Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2019

Cảm thức thân phận trong thơ Nguyễn Bính

Cảm thức thân phận 
trong thơ Nguyễn Bính
Thi sĩ là kẻ hay tự ngẫm, tự bạch về cái tôi, tuy mức độ, cách thức mỗi người một khác. Đối với Nguyễn Bính, cảm thức thân phận ngày càng ám ảnh và có những sắc thái biểu hiện phong phú. Phân tích thơ Nguyễn Bính hầu như ai cũng đồng cảm cùng con người chân quê, thiết tha với truyền thống, cũng nhận ra một điệu thơ đậm đà chất ca dao, gần gũi với lời ăn tiếng nói của con người nhà quê. Điều ấy thật đúng nhưng cũng đừng quên rằng Nguyễn Bính là một cái tôi giữa thời đại Thơ mới 1932 - 1945. Đó là thời đại cá nhân tự ý thức, tự giãi bày như một cá thể lồ lộ giữa cõi đời. Khi dùng chữ “cảm thức” tôi muốn nói rằng, Nguyễn Bính vừa cảm thấu tự nhiên vừa tự nhận thức, tự ý thức về thân phận mình và điều ấy thành quá trình thức tỉnh, thức nhận ngày càng sâu sắc, thấm thía. Trong chữ “cảm thức” bao hàm sự nhuần nhuyễn giữa vô thức và lí trí.
1. Tìm về nguồn cội
Nguyễn Bính làm thơ sớm, làm nhiều và cũng nhanh chóng được biết tiếng. Tiếng thơ này cất lên từ cảnh ngộ không ít trắc trở, truân chuyên của đời riêng và từ không khí xã hội thời bấy giờ. Sớm tha hương, lại mang phải máu giang hồ trong cái xã hội ngột ngạt, uể oải, Nguyễn Bính nhạy cảm với sự phân cách, ly biệt. Trong hầu hết các bài thơ Nguyễn Bính có tồn tại một khoảng cách chứng tỏ tình cảnh dở dang, lỡ làng. Bài Những bóng người trên sân ga là một tín hiệu đặc trưng thú vị cho đặc điểm bao trùm này, mà tiếc thay chưa được nhiều người chú ý. Không gian sân ga, hình ảnh con tàu là nguồn cảm xúc cho nhiều thi sĩ. Nhiều người nhìn sân ga là nơi của đón mừng, của hội ngộ. Nguyễn Bính lại nhìn sân ga là nơi khởi đầu cho bao cuộc chia lìa, nơi “cây đàn sum họp đứt từng dây”. Bài thơ vẽ lại bao cuộc tiễn đưa với bảy lần xuất hiện từ “bóng” biểu tượng cho sự lẻ loi, nhòa mờ. Ta đặc biệt ấn tượng với hình ảnh một người đi “Không biết về đâu, nghĩ ngợi gì/ Chân bước hững hờ theo bóng lẻ/ Một mình làm cả cuộc phân ly”. Không thấm thía đến tận cùng nỗi bơ vơ, lẻ loi của cá thể giữa dòng đời sẽ không tạo dựng nổi trong thơ cái bóng lẻ như thế. “Chị thương chị, kiếp con chim lìa đàn” - nỗi tự cảm của người chị trong “Lỡ bước sang ngang” ấy cũng chính là tiếng lòng của thi sĩ Nguyễn Bính. “Đàn” chính là nguồn cội, là làng quê, là quá khứ thơ mộng, yên bình. Cảm thức này phổ hầu khắp thơ Nguyễn Bính, làm nên đặc điểm nhân vật trữ tình trong thế giới nghệ thuật thơ ông.
2. Những biểu hiện
2.1. Với tâm hồn đa cảm của kẻ lỡ dở này, Nguyễn Bính đi vào thế giới bên trong những con người thôn quê mà ông thiết tha yêu mến. Mấy năm đầu của đời thơ Nguyễn Bính chủ yếu sống trong cảnh ngộ, nỗi lòng những con người nhà quê. Đó là bà mẹ động viên, thúc giục người con gái lớn vui vẻ lên xe hoa về nhà chồng để rồi “Đêm nay mình mẹ khóc/ Đêm đêm mình mẹ lại đưa thoi” (Lòng mẹ), là người chị “lỡ bước sang ngang” trên con “thuyền hận” ngậm ngùi “Chị giờ sống cũng bằng không/ Coi như chị đã ngang sông đắm đò” (Lỡ bước sang ngang). Đó là người thiếu nữ bị lỡ hẹn “lầm lũi trên đường về” “Một mình thêm tủi với canh khuya” (Mưa xuân), là cô lái đò “bỏ thuyền, bỏ lái, bỏ dòng trong” đi lấy chồng bởi tình quân mịt mờ xa bóng chẳng biết ngày về (Cô lái đò). Đó là những chàng trai có trái tim yêu thiết tha chân thành nhưng lại rụt rè, nhút nhát, âm thầm trách móc, nhớ thương (Qua nhà, Người hàng xóm, Tương tư, Giấc mơ anh lái đò…). Trừ đôi nhân vật sống trong thế giới êm đềm của cổ tích như người vợ trẻ trong Thời trước, thiếu nữ trong Chờ nhau, nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Bính chẳng mấy ai được trọn vẹn niềm vui, được toại nguyện trong cuộc đời. Hầu hết đó là những con người ở trong cảnh ngộ éo le, chịu phận dở dang, lỡ làng.
Điều đáng thương chính ở phận hẩm duyên hiu, buồn khổ là thế nhưng họ không biết nói cùng ai hoặc không nỡ nói với ai. Đó là những con người đành nuốt nước mắt vào trong. (Khi thất vọng, buồn đau, dòng nước mắt trào ra giúp người ta vợi bớt. Song có ai mà chia sẻ! Hoặc giả có ai đó đi nữa thì liệu sẽ giúp được gì cho mình? Biết đâu nói ra chỉ thêm làm người ấy buồn lo). Chính vì thế, thơ Nguyễn Bính là nỗi u buồn trầm lặng tựa tiếng đàn bầu nỉ non, tựa nhịp chày giã gạo đều đều những đêm khuya.
Việc nhập thân vào những lớp người thôn quê với những câu chuyện và tâm tình như trên khiến thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Bính đầy ắp sự việc và phong phú nhân vật. Vậy những cảnh, những người ấy có hoàn toàn thật không, có hẳn là hiện thực của làng quê Bắc Bộ thời bấy giờ không? Trả lời đúng câu hỏi này ta mới hiểu tính chất lãng mạn của thơ Nguyễn Bính. Cần lưu ý rằng không gian làng quê trong thơ Nguyễn Bính không đậm màu sắc cuộc sống đương thời, không hề mang tính “hiện thực phê phán”. Chẳng thấy ở đây những vất vả lo toan thường nhật, những tang thương nghịch cảnh của xã hội nông thôn Việt Nam trong chế độ thực dân nửa phong kiến. Nông thôn ấy chẳng lắm nước đọng bùn lầy, chẳng hề có “nửa đêm thuế thúc trống dồn”, cảnh đè nén đập đánh, chuyện đói khát chết chóc. Có điều này thật lạ: những cảnh ngộ trái ngang, thân phận lỡ làng của người dân quê trong thơ Nguyễn Bính lại cất lên từ những không gian, cảnh sắc thanh bình, thơ mộng. Hình ảnh làng quê trong thơ Nguyễn Bính nhòe mờ về không gian, thời gian, nhiều khi đậm sắc màu cổ tích qua những tưởng tượng thật lãng mạn, qua các cụm từ mang tính ước lệ: Hôm qua, Cái ngày, Năm xưa, Bữa ấy, Một buổi… Sự “lệch pha”, trái ngược giữa môi trường và thân phận như thế phải chăng khiến người đọc càng ấn tượng. Nó cảnh tỉnh chúng ta rằng, bên trong vẻ êm đềm, “vô sự” của làng quê lại có bao nỗi niềm thổn thức, bao mong ước không thành. Mặt khác, sự “lệch pha” này cũng chứng tỏ một cách thú vị bản mệnh của hồn thơ Nguyễn Bính, chứng tỏ cảm thức về sự lẻ loi, lỡ làng luôn thường trực ám ảnh hồn thơ ông. Dường như Nguyễn Bính được sinh ra để làm thơ về nỗi xa cách, phận lỡ làng. Dù viết về người hay về mình, tiếng thơ này toát lên một cảm quan rõ ràng, nhất quán: hiện tại là phân ly, bẽ bàng, là “hoa thừa, rượu ế”; chỉ “thời trước” (quá khứ) là trong sạch, hồn nhiên, là “Toàn những thơ ngây ngập cảm tình” (Hoa với rượu).
2.2. Nếu men theo chiều dọc thời gian sáng tác của thơ Nguyễn Bính thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám 1945 ta sẽ thấy chặng đường đầu chủ yếu là cái tôi trữ tình hóa thân (nhập vai), càng về sau càng nhiều loại bài thơ cái tôi trữ tình bộc lộ trực tiếp (nhất là từ tập Mười hai bến nước). Cùng với quá trình này, cảm thức về sự lẻ loi, lỡ làng trong tình duyên phát triển sang cảm thức lỡ dở, lỡ phận về công danh của kẻ sinh bất phùng thời. Ngày càng từng trải, già dặn trên đường đời, con người ta thường càng hay suy ngẫm về thời thế, về thân phận, càng hay hoài niệm. Trên những bước đường tha hương mịt mờ gió bụi, dường như Nguyễn Bính ngày một thấm thía hơn sự lỡ dở công danh, xót xa hơn với tình cảnh lìa cách cội nguồn, nhàu nát giữa sòng đời đen bạc.
“Bỏ lại vườn cam, bỏ mái gianh/ Tôi đi dan díu với kinh thành” (Hoa với rượu) - Nguyễn Bính coi đó là khởi đầu của lỡ làng, bi kịch. Kinh thành đầy cát bụi, đường thế mãi mịt mờ và đời người cứ quay như bánh xe vô định. Thơ theo bước chân giang hồ của Nguyễn Bính mà đến với nhiều miền đất nước, song đến đâu cũng mênh mang buồn, day dứt nhớ. Lên Phú Thọ mà cảm tác với Vài nét rừng “Da trời ai nhuộm mà lam?/ Tình ta ai nhuộm ai làm cho phai?”. Ở Thái Nguyên, Bắc Giang “xây mộng viễn hành” cùng mây trắng mà “Vạn lý tương tư, vũ trụ tình”.
Ngược Lạng Sơn giữa chiều tà mà lạnh cùng “Một trời quan tái” “Chênh vênh bóng ngả sầu lau lách”. Vào Vinh với cảnh Xuân tha hương để càng thấm thía phận “dang dở đời sương gió”. Mấy lần ở Huế mà nỉ non “Giời mưa ở Huế sao buồn thế!/ Cứ kéo dài ra đến mấy ngày”. Lưu lạc tới Sài Gòn, xuống tận Hà Tiên để “Đất khách cùng đường ta khóc ta!”… “Người giam chí khí vòng cơm áo,/ Ta trói thân vào lụy nước mây” - dẫu biết trước mắt chẳng có gì rõ ràng, hứa hẹn song Nguyễn Bính dường như không bỏ được cái máu giang hồ vặt, đi để mà đi, đi như định mệnh của kẻ trót sinh làm thi sĩ. “Vì giời, bênh gió và mưa/ Phiêu lưu, bệnh của người thơ muôn đời” (Mười hai bến nước). Toát lên từ những bài thơ bộc lộ trực tiếp của Nguyễn Bính là một cái tôi ám ảnh trong cảm nhận mắc nợ, mắc tội với quê hương, với nguồn cội, một thân phận nổi trôi vô định trên con đường mịt mờ sương gió, mộng ước không thành, công danh lỡ dở (Mười hai bến nước, Một con sông lạnh, Xóm Ngự Viên, Hoa với rượu, Giời mưa ở Huế, Một chiều say, Oan nghiệt, Bài hành phương Nam, Đêm mưa đất khách…). Ở những phương trời lưu lạc, Nguyễn Bính cứ day dứt nhớ về quê cũ, về những tháng ngày trong trẻo và trong ông luôn có liên tưởng đối lập: thành thị là nơi đầy cát bụi, là chốn “gió mưa phai” còn quê nhà “thần tiên riêng một góc trời” mát lành, yên ả; hiện tại đầy những phôi pha, chán chường còn quá khứ “Toàn những thơ ngây, ngập cảm tình”. Càng buồn tha hương, càng hay hoài niệm. Thi sĩ nhớ trò chơi “hoa với rượu” cùng Nhi, người bạn gái láng giềng thuở ấy, nhớ thôn Vân quê ngoại “Quả lành nặng trĩu từng cây/ Sen đầy ao cá, cá đầy ao sen”. Hoài niệm rồi tạ lỗi, tạ lỗi mà vẫn không nguôi day dứt :
Nghìn lạy cha già lượng thứ cho
Trót thân con vướng nợ giang hồ
Lòng son bán rẻ vào sương gió
Lãi được gì đâu? Đã mấy thu!
(Bắt gặp mùa thu)
Trong những bài thơ viết lúc tha hương của Nguyễn Bính xuất hiện nhiều những bến sông, quán lẻ, mưa dầm, cát bụi, gió sương… Cần lưu ý rằng trong tâm trạng của người con tha hương này hình ảnh thầy mẹ nhiều khi không còn là các bậc sinh thành cụ thể (mẹ Nguyễn Bính đã mất khi ông mới khoảng bốn tháng tuổi) mà là nguồn cội, là chân quê. Bởi thế, lời van xin “Thầy ơi, đừng chặt vườn chè/ Mẹ ơi đừng bán cây lê con trồng” (Thư gửi thầy mẹ) mang nỗi sợ bị nguồn cội bỏ quên, mong giữ được sợi dây (dù mong manh) nối với quá khứ êm dịu, thanh bình và “vườn chè”, “cây lê” không còn tính hiện thực cụ thể mà trở thành các biểu tượng.
Nỗi buồn tha hương của kẻ trót mang máu giang hồ, mang phận làm thi sĩ ở Nguyễn Bính nhiều khi trào lên thành lời tự giễu, tự thán. Trong những ngày xuân tha hương, thi sĩ cứ nhớ về chị Trúc - người chị từng cưu mang mình:
Thiên hạ đua nhau mà sắm Tết
Một mình em vẫn cứ tay không
Ai bảo mắc vào duyên bút mực
Sòng đời mang lấy số long đong
Người ta đi kiếm giàu sang cả
Mình chỉ mơ toàn chuyện viển vông…
Ngày một thấm thía “dang dở đời sương gió”, thân phận nổi trôi, bấp bênh giữa canh bạc đỏ đen, Nguyễn Bính nhiều lần dùng chữ “sòng đời”:
Trôi dạt dám mong gì vướng vít
Sòng đời thua nhẵn cả thơ ngây
(Giời mưa ở Huế)
Ai bảo mắc vào duyên bút mực,
Sòng đời mang lấy số long đong.
(Xuân tha hương)
Nợ thế trả chưa tròn một món,
Sòng đời thua đến trắng hai tay.
(Bài hành phương Nam)
Càng lao vào cuộc cờ, chỉ càng chuốc thêm thất bại : “Cuộc cờ lỡ pháo lầm xe/ Quyết tâm phá bí ai dè vẫn thua” (Nam kỳ cũng gió cùng mưa). Nguyễn Bính đã không ít lần chỉ ra mối quan hệ nhân quả giữa lầm với lỡ: “Một lầm hai lỡ keo sơn/ Mong gì gắn lại phím đờn ngang cung” (Lỡ bước sang ngang), “Mười hai bến nước xa lăng lắc/ Lầm tự ngày xưa lỡ đến giờ” (Mười hai bến nước). Nỗi buồn thời thế, thân thế, mọi tức hận, nhớ thương rốt cuộc dốc vào chén rượu! Cái tôi Nguyễn Bính nhiều lần say. Vì sầu mà say. Và điệu cười trong say chứa đầy nước mắt.“Chén sầu nghiêng giữa trường giang/ Canh gà bên nớ giằng sang bên này” - kẻ giang hồ lữ thứ say rượu, say đàn cùng người kỹ nữ “Đôi dây nức nở muôn ngàn nhớ thương” (Một con sông lạnh). Chiều tà nơi miền quan tái Lạng Sơn, nhớ người đẹp, nhớ Hà Nội, xót xa cho phận thi sĩ nghèo:
Chiều nay… thương nhớ nhất chiều nay
Thoáng bóng em trong cốc rượu đầy
Tôi uống cả em và uống cả
Một trời quan tái, mấy cho say!
(Một trời quan tái)
Đôi bạn lăn lóc vào Huế “Nón lá áo tơi  ra quán rượu” :
Sầu nghiêng mái quán mưa tong tả
Chén ứa men lành, lạnh ngón tay.
(Giời mưa ở Huế)
Giữa xuân tha hương, trăm hờn nghìn giận cuộc đời, nhớ chị Trúc, đành:
Chị ơi, Tết đến, em mua rượu,
Em uống cho say đến não nùng
Uống say cười vỡ ba gian gác,
Ném cái chung tình xuống đáy sông.
(Xuân tha hương)
“Chiều nay thương nhớ vào thành/ Ngây ngây rượu uống một mình cũng say” (Một chiều say). Buồn hận đến độ nước mắt bật thành tiếng cười: “Người ơi buồn lắm mà không khóc/ Mà vẫn cười qua chén rượu đầy”. Khóc và cười trong say như một sự phơi trải, một hành động thách thức không hề giấu diếm: “Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ/ Uống say mà gọi thế nhân ơi!” (Bài hành phương Nam). Đành buông xuôi nhưng vẫn cứ day dứt; chấp nhận mà lòng vẫn đầy tức hận - đó là mâu thuẫn không nguôi trong cái tôi trữ tình Nguyễn Bính. Cái say cùng các động tác trữ tình ấy thể hiện cảm hứng bi phẫn của kẻ sinh bất phùng thời. Ở điểm này, Nguyễn Bính gần với các thi sĩ Vũ Hoàng Chương, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân.
3. Ý nghĩa của cảm thức thân phận trong thơ Nguyễn Bính
Trong phong trào Thơ mới 1932 - 1945, Nguyễn Bính thuộc dòng thơ ít chịu ảnh hưởng của phương Tây, của thơ Đường mà mang tính cách dân tộc rõ rệt. Hồn thơ ông lắng đọng tinh hoa thơ ca dân gian, đồng thời mang nỗi xót xa, bi phẫn của cái tôi cá nhân thời đại Thơ mới. Ở Nguyễn Bính, sự hòa nhuyễn lạ kỳ giữa cái duyên mộc mạc, đằm thắm của chân quê với cái tôi giang hồ, lỡ dở của thời đại Thơ mới đã tạo nên một hồn thơ, điệu thơ đặc biệt. Trong xã hội thực dân nửa phong kiến, trong hoàn cảnh đất nước nô lệ ngày ấy, ai biết buồn, biết hận sòng đời đen bạc là còn có nhân cách. Trong tình cảnh tha hương, không trả nghĩa được cho cội nguồn, cho người thân, ai cảm thấy mắc nợ, mắc tội là còn giữ tính người, tình người. Nguyễn Bính thuộc số người như thế và thơ Nguyễn Bính nhắc nhở cho chúng ta điều ấy. Trong xã hội hiện nay, không ít kẻ mắc nợ, mắc tội mà dửng dưng quay lưng với cội nguồn, nhơn nhơn tự cho mình quyền tự vui, tự hưởng. Những kẻ ấy liệu có “giảm tông” đi một chút nếu đọc thơ Nguyễn Bính? Mặt khác, khi hiện đại, con người ta càng nhớ chân quê; trong ồn ào đua tranh, con người ta càng dễ cô đơn. Vì thế, thơ Nguyễn Bính vẫn sống, vẫn đánh thức cái tình quê, tình người da diết, thẳm sâu trong mỗi tâm hồn Việt Nam.
13.8.2018
Lê Quang Hưng
Nguồn: Trăm năm Nguyễn Bính, Truyền thống & Hiện đại. Nhiều tác giả. 
Hội thảo khoa học về Nguyễn Bính do Viện Văn học & 
Trường Đại học Văn Lang tổ chức. NXB Hội Nhà văn, 7-2018
Theo http://demo.trieuxuan.info/








Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  “Bước gió truyền kỳ” thổi hồn đất nước Mười lăm năm (từ 2000 đến 2015), bằng quãng thời gian lưu lạc đầy sóng gió của thân phận nàng Kiề...