Thứ Sáu, 17 tháng 5, 2019

Đốt lò hương cũ 2

Đốt lò hương cũ 2
Tôi là thi sĩ
“Tôi đã vào tới Huế. Việc tôi cần làm trước hết là đóng chặt cửa phòng, ngồi viết bức thư này gửi anh.
Tôi cần kể anh nghe những nỗi vinh nhục trong mấy năm tôi sống ở Hà thành. Mà tất cả những vinh nhục đó đều ở trong nghề làm thi sĩ của tôi. Tôi đã bỏ học để làm thi sĩ. Tôi đã ăn cắp, ăn trộm để làm thi sĩ…, thôi thì chẳng còn thiếu tật gì. Vậy mà tôi cứ vênh mặt đeo cái danh từ to tát ấy trong một năm trời đấy. Âu là nghiệp dĩ tự trời! Bây giờ khi đã tỉnh ngộ, tôi thù văn chương hơn thù một thằng hung nó giết hụt mình, và thề không bao giờ để nó quyến dụ như xưa nữa.
Dạo ấy, một buổi tôi được hân hạnh khoác tay mấy nhà văn, nhà báo đi ăn chả cá và đi hát cô đầu. Được ăn với văn nhân, được nằm ngả nghiêng thân mật với văn nhân, đó là cái mộng tôi nuôi từ lâu lắm.
Trước giờ hẹn, tôi chải chuốt cực kỳ cẩn thận. Tất cả những thứ dùng trong người tôi đều mới hết. Soi gương, tôi thấy mình sang trọng quá, đến nỗi tôi ngỡ tôi sắp sửa đi làm bạn với những ông Hoàng. Tôi luyện điệu bộ, dáng dấp cho có vẻ trang nghiêm, đứng đắn, tôi sắp đặt những lời ăn nói để chốc nữa, tiếp các bậc văn nhân kia cho xứng với giá trị của dòng tôn thất đất kinh kỳ.
Đã đến giờ. Tôi nóng ruột, lo rằng mình hoặc vô duyên hoặc đã vụng về mời chẳng khéo lời nên các văn gia giận không cho mình cái may mắn được theo hầu.
Nhưng không, những văn gia yêu kính của tôi đã đến kia rồi. Tôi đứng trên bao lơn gác vui mừng nhìn xuống, một đoàn xe tay kiểu mới rầm rộ đỗ, trong số đó, tôi thấy có cả mấy cô rất đẹp, dáng chừng là nữ sĩ.
Tôi hồi hộp, luống cuống xức thêm nước hoa vào đầu, vào mùi xoa, quần áo. Tôi gò lại cái nút ca vát cho bé hơn tí nữa, vì đó là mốt mới của giới ăn chơi Hà Nội. Tôi đếm lại số tách uống nước và số ghế ngồi xem có đủ không.
Chờ đến năm phút mà chưa thấy ai lên, tôi chợt nghĩ ra các ông bạn, bà bạn danh giá của tôi có lẽ đang đợi chủ nhân xuống nghênh tiếp rồi mới chịu lên. Hối hận mình thiếu xã giao, tôi vội chạy xuống dưới nhà. Vừa bước hết bậc thang, tôi đã nghe thấy tiếng gắt nhau, mắng nhau ầm ĩ. Thì ra các văn gia đang nhường nhau trả tiền xe, nhưng ai nấy đều vỗ túi để phân trần là chẳng có một đồng chinh nhỏ. Tôi sợ nếu họ cứ vỗ túi phân trần với nhau thế mãi, ắt sẽ xảy ra xung đột, vì tôi thấy mặt người nào cũng sát khí đằng đằng, tôi vội nhanh nhảu chạy ra, nghiêng mình chào trân trọng, rồi tươi cười tranh giả tiền cho tám anh xe vừa vặn chẵn một đồng bạc giấy.
Họ rầm rộ trèo lên thang gác. Gót giầy tây đóng cá, gót bọc sắt giẫm ầm ầm, đến nỗi cái cầu thang ốm yếu sẵn phải trĩu mình xuống. Bà cụ chủ chạy ra trợn mắt nhìn, làu nhàu chửi rủa bằng những câu tục nhất của những người đàn bà An nam.
Bây giờ đến cuộc giới thiệu quý danh các danh nhân. Tôi nắm những bàn tay thân ái một cách hân hoan cảm kích, tôi nghiêng đầu chào những bộ mặt hoa một cách niềm nở, hữu tình.
Tôi lóng cóng pha nước đưa mời từng người một, đánh diêm châm hầu thuốc lá từng người, lăng xăng chạy đi, chạy lại, rồi đỏ mặt khi nghe những câu khen ngợi của các nhà báo, nhà văn đã hết sức phục văn tôi.
Cuộc đàm luận chứa toàn lời ca tụng về tôi đúng nửa giờ. Tôi cảm thấy no nê vì những lời ca tụng ấy mà quên hẳn việc mời các bạn đi chả cá, nếu nhà văn chính luận Quốc Hồn không cười rất lớn để phá tan cái không khí văn chương bằng vấn đề “nghệ thuật vị nhân sinh”:
- Thôi Hồng Vân thi sĩ hãy cho đi chén đã, đói lắm rồi.
Hồng Vân thi sĩ! Các ngài nghe thấy gì chưa? Ông Quốc Hồn vừa gọi tôi là Hồng Vân thi sĩ đấy! Thực là danh giá cho tôi. Vậy thì tôi còn đợi gì mà không mở tủ sách moi nốt cái món tiền dành mua xe đạp để tối nay đem đi khao cực kỳ long trọng cái mỹ hiệu “Hồng Vân thi sĩ” của tôi!
Tôi nhét tập giấy bạc vào ví, rồi dẫn đầu cả một đội binh danh sĩ ra ngoài phố. Tôi ngửa mặt nhìn thiên hạ, tôi đi ngầm với bất cứ ai rằng: đừng vô phúc mà chạm đến các bạn tôi, vì cô nữ sĩ của tôi đây sẽ làm ngay bài thơ đăng báo chửi, nhà báo của tôi kia sẽ viết ngay một bài thời sự đại hải tràng giang để nói xấu kỳ cho kẻ vô phúc ấy phải đến tòa báo mà xin lỗi bằng vài chục bạc mới tha. Trêu vào nhà báo, nhà văn, tức là chạm phải vía hung thần. Ấy, tôi yên trí thế, là vì các bạn tôi thường nghiêm nghị tự trỏ vào ngực bảo tôi rằng: “bọn chúng ta là thần linh cả, vì bọn ta sống trên một thế giới tinh thần cao khiết”.
Nhưng lúc này, khi mà những cặp chả cá đã bốc mùi thơm ngào ngạt trên chiếc hỏa lò than nóng, khi mà mùi mắm tôm sặc sụa trên mặt chiếc bàn bừa bãi những bánh đa, bún, lạc rang, rau mùi, và rượu đổ ra lênh láng, tôi mới thấy cái câu nói trên kia hơi sai nghĩa. Vì các văn nhân của tôi ăn một cách tục tĩu vô cùng. Tôi không ngờ những miệng hoa kia ban nãy ngâm cho tôi nghe những câu thơ Đường bằng một giọng êm như tiếng nhạc cung thiềm, vậy mà, lúc này những miệng hoa ấy ăn hung tợn như gấu ăn trăng. Tôi không ngờ những văn nhân của tôi lúc này ăn dữ dội tựa một bọn người chạy lụt đói bảy ngày và nói bẩn quá những kẻ tầm thường, đểu cáng.
Song việc đó không làm tôi ngã lòng sớm, vì tôi nghĩ: các bạn có yêu tôi thì mới chiếu cố thực thà như vậy.
Khi các bạn đã hả hê, ngồi vươn bụng thở, hoặc đứng lên đi bách bộ, thi sĩ Kiếm Thần xướng lên vấn đề đi hát để khao trước một tập thơ của tôi sắp ra đời.
Cả bọn ồn ào biểu đồng tình. Tôi không có can đảm chối. Và bây giờ tôi lại được cái hân hạnh dẫn đầu các văn nhân thi sĩ xuống Khâm Thiên. Cả mấy nữ sĩ cũng đi dự cuộc vui, điều này khiến tôi ngạc nhiên hơn hết. Ái Hoa đặt bàn tay ngọc lên vai tôi nói ngọt ngào:
- Hồng Vân ạ, bấy nay yêu tài Hồng Vân, bây giờ gặp mặt Hồng Vân, không hiểu sao tôi quyến luyến khôn cùng… Tôi muốn Hồng Vân cắt nghĩa tôi nghe duyên cớ ấy…
Tôi sung sướng nhìn Ái Hoa, Ái Hoa nữ sĩ đã yêu tôi!
Trong nhà cô đầu, các bạn tôi hút thuốc phiện như thần, nghịch đùa như quỷ. Tôi thì ngớ ngẩn chẳng biết gì, chỉ ngồi bên Ái Hoa, Ái Nguyệt nghe Kiếm Thần gõ trống.
Gần nửa đêm, Ái Hoa, Ái Nguyệt bảo tôi đưa về nhà. Tôi mừng rỡ vì được dịp may đi với hai người ngọc giữa đêm khuya. Tôi giúi tiền cho Kiếm Thần chi hát hộ. Một lát sau, giữa đường vắng, ba chúng tôi vừa đi vừa nói chuyện. Khi đưa Ái Nguyệt đến nhà rồi, chì còn một Ái Hoa đi cạnh tôi.
Chúng tôi thú thực mối tình. Rồi trước lúc chia tay, Ái Hoa hẹn sẽ làm tặng tôi một bài thơ trên một tờ Nhật báo. Tôi vui mừng như được mọc đôi cánh để lên trời.
Sau lần đó, các văn nhân thi sĩ đối với tôi đã là bạn chí thân. Chúng tôi đã “mày tao”, đã dốc túi chia nhau tiêu từng xu, từng hào một.
Các anh các chị ấy luôn luôn thúc giục tôi làm thơ, họ bảo rằng về văn nghiệp, tôi sẽ có một tương lai to tát lắm.
Mỗi khi làm xong được mấy bài thơ, hoặc đoản thiên tiểu thuyết, tôi lại để dành tiền đi mua bánh đậu xanh, chè tàu, thuốc lá, rồi viết giấy đạt mời các bạn văn thơ đến họp mặt dự tiệc trà và phê bình tác phẩm của tôi. Ái Hoa, Ái Nguyệt tranh nhau ngâm thơ tôi, Kiếm Thần, Quốc Bảo tranh nhau đọc đoản thiên của tôi rồi cả bọn vỗ tay ầm ầm tán thưởng. Mỗi lần như thế, tôi lại thấy người tôi lớn hơn một chút, và danh giá to hơn một chút.
Dần dần, tôi nhận thấy Ái Hoa, Ái Nguyệt, hai người có ý ghen tỵ nhau để yêu tôi và để được tôi yêu. Tôi thường niềm nở, đi chơi với cả hai người, thường mua quà tặng cả hai người, nhưng thực tình thì tôi yêu quý Ái Hoa hơn bởi Ái Hoa có một giọng rất hay để ngâm thơ, mà nàng lại dùng giọng ấy để ngâm thơ và bình văn tôi thì còn có thi vị nào bằng!
Từ đấy tôi mê man về yêu đương, văn chương và bạn hữu.
Tiền cha mẹ tôi ở Huế gửi ra tháng tháng, tôi dùng để mời các bạn đi ăn, đi hát, để mua cho Ái Hoa, Ái Nguyệt đủ các tặng vật đắt tiền.
Tiêu pha liều lĩnh quá, tôi phải vay lãi bà chủ trọ và nợ ba bốn tháng cơm. Bà cụ đã có ý ghét tôi, càng ghét lũ bạn tôi hễ đến là giẫm ầm ầm thang gác, cười nói như bọn giặc.
Ngày xuân sắp đến. Các bạn một hôm kéo đến nơi tôi trọ để họp mặt. Bàn luận hồi lâu, kết cục các bạn nhất quyết khuyên tôi nên xuất bản một cuốn văn mùa xuân. Coi đó là việc to tát quá, tôi rùng mình, giẫy nẩy lên mà chối, vì tôi vẫn cảm thấy văn chương mình hình như còn dở lắm. Nhưng các bạn văn cam đoan sẽ làm giúp tôi nhiều bài thật đặc sắc mà lại cho tôi làm tác giả. Các nhà báo thì hứa sẽ viết bài phê bình ca tụng nó, kỳ cho sách chạy hết, thu vài trăm bạc về đi hát mới nghe. Ái Hoa, Ái Nguyệt thì ôm lấy cổ tôi mà nói nựng như dỗ trẻ: “Anh nên cho đời biết tài anh để chúng em được thơm lây! Nếu không, tình nghĩa chúng ta kể từ đây là đoạn tuyệt…”.
Nghe những lời thúc giục, khuyến khích ngon lành ấy, tôi xin phép các bạn cho tôi mười phút để nghĩ cho lung đã. Tôi tưởng tượng hàng mấy ngàn cô gái đẹp nõn nà sẽ ấp ủ cuốn sách của tôi vào lòng, sẽ đặt nó xuống dưới gối thêu khi ngủ để mộng một cuộc viễn du khắp trời xuân xa lạ với nhà thi sĩ đa tình. Khắp mọi chỗ sẽ có sách tôi, mọi người sẽ đón đọc văn tôi, cuộc hội họp ở các văn phòng sẽ kính cẩn nhắc đến cái tên “Hồng Vân thi sĩ”. Thật là vinh dự. Vậy còn lo gì mà không cho cuốn “Hương xuân” ra chiếm một địa vị trên văn đàn Việt Nam?
Tôi ưng thuận. Và khi cuộc họp tan, anh Kiếm Thần dắt tôi đến nhà in điều đình việc in sách, in quảng cáo. Xong việc ấy, anh Quốc Bảo dắt tôi đến nhà Vạn Bảo để tôi len vào đám đông người cầm cho chú khách Tầu tất cả những quần áo tôi mới may để lấy tiền đặt cho ông chủ nhà in. Vừa xong việc, Ái Hoa, Ái Nguyệt kèm tôi đi đến nhà một me tây già để bắt tôi xỉa tiền ra chuộc hai bộ cánh tân thời mà vì thua chắn, hai ả đã phải cầm tạm từ tuần lễ trước.
Mấy ngày sau, khắp các mặt tường đầu phố, khắp các cửa hàng hiệu sách ở Hà thành, người ta đã thấy mảnh giấy vàng in hai chữ “Hương Xuân” và cái tên “Hồng vân thi sĩ” thực lớn bằng mực đỏ.
Mấy ngày sau nữa, trong khi khắp vỉa hè phố hàng Bồ, hàng Gai, các thầy đồ ngồi bán tranh Chuột, bán câu đối đỏ, chợ Đồng Xuân bán đào, bán quất, bán các thực phẩm dùng ngày Tết, thì ở khắp hiệu sách người ta cũng bày món hàng văn chương cao quý của tôi.
Đêm nào tôi cũng trằn trọc trong chăn với trăm thứ mộng tình tốt đẹp. Sáng nào tôi cũng dậy rõ sớm cạo mặt, chải dầu bóng, mặc bộ tây cũ còn sót lại nhưng tôi đã thuê là gần như mới, mắt đeo cặp kính trắng mà Kiếm Thần đưa tôi mượn cho có vẻ đại gia thi sĩ, rồi tay cắp một mớ báo cũ, một mớ sách mà tôi có ý để hở mấy chữ “Hương Xuân” và cái tên Hồng Vân thi sĩ cho người đi đường trông rõ. Tôi trịnh trọng bước xuống cầu thang, song phải bước rón rén kẻo bà cụ chủ nhà gọi giật lại hỏi nợ, hỏi tiền cơm thì khốn. Khi thoát được ra đường, tôi vênh mặt, nghênh ngang đi lấy điệu, nhìn người này, ngó kẻ kia, có lúc cúi gằm mặt xuống cho ra vẻ một nhà thơ hay một triết lý gia đang mải suy nghĩ.
Qua hiệu sách nào tôi cũng nhìn vào. Thấy cô hàng sách nào xinh xinh, tôi bước hẳn vào trong, định tự giới thiệu, nhưng tôi lại hồi hộp, ngơ ngác ra bộ tìm một cuốn sách, đoạn bẽn lẽn quay ra. Gặp mặt bạn ngoài đường, bất luận thân hay sơ, lớn hay bé, tôi níu lấy, bắt tay thật mạnh, rồi nói huyên thiên về văn thơ, báo chí.
Tết đã qua, sự nô nức của thiên hạ mừng xuân đã nhạt, tôi cắp một chiếc cặp da rõ lớn đến các hiệu sách thu tiền, vì tôi yên trí sách của tôi lẽ tự nhiên là phải bán hết cả rồi.
Nhưng sự thực trái hẳn điều dự tưởng: sách tôi không một ai mua! Các cô hàng sách xinh đẹp nhăn nhó kêu rằng từ xưa tới nay, chưa có một cuốn nào khó bán như thế, dù là một cuốn sách tồi mạt hạng, một cuốn sách chỉ đáng để vứt đi, một cuốn truyện kiếm hiệp ba xu bẩn như miếng rẻ lau bàn ghế.
Tôi như bị người ta ném xuống cái vực sâu ba mươi trượng! Tôi lại hớt hải chạy đi khắp các hiệu khác, và vực sâu kia tôi càng thấy nó sâu hơn.
Về nhà, tôi bỏ cả ăn uống, nằm thẳng cẳng như chết dở.
Giữa lúc đó, tôi nghe tiếng giầy giẫm lộp cộp trên thang gác, tôi tưởng là các bạn đến để mình được chia xẻ nổi buồn, vội vàng ngồi nhỏm dậy nhưng kẻ vừa lên đó là… bà cụ chủ nhà và ông chủ nhà in. Ông này, mặt hầm hầm hỏi tôi món tiền thuê in sách. Tôi sợ hãi đứng khúm núm gãi đầu tìm lời khất. Ông đập bàn đập ghế cự tôi, và ông báo trước trong ba ngày không trả được, ông sẽ kiện tại tòa. Rồi ông hầm hầm đi xuống. Bà cụ chủ nhìn tôi như có vẻ mát ruột, bằng lòng lắm.
Tôi lập tức đi tìm các bạn, hy vọng lấy tình nhường cơm xẻ áo bấy nay họ sẽ cứu giúp tôi, song đập cửa từng nhà mới hay họ trốn mặt tôi.
Gặp Ái Hoa, Ái Nguyệt ngoài đường tôi cuống quýt vẫy, họ giục xe chạy thẳng, làm như chẳng quen tôi. Tôi tức giận, đến nhà Ái Hoa đập cửa, tên đầy tớ ra nhìn rồi nó thương hại kể tôi nghe: Ái Hoa, Ái Nguyệt chỉ là hai ả điếm làm nghề khiêu vũ trong các tiệm. Bọn văn nhân, thi sĩ của tôi xui chúng nó học thuộc lòng những bài thơ của tôi, tán phỉnh tôi để lợi dụng tính hiếu danh, hiếu thắng của tôi mà bóp lấy tiền, rồi chia cho cả bọn cùng tiêu. Việc bí mật này nó biết được là vì nó đã nghe trộm chủ nó và bọn văn sĩ nọ bàn định với nhau trước khi thi hành cái mưu kế nhét đầu tôi vào giọ.
Tôi ngã ngửa người, tức giận đến phát điên. Nhưng may trong khi điên như vậy, tôi chợt nghĩ ra một kế để gỡ thoát nỗi nguy nan. Tôi gửi điện khẩn vào Huế cho thày mẹ tôi nói là ốm nặng, hiện đang nằm ở nhà thương. Tôi phải nói dối, vì đã nhiều lần viết thư xin tiền nhà, tôi đều bị thày mẹ tôi cự tuyệt không cho, bởi tôi tiêu hoang phí lắm.
Quả nhiên mấy hôm sau, tôi lĩnh được “măng-đa”. Tức khắc, tôi đi trả tiền ông chủ nhà in, tiền cơm trọ. Rồi chán Hà thành, thù cả sự nghiệp văn chương, tôi xách va li ra ga vô Huế.
Trên toa xe lửa, tôi ngồi thu hình trong một xó, chán nản hết sự đời. Than bụi bám đầy tóc, đầy lỗ tai, lỗ mũi, đầy quần áo, tôi không muốn lau, muốn phủi, tôi chỉ muốn liều nhảy xuống đường tàu cho những bánh xe ghê gớm nọ sả xác tôi ra làm nghìn mảnh, nghiến bẹp cái sọ khốn nạn chỉ chứa một trí dại dột, cuồng ngu.
Tôi dựa đầu vào tấm cửa gỗ mà ngủ gật. Bỗng tàu chạy qua một cái cầu sắt, tiếng động ầm ầm, tôi choàng tỉnh. Khi ấy, tôi chợt thấy bên cạnh tôi, một bà cụ già cũng người xứ Trung kỳ đang cúi mở va li lôi ra một cuốn sách. Tôi thấy cái bìa sách quen quen, vội giụi mắt nhìn, thì ra đó là cuốn “Hương xuân”. Tôi có một cảm giác là lạ chạy khắp mình. Để ý dò nét mặt vị độc giả yêu quý, nhưng trên cái khuôn mặt già nua, khắc khổ ấy, tôi không nhận thấy một nét gì biểu lộ một xúc cảm đối với những dòng chữ dưới cặp kính của bà.
Tuy vậy mặc lòng, tôi vẫn có cảm tình với vị độc giả đầu tiên của mình. Tôi vẫn không ghét con người già nua ấy, vừa đọc vài câu lại lắc lư cái đầu tóc bạc theo tàu mà ngủ lia ngủ lịa, mặc cuốn sách rơi xuống dưới chân. Mỗi lần bị đánh thức bởi tiếng còi tàu thét, bà lão lại vội vàng tìm cuốn sách, nhặt lên, lau sạch bụi than, đọc vài dòng rồi lại ngủ, cuốn sách lại bị rơi xuống dưới sàn đầy vỏ cam, bã mía.
Tôi tưởng tượng đấy là một bà mẹ hiền từ, một vị phu nhân cao quý khi về nhà, sẽ dịu dàng đặt cuốn sách của tôi vào tay một cô con gái thân yêu. Rồi vị tiểu thư đó ngồi một mình trong chốn thâm khuê sẽ nâng niu nó, hé miệng hoa ngâm đọc từng dòng những lúc vén rèm chờ trăng xế, những lúc gây lư trầm ngồi gẩy khúc đờn tỳ…
Tôi ôm khối mộng ấy trong giấc ngủ ngồi mệt nhọc cho tới hồi khuya, tàu đến Huế.
Ra khỏi nhà ga, tôi bảo xe chạy theo xe bà cụ nọ nhưng chẳng mấy lúc chiếc xe ấy đã mất hút trong màn đêm đen kịt.
Tôi giục xe chạy thẳng về nhà. Cả nhà tôi đang ngủ, thấy chó sủa vang, và thấy tôi đẩy cửa xô vào thì hết thảy mọi người đều thức dậy.
Mẹ tôi mừng rỡ ôm chầm lấy tôi mà hôn hít. Tôi ngả đầu vào ngực mẹ tôi, khóc như một đứa trẻ thơ sắp thú một tội lỗi gì…”
Tiểu thuyết thứ Bảy, số 195/1938
Những hình bóng cũ
Truyện viết một ngày trừ tịch
Năm đang tàn. Chợ Đồng Xuân đã có bao nhiêu hoa tươi bày bán. Bấy nhiêu hương sắc theo muôn màu áo, theo muôn bàn tay ngà ngọc mang đi khắp Hà thành.
Tôi bỗng chạnh lòng nghĩ tới cái chợ ở quê tôi. Chợ dựng giữa cánh đồng, bên một con sông đào nhỏ hẹp, có cái cầu bằng đá, người ta gọi là chợ Cầu Nôm. Hai ngày chợ có một phiên, và lệ thường mặt trời gần xế đỉnh đầu mới họp.
Ngày nay, đã đến hơn mười năm tôi không có dịp nào tới chợ Cầu Nôm nữa. Nhưng hình ảnh những túp lều xám mốc nối liền nhau, những cây đề cổ thụ bóng rợp trải rộng trên mặt cỏ xanh, những tiếng nói ồn ào huyên náo, vang rộn lên như sóng bể hiện giờ vẫn khiến tôi nghĩ đến, nhớ đến mỗi lần tôi đi qua một cái chợ nào nơi thành thị, hoặc ở một chốn thôn quê xa lạ.
Tôi nhớ nhất phiên chợ ngày 23 tháng Chạp. Hồi ấy tôi độ mười hai, mười ba tuổi. Mẹ tôi bảo tôi xuống ao rửa mặt, rồi lúc lên tôi đã thấy bà mở cái hòm da cũ kỹ - cái hòm da của người con gái đem theo về nhà chồng tự ngày xửa ngày xưa - bà bày ra giường chiếc khăn xếp, cái quần lụa xanh, chiếc khánh bạc, đôi giầy láng lót da trâu, chiếc áo vóc màu huyền, thêu nhằng nhịt những bông hoa to bằng cái bát. Chiếc áo ấy của ông ngoại tôi, mẹ tôi mang nó ở Huế ra rồi làm nhỏ lại cho tôi mặc.
Hôm nay, lần đầu, tôi được xỏ tay vào chiếc áo quý này. Vì từ hôm mẹ hóa phép cho tấm áo vóc thu bé lại vừa với cái mình bé gày lẳng khẳng của tôi, bà cất vào hòm ngay, thỉnh thoảng mới bỏ ra phơi nắng. Bữa nào phơi áo tôi lại có cái sung sướng được bà cắt ngồi dưới bóng cây canh giữ cho cẩn thận, kẻo sợ những thằng ăn mày, những thằng câu gà, bả chó lẻn vào lấy mất. Bao nhiêu lần, tôi chỉ được ngắm nghía chiếc áo đẹp của mình một cách khát thèm như thế mà thôi. Vậy mà sao buổi sáng hôm nay bà lại bỏ nó ra, và giục tôi mặc vội. Tôi hồi hộp cho đến lúc mẹ tôi đội khăn xong, dắt tôi ra cửa, ở đấy người u già đã đứng chờ với đôi quang thúng. Thì ra chỉ có xuống chợ Nôm mà tôi được mặc sang trọng như cậu Ấm thế này ư!
Mẹ tôi, không như mọi lần đi chợ chỉ mặc xềnh xoàng, bữa nay lại đội khăn nhiễu tam giang, mặc áo bông the, và đội nón lá dứa thêu chỉ ngũ sắc – chiếc nón Huế, chiếc nón của người con gái đem theo về nhà chồng tự ngày xửa ngày xưa.
Từ làng tôi xuống chợ, phải đi chừng ba cây số, theo dọc con sông. Thực là cực nhọc! đôi tất vải màu hoa đào ở chân tôi cứ trơn tuồn tuột trong cặp giầy mới, mỗi bước, giầy lại bắn đi rơi cả xuống ruộng, mà nếu bước mạnh nó sẽ rơi tõm xuống sông là khác nữa. Mẹ tôi phải dừng lại tháo tất cho tôi. Thế này đi dễ dàng hơn, nhưng lại khổ hơn, vì da giầy cứng quá, khía vào chân tôi như cắt. Tôi nhăn nhó, song cũng cố đi, chẳng lẽ bắt u già phải cõng, người ta cười chết. Tôi nhận thấy mọi người đang ngắm nghía tôi: cái thằng bé con sang trọng như cậu Ấm.
Đến chợ, việc cần hơn việc mua bán là mẹ tôi bảo u già ngồi dưới một gốc đề coi quang thúng, rồi dắt tôi tới chỗ các cô đồng dí họp.
Chỗ này đông nhất chợ. Trai gái xúm xít ghẹo nhau, và trêu các cô dí trẻ. Họ đặt trầu cau, đặt tiền để lỡm cô đồng: họ đọc tên, đọc tuổi một người có mặt ở đấy cho cô dí khấn. Thế rồi, một phút thôi, cô dí suýt xoa, vong hồn cái người... đó đã tự cõi âm về nhập vào cô. Cô rền rĩ hát:
Hồn rằng hồn thác ban ngày...
Hễ nghe thấy tiếng sì sào tỏ ra không chịu, cô liền chữa:
... Thương cha nhớ mẹ, hồn rày thác đêm.
Tiếng cười phá lên. Bọn trai gái tinh nghịch cúi xuống nhặt đòi lại món tiền chinh trên đĩa của cô đồng dí, rồi kéo nhau đi trêu cô khác.
Nhưng mẹ tôi thấy vậy rồi bà vẫn tin cô dí, tin quả có hồn về dưới mặt trời chói lọi đang đứng giữa đỉnh đầu! Bà triệu hồn ông ngoại tôi về. Một phút lâm râm khấn vái xong, cô đồng đã khá già này cất tiếng hát, giọng nỉ non, buồn rứt xương, rứt thịt. Tôi khẽ hỏi mẹ tôi: “Mả ông ở mãi tận Huế, sao ông bay ra mau thế? Mà ông nói tiếng Huế cơ mà?” Bà vội bịt ngay mồm tôi, vì bà đang kính cẩn nghe vong hồn ông tôi nói về những việc âm dương, cứ như chính ông tôi đã sống lại, ngồi ngay đấy.
- Ông dặn con sau này cố học mà làm quan. Nhà ta có ngôi mộ bà nội đang kết, sẽ phát về con...
Mẹ tôi nói câu ấy bằng một giọng vui mừng và tin tưởng trong lúc trở về, chúng tôi đi theo dọc bờ sông.
Từ hôm đó, tôi càng được mẹ tôi yêu quý bội phần. Những chiếc quần áo đũi ruộm hoa hiên, vỏ sò mẹ tôi đem phát cả cho trẻ con hàng xóm, rồi nhờ người ra tỉnh mua vải trúc bâu cát bá về may cho tôi mặc. Bà sốt sắng mua giấy bút, dắt tôi lên trường huyện học vỡ lòng.
Tôi không bao giờ quên được những buổi tinh sương, mẹ tôi dậy thổi cơm cho tôi để đến trường. Nhất là những buổi sáng mùa đông, nằm trùm chăn, tôi lắng nghe tiếng guốc của bà sẽ động trên nền sân đất rắn, tôi lắng nghe tiếng gạo sát vào lòng rá bên vại nước cạnh gốc cau.
Dậy ăn cơm, tôi thấy sách vở bút mực của tôi đã xếp sẵn cả rồi. Bà đưa tôi đến tận cửa trường, và đón tôi về ngày bốn lượt, không ngày nào thiếu. Những buổi tối đèn hết cả dầu, mẹ sợ tôi không học được phải xách chai sang tận làng bên mua, đi qua mấy cánh đồng, qua một cái miếu cây cỏ mọc um tùm gọi là miếu “Hai Cô”, người ta bảo thiêng lắm. Lần nào mẹ tôi cũng đứng lại khấn vái một lúc lâu, tôi chắc bà kêu cầu cho tôi học mau tấn tới... để sau này làm quan, như lời vong hồn ông ngoại tôi báo trước!
Học để làm quan! than ôi! cái hi vọng quá to tát ấy của mẹ tôi có viên mãn được bao giờ.
Mẹ tôi từ trần năm tôi mười bốn tuổi, mang theo cả cái hi vọng đứa con mình sẽ làm quan.
Ngày nay, giá mẹ tôi còn sống thì thật là đau đớn biết bao nhiêu. Cái đứa con bà hằng mong ước sẽ làm quan ấy vẫn chưa làm gì cả, nếu bà không muốn nhận rằng chính thật ra nó cũng có một nghề, cái nghề viết văn nhọc mệt và bạc bẽo, cái nghề hỡi ơi, không biết sống bây giờ rồi chết bao giờ.
... Khi ngọn đèn đã sáng, đôi mắt hiền dịu của mẹ tôi cũng sáng lên nhìn vào bàn tay tôi vụng dại tô những nét chì trên trang sách.
Muốn tôi không buồn ngủ để học nhiều, bà thường hay kiếm cho tôi một thức gì ăn. Thức tôi hay ăn nhất là khoai lang nướng. Những củ khoai lang vàng ngọt nóng bỏng tay, mẹ tôi bóc sẵn bày trên đĩa. Những hạt ngô rang khéo quá, nở trắng như những đóa hoa nhài đổ đầy chiếc rổ mây. Mẹ tôi ngồi hàng giờ dưới bếp rang từng mẻ một, mang lên bảo tôi ăn cho ròn, nóng. Tôi quên sao được tiếng đôi đũa tre quẹt quẹt vào mảnh nồi đất vỡ lót một lần cát mỏng..., cái tiếng đều đặn khô khan lẫn với tiếng củi nổ lách tách, tựa hồ xé vỡ cả cái im lặng đang đông đặc lại trong trời khuya vắng.
Ngày nay, những buổi tối mùa đông, có biết bao chiếc bóng lúi húi đi dưới vòm cây, dưới hàng hiên, trong ngõ tối... những chiếc bóng ấy rao bán ngô rang. Tôi nhớ ngay đến đứa trẻ ngồi khoác chăn lên mình bên chiếc đèn con, tập đọc, và tập viết... Tôi nhớ ngay đến người đàn bà ngồi trong xó bếp tối tăm, cái bóng to rộng in lên tấm vách ám tro khói, đang cầm đôi đũa quẹt đi quẹt lại trong chiếc mảnh nồi...
Người đàn bà đó đã chết từ lâu. Đứa trẻ ấy giờ đây “đã mang lấy nghiệp vào thân”, ấy là cái nghiệp viết hết truyện này sang truyện khác, viết không còn có thì giờ mà tính sổ để xem hôm nay năm sắp tàn mình đã viết được bao nhiêu truyện rồi.
Những hạt ngô, rang khéo quá, nở trắng như những đóa hoa nhài! Than ôi, tôi có còn nếm lại cái vị thơm bùi của những hạt ngô rang khéo quá ấy nữa đâu, như ngày xưa ngồi tập đọc và tập viết. Bây giờ, những đêm ngồi bên cây đèn điện trong gian phòng ấm áp, tập giấy trắng đặt trên bàn, tôi viết từng trang... Nhưng đâu còn có những hạt ngô nở trắng như những bông hoa nhài, nó đã thay bằng chiếc đĩa sắt chất cao tàn thuốc lá, vỏ hạt dưa. Đó là thói quen khi tôi thức đêm viết truyện, cũng như ngày xưa cái thói quen tối nào muốn học, mẹ tôi phải cung cho khoai nướng, ngô rang.
Tôi nhớ mẹ tôi cứ ngồi chọn từng hạt ngon đưa tận miệng tôi. Tôi lại nhớ, một đêm gần đây, một cô gái Huế nằm trên một chiếc bồng ở sông Hương, cắn từng hạt dưa đưa vào tận miệng tôi giữa lúc tôi lơ mơ say thuốc phiện.
Biết đến bao giờ quên đi!
Nắng đầy cả sân, vườn. Ấy là lúc mẹ tôi yêu nắng và tiếc nắng, nếu bỏ phí không phơi dưa, củ cải, phơi quần áo hay gội tóc. Nhất là gội tóc. Cách ba ngày bà lại phải gội một lần, sự sạch sẽ ấy đã bị đàn bà hàng xóm cho là dởm. Bởi người ta thấy mẹ tôi gội được mớ tóc thật là vất vả. Làn tóc dầy và dài chấm gót, thả đầy một chậu thau đồng lớn; lúc chải bà phải đứng lên giường, thả tóc xuống mới không bị vướng.
Ít ra cũng dùng năm sáu quả chanh, và bao giờ mẹ tôi cũng gội bằng thứ nước trầm. Thì ra cái thói vương giả, đài các của mẹ tôi, đến ngày sa cơ mà cũng vẫn còn.
Tôi chỉ săn đón lúc bà chải tóc để lượm những sợi bị đứt. Ngày ngày, tôi ham lượm tóc như con gà ham lượm thóc rớt trên thửa ruộng vừa mới gặt xong. Tóc mẹ tôi rụng nhiều, lòng tôi mừng lắm!
Những buổi trưa, tôi đem sách ra ngồi ở ngoài thềm. Đó chính là lúc tôi dỏng cả hai tai để ngóng cái tiếng dép lẹp kẹp đi qua ngõ, tiếng rao lanh lảnh của mụ đồng nát: “Ai tóc rối đổi kẹo ra?” Cái tiếng ấy mà cất lên thì dù đang học, đang ăn cơm, tôi cũng chạy đến các lỗ vách, các khe phên, kẽ liếp moi móc ra những mớ tóc tôi nhặt được của mẹ tôi. Đem tóc ấy ra đổi lấy que kẹo mạch nha hồng hồng dẻo quánh, ăn ngon lịm người, đến nỗi tôi thành nghiện, hôm nào mưa gió hàng kẹo không tới thì tôi thèm rỏ rãi. Một dạo, mẹ tôi ốm, tóc rụng rất nhiều tôi tha hồ nhặt, tha hồ ăn kẹo. Khi khỏi ốm, mớ tóc dầy, dài và óng chuốt của mẹ tôi đã mỏng đi, ngắn đi và khô xác. Nhưng cũng từ đấy, tóc mẹ tôi không rụng nữa. Tôi phải đi nhặt của những người đàn bà, con gái trong làng. Rình để nhặt, khốn nạn như con mèo rình ăn vụng. Vậy mà quá yêu tôi, quá chiều tôi, bà không hề đánh mắng. Một lần mẹ tôi ngồi sưởi nắng và chải đầu dưới gốc cây na. Tôi ngồi cạnh thầm mong sao cho tóc mẹ tôi đứt rõ nhiều, song chẳng có sợi nào bị đứt. Tôi mếu máo. Thấy thế, mẹ tôi lại phải chải thêm. Mỗi bận những chiếc răng lược nhọn sắc cào sát da đầu, mẹ tôi nhăn mặt suýt soa, hai mắt lấp lánh ngước nhìn tôi. Hý hửng được nhiều tóc rụng, tôi có để ý gì đến đôi mắt ướt ấy đâu!
Một lần, không bao giờ tôi quên. Một buổi trưa, mẹ tôi đang khâu vá thì kêu nhức đầu, nằm xuống nghỉ. Tôi đang ngồi vẽ nhảm, bỗng ngoài ngõ tiếng mụ đàn bà đổi kẹo cất lên. Tôi sục tìm các lỗ, các khe vẫn giấu tóc, chẳng còn một sợi nào, mà cơn thèm kẹo đã đưa nước bọt lên đầy cả miệng.
Tôi đứng sững nhìn mớ tóc dài của mẹ tôi sổ ra buông lòa xòa xuống đất.
Một ý táo bạo nảy ra, tôi nhìn chiếc kéo may trong cái thúng ở đầu giường. Tôi cúi xuống nghe mẹ tôi đã ngủ. Nhè nhẹ tay, tôi rón cầm chiếc kéo. Ồ, chiếc kéo mới mua ở chợ Nôm phiên trước, hẳn là sắc lắm đây! Tôi run sợ toan để nó vào trong thúng, nhưng mụ hàng kẹo đã đến ngoài cổng nhà tôi, nước bọt vẫn tràn đầy trong miệng, ý táo bạo nọ lại nảy ra. Tôi liều. Một nạm tóc rơi xuống đất. Mẹ tôi khẽ cựa. Tôi vội lùi lại nấp sau cái cột, tim nhẩy rực lên. Mẹ tôi lại ngủ, tôi vơ nhanh nắm tóc chạy vụt ra ngoài ngõ.
Đổi xong rồi, tôi cầm que kẹo vào nhà. Mẹ tôi đã dậy, tay cầm chiếc lược, nước mắt lặng lẽ rơi xuống má.
Tôi đứng sững ngoài thềm, que kẹo rơi khỏi tay. Tôi gục mặt vào lòng bà thổn thức.
Cây mùa thu lá trút đầy trời. Lòng tôi yếu, thầm mong gió heo đừng về mạnh, đừng lột trần tất cả những thân cây. Tôi mong không gió, tôi cầu cây xanh hoa nở cả bốn mùa. Vậy mà ngày xưa... Tôi đã mong cho làn tóc mượt dài của mẹ tôi trút xuống nhiều như lá mùa thu. Tôi đã mong lượm nhặt những sợi tơ óng đẹp ấy như con gà đồng nhặt thóc, như đứa trẻ nhà nghèo nhặt lá rụng giữa cơn giông.
“Thiếu nữ ơi, giữ sao cho tóc khỏi rụng nhiều”. Tôi cầu như thế cho những giai nhân không quen biết gặp ở đường đời có làn da xanh, có quầng mắt tối, có nụ cười nhạt héo. Tôi không muốn mắt họ mờ đi vì lệ, tóc họ mỏng đi như ngành tơ liễu úa...
Vậy mà ngày xưa tôi đã cầm chiếc kéo sắc để cắt đứt cả một nạm tóc dài của người đàn bà thân yêu nhất đời tôi!
Nhưng trước hay sau sự tiêu diệt cũng đến đối với con người, dù là một nàng công chúa, một nàng tiên nữ. Mớ tóc đẹp của mẹ tôi, dẫu tôi chẳng xén bớt đi, nó cũng tan thấm vào lòng đất. Những mẩu xương của mẹ tôi đã được moi lên để đặt vào cái tiểu sành. Tôi nâng niu cái đầu lâu dập vỡ nhẵn nhụi trên tay, kính cẩn nhúng vào chiếc chậu thau đựng nước trầm thơm ngát, thứ nước ngày xưa mẹ tôi vẫn dùng gội mớ tóc dài. Vậy mà tôi vẫn ngờ là một giấc chiêm bao.
Tiểu thuyết thứ Bảy, số 298/1940
Một nàng tiên
Thuở ấy, tôi mới chừng đâu mười tuổi. Chúng tôi ở trong một căn nhà lá rất xinh bên một khu rừng.
Gia đình tôi không đông lắm: chỉ có bà nội tôi, người vú già, và... vong hồn mẹ tôi.
Bà nội tôi buổi thiếu thời đã ở Hà thành buôn hàng tơ lụa trong một cửa hàng nho nhỏ phố Hàng Đào. Người đã chịu gian lao nhiều lắm dạo chạy loạn khi Hà Nội thất thủ, quân Pháp kéo vào. Bồng con chạy hàng năm mươi cây số về làng, lại bị giặc Cờ đen đuổi, rồi lại trốn, có khi nhịn đói mấy ngày liền, ngô khoai không có mà ăn.
Buôn bán mãi, và việc đời thường thất bại càng khiến bà tôi sinh chán nản, rồi thu xếp về quê cho được an nhàn. Người thuê dựng cái nhà lá xinh xắn ấy để ở và để thờ ông tôi.
Mẹ tôi ở Huế ra, đã qua đời dưới mái nhà thân yêu đó. Bị mất mát quá nhiều rồi, nay chỉ còn có tôi nên bà nội chắt chiu tôi như hòn ngọc.
Suốt ngày tôi chỉ quanh quẩn bên bà. Những buổi sáng nắng hanh, hai bà cháu ra thềm ngồi sưởi, bà tôi thì chẻ nan đan rổ rá hoặc khâu vá áo quần, tôi thì mang quyển “Ngũ ngôn thi” ra học hay lấy miếng son tập viết trên nền gạch, do bà tôi bảo, vì người cũng biết nhiều chữ Hán.
Tôi hay lẻn vào gian phòng mà mẹ tôi đã qua đời. Hàng giờ lâu, tôi ngồi yên lặng nhìn chăm chú chiếc giường tre mục nát để tượng tưởng ra cái xác mẹ tôi đã nằm trên đó, vải trắng bó khắp mình, mặt đậy tờ giấy bản, cạnh đầu đặt cây đèn con và bát cơm quả trứng.
Nghĩ như thế rồi tôi rờn rợn, đang lúc ấy có một con cóc nhảy ở gậm giường ra, bò theo chân tường ẩm ướt, kêu lên mấy tiếng, tôi vùng chạy ngay khỏi cửa buồng.
Bà tôi vẫn cấm tôi vào rừng chơi một mình e tôi bị lạc hay bị ai dỗ đem đi mất, nhưng tôi không thấy sợ, người phải đặt ra bao nhiêu câu chuyện yêu tinh, thú dữ, rắn độc để dọa tôi, song tôi chỉ nghe lời được một hai ngày, rồi chứng nào tật nấy, tôi lại chạy tót vào rừng. Có khi nghe rõ tiếng bà tôi đứng trên đồi gọi về ăn cơm mà tôi vờ không nghe thấy, cứ tha thẩn mãi với hoa, với bướm bởi tôi thừa biết bà tôi chẳng nỡ đánh mắng thằng cháu yêu quý của bà.
Một hôm, một sự lạ đã xảy đến với quãng ngày thơ ấu của tôi một cách đột nhiên và kỳ thú.
Tôi nhớ đó là một buổi trưa hè.
Tiết trời nặng nề, oi ả và nắng tưởng chừng đốt xém cả cỏ cây. Khí mát giữa rừng cũng giảm đi đôi chút. Tôi chạy tung tăng, ngửa mặt nhại tiếng hót của con chim đậu quanh đâu đó. Có khi tôi dừng lại tìm tránh một quãng nào có vắt, có khi tôi bẻ cành cây để đập những quả lê dại cho nó rụng lộp độp xuống đầu. Nấm hương thơm phưng phức mọc đầy dưới chân, tôi nhặt bỏ vào cái rổ con để đem về cho bà tôi nấu canh ăn, hẳn bà tôi sẽ tha cho tội lẻn vào rừng. Thích chí, tôi chạy một mạch luồn qua bụi nọ, cây kia. Áo tôi bị gai móc vài ba chỗ và da rớm máu, khắp người mồ hôi toát ra, nóng bừng bừng.
Đến con suối, tôi cởi áo quần vắt lên một cành cây, lội ùa xuống. Nước mát lạnh khiến tôi phải rùng mình. Con chim bói cá đậu trên cành cây thấy tiếng động bay vù đi mất. Những con nòng nọc đang bơi quanh hòn đá rêu, thấy bóng người vội chúi cả vào hang. Thỉnh thoảng mới có tiếng một cành khô gẫy, tiếng một trái cây rơi, rồi thì rừng sâu lại im lặng như tờ.
Nước suối chảy xiết, nghe rào rào một điệu đều như khúc đàn ai bấm tự bao giờ. Tôi nằm nhắm mắt cho sóng cuốn đi nhè nhẹ theo dòng nước trong suốt đáy lót toàn sỏi tròn và trắng, như có bàn tay nào đang ve vuốt thịt da. Để nắng lọt xuống kẽ lá chơi giỡn trên người, tôi khoan khoái ngụp đầu xuống, vẫy chân tay và nhại những con chim vừa bay đến đậu trên cành hót líu lo.
Nghịch chán, tôi đứng lên lội ngược về chỗ cũ. Tôi hoảng hốt khi thấy trên cây áo quần của tôi biến mất.
Một hồi lâu tìm mãi nhọc công, tôi đành ngồi xuống tảng đá ôm mặt khóc. Nghĩ đến lúc cứ trần truồng trở về nhà bị các bạn hàng xóm reo hò chế giễu, và nghĩ đến lúc bị bà tôi mắng tôi càng khóc lớn hơn.
- Tại sao mà khóc thế, em?
Tôi giật mình vội ngẩng mặt lên, sợ hãi nhìn người vừa hỏi tôi bằng một giọng vô cùng êm ái.
Đó là một người đàn bà mặc toàn đồ trắng, khuôn mặt đẹp lạ lùng, nước da hơi xanh, đôi mắt đen, và cái miệng xinh tựa bông hoa thắm nhất của rừng xanh.
Nàng bước đến, vuốt tóc tôi:
- Làm sao em khóc? Nói đi, chị giúp.
Tôi kể lại việc mất áo quần, nàng mỉm cười nắm lấy tay tôi:
- Chị biết chỗ người ta giấu áo quần em. Nhưng ở giữa rừng cơ, ở một chỗ kín lắm, em theo chị...
Tôi theo sau nàng. Nàng bước đi uyển chuyển; những bước chân nhẹ quá, không làm xao động đến cả một chiếc lá vàng khô.
Một nàng tiên! Có phải đấy là một nàng tiên vừa tự trên trời hiện xuống giúp tôi, vì thấy tôi là một đứa trẻ khôi ngô và ngoan ngoãn. Vừa bước, tôi vừa hoang mang nhớ đến những câu chuyện cổ do bà tôi kể, bao giờ cũng bắt đầu bằng câu: “Ngày xửa... ngày xưa, có một đứa trẻ ngồi bên đường khóc, ông bụt hiện thành lão ăn mày chống gậy đến hỏi rằng: Con làm sao mà khóc?”
Nhưng bây giờ, ông bụt ấy không biến ra lão ăn mày, mà lại hóa thành một cô tiên đang đi trước mặt tôi kia.
- Em có mỏi chân không?
Tôi chưa đáp thì nàng đã bảo tôi ngồi xuống bên một búi cây rậm rạp, và ở đấy cũng có một dòng suối chảy giữa những đám lau sậy um tùm.
Nàng bẻ một cây sậy, lấy nước suối đưa tôi uống. Đoạn nàng ngồi sát cạnh tôi, nhìn chằm chằm vào tận mặt tôi như nhìn một vật gì kỳ lạ. Thấy mắt nàng sáng lên, tôi sợ sệt ngồi lùi lại. Nhưng, thốt nhiên, nàng ôm chầm lấy tôi, bế xốc tôi vào lòng, hai cánh tay nàng ôm ghịt cả người tôi riết chặt vào tận ngực... Tôi thấy tôi như bị một con trăn lớn quấn tròn vào giữa. Nàng cúi xuống cắn vào mặt tôi, vào môi tôi; khắp người tôi buồn buồn vì bàn tay nàng xoa vuốt...
Tôi không kêu mà cũng không kháng cự. Tôi cảm thấy như thể là cô tiên ấy yêu tôi, yêu một đứa trẻ kháu khỉnh, mũm mĩm, cho nên tôi cứ nằm gọn trong lòng nàng.
Nàng bỏ tôi ra, đặt tôi ngồi trước mặt. Và nàng cầm tay tôi nhìn rất lâu những đường chỉ trên gan bàn tay rồi bảo:
- Về sau, lớn lên, em sẽ sung sướng lắm. Em có số đào hoa, sẽ được nhiều người yêu mến, như là chị yêu em lúc này.
Tôi không hiểu, chỉ ngây ra nhìn nàng.
Bỗng nàng cười rít lên một cách ghê rợn, rồi bá cổ tôi mà hôn. Hôn xong, nàng đứng dậy, đến một bụi cây, lấy quần áo của tôi ra:
- Em mặc vào đi!
Nàng ngắt hoa kết thành một vòng tròn quàng vào cổ tôi, giọng êm ái:
- Đây là vòng hoa của vinh quang chị tặng trước cho em. Mai sau, em đừng quên rằng chị đã tặng em vòng hoa này nhé!
Nàng buồn bã nhìn tôi, rồi đứng dậy quay đi.
- Thôi, vĩnh biệt em!
Tôi chạy theo nắm lấy áo nàng, mắt tôi rơm rớm ướt.
- Chị ở đâu, tên chị là gì... cho em biết để em về nói với bà em?
Nàng vuốt má tôi:
- Em bé ngoan quá. Thế em đã được học chưa?
- Em học chữ nho, bà em dạy.
Nàng cúi nhặt một hòn sỏi, viết hai chữ lên tảng đá gần ngay đấy.
- Đó, tên của chị. Còn nhà thì em không cần biết làm gì.
Tôi cúi gần xuống đọc. Nhưng ác thay hai chữ ấy tôi không đọc nổi vì khó quá, bà tôi chưa bảo.
Tôi ngoảnh lại định hỏi, nhưng cô tiên của tôi biến mất rồi. Tôi ngắt một chiếc lá, lấy que viết theo nét hai chữ đó, rồi bỏ vào túi áo, mang về hỏi bà tôi.
Thấy cháu về, bà cụ già hiền như bụt ấy chạy ra giang hai tay đón, ôm chặt vào lòng.
Tôi vội vàng lấy chiếc lá ra khoe:
- Bà ơi, ban nãy cháu gặp một cô tiên ở rừng. Cô tiên yêu cháu, quàng vào cổ cháu vòng hoa này, rồi cô viết tên cô lên tảng đá. Tên cô đây này, bà đọc hộ cháu, đi bà!
... Đến nay, bao nhiêu năm qua rồi mà người đàn bà ấy vẫn còn sống ở lòng tôi. Nàng bao giờ cũng là một nàng tiên hiện rực rỡ trong tâm tưởng tôi như hình ảnh Đức bà Marie để tôi thờ, tôi kính.
Tôi quên làm sao được buổi trưa hè ấy giữa rừng..., quên làm sao được cặp môi thắm ấy đã đặt vào cặp má mũm mĩm của tôi, và bàn tay ngà ngọc đã đặt lên thân thể của tôi.
Nàng là người đàn bà đầu tiên mở lòng cho tôi nhận biết, sau này, cả một trời hương ân ái... Nàng thường hiện ra trước mắt tôi, mỗi lần tôi đau khổ vì những cơn thất bại trong đời, rồi tôi tưởng tượng thấy cái bàn tay xinh mát ấy vỗ vào vai tôi, nói một giọng êm đềm: “Tại sao mà đau khổ thế Hoài?”
Bao năm nay, bao nhiêu người đàn bà đã bước vào cuộc đời niên thiếu của tôi, để rồi lại ra đi, phũ phàng như cơn gió độc - cái tâm hồn trống trải như quán chợ chiều này than ôi, nào có đón được gì đâu!
Có ai yêu làm gì anh chàng nghệ sĩ suốt đời khó tính, không cho cái gì là vững bền, không cho cái gì là tuyệt đối, chỉ hoài nghi, chỉ đùa giỡn với tất cả thế tình!
Tôi tin sẽ chẳng bao giờ tôi có thể gặp một người đàn bà như nàng tiên tôi đã gặp trong ngày thơ xưa, - ồ, ước mong làm gì! - chính nàng tiên ấy trọn đời sống ở lòng tôi rồi mà!
- Tố Hà! 
Hai chữ Hán mà hôm ấy bà tôi khẽ đọc bên tai, ngày nay tôi cảm như còn vọng vào tận đáy tâm hồn, vọng vào mãi mãi.
Tố Hà ơi! Ta muốn Tố Hà không là một kẻ phàm trần đủ xương, đủ thịt, ta muốn Tố Hà phải là một cô tiên đã ở một tinh cầu nào hiện xuống để gặp ta hôm đó giữa rừng, giống như một truyện thần tiên huyền ảo của muôn ngàn năm xưa.
Hà ơi, hãy xếp cặp cánh thiên nga lại, đừng có bao giờ bỏ lòng ta, phụ tình ta mà bay trở về trời nữa nhé!.
Tiểu thuyết thứ Bảy, số 232/1938
Hội chợ vì hội chợ
Trưa hôm thứ bảy, trời mưa rả rích. Tôi đang ngồi trước bàn giấy, cáu tiết vì chưa viết được bài để xếp vào số báo tuần sau thì thi sĩ J. Leiba bước vào, mũ, áo ướt như chuột lội. Anh giằng bút tôi vứt xuống bàn, vỗ vai tôi, cười khoan khoái, rồi chừng quá hứng, anh vừa hát vừa khiêu vũ một mình.
Tôi ngồi yên mặc anh làm những cái anh muốn, bởi tôi đã biết cái tính nết anh khi được yêu, nó “khỉ” như thế là thường lắm. Hát chán, anh chải đầu, đánh phấn, sửa lại chiếc pochette của “mợ choai” mới tặng, đoạn kéo ghế ngồi, nghiêm trang bàn với tôi về cái chương trình đưa “Phẩm tiên” của anh xuống Nam xem hội chợ. Lúc ấy, tôi sực nhớ ra ngày mai tỉnh Nam Định sẽ có cuộc vui. Người ta sẽ gặp dịp khoe những cái: trên ưỡn, giữa thon, dưới nở, người ta sẽ gặp dịp ngắm những cái ngang tàng, gớm ghiếc của các công tử Hà thành tải xuống để dọa hoa. Đầu tôi nóng lên bởi ý nghĩ đó, rồi tôi thèm đi xem hội chợ. Nhà thơ J. Leiba vạch tay áo xem giờ, đắc chí vì người yêu sắp đến để khởi hành. Anh cất giọng ngâm mấy câu thơ trong bài “Lệ Ảnh” của anh đăng trong tuần báo “Tin Văn”, dưới ký cái tên tàu Thanh Tùng Tử.
Nàng Dương chăm gội tóc mây thơm,
Trắng dịu mình ngà, thịt đẫm hương,
Son phấn điểm đô làn má thắm,
Quần non ấp ngọc gợi yêu đương...
- Đời thú lắm, anh!... Kia, “Phẩm tiên” của tôi đã đến... Em tôi bữa nay vấn tóc, đeo kiềng đẹp tuyệt.
Dứt lời, anh đội mũ, bước vội ra ôtô. Chiếc xe chạy vụt ngay tức khắc.
Đang lúc ấy, người loong toong của tòa báo đến đưa tôi một phong thư của ông chủ nhiệm Vũ Đình Long. Xin thực thà chép lại nguyên văn:
“Chiều nay, hồi sáu giờ, chúng tôi đem xe đến đón ông, để cùng xuống Nam thăm bạn Nguyễn Công Hoan, tiếp chuyện cô giáo Minh và nhân tiện xem hội chợ”.
Tôi nhận lời.
“Nội nhân” tôi sửa soạn hành lý giúp tôi. Tôi cảm động, thầm khen nàng ngoan ngoãn. Mà các ông cũng thế chứ gì? - khi sắp đi chơi xa mà thấy các bà “nội tướng” xếp vào vali đủ các thứ cần dùng như dao cạo, xà phòng, khăn mặt, pi gia ma, sơ mi, ca vát... rồi các bà ấy lại thân chinh xách va li ra cửa, gọi xe mặc cả, vẫy tay dặn với: “Về mau kẻo nhớ!” - thì hẳn các ông cũng cảm động như tôi.
Tám giờ ba mươi, chúng tôi tới Nam Định.
Bạn Nguyễn Công Hoan niềm nở dón vào nhà. Nước nôi chuyện trò một lát, rồi chúng tôi hỏi đến cô giáo Minh. Công Hoan mở ngăn kéo lôi ra một tập giấy, nhếch nụ cười tình dưới bộ ria mép mới cấy, kéo ghế ngồi:
- Đây là cuốn tiểu thuyết “Cô giáo Minh”. Mời các ngài bình luận, trước khi cho cô ra mắt độc giả.
Tôi đùa, bảo bạn:
- Giá tác giả tốt giọng đọc cho chúng tôi nghe thì hay...
Bạn đọc.
Ông chủ nhiệm Vũ Đình Long ngả cái mình không đến nỗi thiếu thịt ra lưng ghế, hai mắt lim dim..., nghe đến đoạn Công Hoan tả đám cưới chạy tang mà gọi là “một vụ bắt cóc”, và nghe đến đoạn cô giáo Minh về nhà chồng mà tác giả gọi là đi “Tân thế giới”, thì ông vỗ đùi cười phá lên một tiếng như để khuyên một cái chấm son. Anh Lê Văn Trương, hai tay ôm bộ tóc bóng, dí đôi kính gần đến đầu gối, ra vẻ trân trọng bắt hai tai làm việc, thỉnh thoảng anh lại bắt Công Hoan nhắc lại cái câu vừa mới đọc mà anh đãng trí quên khuấy mất, hoặc anh ngửa mặt nhìn chiếc “khène” treo trên tường như tưởng nhớ những tháng năm xưa anh sống ở Cao Miên. Anh Thanh Châu, thở khói thuốc, vừa nghe vừa nhìn những tấm ảnh xinh xắn vẽ sơn, tựa hồ nhà thi sĩ đang tìm tứ để tả một cảnh đủ hoa, lá, nước trời..., rồi anh ngắm chiếc ảnh mỹ nhân như nhớ đến “Angèle”, cô gái giết người trong thiên tiểu thuyết ngắn anh đã viết....
- Thế nào các ông? có đoạn nào cần bổ chính?
Công Hoan đọc xong, đặt xếp giấy xuống bàn, nhũn nhặn hỏi “chư thính giả”. Thì cũng nhã nhặn, chúng tôi góp thêm ý kiến, tuy bộ truyện của anh đã hoàn toàn hay.
Mười hai giờ khuya, ngoài phố khách chơi đêm gõ mạnh gót giầy trên đường vắng. Gió bấc rung ngọn cây bên hè xào xạc. Bỗng một điệu kèn khiêu vũ ở phía xa đưa đến..., anh Thanh Châu, có lẽ tâm hồn rạo rực vì tiếng gọi say sưa của chiếc pick-up đâu đây..., vội nhảy xuống cầu thang, ra phố, thăm dò cảnh lạ của Nam thành.
Đêm ấy, Công Hoan và tôi nói chuyện suông cùng cô giáo Minh - người đẹp vô hình - mãi gần đến sáng...
Một đêm chay tịnh...
Hôm sau, trong hội chợ chật ních những người như buổi chợ ngày ba mươi Tết. Chỉ khác cái, người ta không chen chúc nhau để mua thịt, cá, mà người ta chỉ có mục đích mua những cái liếc, những cái chạm nhẹ vào xác thịt nhau.
Gã này, thu chiếc máy ảnh trong tay, nheo mắt, sịt mũi, toét miệng cười một cái cười quá đỗi vô duyên; mỗi khi gặp một vài công nương đi qua trước mặt, hắn vội giơ máy lên ngắm, bấm..., rồi sung sướng lủi đi chỗ khác, trông chẳng khác một thằng ăn cắp vừa vớ được “miếng mồi” ngon.
Gã kia, làm ra bộ tay chơi ở nơi văn vật xuống, dắt một cô gái nhảy, ngang nhiên ngửa mặt nhìn thiên hạ, tưởng chừng như người yêu mình chửa biết yêu ai...
Cái mà người ta nhìn thấy luôn luôn là những chiếc bài ngà, mà sau mỗi chiếc bài ngà lại kèm một vài cặp môi son, má phấn...
Đi qua gian nhà bán các đồ thêu, Công Hoan đưa mắt bảo tôi nhìn một thiếu nữ đang đứng chúi đầu vào tấm gương con, trát phấn, bôi son, kéo sợi tóc mai xuống má, ưỡn ẹo nguýt tình, hệt như cô em chồng “cô giáo Minh” mà anh đã tả.
Chợt anh sửng sốt, rỉ tai tôi:
- Ta vào gian kia, sẽ có nhiều sự lạ.
Chúng tôi vào gian nhà bày những chiếc xe hòm kính sơn bóng loáng. Rồi anh chỉ cho tôi ngắm một bà tuổi ngoại sáu mươi vừa lùn, vừa mẫm. Theo sau bà, một tiểu thư gầy mà đẹp. Anh bảo nhỏ:
- Đó, mẹ chồng “cô giáo Minh”!
Tôi sực nhớ đến mấy câu văn “lầy nhầy những mỡ” của anh dùng để tả chân bà lớn Tuần, rồi tôi ngắm kỹ cái bà đứng trước mặt tôi, thì bà ấy cũng lầy nhầy những mỡ!
Chúng tôi vừa toan quay đi thì có một tiếng gọi đích danh anh Hoan, khiến anh vội quay đầu lại:
- Kìa cô Minh! Cô đi với bà lớn?
- Thưa vâng. Sao độ này anh không gởi báo cho em?
Anh Hoan cười đánh trống lảng, nói sang chuyện khác, nhưng cô vẫn không quên nhắc câu hỏi ấy:
- Anh gởi báo để em đọc truyện “Cô giáo Minh”. Mà sao anh lại đặt tên cô giáo nào cũng là Minh, trùng với tên em? Nếu anh không gởi báo về phủ, em sẽ kiện!
Mỉm cười, anh đáp:
- Thì cô có làm cô giáo đâu mà kiện!
Thiếu nữ khoe hàm răng trắng:
- Tối nay, me em đến nhà anh đánh tổ tôm, em cũng ngồi một chân đấy.
Sau gáy tôi, một tiếng quát khiến tôi giật nảy mình.
- Lệ! mày đi hầu thế ư? Tao lại quật cho mấy cái cán ô vào sọ bây giờ!
Tôi ngoảnh lại, chưa kịp “khám phá” tiếng quát của ai trong chỗ chợ người thì thiếu nữ tỏ vẻ ngượng ngùng, khẽ nói với anh Hoan:
- Gớm me em hay gắt quá! Lúc nào cụ cũng tưởng như ở phủ!
Cô nói xong, bước ra chỗ bà lớn đứng. Mặt mũi bà đỏ gay, hầm hầm tức giận, mà năm ngón tay mũm mĩm, nếu không nể công chúng, sẽ tát cháy má anh lệ gầy oặt như cây sậy.
Chúng tôi quay ra, nghĩ đến “những điều trông thấy” vừa rồi, thực nó phản cái thuyết “bỏ quan” của “Phong hóa”, mà cười.
Tối, riêng anh Thanh Châu, không bị sợi dây gia đình trói cẳng, ở lại vui với các hoa, tôi về Hà Nội.
Đến nhà, mấy đứa cháu nhỏ bên hàng xóm chạy sang xúm xít quanh tôi, hỏi quà; cô em gái rối rít đòi nước hoa, phấn, sáp. Tôi sực nhớ rằng tôi quên bẵng không mua những thức mà cô em quí đã dặn đi, dặn lại hàng mấy chục lần từ trước. Tôi đang an ủi cô em gái thì “nội nhân” của tôi ở trên gác xuống lườm tôi, nét mặt buồn rầu. Ngạc nhiên, tôi hỏi duyên cớ vì đâu mà giận dỗi. “Nàng” không đáp, ngồi phịch xuống giường, bưng mặt khóc. Tôi chán nản, ngây như pho tượng. Lũ trẻ, miệng tròn tựa con số chín cụt đuôi. Cô em lảng đi chỗ khác, ngồi phụng phịu.
Một lát sau, “nội nhân” tôi mới cất giọng nghẹn ngào, trách móc:
- Tôi đã biết mà... xuống Nam xem hội chợ, đi với gái... Đàn ông điêu trác thế thì thôi...
Trời ơi, nào tôi có đi với gái! Tôi cãi, tôi hùng biện với “nàng” cũng như, tối hôm trước ở Nam, anh Lê Văn Trương hùng biện với Công Hoan về những thuyết cá nhân sai lầm, vô lý, những thành kiến ích kỷ mà tai hại... Tôi hết sức viện đủ đức tính tốt của tôi để làm chứng, nhưng với lửa ghen kia, lời nói tôi không đủ làm tắt được. Sau “nàng” đứng phắt dậy, mở ngăn kéo, lôi ra một mảnh giấy dí vào mắt tôi.
- Thế cái gì đây? Còn chối nữa đi!
Các ông có hiểu cái chứng cớ đó là cái gì không? Thì tôi xin chép lại:
“Chiều nay, hồi 6 giờ, chúng tôi đem xe đến đón ông cùng xuống Nam thăm bạn Nguyễn Công Hoan, tiếp chuyện cô giáo Minh và nhân tiện xem hội chợ”.
- Đấy, chẳng tiếp chuyện cô giáo Minh là gì đây. Chẳng nhân tình với cô giáo Minh là gì đây! Thế mà còn lý sự, còn cãi, ai nghe được.
Tôi tức quá, cắt nghĩa mãi về bức thư kia, song “nàng” nhất định chẳng chịu tin lời. Mấy đứa cháu xúm lại giễu tôi, cô em gái, được dịp trả cái thù quên không mua phấn, sáp, cũng chế tôi thảm hại. Tôi vụt nghĩ đến cuộc bút chiến hăng hái giữa bốn phê bình gia về cái đầu đề “Nghệ thuật vị nghệ thuật”, rồi tôi lại so sánh nó với cuộc “khẩu chiến” giữa tôi và “nội nhân” tôi, cô em gái và lũ cháu nhỏ tôi - thì ra lúc ấy, nó là cuộc hội chợ gia đình, chỉ vì đi xem hội chợ công chúng!
Nỗi ức không giải được, tôi uất quá, nhịn cơm, tức mình... ăn luôn hai nải chuối ngự Nam của văn sĩ hoạt kê Công Hoan gởi tặng làm quà!
Suốt đêm ấy, tôi không ngủ được. Sau tức cảnh, tôi vùng lên, bật đèn, ngồi hí hoáy viết bài “phóng sự ngắn” này để tự minh oan một cách cao thượng, lặng lẽ, - cũng như cô giáo Minh của Công Hoan, một nàng dâu tân thời lúc nào cũng sống nhẫn nại, thản nhiên mà gánh những nỗi âm thầm, đau đớn, chua cay, vì, dưới cái chết độ hà khắc của nhà chồng, nàng không được ai hiểu thấu lòng nàng...
Từ bữa đó, chúng tôi quả quyết... giận nhau.
Cho mãi tới hôm nay, nhận được số báo mới, “nội nhân” tôi rọc ra xem, thấy đăng tiểu thuyết “Cô giáo Minh” mới biết tôi bị tình nghi oan uổng. “Nàng” cười sung sướng, xin xử hòa.
Tôi cũng tạm nguôi nỗi ức, bởi nhờ có cái ghen “con nỡm” đó, nên tôi đã có dịp hiến “chư độc giả” một câu chuyện ngắn hình như không đậm lắm. Song, tuy vậy mặc dầu, tôi có thể cam đoan bài “phóng sự” đây chín mươi chín phần trăm có thực, và nhân tiện, tôi xin các ngài đừng nỡ nghi oan tôi đã dụng ý cổ động cho “cô giáo Minh” đấy nhé!
Tiểu thuyết thứ Bẩy, số 80/1935
Lucie
Tôi mừng rỡ khi thấy Lucie trong vườn. Tôi vừa dựng xe đạp ngoài bờ rào chưa kịp gọi thì Nana, đứa con  gái lên sáu tuổi của Lucie, thấy tôi vội reo lên. Tôi nhấc bổng Nana hôn vào má và vào tóc. Như mọi khi, Nana thọc tay vào túi áo tôi tìm kẹo. Nhưng lần này không có kẹo, mặt đứa bé xinh đẹp ngộ nghĩnh ấy xịu ngay đi.
Lucie đứng dậy mắng yêu con, rồi giơ tay cho tôi bắt.
Nhìn bàn tay người đàn bà thân yêu, tôi rầu mặt lại. Lucie chưa rụt tay về, nhìn vào mắt tôi:
- Sao Hoài có vẻ buồn?
Tôi không dám hỏi. Tôi ngạc nhiên vì nhẫn cưới của chồng Lucie tặng Lucie năm xưa sao bữa nay không còn ở ngón tay Lucie nữa?
Không cần hỏi, tôi cũng đoán có lẽ Lucie đã bán mất rồi.
- Hoài, sao cứ buồn thế để tôi phải buồn lây…
- Không, có gì buồn đâu! Chỉ vì thấy tay Lucie nóng, tôi tưởng Lucie lại ốm.
Nàng cười phá lên:
- Ồ, Hoài làm như mình là thày thuốc ấy. - Và giọng nàng hạ thấp:
- Hoài ơi, sự thực thì lúc nào tôi chả ốm. Ốm cả tinh thần nữa kia.
Nàng và tôi cùng lặng im. Nana chạy tung tung đùa với cái bóng in dài trên mặt cỏ dưới nắng thu, đến đưa tôi giữ hộ con bướm, rồi lại chạy đi.
Lucie sửng sốt vỗ vai tôi bảo:
- Chết chửa! Đứng mãi đây à! Mà Hoài cũng chưa vào xem nhà mới của tôi. Hãy thăm vườn đã.
Chúng tôi đi bên những luống hoa huệ, hoa yên chi, những cây huyết dụ, những khóm phù dung…
Tôi buồn tay ngắt một bông, rồi ngắt bông nữa, xé cánh vất đi. Lucie trách:
- Đừng phí phạm thế. Đây là hoa của người nghèo. Họ thuê đất chủ nhà để trồng hoa đem ra chợ bán. Lucie bây giờ cũng là một người nghèo, nghèo hơn họ, cho nên Lucie phải thương người cùng cảnh. Đây này, vào mà coi, trong nhà lọ hoa vẫn bỏ không, tuy trước nhà có một vườn hoa tươi tốt.
Đây là một căn nhà gỗ hình như dựng đã khá lâu năm. Những đồ đạc sang trọng của Lucie, bây giờ chỉ còn sót lại cái giường, bộ bàn ăn, cái tủ áo nhỏ với một cây đàn guitare.
Cây đàn này, Lucie trân trọng giữ gìn, nó là vật kỉ niệm của người chồng hiện giờ ở Pháp, không bao giờ trở lại Đông Dương nữa. Nhưng có thể chăng, một ngày kia, Lucie sẽ phải bán nốt cho người, vì sinh kế? Tôi đau đớn nhìn cây đàn treo dưới bức ảnh René. Người đàn ông ấy ở xa Lucie quá. “Xa” n ghĩa là “chết” hẳn ròi. Còn mong gì người ấy trở về đây. Một lá thư cũng chẳng hòng nhận được nữa là!
Ngày René ra đi là một ngày thu. René hẹn trở lại Đông Dương ba năm sau, vậy mà năm hẹn quá bao nhiêu tháng ngày rồi! - Lucie đã mỏi tay bóc lịch và mỗi ngày, nàng bỏ một tờ lịch vào chiếc hộp sơn để thỉnh thoảng đem ra ngồi đếm rồi ôm Nana mà khóc.
Lucie đẩy tách cà phê đến trước mặt tôi, lơ đãng hỏi:
- Thế nào, Hoài?...
Lần nào gặp, Lucie cũng hỏi câu ấy bằng một giọng chán chường tuyệt vọng, vì nàng biết trước rằng để trả lời câu ấy, tôi đành chỉ lắc đầu. Lucie nhờ tôi đến nhà mấy người Pháp bạn René, hỏi thăm tin tức chồng nàng.Sở dĩ nàng không dám giao du với những người bạn chồng sang trọng ấy như xưa là vì hiện giờ Lucie đã vận y phục An Nam và ở một cái nhà tồi; Lucie tránh mặt, sợ người ta khinh bỉ.
“Thế nào, Hoài?...” Lucie không bao giờ dám nói: “René hẳn đã có một người vợ ở Paris đẹp lắm, giàu lắm, có phải người ta đã nói với Hoài như thế rồi phải không? Hoài giấu tôi làm gì nữa!”
Ờ, sao Lucie chẳng hỏi tôi như thế, vì đó là tin có thực hoặc có thể đúng cơ mà! Tội nghiệp, chỉ vì Lucie còn nhớ, còn yêu chồng quá, nàng sợ “sự thực” làm tan mất sự chờ mong mà nàng cần bám vào nó để sống, để tin rằng mình vẫn còn chồng.
- Tôi cho Hoài xem cái này nhé, có thể đoán trước là cái gì không?
Tôi chịu. Lucie đặt trước mặt tôi quyển Album.
Nàng ngồi cạnh tôi, giở từng tờ. Đây là mấy tấm ảnh Lucie chụp với René trong những cuộc đi du lịch hầu khắp Đông Dương. Hồi ấy Lucie đẹp hơn bây giờ nhiều, ăn mặc như tất cả những người đàn bà Pháp giàu sang.
Tôi buồn rầu ngước mắt nhìn Lucie. Nàng đặt tay lên vai tôi, và má nàng áp má tôi nói khẽ:
- Hoài thương tôi lắm à? Cảm ơn. Nhưng tôi cũng không cần tiếc thời sung sướng ấy. Tôi chỉ tiếc có René. À, quyển nhật kí của tôi Hoài đọc xong rồi chứ, và nghĩ thế nào?
- Tôi thấy Lucie yêu René lắm.
Lucie thở dài:
- Có lẽ tôi không thể yêu ai hơn người ấy được đâu, Hoài ạ.
Lòng tôi bỗng bị một cái gì bóp chặt, như là một sự hờn ghen. Tôi cúi xuống để Lucie khỏi đọc thấy cảm giác của tôi.
Tôi gấp quyển Album lại, kính cẩm đặt lên tay nàng.
Lucie vô tình không biết lòng tôi, nàng đỡ lấy bỏ vào tủ, rồi quay lại mỉm cười:
- Còn việc học đàn nữa chứ? Trong tuần lễ này, Hoài tấn tới khá nhiều.
Tôi đỡ cây đàn xuống, gảy một bản mà Lucie dạy buổi đầu.
Bản đàn buồn quá. Tôi trút cả lòng dau, tình đau vào mấy đường tơ. Lucie nhìn tôi, mắt hoe hoe đỏ.
Lucie! Em khóc thương tôi, hay là khóc thương kẻ phương trời nào?
Nhưng dù sao lòng tôi cũng hả hê vì tôi đã làm cho người đàn bà xinh đẹp tuyệt vời kia phải khóc.
Ra đường, tôi hối hận ngay. Sao Lucie đang sầu khổ lại nỡ khiến nàng sầu khổ nữa, để làm gì?
Tôi đạp xe thẳng lên phía Hồ Tây. Gió chiều hơi lạnh. Một mảnh buồm trắng đứng yên trên mặt nước, xa hơn nữa, trên đường Cổ Ngư, những chòm cây quyện hơi sương mờ như những nét mực nhòa, thấp thoáng bóng vài con ngựa trắng.
Tôi ngồi xuống mặt cỏ, nghĩ về Lucie. Tôi ước ao lúc này Lucie đi bách bộ qua đây như mọi buổi chiều để tôi được ngỏ lòng, tôi khóc như một đứa trẻ còn thơ. Lucie sẽ vỗ về tôi, làm như lúc Nana khóc.
Trời tối dần. Tôi nhảy lên xe đạp, lại qua nhà Lucie. Dừng xe ở ngoài giậu, nhìn vào thấy Lucie đang dạy con học trên thềm. Dưới ánh sáng cây đèn dầu nhỏ, trong cái khung cảnh quá nghèo nàn, Lucie đẹp não nùng như một thiếu phụ ở nhà tu kín. Những ý nghĩ dại dột bị chìm ngay, nhường chỗ cho sự kính trọng, sự thân yêu như buổi đầu tôi sẵn có đối với người đàn bà hơn tuổi ấy, - tôi vội vàng lên xe, đạp miết vào bóng tối.
Một tuần lễ, tôi chưa dám đến nhà Lucie. Bởi tôi hổ thẹn vì những cuồng vọng ở trong lòng. Nhất định tôi phải chờ cho nó mất hẳn đi, tôi phải chờ cho lòng tôi bình tĩnh, tâm tôi trong sáng. Ngày nào cũng dậy sớm, tôi cầm quyển kinh đến nhà thờ.
Các bạn học cùng trọ tưởng tôi sẽ thành một kẻ tử vì đạo, vì trong những ngày ấy, tôi sốt dữ lắm.
Một hôm, đi học về, một bạn đưa tôi một phong thư.
Thư của Lucie! Nàng bảo tôi năng đến, kẻo bỏ dở việc học đàn; kẻo Nana nhớ, nhắc luôn.
Chỉ có vài dòng. Tôi thèm đọc nhiều kia, nhất là chữ của Lucie. Nhưng thế cũng đủ rồi, hơn không. Nana nhớ tôi ư? Sao không là Lucie, cho tôi nhảy lên vì mừng.
Hôm sau, tôi mới vào đến vườn, Nana đã reo lên, chạy ra hỏi kẹo. Lucie thì ngồi dưới gốc lựu sưởi nắng hanh đọc sách, quay lưng ra, không nhúc nhích.
Tôi tê tái muốn trở về, nhưng không hiểu sao chân tôi vẫn tiến lên. Khi cái bóng tôi in trên mặt cỏ trước mặt Lucie, nàng mới bỏ sách xuống đưa tay cho tôi bắt. Tôi nhận thấy những ngón tay nàng bóp chặt lấy tay tôi, chặt hơn mọi bận. Tôi còn nhận thấy mắt nàng sáng hơn thường, nhìn tôi ngụ bao lời trách móc.
- Hoài chăm học quá, quên cả đàn, quên cả em bé Nana.
Nana cũng bắt chước mẹ nũng nịu nhắc theo câu ấy, rồi chạy ra vườn.
Tôi muốn thú ngay với Lucie rằng trong tuần lễ đó, tôi không học được một chữ nào chỉ vì tôi khổ về Lucie, rằng tôi sợ hãi mối tình ở lòng tôi đối với Lucie, và tôi đã kêu cầu đấng Chúa Trời như một người trọng tội. Vậy mà Lucie có biết cho đâu!
Nhưng khốn nạn! Tôi không có can đảm ấy. Tôi chỉ trân trân nhìn Lucie, rồi cúi đầu lặng im.
Lucie bày mấy quả cam ra bàn, ngồi cạnh tôi, cầm dao cắt. Vô ý, lưỡi dao sắc chạm phải ngón tay. Lucie rú lên, nhăn mặt lại. Tôi vội cầm ngón tay nàng, đưa vào miệng hút cho sạch máu. Lucie ngạc nhiên. Tôi xé một miếng mùi soa lụa trên túi áo tôi buộc vào chỗ đau của Lucie và nói:
- Làm như thế thì máu mới cầm lại được. Nếu không nó còn chảy mãi.
Lucie rầu mặt nhìn ngón tay đau, rồi nhìn tôi bảo:
- Hoài nhổ máu ra, ngậm mãi trong miệng thế à?
Tôi lấy thuốc lá hút, trả lời:
- Tôi đã nuốt máu của Lucie vào bụng rồi. Những giọt máu ấy sẽ vào tim tôi, trộn với máu tôi. Bây giờ Lucie có bắt tôi nhổ ra cũng không được đâu Lucie ạ!
Nàng kéo tôi đến sát ngực ngàng, rồi gục vào vai tôi mà khóc.
Tôi sung sướng lặng yên nghe những tiếng nức nở từ một trái tim đã bắt đầu đập vì mối tình tôi; tôi lặng yên nghe những giọt lệ trong cặp mắt đen kia đã bắt đầu cho bóng tôi in vào đấy, nằm ở đấy.
Tôi vuốt tóc Lucie, vỗ về:
- Đừng khóc nữa… Đừng khóc nữa…
Và tôi đặt môi lên tóc nàng, nói rất khẽ, rất dịu như tiếng nhủ thầm say sưa:
- Hoài cảm ơn Lucie đã thấu lòng Hoài…
Lucie ngẩng đầu lên:
- Hoài ạ, Hoài đã khiến Lucie sực nhớ đến René yêu quý của Lucie…, vì cũng đã có một lần, chồng Lucie cũng hút máu ở tay Lucie như Hoài vừa làm lúc nãy…, và cũng nói như Hoài rằng: “Máu ấy sẽ trộn vào tim René mãi mãi”, - vậy mà tình của chúng tôi, Hoài biết đấy, nay còn có nghĩa lí gì đâu!
Người tôi chết lặng đi. Tôi bị bẽ bàng. Tôi hờn giận Lucie hơn là thương hại.
Nana ở ngoài vườn chạy vào trèo lên ghế, gài lên ve áo tôi bông hồng. Tôi cúi hôn trán Nana rồi cáo từ Lucie.
Hôm nay tiết trời lạnh quá, lạnh thế này mà mẹ con Lucie ở một căn nhà trống trải ngay hồ thì chịu làm sao!
Tôi tung chăn ngồi dậy nhìn ra vườn, rồi mặc áo quần định đến với Lucie.
Vừa xuống hết cầu thang thì người phu trạm đến đưa tôi một phong thư. Tôi mừng cuống quýt vì biết ngay đó là thư của bà nội tôi ở Huế. Trong đó có một tấm mandat và một bức thư đầy những lời khuyên răn toi về việc học. Không có một lời trách móc của người. Tôi cứ yên trí thế nào cũng bị người thống mạ, vì người phí tổn về tôi nhiều quá: tôi gửi thư luôn luôn để tống tiền, mà kì thi Tú tài vừa rồi, tôi lại rớt, rớt những hai lần.
Tôi chạy thẳng ra nhà bưu điện, rồi vào Gô Đa mua làm quà tặng Lucie vài đồ mĩ phẩm, mua cho Nana chục cuốn len, mấy thứ đồ chơi. Lần này, mới tới cửa, tôi đã lớn tiếng gọi:
- Nana!
Cô bé xinh xắn chạy đến tôi, nhẹ như con bướm. Nana đỡ gói nặng trên tay tôi, hí hửng vào nhà, gọi mẹ.
Lucie nằm trên giường. Tôi đứng sững ngoài thềm. Nàng vẫy tôi.
Tay tôi bị cóng lạnh, không dám bắt tay Lucie, nhưng nàng cầm tay tôi kéo ngồi bên gối.
Mắt Lucie thâm quầng và không còn sáng nữa. Môi khô và hơi thở phào phào. Nàng ốm từ tối qua.
Tôi đứng lên chạy ra vườn xách xe đạp phóng nhanh đi tìm một bác sĩ.
Một giờ sau, bác sĩ đến xem bệnh, tiêm cho nàng. Tôi trả tiền bác sĩ, rồi mang đơn đến nhà bào chế.
Đem thuốc về, dọc đường bị mưa ướt hết, người tôi run như chiếc lá. Lucie cảm động, khóc và vuốt tay tôi:
- Hoài thương tôi lắm, không bao giờ tôi quên được lòng tốt của Hoài… nhưng số tiền ấy có lẽ cần cho việc học của Hoài…
Không muốn Lucie áy náy về việc tiền, tôi gạt đi, kề cốc thuốc vào miệng Lucie.
Suốt ba ngày tôi nghỉ học, ở liền ngay nhà Lucie để trông nom Nana trong khi người mẹ ốm. Tối, tôi bắc chiếc ghế vải ra ngoài thềm nằm ngủ, đắp bằng chiếc pardessus.
Lucie đau đớn thấy tôi bị lạnh, nhưng cả nhà chỉ có một chiếc chăn…, mà đắp chung thì không tiện, cho nên suốt đêm tôi co quắp không sao nhắm mắt, - thỉnh thoảng Lucie gọi tôi xem đã ngủ chưa. Tôi nén lòng vờ ngáy, thực ra khi ấy tôi đang hoang mang nghĩ đến Lucie, và lắng nghe tiếng gió lạnh reo vun vút cùng tiếng sóng đêm vỗ mạnh ngoài hồ.
Bệnh Lucie đã đỡ. Nàng gượng ngồi đan áo cho Nana kẻo trời mỗi ngày mỗi rét mà Nana không còn áo gì mặc thêm cho ấm.
Nàng đối với tôi ân cần hơn trước, và giục tôi về đi học.
Nhưng món tiền bà tôi gửi, tôi đã tiêu hết vào việc mua đồ tặng và thuốc thang cho Lucie, lấy đâu để trả tiền trọ và học phí.
Tôi đành cáo ốm xin nghỉ học hết tháng ấy. Không có một trinh trong túi, một hôm, tôi liều gói chiếc pardessus, một bộ đồ nỉ đến nhà Vạn Bảo cầm.
Không nhằm ngày nghỉ, tôi không dám đến Lucie, sợ nàng biết tôi nghỉ học. Hàng ngày, tôi vào thư viện đọc sách, ngồi cho hết giờ lại về gác trọ. Có hôm, buồn quá, tôi vào vườn Bách Thảo, ngồi tẩn mẩn nhổ râu bằng hai đồng trinh. Những ngày ấy, ở công viên này không có ai, trừ người gác. Mỗi lần nghe tiếng vượn kêu, tôi buồn có thể khóc lên. Trời rét quá, áo pardessus cầm cố mất rồi, vận bộ đồ mỏng mảnh nên mặt tôi xanh xám. Thế rồi một buổi tối về quán trọ, tôi thấy ngực đau rức và ho. Lucie ơi, em có biết rằng tôi khổ vì em lắm đó không? Không! Không bao giờ em biết được tôi lang thang vất vưởng hàng ngày như thế trong khi em ngồi đan áo ấm cho con, lòng mong mỏi một người đàn ông khác ở dưới trời sương tuyết, xa cách em muôn ngàn dặm trùng dương, - xa xôi quá, vậy mà em vẫn nhớ, vẫn mong - còn tôi, ở gần em, em có nghĩ đến bao giờ!
Chờ mãi mới tới ngày chủ nhật. Tôi mượn tạm bạn một bộ đồ rét, hăm hở đến Lucie. Hôm nay trời hửng nắng. Khu vườn hoa trước nhà Lucie như rắc phấn vàng. Hình như đã đoán thể nào tôi cũng đến, Lucie đứng đợi sẵn ngoài thềm.
Thấy tôi, Lucie vui vẻ ra cửa đón. Mới vào nhà, tôi đã thấy trên bàn ăn bày sẵn vài món điểm tâm. Nana rối rít khoe áo len mới, rồi ngoan ngoãn ngồi cạnh tôi.
Sau bữa lót lòng vui vẻ, Lucie mở tủ lấy ra chiếc foulard quàng vào cổ tôi:
- Len Hoài mua, đan áo cho Nana không hết, vậy tôi đan cái này tặng lại Hoài.
Cái khăn len ấm quá! Có lẽ suốt mùa đông, tôi không cần chuộc lại những áo quần ở nhà Vạn Bảo. Chỉ một chiếc khăn len này, chiếc khăn len do bàn tay ngọc ngà của Lucie đan cũng đủ sưởi ấm trái tim tôi.
Hôm nay, Lucie dạy tôi một bản đàn mới nữa. Lucie bảo rằng: “Bản đàn này, ngày xưa René đã gẩy tôi nghe trên một boong tàu chạy giữa trùng dương trong thời trăng mật. Đêm ấy, trời đầy ánh sao, biển đầy ánh trăng…”
Lucie nức nở, cây đàn rơi xuống mặt thềm. Tôi vội cầm lên: hai đường gỗ nứt chạy ngang cung. Lucie bưng mặt khóc.
Tôi đau đớn hơn Lucie nhiều, nhưng than ôi, tôi chỉ đành khóc ở lòng tôi thôi.
Túng tiền quá, tôi đã xoay xỏa như một người nghiện ngập đê hèn. Thật vậy, tối hôm nay vét va li không còn gì để sáng mai đem lên nhà Vạn Bảo, tôi phải lục tủ sách lấy mấy quyển đem đến một hiệu mua sách cũ ở Bờ Hồ bán. Bán xong, tôi đi lang thang qua các phố, vừa ốm xác thịt vừa đau cả linh hồn. Qua một tiệm khiêu vũ, tiếng âm nhạc đưa ra khiến lòng tôi rạo rực và tôi nghĩ ngay đến một chỗ ngồi ấm cúng ở góc phòng, trước mặt một cốc rượu mạnh sẽ làm cho da thịt cóng lạnh của tôi được nóng lên.
Phòng khiêu vũ nhuộm màu hồng, một vũ nữ quen nhìn tôi nháy mắt. Tôi đứng dậy, ả giơ tay để tôi ôm. Ả nhai kẹo luôn mồm, cười rú như yêu tinh. Tôi khó chịu mong cho hết bài nhạc ấy.
Chợt có một bóng người in ngoài gương kính. Cánh cửa mở ra, người ấy hiện rõ ràng.
- Lucie!
Tôi bỏ vũ nữ bước ra quên xin lỗi.
Lucie nhìn tôi với vẻ căm hờn, rồi xăm xăm tiến ra ngoài cửa. Tôi vội gọi bồi trả tiền rượu, đoạn chạy theo sau:
- Lucie! Tại sao lại đến chỗ này đang khi trời mưa gió?
Nàng tưởng tôi ngờ vực nàng đi chơi, nên nàng đứng lại quắc mắt nhìn tôi:
- Tôi đi tìm Hoài! Tôi không bằng lòng cho Hoài trác táng! Hoài sẽ ốm, tôi sẽ đau khổ vì Hoài… Hoài có biết tôi bỏ con ở nhà để đến nhà trọ tìm Hoài, rồi lại dầm mưa đi gần khắp tỉnh, ướt cả áo thế này đây!
Tôi nắm chặt tay Lucie, mắt sáng lên. A! Tôi đã được Lucie yêu, bởi nàng đã ghen. Bảo rằng không, thì công đâu Lucie đi tìm tôi như thế. Mới có ba ngày, sợ phải trông thấy hai vết nứt của cây đàn, tôi không tới Lucie. Mới có ba ngày, Lucie đã nhớ tôi đến thế kia ư?
Tôi van lơn xin lỗi Lucie, thiết tha an ủi Lucie. Chúng tôi khoác tay nhau đi dưới trời mưa lạnh. Giọt mưa trên cành cây rơi xuống, tôi ngửa mặt mà đón lấy. Tôi bước nhè nhẹ, không dám nói to, sợ nỗi vui ở lòng tôi sẽ vì một tiếng động nhỏ mà bay mất.
Men rượu lúc này đã đủ làm người tôi nóng rực, lại thêm hơi ấm ở mình Lucie.
Đến cửa, Lucie bảo tôi trở về nhà trọ. Tôi muốn nài Lucie cho tôi được phép vào nằm co quắp trên chiếc ghế vải ngoài thềm lạnh như hôm nàng ốm, nhưng nàng buồn bã ôm lấy tôi, ngửa môi cho tôi hôn, rồi đẩy tôi ra, vội gài cửa lại.
Noel.
Ngày hôm ấy, tôi đi bán mấy quyển sách nữa, lấy tiền mua đồ chơi, bánh kẹo và một chai rượu, rồi đến với Lucie.
Nana vui thích, bá cổ tôi hôn từ ngoài cửa.
Muốn Nana mừng, tôi chặt một cây nhỏ, trồng vào cái chậu đất đặt giữa nhà. Tôi lấy giấy trang kim dán vào các cành, các lá, làm đèn xếp treo tứ phía, và buộc kẹo bánh và những con búp bê vào nữa. Đó là cây Noel.
Nana hí hởn chạy nhảy chung quanh cây, reo hát. Tôi mang đàn ra đánh một bài vui, cùng hát với Nana.
Lucie thắp nến trước tượng Đức Bà. Rồi nàng mở rượu, kề cốc tận môi tôi.
Đến đêm, chờ Nana ngủ say, chúng tôi ra đường, đi bộ đến nhà thờ Cửa Bắc.
Tôi chìa cánh tay cho nàng khoác. Hai chiếc bóng âm thầm đi dưới trời sương.
Buổi lễ tan, tôi đưa Lucie trở lại nhà. Đứng sau cánh cửa, Lucie giơ tay cho tôi bắt.
Tại sao thế nhỉ!
Tôi không thể hiểu lòng Lucie.
Tôi quay đi, nhưng đứng nấp vào xó tối. Chờ khi đèn trong nhà nàng đã tắt, tôi trở lại, nhẩy qua bức rào găng thấp, vào vườn.
Tôi trốn sau một bụi cây. Tim tôi đập thình thình, nhưng vẫn lắng tai nghe ngóng. Tiến lên, tôi không có can đảm, mà lui ra thì hình như chân tôi bị chôn xuống đất rồi.
Bỗng có tiếng người, rất khẽ:
- Hoài!
Tiếng của Lucie. Tôi đứng phắt ngay lên. Nàng đứng đầu thềm, vẫy tôi tiến lại gần:
- Biết trước mà! Thế nào lần này Hoài cũng nấp ở đây. Khổ chưa! Tôi muốn nén lòng tôi, tôi muốn cố lãnh đạm với Hoài mà không được! Hoài cứ nhất định ép tôi phạm lỗi với chồng, với con. Lạy Chúa, Chúa rửa tội cho con! Lại đây, Hoài! Lại đây, Hoài!
Hoài thân ái của tôi,
Thế là hết rồi, Hoài ạ. Sao Hoài cứ đòi hỏi ở người đàn bà đau khổ này nhiều quá thế. Sao chúng ta không cầm lòng để làm đôi bạn trọn đời thương nhau?
Tôi cũng không dám trách Hoài, vì Hoài đang độ có một trái tim đầy yêu thương, ham muốn, Hoài có đủ ngông cuồng để làm hại bất cứ một người đàn bà yếu đuối nào mà Hoài bắt gặp ở chợ đời…
Tôi cũng không hối hận vì đã để Hoài chinh phuc. Xin Thượng Đế tha thứ cho tôi và người đàn ông ở cõi trời xa kia tha thứ cho tôi, bởi vì bao giờ tôi cũng chỉ là một kẻ đàn bà!
Xin vĩnh biệt Hoài sau khi viết bức thư này. Tôi đã vào nhà tu, Nana thì đã được bà Sơ nuôi dưỡng.
Hoài đừng nghĩ gì về tôi nữa, Hoài nên gắng công mà học, như thế tức là Hoài vẫn yêu tôi.
Tôi tin rằng sau này Nana và Hoài sẽ còn gặp nhau. Ngày ấy, tôi tin chắc Hoài sẽ chưa già.
Hôn Hoài và vĩnh quyết
LUCIE
Phấn hương, Nxb Tân Dân, H., 1939.
Ông Chọc tiết
Này! Các cụ, các ông, các bà Hà Nội! Có còn nhớ anh Chọc tiết tức là “Ông Hà Nội” chém mười ba cái đầu Yên Bái đó không?
Nói trắng ngay rằng hắn đã làm đồ tể ở cái thời “Hà Nội băm sáu phố phường” còn là bãi chiến của những thứ hào kiệt kiểu Lương Sơn Bạc như Hàn Bái, Tư Dậu, rồi thì Phúc Đen, Năm Hà Đông. Thuở ấy, Hà Nội tráng một lớp men phong kiến đẹp như bức phông Quảng Lạc vẽ tháp mốc, cầu son của Kiếm hồ văn vật, dân chúng hoàn toàn chỉ là những khán giả ngây thơ chất phác, vỗ tay trước cái mép nhọ của anh kép Tín, trước tiếng than đường trường của chị đào Đính Tam Long, và rất sợ trước cái đầu Quan Công của kép Sáu Phủ dựng râu trợn mắt làm cho Ngô Tôn Quyền, Tào Tháo ngã nhào xuống bệ.
Ở giữa cái xã hội mà lớp người Việt răng đen yên phận làm khán giả và hạng người thống trị múa lưỡi lê như các tướng tuồng hát bộ múa thương tre đao gỗ, “ải ải” một tiếng thì khán giả run lên đó, thưa các ngài, anh Chọc Tiết kia đã hàng ngày xoay trần trùng trục để mà chọc tiết lợn, tiết bò rồi thì say khướt nuốt hồng hoa với tiết canh.
Sau đó, năm ngôi nhà lớn đã được mọc trên Hà Nội, anh Chọc Tiết bỏ lò sát sinh đường Lò Đúc, ném dao đồ tể, để vào Hỏa Lò làm nghề đao phủ thủ.
Này, các cụ, các ông, các bà Hà Nội! Có còn nhớ thằng Chọc Tiết tức là “ông Hà Nội” chém đầu như sung rụng đấy không? Thưa rằng hắn còn sống nhăn nhở ở cái đất cố đô văn vật này đấy ạ. Nhưng ngày nay, hắn đã trở nên một thứ cư sĩ cao điệu, lối cư sĩ đời Chiến quốc.
Tôi gặp hắn hôm nay.
Hôm nay, Hà Nội sống cái ngày Hà thành xưa xưa rộn tiếng voi hí ngựa lồng tiền hô hậu ủng của tả quân Lê Văn Duyệt.
Thế mà mình cứ muốn kiêu căng hay là ngậm ngùi cũng vậy, để tự ví mình với ông già Công Trứ. Bởi vì, chán đời chưa, chỉ vì đi làm “phóng sự ông Chọc Tiết, ông Hà Nội” mà suýt nữa bị ngã dưới bánh xe Chiến quốc.
Tôi thăm hắn trong một tòa nhà trông thẳng sang Đề lao Trung ương, bao lơn lối quân chủ của lâu đài cụ Thượng mà mái thì nhọn hoắt và dốc tuột kiểu công thự ông bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại, trên đó tuyết rơi tuồn tuột xuống đã tan như lời hứa hẹn với cái thuộc địa béo tốt này.
Chọc Tiết tiếp tôi trong đại sảnh, trên tường treo ảnh một nàng ca nữ Nhật và một thanh trường kiếm.
Tôi vào chuyện:
- Thế nào, lão huynh độ này có ý kiến gì với quốc sự? Cứ khoác áo củ sĩ an phận nằm trong màn bát tiên mãi, người ta ghen đấy.
Chọc Tiết cười ha hả:
- Màn bát tiên à, tôi vẫn tưởng rằng tôi đang nằm trên bể máu!
Và giọng hắn thì thầm như thằng sát nhân xin rửa tội:
- ... Máu đồng bào, ông ạ!
Nói thật tình, tôi có cảm giác mình đang ngồi trước gã Javert trong tác phẩm “Những kẻ khốn khổ”, nghĩa là tôi vụt nghĩ đến câu chuyện thằng mật thám lúc nào cũng mang cái ám ảnh ghê sợ máu và ma. Chọc Tiết tự tay pha cốc nước giải khát màu đỏ thắm. Hắn mời tôi, và hắn uống. Tôi yên lặng nhìn mặt anh đao phủ to nặng như mặt kẻ thắt cổ đã ba ngày và nhìn cái thân thể béo căng để nghĩ đến con lợn nổi trên dòng phù sa lụt bão. Hắn xòe bàn tay nắm chiếc cốc, tôi liên tưởng đến giây phút bàn tay hùm beo đó ấn cổ kẻ tử tù ốm yếu vào đúng lưỡi dao máy chém, và ngắm cái chất nước đỏ kia chui vào cổ hắn, tôi nghĩ tới những tia máu phùn phụt của phạm nhân chảy trong lòng máng rớt theo đầu lâu vào hòm mạt cưa dưới máy.
Tôi hỏi thân mật và trắng trợn:
- Thực tình, có nhớ ngày oanh liệt, một dao hạ mười ba thủ cấp trên Yên Bái?
Chọc Tiết lờ đờ mắt nhìn sang bãi cỏ bao quanh chân tường cao vút loáng mảnh thủy tinh và dây điện của nhà pha bên kia đường phố vắng. Thốt nhiên, anh đao phủ trở nên một sử gia ngồi ôn cố sử. Hắn lặng lẽ nhìn khói thuốc. Tôi đoán hắn đang nhớ lại một buổi sáng mù sương rừng Yên Bái xa vời.
Đột ngột, Chọc Tiết nhổm người lên:
- Ghê quá, cái đầu lão Ký Con dao máy hạ hai nhát mới chịu lìa. Cái đầu Đức Chính mới ghê hơn chứ. Mình càng ấn, hắn càng ngóc lên để mà hô... Đời tôi, trảm đã hai trăm lẻ bốn chiếc đầu, thế mà mẻ ấy mình thấy trợn. Lão Ngáo Huế mà có được trảm bữa đó cũng phải chùn tay. Tôi nhớ mãi, tôi nhớ mãi...
Chọc Tiết với chai vang đổ tràn miệng cốc và uống cạn một hơi. Chao ôi, lão đao phủ uống vào lòng cả một đêm “Yên Bái đỏ”!
Tôi thốt rùng mình và ngước nhìn thanh trường kiếm trên tường màu vôi đỏ như màu chiếc quan tài.
Tôi cầm mũ. Trước khi tiễn khách xuống cầu thang, Chọc Tiết còn không quên với thanh kiếm, rút ra khỏi vỏ gỗ rừng Phù Tang bọc da cá sấu Tân Gia Ba và quắc mắt nhìn lưỡi thép, anh đao phủ cười khanh khách:
- Năm vừa rồi, một anh Nhật phiệt cho tôi đấy. Cứ nhìn ba đóa anh đào nạm vào đốc kiếm này đủ biết là gươm võ sĩ đạo ba đời. Nó hứa cho mình thanh liễu diệp đao uốn tròn như vòng dây cót đồng hồ bỏ túi, thế rồi thì chưa kịp cho mình nó đã mất đầu.
Thanh trường kiếm nhuộm máu này lại nhắc tôi nghĩ đến cái máy chém sừng sững trong sương lạnh những ngày ảm đạm năm nào. Tôi bước nhanh xuống cầu thang, và ra cửa. Chọc Tiết bắt tay tôi. Giữa đôi cánh cửa hoa sắt sơn đen, sợi xích dài và chiếc khóa khổng lồ reo xoang xoảng sau lưng, tôi rảo bước đi vội vào bóng chiều đổ mênh mang trong cái thành phố đang sôi nổi và quằn quại sống.
Ông Chọc Tiết. Hà Nội, Nxb Ngày mai, 1950
Đôi giầy cũ
Người hảo hán ấy quả đã một thời được mệnh danh là Cọp Xám bãi cỏ xanh.
Ở cái thuở mà Hà Nội băm sáu phố phường còn có những cô me ở trại hàng hoa, hạt vàng quấn cổ xe nhà nghênh ngang, còn có những cái xe lừa chiều chiều ì ạch đi tưới ướt những con đường đá gồ ghề; còn có bà đầm Hàng Cót dắt chó bông đi dạo phố cho trẻ con sợ sệt chạy theo sau, và bà Bé Tý ban tài phát lộc cho đến cả những tay anh chị ngõ Sầm Công, Phất Lộc, nhất là còn có những ông tướng Bổng, Cổng, Tiên, Chức, Mégy tranh bá đồ vương trên các vòng đua vĩ đại ở đại lộ Cột Cờ, thì con người hảo hán bãi cỏ xanh kia tên tuổi đã làm cho thời nhân kính phục hay là kinh sợ hơn cả mười ba cái đầu rụng giữa một đêm Yên Bái đỏ.
Hãy gọi danh thủ túc cầu ấy là Sáu Thủ. Ngoài biệt hiệu “Cọp Xám cỏ xanh”, còn hỗn danh nữa là Hùng Khoát Hải (người anh hùng thứ sáu của đời Tùy đã hai tay nâng đỡ cả tấm cửa thành bằng đá mấy ngàn cân để cho ba trăm vị phản vương và thiên binh vạn mã ôm đầu hú vía chạy thoát sức mạnh Võ Văn Thành Đô vô địch).
Vậy Sáu Thủ mỗi lần đăng đàn bái tướng ra quân, các phóng viên nhà báo lại có dịp bọc quanh anh, làm như gặp một thiên thần vừa bơi qua Đại Tây Dương hay một thứ Bát Tý Na Tra vừa cưỡi xe lửa xuống hồng trần để uống với họ một chai bia, ăn với họ một đĩa bánh tôm nóng, một chiếc bánh tây nhét đầy chả trâu ngát thìa là dúng vào liễn dấm ớt của anh Hai Răng Vàng lùn.
Thời ấy, những sớm thứ hai giở báo đọc mục thể thao, người Hà Nội ai nấy đều sung sướng như đọc truyện Phong thần, Tam quốc. Bãi cỏ Cột Cờ biến thành một chiến trường gió lửa ngút trời để cho Sáu Thủ phá ban giắt bóng, oai phong lẫm liệt.
Này là một cú ngả bàn đèn, khiến thủ thành lê dương lao người như con vượn mà thành nghiêng ải vỡ. Này là một cú đà đao, tam phong địch thủ đang lên như gió mà cũng cứ bị giạt cả ra nhường nhịn kiêng nể một mũi giầy gài cựa.
Sáu Thủ tung hoành khắp trận, cản mặt thành, trấn biên cương, tiến nam lui bắc, có khi liều mạng mở con đường máu đem ban thoát địch như Triệu Tử Long đoạt giang phò A Đẩu, có khi ung dung giải khốn phá một trái ban phạt góc như kẻ chỉ, làm tan nát cả cuộc đột kích của đối phương, đến mực ông phóng viên nằm bên khay đèn trong tiệm viết bài tường thuật phải tung bút ví Sáu Thủ là Khổng Minh mở cửa thành đánh đàn mà lui giặc, lại có cây bút ví Sáu Thủ là Hán Thọ Đình Hầu một đao chặn giữa đường núi hẹp Hoa Dung làm rụng râu Tào Tháo và làm mất vía tàn binh Tào.
Ôi chao, Sáu Thủ! Sáu Thủ của cái thời quả banh da trâu ngự trị trên nền văn minh đế quốc, của cái thời mà anh hùng ngõ Hàng Hương, Hàng Lược, Sầm Công, Cột Đồng hồ sống như những kẻ Lương Sơn Bạc, con người ấy quả thực đã là một cái đinh sắt ghim chặt vào nền bóng đá mới của xứ này.
Thuở ấy đã qua rồi. Cái đinh kia, theo luật thời gian đào thải, đã rỉ nát, rời khỏi bức tường rêu mốc.
Anh Sáu Thủ của chúng ta - nói riêng cái lớp bà con mộ điệu túc cầu còn sót lại đến bây giờ - cũng đã già nua, vô dụng như cái vỏ ba lông cũ rách mà người ta thường thấy vất ở bãi cỏ, đầu đường.
Trên bãi cỏ xanh Trung, Nam, Bắc đã tan mờ hình bóng Tương, Tốt, Vinh, Trọng, Nhuận, Lưu trâu lăn, Chấm Cụ ngả nạm thầu... Còn gì nữa, hỡi ơi, cái thời Giang Đông khảo võ: mỗi một cầu thủ phải là một chú bò rừng, một con cọp đói, một thứ Kinh Kha, đế giầy gài kín phi tiêu nhọn hoắt, bàn tay nắm chắc dao găm để lấy máu địch thủ khi loạn chiến!
Bao nhiêu bạn cùng hàng ngũ đã theo nhau ngả xuống vì thời thế, vì thuốc phiện, vì bệnh tật, nghèo nàn, vậy mà Sáu Thủ, con hùm xám bãi cỏ xanh ngày cũ, hiện nay vẫn còn lay lứt sống với cái vẻ lành hiền của chú mèo già.
- Hết cả gân rồi, ông ạ. Trông họ chạy cũng cứ ngứa ngáy cả người lên đấy, nhưng giá ai dẩy mình ra đá dăm ba quả thì chỉ còn cách nhắn vợ con khiêng về theo tiên tổ! Bây giờ thời buổi mới, các anh ấy chơi bằng trí nhiều hơn bằng sức mạnh như cái lớp già chúng tôi. Khoa học đấy, nhưng nhiều trận đấu thật tẻ buồn, thành ra cái trí và cái lực đều không thấy ở chính ngay những cầu thủ mà người ta hâm mộ nhất. Do thế, nhiều anh hữu danh mà vô thực, không như ngày xưa, anh nào trội thì trội rõ rệt, mà đã xoàng thì không thể chịu đựng nổi nửa giờ trên bãi chiến. Chưa bị đồng ngũ sa thải họ đã bị khán giả lôi cổ khỏi bãi, lột áo, đuổi về nhà.
Ấy thế, lão tướng Sáu Thủ, trong một buổi coi trận đấu Việt - Hoa đã thì thầm với ông bạn già như vậy. Ông bạn già râu mọc lơ thơ, mặt xanh, gày lẻo khẻo, mặc áo the thâm, nghiêng ô che nắng cho Sáu Thủ.
Sáu Thủ cũng râu tóc như bạn già, đứng nép dưới vành ô đen cháy nắng, lim dim mắt nhìn ra bãi cỏ mênh mông, lúc đó, cầu thủ vừa rút lui nghỉ giải lao theo thường lệ. Ông bạn già tự hai mươi nhăm năm xưa vốn đã phục uy danh Sáu Thủ, nay gặp cố nhân, mừng lắm.
Sáu Thủ tuy chẳng hề biết bạn già họ tên chi, nhưng cũng hả lòng vì biết rằng trần ai còn sót lại một người này để làm tri kỷ.
Bạn già hô cô gái mở bia. Đang khát và đang thèm nước, Sáu Thủ đỡ cốc bia ở tay bạn già, uống một hơi dài khoan khoái. Sáu Thủ lại hài lòng và hơi tiếc rằng giá gặp sớm tri âm ngay từ ngoài cổng thì hẳn là đỡ được chiếc vé bình dân. Sáu vụt nghĩ đến những chiều chủ nhật, mình phải lao đao lắm mới xoay nổi tiền mua vé, có khi nài xin tiền người vợ hai sương một nắng bán quà rong, có khi phải xoay của một anh bạn qua nhà, hay bí quá phải moi trộm ống tiền dành dụm của lũ con, thật quá thảm hại như một con nghiện đã đến giờ vật vã.
Chất bia, vì thế, không còn làm cho Sáu nguôi ngoai. Ông đứng thừ ra, mắt nhìn vào trong bãi cỏ. Ông bạn già yên trí rằng người anh hùng xưa đang nhớ lại những trận tung hoành thuở trước. Ông bèn kính cẩn nghiêng ô che nắng cho lão tướng. Rồi đó, nhè nhẹ rút thuốc lá mời. Sáu Thủ thở khói, ông rất hài lòng và cảm thấy cuộc đời còn thú lắm. Ông bạn già cũng lấy làm khoái trá, coi là vinh dự, vì giữa cái buổi phò tân phế cựu này, ông là một con người tôn cổ, xem cái ngọn mà không muốn quên cái gốc, sống trắng đầu mà không phụ ngày xanh. Lúc này đây, đứng cạnh ông là một danh tướng đã trăm trận đánh trăm trận thắng, đã làm rạng rỡ cả một thế hệ thể thao nước nhà, đã cho thiên hạ biết rằng đường ban bóng chìm ngang dọc trên bãi cỏ đều là những đường sinh lối tử của thập bát trận đồ.
Chứ không à! Sáu Thủ của giới túc cầu Bắc Việt, người đã sinh đồng thời với Lý Huệ Đường, Guichard thời cực thịnh, những danh thủ mà hai mươi nhăm năm xưa mỗi lần mặc giáp lên yên là khiến ông hồi hộp, và suốt trận đấu ấy ông là người vỗ tay hăng nhất theo những cái đánh đầu tuyệt diệu, những cú đá lông và gài sút ngầm mạng mỡ tiền phong bên địch thủ vững chắc như cột đồng. Hồi ấy người ta kính phục cầu thủ danh tiếng như tôn sùng những liệt sĩ Phạm Hồng Thái, Cô Giang, Thái Học, Xứ Nhu. Và người ta cũng yêu mến cầu thủ đại tài như hâm mộ những đào kép tuồng: Tư Lộ, Ba Bí, Tư Đinh, Tám Long, Ba Liên, Sáu Phủ, Hai Giờ, Chín Cưỡng...
Được kết thân với những bậc đế vương, đại tướng, hoàng hậu, công chúa trên sân khấu, được bắt tay và cũng nghênh ngang vào bãi với Gôn Thuận, Văn Đức Vinh hoặc Thông, Viễn, Hai, Trọng, Hiếu, hay đi với mấy tay cầu thủ sừng kền Đồng Nai những khi họ kéo đại binh ra Bắc, ấy là những thành tích phi thường mà các tay chơi hào hiệp ở đây cần phải gây bằng cái khí phách trọng nghĩa khinh tài, nghĩa là phải có tư cách chơi cái trò thượng mã để thâu nạp anh hùng làm bạn hữu.
Đã có những anh hùng ấy ở chung quanh tức là đã có một hỗn hiệu đại vương rồi đấy.
Ông bạn già hồi ấy cũng đã chịu năm ngày tiệc lớn, ba ngày tiệc nhỏ. Ông là con một vị đại thần. Ông có ấp lộc ở miền Kinh Bắc. Ông là Ấm Hiển. Ấm Hiển thuở tráng niên, đã đọc thuộc lòng bộ Đông Chu Liệt Quốc, Thủy Hử, Tam Quốc, coi ba bộ truyện ấy là cái túi khôn rộng lớn hay là chiếc kim chỉ nam cho ông nhảy vào đời, bất chấp! Nhưng Cụ Cố chán lộc dân, quy rồi. Cậu Ấm lại cảm thấy mình bỡ ngỡ non dại lắm, bèn không vào đời nữa, mà chỉ đứng ở ngưỡng cửa cuộc đời, với một cô vợ cô đầu, ở tòa nhà tây ấp lộc. Cứ chờ thứ bảy, cậu Ấm lại tạm bỏ ruộng giắt túi một món tiền ra Hà Nội, xem đá bóng và chơi hát bộ.
Vậy, ông bạn già đã là một khán giả của túc cầu, là người hâm mộ Sáu Thủ từ một nửa kiếp người rồi.
Hôm nay, gặp cố nhân, Ấm Hiển muốn mời ngay Sáu Thủ đi đánh chén một bữa linh đình, nhưng than ôi, cuộc biển dâu đã phá tan hết ấp lộc phì phiêu của cậu công tử ấy. Đến nỗi bây giờ tản cư về Hà Nội, Ấm Hiển chỉ còn là một anh kiết xác ghiền nặng túc cầu như Sáu Thủ, chủ nhật nào ông cũng xoay xở vỡ mặt mới có nổi tấm vé đi coi. May mà hôm nay, dư vài đồng bạc, đãi nhau một cốc bia, một điếu thuốc lá, bạn già nghĩ rằng thế là long trọng lắm.
Cuộc đấu đã tan. Ông bạn già cụp ô, cắp nách, theo Sáu Thủ nhảy qua bức rào xi măng cốt sắt vào trong bãi.
Sáu Thủ đi lẫn đám khán giả đang ồ ạt kéo lên khán đài xem đội ban Trung Quốc lĩnh cúp. Đến giữa bãi, Sáu hoang mang nhớ lại ngày xửa ngày xưa mình chạy ở đây, đá những quả ban chí tử giữa pháo tay vang động một góc trời. Sáu lững thững đến khung gỗ trắng, lại mang máng nhớ mình đã bao lần trấn ở cửa thành này giải khốn dẹp nguy cho đồng đội, bụi cuốn lầm lên, những gót giầy đanh rầm rập, những khối thịt lấn xô, hỗn loạn như một bầy chiến mã tơi bời trong gươm giáo. Thế mà lúc này Sáu Thủ có cảm tưởng rằng bãi cỏ kia mênh mông hơn trước, cái khung gỗ rộng cao hơn trước, mình đứng đây mà tưởng như lọt thỏm vào một vùng rừng núi.
Bóng tối đổ xuống đầu. Ra khỏi bãi bóng ông bạn già chia tay Sáu Thủ, tiến ngược lên phía trại Ngọc Hà. Sáu Thủ ngậm ngùi nhìn theo cái thân hình lom khom thất thểu khuất sau những gốc cây cổ thụ.
Sáu đi về cái ngõ cụt sau Đền Giám. Tới căn nhà nhỏ nằm dưới một cây bàng rụng lá, Sáu thấy hai thằng con đang lon ton đá bóng, kêu hò ầm ĩ. Quả bóng là cái vỏ da rách nát mà bữa qua Sáu Thủ lấy để nhồi giẻ rách vào làm ruột.
- Bố ơi, Tàu được hay ta được.
- Ta được phải không?
Sáu đang đói mệt cũng lây cái vui của trẻ, cười nói huyên hoa. Quả bóng lăn đến chân, Sáu chặn lại, co chân sút mạnh vào bức tường đổ trước cửa nhà. Quả bóng da bị sút mạnh quá bật ra, làm ngã thằng con nhỏ. Nó không khóc, nhịn đau chuyền lại cho bố và la lớn:
- Bố sút đi nào! Gôn này, phải biết. Thọ ve cũng phải hàng nhé!
Người cha khoái trí, sút luôn cú nữa, đúng ngực con. Thằng bé ngã chúi vào chân tường, tay còn ôm chặt quả bóng. Nó đau quá, không ngóc lên được nữa. Thằng lớn sợ hãi chạy vào mách mẹ. Người cha nhấc con lên. Thằng bé cố cười:
- Chưa thấm vào đâu. Bố tha hồ sút nữa đi. Đấy bố xem, con nhựa lắm. Có giỏi bằng gôn Nhuận ngày xưa không hả bố?
Người vợ chạy ra tru tréo:
- Khổ chưa? Đá đấm gì, khéo chết con thôi. Già còn rửng mỡ. Trót một đời đá đấm mãi còn chưa chán, hử!
Sáu Thủ cười khà, dắt con vào. Ông cởi áo phành phạch quạt. Bỗng nghe tiếng chuột rúc rích ở đâu đấy. Sáu đứng dậy tìm. Ông cúi xuống gầm giường lôi đôi giầy ra phủi bụi. Mấy chú chuột nhắt ở trong giầy chui vội ra chạy mất.
Ô, đàn chuột ỡm ờ đã làm tổ trong đôi giầy oanh liệt của lão tướng Sáu Thủ tự bao giờ! Chao ôi, đôi giầy đá ban của Sáu Thủ đã từ mấy chục năm làm mưa làm gió trên cầu trường đất Bắc tuy đã miệng há, đế bong rồi, nhưng lão tướng vẫn giữ gìn cẩn thận như một danh tướng thời xưa giữ gìn chiến bào, kiếm báu.
Hai năm trời tản cư miền Việt Bắc, Sáu Thủ chẳng quên đèo bòng đôi giầy oanh liệt, lang thang hết núi tới rừng, đến nỗi người vợ phải kêu la trời đất, ba lần vất bỏ cho nhẹ gánh, ba lần người chồng lừ mắt nhặt lên lau chùi sạch sẽ, lại bỏ vào hòm, cố quảy. Ở ngoài kia, có lần đi khiêng lợn mướn, qua đường sỏi núi đau chân quá, Sáu Thủ đã lôi đôi giầy quý báu này ra xỏ vào chân. Đế giầy nghiến đá rừng xào xạo, làm tung bụi đỏ khiến người ta cười rộ cho là anh lẩm cẩm. Bởi thế, Sáu Thủ lại lau giầy bỏ vào hòm, để rồi lại trịnh trọng tha về Hà Nội.
Thế mà không hiểu sao, người đàn bà tục tĩu kia đã dám cả gan lôi đôi giầy danh tướng ra vất dưới gầm giường cho nhện vương, bụi bám và chuột nhắt xông vào đùa giỡn nhau trong đó!
Thật không thể nào tha thứ được. Ông giận vợ. Ông giận luôn cả cuộc đời. Người vợ không biết cái giá trị người chồng gởi vào đôi giầy cũ kỹ, đôi giầy mang cả một thiên túc cầu lịch sử hào hùng. Và cuộc đời đã hùa theo sức tàn phá của thời gian mà quên trúc già tre cỗi, chỉ ngảnh nhìn măng mọc, tre vươn. Tuy nhiên, đã có một người già hiểu giá trị anh, kính mến ông. Ấy là ông bạn già che ô lục soạn, chiều nay vừa trân trọng nói chuyện với ông như một kẻ thực lòng yêu nước đốt hương lần giở trang sử cũ.
Thế là đủ lắm rồi. Đời chỉ cần một người hiểu chân giá trị mình. Sáu Thủ nguôi cơn giận dữ. Ông lau bụi, dốc ngược giầy cho phân chuột rơi ra, rồi trong khi người vợ lúi húi dọn cơm dưới bếp, ông xỏ giầy, buộc dây cẩn thận, co chân chạy mấy bước quanh giường.
Hai đứa con lại lôi quả bóng da nhồi giẻ rách chuyền cho bố.
- Nào, bố sút nữa đi. Gôn này phải biết, quốc tế đây, bố nhớ!
Thằng nhỏ sát lưng vào vách, lăm le đợi bóng. Thằng lớn nhảy xổ vào vờn bóng với cha:
- Khê đấy, bố nhớ. Đố bố qua được đấy, qua được con mới cho là giỏi! nào, bố lừa đi, a-lê-hấp!
Thằng lớn lao vào chân bố. Bố gạt bóng, sút tréo giò. Thằng nhỏ thủ thành nhào ra bắt gọn bóng vào tay, đúng bụng. Bố ngửa mặt cười vang:
- Giỏi, giỏi! Thật cha hổ không đến nỗi sinh con chó. Thằng này rồi kế nghiệp bố đây.
Rồi đó, bố lại lừa ban với thằng con lớn để sút băng băng vào vách cho thằng con nhỏ chộp, đấm, nhào.
Sáu Thủ khoái chí:
- Khá lắm! Thực là hậu sinh khả úy, bố phục con, bố phục con!
Bóng vào gôn, bóng lại bật ra. Ba cha con nói cười ầm ĩ. Lão danh tướng túc cầu, đã mấy chục năm qua, hôm nay mới ôn lại những đường ban cũ quanh chiếc giường tre ọp ẹp trong gian nhà đổ nơi ngõ cụt với đàn con mà người bố tin rằng đó là tương lai của cầu trường mai hậu.
Muỗi hát trong bóng tối. Người vợ cầm cây đèn dầu ở dưới bếp lên, đứng sững nhìn chồng, nhìn con, khẽ lắc đầu.
Thằng nhỏ thét:
- Bố sút đi nào!
A-lê-hấp! Sút mạnh, sút mau!
Sinh lực, 1953
Ông bạn ngày mưa
Tôi ở một khu trại ngoại thành Hà Nội. Những cơn gió bấc ở đây thường lạnh hơn trong khu vực phố phường nhiều hơi người và hơi lửa.
Một chiều kia mưa gió lạnh buốt khiến tôi tưởng đến một miền cát ướt đầy lau sậy, vang dồn tiếng sóng buồn xa xa mà tôi đã sống thuở ấu thơ.
Những lá cây dừa quanh trại reo múa, đập phành phạch vào nhau suốt đêm ngày càng đem hơi giá đến cho căn nhà cổ mốc meo, cây cỏ leo cả lên những bức tường lở và mái ngói cũ nát.
Tôi ở một mình, kẻ hầu là người đày tớ già xưa đã hầu hạ song thân tôi ở quê nhà. Đang đau yếu, tôi lấy nơi này làm chỗ an dưỡng. Thóc gạo, người bõ già cách vài tháng lại về quê tải ra, chuyện cơm áo vì vậy không làm tôi phải bận tâm. Bạn bè với tôi chỉ là bút sách bởi cả ngày không có một vết chân người lạ vào đây.
Những buổi chiều, ngồi trong cửa sổ mà nghe tiếng gió ngoài vườn và nhìn bóng tối mênh mông tôi có cảm giác mình đang ở một cái thung lũng sâu tối vô cùng, không bao giờ thoát được lên. Tiếng ho khù khụ của ông Bồng đi so ro ngoài vườn nhiều lúc khiến tôi vội đưa bàn tay lên ngực và thấy cổ ngứa ngáy khó chịu.
- Ông Bồng, ông ho nhiều quá!
Người bõ già những khi nghe tôi nói vậy thì ngẩn mặt ra rồi cúi đầu xuống, bước vội đi. Sau đó một lúc lâu tôi không thấy ông ho nữa. Có lẽ ông nể sợ tôi mà cố nhịn. Do thế nên mỗi lần ông bật lên ho là sặc sụa và thở hổn hển.
- Ông lấy thuốc của tôi mà uống. Đừng để thế, lỡ ra...
Tôi nhận thấy ý lo sợ thoáng hiện trong đôi mắt lờ lờ đục. Một lúc, ông mới đáp, giọng khàn khàn:
- Không sao ạ. Giở trời thì sinh ho đấy mà. Mai kia nắng ráo thì lại khỏi.
Tôi để ý xem ông Bồng có để bát đũa của tôi riêng ra không. Nhưng ông không để riêng, ông vẫn dùng chung với tôi, làm như cả thày trò cùng khỏe mạnh. Tôi không bằng lòng. Ông đáp:
- Có mệnh trời hết cả. Cần gì phải giữ gìn quá thế. Xưa cháu hầu cậu Cả. Cậu mất đã ngót mười năm nay mà bây giờ cháu đã sao đâu.
Sự hy sinh của người đầy tớ trung thành khiến tôi mủi lòng.
- Vả lại, cháu già yếu rồi, tiếc gì đời.
Trời đất càng thêm lạnh. Ông Bồng săn sóc luôn luôn cái hỏa lò than nóng đặt dưới chân giường hay gậm bàn tôi ngồi viết. Mưa bay trắng ngoài cỏ, cây. Một buổi chiều, ngủ dậy, tôi thấy lạnh quá, thèm uống một vài chén rượu.
Hơi men hâm nóng sinh lực lên một chút, ngâm vài câu thơ chơi thì còn gì thú bằng. Tôi ngỏ ý muốn với ông Bồng. Ông ta giật mình như nghe tôi đòi thuốc độc.
- Vâng chính là thuốc độc đấy cậu ạ. Cậu Cả ngày xưa cũng hại vì rượu mau hơn vì bệnh.
Vẻ mặt và giọng nói nghiêm trang trong đó chứa cả nỗi xót xa cố chủ khiến tôi phải bỏ ngay cái thèm giải sầu bằng men say.
Một buổi chiều, mưa gió vẫn triền miên như những ngày lạnh trước, tôi ngồi đọc sách, chăn chùm đôi vai tê buốt vì tiết trời. Ở chỗ tôi ngồi có thể trông lên con đường cao bên ngoài cổng trại.
Tôi thấy một ông già. Ờ, vẫn cái ông Tây già đội mũ nồi, mặc cái áo tơi vải cao su vàng, lê chiếc ba toong bằng song khá lớn, còn bộ quần áo bên trong thì chưa bao giờ tôi thấy ông thay bộ dạ màu vỏ dưa đã cũ.
Mọi chiều, ông ta qua trại tôi đúng vào cái giờ sẩm tối này, và tôi để ý, lần nào ông cũng dừng lại một phút nhìn vào rồi lại lẵng lẽ mà đi. Điều đáng chú ý là ông đi bộ, dù mưa to cũng vậy. Ông đi đâu? Tôi không biết, vả đó là một sự không cần biết.
Thế mà lần này, ông già kia chống gậy lững thững vào trong trại tôi. Ông ngắm gốc cây này, khóm hoa khác, làm như vào nhà mình vậy. Con Diane, con chó săn dữ đòn nhất của tôi nhảy xổ ra. Tôi chưa kịp quát gọi con chó thì ông khách lạ, điềm nhiên như thường, thu cái ba toong kẹp vào nách, khom cái lưng gày còng, giơ một bàn tay ra hiệu vuốt ve con vật, miệng chúm lại khẽ huýt sáo. Dáng điệu ấy có một vẻ thành thạo của con người không biết sợ là gì, hơn nữa, còn vẻ thành thạo của người đã từng chơi chó săn như kẻ khác chơi gà, chơi chim.
Con chó dữ là thế, tức thì vẫy đuôi hít hít bàn tay ông ta. Ông mỉm cười, tiến vào phía cửa, đứng ngoài hiên, rũ nước mưa trên áo, lau đế giày vào chiếc thảm dừa, rồi gõ rất từ tốn vào cửa phòng sách tôi đang ngồi.
Tôi tiếp ông già. Ông cởi áo mưa treo lên mắc. Lạ điều nữa, cái mắc áo nhỏ lẩn vào một chỗ khá kín đáo ở góc tường, sao ông ta không cần đưa mắt tìm tòi cũng biết được và tiến thẳng ngay đến nó.
Ngắm cái lưng còng già rồi nhưng bề ngang còn to; đôi đùi ngắn thấp, song bước đi quả quyết, vững chãi chậm chạp như đo đếm từng viên gạch, tôi vụt nghĩ ngay đến mấy phim Mỹ, ông già thám tử Charlie Chan dáng điệu cũng lừ lừ và bí mật y như vậy.
Nói thực, cảm tưởng của tôi giây phút đó là hơi khó chịu. Tôi đã nghĩ cách cần đối phó với người khách quái gở này.
Nhưng sự phải đến khả quan hơn ý nghĩ đề phòng. Ông già xoa hai bàn tay gân guốc, mỉm cười, ngồi xuống. Trước khi ngồi, ông không quên xin phép bằng mấy câu lịch sự khiêm tốn.
- Ông cho tôi tự giới thiệu. Tên chính tôi có lẽ khó đọc, khó nhớ nữa, vậy xin ông cứ yên trí người bạn già - nếu ông cho phép tôi được nói vậy - tên là Goro.
Ông ta ngừng lại. Đôi mắt hiền hiền, cặp môi mỏng che bằng bộ ria đã chen sợi trắng, phác một nụ cười khả dĩ cho là nụ cười bộc lộ rất hồn nhiên cái tâm tính một kẻ không cần để mình đề phòng lắm nữa.
Ông ta tiếp, vẫn giữ nụ cười:
- Trước kia, đã lâu rồi, tôi là viên chức một công sở ở Phnom Penh, sau đó tôi thôi sở, ra làm thương mại. Tôi đã dùng đôi chân khỏe và chiếc gậy cố hữu này để chạy khắp Đông Dương, cái xứ sở quý hóa đầy nhân tài, đầy vàng ngọc của ông...
Ông lại ngừng lại. Tôi khẽ nghiêng đầu cám ớn lời ca ngợi đó, dẫu rằng lời ca ngợi nào cũng tất phải chứa những danh từ hoa mỹ. Nhưng một người Pháp thuộc dịa khi nói câu ấy ắt phải có quyền thành thực. Mà một người Việt Nam như tôi sao lại không có quyền ngẩng cao mặt lên để cũng thành thực và kiêu hãnh nhận rằng đó là cái vinh dự dĩ nhiên của xứ sở tôi từ bao nhiêu thế kỷ nay - một vinh dự, một sự thực mà bất cứ người ngoại quốc nào, nếu đã nhận xét, đều không chối cãi.
- Tôi làm thương mại ở đất nước ông đã mười năm nay. Tôi đã được lạc quan nắm chặt tay người Việt. Tôi hiểu họ, tôi yêu họ. Một dân tộc này muốn hiểu một dân tộc khác, khó gì đâu. Không có gì xa cách cả, chỉ có những tấm lòng. Khi những ý nghĩ, những tấm lòng khác huyết mạch đã gần nhau, người ta mới có thể nói đến cái gì là đại đồng, là nhan loại. Ấy thế mà... A ha! cảm ơn chủ nhân, cảm ơn lão bộc. Nước trà gì đây? Trà tây hay trà mạn? Tôi thì tôi ưa dùng cái thứ trà mạn pha loang loãng, uống buổi tối tốt hơn cà phê nhiều.
“Có phải vậy không, ông già!”
Câu sau này, ông ta nói tiếng Việt. Giọng lưỡi sõi lắm. Bàn tay nổi hằn gân giơ lên đập thân mật vào vai ông Bồng để chấm câu nói và tiếng cười sang sảng.
Ông Bồng thấy ông khách thân mật một cách dễ dãi thế, có vẻ hân hoan lắm. Tôi đưa mắt cho ông Bồng lui ra. Tôi cũng tìm vài câu chuyện giản dị tiếp khách. Khách đến chơi nhà đột ngột, tôi muốn nghe hơn là cần nói. Vả ông khách của tôi nói cũng khá nhiều. Không khí không vì sự gìn giữ của tôi mà tẻ nhạt.
Uống xong hai chén nước, ông già đứng dậy xin lui. Tiễn ra cửa, tôi chưa kịp mời khách đến chơi lần sau, ông đã nói:
- Mai, giờ này, tôi lại đến thăm ông. (Ông ta ngảnh về ông Bồng, nói tiếng ta). Lão, lão lại đãi tôi một ấm trà mạn nóng nữa nhé. (Ông ta vừa mặc áo tơi vừa nhìn thẳng vào mắt tôi) Trời đất lạnh lẽo như thế này mà không có một nơi ấm áp, một người kể được là tri kỷ để nói với nhau vài câu thì còn lạnh biết bao nhiêu. Tôi ít bạn, nếu nói là không có ai (Đầu ông già cúi xuống, cúi xuống. Bỗng ông ngẩng vội mặt lên) Ồ, ngoài trời rét nhỉ!
Trong bóng tối hoang mang đổ với mưa chiều tôi nhận thấy răng ông già cắn chặt lấy vành môi dưới. Và bàn tay ông, có lẽ run, không biết có phải vì rét không, nắm tay tôi thật chặt.
Ông bước ra ngoài mưa. Bước chân vẫn quả quyết chắc chắn, như đang đo đếm. Có lẽ đây là con người đo đếm chiều ngang rộng của đất trời đó chăng!
Quả nhiên, giờ ấy hôm sau, ông già đến nữa.
Lần này, ông đến với tư cách một người bạn. Mưa làm áo tơi ông ướt sũng. Ông cười to, từ lúc chùi giầy, với con Diane và lão Bồng. Lúc vào phòng, ông vỗ vai tôi (sau này, tôi nhận thấy ông có cái thói quen ấy khi tỏ điều gì thích ý), ông móc túi áo tơi lôi ra một vật, đặt lên bàn.
Ông Bồng đã đun nước sẵn, pha ngay trà bưng lên. Ông già bằng lòng về sự tiếp đón này lắm, nhìn chúng tôi một cách cảm động.
Uống trà xong, ông tháo giấy bọc, lấy ra hai chai rượu Tây. Một chai, ông bảo tặng tôi, một chai ông mở nút. Ông tự ra buffet lấy hai chiếc cốc. Lâu lắm mới ngửi mùi rượu, nhất là cái thứ rượu Tây hạng tốt này, tôi để mùi thơm thừa sức quyến dỗ, như mùi hoa quyến rũ con ong đói.
Tôi vừa đưa cốc lên môi thì ông Bồng vào. Tôi không muốn ngảnh lại, nhưng biết rằng ông sợ hãi lắm. Tôi uống một ngụm hết nửa cốc. Tôi để ý đến tiếng guốc của ông sau lưng tôi.
- Cậu! Sao cậu lại thế...
Giọng quở trách của ông tự nhiên khiến tôi tức giận. Trước nay, tôi vẫn thường nể người đày tớ già. Lão trực tính, cái gì cũng nói ngay. Nhưng trong trường hợp này, tôi thấy tôi bị lão uy hiếp. Ý nghĩ ấy đưa sự tức giận đến sự liều lĩnh, cáu kỉnh. Tôi ngảnh lại, trợn mắt nhìn ông như đe dọa một kẻ dưới hỗn hào. Ông lão nhìn tôi buồn bã, rồi cúi đầu quay ra.
Tôi uống với người bạn già hết cốc này sang cốc khác. Rượu mạnh, chúng tôi uống không pha nước lọc.
Ông móc túi lấy chiếc tẩu thuốc lá. Chiếc tẩu khá lớn, kiểu đẹp, bóng mồ hôi tay. Bấy giờ gian buồng đã tranh sáng tranh tối. Ánh lửa lòng tẩu lóe lên làm sáng đường sống mũi dài và láng lên tảng trán hói. Nạm thuốc đượm lửa se thành tiếng, và tiếng “bập bập” ở môi ông già khiến tôi, trong khi chú ý ngắm cái khuôn mặt choắt lưỡi cầy của ông, vụt nghĩ đến một loài rắn gì đó đang hút gió.
Tôi ngồi yên nghe hơi rượu mạnh ngấm vào mạch máu. Phải nói là tôi bắt đầu say thực sự. Còn ông bạn già vẫn tỉnh, duy đôi mắt ông lim dim, hẳn không vì rượu, mà vì khói lên đọng bờ mi mắt.
- Bữa nọ tôi đã kể với ông rằng tôi là thương gia đấy nhỉ. Ờ, xưa kia, tôi là một thương gia. Tôi còn làm nhiều nghề lắm, ở nước tôi, ở nước người. Tôi là một kẻ đi lang thang, làm ăn cần cù và nhẫn nại. Ông ạ, vàng bạc tôi kiếm được của trái đất này trong mấy mươi năm trẻ trung, một nửa đã bị mất trong một vụ đắm tàu, một nửa thành than tro trong một nạn cháy nhà vì chiến tranh ở châu Âu. Cái tin nạn sau này tôi mới biết.
Tôi tay trắng, nếu không kể ngôi nhà cuối cùng, tức là tất cả những gì là mồ hôi nước mắt của tôi; ngôi nhà đẹp quá, ồ, ông thứ cho cái lỗi tôi tự khen như vậy. Nhưng thực thế, ngôi nhà đẹp nhất theo tôi nghĩ, làm mất ít tiền thôi, giản dị thôi, vậy mà tôi thách tất cả các nhà kiến trúc, tất cả các tài năng thầu khoán có thể nghĩ ra một kiểu nào lạ hơn, dễ thương hơn thế nữa.
Ông bạn già ngừng lại úp hai bàn tay vào mặt, ông ngồi yên như vậy lúc lâu. Một lát ông bỏ tay ra, gõ cái tẩu thuốc vào cạnh bàn. Giọng ông thấp xuống, thầm thì như nói với mình:
- Than ôi, thật là tay trắng, thật là mồ hôi nước mắt ra sông. Tôi cần cù tha mồi, đắp tổ, thế rồi một phút nghịch ngợm độc ác của đàn con trẻ công trình của tôi bỗng sạch sành sanh!
Ông già lại gục đầu mãi xuống. Nhưng bỗng ông đứng phắt lên ngay. Ông không muốn tôi biết ông khóc.
Vội vàng ông mặc áo, chụp mũ ra cửa. Ông bắt tay tôi rồi vội đi ra mưa. Đứng dưới mái hiên nhìn ông ta khuất, tôi mới quay vào. Ông Bồng đã đứng sau lưng tôi. Đôi mắt ông nghiêm trang, buồn bã, và bực bội, như lúc ông can tôi uống rượu. Tôi thấy sợ đôi mắt người tớ trung thành bèn đi thẳng vào giường. Ông Bồng thắp đèn, tôi bảo thổi tắt đi, để yên tôi trong bóng tối.
Đêm ấy vào khoảng gà gáy canh hai, tôi ho nhiều. Ông Bồng ngồi suốt sáng dưới chân tôi.
Cách hai tháng sau, ông bạn già mới lại đến. Nhưng lần này vào một tối sang hè sáng trăng.
Tôi ngồi trong phòng sách. Ông đứng trước mặt tôi lúc nào không biết. Hơi rượu ở ông sặc sụa. Tôi đang đọc dở một cuốn tiểu thuyết của Stefan Zweig.
Ông già rầu mặt lại, gõ cái tẩu vào bàn tay (đó là dấu hiệu khi ông xúc động). Đầu ông gật gật, mắt nhìn ra những bóng lá in xuống mảnh sân xanh ánh trăng.
- Phải, phải... nhà văn mới tự sát hồi năm ngoái này là cây bút yêu thích của tôi đây. Tội quá! tội quá!
Ông bạn già không ngồi, cáo đi ngay, nói là có người đợi ở bên ngoài.
Tối hôm sau, trăng sáng hơn, tôi lững thững ra đường bách bộ. Ánh trăng giãi trên con đường bụi trắng, bóng tôi đổ lẫn vào bóng lá cây.
Đến một ngôi nhà lợp rơm, kiến trúc dân Chăm, tôi lại quen thói thường đứng lại. Ngôi nhà ấy mới dựng chừng một hai năm nay, tôi yêu thích lắm. Tôi đoán chủ nhân tất phải là tay lịch duyệt, đã già, đã trải sự đời, đã chán chường tất cả, về đây an dưỡng. Cho nên tuy chưa hề trông thấy chủ nhân lần nào, tôi cũng thầm kính trọng mỗi lần qua đó.
- Kìa, ông bạn trẻ tôi ơi!
Người vừa reo lên đó, ở một chỗ tối nhất đi ra. Ông bạn già tôi, ông bạn đã kể qua cuộc đời cho tôi nghe trong một lúc có lẽ lòng đau khổ nhất, cảm động nhất, tiếc hận nhất.
Ông thì thầm bên tai tôi:
- Đấy, cái cơ nghiệp cuối cùng trong cuộc đời cần cù của tôi đấy ông bạn ạ. Tôi gây dựng nó, để dưỡng tuổi già với vợ tôi. Vợ chồng tôi ở đây được vừa hai tháng. Ờ... ờ... đã có ít nhiều đêm trăng đẹp như thế này, đôi mái tóc trắng của chúng tôi đã sát vào nhau trên bao lan kia. Vậy mà ngày nay cơ nghiệp kia đã không thuộc về chúng tôi nữa! Ông bạn ơi! ông có hiểu tại sao không? Nhưng đó cũng chỉ là sự thường ông ạ. Việc  tôi được hưởng hay không được hưởng nữa, âu cũng là ý trời. Tôi không phàn nàn gì cả. Duy chỉ còn tối tối, nhất là những đêm có trăng, tôi, có khi cả vợ tôi, nếu bà ta không ốm, thường qua nhà cũ để nhìn ánh sáng đèn quen thuộc dọi ra quãng đường vắng vẻ này.
Chợt ông già im lặng. Mắt ông mở to. Miệng ông mím chặt lại. Hơi thở ông rộn gấp. Cái gì? Tôi nhìn theo chiều mắt ông nhìn. Ở trên bao lan có hai cái đầu xanh. Tiếng hát êm ru của một người con gái bay ra ngoài. Bóng áo như bóng hoa qua lại bên rèm. Tiếng đàn vọng mênh mông. Tiếng cầm ca hay tiếng kiếm cung reo - tôi mơ đến một tiệc yến oanh của một tướng công nào thuở cũ.
Ông bạn già kéo tay tôi đi. Âm nhạc xa dần sau lưng tôi, xa và buồn như tiếng kêu của một đàn hải âu bay lang thang trên một vùng cát cồn sương gió.
Đến cổng trại ông bạn già nắm chặt tay tôi, từ biệt. Lần này, ông nhìn tôi lâu hơn mọi lần. Tôi lưu mời ông vào trại uống trà. Ông từ chối. Bóng ông, cong cong như một lưỡi liềm, mất vào những gốc cây quét vôi trắng.
Tôi vào nhà, cảm giác hoang mang như một kẻ vừa tàn cuộc rượu lúc xế chiều. Chiều xuống trong buổi đất trời gió bụi, hay trong cuộc đời tôi, đời ai.
Tiểu thuyết thứ Bảy, số 457-1943
Gái muộn chồng
Tối nay, thành phố mới lên đèn Tâm đã thu hàng đóng cửa sớm. Chờ xong hết mọi việc, cô nhìn ra phía ngoài xem còn bỏ sót thức gì không, rồi trèo lên bàn hạ thấp cây đèn dầu phao xuống thổi tắt lửa. Trước khi bưng hỏa lò, siêu thuốc cùng các thức vặt lên gác, cô còn cẩn thận đốt que đóm soi gậm phản, góc tường xem có kẻ nào ẩn nấp không. Tính cẩn thận đó Tâm đã có sẵn ngay từ hồi bà Hàn còn sống. Những lúc ngồi vui chuyện dạy con gái việc tề gia nội trợ, tam tòng tứ đức, bà Hàn thường răn con gái nên ý tứ, ngồi phải nhìn trước xem có vết cốt trầu làm bẩn áo, đi phải trông trước trông sau xem có người con trai nào theo gót thì cần lánh xa ngay; ngủ phải nằm nghiêng, không nên ngáy, và điều cần hơn hết là trước lúc chèn chặt cửa, phải khua gậm giường, gậm tủ, phòng khi tối lửa tắt đèn...
Từ ngày mang khăn tang chở mẹ cho đến ba năm giỗ hết, cô và Tình, chị ruột cô, vẫn ghi lòng lời mẹ dạy khi vui chuyện và lúc lâm chung. Hai chị em cô đã bao nhiêu năm tập đủ công, dung, ngôn, hạnh, tề gia nội trợ, tam tòng tứ đức để một mai xuất giá theo chồng...
Nhưng Tâm, Tình đã bao nhiêu năm theo lời mẹ dạy mà chưa bao giờ được hi vọng xuất giá theo chồng, chưa bao giờ được người con trai nào theo sau gót, chưa bao giờ thấy một kẻ nào rình dưới gậm giường, dù đã có đôi lần những đêm mưa lạnh lòng buồn quá, hai cô gái muộn chồng thường mê thấy hình như có bóng một người con trai nào ẩn nấp đâu kia để nghe trộm tiếng thở dài ngao ngán của mình.
Tâm mệt nhọc bước lên những bậc thang gỗ mục nát như gần đổ gãy, - cái cầu thang của một căn nhà cổ làm từ ba năm sau khi Hà Nội thất thủ đến mãi bây giờ... Tâm nhóm bếp lò hâm lại thuốc, rồi cô rót ra bát, bưng đến chỗ chị nằm.
- Chị Tình! dậy uống đi kẻo nguội.
Tình mở mắt nhìn em, giọng nghẹn ngào như muốn khóc, cô hỏi Tâm câu tối nào cô cũng hỏi:
- Hôm nay có bán được gì không?
- Cũng khá ạ. Chị đừng lo.
Tâm buộc lòng dối chị. Thực thì mấy ngày nay có bán được gì đâu. Tất cả cửa hàng của chị em cô, khách qua đường nếu không ngại mệt vì phải trèo lên ba bậc gạch cao mới bước được lên thềm để mua một bao diêm với gói thuốc lá Job xanh, rồi thử nhìn ngắm kỹ, họ chỉ thấy có mỗi chiếc tủ con sơn long lở, bên trong bày vài xâu chỉ, vài tập giấy, phong bì, dăm ba lọ mực, mấy hộp lơ, ngoài tường treo lủng lẳng mấy sợi bấc đèn, giải rút, mấy cuộn dây thừng..., chỉ có thế thôi!
Vậy mà đã bao nhiêu năm, cửa hàng ấy nuôi sống một người mẹ góa, ngày nay nó nuôi hai cô con gái đã ngoài ba mươi, duyên hẩm hiu đành vẫn ế chồng.
Ngôi hàng kia trước đã điêu tàn giờ lại điêu tàn hơn. Từ khi Tình ốm, Tâm thương chị nên nhặt nhạnh được đồng nào lại bỏ ra chạy thuốc thang, lấy đâu buôn thêm hàng nữa.
- Tâm ơi! hôm nay là bao nhiêu nhỉ?
- Mồng hai tháng Một rồi.
Tình bỗng mở to mắt nhìn lên ảnh mẹ lờ mờ sau bức màn the xanh đã bạc hết màu.
- Mười hôm nữa sẽ đến ngày giỗ mẹ. Vậy em cần lo liệu trước đi. Lại thêm tết nhất sắp đến nơi rồi! Tâm ạ, đêm qua chị nằm mê thấy mẹ về, ngồi trên cái ghế Tâm đang ngồi. Mẹ để xõa tóc, vẫn mặc chiếc áo sa tanh chị mặc cho mẹ trước khi khâm liệm... Mẹ nhìn chị khóc nức nở không nói năng gì. Một lát, mẹ từ từ đến đầu giường cúi xuống vuốt mắt chị rồi lừng lững đi ra... Tâm ơi, chị lo lắm, chị chết mất, vì từ lúc tỉnh dậy chị thấy như không còn sức mà thở nữa, xương thịt đau đớn như dần, lắm lúc mê sảng tựa hồ hồn vía bị ai dắt về âm phủ, đi lẫn cùng ma quỷ đông lúc nhúc như phiên chợ trần gian...
Tâm gạt đi, giục chị uống thuốc, rồi cô ra chỗ khác để cắt đứt câu chuyện âm phủ nó làm cho cô sợ run người và khiến cô lo ngại đêm nay chắc sẽ không ngủ được.
Mười giờ, về tháng Một nên đã gần khuya, phố đã vắng người. Tâm đang rảo bước bên bờ hồ Hoàn Kiếm về nhà. Lá trên cây rụng nhiều quá, rơi cả vào chiếc tráp đựng vàng hương ở tay cô. Nhìn nước hồ xanh ngầu váng, cô tưởng chừng nước kia lạnh lắm, và tẩn mẩn cô tự hỏi mình: “Không biết từ xưa đến nay, những cô gái không như nguyện về tình liều nhảy xuống đáy hồ sâu thăm thẳm kia mà tự tử, nhưng chẳng hay trong số đó có cô nào vì cớ muộn chồng mà hủy mạng không?”.
Một luồng gió lạnh thổi tạt vào da mặt, Tâm rùng mình. Cô cảm thấy cô không bao giờ có can đảm chết, mặc dầu Định mệnh bắt cô phải muộn chồng mãi mãi, không chừng cả đời cô.
Cô vừa đi vừa nhớ lại những ngày xưa, hồi mười tám, mười chín tuổi, cô đã đi nhiều lần bên Hồ Gươm nhưng là đi với mẹ, với chị Tình vào đền Ngọc Sơn lễ thánh những ngày rằm, mồng một. Nhưng cô nhớ nhất là đêm ba mươi Tết, làm lễ giao thừa ở nhà xong, cô giở quần áo mới ra mặc, bưng vàng hương theo bà Hàn ra cửa gọi xe đến lễ đền này. Hà thành, lúc ấy vùng thức dậy vì tiếng pháo đốt liên thanh. Cô quên cả rét, sung sướng theo mẹ bước trên cầu Thê Húc, len vào trong đám đông người lũ lượt vào đền. Khấn khứa và xin thẻ xong, cô ra cửa bỏ vài xu mua cành lộc, hí hởn về nhà “xông đất” lấy. Cô mới khẽ gõ cửa, Tình đã mặc quần áo chỉnh tề, đứng một bên cúi chào bà Hàn như chào khách; bà Hàn tươi tỉnh nói mấy câu chúc mừng năm mới. Tình cũng đáp mấy câu chúc mừng, rồi ba mẹ con cùng bật cười vang.
Nghĩ đến cảnh vui này, Tâm đau đớn khẽ thở dài. Cảnh vui ấy có còn đâu. Bà Hàn chết từ sáu bảy năm nay, hai chị em cô tần tảo lần hồi, ngày tháng ôm lấy ngôi hàng nhỏ, chỏng trơ vài cuộn thép, cuộn thừng, mấy bao diêm, mấy gói thuốc lào, thuốc lá, phong lơ...
Tối nay, nóng ruột về bệnh của Tình nặng quá mà thuốc thang không thấy giảm chút nào, Tâm lại đi lễ thánh, lại xin thẻ, xin nước giải, cũng như xưa cô đã làm quen những việc này mỗi lần mẹ cô bị trái nắng trở trời. Lúc nào cũng chỉ tin ở Trời, ở Phật, ở Thánh mặc dầu cô đã tự biết như thế là trái với một cô gái tân thời. Gái tân thời ngày nay, họ không lễ Phật, lễ Thánh, không ăn mặc theo lối cổ như cô!
“Có lẽ vì thế mà chị em mình bị muộn chồng chăng?” Cô hằng nhủ lòng như vậy những lúc ế hàng, ngồi nhìn các thiếu nữ mới khoác tay trai đi diễu phố, mặc quần đùi đi xe đạp ngoài đường, hoặc những lúc vô tình đi qua một nhà chớp bóng, một tiệm nhảy đầm.
Lúc này Tâm đi bên ngoài một phòng nhảy, gần nhà Thủy Tạ. Cô rẽ ra xa, đánh bạo liếc mắt nhìn vào, thấy tây đầm, cả người Việt Nam nữa, từng đôi đang ôm nhau nhảy, tiếng kèn du dương. Tâm thẹn đỏ mặt, lòng nao nao như bị một cái gì khuấy rối, cô vội rảo chân đi.
Đường phố đã vắng tanh, vắng ngắt. Tâm mỏi chân muốn gọi xe, nhưng ngần ngừ vì cô không muốn phí vài xu - vài xu, đó là giá bao thuốc lá, giá một cuộn dây thừng!
Bỗng Tâm để ý đến tiếng chân ai theo phía sau cô, rất gần, rất gần, chỉ cách cô quãng ngắn. Không dám ngoảnh lại nhìn, nhưng cô biết chắc chắn rằng kẻ đang theo cô là một người đàn ông vì tiếng giầy gõ mạnh và cô ngửi thấy mùi thuốc lá thơm. Lòng hồi hộp, Tâm càng cố đi nhanh càng thấy hai chân tựa hồ bị ríu vào nhau mà giầy thì như muốn tuột khỏi chân, bắn về phía trước.
Cô lo lắng khi thấy kẻ kia định bụng theo mình. “Lúc phố phường vắng vẻ này, một người đàn ông theo một người đàn bà để làm gì?... Ừ nhỉ! để làm gì?” Câu hỏi ấy khiến mặt Tâm đỏ gay, chân Tâm cuống quýt hơn. Nhưng thực ra lúc này Tâm sung sướng lắm. Tâm khẽ giơ tay lên vuốt lại mái tóc, nắn lại vành khăn, kéo lại cổ áo. Tâm muốn móc túi lấy cái gương nhỏ để đứng dưới cột đèn soi xem mình có vết nhọ nào ở má không, mình có già lắm không mà khiến một người đàn ông theo nàng. Một người đàn ông! một người đàn ông!
Tâm sung sướng vô ngần. Sự thật, từ thuở biết ngắm gương, biết mơ mộng tới bây giờ cô mới được một người đàn ông theo đuổi, để ý cô.
Người ấy vẫn đi sau. Tiếng giầy gõ mạnh trên hè vắng, khói thuốc ngạt ngào. Tâm đoán người ấy hẳn sang trọng lắm. Cô rẽ sang phố này, rẽ sang phố khác, tiếng giầy và khói thuốc thơm vẫn cứ theo cô.
Tâm hồn Tâm mỗi lúc một mê man như bị một sức gì ám thị. Tâm muốn kẻ kia tiến nhanh lên tí nữa, rồi đi ngang ngay cạnh cô cho cô đỡ lạnh. Cô mong kẻ kia nói cho cô nghe những câu mà cô chưa từng được nghe một người dàn ông nào nói. Cô sẽ lẳng lặng mỉm cười... không cự tuyệt, không, cô sẽ không cự tuyệt người đàn ông nọ..., cô sẽ ngoan ngoãn... hỡi con người lịch sự mà nhút nhát kia!
Nhưng người đàn ông ấy vẫn vô tình không nghe tiếng nói từ trái tim cô. Người ấy vẫn nện mạnh gót giày đi sau, dần dần như gần cô hơn trước.
Cảm động quá, Tâm nghe ngóng, chờ đợi một sự phi thường êm ái, say sưa sắp xảy ra lần thứ nhất trong đời cô... Cô muốn nhà cô ở xa, rõ thật xa để cô đi bộ mãi, để kẻ kia theo cô mãi, để cô hưởng cái cảm khoái dịu dàng này mãi. Song, nhà cô kia rồi, một căn nhà cổ lụp xụp như cái chuồng gà hiện ra trước mắt.
Rón rén trèo lên ba bậc gạch, Tâm khẽ để ngón tay vào khóa cửa, và nhân lúc ấy cô bạo dạn nhìn trở lại.
Người đàn ông cắm cúi đi qua mặt cô. Dưới ánh đèn bên hè, Tâm nhận rõ dưới chiếc mũ dạ giăn giúm một khuôn mặt sạm đen, đôi mắt sâu như hai vực thẳm, cái cằm đầy râu, bộ áo dạ màu tro bạc phếch, rộng lụng thụng, bên trong nó một thân hình lẻo khẻo, gầy gò.
Người ấy, qua mặt cô, vẫn thản nhiên, đút tay vào túi quần, hai vai so cao lên, cúi đầu đi thẳng. Đến một căn nhà bẩn thỉu, lụp sụp như cái chuồng chim, người ấy dừng lại, gõ ba tiếng vào cánh cửa.
Tâm thấy trái tim mình giá lạnh hẳn đi, da mặt xanh tái lại, nước mắt muốn trào xuống má. Thì ra đó là một khách chơi đêm mà tình cờ cùng đi với cô một quãng đường để... đến tiệm hút nằm!
Tâm mở cửa bước vào nhà, nhọc mệt trèo lên những bậc thang gỗ mục nát như gần đổ gẫy - cái cầu thang của một căn nhà cổ tiều tụy, tượng trưng cả một cuộc đời tối tăm, tiều tụy của chị em cô.
Tiểu thuyết thứ Bảy, số 184/1937
Người gác đêm
Chiều hôm nay lá rụng như mưa, vàng cả trời đất. Lá úa của ngày hè đang độ nhạt rụng nhiều, để chờ những ngày đầu thu đang tới. Trong hơi gió rào rào, lắng nghe, ai có thấy những tiếng rên nho nhỏ của những chiếc lá úa khi rời khỏi cành cây khô? Lão Năm - điên nghếch mãi mặt lên nhìn lá rụng và nghe tiếng xào xạc của lá. Lão già cô độc thương lá cả bốn mùa. Chiều nào lá rụng nhiều, chiều ấy lão không thiết nói năng gì cả, môi lão mím chặt lại, hai tay chắp sau lưng, lão bước củ rủ như con cò ốm.
Lão Năm âm thầm chịu khổ từ mấy chục năm trời. Những chiều lá rụng, trong tâm trí lão hiện ra một đứa trẻ thơ đang vun lá dưới những gốc cây: ấy là con lão, đứa con gái có trái đào phơ phất trên đầu ngày xưa vẫn ra sân đình lượm lá về đun. Hai cha con sống ở một căn lều tận cuối làng. Cái ngày được người ta nhớ đến, lão chỉ muốn đào lỗ mà chui xuống, ở luôn dưới đó không bao giờ lên nữa, nhưng người ta cứ lôi lão lên để bảo cho lão biết rằng nghèo thì nghèo cũng cần phải lĩnh cái sưu cho được tiếng là người dân lương thiện, chứ lẩn lút như vậy thì có khác gì con vật.
Lão Năm xấu hổ vì bị người ta nhiếc là con vật nên một sớm lão đã đeo khăn gói bỏ làng ra đi. Hai cha con trẩy bộ suốt đêm đến bến đò Tân Đệ, xuống tầu lấy vé lên Hà Nội, thiếu mất chút ít tiền nhưng van lạy mãi, người ta chửi dăm ba câu rồi cũng cho một chỗ. Lạc vào Hà Nội, lão hỏi thăm đến xưởng cai xe, xin lĩnh chiếc xe mà kéo. Nhưng lão không có thẻ, gã cai văng tục vào mặt lão, nhiếc lão là con vật, là thằng mọi nhà quê. - “Lão già, lão mà không học thuộc bản đồ thành phố thì người ta đạp sặc tiết lão ra” - gã cai xe bảo vậy.
Thế là đủ lắm rồi! Từng ấy lời đủ cho lão run cả người lên. Lão đói ba ngày. Ba ngày đói lão còn cố chịu, chứ đứa con gái nhỏ, thực là não ruột, nó rũ ra ở vỉa hè như cái giẻ rách.
Hai cha con lão lại lang thang. Khát lắm, có thể ra máy nước, vì nước là của bể, của sông, của trời. Đói thì đành cố mà chịu vậy.
May mà gặp được Phúc tinh: có một bà Phán thấy cha con lão đi qua, ngứa miệng gọi đến, rồi bằng lòng nuôi con lão làm con ở.
Con bé ốm đói mới vào hầu hạ được ba ngày thì đã bị ba trận đòn. Nhưng đủ ba lần nó rình lẻn được ra đầu phố dúi cho lão nắm cơm cháy và vạch áo cho lão xem những vết roi. Hai cha con thương nhau đứt ruột mà phải cố nuốt nước mắt, vì khóc ở ngay giữa cái thành phố lão đã bắt đầu sợ hãi này thì lão quyết không dám.
Lão già bỏ con vùng chạy, lão tìm một gốc cây tối ở một phố rất vắng để khóc, lão khóc cho hết nước mắt chứa ngập trong tâm hồn. Từ chiều đó, lão không dám trở lại nhìn con lão nữa. Lão mất hút trong Hà Nội. Lão xin được chân phu quét đường thành phố. Sau cùng, lão xin được chân gác trong vườn Bách thảo. Một lần lão đến nhà bà Phán hỏi con gái lão. Bà Phán bảo nó trốn từ lâu. Thế là hai bố con lạc nhau. Lão đi trong phố, gục đầu xuống ngực mà khóc, mắt lão đỏ ngầu nhìn mọi người. Lão không cần giấu rằng lão khóc.
Không ai làm gì lão, lão có quyền khóc. Lão nghĩ như thế cho đến lúc về tới vườn Bách thảo, lão trèo ngay lên ngọn núi Nùng gục xuống, lả người đi.
Kể từ ngày ấy đến bây giờ đã được bốn năm. Bốn năm trong khu vườn mênh mông, bao nhiêu lần lá đã thay mùa như buổi chiều thu hôm nay.
Khu vườn mênh mông chiều nay càng mênh mông tợn. Sương đã bất đầu vương trên các chòm cây và trên các khóm sen tàn ở dưới hồ. Gió heo may chưa đến mà lão đã thấy lạnh.
Lão dừng chân ngoài tấm rào thép, mấy con hươu sao chạy đến rúc đầu vào bàn tay lão, bày hươu này hễ thấy bóng lão tới là chạy cả ra, vẻ mừng rỡ như đàn trẻ nhỏ đợi quà. Những con hươu lông vàng điểm trắng ngây thơ mà nhanh nhẹn, đáng yêu biết bao. Chúng nằm ngả nghiêng trên cỏ xanh chơi với nắng, chúng đứng dưới bóng cây nghếch mắt lên nhìn đàn chim sẻ nhảy trên cành. Trời mưa, chúng tụ họp cả trong chuồng, cái chuồng xinh xinh trong đó chất đầy cỏ tươi. Bầy hươu ngoan ngoãn sống trên mảnh đất trên có trời, có cả gió trăng. Còn bầy ác thú! Mang danh thế chứ chúng có hại ai đâu. Lão Năm yêu chúng bằng tất cả tình yêu trong lòng lão. Hàng ngày, hai buổi, lão đợi xe thịt người ta kéo đến, lão cầm từng miếng thịt trìu mến đưa qua song sắt cho con hổ ở chuồng này, con báo ở chuồng kia. Xong rồi lão sang chuồng gấu. Những con gấu đi như người, đùa như trẻ, giơ hai chân trước lên đón những miếng dưa đỏ ngon lành ở tay lão chuyền qua song sắt. Chúng ăn rồi chúng vục đầu vào bể nước mà uống và chạy loạn cả lên. Lão đứng nhìn đàn vật, mắt nheo lại trong một nụ cười khô héo. Lòng lão vui như lòng một người mẹ yêu con giữa một bữa cơm gia đình. Lão coi chúng chẳng khác nào những người bạn thân, những đứa con yêu của lão. Than ôi, lão già cô độc! Con lão lạc đâu rồi, lão biết thương ai; quê hương lìa bỏ đã lâu, lão còn biết có ai ở cái mặt đất mênh mông này mà yêu nữa.
Thế mà những người bạn đó, những đứa con đó, từ mấy tháng nay đã bỏ lão mà đi. Lão không biết chúng đi đâu, nhưng lão tin rằng không phải chúng về rừng. Người ta đã dồn chúng lên những cái xe bịt sắt chắc chắn. Người ta bảo lão giúp một tay, lừa cho con hổ già nhất, đó là con hổ què, vào xe. Lão trèo lên nóc chuồng kéo cửa sắt lên, trong khi ấy một gã thò chiếc gậy qua song dồn cho nó chạy. Con hổ không nhìn thấy lão trên nóc, nhưng ở trên nóc lão cúi nhìn thấy nó. Nó tập tễnh chạy quanh rồi sau cũng phải chui vào trong xe. Lòng lão Năm quặn lại, hai bàn tay gầy yếu bỏ rơi cái cửa chuồng kêu đánh rầm khiến lão giật bắn mình. Thế là xong việc. Chỉ còn một dẫy chuồng không. Những con vật gầm gừ trong mấy cái xe bịt kín, lão thèm được nhìn chúng thêm một lần. Người ta đẩy đoàn xe đi, đoàn xe đi lẳng lặng như một bọn lữ hành ở xứ Phi Châu trong cánh rừng hoang rậm. Lão nhìn theo đoàn xe, lòng chua xót và mắt lim dim chớp… Những cái chuồng không kia đã phá bỏ cả rồi. Bây giờ chỉ là miếng đất, cỏ đã mọc xanh và những cây mới trồng đã lên cao. Bóng tối cùng với hơi sương xuống mịt mù, lão Năm đứng ở đây từ lâu lắm. Mắt lão mờ đi và hoang mang như thấy trong khoảng tối kia, trên nền cỏ xanh, thấp thoáng những cái bóng vàng vàng của con hổ, con báo đi đi lại lại, những cái bóng đen đen của bầy gấu chạy hai chân, dựng thẳng cả mình lên như người.
Lão lại co ro bước. Con bồ nông ở dưới gò vẫn xù lông đứng yên một chỗ. Khốn nạn, nó lại ốm hay sao! Ban chiều lão bơi thuyền ra đổ cho cả mớ cá tươi mà nó cũng không ăn nhanh nhẹn như mọi ngày.
Gió vẫn lên mạnh thêm trong đêm tối và lá vẫn rụng nhiều. Lá rụng bao nhiêu, lão càng nhớ con gái lão. Vẫn hình ảnh khi con bé lom khom nhặt lá trên sân đình làng. Lão nhớ con và nhớ cả những đứa trẻ nhà người vào ngày chủ nhật vẫn vào đây đánh đu, nghịch cát. Chúng có những người mẹ lành hiền ngồi trên ghế cúi đầu đan tất và những chiếc áo xinh xinh cho chúng. Chúng có những người vú vui tươi lúc nào cũng chạy kèm để nâng đỡ dỗ dành khi chúng ngã. Hỡi ôi, những đứa trẻ con nhà người. Nhưng lão yêu chúng lắm, có khi lão còn đùa với chúng, ngồi yên cho chúng ném cát vào đầu, cho chúng vuốt râu, cho chúng xúm vào bịt mắt lão, rồi chúng trốn đi một chỗ đố lão tìm. Tốt đẹp thay! Những đứa trẻ còn nguyên tính thiện, chưa biết làm hại ai, cũng chưa bị ai làm hại chúng. Chúng là những vị thần trong sạch, nhởn nhơ chơi ở cái vườn trần cát bụi này.
Bây giờ, chủ nhật nào lão cũng mong chờ lũ trẻ vào vườn, nhưng không thấy nữa. Lão nghĩ có lẽ chúng đã cùng những người mẹ lành hiền kia đi chạy loạn, đến các nơi nghỉ mát, hay về các vùng quê yên tĩnh. Lão thở dài, chua xót thấy mình mất đi biết bao nhiêu những cái thân yêu thầm kín.
Một mình trong khu vườn tối mênh mông, tiếng guốc của lão quèn quẹt trên đường đá, và bóng lão dưới ánh đèn lờ mờ mới bật lên lẫn với những bóng cây chập chờn. Mỏi mệt, lão bước vào trong Nhà kèn, thổi bụi trên chiếc ghế gỗ dài, nằm xuống. Mưa rào đổ mau, mưa rào trong khu vườn tối này não nuột biết bao nhiêu. Lão thao thức nghe tiếng cú rúc ngoài cây, tiếng vượn trong chuồng ai oán rú lên từng hồi như khóc. Lão Năm ngồi dậy, lấy điếu cầy rít một hơi dài.
Tiểu thuyết thứ Bảy, số 325/1940
Những ngày thơ ấu
Kính tặng hương hồn Mẹ hiền
Tôi vẫn đợi chờ một dịp trở lại thăm cái tỉnh lỵ nhỏ bé ngày xưa tôi đã sống những ngày thơ ấu. Cũng đã có nhiều lần xuống Hải Phòng, đứng ở bến Sáu kho nhìn về một góc trời xa xôi kia, lòng bỗng thấy buồn nao nao. Tôi có thể xuống ngay chiếc tàu dưới bến để rồi sau đó vài giờ sẽ được đặt chân lên cái đất ngày xưa thân yêu của mình nhưng chẳng có lần nào tôi quyết định, vì lần nào tôi cũng ngại ngùng tự hẹn thầm rằng hãy để dành tới một dịp sau.
Thế mà bao nhiêu dịp sau đã tới, tôi vẫn chưa trở về cảnh cũ, xem sự đổi thay đã đến thế nào rồi.
Ấy là tỉnh lỵ Quảng Yên. Hồi xưa, Quảng Yên chỉ mới có ba bốn phố lủng củng những căn nhà gạch một tầng xây lối cổ của người Nam. Một bức thành dài bao quanh trái núi chiếm gần hết tỉnh, trên đó dựng trại lính và bệnh viện cho người Pháp. Ngay đầu tỉnh, hàng mấy chục cây thông cổ thụ mọc rải rác đó đây, thân xù xì mang những chiếc vẩy dày cộp, lá xanh thẫm, về mùa xuân cả tán cây như lên hàng ngàn vạn chồi non mầu lửa hun nom tựa những ngọn nến đang reo cháy, nhìn chúng khiến lòng ta nao nức lạ thường.
Nhà tôi ở ngay bên chân núi ngoài thành. Một lớp nhà tranh, một khu vườn dâu, dăm ba con dê trắng, đó là cả sản nghiệp của thầy mẹ tôi.
Ngày ấy đã có một “trường nhà nước”, tôi xin vào học lớp tư. Tôi nhớ tôi có một người bạn ở liền bên cạnh, và tôi nhớ mang máng tên anh là Dị. Dị cũng gày, bé như tôi, nhưng có cái khác tôi nhiều quá: anh là con nhà giàu. Cái tòa nhà gạch rộng rãi, mái ngói còn nguyên màu đỏ chói đột khởi bên lớp nhà tranh làm cho tôi sợ sệt và làm xa cách cái tình bè bạn của tôi đối với Dị. Không bao giờ tôi dám bước vào nhà anh. Những lúc sang rủ anh đến trường, tôi chỉ đứng thập thò ngoài cửa. Bà mẹ anh nhiều khi vẫy gọi tôi vào ép ăn quà sáng với anh. Nhưng tôi ngượng nghịu lùi ra xa đứng nấp sau một gốc cây, đợi cho đến lúc Dị ăn xong. Cốc sữa trắng nõn, chiếc bánh tây vàng nóng, những quả chuối trứng cuốc mà tôi vừa liếc thấy trên bàn ăn của Dị khiến tôi thèm lắm, tôi đứng sau gốc cây để nuốt nước bọt và để nghĩ rằng tại sao mẹ tôi lại không mua cho tôi những thứ quà sang trọng ấy. Tôi định bụng đi học về sẽ hỏi mẹ tôi như thế, song lúc thấy mẹ tôi ra thềm giơ tay đón chiếc cặp sách của tôi, tôi lại quên mất câu hỏi đó. Vội vàng, tôi chạy xuống dẫy nhà ngang trèo lên giá tre nhòm xem những nia tằm phủ kín lá dâu. Những nắm lá dâu mẹ tôi hái ngoài vườn mới bỏ vào, những con tầm trắng mập xinh xắn bò ngổn ngang trên những chiếc lá non xanh mướt, mùi thơm như một thứ mùi cỏ quý. Tôi mải xem tầm ăn, quên cả rằng mình chưa ăn. Mẹ tôi xuống đứng sau tôi. Tôi ngảnh lại thấy vẻ mặt mẹ tôi không vui, tôi khẽ hỏi:
- Lứa này có khá không hả mẹ?
Mẹ tôi nhặt một con tầm đã chết vất ra sân lặng đi một lúc rồi mới đáp:
- Hỏng nhiều con ạ.
Bà cúi xuống thở dài. Có tiếng động ở ngoài vườn. Bà gọi:
- Ông Bồng ơi!
Ông Bồng là một ông già, mặt đen bóng như đồng hun, tóc đã lâm râm trắng. Ông ta lom khom bưng một thúng sắn mới đào đặt dưới chân chúng tôi, kéo vạt áo lau mồ hôi trán. Ông ta kiễng chân nhìn khắp lượt các nia tầm rồi lắc đầu không nói. Mẹ tôi thấy ông Bồng đã phải thất vọng thì tin ngay rằng lứa này hỏng thật, bà rơm rớm nước mắt nhìn ông ta:
- Có cách gì chữa được không ông?
Ông Bồng nhìn mẹ tôi như ái ngại, rồi cúi bưng thúng sắn ra ngoài giếng:
- Chữa sao được ạ. Còn nhờ trời, hãy chờ vài hôm nữa xem sao.
Đó là câu an ủi mẹ tôi. Mẹ tôi lại khấn trời mong cho lứa tầm khỏi hỏng, y như khi thày tôi hay tôi ốm, bà cũng khấn trời như thế.
Tất cả tình thương yêu, trìu mến, bà đã san sẻ hết cho chồng, cho con, cho đàn tầm, quên hẳn mình.
Ông Bồng cùng ở với chúng tôi chung khu đất. Chính ông đã giúp thày mẹ tôi sửa sang lớp nhà tranh đó sau khi mua lại được của một người nghèo; ông đã hì hục bao đêm ngày đào cái giếng ở góc sân để lấy nước ăn; ông đã gây thành một vườn dâu và đã truyền nghệ nuôi tầm cho mẹ tôi. Trước kia, ông Bồng cũng nuôi tầm, nhưng từ khi vợ ông chết, ông bỏ nghề, chỉ sống bằng mảnh vườn trồng sắn và bột hồng tinh. Ông có một thằng con trai. Nó gày loắt choắt, đen đủi và nhanh như con vượn. Sáng nào nó cũng dậy từ mờ đất, xách thúng đi buôn bánh giò rồi ra ngoài bến đón tàu ở Hải Phòng sang để bán. Nó kể mẹ tôi nghe nó làm quen với tất cả các người buôn bán trong các tàu nên không bao giờ phải lấy vé; hễ chuyến nào thấy chủ thì nó chui vào các đống hàng hóa của hành khách hoặc lẩn xuống hầm than. Nó tinh nghịch như quỷ sống nhưng rất có hiếu với bố, vì vậy mẹ tôi yêu nó vô cùng. Tôi nhớ những buổi sáng trời còn chưa tỏ, thằng bé con ấy không bao giờ quên gõ vào vách đánh thức tôi dậy học lại bài, và nhét qua những gióng song tre một cái bánh giò nóng. Tôi vui sướng nắm chặt bàn tay nó; nó vội vàng rụt tay lại, đội thúng bánh lên đầu chạy vụt ra ngoài ngõ. Sáng nào tôi cũng được ăn điểm tâm từ tinh sương như thế. Một lần mẹ tôi thấy lá bánh ngoài cửa sổ, hỏi tôi. Tôi nói thực, tuy nó đã dặn mãi rằng đừng nói với ai. Mẹ tôi chờ nó ở bến về, gọi lên nhà đưa tiền trả. Nó nhất định không lấy, thưa rằng:
- Con biếu cậu, con không dám nhận tiền đâu.
Tôi nhớ nhất cái trò nó làm cho tôi phải cười những lúc tôi bị mắng hay là lo đến trường không thuộc bài thi. Hễ ở bến về, nó chạy ngay lên với tôi. Nó co một chân lại, nhảy lò cò quanh các cột nhà, miệng dẩu ra huýt sáo, hai bàn tay đập vào nhau theo nhịp cái câu nó hát đi hát lại:
Con cò bay lả, lả bay la, bay ra... bay ra Phố Cát, bay về... bay về Đồng Đăng.
Cô mình... có lấy... có lấy... ta chăng! ới cô mình ơi!
(Câu hát này, ngày nay đôi khi nhớ đến, hoặc nghe đứa trẻ nào hát đến, tôi lại thấy thằng bé con đen đủi, gày loắt choắt và nhanh như con vượn ấy hiện ra. Chẳng biết bây giờ nó đã làm gì. Lần nào đi qua các bến tàu, - bất cứ ở đâu, ở Sài Gòn, ở Cao Miên, ở các con sông xa lạ tôi đã từng đặt vết giầy, - tôi vẫn có ý tìm cái khuôn mặt quen quen đó, vì không hiểu tại sao, tôi cứ muốn tin rằng trời sinh ra nó là chỉ để cho nó sống mãi trên các bến tàu mà thôi... Thực vậy, tôi tin rằng nó đã là một kẻ giang hồ và có một điều tin chắc hơn nữa là không bao giờ nó đói).
Mải với thằng bé con này, tôi bỏ xa Dị quá. Vậy tôi trở lại cùng người bạn học con nhà giàu ấy. Tình bè bạn của chúng tôi, về sau này, thân thiết hơn một chút, tại từ cái buổi sáng tôi đứng chờ anh ở gốc cây, anh thường sang nhà tôi để rủ tôi đi chơi, đi học, chứ không được tôi sang nhà anh trước. Sự thay đổi ấy có lẽ do cái thông minh của Dị đã có sẵn ngay trong tuổi còn măng sữa đó chăng!
Tôi dong mấy con dê trắng lên chân thành cho ăn cỏ. Dị theo tôi và nhận phần hai con để trông đỡ hộ. Chúng tôi hay ngồi bên cái giếng to đào dưới thành, lúc nào cũng đông người kéo nước. Có lẽ đến gần khắp tỉnh ăn nước giếng này, vì ít nhà có giếng riêng. May mà nhà tôi có ông Bồng đào cái giếng nhỏ rồi, chứ mẹ tôi tiết kiệm không nuôi đầy tớ biết nhờ ai gánh nước cho! Hồi ấy chưa có máy nước và đèn điện. Tôi còn nhớ những buổi chiều mùa hạ, trước nhà tôi hoa xoan tây rụng trắng cả con đường lát đá, tôi đứng chờ một lão già câm. Chiều nào lão cũng móc ở cái túi áo tây vàng ra cho tôi một con cánh cam, rồi lão mới leo cái cột đèn sắt sơn hắc ín để đánh diêm châm ngọn đèn dầu đặt trong cái hòm kính bám đầy cát bụi. Mỗi phố cách một quãng khá xa mới có một cột đèn, tất cả tỉnh chỉ có chừng hai chục ngọn, cho nên sở Lục lộ của tỉnh nuôi có một mình lão để làm cái việc rất quan hệ cho một dúm dân, khi mặt trời đã tắt. Những tối có trăng, các phố lại thiếu cái ánh lửa vàng đục ấy, không hiểu sở Lục lộ muốn hà tiện bấc dầu, hay muốn cho người ta thưởng thức cái đẹp của đêm trăng.
Riêng tôi, tôi mong cho mau hết tuần trăng để lại được gặp lão già câm, để đón con cánh cam xanh biếc và ngửa mặt lên chờ bàn tay lão khẽ vuốt tóc tôi, rồi lão lại quàng chiếc thang tre vào cái vai gày yếu, lẳng lặng đi đến cây đèn khác. Một buổi tối trời trở rét, tôi cũng ra chờ lão. Hôm ấy, hết mùa thu cánh cam không còn nữa, lão chưa tìm được con gì cho tôi. Tôi hiểu thế, bởi lão ta chỉ tay lên cây, lên trời u ơ nói. Lão trèo lên thang. Tôi thấy cái thang run theo hai bàn chân lão. Khi ngọn đèn dầu ở trên đầu tôi đã sáng, lão từ từ xuống, cái thang run hơn lúc nãy nhiều. Nhìn lên mặt lão, tôi thấy đôi mắt lão đỏ ngầu lên, và nước rãi ở cái miệng móm mém ứa rớt xuống cầm.
Lão xoa đầu tôi; lần này, không hiểu sao, lão cúi thấp người nhìn vào mặt tôi một lúc rồi mới kéo lê cái thang đi...
Tối hôm sau, tôi lại ra cột đèn chờ. Nhưng một sự ngạc nhiên là tôi thấy một người trẻ tuổi vác thang săm săm tới. Khi người ấy xuống, tôi hỏi thăm lão già thì y cho tôi biết tối qua trong khi ốm, lão cố thắp đến cột đèn cuối cùng ở ngoài bến thì đuối sức bị ngã từ trên đầu thang xuống đất, chết ngay.
Cái chết của lão già câm khiến tôi ngơ ngẩn mất mấy ngày. Và tôi cứ rùng mình nghĩ đến đôi mắt đỏ ngầu của lão nhìn tôi lần sau chót đó.
Mẹ tôi thường cho tôi theo đến chợ. Không phải là chợ ở trong tỉnh mà cách xa một quãng đường dài. Chợ họp trong một rừng thông, một bên có núi đồi, xa xa là biển cả mênh mông, đứng ở chợ nghe rõ tiếng sóng vang dội lại.
Mẹ tôi hay mua những con “bông thùa”, giống như con đỉa, - cái giống này tôi sợ lắm, cũng như bây giờ tôi sợ đỉa, sợ giun. Lần nào đi chợ về, tôi cũng được bưng một rổ sim đầy, tôi cùng Dị ăn đến hai ngày mới hết. Lần nào đi chợ về, tôi cũng được mấy cái mai con mực, Dị và tôi hì hục dùng mấy cái mai mực làm thuyền chiến, trên có lính cắt bằng giấy cứng, đủ cả đao cung. Chúng tôi đem ra ngoài bến, thả bên những hòn đá dưới gậm cầu tầu. Sông Bạch Đằng thường có gió to sóng lớn. Hai cái thuyền trắng nõn nổi lềnh bềnh trên mặt nước đục ngầu, luôn luôn nhô lên, chúi xuống va chạm vào nhau. Hồi ấy đã được học lịch sử, chúng tôi có cảm tưởng rằng đấy là một trận huyết chiến của Trần Hưng Đạo với Ô Mã Nhi của nhà Nguyên, - “Xưa kia, tại con sông này, biết đâu chẳng chính ngay chỗ chúng ta đang đứng, đã vùi bao nhiêu xương máu”, - nghĩ thế, chúng tôi la hét ầm lên, trợ oai cho mấy anh lính giấy đang va đập vào nhau.
Một buổi sớm, độ hồi canh tư, tôi đang chập chờn đợi thằng con ông Bồng đến gõ vào vách đánh thức tôi dậy học bài thì tôi nghe thấy tiếng kêu văng vẳng ở bến tầu, thày mẹ tôi cũng vùng cả dậy, ai nấy ngơ ngác lắng tai nghe.
Tôi loáng thấy bóng ông Bồng chạy vút qua cửa sổ. Mẹ tôi gọi giật ông lại hỏi, giọng bà run lên:
- Cái gì đó hở ông?
Ông Bồng đáp vội vàng, giọng ông run run:
- Ngoài bến có tàu bị đắm, không biết thằng Bống nhà tôi có làm sao không.
Nói rồi, ông chạy biến ra ngoài bờ rào dâm bụt. Tôi ngồi trùm chăn run bần bật, thấy hiện ra biết bao xác chết. Mẹ tôi cũng run bắn cả người, và bà lẩm bẩm khấn Trời, cầu cho không ai chết, nhất là thằng Bống, bà cầu cho nó đừng đáp thuyền ra bán hàng ở chiếc tàu bị nạn kia. Tôi cũng lo cho nó lắm. Cái chết của nó, nếu xảy ra, sẽ khiến tôi đau buồn hơn cái chết của lão già câm kia nhiều. Cả nhà tôi im lặng, lắng nghe tiếng kêu ngoài sông lúc này càng vang rộn thêm lên. Bỗng có tiếng chân người chạy huỳnh huỵch ngoài ngõ, rồi thằng Bống đẩy cửa chui vào. Tôi mừng quá nhảy xuống giường ôm lấy nó. Nó hổn hển thuật cho thầy mẹ tôi nghe cái tai nạn vừa xẩy ra: đó là chiếc tầu “Thông Vôi” ở Hải Phòng về.
Tầu đang lượn dần vào cặp bến thì hành khách tranh nhau lên trước đổ xô về một mạn, nhân lúc sóng gió to, tầu chòng chành, nước ùa vào, rồi nghiêng chìm xuống. May nó đi lấy bánh, chậm ra một chút thành ra thoát chết. Mọi khi tầu sắp đến nơi mới rúc còi, nó đã đáp thuyền ra bán bánh cho những hành khách đi suốt không lên bến.
Đến giờ đi học, Dị và tôi ra đường, thấy người ta vác trên vai những kẻ bị nạn đắm tàu, hoặc chưa chết, hoặc chết rồi, tóc rũ ra, mặt nhợt như tờ giấy. Trời ẩm giá và mù sa trắng xóa, những người sống và những người chết ấy chạy vùn vụt trên đường để đến Nhà thương, nhà xác.
Chúng tôi sợ quá, đi lẩn sau các gốc cây. Qua Nhà thương, tôi ù té chạy. Từ hôm ấy, cái Nhà thương kia đối với tôi là một thứ ghê rợn nhất. Muốn trốn tránh nó, tôi phải tìm con đường khác xa gấp hai lần.
Một đêm, trời đen như mực, mẹ tôi thấy đau quặn bụng, bà đánh thức thầy tôi dậy đưa bà đến nhà thương đẻ. Lúc qua nhà ngang, chỗ buồng tầm, mẹ tôi còn soi đèn xem các nia tầm còn lá dâu không rồi mới ra đi. Đêm khuya xe không có, thầy tôi xóc cánh tay mẹ tôi qua mấy con đường mới đến Nhà thương.
Than ôi, lần ra đi là lần mẹ tôi vĩnh biệt cuộc đời, cuộc đời chỉ có một người chồng, một đứa con và mấy nia tầm.
Mẹ tôi đã kiệt sức chết trên bàn đẻ, đứa con còn nằm trong bụng chưa ra. Mẹ tôi không được gặp con khi tắt thở, cũng không được thấy chồng, vì lúc ấy thầy tôi chạy lên núi, vào Nhà thương Tây gọi viên đốc tờ người Pháp. Ông ta không xuống, còn mắc ngủ và ngại rét. Tôi nhớ tôi đang trùm kín chăn bởi sợ ma - cái đất này, ông Bồng bảo có nhiều cốt lắm, đó là bãi chiến trường ngày xưa - thì thày tôi về khẽ kéo chăn ra và run giọng bảo: “Mẹ con đi rồi”! Giá lúc khác thì tôi không hiểu chữ “đi” là gì, nhưng ở lúc này tôi hiểu rõ ràng ngay cái nghĩa gớm ghê của nó. Tôi chui vào chăn mà khóc. Thày tôi lại mở cửa bước ra.
Ngày hôm sau, ở Nhà xác về, tôi thấy ông Bồng đang ngồi sơn chiếc quan tài. Mầu sơn đỏ như sắc máu! Bàn tay run rẩy của ông chậm chạp đưa chiếc bút sơn cùn trên tấm ván gỗ vàng tâm còn ướt, tiết ra một mùi hôi hám. Cỗ quan tài đóng vội, cá không liền khớp, gỗ xấu nứt vỡ ra, ông Bồng phải lấy đất sét trộn vôi nhét vào. Cái quan tài của mẹ tôi! của người đàn bà suốt đời vất vả, thờ chồng, quý con, hy sinh đến nỗi quên cả thân mình.
(Ông Bồng! ông đã chết từ lâu rồi, nhưng từ ngày nào, tháng nào, năm nào, tôi không biết, vì kẻ bạc bẽo này có trở lại thăm cái vườn dâu nương sắn nữa đâu! Tôi chưa được tạ ơn ông. Thú thực rằng, - vong hồn ông hãy tin cho tôi - ngày ấy, và cả ngày nay nữa, tôi thầm ước được ngồi sơn một chiếc quan tài cũng bằng thứ sơn đỏ tươi ấy để liệm ông, để tạ ơn ông).
Hôm đưa đám mẹ tôi, sương mù tan đi, trời bớt lạnh và nắng hừng lên từ sáng sớm. Bốn người phu gày ốm do thằng Bống chạy đi mướn được, vác cỗ đòn gỗ mộc đến, đặt chiếc áo quan lên. Trống kèn không có. Theo sau chỉ có dăm ba người bạn làm việc cùng thầy tôi. Dị đi kèm tôi một quãng rồi trở về lúc nào tôi không biết. Thằng Bống đi trước, một tay cầm cành tre buộc một tờ giấy hồng điều, một tay rắc những thoi vàng xuống mặt đường.
Qua khỏi tỉnh, đám tang đi vào một cánh rừng thông. Bắt đầu từ đây là đường đất núi thắm như son; dưới những bước chân cất nặng nề, bụi đỏ vẩn lên bay tản mát. Tiếng gió reo nhè nhẹ trên cành thông, và tiếng sóng vỗ ngoài bờ biển xa, buồn hiu hắt. Chiếc quan tài đỏ chói dưới mặt trời nghiêng nghiêng trên vai những kẻ ốm gày nhọc mệt leo lên dốc núi. Màu đỏ bị nắng rọi vào càng nổi gắt lên trong cái màu xanh dịu của lá cây. Cái màu đỏ ghê gớm ấy thấm nhập vào đôi đồng tử tôi, vào đấy linh hồn tôi ngày thơ ấu, đến mãi bây giờ vẫn còn khiến tôi rùng rợn khi trông thấy nó ở đâu... ở cái áo trên mình người con gái, ở chiếc ca vát trên cổ một chàng trai. Cái màu đỏ không bao giờ tôi quên được, bởi vì nó là cái màu của máu, của chiếc quan tài mẹ tôi.
Bốn người phu dừng lại dưới một đồi thông. Tôi ngẩng lên, đã thấy ông Bồng đứng bên miệng huyệt từ bao giờ, tay cầm cái cuốc. Thì ra, một mình, ông đã mò ra đấy từ canh ba, hì hục đào mãi đến lúc này mới xong. Mấy sợi thừng ròng xuống, mẹ tôi cũng từ từ xuống theo. Ông Bồng đứng xoạc chân sang hai bên thành huyệt, cúi đỡ áo quan cho được thăng bằng, rồi ông là người trước tiên lấp đất. Hòn đất rắn rơi đánh thịch vào mặt ván thiên, lòng tôi đứt ra từng khúc, tôi tưởng mẹ tôi dưới đó đã bị thương, đã kêu lên, đã nhỏm lên. Nhưng không, tôi không thấy gì hết, mắt tôi chỉ hoa lên vì những xẻng đất tới tấp rơi mãi xuống người mẹ tôi, - cái màu sơn đỏ chói mất dần, huyệt cứ đầy dần.
Rồi thì, một nấm đất cao! Mấy nén hương tỏa vài tia khói trắng.
Ông Bồng rắc trên mộ những hạt vừng. Ông cắt nghĩa rằng: làm thế, bảy ngày bảy đêm hạt vừng mọc thành cây, đứa bé trong bụng mẹ mới thoát ra đi đầu thai ngay cửa khác. Nếu không, thai còn vướng trong bụng cho đến vài năm thịt người mẹ nát lũa ra, nó mới được thoát đi. Tuần lễ sau viếng mộ, tôi thấy hạt vừng đã lên cây. Tôi tin rằng vừa đêm qua đã có một vong hồn ở dưới ấy bay lên, và hiện lúc này đã làm người, đang nằm trong một cái nôi ấm áp.
Ông Bồng, thằng Bống theo tiễn thày tôi và tôi ra bến tàu một buổi chiều. Tôi bỏ học, thày tôi thôi việc, trở về Hà Nội để xa lánh cái nơi đồng chua nước mặn đã cướp đi mất của chúng tôi một người thân yêu. Dị cũng theo ra, chúng tôi đã thành thực khóc hết cả nước mắt của đôi bạn nhỏ.
Tàu rời bến, tiếng còi vang trên sóng nước. Ông Bồng chắp tay hứa với thày tôi sẽ luôn luôn đắp điếm mộ phần mẹ tôi. Tôi với trông theo Dị và trông theo cái thuyền mai mực còn nổi bồng bềnh giữa những hòn đá xám để buồn tiếc cái vui sáng của ngày thơ, mà từ lúc này có lẽ tôi không còn có nữa.
Thực vậy, mỗi ngày được sống, tôi càng gặp bao nhiêu thất vọng, nếm bao nhiêu cay đắng. Bây giờ gặp Dị, chắc chúng tôi phải lạ nhau. Cái cậu bé con nhà giàu ấy sướng từ thuở lọt lòng, ngày nay đã làm gì rồi đây? - Làm quan, làm ông phán, hay là... Nhưng quyết là không làm cái nghề này như tôi.
Bởi ngày xưa, những lúc chúng tôi ngồi trên núi coi dê, Dị chỉ thích nói chuyện khai mỏ, làm nhà, đóng tàu thủy chạy ganh với tàu “Thông Vôi”, “Phi hổ”, - còn tôi, tôi chỉ mê đọc “Tùy Đường”, “Tam quốc”, và học thuộc lòng thơ ngụ ngôn, - tôi thuộc nhất bài thơ cô ả đi buôn sữa. Tôi thường đọc bài ấy giễu anh. Đến bây giờ, tôi nhận ra rằng ngày nhỏ tôi đã tự giễu tôi, tôi đã tiên tri cuộc đời tôi mà tôi không biết. Tôi đã âm thầm ôm bao nhiêu mộng, nuôi bao nhiêu chí hướng, để rồi thì không làm gì khác hơn cái nghề bán hồn, bán óc này năm sáu năm nay. “Như thế chẳng đủ lắm rồi ư!”.
Tôi trích câu này trong bức thư của một người bạn ở Rạch Giá viết cho tôi khi được tin tôi giã nghề viết để đi làm nghề buôn. Người bạn xa của tôi ơi, vậy ra như thế cũng đủ lắm rồi à? Nhưng mà ở cái đất nước mình, bạn chẳng thấy ư, biết bao nhiêu nghệ sĩ vẫn nằm co đấy...
Tôi say lời, lạc bút mất rồi. Đáng lẽ tôi nói đến việc bốc mộ mẹ tôi từ nãy.
Thầy tôi, chừng mười năm sau, lại xuống Quảng Yên xin giấy phép ông Sứ để mang xương mẹ tôi về quê hương. Đêm nằm nhà trọ, thày tôi đã chiêm bao thấy mẹ tôi đứng đầu giường, tóc xõa ra, mình mặc cái áo mà thày tôi đã mặc cho lúc chết. Mẹ tôi khóc nấc lên mấy tiếng rồi biến đi ngay. Ấy là lần đầu, thày tôi thấy mộng. Vốn không mê tín mà lúc kể chuyện tôi nghe, thầy tôi cũng phải nhận rằng khi đó lòng rất tỉnh, mới nằm chưa ngủ, rõ ràng thấy cái bóng đứng trên đầu, rõ ràng nghe tiếng khóc.
Chiều hôm sau, thày tôi xách chiếc va li, tôi nhớ là một chiếc va li bằng mây đan, xuống một chiếc tàu thủy sang Hải Phòng. Hôm ấy sông sóng nhỏ, tàu chạy được nhanh. Nhưng bỗng nhiên một mạn tàu cứ dần dần nghiêng lệch, có mấy người kêu lên. Tức thì mại bản đi xem máy móc, rồi đi lục lọi khám xét các đồ hành lý.
Thày tôi lo lắm. Nếu họ mở đến chiếc va li, lẽ tất nhiên họ vứt xuống nước liền, và họ còn làm lôi thôi nữa. Ấy là do cái dị đoan của các tàu bè trên sông họ cho rằng hễ tàu nào mang cốt người thì bị đắm. Thày tôi lo quá, họ vẫn lục soát kỹ càng, sau không biết làm sao thày tôi phải khấn đến vong hồn mẹ tôi. Chẳng rõ vong hồn mẹ tôi có xui khiến gì chăng mà bọn mại bản sắp đến chỗ thày tôi bỗng không khám nữa, vì tàu đã thôi nghiêng và đã gần đến Cảng. Thế là được thoát. Gặp xe lửa, thày tôi đáp về quê ngay.
Xuống một ga nhỏ, thày tôi một mình với cái va li đựng mớ xương khô, đi giữa những cánh đồng không, giữa những bãi tha ma mù mịt tối.
Về tới đầu làng, bởi kiêng không nên đem cốt vào nhà, thày tôi giấu chiếc va li trong một bụi tre gai, bẻ cành lá phủ lên trên.
Một ông thày địa lý đã được mời về đợi trước và những người anh em họ tôi, được tin thày tôi tới nhà rồi liền thắp đuốc, dong đèn, vác thuổng cuốc kéo ra nghĩa địa. Tôi cũng được người ta đánh thức dậy, thấy thày tôi thì mừng rỡ quá, rồi tôi đi theo bọn người kia đi. Gió đêm thổi lộng lên rét lắm. Trời tối đen, giơ bàn tay không trông rõ. Mới có canh hai. Phải làm ngay, vì ông thày địa lý bảo nếu để quá giờ thì hỏng hết. Ông chú họ tôi lấy lá chiếu căng trên đầu huyệt che hướng gió. Mọi người im lặng vì gió rét bạt hơi, và có lẽ cũng vì bị bao bọc trong cái khí âm ghê rợn nên không ai muốn nói.
Chị họ tôi vừa gánh ra một nồi nước trầm hương. Tôi trải tấm vóc hồng vào trong lòng chiếc tiểu sành. Trong khi ông thày ngắm lại huyệt xem đào có đúng theo những đường dây ông căng không thì các anh họ tôi mở va li ra, nhặt từng mẩu xương nhúng vào chậu nước trầm cọ rửa. Trước tôi còn sợ, sau nhìn mãi thấy dạn đi. Tôi tranh phần rửa cái đầu lâu. Cái đầu lâu bây giờ ở trên tay tôi, dập nát, nên tôi nhè nhẹ tay kẻo vỡ! Cái đầu lâu ngày xưa kia, có mớ tóc dài óng chuốt như tơ, có đôi mày liễu, cặp mắt bồ câu, hai lúm đồng tiền, hai hàm răng hạt na đen nhánh - hàm răng đen của người đàn bà Huế. Tôi gỡ những sợi rễ thông bám vào trong đôi hố mắt, trên cái xương hàm, rồi hai tay bưng đặt vào trong tiểu sành. Đã đến giờ, ông thày bảo mọi người hạ tiểu.
Rồi thì lại một nấm đất cao! Lại mấy nén hương tỏa lên vài tia khói trắng.
Sự xê dịch của mẹ tôi trong cõi chết thế là xong. Cả kiếp tài hoa của người thiếu nữ sông Hương chỉ còn gửi lại một nắm xương khô ở quê chồng nơi xứ Bắc.
Tiểu thuyết thứ Bảy, số 300-301/1940
Một chuyện của lòng
Kính tặng vong hồn từ mẫu
Bây giờ, cái dinh thự ấy vắng chủ nhân lại càng thêm rộng rãi, càng thêm u tịch.
Tôi một mình đi dạo quanh khu vườn thoảng mùi hương của những thứ hoa kỳ lạ, dưới bóng mát của những cây đại hoa trắng nở đầy cành.
Những khu vườn đẹp ấy đã quen thuộc với tôi từ một tháng nay, không cho tôi thêm một cảm giác gì mới nữa. Đã bao nhiêu chiều, nắng hè vừa nhạt, tôi cùng ông ngoại tôi đi lững thững trên những con đường sỏi rải đầy xác hoa. Tôi tò mò hỏi ông tôi tên từng thứ hoa, thứ cỏ, và lúc mỏi chân, chúng tôi ngồi nghỉ bên hòn núi giả, ông tôi chậm rãi kể cho tôi nghe những trang lịch sử về Tây Sơn đánh đuổi Gia Long..., về việc vua Thành Thái, Duy Tân bị đi đầy...
Giọng ông tôi yếu dần vì xúc động, run run như chứa chất bao nhiêu niềm thống cảm, bi hoài. Những lúc này, ông tôi cau mày, người ngước mắt nhìn về phía đông nam, ở đấy, một làn mây xám lờ đờ trôi trên đỉnh Ngự Bình Sơn.
Vị lão thần nửa đời phò triều Nguyễn, một kẻ bầy tôi trung thực đã được nhìn cuộc suy vi của nước nhà, trước mặt tôi lúc này là hiện hình một dĩ vãng đau thương.
Bây giờ, người đã về trí sĩ, một mình ở một tòa dinh thự kiến trúc theo lối cổ, chỉ có một bõ già sớm tối chực hầu.
Bà ngoại tôi tạ thế từ hồi mẹ tôi ngoài hai mươi tuổi theo chồng ra Bắc.
Ở Bắc Hà, tôi vừa lên bảy tuổi thì mẹ tôi từ giã cõi trần. Tôi nhớ hình như mẹ tôi chết trong khi lâm sản, chết một cách rất nhanh chóng, thảm thương. Tôi nói là “hình như” vì tôi không muốn hỏi cha tôi về những câu chuyện cũ. Thuở còn thơ ấu, cha tôi quanh năm mắc sang Lào, sang Miên theo đuổi về doanh nghiệp, phải gửi tôi ở các quán trọ, hàng cơm. Thuở lớn lên, tôi ham việc học hành, không mấy khi ngồi đối diện cha tôi. Và tuy cha tôi đã tổ chức một gia đình, song than ôi, trong gia đình ấy, tôi thấy tôi là người sống gửi, vì dì ghẻ tôi đối với tôi quá thờ ơ, lãnh đạm, mà cha tôi cũng chẳng quan tâm, săn sóc gì tôi.
Tuy mẹ tôi chết rồi mà ở trong Kinh ông ngoại tôi vẫn thường gửi thư ra Bắc, và cha tôi cũng năng gửi thư vào vấn an người. Nhưng về sau, cha tôi thưa gửi, vì vậy sự liên lạc của cha tôi cùng người cũng nhạt dần.
Tới khi khôn lớn, thỉnh thoảng tôi có viết thư hỏi thăm ông tôi, nhưng tôi chỉ lén viết không cho cha tôi biết. Tôi dời đất Huế từ ngày thơ nhỏ đến ngày nay đã ngót hai mươi năm. Hai mươi năm để hình ảnh nơi quê hương yêu quý, nơi chôn rau cắt rốn của mình chết trong ký ức, bây giờ tôi mới có dịp, lần thứ nhất, trở lại kinh đô Huế, trở lại tìm người đã sinh ra người mẹ hiền bạc mệnh của tôi.
Huế! Ta đã khóc những tiếng khóc đầu tiên ở cái đất vương giả này đây!
Huế! Ta đã được người mẹ trẻ của ta trong những buổi mai gió sông Hương thổi tạt vào khu vườn hoa rộng rãi này dắt ta đi chập chững từng bước một, những bước đầu tiên của đôi chân đang bụ sữa... Ta đã được mẹ ta, ẵm ta ngồi dưới gốc cây đại đầy hoa trắng, vui vẻ ca những bài ca êm ái nhất ở khu vườn ngào ngạt hương thơm mà ta đang đứng bây giờ.
Chiều nay, ông ngoại tôi đi dự tiệc trong dinh cụ Tham Trí. Đứng ngoài vườn chán, tôi lững thững lên nhà. Tôi vào gian phòng mà ông tôi đã sai bõ già dọn dẹp, lau chùi bàn ghế sẵn sau khi nhận được điện tín của tôi, và nay người dành cho tôi chiếm một mình.
Gian phòng rất xinh, tường quét vôi xanh nhạt. Những đồ lối cổ bầy đơn giản và gọn ghẽ. Tôi thích nhất cái giường, cái giường cổ đường triện thiếp vàng chạy xung quanh, trên trải chiếu trúc, nằm mát rượi. Và tôi ưa cả cái gương Tàu hình bầu dục từ bao nhiêu năm mà vẫn không mờ.
Tôi nhớ người bõ già, hôm tôi mới đến, đặt chiếc va li của tôi xuống, rồi điệu bộ lễ phép, lão nói với tôi: Đây là căn phòng bí mật, cửa quanh năm khóa kĩ. Tôi hầu cụ lớn đã mười năm. Nay mới được cụ giao cho chiếc chìa khóa gỉ này.
Câu nói của bõ già làm rộn trí tôi, gợi cho tôi biết bao nghi ngờ, thắc mắc.
Nhiều đêm, trằn trọc không ngủ được, tôi bâng khuâng tự hỏi rằng: cái giường này xưa đã có ai nằm? Cái gương này xưa đã có ai soi?
Cả cái phòng này nữa, sao lại bỏ hoang đến nỗi dù đã lau chùi, quét rửa kĩ rồi mà vẫn còn mùi rêu mốc tanh hôi, ẩm ướt? Hay là, ở đây, đã có người nào tự tử, hoặc đã xảy ra một vụ ám sát ghê gớm... hoặc là có ma quỷ thường tác quái?
Nhưng những dấu hỏi hoài nghi ấy không đủ làm tôi sợ, vì chưa có một chứng cớ nào cho tôi tin là có ma quỷ ở trần gian. Tôi chỉ vẩn vơ nghĩ về cái giường cổ và cái gương Tàu, vì không hiểu sao, hình như tôi có sẵn một linh cảm kỳ quặc đối với hai thứ đó.
Một tối, nhân lúc ông tôi ngồi uống nước ngoài vườn, tôi ở trên giường vùng ngồi dậy. Tôi nhảy xuống đất, rón rén đến cái tủ kê ở góc tường, chăm chú nhìn từng ngăn kéo. Tôi rút mấy ngăn trên, chẳng có vật gì, còn một ngăn cuối, tôi mở nốt, nhưng ngăn này có khóa. Tôi lại giường nằm. Song cái ngăn kéo khóa kĩ kia khiến tôi nghi ngờ dữ quá, rồi bộ óc quen bày đặt chuyện của tôi tạo ngay thành một vụ giết người mà ông tôi là... thủ phạm, và trong ngăn tủ kín đáo kia hẳn giấu giếm một lá thư, một con dao máu lâu ngày đã đen sì lại. Vụ án mạng đó có lẽ vì chính trị, vì tình, hay là vì việc chiếm đoạt gia tài...
Sao lại không thể như thế được, khi mà người ta có một quyền hành lớn trong tay, có một địa vị oai nghi, lẫm liệt ở trong triều.
Rồi tự nhiên tôi tưởng tượng thấy hiện lên một oan hồn đang đập cửa đòi vào... tôi mơ hồ nghe thấy tiếng khóc than ri rỉ trong cái ngăn kéo bí mật kia... Người tôi rờn rợn. Tôi lại nhảy đến trước tủ, và lần này thì quyết định, tôi nhặt một đoạn sắt ở góc tường, dùng hết sức nậy khóa ra. Khi đã thành công, tôi run tay từ từ lôi ngăn kéo. Trong đó, có vài lá thư giấy đã vàng và chữ rất nhòa không đọc được. Dưới những lá thư, có một cái hộp mây đựng tấm gương con, chiếc lược ngà, chiếc rẽ đường ngôi bằng lông dím, mấy hộp phấn sáp, lọ dầu thơm bôi tóc và kim chỉ.
Bên trong cùng, có một cái hộp sơn đen. Mở ra, tôi thấy những cánh hoa khô phủ lên một tấm ảnh người gái Huế. Ngay phút đầu, tâm thần tôi đã rung động vì nhan sắc người trong ảnh. Thiếu nữ đẹp vô ngần. Vẻ đẹp cao quý ấy, ta chỉ có thể thấy ở những nàng công chúa, ở những công nương khuê các giá ngàn vàng.
Càng ngắm bức ảnh, lòng tôi càng như vương vấn một thứ tình say sưa kỳ lạ, một thứ hoài cảm mênh mang...
Tôi không biết người đẹp ấy là ai đối với ông tôi... Có thể là một người con? Một người cháu? Hay một người hầu thiếp? Ồ, nếu nàng là người hầu thiếp, nếu cái mặt hoa ấy, cái mình ngà ngọc ấy, cả cái nhan sắc thần tiên ấy là vật sở hữu của một ông già tóc bạc lưng còng, lần từng bước gậy, sống thoi thóp cạnh cửa mồ, thì than ôi, thật là đau đớn cho nàng, đau đớn cả... cho tôi! Hình như tôi ghen với ông tôi, tôi muốn thấy người đẹp ấy ngay tức khắc. Tôi đoán ông tôi tạm giấu người ấy đi một chỗ trong khi có tôi ở trong dinh, vì người e có điều bất tiện, rồi chờ tôi ra Bắc, nàng mới được về để giữ việc đấm bóp cho người.
Nhưng sau, tôi lại vơ vẩn nghĩ rằng nàng đã chết rồi, vì những cánh hoa khô ai rải lên tấm ảnh có lẽ ngụ một ý nghĩa là: lấy hoa liệm xác người khi sống vốn yêu hoa.
Tôi đang tần ngần nhìn tấm ảnh thì chợt có tiếng ho của ông tôi ngoài hành lang. Sợ người bắt gặp tôi đang phạm một tội tò mò, cái tội tôi tự biết là rất xấu mà lần đầu tiên tôi phạm, nên tôi vội vàng bỏ tấm ảnh vào ô kéo, xếp giấy má lên trên như cũ.
Sau đấy, tôi bâng khuâng hoài về tấm ảnh người con gái đẹp, cái tình bâng khuâng ấy gần như thứ tình yêu. Một lần, tôi lấy tấm ảnh đó ra xem lại, lần này không nhớ là lần thứ mấy, rồi tẩn mẩn bóc một miếng giấy mỏng dán phía sau, tôi đọc thấy hai chữ Bạch Vân, nét rất mờ.
Đó là tên người trong ảnh, chắc hẳn rồi. Cái tên ấy bắt đầu in sâu vào trí não tôi, và khiến tôi thầm nhắc nhủ đến luôn.
Một buổi chiều nắng tắt đã lâu, tôi theo ông tôi ra vườn sửa cây cảnh. Như mọi lần, chúng tôi lại ngồi trên tấm ghế đá bên hòn non bộ. Tôi ngoảnh về phía đông nam, ngắm một dải mây trắng trôi lững thững trên đỉnh núi Ngự Bình, và tôi nói với ông tôi như một đứa trẻ hiền lành, ngoan ngoãn:
- Ông ơi, mây trắng bay trên núi Ngự Bình đẹp quá!
- Ừ, sao cháu?
- Bẩm ông, ở Hà Nội, cháu có một người bạn gái nhờ cháu đặt cho một cái biệt hiệu, giá lấy cảnh kia mà nghĩ ra một cái tên thì có lẽ cũng hay hay... Tỷ dụ như Bạch Vân chẳng hạn... có được không ông?
- Sao không được... À, xưa kia...
Nhưng ông tôi ngừng ngay lại, đôi mắt lờ đờ tựa hồ vừa thoáng qua một cái bóng dĩ vãng thảm sầu. Người đặt bàn tay run rẩy lên vai tôi, nhìn chằm chặp vào mắt tôi, ngắm nghía tôi một cách lạ lùng, tỉ mỉ như ông thầy coi tướng số. Rồi khi không, tôi nhận thấy mấy giọt lệ bám long lanh trong cặp kính, người bảo tôi:
- Cháu ôi, khi xưa..., cũng vào một buổi chiều, nhân buồn lòng về triều chính, ông ngồi ở cái ghế này uống rượu giải sầu, chợt thấy một đám mây trắng bay trên núi, và chính giữa lúc ấy thì ở trong phòng bà ngoại cháu vừa sinh hạ ra mẹ cháu, nên ông mượn cảnh nọ mà đặt tên cho mẹ cháu là Bạch Vân. Bây giờ, mẹ cháu chết rồi, mà đám mây trắng kia lại kéo qua đỉnh núi Ngự Bình để cháu vô tình nhắc đến khiến ông đau đớn biết bao nhiêu!
Cả tâm hồn tôi tê tái, trái tim tôi như tan vỡ!
Thế ra bức ảnh người thiếu nữ đẹp như nàng công chúa ấy lại chính là mẹ tôi?
Tôi, thằng con khốn nạn này, đã thầm yêu mẹ, đã bày ra trong tưởng tượng biết bao ngờ vực, đã ghen ngấm ngầm với người ông ngoại từ ngót một tháng nay?
Thực là một huyễn mộng bất ngờ tan ra như bọt nước. Một tiếng sét, một làn chớp xé mây mù để cho tôi thoáng nhìn thấy mảnh trời trong xanh.
Hỡi người mẹ hiền bạc mệnh của tôi, người đã bỏ lầu hoa chốn Đô thành để đi chôn cả nhan sắc trong gian truân đau khổ với chồng, với con, người đã chôn cả tấm hình hài ngàn vàng trong kiếp giang hồ, chết âm thầm ở nơi đất lạ, quê người!
Tôi ngả đầu vào vai ông tôi mà khóc tựa như đứa trẻ thơ. Rồi ông tôi khẽ nói bên tai tôi, giọng hiền từ như một ông Tiên, ông Bụt ở trên trời xuống dỗ dành một kẻ đau thương, mà tôi thường được nghe trong những truyện cổ tích.
- Cháu ạ, khi xưa có lẽ vì mối lương duyên trời định mà ông gả con gái cho cha cháu. Khi ấy cha cháu ở ngoài Bắc đổi vào đây làm “xếp” ga. Ông thương cha cháu về đức tốt, nết hiền, con gái ông cũng ưng cha cháu vì nói năng hoạt bát, tài hoa. Thấy hai trẻ yêu nhau, ông cho phép cha cháu ra vào dinh tự nhiên. Rồi ít lâu, ông cho cha cháu vào hẳn trong dinh gửi rể, thiệt tình ông quý như con đẻ dứt lòng.
Được vài năm, nhà nước đổi cha cháu ra làm ngoài Bắc, mẹ cháu phải dời ông để theo chồng. Tin mẹ cháu bỏ mệnh nơi đất Bắc chẳng mấy chốc đến tai ông. Bà ngoại cháu thụ bệnh và chết cũng vì tin thê thảm đó.
Căn phòng kia từ khi mẹ cháu chết đi, ông truyền khóa kín và đến mãi bây giờ ông mới cho mở để dành chỗ cháu nằm; khi trước chính đấy là chỗ cha mẹ cháu động phòng hợp cẩn. Cái giường cháu đang nằm, cái gương cháu đang soi đều là những đồ vật có in bóng của cha mẹ cháu tự ngày xưa.
Ông tôi trầm ngâm một lúc rồi tiếp lời:
- À, trong một ngăn kéo tủ góc phòng, ông còn cất tấm ảnh mẹ cháu chụp một ngày trước hôm làm lễ cưới. Tấm ảnh ấy ông chắc đã mờ rồi, vì đã mười mấy năm nay ông không muốn mở cửa gian phòng đó để nhìn những kỉ niệm thương tâm. Đây, chìa khóa ngăn kéo tủ ấy đây, ông cho phép cháu vào mà hôn mẹ.
Tôi chạy vụt vào phòng như một thằng điên. Tôi trịnh trọng lấy tấm ảnh ra ôm chầm vào ngực mà ôm ấp; đưa lên mặt mà hôn hít, mà ngắm nghía. Tôi nhìn ảnh, rồi nhìn bóng tôi ở trong gương xem có nét gì giống mẹ không. Tôi ôm lấy tấm gương hôn chùn chụt, tưởng tượng rằng trong đó vẫn còn ghi lại cái bóng mẹ tôi những lúc xưa đứng xõa tóc chải đầu. Tôi nhảy lên giường, vuốt ve từng chiếc gọng màn, hôn đôi gối, hôn cái nệm - tưởng tượng rằng chăn màn ấy, gối nệm ấy còn ấp ủ mùi hương của da thịt người mẹ đẹp của tôi.
Mê man và vui sướng như được thấy mẹ hiền sống lại, tôi nâng niu tấm ảnh trên tay, ngắm mãi không mỏi mắt. Bây giờ tôi mới được trông mặt mẹ, vì tự thủa lấy chồng, mẹ tôi không hề chụp một tấm ảnh nào.
Đêm ấy, tôi ấp ảnh mẹ tôi vào ngực, ngủ ngon lành trên nệm như đứa trẻ nhỏ ngủ ngon lành trong một cái nôi.
Tôi mơ màng thấy tôi bé lại, có một bàn tay trắng muốt vỗ về tôi... Bên tai tôi, văng vẳng tiếng ai ca khúc Nam bình ru cho tôi ngủ, giọng ca lẫn với giọng đàn mê li...
Nhưng ác làm sao gà bên tường hoa bỗng đâu lên tiếng gáy, tôi bừng mở mắt, nhìn qua cửa sổ: một chiếc bồng đang kẽo kẹt lướt ngoài sông Hương. Tiếng ca với cả tiếng đàn của người kĩ nữ vô danh vọng đưa đến tai tôi càng mê li, càng não nuột..., than ôi, ta tiếc sao đó chẳng là một giấc mơ vĩnh viễn để ta được ngủ hoài dưới bàn tay mẹ ta ve vuốt, để ta được tưởng rằng tiếng hát kia là tiếng mẹ hiền ta ru...
Phấn hương, Nxb Tân Dân, H., 1939
Bức thư của người lấy vợ
Anh Lê,
Thế là xong, tất cả xong rồi anh ạ! Cái việc tôi thắc mắc, lưỡng lự, sợ hãi nữa, chiều hôm qua tôi đã dám làm.
Bây giờ mọi sự đắn đo sôi cháy trong lòng tôi, thôi thì đành coi là những đám mây đen tan vội trước một cơn mưa hung hãn. Tôi không còn dám nghĩ lại những điều tôi đã nghĩ. Cuộc sống từ nay như một chiếc quan tài, hay là một nghiệp chướng không bao giờ xê dịch.
Khác mọi khi, tôi viết cho anh lần này trên mấy tờ giấy rất trắng có kẻ ô vuông và bằng một thứ chữ đứng đắn, lề lối của bàn tay viên thư ký già. Anh thấy chưa, những chữ O tròn trĩnh, những chữ hoa chân chỉnh như cái thứ chiêu cô bách thọ đồ.
Cái bàn giấy mới của tôi kê gần chiếc giường có chăn gối mới. Mùi nước hoa ở gối màn thơm đến nhức đầu lên được. Nước hoa của vợ tôi. Đã ngót một tháng nay, từ đêm động phòng đến giờ, lúc nào rảnh rỗi, người đàn bà cũng kéo lại tấm khăn giải giường cho thẳng, xếp đôi gối cho ngay ngắn và luôn luôn… vẩy nước hoa. Làm như nước hoa là một thứ bùa ân ái mà tất cả những đôi vợ chồng mới mẻ không dùng không được.
Thế nhưng nước hoa không phải cái tôi cần nói với anh ở thư này. Tôi nói với anh về cái việc tôi thắc mắc, lưỡng lự, sợ hãi mà tôi đã dám làm, ấy là việc tôi đã ký thác tên tuổi tôi, cả cuộc đời tôi, cả sinh mệnh tôi vào tờ hợp đồng giá thú.
Thế là xong! Không ngờ gì nữa rằng từ nay trong đời tôi sẽ không còn có những ngày mà thất tinh được nuông chiều bằng khoái lạc và độc dược, chẳng một ai ngăn cấm hết.
Tôi đã ký một chữ để rút ngắn và thu tròn lại cả một kiếp nhân sinh cạnh một kẻ phụ nhân. Để làm gì? Để rồi đa mang cảnh con sài mẹ ốm, kiềm chế nhau vì ghen tuông, vì bất đồng tình cảm như tất cả những cặp phu thê trên trái đất.
Vậy mà buổi chiều hôm đó tôi đã hạ tay, ký nhận cái định mệnh do luật pháp gán cho mình.
Từ nay, ô hô! Luật pháp, lễ nghi, nghĩa vụ liên kết với nhau mà câu thúc thân thể tôi, giám sát cuộc sống của tôi, gông cổ xích chân tôi.
Các anh đừng có chứa chấp tôi trong nhà các anh vài ba tháng. Kẻ phụ nhân rất có quyền lực kia sẽ được luật pháp bênh vực mà nặc tôi về cái tội tự do và vô cớ bỏ gia đình. Tôi sẽ phải nhịn nhục trước mọi sự bất hòa, vì nếu tôi có nặng tay một chút, ắt luật pháp sẽ vì cái thân bồ liễu đó mà cho tôi biết thế nào là sự tôn trọng nữ quyền.
Chúng tôi đã đem nhau ra tòa Đốc Lý, trước ba cuộc bách niên giai lão. Trước khi ra đi, vợ tôi có cái vui mừng gần nghĩa với vẻ hý hửng của một gái sắp được người ta đem đi tìm chân hạnh phúc mà bất cứ cô gái nào cũng phải hận lòng chờ đón.
Vợ tôi trang điểm rất lâu, mặc lại chiếc áo mà nàng đã mặc để quỳ bên tôi ngày cưới, trước cái án thư có con gà sống đầy mình kết tơ hồng đứng ngạo nghễ trên lưng con rùa làm bằng đu đủ.
Chiếc áo màu rượu vang thêu kim tuyến lừng danh. Vợ tôi bôi nước hoa vào vạt áo, đứng mãi trước gương mà ngắm. Tôi thì đủng đỉnh, không muốn thay đến cả chiếc sơ mi chứ đừng nói đến sự khó nhọc đi tìm chiếc ca vát cho trịnh trọng, cho ra vẻ anh chồng mới. “Nàng” nguýt tôi, cau có cự mặt tôi về cái lười không húi đầu cạo râu cho trẻ ra một chút. - Người với ngợm thế kia, chẳng sợ cái Yến nó chê cho. Còn anh Thông nữa, hôm nay anh ấy về chỉ cốt xét xem học vấn và đức hạnh của cậu đấy!
“Cái Yến nó chê - thì sự đó tôi cũng nên lưu tâm một chút. Cô em vợ xinh đẹp quá, lúc nào cũng tít mắt cười. Còn gã anh vợ kia thì can hệ quái gì? Thực là một khối thịt xương thừa thãi trong loài người. Ấy là một kẻ đàn ông mặt mũi tròn phính, một thứ mặt của mọi kẻ con nhà giàu chứa đựng quá nhiều sâm nhung, cao hổ cốt, cao bú dù, giò lụa, gạo tám thơm, cao đơn hoàn tán… Cái mặt chuyên hưởng thụ, ngây thơ đến nỗi ta không biết là ngu dại hay lành hiền, và ta cũng lại không biết đó là con cầu tự hay cái thai tiên thiên bất túc được bọc mỡ vì tẩm bổ. Cái mặt vô nghĩa lý khiến ta nghĩ ngay rằng nếu sinh vào cửa nhà bần tiện thì chỉ đến cung đi nhặt lá; nếu sinh vào nơi quyền quý thì cũng chỉ có thể bé thì làm một gã học trò lười nhác ở trường, hạch sách đầy tớ ở nhà; lên lớp, đỗ đạt nhờ luồn cúi; cũng vậy, cho đến khi đi làm rồi cưới vợ đẹp đẻ con ngoan, cứ tẩm bổ mãi cho trọn cái lý tưởng làm giá áo túi cơm.
Nếu tôi đã phải cực lòng mang những ý không đẹp đối với người anh ruột vợ tôi, ấy chỉ vì tôi đã phẫn uất bị vợ tôi đem ông anh danh giá đó ra mà miệt thị tôi là một thằng vô nghề nghiệp.
Tức thì tôi lườm lại vợ tôi, và tôi tỏ sự phẫn uất kia bằng cách nằm lăn ngay ra giường.
Bà mẹ tôi ở dưới hàng đang cân măng miến cho khách bỗng the thé gọi chúng tôi xuống để ra tòa Đốc Lý.
Lệnh kia có đủ sức dựng lưng tôi dậy. Bà mẹ tôi không phải là một bà mẹ như các ông viết tiểu thuyết vẫn lấy làm tiêu biểu cho đức hiền hậu, nhẫn nại, chịu đau, chịu khổ vì chồng vì con. Bà mẹ tôi, hỡi ơi, khi giận dữ thì là một bó đuốc hun cháy hết mọi đồ đạc và mọi kẻ thân yếu ở trong nhà. Cha tôi là một ông ký giả mất việc từ cái hồi mẹ tôi tay trắng cố làm nên giàu có như ngày nay. Cho nên, ông bất lực như một bệnh nhân hấp hối.
- Thằng cả đâu? Gớm, tôi xin ông ngắm nghía vừa vừa chứ! Rồi thì mai kia chỉ lo không được ngắm mãi thôi con ạ.
Giọng bà rít và kéo dài ra nghe mà rợn tóc, mặc dầu tôi đã quen nghe cái giọng ấy rồi. Tôi biết câu đay nghiến ấy chính là gửi gián tiếp cho vợ tôi, vì con dâu mới, bà còn nể; và bà to sự nể ấy bằng cách lấy tôi làm bia đỡ đạn.
Mặt vợ tôi chắc là xám lại dưới lần phấn khá dày. Cô ả đứng thừ ra, rồi gieo mình xuống giường khóc rưng rức. Tôi không dỗ, tôi không vuốt ve trong lúc vợ tôi khóc để chờ ở người chồng mới bàn tay âu yếm, che chở, và thương sót. Thật là bất nhẫn, nhưng làm thế nào! Giữa khi tôi đang ngao ngán nghĩ rằng nếu cần phải vuốt ve thì rồi ngày nào cũng phải vuốt ve một trăm lần là vì bà mẹ tôi, than ôi! Tôi biết, tôi biết một cách chua cay rằng mẹ tôi sẽ làm cho vợ tôi khóc đến hết cả cuộc đời.
Thành ra cơn phẫn uất ban nãy do vợ tôi gây ra, bây giờ cộng với nỗi oán hờn này, khiến tôi vụt biến ra một thằng điên dại. Tôi vỗ mạnh vào vai vợ tôi mà bảo:
- Im ngay đi, con nỡm! sốt ruột!
Vợ tôi ngẩng phắt lên. Cái mặt tròn trĩnh sao tôi thấy nó giống mặt lão anh vợ thế, lại thêm nước mắt nước mũi làm hoen nhòe son phấn, để trơ ra nước da thô xám. “Nàng” rít giọng, chao ôi, cái giọng rít ấy, sao tôi cũng lại thấy nó giống mẹ tôi đến thế? - nàng rít giọng mà bảo tôi rằng:
- À cậu đánh tôi đấy ư? Cậu mắng tôi đấy ư? Cậu tử tế nhỉ! Mới có ngót một tháng trời mà tôi đã hiểu cậu quá mất rồi, thực là đáng tiếc…
Đáng tiếc! Thế là vợ tôi đã hối hận vì lấy tôi? Lòng tự ái ở một kẻ làm chồng, dẫu là một thằng chồng xử với vợ không lấy gì làm lịch sự, không lấy gì làm nịnh đầm như tôi lúc ấy, tuy nhiên, lòng tự ái vẫn vụt báo cho máu ghen của tôi biết rằng: “Dễ thường nó hối hận vì nó chợt nhớ đến lời thề nguyện với gã cố nhân nào đó. Mày bị mọc sừng rồi, Túc ạ!”.
Tôi uất người lên. Tôi phải làm gì cho hả giận. Nói to thì tôi không dám vì cái sàn gác nhà tôi đã cổ, khe ván hở hếch ra, mẹ tôi có thể nhìn lên và nghe từng câu nói. Mắt đỏ sòng sọc, tôi nhìn quanh. Chiếc gương con hình quả tim của vợ tôi trên mặt bàn, tức thì tôi vơ lấy, bẻ đôi ra. Vợ tôi thấy thế, khóc nức nở.
Tôi đã nghiến răng “bẻ gẫy chữ đồng” rồi vậy. Tình nghĩa tao khang trong cái buổi đầu mà chén thề chưa ráo, trời xuân còn tha thướt bóng nhạn, bóng mây; gối phụng chăn loan còn thơm nức mùi nước hoa nội hóa; vậy mà giữa cái ngày tốt đẹp sắp khoác tay nhau đi ký kết cái giao kèo phối hợp trăm năm tơ tóc thì tôi đã như một kẻ vũ phu đang tâm đập vỡ gương nguyền, nàng thì đã… hối hận vì lấy phải anh chồng không biết quỳ xuống mà vuốt ve khi người đàn bà khóc.
- Cậu gớm thật! Cậu là đồ khốn nạn!
Thôi thôi, ái ân mà đã đến nước này thì thật là mất hết cái nghĩa muôn năm của nó. Tôi nhợt nhạt cả người, rời rã cả tay chân, ngồi không vững, đứng mất thăng bằng, tôi muốn chùm chăn mà trốn.
Nhưng lần này thì bà mẹ tôi ở dưới hàng hét lên như còi báo động.
Tôi vội chạy xuống thang. Ông bố tôi đã mặc chiếc áo the cũ đang ngồi nhấc bát điếu lên để tìm cái bã thuốc lào mà làm sái nữa.
Ông rủ rỉ - bao giờ cũng rủ rỉ - bảo tôi:
- Con bảo cái trưởng xuống rồi mà đi, kẻo để mẹ mày kêu mãi.
Tôi lại phải leo lên cái thang ốm lần nữa, làm lành với vợ tôi bằng cách xoa vai nó, xoa má nó rồi cười một cách trơ trẽn, vô ý thức như một gã quan viên ở nhà hát vậy.
Vợ tôi lau nước mắt, xoa lại phấn sáp, theo tôi xuống. Cố nhiên là mẹ tôi lườm một cái và lại lấy tôi làm bia để bắn thêm vài viên đạn nữa.
Chúng tôi đến tòa Đốc Lý, ở đấy, chiếc xe hòm lịch sự của người anh vợ tôi đã đến rồi. Bố mẹ vợ tôi, bố mẹ tôi, hai người làm chứng, một đoàn kéo nhau lên gác, vào một phòng rộng rãi bày la liệt chậu cây.
Chúng tôi ngồi xếp hàng dài trước một bàn giấy lớn đối diện với một ông viên chức người Nam. Trước mặt ông có một giải băng lụa ba màu, mấy quyển sổ lớn. Cạnh ông một viên thư ký gầy đứng giúp việc.
- Ông bà Trần Văn Ất có bằng lòng gả con gái là cô Trần Minh Nguyệt cho ông Lâm Văn Túc không?
Bố mẹ vợ tôi đồng thanh đáp:
- Bẩm quan, chúng tôi vui lòng ạ.
- Ông bà Lâm Văn Giáp có bằng lòng lấy con gái ông Trần Văn Ất là cô Trần Minh Nguyệt cho con trai là Lâm Văn Túc không?
Bố mẹ tôi đồng thanh đáp:
- Chúng tôi bằng lòng lắm ạ.
- Ông Lâm Văn Túc có ưng thuận lấy cô Trần Minh Nguyệt không?
Bây giờ đến lượt tôi trả lời một câu để định đoạt cả một kiếp. Bao nhiêu vui buồn, sướng khổ thu ngắn lại trong có một tích tắc đồng hồ. Anh bạn xa của tôi ơi, anh hãy tưởng tượng rằng nếu tôi lắc đầu một cái thì thế giới trong đó những kẻ thân yêu của tôi kia đang ngoi ngóp sống sẽ rú lên một tiếng mà nổ vỡ như một trái bom. Nhất là bà mẹ gớm ghiếc của tôi. Bà sẽ bóp cổ tôi mà đánh xé, mà chửi rủa ngay lúc đó, dù đang ở trong một bầu không khí trang nghiêm như bầu không khí một phòng án đại hình.
Tôi ngồi thừ ra, nhìn vào pho tượng ở trên cao. Pho tượng Quốc trưởng nhìn tôi bằng đôi mắt hiền từ vô hạn. Tôi cúi xuống. Tôi cúi xuống như một kẻ tín đồ xưng tội…
Bỗng tôi thấy đau nhói ở bên xương sườn. Những móng tay bà mẹ tôi vừa cấu thịt tôi để giục tôi đáp câu hỏi trên kia. Tôi giật bắn mình, mồ hôi toát ra. Mắt tôi chạm ngay phải đôi mắt dữ dội của bà. Lập tức như tiếng còi của đứa trẻ, tôi đáp một câu gọn lỏn:
- Có!
- Cô Trần Minh Nguyệt có ưng thuận lấy ông Lâm Văn Túc không?
Vợ tôi cúi thấp đầu và hạ thấp, giọng run như khóc mà đáp:
- Có ạ!
Ông “Nguyệt lão trần ai” vừa làm cái việc xe duyên thắm cho chúng tôi, tươi cười đẩy ghế nhỏm nửa mình lên, nói mấy câu, như đã nói trước bao nhiêu cặp “uyên ương” khác:
- Tôi xin mừng các cụ (ngoảnh về chúng tôi) và xin chúc ông bà bách niên giai lão.
Bố mẹ đẻ tôi, bố mẹ vợ tôi, chúng tôi, đứng cả lên kính cẩn cúi đầu cảm tạ lời chúc tụng ấy.
Việc ký kết xong rồi. Giải tán. Tiếng ghế bị xô đẩy trên nền sàn gỗ đánh si trơn như mỡ.
Chúng tôi xuống cầu thang. Ra đường, trí não tôi bị căng ra đến thành quằn quại, tê dại, đau xót.
Bố mẹ vợ tôi, anh vợ tôi đã lên xe ô tô đi rồi. Mẹ tôi cũng đã ngự lên xe nhà lối cổ sơn đồi mồi, cao lênh khênh. Ông bố tôi cũng được mẹ tôi gọi cho một cái xe tay để theo ngay bà về mà ngồi canh giữ cái kho măng, miến.
Vợ chồng chúng tôi đi bộ. Buổi chiều đẹp như buổi chiều nay mà đôi vợ chồng mới cưới khoác tay nhau đi quanh vườn hoa “Bôn Be”, thăm Gô đa, lượn bờ Hồ Gươm thì cuộc sống thật là đầy đủ hết những nghĩa lý mà trái tim nào mọi rợ đến đâu cũng biết ước ao thèm muốn.
Chiều nay, biết bao nhiêu là người đẹp. Chúng tôi ngắm người ta. Người ta ngắm chúng tôi. Từ nãy tôi không nói câu gì cả. Tôi đang khổ sở. Tôi đang nghĩ đến cái giây phút tôi đã thò tay ký tên tôi - mà sao tôi lại ký rất chân phương vào quyển sổ giá thú. Tôi nghĩ cả đến lúc vợ tôi tay run bật lên cầm quản bút, đặt cái tên nàng xuống cạnh tên tôi - không biết có phải là điềm gì lạ không mà hai cái nét nguệch dính vào nhau như sợi xích.
Đi qua nhà Thủy Tạ, tôi lững thững bước vào. Tôi gọi lấy một cốc cà phê, không cần hỏi ý kiến đàn bà, và truyền lấy cho tôi một cooktail.
Vợ tôi ngồi ủ rũ. Không ai nói với ai. Mãi sau vợ tôi gợi chuyện:
- Uống ít chứ, say về mẹ mắng cho chẳng bõ!
Tôi trợn mắt nhìn vợ tôi. Thế ra tôi không còn có quyền gì cả. Mẹ tôi, bây giờ đến vợ tôi, lúc nào cũng chỉ có thể nói với tôi bằng cái giọng đe dọa ấy.
Tôi liền nốc cạn một hơi, rồi gọi luôn cốc nữa để lại uống một hơi liền. Đang đói, rượu ngấm rất nhanh trong tạng phủ. Vợ tôi chưa biết tôi say, nói về chuyện dự định chơi họ, buôn món hàng này có lời, tích trữ món hàng kia có lãi.
Tôi biết, tôi biết người con gái xuất thân ở một căn nhà cổ nhất và giàu có tiếng ở cái thành phố này chỉ có thể nói cho tôi nghe về những chuyện tiền nong, những chuyện thêm cân bớt lạng mà thôi. Người con gái đẻ ra đã tập lẫy, tập ngồi, tập đi trên đống tiền đống bạc, thì tình cảm làm gì còn có nữa! Tất cả sự đời kế tiếp nhau từ ngày nhỏ đến lúc lớn đi lấy chồng, người con gái ấy đã quen đánh giá bằng tiền. Người chồng, đứa con, và tất cả cuộc đời, trong khi đó, chỉ còn là một vật bị vê nhỏ lại để nhét qua cái lỗ đồng xu.
Tôi nghĩ miên man như vậy, bạn tôi ơi, tôi nghĩ như vậy trong một cơn say thấm thía.
Tôi nhìn vợ tôi, tôi thấy nàng không đẹp như ban sáng, như hôm qua, như hôm cưới nữa. Mắt tôi mờ đi, không biết vì men hay vì nước mắt. Vợ tôi thấy tôi không nghe chuyện thì im bặt, tay đưa lên mân mê chiếc kiềng vàng. Tôi ngẩn ngơ, rồi ngây dại, tôi dúng ngón tay vào cặn cà phê viết xuống mặt bàn như vẽ bùa. Vợ tôi cười gượng gạo:
- Vẽ gì thế?
Tôi đáp, không ngẩng đầu lên, giọng lạnh lẽo như gió đang thổi trên nước hồ xanh ngắt.
- Ký lại cái tên xem thế nào! Hờ, thế nào mà mình đã ký một cái tên! Lạ nhỉ!
Có lẽ vợ tôi đã nhận thấy môi tôi cắn lại, mắt tôi hỏa bốc, nên tức thì đứng phắt lên, dằn dỗi:
- Cậu cứ ngồi đấy mà say. Tôi về, không mẹ chửi. Mẹ chửi thì một mình tôi khổ, chứ cậu cần gì?
Nói rồi, vợ tôi ra đường gọi xe.
Tôi không nhúc nhích, lắng nghe cái say chạy trong mạch máu, như là thường khi tôi thầm đếm trong gương những sợi tóc sâu dần, ngày này tiếp ngày khác qua đi trên căn gác hẹp đầy mạng nhện.
Mạng nhện ám ảnh như những con chữ ký, như những sợi xích sắt không bao giờ đứt được. Anh bạn ơi, tôi sợ nhất những đường tơ nhện, tuy không có cái khí lạnh như hơi thép, nhưng cũng đủ vương gai góc những đoạn đường, có phải vậy không anh?.
Lâm Văn Túc
Tiểu thuyết thứ Bảy, số 473/1943
Ngọc Giao
Nguồn: Đốt lò hương cũ. Tuyển ký của Ngọc Giao. 
Nguyễn Tuấn Khanh tuyển chọn. NXB Văn học, 2012.
Theo www.trieuxuan.info/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...