Vĩnh.
Nhà in ở Phùng, hàng ngày in nhật báo Trung Bắc Tân Văn, sổ sách linh tinh. Còn một nhà in nữa, đồ sộ hơn, ông Vĩnh và Đỗ Văn dựng nó thành một xí nghiệp hiện đại thuê toàn thợ giỏi, thợ máy có tay nghề vững, máy thì vào hạng nhất Việt Nam. Nó chiếm một gian nhà rộng, đào sâu ngót một thước để chân móng máy. Máy này gọi là Rotative, giá đắt như hồng ngọc. Đỗ Văn cùng làm với thợ, chỉ huy hết thảy. Chỉ nhận in sách quý, chữ mới, giấy thượng hạng. Nhà in danh tiếng này tọa ngự trên phố Hàng Buồm.
Các tuần báo, tạp chí ở Hà Nội, được bàn tay kiệt xuất của Đỗ Văn mó vào, quả là những trái đào vườn thượng uyển, đẹp đến nỗi mấy tờ báo Pháp phải ngợi khen. Mấy tuần báo Việt như Nhật Tân của Phùng Tất Đắc, Con Ong của Huyến Voi (bố vợ Văn Cao), Báo Mới của Trương Tửu, Đông Tây của Hoàng Tích Chu... làm cho báo giới Việt Nam khởi sắc.
Ngựa hay thường có tật. Hàng tháng, cụ Nguyễn Văn Vĩnh vui vẻ trả lương Đỗ Văn trong khi cụ nghị Nguyễn Văn Luận thì nhăn nhó về sự hoang phí của ông công nhân Âu hóa họ Đỗ. Mỗi lần ông rửa tay dầu mỡ, bàn tay một phong lưu công tử, chớ chẳng phải bàn tay thợ nhà in, mất đi một lít cồn 90 độ, có khi hơn thế.
Cụ nghị Luận phải kêu to:
- Trời sinh ra Đỗ Văn chỉ có Nguyễn Văn Vĩnh mới có gan sử dụng.
Sau đó nhà in Lê Văn Tân cũng như họa mi tức nhau tiếng hót, nóng mắt và ngứa tiết, cho con trai là Lê Văn Hân sang Pháp thụ giáo nghề in và đúc chữ. Hân, có trí có gan của bố, cũng qua ba năm thành tài, về lập lò đúc chữ tại nhà xuất bản Lê Văn Tân phố Hàng Bông. Từ đấy, hầu hết nhà in miền Bắc mua chữ của Lê Văn Hân, không phải đặt mua tại Pháp. Chữ người Việt sản xuất chẳng kém gì chữ của Tây.
Người Hà Nội số 12 - 1996
Hà Nội cũ vui buồn sân khấu
Bài ký này, tôi hãy nói đến tuồng cổ khoảng thời gian cận đại 1930-1940. Tuồng hồi ấy là hát bộ. Diễn viên tả bằng trụ bộ, động tác, nhiều hơn là hát. Phải là tuồng Nam Bộ, nói gọn là tuồng Sài Gòn, mới được khán giả Hà Nội hoan nghênh, tuồng Trung Bộ, Bắc Bộ coi như bỏ.
Người Hà Nội, tất cả mọi giới làm ăn vất vả suốt ngày mong tối xuống đèn lên, xô nhau tới rạp Quảng Lạc ngõ Sầm Công, chen nhau lấy vé. Rạp Quảng Lạc, hiện nay còn tồn tại, duy có hình dáng là đổi thay, khó nhận ra. Chủ Quảng Lạc là viên Phủ Trọng, làm quan tỉnh Bắc Ninh, vừa làm quan vừa kinh doanh làm giàu bằng gánh hát uy danh lẫy lừng này.
Cạnh rạp Quảng Lạc đột xuất dựng lên một rạp nữa gọi là Đồng Lạc, bé nhỏ hơn Quảng Lạc. Diễn viên Đồng Lạc kém tài thua sắc, ghế ngồi ít, cửa ra vào chật hẹp, vì thế, chỉ ngót một năm rạp Đồng Lạc chịu thua, tan đám.
Không địch thủ, Quảng Lạc xưng vương. Phủ Trọng tung tiền và thủ hạ vào Nam Bộ, tìm mua hết diễn viên tuồng cổ kiệt xuất, mua những vở tuồng pho rút ra từ những bộ truyện quen thuộc, danh tiếng của cổ thời Trung Quốc mà người Việt Nam, nhất là người Hà Nội, vốn đã thuộc lầu. Kể như tuồng Tam Quốc, Chinh Đông chinh Tây, Ngũ hổ bình Liêu, Càn Long du Giang Nam, Thí võ Lý Nguyên Bá - Võ văn Thành đô, Võ Tam Tư chém cáo, Thục Quý Anh viên môn thục tội, Tây Sương ký, Tiết Đinh Sơn nhất bộ nhất bái, Tây du, Mổ gan Tỉ Can, Thôi Oanh Oanh - Trương Quân Thụy...
Cái vốn bổn tuồng Quảng Lạc quá giàu, diễn viên nam nữ toàn nổi danh về tài sắc. Những kép bậc thầy như Sáu Phú chỉ chuyên đóng một vai Quan Vân Trường, mỗi tháng diễn vài buổi, ngồi chơi ăn lương tháng cao nhất rạp. Sáu Phú được mẽ người cao lớn, mặt to, tiếng to, trụ bộ oai phong, không kép nào địch nổi, được Phủ Trọng quý nể, trọng đãi, có phần sợ hãi như sợ chính linh hồn Hán Thọ Đình hầu Quan Vũ hiển linh. Những kép khác cũng được Phủ Trọng quý yêu, chiêu đãi như kép Tám Ngân rất đẹp trai, võ tuồng điêu luyện, cùng với kép Đĩnh, hai người chuyên sắm vai Triệu Tử Long, Lã Bố, Mã Siêu. Phủ Trọng sắm ba bộ giáp trụ, giáp trắng, mũ gài hai lông đuôi chim trĩ vút dài. Mỗi lần hai kép Tám Ngân, kép Đĩnh mặc giáp trắng, đội mũ lông trĩ xuất hiện trên sân khấu, khán giả hò reo, đốt pháo tay vang rạp. Còn các đào trứ danh, phải kể đào Tám Long, mình cao, giọng rất sang, hát không có vẻ gì là lấy hơi, vậy mà âm thanh lanh lảnh vang xa như tiếng chuông ngân, khách ngồi ghế nghèo hạng bét nghe cũng rõ. Những năm xa xưa ấy không có micro. Tám Long có một tài nghệ phi thường lại thêm nhan sắc tuyệt hảo, nghiêm nghị tùy từng vai, lẳng lơ tùy theo nhân vật trong vở hát. Thứ đến đào Kim Đính, đẹp không thua kém Tám Long, thêm võ thuật tuy là võ thuật tuồng, cũng sắc sảo trong đường cung kiếm, biến sân khấu thành một võ trường thời Chiến quốc Trung Hoa cổ đại. Phải kể tiếp đến đào Chín Cưỡng. Đào Cưỡng tài dưới Tám Long, Kim Đính nhưng cái lẳng lơ khiến khán giả mê say thì không thể tìm một đào khác thay thế Chín Cưỡng trong vai Điêu Thuyền làm tình với Lã Bố, khó hơn nữa là vai Hồ Nguyệt Cô cũng làm tình ngay giữa sân khấu với Võ Tam Tư (kép Tám Ngân đóng) trong vở Võ Tam Tư chém cáo.
Xin lỗi bạn đọc. Cho tôi bổ sung thêm những kép trứ danh Quảng Lạc là kép Ba Niên, chuyên sắm những vai đại lực sĩ nguyên nhung, trụ giáp cực đẹp, võ nghệ cao cường, múa cây họa kích che gần kín cả thân, khán giả ngỡ Ba Niên là một võ sĩ Thiếu Lâm.
Đi kèm kép Ba Niên là kép Lộ, tài năng không thua Tám Ngân trong vai Triệu Tử “toàn thân toàn là đảm” - lời khen của Khổng Minh. Không thể quên tài kép Cẩn trong vai Trương Phi thét đổ cầu Trường Bản. Nhưng trội hơn kép Cẩn, cũng trong vai Trương Phi, còn kép Ba Bồi. Khi Trương Dực Đức - Ba Bồi vuốt râu xồm phóng mình ra sân khấu cùng với giọng hát tẩu mã, roi ngựa tung vun vút thì cả rạp phải rung lên vì cái giọng sấm sét, làm thủng màng tai khán giả, phụ nữ phải nhắm mắt, trẻ em phải khóc đòi về: “con sợ lắm!”.
Danh tuồng võ Sài Gòn lừng danh, vô địch, ngự trị đỉnh cao nghệ thuật sân khấu thời ấy, không thể quên thắp nén hương tưởng niệm một vua hề, một quái kiệt thúc thiên hạ chết cười. Đó là kép Tín. Ôi chao! Chuỗi cười đứt ruột, chuỗi cười ngạt thở, chuỗi cười gây sức sống, chuỗi cười làm thằng ngốc trở nên khôn, thằng gian ác trở thành lương thiện, chuỗi cười quý hơn chuỗi ngọc. Ông vua hề kép Tín tuồng Quảng Lạc, suốt từ ngày Quảng Lạc làm mê say người Hà Nội cho đến ngày Quảng Lạc bị thời gian đào thải, tối nào cũng xuất hiện trên cái thế giới vạn thuở ngàn năm, cái thế giới đồ vương tranh đế muôn vàn nhục vinh. Thời ấy châu Âu đang phát triển phim câm. Vua hề Charlot, Busten, Katoon, Toufou... làm cho thế giới Tây phương điên lên vì cười. Nhưng cái thứ phim câm ấy, cái cười của mấy ông vua cười kể trên vẫn không thể nào sánh ngang với cái kiểu bán cười, gây cười của ông vua cười kép Tín.
Tối tối, khán giả chỉ mong kép Tín ra trò. Ông vừa thò mặt ra, cái bộ mặt cực kỳ ngộ nghĩnh, không hiền, không ác, không say, không tỉnh, nửa người, nửa khỉ, nửa đười ươi, với cái quạt giấy lớn hơn quạt nông dân quạt thóc mà ông móc ở cạp quần sau lưng ra, xòe rộng, che toàn thân thể, là khán giả đã bò ra mà cười. Phủ Trọng làm giàu, vơ tiền dân mộ tuồng Hà Nội, chính nhờ cây cười kép Tín.
Cái lạ là kép Tín không chỉ là vua cười mà còn dư tài sắm những vai khác như Na Tra, Hồng Hài Nhi, Lý Nguyên Bá, ba cậu bé có phép thần, tài võ động trời động đất. Vậy mà khi sắm vai ba cậu bé này không ai hiểu Tín hóa trang biến thể cách nào để thành những cậu bé nhỏ chừng mười lăm, mười sáu tuổi? Cả rạp phải trố mắt ngạc nhiên. Đặc biệt nhất là khi kép Tín chơi vai Đại thánh Tôn Hành giả. Tín hoàn toàn biến thành con khỉ. Khỉ từ động tác đi, nhảy múa, hay hàng ma phục quái, đánh nữ yêu tinh, đến bàn tay luôn gãi thân hình không quần áo sang đẹp như phim Tàu ngày nay, mà chỉ quấn có manh vải giả da hổ, cố ý thò ra cái đuôi dài. Tín cứ giữ cái đuôi cho khỉ thật là khỉ. Hồi ấy chưa có cái trò một nhà báo phỏng vấn, mà chỉ là một cuộc gặp gỡ giữa một ông nhà báo với một nhân vật nào đó nơi trà đình nghèo, chuyện vui. Tôi, vẫn ở tuổi một thư sinh nghèo, tình cờ có mặt ở cái hiệu cao lâu phố Hàng Buồm, lắng nghe ông nhà báo hỏi ông vua cười:
- Vì lẽ gì ông yêu thích cái đuôi con khỉ Tề Thiên như vậy. Không lần diễn nào ông chịu bỏ cái đuôi?
Vua cười cười khẽ:
- Tôi giữ cái đuôi con khỉ là vì tôi không muốn con khỉ giống người. Nó cứ mãi là con vật, nhưng là con vật đầy nhân tính, phục tùng Như Lai Phật Tổ, sống chết một lòng chung thủy với thầy, với bạn đồng hành sang tận Tây Trúc cầu kinh. Nhưng Đường Tăng Tam Tạng, tuy được tiếng là một thánh tăng, một cao tăng, nhưng lại là một con người đầy thú tính, ưa xiểm nịnh, đạo đức dở hơi, chẳng biết gì là ngay gian, thiện ác, mấy lần đuổi tôi về Hoa Quả Sơn, nhiều lần đốc Khôn tiên thắng làm tôi khổ sở ở dọc đường, bất nhân bạc nghĩa, không hề có chút tình cảm gì gọi là nhân tính. Vậy mà, đức Như Lai, một con người hóa Phật nhìn thông suốt việc hạ giới, người thế gian, cũng vẫn thiên vị phong Tam Tạng là La Hán! Cho nên tôi yêu cái đuôi con vật của tôi, tôi tự hào là con vật đầy nhân tính. Tôi còn mong ước trong cuộc sống giữa xã hội con người như thế này, tôi được phép, cho đến chết, sinh hoạt bình thường, tự nhiên, như con khỉ có đuôi này mà không bị người ta bỏ tù, bắt tội.
Nói đến đây, ông vua cười không cười. Ông đứng lên nghiêng mình lịch sự chào ông nhà báo.
Tối hôm ấy, Quảng Lạc đại diễn vở Quan Vân Trường thụ Hạ Bì. Các báo hàng ngày đăng quảng cáo: “Tối nay Quan Vũ sử dụng thanh long đao thật”.
Tôi vốn sùng bái kiểu viết chữ quảng cáo tích hát bằng bút lông phấn nước của họa sĩ Trần Phềnh. Chữ lạ, chữ đẹp như rồng mây, như hoa sóng. Tối tối, tôi nghiện đến cửa rạp Quảng Lạc ngồi xổm ngắm chữ Trần Phềnh trong khi người có tiền, người nghiện tuồng tung tiền ra lấy vé.
Thường thì bảy rưỡi khai diễn. Người mê Trần Phềnh vào rạp sớm nửa giờ, ngồi ngắm không chán mắt bức phông ông vẽ cầu Thê Húc, Tháp Rùa trên Hồ Hoàn Kiếm. Bức phông ấy, tài hội họa ấy của Trần Phềnh, người họa sĩ cao tài đầu tiên tốt nghiệp trường Cao đẳng Nghệ thuật Đông Dương làm vẻ vang họa sĩ Việt Nam.
Đến lúc mở màn. Cả rạp hồi hộp lắng chờ.
Kép Tín, vua hề, đóng vai Châu Sương.
Châu Sương mặt mày hung dữ, ra sân khấu với tất cả điệu bộ nhà nghề, chiếc roi ngựa tượng trưng cho con xích thố vươn mình, hí, nhảy. Kép Tín tay cầm roi điều khiển thiên lí mã, tay vác câu uyển nguyệt đao, đèn hai bên sân khấu chiếu vào thanh đao bằng đồng loáng chói.
Rồi đó, Quan Vân Trường từ hậu trường hét vang mấy tiếng cực oai nghiêm. Sau tiếng hét, Quan Vũ giáp trụ lẫm liệt, lững thững ra sân khấu, không hát, chỉ biểu diễn trụ bộ, rồi ngồi xuống ghế thiếp vàng, bên mấy cây nến đỏ. Đây là Quan Vũ khán thư, tay phải, bằng hai ngón, vén chòm râu từ thái dương rủ xuống, chòm râu ấy, theo tiếng nhạc, được hất lên cùng với ánh mắt đưa theo. Động tác đọc sách vuốt râu, tuyệt nghệ.
Các bà khán giả thành kính chắp tay vái lạy Quan ngài Sáu Phú trên sân khấu, miệng xuýt xoa: “Nam mô a di đà Phật”; “Lạy thánh mớ bái, mớ lạy!”...
Sáu Phú theo lệnh Phủ Trọng, trước tối diễn tích Quan ngài, phải ngủ ở rạp, ăn chay ba ngày, không được về với vợ. Xin âm dương, ngài cho được, mới dám công bố lên các báo.
Quảng Lạc tàn rồi. Nhiều năm sau, nghệ sĩ Sỹ Tiến, bỏ nhiều ngày tháng công phu khổ luyện vai Quan Vũ, Sáu Phú mười phần, thì đồ đệ Sỹ Tiến thành công được bảy phần. Có khác là Sáu Phú đóng Quan Công tuồng cổ Sài Gòn. Còn Quan Công Sỹ Tiến là cải lương, Sỹ Tiến cùng với Anh Đệ, Ái Liên, Kim Chung, Lam Phương, Bích Hợp, Huỳnh Thái là những ngôi sao sáng của cải lương miền Bắc.
Sỹ Tiến vốn là một diễn viên chịu học hỏi, cầu tiến, muốn trở nên một đàn anh. Anh được bạn đồng nghề quý nể vì đạo đức và năng khiếu. Anh càng khiến khán giả thương yêu với vai Chu Du ba lần hộc máu.
Muốn hộc máu, phải có phép riêng. Tối diễn, cần ăn no những chất dễ nôn ra. Đến rạp, Sỹ Tiến thể hiện vai Chu Du tức giận vì thua tài kém trí Khổng Minh, Chu Du nhào lộn để hộc máu, nhưng tối ấy Sỹ Tiến không thành công. Anh vỗ bụng, ngoảnh mặt vào hậu trường móc cổ, vẫn không ọe được. Cuối cùng, mệt quá anh nhào lộn về phía trước sân khấu, bao nhiêu thứ trong dạ dày anh phun như xe nước tưới đường xuống dãy ghế hàng đầu sang trọng nhất. Trước buổi diễn anh ốm, nhưng chủ rạp đã đăng quảng cáo rồi, anh phải nghiến răng vừa diễn vừa rên. Nỗi đau đớn của nghề! Không diễn, phải đền chủ rạp.
Quảng Lạc đã cáo chung ngót nửa thế kỷ nay. Các danh tài hát bộ nam và nữ chết hết cả rồi!
Tôi cần nói rõ duyên cớ cái chết của Phủ Trọng cùng cái tài sản nghệ thuật tuồng Quảng Lạc danh vang đất nước.
Một tối rạp diễn vở đặc biệt Vua Trụ mổ gan đại trung thần Tỷ Can do kép Cưỡng đóng. Rạp chật người Hà Nội. Vở đang diễn thì một cảnh éo le, không thể tưởng tượng được xảy ra: Phủ Trọng bắt kép Giò mặc triều phục thái sư ra sân khấu, ngửa mặt lên tầng gác, trên đó có thượng khách Toàn quyền A. Sarraut ngồi. Kép Giò sụp xuống lạy viên Toàn quyền bốn lạy. Phủ Trọng mặc áo gấm đỏ, đội khăn tím đứng bên kép Giò thái sư, cũng sụp lạy theo.
Cả rạp, trước cảnh sỉ nhục ghê tởm ấy lặng hẳn đi. Sau đó mấy phút tất cả khán giả xô ghế đứng lên, ào ạt kéo ra khỏi rạp với nhiều tiếng chửi.
Qua tối ấy, Quảng Lạc vắng dần, để rồi chết hẳn. Các diễn viên cũng bỏ rạp vô Nam hết.
Kép Giò được Phủ Toàn quyền ban cho cái mề đay cửu phẩm.
Người Hà Nội, số 16/ 1996
Hà Nội cũ nằm đây
Ngày ấy, Hà Nội chưa vào cuộc chiến, nhưng lòng dân đã sẵn sàng củi lửa cho một lò thiêu xác quân thù.
Suốt một dải bãi bờ sông Nhị, đầu là An Dương đến cuối là Hàm Tử Quan, thành nơi ngụ cư của giang hồ tứ chiếng.
Lũ văn nghệ chúng tôi chọn bãi An Dương, nơi địa đầu cát lở làm đất trụ, có thể giữ yên thân khi bình lại có thể rút lui khi biến, lấy Tây Hồ làm lá chắn. Anh quân sư nhỏ con Gia Cát Thâm Tâm qua cơn lầm lì khá nhiều ngày, một đêm mưa, bỗng mở miệng bảo chúng tôi như vậy đấy.
Thế là chúng tôi kéo đến bãi An Dương trống vắng lưu trú với một đám ba bốn chục người nghèo khổ, sống đụng đầu dưới mấy túp lều tạm dựng xơ xác, mái vẹo, tường xiêu, một hố đất đào đủ tầm sâu thành giếng lấy nước ăn. Ngày ngày họ đi làm, thôi thì đủ nghề khốn khổ và khốn nạn.
Cứ thế, lâu dần, rừng lành khỉ đến. Bỗng một ngày Hà Nội gió mưa, chúng tôi choáng váng vì thấy có đến hơn trăm nhân mạng không biết từ cõi đất trời nào kéo đến, tìm chúng tôi xin trú ngụ. Trong số cư dân ấy nam nữ đủ cỡ tuổi, cỡ người, ai nấy đều cao lớn, nói năng bặt thiệp, đứng ngồi nhanh nhẹn. Người nào cũng có cặp mắt sáng, vầng trán rộng, miệng cười tươi. Chúng tôi hỏi họ về nghề nghiệp. Cả nam, nữ đều thấp giọng: “Nghề khuân vác. Đêm thì chúng tôi tập trung ở An Dương này. Ngày thì tiến xuống Phà Đen làm phu bốc vác”. Chúng tôi thấy không nên hỏi kỹ. Cứ theo cách nhìn tướng mặt, nghe giọng nói, chúng tôi đã đoán biết họ là ai, nhưng để bụng, và tỏ lời hoan nghênh, mời họ sống chung bãi, chung đời. Cứ vậy qua đi ít ngày đêm, tri kỷ gặp tri kỷ, dang rộng cánh tay mà ôm ấp nhau, dốc tâm can ngỏ tình, ngỏ trí với nhau. Thì ra họ đều là tàn quân của Hoàng Hoa Thám, Tán Thuật, Cai Vàng, và nghĩa quân của sứ quân núi rừng Việt Bắc. Giặc Pháp truy lùng ráo riết, những anh hùng tráng sĩ này tìm cách vào thủ đô Hà Nội, nhìn thẳng mặt kẻ thù. Với họ, chúng tôi đang nhanh chóng trở nên bạn chí thân, không có rượu thề, mà có thể sinh tử cùng nhau.
Tất cả bọn họ, nam như nữ, đều võ thuật cao cường. Chúng tôi được họ truyền cho dăm ba miếng phòng thân cực kỳ đơn giản và hữu dụng. Còn côn kiếm thì xin miễn. Anh Bảy Thụ, người thầy, bậc đàn anh của họ, nhìn chúng tôi lộ vẻ ngạc nhiên. Tôi đáp:
- Chúng tôi lúc nào cũng sẵn côn kiếm ở đây rồi. Mà tất phải học thêm.
Tôi vung chiếc bút máy lên theo đường kiếm. Anh Bảy Thụ cười vang.
Chúng tôi với họ chung sống đã một năm qua không thấy xảy ra việc gì khác lạ, ngoại trừ trường hợp một vài người trong bọn họ vắng mặt, lần này vài ba tháng, khớp với những tin báo chí đăng rùm beng: vụ anh công sứ miền Trung bị treo cổ, anh tổng thư ký phủ toàn quyền miền Nam vừa bị ám sát hay bị bắt cóc, hoặc lần khác, viên thanh tra mật thám Pháp công cán ở Sài Gòn, bị một lưỡi dao găm cắm trúng lưng giữa phố phường đông như hội.
Chúng tôi, trước những biến cố ấy, không hề han hỏi, mà chỉ theo dõi tâm tư anh Bảy Thụ qua ánh mắt sáng ngời, nụ cười bí hiểm của anh.
Cuộc chung sống này không được dài ngày. Rồi sự chia tay cũng đến, tất nhiên và bình thường như mọi cuộc chia tay trên vạn nẻo đường chinh chiến.
Lại một ngày mưa. Bọn tráng sĩ ấy nắm chặt tay chúng tôi rồi dũng mãnh lên đường. Họ vào Nam chiến đấu.
Bãi cát An Dương này lại chìm vào yên lặng rùng rợn của cái chết từ trời đổ xuống hay từ dưới đất nhô lên.
Trước kia, dốc đê đổ xuống bãi An Dương cũng to như bây giờ. Giặc Tây đề phòng dân bãi mà chúng luôn nghi là cộng sản nổi dậy thì chúng sẵn sàng lao xe quân sự xuống dẹp liền bằng sức mạnh. Trên hai đoạn đê bị cắt xén, chúng ngày đêm đặt hai tên lính lê dương, trung liên sẵn cầm tay, xả đạn xuống người dân nếu ban đêm không cầm chiếc đèn gió hoặc đèn hoa kỳ ở tay lủng liểng giơ cao lên khỏi đầu đủ ba lần. Và ban ngày, đạn trung liên cũng xé xác người dân bãi, nếu tên lính đã ra lệnh cho người dân đứng lại mà không líu ríu tuân theo.
Tôi đã chứng kiến cảnh một người đàn bà đau đẻ, tay ôm bụng, tay cầm cây đèn hoa kỳ cạn dầu khô bấc, lập cập run rẩy loạng choạng tiến đến chân tên lính, tay chưa kịp giơ lên thì một trận gió to thổi tắt ngọn đèn, và tiếp đến một tràng đạn xé trời khuya, người sản phụ ôm bụng trên vũng máu. Tên lính lê dương mặt đen ngòm trong bóng tối, thản nhiên giương đôi mắt trắng nhìn cái xác cười.
Chờ đến sáng hôm sau, chúng tôi lặng lẽ đào hố chôn mẹ con người xấu số. Chị có chồng, một người đàn ông, tiểu công chức, không văn hóa, nghiện cả thuốc phiện lẫn rượu, thịt chó, hay đánh vợ. Tối hôm ấy, ngày lãnh lương anh ta được bạn đồng nghề rủ nhau đi đánh chén say bí tỉ, rồi kéo nhau sang Gia Quất hát cô đầu. Người vợ chết đúng lúc anh chồng đang say rượu, phiện trong vòng tay gái hồng lâu. Tội lỗi ngoài ngưỡng cửa. (Âu cũng là tiền định, tôi viết truyện Ở bãi, truyện Tội lỗi ngoài ngưỡng cửa đăng Tiểu thuyết thứ Bảy, cách đây hơn 50 năm rồi).
Ngày nay, tôi lại tái hồi dải bãi sông oan trái An Dương. Nhưng tôi không hề oán giận bãi cát mát mịn màng, những bóng cây xanh rờn trên dòng nước Nhị Hà lặng lẽ từ thượng nguồn ngàn dặm xa xôi chảy về xuôi rung lên tiếng hát ngàn năm đất Việt.
Tôi tự hào vì bãi đất An Dương. Tôi tưởng tượng xưa kia chính bãi An Dương này là bến Bình Than mà đại danh tướng Trần Quốc Tuấn cùng các quan văn võ hội quân và họp bô lão xin ý kiến toàn dân hòa hay chiến.
Cờ chiến nhà Trần bình Nguyên Mông kéo đỏ bến nước Bình Than. Ngựa hí, quân reo, bước đi rầm rập của các danh tướng Trần Khánh Dư, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng đã khua vang trời nước An Dương kín đáo. Và cũng chính ở khúc sông Nhị Hà này, sau đó danh tướng Trần Khánh Dư đã thủy chiến, chặn quân Nguyên, cướp hết lương thực. Nguyên Mông đại bại, lưu lại mấy ngàn xác chết trên dòng sông Hồng đã đỏ lại pha thêm máu đỏ.
Khúc sông mang dấu ấn lịch sử này, ngày nay không còn những đám mây xây thành soi bóng nước vỗ bờ lau, không còn vang vọng tiếng thét oai hùng của cậu bé Trần Quốc Toản vừa bóp nát trái cam vì tức giận lệnh cấm ra quân của phụ hoàng, nhưng tiểu chiến tướng vẫn ra quân dưới lá cờ thêu kim tuyến dòng chữ lớn: “Phá cường địch, báo hoàng ân”.
Bài ký ngắn ngủi này mang nặng nỗi quan hoài thắm thiết của tôi đối với dải bãi bến phù sa An Dương kể từ ngày tôi cùng mấy anh em văn nghệ Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Nguyệt Hồ, Viễn Khách - sống ẩn náu ở đây ngót hai năm tránh Tây, tránh Nhật, nghe thiên hạ sự.
Thế rồi lại chia tay! Chiến sự bùng nổ vang trời. Người lên Việt Bắc, kẻ vô Nam, kẻ về tề. Viết, vẫn viết, viết trước họng súng, đầu lê, lặng lẽ, nghiến răng mang cái tị hiềm khó giải, tề nhân.
Tôi đã là tề nhân gần hai năm chui bờ rúc bụi, viết Đất, Xã Bèo, Người của đất đồng thời viết cả trường thiên phóng sự về đời sống khốn nạn của văn quan, võ tướng xã hội Sài Gòn, với nhan đề Xóm Rá (1953).
Viết xong Đất, Xã Bèo, tôi viết một cụm hai truyện dài Cầu Sương, Quán Gió. Nội dung đề cập đến số phận hẩm hiu của người phụ nữ giai cấp tư sản trong ngày chiến. Cô gái khuê môn không hiểu lòng chồng, dẫn đến phụ chồng.
Xin trở về với bãi bến An Dương. Hồi mấy mái tóc xanh còn chụm vào nhau chung đèn chung bóng. Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, ba nhà thơ sục sôi lòng cách mạng, ngày đêm bàn cách lên chiến địa. Trần Huyền Trân khẽ nói lên cái day dứt của lòng mình:
Nằm đây thép gỉ sơn mòn
Cái đi đi mất, cái còn lần khân
Thẫn thờ thẹn gối, e chăn...
Các anh đã lên chiến địa. Các anh đã làm những cánh chim thỏa chí lớn hải hồ. Các anh đã vì nghĩa cả. Tôi cũng từ lâu, xoa mái tóc bạc này, nhằm câu chiêu niệm. Thế sự vãn du du, rồi cũng đi vào ảo giác.
Tôi mệnh chưa cho chết, sống quá đủ rồi. Mong đi. Đi về đâu? Về đâu? Nào biết.
Giờ thì tôi lại ở bến bãi An Dương “Cây đa bến cũ, con đò khác xưa”. Về đây ở với lũ con trai. Cả ngày nằm giữa Hồ Tây, Nhị Hà đọc sách. Đầu óc mỏi rồi, trí nhớ thui rồi, mắt mờ rồi. Sợ đọc, viết, cố ngồi, cố viết, tay quá run, chữ không thật nét, coi như làm cái việc “rửa bút cùn, lau kiếm gỉ”, viết với tâm tình băng giá của một ông già. Viết nhiều, viết ít, viết gì đi nữa, chỉ là những dòng chữ biệt li. Tôi nghe như sắp ra khỏi kiếp tục gửi trong cõi tạm.
Ngòi bút lê đến đây, ngậm ngùi tưởng như những cành lá khô rơi rụng cuối nẻo đường văn nghiệp.
Tôi sực nhớ câu thơ trong thiên trường ca của Lý Thương Ẩn, danh sĩ Thịnh Đường.
Sen tàn nghe rốn tiếng mưa thu
Tôi đắc ý với ý thơ, lời thơ tuyệt hảo này. Mỗi lần nhắc đến, lệ hoen má hóp. Xin mượn câu thơ họ Lý khép bài ký ngắn ngủi này và cũng luôn thể kính chào bạn đọc cố hữu cáo chung nghề cầm bút của tôi.
Kể từ nay, tôi sống những ngày tàn không tác phẩm nhưng bù vào cái bất hạnh ấy, xin được phép vui mừng báo với quý vị là tôi làm cha một lũ năm trai, một gái, làm ông nội, ông ngoại một đàn mười lăm, mười sáu cháu.
Chỉ còn hận chưa có mống chắt nào.
Thì tháng trước, giữa mùa xuân cô cháu dâu, trưởng tộc của tôi cho ra chào đời một thằng chắt khỏe mạnh kháu khỉnh.
Tôi mừng và nghĩ đến cái truyện ngắn, rất ngắn, rất hay của nhà văn Nga M. Gorki. Truyện rằng:
Một đoàn người đi phá hoang. Trong đoàn có một người đàn bà đau đẻ khi đi qua bãi bể sóng gió ầm ầm. Người sản phụ đau quá, ngã gục trên bãi sông. Ai giúp đỡ bà? Không ai cả. May, trong đoàn có nhà văn Gorki. Ông xoay trần giúp sản phụ cho ra chào đời một chú bé thiên thần. Chú bé khỏe mạnh, cứng cáp, quẫy đạp, khóc vang. Nhà văn hào ôm chú bé thiên thần, nhảy xuống sông, dìm chú xuống làn sóng nước mặn nồng, nhấc lên, dúng xuống đủ ba lần.
Chú bé khóc to hơn, vang vọng cùng tiếng sóng liên hồi vỗ vào đất nước Đại Nga. Còn thằng chắt nhỏ của tôi, thưa các vị, cũng khôi ngô tuấn tú, cụ và chắt rất hợp nhau. Cụ già rồi, nhưng cũng cảm hứng như văn hào Gorki muốn ẵm chắt lội xuống dòng sông Nhị, ba lần dúng nước, tắm rửa chắt ở Trường Giang, chào mừng đất nước Việt Nam anh hùng đổi mới.
Người Hà Nội, số 19/ 1996
Người phun kiếm
Hôm nay nói đến nghề xuất bản sách báo, cách in ấn và phát hành sách báo tại Hà Nội những năm trước cách mạng, tôi nhân danh một người đã cộng sự với một tài năng lớn trong nghề này là ông Vũ Đình Long, không ngần ngại gì mà không nhắc đến tên ông với tấm lòng chân thật và cũng không thiếu ít nhiều suy nghĩ đắng cay.
Qua nhiều năm nay, mỗi lần có dịp nói đến cái nghề xuất bản cao quý này, tôi lại ngậm ngùi nhớ tới ngôi nhà 93 phố Hàng Bông, trong đó có một người tầm vóc to lớn, da ngăm đen, bước những bước đi lạch bạch quanh bàn giấy đồ sộ luôn tỏ ra bực bội, đăm chiêu, tính toán. Đó là ông Vũ Đình Long, một trí thức bỏ vốn ra kinh doanh văn chương chữ nghĩa, làm giàu. Ông Long từ đâu đến trong cái Hà Nội ngàn năm văn vật quay cuồng qua bao cuộc hưng vong lịch sử này? Lúc còn là một ông giáo dạy lớp phổ thông, không ai biết đến ông. Ông giáo họ Vũ đang an phận gõ đầu trẻ nhỏ, bỗng có lệnh đổi ông lên tận Hà Giang tiếp tục “Godautre” (gõ đầu trẻ - nhà văn Nguyễn Công Hoan, bạn đồng nghiệp của ông Long, chơi chữ). Ông Long ở Hà Giang tận dụng mấy năm sống với núi rừng, ngày đêm trau dồi chữ Hán. Ông bắt đầu thử năng khiếu văn chương, dịch pho tiểu thuyết Tàu Anh hùng náo. Pho truyện kiệt tác. Sách gửi về Hà Nội, xuất bản, được độc giả nhiệt liệt hoan nghênh. Sau đó, đến Mảnh trăng thu, một truyện tình nổi tiếng của nhà văn lãng mạn Tàu là Từ Trẩm Á. Ông Vũ Đình Long nổi danh trong làng văn bút Hà thành hoa lệ.
Rồi thì, gió đã lên, cờ đến tay Vũ, Tây lại chuyển ông giáo Long về Hà Nội. Ông tự thấy ngấm say men văn học, xin thôi nghề dạy học, bắt đầu mở nhà in. Họ Vũ vẫn bản chất cơ mưu, nói chắc nịch, làm ăn cũng chắc nịch lại thêm cái nết điềm đạm, khiêm tốn, vui vẻ với mọi người, luôn lấy câu “thu phục nhân tâm” làm chuẩn đích trong nghệ thuật xã giao.
Khởi đầu, vừa làm, vừa nghe ngóng, thử sức mình, nhà in Tân Dân chỉ vẻn vẹn có một máy in cỡ nhỏ, vài máy công tử đạp chân, nhận in thiếp cưới, danh thiếp, sổ sách nhà buôn... Công việc chạy đều, có thu có nhập. Họ Vũ nghĩ ngay đến việc làm lớn. Ông lân la bước vào nghề xuất bản. Hãy làm chú mèo con bắt chuột chí, ông cho ấn loát loại sách ít trang, giá rẻ - 25 xu một cuốn: sách Phổ thông bán nguyệt san. Số lượng 2.000 cuốn, bán quanh Hà Nội. Chỉ độ mươi hôm, sách bán hết. Ông Long xuýt xoa thầm nhủ: “Thế này thì phi xuất bản bất phú”. Loại phổ thông bán nguyệt san ra đều, cứ nửa tháng cái máy in cũ kỹ chạy “cà xịch cà tàng” lại thòi ra một quyển, số lượng nhích dần lên.
Thời vận đến rồi. Họ Vũ đã ngồi phác họa một xí nghiệp ấn loát, một xưởng in cỡ lớn, với một máy hiện đại Minerve gửi mua bên Pháp quốc.
Cứ như một trận đổi đời. Một sớm, nhà in cũ bị phá, cái máy cũ thảm hại như chú ngựa già, chưa bị chủ nhân mổ thịt, vẫn được chủ tận dụng sức tàn, khiêng vào một xó chạy đều đều. Máy hiện đại Minerve từ Pháp đã đến Việt Nam, chủ nhân được giấy hải quan mời xuống cảng Hải Phòng nhận máy, xe về Hà Nội.
Họ Vũ phải thuê hai chục thợ phá nền nhà, đào móng, hạ bệ cái máy tối tân, to như hai cỗ xe tăng chập lại. Tây không quên cử một kỹ sư Tây theo sang Hà Nội lắp máy, thu một số bạc trả công rất lớn.
Cái máy xe tăng bắt đầu khoe oai lực. Nó chạy êm như ru. Một phút nhả ra năm chục tờ giấy in khổ báo, tự nó gấp rất ngon lành.
Như đã nói, ông Vũ Đình Long lắm cơ mưu, lại giỏi cả Hán văn lẫn Pháp văn. Về tài giao dịch thì ít ai bì kịp. Ông vén tay áo, dồn cả trí tuệ vào công việc: chính thức dựng nhà xuất bản. Nhưng muốn tung hoành trên mặt trận văn hóa, văn học, phải có tướng quân, đó là những con người văn nghệ, con người trí thức, những con người áo vải, dễ nắm tóc đấy, mà cũng khó chơi, khó trị.
Họ Vũ tự tin bản lĩnh của mình, như Tống Giang Lương Sơn Bạc, chịu khom mình vái lạy thì tức khắc thu nạp được hầu hết anh hùng hảo hán bốn phương.
Quả vậy, họ Vũ đã công thành như Tống Công Minh. Muốn thu phục bọn áo vải kiếm ăn bằng cây viết, ông chủ nhà xuất bản phải có tài chiếm lĩnh lòng tin bọn người hàn sĩ qua thư từ trao gửi. Thời cũ, người mua văn, kẻ bán chữ, thoạt đầu ít khi tiếp diện. Giao dịch bằng thư từ, chữ nghĩa. Có cảm tình với người mua chữ, thì viết cái chơi, không cảm tình thì... hoa rơi lá rụng! Thế đấy! Cái bệnh chung của người áo vải bán văn, sống nghèo, chết thảm, không chịu ai cưỡng chế.
Vũ Đình Long sinh hoạt khắc khổ, không thích xuống xóm “Kính thiên” (Khâm Thiên), không ưa gái nhảy. Rất thích chơi bát đũa thượng hạng của Trung Quốc, khoe bát đĩa lạ với khách mời dự tiệc, ăn món lạ, uống rượu lạ. Thật vậy, ông hào phóng trong việc mời khách ăn. Thực khách đó, tất nhiên không phải các anh nhà văn áo vải đủ danh, đủ tài, đủ đức như Vũ Trọng Phụng, Lan Khai, Nguyễn Tuân, Lê Văn Trương, J.Leiba Thanh Tùng Tử, Hiên Chi... Chỉ có một bạn văn, một bạn cùng nghề “Godautre” mỗi lần từ Thái Bình, Nam Định lên chơi Hà Nội là được Vũ Đình Long cho xe hơi đi đón về dự tiệc vô cùng thịnh soạn, đó là Nguyễn Công Hoan.
Nhà in mang danh hiệu Tân Dân, nhà xuất bản Tân Dân đứng ngạo nghễ ở phố Hàng Bông, như thách thức đọ kiếm với mọi nhà in lớn, như nhà in TB Cay của Hoa kiều ở phố Sinh Từ, nhà in Minh Sang ở Bờ Hồ, nhà in Ngô Tử Hạ phố Nhà Thờ, nhà in Lê Văn Tần phố Hàng Bông, nhà in và cũng là nhà xuất bản Văn Hồng Thịnh 112 Hàng Bông và còn chục nhà in nhỏ khác. Nhưng địch thủ ghê gớm nhất của những nhà in Việt này là xí nghiệp in của người Pháp IDEO (Imprimerie d'Extrême Orient - Nhà in Viễn Đông). Nói là địch thủ ghê gớm là nói về ấn loát tân kỳ của nhà in Pháp. Ngoài ra, họ không hề cạnh tranh gì với nhà in người Việt.
Ông Vũ Đình Long có đầu óc làm ăn lớn và ấn loát tối tân, tổ chức nhà xuất bản có khoa học. Xu hướng của ông là cố gắng noi theo tổ chức văn học của Editions Flammarion và Librairie Hachette, nhà xuất bản vĩ đại, kỳ cựu của Pháp. Đã có trí cầu tiến như vậy, họ Vũ duy trì cách đối xử khéo với đội ngũ nhà văn hồi ấy đã tỏ ra khá mạnh.
Đội ngũ nhà văn của nhóm Tân Dân (đối lập với Tự Lực văn đoàn mà chủ lực chỉ có bốn anh em họ Nguyễn Tường) gồm hai thành phần: bút lông và bút sắt, đào tạo bởi hai thế hệ.
Bút lông: Cụ bảng Mai Đăng Đệ, cụ cử Phan Kế Bính, sở bảo Doãn Kế Thiện, các ông Nhượng Tống, Nguyễn Can Mộng, Phan Khôi, Tản Đà, Trúc Khê Ngô Văn Triện, Nguyễn Đỗ Mục... Các ông không khoa bảng như Nguyễn Triệu Luật, Phan Trần Chúc, thi sĩ Lê Bái (bút danh: J.Leiba Thanh Tùng Tử, tuổi trẻ tài cao Hán học, Pháp học đều uyên bác)...
Bút sắt: Hiên Chi Nguyễn Văn Chất (viết báo Pháp nhiều hơn báo Việt), Lan Khai (tiểu thuyết gia nổi tiếng), Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Như Phong, Tchya, Phùng Tất Đắc (Hán học, Pháp văn cũng vào bậc uyên thâm), Lê Văn Trương (tiểu thuyết gia, người hùng, viết khỏe nhất, nhiều độc giả nhất miền Nam cũng như miền Bắc), Lưu Trọng Lư, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân và tôi.
Còn lạ gì trò đời ghen ăn, ghét ở. Hai tờ báo tuần Phong hóa và Ngày nay của nhóm Tự lực văn đoàn thẳng tay lôi Vũ Đình Long lên mặt báo. Họ sử dụng tranh trào phúng, thơ văn hài hước để đả kích ông. Đặc biệt bức biếm họa vẽ Vũ Tiên ông hếch mũi lên trời, kiếm ở hai lỗ mũi phun ra tơi tới, bạc tiền như nước vỡ đê ào ào chảy vào tay áo thụng của Vũ Tiên ông... Nhưng ông Vũ không những không giận nhóm Nhất Linh, mà còn tỏ ra thích thú.
Tôi, tuổi thọ khá cao rồi, cầm bút viết hồi kí này, bút rời tay, cảm thấy lòng buồn.
Cho đến ngày nay, tôi còn tồn tại. Các ông bạn cầm bút của tôi, cùng thời với tôi, tất cả đã ra khỏi cái quá khứ văn bút đau thương kệch cỡm này.
Người Hà Nội, số 29/ 1996
Ga xép
Những ngày xa xưa, ai đã từng xuôi ngược trong những chuyến đi gần đi xa, trên các toa tàu hỏa được khó nhọc kéo đi bởi cái đầu tàu xấu xí phì phò nhả khói, tất nhiên còn lưu giữ trong trí nhớ những nhà ga nhỏ bé đứng trơ vơ đơn độc trên cánh đồng mênh mang hiu quạnh, ngày đêm ít có bóng người.
Ngày ấy, tôi còn trẻ lắm, ở cái tuổi thiếu niên. Lớn lên, qua đây qua đó cũng nhiều, ghi trong tâm tưởng kể hàng trăm ga nhỏ bé mọc lên khắp miền đồng bằng, sơn cước, “đường thuộc địa”, ôm chặt lấy các tuyến đường sắt Bắc Nam. Ngày nay, quá già rồi, tôi không còn đôi chân nhanh nhẹn, cơ thể gọn gàng để chuyển hành lí cồng kềnh hoặc khi toa đông khách, cái gã thanh niên tháo vát này tự tiện phi thân lên cửa toa xe, nhảy phắt vào chiếc ghế gỗ dài, ngồi vắt vẻo. Ở lứa tuổi xanh rờn ấy, tôi tự đắc là khỏe mạnh, ít bỏ lỡ dịp trổ cái vốn võ thuật ít ỏi của mình, nhờ một núi truyện kiếm hiệp Tàu đăng câu khách trên hầu hết báo chí của thủ đô, hơn nữa, tuổi trai chưa vợ, tôi thích cái chuyện “ân oán giang hồ” vặt, mê lăn các tuyến đường đất nước, nhất là đường sắt. Mê đường sắt bởi lí do: trong toa tàu chạy xuyên đêm mịt mờ tối sáng, luôn ánh lên một đôi mắt biếc, một nụ cười duyên, tiếng nói ngọt ngào có hiệu lực ru mấy hành khách đang ngủ gật và làm tỉnh táo mấy gã đầu xanh, tim đập rộn ràng, mở to mắt đoán tìm ánh mắt ấy, nụ cười, giọng nói ấy tất phải của người đẹp hành hương. Thế rồi, tới lúc sáng trời, họ đã nhanh chóng trở thành đôi bạn chim xanh, say sưa viết trang tình sử. Tuổi xanh, ở thuở nào cũng vậy, con người sống với trời tình biển hận, nghĩa là phải có yêu đương, ngủ cũng mơ yêu, thức cũng mơ yêu, yêu đến già, đến chết. Tình yêu là đất thánh nhiều màu mỡ, ở đó, chỉ ở đó nảy mầm thơ văn, làm nên văn học, làm nên truyện Kiều.
Tôi vốn người quê Kinh Bắc, sinh quán phủ Thuận Thành. Sử cũ chép: Đời nhà Hán Trung Hoa, phủ Thuận Thành của ta tên gọi Liên Lâu, hai Bà Trưng ngày khởi nghĩa đã hội tướng hội quân ở đó. Cũng ở đó, sau này Tô Định đã sát hại Thi Sách, gây cho Bà Trưng mối thù chồng phải báo; cũng ở đó, Mã Viện đã xuất quân, diệt Nữ Vương anh hùng đất Việt.
Mỗi lần tôi từ quê ra Hà Nội, phải cuốc bộ hơn mười cây số tới ga Lạc Đạo, đợi tàu Hải Phòng lên.
Chao ôi, cái ga Lạc Đạo bé nhỏ này! Một đời người có muôn nghìn thương nhớ. Bảo rằng thương nhớ khôn nguôi, song dù nhớ sâu như biển, thương cao như núi, nhưng rồi nhớ thương biết mấy cũng phải tàn.
Ga Lạc Đạo cũng như các ga xép khác thuộc mạng lưới đường sắt dăng như mạng nhện khắp đường thuộc địa. Cấu trúc nhà ga xép giống hệt nhau. Một căn nhà hai phòng hẹp, cửa trông ra sân ga xây cao lát xi măng kề bên đường xe hỏa. Hai phòng, một dùng làm phòng bán vé, cân hàng; phòng trong, tối như hũ nút, dành cho gia đình thầy ký ga chui rúc. Lương nhân viên hỏa xa quá thấp, chẳng đủ nuôi thân, nói gì gánh vác vợ con, cũng không hòng nuôi cha mẹ. Biết vậy, nhưng cái nợ thê nhi khó tránh, thầy ký nhà ga vẫn phải đèo bòng, với lương còm mười lăm đồng tháng không phụ cấp, chẳng có tăng. Các cô gái tỉnh, gái quê tấp tểnh kén chồng, mong chờ ký, phán. Kén được chồng ký còn dễ, kén tham phán khó hơn lên trời. Ký gì cũng được, song nói đến ký la ga thì các cô lè lưỡi chạy dài ngay. Câu nói mỉa mai quen thuộc ngày đó là “thầy ký la ga ăn cắp gà bỏ túi”. Câu ấy nói hết cái nghèo, cái khổ của những viên chức xấu số này. Nhưng bún chua gạo mốc thì ế, chớ người đàn ông, dẫu hẩm hiu đến mấy, vẫn không chịu làm đồ bỏ vào nồi nước gạo. Các cô gái muộn chồng, bỏ chồng, sớm góa, cuối cùng cũng phải nhắm mắt làm vợ ký la ga. Nhờ vậy, và vì thế, các thầy xếp ga thầy nào cũng lúc nhúc vợ con một bầy sống trong gian buồng phụ cận phòng bán vé. Cái trò đời nó thế. Công chức ở tỉnh thành sống vui, sống sướng, lương khá cao, thừa sống, nếu vợ biết xoay xỏa, mở cửa hàng buôn bán hoặc ít ra cũng cầm cái họ, sống nhởn nhơ. Ông chồng thì phè phỡn, sớm vác ô đi tối vác ô về, phởn hơn tí nữa thì kéo nhau gom tiền làm chầu hát Vạn Thái, Khâm Thiên, đi nhảy... Còn thầy ký la ga làm gì? Đi đâu? không tiền nằm xó, lấy vợ giải sầu, càng đẻ như gà mái.
Quanh cái ga xép buồn tênh, dân cư thưa thớt lặng lẽ sống sau mấy lũy tre xanh xơ xác, ruộng nương cằn cỗi. Ngày ngày, mặt trời mọc quá con sào, một hai anh dân cày mới đánh trâu còm ra cánh đồng vắng ngắt “vắt, hò, họ”. Tiếng con người nói với con vật như hơi thở tàn của anh ốm đói sắp xa đời.
Hàng xóm với thầy ký la ga có chừng vài ba hộ, người đông, vại gạo không bao giờ đầy, nhà bên phải với nhà bên trái thi nhau rách, đói, ốm la trời, oán đất. Ga xép Lạc Đạo tuy như cái xác thoi thóp thở, nhưng xem ra còn sinh khí. Nó cũng như mọi ga xép khác, có một chõng hàng bún riêu cua ngon nổi tiếng vùng Lạc Đạo. Cái hàng bún riêu bà Bơ được bà con xã, huyện đều mến tiếng. Bún riêu bà Bơ ăn với đậu nướng chợ Đường Cái, ăn vào hai bát thì cô vợ đoảng sắp bỏ chồng cuốn gói theo giai cũng phải ở lại ăn thêm dăm bát nữa mới chịu lìa chồng. Cái miệng bà Bơ bún riêu mà nở ra thì cụ sắp tới giờ viên mãn cũng nam mô xin ở lại cõi tạm này thêm một giáp. Liền cạnh hàng bà Bơ, bỗng một hôm, khách đi tàu đêm xuống ga Lạc Đạo, bấn người lên vì nhác thấy nẻo gần nẻo xa lãng đãng dăm ba tà áo lụa trắng xanh, nhẹ gót gõ mặt đường đá vụn xanh mát bóng trăng suông. Hỏi ra: một quán đào nương, ca nữ lầu xanh mới mở. Rồi thì người Lạc Đạo, cạnh ga Lạc Đạo, chuyên nấu rượu ngang thơm ngon bấy lâu nổi tiếng, không bảo nhau mà cùng phao tiếng lên rằng: Một bà chủ cô đầu tài sắc có thừa, đã ôm cầm theo ông phủ Thuận Thành về phủ làm tiểu thiếp. Bà phủ nghe tin, tức tốc về phủ đánh ghen loạn phủ. Ông phủ bỏ thương vương nhớ, chờ bà phủ ra Hà Nội rồi, ông cho người đẹp món tiền to, mua mấy gian nhà cho người đẹp mộ lũ con em xinh như mộng, lại gọi tay kép đàn đáy cao tuổi nghề từ Hải Dương về đây đờn cho bà chủ trổ tài sênh phách, tiếp khách cao sang, phần đông là bạn hữu ông phủ từ các tỉnh ngự xe hơi hoặc ngồi xe lửa đáp ga Lạc Đạo.
Nơi hàng viện lạ cảnh lạ người, ế khách hai hôm. Tối thứ ba, đèn nhà hát đã thêm dầu lửa, tiếng đờn, tiếng phách, tiếng trống đã xốn xang reo cái duyên ti trúc. Nhờ vậy, cái ga xép hẻo lánh này bỗng nhiên khởi sắc. Bún riêu bà Bơ càng thêm màu mỡ, có khách tầu xe ăn ngày, lại có khách chơi son phấn ăn đêm. Bà Bơ vui mừng. Duy vợ chồng thầy ký la ga, nghề đã sầu, cảnh lại thêm sầu. Thầy túng thiếu, cả ngày đóng đanh cặp mắt lèm nhèm vào tập lịch trên tường, cháy ruột chờ đợi ngày bây (Jour paicment: ngày lĩnh lương).
Nhân viên ga xép có ba người: xếp ga, người bẻ ghi, người cắm cờ đỏ xách đèn xanh đỏ giơ lên đón những chuyến tàu vào ga, dừng bánh trước sân ga. Sau này, tổng giám đốc xe lửa hạ lệnh: Con số ba người phục vụ ga xép, rút xuống còn hai. Không cần người cầm đèn đỏ, việc này xếp ga đảm nhiệm, bớt một nhân công, com-pa-nhi Vân Nam đỡ tốn tiền chi phí. Thế là ông xếp ga Lạc Đạo, tục danh ông xếp Nhã, thêm việc làm, thêm cả cái ốm đau, túng quẫn. Một vợ, ba con. Gạo thiếu chỉ đủ cháo húp, bà bếp bí quá phải vừa ra đồng mót thóc rơi, vừa đánh bạo vào làng vay tạm một bà quen việc bốc vác gồng gánh ở sân ga khi có chuyến tàu về.
Ông xếp Nhã vốn lành hiền, đời khó sống mà ông cố bóp bụng để thành sống dễ. Cơm thừa sức ăn ba bát, ông chỉ dám ăn một bát, nhịn phần con nhỏ. Món ăn chỉ có mớ lá khoai lang ngoài bãi, nhai với con cua muối mặn, cố sống, phải sống, cặm cụi làm công việc tối ngày: bán vé, cân hàng, đánh morse. Lạch cạch, lạch cạch, cái cần sắt kêu nhịp nhàng dưới ngón tay người ký la ga nửa kiếp hành nghề, nửa đời nghèo đói.
Nhà cô đầu cách nhà ga chừng mươi thước. Đêm có khách, trống phách nói cười dâm ô, khả ố hành hạ cái thân gầy còm, tật bệnh. Ông nhăn mặt, ôm ngực đau, ôm bụng đói, cúi gục đầu xuống đánh morse “lạch cạch, tành tạch...”. Có một đêm, bên kia nhà cô đầu, lưu linh loạn đả nơi phòng khách, mấy tên chánh tổng, lí trưởng ma men ám, cuồng dâm, níu quần bấu áo mấy ả đào chanh cốm, kẻ đuổi theo rơi tuột cả khăn; kẻ bị đuổi, quần đứt dải, ôm nhau vật, thằng cười con khóc.
Thầy xếp ga kêu khổ, nhắm mắt, bịt tai. Tai thầy vẫn nghe tiếng động bên ngoài, óc thầy vẫn nghĩ trên những dòng chữ chạy trong sóng morse. Đêm kinh khủng đó qua đi. Hôm sau, một nhân viên hỏa xa đáp tàu nhất đến ga Lạc Đạo, đưa lệnh gọi thầy xếp về hầu Tổng giám đốc công đoàn xe lửa. Thầy xếp Nhã, con người hiền lành vô tội, con người không còn biết sống kiếp người, run sợ nghe tiếng quát của cấp trên:
- Tối qua, anh đánh morse cho tàu vào ga. Anh nghe nhầm, đánh lẫn, làm thế nào mà đến nỗi hai đầu tàu cái ngược cái xuôi, đâm vào nhau, một tàu đổ ba toa, người không ai chết, chỉ mười sáu người bị trọng thương, xe vào viện. Việc làm ăn bất cẩn cố tình hay vô ý này, cao ủy phủ Pháp quốc nghi anh âm mưu với đảng phái chính trị nào đó phá hoại hệ thống đường sá giao thông. Anh sẽ đi tù.
Quả nhiên, con người khốn khổ ấy bán cả một kiếp đời cho guồng máy áp chế, đã bị xích điệu ra tòa, đã ngồi tù, và đã lĩnh án lưu đầy biệt xứ.
Chuyện cũ qua đi đã có tới năm mươi năm trên xứ đen nô lệ. Cái gã thiếu niên thích nhảy tàu không có vé, yêu cái ga xép Lạc Đạo bé nhỏ, ở đấy, sống hiu hắt một thân hình còm cõi, lầm lì, ngày đêm phải nhớ như in vào óc giờ tàu sắp tới ga, để vẫn lầm lì xách cái đèn vuông gắn kính đỏ, xanh, ra đứng đầu ghi ray giơ đèn, tay cầm lá cờ vải tây đỏ, vẫy, phất. Tàu dừng bánh đỗ trước sân ga, thầy xếp mẫn cán ấy vội vã rời đầu ghi về nhìn khách xuống tàu, thu vé khách đưa lúc rời ga. Ông lưu ý đếm cả việc mấy người nông dân tranh thủ việc đồng áng rỗi ra ga làm bốc vác, gánh hành lí đồ đạc về các làng xóm ở quanh. Ông còn căn dặn mấy người bốc vác phải bảo đảm an toàn hành lí, đồ đạc cho khách thuê, và không được bắt chẹt khách, tính giá đắt.
Ga xép Lạc Đạo, sau đó, có thầy xếp khác đến thay. Người sau cũng như người trước, đều vợ con quấn quýt với đồng lương chết tiệt. Người vợ, lũ trẻ nhỏ, vẫn như vợ con người nhân viên đường sắt bị tù đày chỉ vì đã yếu mềm để cho rối trí óc trong cảnh hỗn loạn xảy ra ở cái nhà hồng lâu, khách quý nát rượu cưỡng dâm mấy gái sa chân lỡ bước phải bán mình.
Cái nhà ga xép Lạc Đạo, khi tôi qua tuổi thiếu niên, đã biến dạng ra sao, tôi không được chứng kiến.
Có còn không cái tiếng morse yếu đuối dưới ngón tay run đói của thầy xếp thoi thóp sống tháng ngày quá tẻ nhạt như con giun con dế chân tường bãi cỏ.
Có còn không miệng cười, khóe mắt bà Bơ bán bún riêu ngon quá là ngon đối với cái tuổi còn hay ăn thích uống của tôi.
Có còn không cái nhà hát cô đầu của cô gái điếm lỡ thời, tiểu thiếp ông phủ hung thần.
Thôi rồi. Hết cả rồi. Trải hơn bán kỷ, tất thảy con người lẫn cảnh vật ở đây, ở đó, đều cuốn theo thiên luật “hữu hình hữu hoại”, trở về bụi cát.
Chao ôi, cái ga xép Lạc Đạo tôi yêu, tôi quý thời trai trẻ, như kẻ hành hương yêu thánh tích, ngày nay không còn dấu vết, chỉ là một bãi hoang tàn.
Người Hà Nội, số 34/ 1996
Sư tử Hà Đông đại chiến sư tử Hà Nội
Thuở ấy, Hà Nội dấy lên phong trào vũ thuật cực kỳ sôi nổi trong dân chúng. Đáng kể nhất là phường võ Hàng Bột, Sinh Từ, Quốc Tử Giám, Hàng Buồm, ngõ Hàng Hương. Lãnh tụ nổi danh của võ sinh mấy phường ấy là Cử Tốn, cử nhân khoa cuối cùng triều vua Khải Định. Rồi đến Tư Dậu, Ba Lập Lơ, Yêu Râu Xanh, Phúc Đen, Công tử Ân Hàng Lược, Nồi Hàng Buồm, Cậy Béo ngõ Hàng Giấy, Hàn Bái...
Trong số võ sĩ đó, được bái phục nhất là lò võ Cử Tốn ở ngõ Văn Tần, phố Sinh Từ. Cụ Cử Tốn trao quyền huấn luyện cho con trai trưởng là Sáu Du làm trưởng tràng, dạy ba mươi võ sinh quyền, tấn, sử dụng thành thạo các môn võ khí như đao, kiếm, thiết linh, đinh ba...
Thực dân Tây, hồi đầu, theo dõi lò võ nức tiếng này. Sau chúng thấy thái độ tư cách cụ Cử đáng kính trọng, chúng cũng lờ đi, mặc cha con cụ Cử tự do hoạt động miễn đừng gây chuyện phá rối nền bảo hộ. Tuy nhiên, phố phường Hà Nội, cứ cách dăm ba ngày, lại nháo lên vì cuộc ẩu đả xảy ra giữa các lò võ bề ngoài vẫn giao du, thân thiết song bên trong không tránh khỏi ngấm nguýt, thách đố nhau tỉ thí. Đấu trường nhất định là mấy cao lâu, tửu quán nổi danh của Hoa kiều như Đông Hưng Viên, Nhật Tân, Tây Nam, Tửu Giang, Tự Hưng Lâu. Gây chuyện nhiều nhất là Hàn Bái. Ông này ra đường không bao giờ có vũ khí trong mình, ngoài tấm khăn tay hoặc dải lụa dây lưng đầu buộc hai chục đồng tiền trinh, xu đồng; khi đối chiến ông vung dải lụa lên đủ sức đoạt đao của địch rất dễ dàng.
Hàn Bái đến tửu quán, lên gác cao không qua cửa mà chỉ khẽ vỗ đùi, rón gót phi thân lên mái hiên, nhảy qua bao lơn, nhảy qua cửa sổ, chễm chệ ngồi xuống ghế, nhẹ nhàng đến mức khách ăn nhộn nhịp chung quanh không ai biết. Ông thường đi một mình, uống rượu một mình, không có bạn. Nhưng rồi, ông có ngay thù địch, bất cứ nơi nào có mặt ông. Kẻ thù ấy là mấy anh mật thám Tây lai, mấy trọc phú chủ những chiếc xe hơi bóng loáng đậu dưới đường, mấy ông quan phủ quan huyện ở tỉnh xa về Hà Nội nhìn người bằng nửa đuôi mắt nhà quan, quát hầu sáng bồi bàn, mắng khách ăn thiếu lễ phép. Hàn Bái ngứa mắt, nóng tay, đứng phắt lên, đạp đổ bàn ăn, vít đầu những thằng đáng ghét, hạ những nắm đấm như búa bổ đánh cho hả giận. Hàn Bái móc tiền ném xuống bàn trả tiền ăn, phi mình qua cửa sổ xuống mái hiên, nhẹ nhàng đặt chân dưới vỉa hè, biến mất. Kẻ thù thò đầu qua cửa sổ nhìn theo, bở vía. Từ chủ hiệu đến khách ăn đều biết là Hàn Bái, nhưng không ai dám hé răng. Cái tên Hàn Bái vang trong Hà Nội, nhất là khu phố Hàng Buồm, như một hung thần. Vậy mà, Tây cứ lờ đi, không ai hiểu lí do gì khiến thực dân nể tránh cái ông Hàn này đến thế.
Ông Hàn không nhận học trò, ít bạn, cũng không ai thấy ông quen biết một người Tây. Rồi, bỗng một ngày, người ta nghe tin võ sĩ Hàn Bái chết. Xác ông chơ vơ trong một căn phòng nhỏ xếp đầy hoa. Có thể ông đã mua hết hoa Hà Nội, tự sát giữa mùi hoa. Ông cắt mạch máu cổ tay, máu thấm đỏ cả một chồng khăn bông, rỏ xuống cái chậu thau hứng máu. Cái chết của một con người kỳ quặc giữa Hà thành như thế đấy.
Sau cái chết Hàn Bái, làng võ Hà Nội chợt trở nên tĩnh lặng. Phường ăn chơi Hà Nội thỉnh thoảng mới thấy Ba Lập Lơ, Tư Dậu, Yêu Râu Xanh xuất hiện.
Họ thân ái với nhau, khoác tay nhau, đĩnh đạc vào tửu quán bác tôi, huynh đệ, sống như những thư sinh đọc sách.
Hà Nội vào thu. Cái thu Hà Nội nhắc nhủ mọi nhà nhớ đến ông tiến sĩ giấy, cái đèn kéo quân, chủ yếu là cái đầu sư tử, không chỉ riêng cho trẻ nhỏ, mà cái đầu sư tử của người lớn làm nổi hội hè đình đám. Phường võ Hà Nội lại sôi lên hoạt động sau thời gian im lặng mang tấm khăn tang Hàn Bái. Phường múa sư tử truyền thống là phường Hàng Bột, Hàng Hương hàng năm vẫn thù địch nhau, gửi chiếu thư cho nhau, thách đố tranh lèo đoạt giải bằng vũ lực. Đầu tháng Tám phường Hàng Bột, phường Hàng Hương ra công làm đầu sư tử mới to hơn đầu sư tử năm trước để thị uy với đối phương, không làm bằng nan tre, mà kết bằng mây, đủ sức thay lá chắn đỡ đòn búa bổ, giáo đâm của địch. Đầu sư tử làm rất công phu, nặng đến mức một võ sinh phải khỏe lắm mới nâng được nó lên múa theo điệu võ, đón đỡ che thân, tấn công địch thủ.
Mở mắt mong chờ ngày mười bốn, ngày rằm trăng tròn máu đỏ. Cả Hà Nội nóng lòng đợi ngày thi võ. Võ sinh của hai phường đã dày công luyện tập những động tác múa đầu sư tử, những bài võ của người đánh côn phối hợp với người múa lân. Luyện cả cách trồng người đứng trên vai nhau, đội đầu lân lên đầu, vừa múa vừa giơ tay giật gói tiền treo trên ngọn cột đèn hoặc trên bao lơn nhà treo giải.
Hôm ấy, khoảng bốn giờ ngày mười bốn, phường Hàng Hương do võ sư Yêu Râu Xanh cầm đầu, tất cả mười lăm người đứng trên xe bò, hùng dũng kéo đến Hàng Ngang, cờ rong trống mở, chiêng não bạt khua ầm ĩ. Phường đứng trước cửa hàng to nhất phố. Đó là ông Bang Si đứng đầu kiều dân Trung Hoa, giao dịch về mặt chính trị với chính quyền thực dân Pháp. Cửa hàng ông Bang Si rất đồ sộ, bán đồ gia dụng đắt tiền, chủ yếu là đồng hồ cao cấp Thụy Sĩ. Tháng Tám hàng năm, Bang Si treo giải thưởng múa kỳ lân, giải to hơn các cửa hiệu tơ lụa Hoa kiều, Ấn kiều phố Hàng Ngang, Hàng Đào. Mọi nhà giải treo chỉ có 5 đồng. Giải nhà Bang Si những 10 đồng hai giấy con công, món tiền thời ấy là quá hậu.
Phường Hàng Hương bắt đầu khua chiêng trống và bắt đầu giễu võ giương oai. Chợt ở đầu phố Hàng Đường kéo đến một xe bò chở ních người, côn kiếm, giáo mác, reo hò như “đổ thành vỡ núi”. Xe bò này đứng lại, mấy chục người vũ khí tua tủa nhảy ào xuống theo. Anh đi đầu múa đầu lân xanh xông vào húc đầu lân phường Hàng Hương màu tím. Hai đầu lân chọi nhau cực mạnh. Anh múa côn của phường mới đến cũng vung côn quét ngang mình anh múa côn của phường Hàng Hương. Thế là chiêng trống hai phường cũng hòa vang. Hai võ sinh múa côn của hai phường võ động hai ngọn côn vun vút. Côn va mạnh nhau chan chát, sểnh ra là mất mạng. Cùng lúc, hai đầu lân cũng huy động hết sức bình sinh húc vào nhau nảy lửa. Đồng thời, mấy chục võ sinh của hai phường, kẻ giáo, người gươm, đánh nhau túi bụi. Phường Hàng Hương thấy đối thủ toàn lạ mặt không rõ từ đâu đến cướp giải, anh nào cũng có những miếng võ lợi hại khác thường. Yêu Râu Xanh, người cầm đầu phường Hàng Hương, quát ầm lên:
- Anh em từ đâu đến cướp giải của chúng ta? Cho biết đã, rồi sẽ đánh nhau.
Võ sinh phường lạ mặt không thèm đáp, càng tăng chiêng trống. Người múa đầu lân càng nhảy nhót, đảo lộn theo thế võ, hai tay nhấc bổng đầu sư tử lên, rung rung cho tiếng nhạc trong đầu lân kêu to, phóng hai chân ra đá bật một võ sinh phường Hàng Hương lăn ra giữa mặt đường, lại vặn mình phi song cước đá một anh múa kiếm của phường Hàng Hương ngã bổ nhào vào gầm xe bò.
Nổi giận, Yêu Râu Xanh xông vào trả đòn người múa sư tử phường lạ mặt. Người múa sư tử ấy nhảy sang bên, nhấc đầu lân khỏi đầu mình, rung nhạc kêu giòn giã, nhẹ tay ném đầu sư tử cho một võ sinh đỡ lấy. Lúc đó Yêu Râu Xanh trợn mắt nhìn kẻ địch. Thì ra đó là một cô gái có khuôn mặt đẹp, búi tóc, mặc áo cánh nâu, quần lĩnh, thắt dải lụa đỏ quanh lưng, chân giẫm đất. Cô gái mặt thản nhiên, không thở, không mệt, nhìn thẳng mặt Yêu Râu Xanh, cười mỉm:
- Võ sư lạ lắm ư? Tôi chỉ là một gái quê từ Hà Đông kéo quân ra đây dự cuộc thi đoạt giải múa lân, nhân tiện xem tài vũ dũng của các phường lân Hà Nội. Nhưng xem ra thì tài năng các ông cũng bình thường.
Yêu Râu Xanh bốc giận, múa quyền đánh cô gái múa sư tử Hà Đông. Hai người thử sức nhau bằng quyền thuật. Hai bên ngang tài. Nói vậy là vì nể Yêu Râu Xanh mà không nói thẳng, bởi một đòn song cước lẽ ra đánh trúng ngực Yêu Râu Xanh, nhưng cô gái múa sư tử Hà Đông đã rụt chân lại, chỉ đánh nhẹ vào cánh tay ông Râu Xanh dữ tướng.
Cô gái Hà Đông nhảy lùi lại, che miệng cười.
Ông Râu Xanh đỏ mặt, nhưng không nổi giận, bởi cô gái múa sư tử Hà Đông đẹp quá. Tất cả võ sinh, đệ tử ông Râu Xanh đều tinh mắt nhận thấy sư phụ suýt thua. Họ thu vũ khí, ngừng chiêng trống.
Cô gái Hà Đông tiến đến trước mặt Râu Xanh, giơ hai bàn tay không lên, tươi cười nói:
- Cuộc đấu võ đến đây đã xong rồi. Xin mời sư phụ và huynh đệ phường Hàng Hương vượt lên đoạt giải. Anh em chúng tôi xin lỗi, và xin bái biệt trở về Hà Đông ngay bây giờ kẻo trời đổ tối.
Phải nói là nửa dân Hà Nội bịt kín Hàng Đào, Hàng Ngang xem cuộc thi võ đặc biệt này. Khi đã nhìn rõ gương mặt đẹp, cơ thể thanh nhã, và những đường võ khủng khiếp của cô gái đội đầu sư tử Hà Đông, bà con mới thì thào:
- Sư tử Hà Đông, Sư tử Hà Đông!
Thì ra nó là như thế.
Người Hà Nội, số 42/ 1996
Hoang thai
Chị là cái thứ đàn bà đã trải qua non thế kỷ làm ái tình với lính lê dương nghĩa là đã có cái sức khỏe ném mười anh săng đá da đen qua cửa sổ, tát “mông ma ghì” liền ba cái, tung túi dết hắn ra đường rồi thở phì phò như đầu xe hỏa lên dốc, than tiếc cái chữ trinh ba vạn của mình đã trao nhầm chàng Sở tóc quăn, dẫu rằng trong khi ấy chị đang giấu một anh tình nhân trong tủ áo. Chị đã ở biên thùy với các đấng Từ Hải sống cái đời lính thú nhưng không hát khúc “ba năm trấn thủ lưu đồn”, mà lại hát Mác-xây-e để giết những “dân phiến loạn” Cổ Am, Yên Bái.
Và chị đã ở Tông, ở Đáp Cầu, ái ân với tất cả cơ này, đội khác, rồi thì lại một dạo lấy tầu má chín.
Ấy thế mà tôi được gặp cái “trường đua ngựa” ấy hôm nay, trong một ngõ cụt phố cửa Đông.
Thực vậy, tôi đi tìm chị chúa-me này với tất cả thiện chí của một kẻ ký giả trái khoáy, nghĩa là một kẻ làm báo không biết gõ cửa những ông quan chính phủ mà phỏng vấn về chương trình cứu nước nuôi dân hay là - cho sát thời sự hơn - đi phỏng vấn cái quái nhân về các trò ma tịt, mà lại dẫn xác vào hang cọp tìm gặp mụ chúa me này. Để làm gì?
Thưa rằng để xem một lũ lợn con, sản phẩm của thời đại loạn.
Chị chúa me đã hết cả vẻ hồng nhan, trông chị via-cà-cộ như chiếc xe cút kít thời Hà Nội còn thắp đèn dầu và chiều chiều có con lừa vĩ đại đi tưới nước đường các phố.
Tôi đã leo lên cái thang lộ thiên mà những bậc lát xi măng vỡ nát nhiều vì đầu đanh giầy lính tẩy. Bước lên sàn gác, tôi phải sững sờ. Trước mắt tôi: đúng bảy chị nhà quê vừa nằm vừa ngồi ngổn ngang trên hai lá chiếu rải liền. Mỗi người ôm một đứa con. Chị chúa me mời tôi ngồi xuống chiếc ghế sa lông thổ phỉ, mặt da bọc đã nát bét như da mặt một me già như chị. Và nhe mấy chiếc răng nhuộm cốt trầu, chị nói:
- Đĩ dại, ai bảo thấy nó vào không chạy, để nó tóm được rồi thì ễnh mẹ nó ra. Chửa thì đẻ, xấu chó gì!
Nghe chị chúa me cong cớn nói, tôi sực nhớ đến những lời giáo huấn rất hùng hồn của một bà đốc trường nữ học hồi thịnh Sa-Tiền đã ban cho mấy nữ sinh, mà bây giờ, thầy đã lên rừng đền tội ác, mà trò thì một số ít đã rất thạo cái nghề vành ngoài bảy chữ...
Chị chúa me trỏ một ả gái non ngồi quay mặt vào tường kéo áo lau nước mắt ôm cái bọc hài nhi mà tôi đã trông rõ cái đầu nhọn hoắt, mấy sợi tóc quăn lơ thơ trên màu da đen trũi. Thằng bé ưỡn người khóc, mở mắt trắng dã nhìn lên trần nhà như lên cơn sài uốn ván.
- Con bé này mới mười bảy tuổi. Chui xuống bè tre ngâm dưới ao sen rồi, nó chưa đi hẳn đã chui lên tắm rửa cầu ao. Nó lôi lên. Thế là đẻ ra con chuột nhắt.
Chị đứng lên vạch cái tã phủ kín một cục than nữa đang ngủ ở chân tường:
- Cha mẹ đẻ cái thằng nhãi này, mặt mũi trông mà gớm! Về sau tha hồ đẹp giai như bố!
Tôi cúi xuống nhìn để tưởng đến bộ mặt Cáp Tô Văn của rạp Quảng Lạc ngày xưa. Người mẹ đang ngồi vá mớ giẻ không còn hình là mảnh áo quần, càng cúi đầu thấp xuống. Thằng bé cựa quạy, người mẹ ẵm con lên vạch vú teo cho bú, rồi quay vào tường khẽ nựng “Dào ôi, bố mày!”.
Một người mẹ nữa ở phía tường kia tự nhiên cười khúc khích. Tôi ngoảnh lại: cô ả này răng trắng, lông mày kẻ chỉ. Ả ẵm thằng bé có đủ sáu nét gạch trên hai má, môi dầy thâm như cặp chả, ả tiến ra cửa sổ mà hát ru bài “Chiến sĩ hải quân”. Chị chúa me lườm dài một cái:
- Cái con này thì truyền đời mười lần đẻ hoang. Càng đẻ nó càng vui sướng.
Cô ả quay ngay lại:
- Chứ làm sao ạ? Giời sinh đàn bà để đẻ ra con chứ đẻ ra chó đâu mà sợ. Nó đen hay nó trắng, cần gì. Khối đứa lên bà lớn mà cũng đẻ ra con khác máu, thiên hạ vẫn đăng báo mừng rối cả lên.
Ả cười sằng sặc và lại ru con bằng bài “Khỏe vì nước, kiến thiết quốc gia”. Một tiếng nấc ở sau lưng tôi. Người đàn bà đứng tuổi ngồi úp mặt vào bàn tay khóc. Chị chúa me trề môi nói:
- Khóc cái xác mẹ mày à? Nó chết thì bọc lại, bỏ vào đáy sọt rác, sáng mai đổ lên xe rác, thế là xong nợ, rồi còn đi kiếm cơm mà nhét vào mồm chứ. Quý hóa cái gì mà xót với thương.
Tôi hỏi chị chúa me:
- Chị nuôi những người này để làm gì?
Chị cười nhạt:
- Có đứa được chúng nó thương hại cho bíu xe nhà binh mà ra đây. Có đứa vì xấu hổ với chồng con, làng nước, mà cũng bò ra để kiếm việc làm. Tôi mới vơ được lũ lợn nhớn lợn nhỏ này đem về nuôi chơi đấy rồi thì... làm gì có người thừa, hở ông!
Chị nheo mắt cười một cách rất Tú Bà.
Tôi bước xuống cầu thang. Tiếng khóc của lũ trẻ nhũn nhẽo như mèo con sắp chết khiến tôi se lòng nghĩ đến cái xe rác ngày kia sẽ đến hót dần chúng đi như hót những cái rác không tên tuổi.
Ra đường, tôi đi rảo bước. Hôm nay Hà Nội vào thu. Tiếng chuông giáo đường vẳng trên thành phố khiến tôi nghĩ nhiều về tiếng khóc của lũ hài nhi vô tội và bọn đàn bà oan nghiệt trên căn gác nọ.
Ông Chọc Tiết, nxb Ngày Mai, 1950.
Buôn xác
- Thế này thì quá lắm! Giời giết đệ mất thôi!
Tôi ngoảnh lại, cái người vừa oán trời đó là một anh bạn buôn xác chết, nghĩa là anh làm cái nghiệp cho thuê đòn và bán áo quan. Mặt anh rất buồn trên chiếc ca vát mà tôi tưởng tượng có biết bao âm khí tử thi đã ám vào từ cái ngày anh khởi sự tậu nhà bằng nghề nhận đám.
- Thật là giết đệ, ai ngờ thằng cha đã chết đến cổ, con cháu đã sửa soạn chia nhau khăn áo đẹp rồi mà còn sống lại.
Anh giận lắm. Để anh nguôi cơn nóng, tiện ngay kia, tôi kéo anh vào một quán giải khát mà chủ quán là một gã đã nổi tiếng nói năng khoác lác.
Không muốn nghe anh bán nước khoe tài bán nước, tôi kéo anh buôn xác chết vào một chiếc bàn ở góc nhà đổ, thảm như bãi mồ hoang.
Anh bạn suốt đời chứng kiến cảnh tang tóc của tôi nâng cốc đá lạnh lên uống một hơi rồi đặt cốc xuống mà nhăn mặt nhổ, chê rằng cam ủng. Anh nhăn mặt mãi, như một con người rất vệ sinh xưa nay sợ mùi người chết, khiến tôi, một phút tưởng rằng đang ngồi trước một bậc hiền nhân quân tử vốn rất khinh bỉ Việt gian nhưng mà rất tôn thờ mẫu quốc.
Lát sau anh bạn nhà tang hết lợm giọng, và cũng hết luôn cả giận, anh nói buồn như bài kèn lâm khốc:
- Cái nghề của tôi nhiều lúc tức mà muốn chết mẹ nó đi để cho vợ con nó chôn quách mình như là mình đã chôn thiên hạ. Có những chỗ ăn chặt cả trăm phần, mình một mặt tự đến nhà con bệnh thăm nom giữ đám, một mặt phái yêu tạ đi bao vây quanh cửa nhà con bệnh để đánh đòn cản lũ đồng nghiệp tinh ma. Mất bao nhiêu công sức, thế rồi thì là con ông cụ đếch chết cho, sống lại chừng nửa tháng để rồi một sáng tốt đẹp kia thằng đồng nghiệp khác nó tò te con ông cụ qua cửa hàng mình mới tức chứ!
Anh bạn nhà tang ngừng nói, đánh diêm châm thuốc lá. Trong bóng chiều tàn nơi ngôi quán đổ nhìn điếu thuốc lấp lóe trên cái mặt đen tựa trôn nồi của bạn, tôi tưởng rằng đó là cây bạch lạp cháy hắt hiu trên tấm vải đen phủ quan tài...
Khói thuốc phủ quanh khuôn mặt bạn, tôi lặng lẽ nhớ đến mùi hương đen trên mồ đất mới. Anh đứng dậy:
- Nếu không bận, mời anh cùng đi với tôi đến một nhà kia, để tìm cảm giác. Cái nghề các anh là lúc nào cũng thèm cảm giác chứ gì! Thì đấy, cảm giác sẽ phi thường lắm.
Tôi theo anh. Và anh đã dẫn tôi vào nhà xác.
Ông già gác cổng vốn là cánh hẩu, nghe giọng đã biết là tri kỷ hàng ngày. Cánh cổng sắt hé mở và đóng lại kêu rợn như hàm răng người giãy chết nghiến vào nhau.
Ở cửa nhà xác, một người đang khóc. Anh bạn ca vát đen mắt sáng lên, xông ngay đến người đó, làm tôi nghĩ tới cảnh một đàn quạ săn gà con. Anh ngả mũ chào người ấy mà rằng:
- Thưa ông, thân nhân của ông đã bất hạnh qua đời, chúng tôi xin trân trọng chia buồn. Bây giờ thì công việc tống táng, ông cứ tin cậy ở hãng chúng tôi, vốn là một hãng lớn có xe bốn ngựa vô cùng lịch sự, cờ quạt, nghi trượng, linh xa toàn mới sắm, phu tráng lễ độ mà giá tiền tính rẻ hơn tất cả mọi nơi. Thưa ông, một lần nữa, tôi xin trân trọng chia buồn...
Người đàn ông chẳng trả lời, bởi vì y đang khóc như mưa. Tôi mang máng nhớ y là một người thợ giầy ở phố tôi, vừa câm vừa điếc.
Anh bạn ca vát đen lại xoa tay:
- Thưa ông...
Tức thì, một người mắt xếch môi thâm từ đằng vườn hoa nhà thương săm săm tới. Hắn bước vào nhà xác. Tôi nhìn theo hắn, tôi đã trông rõ năm sáu tử thi vô thừa nhận chồng chất lên mấy nắp quan tài gỗ mỏng.
Tôi đánh bạo bước tới gần. Những bàn chân hoặc băng bó sưng phù, hoặc tím ngắt duỗi song song, mặt che mảnh giấy, nằm bình tĩnh như những con người đang ngon giấc.
Tôi để ý nhìn người mắt xếch. Hắn lật mảnh giấy ở mặt tử thi người đàn bà trẻ tuổi nằm ở bên ngoài, lại che giấy lại quay ra toan nói với người đàn ông đang khóc, nhưng thấy đồng nghiệp là anh bạn ca vát đen của tôi đây, hắn trừng mắt rồi cười khẩy:
- Thưa rằng đám này tôi đã nhận ngay từ khi bà ấy mổ được ba ngày. Có quý ông đây làm chứng. Hắn viện chứng nhưng người chứng điếc câm, không nghe thấy họ nói gì, chỉ khóc.
Bạn tôi có lẽ nào chịu kém, anh nghiêm mặt nói:
- Cái đám này nhất định phải về tôi. Chỉ có hãng tôi mới có ngựa tốt xe đẹp, phường nhạc giỏi, bú dích lối tây, hay là trống kèn cải cách, hay là già lam cổ điển. Mà giá thì... rất rẻ, nếu cần ra thì hãng tôi đây vì nghĩa đồng bào mà làm công không, để tỏ cái tinh thần người dân một nước với nhau.
Người đồng nghiệp mắt xếch cười ba tiếng mà rằng:
- Anh nói dóc như một gã nghị viên Viện dân biểu. Cái thá gì mà lại làm công không khi cái thằng sống cần chôn thằng chết để mà có cơm ăn.
Rồi đó, gã mắt xếch quát to:
- Anh quả thật là một đồ tồi, một kẻ buôn xác chính tông!
Anh bạn ca vát đen của tôi ngửa mặt lên trời cười nhạt:
- Ờ ờ, tôi, anh, chúng nó đều buôn cả. Thế đấy!
Ông Chọc Tiết, nxb Ngày Mai. 1950
Hành khất, hành văn
Từ cái thuở Hà Nội băm sáu phố phường, tôi - một cậu bé con đã được ăn Tết cổ truyền của Thủ đô lưu giữ khá nhiều kỷ niệm. Thời gian trôi như nước chảy, nhiều chuyện cũ quên đi, duy mẩu truyện ngắn ngủi này, tôi không sao quên được. Nó nhắc nhủ tôi nghĩ đến nó, nhớ đến nó, nhớ đến đau lòng. Tôi bẩm sinh là thằng nhỏ mau nước mắt, dễ buồn dễ khóc những chuyện không đâu. Hàng năm cứ đúng lúc thành phố nổ ran pháo giao thừa, tôi chui vào cái giường nhỏ bé của tôi trong góc kín, kéo chiếc chiếu phủ lên tấm chăn bông mỏng manh, nằm lắng nghe pháo thiên hạ đón xuân.
... Mấy ngày Tết năm xưa rét lắm, một chăn dạ, chăn bông không đủ ấm, tôi phải dùng hai lá chiếu phủ lên chăn mới đủ ấm, nằm nhắm mắt suy nghĩ chuyện đời. Tuổi thơ còn non dại, đã biết cuộc đời ra sao, sống chết vui buồn là cái gì, thế mà, đúng giờ giao thừa đêm ba mươi, tự nhiên tôi cảm thấy buồn vơ vẩn, buồn không duyên cớ, không muốn nói với ai, không thích nhìn mặt ai, chỉ thèm chui vào một xó, nằm nghĩ ngợi đến chuyện nhà trường, chuyện thầy, chuyện bạn tốt xấu, chuyện anh chị em trong nhà lục đục hay êm ấm. Chỉ có thế thôi mà nước mắt đã rưng rưng. Cái xó tôi nằm giữa lối cửa ra vào. Nửa đêm sắp giao thừa, mẹ tôi, theo thường lệ hàng năm, lăng xăng, te tái lo việc quan trọng là sửa soạn mâm xôi con gà luộc thật thanh khiết, chờ đến khi pháo nổ gần im tiếng là khệ nệ thân chinh bưng lễ ra vỉa hè trước cửa, hương hoa, đèn nến sáng choang, đứng rì rầm khấn vái đất trời, thánh thần, tiên tổ phù hộ độ trì an khang hạnh phúc.
Mẹ tôi đang thành kính khấn vái thì tôi tung chiếu, tung chăn vùng dậy trong tiếng kêu thất thanh của mẹ: “Ối trời, ối đất ơi, chúng nó cướp mất xôi gà lễ của tôi rồi! Ối bà con ơi, chúng nó kia kìa. Đuổi bắt hộ tôi!”.
Đó là cái Tết đói năm Ất Dậu. Qua đêm rét, sáng nào cũng có xác chết phơi ngoài đường phố. Người qua đường, trước còn ghê sợ, nhắm mắt tránh mùi hôi thối, ruồi nhặng bu đầy xác chết, sau cũng quen mắt, quen mũi cứ bước qua xác kẻ tử vong, kịp vào chợ Đồng Xuân mua sắm Tết. Bởi vậy, tiếng kêu mất mâm xôi trắng nõn, con gà béo múp vàng ngậy mà mẹ tôi kêu khản cổ, chẳng ai chú ý. Có tiếng cười ran: “Sao bà dại thế. Chết đói đầy đường, chẳng ai bố thí. Đói đến nỗi ăn được thịt người, chúng cũng không tha huống chi mâm xôi gà béo ngon như thế, khác nào hổ đói vớ được mồi. Mất, coi như làm phúc cứu bần. Đừng xót của. Nhịn ăn cứu đói. Năm nay, Phật độ cho bà...”.
Người đàn ông đi qua đường có lý. Tôi vội chạy ra, kéo tay mẹ tôi vào. Và suốt từ lúc mất xôi gà, tôi cười, cười ôm bụng, cười nhịn thở, cười tưởng chết. Mẹ mắng tôi. Tôi đáp: “Con rất mừng vì nhà ta gặp Phúc. Thế là đêm nay, hai ba thằng ăn cướp ấy tạm thoát cơn chết đói. Không có xôi gà, thiên hạ ăn hộ mình rồi. Mai con nhịn đói, gọi là nhịn ăn đãi khách. Mẹ cười đi để mừng xuân, cái xuân phúc đức”. Mẹ tôi cười.
Pháo đón xuân năm ấy ít nổ, không liên chi hồ điệp như mọi năm. Xuân chết tiệt này giặc Nhật - Pháp làm cho dân Việt chết đói trên hai triệu người. Có người bảo: “Giá ta có súng đạn nổ vào đầu giặc dữ dội như pháo mọi năm để trả thù này thì ta vẫn chưa hả giận”.
Hà Nội vừa im tiếng pháo, mọi nhà chuẩn bị đi nằm, sau một ngày quá nhọc mệt bởi sửa soạn đón giao thừa. Tôi không vào giường, loay hoay chờ đón mấy ông bạn “văn nhân hành khất” sắp đến mừng xuân với những vần thơ tuyệt tác ứng khẩu thành chương.
Ngay từ thuở nhỏ năm lên mười tuổi gì đó, tôi đã thích thơ ca, thích cả văn xuôi. Cứ chờ bố đi làm vắng, tôi đã chúi mũi vào những sách thơ, những truyện tình yêu thời cổ lỗ. Tôi cũng ti toe tập viết văn, bỏ cả bài vở nhà trường. Bố tôi, một lần, tóm được tôi đang say mê chép một bài thơ tình, bố nổi giận, vớ ngay cái nghiên mực bằng đá chạm hoa điêu, ném vào đầu tôi. May mà cái nghiên đá nặng đến mươi cân bay chệch qua đầu, không thì tôi đã vỡ sọ, chết toi rồi. Nhưng viết văn là “cái nghiệp”. Tôi lớn lên, chừng hai mươi tuổi, vẫn mê say văn chương, cho đến bây giờ, cái nghiệp ấy sắp qua rồi.
Dân Hà Nội bắt đầu vào giấc ngủ đêm xuân, bọn người chuyên làm vè chúc Tết bắt đầu hành sự. Họ không đông lắm, có chừng độ mươi người, phần nhiều đứng tuổi, quần áo chỉnh tề, tuy vá víu. Mặt mũi người nào cũng sáng sủa, sạch sẽ, nghiêm trang.
Hàng năm, đúng giao thừa là các ông xuất hiện vào đúng cái thời khắc tối như đêm ba mươi Tết. Họ chia nhau, mỗi ông vài ba phố (khu Đồng Xuân). Mỗi người có “vũ khí” riêng. Đó là ống tre giang, văng, hay chỉ là một ống nứa xanh tươi to bằng cổ tay đục thủng một đầu. Các ông cùng một lúc, gõ đầu ống tre giang xuống bậc cửa nhà người ta, cất giọng êm ả dịu dàng, gần như ngâm thơ đủ cho chủ nhà nghe rõ.
Súc sắc súc sẻ
Chúc khỏe quanh năm
Buôn một bán năm
Tiền vào như nước
Vàng vào cửa trước
Bạc vào cửa sau
Sinh đẻ lau nhau
Học hành tấn tới...
Súc sắc súc sẻ...
Lời thơ, hay hò vè, chỉ cần đọc theo nhịp đập của ống giang hai ba lần là chủ nhà, dù keo kiệt đến đâu, cũng khẽ rút then hé cửa, dúi vào tay người chúc Tết một hào, có khi kèm cả chiếc bánh chưng, nếu thí chủ có thiện tâm thương kẻ đói. Lại một ông cuối phố, giọng vang vang, khiến người khó ngủ phải lẩm bẩm chửi thầm một hai câu tục tĩu lẽ ra không nên dùng để họa lại văn thơ ứng khẩu của thi nhân hành khất:
Súc sắc súc sẻ
Xin thương tôi với
Bát cháo chén cơm
Vạn đại nhớ ơn
Kính mừng xuân mới!....
Súc sắc súc sẻ
Bước khỏe ra đây
Bát gạo cầm tay
Thí cho kẻ đói....
Tôi rất thích thơ văn ở cái tuổi bé con, lại thêm nết tò mò, tôi hé cửa lách ra vái chào ông thi nhân hành khất. Ông ngạc nhiên trước thái độ cung kính của cậu bé con đối với con người rách rưới mà thiên hạ đều khinh bỉ. Tôi sờ mó vào cánh tay xương xẩu của ông, vuốt ve miếng vải vá trên vai áo ông, giọng ôn tồn, lễ độ:
- Thưa ông...
Ông hấp tấp nắm bàn tay rét cóng của tôi, lắp bắp:
- Chết nỗi, tôi không dám... Cậu muốn nói gì?
Tôi cũng lễ phép:
- Thưa ông, cháu vừa được nghe ông chúc tết nhà cháu bằng những câu thơ hay lắm. Sao ông lại nghĩ ra được những câu thơ hay thế? Ông nghĩ từ trước, hay ông vừa mới nghĩ ra. Ông làm ơn dạy cháu làm thơ. Cháu yêu thơ lắm. Cháu đã đọc truyện Hoàng Trừu, Tống Trân Cúc Hoa... cháu mê thơ lắm ông ạ.
Ông thi nhân hành khất, vuốt mấy sợi râu đã ngả bạc, khẽ cười:
- Chết thật, cậu bé ơi, những câu tôi ứng khẩu đọc ra đều là vè cả đấy. Chứ thơ đâu lại lẩm cẩm láo lếu, nhảm nhí như vậy. Ở quê tôi, những đứa trẻ chăn trâu đều biết hát trống quân, hát phường vải từ mấy chục câu như vậy. Cậu chưa về quê bao giờ hả? Cậu thử về vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, xưa gọi là Kinh Bắc, chơi với lũ trẻ chăn trâu một ngày là tức thì cậu làm được thơ còn hay gấp trăm những câu vè tôi đọc láo, chúc Tết kiếm miếng ăn ngày đói.
Nghe ông thi nhân hành khất người Kinh Bắc nói, tôi kinh ngạc, đứng ngẩn ra. Tôi nghĩ bụng sẽ có ngày tìm về Kinh Bắc, gặp xem lũ trẻ chăn trâu ở đó thông minh tài trí đến thế nào.
Ngót một thế kỷ nay, tôi vẫn nhớ chuyện đọc thơ chúc Tết bằng ống nứa ngoài bậc cửa đêm ba mươi Tết, cho đến ngày nay cái tiếng ống giang bập bùng nhịp lời vè chúc Tết của các thi nhân hành khất lại bay về bên mái tóc bạc này, văng vẳng ở bên tai tôi. Tôi xin thành kính tặng các bậc độc giả quá cao niên vốn sẵn công tâm với ngành văn bút bài Súc sắc súc sẻngắn gọn này. Lão già chúng ta cùng vui sống lại ngót trăm niên cổ lai hy.
Người Hà Nội, số 2, 11/1/1997
Phấn hương
Bạn làng chơi chẳng lạ cái ngõ hẻm đày người, đầy rơm rác, nặng “mùi bần tiện”, “mùi hạ lưu” ấy
tại Hà Thành. Nhưng đấy là một chỗ ăn chơi, thật là một chỗ ăn chơi huyên náo, cuộc vui bắt đầu từ lúc sáng đèn.
tại Hà Thành. Nhưng đấy là một chỗ ăn chơi, thật là một chỗ ăn chơi huyên náo, cuộc vui bắt đầu từ lúc sáng đèn.
Bước chân vào ngõ ấy, vào giờ vui ấy, tức thì người ta quên mùi nước cống mà để cho khứu giác xúc tiếp ngay với mùi thơm của một tiệm cao lâu ầm ĩ những tiếng hò hét của các ông chiệc đang đánh bài cào, mạt chược, và những tiếng đàn ca lanh lảnh của các cô đào Tàu mua vui cho khách đến ăn.
Liền đấy là rạp hát tuồng, một rạp hát tuồng trường thọ nhất và được khán giả hoan nghênh nhất. Ngoài cửa bao giờ người ta cũng thấy treo tấm biển: “Tối nay đại diễn...” chữ viết bằng phấn nước của họa sĩ Trần Phềnh, nét chữ mềm mại quá, khiến người ta càng ngắm càng yêu. Mấy tầu lá gồi quấn ngoài cửa rạp đã héo vì nắng gió, chiếc đèn lớn làm theo hình tấm hoành phi, phơi mãi ngoài trời, nên những chữ cắt dán hồ đã rơi rụng từng nét một, và giấy bạc hết mà thủng rách từng miếng lớn, trơ lại khung tre.
Đó là buổi hát đặc biệt, thiên hạ nô nức đi xem. Vì người ta chú ý ngay tự lúc chiều: một chiếc ô tô tã phun khói mù đường, trên chở một tấm biển lớn kê tên tích hát, và năm bảy đào kép, mặt phấn môi son, mũ giáp lịch sự như Tiết Đinh Sơn, Phàn Lê Hoa nhà Đường; dữ dội, xấu xí như Chung Vô Diệm, Bao Công đời Tống. Những danh nhân thời chinh chiến ấy ngồi chồng chất lên nhau, chiều chiều đi diễu hết các phố, phơi mặt hề dưới nắng chiều hè còn nóng rát, hoặc dưới mưa gió buốt những chiều đông. Họ đã quen với khán giả lắm rồi, mà dân các phố cũng thích nhìn những bộ mặt ấy, vì họ cho là một trò vui mắt vui tai.
Hà Thành thời đó không thiếu gì những sự ngang tàng. Muốn gặp những cái ngang tàng ấy, phải đến cái ngõ hẻm này, chỗ đấu chọi của các tay chơi.
Phong trào đâm chém của đảng Càn Long đang thịnh, cho nên những tay anh chị luôn luôn giắt roi da, dây điện, dao, búa làm khí giới cần dùng trong lúc thị uy để tranh cướp một con đĩ thập thành, hoặc một con sen ngoài máy nước. Nhất là ở cửa rạp hát tuồng trong cái ngõ đày người, đày rơm rác, đày ruồi muỗi ấy - âu là tôi cứ gọi thẳng tên nó là ngõ Sầm Công - dân Càn Long càng muốn trổ oai, hoành hành như những ông tướng đóng tuồng. Người lịch sự phải gớm mặt các ông tướng đó, vì mỗi khi họ cần cà khịa, nhe chiếc răng đồng cười nhạt để thử gan một ông diện sang đi với một cô nhân tình xinh đẹp, thì tốt hơn là ông này cứ lẳng lặng mà đi.
Nhưng các ông tướng Càn Long lại rất nhún nhường, nịnh hót những ông tướng đóng tuồng, vì họ cần những ông này truyền cho họ dăm ba miếng võ tuồng.
Được nói chuyện với một kép hát trứ danh là một điều hãnh diện. Vừa thấy mặt ông kép mặt xanh xao đầu tóc rối bù, vận quần áo cánh lụa, nghênh ngang rẽ đám đông người vào rạp, là mấy ông tướng Càn Long chạy đến chào hỏi, mời kéo ra hàng nước để thết miếng trầu, hay cốc nước chanh.
Ở thời ấy, đào kép hát tuồng được người ta yêu mến như bây giờ người ta yêu mến những ngôi sao màn ảnh..., nhưng thời ấy qua rồi!
Ngày nay người ta thích chớp bóng, thích cải lương Nam Kỳ, người ta quên hẳn nghề hát bộ, quên những người, chừng mươi, mười lăm năm trước, đã được họ nhắc nhủ luôn, đã được họ ngắm những chân dung lồng trong khung kính treo ngoài cửa rạp, như ngắm những bậc vĩ nhân thế giới.
Phong trào của kịch trường mới đã đẩy họ lùi vào dĩ vãng tối tăm hoặc đưa họ về những nấm mồ. Họ đã chết hay là đang sống không nghề nghiệp, hay là đang hấp hối, thở nặng nề mà tiếc than nghề cũ, thời xưa.
Đã lâu lắm rồi, tối nay tôi mới đi qua cái ngõ chật người, đầy muỗi, ngạt mùi hôi hám ấy.
Tôi đã vì một sự bất đắc dĩ mà chui đầu qua một khung cửa gần như đổ sụp xuống đầu tôi, và tôi đã đứng trong một căn gác gần như hũ nút. Bạn tôi bảo tôi ngồi xuống chiếc giường có sẵn một người nằm bên khay đèn thuốc phiện chưa lên lửa. Người nằm đó nhỏm đầu lên, vơ chiếc giẻ lau khay đèn để chùi mũi, nhìn chúng tôi không biết nói câu gì. Bạn tôi lẳng lặng đặt giữa lòng khay một hộp thuốc một đồng, rồi giới thiệu cho tôi rõ người đàn bà ấy xưa là một danh ca của nghề hát bộ.
Nàng là Bảy Hoa.
Tôi tưởng đó là lời giễu cợt, nhưng không, ai lại giễu cợt một nỗi đau thương, một hiện hình của cái dĩ vãng sầu thảm ấy. Vậy thì Bảy Hoa, chính thị nàng. Nàng, xưa là Sắc đẹp, xưa là Tài hoa, xưa là tất cả những lời tưởng lệ, mà nay, trái lại... tôi rất ngại ngùng vì phải tìm những chữ chẳng văn hoa để tả hình dung người đàn bà ấy.
Bảy Hoa! Tên nàng in vào óc tôi tự ngày còn nhỏ. Tôi bỏ học, nhịn ăn quà để lấy tiền xem hát, cũng như để thuê những truyện La Thông tảo Bắc, Chinh Đông, Chinh Tây, Thủy Hử, Tùy Đường. Mê xem hát và ham đọc tiểu thuyết Tầu đến nỗi bị thầy tôi treo ngược chân lên cành cây mà đánh, bắt nhịn cơm đến hai ba bữa, me tôi xin hộ mới thôi.
Tôi thuộc tên các đào kép hơn thuộc tên các danh nhân trong sử ký; tôi thuộc tích hát hơn thuộc những bài học ở trường.
Nhất là Bảy Hoa, cái tên dễ nhớ làm sao! Tôi mê vẻ đẹp của nàng - tôi chỉ biết mê thôi, bởi vì tuổi thơ ngây tôi đã biết gì là yêu. Tối nào đi xem mà Bảy Hoa không sắm trò thì tôi chán ngán chỉ muốn về. Không được đi xem, tôi nằm mê thấy Bảy Hoa, tôi thấy Bảy Hoa hiển hiện trên trang sách học, trong bóng ngọn đèn. Tôi vui thích mỗi khi Bảy Hoa đóng võ chém một tướng Phiên; tôi hồi hộp mỗi lần Bảy Hoa bị trúng mũi tên, xõa tóc than thảm thiết bên bức phông vẽ cảnh núi rừng.
Không bao giờ Bảy Hoa sắm vai đào phụ, vì người ta phải kính trọng cái danh và tài nghệ của nàng. Nhiều lần, chen lách vào lấy được chiếc vé hàng ghế cuối, tôi ra cửa thở, và tôi đã phát ghen với mấy ông lớn rất sang khoác tay Bảy Hoa lên chiếc xe hơi, đưa nàng đi ăn uống trước giờ nàng vào rạp sắm tuồng.
Bảy Hoa đẹp như thế, tài danh như thế, ai mà chẳng đón đưa.
Bảy Hoa lại được hãng thu thanh mời hát vào đĩa nhựa. Tôi xin thầy tôi mua tất cả những đĩa có bản hát của nàng, và tôi đoan rằng được vậy, tôi sẽ không dám trốn học đi coi hát nữa.
Thế là ngày đêm tôi đã có Bảy Hoa ở bên mình, ở chung giường ngủ, ở trên bàn học và Bảy Hoa theo tôi về tận nhà quê, trên bãi cỏ, hát cho tôi nghe dưới bóng cây râm mát giữa cánh đồng. Trời ơi! giọng ngân dài như tiếng tiêu sầu, nỉ non và thấm thía như lời than thở ấy, tôi không mê mệt làm sao! Này là lớp Hán - Sở tranh hùng, Ngu Cơ khóc biệt Hạng Vương trên bến Ô Giang vẳng buồn khúc địch Trương Lương... Này là lớp Bàng Phi quỳ ôm gối Nhân Tôn, kéo dải bào van lạy quân vương xin cho khỏi tội tử hình... Này là lớp Bạch xà bị tiên ông hãm trong tháp ngọc..., Đát Kỷ làm nũng Trụ Vương đòi ăn gan nuốt mật Tỷ Can...
- Bảy Hoa ơi! Thời xưa mất hẳn rồi.
Tôi ngậm ngùi thương người đẹp ấy, nàng danh ca ấy, tối nay, một tối mưa đông buồn lạnh, một tối mà không biết vì đâu, lòng tôi cũng lạnh buồn như mưa. Cuộc gặp gỡ Bảy Hoa, hình sắc Bảy Hoa càng khiến lòng tôi thêm chán ngán, và quả như lời kẻ buồn đời thường than thở, cuộc sống của con người ngắn ngủi quá chừng.
- Vừa mới năm nào!
Ừ, vừa mới năm nào Bảy Hoa còn được đời mến chuộng, đón đưa, mà nay thì thân tàn ma dại, mình gày bọc manh áo vá tanh hôi.
- Bảy Hoa hiện nay làm nghề gì cho đủ xài, đủ hút?
Nàng tiêm thuốc trả lời:
- Còn biết làm chi nữa! Nghề hát đã phế bỏ rồi. Chỉ còn một cách tự tử, hoặc sống mà ăn xin cho qua bữa.
Câu nói ấy se lòng tôi lại, nhưng Bảy Hoa vẻ mặt thản nhiên, vì có lẽ nàng đã dùng câu đó để đáp nhiều người, như tôi, đã thương hại hỏi nàng.
- Ông ạ, bọn anh em chúng tôi nay sống ít, mà chết thật rất nhiều. Tôi đã đi đưa đám những bạn tôi, hồi còn có sức; nhưng nay yếu rồi, tôi chẳng còn sức mà đi đưa đám nữa. Sau khi mất nghệ, chị Tám mà nay còn đĩa hát đấy, đã chết vì đau phổi, anh Sáu đã bỏ mạng bởi thiếu sài... còn kẻ sống sót như anh Hải thì soạn vở cải lương, như chị Thanh, chị Cưỡng thì đi làm điếm. Còn tôi, tôi chỉ còn đủ hơi chờ một ngày rét quá, một buổi trời u ám quá...
Bảy Hoa thở dài.
Tuy căn gác tối như hũ nút, tôi cũng cố tìm xem có vật gì đáng giá ít nhiều, nhưng không. Tôi chỉ thấy trên tường đầy khói ám, mấy tấm ảnh lồng trong khung kính vỡ treo lệch lạc: ảnh Bảy Hoa chụp hồi còn trẻ. Bức thì chụp nàng mặc áo giáp Tàu sắm vai nữ tướng, bức thì chụp nàng ôm bó hoa to che gần kín ngực, tươi cười.
Bảy Hoa của thời xưa sắc tài đang lừng lẫy đấy! Bảy Hoa thuở trước đã qua rồi!
Tôi lại bước chân vào cái ngõ hẻm đày người, đày rơm rác, đày nhặng, đày “mùi bần tiện, mùi hạ lưu” ấy một đêm sau, mưa gió lạnh lùng hơn. Và tôi lại khom lưng chui qua khung cửa thấp, trèo lên cái thang ọp ẹp gần sụp đổ, ngồi nhìn Bảy Hoa tiêm hết hộp thuốc lớn tôi mua tặng, nhìn những bức ảnh lúc thiếu thời treo trên vách bẩn nhện chăng.
Nàng kể cho tôi nghe những tích hát nàng thích, những đoạn tình kỳ dị, những người yêu thủy chung, si ngốc hoặc là đểu giả lọc lừa...
Tôi ngỏ cho nàng biết lòng tôi yêu mến sắc tài nàng hồi tôi còn thơ nhỏ. Nàng ngước mắt nhìn tôi:
- Trời ơi, đã lâu lắm tôi mới được nghe một người, là ông, nhắc đến sắc đẹp của tôi, nhắc đến một cảm tình gửi tặng tôi... tôi sung sướng quá...
Bảy Hoa ngồi nhỏm dậy, lôi một chiếc hòm gỗ đày bụi bậm ở gậm giường, mở lấy một gói giấy to..., nàng run tay trịnh trọng mở gói giấy đó ra, khẽ đặt lên lòng tôi:
- Đây là những bó hoa năm xưa, nhân dịp diễn giúp dân bị nạn, quan Đốc lý đưa tặng tận tay tôi... đây là bó hoa của một người... một người đã mất cả gia tài, cơ nghiệp vì tôi... đây là những bó hoa của một số đông khán giả... đây là... nhưng thôi, nó nào phải là những bông hoa tươi thắm như nhan sắc tôi năm ấy,... nay chỉ là một đống lá khô, cánh héo, hương sắc không còn.
Tôi bùi ngùi đưa trả lại nàng những bó hoa khô.
Nàng khẽ tiếp:
- Giờ trót đời tôi ước gì lại được bó hoa tươi của ai tặng nhỉ! Có một đêm tôi nằm mê thấy được như thế đấy. Song đùa vậy mà chơi, chứ đó chỉ là một giấc mơ mà!
Mấy ngày sau, vào một buổi chiều trời u ám, lá rụng nhiều, gió thổi nhiều, tôi đi lang thang bên bờ hồ Hoàn Kiếm, rồi qua chợ Đồng Xuân. Chợ đã tàn, chỉ còn một cô gái bán hoa, - trên rổ còn một bó hoa gần héo úa. Nhìn cô gái bán hoa mặt buồn rười rượi, quần áo tồi tàn, tôi tưởng tượng đến cảnh gia đình nghèo túng của cô, tôi vét tất cả xu trong túi mua bó hoa tàn úa ấy rồi đi.
Đang lúc không biết dùng bó hoa ấy làm gì, thì một chiếc lá rơi xuống đầu tôi, một hơi gió nhẹ thổi qua tai tôi như hơi thở của một người gần chết, tôi vụt nhớ đến Bảy Hoa. Vội vàng, tôi quay lại nhà nàng.
Nghe tiếng giầy tôi vừa giẫm cọt kẹt trên sàn gỗ nát, Bảy Hoa đang thiêm thiếp bên khay đèn không lửa, bỗng mở mắt nhìn tôi, gượng cười.
Ngồi bên nàng, tôi ngạc nhiên vì thấy đày mình nàng rắc kín những cánh hoa khô héo mà người ta đã tặng nàng, và nàng đã cho tôi xem đêm nọ. Nàng nắm tay tôi, thở phì phào:
- Ông làm ơn mở rộng cái cửa sổ kia ra, cho tôi nhìn thấy trời một lần chót nữa.
Tôi kính cẩn nâng bó hoa mua ban nãy, ghé tai nàng:
- Bảy Hoa, tôi tặng bà bó hoa này, tôi tặng bà tất cả tấm cảm tình của tôi hồi thơ nhỏ, và tôi cầu cho linh hồn bà siêu thoát.
Mắt sáng hẳn lên, nàng đỡ bó hoa đặt lên miệng hôn, rồi ấp lên ngực, hơi nhếch đôi môi xám nhợt:
- Ông đã làm giấc mơ của tôi thành sự thực, ông đã cho tôi một bó hoa cuối đời..., ông ơi, tôi mãn nguyện quá, vui thỏa quá...
Rợn người, tôi cúi đầu trước thi thể Bảy Hoa trong căn gác tối, khi ấy ngoài trời mưa gió vẫn thở dài.
Đăng Tiểu thuyết thứ Bảy, số 163/1937
Ở bãi
Từ ngày trú ngụ dưới bãi sông, tôi thấy trong tâm hồn tôi có một cái gì mới mẻ, dường như một sự tiếp xúc hỗn độn hình bóng về tình cảm không rõ rệt.
Những buổi tối con sông mờ giăng, đoàn người lặng lẽ đi bên bờ sông kéo chiếc thuyền ngược gió, ngược dòng... Bộ mặt tối tăm khổ hạnh của bác thợ máy Gia Lâm và bác đồ tể chiều chiều uống say, ngồi bên chum nước, mài dao... Tất cả, hình này lẫn bóng kia, màu này pha màu khác, tựu chung dệt nên một bức tranh gây ấn tượng khá sâu sắc.
Tôi thân thuộc dần dần. Người ta thôi không ngờ tôi nữa.
- Cái nhà ông ấy trông hiền quá nhỉ!
Tôi làm gì ai mà chẳng hiền. Tôi hiền cùng ngoại vật, hiền cả trong tư tưởng.
Bọn tôi, bác thợ máy và bác đồ tể. Hai bác ở cách tôi mấy ruộng dâu, tối thường rủ nhau cùng đến nhà tôi học. Tôi vui lòng bỏ thì giờ buổi tối dạy hai bác học tính, làm luận, địa dư, cách trí. Tôi lại nhận cả chân dạy lớp học Truyền bá quốc ngữ nữa. Phần thưởng khiến tôi vui thỏa nhất là nhìn những bộ mặt nghèo khổ kia sáng ra trên những dòng chữ đen, trên những con số khó mà họ vừa hiểu biết.
Tôi ở bãi đã được hai tháng. Bây giờ trời bắt đầu rét. Gió lùa vào những gian nhà lá, rét thấu xương. Tôi không kêu ca. Người ta chịu được, mình cũng phải chịu được. Hãy giản dị đi rồi sẽ quen. Khi giản dị, người ta mới thấy cái đẹp đúng nghĩa của cuộc đời.
Một chiều. Tôi ngồi bó tay trước chiếc bàn gỗ mọt. Mấy tờ giấy trắng trước mắt. Bụi bốc mờ trên đường đê cao. Sóng vỗ ngoài sông ở sau nhà. Khóm chuối góc sân, xơ xác. Tôi mới cầm bút, bắt đầu một truyện dài. Sự bắt đầu là cả một thách thức. Tôi rụt rè, sợ lòng mình, sợ những hình, những bóng. Loáng như một lưỡi thép chạm vào xương, hình bóng đoàn người lầm lì đi ngược dòng nước, giờ hiện ra dưới ngòi bút không động đậy. Ánh nắng nhạt cháy trên trang giấy, đẹp như vàng son. Tôi ước gì những tư tưởng tôi ngỏ trên giấy cũng đẹp như màu vàng son, những tư tưởng chói lòa, mắt trần không đọc được, ở đấy rồi biến ngay vào vũ trụ, bay lên những hành tinh. Nhưng than ôi, xác thịt con người vốn nặng, tư tưởng từ cái sọ tối như địa ngục thoát ra, có bao giờ có cánh. Tuy nhiên, tôi cũng muốn viết thử một câu. Câu gì chả được, miễn có một đường tơ vương cho vui bút giấy. Nắng tắt, giời tối rất mau. Đoàn ngựa của bọn “dô kề” quần thảo ngoài bãi cát sông đã lên đê. Bỗng một cảm giác gì làm ghê rợn não cân, tôi nhìn quanh.
Một hình thể xương thịt hiện ở góc nhà tự lúc nào không biết. Tôi đẩy ghế đứng dậy, có lẽ để tự vệ, có lẽ để... Hà! Tôi không thể nói rõ lý trí tôi lúc đó.
Nó tiến ra ngoài chỗ sáng, gần tôi. Một con bé, rách rưới chừng mười hai tuổi, ấy là đoán theo gương mặt, mà nếu đoán theo vóc người thì phải rút tuổi nó đi chút nữa.
- Con bé này, mày vào tự lúc nào?
Nó nhìn tôi không chớp và không đáp. Tôi hỏi nữa, một lúc lâu, nó mới nhếch miệng, giọng rất nhỏ:
- Cháu chui qua lỗ vách thủng kia. Cháu quen nhà này lắm, trước kia ông ngoại cháu ở đây. Ông ngoại cháu chết rồi.
Linh tính cho tôi nghĩ ngay đến lão già say rượu. Tôi lại nhớ đến một hai đêm tôi nằm mơ thấy lão. Lão đã ngồi ở chỗ tôi ngồi, lão đã nằm ở chỗ tôi nằm, khốn nạn, gian nhà lá chật hẹp này, đâu là không có hơi hướng lão. Tôi chú ý ngắm con bé. Nó nhìn lên nóc nhà, giọng phều phào:
- Ông cháu, ngày sống, có giữ cho cháu một cái gói đựng mấy hào. Ông cháu bảo phải để dành vài hào phòng khi về quê quán. Ông cháu dù thèm rượu, dù đói đến đâu cũng không hề mó đến mấy hào của cháu. Cháu đến xin ông cho cháu lấy đi. Bây giờ ông cháu chết rồi, cháu cũng chưa chắc được người ta thả cho về quê, thôi thì cháu lấy mấy hào ấy mua hương hoa thăm mả ông cháu vậy.
Nói rồi, con bé trỏ lên mái rạ, chỗ ông nó giấu gói tiền. Tôi bắc ghế lên giường, trèo vạch mái ra xem, quả nhiên có một gói giấy nhỏ. Con bé đón lấy cái gói bỏ vào túi, len lén ra cửa, rồi lủi đi. Cái thân hình tiều tụy mất vào bóng tối...
Con bé kỳ dị làm tôi nghĩ ngợi. Ngày hôm sau, tôi nói chuyện này với bác thợ máy và bác đồ tể. Hai bác không hề biết lão già kia có con bé cháu ấy. Ở đây, ai cũng chỉ biết lão độc có một thân một mình.
Cách đó ba ngày, con bé lại đến. Mặt nó có một vẻ ngơ ngác, buồn khổ lạ lùng. Nó đứng cạnh bàn tôi làm việc, nhìn khắp gian nhà, mắt đỏ mọng lên.
Tôi cố dịu giọng cho nó khỏi sợ:
- Em đến gian nhà cũ này vì em nhớ đến ông ngoại em phải không?
Em bé gật đầu. Tôi bắt đầu lưu ý đến nó hơn, vì tôi thấy lòng tôi nao nao một niềm thương xót.
- Em ở đâu? Có bố mẹ không?
Con bé cúi nhìn xuống đất. Một lát, nó ngẩng nhìn tôi, rồi lại vẫn cái dáng điệu sợ sệt như tối nọ, nó lủi ra ngoài.
Sau đó, hơn một tháng sau, con bé không đến nữa. Một buổi, tôi lang thang đi về vùng ô Yên Phụ. Xuống một con đường dốc, tôi chợt thoáng thấy hình dáng con bé khốn khổ kia sau một bờ rào tre bao quanh cái sân đất hẹp và ba gian nhà lá. Tôi dừng lại. Bờ rào thưa, cho tôi nhìn rõ những người trong sân. Con bé đang vo gạo bên chum nước. Có một mụ đàn bà to béo ở trong nhà ra, quát tháo ầm ĩ, tay cầm thanh củi.
- Con ranh này, tao sai mày đi mua tương ngoài hàng kia mà mày đi mất nửa ngày. Bà thì đánh tan xác mày ra...
Mụ xăm xăm đến con bé, vụt đồm độp xuống nó. Con bé trước còn giơ tay đỡ, sau tay đau quá, nó rụt lại ôm lấy đầu, chìa lưng ra cho mụ vụt. Nó không kêu, không giãy. Tôi điên tức, muốn vào can thiệp nhưng vào làm sao, can thiệp thế nào? Thành ra, hôm đó ra về, tôi nuôi cái buồn, cái tức trong lòng, như chính thân tôi đã bị ai hành hạ. Tối hôm ấy, bác thợ máy và bác đồ tể đến học, tôi kể lại cảnh kia cho họ nghe.
Bác đồ tể đập tay vào đùi tôi, cười vang nhà:
- Ối mẹ ôi, đó là nhà con mụ Mít. Tối nào mưa dầm gió bấc, ông có muốn đi giải sầu thì tôi xin hướng dẫn. Nhiều mẻng sộp lắm ạ!
Tôi thấy một cái gì vang vỡ trong lòng. Con bé mới từng ấy tuổi, gày gò như thế! Có lẽ đâu!
Bỏ qua, tôi không nói gì đến chuyện ấy nữa. Mười giờ, bác thợ máy và bác đồ tể học xong ra về. Tôi làm việc, vừa cầm bút thì có một cái bóng lẻn vào. Con bé ấy! Vẫn dáng điệu sợ hãi, nó ẩn sau lưng tôi, làm như có ai theo đuổi, cần tôi che chở.
Tôi biết ý, ra cài cổng.
Trong ánh lửa đỏ mờ, tôi nhận thấy nó lạ hơn mọi bữa. Mặt nó bôi phấn sáp, lông mày vẽ vụng về. Nó mặc cái áo lụa hoa đào, tuy giời rét đứt ruột. Vai áo rách sã một miếng, tỏ ra bị ai giằng xé. Nó run bần bật. Tôi cầm bàn tay gày nhỏ của nó, bảo:
Con bé tròn mắt nhìn tôi. Nó lạ, sao tôi biết con mụ béo.
- Ta biết. Con mụ ấy bắt em tiếp khách chứ gì?
Con bé ôm mặt khóc nức nở.
- Ông ơi, ông chết đi để cháu bơ vơ một thân một mình, người ta đày đọa cháu thế này...
Nó điên cuồng, cào cấu mặt mũi, móc ngón tay vào chỗ áo rách, xé toạc thêm ra.
- Cháu không nghe lời nó được. Cháu sợ lắm... Nó bôi son, trát phấn vào mặt cháu. Nó bắt cháu cởi áo nâu ra mặc áo lụa này vào. Nó dỗ dành cháu. Dỗ không được, nó đánh. Cháu chạy. Một người đàn ông say rượu đuổi cháu đến đây...
Tôi không nói gì, lặng yên nhìn con bé khốn khổ như một con nai con bị kẻ đi săn dồn đuổi. Tôi ngồi trước ngọn đèn con. Ngoài giời mưa rét. Con bé mệt, nằm ngả đầu trên một cánh tay co quắp. Nó rên se sẽ. Tôi đặt tay vào trán nó. Da nóng như than. Tôi đỡ nó vào giường, đắp chăn. Nó lên cơn sốt rét, run lập cập. Tôi thức suốt đêm hôm ấy, lòng hoang mang, khổ não vô cùng.
- Nếu ta không cứu vớt, nó bị đọa lạc, sẽ rơi xuống vực.
Sớm hôm sau, để yên nó ngủ tôi đi lấy trước một món tiền tại một nhà xuất bản. Tôi đến nhà mụ Tú Bà. Con mụ thấy tôi nhận là anh họ con bé, và thấy tôi đến giả tiền chuộc nó ra, thì hí hửng, rất khả ố.
Đưa tiền và lấy giấy tờ của mụ Mít xong, tôi về bãi. Con bé đã thức dậy, thấy tôi về, nó vội ngồi lên. Nó ngơ ngác nhìn tôi, nhìn một lượt khắp gian nhà, rồi lại vẫn dáng sợ sệt, nó lẻn ra cửa như mọi bận.
Tôi kéo tay nó lại:
- Ta chuộc cho em ra rồi. Bây giờ em có thể yên thân ở đây với ta.
Nó trố mắt nhìn tôi rồi bưng mặt khóc.
Hôm ấy Chủ nhật. Hai vợ chồng bác thợ máy đi qua ngõ, chừng ngày lương, dắt nhau lên phố sắm sửa chăng. Tôi gọi vợ chồng bác thợ máy vào. Tôi kể chuyện đêm qua con bé bị người ta ép, phải trốn đến đây, và sau cùng tôi nhờ vợ chồng bác đem nó về, nuôi nó. Vợ bác thợ máy, vốn hiền lành, phúc hậu, vui vẻ xin nhận nó làm con nuôi, bởi bác đang hiếm hoi chưa có mụn con nào. Vợ chồng bác xin đem con bé về ngay lúc đó để thuốc thang cho nó khỏi bệnh. Nhìn ba cái bóng đi khuất bờ rào, tôi mỉm cười, rất bằng lòng.
Tôi ngồi phác họa tương lai con bé. Trong khi ấy trời hửng nắng, sau mấy ngày gió bấc, mưa dầm.
Tiểu thuyết thứ Bảy, số 432 năm 1942.
Tiểu thuyết thứ Bảy, số 432 năm 1942.
Làm báo
1946 bầu đoàn thê tử tôi kéo nhau chạy giặc Tây lên phủ Yên Thế, tá túc tại Nhã Nam.
Sống, phải làm, phải kiếm ăn. Gia đình tôi cũng cần kiếm ăn ngày loạn. Dọn quán bán hàng, nhìn địa thể cắm đất, địa lợi có ngay. Cắm đất dựng lều dưới chân đồi, trên có đền thờ Hoàng Hoa Thám, quán đắc địa. Con đường chạy thẳng đến chợ Bùng, rồi đến chợ Nhã Nam, chợ luôn phiên, ngày nào cũng họp. Cán bộ, bộ đội, dân thiểu số, bà con các tỉnh tản cư về cái đất Kinh Bắc này đông vui như hội.
Bà xã nhà tôi nấu nướng khá, mồm mép giao dịch với khách ghé nón, hạ ba lô cũng rôm rả tươi vui. Món ăn đặc biệt thời loạn li là bún riêu, bún chả, chè đỗ đen, thạch đen, bánh rán. Tôi, tạm nghỉ bút nghiên, hàng ngày, từ sáng sớm, đạp xe đến làng Gia cách Nhã Nam hai cây số, mua bún đèo về, giúp vợ giã cua, quạt bếp, nặn bánh rán. Đủ trò, tất bật suốt ngày. Bộ đội chạy bộ hàng chục cây số đường rừng, nhịn ăn hãm uống, chờ đến quán bún riêu Đình Nẻo mới dừng chân, vào ăn, nghỉ. Quán bún riêu Đình Nẻo tiếng đồn các ngả đường, ngon, rẻ, chào mời tử tế.
Hàng ngày tôi đặt cái chõng tre trước đền thờ cụ Hoàng, nằm đọc sách sau giờ tíu tít giúp bà xã sửa soạn hàng ngày.
Bỗng một hôm đang say sưa mấy trang sách cổ, tiếng nhạc ngựa khua giòn từ dưới dốc đồi lên. Ngựa đến gần, dừng lại. Một người, chừng ngoài ba mươi tuổi, xuống yên vắt dây cương ngựa vào một cành cây thấp, bước đến bên chõng tre, cất tiếng chào tôi, cười nói:
- Chà, nhà văn nhàn nhã quá. Thời thế này, nằm rung đùi đọc sách, cũng hay. Loạn thế độc thư mà.
Tôi nhỏm dậy, nhìn khách lạ. Người ấy có dáng cao sang, to lớn, vận bộ đồ nhà binh vải ka ki Mỹ, dây da lưng to bản đeo khẩu súng lục trông to, nặng. Khách ngồi xuống chõng, thân mật nói:
- Tôi, người ở Bộ Công an. Đây là khu kháng chiến 12. Cần có một cơ quan ngôn luận, một tờ tạp chí nhiều trang. Nội dung viết về công an. Yêu cầu, mục đích của báo là đề cao vai trò công an nhân dân, chủ yếu về an ninh quần chúng được giữ gìn, công an được nhân dân tin cậy, yêu mến. Tên báo là Bạn dân, trang báo khổ giấy rộng, sẽ in nhiều số, phát hành suốt Cao Bắc Lạng. Chúng tôi vừa nghe tin anh tạm lánh ở vùng này. Trên cử tôi tìm đến đây, mời anh ra đứng tên chủ bút, một tay anh biên soạn bài vở. Nhà in đã sẵn. Tôi sẽ giới thiệu anh với nhà in lưu động ấy. Mong anh vui vẻ cộng sự với chúng tôi.
Ông nói một hơi dài, trịnh trọng khẩn thiết, không đùa.
Tôi bật người lên, vội đáp:
- Trước hết tôi xin nói: Tôi không hề biết gì về tổ chức, sinh hoạt của ngành công an. Sau là làm một tập san khổ lớn, nhiều trang như vậy, một tôi làm sao nổi. Thực hiện một tờ báo cỡ ấy, ít cũng mươi tay viết, mà phải tay viết nhà nghề của công an. Thật tình tôi không dám nhận lời.
Giọng ông khách đĩnh đạc hơn:
- Tôi biết đó là việc khó, anh sẽ chối từ. Nhưng tờ báo phải ra đời trong tháng này. Trên quyết định tôi phải nhận được lời giúp đỡ của anh dù khó khăn đến mấy.
Tôi vẫn một mực chối từ. Ông khách vui vẻ đứng lên cáo từ tôi, nhảy phắt lên yên ngựa. Tôi nhìn theo. Con ngựa Nhật to cao, ức nở, mình dài, bụng thót, mông to, bốn vó thuôn nhỏ, móng tròn, chắc nịch. Giống ngựa quý, ngựa chiến của Phù Tang.
Cả đêm ấy, tôi không sao ngủ, bị những ý nghĩ vẩn vơ về tờ báo công an giày vò. Trời sáng, tôi tiên liệu ông khách thế nào cũng trở lại.
Quả nhiên, khoảng 9 giờ, con ngựa chiến màu đen hung đỏ, đốm trắng giữa trán chạy vút lên đồi, dừng ngay lại, đứng yên không nhúc nhích trước chõng tre. Ông kỵ sĩ cũng có vẻ nghề, nhảy xuống, ngồi lên chõng, vẫn giọng thân mật nhắc lại lời thỉnh cầu hôm trước. Lần này ông khách thêm những lời ép buộc hơn.
Tôi vẫn chối. Nhưng thấy thái độ ông khách kiên quyết quá, tôi phải nhận lời, làm tờ báo Bạn dân.
Bàn giấy của tôi - Văn phòng tòa soạn tạp chí Bạn dân, báo của chiến khu 12 thiết lập ở hàng hiên dưới mái đền cụ Hoàng Hoa Thám. Còn bàn giấy ông chủ bút Bạn dân là cái chõng tre rệu rão gần gãy nát.
Tôi bắt đầu làm việc. Chõng là bàn, ngồi mặt đất. Trên mặt chõng chỉ có một lọ mực tím, một quản bút tre cắm ngòi bút “ma la”. Không có một mảnh giấy tư liệu, tài liệu! Đầu óc tôi bốc lửa. Thế rồi thì con ma nghề nghiệp cuối cùng cũng thương tôi. Nó hiện ra, nó nhập vào tôi. Tôi cầm bút viết. Hồi ấy, tôi mới 31 tuổi, còn khỏe sức, còn nhanh trí, còn sáng tạo, còn vắt chất xám ra nặn lên những việc kỳ người lạ ở anh công an, chị công an, kháng chiến đánh Tây.
Viết ngày này sang ngày khác. Viết như cuốc đất, bổ củi, không ngủ, ít ăn. Viết đủ các mục do khả năng sáng tác quen nghề của một cây bút viết tiểu thuyết. Đủ món: xã luận, lời chào ra mắt bạn đọc của ban biên tập (có mình tôi), truyện dài, truyện ngắn, mục khôi hài, thư tình cảm, thơ vui cười, chế giễu, mục đố vui.
Cặm cụi viết, chốc đã qua tuần. Một tập bản thảo dày cộm xếp mặt chõng. Ông khách kỵ mã nhớ ngày hẹn đã đến kia. Tôi đưa ông tập bài. Bảo ông đọc, duyệt kỹ về sai đúng chính trị, ký dưới bài trước khi in, tôi có ý chịu trách nhiệm với ông. Ông cười, không đọc.
- Tôi tin ở ông. Tuyệt đối tin. Tôi không có thì giờ đọc. Nói đúng hơn, tôi thiếu khả năng hiểu biết về văn chương báo chí. Xin nhắc lại, tôi tin ông. Tuyệt đối.
Ông vỗ vai tôi:
- Tôi không ngờ ông viết nhanh đến thế. Mới có bảy ngày ông biên soạn xong số 1. Bây giờ, chúng ta đến Cao Thượng, quán rượu tốt nhất vùng này uống với nhau chén rượu mừng Bạn dân số 1.
Ông lên ngựa, mời tôi lên yên ngồi cùng, quất roi, con tuấn mã sải vó khi xuống đồi, vút đến tửu quán nằm giữa những ngọn đồi, rừng cây hạt dẻ...
Xong việc, ông kỵ mã nhấp giọng khi đã xua tay đuổi ba cô gái:
- Bây giờ tôi cho ông biết cái nhà in lưu động của kháng chiến khu 12. Nhà in đó ở làng Dĩnh Thép, nơi cụ Hoàng bị hại. Ông cứ đi đường này, đường này (ông rút sổ tay vẽ địa đồ), qua con suối nhỏ, sang bên kia, sẽ lắng nghe tiếng máy in. Ông đến thẳng đó, trình giấy giới thiệu của tôi. Các công nhân sẽ vui đón tiếp ông.
Ông nhảy lên yên ngựa, còn cúi xuống ghé tai tôi:
- Ông nghe kỹ này. Tôi đã chỉ ông biết rõ nhà in tức là đã trao cho ông chiếc chìa khóa sinh tử của cả chiến khu 12 này đấy. Ông nên cẩn thận. Nếu có gì xảy ra, hậu quả thế nào, ông đã biết.
Con ngựa cất vó chạy nh ư bay. Tôi rợn tóc, rùng mình.
Sớm sau, tôi đút tập bản thảo báo vào túi vải, khoác vai, tìm lối vào nhà in lưu động làng Dĩnh Thép, tử địa của họ Hoàng, lòng sao cứ thấy rờn rợn không thanh thoát.
Tai nạn đã đến với tôi.
Trời rét đậm. Sương mù bao trùm miền sơn cước. Tôi cúi đầu lặng lẽ, rảo gót, tai nghe ngóng, linh cảm một cái gì sắp xảy ra.
Đột nhiên, có tiếng cành lá bụi cây rung động. Một người, như con đười ươi lớn, nhảy ra. Một người sơn tộc. Hắn lao đến tôi, định bóp cổ, miệng quát tiếng Kinh, nghe lơ lớ:
- Cởi áo ra.
Thì ra hắn đã theo dõi tôi, thèm cái áo da trong lót lông cừu trắng kiểu áo của phi công Âu Mỹ. Tôi mượn áo này của Trần Huyền Trân. Anh đi công tác xa, không dám mặc, cũng giống tôi mặc nó có người sẽ lột bởi nó là áo quý nhất ở nơi chiến địa.
Tôi cố điềm tĩnh, không sợ, trước cái thân hình không có vẻ gì là đạo tặc cỡ thích giết người.
Tôi né mình, gạt mạnh tay hắn, đầu óc tỉnh táo nhớ lại mấy miếng võ đã học được của bọn người con cháu nghĩa quân Đề Thám, Tán Thuật mà tôi đã viết đến trong bài ký Hà Nội cũ nằm đây cũng đăng ở báo này. Tôi nắm chặt một cánh tay hắn, tiến sát mình hắn, dùng hết lực đưa đầu gối thúc vào bộ hạ, một bàn tay tôi gồng hết lực bóp xuống họng hắn, còn một tay đấm thúc, từ dưới bụng lên quai hàm hai quả đấm liền. Hắn kêu rú một tiếng, ngã lật ngửa trên bãi cỏ, ngoẹo đầu. Tôi bỏ đi, hú vía. Giá không có miếng võ phòng thân ấy, lại nếu địch thủ năm ba đứa có vũ khí thì mạng tôi khó bảo toàn về với vợ con. Chết như vậy, tất nhiên không được nêu danh liệt sĩ.
Tôi áp tai xuống đất, bắt được tiếng rung, tiếng kêu nho nhỏ của máy in, tôi tìm đến, xuất giấy tờ, anh em công nhân, toàn mặt quen thuộc ở mấy nhà in Hà Nội, thấy tôi, mừng quá, ôm lấy tôi, hỏi tin chiến sự Hà Nội, Hải Phòng tíu tít.
Tờ Bạn dân tiếp tục ra được 3 số vẫn do mình tôi ngồi bên đền thờ Hoàng Hoa Thám, với cây bút cán tre, ngòi “ma la” hút gần cạn lọ mực tím, ngày ngày vận dụng hết chất xám của bộ não mệt mỏi, bôi trát ngót trăm trang bản thảo, rồi lại một mình xuyên đường rừng núi, mò đến nhà in. Vừa đi, cúi đầu lo lắng, vừa rờn rợn nghe tiếng vọng câu nói của ông kỵ sĩ “Tôi chỉ ông biết nhà in bí mật tức là trao ông chiếc chìa khóa của chiến khu 12 rồi đó...”.
Báo ra số 3 rồi thôi, thời gian ngồi viết sống bằng bún riêu của vợ. Chợ Nhã Nam, năm ấy, 1947, triển lãm chiến lợi phẩm ta thu được của địch, bị chúng cho máy bay bắn phá. Như chim vỡ tổ, quán bún riêu cũng dẹp luôn.
Người Hà Nội số 30/ 1996.
Ga xép
Những ngày xa xưa, ai đã từng xuôi ngược trong những chuyến đi gần đi xa, trên các toa tàu hỏa được khó nhọc kéo đi bởi cái đầu tàu xấu xí phì phò nhả khói, tất nhiên còn lưu giữ trong trí nhớ những nhà ga nhỏ bé đứng trơ vơ đơn độc trên cánh đồng mênh mang hiu quạnh, ngày đêm ít có bóng người.
Ngày ấy, tôi còn trẻ lắm, ở cái tuổi thiếu niên. Lớn lên, qua đây qua đó cũng nhiều, ghi trong tâm tưởng kể hàng trăm ga nhỏ bé mọc lên khắp miền đồng bằng, sơn cước, “đường thuộc địa”, ôm chặt lấy các tuyến đường sắt Bắc Nam. Ngày nay, quá già rồi, tôi không còn đôi chân nhanh nhẹn, cơ thể gọn gàng để chuyển hành lí cồng kềnh hoặc khi toa đông khách, cái gã thanh niên tháo vát này tự tiện phi thân lên cửa toa xe, nhảy phắt vào chiếc ghế gỗ dài, ngồi vắt vẻo. Ở lứa tuổi xanh rờn ấy, tôi tự đắc là khỏe mạnh, ít bỏ lỡ dịp trổ cái vốn võ thuật ít ỏi của mình, nhờ một núi truyện kiếm hiệp Tàu đăng câu khách trên hầu hết báo chí của thủ đô, hơn nữa, tuổi trai chưa vợ, tôi thích cái chuyện “ân oán giang hồ” vặt, mê lăn các tuyến đường đất nước, nhất là đường sắt. Mê đường sắt bởi lí do: trong toa tàu chạy xuyên đêm mịt mờ tối sáng, luôn ánh lên một đôi mắt biếc, một nụ cười duyên, tiếng nói ngọt ngào có hiệu lực ru mấy hành khách đang ngủ gật và làm tỉnh táo mấy gã đầu xanh, tim đập rộn ràng, mở to mắt đoán tìm ánh mắt ấy, nụ cười, giọng nói ấy tất phải của người đẹp hành hương. Thế rồi, tới lúc sáng trời, họ đã nhanh chóng trở thành đôi bạn chim xanh, say sưa viết trang tình sử. Tuổi xanh, ở thuở nào cũng vậy, con người sống với trời tình biển hận, nghĩa là phải có yêu đương, ngủ cũng mơ yêu, thức cũng mơ yêu, yêu đến già, đến chết. Tình yêu là đất thánh nhiều màu mỡ, ở đó, chỉ ở đó nảy mầm thơ văn, làm nên văn học, làm nên truyện Kiều.
Tôi vốn người quê Kinh Bắc, sinh quán phủ Thuận Thành. Sử cũ chép: Đời nhà Hán Trung Hoa, phủ Thuận Thành của ta tên gọi Liên Lâu, hai Bà Trưng ngày khởi nghĩa đã hội tướng hội quân ở đó. Cũng ở đó, sau này Tô Định đã sát hại Thi Sách, gây cho Bà Trưng mối thù chồng phải báo; cũng ở đó, Mã Viện đã xuất quân, diệt Nữ Vương anh hùng đất Việt.
Mỗi lần tôi từ quê ra Hà Nội, phải cuốc bộ hơn mười cây số tới ga Lạc Đạo, đợi tàu Hải Phòng lên.
Chao ôi, cái ga Lạc Đạo bé nhỏ này! Một đời người có muôn nghìn thương nhớ. Bảo rằng thương nhớ khôn nguôi, song dù nhớ sâu như biển, thương cao như núi, nhưng rồi nhớ thương biết mấy cũng phải tàn.
Ga Lạc Đạo cũng như các ga xép khác thuộc mạng lưới đường sắt dăng như mạng nhện khắp đường thuộc địa. Cấu trúc nhà ga xép giống hệt nhau. Một căn nhà hai phòng hẹp, cửa trông ra sân ga xây cao lát xi măng kề bên đường xe hỏa. Hai phòng, một dùng làm phòng bán vé, cân hàng; phòng trong, tối như hũ nút, dành cho gia đình thầy ký ga chui rúc. Lương nhân viên hỏa xa quá thấp, chẳng đủ nuôi thân, nói gì gánh vác vợ con, cũng không hòng nuôi cha mẹ. Biết vậy, nhưng cái nợ thê nhi khó tránh, thầy ký nhà ga vẫn phải đèo bòng, với lương còm mười lăm đồng tháng không phụ cấp, chẳng có tăng. Các cô gái tỉnh, gái quê tấp tểnh kén chồng, mong chờ ký, phán. Kén được chồng ký còn dễ, kén tham phán khó hơn lên trời. Ký gì cũng được, song nói đến ký la ga thì các cô lè lưỡi chạy dài ngay. Câu nói mỉa mai quen thuộc ngày đó là “thầy ký la ga ăn cắp gà bỏ túi”. Câu ấy nói hết cái nghèo, cái khổ của những viên chức xấu số này. Nhưng bún chua gạo mốc thì ế, chớ người đàn ông, dẫu hẩm hiu đến mấy, vẫn không chịu làm đồ bỏ vào nồi nước gạo. Các cô gái muộn chồng, bỏ chồng, sớm góa, cuối cùng cũng phải nhắm mắt làm vợ ký la ga. Nhờ vậy, và vì thế, các thầy xếp ga thầy nào cũng lúc nhúc vợ con một bầy sống trong gian buồng phụ cận phòng bán vé. Cái trò đời nó thế. Công chức ở tỉnh thành sống vui, sống sướng, lương khá cao, thừa sống, nếu vợ biết xoay xỏa, mở cửa hàng buôn bán hoặc ít ra cũng cầm cái họ, sống nhởn nhơ. Ông chồng thì phè phỡn, sớm vác ô đi tối vác ô về, phởn hơn tí nữa thì kéo nhau gom tiền làm chầu hát Vạn Thái, Khâm Thiên, đi nhảy... Còn thầy ký la ga làm gì? Đi đâu? không tiền nằm xó, lấy vợ giải sầu, càng đẻ như gà mái.
Quanh cái ga xép buồn tênh, dân cư thưa thớt lặng lẽ sống sau mấy lũy tre xanh xơ xác, ruộng nương cằn cỗi. Ngày ngày, mặt trời mọc quá con sào, một hai anh dân cày mới đánh trâu còm ra cánh đồng vắng ngắt “vắt, hò, họ”. Tiếng con người nói với con vật như hơi thở tàn của anh ốm đói sắp xa đời.
Hàng xóm với thầy ký la ga có chừng vài ba hộ, người đông, vại gạo không bao giờ đầy, nhà bên phải với nhà bên trái thi nhau rách, đói, ốm la trời, oán đất. Ga xép Lạc Đạo tuy như cái xác thoi thóp thở, nhưng xem ra còn sinh khí. Nó cũng như mọi ga xép khác, có một chõng hàng bún riêu cua ngon nổi tiếng vùng Lạc Đạo. Cái hàng bún riêu bà Bơ được bà con xã, huyện đều mến tiếng. Bún riêu bà Bơ ăn với đậu nướng chợ Đường Cái, ăn vào hai bát thì cô vợ đoảng sắp bỏ chồng cuốn gói theo giai cũng phải ở lại ăn thêm dăm bát nữa mới chịu lìa chồng. Cái miệng bà Bơ bún riêu mà nở ra thì cụ sắp tới giờ viên mãn cũng nam mô xin ở lại cõi tạm này thêm một giáp. Liền cạnh hàng bà Bơ, bỗng một hôm, khách đi tàu đêm xuống ga Lạc Đạo, bấn người lên vì nhác thấy nẻo gần nẻo xa lãng đãng dăm ba tà áo lụa trắng xanh, nhẹ gót gõ mặt đường đá vụn xanh mát bóng trăng suông. Hỏi ra: một quán đào nương, ca nữ lầu xanh mới mở. Rồi thì người Lạc Đạo, cạnh ga Lạc Đạo, chuyên nấu rượu ngang thơm ngon bấy lâu nổi tiếng, không bảo nhau mà cùng phao tiếng lên rằng: Một bà chủ cô đầu tài sắc có thừa, đã ôm cầm theo ông phủ Thuận Thành về phủ làm tiểu thiếp. Bà phủ nghe tin, tức tốc về phủ đánh ghen loạn phủ. Ông phủ bỏ thương vương nhớ, chờ bà phủ ra Hà Nội rồi, ông cho người đẹp món tiền to, mua mấy gian nhà cho người đẹp mộ lũ con em xinh như mộng, lại gọi tay kép đàn đáy cao tuổi nghề từ Hải Dương về đây đờn cho bà chủ trổ tài sênh phách, tiếp khách cao sang, phần đông là bạn hữu ông phủ từ các tỉnh ngự xe hơi hoặc ngồi xe lửa đáp ga Lạc Đạo.
Nơi hàng viện lạ cảnh lạ người, ế khách hai hôm. Tối thứ ba, đèn nhà hát đã thêm dầu lửa, tiếng đờn, tiếng phách, tiếng trống đã xốn xang reo cái duyên ti trúc. Nhờ vậy, cái ga xép hẻo lánh này bỗng nhiên khởi sắc. Bún riêu bà Bơ càng thêm màu mỡ, có khách tầu xe ăn ngày, lại có khách chơi son phấn ăn đêm. Bà Bơ vui mừng. Duy vợ chồng thầy ký la ga, nghề đã sầu, cảnh lại thêm sầu. Thầy túng thiếu, cả ngày đóng đanh cặp mắt lèm nhèm vào tập lịch trên tường, cháy ruột chờ đợi ngày bây (Jour paicment: ngày lĩnh lương).
Nhân viên ga xép có ba người: xếp ga, người bẻ ghi, người cắm cờ đỏ xách đèn xanh đỏ giơ lên đón những chuyến tàu vào ga, dừng bánh trước sân ga. Sau này, tổng giám đốc xe lửa hạ lệnh: Con số ba người phục vụ ga xép, rút xuống còn hai. Không cần người cầm đèn đỏ, việc này xếp ga đảm nhiệm, bớt một nhân công, com-pa-nhi Vân Nam đỡ tốn tiền chi phí. Thế là ông xếp ga Lạc Đạo, tục danh ông xếp Nhã, thêm việc làm, thêm cả cái ốm đau, túng quẫn. Một vợ, ba con. Gạo thiếu chỉ đủ cháo húp, bà bếp bí quá phải vừa ra đồng mót thóc rơi, vừa đánh bạo vào làng vay tạm một bà quen việc bốc vác gồng gánh ở sân ga khi có chuyến tàu về.
Ông xếp Nhã vốn lành hiền, đời khó sống mà ông cố bóp bụng để thành sống dễ. Cơm thừa sức ăn ba bát, ông chỉ dám ăn một bát, nhịn phần con nhỏ. Món ăn chỉ có mớ lá khoai lang ngoài bãi, nhai với con cua muối mặn, cố sống, phải sống, cặm cụi làm công việc tối ngày: bán vé, cân hàng, đánh morse. Lạch cạch, lạch cạch, cái cần sắt kêu nhịp nhàng dưới ngón tay người ký la ga nửa kiếp hành nghề, nửa đời nghèo đói.
Nhà cô đầu cách nhà ga chừng mươi thước. Đêm có khách, trống phách nói cười dâm ô, khả ố hành hạ cái thân gầy còm, tật bệnh. Ông nhăn mặt, ôm ngực đau, ôm bụng đói, cúi gục đầu xuống đánh morse “lạch cạch, tành tạch...”. Có một đêm, bên kia nhà cô đầu, lưu linh loạn đả nơi phòng khách, mấy tên chánh tổng, lí trưởng ma men ám, cuồng dâm, níu quần bấu áo mấy ả đào chanh cốm, kẻ đuổi theo rơi tuột cả khăn; kẻ bị đuổi, quần đứt dải, ôm nhau vật, thằng cười con khóc.
Thầy xếp ga kêu khổ, nhắm mắt, bịt tai. Tai thầy vẫn nghe tiếng động bên ngoài, óc thầy vẫn nghĩ trên những dòng chữ chạy trong sóng morse. Đêm kinh khủng đó qua đi. Hôm sau, một nhân viên hỏa xa đáp tàu nhất đến ga Lạc Đạo, đưa lệnh gọi thầy xếp về hầu Tổng giám đốc công đoàn xe lửa. Thầy xếp Nhã, con người hiền lành vô tội, con người không còn biết sống kiếp người, run sợ nghe tiếng quát của cấp trên:
- Tối qua, anh đánh morse cho tàu vào ga. Anh nghe nhầm, đánh lẫn, làm thế nào mà đến nỗi hai đầu tàu cái ngược cái xuôi, đâm vào nhau, một tàu đổ ba toa, người không ai chết, chỉ mười sáu người bị trọng thương, xe vào viện. Việc làm ăn bất cẩn cố tình hay vô ý này, cao ủy phủ Pháp quốc nghi anh âm mưu với đảng phái chính trị nào đó phá hoại hệ thống đường sá giao thông. Anh sẽ đi tù.
Quả nhiên, con người khốn khổ ấy bán cả một kiếp đời cho guồng máy áp chế, đã bị xích điệu ra tòa, đã ngồi tù, và đã lĩnh án lưu đầy biệt xứ.
Chuyện cũ qua đi đã có tới năm mươi năm trên xứ đen nô lệ. Cái gã thiếu niên thích nhảy tàu không có vé, yêu cái ga xép Lạc Đạo bé nhỏ, ở đấy, sống hiu hắt một thân hình còm cõi, lầm lì, ngày đêm phải nhớ như in vào óc giờ tàu sắp tới ga, để vẫn lầm lì xách cái đèn vuông gắn kính đỏ, xanh, ra đứng đầu ghi ray giơ đèn, tay cầm lá cờ vải tây đỏ, vẫy, phất. Tàu dừng bánh đỗ trước sân ga, thầy xếp mẫn cán ấy vội vã rời đầu ghi về nhìn khách xuống tàu, thu vé khách đưa lúc rời ga. Ông lưu ý đếm cả việc mấy người nông dân tranh thủ việc đồng áng rỗi ra ga làm bốc vác, gánh hành lí đồ đạc về các làng xóm ở quanh. Ông còn căn dặn mấy người bốc vác phải bảo đảm an toàn hành lí, đồ đạc cho khách thuê, và không được bắt chẹt khách, tính giá đắt.
Ga xép Lạc Đạo, sau đó, có thầy xếp khác đến thay. Người sau cũng như người trước, đều vợ con quấn quýt với đồng lương chết tiệt. Người vợ, lũ trẻ nhỏ, vẫn như vợ con người nhân viên đường sắt bị tù đày chỉ vì đã yếu mềm để cho rối trí óc trong cảnh hỗn loạn xảy ra ở cái nhà hồng lâu, khách quý nát rượu cưỡng dâm mấy gái sa chân lỡ bước phải bán mình.
Cái nhà ga xép Lạc Đạo, khi tôi qua tuổi thiếu niên, đã biến dạng ra sao, tôi không được chứng kiến.
Có còn không cái tiếng morse yếu đuối dưới ngón tay run đói của thầy xếp thoi thóp sống tháng ngày quá tẻ nhạt như con giun con dế chân tường bãi cỏ.
Có còn không miệng cười, khóe mắt bà Bơ bán bún riêu ngon quá là ngon đối với cái tuổi còn hay ăn thích uống của tôi.
Có còn không cái nhà hát cô đầu của cô gái điếm lỡ thời, tiểu thiếp ông phủ hung thần.
Thôi rồi. Hết cả rồi. Trải hơn bán kỷ, tất thảy con người lẫn cảnh vật ở đây, ở đó, đều cuốn theo thiên luật “hữu hình hữu hoại”, trở về bụi cát.
Chao ôi, cái ga xép Lạc Đạo tôi yêu, tôi quý thời trai trẻ, như kẻ hành hương yêu thánh tích, ngày nay không còn dấu vết, chỉ là một bãi hoang tàn.
Người Hà Nội, số 34/ 1996
Sư tử Hà Đông đại chiến sư tử Hà Nội
Thuở ấy, Hà Nội dấy lên phong trào vũ thuật cực kỳ sôi nổi trong dân chúng. Đáng kể nhất là phường võ Hàng Bột, Sinh Từ, Quốc Tử Giám, Hàng Buồm, ngõ Hàng Hương. Lãnh tụ nổi danh của võ sinh mấy phường ấy là Cử Tốn, cử nhân khoa cuối cùng triều vua Khải Định. Rồi đến Tư Dậu, Ba Lập Lơ, Yêu Râu Xanh, Phúc Đen, Công tử Ân Hàng Lược, Nồi Hàng Buồm, Cậy Béo ngõ Hàng Giấy, Hàn Bái...
Trong số võ sĩ đó, được bái phục nhất là lò võ Cử Tốn ở ngõ Văn Tần, phố Sinh Từ. Cụ Cử Tốn trao quyền huấn luyện cho con trai trưởng là Sáu Du làm trưởng tràng, dạy ba mươi võ sinh quyền, tấn, sử dụng thành thạo các môn võ khí như đao, kiếm, thiết linh, đinh ba...
Thực dân Tây, hồi đầu, theo dõi lò võ nức tiếng này. Sau chúng thấy thái độ tư cách cụ Cử đáng kính trọng, chúng cũng lờ đi, mặc cha con cụ Cử tự do hoạt động miễn đừng gây chuyện phá rối nền bảo hộ. Tuy nhiên, phố phường Hà Nội, cứ cách dăm ba ngày, lại nháo lên vì cuộc ẩu đả xảy ra giữa các lò võ bề ngoài vẫn giao du, thân thiết song bên trong không tránh khỏi ngấm nguýt, thách đố nhau tỉ thí. Đấu trường nhất định là mấy cao lâu, tửu quán nổi danh của Hoa kiều như Đông Hưng Viên, Nhật Tân, Tây Nam, Tửu Giang, Tự Hưng Lâu. Gây chuyện nhiều nhất là Hàn Bái. Ông này ra đường không bao giờ có vũ khí trong mình, ngoài tấm khăn tay hoặc dải lụa dây lưng đầu buộc hai chục đồng tiền trinh, xu đồng; khi đối chiến ông vung dải lụa lên đủ sức đoạt đao của địch rất dễ dàng.
Hàn Bái đến tửu quán, lên gác cao không qua cửa mà chỉ khẽ vỗ đùi, rón gót phi thân lên mái hiên, nhảy qua bao lơn, nhảy qua cửa sổ, chễm chệ ngồi xuống ghế, nhẹ nhàng đến mức khách ăn nhộn nhịp chung quanh không ai biết. Ông thường đi một mình, uống rượu một mình, không có bạn. Nhưng rồi, ông có ngay thù địch, bất cứ nơi nào có mặt ông. Kẻ thù ấy là mấy anh mật thám Tây lai, mấy trọc phú chủ những chiếc xe hơi bóng loáng đậu dưới đường, mấy ông quan phủ quan huyện ở tỉnh xa về Hà Nội nhìn người bằng nửa đuôi mắt nhà quan, quát hầu sáng bồi bàn, mắng khách ăn thiếu lễ phép. Hàn Bái ngứa mắt, nóng tay, đứng phắt lên, đạp đổ bàn ăn, vít đầu những thằng đáng ghét, hạ những nắm đấm như búa bổ đánh cho hả giận. Hàn Bái móc tiền ném xuống bàn trả tiền ăn, phi mình qua cửa sổ xuống mái hiên, nhẹ nhàng đặt chân dưới vỉa hè, biến mất. Kẻ thù thò đầu qua cửa sổ nhìn theo, bở vía. Từ chủ hiệu đến khách ăn đều biết là Hàn Bái, nhưng không ai dám hé răng. Cái tên Hàn Bái vang trong Hà Nội, nhất là khu phố Hàng Buồm, như một hung thần. Vậy mà, Tây cứ lờ đi, không ai hiểu lí do gì khiến thực dân nể tránh cái ông Hàn này đến thế.
Ông Hàn không nhận học trò, ít bạn, cũng không ai thấy ông quen biết một người Tây. Rồi, bỗng một ngày, người ta nghe tin võ sĩ Hàn Bái chết. Xác ông chơ vơ trong một căn phòng nhỏ xếp đầy hoa. Có thể ông đã mua hết hoa Hà Nội, tự sát giữa mùi hoa. Ông cắt mạch máu cổ tay, máu thấm đỏ cả một chồng khăn bông, rỏ xuống cái chậu thau hứng máu. Cái chết của một con người kỳ quặc giữa Hà thành như thế đấy.
Sau cái chết Hàn Bái, làng võ Hà Nội chợt trở nên tĩnh lặng. Phường ăn chơi Hà Nội thỉnh thoảng mới thấy Ba Lập Lơ, Tư Dậu, Yêu Râu Xanh xuất hiện.
Họ thân ái với nhau, khoác tay nhau, đĩnh đạc vào tửu quán bác tôi, huynh đệ, sống như những thư sinh đọc sách.
Hà Nội vào thu. Cái thu Hà Nội nhắc nhủ mọi nhà nhớ đến ông tiến sĩ giấy, cái đèn kéo quân, chủ yếu là cái đầu sư tử, không chỉ riêng cho trẻ nhỏ, mà cái đầu sư tử của người lớn làm nổi hội hè đình đám. Phường võ Hà Nội lại sôi lên hoạt động sau thời gian im lặng mang tấm khăn tang Hàn Bái. Phường múa sư tử truyền thống là phường Hàng Bột, Hàng Hương hàng năm vẫn thù địch nhau, gửi chiếu thư cho nhau, thách đố tranh lèo đoạt giải bằng vũ lực. Đầu tháng Tám phường Hàng Bột, phường Hàng Hương ra công làm đầu sư tử mới to hơn đầu sư tử năm trước để thị uy với đối phương, không làm bằng nan tre, mà kết bằng mây, đủ sức thay lá chắn đỡ đòn búa bổ, giáo đâm của địch. Đầu sư tử làm rất công phu, nặng đến mức một võ sinh phải khỏe lắm mới nâng được nó lên múa theo điệu võ, đón đỡ che thân, tấn công địch thủ.
Mở mắt mong chờ ngày mười bốn, ngày rằm trăng tròn máu đỏ. Cả Hà Nội nóng lòng đợi ngày thi võ. Võ sinh của hai phường đã dày công luyện tập những động tác múa đầu sư tử, những bài võ của người đánh côn phối hợp với người múa lân. Luyện cả cách trồng người đứng trên vai nhau, đội đầu lân lên đầu, vừa múa vừa giơ tay giật gói tiền treo trên ngọn cột đèn hoặc trên bao lơn nhà treo giải.
Hôm ấy, khoảng bốn giờ ngày mười bốn, phường Hàng Hương do võ sư Yêu Râu Xanh cầm đầu, tất cả mười lăm người đứng trên xe bò, hùng dũng kéo đến Hàng Ngang, cờ rong trống mở, chiêng não bạt khua ầm ĩ. Phường đứng trước cửa hàng to nhất phố. Đó là ông Bang Si đứng đầu kiều dân Trung Hoa, giao dịch về mặt chính trị với chính quyền thực dân Pháp. Cửa hàng ông Bang Si rất đồ sộ, bán đồ gia dụng đắt tiền, chủ yếu là đồng hồ cao cấp Thụy Sĩ. Tháng Tám hàng năm, Bang Si treo giải thưởng múa kỳ lân, giải to hơn các cửa hiệu tơ lụa Hoa kiều, Ấn kiều phố Hàng Ngang, Hàng Đào. Mọi nhà giải treo chỉ có 5 đồng. Giải nhà Bang Si những 10 đồng hai giấy con công, món tiền thời ấy là quá hậu.
Phường Hàng Hương bắt đầu khua chiêng trống và bắt đầu giễu võ giương oai. Chợt ở đầu phố Hàng Đường kéo đến một xe bò chở ních người, côn kiếm, giáo mác, reo hò như “đổ thành vỡ núi”. Xe bò này đứng lại, mấy chục người vũ khí tua tủa nhảy ào xuống theo. Anh đi đầu múa đầu lân xanh xông vào húc đầu lân phường Hàng Hương màu tím. Hai đầu lân chọi nhau cực mạnh. Anh múa côn của phường mới đến cũng vung côn quét ngang mình anh múa côn của phường Hàng Hương. Thế là chiêng trống hai phường cũng hòa vang. Hai võ sinh múa côn của hai phường võ động hai ngọn côn vun vút. Côn va mạnh nhau chan chát, sểnh ra là mất mạng. Cùng lúc, hai đầu lân cũng huy động hết sức bình sinh húc vào nhau nảy lửa. Đồng thời, mấy chục võ sinh của hai phường, kẻ giáo, người gươm, đánh nhau túi bụi. Phường Hàng Hương thấy đối thủ toàn lạ mặt không rõ từ đâu đến cướp giải, anh nào cũng có những miếng võ lợi hại khác thường. Yêu Râu Xanh, người cầm đầu phường Hàng Hương, quát ầm lên:
- Anh em từ đâu đến cướp giải của chúng ta? Cho biết đã, rồi sẽ đánh nhau.
Võ sinh phường lạ mặt không thèm đáp, càng tăng chiêng trống. Người múa đầu lân càng nhảy nhót, đảo lộn theo thế võ, hai tay nhấc bổng đầu sư tử lên, rung rung cho tiếng nhạc trong đầu lân kêu to, phóng hai chân ra đá bật một võ sinh phường Hàng Hương lăn ra giữa mặt đường, lại vặn mình phi song cước đá một anh múa kiếm của phường Hàng Hương ngã bổ nhào vào gầm xe bò.
Nổi giận, Yêu Râu Xanh xông vào trả đòn người múa sư tử phường lạ mặt. Người múa sư tử ấy nhảy sang bên, nhấc đầu lân khỏi đầu mình, rung nhạc kêu giòn giã, nhẹ tay ném đầu sư tử cho một võ sinh đỡ lấy. Lúc đó Yêu Râu Xanh trợn mắt nhìn kẻ địch. Thì ra đó là một cô gái có khuôn mặt đẹp, búi tóc, mặc áo cánh nâu, quần lĩnh, thắt dải lụa đỏ quanh lưng, chân giẫm đất. Cô gái mặt thản nhiên, không thở, không mệt, nhìn thẳng mặt Yêu Râu Xanh, cười mỉm:
- Võ sư lạ lắm ư? Tôi chỉ là một gái quê từ Hà Đông kéo quân ra đây dự cuộc thi đoạt giải múa lân, nhân tiện xem tài vũ dũng của các phường lân Hà Nội. Nhưng xem ra thì tài năng các ông cũng bình thường.
Yêu Râu Xanh bốc giận, múa quyền đánh cô gái múa sư tử Hà Đông. Hai người thử sức nhau bằng quyền thuật. Hai bên ngang tài. Nói vậy là vì nể Yêu Râu Xanh mà không nói thẳng, bởi một đòn song cước lẽ ra đánh trúng ngực Yêu Râu Xanh, nhưng cô gái múa sư tử Hà Đông đã rụt chân lại, chỉ đánh nhẹ vào cánh tay ông Râu Xanh dữ tướng.
Cô gái Hà Đông nhảy lùi lại, che miệng cười.
Ông Râu Xanh đỏ mặt, nhưng không nổi giận, bởi cô gái múa sư tử Hà Đông đẹp quá. Tất cả võ sinh, đệ tử ông Râu Xanh đều tinh mắt nhận thấy sư phụ suýt thua. Họ thu vũ khí, ngừng chiêng trống.
Cô gái Hà Đông tiến đến trước mặt Râu Xanh, giơ hai bàn tay không lên, tươi cười nói:
- Cuộc đấu võ đến đây đã xong rồi. Xin mời sư phụ và huynh đệ phường Hàng Hương vượt lên đoạt giải. Anh em chúng tôi xin lỗi, và xin bái biệt trở về Hà Đông ngay bây giờ kẻo trời đổ tối.
Phải nói là nửa dân Hà Nội bịt kín Hàng Đào, Hàng Ngang xem cuộc thi võ đặc biệt này. Khi đã nhìn rõ gương mặt đẹp, cơ thể thanh nhã, và những đường võ khủng khiếp của cô gái đội đầu sư tử Hà Đông, bà con mới thì thào:
- Sư tử Hà Đông, Sư tử Hà Đông!
Thì ra nó là như thế.
Người Hà Nội, số 42/ 1996
Hoang thai
Chị là cái thứ đàn bà đã trải qua non thế kỷ làm ái tình với lính lê dương nghĩa là đã có cái sức khỏe ném mười anh săng đá da đen qua cửa sổ, tát “mông ma ghì” liền ba cái, tung túi dết hắn ra đường rồi thở phì phò như đầu xe hỏa lên dốc, than tiếc cái chữ trinh ba vạn của mình đã trao nhầm chàng Sở tóc quăn, dẫu rằng trong khi ấy chị đang giấu một anh tình nhân trong tủ áo. Chị đã ở biên thùy với các đấng Từ Hải sống cái đời lính thú nhưng không hát khúc “ba năm trấn thủ lưu đồn”, mà lại hát Mác-xây-e để giết những “dân phiến loạn” Cổ Am, Yên Bái.
Và chị đã ở Tông, ở Đáp Cầu, ái ân với tất cả cơ này, đội khác, rồi thì lại một dạo lấy tầu má chín.
Ấy thế mà tôi được gặp cái “trường đua ngựa” ấy hôm nay, trong một ngõ cụt phố cửa Đông.
Thực vậy, tôi đi tìm chị chúa-me này với tất cả thiện chí của một kẻ ký giả trái khoáy, nghĩa là một kẻ làm báo không biết gõ cửa những ông quan chính phủ mà phỏng vấn về chương trình cứu nước nuôi dân hay là - cho sát thời sự hơn - đi phỏng vấn cái quái nhân về các trò ma tịt, mà lại dẫn xác vào hang cọp tìm gặp mụ chúa me này. Để làm gì?
Thưa rằng để xem một lũ lợn con, sản phẩm của thời đại loạn.
Chị chúa me đã hết cả vẻ hồng nhan, trông chị via-cà-cộ như chiếc xe cút kít thời Hà Nội còn thắp đèn dầu và chiều chiều có con lừa vĩ đại đi tưới nước đường các phố.
Tôi đã leo lên cái thang lộ thiên mà những bậc lát xi măng vỡ nát nhiều vì đầu đanh giầy lính tẩy. Bước lên sàn gác, tôi phải sững sờ. Trước mắt tôi: đúng bảy chị nhà quê vừa nằm vừa ngồi ngổn ngang trên hai lá chiếu rải liền. Mỗi người ôm một đứa con. Chị chúa me mời tôi ngồi xuống chiếc ghế sa lông thổ phỉ, mặt da bọc đã nát bét như da mặt một me già như chị. Và nhe mấy chiếc răng nhuộm cốt trầu, chị nói:
- Đĩ dại, ai bảo thấy nó vào không chạy, để nó tóm được rồi thì ễnh mẹ nó ra. Chửa thì đẻ, xấu chó gì!
Nghe chị chúa me cong cớn nói, tôi sực nhớ đến những lời giáo huấn rất hùng hồn của một bà đốc trường nữ học hồi thịnh Sa-Tiền đã ban cho mấy nữ sinh, mà bây giờ, thầy đã lên rừng đền tội ác, mà trò thì một số ít đã rất thạo cái nghề vành ngoài bảy chữ...
Chị chúa me trỏ một ả gái non ngồi quay mặt vào tường kéo áo lau nước mắt ôm cái bọc hài nhi mà tôi đã trông rõ cái đầu nhọn hoắt, mấy sợi tóc quăn lơ thơ trên màu da đen trũi. Thằng bé ưỡn người khóc, mở mắt trắng dã nhìn lên trần nhà như lên cơn sài uốn ván.
- Con bé này mới mười bảy tuổi. Chui xuống bè tre ngâm dưới ao sen rồi, nó chưa đi hẳn đã chui lên tắm rửa cầu ao. Nó lôi lên. Thế là đẻ ra con chuột nhắt.
Chị đứng lên vạch cái tã phủ kín một cục than nữa đang ngủ ở chân tường:
- Cha mẹ đẻ cái thằng nhãi này, mặt mũi trông mà gớm! Về sau tha hồ đẹp giai như bố!
Tôi cúi xuống nhìn để tưởng đến bộ mặt Cáp Tô Văn của rạp Quảng Lạc ngày xưa. Người mẹ đang ngồi vá mớ giẻ không còn hình là mảnh áo quần, càng cúi đầu thấp xuống. Thằng bé cựa quạy, người mẹ ẵm con lên vạch vú teo cho bú, rồi quay vào tường khẽ nựng “Dào ôi, bố mày!”.
Một người mẹ nữa ở phía tường kia tự nhiên cười khúc khích. Tôi ngoảnh lại: cô ả này răng trắng, lông mày kẻ chỉ. Ả ẵm thằng bé có đủ sáu nét gạch trên hai má, môi dầy thâm như cặp chả, ả tiến ra cửa sổ mà hát ru bài “Chiến sĩ hải quân”. Chị chúa me lườm dài một cái:
- Cái con này thì truyền đời mười lần đẻ hoang. Càng đẻ nó càng vui sướng.
Cô ả quay ngay lại:
- Chứ làm sao ạ? Giời sinh đàn bà để đẻ ra con chứ đẻ ra chó đâu mà sợ. Nó đen hay nó trắng, cần gì. Khối đứa lên bà lớn mà cũng đẻ ra con khác máu, thiên hạ vẫn đăng báo mừng rối cả lên.
Ả cười sằng sặc và lại ru con bằng bài “Khỏe vì nước, kiến thiết quốc gia”. Một tiếng nấc ở sau lưng tôi. Người đàn bà đứng tuổi ngồi úp mặt vào bàn tay khóc. Chị chúa me trề môi nói:
- Khóc cái xác mẹ mày à? Nó chết thì bọc lại, bỏ vào đáy sọt rác, sáng mai đổ lên xe rác, thế là xong nợ, rồi còn đi kiếm cơm mà nhét vào mồm chứ. Quý hóa cái gì mà xót với thương.
Tôi hỏi chị chúa me:
- Chị nuôi những người này để làm gì?
Chị cười nhạt:
- Có đứa được chúng nó thương hại cho bíu xe nhà binh mà ra đây. Có đứa vì xấu hổ với chồng con, làng nước, mà cũng bò ra để kiếm việc làm. Tôi mới vơ được lũ lợn nhớn lợn nhỏ này đem về nuôi chơi đấy rồi thì... làm gì có người thừa, hở ông!
Chị nheo mắt cười một cách rất Tú Bà.
Tôi bước xuống cầu thang. Tiếng khóc của lũ trẻ nhũn nhẽo như mèo con sắp chết khiến tôi se lòng nghĩ đến cái xe rác ngày kia sẽ đến hót dần chúng đi như hót những cái rác không tên tuổi.
Ra đường, tôi đi rảo bước. Hôm nay Hà Nội vào thu. Tiếng chuông giáo đường vẳng trên thành phố khiến tôi nghĩ nhiều về tiếng khóc của lũ hài nhi vô tội và bọn đàn bà oan nghiệt trên căn gác nọ.
Ông Chọc Tiết, nxb Ngày Mai, 1950.
Cuội già
Thằng Cuội ngồi gốc cây đa... Thưa rằng, ở trần gian này, lão cuội già của tôi hàng bao nhiêu năm nay ngồi ở lầu cao có hầu non đấm bóp, và xuống lầu ra đường thì lão ngự xe hơi.
Lão cố Cuội của cái thế gian toàn những cuội này rất phong lưu mà lại “phú quý sinh lễ nghĩa”, lão đã noi gương người quân tử thiết lập bàn đèn nha phiến ở trong buồng kín, hú hí với hầu non tiêm thuốc và khi say thì lơ mơ nhìn vào chụp đèn sáng bóng để ví cái đức lớn của mình cũng trong sáng như chất thủy tinh.
Cho ra vẻ con người hào hoa phong nhã, cố Cuội lại gây trong vườn rộng đủ tứ quý: thông, mai, cúc, trúc, và bể cạn có núi mẫu tử, có Bá Di, Thúc Tề, có khỉ trộm đào Vương mẫu, có cả Thái Thượng lão quân ngồi cửa hang luyện thuốc tràng sinh để nhìn vợ chồng ông Trạng nguyên áo gấm, chàng thì ngựa bạch, thiếp thì võng đỏ tàn xanh, và còn nhiều trò đẹp nữa.
Bởi thế tôi đã vội đến thăm lão Cuội tại tòa lầu hoa cao ngất ấy.
Đến nơi, thấy Cuội già đang đứng trầm ngâm trước hòn núi giả, màu đá mốc bụi rêu như bộ mặt nhuộm khói hun xám xịt của Cuội già, tôi cười nói:
- Tiên sinh sống thế này thật tuyệt. Bồng lai giữa lò sát sinh Hà Nội là đây chắc!
Cố Cuội không đáp vội, nhưng lộ rõ vẻ vui thích qua cặp kính gọng vàng quấn thêm chỉ đỏ xanh như lá bùa đeo trên mặt lão phù thủy già.
Cố Cuội gật gù chỉ vào lũ hầu tiên xúm quanh chiếc bàn cờ bên khe suối, bảo tôi:
- Loài khỉ kia còn là chơi muôn kiếp nữa cũng không xong ván cờ thiên cổ ấy. Ví như là ngày nay, ông nhỉ, lũ khỉ người còn cứ là khổ sở với ván cờ danh lợi. Cho nên, tôi đặt những con khỉ đánh cờ này bên dòng nước cạn khô là có cái ý sâu sắc của triết nhân, ông hiểu rồi đấy chứ?
Cố nhiên tôi phải nghiêng mình kính trọng cái ý kiến thâm trầm của kẻ cư sĩ cao điệu ấy. Lão lại dẫn tôi ra đường núi phía Nam, trỏ một đám rước vua. Tôi nhận thấy mặt lão nghiêm hẳn lại, và hai tay vòng trước ngực như một đại thần cầm hốt, nhưng cố Cuội không nói cái giọng đại thần, mà lại nói giọng một chính khách bình dân, nghĩa là lão chửi một câu rất đểu để tiết hết cả uất khí bấy nay tích lũy trong buồng phổi ám khói đen, rồi tiếp:
- Chứ lại không đáng chửi ư? Cái lũ “cuốc ra cuốc vào” vô quân vô phu này, chúng nó dám mở mồm kêu bỏ triều đình, bỏ mũ triều thiên, áo cẩm bào, tàn vàng tán tía, thì ra điên đảo quá. Tôi không thể nào chịu được cõi đời này nữa. Thế này thì ra, mẹ kiếp, quân cu li, thần cu li, dân cu li, tút mo cu li hả! Cuộc đời bá đạo, vô loài, cho nên lão cứ đánh mũ ni che tai, không muốn bước chân ra đường nữa.
Cố Cuội làm ngay ra điệu lão; lụ khụ chống ba toong, kéo tôi ngồi xuống ghế xi măng, nhìn khóm trúc ở bên cánh cổng mà nói:
- Đời vô đạo, đời hỗn loạn, nên tôi trồng khóm trúc để cho thằng bố Bộ nhà tôi mỗi khi nó đi công tác xa về, nhìn khóm trúc mà sửa mình, nắn đức cho ngay thẳng, như loài tre quân tử ấy. Vì vậy mà thằng cả Bộ nhà tôi nó theo được cái đạo thánh hiền, cho nên dân chúng ca tụng lắm.
Tôi quay nhìn mặt lão, để càng ghê sợ cặp kính quấn chỉ đỏ xanh của con yêu già đang lên giọng tôn quân ái quốc cổ võ cho cái danh vọng bẩn thỉu, xấu mạt của thằng con. Tôi cười, nói một câu trái khoáy:
- Thế mà báo giới nó vẫn công kích ông Bộ nhà ta rằng thụt két, rằng hiếp dâm, rằng... thôi thì đủ thứ. Cái đó có hại lớn cho cái dòng dõi đại thần của cụ, cụ có tin không?
Cố Cuội cười ba tiếng, trầm ngâm một lát, rồi gật gù dẫn một đoạn điển tích về Khổng Mạnh để cải chính cái việc mà thiên hạ dám bảo ông Bộ của cụ hiếp dâm, thụt két:
“Xưa đức thánh Khổng tuyệt lương bảy ngày. Thầy trò nhịn đói. Thầy Tử Lộ phát cáu nói rằng: “Quân tử cũng cùng đến thế ư!” Khổng tử đáp: “Quân tử mới cố cùng. Tiểu nhân mà cùng thì ắt làm bậy ngay”. Thầy Tử Cống vốn giỏi về khoa ngôn ngữ, có tính linh lợi, đi kiếm gạo mang về. Khổng Tử sai thầy Nhan Hồi (vốn đứng đầu trong số thập hiền) vào bếp thổi cơm. Cơm chín, Nhan Hồi bắc nồi ra. Thầy Tử Cống đứng bên ngoài nhìn vào thấy thầy Nhan mở vung bốc cơm ăn trước. Tử Cống lên nhà hỏi Khổng Tử: Đã là bậc hiền có thể thay đổi khí tiết được không? Thánh Khổng dạy rằng:
“Đã là bực hiền, khí tiết như giăng sao, không mây nào che khuất được”. Tử Cống nói: “Chúng tôi theo thầy, đói no cùng chịu. Sao Nhan Hồi đã mở nồi ăn cơm trước”. Khổng Tử cười: “Ta dám cả quyết Nhan Hồi không làm sự đó. Ắt hẳn có duyên cớ chi đây”. Bèn gọi thầy Nhan hỏi. Thầy Nhan vòng tay đáp: “Tôi mở vung thấy lẫn ít tro than bẩn, bốc toan vất đi, nhưng lại nghĩ rằng ngũ cốc là vàng ngọc, cho nên tôi bỏ miệng ăn...”. Khổng Tử gật đầu khen phải. Thầy Nhan xuống dọn cơm. Thánh Khổng bảo học trò: “Ta đã bảo, khí tiết hạng người quân tử không bao giờ đáng nghi ngờ, vì nó không bao giờ thay đổi hết!”.
- Đấy, ông ngẫm mà coi, nhà tôi có trúc lâm, tất phải có thất hiền. Bảy thằng con tôi, ba thằng làm quận trưởng, hai thằng làm tỉnh trưởng, thằng út làm to nhất, tựu chung cả bảy đứa đều là bậc Nhan Hồi. Cho nên tôi đã hiểu thấu con tôi thẳng như trúc, sáng như giăng. Thế thì mẹ kiếp, có khi nào tôi lại tin rằng nó hiếp dâm, nó ăn cắp tiền, cho dẫu là hiếp những con đàn bà ở cái thời loạn này không cần đếch gì trinh tiết, cho dẫu là chọc két moi tiền không lấy gì làm sạch lắm thì cũng ví như thầy Nhan bốc cơm hớt ăn cho khỏi phí của giời, thế mà thôi! Làm cái thá gì mà cứ chửi nhặng cả lên, hả hả!
Lão cố Cuội trỏ vào mặt tôi mà hỏi, công phẫn như một đại thần trí thức bị thằng nhỏ rình bắt được quả tang đã hiếp cả vú em.
Tôi cả sợ, vội ra đường. Vả ngoảnh lại, tôi thấy lão Cuội già ung dung đứng dậy, khoanh hai tay trước hòn núi giả sơn, có lẽ để suy nghĩ nhiều thêm nữa về ván cờ liên miên bất tuyệt của loài khỉ độc trong cái cảnh nước non đầy bụi xe chinh chiến ấy.
Ông Chọc Tiết, Nxb Ngày Mai, 1950
Ông Chọc Tiết, Nxb Ngày Mai, 1950
Điêu tàn
Hòn giả sơn ấy bây giờ rêu đã bám đầy, cỏ mọc bộn bề chen chúc, những hình người, cầu, quán hoặc rơi, hoặc gẫy gần hết cả.
Tôi nhớ thầy tôi đắp nó mất nhiều công phu lắm, phải mất non một tháng mới hoàn thành.
Hồi đó, tôi học trên trường huyện, cách làng một cánh đồng ngô, một con sông đào, và một dải quan lộ chừng ba cây số. Cứ đến giờ tan học là tôi vội ôm sách chạy cho chóng đến làng. Về tới nhà, tôi quẳng sách vào lòng bà tôi, rồi chạy ra vườn xem thầy tôi chắp núi. Tôi xem mê mải quên cả đói, quên cả thú tắm ao, và quên cả vòi quà chợ của mẹ tôi. Tôi lấy rơm rải xuống đất ngồi chăm chú coi thầy tôi chọn những tảng đá ong, những tảng đá mà một chiều kia chị tôi nặng nhọc gánh từ chùa Long Giáng ở trên núi Nguyệt về. Những hòn đá ấy do sư cụ biếu thầy tôi, và thầy tôi khen mãi là quý lắm.
Để giúp thầy tôi, tôi tranh lấy cái việc nhào xi măng, khuân đá, và múc nước. Tôi thích chí, chạy lăng xăng, tỏ cho bà tôi, mẹ tôi, chị tôi biết rằng tôi là đứa bé hay làm, được việc.
Sau bao nhiêu ngày sửa chữa mãi, ngắm nghía mãi, thầy tôi mới bắt đầu trồng cây, trồng cỏ. Thôi thì đủ thứ. Thực là một cánh rừng con. Rồi một hôm tôi thấy thầy tôi cắp cái ô, ra bến tàu. Và hai ngày sau, thầy tôi về không kịp cởi áo, không kịp ăn cơm, đã xăm xăm ra vườn, ngồi tháo cái túi vải, dốc ra bao nhiêu là hình người, bao nhiêu là con thú, và những cái cầu, cái quán...
Thế rồi, trọn một ngày, thầy tôi đứng gần, đứng xa ngắm tìm địa thế để bắc cái cầu ngang hai đầu ghềnh đá cheo leo, trên đó một đạo sĩ cưỡi lừa nhìn bóng nước; để đặt một lão tiều gánh củi leo lên sườn núi hiểm; để đặt tít trên đỉnh non cao hai ông lão bạc đầu ngồi nâng bầu dưới gốc cây tùng; để dựng một túp lều tranh xơ xác bên con đường núi vắng, mọc toàn những trúc, cùng thông...
Thầy tôi, một buổi chiều say ra vườn ngắm cõi giang sơn cẩm tú ấy, bỗng cười vang, có lẽ thầy tôi đắc trí về cái tài tạo nên non nước của mình chăng!
Còn tôi, tôi cũng vui thích lắm. Tôi ngắt chiếc lá đa làm thuyền, thổi cho nó trôi qua dưới gậm cầu, chui vào lòng hang sâu. Nước bể trong leo lẻo, tôi vụt nghĩ: nếu có một đàn cá vàng óng ánh bơi trong đó. Nhưng chợ quê làm gì có cá vàng. Một ý tốt nảy ra: tôi liền vác vợt chạy ra sông. Lát sau tôi đã cuống quýt chạy về, thả mấy con cá mại nhỏ vào bể nước. Chúng bơi vào lòng hang, lượn quanh chân núi, rúc vào búi cỏ tóc tiên mọc sà xuống chân cầu. Sắc chúng trắng ngần, loang loáng như những đồng hào mới ai ném thia lia trên nước.
Từ đấy, những đêm trăng hè, thầy tôi thường sai bắc chõng ngoài vườn, bên hòn non bộ, cùng bà tôi, mẹ tôi, và chị em chúng tôi ngồi hóng mát. Bà tôi và mẹ tôi thì nói những chuyện mùa màng, những chuyện ngoài làng trong xóm, chị tôi thì ngồi tỉa ngô ra mẹt để mai phơi; còn tôi thì nằm gối đầu lên đùi thầy tôi, ngửa mặt ngắm những sao trời rung rinh lọt vào các chòm lá cây thưa thớt.
Cảnh gia đình thân mật bên hòn non bộ đã khiến lòng tôi nao nức, chứa một nỗi vui sướng khôn cùng.
Nhưng cái hạnh phúc nhỏ mọn ấy chưa bền được bao lâu thì tử thần đã cướp mất thầy tôi. Tôi còn nhớ trong khi thầy tôi mang bệnh mà vẫn gượng ra vườn thăm hòn non bộ, vẫn còn cố bới nhặt những con sâu ăn hại lá cây non.
Một đêm, trời nổi cơn giông tố. Sáng sớm hôm sau, thầy tôi dậy trước cả mọi người, chống gậy ra vườn. Thầy tôi lấy hết sức đẩy cây chuối lớn đêm qua bị gió bão làm bật rễ đè ngang lên hòn núi giả. Đẩy được thân cây chuối ấy ra rồi thì thầy tôi loạng choạng phải vịn vào thành bể thở một hồi như bị đứt hơi. Khi đã định thần, thầy tôi lại càng thêm đau đớn vì những cây cỏ bị tơi bời dập nát, một tảng đá lớn bị rời ra lăn xuống nước làm chết một con cá mại, hai ông lão bạc đầu ngồi nâng bầu trên đỉnh núi bị cụt mất nửa người, cả cái quán cheo leo ngang ghềnh đá cũng rơi đâu mất.
Thầy tôi đứng lặng một hồi lâu trước cảnh điêu tàn ấy, rồi buồn rầu chống gậy vào nhà. Nằm xuống giường, mắt thầy tôi đờ dại, Người nắm lấy tay tôi căn dặn:
“Dũng ơi, con phải sửa sang lại hòn non bộ ấy cho vững bền, đẹp đẽ hơn lên nhé! Con phải trồng thêm cây lạ, gây thêm cỏ quý, phải tìm nhặt loài sâu bọ luôn luôn.
“Mai sau, đã lớn khôn, dù phải xa lìa làng xóm mà đi tha phương cầu thực, con cũng nên đôi khi kiếm dịp trở về nhìn đến hòn non bộ của thầy. Nó là một vật mà lúc sống thầy yêu quý nhất, và lúc chết thầy để lại cho con làm di vật, trọn đời con phải yêu quý nó, không bao giờ nên hủy hoại, coi thường. Con nhớ lấy...”.
Thầy tôi buông lỏng tay tôi; tôi đưa tay lên mũi Người. Người tắt thở rồi.
Cỏ trên mồ người cha yêu quý của tôi đã phủ đầy..., mà hòn giả sơn - bị bỏ quên từ bao tháng ngày trong khu vườn hoang phế - cũng đã phủ đầy lá úa, rêu xanh.
Sự di dịch của thời gian đâu có cho tôi sống mãi bằng không khí của cái làng con con mà ở đó tôi đã gửi một đoạn nhau thuở lọt lòng.
Gia đình tôi bị tấm màn đen che kín, tự ngày thiếu mất thầy tôi. Mẹ tôi sinh ra đau mắt, rồi thành mục tật. Chị tôi, - người đàn bà mất chồng sớm quá! - phải nai lưng làm nuôi mẹ cùng em. Không đủ tiền mua giấy bút, tôi phải bỏ trường huyện, bỏ ông thầy thân kính để ở nhà tối ngày dắt mẹ lòa ra vườn, xuống bếp, ra sân... Đã một lần, tội nghiệp bao nhiêu, mẹ tôi không tìm thấy gậy, loáng quáng va mạnh vào cột nhà sưng tím trán. Lại một lần, vấp vào cây cau ở giữa sân, bị ngã phệt xuống vũng nước bùn, áo quần bê bết. “Mẹ ơi, như thế thì dù chị con có kiếm đủ tiền cho con mua giấy bút, con cũng đành xin thôi học,... huống chi cơm xới dâng hầu mẹ đã không đầy bát, mẹ còn khóc chi mấy đêm ngày, khi biết con bỏ học rồi”.
Một ông chú tôi, ở ngoài tỉnh tiếc vì thấy tôi sáng sủa, thông minh mà không được học, nên một hôm về quê chơi, ông ép mẹ tôi phải cho tôi theo ra tỉnh học.
Tôi nhớ mãi một buổi tinh sương, con gà trống ngoài chuồng vừa gáy thì tôi giật mình, choàng thức dậy. Mới ngồi nhỏm lên, tôi đã thấy trong ánh sáng mờ mờ từ ngoài sân chiếu lọt vào kẽ liếp, mẹ tôi đang ngồi trên chiếc chõng, sờ soạng đếm mấy chiếc quần áo cũ của tôi rồi bỏ vào khăn gói. Ở góc nhà, chị tôi cũng đang ngồi lau sạch miếng bẹ cau non gói cơm nắm cho tôi.
Gói xong cơm, chị tôi xách chậu ra bể múc nước mưa bưng vào cho tôi rửa mặt. Chợt tiếng còi tàu ngoài bến sông đưa lại khiến lòng tôi rộn rạo, bồi hồi. Tự nhiên nước mắt tôi cứ trào ra mãi. Mẹ tôi mấy lần giục tôi mặc áo và ăn lót dạ bát cơm rang.
Than ôi, chỉ nghe tiếng nói run run ở Người, tôi cũng biết rằng trong cặp mắt lòa kia đã tràn đẫm lệ như tôi, và trong tấm lòng già héo của Người đã có một lưỡi dao sắc mới len vào.
Tôi đang cố nuốt miếng cơm rang khô cháy mà mẹ tôi, chị tôi ngồi liền bên cạnh giục ăn cho đỡ đói thì còi tàu thủy ngoài sông lại văng vẳng lọt vào tai tôi lần nữa. Bỏ bát cơm xuống, tôi chạy ra bể uống ngụm nước mưa, rồi làm ra bộ mình cứng cáp như người lớn, tôi xách bọc áo quần và cơm nắm, chào mẹ tôi rõ thật to: “Lạy mẹ, mẹ ở lại nhà...”. Nhưng lòng tôi quặn lại. Tôi khóc nấc lên, không sao nói thêm được nữa.
Mẹ tôi bảo chị tôi dắt gậy cho Người tiễn tôi ra tận bến tàu. Song tiết trời rét lắm, tôi phải xin mấy lần Người mới chịu thôi.
Lên đến mặt đường đê, đi được một quãng xa, tôi còn ngoảnh đầu ngó lại. Bỗng hai chân tôi không bước được nữa, vì tôi vừa trông thấy mẹ già tôi đứng ngoài cổng tre giơ tay vẫy, vẫy... “Hỡi ơi, người mẹ mù lòa nghèo khổ của con! mẹ có thấy con đi về ngả nào không mà vẫy? Mẹ có thấy trời ở đâu không, đất ở đâu không? Sao mẹ không cho con ở nhà hầu hạ mẹ? Chỉ vì mẹ thương con quá, mẹ không muốn con là đứa trẻ nhà quê chăn trâu, cắt cỏ, trọn đời ngu dốt. Mẹ muốn con đi học để xứng đáng làm người. Mẹ! Mẹ là Trời của con, là Đất của con, là Đấng thiêng liêng để con thờ, con kính...”.
Một hồi còi tàu nữa lại vang lên ở ngoài sông, buồn thảm quá. Chị tôi sợ nhỡ tàu, vội kéo tôi đi. Gió lạnh thổi vun vút ngang đồng nước, rít lên một hơi dài rồi tắt đi ngay. Tôi run lập cập nép vào chị tôi mà bước. Tôi cầu mong sao cho tôi bị nhỡ tàu.
Nhưng con tàu vô tình ấy đã vượt qua con sông dài, đem tôi đến chốn phồn hoa. Ở nơi đây, tôi đã được sống trong trường học, đã được sống cả ở trường đời để cho lịch duyệt, học vấn cởi mở dần dần bộ óc của tôi. Tôi đã biết say mê thú đọc sách trong thư viện như những người thanh niên khác say mê nhan sắc. Tôi đã biết miệt mài với những pho sử ký nước nhà để mà thương tiếc các đấng anh hùng xưa đã chết vì đất nước, non sông. Tôi đã biết yêu tha thiết bức bản đồ to lớn ghi rõ bao nhiêu sông núi, bao nhiêu biển cả, bao nhiêu rừng rậm, trên đó phảng phất một linh hồn sống mãi muôn năm...
Đã lâu lắm rồi, hôm nay tôi mới có dịp trở về làng nghỉ ngơi ít bữa. Lại như những ngày xưa, cứ đến buổi chiều, tôi dắt mẹ ra vườn, ngồi bên hòn núi giả, nhớ đến cha tôi, bởi tôi cứ muốn tin mãi rằng linh hồn cha tôi còn ở đây. Cái giang sơn nho nhỏ của cha tôi buổi sinh thời ngày nay đã quá điêu tàn: rêu mốc bám đầy, cỏ cây mọc bộn bề, chen chúc, những hình người, hình thú, cái cầu, cái quán hoặc rơi, hoặc gẫy gần hết cả. Tôi đau đớn vì không theo được lời cha tôi căn dặn lúc lâm chung. Nhưng luật sống bắt tôi phải làm người con bất hiếu, biết làm sao được.
Một buổi chiều, tôi ra vườn, định sửa sang lại hòn non bộ dù biết rằng không thể tạo cho nó thành “một vùng nước non cẩm tú” để mà chơi song cũng có thể làm cho nó đỡ vẻ điêu tàn đôi chút, và lòng tôi nhờ đó cũng vợi đi nỗi ân hận.
- Con ơi, đứng làm gì mãi đấy?
Mẹ tôi lần gậy, bước đến sau tôi tự lúc nào không biết. Người đặt tay lên vai tôi, khẽ bảo:
- Giời nắng đến nỗi áo nóng lên thế này còn chịu khó đứng, nhỡ rức đầu thì khốn. Mà con đang làm gì vậy?
- Thưa mẹ, con sửa lại hòn non bộ.
Mẹ tôi không nói. Sự im lặng ấy khiến tôi phải lo lắng băn khoăn. Tôi ngửng lên nhìn; trong cặp mắt lòa của mẹ tôi đã có vài giọt lệ.
Tôi nắm tay Người một lát, Người kéo tôi đến gần, nói thì thầm bên tai tôi như hơi gió:
- Cái gia sản này mẹ đã gạn bán cho ông Chánh hội rồi, đúng ngọ hôm nay, người ta đến làm văn tự. Hòn non bộ chốc nữa về tay chủ khác, con còn sửa sang lại làm gì, con!
Tôi nhìn chằm chặp vào mắt mẹ tôi. Không phải rằng tôi chua xót vì nỗi mất mấy gian nhà cũ kỹ, tôi chỉ đau đớn vì từ đây cái kỷ niệm yêu dấu của cha tôi để lại không còn nữa.
Sáng tác năm 1933,
Đăng Tiểu thuyết thứ Bảy, số 225 năm 1938
Đăng Tiểu thuyết thứ Bảy, số 225 năm 1938
Ông thầy đờn
Tố Hà ạ, hàng ngày có những cảnh rất tầm thường, những chuyện rất tầm thường, tầm thường quá đến nỗi người ta không cần lưu ý tới, mà sao tôi cứ phải bận lòng, không thể nào quên được dễ dàng.
Bạn vẫn giễu tôi:
- Nghề tiểu thuyết của bọn anh lôi thôi lắm. Thấy được cái gì, nghĩ được cái gì, nghe được cái gì, là tức khắc các anh bắt chộp ngay lấy mà viết cho thành truyện, y như người đi săn vớ được mồi ngon.
Tôi không cãi Tố Hà.
Tôi muốn nhắc lại hồi năm tháng trước, một nghệ sĩ và tôi vào chơi Nam Kỳ. Chúng tôi đã thấy trong sinh hoạt ồn ào, phong phú của Sài Gòn Chợ Lớn một cảnh khiến tôi nhớ mãi đến ngày nay. Đó là một người đàn bà mù, trán hói cao, mặt xương xương như khuôn mặt đàn ông, thường ngồi lê la ở các sân ga xe điện. Mụ gẩy đờn bầu và hát cải lương, bao giờ cũng chỉ một điệu và một giọng buồn thảm lạ lùng! Trước mặt mụ, một cái thau đồng nhỏ. Bên lòng mụ, một đứa bé gái uể oải gõ cái que theo nhịp mẹ hát, và hai đứa trẻ gày gò chốc lở dựa vào nhau mà ngồi im lặng cho ruồi nhặng bám khắp mình. Mỗi lần đứa nhỏ khóc, con chị lại bỏ chiếc que đánh nhịp xuống đất, dỗ em. Nó dỗ không được, mụ phải ngừng hát để ẵm đứa nhỏ lên lòng. Chờ lúc nó chịu nằm yên, mụ mới dờ dẫm vặn trục đàn, lên dây lại, dạo vài tiếng rồi lại ca nốt bài Tứ đại oán, Vọng cổ hay là Trường tương tư, kể lể một đoạn tình dang dở hay là tốt đẹp của một vị tiểu thư nào đó, một vị Vương phi nào đó..., - bao giờ cũng chỉ một điệu và một giọng buồn thảm ấy.
Từ biệt Nam Kỳ, biết bao cái đẹp, cái vui, tôi không nhớ, - tôi chỉ nhớ có tiếng đàn bầu, giọng hát của mụ lòa, tôi chỉ nhớ hình ảnh bàn tay run rẩy của mụ lòa mỗi lần rời bỏ chiếc que đờn để vỗ về đứa con nít khóc, dịu dàng ru cho nó nín, rồi lại hát, vẫn hát, - bao giờ cũng chỉ một điệu và một giọng buồn thảm lạ lùng.
Có những tối mùa đông, tôi lạc vào một gia đình, ở đấy, bạn tôi rót mời tôi li rượu mạnh. Lòng tôi tự nhiên vui vì được nhìn lửa réo trong lò, được nhìn vài đứa trẻ kháu khỉnh đùa nghịch cười khúc khích trong chăn ấm, một cô bé tóc xanh hãy còn buông xõa chui đầu vào mền học nhẩm lại bài thi.
Tôi cũng thấy lòng say, mỗi lần được lạc vào một căn phòng, ở đấy, bạn yêu tôi kiêu căng như một bà hoàng, ném cho tôi cái nệm bảo ngồi, ấn điếu thuốc lá vào tận môi tôi, đánh diêm châm cho tôi hút rồi cứ để tôi ngồi yên dưới gối, bạn nằm dài trên đi văng đọc nốt trang sách quý bạn đang mê... Quanh chúng tôi là im lặng.
Có những đêm gió réo lào xào, mưa nặng hột đập vào cửa kính, tôi thoáng thấy hai bóng người dắt díu nhau chạy vụt qua để ẩn dưới mái hiên. Đó là một kẻ gần mù đưa đường cho một kẻ đã mù, hai người “nghệ sĩ”... bán lạc rang, đem nghệ thuật ra dùng để nuôi nghề và để sống với nghề. Trong bóng tối, họ cất tiếng sáo lên..., sầu não làm sao, réo rắt làm sao! - bạn yêu tôi để rơi cuốn tiểu thuyết tình xuống ngực. Tiếng sáo phả vào mưa gió xa dần, xa mãi, vì trong bóng tối, hai người “nghệ sĩ” đang dắt díu nhau, lang thang khắp hang cùng, ngõ hẻm của Hà thành...
Lòng tôi ám nặng một u hoài. Tôi sực nhớ đến mấy bạn cùng nghề của tôi, lúc này đang quây quanh một khay đèn trong tiệm hút, say sưa bàn về một tờ báo sắp ra đời... Tôi sực nghĩ tới một thi sĩ, quần áo tồi tàn nhem nhuốc, mang sách đi chào bán tận từng nhà, nhưng mà chẳng ai thèm nhìn đến tập thơ của ông.
Có những đêm khuya vắng, ở một cuộc vui trở về nhà, mùi rượu, mùi thuốc phiện, mùi phấn chưa bay hết, nằm dài trên chiếc xe buông kín mui, tôi đã thấy, trong sương lạnh xuống mù trời, một bà lão già ốm yếu cúi lom khom, nhặt những lá khô rơi rải rác giữa mặt đường, trên hè gạch, ném vào đôi thúng gánh đi. Bà lão cứ lom khom nhặt thế mãi, đi thế mãi, hết đêm này sang đêm khác, hết cả một mùa đông.
Còn biết bao cảnh tầm thường hơn vậy, tầm thường quá đến nỗi người ta không thèm lưu ý tới, nhưng tôi cứ phải bận lòng, không thể nào quên được dễ dàng.
Tố Hà có hiểu tại làm sao?
Bây giờ, đến chỗ tôi cần giới thiệu cùng bạn đọc ông thầy đàn mù của tôi: ông Sáu.
Ông Sáu nằm bên khay đèn thuốc phiện với một người bạn phong trần.
Người bạn phong trần, mỗi lần tiêm xong, lại lẳng lặng gí đầu dọc tẩu vào môi người mù. Người tàn tật này bắt ngay lấy mà hút một cách ngon lành, rồi lại nằm yên, ngửa mặt lên trần vôi ám khói. Họ không nói với nhau một câu, mà cũng chẳng còn gì mà nói với nhau nữa, vì trong ký ức họ, trong lòng họ có bao nhiêu câu chuyện cũ, họ đã kể cho nhau nghe hết cả rồi. Bây giờ, họ chỉ ngấm ngầm chịu những nỗi đau đè lên tâm hồn họ, bây giờ họ chỉ thầm tính toán làm sao đủ bữa hút chiều nay, bữa hút sáng mai... Những ước vọng lấp biển vá trời đã chết theo với tuổi trẻ, những thời phí bạc ngàn mất đi, ngày nay họ chỉ nghĩ đến sự tần tiện từ đồng hào, đồng trinh nhỏ, tới một chút sái vụn rơi xuống chiếu, khay đèn.
Nghe tiếng giầy bạn tôi, ông Sáu ngồi nhỏm dậy, nói giọng Huế, bởi ông là người Huế:
- Thầy Mai đó phải không? Tôi nghe nói thầy đờn tấn bộ lắm rồi. Bữa nay thầy xuống xóm hát hề?
Mai không muốn ông thất vọng:
- Tôi đưa một ông bạn xuống học đàn.
Gương mặt ông Sáu vụt tươi lên, cặp mắt mù tựa hồ muốn mở to ra để nhìn cái người mà thần Tài đã run rủi đến để sắp đưa cho ông một món tiền.
Người bạn phong trần của ông Sáu là người Bắc, từ nãy nằm yên cũng ngồi nhỏm dậy, cười niềm nở:
- Thầy học đờn, thực là nên lắm, hay lắm, vì đó là một lối chơi nghệ thuật hơn hết thảy. Chúng tôi sẽ xin hết lòng, hết sức.
Thế rồi, ông Sáu và người bạn phong trần xoắn xuýt lấy tôi, nói toàn về âm nhạc. Hai cái xác ban nãy nằm như chết, lúc này cùng đột nhiên sống lại, nói rất nhiều. Thành thử, tôi không từ chối được, vả thực tình thì chẳng nỡ, nên tôi buộc lòng làm người học đàn bất đắc dĩ, lỗi đó là ở bạn Mai tôi.
- Chừ, thầy học bài Nam, há? Phải, ai mới học cũng bắt đầu bằng mấy bài Nam. Nhưng chắc thầy đã tập qua đờn rồi?
Không muốn khoe mình đã biết âm nhạc tây tự lâu năm, tôi đáp ông thầy đàn rằng tôi chưa biết gì, mà cũng chưa mó đến cây đàn bao giờ cả.
- Chừ, thầy hãy xơi nước đã. Hương đâu mầy? Con pha trà dâng hai thầy đi con.
Hương là một thiếu nữ mới lớn, đẹp một vẻ buồn của người xứ Huế. Nước da Hương xanh dìu dịu, có lẽ nàng không đánh phấn, nhưng đó chưa hẳn là một cớ, mà còn cớ nữa khiến tôi phải hoài nghi: biết đâu đó chẳng là màu da của một người thức nhiều đêm trắng vì nghề. - Nàng đeo kiềng và mặc áo màu lá cây non, màu áo ấy, gương mặt ấy đủ gợi cho tôi nhớ đến tất cả những cô gái kinh kỳ xa xưa, nhưng bao giờ cũng sống trong lòng tôi.
Hương nhè nhẹ bước tới gần, cười nụ:
- Rước thầy xơi nước.
Nàng đặt chén nước trà loãng gần như nước lã bên tay tôi, rồi lui ra đứng thập thò ngoài cánh cửa.
Ông Sáu vừa giơ tay sờ soạng, Hương đã vội bước vào kéo cái ống điếu, nạp thuốc vào miệng điếu, đánh que diêm, chờ cho ông Sáu hút xong, nàng mới lui ra, đứng ngoài cánh cửa.
Người bạn phong trần của ông thầy đàn giơ tay với lấy cây tam thập lục đưa Mai, rồi ông với cây tỳ bà để lên lòng mình, cười như một người sung sướng nhất trần ai:
- Chúng ta hãy họa chơi một bản cho vui đã, thầy Mai.
Mai không lưỡng lự, họa liền.
Dứt bài ấy, đến lượt ông thầy đờn mà tôi đang muốn được biết tài nghề.
Ông Sáu ngồi chững chạc, nâng cây nguyệt lên, sửa qua cung bực, gẩy bài Tứ đại.
- Hương ngồi ca hai thầy nghe, con!
Hương bẽn lẽn bước ra, vén áo ngồi ghé trên đầu tấm ghế gỗ dài tôi đang ngồi. Tôi nhận thấy Hương vì sợ lệnh cha, hơn là vì sự chiều khách mà ca.
Nghe tiếng đàn thần của tay nhà nghề chơi đàn đã ba mươi năm có lẻ, nghe giọng ca hay của cô gái Huế trong ánh đèn vàng đục ở một căn phòng nhỏ hẹp, tôi đê mê cảm như mình đang ngồi trong một khoang thuyền trôi giữa dòng sông Hương lặng lẽ những đêm nào..
Hết bài Tứ đại, ông Sáu đặt cây đàn xuống chiếu, khiêm tốn nói:
- Bữa ni, tôi đờn không hay, mà con bé cháu nó mắc ho nên ca cũng dở quá chừng.
Ông còn nói khiêm tốn vài câu nữa, tuy chúng tôi đã hết lời khen tài nghệ của ông và của cô Hương. Hương nhìn tôi bằng đôi mắt cảm ơn, hai má nàng hây hây đỏ. Tôi không biết nàng thẹn vì nàng vui sướng, hay vì một lẽ gì.
Tôi hẹn ông Sáu: một tuần lễ tôi chỉ có thể đến nhà ông một lần vào chiều thứ Bảy.
Hôm nay mới là thứ năm. Chín giờ tối ở thư viện ra, tôi không có việc gì làm, không muốn về nhà vội, mà cũng chẳng biết đi đâu. Tâm hồn tôi nhiều khi có một cái trống rỗng mênh mang ấy. Lòng tôi nhiều khi bị xâm chiếm bởi những nỗi chán chường nó làm cho tôi thành kẻ chán đời. Đường vắng, ít người và xe pháo. Những chiếc lá bàng run trên cành khô lừ lừ bayxuống, chạy xiết trên mặt hè ướt át. Nhớ đến gian phòng tối tăm ấm áp của ông thầy đàn Huế, tưởng tượng đến bàn tay xinh nhỏ của cô gái Huế sẽ bưng chén trà nóng mời tôi, tôi gọi xe kéo xuống Khâm Thiên.
Thấy tôi đến không nhằm thứ Bảy, ông Sáu ngạc nhiên, mừng. Còn Hương, tôi nhận thấy Hương nhìn tôi với đôi mắt sáng hơn, bạo dạn hơn ngày thường. Nàng đỡ chiếc mũ dạ ở tay tôi, móc túi lấy chiếc mùi xoa lụa hồng thấm những giọt mưa bám ướt. Người tôi, mới trong giây phút đã nóng ấm lạ lùng. Tôi thấy ngọn đèn dầu như biến thành một cái lò sưởi lửa đang reo! Tôi thấy không khí bao bọc quanh tôi thật là thân mật!
Tôi nằm với ông thầy đàn ấy mãi đến khuya, khuya lắm mà chẳng nghĩ đến sự về nhà. Tiếng huyên náo ngoài đường đã ngớt, tiếng phách ở các nhà cô đầu bên cạnh đã im bặt tự lúc nào.
Người bạn phong trần của ông Sáu hôm nay đi vắng. Ông ta đi kiếm tiền để về đây xài thuốc phiện. Có khi đi năm bảy ngày, có bận đi biệt hàng tháng. Nhưng theo ông Sáu rỉ tai tôi, thì người bạn phong trần của ông vẫn chỉ loanh quanh ở Hà thành để làm nghề... hành khất, song ai hỏi, ông Sáu bảo rằng người ấy đi làm việc ở một tỉnh xa.
Ông ta, hàng ngày thường mặc bộ tây tàng, đứng vơ vẩn trong các phố đông người, đợi chờ một bộ mặt quen quen để niềm nở bắt tay rồi ghé tai hỏi vay tạm một món tiền nho nhỏ... Ông ta thường thấy đứng co ro ở bờ hồ Hoàn Kiếm, ở các ngõ tối tăm, hay ở cửa các công sở lớn, ngấp nghé một hồi lâu rồi mới đánh bạo lần vào phòng giấy các ông tham, ông phán, khúm núm gãi đầu, kể lể bằng tiếng Pháp, với một giọng sầu não, những nỗi đau đớn của một gia đình có mẹ già vợ ốm, con sài... Ông ta có bận lại đàng hoàng xông thẳng vào giữa sa lông các nhà giầu để móc túi lấy ra thanh quế, mật gấu, con sâm Cao Ly, miếng cao hổ cốt, rồi liến thoắng ca tụng những cái hay của các vật quý ấy mới mang ở rừng về...
Thôi thì, với hết cách đê tiện, với hết mọi mưu cơ, với hết khóe lọc lừa, người bạn phong trần của ông thầy đàn đã phải dùng để kiếm tiền mua thuốc phiện sống lần hồi. Khi đã kiếm được khá rồi, ông ta lại trở về cùng nghệ sĩ mù, tay ôm một gói hoa quả, bánh mứt, chè tàu, và bất cứ lần nào, ông ta cũng không quên ra hàng áo cũ, mua cho mình và người bạn mù một thứ gì rẻ nhất để che bọc hai các xác gày còm trong những ngày đông.
Ông ta, trước kia là một thầy thông dây thép, chỉ vì tiêu lạm tiền nhà nước, hóa thành thất nghiệp! Tất cả những tiếng thì thầm của ông Sáu về lý lịch người bạn phong trần đó bắt tôi phải lặng im nghĩ ngợi, mặc dầu những câu chuyện ấy, những nhân vật ấy ta thường nghe giữa một cuộc chuyện vui, và thường thấy rất nhiều ở khắp Hà thành. Nhưng còn người nghệ sĩ mù nằm trước mặt tôi? Tôi muốn biết trong cái đầu tóc bao giờ cũng rối bù kia có giấu kín một thiên ba đào ký, một quá khứ chứa ít nhiều cuộc thăng trầm?
Đây, người mù đã kể tôi nghe:
Rằng xưa, ông ở kinh thành Huế, trong một dòng tôn thất, giàu cả danh vọng, cả tiền tài. Tổ phụ ông xưa làm đại thần triều Nguyễn. Vì chính sự đổi thay, người lui về quê ẩn dật nhưng ít lâu sau, máu sôi thời cuộc, người liền nhập đảng Cần vương, rồi bị giết giữa một cuộc xung đột cùng quân Pháp. Song thân ông Sáu phải dắt díu nhau vượt núi sông tị nạn, bởi có lệnh triều đình truy nã tru diệt cả họ hàng ông.
Mẹ ông chạy về trốn lẩn ở một vùng quê, và sinh ông tại đấy. Ông đã trải những cảnh loạn li cực nhục, ông đã chăn trâu, cắt cỏ, làm thuê. Khi ông lớn lên, thân phụ ông vì bạo bệnh mà chết. Kinh thành Huế đã vào thời bình trị, ông quả quyết từ biệt mẹ già, đeo khăn gói ra Kinh, tìm cách tiến thân. Ăn đợi, nằm chờ mãi, ông được vào Nội các giữ một chức tầm thường.
Ở gần chốn Ngai vàng, ông đã từng được nghe những câu chuyện bí mật ở miệng các cận hầu, các cung phi về đức vua Thành Thái. Ông đã rùng mình về những cảnh hung tàn, bạo ngược mà Ngài bày ra làm trò giải trí, như là bắt các bà Vương lấy thâm cung làm nơi họp chợ bán hàng. Ngài cưỡi ngựa đi làm khách mua, nếu thấy bà nào chào đón vụng về, hoặc trai lơ quá, tức thì Ngài chém chết liền. Ngài bắt các cung phi khỏa thân tất cả, xếp thành hàng một như đội nữ binh bồng gươm đi diễu trước mặt Ngài. Lúc được lệnh truyền, họ phải nằm rạp xuống, rồi bắt đầu từ người thứ nhất, Ngài nằm lăn lên mình họ đúng ba lần. Tới lần thứ ba, khi Ngài mệt mà ngừng lại trên một cung nữ nào, thì cung nữ ấy được đội ơn mưa móc đêm hôm ấy, tỉ như đời xưa các nàng phi ganh nhau thả rắc lá dâu... Nhưng mà vị cung nữ được Ngài ngừng lại trên mình đó, đôi lần mừng, song cũng đôi lần bay hồn, mất vía, là vì máu điên biến đổi tính Ngài một cách khôn lường: ngài dựng cái xác thịt nõn nà ấy lên sai dội nước sôi từ đầu tới gót. Ngài ngồi ngắm một cách cực kỳ khoan khoái, kẻ khốn nạn bị bỏng, giãy, kêu lên, sau cùng nhe răng ra chết đứng. Thấy vậy, Ngài nổi giận cho là đã chết còn cười, lại sai dội thêm nước sôi vào miệng, rồi đứng dậy, tự cầm gươm khoét mắt, rạch mồm, xẻo từng miếng thịt ném đi.
Ông Sáu đã được thấy ngôi sao chổi mọc ngang trời nhằm chiếu xuống chỗ hoàng cung, giữa đêm đức vua lẻn ra ngoài thành đi trốn, nhưng người ta lại lùng bắt được Ngài ở trong rừng. Bởi câu chuyện Ngài bỏ ngôi này, người ta mới đoán rằng tất cả những trò chơi tàn ác nói trên kia, chỉ do Ngài giả bệnh điên để dễ dàng xếp đặt mưu cơ lừa người Pháp.
Câu chuyện một đấng Vương mạt vận của nước nhà do ông thầy đàn kể, làm tôi say hơn khói thuốc, cảm hơn đọc trăm cuốn sử của ngàn năm xưa. Khói thuốc tỏa trước mặt tôi, quanh mình tôi như một áng mây trời đem lại cho tôi một cảm hoài vô cùng thống thiết. Ông thầy đàn còn kể tôi nghe những cuộc nổi chìm của ông trước đây bởi một sự khảng khái bí mật riêng mà bỏ Kinh thành Huế ra xứ Bắc Hà, cảnh ngộ ba đào xô đẩy ông vào số phận một người tôn thất vong quốc, vong tộc, lo từng bữa cơm, bữa hút, thiếu từng manh áo, tấm quần, trong khi những người thân thích với ông đang ngồi ghế cao ăn lộc của triều đình, chính phủ.
Ông Sáu ngồi dậy nâng cây đàn tỳ, nối lại đường tơ mới đứt, gẩy bài Nam Ai.
- Hương đâu? Con ca theo cho thầy nghe đi con!
Không thấy con gái đáp, ông Sáu ngơ ngác nhìn quanh bằng cặp mắt mù.
Có tiếng nấc ở phía sau, tôi ngoảnh lại: Hương đang gục đầu vào cánh cửa, ôm mặt khóc. Có phải người con gái Huế ấy khóc những cảnh huy hoàng đã chết rồi của ông cha từ mấy mươi năm cũ, hay khóc những cảnh lầm than, nghèo khổ ngày nay của mình?
Thấy tôi bắt gặp, Hương vội vàng lau nước mắt gượng cười với tôi, rồi nàng ngồi gõ nhịp ca.
Lúc này, Hương vẫn đẹp như người kỹ nữ sông Hương!
Hà thành ướt át dưới mưa xuân, và ồn ào, tấp nập vì sắm Tết.
Hôm nay, trời rét lắm, tôi đã sai người mang xuống cho ông thầy đờn chiếc áo tơi dạ cũ và một số tiền. Người ta đã vác cành đào đi bán rong ngoài phố. Người ta đã đi sắm những giành hoa cúc vàng tươi đẹp, những giò thủy tiên lá nõn mượt xanh, những cành hải đường hoa thắm đỏ như những nụ cười của các nàng xuân nữ. Thấy mấy cô em gái tôi vui mừng tíu tít đua nhau gọt thủy tiên, thi nhau làm mứt, ngắm cho nhau những tấm áo đẹp mới lấy ở hiệu may về, tự nhiên lòng tôi chạnh nhớ tới người con gái Huế nghèo nàn, xấu số, sống âm thầm lẫn với các ca kỹ xóm Khâm Thiên.
Tôi bảo em gái tôi ra chợ chọn mua cho tôi một bó hoa thực đẹp, rồi tôi gọi xe kéo xuống nhà ông thầy đờn. Gõ cửa và đứng chờ đã một hồi lâu, tôi mới nghe thấy tiếng rút then, đó không phải Hương, chính là ông Sáu đã rờ rẫm cố tha cái xác ốm ra mở cửa cho tôi. Tôi hỏi đến Hương. Người mù khốn nạn vật mình nằm xuống, trùm chăn rên một lúc, rồi mới đáp tôi:
Tôi bảo em gái tôi ra chợ chọn mua cho tôi một bó hoa thực đẹp, rồi tôi gọi xe kéo xuống nhà ông thầy đờn. Gõ cửa và đứng chờ đã một hồi lâu, tôi mới nghe thấy tiếng rút then, đó không phải Hương, chính là ông Sáu đã rờ rẫm cố tha cái xác ốm ra mở cửa cho tôi. Tôi hỏi đến Hương. Người mù khốn nạn vật mình nằm xuống, trùm chăn rên một lúc, rồi mới đáp tôi:
- Không dám giấu thầy, mấy tháng nay tôi thiếu ăn, thiếu hút, cho nên cơn nghiện nó vật tôi thành ốm thế này. Con Hương nó thương tôi lắm, nó khóc suốt ngày vì tôi. Rồi thảm quá chừng, thầy ạ, hôm kia, nó quỳ xuống bên giường, nắm tay tôi, nó khóc, van lạy. Tôi đành cắn răng mang nhục cứ liều để nó bán mình cho người chủ cô đầu mà lấy tiền xài. Cùng quá, chẳng thể nghĩ mãi tới sự giữ gìn danh thơm cho một giòng quý tộc, danh gia - mà giữ làm gì nữa, hả thầy! - tôi đành cho nó theo mụ Bảy sang bên nhà hát ở gần đây.
Người mù kéo mép chăn lên mặt, lau nước mắt.
Tôi cảm thấy lòng tôi tan vỡ, mặc dầu, đối với Hương, trước sau tôi chỉ có tình thương. Sao sự đời lại trớ trêu đến thế! Ngày xuân, người ta đi mua hoa về ngắm, thì trái lại, ở chỗ tối tăm này, người mù khốn nạn phải bán con đi, bán một bông hoa đẹp nõn nà đi để xài, để hút. Gian phòng lạnh lẽo và yên lặng như một cõi mồ. Tôi ngắm bức ảnh Hương, treo bên mấy cây đàn chụp hồi còn nhỏ trong vườn Tĩnh Tâm ở Thần kinh, rồi ngậm ngùi nhìn xuống bó hoa vẫn cầm ở trong tay, tôi phân vân không biết dùng bó hoa tươi đẹp ấy để làm gì.
Năm 1934
Buồn vương mây khói
Khi mới mười hai tuổi tôi đã phải sống lang bạt, nay đây mai đó. Tôi thèm khát cái thú sống ở gia đình nhưng không có lấy một ngày nào được biết tới gia đình. Tan tác như mây bèo, những người thân của tôi đều bị cảnh đời hất đi mỗi kẻ một đường, còn tôi, năm này năm khác, tôi chỉ là cái vật mọn ký thác ở khắp các nhà họ mạc.
Thôi thì hết tỉnh rồi quê. Cũng may mắn cho tôi là lại được trở về quê, chứ cái tuổi thơ ngây dại của tôi mà cứ bị đầy đọa mãi ở các thị thành, bỡ ngỡ không được ai gìn giữ, không được ai dậy bảo thì không biết tôi sẽ phạm những tội lỗi gì.
Quê hương là nơi tâm hồn tôi được bình tĩnh lại sau bao nhiêu năm lạc lõng, với một thân hình ốm yếu gầy còm.
Màu xanh hiền hậu của khóm tre, cây đề reo hát bên con sông chẩy quanh làng khiến tôi thấy lòng yên ấm lại. Màu gạch đỏ chói của căn nhà ai mới dựng giữa làng dưới những bóng cau bóng chuối khiến lòng tôi vui sáng, gần gụi với bao nhiêu con người, bao nhiêu sự vật lành hiền ở quanh mình.
Bây giờ tạm yên ổn, tôi được thư của thày tôi ở tận xứ Lào gửi về bảo phải đi học chữ Tây, hoặc chữ Nho. Tôi lựa chọn mãi, sau cùng tôi quyết định học chữ Tây mà tôi đang học dở. Thế là, một ngày nắng mới tôi xuống chợ mua giấy bút và hôm sau tôi lên trường huyện học.
Bẵng đi hai năm mới được trở lại với sách đèn, tôi vui sướng như con chim non lần đầu được bay ra khỏi tổ.
Những buổi chiều, tiếng học của tôi làm vui động một chút cái không khí quá yên tĩnh của xóm làng.
Tôi được mọi người để ý đến. Tôi thấy mình đang là một đứa trẻ lưu đãng, gần như vô thừa nhận ở các thị thành, bây giờ trở nên quan trọng giữa đám trẻ chăn trâu cắt cỏ, và đám người còn bỡ ngỡ với cái thứ chữ Tây ngộ nghĩnh.
Người ta muốn có một tờ yết thị dán cổng làng, chép một cuốn sổ hương dịch, cải lương, cũng gọi tôi. Tôi nằm giữa đình làng, trên cái chiếu cạp điều của ông tiên chỉ mà viết những thứ đó. Người ta xúm quanh tôi, khen chữ tôi tốt quá, như tôi vẫn kính phục những ông đồ viết câu đối ở hè phố hàng Bồ, Hà Nội những ngày gần Tết vậy.
Thấy người anh họ tôi bảo bao giờ tôi đỗ được mảnh bằng “sép-phi-ca”, tất làng sẽ nhường cho tôi cái chân thư ký làng. Tôi cũng hy vọng và lấy làm sung sướng mỗi khi nghĩ cái ông thư ký làng trẻ tuổi ấy là mình đây sẽ có một góc chiếu ở đình, có quyền ngồi đánh trống chầu ở ngoài đình, và có quyền ăn nói, bàn cãi với mọi người, từ ông Tiên chỉ trỏ xuống. Thế mà hồi đó cái ông ký danh giá ấy còn đang đánh khăng đánh đáo, còn đang trần truồng tắm ở ao, sông.
Anh Lũy, anh Quỳnh, hai người anh họ có vai vế trong dân, yêu tôi lắm, và khuyên tôi thế này: “Chú ạ, phải tập cho đứng đắn, mai kia còn ra làm việc dân làng, vua quan chứ lị!”.
Tôi nghe lời hai anh tôi. Từ hôm ấy, tôi không chơi đùa với trẻ con. Tôi đi tắm sông cũng mặc quần. Đi ra đình hay đến đám khao, đám tang nào, tôi chít cái khăn lượt dầy mấy mươi vòng to bằng cái rế của anh tôi thải cho; tôi mặc áo dài, đi bít tất, tôi tập ăn trầu, uống rượu, hút thuốc lá, đi ngồi đều lấy dáng điệu như người lớn, bởi vì tôi sắp làm ông thư ký quan trọng của dân chứ có đùa đâu.
- Ờ chú Hải này khá lắm, làm đàn anh phải có dáng, làm lính tráng phải có oai.
Tôi kiêu hãnh vì lời khen của mấy ông anh họ tôi.
Tháng Mười, một năm được mùa. Vùng quê phong túc lắm, nhiều nơi hội hè vui chơi. Tôi có dịp theo hai anh họ tôi ra khỏi làng, đến một nơi có phong cảnh đẹp và con gái đẹp.
Hai anh làm thợ đúc chuông, đúc tượng giỏi nhất làng và có tiếng khắp vùng tỉnh Bắc. Đã có tài, lại giỏi trai, có duyên, nên làm đám ở đâu là được đàn anh ở đấy yêu mến, nhất là những cô con gái.
Cố nhiên là tôi được theo đi, vì hai anh tôi cho rằng tôi nhanh nhẹn và khi cần đến giấy tờ gì bằng quốc ngữ thì đã có cậu thư ký nhỏ.
Ba anh em tôi rời khỏi làng một buổi sáng tinh sương, rét mướt. Đường xa mà không tiện xe, tiện thuyền, chúng tôi đi bộ mất một đêm một ngày. Cảnh cơm nắm dọc đường, tôi không thấy gì là cực khổ, tôi vui sướng đi lẫn trong đám người trẩy hội tấp nập trên con đường nhỏ giữa cánh đồng bao la.
Đến chùa, chúng tôi được người ta biệt đãi, dọn cho một gian riêng.
Hai anh tôi bắt đầu làm, và trong khi làm thì các cô gái đẹp lẳng lơ đến xúm quanh hai anh mà hát ghẹo. Tôi nhớ mãi cái giọng hát ví véo von của họ, giọng hát ví của gái vùng Bắc Ninh. Hai anh đã khiến họ say mê. Họ tranh nhau yêu “ông phó Cả, ông phó Hai” - không những cả hai đều đẹp trai, mà tổ tôm điếm cũng tài, cờ người cũng giỏi.
Tôi nhớ mãi hôm đánh cờ người. Cô gái nhỏ có cặp má lúm đồng tiền cầm quân tốt bị bỏ quên mãi không dùng đến, cô đã ghen với cô xe, cô pháo, rồi cô khóc vùng vằng lủi ra về.
Lúc tan cờ, cô gái ấy đón anh cả tôi ở chân núi, đánh bạo nắm lấy tay anh tôi, mời nhau ăn một miếng trầu.
Từ hôm ăn miếng trầu của cô gái xinh đẹp ấy, anh cả sinh ra ngơ ngẩn, anh hai chỉ lo ngày chính hội đổ đồng tượng và chuông mà bị hỏng thì tai vạ lớn. Tiền đâu mà đền, còn bị làng đòi vạ nữa.
Những đêm sáng trăng lạnh lẽo trên ngọn núi chùa, tôi tưởng không bao giờ quên được cái đẹp kỳ lạ, cái đẹp thần tiên còn phảng phất trong tâm hồn thơ bé đến ngày nay.
Ngày nay nhớ đến đêm trăng ấy, tôi lại buồn rầu vì cô gái có đôi má lúm đồng tiền thuở nọ đã theo anh cả tôi về, bây giờ có một đàn con, già nhiều, đau ốm mù cả hai con mắt.
Tôi thì ba mươi tuổi đầu rồi. Đi đây đi đó đã nhiều, giang sơn thu cả vào đôi mắt sáng. Duy chỉ có chị dâu họ tôi, người con gái ngày xưa sống trong một gian nhà lá dưới chân núi Hàm Long đã bao nhiêu năm bỏ cha mẹ đi theo một người đàn ông, để bị mù lòa không còn biết ngọn núi kia ở phương nào, ở hướng nào.
Một lần, đứng cạnh chị dâu họ tôi ở thềm nhà, tôi che tay ngang mắt nhìn vọng ra cái vạch xanh xanh, mờ mờ ở tít chân trời mà lơ đãng nói:
- Chị cả ơi, rặng núi Hàm Long chiều nay không có sương che, trông rõ quá.
Chị tôi lặng đi một lát rồi khẽ hỏi:
- Thế chú có nhận rõ cái nóc lều gianh ở đấy không hả chú? Nói rồi chị tôi khóc trên đầu đàn con nhỏ. Than ôi, tôi thật không ngờ người đàn bà quê mùa ấy lại có thể ngỏ bao nhiêu nỗi niềm đau khổ trong câu hỏi chua xót ấy.
Tôi không trả lời chị. Tôi khóc ở trong lòng, và oán giận anh tôi, từ khi chị mù lòa đã hắt hủi chị mà ra ngoài tỉnh ở với một cô gái khác rồi.
Buồn vương mây khói trời xa…
Tiếng chị tôi ru đứa con trứng nước tắt vội theo tiếng khóc nghẹn ngào.
Cái chân trời mây khói ấy, tôi thấy lạnh lẽo ở trong tâm hồn mãi mãi, mỗi khi ngồi lặng một mình nghĩ đến người chị mù lòa dờ dẫm ra đứng ngoài thềm để trông vời về nẻo cố hương…
Tiểu thuyết thứ Bảy, số 387/1941
Tâm sự bông hoa súng
Có ai, trong một buổi sáng tinh mơ nào đó của mùa hè, qua chơi một vùng ngoại ô, một nơi thôn dã, hãy dừng chân lại bên giải đầm nước sáng như gương, cho tôi giãi bày câu tâm sự.
Hỡi những du khách, hôm nay mở lòng trong gió hạ để đón tiếng vọng trong tám hướng trời xa xôi, hãy nghe cái tiếng âm thầm của lòng tôi gửi gấm trên cánh gió. Đó chỉ là tiếng hương bay rất nhẹ, mơ hồ như hơi cỏ thờ dài… Tiếng của lòng tôi! Tôi kể tâm sự của chính tôi mà du nhân ơ hờ không lưu ý đến bao giờ. Nhưng họ vẫn biết rằng tên tôi thế này, hình tôi thế nọ, và tôi mang một đời hoa. Tuy nhiên có ai lại đi yêu thích một người con gái có cái tên quá xấu, cũng như có ai làm thơ mà ca tụng loài Hoa Súng, là tôi, bởi vì ai kia coi tôi như cỏ nội, hoa hèn. Hoa Hồng được một thanh âm nhè nhẹ, Hoa Sen được một thanh âm man mác, còn cái thanh âm Hoa Súng thì… sao mà nó quá nặng nề! Nhưng dù nặng nề, tầm thường rẻ rúng bởi con mắt tục, tôi vẫn tự mãn với lòng tôi là đã chẳng có một dấu vết xấu xa dưới ánh mặt trời.
Soi dung sắc xuống tấm gương nước sáng ngời, dưới đó lồng cả một trời hưu hạ, tôi không thẹn bóng, tủi hình. Là vì nở ra như Hoa Sen ở đầm ao, tôi cũng vẫn giữ vẹn được cái thanh khiết trọn đời như hoa ấy, mặc dầu Sen kia đã đâm chồi nẩy nhánh tự đáy bùn tanh bẩn mà lên.
Người ơi, đừng ai nhạo tôi với nụ cười khinh bạc vì tôi đã so sánh với loài Sen! Tôi há chẳng biết một khi vật gì tự nó có bản sắc riêng thì nó cứ sống trọn vẹn kiếp và ở trọn cái đạo của mình, chẳng cần phô trương, chẳng cần tự cao tự đại để tranh giá trị và tài sắc với một vật khác làm gì! Nếu trời mây sáng đẹp, tự khắc muôn chim bay ra mà ca hót, chẳng cần ánh nắng kia phải soi kỹ tới những chiếc tổ bé nhỏ của con sẻ, con khuyên, giục chúng ra giàng.
Khổ lòng thay, là tôi phải tự so đọ với loài Sen kiêu hãnh, cứ lên mặt quân tử với đời. Sen đẹp, Sen thơm, Sen cao quý như thế nào, chúng nhân đã từng biệt đãi bằng những cặp mắt nhận xét tinh vi, hà tất Sen phải nhọc mình lấn khắp cả hồ ao để cho bao loài hoa khác chìm đi, khuất đi dưới bóng che rợp của hoa Sen?
Thương biết bao nhiêu! Dầu vậy mặc lòng, Sen vẫn không đủ sức mà lan xuể ra khắp mặt nước trời hè, vẫn không ăn rễ được lên trên những loài phù cừ hèn kém khác cứ phóng túng mà nảy nở vô cùng vô độ, như mạch đất sung túc chảy màu mỡ ngang dọc ở lòng sâu.
Tôi, tự sức, tự quyền, tự bàn tay Tạo hóa, tôi mở rộng cánh lòng mà hứng nắng vàng, gió mát, trong khi thân chia lá kết lan rộng đầm này sang đầm khác, gây lực sống giữa trần ai.
Mùa hè cao trời ngọc biếc, bình minh gợn phấn hồng và hoàng hôn kết khối sà cừ, hổ phách - ấy là mùa nước lớn, mùa ngự trị lừng lẫy của loài hoa phù cừ.
Tôi cười, duyên tôi kín đáo như môi thiếu nữ ngày thu. Một gợn sóng, để vương sầu đôi nét mày cong, du nhân phải ngẩn ngơ buồn tâm sự. Tôi có đủ bản sắc làm đẹp lòng người như thế, nhưng tôi chau chuốt giữ gìn để gây một cảm tình kín đáo, một cái nghĩa bình dị cho được lâu dài, và một cái duyên êm ái để tránh sự mong manh vỡ nát.
Tôi không đón chào như người kỹ nữ lầu xênh phách. Mặc cho bướm lại, ong qua, tôi có biết gì đâu đến chuyện cành chim, lá gió! Tôi không có một kiếp phồn hoa rực rỡ, tôi giữ lại chút hương nhẹ nhàng ở lòng thanh đạm.
Du khách nào chán mùi ngát lừng của hồ sen bụi mù vì xa mã, hãy đến cuối cánh đồng bát ngát bên bờ đầm nước hoang tịch này để cho lòng trở lại thanh bình, rồi cúi xuống mà nhận lấy dung sắc của tôi.
Vâng, nó nhạt nhẽo thay, lặng lẽ thay! Nhưng có ai đi tìm chân tình mà lại muốn một lời giả dối hơn là một cái nhìn thành thực chứa biết bao tình thắm thiết ở trong?
Tôi là một triết nhân nói ít, ý nhiều. Tôi sợ làm một kẻ du thuyết rạc rài nơi thiên hạ. Tôi gây đạo sống trên miếng đất thích hợp của đời tôi, làm một kiếp dã hoa với giá trị tạo hóa trao riêng cho nó, chẳng cần kiểu sức để bôi một lớp phấn lộng lẫy bên ngoài.
Hãy cứ ở cho trọn vẹn cái tầm thường cao chính của lòng mình đi đã, thế cũng là khó khăn lắm rồi.
Tôi chỉ có những cánh màu tím thanh thanh, ít sắc vàng nhẹ nhõm, lạc loài ở những mặt ao lẫn lộn vẩy bèo, xa ánh sáng phồn hoa. Nhưng tôi không mong gì hơn một cánh đồng mênh mang ấy, một đống gò hiu quạnh ấy, một con đường thưa vắng xa mã ấy. Tôi bầu bạn với những mầu sắc quê mùa, tôi quen thuộc với những tâm hồn giản dị chứa đầy bài thơ khoáng giã; tôi chỉ có duyên với một đôi con người tỉnh mộng phù hoa, và tôi xây cái nghĩa nghìn đời ở những căn nhà tre, nhà lá, ấy là những nơi lễ giáo không biến, và luân lý không suy. Tôi cười mãn nguyện ở đấy, rồi rất bằng lòng tản đi trên những chiếc lọ mộc mạc rẻ tiền, bởi vì tôi đã lưu chút hương thanh đạm cho gia đình kẻ đã biết đến tên tôi.
Vậy là đủ lắm rồi, tôi đã xong một kiếp hoa. Nếu, chậm ra, người tri kỷ chưa kịp tìm đến để hiểu tôi, tôi cũng vẫn bình thản mỉm cười, trong khi các loài hoa khác khoe hồng tranh thắm. Tôi giữ tấm lòng trung trinh kỳ tới ngày tàn rụng không dời đổi, cũng không xa vọng những giấc mơ không thể có với mình.
Ong bớm tha hồ đua lượn ở những hồ bán nguyệt, ở những nơi ngự uyển dưới gió hè, hương sen ngát. Tôi không kêu gọi, không buồn cái cô tịch của tôi. Mảnh lá mong manh bé nhỏ của thân tôi, như tấm áo người hàn sỹ, - có những chiều buồn, chỉ chĩu xuống vì chiếc cò cô độc mỏi cánh giang hồ tìm về an nghỉ, âm thầm nhìn vùng non nước mênh mông. Tà áo tôi sẵn sàng đón đỡ những cơn mệt nhọc của những tấm lòng buồn bã vì đời. Trong những buổi hoàng hôn khi tiếng chuông buông, chúng sinh ơi, có ai như chiếc cò, chiếc vạc, qua một nấc lữ hành cô độc, xin hãy đến nhẹ nhàng bên lòng tôi; ví tôi có sắc, ví tôi có hương, người cứ tắm hồn vào đấy, tôi có quản gì ít nhiều an ủi để vỗ về đau khổ cho người!
Chiều tà, chiều tà hiu hắt, dâng tự chân mây vắng, lang thang làn sương khói của non sông.
Ai như chiếc cò, cứ đến thăm tôi, tịch mịch và âm thầm… Cái hiu quạnh bao la nơi đó, sẽ bảo cho biết rằng tôi chỉ là một thứ cách biệt với cuộc đời náo động như mạch sống ở lòng tôi chẳng phải là không náo động như một trời khởi gió.
Chỉ khác rằng những mạch sống ấy ngấm ngầm từ tim đất dâng lên, qua lòng tôi như qua lòng một ông già trầm tĩnh ngồi đỉnh non cao mà tư tưởng chuyển vận từ từ, nhè nhẹ, để cho hợp với sức sống đã bị tổn thương nhiều của những kẻ đau khổ ở đời.
Tôi chỉ có thế mà thôi, và tôi nghĩ rằng trọn vẹn cái sứ mệnh ấy, cũng đã đủ rồi, bởi vì bình sinh tôi thanh đạm.
Tiểu thuyết thứ Bảy, số 364/1941
Quan báo
Chúng tôi tất cả bốn người. Bốn thanh niên khoảng hai mươi tuổi ở gần nhau, cộng tất cả những cái điên vào với nhau thì thành ra một thế giới điên đầy đủ. Đã thế những thanh niên ấy lại làm thơ, viết báo thì càng lôi thôi lắm. Ông nào cũng khí kiêu ngút trời, tưởng ngâm một bài thơ là núi lở, hạ một chữ xuống là đảo ngược ngay thời thế. Khí kiêu ấy chỉ bốc khi ngất nghểu nơi tửu điếm, có dăm ba chén rượu tàng tàng. Bằng không, các ông ấy ngồi bó giò một xó mơ hương phấn, ngâm nga khóc gió thương mây…
Chả thế chúng tôi đã có… “một thời lừng lẫy” ở một tờ báo hàng ngày. Những truyện ngắn vô nghĩa lý, những bài thơ lòng thòng làm não lòng đứt ruột người ta, đã vậy tờ nhật báo nợ cứ đăng mãi để đến nỗi bây giờ chúng tôi nghĩ lại mà đỏ mặt. Đã có người nhét chúng tôi vào cái “Lọ văn”. Đã có người bảo chúng tôi là một phường chết yểu.
Quả nhiên, những cái miệng hùm nọc rắn đã làm chết một trong tứ tử chúng tôi. Anh Lê, thi sĩ thơ hay nhất bọn cách đây ba năm đã táng mệnh rồi. Còn lại ba người. Một ông đi làm thầu khoán ở một miền quê xứ Nam Kỳ. Còn hai ông thì vẫn lằng nhằng cùng bút giấy, mái tóc chưa hẳn bạc nhưng nghề ngỗng vẫn chửa ra tuồng gì cả.
Chúng tôi thường họp nhau tại nhà anh Nguyễn ở một phố gần hồ Hoàn Kiếm. Nguyễn làm thơ, ngoài lúc ngồi đo giầy cho khách. Anh mở hiệu giầy đã được chục năm.
Khách hàng của anh chín phần mười là gái nhảy. Hồi ấy phong trào khiêu vũ mới đột nhập vào đất nước uy linh của hai Bà Trưng. Bọn nữ kỵ binh tung hoành dữ dội. Những con đường Hà Nội là những con đường ái tình của các cô ả rẽ đầu ngôi lệch, áo lam ngắn chẽn, quần trắng ống hẹp, chân lê Phi mã.
Vì vậy cửa hàng của thi sĩ Nguyễn rất đông. Chủ nhân tiếp khách khéo, lối bày hàng lại tân thời, đó là một nét đặc biệt trong thương trường hồi ấy.
Chúng tôi họp nhau ở đấy, vái nhau theo lễ cổ nhân và nói chuyện Tống nho theo đạo Khổng.
Bỗng một hôm có một anh chàng đến xin yết kiến. Việc này quả là quái lạ. Chúng tôi xốc lại áo quần cho chỉnh để tiếp tân khách. Đó là một gã tuổi còn non, mặt mày choắt chéo, khúm núm đứng trước chúng tôi.
- Thưa các ngài, các ngài là nhà báo.
Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau, cùng nghiêm mặt đáp:
- Vâng, chúng tôi làm báo.
- Tôi đến xin thưa các ngài một chuyện! Nguyên tôi có ý định mua lại một tờ tuần báo văn chương. Tôi nghĩ những nhà văn đang nổi tiếng là các ngài đây…
Chúng tôi lại đưa mắt nhìn nhau như để phân bua với nhau: “Các anh nghe rõ chưa? Chúng ta là các nhà văn đang nổi tiếng!”
- Vâng, các ngài đang nổi tiếng, nên tôi xin giao phó tờ báo đó vào tay các ngài.
Còn nói gì nữa! Chúng tôi không thể ngờ sự đời lại đẹp như vậy được. Có người bỗng dưng đến nịnh chúng tôi, lại mời chúng tôi chủ trương và trình bày tờ báo sắp ra đời kia thì còn gì danh giá hơn.
Dĩ nhiên chúng tôi tán thành việc đó. Gã chủ nhiệm tờ báo tưởng tượng kia xin cung kính tháo lui.
Tiễn khách ra cửa rồi, chúng tôi vẫn ngồi nghiêm như lúc có khách để nhắc thầm trong bụng những lời khách ca tụng ban nãy và để xét xem mình quả có tài không.
Từ lúc ấy chúng tôi mỗi kẻ mang trong đầu hình ảnh một tờ báo. Ông nào cũng phác sẵn chương trình làm việc của mình. Lê thi sĩ sốt sắng hơn cả, đóng một tập giấy làm “ma-ket”, đặt trang này cái đề luận thuyết, ở trang kia cái đề tiểu thuyết ngắn, tiểu thuyết dài, phê bình thời sự, hài hước, kịch và bút chiến, nhặt vỏ sò vỏ hến… Cái đề nào cũng kêu như chuông và không chịu kém nhau vẻ văn chương rỗng, sáo. Ông lại khéo tay vẽ sẵn cả tranh minh họa ở các trang bài, tô chì đỏ xanh rất nổi.
Chúng tôi họp nhau uống trà tàu ăn bánh đậu xanh mà ngắm “ma-ket” phân tách sở trường sở đoản của mỗi cây bút để chia công việc. Cuộc tranh luận ầm ỹ, nhưng Lê tiên sinh điều khiển rất tài, nên cuộc bàn luận có ngay kết quả đẹp đẽ, nghĩa là ai có việc người ấy, không chối, nhường chi nữa.
Chúng tôi hể hả bắt tay nhau nhận trọng trách nặng nề và hoan hỉ đợi chờ một sự nghiệp lớn lao khả dĩ lưu truyền hậu thế!
Hai ngày trôi qua mà ông “chủ nhiệm” chưa đến. Chúng tôi vẫn nhẫn nại, vẫn họp nhau như thường để làm tốn trà tàu bánh đậu và để ngắm nghía, bàn cãi, thêm bớt bài vở trong “ma-két”.
Ngày thứ ba cũng chẳng thấy gã chủ báo đâu. Chúng tôi đã lấy làm nóng ruột. Qua ngày thứ sáu gã ta đến thật.
Sau một tuần trà tàu pha lối trang nhã của cổ nhân, Lê tiên sinh điềm đạm đưa gã chủ báo coi “ma-ket”. Gã giở từng trang, mặt mũi sáng lên, tay run cảm động. Chúng tôi im lặng đọc cảm giác bái phục trên nét mặt anh chàng. Một lúc anh chàng ngước lên nhìn bốn chúng tôi.
- Cứ như tài các ngài thế này thì lo gì báo không được hoan nghênh. Vậy tôi định sáng mai xin rước các ngài quá bộ về tệ xá ở một vùng quê gần đây chơi, trước xem phong cảnh đồng ruộng, sau xơi với chúng tôi chén rượu gọi là tỏ chút lòng thành kính.
Lại còn nói gì nữa! Nhưng chúng tôi tỏ ra không phải thứ người dễ dãi cho lắm, đều kênh kiệu từ chối để sau cùng bất đắc dĩ nhận lời mời.
Sáng hôm sau.
Khổ chủ và ba chúng tôi lên chuyến xe điện Hà Đông. (Nguyễn thi sĩ không đi vì bận đo giầy).
Sau chín mươi phút xe điện chịu khó đỗ nhiều hơn chạy, chúng tôi đến Hà Đông. Lê tiên sinh vác cái cặp bụng căng báo chí tiếng Tây và tiếng Việt cũ, tài liệu linh tinh và bài vở mới viết đi trước, ra dáng lắm. Gã chủ báo tương lai xin rước chúng tôi lên xe tay. Một đoàn xe cọc cạch chạy dài đưa chúng tôi ra ngoài tỉnh. Xe qua những ruộng ngô, lúa, đậu. Lâu lắm mới thoát ra ngoài thành phố Hà Nội, chúng tôi khoan khoái duỗi chân thẳng cẳng trên lưng anh xe mà ngắm cánh cò bay, trâu gậm cỏ, mặt trầm ngâm làm bộ đang nghĩ văn tả cảnh, nhưng thực thì không tiên sinh nào nghĩ văn chương vì trên đồng ruộng vùng này sao mà nhiều “hoa thôn dã” thế.
Những bông “hoa thôn dã” hát véo von hai bên ruộng. Chúng tôi có cảm tưởng ngay rằng cuộc đi chơi này thật thú vị. Và chúng tôi cũng có cảm tình với gã chủ báo ít tuổi, mặt mũi măng sữa, ngây ngô kia lắm.
Suy nghĩ còn đang miên man thì gã chủ báo tương lai hò cả đoàn xe đứng lại. Thì ra chúng tôi đã ở trên một con đường làng lát gạch, một bên là cái ao đầy bèo, váng nước; một bên là thôn xóm, nhà gianh chen chúc, tối tăm.
Chó sủa rầm rộ, trẻ con xúm lại kêu:
- Ê ê, ông Tây! Ông Tây, ê ê! Chúng bay ôi!
- Cái gì mà ê ê, ông Tây! Lũ khỉ con! Im đi cho chó nó im, kẻo ầm làng xóm.
Gã chủ báo trẻ tuổi xua lũ trẻ. Chúng im ngay, ngơ ngác nhìn gã mặt đang đỏ lên như gấc chín.
Một bà già đứng trong vườn chuối gấn đấy lầu nhầu:
- Cái nhà cậu Giự ấy mọi khi về chỉ mặc áo the rách thì chó nào nó thèm sủa. Lần này về đánh bộ Tây vào, lại ra dáng, mắng đuổi trẻ con.
Không biết Giự - ông chủ báo tương lai của chúng tôi - có nghe thấy lời bà cụ già không? Chúng tôi thấy mặt anh chàng càng đỏ gắt lên, và ngơ ngác nhìn quanh như chờ ai vậy.
Bốn anh xe đứng lau mồ hôi, thở, sẵn sàng chìa tay ra đón tiền. Giự càng có vẻ loay hoay, bối rối. Anh đập vụng về hai tay vào hai túi áo và nhìn vào một cái ngõ sâu. Đây là giờ phút nghiêm trọng của vấn đề kinh tế. Cố nhiên những kẻ được rước đi một cách có tổ chức như chúng tôi đây đều không “mang sẵn tiền lẻ”. Và dĩ nhiên là vấn đề tiền nong phải dành cho khổ chủ.
Gã chủ báo tương lai liếc nhìn bàn tay chúng tôi, thấy những bàn tay ấy không hoạt động thì lại nghển cổ cò nhìn vào cái ngõ sâu. May quá, có một người đàn bà từ trong ngõ đi ra.
Gã chủ báo tỏ ngay vẻ mừng rỡ, buột miệng reo như đứa trẻ:
- Kìa chị cả, chị trả tiền xe giúp. Tôi không sẵn tiền lẻ.
Người đàn bà mặc váy nâu cũn cỡn, cái áo cánh cũng cũn cỡn và bẩn thỉu không kém gì cái váy, dụi cặp mắt toét nhoèn, nhìn cậu em, nhìn chúng tôi, rồi đưa bàn tay sần sùi xuống giây lưng bao, lần lần tìm cái nút.
Hỡi ơi, cái ruột tượng lép của người đàn bà quê mùa thiểu não! Trái đất này còn, tôi còn nhớ mãi cái ruột tượng nâu, quắt lại như khúc lòng lợn, bọc quanh cái bụng ỏng và cạp váy và đụp chứa bao nhiêu rận, rệp, bao nhiêu mồ hôi trong đó. Người đàn bà lập cập giở nút, dốc ra từng đồng xèng Bảo Đại, đếm, đếm, đếm một cách tiếc rẻ và hoảng hốt. Những đồng tiền chen chúc nhau reo trên bàn tay người chị và trên bàn tay người em trai đang châu đầu vào nhau như là để làm một việc rất to tát kia khiến chúng tôi động lòng thương hại, và nhất là ân hận…
Tôi nghe tiếng người đàn bà hỏi thều thào:
- Những khách nào thế?
Giọng người em đáp rất nghiêm trang:
- Các ngài ấy là… là… quan báo đấy. Chị về trước đi mà sửa soạn…
Giọng người đàn bà run run:
- Sửa soạn gì?
Người em hơi gắt:
- Giết gà, mổ vịt làm đồ nhắm chứ sửa soạn gì. Về mau!
- To chuyện thế kia à, cậu! Chết chửa! Nhà làm gì có… có…
Người em khẽ quát
- Tôi bảo thế thì cứ thế. Về nói trước cho ông cụ biết.
Người chị vội vàng buộc lại thắt lưng, rồi im lặng tất tả đi vào ngõ.
Gã chủ báo tiến đến phía chúng tôi, tươi cười xin mời đi. Gã huyên thiên chỉ cái đình làng giới thiệu là các cụ xây từ đời Tiền Lê, chỉ cây gạo kể rằng những đêm sáng trăng thường có con tinh xõa tóc đưa võng hát. Tiếng cười nói của gã và tiếng giầy lộp cộp của chúng tôi làm chó làng lại sủa ồn ào.
Đến một cái xóm đường đầy bùn do trận mưa đêm qua, gã chủ báo mời chúng tôi vào một căn nhà vách rơm mái giạ mà gã gọi là tệ xá.
Chúng tôi đang loanh quanh chưa biết ngồi đâu, vì cả căn nhà ba gian tối như hũ nút chỉ có hai cái giường tre xô lệch không giải chiếu thì một ông cụ già râu tóc hoa râm, khăn áo tề chỉnh bước vào vái dài chúng tôi mà nói:
- Kính chào các quan báo!
Cụ ngừng lại gãi tóc:
- Các quan yêu em nó mà chiếu cố thế này, chúng cháu lấy làm xấu hổ…, nhà gianh vách nát… xin các quan tha thứ cho…
Thì ra người đàn bà kia đã chạy về báo tin cho ông bố biết.
Nói rồi, ông cụ vội đi trải chiếu, rửa khay chén gọi con lấy giẻ lau giầy cho chúng tôi.
Khay chén rửa rồi mà chưa thấy con gái đem nước sôi ra và chưa thấy ai lau giầy cho khách, cụ bèn đứng dậy vào nhà sau, tức là vào bếp.
Chúng tôi nhìn cảnh nhà ông chủ báo, nhìn nhau để cùng tỏ ý hoài nghi, chán ngán. Bỗng tôi nghe thấy tiếng sì sào phía bếp đưa lên. Hẳn là họ đang bàn tính về mâm cơm đãi khách.
- Khổ lắm. Mày không biết nhà độ này túng lắm...
- Túng thì cũng phải cho chu đáo chứ!
- Nhưng khốn nỗi không có một xu, bắt đâu được gà.
- Đi vay hàng xóm. Ông đừng bêu riếu tôi… Người ta là người sang trọng…
Tiếp đến tiếng ai sụt sịt. Than ôi, tôi nghe rõ giọng ôn tồn đau khổ của người bố già và cái giọng gắt gỏng hỗn láo của ông con mà chúng tôi gọi là ông chủ báo tương lai đó.
Lòng tôi đau thắt lại. Tôi lịm đi, không nói được, không cười được cho đến lúc nghe thấy tiếng lưỡi dao quèn quẹt liếc vào miệng vại, tiếng con gà kêu giẫy chết, tiếng bát đũa khua lịch kịch…
Thế rồi một mâm cơm thịnh soạn bưng lên.
Ông cụ thắp mấy nén hương trên bàn thờ, đặt mâm cơm lên khấn vái một lúc, rồi chờ hết nửa tuần nhang ông cụ bưng mâm cơm đó xuống chỗ chúng tôi ngồi.
Ông cụ lại gãi tóc:
- Nhân các quan chiếu cố, chúng cháu có làm mâm cơm, trước cúng tổ, sau xin mời các quan… xơi.
Rượu rót ra chén, ông cụ mời đưa cay. Chúng tôi ăn uống cầm chừng. Riêng tôi mấy lần bị nghẹn vì bên tai còn rõ rệt từng câu nói dịu ngọt khổ não của ông già, từng lời gắt gỏng của ông con hỗn láo.
Sau hôm đó, gã Giự chủ báo tương lai không đến thăm chúng tôi nữa.
Bẵng đi một dạo, chừng ba tháng. Chúng tôi thất vọng, không còn bàn tán đến tờ báo sắp ra đời, không buồn nhìn đến cái “ma-két” của Lê thi sĩ thì một buổi kia, có kẻ quen gã chủ báo tương lai cho chúng tôi biết rằng Giự đã lợi dụng buổi mời chúng tôi về quê gã để làm con tin trước mặt ông bố già. Sau đó ba ngày, ông bố già đã bị ông con ép buộc đem nhà đất cầm cố lấy ba trăm bạc đưa ông con quý đi… mở báo.
Thế rồi không bao giờ thấy ông con mở báo để làm “quan lớn báo”, ông bố già tội nghiệp chết ngất đi mấy lần, và nhà đất thì bị cầm. Bây giờ ông bố bơ vơ mà ông con thì mất hút.
Sau tin đó ít lâu, một hôm chúng tôi đang ngồi uống trà trên gác một tửu lâu, chợt trông thấy ông cụ đã giết gà thết rượu chúng tôi ngày nọ đi thất thểu ở dưới hè, quần áo tả tơi, che chiếc ô cũ lom khom lẫn vào đám người thành thị.
Tôi mủi lòng thương xót và tự hỏi:
- Có lẽ ông cụ đi tìm ông con trai quý… Cũng có thể ông cụ đi tìm chúng tôi để mà than khóc đó chăng?
Tiểu thuyết thứ Bảy, số 469/1943.
Ngọc Giao
Nguồn: Đốt lò hương cũ. Tuyển ký của Ngọc Giao.
Nguyễn Tuấn Khanh tuyển chọn. NXB Văn học, 2012.





























Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét