Thể tài chân dung văn học có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa văn
sáng tác và văn phê bình, giữa viết tiểu sử nhà văn với hư cấu nghệ thuật về họ.
Các tập sách chân dung văn học tập hợp lại giống như một viện bảo tàng
về các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng. Nhưng đây là các bức chân dung bằng ngôn
từ, nên không chỉ có những nét vẽ về ngoại hình, khuôn mặt mà sâu xa hơn đó là
những bức chân dung tinh thần, những khắc họa về tâm hồn, nhân cách sống, những
nỗi niềm buồn vui, đau khổ trên hai tư cách: tư cách con người và tư cách nhà
văn.
Công cuộc đổi mới sau 1986 đã làm cho nền kinh tế từng
bước phát triển, đời sống tinh thần được nâng cao, tâm thế sáng tạo của
người viết được “cởi trói”. Đồng thời, độc giả cũng đòi hỏi văn chương phải
chân thật hơn, đa chiều hơn. Họ quan tâm đến tác giả không chỉ như những con
người tài năng, có những phẩm chất đặc biệt mà còn như những con người giữa đời
thường, cũng “cát bụi chân ai” giữa cõi trần. Cuộc đời và sự nghiệp giới nhà
văn nói chung, Nguyễn Bính nói riêng trở thành mảng hiện thực có sức hấp dẫn lớn
với các ngòi bút dựng chân dung. Về Nguyễn Bính, đã có một số chân dung viết rất
thú vị, có thể kể các bài viết của Bùi Hạnh Cẩn, Vũ Bằng, Tô Hoài, Chu
Văn, Sơn Nam, Hoàng Tấn, Bảo Định Giang. Ngoài ra, các bài viết của Thuần Hoa,
Trần Lê Văn, Đỗ Đình Thọ, Huyền Viêm, Hoài Việt... cũng có nét chân dung, ít
nhiều phác họa một khía cạnh trong cuộc sống của nhà thơ. Từ sự đa dạng tư liệu
đó, chúng ta có thể cảm nhận về đời và thơ Nguyễn Bính một cách đa chiều, sinh
động, lôi cuốn nhưng không kém phần giá trị.
1. Con người Nguyễn Bính qua chân dung văn học
Có thể nói, Nguyễn Bính là người có tài năng đặc biệt, lại
thêm cuộc đời cũng nhiều đa đoan, trắc trở. Điều này là nguyên nhân tạo sức hút
của người viết và người đọc chân dung.
Trước hết là ở ngoại hình. Nhà thơ hiện lên trong bộ dạng hết
sức luộm thuộm, nhàu nhĩ. Tô Hoài miêu tả: “Nguyễn Bính mặc bộ quần áo tây trắng
đã tã, gấu quần và ống tay lờm xờm như tóc tai”[1].
“Con người Nguyễn Bính trông lôm lam lắm. Tay chân thô nhám, quềnh quàng, lúc
nào cũng lừ đừ thủng thỉnh, như “ông từ vào đền”[2].
Còn theo nhận xét của Mộng Tuyết, Nguyễn Bính hiện lên với dáng người: “thâm thấp,
phong trần hiện trên mái tóc đen rậm, rối bồng, dài tới mang tai. Bộ âu phục
cũ, nhầu nát làm tăng thêm phần tiều tụy”[3].
Nguyễn Bính tuềnh toàng trong cách ăn mặc, ông không để ý đến quần áo, vẻ
ngoài. Theo cách lý giải của Bảo Định Giang, Nguyễn Bính không biết giặt ủi, quần
áo trắng tinh tươm đến mấy vào tay ông cũng thành màu cháo lòng, “xám xịt rất bẩn
mắt”. Duy chỉ có đôi mắt là có hồn. “Nhà thơ cười với đôi mắt nâu sắc sảo, ánh
hơi lạnh…”[4].
Tuy với dáng vẻ bên ngoài nhếch nhác là thế, nhưng tâm hồn thi nhân lại chứa đựng
một tình cảm nồng hậu, chân chất và rất đỗi yêu đời, yêu người.
1.1. Tình yêu quê hương, đất nước tha thiết
Trong thơ Nguyễn Bính, những địa danh như thôn Vân, làng Thiện
Vịnh bao giờ cũng bàng bạc, in đậm. Bùi Hạnh Cẩn thì cho biết: “Thôn Vân chỉ là
một làng quê như trăm ngàn làng quê nhỏ vùng chiêm trũng khác. Có khi thôn Vân
còn kém phong vị nhiều nơi”[5].
Còn Thiện Vịnh qua miêu tả của Tô Hoài là làng: “Giữa vùng chiêm khê, mùa thối
đất Nam Định, đâu đâu cũng xơ xác, nước trắng đồng, gió lùa sóng đồng cồn lên,
quằn quại, lật thuyền mảng, cả đến người ra cứu lúa cũng chết đuối. Mỗi năm, mỗi
mùa biết bao người đã bỏ làng đi tha phương…”[6].
Nhưng có lẽ, với Nguyễn Bính, nơi ấy lại là nơi gắn nhiều kỷ niệm thời thơ ấu,
là nơi chôn nhau cắt rốn. Vì thế mà thơ quê hương của Nguyễn Bính thường có
bóng dáng thôn Vân trữ tình, mộc mạc. Dù đi đâu, ở xa mấy, lòng cũng đau đáu
thôn Vân. Gửi thư cho ông Bùi Hạnh Cẩn - người anh em con cô chú ruột, Nguyễn
Bính viết toàn bằng thơ… Những câu thơ như lời nhắn nhủ và ẩn chứa cả một trời
thương nhớ quê hương. Nếu thôn Vân đi về trong cõi nhớ của nhà thơ bằng màu sắc
và những hình ảnh thân thuộc thì làng Thiện Vịnh lại bừng lên tươi mới, “nhà
thơ tưởng tượng trên những khổ cực ấy, phất phới những lứa tuổi đương tơ, hoa cải
vàng tháng Chạp, mưa dây mưa dợ, trăng rằm sáng như ban ngày và những đêm chèo
hát…”[7].
Nguyễn Bính luôn hoài niệm quê hương. Một quê hương trong
lòng người xa quê. Chỉ cần hơi gió của tình quê lay động là trong tâm khảm của
thi nhân lại hiện lên nguyên vẹn mùa hoa xoan tím, hoa gạo đỏ, giậu mồng tơi
xanh rờn, đêm hội làng, những đêm hát chèo, một buổi lễ chùa, những nét tín ngưỡng
tôn giáo và phong tục tập quán, học trò trường huyện, lớp học thầy đồ, những
trò vui dân dã, cách ăn mặc và nếp sống xa xưa, giấc mơ quan trạng… Nếu không
yêu quê, nhớ quê sẽ không thể ghi nhớ từng chi tiết vừa thực vừa mơ đến nao
lòng như thế. Các cây bút viết chân dung rất tinh khi cảm nhận và đúc kết được
vẻ đẹp tâm hồn đáng quý này của Nguyễn Bính. Chi tiết Nguyễn Bính trân trọng
chiếc lư trầm nhỏ mà Bùi Hạnh Cẩn kể thật cảm động. Nó là minh chứng cho một
tình yêu không hề hời hợt. Đó là “chiếc lư trầm nhỏ như quả cam chanh đúc bằng
đồng đen, đã sứt một miếng nhỏ trên miệng, và một chân bên phải gắn lại. Hai
bên má có hai hình đúc nổi, một bên là “Em bé cưỡi trâu” - một bên là “Lực điền
cưỡi trâu”[8].
Chiếc lư ấy được Nguyễn Bính giữ cẩn thận, và một lần mưa bụi đầy trời, ông đã
đặt chiếc lư lên bàn, cho trầm vào, đốt khói nhẹ tỏa. Ông nói với Bùi Hạnh Cẩn
như nói với chính lòng mình: “Đây cũng là những hình ảnh quen thuộc mà trước
đây mấy chục năm, chúng ta thường nhìn thấy ở thôn Vân…”[9].
Như vậy, Nguyễn Bính yêu tha thiết quê mình qua từng kỷ niệm nhỏ nhưng sâu sắc.
Sau này ông giao lại cho Bùi Hạnh Cẩn giữ gìn kỷ vật ấy.
Những kỷ niệm về quê hương thanh bình, êm ả nhưng lam lũ, khổ
đau đã đi vào thơ với nỗi đau đáu khôn nguôi và nhân rộng thành tình yêu đất nước.
Điều ấy đã được khẳng định rất rõ trong khoảng thời gian ông vào Nam, sống tạm
bợ lay lắt ở Rạch Giá. Con người tha thiết yêu quê hương, xứ sở phải tá túc, ăn
uống kham khổ tại nhà Kiên Giang, đêm khệ nệ mang nóp ra ngủ ở đình Nguyễn
Trung Trực. Rồi đến Mỹ Tho: “Nguyễn Bính ngụ ở khách sạn Tân Hưng, một khách sạn
hạng tồi… Nguyễn Bính nghèo xác nghèo xơ, mỗi ngày phải trả cho khách sạn một đồng
bạc thế mà vẫn không đủ tiền trả, thậm chí không có tiền trả”[10].
Trong khoảng thời gian 9 năm chống Pháp ở Nam bộ (1946-1947), Nguyễn Bính vẫn
làm thơ để cổ vũ, phục vụ cho cuộc chiến đấu chung của dân tộc. Sơn Nam kể lại:
“Nguyễn Bính là nhà thơ yêu nước… Thời kháng Pháp, tôi đã gặp Nguyễn Bính uống
rượu, uống trà, trao đổi tâm sự với nhau nhiều lần… Tại chợ Rạch Giá, anh vào
chiến khu, khởi xướng việc thành lập Đoàn Văn hóa Cứu quốc và cho ra mắt Tập
thơ yêu nước (gồm chừng 10 bài) sau khi vào chiến khu đôi tháng” [6,
tr.108]. Bảo Định Giang cũng khẳng định “Thơ Nguyễn Bính với nội dung ca
ngợi cách mạng, ca ngợi tiểu đoàn lừng danh 307... được mọi người trân trọng,
đánh giá cao”[11].
Tại chiến khu, Nguyễn Bính phải làm việc trong một hoàn cảnh tối tăm, thiếu thốn
điều kiện vật chất và thuốc men. Chu Văn xúc động: “Nguyễn Bính từng nếm cảnh
màn trời chiếu đất của người chiến sĩ. Anh đã kết bạn với những người cách mạng,
và đã trải những tình cảm riêng tây, trong những gặp gỡ giữa những người cùng cảnh
ngộ. Thằng giặc truy lùng Nguyễn Bính”[12].
Thế nhưng, những câu thơ của Nguyễn Bính lúc này đã là những vần thơ thép,
mạnh mẽ và khẳng khái, tác dụng như lời tuyên ngôn trước đồng bào, tinh thần hy
sinh quyết tử cho tổ quốc quyết sinh.
1.2. Một tâm hồn nhạy cảm, một trái tim đa tình
Với một tâm hồn hết sức nhạy cảm, trái tim của chàng thi sĩ
chân quê luôn vương vấn những bóng hồng trên từng bước phiêu lãng của mình. Nhà
văn Hoàng Tấn đã từng nhận xét về người bạn thân: “Cái anh thi sĩ này là chúa
đa tình!”. Quả thật vậy, có thể nói, Nguyễn Bính là một trong những người
đa tình bậc nhất của làng thơ Việt Nam. Tô Hoài đã từng tiếp xúc nhiều với Nguyễn
Bính, đã chứng kiến không ít những buồn vui, những thói quen của nhà thơ. Tác
giả miêu tả, đi đâu Nguyễn Bính cũng cầm một hộp sắt Tây màu đỏ lựu - cái
hộp người ta đựng bánh bích quy. Nhưng cái hộp không đựng bánh mà đựng những bức
thư tình, “một hộp thư tình. Tờ trắng, tờ xanh, vết tay mồ hôi mờ đọc đi đọc lại
đã về vệt cả. Bao nhiêu thư của một mối tình, của những mối tình, anh xếp chặt
vào hộp”[13].
Nguyễn Bính rất quý cái hộp, đi đâu cũng kè kè, đi hút thuốc phiện, lúc phê thuốc
cũng gối đầu lên hộp bánh quy mà mơ màng. Còn Vũ Bằng kể rằng, trong khi đi tìm
con người đúng nghĩa của Nguyễn Bính, ông gặp nhiều người từng chơi hoặc làm việc
với thi nhân trong đó có Hoàng Lan. Hoàng Lan nhận xét rằng: “Anh ham tất cả
các dật dục vọng nhân: rượu thích, phiện thích, nhưng đặc biệt nhất là trong
con người Bính là mê gái, mê không tả được, mê bất cứ người nào để ý đến anh một
chút, mê không cần đẹp hay xấu, dở hay hay, mê đến nỗi anh em có người phải lấy
làm lạ sao có thể yêu vô lý đến thế, yêu điên cuồng như thế”[14].
Cùng nhận xét với Hoàng Lan, có lần Tô Hoài thốt lên rằng, Nguyễn Bính: “thấy
gái như quạ vào chuồng lợn, như ếch vồ hoa”[15]. Bản
thân nhà thơ cũng đã tự xác nhận tâm hồn mình đối với tình yêu: Tôi
như một kẻ sa lầy trong yêu. Quả thực, hình bóng người yêu đã xuất hiện trong
thơ của ông khá nhiều. Có thể là người tình chỉ có trong tưởng tượng. Hoặc cũng
có thể là những người tình có thật, được gọi tên hẳn hòi, dù đa số là tình đơn
phương, thầm yêu trộm nhớ. Mối tình với cô Nhi (Diễm), với nàng Oanh, rồi nàng
Tuyên (tức Tú Uyên)...
Yêu và khao khát được yêu với Nguyễn Bính là cả một trời thơ
không khác gì mảng thơ quê hương. Nó cũng đầy đẫy và ngập tràn hương vị nhớ
nhung nhưng nó cũng rất mơ hồ, không thật. Nó như mang một chất liệu để tạo cảm
hứng vậy. Vậy nên, Bùi Hạnh Cẩn cho rằng: “Theo tôi, với Nguyễn Bính, một tên
hoặc bóng dáng của người con gái nào đó, cũng có thể là những thứ hình ảnh để
Bính làm thơ... Bính cứ ảo tưởng rằng các cô gái yêu mình ghê gớm lắm”[16].
Nhưng cũng có mối tình không phải là tình trong mơ, tình đơn phương. Đó là mối
tình với nữ sĩ Anh Thơ.
Mặc dù trong hồi ký Từ bến sông Thương, Anh Thơ nhắc đến mối tình với Nguyễn Bính không mặn mà, đôi khi còn gay gắt, xem thường. Phải chăng còn một nỗi niềm nào khó nói khiến bà - một nữ sĩ không ít bút mực nhắc tới là người vừa có tài, vừa hiền lành, con nhà gia giáo mà lại có những lời lẽ hơi sắc sảo, thiếu tình với một người say đắm mình như thế?! Bà kể lại về lần gặp mặt: “Tôi nhớ lại cảnh Kim Trọng “lỏng buông tay khấu, bước lần dặm băng” gặp Thuý Kiều. Chàng là một thi sĩ thủ đô, hẳn là hết sức trang nhã, biết mọi kiểu cách lịch sự để quý yêu tôi... Bỗng từ quán nước đầu cầu sông Thương, một anh chàng thân hình lùn ngắn, cái đầu hơi to, sù lên những tóc, tay vất vội chiếc điếu cày đang hút dở, xông lại trước mắt tôi, nhe hai hàm răng đen cáu nhựa thuốc, cười sát mặt tôi...”[17]. Rồi bà giải thích mình là “con nhà nề nếp” thì “không thể nào yêu được B” khi mà ông có cử chỉ sàm sỡ: “một cái hôn bất ngờ chộp lên má tôi”[18], khiến bà hoảng hốt gọi anh trai. Mối tình này được Hoàng Tấn nhắc lại bằng giọng ngậm ngùi là mối tình gây cho nhà thơ niềm không nguôi, đau đớn nhiều nhất. Tình cảm ấy sâu đậm đến mức mà sau này, khi có con với người vợ Hồng Châu thì ông yêu cầu bà nếu sinh con gái, hãy đặt tên là Anh Thơ. Và lẽ dĩ nhiên là điều đấy không được chấp nhận. Người con gái của ông bây giờ có tên là Nguyễn Bính Hồng Cầu. Tập kết ra Bắc, ông còn có thêm một người vợ nữa. Tuy cái chất đa tình, lãng mạn vẫn theo ra Bắc, trong hoàn cảnh mới nhưng Nguyễn Bính trước sau vẫn là một người vẹn nghĩa. Ông nặng tình với nữ sĩ Anh Thơ, lòng đau đáu hướng về miền Nam - nơi có người vợ và đứa con gái Hồng Cầu mà ông giã từ khi con còn rất nhỏ...
Mặc dù trong hồi ký Từ bến sông Thương, Anh Thơ nhắc đến mối tình với Nguyễn Bính không mặn mà, đôi khi còn gay gắt, xem thường. Phải chăng còn một nỗi niềm nào khó nói khiến bà - một nữ sĩ không ít bút mực nhắc tới là người vừa có tài, vừa hiền lành, con nhà gia giáo mà lại có những lời lẽ hơi sắc sảo, thiếu tình với một người say đắm mình như thế?! Bà kể lại về lần gặp mặt: “Tôi nhớ lại cảnh Kim Trọng “lỏng buông tay khấu, bước lần dặm băng” gặp Thuý Kiều. Chàng là một thi sĩ thủ đô, hẳn là hết sức trang nhã, biết mọi kiểu cách lịch sự để quý yêu tôi... Bỗng từ quán nước đầu cầu sông Thương, một anh chàng thân hình lùn ngắn, cái đầu hơi to, sù lên những tóc, tay vất vội chiếc điếu cày đang hút dở, xông lại trước mắt tôi, nhe hai hàm răng đen cáu nhựa thuốc, cười sát mặt tôi...”[17]. Rồi bà giải thích mình là “con nhà nề nếp” thì “không thể nào yêu được B” khi mà ông có cử chỉ sàm sỡ: “một cái hôn bất ngờ chộp lên má tôi”[18], khiến bà hoảng hốt gọi anh trai. Mối tình này được Hoàng Tấn nhắc lại bằng giọng ngậm ngùi là mối tình gây cho nhà thơ niềm không nguôi, đau đớn nhiều nhất. Tình cảm ấy sâu đậm đến mức mà sau này, khi có con với người vợ Hồng Châu thì ông yêu cầu bà nếu sinh con gái, hãy đặt tên là Anh Thơ. Và lẽ dĩ nhiên là điều đấy không được chấp nhận. Người con gái của ông bây giờ có tên là Nguyễn Bính Hồng Cầu. Tập kết ra Bắc, ông còn có thêm một người vợ nữa. Tuy cái chất đa tình, lãng mạn vẫn theo ra Bắc, trong hoàn cảnh mới nhưng Nguyễn Bính trước sau vẫn là một người vẹn nghĩa. Ông nặng tình với nữ sĩ Anh Thơ, lòng đau đáu hướng về miền Nam - nơi có người vợ và đứa con gái Hồng Cầu mà ông giã từ khi con còn rất nhỏ...
1.3. Một con người ưa “ xê dịch”, giang hồ, phóng túng
Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: “Đọc chân dung văn học, té ra người
tài cũng giống như mọi người bình thường vậy thôi, thậm chí có khi còn tầm thường,
nhếch nhác nữa kia. Điều đó, ở người thường thì chả có gì đáng quan tâm, nhưng ở
người tài thì cũng trở thành hấp dẫn. Vì nó khiến cho người tài trở nên gần
gũi, thân thuộc.”[19].
Nhà văn không phải là thánh nhân, họ cũng là con người của muôn mặt đời thường.
Ngòi bút của các tác giả viết chân dung Nguyễn Bính không chỉ chú ý đến tài
năng, phẩm chất của ông mà còn đi sâu khai thác những góc khuất đời tư, những
bi kịch, những nỗi niềm ẩn kín trong cõi lòng nhà thơ. Dưới con mắt của những
người bạn hữu cùng nghề, Nguyễn Bính là người nhiều tài nhưng cũng lắm tật.
Ngoài tật đặc biệt nhất đó là si tình mà Vũ Bằng đã dùng từ là “si ngốc”, là “lẩm
cẩm”, Nguyễn Bính còn là người ưa sự “xê dịch”, phiêu bạt giang hồ, sống khá
phóng túng.
Ông thích đi đây đó, từ Bắc vô Nam, không ít nơi lưu lại dấu
chân thi nhân. Đọc bài viết của Chu Văn, chúng ta cảm nhận được một tình cảm rất
đặc biệt của tác giả dành cho Nguyễn Bính. Tác giả hiểu những bức xúc thời cuộc
và lí giải bước chân của nhà thơ: “Cái xã hội đầy rẫy những cạm bẫy và bất công
ấy -cái chế độ phong kiến và thuộc địa trong những ngày tàn lụi, ngắc ngoải
những điên khùng và hỗn loạn - Nguyễn Bính tìm sao cho được những giá
trị cao đẹp để thỏa mãn những ước mơ... Nguyễn Bính dứt áo ra đi”[20].
Sở thích phiêu bạt đã là bệnh mà tác giả gọi đấy là bệnh giang hồ: “Nguyễn Bính
mắc cái bệnh thông thường của một số đông văn nhân thi sĩ thời ấy: bệnh giang hồ
vặt”[21].
Từ Hải Phòng, Huế, miền Nam: Sài Gòn, Lục tỉnh, Ba Tri đến Hà Tiên”, lưng vốn
là mấy vần thơ, một bộ quần áo cũ nát... Nguyễn Bính cũng đi được. Chính vì đi
nhiều, hiểu biết nhiều, cái vốn kiến thức ấy như chắp cánh cho cây bút xuất thần
của thi nhân, làm nên một tên tuổi vang danh khắp miền Nam lúc bấy giờ nói
riêng và cả nước nói chung. Nguyễn Bính tiêu pha quá tay mà không cần biết ngày
mai. Bảo Định Giang nhận xét: “Nguyễn Bính quá nghèo khổ như đã nói, nhưng khi
có chút tiền thì xài không có kế hoạch và không biết tiết kiệm”[22].
Dù rất trân quý người bạn mình nhưng Hoàng Tấn kể về tính tình Nguyễn Bính như
một tiếng thở dài: “Bính hay châm chọc đả kích bạn bè..., dùng những lời lẽ cay
độc để chê bai bài thơ dở mà không hề quan tâm đến cảm xúc của tác giả... Bính
kiêu kỳ khinh bạc, ngay cả người cưu mang Bính khi thất thố điều gì là Bính thẳng
cánh mất mặn, mất nhạt... Riêng về thơ, Bính tự cao tự đại quá quắt, chê thơ
người này non, người kia dở, kể cả với những thi sĩ đồng thời có người còn nổi
tiếng hơn cả Nguyễn Bính. Những câu thơ của ai được Bính khen hay, “khuyên son”
là điều hãn hữu. Người mà Nguyễn Bính phục tài, tôn lên làm bực thầy và “nguyện
suốt đời làm người học trò nhỏ” là thi hào Nguyễn Du. Chẳng có thế mà Truyện
Kiều Bính thuộc làu và lấy làm sách gối đầu giường”[23].
Chưa kể, nhà thơ còn rất ham uống rượu: “Nguyễn Bính lại thêm cái bệnh uống rượu, uống xong, kháo chuyện một cách tùy hứng, thiếu cân nhắc...”. Tô Hoài cũng cho biết trong cuộc sống, ông rất bạt mạng, buông thả: “Hứng lên thì tung hô công việc, thích đi chơi thì vay tiền, cơ quan lúc nào chẳng có tiền. Cho tao vài ba đồng là bao. Say khướt tối ngày, uống tợn...”[24]. Thậm chí một điều thật đau lòng mà Tô Hoài khi kể cũng không nén nỗi xót thương và buồn. Đó là lúc sự say sưa lên đến tận cùng, Nguyễn Bính - một con “ma men” phóng túng đã say đến mức đem cho thiên hạ đứa con đẻ của mình. Và để rồi “kể câu chuyện đau đớn ấy, mỗi khi nhắc lại lần nào Nguyễn Bính cũng khóc”[25]. Xét đến cùng, những đau khổ, lầm lẫn do cá tính nghệ sĩ đã tạo nên số phận bi kịch của Nguyễn Bính - Một số phận vừa đáng thương lại vừa đáng trách.
Chưa kể, nhà thơ còn rất ham uống rượu: “Nguyễn Bính lại thêm cái bệnh uống rượu, uống xong, kháo chuyện một cách tùy hứng, thiếu cân nhắc...”. Tô Hoài cũng cho biết trong cuộc sống, ông rất bạt mạng, buông thả: “Hứng lên thì tung hô công việc, thích đi chơi thì vay tiền, cơ quan lúc nào chẳng có tiền. Cho tao vài ba đồng là bao. Say khướt tối ngày, uống tợn...”[24]. Thậm chí một điều thật đau lòng mà Tô Hoài khi kể cũng không nén nỗi xót thương và buồn. Đó là lúc sự say sưa lên đến tận cùng, Nguyễn Bính - một con “ma men” phóng túng đã say đến mức đem cho thiên hạ đứa con đẻ của mình. Và để rồi “kể câu chuyện đau đớn ấy, mỗi khi nhắc lại lần nào Nguyễn Bính cũng khóc”[25]. Xét đến cùng, những đau khổ, lầm lẫn do cá tính nghệ sĩ đã tạo nên số phận bi kịch của Nguyễn Bính - Một số phận vừa đáng thương lại vừa đáng trách.
2. Thơ Nguyễn Bính qua chân dung văn học
Chân dung văn học còn là một dạng đặc biệt của phê bình văn học,
phê bình từ góc nhìn tiểu sử, trong mối quan hệ giữa văn và đời. Do vậy, chân
dung văn học cần thể hiện cách nhìn phê bình, đánh giá về tác phẩm và tác giả,
về tài năng, phong cách, đóng góp của nhà văn cho lịch sử văn học. Chân
dung Nguyễn Bính được xây dựng hầu hết bởi các cây bút là nhà văn, nhà thơ. Có
thể nói, họ là những người thuận lợi nhất, đủ tư cách nhất để bàn về văn chương
của ông từ góc độ nghề nghiệp. Và một sự đánh giá nhất quán, rất thống nhất
về phong cách thơ Nguyễn Bính của các tác giả viết chân dung là: Nguyễn Bính -
nhà thơ của làng quê, của người nông dân, của người bình dân.
Nguyễn Bính đã từng bày tỏ quan điểm về Thơ của mình: “Thơ là
tiếng lòng, tiếng lòng phát đi từ trái tim, nhất thiết phải tới trái tim người
khác. Nếu trái tim người khác hờ hững thì cho dù là “tiếng lòng” của mình chăng
nữa cũng không phải là Thơ”[26].
Quả thật đó như một tuyên ngôn về thơ của Nguyễn Bính. Thơ ông tràn ngập màu
xanh của vườn, ao làng, bờ đê, lũy tre, lúa, chanh, bưởi… Nguyễn Bính đem đến
cho làng thơ Việt Nam một hương vị mộc mạc, dân dã, đậm đà màu sắc ca dao. Vũ Bằng
kể lại lời nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba nhận xét thơ Nguyễn Bính: “Bính là một nhà thơ
bình dân đã gảy đúng khúc đàn lòng của con người”[27].
Chu Văn cũng biết chớp lấy những góc chụp rất đẹp về Nguyễn Bính. Theo ông,
Nguyễn Bính luôn biết trân trọng “nguồn thơ dân gian, nhặt nhạnh chắt chiu một
từ một ý của những người lao động… Cái vốn văn học dân gian của anh đã giàu,
nhưng người đãi cát tìm vàng, Nguyễn Bính luôn đi, lượm lặt và ghi nhớ”[28].
Phải nghiên cứu và cảm nhận sâu sắc lắm, Hoài Thanh trong Thi nhân Việt
Nam mới có được cái nhìn tinh tế về Nguyễn Bính. Tác giả đề cập đến “chất
quê” trong thơ Nguyễn Bính: “Người nhà quê vẫn hiên ngang sống như thường. Tôi
muốn nói Nguyễn Bính vẫn còn giữ được bản chất nhà quê nhiều lắm. Và thơ Nguyễn
Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong ta…”[29].
“Chất quê” ấy được thể hiện qua những cảnh vật làng quê rất mực gần gũi, hiền
hòa. Tô Hoài không những dựng chân dung Nguyễn Bính sinh động từ những chi
tiết có thực về cuộc đời mà còn sắc sảo khi nhận diện phong cách thơ: “Thơ
và cuộc đời ràng buộc nhà thơ. Trước sau và mãi mãi, Nguyễn Bính vốn là nhà thơ
tình quê, chân quê, hồn quê... Chỉ có quê hương mới tạo nên từng chữ từng câu
Nguyễn Bính”[30].
Nhà thơ “chân quê” trong con mắt bè bạn là người lao động nghệ
thuật nghiêm túc, cẩn trọng trong tìm tòi ý tưởng, ngôn từ. Làm văn chương nghệ
thuật, khó nhất là tìm cảm hứng, chọn đề tài. Trong chân dung văn học viết về
Xuân Quỳnh của Vương Trí Nhàn, tác giả đã kể về công việc tìm đề tài nhọc nhằn,
vất vả của nữ sĩ. Nguyễn Bính cũng vậy, có lần ông tâm sự với Sơn Nam: “Nguyễn
Bính đã nhiều lần nói với tôi, khi trà dư tửu hậu: Nhiều khi mình chịu bí đề
tài, cạn hứng suốt ba tháng. Thế mới giận! Nhưng khi viết được đôi ba bài ưng ý
rồi thì lần lượt viết hàng trăm bài thơ, thấy hàng ngàn đề tài hiện ra... Thế mới
giận!”[31].
Ông còn là người “kỹ lưỡng đắn đo suy nghĩ đến quên ăn, quên ngủ vì một từ, viết
nháp nhiều lần, sữa chữa từng câu, từng chữ”[32].
Rõ ràng, muốn diễn tả được những cảm xúc “chân quê”, Nguyễn Bính cũng phải nỗ lực
đi tìm những câu chữ đích đáng cho cảm xúc của mình. Và nhờ thế, Nguyễn Bính đã
tạo được lối đi riêng rất thành công trong phong trào Thơ mới.
Trong tiến trình văn học Việt Nam, so với các thể loại khác
thì chân dung văn học ra đời khá muộn, phát triển mạnh mẽ nhất phải từ 1986 đến
nay. Tuy nhiên, không vì điều ấy mà thể tài này không để lại ấn tượng, không có
dấu ấn riêng. Nguyễn Bính là nhà thơ lớn trong phong trào Thơ mới. Cuộc đời và
sự nghiệp của ông rất đáng được tìm hiểu và nghiên cứu. Chính vì vậy, có rất
nhiều tác giả tham gia viết về ông. Trong đó có những bài viết theo kiểu phê
bình, cũng có bài theo kiểu chân dung văn học. Chân dung văn học viết về Nguyễn
Bính không nhiều nhưng đủ để tái hiện chân dung thi nhân một cách truyền thần
và sinh động nhất. Ở đây chúng tôi không bàn về cái hay, cái giá trị của mỗi thể
loại viết về Nguyễn Bính, chúng tôi muốn chỉ ra sự khác biệt giữa chân dung văn
học với các bài phê bình để có thêm một kênh tư liệu đáng tin cậy, từ đó cảm nhận
sâu sắc nhất, chân thực nhất về nhà thơ.
Những bài viết theo thể loại phê bình, tiếp cận chủ yếu từ
các tác phẩm thơ ca Nguyễn Bính. Đó là các bài viết của Hà Minh Đức, Đỗ Lai
Thúy, Vương Trí Nhàn, Chu Văn Sơn… Hà Minh Đức với bài ”Nguyễn Bính, nhà thơ
chân quê - chân tài” nhìn thơ Nguyễn Bính trong sự đối sánh với thơ ca dân
gian: “Thơ Nguyễn Bính lấy gốc từ truyền thống thơ ca dân gian. Thơ ông không
chịu ảnh hưởng trực tiếp của thơ ca phương Tây mà nhiều người vẫn xem là chìa
khóa của sự đổi mới của phong trào Thơ mới”[33].
Đỗ Lai Thúy với “Đường về “chân quê” của Nguyễn Bính” đi từ mối quan hệ giữa mảng
thơ “tha hương”, giang hồ với hoài niệm quê hương tha thiết để rồi nhận xét:
“Trong toàn bộ sáng tạo của Nguyễn Bính, thì mảng thơ giang hồ hoài niệm quê
hương này có một vị trí đặc biệt. Dường như nó hắt tỏa thứ ánh sáng thần kì làm
tôn lên vẻ đẹp của chân quê đang biến đổi trong sự tiếp xúc với đô thị
hiện đại”[34]. Trong
các bài viết thuộc thể loại này, người viết không quan tâm nhiều đến các yếu
tố đời tư, thiên về đánh giá “văn” hơn là đánh giá “người”. Các
cây bút thường có cách viết khách quan, khoa học, nghiêng nhiều về đánh giá sự
nghiệp, đóng góp của nhà văn. Còn ở chân dung văn học, cách tiếp cận và dựng
chân dung lại ngược lại: quan tâm đến con người nhiều hơn là văn chương. Các
tác giả là những bạn văn từng tiếp xúc với Nguyễn Bính, hoặc cùng sinh hoạt, sống
chung một thời gian với tác giả nên điểm mạnh của các bài viết này là sự tiếp cận
đối tượng ở cự ly gần, có nhiều chi tiết đời tư sinh động, chân thực, không tô
vẽ. Một Nguyễn Bính vừa cực đoan quá quắt vừa xuề xòa, dễ dãi qua cái nhìn của
Hoàng Tấn: “Điều đặc biệt lạ lùng là một cuộc đấu khẩu nảy lửa gay gắt dẫn đến
việc phải xa nhau, chỉ một thời gian sau, gặp lại, Nguyễn Bính lại niềm nở như
không có chuyện gì xảy ra”[35]. Một
Nguyễn Bính nhếch nhác không có vẻ gì là “tao nhân mặc khách” nhưng lại rất tự
trọng và ham học hỏi theo lời kể lại của Mộng Tuyết khi Nguyễn Bính đến tá túc
nhà ông bà ở Hà Tiên, “Trong khi nghe anh Đông Hồ và tôi bàn truyện Tam quốc,
Bính không góp truyện được, vì Bính chưa từng đọc Tam quốc bao giờ.
Bính thấy xấu hổ, cũng như đã xấu hổ vì chưa biết đi xe đạp. Càng xấu hổ, khi thấy
tôi và Đông Hồ tỏ vẻ ngạc nhiên vì sao mà Nguyễn Bính lại có thể chưa đọc Tam
quốc chí. Thế rồi, Bính đọc ngấu nghiến suốt mấy đêm liền hết bộ truyện.”[36]. Một
Nguyễn Bính phóng túng, thích rượu, á phiện, lại đa tình, bên ngoài thì luôn cố
vui vẻ nhưng bên trong luôn ẩn chứa những tâm sự buồn, xót xa trong hồi ức của
Ngọc Giao. Một Nguyễn Bính đa tình nhưng cũng đầy bi kịch trong tình yêu, biết
bao nhiêu lần nhỏ nước mắt khi ảo tưởng về yêu hiện lên từ nỗi nhớ của Bùi Hạnh
Cẩn. Ông không ít lần chứng kiến Nguyễn Bính tan nát trái tim vì thích, yêu,
nhung nhớ, vấn vương một bóng hồng. Ngoài góc độ tiếp cận với tư cách bạn nghề
thì còn có góc độ tiếp cận với tư cách người thân. Một cảm xúc thú vị biết bao
khi đọc những trang viết do Hồng Châu - vợ của Nguyễn Bính kể lại. Câu chuyện Đặt
tên cho con gợi chúng ta cảm nhận thêm một khía cạnh nữa trong cách ứng xử
của Nguyễn Bính, một chút nóng tính, một chút cố chấp, bảo thủ nhưng lại rất
thương yêu con, trân trọng tình phụ tử thiêng liêng. Năm lần bảy lượt, sau khi
nằn nì nổi nóng có, đấu dịu có, cuối cùng Nguyễn Bính cũng xin được “ông Hộ tịch”
và vợ cho thêm chữ Bính vào tên con (Tức là Nguyễn Bính Hồng Cầu).
- Đây là đứa con đầu lòng của tôi, của người vợ đầu tiên danh
chính ngôn thuận, nên tôi mới lấy tên mới mà đặt cho nó để kỷ niệm.
Nói xong anh ngoe nguẩy bỏ đi…”[37]
Bên cạnh đó, cũng cần chú ý đến tính chất chân dung kép của
thể chân dung văn học: người được viết và người viết. Đặc biệt chân dung người
viết trong tư cách người chứng kiến, quan sát, tham dự, đánh giá… cho thấy sự độc
đáo đặc sắc mà văn sáng tác và văn phê bình thuần túy không thể có được. Chân
dung văn học phần lớn là tiếng nói của những người trong cuộc, cùng giới thấu
hiểu nhau. Họ viết về số phận, nỗi đau của bạn bè như cũng chính là họ đang
nói, đang viết về mình. Trong các chân dung viết về Nguyễn Bính, Tô Hoài là người
tạo được ấn tượng đặc biệt. Ông vừa đề cao tài năng, những mặt tốt đẹp trong
con người Nguyễn Bính, nhưng đồng thời cũng nhận thấy rõ những gì là phần “cát
bụi” ở con người ấy. Xót xa nhất là chi tiết Nguyễn Bính đau đớn vì trong cơn
say túy lúy đã trao cho thiên hạ đứa con ruột của mình. Từ cách viết xúc động,
chân thực, ta có thể cảm nhận tác giả là một con người nhân hậu có tấm lòng
thổn thức cùng cảnh đời cơ cực, những số phận oan nghiệt cay đắng: “Bấm
đốt tay, đã trên ba mươi năm rồi. Ai là người đã đi qua ngã sáu tối hôm ấy - nếu
trời để cho chúng sống, ông ấy cũng phải đến trong ngoài sáu bảy mươi rồi, nếu
vẫn nhớ có người đưa cho một đứa trẻ, thế thì cháu tên Hiền. Thôi bây giờ viết
vào đây câu chuyện thương tâm ngày ấy. Biết đâu, chuyện này - như một cái tin
nhắn tìm người ruột thịt thường đọc trên báo… đột nhiên, tôi hi vọng. Tên cháu
là Hiền nhé”[38];
hoặc hình ảnh Bảo Định Giang, Chu Văn chân tình, hết lòng vì bạn; Sơn Nam
nghiêm túc, đau đáu đi tìm vị trí cho thơ ca Nguyễn Bính… Như vậy, đến với thể
tài văn học này, người đọc không chỉ được tiếp cận với con người, nhân cách,
cá tính, thế giới tâm hồn của nhà thơ - người được dựng chân dung, mà còn được
tiếp xúc với một chân dung khác nữa của chính tác giả - người dựng chân dung,
người thể hiện kín đáo sau mỗi trang viết một tình cảm yêu thương, đồng cảm với
con người và số phận của nhà thơ tình nổi tiếng của phong trào Thơ mới và thơ
ca cách mạng...
Đồng thời, chân dung văn học viết về Nguyễn Bính, còn có những
khác biệt về nghệ thuật lựa chọn chi tiết, sử dụng ngôn từ, giọng điệu. Giọng
điệu là một phẩm chất được tạo nên và kết tinh từ tất cả các yếu tố của tác phẩm,
trong đó yếu tố ngôn từ là hết sức quan trọng. Cũng như trong sáng tác các
thể loại khác, nghệ thuật sử dụng ngôn từ rất ý nghĩa đối với việc dựng chân
dung văn học. Ngôn từ phải phong phú, đa dạng như chính sự phong phú, đa dạng của
đối tượng được chọn để dựng chân dung. Ngôn từ phải giản dị, gần gũi, bởi đối
tượng cũng chính là những con người của cuộc đời. Và sau cùng, ngôn từ phải thể
hiện cảm xúc, phải giàu tính thẩm mỹ bởi chân dung văn học không phải là bức
tranh sao chép một cách khô khan, cứng nhắc. Vì thế, ngôn từ trong các chân
dung văn học viết về Nguyễn Bính luôn có sự kết hợp, pha trộn. Ngôn từ phong
phú, giàu có, vừa giản dị, vừa sâu sắc của Tô Hoài trong “Nguyễn Bính”;
ngôn ngữ giàu chất trữ tình kết hợp với màu sắc khảo cứu của Sơn Nam
trong “Cuộc đời Nguyễn Bính đi trong khói lửa chiến tranh”; ngôn ngữ tự
nhiên, vừa thoáng chất khẩu ngữ vừa đậm chất trữ tình của Hoàng Tấn
trong “Nguyễn Bính - một vì sao”…
Chân dung văn học đã đem lại cho chúng ta một cái nhìn nhân
văn và đa diện. Điều ấy tạo nên những điểm khác biệt, thế mạnh cho thể tài
này khi khai thác về chân dung Nguyễn Bính. Tuy nhiên, thể tài chân dung đòi hỏi
người viết tiết chế sự chủ quan, cảm tính. Bởi đa số các bài viết thường khai
thác đối tượng khi họ đã mất, khả năng phản biện hoặc kiểm chứng là rất hạn chế.
Có như vậy, chân dung văn học nói chung và chân dung văn học viết về Nguyễn
Bính nói riêng mới khẳng định sâu sắc thêm giá trị tác phẩm và cả sức nặng của
cuộc đời, nhân cách người nghệ sĩ với những suy tư, trăn trở, những vui buồn của
một kiếp người.
4. Kết luận
Từ 1986 đến nay, với cái nhìn dân chủ, đổi mới, văn học được
trả lại đúng chức năng, vai trò của nó và chân dung các nhà văn cũng được nhìn
nhận một cách chân thực, gần gũi hơn. Qua các chân dung văn học, người đọc được
hiểu sâu hơn về giới nhà văn, những người đa tài và cũng đa đoan, những con người
nhiều tài nhưng cũng lắm tật, nhiều phẩm chất để ngợi ca nhưng cũng có nhiều hạn
chế, khuyết điểm, thành công nhưng cũng thất bại, đau khổ và bất hạnh.
Nhìn chung, chân dung văn học viết về Nguyễn Bính đã mở
ra những góc nhìn chân thực, sinh động về con người và sự nghiệp của thi nhân
trên những bước thăng trầm, biến động của cuộc sống. Đó là bức chân dung được vẽ
khá toàn diện: có cả mặt sáng và mặt tối, có cả vẻ đẹp và những miền khuất lấp.
Có nhiều góc nhìn khác nhau, những cách tiếp cận khác nhau, nhưng trên hết vẫn
là sự đồng cảm, yêu thương, sự trân trọng những cống hiến của nhà thơ. Các chân
dung viết về Nguyễn Bính đã vẽ nên cốt cách một con người đa tài, đa tình, nhiều
bất hạnh, một nhà thơ tài hoa, có đóng góp đặc biệt đối với phong trào Thơ mới
- cuộc cách mạng trong thơ ca tiếng Việt.
Chú thích:
[1] Tô
Hoài: Những gương mặt. Nxb. Tác phẩm mới, H., 1988, tr.135.
[2] Tô
Hoài: Sđd., tr.145.
[3] Nhiều
tác giả: Nguyễn Bính về tác gia và tác phẩm. Nxb. Giáo dục, H., 2007,
tr.62.
[4] Nhiều
tác giả: Sđd., tr.117
[5] Bùi
Hạnh Cẩn: Nguyễn Bính và tôi. Nxb. Văn hóa Thông tin, H., 1995, tr.6.
[6] Tô
Hoài: Sđd., tr.143.
[7] Tô
Hoài: Sđd., tr.144.
[8] Bùi
Hạnh Cẩn: Sđd., tr.8.
[9] Bùi
Hạnh Cẩn: Sđd., tr.8.
[10] Nhiều
tác giả: Tuyển tập 15 năm Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, tập 1 (chân
dung văn học). Nxb. Giáo dục, H., 2008, tr.78.
[11] Nhiều
tác giả: Sđd., tr.81
[12] Nhiều
tác giả: Sđd., tr.116.
[13] Tô
Hoài: Sđd., tr.136.
[14] Vũ
Bằng: Mười chín chân dung nhà văn cùng thời (Văn Giá sưu tầm, tuyển
chọn). Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, H., 2002, tr.68.
[15] Tô
Hoài: Sđd., tr.64.
[16] Bùi
Hạnh Cẩn: Sđd., tr.70.
[17] Anh
Thơ: Từ bến sông Thương. Nxb. Văn học, H., 1986, tr.101.
[18] Anh
Thơ: Sđd., tr.103
[19].
Nhiều tác giả: Tuyển tập 15 năm Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, tập 1
(chân dung văn học). Nxb Giáo dục, H., 2008, tr.6.
[20] Nhiều
tác giả: Nguyễn Bính về tác gia và tác phẩm. Sđd., tr.115.
[21] Nhiều
tác giả: Nguyễn Bính về tác gia và tác phẩm. Sđd., tr.116.
[22] Nhiều
tác giả: Nguyễn Bính về tác gia và tác phẩm. Sđd., tr.79.
[23] Nhiều
tác giả: Nguyễn Bính về tác gia và tác phẩm. Sđd., tr.90.
[24] Tô
Hoài: Sđd., tr.61.
[25] Tô
Hoài: Sđd., tr.65.
[26] Nhiều
tác giả: Nguyễn Bính về tác gia và tác phẩm. Sđd., tr.85.
[27] Vũ
Bằng: Mười chín chân dung nhà văn cùng thời (Văn Giá sưu tầm, tuyển
chọn). Sđd., tr.64.
[28] Nhiều
tác giả: Nguyễn Bính về tác gia và tác phẩm. Sđd., tr.119.
[29] Hoài
Thanh, Hoài Chân: Sđd., tr.338.
[30] Tô
Hoài: Sđd., tr.150.
[31] Nhiều
tác giả: Nguyễn Bính về tác gia và tác phẩm. Sđd., tr.114.
[32] Nhiều
tác giả: Nguyễn Bính về tác gia và tác phẩm. Sđd., tr.90.
[33] Nhiều
tác giả: Nguyễn Bính về tác gia và tác phẩm. Sđd., tr.25.
[34] Nhiều
tác giả: Nguyễn Bính về tác gia và tác phẩm. Sđd., tr.181.
[35] Nhiều
tác giả: Nguyễn Bính về tác gia và tác phẩm. Sđd., tr.90.
[36] Nhiều
tác giả: Nguyễn Bính về tác gia và tác phẩm. Sđd., tr.64.
[37] Lưu
Khánh Thơ: Nhà văn qua ký ức người thân. Nxb Văn hóa Thông tin, H.,
2001, tr.126.
[38] Tô
Hoài: Sđd., tr.65.
14.8.2018
Hà Thị Kim Phượng
Hà Thị Kim Phượng
Nguồn: Trăm năm Nguyễn Bính, Truyền thống & Hiện đại. Nhiều tác giả.
Hội thảo khoa học về Nguyễn Bính do Viện Văn học &







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét